Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu, 2015

►Nước còn hay mất?

Posted by hoangtran204 trên 29/06/2015

Song Chi.

28-6-2015

rfavietnam

Bàn đến hiểm họa Trung Quốc, nhiều người cho rằng thời đại bây giờ có lẽ cũng khó có chuyện một quốc gia nào đó ngang nhiên đem quân đánh chiếm nước khác sau đó công khai áp đặt sự đô hộ hay cai trị của mình lên quốc gia đó như thời xưa, hay thậm chí như thực dân, đế quốc trước đây. Cùng lắm là đánh chiếm một phần lãnh thổ của nước khác, điều mà nước Nga của Putin đã làm với Crimea của Ukraine, là ví dụ gần đây nhất.

Vì thế, chuyện Trung Cộng sẽ đem quân xâm lược Việt Nam, biến VN thành một quận huyện của Trung Quốc như trong quá khứ là khó có thể xảy ra. Thế giới chắc chắn không thể để yên cho một hành động ngạo ngược như vậy và Trung Cộng có nhiều thứ để mất nếu hành động chống lại cả thế giới.
Nhưng liệu có cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh tốn hao người và của khi Bắc Kinh biết rõ rằng họ có thể nắm gọn được VN bằng nhiều cách khác, từ khống chế về chính trị, quân sự, tạo ra sự lệ thuộc nặng nề về kinh tế cho tới gậm nhấm dần dần lãnh thổ, lãnh hải, điều mà họ đã và đang tiếp tục tiến hành lâu nay?
Còn đối với dân tộc VN, có phải đợi đến lúc VN bị đổi tên, người VN phải học một thứ ngôn ngữ khác, và có một thế lực ngoại bang công khai ngồi đó cai trị thì mới là mất nước?
Hay trên thực tế, nước còn mà cũng như mất? Khi người dân không được phép quan tâm đến chính trị vì “mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo”, không được phép có ý kiến hay bày tỏ sự bất bình, phẫn nộ trước mọi hành vi ngang ngược, xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ VN của “nước lạ”? Trái lại, nếu vì bất bình mà lên tiếng phản đối thì lại bị chính nhà cầm quyền VN đàn áp, xách nhiễu, tống giam vào tù với những bản án vô vùng phi lý, khắc nghiệt.
Khi suốt từ Nam ra Bắc, đâu đâu cũng thấy sự hiện diện cách này hay cách khác của “nước lạ” Trung Quốc? Từ thực phẩm, hàng hóa đủ loại tràn vào VN bằng mọi con đường, chính thức hay buôn lậu, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất nội địa; từ việc các doanh nghiệp lớn nhỏ của Trung Quốc thắng thầu phần lớn các công trình trọng điểm của VN trong các lĩnh vực xây dựng, thủy điện, khai thác khoáng sản… dẫn đến sự có mặt của hàng trăm, hàng ngàn công ty, khu công nghiệp và cả những khu vực toàn người Trung Quốc, mà ngay cả chính quyền địa phương cũng không được phép xâm nhập vào. Truyền hình VN từ đài trung ương đến đài địa phương tràn ngập phim cổ trang, lịch sử cho tới phim truyện thời hiện đại của Trung Quốc, các cửa hàng sách lớn nhỏ tràn ngập sách truyện dịch từ Trung Quốc…
Khi sự hiện diện của Trung Quốc không chỉ bao trùm trong lĩnh vực kinh tế, một phần văn hóa, mà rõ rệt nhất là trong lĩnh vực chính trị, thông qua mối quan hệ không tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung. Các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN tiếp nối nhau đều mặc nhiên chấp nhận tình trạng bất tương xứng này và ngoan ngoãn phục tùng Trung Quốc. Không chỉ nhất cử nhất động học theo mô hình thể chế xã hội của Trung Quốc mà còn phải nghe theo những lời chỉ đạo từ xa, kể cả “cầm tay chỉ việc” của Bắc Kinh từ thời chống Pháp, thời cải cách ruộng đất cho tới bây giờ cũng không khá hơn. Bàn tay nhám nhúa của Trung Nam Hải còn thò sâu vào nội bộ đảng cộng sản VN, mua chuộc, thao túng, gây chia rẽ, kẻ nào thân Tàu thì có cửa leo cao tiến xa và ngược lại.
Thì như thế nước còn mà cũng như mất.
Khi tàu Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc, đánh chìm tàu, làm bị thương, bắt giữ người trên các tàu cá của ngư dân VN từ bao nhiêu lâu nay, ngược lại, hàng ngàn tàu cá và tàu quân sự Trung Quốc ngang nhiên đi lại trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN mà nhà cầm quyền không hề dám phản ứng mạnh.
Gần đây, trước thực trạng Trung Quốc ồ ạt biến các đảo ngầm thành những hòn đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trong tương lai, tình hình trở nên hết sức đáng ngại nhưng quốc hội VN vẫn chỉ đóng cửa họp kín về tình hình biển Đông và không dám đưa ra một nghị quyết phản đối mạnh mẽ nào. Trả lời báo chí, ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc nói rằng“Quốc hội sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình Biển Đông và nếu cần thiết sẽ ra Nghị quyết về vấn đề này tại các kỳ họp sau”. (“Các kỳ Quốc hội sau sẽ ra Nghị quyết về Biển Đông nếu cần thiết”, Infonet).
Người dân tự hỏi không biết đến bao giờ thì mới là cần thiết, đợi đến khi các căn cứ quân sự đã xây xong và giặc chiếm nốt những hòn đảo còn lại của quần đảo Trường Sa hay khi giặc đã vào đến tận Hà Nội?
Trong tháng 6, Trung Quốc lại đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến vùng biển VN, hoạt động tại vùng chồng lấn ở cửa vịnh Bắc Bộ mà hai nước đang đàm phán phân chia ranh giới, nhưng lực lượng cảnh sát biển VN chỉ dám theo dõi, tuyệt không dám “mời” ra khỏi lãnh hải nói gì đến phản ứng mạnh hơn.
Thậm chí khi có cơ hội lên tiếng, chẳng hạn như tại Đối thoại Shangri-la 2015 tại Singapore, phái đoàn VN do ông Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh dẫn đầu lại có quan điểm “Lần này, VN lắng nghe là chính, không phát biểu”(“Tướng Nguyễn Chí Vịnh: TQ cần hành xử đúng luật quốc tế”, VietnamNet), thay vì nhân dịp này tố cáo trước quốc tế những hành động xâm phạm chủ quyền đất nước và đe đọa đến hòa bình ổn định trong toàn khu vực biển Đông của Bắc Kinh. Ông Vịnh lại còn cho rằng: “Càng căng thẳng thì càng phải độc lập tự chủ. Càng căng thẳng thì càng không bao giờ để kéo vào những liên minh với nước này để chống nước khác…” (“Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Càng căng thẳng, càng phải độc lập tự chủ”, Tuổi Trẻ). Trong khi ai cũng thấy rõ VN là nước đã, đang và sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất trong việc Trung Cộng bành trướng trên biển Đông, VN cô độc và cần đến sự giúp đỡ của thế giới như thế nào nếu phải đương đầu với Trung Quốc.
Thì như thế có nghĩa, nước còn mà cũng như mất.
Khi từ các cấp lãnh đạo cao nhất cho đến từng người dân VN chưa đánh đã mang tâm lý đầu hàng trước “Trung Quốc nó mạnh thế đánh làm sao nổi?”, và tâm lý ngồi chờ. Nhà cầm quyền thì chờ Philippines đi kiện Trung Quốc xem tình hình ra sao, chờ các nước khác lên tiếng giùm, nhất là chờ Hoa Kỳ có những phản ứng mạnh mẽ có thể ngăn chặn được Trung Quốc. Hết chờ các nước khác can thiệp lại mong chờ hão Trung Quốc sẽ nể tình mối quan hệ bao lâu nay giữa hai đảng, hai nhà nước mà chiếu cố cho, không xâm lấn hơn nữa.
Còn người dân thì cũng ngồi chờ cho nhà nước này tỉnh ngộ mà thoát ra khỏi mối quan hệ bị lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Thậm chí có những người ngồi chờ Trung Quốc nổ ra chiến tranh, dù từ bên trong hay bên ngoài, khiến cho chế độ hiện tại của Bắc Kinh phải sụp đổ, Trung Quốc chuyển đổi thành một nước dân chủ thì khi đó VN và các nước láng giềng may ra mới được yên ổn v.v và v.v…
Khi chúng ta không hành động gì mà chi ngồi chờ…sung rụng như thế, thì nước còn mà cũng như mất, và sớm muộn gì cũng mất thật!
Hay nói cách khác, cái giang sơn mà từng tấc đất, ngọn cỏ, dòng sông, đều thấm máu của hàng triệu triệu người Việt qua bao nhiêu cuộc chiến tranh với thiên nhiên để sinh tồn và những cuộc chiến tranh ác liệt chống ngoại xâm, được gìn giữ, bảo vệ và phát triển qua hàng ngàn năm thành một quốc gia trải dài từ Nam ra Bắc, ngày hôm nay, dưới chế độ cầm quyền của đảng cộng sản, đã bị “teo tóp”, mất mát dần vào tay ngoại bang và trên thực tế chỉ còn lại cái vỏ độc lập giả hiệu bên ngoài mà thôi.

Advertisements

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

25-6-2015

 

 

aus-us-300x155

Thời Đệ nhị thế chiến

Thế chiến Thứ hai bùng nổ năm 1939, Hoa kỳ trung lập đứng ngoài cuộc giao tranh mà họ cho là không liên hệ, đây gọi là chủ trương biệt lập Isolationism.

Mặc dù đứng ngoài vòng chiến để được yên thân nhưng vẫn bị giáng một đòn nặng sáng ngày 7-12-1941 khi hạm đội lớn của Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải quân Mỹ tại Hawaii. Khi bắt đầu cuộc Thế chiến, nước Nhật có 10 hàng không mẫu hạm được coi là lớn và tối tân nhất thời đó. Trận đánh đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, gây thiệt hại nặng, khoàng 20 tầu chiến bị chìm hoặc hư hại, 188 máy bay bị hủy hoại 2,400 thủy thủ, phi công bị giết.

Hôm sau Mỹ tuyên chiến với Nhật và hai ngày sau 11-7 Đức, Ý cũng tuyên chiến với Mỹ, dù muốn dù không Hoa Kỳ phải từ bỏ biệt lập sang tham chiến, một cuộc chiến đẫm máu nhất từ xưa đến nay. Theo hồi ký của Đại tướng Eisenhower, cựu Tư lệnh quân đội đồng minh tại Âu châu, khi cuộc chiến bắt đầu, phe trục Đức -Ý -Nhật mạnh hơn đồng minh. Ông cũng cho biết Mỹ Anh đã thỏa thuận giải quyết chiến trường Âu châu trước vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn Nhật và vì sợ chúng chế tạo vũ khí giết người hàng loạt (1). Mỹ đưa 80% lực lượng sang Âu châu chỉ để lại 20% tại Thái Bình Dương. Đưa quân sang Âu châu không phải để giải phóng cho các nước Pháp, Bỉ, Hòa Lan.. như người Mỹ thường kể mà chỉ là để tự vệ cho chính họ, để ngăn ngừa hậu họa.

Năm 1942 đồng minh bắt đầu thắng thế, Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Ý thua hai trận lớn tại Bắc Phi và Stalingrad. Năm 1944 Đức Quốc Xã thất bại trên khắp các mặt trận miền đông, tháng 6-1944 đồng minh Anh-Mỹ đổ bộ vào Normandie, tháng 2 năm sau đã vào tới miền tây nước Đức,

Từ ngày 4 tới 11-2-1945, khi chiến tranh Âu châu gần kết thúc Roosevelt, Staline, Churchill họp nhau tại Yalta để bàn về tổ chức lại Âu châu thời hậu chiến. Thực ra chỉ là để chia chác ảnh hưởng với nhau vì thế tác giả Arthur Conte năm 1974 đã viết cuốn sách về hội nghị này “Yalta Ou Le Partage Du monde”, Hội Nghị Yalta Hay Sự Chia Phần Thế Giới

Tháng 4-1945 đồng minh đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì xứ này đã được nhường cho Nga, chương cuối của bộ Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (2) có nói về sự bất đồng ý kiến giữa Anh và Mỹ. Người Anh đề nghị tiến chiếm Đông Âu không nhường Nga và đặt họ trước sự đã rồi nhưng Mỹ không chấp nhận, người Anh nhận định Mỹ ngây thơ và nhát.

Mặt trận châu Âu kết thúc, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ họ phụ giúp đánh quân Nhật tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một năm rưỡi tới hai năm mới xong.

Năm 1957 C.V Gheorghiu (3) nhà văn nổi tiếng Lỗ Ma Ni viết Les Sacrifies du Danube, Những Kẻ Hy Sinh Vùng sông Danube, truyện dài trên 100 trang thể hiện nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi … đã bị Tây Phương, Hoa Kỳ nhường cho Xô Viết năm 1945. Tác giả nói để cứu nền văn minh Tây Âu, Mỹ đã nhường Đông Âu cho Sô viết khiến cho trên 150 triệu người đã bị tan gia bại sản, trở thành nô lệ cho Cộng Sãn Xô viết.

Truyện sẩy ra tại Bảo Gia Lợi thể hiện nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Đông Âu: Một người chạy trốn Cộng Sản sang phần đất tự do bị trúng đạn của lính biên phòng, hai người nhân đạo cứu anh đem về nhà băng bó vết thương. Một người ứa nước mắt bảo vết thương đã có dòi, người kia đề nghị đi tìm bác sĩ hoặc đưa nạn nhân đi nhà thương nhưng anh này gạt đi bảo: “Nếu tìm bác sĩ thì rồi bọn công an CS cũng sẽ biết, sẽ tìm đến đây, người nạn nhân này sợ công an còn hơn dòi bọ, chẳng thà để hắn chết vì dòi bọ còn hơn để hắn sa vào tay bọn mật vụ CS”

Trước Thế chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi đất nước trái với Trosky , Đệ tứ quốc tế muốn tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Thế chiến Thứ hai chấm dứt là cơ hội bằng vàng cho Staline bành trướng thế lực bằng họng súng mà chẳng cần thực hiện cách mạng vô sản theo đường lối cổ điển Mác Lê. Người Mỹ đã vô tình mở đường cho Xô Viết đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Các nước tư bản dân chủ tự do Đông Âu đã cùng Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ tàn nhẫn bán đứng cho Xô viết làm nô lệ.

Sau 1945 Xô Viết tiến chiếm các nước Đông Âu, cướp bóc, vơ vét quí kim, vàng bạc trong ngân khố các nước nạn nhân, dựng lên các chính quyền CS chư hầu và tiếp tục bành trướng tại Á châu. Đại tướng Eisenhower nói trong hồi ký: năm 1939 quân sự của Hoa Kỳ rất xoàng, lục quân còn thua cả Ba Lan nhưng sau Thế chiến đã trở thành cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Năm 1939 Lục quân Mỹ chỉ có 170,000 người nhưng năm 1945 Lục quân Mỹ thành 6 triệu. Măm 1939 Mỹ chỉ có khoảng 2500 máy bay và 760 tầu chiến nhưng năm 1945 họ có khoảng 80,000 máy bay và 2,500 tầu chiến (4)

Cuộc nội chiến Trung Hoa

Các hạm đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á, Sô viết cũng chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Xô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc. Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.

Năm 1946 Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu ngăn cản một cuộc chiến tranh Mao – Tưởng hy vọng họ lập chính phủ liên hiệp sống chung hòa bình. Người Mỹ vẫn lạc quan ngây thơ không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta đã lừa gạt họ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng Giới Thạch ký đàm phán (5). Sau hơn một tháng thảo luận từ cuối tháng 8-1945 tới 10-10-1945 hai bên ký hòa ước tháng 1-1946 nhưng chỉ được 6 tháng cuộc nội chiến bùng nổ. thời gian này CS Tầu chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3 dân số.

Tưởng Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền nam lên Mãn Châu, họ được Mỹ giup về không vận, đây là nơi thử thách đầu tiên của cuộc chiến tranh Quốc – Cộng. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 đánh dấu khúc quành cuộc chiến. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu tại miền trung nước Tầu, cuối cùng đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (6). Mãn châu là khởi đầu cuộc chinh phục nước Tầu của Mao Trạch Đông, Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn triệu quân tại đây và bắt đầu thất thế.

Tháng 3-1947 Quốc Dân Đảng chiếm Diên An đến năm 1948 Cộng quân lại tái chiếm, từ 12- 9 tới 12-11-1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dân xa cách Mỹ, Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc như Thẩm Dương và Trường Xuân, họ chiếm Mãn châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của Quốc Dân Đảng. Cuối năm 1948, đầu 1949 bà Tống Mỹ Linh phu nhân Tưởng Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng không được họ đáp ứng. Tháng 9-1948 Cộng quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và khoảng 2 triệu người thuộc phe Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

Dư luận Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm bị coi là tên phản bội.

Thượng nghị sĩ Cộng Hòa Peter Beinart nói nhiều thập niên sau, Lyndon Johnson hồi đó là Thượng nghị sĩ Texas cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của quá khứ.

Nhiều người Mỹ cho rằng cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô Viết. Dean Rusk (phụ tá bộ trưởng ngoại giao thời Truman 1949-51, Kennedy, Johnson 1961-69) mô tả cuộc Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là Made in Moscow, được làm tại Mạc Tư Khoa. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới. (7)

Các tài liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:

Năm 1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn quân chủ lực và 2 triệu du kích,
Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,

Tháng 6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu

Dư luận chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ 4 tỷ đô la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.

Nhưng cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu vũ khí lấy được của Nhật cũng như đã viện trợ cho họ nhiều vũ khí, CS cũng được Nga giao cho miền Đông Bắc Trung Hoa (8)

Quốc Dân Đảng có lợi thế về đất và sức mạnh quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân lên đánh CS được Mỹ giúp chuyển quân bằng không vận từ miền Trung lên. QDĐ thua trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm bại (9)

Một phần vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn. Tướng George Marshall nói không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc – Cộng kéo dàì mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của Sô Viết, Tầu cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để đánh những trận long trời lở đất trong cuộc chiến vĩ đại này?
Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (10) Sô Viết không phải gửi quân nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974, Nixon cảm phục Liên sô không đem quân qua, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.

Hoa Kỳ nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Khi Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Nhật thì Sô Viết mới nhẩy vào ăn có. Họ chiếm Mãn Châu, tháo gỡ sạch các nhà máy đem về nước, lấy kho vũ khí lớn của Nhật giao cho Mao đưa tới khúc quành bi thảm cuộc chiến tranh Quốc – Cộng.

Người Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết, Thế chiến thứ hai kết thúc, đã đến lúc người ta vắt chanh bỏ vỏ. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó, nó làm lệch cán cân quân sự quốc tế của hai phe và đưa tới các cuộc chiến đẫm máu khác ngay trong năm sau.

Ngày 5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan. Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (11). Mỹ công kích Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào chữa cho dã tâm của mình.

Chiến dịch cứu nguy Điện Biên Phủ năm 1954

Giữa năm 1950 Bắc Triều Tiên được Nga Sô, Trung Cộng yểm trợ vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Nam Triều Tiên. Sô Viết đã chiếm được Đông Âu, Trung Hoa, đã có bom nguyên tử tháng 8-1949 nhờ đánh cắp tài liệu, bây giờ Nga không ngán Mỹ, công khai đương đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ, Tổng thống Truman đưa quân vào nam Triều Tiên can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ lại tuyên bố bảo vệ Đài Loan vì nay đã thấy rõ mối đe dọa bành trướng của Nga, Trung Cộng, cương quyết không nhường đất cho CS.

Đài Loan thoát chết, Mỹ bảo vệ hòn đảo này để phòng thủ cho chính họ. Vừa chiếm trọn nước Tầu, đuổi Tưởng ra Đài Loan, Trung Cộng đã trực tiếp, gián tiếp gây chiến tại Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 đến nay đã được 4 năm

Năm 1946 Việt Minh yếu thế rút vào hậu phương. Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố. Từ 1947-1949 Pháp mở những cuộc hành quân tiêu diệt chủ lực quân VM nhưng họ lẩn tránh để bảo toàn lực lượng, tổng cộng khoảng 40,000 người.

Trung Cộng tiến tới biên giới Bắc Việt tháng 11-1949 là lúc chấm dứt chương thứ nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương và nó đã quyết định số phận của người Pháp, họ không hy vọng gì chiến thắng.(12)

Việt Minh được Trung Cộng huấn luyện tại biên giới. Năm 1950 họ giúp VM thành lập năm sư đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320 và sư đoàn 351 vũ khí nặng. Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, nó đã làm rung động cả nước Pháp, họ không ngờ VM mạnh đến thế. Pháp thiệt hại 7,000 người vừa bị giết và mất tích, VM tịch thu được rất nhiều vũ khí có thể trang bị cho một sư đoàn (13)

Cuối năm 1950 Ba Lê cử Tướng de Lattre sang làm Tư Lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, viên dũng tướng này chuyển bại thành thắng đánh bại VM và các cố vấn Tầu nhiều trận trong năm 1951. De Lattre chết đầu năm 1952, Tướng Salan lên thay tình hình quân sự ngày một xấu, VM ngày càng mạnh.

Đầu thập niên 50 Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp nhưng thực sự giúp từ 1952, trong khi đó họ còn phải tham chiến tại Triều Tiên. Henri Navarre cựu Tư Lệnh quân viễn chinh Đông Dương nói:

“Qua kinh nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm”
(14)

Đúng ra Hoa Kỳ phải thức tỉnh sớm hơn là để nước đến chân mới nhẩy, họ đã lạc quan tin tưởng Staline.

Salan giữ chức Tư lệnh một năm rưỡi thì về Pháp, tháng 5-1953 Tướng Henri Navarre được cử sang thay ở thời điểm mà ông bi quan cho là Đông Dương đang từ từ mất về tay CS.

Cuối tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng cung cấp nhiều viện trợ cho VM hơn trước, Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (15). Cuối năm 1953 Navarre được lệnh bảo vệ Thượng Lào (16) và ông đã chọn thung lũng Điện Biên Phủ cho đóng đồn lũy để chận đường chuyển quân của địch sang Lào và mở mặt trận lớn tại đây để VM khỏi đánh Hà nội và châu thổ sông Hồng. Nay quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (17).

Navarre cũng dùng kế dụ địch giết địch, nay VM ngày càng mạnh nên phải đưa chúng vào bẫy giết một mẻ cho chết bớt đi nhưng mấy ai học được chữ ngờ: VM quá đông, hỏa lực địch quá mạnh (18), ông ta đã đưa quân vào miệng cọp.
ĐBP là một khu lòng chảo có nhiều đồi núi bao quanh, một cánh đồng dài 16km, rộng 9 km gần biên giới Lào – Việt. Trận ĐBP có tầm vóc lớn, toàn bộ chiến trường Đông Dương. Căn cứ ĐBP được xây dựng kiên cố nhất Đông Dương hồi đó, phía Bắc có hai tiền đồn với hai tiểu đoàn trấn giữ, khu Trung ương đóng trên 5 ngọn đồi gồm 8 tiểu đoàn, phía Nam cứ điểm Isabelle 2 tiểu đoàn.

Việt Minh đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh tổng cộng 63,000 người (19), Pháp có 12 tiểu đoàn sau cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn tổng cộng khoảng 16,000 người. Ngày giao chiến đầu tiên 13-3-1954 căn cứ Béatrice sụp đổ trước trận pháo kích dữ dội của 40 khẩu pháo VM (20), hôm sau căn cứ Gabrielle cũng bị đánh sập. Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược.

Do sự sai lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc với hậu cần bằng máy bay không có đường bộ trong khi không quân Pháp quá yếu, toàn chiến trường Đông Dương chỉ có khoàng 200 máy bay (21). Tiếp tế bằng thả dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3 số phận của Điện Biên Phủ coi như đã được quyết định rồi.

Pháp cũng như Mỹ đều đã thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ, giữa năm 1953 Trung Cộng ký đình chiến Triều Tiên rồi quay về giúp Việt Minh đánh Pháp, viện trợ quân sự của họ tăng vọt lên. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch này do Đô đốc Arthur Radford, Tham mưu trưởng liên quân đề nghị được Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Bộ trưởng ngoại giao Foster Dulles ủng hộ, chấp thuận.

TT Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham chiến tại Triều Tiên không hỏi Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này đã được Giáo sư, tác giả Bernard Fall và nhà nghiên cứu Philippe Devillers tường thuật lại thập niên 60. Mấy năm gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted Morgan cũng nghiên cứu lại đề tài này trong hai tác phẩm của họ (22). Xin sơ lược như sau:

Ngày thứ bẩy 3-4-1954, tám vị Trưởng khối đại diện Quốc hội được chính phủ mời tới Bộ ngoại giao để hội thảo bí mật với Dulles, Radford, một số cố vấn. Foster Dulles nói Tổng thống Eisenhower yêu cầu mời họp và Tổng thống muốn được Quốc hội thông qua một quyết định cho phép Hành pháp xử dụng không quân, hải quân tại Đông Dương. Đô đốc Radford nói về tình trạng nguy khốn của ĐBP, còn Dulles cảnh giác nếu Đông Dương mất Đông Nam Á sẽ lọt vào tay CS và rồi Mỹ sẽ phải rút về Hawaii nếu Mỹ không giúp Pháp và chính phủ địa phương (QGVN) và sẽ khiến Pháp từ bỏ cuộc chiến.

Đô đốc Radford nói về kế hoạch “Kên kên” (Vulture): Gồm hai Hàng không mẫu hạm Essex và Boxer, có tăng cường bởi không lực tại phi trường Clark Phi Luật Tân. Theo tin tức Pháp tổng cộng có 60 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi cái mang 9 tấn bom, khoảng 450 máy bay chiến đấu hộ tống bảo vệ. Theo nguồn tin Mỹ tổng cộng 98 pháo đài bay B-29, mỗi cái mang 14 tấn bom gồm hai cánh ở Okinawa và một tại Clark field, có khoảng 450 máy bay chiến đấu theo hộ tống để phòng ngừa Mig Trung Cộng nếu có.

Cuộc tranh luận sôi nổi, ông Trưởng khối thiểu số Thượng viện Lyndon B. Johnson đòi hỏi phải có liên minh các nước. Cả tám vị dân cử cho Hành pháp biết Quốc hội ủng hộ chiến dịch “Kên Kên” dưới ba điều kiện.

1- Lập liên minh các nước tự do ở Đông nam Á, Phi LuậtTân và Liên Hiệp Anh.
2- Pháp phải nhanh trả độc lập cho các nước Đông Dương
3- Pháp phải ở lại tiếp tục chiến đấu.

Những lý do thực tiễn đó đã hủy hoại mọi cơ hội cứu ĐBP vì không còn đủ thời giờ đi tìm đồng minh thành lập “Mặt trận thống nhất” để được chấp thuận kế hoạch “Kên Kên” trong khi ĐBP ngày càng nguy ngập, Trung Cộng tăng cường viện trợ pháo binh và cao xạ cho VM.

Ba Lê chính thức xin Mỹ dùng không quân oanh tạc ồ ạt cứu ĐBP trong khoảng thời gian này. Cùng ngày Tổng thống Eisenhower viết thư dài cho Churchill nói ý niệm về một mặt trận thống nhất. Người Anh kinh ngạc khi nhận thư Eisenhower, họ chống lại bất cứ hành động nào có thể phương hại Hội nghị Genève sắp nhóm họp. Ba ngày sau Churchill trả lời thư, ông nói sẽ bàn với Dulles tại London ngày 12-4.

Người Pháp chán nản coi kế hoạch Kên Kên như bỏ, họ lên kế hoạch cứu quân nhân còn trong trại.

Khi Dulles đang bàn với Pháp về kế hoạch Kên Kên tại Paris, Tướng Partridge, Tư lệnh không quân Mỹ tại Viễn đông tới Sài Gòn, ông tiếp xúc với Cao ủy Maurice Dejean và Tướng Tư Lệnh Navarre khiến họ vẫn hy vọng vào sự can thiệp của Mỹ.
Dulles ở Paris ngày 23-4, Hội nghị Genève bắt đầu ngày 26-4, Pháp chỉ hy vọng vào ngưng bắn, họ năn nỉ Dulles thực hiện kế hoạch “Kên Kên”. Tổng thống Eisenhower cho Dulles biết sẽ không có oanh tạc quanh ĐBP nếu không thỏa mãn yêu cầu của các vị đại diện Quốc hội ngày 3-4. Không quân Mỹ chỉ hành động trong khuôn khổ lực lượng đồng minh sau khi họ bàn luận và biểu quyết.

Chiều ngày 23-4 đã xóa sổ vấn đề ĐBP mà người Pháp không biết. ngày 24-4 Eden tới Paris họp về NATO, đô đốc Radford thuyết phục ông chỉ cần ủng hộ tượng trưng. Eden vẫn cứng rắn và nói tại cuộc chiến Triều Tiên, mới đầu Mỹ oanh tạc sau Mỹ cũng đổ bộ quân vào, sau đó Mỹ lại thúc giục các nước đồng minh gửi quân vào. Ngày chủ nhật 25-4, Eden về Luân Đôn dự phiên họp nội các giải quyết một lần cho xong.

Tất cả nỗ lực để cứu ĐBP bằng không quân sụp đổ cuối tuần này, ngày 24-4 Dulles tại tòa Đại sứ Mỹ Ba Lê gửi văn thư cho Bidault (Bộ trưởng ngoại giao Pháp) nói (năm 1966 mới được tiết lộ)

“Một quyết định chiến tranh phải có phép của Quốc hội (US) mới thực hiện được”

Cuối thư nói ĐBP không phải là quá quan trọng, không cần cứu bằng không quân, ta đã gây thiệt hại nặng cho địch. Bidault gửi thư trả lời cùng ngày nói lực lượng địch tập trung đông đảo tại ĐBP sẽ khiến cuộc oanh tạc không những cứu được ĐBP mà còn thay đổi toàn bộ cán cân cuộc chiến.

Còn một nỗ lực cuối cùng, Pháp cử người gặp thủ tướng Chrchill để thuyết phục ông ta tại Luân Đôn ngày 27-4. Chrchill tiếp Đại sứ Pháp René Massigli, ông vẫn cứng rắn từ chối nói.

“Chúng tôi đã chịu mất Singapore, Hong Kong, Tobruk, người Pháp sẽ phải chịu thua tại ĐBP”

Chiến dịch Kên Kên chết lịm dần, Thiếu tướng Caldera, Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4, vẫn chuẩn bị oanh tạc ĐBP một khi có lệnh. Tất cả gồm 80 oanh tạc cơ tấn công liên tiếp quanh ĐBP và kho hậu cần tại Tuần Giao với phi hành đoàn hỗn hợp Pháp-Mỹ. Một sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến dịch, có lẽ tình thế chưa tuyệt vọng.

Màn bi kịch cuối cùng là cuộc họp của Tổng Thống Eisenhower, Đô đốc Radford, các viên chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một lần nữa. Trong số các nhà quân sự chỉ có Đô đốc Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù là can thiệp đơn phương (không cần Quốc hội) của Mỹ để cứu ĐBP khỏi sụp đổ. Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT không quân không nhiệt tâm với kế hoạch này, Tướng Ridway, TMT lục quân Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch. Cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp, một tuần sau, ngày 7-5-1954 ĐBP hoàn toàn thất thủ, hơn mười ngàn tù binh bị bắt mà phần lớn đã chết trong trai giam.

Dù Anh có đồng ý tham gia, ủng hộ hay không, Eisenhower vẫn có toàn quyền quyết định (không cần Quốc hội), mười hai năm sau ông cho biết không muốn cho Hoa Kỳ sa vào cuộc chiến tốn kém. Nếu chiến đấu một mình sẽ làm cho Mỹ cạn kiệt tài nguyên, đánh con rắn Trung Cộng phải đánh dập đầu chứ không đánh cái đuôi nó.

Như thế quyết định không cứu Pháp ở ĐBP chính là của Mỹ, của cấp thượng đỉnh: Các vị Trưởng khối dân cử, Bộ Tham mưu liên quân và Tổng thống, nên khi quyết định đã xong không thể đổ lỗi cho Anh(23), các vị đại diện Quốc hội đòi hỏi.
-Trước hết thành lập liên minh các nước
– Pháp trả độc lập cho các nước Đông Dương
-Pháp phải tiếp tục cuộc chiến (24)

Ba điều kiện của tám vị đại diện Lập pháp Mỹ đưa ra đòi thành lập liên minh các nước chống CS tại ĐNÁ thực hiện chiến lược be bờ ngăn chận CS để bảo vệ an ninh cho Mỹ. Đòi Pháp phải trả độc lập cho Đông Dương sau đó ở lại chiến đấu cho quyền lợi của Mỹ. Ngoại trưởng Dulles đi vận động suốt tháng 4-1954 (25), ông ta đi hàng trăm dặm viếng thủ đô các nước không CS tại châu Âu, châu Á và cả Phi châu, Nam Mỹ. Trung bình Dulles 200 dặm một ngày để thành lập Liên minh chống Cộng nhưng không có kết quả, Anh, Pháp đều không tham gia, họ không có nhiều quyền lợi tại đông nam Á, đó là chuyện riêng của Mỹ.

Việc Hoa Kỳ không thực hiện được chiến dịch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959 (26). Người ta hối tiếc đã để Việt Minh, phía CS thắng lớn đưa tới khúc quành lịch sử.

Bernard Fall nói

“Trong trường hợp này, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, họ đã bỏ rơi một đồng minh trong khi nước này (Pháp) tham gia một cuộc chiến mà Mỹ đã khuyến khích người ta chiến đấu, nó đi xa hơn mục tiêu chính trị của nước này (Pháp) và nhất là vượt quá khả năng quân sự của họ. Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của Pháp mà cả của Mỹ. (27)

Từ năm 1952, 1953, Pháp đã mệt mỏi vì cuộc chiến Đông Dương, chêt người tốn của, Mỹ đã tăng viện trợ cho Pháp những năm 1953, 1954 để khuyến khích họ tiêp tục chiến đấu ngăn chận CS tại ĐNA có lợi cho Mỹ hơn là cho Pháp. Và rồi cuối cùng Mỹ bỏ rơi họ vì nhiều tính toán nào sợ sa lầy, mất phiếu, sợ Trung Cộng đưa quân vào…

ĐBP đã khiến các giới chức quân sự chính trị lưu ý khi Tướng De Gaulle xác nhận rằng trong cuộc khủng hoảng mà không liên hệ trực tiếp nước Mỹ, ta không thể tin tưởng họ được (28).

Tính già hóa non, người Mỹ bỏ Đông Âu dẫn tới mất Trung Hoa, mất nước Tầu đưa tới ĐBP, bỏ rơi Pháp đưa tới chiến tranh VN

Cuộc chiến Việt Nam

Bernard Fall nhận định ĐBP đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ, nó cũng là thời điểm Quân đội CSVN thành hình để trở thành lực lượng CS tại ĐNÁ. Sau này tình thế đã khiên Mỹ phải can thiệp vào miền nam VN những năm 1965, 1966…mà họ đã tránh hồi 1954, già néo thì đứt giây. Hậu quả mà Mỹ đã phải gánh chịu vì tránh can thiệp ĐBP mà họ sợ sa lầy năm 1954 để rồi sau đó mười năm phải đối đầu một cuộc chiến khác đẫm máu hơn (29)

Hai cuốn sách Mỹ mới viết gần đây cũng nhận định ĐBP thất thủ đã khiến Mỹ phải tham chiến tại VN. Fredrik Logevall Giáo sư lịch sử , tác giả cuốn “Tàn Lửa Của Cuộc Chiến Tranh, Sự Sụp Đổ Của Đế Quốc Pháp Và Khởi Đầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại Việt Nam, dầy 840 trang, in năm 2012 (Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam). Tác giả nói ĐBP đã làm sụp đổ đế quốc Pháp và khiến người Mỹ tham dự vào cuộc chiến VN.

Ký giả Ted Morgan viết “Thung Lũng Tử Thần,Thảm Kịch Điện Biên Phủ Đã Đưa Mỹ Vào Cuộc Chiến Việt Nam, dầy 722 trang, in năm 2010” (The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War). Tác giả cũng muốn nói Mỹ không anh tạc cứu ĐBP nên đã phải đối đầu với cuộc chiến VN.

Năm 1954 Thượng nghị sĩ Johnson, trưởng khối thiểu số đã đưa điều kiện đòi hỏi Eisenhower phải lập liên minh các nước, nó được tám vị dân cử đồng ý và đã cản trở hành pháp thực hiện Kên kên.

Bất ngờ cuối thập niên 50 Hà Nội phát động chiến tranh xâm lược miền nam VN. Dưới thời Kennedy 1961, 62, 63 cuộc chiến chưa mở rộng nhiều. Lyndon B. Johnson lên thay Kennedy bị ám sát cuối 1963 và đắc cử TT 1964. Rút kinh nghiệm biến cố do chính mình gây ra tháng 4-1954, nay 1964, khi làm Tổng thống ông đã vận động được Quốc hội ủng hộ Hành pháp ra Nghị quyết tháng 8-1964 dành cho Tổng thống quyền hạn can thiệp vào miền nam VN. Những năm 1964, 1965 lợi dụng tình hình chính trị miền nam xáo trộn, Cộng quân gia tăng xâm nhập quân chính qui và bắt đầu đánh lớn, miền nam có nguy cơ mất về tay CS

Tháng 2-1965 qua thăm dò của Harris poll, 78% người dân ủng hộ cuộc chiến chống CS tại đông nam Á, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ Chính phủ, thuyết Domino được tin tưởng mạnh

Đầu tháng 3-1965, sau khi đắc cử Tổng thống, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt mục đích ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến họ phải từ bỏ cuộc chiến ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả nên Johnson và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào VNCH để có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (30)

Tổng thống Johnson đã có một lựa chọn định mệnh, đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can thiệp vào VN ồ ạt (31). Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965). Trung bình mỗi năm tăng quân 100,000 cho tới năm 1968 lên tới đỉnh cao 536,100 người

Giữa năm 1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ trong vòng 6 tháng, BV tấn công liên tục, tình hình quân sự ngày càng xấu (32). Thực trạng nguy kịch của miền nam VN khiến Johnson quyết định đưa quân vào. Những năm 1964, 1965 tỷ lệ ủng hộ của người dân và Quốc hội rất cao người ta tin tưởng vào thuyết Donino và chính sách be bờ ngăn chận CS tại ĐNA. Rút kinh nghiệm năm 1950 TT Truman để mất Trung Hoa, Johnson quyết không để VN lọt vào tay CS.

Chính sách oanh tạc và quân sự của Johnson có mục đích đe dọa địch để chúng phải vào bàn hội nghị nhưng ông đã thất bại, sau này TT Nixon nhận xét

“Ta cần phải biết rằng không thể mơn trớn dụ dỗ Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến. Chúng ta phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (33)

Johnson đã sai lầm 1954 nay lại sai lầm thêm một lần nữa, ông ta chủ quan khinh địch, Hà Nội đã có khối CS quốc tế Nga, Trung Cộng, Đông Âu đứng sau lưng.

Các chiến dịch quân sự tại miền nam VN tuy có kết quả cụ thể, giết được nhiều Việt Cộng, từ đầu 1965 cho tới cưối 1967, trong vòng ba năm địch bị thiệt hại 344,000 quân (34) nhưng chúng vẫn tiếp tục xâm nhập. Cuối năm 1968 trả lời phỏng vấn nữ ký giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân.

Cuộc chiến tranh hạn chế của Johnson và Bộ trưởng quốc phòng McNamara thất bại. Sau này tháng 4-1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lệnh Mỹ tại VN và Đô đốc Grant Sharp, Cựu Tư lệnhThái Bình Dương đã công bố bản phúc trình công kích chính sách chiến tranh và oanh tạc hạn chế của Johnson-McNamara, không cho đánh qua hậu cần địch Mên, Lào… đã đưa tới thất bại

CSBV đưa 84,000 quân vào trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tổng cộng 58, 370 tên bị giết, 9,400 người bị bắt làm tù binh. Mặc dù thảm bại, nhưng Hà Nội đã thắng lớn về chính trị, phong trào phản chiến tại Mỹ lên rất cao, người dân quyết tâm đòi hòa bình, vào lúc này số binh sỉ Mỹ tử trận tại VN đã lên gần 20,000 người. Miền nam VN thắng một trận lớn nhưng thua cuộc chiến.

Năm 1965 tỷ lệ ủng hộ là 61%, cuối 1966 còn 51%, cuối 1967 còn 48%, tháng 2-1968 còn 41%, cuối 1968 chỉ còn 35%(35).
Sau trận Tết Mậu Thân, TT Johnson đề nghị Hà Nội đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, CSBV nhận lời. Hòa đàm Paris mở đầu từ 10-5-1968.

Johnson-McNamara thất bại không thắng được BV khiến cho cuộc chiến tại đất nhà lên cao, hai nhà chính trị đã phạm nhiều sai lầm trong việc lãnh đạo cuộc chiến mà đáng lý ra phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965.

Năm 1969, Nixon đắc cử Tổng thống thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, cho rút quân về nước, phong trào phản chiến lên cao mạnh hơn trước rất nhiều. Năm 1968 quân đội VNCH có 820,000 người, năm 1969 lên 897,000 người, năm 1970 lên 968.000, năm 1971 lên 1,046,250, năm 1973 lên 1,110,000.

Năm 1969 Mỹ rút 61,000 người, năm 1970 rút 141,000 người, năm 1971 rút 178,000 người, năm 1972 chỉ còn 24,000 người, năm sau còn 50 người. (36). Trận Mậu Thân 1968 đánh dấu ý định rút bỏ Đông Dương của người Mỹ, năm 1969 họ rút quân dần dần thỏa mãn nguyện vọng người dân.

VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH và để giúp chính phủ Miên chống lại áp lực của CS.

Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh,

Kế đó cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào bắt đầu ngày 8-2-1971, BV phản công mạnh. Ông Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, một thời gian ngắn sau khi quân đội VNCH tới Tchpone, họ rút lui về phía nam theo đường 914 bị Cộng quân truy kích thiệt hại nhiều. Cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày. Mặc dù không đạt kết quả nhưng cũng gây nhiều thiệt hại nặng cho CSBV.

Kissinger đàm phán đi đêm với BV tại Ba Lê, cuộc hội nghị kéo dài mấy năm. Hà Nội thương thuyết rất dai dẳng, đây là cuộc hòa đàm bẩn thỉu nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới. Hà Nội không từ một mánh khóe hạ tiện nào để đạt thắng lợi tại bàn Hội nghị. Tháng 3-1972, lợi dụng khi quân đội Mỹ rút về gần hết, Hà Nội mở trận tổng tấn công miền nam VN với trên mười sư đoàn và nhiều xe tăng, đại bác. Tháng 2-1972 Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông, cái bắt tay thay đổi nhiều thập niên. Tháng 5-1972 Nixon họp thượng dỉnh tại Mạc Tư Khoa, hai bên thỏa thuận tài giảm binh bị. Trong năm 1972 ông ta vừa đánh bại CSBV, bắt tay Trung Cộng, hòa với Nga.

Trong tháng 5 -1972 miền nam đã thắng thế BV, TT Nixon oanh tạc Cộng quân dữ dội bằng B-52 để yểm trợ VNCH, ông nói chúng ta đã có khuynh hướng dọa cho dữ nhưng làm ít, đó là điểm yếu của chính phủ Johnson

(I think we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was certainy the weakness of the Johnson administration).
(37)

Nixon là người cứng rắn dám dùng sức mạnh tối đa khi cần nhưng cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của miền nam VN về chính trị. CSBV bị thiệt hại nặng trong trận muà hè đỏ lửa này, tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (38). Sau trận thảm bại 1972, Hà Nội chịu nhượng bộ tại bàn hội nghị: không đòi TT Thiệu từ chức, không đòi miền nam trung lập, VNCH chống đối hòa đàm. Bầu cử Tổng thống 7/11/1972 về cử tri đoàn Nixon thắng 49 tiểu bang, 520 điểm, thắng 47 triệu phiếu phổ phông, 60.7% số phiếu bầu, hơn McGovern 18 triệu phiếu, trận thắng cử lớn nhất từ xưa tới nay. Nixon đã đem quân về nước, lấy lại tù binh, không bỏ đồng minh, hòa với Nga, bang giao với Trung Cộng

Trước sự thúc ép của Quốc hội, Nixon ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Cộng quân không phải rút về Bắc, miền nam thắng mà như thua. Trước khi ký Hiệp định, Lập pháp hứa với Hành pháp sẽ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH nhưng khi đã đem quân về nước, họ trở mặt cắt giảm dần dần.

Sau ngày ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và 70,000 người xâm nhập miền Nam . Quốc hội Mỹ bắt đầu soạn tu chính án cấm xử dụng mọi ngân khoản cho các cuộc oanh tạc tại Đông Dương. Nixon ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự của My tại Miên, Lào, Bắc và Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.

Nixon không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN, Quốc hội đã cho phép lãnh đạo Hà Nội tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến. Ngày 7-11-1973 hình thành luật hạn chế quyền Tổng thống.

Sau ngày ngưng bắn, Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào. Khi kết thúc Hiệp định Paris, Nixon đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết (39)
Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, ông tân Tổng thống này chỉ là bù nhìn khi đảng đối lập Dân chủ nắm ưu thế hoàn toàn tại Quốc hội: 67% Hạ viện và 60% Thượng viện.

Quốc hội Dân chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả thù cho thất bại nhục nhã trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt giảm viện trợ quân sự miền nam VN như trên. Hậu quả của sự cắt giảm tàn nhẫn này là tháng 4-1975, pháo binh VNCH hết đạn, máy bay hết săng, nhiên liệu…

Quốc hội lợi dụng thành quả của Hành pháp Nixon: Hòa với Nga, bắt tay Trung Cộng để bỏ Đông Dương, nay thiên hạ thái bình, thuyết Domino không còn ý nghĩa, CS không còn là mối nguy đe dọa ĐNA.

Nhờ xương máu của hàng triệu quân dân VNCH mà họ đã hòa được với Nga, Tầu khi cả hai phía đã cùng mệt mỏi. Nay miếng xương Đông Dương không còn ý nghĩa.

Từ thập niên 80 Hoa Kỳ và các nước Tây phương đầu tư vào Hoa Lục hy vọng nâng cao đời sống của họ để rồi từ từ chế độ Cộng sản sẽ phai mầu hóa ra hiền lành không còn hiếu chiến như xưa. Đầu thập niên 90 chế độ CS sụp đổ tại Liên Xô, Đông Âu khiến người Mỹ càng tin tưởng họ đang được hưởng thái bình đời vua Nghiêu Thuấn.

Mấy chục năm trôi qua, người Mỹ bỏ Đông Dương vì tin rằng đã hòa được với CS quốc tế, niềm tin nay đã thành ảo tưởng. Trung Cộng càng giầu, kinh tế phồn thịnh càng hung dữ hơn trước.

Nay ngân sách quốc phòng Trung Cộng (40) tăng lên 188 tỷ Mỹ kim gần bằng 1/3 của Mỹ (640 tỷ).Trong vòng 10 năm từ 2002 tới 2012 chi phí quốc phòng Trung Cộng tăng lên hơn gấp năm lần (41). Một hai thập niên trước họ chưa giầu mạnh ra vẻ khiêm tốn nay ra mặt thách thức Mỹ tại biển đông.

Nga từ bỏ chế độ CS, dân số chỉ còn 145 triệu nhưng cũng tăng cường ngân sách quốc phòng lên 88 tỷ Mỹ kim đứng thứ ba trên thế giới, họ trở lại chính sách bành trướng xa xưa. Tình hình Ukraine 2014 căng thẳng do Nga gây hấn can thiệp, Tổng thống Putin sáp nhập những tỉnh biên giới và thách thức Mỹ, Tây Âu. Trong cơn nóng giận ông ta hăm dọa: Nga là nước duy nhất trên thế giới có khả năng biến nước Mỹ thành tro bụi.

Tác giả Ted Morgan trong “The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War”, trang 411 nói về Điện Biên Phủ

“Tháng 3 và tháng 4 năm 1954 Mao tăng viện trợ cho VM 4 tiểu đoàn phòng không, VM được huấn luyện tại Trung Cộng với súng cao xạ 37 ly và đã được đưa tới ĐBP…..
. . . . Mao cho huấn luyện thêm hai sư đoàn pháo và hai tiểu đoàn công binh cho VM. . .
Về việc cố vấn và viện trợ Mao có ưu thế hơn Mỹ nhiều, ông ta không phải vận động quốc hội như Mỹ, Mao thảo lệnh và được thi hành ngay, Việt Minh không cãi lại ý kiến của Trung Cộng trong khi Pháp luôn than phiền Mỹ can dự vào”.

Trong khi Mao, Staline ban lệnh và được thi hành ngay, Tổng thống Mỹ phải thăm dò ý kiến người dân, tham khảo Quốc hội, ngoài ra Anh-Pháp-Mỹ chia rẽ nhau vì quyền lợi, như thế không thể thắng được cuộc chiến.

Tại một đất nước mà chính phủ không có thực quyền, đảng nọ phá đảng kia, Quốc hội lộng hành, người dân yêu sách… thì các đồng minh của họ bị chết oan vì bức tử là điều không có gì khó hiểu.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/96717/hoa-ky-va-van-de-tu-bo-dong-minh/2015/06

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

► Ý kiến anh tài xế taxi

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Theo Fb Nguyễn Tuấn

26-6-2015

Tôi thích trò chuyện và nghe ý kiến của giới tài xế taxi. Những ý kiến, những trăn trở của họ có thể ví như là một nhiệt kế thời sự. Hôm qua, đón chiếc taxi hiệu TN ở trung tâm Hà Nội về khách sạn, và có dịp nghe những ý kiến của anh tài xế trẻ làm mình có nhiều … tâm tư.

Bước lên xe, nghe giọng Nam kì của tôi, anh ta hỏi một cách dè dặt: bác từ trong Nam ra? Tôi gật đầu, và vui vẻ thêm rằng đáng lí ra người trong ấy nói giọng Bắc, nhưng chắc do đột biến nên giọng nói cứ phai dần từ Hà Lội, chuyển hoá sang trọ trẹ ở Quảng Bình, Huế, nẫu ở Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, và dịu dần cho tuốt đến Cà Mau thì mất luôn âm hưởng Bắc kì. Anh ta cười lớn, thấy tôi có vẻ vui tính, nên nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, làm cho chuyến đi xa trở nên ngắn lại.

Anh ta hỏi tôi nghĩ gì về Hà Nội. Được hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một phút. Tôi nói cảm nhận cá nhân của tôi là (1) Hà Nội hơi chật hẹp, không gian có vẻ ngột ngạt; (2) bất tiện ban đêm vì sau 10 giờ tối thì hàng quán ăn uống đóng cửa; (3) khó tìm chỗ nghe nhạc sống, thậm chí khó tìm giải trí bình dân “hát cho nhau nghe” theo kiểu Sài thành; (4) người dân có vẻ thiếu tính thân thiện, nhìn khách một cách dò xét, và khi họ đội nón cối xanh nữa thì trông rất lạ, nhưng trong thực tế họ lại thân thiện; (5) mấy cô Hà thành hình như có xu hướng mang giầy cao gót với độ cao cao hơn và dốc hơn mấy cô Sài thành, và như thế là nguy hiểm vì khi té là dễ bị gãy xương …

Tôi nói chưa hết những cảm nhận của tôi thì anh ta chen vào nói một mạch như vừa giải thích, vừa giải toả những bức bối nội tâm. Anh nói không chỉ Hà Nội mà những nơi khác ngoài Bắc cũng rất chật hẹp và ngột ngạt, và đó chính là lí do nhiều người ngoài Bắc bỏ quê vào Nam lập nghiệp, rồi khi định cư trong Nam thì họ không về Bắc mà gọi Nam là quê hương luôn. Anh ta chỉ ra một sự thật: Bác có thấy dân Nam ra ngoài này và gọi nơi này quê hương không?

Bằng một giọng nói Bắc kì trầm bổng, bỏ dấu đâu ra đó, và cách lập luận chặt chẽ, tôi chợt nghĩ đến hay là anh chàng này là sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm nên làm nghề lái taxi. Nghĩ thế tôi nhìn anh tài xế cho kĩ hơn. Thấy anh ta còn trẻ, chưa đầy 30, người có vẻ ốm yếu nhưng làn da nâu có lẽ do ngồi taxi tối ngày, mắt sáng, ăn mặc đàng hoàng. Tôi đón xe một cách ngẫu nhiên, chứ không qua ai đó gọi đến, nên tôi nghĩ khả năng cao anh ta không phải là “DLV”. Tôi cảm thấy yên tâm rằng đây là dân thật, chứ không đóng kịch.

Rồi anh ta nói tiếp điểm thứ hai. Anh nói rằng thật ra, Hà Nội cũng có những điểm ăn tối đấy, và họ cũng mở đến 3 giờ sáng, nhưng phải là dân địa phương mới biết. Anh ta thêm rằng nhưng những quán như thế thường không có “đèn sáng” như khu Nguyễn Trãi ở Sài Gòn. Còn nghe nhạc thì anh ấy nói cũng có chỗ luôn, nhưng phải nhờ người sành điệu mới biết. Anh ta cho biết dân Hà thành không có dịch vụ kiểu “hát cho nhau nghe” như trong Sài Gòn. Rồi anh ta khuyên tôi không nên đến mấy chỗ nghe nhạc ban đêm, vì … chẳng có gì hay.

Đến điểm thứ 4, anh ta phản đối tôi. Anh nói rằng người dân ngoài này có thói sống 2 mặt. Ngoài mặt họ thân thiện với bác, đằng sau họ không ưa bác đâu. Này, cháu là dân Hà Tây, Bắc kì 100% nhé, mà cháu cũng cảm thấy không thích cái thói đó. Bác lịch sự quá, cháu làm nghề này và nghe dân Nam ra đây chửi chúng cháu là quân ăn cướp, chặt chém các bác ấy, nhưng cháu cũng phải công nhận các bác ấy nói có phần đúng đấy. Tôi phải vận dụng kĩ năng ngoại giao và nói với anh ấy rằng ở Hà Nội, cũng như ở Sài Gòn, có người thế này thế kia, tôi thì không nghĩ đồng hương ngoài này là “quân ăn cướp”, vì nếu nói ăn cướp thì trong Sài Gòn mới đúng là ăn cướp và còn nguy hiểm nữa. Anh ta không chịu và phản biện: không, ăn cướp trong ấy là manh động và qui mô nhỏ, còn ăn cướp ngoài này là qui mô lớn và êm ái, bác à. Lần đầu tiên tôi nghe khái niệm “ăn cướp êm ái”!

Như để minh hoạ, anh ta đưa tay chỉ về hướng thành phố do một đại gia tỉ phú USD xây, anh ta nói: đấy, đó là ăn cướp đấy bác. À, thì ra, anh chàng này nói ăn cướp theo cái nghĩa rộng hơn. Anh ta nói ngày xưa đất ở đây chỉ là đồng ruộng thôi, rồi cái tay đại gia này vào, dùng uy thế hay quyền thế để xua đuổi người dân, rồi xây dựng lên một thành phố trong thành phố và giàu thêm, còn người dân và mồ mả bao đời ở đây thì bị dạt ra ngoài thành phố. Anh ta nói một mạch, rồi hỏi tôi: bác có biết vụ cướp đất ở Hưng Yên không? Tôi chạy một cái scan trong não và chưa nghĩ ra vụ nào, nên lắc đầu. Anh ta nói rằng ở Hưng Yên có một đại gia là anh của đại gia anh ta vừa nói đến đó mua đất giá rẻ mạt, sau đó một đại gia khác đến mua đất giá đắt hơn chút, và thế là người dân biết mình bị lừa, nhưng biết thì đất đã mất rồi và họ trở thành “dân oan”. Anh ta nói say sưa, như anh ta chính là nạn nhân hay là một dân oan vậy.

Tôi thấy anh ta có vẻ biết nhiều chuyện, nên hỏi anh ta nghĩ gì về chuyện Biển Đông. Anh ta có những phát biểu chứng tỏ rõ ràng anh ta đọc báo lề dân hơi nhiều. Anh ta nói rằng VN chúng ta sẽ có nguy cơ cao bị Bắc thuộc lần nữa. Rồi anh ta tỏ vẻ tiếc nuối thời xa xưa. Anh nói tư tưởng của cụ Hồ là đúng đấy, nhưng các bác sau này chẳng ai làm theo cụ Hồ nên đất nước ra nông nỗi này. Đột nhiên, anh ta nói như so sánh rằng cái chính quyền VNCH ấy nó phản dân hại nước chạy theo Mĩ nên cũng chả ra gì. Tôi tò mò hỏi anh ấy là anh đi đến nhận định cái chính quyền phản dân hại nước và tay sai đó từ đâu, thì anh ta cười nói: dạ, cháu chỉ đọc sách báo thôi ạ. À, câu này giải thích tại sao em ấy là fan của tư tưởng cụ Hồ.

Cuộc trò chuyện càng lúc càng hào hứng, nhưng rồi cũng đến lúc chia tay. Xe trờ đến khách sạn, cuộc trò chuyện phải tạm chấm dứt. Tôi đưa tiền cho anh ấy và dặn làm chẵn, coi như một cách tặng thêm cho anh ta hai chục ngàn để nuôi vợ con (hay bồ bịch). Anh ta thối tiền đàng hoàng, và thấy tôi kín đáo đếm tiền, anh ta nói đùa: bác cẩn thận coi chừng bọn Hà Nội ăn cướp tiền đó nhé. Tôi cười lớn, vỗ vai anh ta, rồi nói lời tạm biệt, chúc anh ta nhiều may mắn trong một cái nghề khác thích hợp hơn với trí thông minh và tính hóm hỉnh của anh.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►“Nếu chúng ta nói rõ cái gì của ai thì đất nước đã khác”

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Tư Giang lược ghi

TS Phạm Duy Nghĩa.

Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã có bài thảo luận về quyền sở hữu tại một hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức vào ngày 25-6. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online lược ghi.

Điều gì đã cản trở Việt Nam trong 20 năm vừa rồi không thể phát triển? Thực ra, trong 30 năm vừa rồi, mình cải cách nửa chừng, giúp đất nước phát triển, nhưng cũng làm đất nước vướng nhiều cái do mình làm không đến nơi đến chốn….

Nền kinh tế tư nhân chia thành hai loại. Một loại giàu lên rất nhanh. Ngay như điểm tin sáng nay cũng thấy, có đại gia ôm hàng trăm tỉ tiền mặt vào Phú Quốc mua đất. Sự giàu có của một bộ phận tư nhân gắn bó với sân sau, với những người có quyền phân chia đất. Như vậy, có một bộ phận tư nhân phát triển rất tốt, tốt một cách không tin được. Nhưng có một bộ phận tư nhân khác, tức hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân chết mà không chết được, teo tóp đi.

Tức là loại nào mà bám vào chính quyền, quan hệ tốt, trở thành sân sau thì phát triển rất tốt, còn loại không có được những quan hệ đó rất khó.

Còn về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì bao nhiêu năm nay vẫn không có gì mới. Chúng ta đã nói từ mấy chục năm nay rồi. Sở hữu không rõ, thành ra nhiều anh khai thác quyền của mình để kiếm được lợi tư từ khối DNNN.

Vì vậy, DNNN thích hợp với những ai nắm quyền quản trị, và can thiệp được vào khối tài sản này. Cũng có những DNNN thành công như Vinamilk, Viettel… Nhưng còn các DNNN khác thì cũng có nhiều khó khăn lắm. Những khó khăn này dẫn đến thoái vốn, bán tống bán tháo tài sản nhà nước đi. Rồi dưới chiêu bài xã hội hóa, công tư hợp doanh để phân phối tài sản công cho tư nhân cũng khá nguy hiểm.

Khu vực thứ 3 là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) thì lại đang phát triển tốt, ngày càng tăng trưởng. Lập luận của chúng tôi là, hóa ra khu vực này nó không dùng luật Việt Nam mình. Tài lực, vật lực nó mang từ bên ngoài vào, thuê đất, nhân công của mình, lắp ráp ở mình rồi bán đi. Tài sản của họ ở mình thì có nhiều đâu. Nếu có tranh chấp thì họ có nhờ tòa mình xử đâu, họ mang ra nước ngoài.

Như vậy, thể chế của Việt Nam mình chỉ làm khổ dân mình thôi, chứ không làm khổ khu vực nước ngoài nhiều lắm. Chính vì vậy, họ vay mượn từ bên ngoài, họ vượt qua được thể chế của mình. Đó là lý do giải thích vì sao khu vực FDI có thể đóng góp vào xuất khẩu lớn với lý do không vướng vào những phiền nhiễu của chế độ sở hữu trong nước.

Bây giờ cải cách thế nào? Nếu mà đất nước nói rõ cái gì của ai thì đã khác. Chỉ đơn giản thế thôi chứ có gì đâu mà phải nghĩ ngợi cho nhiều. Chẳng hạn như lô đất này của VCCI, thì chủ của nó là VCCI. VCCI không thích thì bán, hay cho thuê. Như vậy sẽ rõ chủ sở hữu của mảnh đất là ai…

Hơn 10 năm trước, chúng tôi từng nói một ý rằng: sở hữu toàn dân là cái ý chí chính trị, nhưng khái niệm ấy không dùng được, không có ý nghĩa về pháp lý. Nó phải có chủ thể rõ ràng. Lấy ví dụ, Hà Nội hay TP.HCM là một pháp nhân. Là pháp nhân thì họ có đất, cây… khi cây đổ vào ô tô của tôi thì tôi có thể kiện chính quyền. Sở hữu toàn dân như là một vòng kim cô. Việt Nam mình phải làm như Trung Quốc năm 2007 khi ban hành luật về vật quyền.

Sở hữu toàn dân rất có lợi cho những người biến ao ruộng, miếng đất đáng giá thành bao nhiêu cây vàng. Cái lợi ấy chạy hết vào túi của những người đó, nhà nước chẳng thu được đồng thuế nào, vì phần lớn sẽ nằm trong tay những người có quyền quyết định đối với những lô đất đó. Vì thuộc về toàn dân, thuộc quyền nhà nước nên xảy ra nhũng nhiễu, hạnh họe người ta. Nếu sở hữu rõ ràng thì phải thương lượng. Vì không rõ sở hữu nên nay anh thu hồi, mai anh chuyển đổi. Những người đó giàu lên rất dữ nhưng nó làm cho doanh nghiệp không dám đầu tư lớn. Thể chế sở hữu không chắc chắn thì không ai dám đầu tư.

Rất nhiều đại gia Việt Nam bây giờ đang bán tài sản cho nước ngoài. Đây cũng là điều cảnh báo cho những nhà làm chính trị tại Việt Nam. Khi những đại gia này làm ăn đến mức nào đó … người ta bán đi.

Ngoài ra còn có những loại sở hữu thông qua hợp đồng. Chẳng hạn có người sở hữu biệt thự ở Vũng Tàu, cho thuê 2 tuần/lần. Người ta sẽ sáng tạo ra đủ thứ sở hữu. Đáng ra luật pháp phải đảm bảo sự tự do đó, và dùng hệ thống tòa án bảo vệ những điều đó.

Thứ 3, giả sử một người làm ăn tồi, vỡ nợ, thì tài sản đó phải nhanh chóng chuyển sang tay chủ nợ. Chẳng hạn một ngày đẹp trời, OceanBank, Ngân hàng Xây dựng sẽ chuyển sang cho anh khác. Nên luật phá sản là cái roi rất dữ đe nẹt những anh làm ăn dở. Nhưng mình chưa bảo vệ được những chủ nợ.

Nhưng vấn đề sở hữu ở đất nước mình chưa ai dám thảo luận rộng, sâu.

Giới nhà giàu có được quyền lợi từ cái đó cũng không muốn đổi, còn những thành phần khác muốn đổi thì tiếng nói không mạnh.

Bây giờ, nhà nước muốn lấy đất đai của dân thì khó hơn một chút, giá thì do nhà nước đề ra, dân mất đất thì có thể khiếu nại, tố cáo… Thế thì vòng vo tam quốc nhưng mình có chữa được luật đâu. Hôm nay mình nói mạnh hơn để cố gắng 20 năm sau con cháu mình nó có cái nhà của nó là của nó, không phải của nhà nước. Nhà nước muốn lấy, thu hồi thì phải thương lượng, mua với giá đàng hoàng, chứ không thể thu hồi không.

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Viết Từ Sài Gòn – Ngu dốt luôn đi đôi với bảo thủ

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2015

23-6-2015

rfavietnam.com/node/2658

Năm ngoái, chuyện này cũng đã rùm beng, thậm chí được báo chí trong nước đẩy lên thành sự kiện chính trị, nhiều tờ báo loan tin, đại khái: “ngành an ninh đã bắt được một số lượng lớn nón cối, quần áo, giày dép nhà binh Mỹ. Có thể đây là nguồn hàng có liên quan đến những nhân vật ‘anh hùng rừng lá thấp’ đã âm thầm hoạt động chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Và bản tin kiểu đó xuất hiện khá nhiều. Sau đó bặt đi gần một năm, mãi đến khi chuyện hợp đồng may quân phục Mỹ của một doanh nghiệp Việt Nam bị hủy, doanh nghiệp Việt Nam mất đứt hợp đồng trị giá hai tỉ USD, chuyện mới vỡ xòa.

Mà buồn cười nhất là vấn đề cái dốt, sự ngu muội luôn đi đôi với tính bảo thủ thành một chân lý. Cái chân lý buồn cười này không phải quốc gia nào cũng vinh hạnh có được giống như Việt Nam. Cũng xin nói thêm, vụ tịch thu hàng mẫu trong hợp đồng quân phục Mỹ này do an ninh một sân bay quốc tế Việt Nam lập công. Cũng giống như bao cảng hàng không quốc tế tại Việt Nam, đâu đâu cũng có thể bắt gặp hệ thống an ninh sân bay rất gắt gao, soi từng cọng lông nhưng hành lý của khách mất vẫn cứ mất, Việt Kiều thì mất càng bạo tay hơn.

Đó chỉ là chuyện mất vặt, nhưng mất hợp đồng hai tỉ đô la Mỹ thì chuyện chẳng phải đùa nữa. thế nhưng mất hợp đồng thì doanh nghiệp tự chịu lấy, chẳng có ông an ninh nào, bà hải quan nào đứng ra chịu trách nhiệm hay xin lỗi “khổ chủ”. Và trong trường hợp này, cũng khó mà kiện được bởi bị đơn là một hệ thống đang được nhà cầm quyền trung ương ưu ái nhất – hệ thống công an.

Không phải đơn giản muốn cấm thì cấm, muốn thu thì ngang nhiên tịch thu hay muốn khoắn thì tha hồ khoắn mà đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến danh dự nghề nghiệp, danh dự quốc gia. Một khi phạm tội, sai phạm nhiều lần mà hệ thống này vẫn cứ hoạt động nhịp nhàng, vẫn cứ khoắn của hành khách đều đều và gây tổn thất hợp đồng hai tỉ USD cứ như chuyện đùa thì chắc chắn bên trên hệ thống đó phải có cái dù to lớn đến mức che cả mặt trời, che cả công lý và che cả lòng dân rồi.

Thiết nghĩ cũng không cần bàn thêm về cái dù mà thử đặt câu hỏi tại sao có những cái dù hết sức kì cục như vậy, vừa bao che cho cái xấu, đỡ đầu cho tội ác lại vừa gián tiếp bán rẻ danh dự quốc gia, bôi tro trét trấu lên gương mặt dân tộc?

Vì gì? Câu trả lời không thể xoay vào đâu được ngoài cái vì độc tài, độc đoán và bảo thủ. Vì độc tài, người ta tôn vinh tính độc đoán và để đảm bảo độc đoán, người ta hành xử bảo thủ. Bởi vì chỉ có bảo thủ mới đảm bảo được những yêu cầu của độc đoán và độc tài. Và để đảm bảo sự bảo thủ của mình được thông suốt, không bị lực cản, người ta buộc phải dùng đến hệ thống khát máu, gian xảo, bất chấp thủ đoạn. Hiện tại, để có hệ thống theo chiều dọc nhằm đảm bảo tính bảo thủ của chế độ cầm quyền để bảo vệ nền độc tài, người ta đã sử dụng lực lượng mang tính chất vừa nêu.

Và an ninh sân bay là một trong những nhóm tay chân, bộ hạ nhằm bảo vệ nền độc tài. Đặc biệt, an ninh sân bay có công việc tương đối phức tạp, vừa liên quan đến nghiệp vụ an ninh thuần túy lại vừa liên quan đến chức năng bảo vệ đảng, bảo vệ nền độc tài. Chính vì kiểu làm việc kiêm nhiệm, đôi khi phải chịu khổ nhục về thể diện trước con mắt quốc tế như vậy mà an ninh sân bay được ưu ái nhiều thứ. Trong đó có ưu ái để ăn cắp vặt, ưu ái để phá hoại.

Sự việc an ninh sân bay phá hoại hay ăn cắp không còn xa lạ gì trong con mắt hành khách quốc tế cũng như hành khách trong nước. Nó vẫn diễn ra ngày càng mạnh bạo hơn và ngang nhiên không coi ai ra gì. Bởi vì nó được bảo kê bởi một hệ thống quyền lực bên trên. Nhưng vì sao người ta lại chọn phương thức tồn tại nhục nhã như thế? Bởi suy cho cùng, bất kỳ phương tiện nào đi đến mục đích có tính chất gian manh đều cho thấy mục đích chẳng tốt đẹp của nó.

Trong trường hợp này, lực lượng công an cùng với hệ thống hành vi hết sức vô văn hóa, gian manh và giảo hoạt của họ đều là phương tiện nhằm bảo vệ chế độ. Và một khi phương tiện ưu tú cỡ đó thì chắc không mấy khó khăn đoán ra mục đích cũng như bản chất tồn tại của nó. Bởi chỉ có sự ngu dốt mới đảm bảo cho tính bảo thủ đi cạnh nó lâu dài. Và bao giờ còn bảo thủ, còn nhũng nhiễu, còn độc tài thì sự ngu dốt còn hiện hữu, còn hoành hành mảnh đất Việt Nam này.

Rất tiếc là câu chuyện ngu dốt và bảo thủ, độc đoán, độc tài vẫn là câu chuyện chưa bao giờ có hồi kết thúc trong chế độ công an trị tại Việt Nam hiện tại! Và một khi nó còn hiện hữu thì cơ hội để tiến bộ cũng như cơ hội làm giàu, góp tay xây dựng đất nước của mọi doanh nghiệp, cá nhân đều bị con mắt soi mói của nó chiếu cố. Đợi cho nó đồng thuận sau một chu kì soi mói để được tiến bộ, làm giàu, chắc người ta đã già đi hoặc người ta đã phá sản vì nó. Đó là cái giá của một công dân sống dưới bóng mây độc tài, bảo thủ!

Theo RFA

—————————/——–

Những luận điểm ngụy biện của Đảng CSVN cần phải bị loại bỏ trong tư duy người Việt hiện đại 

23-6-2015

Dương Hoài Linh

85 năm dưới chính thể độc tài toàn trị, Đảng CSVN đã áp đặt những tư duy mông muội lên tâm thức người Việt và những hệ lụy ấy đang kéo dài đến ngày nay. Chúng đã gián tiếp tạo ra nhiều thế hệ thụ động, bảo thủ và lạc hậu đối với những quy luật phát triển của thế giới văn minh loài người. Thiết nghĩ đã đến lúc cần hệ thống lại và loại bỏ các luận điểm này ra khỏi suy nghĩ của người Việt nhằm hướng tới những tư tưởng tiến bộ hơn trong tiến trình phát triển đất nước:

1/ YÊU NƯỚC LÀ PHẢI YÊU CNXH:

Đây là luận điểm phi lý nhất trong các luận điểm phi lý. Nước là của cha ông có bốn ngàn năm văn hiến. CNXH là cái quái thai được tha về. Tại sao phải đồng nhất hai khái niệm này? Chính nhận thức này đã tạo ra sự nhân nhượng cho kẻ cùng chung ý thức hệ Trung Quốc dẫn đến hệ quả là chủ quyền quốc gia đang càng ngày càng mất vào tay kẻ cướp láng giềng. Đã đến lúc bỏ cái CNXH vào thùng rác và cần phải nêu cao tư tưởng bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách trời…”

2/ TRUNG VỚI ĐẢNG:

Đảng phái là một tổ chức chính trị tự nguyện, có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ. Đảng nắm quyền phải thông qua bầu cử tự do không áp đặt. Do đó bắt buộc hoặc cổ vũ “Trung với Đảng” là một điều khiên cưỡng. Đảng CSVN lại đang thực hiện mục tiêu định hướng XHCN, một mục tiêu mơ hồ ngay với chính lý luận của Đảng. Hơn nữa Đảng CS còn là một tổ chức không chính danh, ăn bám xã hội, độc tài và có trí tuệ thấp hơn mặt bằng dân trí của toàn xã hội. Vì vậy “Trung với Đảng” là tự sát tập thể.

3/ TỘI PHẢN CÁCH MẠNG XHCN:

Cách mạng là xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn. XHCN là cái lạc hậu, cái cần phải loại trừ do đó phản cách mạng XHCN không thể xem là một tội. Cần phải xem lại vai trò của những người dám phản cách mạng XHCN hiện nay vì đó mới là những người yêu nước thật sự. Không thể gán cho họ cái từ “phản động” một cách tùy tiện để phân biệt đối xử và tước bỏ tự do của họ.

4/ TỘI TUYÊN TRUYỀN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN:

Không thể có một “chính quyền nhân dân” trong một thể chế chính trị độc tài. Hai chữ “nhân dân” này đã bị tiếm danh. Khái niệm “nhân dân” chủ thể của quyền lực chỉ thực chất khi họ có khả năng bầu cử bằng lá phiếu và dùng lá phiếu để truất phế chính quyền. Khái niệm một nhà nước, một chính quyền hạn chế không phù hợp với nguyện vọng nhân dân đã có từ lâu trong lịch sử thế giới. Thay thế một chính quyền không còn phù hợp là một việc làm chính đáng. Do đó không thể có tội “Tuyên truyền lật đổ chính quyền nhân dân” mà chỉ có tội”Lợi dụng nhân dân để nắm quyền lực và làm tha hóa quyền lực”.

5/ TỘI ĐE DỌA AN NINH QUỐC GIA:

An ninh quốc gia là một khái niệm để chỉ sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Để có an ninh quốc gia, một quốc gia cần phải có an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường,.. Do vậy đe dọa an ninh quốc gia thường rơi vào những kẻ nắm trong tay quyền lực. Đó là “tham nhũng,buôn bán ma túy, nhóm lợi ích,tập đoàn lợi ích đa quốc gia”, những kẻ ký kết bán rẻ chủ quyền, quyền lợi quốc gia thông qua những hiệp định bí mật. Không thể dùng khái niệm này để áp đặt tội danh lên những người bất đồng chính kiến, những người chủ trương đấu tranh bất bạo động để thay đổi một thể chế chính trị.

6/ ĐA ĐẢNG LÀ LOẠN:

 

Đa đảng là hệ thống chính trị mà ở đó có hai hoặc nhiều hơn các đảng phái có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau. Hệ thống đa đảng là thiết yếu trong một nền dân chủ vì nó ngăn ngừa sự lãnh đạo của một đảng duy nhất dẫn đến những chính sách không mang tính cạnh tranh. #danluan Đa đảng là hệ thống tốt nhất để kiểm soát quyền lực chống tham nhũng, chống lạm quyền.

Chính quyền Việt Nam lợi dụng sự mất ổn định tạm thời của một số nước đa đảng như Thái Lan, Campuchia, Trung Đông, Châu Phi… để bài xích đa đảng là không thuyết phục. Bởi các nước này đang ở giai đoạn”dân chủ khiếm khuyết”, các chỉ sơ dân chủ chưa cao. Thực tế trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ thì có đến 118 theo hệ thống đa đảng. Cụ thể như sau: Châu Á có 24, châu Âu có 40, châu Mỹ có 22, châu Phi có 24 và châu Đại Dương có 8. Hầu hết các quốc gia đa đảng đều có sự ổn định chính trị, tính cạnh tranh và minh bạch trong điều hành xã hội đều rất cao.

7/ NGUYÊN TẮC DÂN CHỦ TẬP TRUNG:

Đây là nguyên tắc căn bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó thì “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”. (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5). Và: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương.”

Đây là một quan điểm ngụy biện. Thực chất của”dân chủ tập trung” là một thể chế độc tài toàn trị theo kiểu Stalin. Bởi vì người dân không được đề cử người mình muốn bầu mà là do Đảng cử. Do đó cái gọi là Đại Biểu quốc Hội đều không phải là Đại biểu của nhân dân mà là một sự lẫn lộn, pha tạp, hổ lốn giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp giữa chính quyền và các thành phần có chức quyền, địa vị trong xã hội. Tất cả trộn lại tạo thành một tập thể “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

8/ TỰ DO PHẢI THEO LUẬT PHÁP:

Đó là một quan điểm đúng nhưng không đủ. Tự do phải theo luật pháp nhưng phải là thứ luật pháp độc lập, không vi hiến và tuân theo các nguyên tắc căn bản của một nhà nước pháp trị. Trong nhà nước pháp trị các quyền hiến định phải được tôn trọng và phải có một cơ quan bảo hiến. Sự thượng tôn pháp luật phải được đặt lên hàng đầu và tất cả mọi công dân đều bình đẳng như nhau.

Do đó tự do là phải tôn trọng các quyền con người được hiến pháp quy định rõ ràng. Chà đạp lên hiến pháp bằng các điều luật vi hiến là chà đạp lên tự do của con người.

9/ NHẬN DIỆN THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Đảng CSVN thường dùng cụm từ “thế lực thù địch” để chỉ những người Việt bất đồng chính kiến ở nước ngoài. Nếu định nghĩa “thế lực thù địch” với đất nước Việt Nam là những kẻ ăn tàn phá hoại, bán đứng chủ quyền, đất đai, tài nguyên quốc gia, làm băng hoại các giềng mối đạo đức, đạo lý dân tộc thì kẻ đó chính là Đảng CSVN chứ không phải ai khác. Do đó phải nhận diện “thế lực thù địch” với dân tộc Việt nam không ở nước ngoài mà ở chính ngay trong nước.

Trên đây là một số luận điểm được Đảng CSVN ngụy tạo nhằm lợi dụng sự cả tin, nhẹ dạ và thiếu hiểu biết về chính trị của người dân nhằm mục đích duy trì quyền lực lãnh đạo của một thể chế độc tài thối nát,đã mất hết vai trò và sứ mệnh lịch sử. Thế lực này càng tồn tại ngày nào nhân dân Việt nam càng đau khổ ngày đó. Thế nhưng với bản chất coi trọng quyền lực, cố bám giữ quyền lực bằng mọi giá Đảng CSVN sẽ không bao giờ từ bỏ chiếc ngai vàng của mình. Chúng sẽ bỏ qua các nguy cơ mất nước,thảm họa nô lệ của dân tộc, vô cảm với những bất công xã hội, sự khốn cùng của người dân. Tất cả sẽ bằng vào ngụy biện, dối trá và bạo lực bất chấp luật pháp để tồn tại. Thế nhưng sự thật đang phơi bày ngày càng rõ ràng trước mắt và người dân đang ngày càng tỉnh táo hơn. Và có lẻ chỉ có người dân Việt nam mới có thể cứu lấy tương lai của chính họ sau này.

.

Posted in Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Kinh Te | Leave a Comment »

► Hồ Chí Minh và pháp lệnh “Trừng trị các tội phản cách mạng”

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

Blog RFA

Nguyễn Thị Từ Huy

21-06-2015

Các điều luật 78, 79, 88, 258 của bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đang được chính quyền sử dụng làm cơ sở pháp lý để, trong một số trường hợp, biến những người vô tội thành có tội; đó là trường hợp của những người yêu nước và những người đấu tranh cho dân chủ bị biến thành tội phạm.

Mục đích của tôi ở bài này không phải là nhằm chỉ ra sự vô lý hay tính chất phản dân chủ của các điều luật nêu trên đây. Mục đích của tôi ở đây là giới thiệu với quý độc giả văn bản pháp lý đầu tiên, cơ sở cho các điều luật ấy.

Văn bản đó là pháp lệnh « Trừng trị các tội phản cách mạng” do Hồ Chí Minh ký và ban hành tháng 11 năm 1967. Mặc dù pháp lệnh này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua, và do Trường Chinh ký trước khi trình lên chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh là người ký và ban hành trên toàn quốc, nên Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong văn bản.

Có thể tìm thấy văn bản này trên website của chính phủ. Tuy nhiên, văn bản trên website của chính phủ là văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Trường Chinh ký ngày 30/10/1967. Văn bản này được đệ trình lên Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành ngày 10/11/1967. Pháp lệnh này được công bố trên báo Nhân dân ngày 21/3/1968. Những thông tin này dẫn theo nguồn của Céline Marangé, trong cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991) ». Vì sao website của chính phủ đăng bản đệ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không đăng Pháp lệnh chính thức do Hồ Chí Minh ban hành ? Điều này có lẽ chỉ có Bộ Chính trị mới trả lời được.

 Văn bản của Hồ Chí Minh không còn hiệu lực, bởi nó đã được luật hóa bằng các điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, do Nông Đức Mạnh ký và ban hành năm 1999. Dĩ nhiên trước đó còn có những Bộ luật hình sự khác, nhưng chúng tôi không đề cập đến ở đây. Bộ luật hình sự 1999 là bộ luật hiện hành.

Ở đây tôi chỉ trích dẫn một số điều khoản tiêu biểu trong Pháp lệnh của Hồ Chí Minh, và đem so sánh với các điều khoản đã nêu ở trên, trong Bộ luật Hình sự.

 “Điều 1.

Tội phản cách mạng là tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phá hoại quốc phòng, phá hoại sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. »

Nội dung điều 1 của Pháp lệnh Hồ Chí Minh về cơ bản được chuyển vào trong nội dung điều 78 của Bộ luật Hình sự 1999:

Điều 78. Tội phản bội Tổ quốc 

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Ngay ở điều 1 của Pháp lệnh, ta thấy rằng: để định nghĩa “tội phản cách mạng”, Hồ Chí Minh đã đồng nhất tội danh này với tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tuy nhiên không định nghĩa rõ như thế nào thì bị xem là « chống ».

Mặc nhiên, “cách mạng” ở đây phải được hiểu là “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, vì sao có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc? Thời điểm này tôi chưa có câu trả lời. Thời điểm này tôi chưa hiểu được vì sao Hồ Chí Minh có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc.

Vì sao đem một thứ chủ nghĩa ngoại lai về du nhập vào Việt Nam rồi đem nó đồng nhất với Tổ quốc? Và vì sao biến những người bày tỏ sự phản đối chủ nghĩa đó thành tội phạm chống lại Tổ quốc ? Tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu để có một câu trả lời khả dĩ.

 “Điều 4. Tội âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân

Kẻ nào thành lập hoặc tham gia tổ chức phản cách mạng nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, phá bỏ chế độ chính trị, kinh tế và xã hội đã được Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định thì bị xử phạt như sau:

a) Bọn chủ mưu, cầm đầu, xúi giục, bọn hoạt động đắc lực thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình;

b) Bọn tham gia thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì kẻ phạm tội bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. »

Điều 4 này chính là điều 79 trong Bộ luật Hình sự của Nông Đức Mạnh:

Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Dưới thời Hồ Chí Minh, chính quyền được gọi là “chính quyền dân chủ nhân dân”; đến thời Nông Đức Mạnh, “dân chủ” đã biến mất, chỉ còn là “chính quyền nhân dân” (dĩ nhiên chữ “nhân dân” được dùng với chức năng gì thì cần được làm sáng tỏ vào một dịp khác). Ngoài ra có thể thấy ngôn ngữ văn bản hành chính dưới thời Hồ Chí Minh mang tính khẩu ngữ, thiếu chuẩn mực của văn phong hành chính, ví dụ sử dụng từ “bọn”.

Điều 15. Tội tuyên truyền phản cách mạng

Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà phạm tội như sau:

1. Tuyên truyền, cổ động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa;

2. Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý của địch; xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, phao đồn tin nhảm, gây hoang mang trong nhân dân;

3. Tuyên truyền cho chính sách nô dịch và cho văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc;

4. Viết, in, lưu hành, cất giấu sách, báo, phim, tranh, ảnh hoặc mọi tài liệu khác có nội dung và mục đích phản cách mạng;

thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm. »

Điều 15 này của Pháp lệnh, khi đi vào Bộ luật hình sự, đã trở thành điều 88:

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Ở đây có thể thấy: “Phản cách mạng” ở điều 15 Pháp lệnh của Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa thành “Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” ở điều 88 trong Bộ luật hình sự của Nông Đức Mạnh. Mặc dù thế, điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến tinh thần chuyên chế của cả Pháp lệnh lẫn Bộ luật hình sự, chẳng ảnh hưởng gì đến bản chất của sự việc: dưới thời Hồ Chí Minh cũng như dưới thời Nông Đức Mạnh và cho đến hiện nay, luật pháp được sử dụng như một công cụ để bảo vệ chế độ, chứ không phải để bảo vệ con người.

Như vậy, pháp lệnh “Trừng trị tội phản cách mạng”, do Hồ Chí Minh ban hành hai năm trước khi ông mất, chính là nguồn gốc của mọi sự đàn áp mà những người yêu nước không theo cách của chính quyền và những người bất đồng chính kiến hiện nay đang phải gánh chịu, trong đó có tôi (những đe dọa đối với cá nhân tôi và những người khác vẫn tồn tại trên các website mang tên và chức danh những lãnh đạo đương nhiệm thuộc hàng cao cấp nhất).

Khi đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc có lẽ Hồ Chí Minh không hình dung được rằng, Việt Nam sẽ nhanh chóng đi tới một giai đoạn mà những người kế nhiệm của ông sẽ phải đối diện với nan đề của lịch sử: muốn bảo vệ chủ nghĩa xã hội thì không thể nào bảo vệ được Tổ quốc, hay nói cách khác là sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội sẽ đẩy quốc gia tới chỗ mất độc lập. Tuy nhiên, chính quyền đương nhiệm, bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, bộ máy quốc hội, đang bộc lộ ý chí mạnh mẽ bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chế độ. Vì thế nhân dân không thể biết được số phận của Tổ quốc Việt Nam tới đây sẽ như thế nào. Trừ phi chính nhân dân tự thức tỉnh và tự giành cho mình quyền quyết định số phận của Tổ quốc.

Ngoài số phận mù mịt của Tổ quốc thì vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải trả lời : Vì sao Pháp lệnh này được ban hành năm 1967 ? Trong điều kiện cụ thể nào ? Vì sao phải đặt ra « tội phản cách mạng » ? Và vì sao phải đồng nhất tội phản cách mạng với tội phản bội Tổ quốc ? Vì sao đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc?

Paris, 21/6/2015

anhbasam.WordPress.com

Posted in Luật Pháp | Leave a Comment »

►Cho thắng thầu, DN Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng ‘tiền tươi’

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

(VTC News) – TS Lê Đăng Doanh nói về con số lại quả khổng lồ bằng ‘tiền tươi’ của ‘bậc thầy đút lót’ Trung Quốc cho đối tác ở nhiều dự án thắng thầu. 

Vì sao các doanh nghiệp Việt Nam “thích chơi” với Trung Quốc, sẵn sàng phụ thuộc vào thị trường này trong khi đây là thị trường chứa đựng khá nhiều rủi ro?  
 
Chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh đã trả lời phỏng vấn VTC News xung quanh vấn đề này.
 

– Ông từng nói “Trung Quốc là bậc thầy của đút lót”. Vậy nghĩa là sẽ có những “bậc thầy nhận đút lót”? 

TS Lê Đăng Doanh
Đúng là tình trạng nhận đút lót của doanh nghiệp Trung Quốc rất phổ biến và nghiêm trọng. 
 
Việc Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD, tương đương 130.000 tỷ hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc theo số liệu của Hải Quan Trung Quốc công bố thực sự rất nghiêm trọng. 
 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng. 
 
Việc thắng thầu cũng vậy, nguồn tin am hiểu nội bộ giấu tên cho biết Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng “tiền tươi”. 
 
Việc cho thuê rừng, đất rừng 50 năm trên diện tích rất lớn tại những vị trí chiến lược cũng có quá nhiều sự mờ ám. 
 
 
 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng.
 

Nhiều đài địa phương đua nhau chiếu phim Trung Quốc để nhà đài được Trung Quốc mời đi “nghiên cứu” cũng cần phải được xem xét.

 
– Như vậy rõ ràng có vấn đề lợi ích nhóm chi phối trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc?
 

Đúng là như thế.Rõ ràng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.

 
Vì vậy, muốn giảm sự phụ thuộc vô lý, rất có hại cho lợi ích quốc gia vào Trung Quốc thì phải cải cách thể chế của nước ta. 
 
Vừa qua, Chính phủ họp có thể thấy các tỉnh phía Nam rất bức xúc trước tình trạng phụ thuộc nguy hiểm này nhưng các tỉnh biên giới lại rất nhẹ nhàng cho ta thấy tính phức tạp của tình hình và không dễ khắc phục.
 
– “Đừng than phiền vì là hàng xóm của Trung Quốc, mà phải biết tận dụng lợi thế đó để tự chủ hơn trong kinh tế”, là vấn đề được ông nêu ra tại hội thảo mới đây. Theo ông, để tận dụng lợi thế đó, Việt Nam phải làm gì?
 
Trên thế giới có Phần Lan bên cạnh nước Nga, Canada bên cạnh nước Mỹ, các nước đó chịu nhiều sức ép, rất bất bình trước cách ứng xử áp đặt, thậm chí bắt nạt của nước lớn láng giềng nhưng họ có đối sách tốt và tận dụng vị trí đó để đi lên. 
 
Đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, một trong những dự án lớn của nước ta mà doanh nghiệp Trung Quốc thắng thầu   (Ảnh: Thế Kha)
Họ có chính sách kinh tế, cơ cấu kinh tế khác và bổ sung cho kinh tế nước lớn láng giềng, họ thoát hẳn khỏi tư duy chính sách của nước láng giềng. Sản phẩm của Phần Lan hoàn toàn khác Nga, hệ thống ngân hàng Canada có hiệu quả và ít bị khủng hoảng hơn Mỹ. 
 
Việt Nam cần học tập các nước đó để tận dụng được lợi thế gần Trung Quốc mà không bị phụ thuộc vào Trung Quốc. 
 
 
 
Vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.
 

Chúng ta phải có tư duy chính sách độc lập với Trung Quốc, lợi dụng các nước bạn ủng hộ ta, phát triển kinh tế bổ sung cho kinh tế Trung Quốc, làm cho kinh tế Trung Quốc cần ta chứ không lợi dụng và bắt nạt ta. 

 

Muốn thế phải có bộ máy trong sạch, không bị Trung Quốc mua chuộc hay bắt bí được.Bộ máy phải hiểu Trung Quốc để phát hiện ra mặt yếu của họ để làm khác đi.

Chúng ta phải học tiếng Hoa, nghiên cứu sâu sắc về Trung Quốc để không bị họ lừa, họ cho ta vào bẫy của họ.

 
– Đặt giả dụ Trung Quốc đột nhiên đóng hàng loạt cửa khẩu với Việt Nam như thông tin mà Bộ NN&PTNN đưa ra tuần trước, điều gì sẽ xảy ra với Việt Nam, thưa ông?
 
Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo, luôn sẵn sàng nuốt lời hứa, xé hiệp định cam kết họ vừa ký, cho nên, cần đề phòng tình huống xấu nhất là rất cần thiết. 
 

Ngay bây giờ Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường xuất-nhập khẩu, nếu vẫn phải tạm thời tiếp tục nhập từ Trung Quốc thì phải tìm cách nhập những linh kiện cần thiết qua một nước thứ ba.Ngành dệt may, da giày phải có ngay phương án để khỏi bị động.

Cần xây dựng những chuỗi giá trị, bán hàng giao sau để có thị trường ổn định cho nông sản.

 

vtc.vn/dn-trung-quoc-san-sang-lai-qua-toi-thieu-30-bang-tien-tuoi.1.495426.htm#sthash.6M2G0x4d.dpuf

 

BỘ TRƯỞNG THĂNG MUỐN ‘TRẢM’ NHÀ THẦU TRUNG QUỐC YẾU KÉM NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC

Việc nhà thầu TQ rất yếu kém, tôi đã nhiều lần muốn thay họ nhưng không thể thay được, bởi đó là điều kiện trong Hiệp định ký kết… – Bộ trưởng Thăng nói.

Bộ trưởng Thăng không thể trảm các nhà thầu Trung Quốc đang thi công dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, dù rất muốn. ảnh Văn Duẩn

 

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã phân trần như vậy trong buổi gặp gỡ báo chí ngày 9-6 tại Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) về những vấn đề liên quan đến dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông.

Tại cuộc gặp gỡ này, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã lí giải vì sao Việt Nam phải mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông mà không phải là của các nước khác, đồng thời tại sao lại không thể “đuổi” nhà thầu Trung Quốc yếu kém về năng lực.

Theo Tư lệnh ngành giao thông, việc mua các đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhân dân cũng như các cơ quan truyền thông.

“Vì mua đoàn tàu của Trung Quốc mà tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn, đe dọa có, khuyên giải cũng có mà đề nghị cũng có. Thâm chí có người còn bảo: ông Thăng ơi, ông đừng mua các đoàn tàu của Trung Quốc. Tại sao lại mua, ông có vấn đề gì với với Trung Quốc không” – Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết.

“Dự án được thực hiện theo Hiệp định được ký giữa Chính phủ 2 nước Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2008”- Bộ trưởng Thăng nói.

Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn. Các nhà thầu thi công, giám sát, cung cấp thiết bị cũng là của Trung Quốc. Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết đây là các điều kiện trong Hiệp định đã được ký giữa hai Chính phủ, là việc rất khó khăn nên không thể muốn thay đổi là có thể thay đổi được.

  “Ngay cả các nhà thầu Trung Quốc thi công dự án này rất yếu kém, tôi đã rất nhiều lần muốn thay các nhà thầu nhưng cũng không thể thay được, bởi tất cả các điều kiện họ đều đưa vào trong Hiệp định”- Bộ trưởng Đinh La Thăng nói.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Thăng cũng chia sẻ: Thực ra cũng không chỉ riêng đối với Trung Quốc, các dự án ODA của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác cũng đều phải thực hiện theo nguyên tắc: Nhà tài trợ vốn thì đồng thời họ được đưa các nhà thầu tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công, cung cấp vật liệu thiết bị chủ yếu cũng phải là nhà thầu của các nước tài trợ vốn. “Điều này là rất khó khăn”- ông Thăng bày tỏ.

Trước đó, Ban quản lý dự án Đường sắt trình Bộ Giao thông vận tải 6 phương án thiết kế đoàn tàu cho tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của Hà Nội – tuyến Cát Linh – Hà Đông. Ban quản lý sẽ mua 13 đoàn tàu loại B1 của Trung Quốc với cấu hình mỗi đoàn tàu gồm 4 toa xe, thân tàu sử dụng vật liệu thép không gỉ. Nhà sản xuất đoàn tàu là Công ty Trách nhiệm hữu hạn trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh (Beijing Rolling Stock Equipment Co., Ltd). Tổng chi phí mua tàu cho tuyến Cát Linh – Hà Đông là hơn 63,2 triệu USD. Mỗi đoàn tàu có 4 toa xe, thân làm bằng thép không gỉ. Trong đó, chi phí sản xuất đoàn tàu (giá thành, bảo hiểm và cước tại cảng Hải Phòng) là 59,2 triệu USD. Chi phí bảo hiểm, vận chuyển tài sản về tới chân công trình tạm tính là 4 triệu USD.

Dự án Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt (Trung Quốc) làm tổng thầu EPC. Dự án gồm 12 nhà ga trên cao, tổng chiều dài 13 km khổ 1.435 mm, tốc độ đoàn tàu 80 km/giờ, sử dụng vốn ODA Trung Quốc và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Dự án trang bị 13 đoàn tàu, mỗi tàu có 4 toa xe, công suất khoảng 1.200 người, tần suất chạy 2 phút/chuyến. Toàn tuyến đường sắt đi trên cao và chủ yếu chạy trên dải phân cách giữa 2 làn đường bộ thuộc trục đường Hào Nam và Nguyễn Trãi; điểm khởi đầu là ga Cát Linh (quận Đống Đa), kết thúc tại ga Yên Nghĩa (quận Hà Đông), gồm 12 ga đón/tiễn khách và khu depo (trung tâm điều hành tuyến).

Dự án được chính thức phát lệnh khởi công từ ngày 10-10-2011 và dự kiến sẽ hoàn thành cuối năm 2014 để đưa vào khai thác sử dụng từ quý II/2015. Sau hàng loạt lý do dẫn đến sự chậm trễ, dự án được chuyển sang cuối năm 2015 mới xong và đưa vào chạy thử vào đầu năm 2016. Ngoài chậm tiến độ, sau 5 năm thi công, tổng mức đầu tư dự án này đã phải điều chỉnh từ 552 triệu USD lên 868 triệu USD, tăng 316 triệu USD so với ban đầu.

Dự kiến, Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác thương mại vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, do thực tế có rất nhiều khó khăn từ năng lực nhà thầu nên Bộ GTVT cũng đặt ra khả năng đến quý I-2016 dự án mới có thể kết thúc.

Văn Duẩn

Theo nld.com.vn

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Sở tư pháp đang chỉ đạo Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

LS Võ An Đôn

22-6-2015

Theo Fb LS Võ An Đôn

Ông Nguyễn Thái Học – Trưởng ban nội chính Tỉnh ủy Phú Yên, nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi với hình thức nặng và sau đó sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi. 

 

Ban nội chính Tỉnh ủy là cơ quan Đảng, thuộc một trong năm ban của Đảng (Ban tổ chức, Ban kiểm tra, Ban tuyên giáo, Ban dân vận, Ban nội chính), có chức năng tham mưu cho Thường trực Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác nội chính. Ban nội chính phụ trách lãnh đạo các cơ quan nội chính gồm: Quân sự, Biên phòng, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Tư pháp, Kiểm lâm. 

Theo quy định của pháp luật và điều lệ Đảng thì Ban nội chính Tỉnh ủy không có quyền can thiệp vào công việc của Đoàn luật sư, vì Đoàn luật sư là một tổ chức xã hội nghề nghiệp độc lập, kinh phí hoạt động do các thành viên luật sư tự đóng góp, hoạt g theo luật doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Thái Học thừa biết điều này, nhưng vì quá cay cú trước thất bại nặng nề trong việc chỉ đạo Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử nhẹ và cho các bị cáo trong vụ án “Năm công an đánh chết dân” được hưởng án treo, gây ra sự phẩn nộ của dư luận cả nước. Thất bại này không biết đổ cho ai, nên ông Nguyễn Thái Học đã quyết liệt chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi.
Vì sợ báo chí và dư luận biết, nên việc chỉ đạo này của ông Nguyễn Thái Học hết sức bí mật, chỉ có lãnh đạo các Cơ quan nội chính, lãnh đạo Sở tư pháp và Chủ nhiệm Đoàn luật sư biết, nên việc thu thập bằng chứng cụ thể cho từng lần chỉ đạo là hết sức khó khăn. Hơn nữa, Ông này rất ranh ma, nếu chỉ đạo việc gì đúng pháp luật thì ra văn bản đóng dấu, ký tên đàng hoàng; còn việc gì thấy không đúng pháp luật thì chỉ đạo bằng miệng, nếu cấp dưới không làm theo thì khó mà sống nổi, còn nếu nghe theo thì khi xảy ra sự việc gây hậu quả xấu thì người ghe đó chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Việc ông Nguyễn Thái Học nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi là chỉ đạo bằng miệng, không có bất kỳ một văn bản giấy tờ nào nhưng Sở tư pháp vẫn tuân lệnh làm theo, còn Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên nhiều lần yêu cầu Ban nội chính ra văn bản chỉ đạo kỷ luật tôi để làm cơ sở giải quyết thì ông Nguyễn Thái Học không dám ra. Do đó, đến nay Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên vẫn chưa kỷ luật tôi vì biết việc làm này là sai trái, nếu xảy ra hậu quả không tốt thì Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm, chứ ông Nguyễn Thái Học đâu có chịu trách nhiệm gì đâu.

Rất may mắn là tối hôm qua, có một anh cán bộ đang làm việc tại Sở tư pháp tỉnh Phú Yên cung cấp cho tôi Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung ông Nguyễn Công Danh – Giám đốc Sở tư pháp tỉnh Phú Yên nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện. 

Ngoài công văn nêu trên, tôi còn giữ một file nghi âm rất quý giá do một người quen đang làm việc ở Tỉnh ủy Phú Yên cung cấp, nội dung file ghi âm này ghi âm “Cuộc họp giao ban nội chính” thành phần dự họp gồm có ông Nguyễn Thái Học, lãnh đạo các cơ quan nội chính, chỉ đạo kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi (File ghi âm này tôi sẽ công bố cho công luận biết vào “Phút cuối”).
“Ông trời con” này là một trong hai người quyền lực nhất tỉnh Phú Yên hiện nay, có quyền chỉ đạo Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Quân sự, Biên phòng, Kiểm lâm, Thanh tra, Tư pháp làm theo lệnh của mình nên nghe danh Ông này ai cũng phải khiếp sợ. Không biết là qua sự kiện này, tôi có còn sống để tiếp tục bào chữa miễn phí cho dân nghèo và người cô thân yếu thế trong xã hội hay không.
Từ giây phút này, tính mạng của tôi còn hay mất là do cộng đồng mạng và dư luận xã hội quyết định, chứ tôi không còn biết trông chờ vào ai. Mong cộng đồng mạng hãy bảo vệ tôi và bảo vệ công lý của xã hội.
LS Võ An Đôn

Dưới đây là Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung: Sở tư pháp nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

► Vuột mất đơn hàng 2 tỉ USD rất vô lý!

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

 

Lê Thanh Phong,

22-6-2015

 

Doanh nghiệp Việt mất hợp đồng 2 tỉ USD 7may quân trang cho quân đội Mỹ. Hay tin này ai cũng thấy tiếc đứt ruột, 2 tỉ USD quá lớn, nhưng lại để vuột mất. Nhiều người cứ tưởng như DN may Việt Nam yếu kém, không đáp ứng yêu cầu chất lượng của đối tác nên hỏng ăn. Ai ngờ, chuyện hỏng ăn lại không vì doanh nghiệp bất tài, mà vì bất lực trước cơ chế.

Hiểu ra chuyện càng thấy đứt ruột, mà còn tức anh ách nữa, bởi vì một số DN dệt may trong nước được chào hàng gồm quần áo, cờ, giày dép, quân trang cho quân đội Mỹ, đã thỏa thuận xong nhưng hàng mẫu về lại bị ách ở hải quan vì là hàng cấm nhập theo quy định của Bộ Quốc phòng. DN xoay chạy cho xong thủ tục thì đã muộn, đối tác không thể ngồi chờ cơ chế của VN.

Quy định của Bộ Quốc phòng là căn cứ vào Quyết định số 80/2006/QĐ-BQP ngày 9.5.2006, cấm nhập khẩu mặt hàng quân trang, quân dụng. Hàng mẫu của đối tác gửi vào cho các DN sản xuất bị xem là hàng quân trang nhập khẩu, thế là bị ách.

Không hiểu tại sao các cơ quan chức năng lại áp dụng quy định máy móc đến mức vô lý như vậy. Ở đây không phải là nhập khẩu quân trang, quân dụng, mà nhận hàng mẫu để sản xuất theo đơn hàng. Các DN dệt may có quyền tìm kiếm đối tác nước ngoài, đấu thầu gia công hàng hóa. Quân trang, quân dụng của quân đội các nước đặt may cũng giống như các loại sản phẩm may mặc khác, cần linh động để DN làm ăn. Chỉ vì áp dụng quy định máy móc, đã khiến cho một số DN mất cơ hội vàng.

2 tỉ USD hợp đồng sẽ tạo ra nhiều việc làm cho NLĐ ngành dệt may, kéo theo các ngành nghề kinh doanh khác như vận tải, sản xuất nguyên phụ liệu. Với đơn hàng “khủng” này, DN có lãi, đóng thuế cho Nhà nước. Nhìn xa hơn, khi DN dệt may VN thực hiện tốt các hợp đồng cho quân đội Mỹ, họ sẽ có uy tín thương hiệu để tiếp tục nhận các hợp đồng may quân trang tiếp theo, không chỉ riêng của Mỹ mà còn nhiều nước khác như Australia, Romania, Italia…

Các hợp đồng may quân trang cho lực lượng vũ trang thường rất lớn, các DN dệt may xem đó là thị trường béo bở cần nỗ lực cạnh tranh. Thế nhưng, họ đã thất bại hoặc mất ưu thế chỉ vì hàng rào do chính nước mình đặt ra.

Chúng ta nói quá nhiều đến việc tạo điều kiện thuận lợi, tháo bỏ các rào cản cho DN phát triển, xây dựng các chính sách thông minh cho DN hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhưng trên thực tế còn tồn tại quá nhiều những điều ngược lại.

Chuyện các hợp đồng may quân trang cho quân đội Mỹ bị vuột mất chỉ là một ví dụ.

laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/vuot-mat-don-hang-2-ti-usd-rat-vo-ly-344241.bld

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

► Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

BBC

Đức Hồng – Gửi tới BBC từ Tp HCM

17-06-2015

Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

Bức ảnh 'Em bé Napalm' được báo chí dùng nhiều trong Cuộc chiến Việt Nam

Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải.

Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.

Nguồn gốc của bức ảnh

Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.

Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?

Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.

Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?

H1

Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế.

Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.

Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.

Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?

Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.

Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”.

Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn?

Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.

Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?

 Nhiếp ảnh gia Nick Út tại cuộc triễn lãm ảnh Chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội vào tuần trước

Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.

Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.

Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?

Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?

Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ.

Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.

Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.

Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì? Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại.

Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.

Nhà cầm quyền Việt Nam – phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.

Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Phép thử của TQ với VN

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

16-6-2015

Song Chi.
Cho đến bây giờ, không rõ chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ cũng như các nước phương Tây đã thực sự nhìn nhận đúng tham vọng của Trung Quốc cùng các chiến lược, chiến thuật mà Trung Quốc đã, đang và sẽ áp dụng để từng bước tiến tới giành quyền lợi, quyền lực và vị trí mà nước này mong muốn trên thế giới hay không.
Nhưng riêng với VN, cho đến nay, có vẻ như mọi âm mưu, thủ đoạn, đường đi nước bước từ gần tới xa của Trung Quốc đều chứng tỏ họ tính đúng, họ đã và đang làm được hầu như tất cả những gì họ muốn.
Những chiến lược, chiến thuật khác nhau mà người Việt cũng đã nhìn ra được ấy là gì? Một mặt, ràng buộc VN, nói cho chính xác, ràng buộc đảng và nhà nước cộng sản VN vào mối quan hệ láng giềng, “anh em, đồng chí”, cùng chung một mô hình thể chế chính trị giữa hai đảng, hai nhà nước cộng với những “ân oán, nợ nần” xưa cũ từ thời đánh Pháp đánh Mỹ để “trói chân trói tay”.
Và như chúng ta thấy, bằng nhiều biện pháp mềm nắn rắn buông, bằng cả tiền và sức mạnh quân sự, nhà cầm quyền Trung Quốc đã kiểm soát mối quan hệ này một cách “thượng thừa” ra sao suốt mấy thập kỷ qua. Cho dù có lúc căng lúc chùng, có lúc êm ả bề mặt, có lúc căng thẳng thậm chí chiến tranh, nhưng họ vẫn luôn luôn nắm giữ được nhà cầm quyền VN, không cho thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng và hướng về thế giới tự do dân chủ.
Mặt khác, Bắc Kinh không ngừng hiện thực hóa âm mưu xâm lược VN về mọi mặt, từ lấn chiếm dần lãnh thổ, lãnh hải, khống chế về mặt quân sự, chính trị, kinh tế, xâm lăng về mặt văn hóa…Khi thì dùng sức mạnh quân sự đánh chiếm Hoàng Sa, một phần Trường Sa, sau chiến tranh biên giới 1979 lại lấn chiếm một phần lãnh thổ, lấn thêm một phần lãnh thổ lãnh hải khác từ sự “nhường nhịn” của phía VN qua những lần ký kết các hiệp định phân định biên giới trên bộ, trên biển…
Khi thì dùng sức mạnh của đồng tiền mua chuộc đám quan tham chỉ biết nghĩ tới cái lợi cho mình mà mặc kệ lợi ích của đất nước, để mua quyền sử dụng hàng trăm héc ta rừng đầu nguồn, trúng thầu xây dựng hàng trăm, hàng ngàn dự án khác nhau dẫn đến sự có mặt lâu dài của hàng chục ngàn người Trung Quốc sang lao động tại nhiều vùng miền khác nhau trên lãnh thổ VN từ Nam ra Bắc; xây cất, chiếm cứ nhiều khu vực lâu dài dưới danh nghĩa thuê đất, xây dựng công ty, nhà máy, triển khai các dự án…
Trên biển Đông thì từng bước đánh chiếm đảo, xua hàng ngàn tàu cá có sự bảo vệ của các tàu quân sự ngang nhiên xâm phạm lãnh hải, tiến chiếm ngư trường, cướp nồi cơm của ngư dân VN, ngược lại, rượt đuổi, cướp bóc, đánh chìm tàu, hành hung, bắt cóc, đòi tiền chuộc, xịt vòi rồng tấn công…tàu cá của ngư dân VN, mục đích làm cho ngư dân VN phần thì mất vốn, nợ nần, phần sợ hãi dần dần từ bỏ ngư trường, từ bỏ vùng biến của nước mình.
Ngang nhiên áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, áp đặt những luật lệ mới, ấn định vai trò mới của Trung Quốc đối với các nước láng giềng trong đó có VN. Tiến tới tiến hành cải tạo các bãi đá ngầm thành đảo nhân tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng, sân bay, bến cảng, chuyền vũ khí ra đảo…biến những hòn đảo nhân tạo này thành những căn cứ quân sự trong tương lai v.v…
Như đã nói, người VN không phải không nhìn ra những thủ đoạn ấy của Trung Quốc. Những chiến thuật kiểu như “tằm ăn dâu”, lấn dần từng bước, đặt mọi việc trước sự đã rồi, tạo ra sự quen dần hay trạng thái “lờn thuốc”, tất cả đều đã chứng tỏ sự thành công của nó, với nhà cầm quyền VN và ngay cả với nhân dân VN.
Bao giờ cũng thế, Bắc Kinh thử vi phạm đến quyền lợi, chủ quyền của các nước láng giềng trong đó có VN, tiến hành một loạt hành động khiêu khích ngang ngược, đến khi nước khác, cụ thể là VN, không chịu được và phản ứng thì họ lại tạm ngừng, xoa dịu cho tình hình lắng xuống một thời gian. Sau đó lại lặp lại hành động cũ, thậm chí mức độ xâm phạm cao hơn, nhưng lúc đó “nạn nhân” đã quen và sẽ không còn phản ứng mạnh như trước, thế là Bắc Kinh đã dấn tới được một bước, một lằn ranh mới về mặt xâm phạm chủ quyền, xâm phạm lợi ích đã được thiết lập. Và cứ thế…
Chẳng hạn, còn nhớ cách đây chừng bảy tám năm khi những thông tin đầu tiên về ngư dân VN bị tàu TQ tấn công trên biển, dù có chậm trễ và rất khó khăn mới đưa ra được trên một vài tờ báo dũng cảm lúc bấy giờ như Tuổi Trẻ, Thanh Niên…người dân VN đã vô cùng giận dữ, phẫn nộ.
Nhưng cho đến bây giờ khi chuyện tàu cá VN bị tàu Trung Quốc tấn công xảy ra gần như thường xuyên, với bao câu chuyện thương tâm về ngư dân VN bị cướp hết ngư sản, ngư cụ, phá hỏng tàu, phải vỡ nợ, bị thương, thậm chí bỏ xác vì những cuộc tấn công tàn ác của tàu cá lẫn tàu quân sự TQ…Những thông tin đó giờ đã được đăng đều, công khai hơn, nhưng có bao nhiêu phần trăm người VN chú ý đến? Hay nước mắt của người trẻ VN còn dành để đổ xuống như mưa cho một nhóm nhạc K-Pop thần tượng, cho một lần thua trận bóng đá SEA Games như bài viết chua xót trên báo Thanh Niên “Khóc cho bóng đá, ai khóc cho ngư dân?”.
Lỗi không phải hoàn toàn ở một bộ phận giới trẻ hay người dân VN. Khi chính những người chịu trách nhiệm cao nhất về việc bảo vệ lãnh thổ lãnh hải, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ ngư trường, ngư dân là nhà cầm quyền VN còn không hề dám lên tiếng, không dám phản ứng mạnh!
Đâu rồi từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Quốc phỏng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, các tướng lĩnh cao cấp nhất của quân đội, Hải quân…Lúc nào cũng chỉ thấy người phát ngôn Bộ Ngoại giao lên tiếng lặp đi lặp lại những lời phản đối cũ mèm, hay Hội nghề cá lên tiếng phản đối, thi thoảng thì lãnh đạo địa phương tỉnh Quãng Ngãi hay Đà Nẵng cũng lên tiếng…
Những người lãnh lương bằng đồng thuế của nhân dân để chịu trách nhiệm cao nhất về đất nước, dân tộc đã không làm được gì, hay ngay các đại biểu Quốc hội còn chỉ dám họp kín về biển Đông và không có bất cứ một nghị quyết lên án TQ mạnh mẽ nào được thông qua, thì làm sao trách được những người trẻ thờ ơ, vô cảm, vô tình?
Tháng 11.2007, khi thông tin Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn việc lập thành phố Tam Sa nhằm trực tiếp quản lý các quần đảo trên biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa, đã mở đầu cho hàng loạt cuộc biều tình tại Sài Gòn, Hà Nội. Những cuộc biểu tình có tính chất chính trị đầu tiên kể từ sau năm 1975 liên tiếp mấy Chủ Nhật, dù sau đó nhanh chóng bị dập tắt và những người chủ chốt thì bị sách nhiễu, đàn áp suốt nhiều năm sau đó, nhưng rõ ràng đã có một tiếng vang và ngay nhà cầm quyền TQ cũng phải lưu tâm.
Hoặc khi báo chí lần đầu đưa tin tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của VN vào năm 2011, hay khi TQ đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào khu vực biển Đông gần quần đảo Hoàng Sa vào tháng 5 năm 2014, dẫn tới việc nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố phản đối, đồng thời người Việt trong và ngoài nước đều có tổ chức những cuộc biều tình phản đối, tinh thần yêu nước dâng cao…
Nhưng sau đó, các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam vẫn tiếp tục bị cắt cáp, ví dụ như năm 2012 “TQ lại cắt cáp tàu Bình Minh 02” (BBC). Hay mới đây tàu thăm dò dầu khí Tân Hài 517 của TQ lại đi vào vùng biển thuộc chủ quyền của VN ngày 5.6 (theo báo chí đưa tin, chỉ cách cách đảo Bình Ba thuộc tỉnh Khánh Hòa khoảng 20 hải lý về phía đông bắc), sau đó đi ra ngày 8.6 nhưng mãi đến ngày 11.6 báo chí VN mới được phép đưa tin. Rõ ràng muốn vào lúc nào thì vào, muốn ra lúc nào thì ra.
Những phép thử của TQ với VN luôn luôn mang lại kết quả hài lòng và thành công cho họ. Nhà cầm quyền VN đã luôn luôn nhịn và sẽ còn tiếp tục nhịn. Không chỉ nhà cầm quyền VN bị “lờn thuốc”, trở nên mất sức đề kháng, mất khả năng phản ứng mạnh từ lâu, mà ngay cả người dân cũng bị “lờn thuốc”, trở nên không quan tâm hoặc không muốn lên tiếng nữa, bởi vì có lên tiếng cũng chẳng thay đổi được gì.
Đó là một trạng thái tâm lý rất nguy hiểm.
Sở dĩ Trung Quốc khống chế được VN, và thành công trong những thủ đoạn của họ là bởi vì VN đã và đang chịu sự lãnh đạo của đảng cộng sản vốn bị TQ khống chế về nhiều mặt; vì VN đang đi theo một mô hình thể chế chính trị độc tài ở đó đảng cộng sản luôn luôn đặt quyền lợi của đảng cao hơn lợi ích của đất nước, dân tộc. Trong nước thì tự làm yếu hèn sức mạnh của dân tộc khi bưng bít thông tin, không cho người dân được có ý kiến, chỉ trích mọi sai lầm của nhà nước, không được phép bộc lộ lòng yêu nước, phản đối những hành động của TQ, bên ngoài thì không dám lên tiếng mạnh, không dám liên minh với các nước dân chủ đứng đầu là Hoa Kỳ để có thêm sức mạnh bảo vệ đất nước…
Cho nên, với VN, nếu mục tiêu cuối cùng của TQ là thôn tính VN, thì nhiều khi họ sẽ đạt được chỉ bằng kế sách “bất chiến tự nhiên thành” thay vì phải sa lầy vào một cuộc chiến, hao quân tổn sức, lại giúp cho các nước không liên quan thủ lợi “tọa sơn quan hổ đấu”, cái trò mà chính nước này luôn áp dụng nếu được.
Chỉ trừ khi, trừ khi, người VN tỉnh thức!

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tiên sư những đứa hay ghen ăn tức ở!

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

Dương Hoài Linh

Đầu tiên cho phép ông được phản đối những đứa hay “ghen ăn tức ở”, chúng đêm ngày nói xấu chúng ông. Bất cứ việc gì chúng ông làm hay nói chúng cũng xúm vào chửi chúng ông liên tu bất tận.

.

Đầu tiên là chúng bảo rằng chúng ông ăn không chừa một thứ gì. Điều này là chúng hết sức bịa đặt, láo khoét bởi vì sự thật là ở đất nước này có nhiều thứ chúng ông đâu dám ăn, nếu ăn được thì đâu cần đến công nhân dọn vệ sinh, đâu cần hàng năm phải nhập khẩu một lượng lớn những cái mà nói theo ngôn ngữ văn minh là “toilet” theo ngôn ngữ dân gian là “bồn cầu”.

.

Chúng bảo chúng ông là những kẻ chuyên ăn đất của “dân oan”, lại một sự bịa đặt trắng trợn. Đất đai không ai ăn được cả, nó thuộc sở hữu toàn dân giao cho chúng ông quản lý. Mỗi khi cần quy hoạch để xây dựng các dự án lớn chúng ông đều có trả tiền cho dân đàng hoàng. Tiền đó mặc dù không đáng bao nhiêu nhưng tiền nào chả là tiền. Sau này thị trường chung lên giá thì tất nhiên chúng ông phải được hưởng khoản chênh lệch đó chứ. Đó là công lao chúng ông liên hệ với các nhà đầu tư, vay vốn nước ngoài, lập dự án… Nếu các dự án không tiến hành thì chúng ông có quyền “treo” chúng, bỏ hoang chúng đến bất cứ lúc nào vì bất cứ khi nào chúng ông cũng xin được lệnh “cưỡng chế” cả.

Thôi đừng GATO với anh nữa! Ảnh minh họa.

.

Chúng bảo chúng ông gian lận, tham nhũng trong xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản. Bằng chứng đâu? Nếu có thì tòa án đã xử hàng chục, hàng trăm vụ rồi chứ có đâu bây giờ chỉ mới có vài vụ được đưa ra ánh sáng.

.

Thủ tướng của chúng ông lương chỉ có 17 triệu tháng vẫn lang thang “ăn xin” khắp toàn cầu. Tổng Bí Thư sắp tới cũng phải sang Mỹ để cầu cạnh cái TPP cho Đảng, cho dân. Còn ba cái chuyện đại lộ nghìn tỷ vừa xây xong đã sụt lở, tượng đài vừa khánh thành đã hỏng hóc, cây mới trồng đã bị bật gốc, trường học vừa đưa vào sử dụng đã tróc tường, tốc mái… là lỗi kỷ thuật, không ai muốn. Chúng ông cũng muốn làm cho nó tốt lắm nhưng làm tốt thì lấy gì ăn? Có ai nằm trong chăn mới hiểu được rận. Nào là đấu thầu, lại quả, chạy dự án, chiêu đãi đối tác… ôi thôi trăm thứ hằm bà lằn. Khổ lắm chứ phải chơi đâu. Xong một cái dự án là phải dở sống, dở chết trên bàn nhậu… Đó là còn chưa kể bị các em chân dài bòn rút tất cả sinh lực trong các khách sạn 4, 5 sao, karaoke, vũ trường.

.

Chúng bảo chúng ông bán rừng, bán biển, bán tài nguyên quốc gia, bán các động vật quý hiếm… Đây là điều vu cáo trắng trợn hết sức. Hồi cha sinh mẹ đẻ tới giờ chỉ có cái công hàm của bác Phạm Văn Đồng là có giấy trắng mực đen, còn lại tất cả chúng ông giữ kín như bưng làm gì lộ ra ngoài được mà bảo bán? Nào là Thác Bản Giốc, Gạc Ma, Hải Vân, Vũng Áng, Bauxite Tây Nguyên, Cam Ranh, điện hạt nhân Ninh Thuận, đường sắt cao tốc… chúng ông đều hợp tác với nước bạn Trung Quốc theo kiểu có qua có lại. Họ cho chúng ông vay vốn thì chúng ông mua lại hàng hóa của họ, mời thầu, đưa công nhân vào xây dựng. Bởi vậy khi họ làm sai chúng ông cũng phải “dĩ hòa vi quý” theo đúng luật chơi là lẽ tất nhiên. Chúng ông cho họ xây dựng nhà máy, lập khu đô thị, tiêu thụ hàng hóa độc hại của họ là đúng theo tinh thần”vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Không thấy mỗi lần họ xâm lấn, xây dựng trên các đảo ngoài khơi Biển Đông là phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao chúng ông đã hùng hồn và đanh thép tuyên bố “Đề nghị các bên không được làm phức tạp thêm tình hình, phải giữ nguyên trạng trên Biển Đông” à. Chúng ông đấu tranh đến cùng như thế còn gì!

.

Chúng bảo chúng ông bán bằng cấp, tha hóa giáo dục, làm băng hoại đạo lý… là những buộc tội vô cớ. Nước chỉ có 24.000 tiến sĩ, 489 tướng quân đội, 325 tướng công an mà chúng bảo là nhiều. Trong khi đất nước cần phổ cập văn hóa đến đại học thì phải cần nhiều tiến sĩ để giảng dạy cho có chất lượng, quân đội chuyên tâm làm kinh tế thì cũng phải có nhiều tướng để chỉ huy trên mặt trận này. Công an làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh thì cũng phải có nhiều tướng để lãnh đạo các thiếu tá, trung tá đang được phổ cập đứng đường.

.

Học sinh, sinh viên không muốn học thì chúng ông phải nhắc nhở chúng quan tâm đến thầy cô chứ đâu phải bán điểm. Dù sao ông bà ta đã nói “một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”. Không ở đâu có truyền thống “tôn sư trọng đạo” bằng nước ta trong ngày “Nhà giáo Việt Nam”, các em đôi khi không biết thầy cô cần gì thì cũng phải gợi ý cho các em biết, nếu không các em chỉ mang đến toàn là hoa tươi thiệp chúc mừng thì sẽ rất lãng phí bởi những thứ đó cuối cùng cũng sẽ vào thùng rác. Gia đình bệnh nhân cũng phải quan tâm tới bác sĩ sau một kíp mổ cực nhọc là chuyện bình thường, nếu không sau này có biến chứng hậu phẫu họ còn phải tốn kém gấp nhiều lần hoặc có khi nguy hiểm đến tính mạng không chừng à.

.

Các chức vụ hành chính, công an, hải quan… tất tần tật đều phải mua mới có được. Do vậy chúng ông cần phải nhanh chóng hoàn vốn chứ. Cứ “cần kiệm, liêm chính chí công vô tư” thì lấy gì mà chi trả cho vật giá cứ ngày một leo thang? Làm công an cũng phải cho chúng ông cái quyền bằng biện pháp nghiệp vụ buộc chúng khai ra chứ. Nếu cho chúng im lặng thì có muôn đời cũng không phá được án. Quan toà thẩm phán cũng là người, sau khi phải tiệc tùng ban đêm thì ban ngày khi xử án cũng phải cho chúng ông ngủ gật vài giờ để thư giãn. Lỡ mà có xử oan thì đã có ngân sách chi trả. Chuyện nhỏ như con thỏ.

Nói chung là các thế lực thù địch hay GATO, xuyên tạc phá hoại gây chia rẻ cán bộ và nhân dân, đòi xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng sắp tới chúng ông sẽ cho trưng cầu dân ý để khẳng định ý dân và ý Đảng là một. Ý dân hoà cùng lòng Đảng. “Lòng dân là quốc bảo”. Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất của “dân oan” à quên nhân dân ta.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Khóc cho bóng đá và họp kín

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

Nguyễn Văn Tuấn

Theo Facebook Nguyễn Tuấn

16-6-2015

Hôm nọ đọc một bài viết “Khóc cho bóng đá, ai khóc cho ngư dân” (1), rất đáng suy nghĩ. Trong khi các thiếu niên (ngày nay báo chí cho họ một cái tên lai căng là “teen”) khóc như mưa trước những thần tượng của họ, khóc nức nở khi đội banh VN bị thua trận, thì họ chẳng hề biết đến số phận của những người đang ở đầu sóng ngọn gió ngoài Hoàng Sa – Trường Sa đánh bắt tôm cá để họ có đủ protein để khôn lớn và … khóc. Nhưng trách họ có lẽ không công bằng; phải trách cái hệ thống đã làm cho họ sao lãng và vô cảm trước nguy cơ mất biển đảo.

Mới hôm nay, báo chí đưa tin Tàu cộng lại đâm chìm tàu cá của VN (2). Lần này, chúng chẳng những tấn công mà còn cướp hải sản của ngư dân mình – đúng là bọn cướp biển. Vài hôm trước, tình hình còn nghiêm trọng hơn: chúng lại đâm chìm một tàu cá của phe ta, làm chết 1 người và gây thương tích nặng cho 3 người khác (3). Những sự kiện xảy ra một cách dồn dập, càng chứng tỏ tình hình hết sức nghiêm trọng.

Trước tình hình nghiêm trọng đó, VN làm gì? Chỉ có thể mô tả bằng 3 chữ: Rất thất vọng. Chỉ có một cái hội nghề cá địa phương lên tiếng phản đối và “đề nghị” các lực lượng chức năng giúp đỡ và bảo vệ. Lực lượng chức năng thì chưa thấy họ có phát biểu gì. Trước đây, khi được hỏi thì một quan chức trong lực lượng kiểm ngư nói là họ không thể bảo vệ ngư dân. Còn cảnh sát biển thì trên báo chí chính thống nói là “ngày đêm bảo vệ ngư dân bám biển” (4), nhưng chẳng hiểu sao lại để ra tình trạng ngư dân ta bị tấn công với mật độ càng ngày càng dày đặc như trong mấy ngày qua. Có lẽ lực lượng cảnh sát biển của VN còn mỏng quá, có thể họ còn yếu (nên bị Tàu cộng lấn áp hoài), nhưng cũng có thể họ chẳng được lệnh can thiệp. Nhưng còn hải quân thì sao? Tại sao tàu cá của Tàu cộng khi đi đánh bắt vùng biển mình được yểm trợ bởi hải quân Tàu, mà ngư dân mình đánh bắt trên vùng biển mình mà hải quân không có mặt – dù chỉ là có mặt để dằn mặt bọn cướp biển. Nói tóm lại là có những uẩn khúc đằng sau thái độ của VN làm chúng ta, người dân, không hiểu được.

Ngư dân cho biết là “cứ ra biển cách đất liền mấy chục hải lí là gặp nhan nhản tàu cá Trung Quốc. Hải hùng nhất là cách tàu Trung Quốc đánh cá…hàng chục tàu dàn hàng ngang trên biển, cào tất tần tật cá, tôm, cua cùng các loại hải sản”, cào cả lưới của ngư dân Việt Nam” (5). Không thấy họ nói có sự can thiệp nào từ các “lực lượng chức năng” của VN. Cứ như những gì ngư dân mô tả thì họ (Tàu) vào vùng biển ta như vào chỗ không người!

Còn cấp ngoại giao và Nhà nước? Ngoại giao thì chúng ta đã thấy và nghe những câu chữ quen thuộc của viên phát ngôn, cùng những cái chỉ tay đầy uy quyền về phía … người Việt. Không có một phát ngôn nào mới mẻ. Đáng lí ra khi một người Việt đã tử vong vì bám biển thì người cao nhất trong Chính phủ phải có một tuyên bố trước cộng đồng quốc tế về sự xâm phạm chủ quyền và hành động giết người của Tàu cộng. Vậy mà cho đến nay, chẳng có ai trong Chính phủ có phát biểu gì. Có lẽ họ xem mạng sống của ngư dân quá rẻ, và sẵn sàng dùng mạng sống người dân để mặc cả thêm trên bàn cờ chính trị với Tàu?

Sự im lặng của Chính phủ đã là ngạc nhiên, nhưng sự kiện “họp kín” của Quốc hội càng làm người dân kinh ngạc. Tại sao phải họp kín, trong khi những sự kiện đã và đang xảy ra trước mắt mọi người. Chẳng có thông tin nào phải giữ kín cả, vì phía Tàu cộng đã chơi ván bài lật ngửa. Tôi nghĩ hoài mà không giải thích được lí do họp kín. Đã mang danh là “của dân” và “vì dân” mà làm việc lại “giấu dân”. Thật là trớ trêu. Tôi nghĩ mấy người ở Trung Nam Hải nghe chuyện “họp kín” chắc họ đang mỉm cười.

Ở trên, tôi có hỏi tại sao giới trẻ VN có vẻ hờ hững, thậm chí chẳng quan tâm gì trước nguy cơ mất biển đảo. Tôi nghĩ một trong những nguyên cơ là do những người lãnh đạo. Một số người trong giới lãnh đạo VN vẫn xem Tàu là “bạn”, và họ tỏ ra rất ấm áp trước tình bạn này. Tôi nghĩ trong thâm tâm giới trẻ họ nghĩ “Lãnh đạo mình đã xem họ là bạn, thì mình đâu có lí do gì phải quan tâm là họ đe doạ đến VN”. Nhưng như tôi từng nói, nếu VN có một người bạn như Tàu cộng, thì VN không cần thêm kẻ thù.

Trong khi Tàu cộng được mô tả như là một người bạn của Việt Nam, thì trên hệ thống truyền hình và truyền thanh, văn hoá Tàu xâm nhập vào giới trẻ hàng ngày. Sự xâm nhập sâu đến nỗi có người am hiểu về lịch sử Tàu hơn là lịch sử Việt Nam. Bên cạnh đó là những chương trình giải trí “game show”, những trận bóng đá đâu đâu bên Tây được trình chiếu hàng ngày trên đài truyền hình. Tất cả những chiêu trò đó có hiệu quả rất tuyệt diệu là nó làm cho thanh thiếu niên VN chẳng còn quan tâm đến đất nước, mà chỉ chạy theo những thị hiếu tầm thường. Họ có thể xúc động khóc như mưa khi thần tượng của họ ghé thăm VN, nhưng họ không hề tỏ ra thương cảm hay tức tối khi ngư dân Việt Nam bị “bạn” sát hại. Phải nói là một cách ru ngủ có hệ thống.

Thiếu niên khóc cho đội banh VN bị thua trận, nhưng họ khóc trước thanh thiên bạch nhật. Chẳng hiểu các vị đại biểu Quốc hội có khóc cho ngư dân VN hay không. Tôi đoán nếu họ có khóc thì chắc cũng chỉ khóc trong kín đáo thôi. Mà, cái gì làm trong bóng tối hay làm thiếu minh bạch đều có thể xem là thiếu tự tin, nếu không muốn nói là phi chính danh.

====

(1) http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/khoc-cho-bong-da-ai-khoc-cho-ngu-dan-574207.html

(2) http://vtc.vn/tau-ca-viet-nam-lai-vua-bi-tau-trung-quoc-tan-cong-cuop-tai-san-o-hoang-sa.2.558202.htm

(3) http://phapluattp.vn/an-ninh-trat-tu/tau-ca-bi-dam-chim-1-nguoi-tu-vong-3-nguoi-bi-thuong-nang-561758.html

(4) http://www.baogiaothong.vn/tau-canh-sat-bien-viet-nam-ngay-dem-bao-ve-ngu-dan-bam-bien-d76162.html

(5) http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/what-do-vn-authorit-07162012061420.html

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Thì ra Văn miếu chỉ là chuyện nhỏ

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

Cánh Cò
16-6-2015

Hình ảnh những cán bộ văn hóa tỉnh Vĩnh Phúc được ông Trần Ngọc Tư, Phó chủ tịch UBND tỉnh dắt díu nhau sang huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc để học làm cách nào xây cho đúng văn miếu thờ ông Khổng Tử, mới là điều làm cho dư luận nổi sóng chứ không phải con số 271 tỉ mà tỉnh này bỏ ra để mua về thứ văn hóa quỳ lạy của phương Bắc.

.

Tiền tỉ hoang phí vào một cơ ngơi văn hóa triều cống làm cho dân đói rách thêm và tư duy quỳ lạy để yên thân bóc lột dân chúng của đám hôn quan là diện mạo của cả tập đoàn mà nỗi sợ đã làm biến thái mọi giá trị mà con người cần phải có. Từ lòng tự tôn dân tộc cho đến sĩ diện của một công dân. Từ cảm giác xấu hỗ trước viễn cảnh mất nước mà đành bất lực nhìn ngoại bang hả hê xâu xé, cho đến nỗi nhục truyền kiếp của một dân tộc bị chính người của mình bóp nghẹt tiếng uất ức từ lồng ngực, mà mỗi khi rống lên tiếng hét bi thương thì hình như cả nước rất ít người nghe thấy.

Cả nước bận khóc cho một trận banh. Cả nước bận vùi đầu vào những hàng cây xanh Hà Nội.

Cả nước rung đùi phát hiện sự khả ố của thủ đô khi giông gió lật nhào những giả dối mà người dân khó thấy.

.

Cả nước đấu tố những công trình có yếu tố Trung Quốc, từ đầu máy tàu điện cho tới những dự án thầu hàng ngàn tỉ. Vui như mở hội khi phát hiện sự gian trá nhưng hoàn toàn không biết phải làm gì để chống lại điều gian trá đã thành nếp ấy.

.

Cả nước mỗi lúc một quen dần với điệp khúc tàu lạ tấn công ngư dân, tàu lạ đâm chìm tàu nước mình và tàu lạ ngang nhiên cướp bóc những con người tội nghiệp, chỉ trông mong vào mẻ cá ở Hoàng Sa để nuôi một bầy con thơ dại. Quen rồi quên và cuối cùng là không thiết đến.

.

Cả nước trơ mắt nhìn Quân đội mang tên Nhân Dân nay đã thành con buôn mua bán đủ loại sản vật để kiếm tiền và chẳng màng gì tới vận nước đang hồi nguy biến.

.

Cả nước nín thở theo dõi Mỹ vào biển Đông như nín thở chờ kết quả một trận bóng. Cả nước không biết rằng trận bóng nào cũng có thể bắt đầu làm lại ở một sân bóng khác, ở một giải thi đấu khác còn số phận của dân tộc chỉ có một lần thắng thua. Thua là mất, là nô lệ, là đau thương. Chỉ có bọn âm thầm thỏa hiệp là túi đầy lợi nhuận. Cả nước ngu ngơ không biết bọn chúng làm gì mà giàu lên nhanh thế và cả nước tự an ủi mình: ừ thì con người có số.

.

Hãy nhìn Phùng tướng quân. Hãy nhìn Nguyễn Phú Trọng. Họ là ai trong gia phả Việt Nam mà bình chân như vại trước sự xâm lấn ngày một lộng hành hơn của bọn tàu ô? Mấy ai tin họ có nỗi lòng vì vận nước, sợ chiến tranh tàn phá quê nhà. Phía sau cái mặt nạ Khổng Tử ấy là tâm lý vinh thân phì gia, không những cho mình mà còn cho tất cả đồng bọn đã đổi tên thành đồng chí.

.

Những người trẻ cả cười hôm nay rồi sẽ khóc cho tới giọt nước mắt cuối cùng để trả giá cho sự vô tâm của mình. Người trẻ rồi sẽ già và đến lúc ấy họ sẽ quay lại lên án quá khứ vì đã để mất đất nước vào tay ngoại bang nhưng họ quên rằng trong cái quá khư ấy có sự góp phần của họ. Góp bằng tiếng cười thay cho tiếng uất khí núi sông. Tiếng cười hả hê ấy sẽ nhanh lắm biến thành nước nước mắt.

.

Có mấy ai tự hỏi khi nào thì những khuôn mặt tròn trịa như ánh trăng rằm phía Bắc rồi sẽ chảy ra như băng giá? Tâm thức nô lệ khó gột rửa cộng thêm mối tình “cách mạng” đã biến những giá trị nghìn đời trở thành vật đổi chác cho thứ lý tưởng hão huyền được chưng cất bằng dộc dược mang tên lý luận. Thứ độc dược chỉ có người cộng sản mới dám tự pha chế và tự mình uống vào để huyễn hoặc mình trước khi lôi kéo người khác vào con đường mang tên Chủ nghĩa xã hội.

Hà Nội gió giông cách mấy cũng không thể bằng một ngọn sóng Biển Đông. Sài Gòn dù sinh động thế nào cũng không thể tránh được cuộc xâm lăng biết trước. Vậy mà chúng ta, những công dân tội nghiệp sắp không còn căn cước lại nhẩn nha tranh luận những đề tài chỉ quẩn quanh xó bếp.

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Nguồn nước của chính mình

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

Tuấn Khanh

Theo Blog Tuấn Khanh

16-6-2015

Nhiều ngày sau khi niềm tự hào về một sản phẩm công nghệ của Việt Nam được dấy lên, Bphone – điện thoại của công ty BKAV ra đời – đã vấp phải nhiều nghi vấn về chuyện loại hàng đó có thể được nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng dán nhãn Việt Nam.

Thậm chí, một bức thư của BKAV Corp gửi đến hãng BYD Corp (Trung Quốc), nơi sản xuất loại các kiểu điện thoại như Bphone hiện nay, để xin tìm hiểu về việc đặt hàng bị tiết lộ trên mạng www.saom.net.cn khiến nhiều người lại thêm xôn xao. Theo thư của BKAV, việc tìm hiểu đặt hàng nhằm vào loại vỏ điện thoại do Trung Quốc sản xuất, trong khi trước đó BKAV từng ca ngợi ngay cả vỏ điện thoại, Bphone sẽ được sản xuất bằng công nghệ CNC vào tầm hiện đại nhất thế giới. Rất nhiều chi tiết khác thú vị như vậy, người ta cũng có thể tìm thấy ở trang facebook của anh Nguyễn Ha lúc này.

Trái với một chiến dịch quảng bá rầm rộ tốn kém đến 10 tỷ đồng, những nhà quản lý của Bphone đã im lặng không giải thích về “siêu phẩm hàng đầu thế giới”, ngay trên trang chủ của họ. Có thể tin đồn không đúng, nhưng sự tảng lờ đó khiến cái “nhất” của Bphone làm không ít người bị tổn thương. Đặc biệt với hàng triệu người Việt say men trong phong trào chủ nghĩa quốc túy.

Một lần nữa, niềm đam mê về những cái “nhất” trong đất nước này lại vấp phải những điều khó hiểu, và không thể trách nổi vì sao sự phản ứng ngày càng nhiều trong các bài viết phân tích về công nghệ, những nhận định cá nhân của người tiêu dùng trên các trang mạng xã hội.

Có lẽ BKAV đã đúng, vì trước khi tung ra một sản phẩm của mình, đã đánh trúng là trào lưu mê đắm cái “nhất” của đám đông đang tự huyễn hoặc mình, bằng những cái nhất không thực tế như nhất về thời trang công nghệ, nhất về trí tuệ, nhất về bóng đá… mà bất chấp những phân tích thực tế đau đớn như năng lực của Việt Nam hiện tại bị tụt lùi đến cả thế kỷ: Trước đây hơn 50 năm, nếu Việt Nam đã bắt tay và sản xuất máy bay và xe ô tô thì hôm nay không gia công nổi một con đinh ốc.

Trong căn bệnh chủ nghĩa quốc túy, người Việt Nam phải là nhất. Ai không đồng ý và phản biện, có thể bị coi như là một kẻ phản quốc. Trong lời tự bạch của một thanh niên ca ngợi BPhone, anh này nói rằng anh đã ném chiếc điện thoại hàng đầu thế giới made in VN vào mặt một người đang chỉ trích nó. Giọng văn đó hả hê và cũng có không ít lời ủng hộ. Và cả nhóm người phô bày sự hãnh diện đó cũng không cần biết một nguyên tắc căn bản của con người khao khát muốn bước vào thế giới của cái “nhất” là cần sự đồng thuận của đám đông chứ không phải cưỡng bức bằng bạo lực cho điều mình muốn.

Chủ nghĩa quốc túy tự nó không xấu, nhưng chạy theo nó như một loại thời trang và hoang tưởng thì là một căn bệnh. Người Nhật tự mình dọn rác sau một trận đấu vì tính cách và lòng kiêu hãnh của quốc gia, chia sẻ nhau miếng ăn và nước uống sau động đất vì tinh thần tự trọng của dân tộc. Nhưng nếu bắt chước dọn rác vì muốn được khen là văn minh, nhưng sau đó không ngại dẫm đạp nhau dành món quà khuyến mãi, cướp hàng của kẻ khó, ngã trên đường chính là những bài giải ảo về một thứ chủ nghĩa quốc tuý thời trang.

Năm 2003, vài ngày trước khi Mỹ tấn công vào Baghdad, đã từng có hàng trăm ngàn người xuống đường biểu tình, thề sẽ sống chết cùng ông Saddam Hussein, nhưng khi những binh sĩ thuỷ quân lục chiến Mỹ đầu tiên đặt chân vào Iraq, thì vô số kể những người biểu tình, hừng hực chủ nghĩa quốc tuý ấy đã bỏ trốn, bao gồm cả những tướng lãnh cấp cao.

Việt Nam có thiếu những cái nhất không, hay bị nhấn chìm trong niềm khoái lạc về cái vỏ văn minh tầm cỡ thế giới?

Có lẽ vẻ quê mùa của 4 người đàn ông ở Đồng Tháp đã không thuyết phục được phong trào chủ nghĩa quốc tuý sang trọng, khi họ chế ra xuồng năng lượng mặt trời, không tiếng ồn, không gây ô nhiễm và là giải pháp quốc gia về vấn đề năng lượng.

Có lẽ chuyện âm thầm cứu người không là vẻ đẹp thời trang, nên chuyện một nông dân ở Thái Nguyên chế tạo được máy trợ thở made in VN, trở thành niềm hy vọng cho hàng ngàn người bệnh nghèo cũng đã không được thương nhớ nhiều.

Có lẽ chuyện ông nông dân ở Bình Dương nhiều năm nghiên cứu về chế tạo trực thăng, rồi được chính phủ Campuchia mời sang tái thiết thành công hàng loạt xe bọc thép, vẫn không là niềm tự hào của tinh thần yêu tổ quốc cần nhiều lấp lánh như hôm nay.

Chủ nghĩa quốc túy – một căn bệnh – là phải phô trương mình và vật thể đi theo mình, có thể mới là đúng điệu. Chủ nghĩa yêu nước không nằm trong trái tim, mà phải cầm trên tay hay mặc chiếc áo và miệng hô to và rưng rưng khóc. Và vì vậy, những điều cần xao xuyến tự hào và “quê mùa” như tổ quốc mình đã có, chắc sẽ dễ bị lãng quên.

Nhiều thập niên trước, Việt Nam từng rơi vào vấn nạn của trào lưu Niệu liệu pháp – một loại cách mạng tự chữa bệnh, trường sinh, khoẻ mạnh nhờ niềm tin uống nước tiểu của chính mình. Sách giảng dạy về niệu liệu pháp lúc đó được in và phát tặng như một thứ tâm đức, trong đó có ghi “không có gì bằng chúng ta uống nguồn nước của chính mình”. Trào lưu đó thịnh hành đến mức nhiều kỹ sư, bác sĩ cũng tham gia và ca ngợi trên các báo. Nhưng rồi trào lưu đó tàn dần vì không mấy ai có thể đủ ảo tưởng để nhắm mặt, bịt mũi uống nguồn nước của chính mình như vậy dài lâu.

Người Việt rồi cũng cần đến lúc chọn một tình yêu và niềm tin tinh khiết cho mình, chứ không thể bịt mũi và nuốt mọi thứ, tảng lờ những điều thiết thực, thật sự quý giá nhất quanh mình.

—————————-

Tham khảo:
http://m.made-in-china.com/product/746765035

http://www.saom.net.cn/inquiry/bkav_corp_send_to_byd_corp-d9918742.html

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Tàu cá Việt Nam lại vừa bị tàu Trung Quốc tấn công, cướp tài sản ở Hoàng Sa

Posted by hoangtran204 trên 17/06/2015

Sự nhu nhược của CSVN trên Biển Đông.

VTC

16-06-2015

(VTC News) – Khi đang đánh bắt tại ngư trường Hoàng Sa, tàu cá QNg 90205 TS của ngư dân Quảng Ngãi đã bị tàu Trung Quốc tấn công, cướp đi hơn 5 tấn hải sản cùng các trang thiết bị trên tàu.

Tàu cá QNg 90205 TS bị tàu Trung Quốc truy cản, cướp đi hơn 5 tấn hải sản vừa đánh bắt được cùng các trang thiết bị trên tàu.

Sáng 16/6, Nghiệp đoàn nghề cá xã Bình Châu (huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) cho biết, Nghiệp đoàn vừa tiếp nhận thông tin của ngư dân Nguyễn Văn Quang (trú xã Bình Châu), chủ tàu cá QNg 90205 TS, liên lạc từ ngư trường Hoàng Sa báo về cho biết bị tàu Trung Quốc tấn công, truy cản, cướp đi hơn 5 tấn hải sản mới đánh bắt được cùng các trang thiết bị trên tàu.

Theo đó, vào khoảng 9h ngày 14/6, khi tàu cá này hoạt động khai thác hải sản tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu của lực lượng Trung Quốc đến truy cản, uy hiếp và lấy đi hai hầm cá có trọng lượng khoảng hơn 5 tấn hải sản, cùng các trang thiết bị trên tàu. Ước thiệt hại trên 600 triệu đồng.

Sự việc khiến ngư dân Nguyễn Văn Quang phải cho tàu chạy về đất liền và trình báo sự việc với cơ quan chức năng.

Ngư dân Nguyễn Văn Quang, chủ tàu cá QNg 90205 TS bên vết vỡ của thân tàu do bị tàu Trung Quốc tấn công.

Trước đó, tàu cá QNg 90657TS do anh Nguyễn Văn Phú (29 tuổi, ở xã Bình Châu) làm thuyền trưởng và tàu cá QNg 95193 TS do anh Nguyễn Trung Kiên làm thuyền trưởng, cũng bị tàu Trung Quốc tấn công, rượt đuổi và dùng vòi rồng phun nước. Hậu quả, hai ngư dân là Bùi Tấn Đoàn và Cao Xuân Lý bị thương ở chân và đầu phải chuyển về bờ cấp cứu.

Liên quan đến vấn đề trên, nhiều chủ tàu cá của ngư dân Lý Sơn đang tham gia khai thác hải sản tại ngư trường Hoàng Sa phản ánh, những ngày gần đây Trung Quốc liên tục gia tăng hành động thô bạo như truy cản và cướp tài sản của bà con ngư dân đang hoạt động tại ngư trường truyền thống này.

Ngư dân thất thần khi bị tàu Trung Quốc tấn công, cướp tài sản

“Chúng tôi lên án hành động của Trung Quốc khi tấn công tàu cá ngư dân địa phương và lấy tài sản, gây thương tích cho ngư dân. Nghiệp đoàn nghề cá xã Bình Châu yêu cầu Trung Quốc không được xua đuổi phi pháp ngư dân khi ngư dân VN đang đánh bắt trên vùng biển chủ quyền ở Hoàng Sa của VN”, ông Nguyễn Thanh Hùng – Chủ tịch Nghiệp đoàn nghề cá xã Bình Châu bức xúc nói.

Như vậy, chỉ trong vòng chưa đầy 10 ngày (từ ngày 7/6 đến nay) đã có 3 tàu cá của ngư dân xã Bình Châu bị lực lượng Trung Quốc, ngăn cản, tấn công, cướp tài sản khi đang đánh bắt hợp pháp tại ngư trường Hoàng Sa của Việt Nam.

____

Người Đưa Tin

Trung Quốc ngang ngược bắt ngư dân VN chuyển cá sang tàu TQ

16-06-2015

Các tàu Trung Quốc thả 2 canô cùng 6 người cập mạn lên tàu cá, dồn ngư dân Việt Nam về phía mũi tàu rồi bắt các ngư dân chuyển toàn bộ hải sản đánh bắt được trong 21 ngày (khoảng 6 tấn) sang tàu TQ…

Trước tình hình tàu cá của ngư dân Việt Nam liên tục bị tàu Trung Quốc tấn công và cướp tài sản, gây thiệt hại về kinh tế và tổn hại sức khỏe của ngư dân, ngày 15/6, Hội Nghề cá Việt Nam có công văn phản đối những hành động ngang ngược trên của Trung Quốc trên biển Đông.

Theo báo cáo của ngư dân Quảng Ngãi, ngày 10/6, tàu cá QNg 90657 TS do ngư dân Nguyễn Văn Phú (29 tuổi, ở xã Bình Châu) là chủ tàu kiêm thuyền trưởng, đang neo cách đảo Bom Bay (quần đảo Hoàng Sa) khoảng 14 hải lý thì bị 4 tàu của Trung Quốc tấn công.

Các tàu của Trung Quốc mang số hiệu 589, 3103, 64501 và 35101. Các tàu Trung Quốc đã thả 2 canô cùng 6 người cập mạn lên tàu cá và buộc các ngư dân Việt Nam dồn về phía mũi tàu. Sau đó, những người này bắt các ngư dân Việt Nam chuyển toàn bộ số hải sản đánh bắt được trong 21 ngày qua (khoảng 6 tấn) sang tàu Trung Quốc.

Trong quá trình khoảng 3 giờ bắt ngư dân Việt Nam chuyển hải sản sang tàu Trung Quốc, nhóm người Trung Quốc còn đánh đập những ngư dân nào vận chuyển chậm.

Ngoài việc cướp toàn bộ số hải sản ngư dân Việt Nam đánh bắt được trong gần 1 tháng, nhóm người Trung Quốc còn lấy đi nhiều ngư cụ như máy định vị, máy dò cá, máy Icom, máy nhắn tin, 5 phuy dầu, dụng cụ lặn, đồng thời chặt phá 7 bành dây hơi, 1 dây neo… Toàn bộ tài sản mà phía Trung Quốc đã lấy, phá, ước tính hơn 544 triệu đồng.

Cũng trên biển Đông, vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, ngày 7/6, tàu Trung Quốc cũng đã tấn công một tàu cá khác của ngư dân Quảng Ngãi. Thời điểm bị tấn công, tàu cá do ngư dân Nguyễn Trung Kiên (42 tuổi, cũng quê Bình Châu, Quảng Ngãi) làm chủ tàu cùng 13 ngư dân trên tàu đang neo đậu cách đảo Bom Bay 4 – 5 hải lý. Tàu Trung Quốc đã rượt đuổi, dùng vòi rồngphun nước hất ngã 2 ngư dân Việt Nam khiến 2 người này bị thương.

Công văn phản đối của Hội Nghề cá Việt Nam nhấn mạnh, đây là những hành động ngang ngược và phi nhân tính của phía Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam, những người đánh bắt cá trên vùng biển của mình.

Hội Nghề cá Việt Nam cực lực phản đối việc làm của phía Trung Quốc đã gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của ngư dân Việt Nam. Yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay hành động sai trái nêu trên, đồng thời bồi thường thiệt hại về tài sản và tổn thương cho ngư dân Việt Nam.

Hội Nghề cá Việt Nam cũng đề nghị các cơ quan chức năng cần phản đối và có biện pháp ngăn chặn hành động phi lý và ngang ngược của Trung Quốc. Đề nghị các cơ quan chức năng tăng cường lực lượng chấp pháp trên biển để hỗ trợ ngư dân đánh bắt trên vùng biển chủ quyền Việt Nam.

Tin mới nhất về tình hình biển Đông: Ngày 15/6, Nghiệp đoàn nghề cá xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi mới tiếp nhận thêm thông tin tàu cá bị tàu Trung Quốc tấn công. Theo đó, tàu cá QNg 90205 TS của ngư dân Nguyễn Văn Quang (ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu) bị tấn công lúc 9h ngày 14/6 khi đang đánh bắt tại vùng biển Hoàng Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).

Tàu của ngư dân Quảng Ngãi bị phía Trung Quốc ngăn cản và lấy đi hơn 5 tấn hải sản và các trang thiết bị trên tàu

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Có phải Trung Quốc cho vay nên phải mua tàu của Trung Quốc?

Posted by hoangtran204 trên 17/06/2015

 Trần Văn Thọ
Tuyến đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông đang được xây dựng qua hồ Đống Đa. Ảnh Wikipedia

Tuần trước dư luận trong nước xôn xao về sự kiện Việt Nam mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Người dân đặt nghi vấn là tại sao phải mua của Trung Quốc, trong khi công nghệ tàu đường sắt của các nước tiên tiến chất lượng cao hơn. Hơn nữa, Việt Nam đang nhập siêu nhiều với Trung Quốc, ai cũng thấy phải cải thiện quan hệ một chiều này.

.

Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng đã giải đáp thắc mắc nầy trong buổi gặp mặt báo chí ngày 9-6. Nếu những ý kiến của Bộ trưởng phản ảnh trên báo là chính xác thì thật đáng lo cho Việt Nam. Tôi thật sự ngạc nhiên nhưng hiểu được lý do tại sao Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc trong nhiều phương diện. Sự kiện này cho thấy nhiều lãnh đạo, quan chức Việt Nam, những người quyết định vay vốn nước ngoài, không hiểu hoặc không chịu tìm hiểu tình hình và chế độ hiện hành trên thế giới để so sánh điều kiện của Trung Quốc với các nước khác, từ đó quyết định chọn nước đối tác có lợi nhất cho Việt Nam.

.

Trong dự án 13 đoàn tàu nói trên được biết Trung Quốc cho vay vốn và đặt điều kiện phải dùng tiền đó mua tàu của họ. Bộ trưởng Đinh La Thăng bảo rằng nước nào cho vay cũng đặt điều kiện như vậy, chẳng hạn Nhật Bản hay Hàn Quốc cũng như vậy. Điều này hoàn toàn sai. (Trước khi chứng minh nhận định đó là không đúng, ta có thể đặt thêm một câu hỏi nữa: Nếu các nước khác cũng có cùng điều kiện đó, tại sao lại chọn Trung Quốc? Công nghệ của Trung Quốc cao hơn?)

.

Việc các nước tiên tiến hỗ trợ vốn vay ưu đãi (gọi là ODA mà ở Việt Nam dịch là viện trợ phát triển chính thức) cho các nước đang phát triển có một lịch sử đã trên 50 năm. Trong giai đoạn đầu (khoảng trước thập niên 1980), đúng là hầu hết ODA đều có ràng buộc phải mua máy móc, vật liệu, tư vấn kỹ thuật từ nước cho vay (gọi là tied loan). Sau đó hình thức nầy dần dần chỉ còn là ngoại lệ, nhường chỗ cho hình thức cho vay không ràng buộc (untied loan) phổ biến hơn. Đó cũng là kết quả của các thỏa thuận giữa Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Anh.., những thành viên trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

.

Để cho dễ hiểu và đi ngay vào vấn đề, tôi giới thiệu trường hợp của Nhật Bản tại Việt Nam hiện nay. ODA của Nhật Bản có 2 loại: Loại tặng không (grant) dùng cho lãnh vực giáo dục, y tế,… và loại cho vay (yen loan) dùng cho việc xây dựng hạ tầng. Loại cho vay cũng có hai hình thức:

.

Vay không ràng buộc (untied loan) trong đó nước đi vay có thể mua vật tư, thiết bị, tư vấn kỹ thuật từ bất cứ nước nào xét thấy có lợi nhất (qua hình thức đấu thầu công khai).

.

Hình thức thứ hai là vay có ràng buộc (tied loan) nhưng điều kiện rất ưu đãi mà Nhật gọi là STEP (Special Term for Economic Partnership). Loại STEP ràng buộc nên điều kiện lãi suất ưu đãi hơn loại untied loan. Cần nói thêm là tuy STEP là loại tied loan nhưng các công ty Nhật Bản phải cạnh tranh với nhau trong đấu thầu. Các nước nhận ODA có thể chọn lựa giữa hai hình thức này.

.

Theo tôi biết, hầu hết các nước ASEAN nhận cả hai loại ODA vì loại ràng buộc cũng dễ chấp nhận do lãi suất được ưu đãi hơn loại untied loan và kỹ thuật, công nghệ, máy móc của Nhật được đánh giá cao.

.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, trong 5 năm qua (2010-2014), bình quân mỗi năm ODA của Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam theo hình thức STEP là 45 tỉ yen (lãi suất chỉ có 0,1%) và theo hình thức untied loan là 124 tỉ yen (thời hạn 30 năm, lãi suất 1,4%/năm). Như vậy ODA không ràng buộc vào công ty Nhật Bản chiếm tới 73%, nghĩa là công ty Nhật phải tham gia đấu thầu trong các dự án phát sinh từ nguồn vay nầy. Tỉ lệ công ty Nhật thắng thầu cũng chỉ có 36%, không phải 100% như nhận định của ông bộ trưởng. Ngay cả trường hợp STEP là loại có thể hoàn toàn ràng buộc vào Nhật, công ty Nhật cũng chỉ chiếm 87% vì họ mời các công ty Việt Nam cùng tham gia trong việc cạnh tranh với các công ty khác của Nhật.

.

Một thí dụ gần đây là dự án sân bay Nội Bài tuy theo hình thức STEP nhưng được thực hiện bởi công ty Xây dựng Taisei của Nhật và Công ty Vinaconex của Việt Nam, dự án cầu Nhật Tân cũng do một liên doanh giữa Nhật và Việt Nam xây dựng.

.

Việt Nam hiện đang nhận nhiều ODA, trách nhiệm của lãnh đạo, của quan chức liên hệ là làm sao phải chọn lựa những nguồn vốn vay với điều kiện ít phí tổn nhất và mang lại hiệu quả lớn nhất.

.

Trong quan hệ với Trung Quốc, ta đã thấy có nhiều hiện tượng bất bình thường, như nhập siêu tăng ở mức dị thường, doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu hầu hết các dự án trọng điểm trong các ngành quan trọng của Việt Nam, nhiều dự án họ đưa giá rẻ nhưng sau khi thắng thầu họ điều chỉnh giá và thương lượng lại, nhiều dự án không xây dựng đúng tiến độ và nhiều trường hợp công trình mới xây xong đã bị hỏng hoặc xuống cấp, v.v.. ,.. Lao động chui và lao động được cấp phép từ Trung Quốc sang cũng nhiều một cách khó hiểu.

.

Nguyên nhân nằm ở đâu? Dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông đã cho thấy một phần của vấn đề.

.

Trước mắt cần công khai nội dung (qui mô vốn vay, thời hạn hoàn trả, ràng buộc hay không, lãi suất, v.v..) tất cả các dự án vay vốn nước ngoài, và phải chỉnh đốn ngay các quan hệ kinh tế với Trung Quốc, từng bước điều chỉnh để kéo các hiện tượng bất thường nói trên trở lại trạng thái bình thường, giống như quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Làm ăn chung với Trung Quốc, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Dưới con mắt người Nhật: “Trung Quốc chiếm trọn Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian?”

Posted by hoangtran204 trên 16/06/2015

M

IMG_7707
Bài viết dưới đây mượn lời của một người Nhật vốn sinh sống và làm việc tại Việt Nam khá lâu. Anh bạn này có góc nhìn rất khác đối với kế hoạch xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, đồng thời châm biếm, đả kích sự thờ ơ của một số vị lãnh đạo tỉnh thành trước mối đe dọa đặt ra cho đất nước. Tâm sự của anh như sau:

Tôi đã sinh sống và làm việc khá lâu tại đất nước các bạn, dĩ nhiên trước khi sang đây, chúng tôi đã nghiên cứu rất nhiều về văn hóa và lịch sử Việt Nam để có thể hòa nhập tốt. Cũng như các bạn, nước Nhật chúng tôi đang trải qua thời kỳ vô cùng khó khăn khi liên tục phải cảnh giác và đối phó với những âm mưu thôn tính Quần đảo Senkaku trên biển Hoa Đông của Trung Quốc. Đối với tình hình đất nước bạn hiện nay, tôi có một số đánh giá như sau:

Thói quen bành trướng của người Trung Quốc đã có từ xa xưa, quốc gia này luôn lăm le xâm chiếm nước Việt, điển hình là sự kiện An Dương Vương mất nước đã bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc kéo dài 1000 năm trong lịch sử Việt Nam, đến khi Ngô Quyền đánh thắng giặc trên sông Bạch Đằng. Rồi thì hàng loạt cuộc chiến tranh biên giới khác kéo dài từ xưa cho đến nay, tham vọng bành trướng của người Trung Quốc vẫn cháy rực không ngừng. Quốc gia phía Nam luôn là mục tiêu mà người Trung Quốc nhắm đến, tuy nhiên các bạn không dễ dàng bị ức hiếp và xâm lược.

IMG_7706Âm mưu của người Trung Quốc sử dụng trên Biển Đông được gọi là chiến thuật “cắt lát salami”, nghĩa là họ sẽ không cùng lúc chiếm toàn bộ mà là “ăn mòn” từng bộ phận, sau đó độc chiếm trọn vẹn.

Từ thời xưa, người Trung Quốc đã không ngừng nỗ lực xâm phạm bờ cõi Việt Nam, điều này vẫn kéo dài cho đến ngày nay và họ sẽ tiếp bước thế hệ cha ông tiếp tục sự nghiệp bành trướng. Âm mưu của người Trung Quốc được gọi là chiến thuật “cắt lát salami”. Nghĩa là họ sẽ không cùng lúc chiếm toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam mà là “ăn mòn” từng bộ phận, sau đó độc chiếm trọn vẹn, toàn bộ. Chiến thuật này không chỉ áp dụng tại Biển Đông – từng bước độc chiếm các bãi cạn và đảo nhỏ, củng cố yêu sách chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông, mà còn được áp dụng trong âm mưu xâm lược trên đất liền Việt Nam.

Kế hoạch “tích tiểu thành đại” của Trung Quốc gồm nhiều hành động nhỏ: từ việc thâu tóm và biến các công ty Việt Nam thành công ty Trung Quốc, tăng cường sự hiện diện của người Trung Quốc tại Việt Nam; cho tới việc đẩy mạnh đầu tư lớn trên khắp đất nước, đặc biệt là khu vực Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế – nơi hẹp nhất theo chiều Đông-Tây của dải đất hình chữ S (bề rộng chỉ khoảng 40km).

IMG_7708Con đường bê tông dẫn vào khu dự án nghỉ dưỡng 5 sao trên đèo Hải Vân – nơi có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự của Việt Nam

Việc di dân âm thầm xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam là bước nhỏ tạo bàn đạp để người Trung Quốc đồng hóa cũng như gây nhiễu trật tự xã hội tại đất nước các bạn. Trên dải đất hẹp nhất của Việt Nam, họ muốn dần thay thế người Việt bằng người Trung Quốc nhằm phục vụ cho âm mưu chia cắt Việt Nam và mưu chiếm Biển Đông. Bởi vì từ căn cứ quân sự Du Lâm của Trung Quốc trên đảo Hải Nam đến Cửa Việt (Gio Linh, Quảng Trị) của đất nước các bạn chỉ khoảng 320 – 350km theo đường chim bay. Do đó, họ dễ dàng thực hiện âm mưu chia cắt hai miền Nam Bắc trên cả về đường bộ lẫn đường biển.

“Mất đất là mất nước”, người Trung Quốc đã lợi dụng điểm này để thực hiện âm mưu xâm lược của họ. Cách đây không lâu, họ không tiếc tay chi mạnh tiền thuê đất đầu nguồn trồng rừng của Việt Nam nằm ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam với thời gian thuê dài hạn là 50 năm. Những vùng đất đầu nguồn đều có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng đối với Việt Nam, việc dễ dàng cho Trung Quốc thuê đất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện mưu đồ “xâm chiếm”.

IMG_7710Tập đoàn Innov Green (Hồng Kông, Trung Quốc) được cấp phép thuê đất 50 năm trồng rừng nguyên liệu tại Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam, Lạng Sơn, Kon Tum
Mới đây nhất là việc lên kế hoạch xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine (Huế) nằm ở khu vực đèo Hải Vân – nơi có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự của Việt Nam. Năm 2013, tỉnh Thừa Thiên – Huế đồng ý cấp phép gần 200ha đất ở khu vực đèo Hải Vân cho một công ty Trung Quốc để thực hiện Dự án xây dựng Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine với tổng mức đầu tư lên đến 250 triệu USD.

Theo thông tin mà tôi biết, nơi này có liên quan đến quân khu V và quân khu IV của Việt Nam, nếu chiếm được đèo Hải Vân tức là chiếm được Đà Nẵng. Từ Đèo Hải Vân nếu “lấn chiếm” sang Đèo Ngang thì Vịnh Bắc Bộ chắc chắn sẽ bị chia cắt, Trung Quốc khi đó hoàn toàn đủ sức đe dọa an ninh quốc gia của Vịệt Nam. Đây là binh pháp có từ tời xa xưa, từ lợi dụng kinh tế nhắm đến mục tiêu quốc phòng, tung hỏa mù khiến cho địch mất phương hướng, đây là điều người Trung Quốc đang hướng tới.

Nhưng lạ thay, các vị chủ tịch huyện tỉnh của Việt Nam có lẽ chưa được học binh pháp này. Trung Quốc chỉ cần vung tiền mua đất để đầu tư thì các bạn đã nhanh chóng cắt đất cho thuê mà không mảy may nghi ngờ. Dĩ nhiên mưu đồ này không thể qua mắt được các vị tướng lĩnh quân đội. Âm mưu bị vạch trần và kế hoạch của người Trung Quốc thất bại ngoài ý muốn.

IMG_7713Việt Nam không đồng ý với đề xuất đưa 1000 xe cùng 1500 người Trung Quốc vào Việt Nam “nhân dịp hội chợ thương mại Việt Nam – Trung Quốc” trong tháng 12/2014. Có lẽ, các bạn đã bắt đầu đề cao cảnh giác hơn trước âm mưu của Trung Quốc.

Nhưng các bạn nên nhớ, Trung Quốc sẽ không từ bỏ kế hoạch thâm độc của mình và tôi lo ngại rằng vẫn còn nhiều vị Chủ tịch tỉnh sẵn sàng cấp phép cho các dự án nhanh chóng để đạt được cái mà họ gọi là “lợi ích chung của cộng đồng, cũng như vì sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quốc gia” (nhưng thực ra là lợi ích của riêng họ). Không mấy khó khăn khi thuyết phục những vị lãnh đạo này, họ có vẻ khá dễ dãi và nhìn nhận sự việc quá đơn giản, trong khi người Trung Quốc thì quá thâm độc!

Mới đây, chính quyền thành phố Bằng Tường (Trung Quốc) đã đề nghị phía Việt Nam cấp phép cho 1.000 xe với khoảng 1.500 người Trung Quốc du lịch tại Việt Nam và quá cảnh sang các nước ASEAN, viện cớ là “nhân dịp hội chợ thương mại Việt Nam – Trung Quốc” trong tháng 12/2014.

Yêu cầu của Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối của Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Quốc phòng Việt Nam. Có lẽ, các bạn đã bắt đầu đề cao cảnh giác hơn trước âm mưu của Trung Quốc khi cố tình đề nghị được phép đi lại tự do từ 5 cửa ngõ của Việt Nam. Thông qua việc đưa một số lượng lớn người Trung Quốc đi khắp đất nước này, họ dễ dàng do thám tình hình, cài người Trung Quốc vào người Việt Nam, gây nguy hiểm cho chính người Trung Quốc để có cớ bắt bớ Việt Nam,… Những điều như vậy chẳng phải rất dễ dàng xảy ra nếu đề nghị trên được chấp thuận hay sao?

IMG_7709
Một điểm khiến tôi cảm thấy lạ nhất đó là khi âm mưu của Trung Quốc bị vạch trần, lãnh đạo của các tỉnh thành Việt Nam lại dễ dàng phủi bỏ trách nhiệm quanh co biện minh cho quyết định sai lầm. Dường như các vị ấy chưa từng được học về “nhận sai và sửa sai”, nếu như ở đất nước chúng tôi, thì ngay lập tức các lãnh đạo của chúng tôi sẽ tạ lỗi trước người dân và xin từ chức.

Thiết nghĩ nếu Việt Nam vẫn còn nhiều vị quan chức dùng lý do “lo lắng cho lợi ích chung của cộng đồng” (thực chất là của riêng họ) và cố tình lờ đi “sự an nguy của đất nước” thì âm mưu xâm lược Việt Nam của người Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

(Bạn đọc viết).

Posted by Việt Anh
http://thanhnientudo.com
Hãy bỏ ra 2 giây Like Page ! Bạn sẽ nhận được thông tin thường xuyên !
Trang cộng đồng chia sẻ các thông tin bổ ích cho mọi nhà .
Fanpage cập nhật tin tức :
https://www.facebook.com/thanhnientudo.vn

*Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Thanh Niên Tự Do bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

_____________________

.

Dự án cho các nước ngoài thuê đất từ 50-210 năm của Bộ Chính Trị 

  BCT chuẩn thuận

Quảng Nam cho 1 công ty Trung Quốc thuê đất trong thời gian 50  năm, giá thuê 1 mét vuông là 2 đồng 75 xu/ 1 năm

***

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

Posted by hoangtran204 trên 16/06/2015

Tưởng Niệm 85 năm Ngày Tang Yên Bái

ớc Việt Phương Nam

Trần Trung Đạo

15-06-2015

H1

Vào khoảng thời gian này 85 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.

Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Tác giả Louis Roubaud in trong cuốn sách Việt Nam, xuất bản 1931, được trích dẫn khá nhiều, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái và những diễn biến tại pháp trường. Ngay ở trang đầu Roubaud đã viết: “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! 13 lần tôi nghe tiếng hô này trước máy chém ở Yên Bái. 13 người bị kết án tử hình đã lần lượt thét lên như vậy cách đoạn đầu đài hai thước”. Tác giả cũng viết về nhà cách mạng Nguyễn Thái Học: “Anh mỉm miệng cười, cực kỳ bình thản, đưa mắt nhìn đám đông công chúng và cúi đầu chào đồng bào rồi cất giọng đĩnh đạc, trầm hùng mà hô lớn: “Việt Nam vạn tuế”. Cô Giang, vợ chưa cưới của Nguyễn Thái Học, cũng có mặt trong đám đông.”

Trong hồi ký Từ Yên Bái Đến Côn Lôn, Nguyễn Hải Hàm tức Ký Thân, người bị kết án tử hình sau Khởi Nghĩa Yên Bái nhưng sau giảm xuống chung thân nơi Côn Đảo, kể lại lời của vị Linh mục chứng kiến giờ phút cuối cùng của 13 Anh hùng Yên Bái: “Ông Học thật tốt. Ông không hề tỏ ra một cử chỉ hay lời nói nào buồn trách Cha như những người kia. Trái lại ông Học nói chuyện với Cha tự nhiên, bình thản như ngày thường …Quá vui tính…12 anh kia bị chém trước rồi sau mới là anh Học…Anh Học trước khi lên đoạn đầu đài hô lớn câu Việt Nam Vạn Tuế, và khi hô lớn xong đầu cũng lọt vào thùng mạt cưa bên cạnh. Anh nào cũng hô Việt Nam Vạn Tuế, có anh thì hô Việt Nam Muôn Năm… Nhưng đau lòng nhất là có một vài anh chưa hô hết câu đầu đã rơi xuống thùng mạt cưa”.

Mười ba liệt sĩ lên máy chém thực dân sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930: Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, Bùi Tư Toàn, Bùi Văn Chuẩn, Nguyễn An, Hà Văn Lạo, Ðào Văn Nhít, Ngô Văn Du, Nguyễn Ðức Thịnh, Nguyễn Văn Tiềm, Ðỗ Văn Sứ, Bùi Văn Cửu và Nguyễn Như Liên.

Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng đã dành hơi thở cuối cùng của đời mình trên mặt đất này để gọi tên hai tiếng Việt Nam trước khi bước lên máy chém. Như hai tác giả Louis Roubaud và Hoàng Văn Đào viết, không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”.

Đó cũng là điểm khác biệt chính giữa các đảng cách mạng thật sự chiến đấu vì tự do, độc lập của dân tộc và đảng CSVN. Với những người yêu nước chân chính, đảng cách mạng chỉ là chiếc ghe để đưa dân tộc Việt Nam qua sông trong khi với Đảng Cộng sản chiếc ghe lại chính là dân tộc.

Hôm nay, sở dĩ đảng CS ca ngợi lòng yêu nước của Nguyễn Thái Học chỉ vì ông đã hy sinh, tuy nhiên, nếu ông còn sống và tiếp tục lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng trong giai đoạn 1945, số phận của Nguyễn Thái Học cũng giống như Bùi Quang Chiêu, Trương Tử Anh, Khái Hưng, Phạm Quỳnh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Nguyễn Thế Nghiệp và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước bị CS giết mà thôi.

Nguyễn Thái Học khi sống là Đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng khi chết đã chết như bao nhiêu thanh niên yêu nước khác, thư thái ngâm những vần thơ tuyệt mệnh “Chết vì tổ quốc, chết vinh quang, lòng ta sung sướng, trí ta nhẹ nhàng”. Chàng thanh niên Việt Nam Nguyễn Thái Học chỉ mới 28 tuổi.

Lịch sử mang tính thời đại và tính liên tục. Mỗi thế hệ có một trách nhiệm riêng, nhưng dù hoàn thành hay không, khi bước qua thời đại khác, vẫn phải chuyển giao trách nhiệm sang các thế hệ lớn lên sau. Sức đẩy để con thuyền dân tộc vượt qua khúc sông hiểm trở hôm nay không đến từ Mỹ, Anh, Pháp hay đâu khác, mà bắt đầu từ bàn tay và khối óc của tuổi trẻ. Lịch sử Việt Nam đã và đang được viết bằng máu của tuổi trẻ Việt Nam.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Gia đình blogger Tạ Phong Tần vừa lên đường đến trại giam Thanh Hóa

Posted by hoangtran204 trên 13/06/2015

13-6-2015

CTV Danlambao – Ngày 12/6/2015, chị Tạ Minh Tú đã phải lặn lội từ Bạc Liêu ra Thanh Hoá để hỏi thăm tình trạng sức khoẻ hiện nay của chị Tạ Phong Tần – người đã tuyệt thực từ hôm 13/5/2015 đến nay vẫn không có tin tức.


Dự kiến, sáng ngày mai, 13/6/2015, chị Tú và anh trai Tạ Minh Tuấn sẽ trực tiếp đến trại giam số 5, Thanh Hoá để yêu cầu thăm gặp chị Tần.

Trao đổi với CTV Danlambao, chị Tú tỏ ra hết sức lo lắng về tình trạng an nguy của chị ruột mình sau 31 ngày tuyệt thực liên tiếp.
Theo quy định, mỗi tháng chị Tạ Phong Tần được gọi điện thoại về nhà 5 phút. Lần cuối cùng chị Tần gọi điện là vào ngày 12/5/2015 để thông báo quyết định tuyệt thực.
Sau buổi thăm nuôi cách đây hơn 1 tuần vào hôm 3/6/2015, sức khỏe chị Tần đã suy yếu, đi lại khó khăn, tỏ ra mệt mỏi mỗi khi nói chuyện.

Từ đó đến nay, chị Tần chưa gọi điện thoại về nhà. Điều này khiến chị Tạ Minh Tú cho rằng sức khoẻ chị Tần hiện ‘đã rất suy kiệt’.

Trước tình hình nguy kịch như trên, tổ chức Ân xá Quốc tế đã phát động chiến dịch khẩn cấp nhằm kêu gọi trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho blogger Tạ Phong Tần.
Danlambao sẽ cập nhật thông tin ngay khi có diễn biến mới nhất.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

► TPP = Freedom for Tạ Phong Tần

Posted by hoangtran204 trên 13/06/2015

Blogger Tạ Phong Tần bước sang ngày thứ 30 tuyệt thực trong tù!
Hiện nay gia đình và người thân chị Tạ Phong Tần không hề có bất kỳ tin tức gì về tình trạng sức khoẻ của chị kể từ sau lần thăm gặp cuối cùng. Chúng ta có thể làm gì? Hôm nay, blogger Phạm Thanh Nghiên đã bắt đầu bằng việc tuyệt thực đồng hành cùng Tạ Phong Tần. Ngày mai, sẽ đến lượt tôi đồng hành cùng hai chị.
Tôi sẽ tuyệt thực 3 ngày như một hành động nhỏ nhất có thể chia sẻ cùng các tù nhân lương tâm như chị Tạ Phong Tần, chị Bùi Thị Minh Hằng, anh Nguyễn Hữu Vinh, anh Trần Huỳnh Duy Thức, chú Ngô Hào, em Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương…
Cùng với chương trình hành động khẩn cấp của Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) về tình trạng của Blogger Tạ Phong Tần, hy vọng bạn bè sẽ cùng tiếp sức!
Tự do cho các tù nhân lương tâm tại Việt Nam!

nhanquyen2015.net

danlambaovn.blogspot.com.au/2015/06/tpp-freedom-for-ta-phong-tan_11.html#more

__________________

 

ĐÀN ÁP NGƯỜI PHỤ NỮ VÔ TỘI TRONG TÙ LÀ MỘT CHÍNH QUYỀN ÁC.

KHIẾP SỢ NGƯỜI PHỤ NỮ YẾU ĐUỐI ĐANG BỊ CẦM TÙ LÀ MỘT CHÍNH QUYỀN HÈN.

FREEDOM FOR TA PHONG TẦN !

HÃY CÙNG LÊN TIẾNG BẢO VỆ TẠ PHONG TẦN HIỆN ĐANG NGUY KỊCH TRONG NHÀ TÙ CỘNG SẢN!

Nguyễn Thúy Hạnh's photo.

 

___________________

Dẫu chỉ một ngày

IMG_1889

Ngày mai 11 tháng 6 năm 2015, tôi sẽ tuyệt thực để như là một cách bày tỏ sự đồng cảm, sự sẻ chia nỗi khổ đau mà Tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đang phải gánh chịu trong nhà tù cộng sản.

Ngày mai, Blogger Tạ Phong Tần sẽ bước sang ngày thứ 30 tuyệt thực trong nhà tù để phản đối hành vi ngược đãi tù nhân chính trị của cán bộ Trại giam số 5 Thanh Hóa.

Một ngày so với ba mươi ngày là quá ít ỏi. Nhưng với tình trạng sức khỏe của một người bệnh đang phải điều trị tại nhà sau khi ra viện, và với thân phận của một người tù đang bị quản chế, tôi không thể làm nhiều hơn những gì mình mong muốn.

Hành động rất nhỏ bé này, xin được góp một tiếng nói, góp một bàn tay cho bước hai của chiến dịch Nhân quyền 2015 “tranh đấu cho Tù Nhân Lương Tâm” tại Việt Nam.

Hành động rất nhỏ bé này cũng là để “bày tỏ sự khâm phục và sẻ chia tinh thần tranh đấu” với Blogger Tạ Phong Tần cũng như với tất cả những Tù Nhân Lương Tâm can trường khác: Bùi Thị Minh Hằng, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Trần Huỳnh Duy Thức, Hồ Đức Hòa, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đặng Xuân Diệu, Ngô Hào…

Và qua hành động rất nhỏ bé này xin được gửi một lời nhắn nhủ rằng “Không một ai phải độc hành trên con đường tìm kiếm Tự do và Công bằng cho dù người đó đang trong chốn ngục tù.”

Hy vọng, cuộc tuyệt thực của người phụ nữ phi thường Tạ Phong Tần trong nhà tù sẽ được công luận và những người yêu chuộng tự do- công lý quan tâm, tiếp sức như đã dành những điều ấy cho cuộc tuyệt thực của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, của Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải.

Hải Phòng ngày 10 tháng 6 năm 2015

Phạm Thanh Nghiên

(Tác giả gửi đăng)

 

Tran Triet's photo.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | 1 Comment »

►Hãy ‘cám ơn’ Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

10-06-2015

Từ đầu năm 2014 đến nay, Trung Quốc ra sức bồi đắp và tái tạo các bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa mà họ chiếm của Việt Nam vào năm 1988 thành những hòn đảo nhân tạo đủ lớn để làm căn cứ quân sự với hải cảng và phi trường cho các loại máy bay, kể cả máy bay phản lực. Báo chí Tây phương xem những hòn đảo nhân tạo này như một vạn lý trường thành bằng cát Trung Quốc sẽ sử dụng như những căn cứ quân sự nhằm chiếm cứ các hòn đảo còn lại ở Trường Sa và khống chế toàn bộ Biển Đông. Hầu như ai cũng nhận định giống nhau: đó là những việc làm nguy hiểm có thể đẩy các tranh chấp trong khu vực thành những xung đột vũ trang giữa Trung Quốc và các quốc gia liên hệ gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei cũng như, sau các quốc gia ấy, là Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Những nguy hiểm ấy dĩ nhiên là có thật. Tuy nhiên, một mặt, tôi không mong chiến tranh sẽ bùng nổ, mặt khác, tôi lại cho những việc xây dựng ấy là điều may mắn cho Việt Nam.

May mắn thứ nhất là chúng thu hút sự quan tâm của quốc tế trước các âm mưu bành trướng của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trước, ai cũng biết Trung Quốc có tham vọng chiếm gần trọn Biển Đông. Họ không hề giấu giếm tham vọng ấy. Nó được công khai hoá qua con đường 9 đoạn hoặc con đường lưỡi bò mà họ công bố trước thế giới. Tuy nhiên, người ta vẫn xem lời tuyên bố ấy như những dự định và với dự định, cuộc chiến chỉ dừng lại phạm vi ngôn ngữ, hay nói cách khác, những cuộc khẩu chiến. Bây giờ, với việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo, người ta nhận ra dự định ấy không phải chỉ là một ước mơ. Nó đang được Trung Quốc biến thành hiện thực và hiện thực ấy khiến cho thế giới không khỏi lo lắng. Hệ quả đầu tiên là phần lớn các quốc gia thuộc khối ASEAN (trừ Lào và Campuchia) cảm nhận rõ hơn nguy cơ xâm lấn của Trung Quốc và từ đó, đoàn kết hơn trong nỗ lực chống lại dã tâm xâm lấn ấy.

May mắn thứ hai là chúng thúc đẩy Mỹ phải chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông. Trong mấy tháng vừa qua Mỹ thường xuyên theo dõi sát sao mọi chuyển biến trong quá trình xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Trường Sa. Trong cuộc hội nghị thượng đỉnh về an ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Shangri-la, Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter phê phán một cách thẳng thắn và gay gắt các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông. Sự phê phán của Mỹ nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của hai quốc gia đồng minh là Nhật và Úc. Trong chuyến đi thăm Việt Nam ngay sau đó, Bộ trưởng Ashton Carter và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Phùng Quang Thanh đã ký bản “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng” nhằm định hướng cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong tình hình mới. Liên quan đến quốc phòng, có hai sự kiện mới đáng chú ý trong quan hệ song phương ấy: Một là Mỹ sẽ viện trợ cho Việt Nam 18 triệu Mỹ kim để mua tàu tuần tra cao tốc của Mỹ; và hai là, cả Bộ trưởng Carter lẫn thượng nghị sĩ John McCain đều hứa hẹn Mỹ có thể sẽ nới lỏng hơn nữa việc bán vũ khí cho Việt Nam để Việt Nam có thể tự vệ trong các cuộc tranh chấp trên Biển Đông.

May mắn thứ ba là việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa sẽ làm thức tỉnh giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, bất chấp các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam vẫn khăng khăng lặp đi lặp lại mấy khẩu hiệu dối trá và cũ rích về “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) và 16 chữ vàng (Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai). Năm ngoái, khi Trung Quốc cho giàn khoan Hải Dương 981 vào thềm lục địa Việt Nam, có lẽ chính quyền Việt Nam phần nào đã thức tỉnh. Từ đó, việc lặp lại các khẩu hiệu trên có chiều hướng giảm dần. Nhưng dù sao việc mang giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam cũng ít nguy hiểm hơn việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng: từ các căn cứ ấy, việc đánh chiếm các hòn đảo khác ở Trường Sa do Việt Nam làm chủ sẽ trở thành dễ dàng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến việc, trên cơ sở sự hiện hữu của các hòn đảo nhân tạo ấy, Trung Quốc sẽ tuyên bố thành lập vùng nhận diện hàng không trên toàn bộ Biển Đông.

Khi cho việc xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ “thức tỉnh” giới lãnh đạo Việt Nam, tôi có hai hàm ý: Một, trước đó, họ chưa biết; và hai, họ quan tâm và tha thiết đến việc bảo vệ chủ quyền cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Với hàm ý thứ hai, có thể sẽ có một số người cho là tôi nhẹ dạ: theo họ, trên thực tế, giới cầm quyền Việt Nam đã đầu hàng hoặc thậm chí, bán đứng Biển Đông cho Trung Quốc. Tôi cố không tin như vậy. Một số người thì có thể, nhưng rất khó tin cả một tập thể đông đảo đến gần 200 người trong Ban chấp hành Trung ương đảng đều đang tâm làm việc đó. Tôi nghĩ, sẽ thuyết phục hơn, nếu chúng ta cho: Một, họ biết nhưng mức độ biết còn hạn chế, chưa thấy hết toàn cảnh những hiểm hoạ đến từ phương Bắc; hai, họ biết nhưng có ảo tưởng là cùng chia sẻ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc sẽ nhẹ tay, không đẩy họ vào thế đường cùng; ba, họ biết nhưng họ theo đuổi sách lược kềm chế và nhân nhượng với hy vọng có đủ thời gian để tìm liên minh cũng như trang bị thêm khí giới chuẩn bị cho những chiến tranh mà theo một số quan sát viên quốc tế, “không thể tránh khỏi”.  Thôi thì, rộng lượng, chúng ta thiên về khả năng thứ ba.

Tuy nhiên, sách lược kềm chế và nhân nhượng cũng phải có giới hạn của chúng: kềm chế và nhân nhượng đến mức nào? Trước, vào năm 2011, tôi đã đặt ra vấn đề ấy trong bài “Nhịn đến chừng nào?”. 

Gần đây, trong bài “Phải ấn định một lằn ranh cho Trung Cộng”, nhà báo Ngô Nhân Dụng cũng đặt ra vấn đề tương tự. Ông viết: “người Việt Nam phải xác định một lằn ranh, nếu Trung Cộng bước qua thì sẽ phản ứng quyết liệt. Một chính phủ Việt Nam biết bảo vệ danh dự và chủ quyền dân tộc không thể để cho Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục lấn lướt. Phải xác định trước cả thế giới “lằn ranh” của lòng kiên nhẫn. Nêu rõ những hành động nào của Trung Cộng sẽ được coi là bước qua lằn ranh đó, công bố cho cả vùng Ðông Nam Á và các cường quốc có quyền lợi trong vùng biết rõ. Lằn ranh này được xác định là “bước đường cùng,” tới đó thì nước Việt Nam không thể chịu đựng với lòng nhẫn nhục. Phải báo trước nếu Bắc Kinh bước qua lằn ranh đó thì sẽ sinh chuyện lớn.”

Lâu nay, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn lần khân trong việc công bố những giới hạn của sự kềm chế và nhân nhượng của họ. Sự kiện Trung Quốc xây dựng các hòn đảo nhân tạo buộc họ phải suy nghĩ đến những điều đó. Hoặc, nếu họ vẫn có ảo tưởng về lòng tốt của người bạn láng giềng cùng theo chủ nghĩa xã hội thì họ sẽ thức tỉnh và quay lại lo toan cho chủ quyền và tương lai của đất nước.

Tôi cho những sự kiện vừa xảy ra là một điều “may mắn” và chúng ta cần “cám ơn” Trung Quốc là vì thế.

______________

Nguyễn Thanh Giang

11-06-2016

Tác giả Nguyễn Thanh Giang

Trung Quốc đang khẩn trương xây đắp trường thành bằng cát trên biển. Bức trường thành ấy đã dăng được trên bẩy đảo lớn nhỏ, bãi san hô và các bãi cát ngầm trên quần đảo Trường Sa của ta: Gạc Ma, Chữ Thập, Châu Viên, Ken Nan, Ga Ven …

Hoàn Cầu Thời báo, một tờ báo thuộc hệ thống báo chí của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhiều lần đe dọa đánh Việt Nam. Sau khi thiết lập xong căn cứ quân sự với vũ khí đạn dược và đường băng dài 3km họ tuyên bố từ căn cứ Chữ Thập sẽ tấn công chiếm gọn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ trong một giờ đồng hồ.

Ngày 5 tháng 6 năm 2015 trên báo điện tử Trung Quốc “Binh Khí Đại Toàn” lại xuất hiện một bài báo với lời lẽ rất xấc xược:

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

 Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn”.

Trước thái độ hống hách ngang ngược kiểu côn đồ như vậy, rất may là Hoa Kỳ đã tỏ ra cứng rắn, đĩnh đạc. Ngày 1 tháng 6, khi đang thăm Việt Nam, trả lời BBC News, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đã nói: “Không điều gì có thể ngăn cản các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ ở Biển Đông. Chúng tôi sẽ tiếp tục bay và cho tàu hoạt động như đã làm ở Thái Bình Dương từ xưa đến nay”.

Tại diễn đàn Shangri-La vừa qua. không phải chỉ ông Ashton Carter mà cả ngoại trưởng John Kerry và Thượng nghị sĩ John McCain đều cho biết thái độ của chính quyền Mỹ cũng như Thượng viện, Hạ viện Mỹ là rất rõ ràng, minh bạch, lên án hành động ngang trái, vi phạm luật pháp quốc tế, ỷ nước lớn, ức hiếp nước nhỏ, và Mỹ có trách nhiệm trong quá trình xoay trục sang châu Á.

Đặc biệt là, trong buổi đón tiếp và trao đổi với đại diện giới trẻ hoạt động xã hội của Đông Nam Á tại Nhà Trắng hôm 2 tháng 6 năm 2015, Tổng thống Mỹ Barack Obama nghiêm khắc cảnh báo chính quyền Trung Quốc hãy tôn trọng luật pháp và “ngưng ngay những hành động thúc cùi chỏ” hiếp đáp láng giềng để bành trướng thế lực tại biển Đông.

Bằng hành động cụ thể, trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ A. Carter đã ký “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt – Mỹ” với Việt Nam. Trong tuyên bố 5 điểm này, đáng chú ý có nội dung nói rằng “hai bên tăng cường trao đổi đoàn, đối thoại ở các cấp nhất là các đoàn cấp cao của lãnh đạo Bộ Quốc phòng, quân đội hai nước”.

Ngoài ra, Hà Nội và Washington sẽ “hợp tác trong lĩnh vực an ninh biển trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật pháp của mỗi bên”. Theo tuyên bố này, Hoa Kỳ sẽ “chia sẻ kinh nghiệm, thông tin, đào tạo nhân viên cho lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam, cũng như hỗ trợ cho Việt Nam một số trang bị cho lực lượng thực thi luật pháp trên biển”.

Trong tình thế “sơn hà nguy biến”, các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đã thức tỉnh. Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã khẩn khoản đề nghị Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Ông nói: “Việt Nam và Mỹ hiện đã là bạn bè, đã là đối tác toàn diện, có làm vậy mới thể hiện sự tôn trọng, tin cậy lẫn nhau.”

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì nhấn mạnh như là tuyên bố: “hai bên đã khép lại quá khứ và hướng tới tương lai thể hiện bằng việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đặc biệt quan trọng là trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên hơn”.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Cartor được cả Tổng bí thư ĐCSVN nghênh tiếp. Như là tuyên thệ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước”.

Vậy mà …!

Trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ online ngày 30/05/2015, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh quả quyết một cách rất hùng biện: “Càng căng thẳng thì càng phải độc lập tự chủ. Càng căng thẳng thì càng không bao giờ để kéo vào những liên minh với nước này để chống nước khác”.

Không biết đây là biểu hiện sự lăng nhăng bạt mạng hay là cố tình làm cái loa cho địch?!

Chợt nhớ lại mà lòng sôi lên căm giận. Suốt mấy thập kỷ qua, lãnh đạo ĐCSVN như bị lạc vào mê hồn trận trong đường lối đối ngoại do bị ma dẫn lối quỷ đưa đường. Chúng đã đạp lên đầu cả Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, cả Bộ Ngoại giao để dẫn Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười đi ký kết Thỏa ước Thành Đô, dẫn Lê Khả Phiêu đi cắt nhượng Mục Nam Quan, thác Bản Giốc và một nửa Vịnh Băc Bộ, dẫn Nông Đức Mạnh đi mời Trung Quốc vào Tây Nguyên. (Thương tiếc biết bao cho những Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ …!).

Ngày nay chúng lại đạng bịt mắt mớm lời cho Nguyến Phú Trọng lúc thì khỏa lấp ý đồ xâm lăng của Trung Quốc, lúc thì tự cô lập mình để trói tay nhân dân trước kẻ địch.

Trước những hiểm họa đang đến ở Biển Đông, Quốc hội yêu cầu được nghe, được bàn thảo thì Nguyễn Phú Trọng gạt đi và bảo “Biển Đông không có gì mới”. Nguyễn Phú Trọng rất tích cực thực hiện mưu đồ của Trung Quốc, ngăn không cho quốc tế cùng được quan tâm đến Biển Đông. Đồng thanh tương ứng, Nguyễn Phú Trọng cùng Trung Quốc dóng dả luận điệu: Biến Đông chỉ là vấn đề song phương của Việt Nam và Trung Quốc. Tuyên bố chung Hồ Cẩm Đào – Nguyễn Phú Trọng không hề đả động đến DOC và COC …

Bọn nào là lũ “ma dẫn lối quỷ đưa đường” cho ĐCSVN suốt mấy thập kỷ qua?

Chính là Tình báo Hoa Nam của Trung Quốc. Bọn chúng đã kết thân và mua chuộc được một số lãnh đạo chóp bu của Tổng cục Hai. Do sai lầm của Nghị định 96CP đã trao quyền quá lớn cho Tổng cục Hai, biến Tổng cục Hai – tay sai đắc lực của Tình báo Hoa Nam – trở thành siêu quyền lực trong ĐCSVN. Nhiều anh em sáng suốt và có tâm huyết ở Tổng cục Hai như: những người đã đưa vụ T4 ra ánh sáng, tập thể cán bộ đã viết tập tài liệu “Vương triều Vũ Chính”, trung tá Vũ Minh Trí … biết rất rõ cái tai họa của bọn ma quỷ này nhưng vì yếu thế nên đành nuốt hận! 

Hãy hỏi Nguyễn Chí Vịnh, vì sao cấm Việt Nam không được liên minh quân sự với những nước khác?

Khối NATO là gì? Mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, yếu như Philippines đều phải liên minh với Hoa Kỳ.

Việt Nam cũng đã từng mời Liên Xô vào đóng quân ở Cam Ranh, từng liên minh quân sự với Liên Xô, Trung Quốc đấy chứ. Ngày ấy ta dại dột liên minh vì/cho người (Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”). Ngày nay nếu liên minh tức là liên minh vì/cho mình. Sao ta không liên minh?

Không liên minh tức là tự trói tay nộp mạng khi bọn cuồng vọng Đại Hán nhìn ta đơn lẻ như một con dê tế thần.

Liên minh là để tăng cường thế mạnh, uy hiếp kẻ địch. Liên minh quân sự tức là góp phần làm giảm thiểu khả năng xẩy ra chiến tranh.

Quốc hội đang thảo luận Luật Trưng cầu Ý dân. Vấn đề nước sôi lửa bỏng, vấn đề quyết định sống còn đối với vận mệnh quốc gia hiện cần đưa ra Trưng cầu Ý dân ngay là: “Có nên liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Nhật Bản không? Có nên cho Hoa Kỳ thuê hải cảng Cam Ranh không?”.

Trước khi dưa ra Trưng cầu Ý dân bất cứ vấn đề gì, đề nghị nên cho đăng tải mọi ý kiến trái chiều trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng một cách thật rộng rãi để toàn dân được cung cấp thông tin thật đầy đủ.

Xin khẩn khoản đề nghị.

Hà Nội 11 tháng 6 năm 2015

Nguyễn Thanh Giang

Số nhà 5, ngõ 341, đường Trung Văn

Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội

Mobi: 0984 724 165

Nguon: anhbasam.wordpress.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Bộ Ngoại giao Mỹ: Trung Quốc tiếp tục xây đảo phi pháp và thử thách Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2015

Thanh Niên

Hoàng Uy

10-06-2015

Ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy tàu Trung Quốc ráo riết xây đảo nhân tạo trái phép ở Đá Chữ Thập thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: Reuters

(TNO) Trung Quốc sẽ tiếp tục xây đảo nhân tạo phi pháp tại Biển Đông, nhưng sẽ ít có khả năng xảy ra một cuộc xung đột lớn trong khu vực, theo một báo cáo an ninh của Bộ Ngoại giao Mỹ.

“Bắc Kinh sẽ tiếp tục xây dựng đảo tại Biển Đông. Khác với tàu cá hay tàu tuần tra, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, chẳng hạn bồi đắp đảo và xây dựng đường băng, hải đăng, báo hiệu một sự hiện diện lâu dài hơn (tại Biển Đông)”, trang tin Washington Free Beacon (Mỹ) dẫn báo cáo nội bộ của Hội đồng Cố vấn An ninh Nước ngoài (OSAC) thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ.  

OSAC nhận định Trung Quốc sẽ tiếp tục hoạt động xây đảo nhân tạo và quân sự hóa tại Biển Đông, bất chấp sự phản đối của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter hồi tuần trước.

Cơ quan trực thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ còn cho biết khó xảy ra chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia có tranh chấp tại Biển Đông, nhưng cảnh báo vẫn có những nguy cơ ở mức độ thấp hơn có thể dẫn đến xung đột hay sự cố về mặt quân sự.

Báo cáo đánh giá về căng thẳng Biển Đông của OSAC chỉ được lưu hành nội bộ nhằm giúp Phòng An ninh Ngoại giao của Bộ Ngoại giao Mỹ có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nước này đang hoạt động trong vùng, theo Washington Free Beacon.

Cũng theo báo cáo này, hiểm họa chính có thể bùng phát từ căng thẳng ở Biển Đông được miêu tả như một “đụng độ vô tình” hoặc một tính toán sai lầm về mặt quân sự rồi từ đó phát triển thành “xung đột”.

“Môt cuộc chiến tranh trên biển khó có thể xảy ra vì chẳng có bên nào hay đồng minh nào hưởng lợi từ cuộc xung đột kéo dài”, OSAC cho hay.

Tình huống có khả năng xảy ra cao nhất từ căng thẳng ở Biển Đông chính là sự gia tăng các động thái quân sự và các phản đối mang tính ngoại giao, theo tính toán của OSAC.

“Chi tiêu ngân sách lớn cho việc mua sắm khí tài quân sự và mong muốn phô diễn sức mạnh quân sự (của các nước có tranh chấp) nhiều khả năng sẽ càng làm tăng thêm việc tiến hành các động thái quân sự”, báo cáo nội bộ của OSAC cho biết.

Tuy nhiên, cơ quan này cũng nhấn mạnh rằng những động thái kể trên “không nhất thiết phải là dấu hiệu của một cuộc xung đột không thể tránh khỏi, nếu các bên có liên quan thiết lập được các quy tắc tránh đụng độ trên biển”. 

Washington Free Beacon dẫn lời ông John Tkacik, cựu chuyên viên về Trung Quốc thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, dự đoán quân đội Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tiếp tục quấy rối tàu thuyền và máy bay hải quân Mỹ hoạt động ở Biển Đông nhằm “kiểm tra” giới hạn phản ứng của lực lượng Mỹ tại khu vực này.

“Chiến lược của quân đội Trung Quốc là dồn ép Mỹ đến tận đỉnh điểm, rồi sau đó đấu dịu một thời gian để phía Mỹ quen dần”, ông Tkacik nhận định.

“Quân đội Trung Quốc cũng sẽ sử dụng khả năng thu thập thông tin bằng tình báo điện tử để đánh giá giới hạn của Mỹ. Và một khi nhận thấy Mỹ đã dần quen với việc bị dồn ép, quân đội Trung Quốc sẽ gia tăng sức ép mạnh hơn để tạo ra giới hạn mới”, chuyên gia này dự đoán.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc VN?

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2015

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

Nguyễn Văn Tuấn

9-6-2016

Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc VN, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân.

Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp.

Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79). VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất?

Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

===

(1) http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov

(2) http://dantri.com.vn/blog/cuoi-len-dau-nhan-dan-con-kinh-khung-hon-dia-chu-tu-san-1078048.htm

Comment

T Chan Ngo

Ngoài những chuyện gs đã kể trên, chắc cũng không có thời đại nào mà có nạn trẻ con VN bị đem bán làm nô lệ tình dục khắp Đông Nam Á như hiện nay. Linh mục Nguyễn Bá Thông là người đứng đầu tổ chức One Body Village, ông thường giả dạng khách làng chơi để cứu các em ra cho ăn học và phục hồi tâm lý. Mời quý vị coi một vài video clips có liên quan đến một vấn nạn không thể chấp nhận được trong cái thời đại gọi là “vàng son”, nhưng toàn nước là mắt này!
(1) https://youtu.be/C-xWzaBuzOc?t=7m40s
(2) https://www.youtube.com/watch?v=6rx67NlUE9Q
(3) https://youtu.be/LJupehp5QHA?t=2m30s
Còn công nhân VN thì bị bóc lột, đối xử như nô lệ ở nước ngoài, kêu trời không tới! (4) https://www.youtube.com/watch?v=8FN3QRcJ6Ac

@  Bác tổng thì ca ngợi vậy, chứ khi mà đòi làm luật biểu tình, luật trưng cầu dân ý thì đảng bảo dân trí thấp quá, chưa làm được. 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Mặt thật của lãnh tụ cộng sản Fidel Castro

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2015

Mặt thật của lãnh tụ cộng sản Fidel Castro

Tác giả: 

10-6-2015

fidel

Huê Kỳ và Cuba muốn bình thường hóa bang giao, chấm dứt thời gian dài hai nước láng giềng thù địch, đưa Cuba từng bước tiến tới nền dân chủ và kinh tề tự do, là một biến cố vô cùng quan trong .

Tiếp theo, một quyển sách viết về đời sống thật của vị cựu lãnh tụ Fidel Castro, phơi bày những điều mà trước giờ giấu diếm mọi người nhằm dựng lên huyền thoại một “ nhà cách mạng cộng sản suốt đời sống cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư ” . Đó là quyển “ Đời sống giấu kín của Fidel Castro ” (Michel Lafon, Paris xuất bản) do Ông Juan Reinaldo Sachez, người cận vệ của Fidel Castro suốt 17 năm dài, kể lại những bí mật nhà nước và vô số những chuyện về đời sống thật của vị Lãnh tụ Maximo mà từ trước tới giờ chưa từng được tiết lộ . Mọi thứ chung quanh Castro đều được giấu nhẹm, từ ngôi làng ma nơi huấn luyện quân du kích đến từ năm châu cho tới gia tài kếch sù của ông, gồm vô số bất động sản, hòn đảo thần tiên mà người dân cu-ba không thể biết, tiền lấy riêng từ ngân sách nhà nước, … Castro có 9 người con với 5 người đàn bà . Về điểm này, ít ra Fidel Castro lương thiện hơn Hồ Chí Minh vạn lần . Phải chăng vì vậy mà Hồ Chí Minh, rồi Nguyễn Minh Triết, đã chịu khó “ thức canh cho cu ba ngủ ”?

Theo tiết lộ của người cựu cận vệ, Fidel Cadtro là một người độc tài khật khùng, trùm gián đìệp ngoại hạng, đồng lõa trong những vụ buôn bán bạch phiến, …

Cu-ba và Huê kỳ

Năm 1959, Cu-ba làm cách mạng cộng sản . Huê kỳ vẫn giữ thái độ trung lập . Nhưng năm sau, quan hệ giữa hai nước xuống cấp . Cu-ba tịch thu các doanh nghiệp của Huê kỳ ở Cu-ba . Phản ứng, Huê kỳ không mua đường của Cu-ba nữa . Tháng 4/1961, Huê kỳ phong tỏa Vịnh Con Heo nhưng thất bại .

Trước phong tỏa, hai nước giữ quan hệ khá thân thiện . Nhiều người dân Huê kỳ qua Cu-ba sanh sống vì ở đó đời sống rẻ . Trong lúc đó, Cu-ba muốn dựa vào Huê kỳ là một cường quốc thế giới .

Đến khi hai nước trở thành thù địch, Huê kỳ ghi Cu-ba vào danh sách nước ủng hộ khủng bố . Khi trở thành quốc gia khủng bố hay ủng hộ khủng bố, có thể bị Huê kỳ trừng phạt hoặc tần công khi cần .

Ngày 17/12/2014, hai nước đồng thanh lên tiếng muốn nối lại mối bang giao . Chánh quyền Obama cho phép bỏ biện pháp hạn chế du lịch . Nhưng về việc bỏ cấm vận, Huê kỳ phải thông qua một thủ tục phức tạp.

Liền khi Cu-ba và Huê kỳ sưởi ấm lại mối quan hệ, TT Pháp, Ông Hollande, vội bay qua thăm viếng Cu-ba, nhắc lại mối tình “ môi hở răng lạnh ” giữa hai nước, trong LHQ, Pháp luôn luôn ủng hộ Cu-ba . Những nhà đầu tư pháp bắt đầu dòm ngó qua bên kia Đại Tây dương .

Đời sống giấu kín của lãnh tụ

Người cộng sản nào cũng tạo riêng cho mình một đời sống trước công chúng với những nét vô cùng đạo đức như sống đơn giản, vì mọi người, quên bản thân mình . Những nét này để làm bộc lộ “ Đạo đức cách mạng ” nhằm mê hoặc dân chúng . Ngày nay, ỏ Pháp, những người của Đảng Xã hội (chủ nghĩa) còn không ngần ngại lớn tiếng rêu rao “ Xã hội chủ nghĩa là cấp tiến . Vì vậy mà chúng tôi tranh đấu cho đất nước theo đường lối xã hội chủ nghĩa ” .

Ông Hollande từng tuyên bố “ Tôi ghét nhà giàu . Tôi ghét tiền ! ” . Nhưng ông lại là người “ khá ” hơn đại đa số dân pháp . Ở cương vị Tổng thống, ông biết hưởng thụ khá sành sỏi . Không riêng gì ông, mà cánh xã hội của ông nên dân chúng Pháp mới gọi đó là những “ người xã hội chủ nghĩa Caviar ” (Trưởng giả)!

Nhưng không ai có thể qua mặt “ Bác Hồ ” về ngón nghề  xạo của lãnh tụ .

Về mặt quan hệ với đàn bà, bác là thứ “ già không bỏ, nhỏ không tha ” nhưng bác không bao giờ dám nhận những mối quan hệ ái ân đó . Cả đảng cộng sản ở Hà Nội cũng đồng lõa che đậy lấy được cho bác .

Một chi tiết điếm vặt của bác nhưng được tuyên truyền thổi phòng trở thành một đức tính cần kiệm . Bác luôn luôn hút thuốc thơm PhilipMorris hoặc Craven “A”, cả trong chiến khu hay vùng Việt Bắc . Nhưng khi mời khách, nhứt là khách ngoại quốc, bác móc trong túi ra bao thuốc rê hoặc thuốc đen để thấy bác “ sống với nhân dân ” vốn nghèo . Bác đi dép râu, chỉ đi giày khi nào nhân dân cả nước đều được đi giày !

Một lần đi về vùng quê thăm nông dân, bác cố ý đi vào vủng nước để cán bộ điện ảnh quay phim “ bác lội nước với nông dân ” trong lúc đó, trên đường đi không thiếu chổ khô ráo . Cán bộ nhận thấy “ đoạn phim này thiếu giá trị thông tin ” nên tắc máy . Sau đó bị phê bình .

Bác lội xuống ruộng cấy lúa với nông dân, vừa hỏi:

– Ruộng này của ai đây?

– Nông dân trả lời: Ruộng của đảng ạ.

– Không phải. Ruộng của nông dân. Bà con hảy lo chăm sóc cho lúa tốt, thu hoạch thật nhiêu. Nghe chưa.

Riêng Lider Maximo

Ông Juan Reinaldo Sanchez làm cận vệ cho Castro suốt 17 năm vừa kể lại đời sống riêng tư thầm kín của ông ấy . Lời kể do ký giả Axel Gylden ghi lại, được nhà xuất bản Michel Lafon ở Pháp, xuất bản .

Ông trước đây muốn nghỉ hưu và muôn qua Huê kỳ sanh sống, liền bị cho vào tù . Theo ông, không có người dân Cu-ba nào có ý nghĩ rằng lãnh tụ tối cao của họ lại có một đời sống chẳng những xa hoa, mà phải nói đúng là đời sống của vua chúa thời xưa . Người dân không thể mơ mà hình dung được . Trái ngược hoàn toàn với những hi sinh mà lãnh tụ luôn luôn đòi hỏi ở người dân .

Nói về đời tư, Fidel Castro luôn luôn nói ông hoàn toàn không có tài sản gì cả, ngoài “ cái chòi của người đánh cá ” trên bờ biển . Thật ra “ Cái chòi của người đánh cá ” đó là cả một cơ ngơi thượng thặng vận dụng đủ mọi thứ tiếp liệu khổng lồ để quan sát và bảo trì .

Từ năm 1961, Fidel Castro chiếm hữu rìêng hòn đảo Cayo Piedra cách phía Nam Vịnh Con Heo 15 km . Đúng là một hòn đảo như cảnh thần tiên trong truyện cổ tích . Ở phía Tây, Castro cho xây một cầu tàu dài 60 m . Ở phía dười nhà là bải cát nhỏ mịn . Để cho du thuyền Aquarama của ông dài 27 m và 2 thủy đỉnh có thể vào đậu sát nhà, Castro cho đào một con kinh dài 1 km . Cayo Piedra trở thành một nơi có đời sống sang trọng nhờ có một nhà hàng nổi dài 15 m với bar và grill dành làm barbecues . Ỏ đây, người ta và trẻ con có thể ngắm những con rùa bơi lội . Nếu muốn nướng hoặc rang muối, cũng rất tiện .

Castro thích bắn cá dưới biển . Ông lặn rất giỏi, không cần bình hơi và có thể lặn sâu dưới 10 m dễ dàng vì người ông có lồng ngực vậm vở, cao 1, 91, nặng 95 kg . Trên bờ, ông thích môn bóng rổ và săn vịt trời .

Ông tới đảo bằng du thuyền lộng lẫy . Khách được mới tới đảo với ông chỉ vài người chọn lựa .

Ngoài những nhà cửa lớn tại Thủ đô La Havane và vườn tược, nông trại, Castro còn có riêng một bệnh viện đầy đủ trang thiết bị tối tân để phục vụ sức khỏe cho ông và gia đình .

Castro và gia đình đông người ăn uống hằng ngày giống như ăn ở nhà hàng . Mỗi người chọn món ăn, thức uống riêng theo sở thích của mình. Bữa ăn dọn ra bàn lớn ở nhà . Mọi người cùng ăn chung. Bữa ăn do hai người bếp làm . Bà quàn gia coi sóc sanh hoạt trong nhà. Tối, bà lo ghi thực đơn cho cả nhà cho ngày hôm sau gồm 3 bửa ăn: điểm tâm, ăn trưa và ăn tối .

Ông không bao giờ đi đâu mà không có mươi cận vệ trong số đó có 2 người sẳn sang để hiến máu cho ông .

Juan Reinaldo Sanchez khai ra “ Suốt gần 20 năm dài, ông sống với Castro nhiều hơn là với gia đình riêng của ông. Castro là một thứ “ Ông Trời”! Ông phải nuốt những lời nói của Castro, tin những điều ông ấy nói ra, theo sát bên ông ấy ở khắp nơi và sẵn sang chết cho ông ấy”.
Sau này, Juan Reinaldo Sanchez mới vỡ lẽ ra “ Xứ Cu-ba thật sự là tài sản riêng của Castro như đất đai của địa chủ hồi thế kỷ XIX vậy ” .
Những người chung quanh Castro, cả nhân viên giữ an ninh cho ông, tất cả đều bị thường xuyên theo dõi, nghe lén.

Cạnh văn phòng của ông là phòng thâu âm tất cả mọi cuộc nói chuyện, với tướng lãnh, với nhơn viên chánh phủ, với khách ngoại quốc.

Cách đó mươi thước là phòng họp Nội các và họp đảng cộng sản cu-ba chung. Trên tường gắng đầy máy thu thanh và thu hình để không một lời nói, một cử chi nào có thề thoát khỏi kiểm soát.

Ơ Cu-ba, phải nói không có ai hay điều gì thoát khõi kiểm soát. Cả các khách sạn cũng đều có trang bị máy móc tình báo điện tử .

Ngày 13 tháng 8 hằng năm là sanh nhựt của Castro. Ông thích cùng với đội bảo vệ an ninh gặp nhau trong căn cứ quân sự để ăn uống mừng sanh nhựt. Thường dịp này không có vợ con tới.

Họ nướng một con cừu. Mọi người ăn bằng tay, không dùng dao, nỉa, dỉa như bình thường.
Thêm một điều đáng ghi nhận về đới tư của Castro là trong số mươi lăm cận vệ, có vài người được tuyển dụng không vì tài giỏi võ nghệ, hay thiện xạ, mà chỉ nhờ có nhơn dạng giống lãnh tụ mà thôi. Một cách đánh lạc hướng thông tin ở đối phương có ý đồ xấu .

Ở nước cộng sản, người dân sống cơ cực và tánh mạng như trên đe, dưới búa. Nhưng lãnh tụ hay đảng viên luôn luôn sống sung sướng và quyền uy tuyệt đối.

Phải chăng vì vậy chỉ có người dân muốn đổi đời, người cộng sản thì chết sống phải bám chặc cái ghế đã chiếm được .

Đảng còn, họ còn . Đảng mất, họ chết không đất chôn .

Về hiện tình Việt Nam, có lập luận rằng Nguyễn Tấn Dũng đang đấu đá để tóm thâu quyền hành. Một khi quyền hành đã nắm vững, Nguyễn Tấn Dũng sẽ tuyên bố thay đổi dân chủ và đi theo Huê kỳ.

Chuyện chỉ có thể xảy ra khi ông Dũng bị bịnh tâm thần! Mà ông Dũng bị bịnh chưa?

© Nguyễn thị Cỏ May

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/96354/mat-that-cua-lanh-tu-cong-san-fidel-castro/2015/06

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

► Ủy viên TƯ Đảng bàn về sự bóc lột và thâu tóm quyền lực

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2015

9-6-2015

Nếu không ngăn được “nhóm lợi ích”, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, xã hội sẽ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng.

LTS: Dưới đây là bài viết của TS. Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đăng trên Tạp chí Cộng sản. Tuần Việt Nam đăng tải lại và giới thiệu đến bạn đọc.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”. Bởi vì, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) sẽ làm cho sự phát triển của đất nước và lợi ích quốc gia, dân tộc suy yếu và tổn thất nghiêm trọng; nhân dân bị tước đoạt quyền lực và lợi ích; thành quả cách mạng và chế độ chính trị – xã hội không được bảo vệ, dẫn đến đổ vỡ.

Lợi ích chính đáng (của một người, một nhóm) là lợi ích phù hợp với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, góp phần và bổ trợ cho lợi ích chung; không mâu thuẫn, không gây thiệt hại cho lợi ích chung. Lợi ích chính đáng luôn là mục tiêu và động lực đối với hoạt động của con người, cần được tôn trọng, bảo vệ và khuyến khích. Quên điều này, không quan tâm đến lợi ích chính đáng của con người, ngăn cản các lợi ích chính đáng ấy, thì sự lãnh đạo và quản lý xã hội không thể thành công, mà trước sau gì nhất định cũng sẽ thất bại.

Ngược lại, “lợi ích nhóm” (theo nghĩa tiêu cực) thì mâu thuẫn với lợi ích chung của quốc gia, dân tộc; gây hại cho lợi ích chung, cho cộng đồng, làm suy yếu và gây tổn thất nghiêm trọng đối với lợi ích chung. “Lợi ích nhóm” là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc hình thành các “nhóm lợi ích”.

Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn.

Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Ảnh minh họa: CafeF

Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực và tham vọng tiền bạc.

Ở nước ta, trong lãnh đạo, người đầu tiên công khai hóa và nêu lên sự cần thiết phải đấu tranh với “lợi ích nhóm” là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI).

Sau Tổng Bí thư, một vài đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nước cũng có nói đến, mặc dù chỉ mới thoáng qua và nói chung, chưa có chỉ đạo gì quyết liệt trong việc ngăn ngừa, phòng chống “lợi ích nhóm”.

Trong giới khoa học của Việt Nam đã có một số nghiên cứu, chưa nhiều và mới ở dạng lý thuyết chung, chưa gắn với thực tế tình hình nước ta. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều tài liệu nghiên cứu vấn đề này, gắn với quá trình phát triển của một số quốc gia. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã xác định nhiệm vụ quan trọng phải đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.

Hiện nay, “lợi ích nhóm” và hoạt động của “nhóm lợi ích” ở nước ta đã và đang diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực quan trọng. Đó là trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công; trong quản lý ngân sách, thuế, quản lý ngân hàng – tín dụng; trong quản lý các nguồn vốn và chương trình đầu tư về xã hội, trong quản lý tài sản, đất đai, bất động sản, tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu; trong công tác cán bộ, quản lý biên chế; trong quản lý việc cấp các loại giấy phép; kể cả trong các vụ án, trong tham mưu về chủ trương, chính sách và trong điều hành.

Đi sâu vào nghiên cứu các vụ tiêu cực, tham nhũng có tổ chức, các vụ, việc mà dư luận có nhiều ý kiến thì sẽ có nhiều thông tin cụ thể về tình hình “lợi ích nhóm” ở Việt Nam. Tức là tình hình xấu đã lan rộng, khá phổ biến và khá ngang nhiên, nghiêm trọng đến mức báo động.

“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có tác hại gì? Trước nhất, nó làm cho đất nước bị tổn thất các nguồn lực và giảm hiệu quả đầu tư, bị kìm hãm không thể phát triển nhanh, thậm chí không thể phát triển bình thường, mất sức sống, nền kinh tế sẽ bị khiếm khuyết, dị tật, kinh tế “ngầm”, thị trường “ảo”, chụp giật, hoang dã, khống chế và “thanh toán” lẫn nhau để giành độc quyền, làm hỏng môi trường phát triển lành mạnh và bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp.

 Hầu hết các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” kéo dài nhiều thập niên, thậm chí kéo dài hàng thế kỷ, loay hoay mãi, lùng bùng mãi, không làm sao thoát ra được để trở thành một quốc gia phát triển là do “lợi ích nhóm” – nguyên nhân trực tiếp và hàng đầu. Với sự chi phối của các “nhóm lợi ích”, nguồn lực quốc gia bị phân bổ và sử dụng không vì lợi ích chung của quốc gia, mà nhằm hướng phục vụ cho “lợi ích nhóm”; việc bố trí đầu tư, sắp xếp dự án và kể cả ban hành chính sách, điều hành xử lý công việc cũng vậy.

Nước ta sau mấy chục năm công nghiệp hóa, đến nay năng suất lao động xã hội vẫn thấp (vào loại thấp nhất khu vực Đông Á), hiệu quả đầu tư kém, nợ nần nhiều mà chưa rõ trả bằng cách nào, khi mà hiệu quả đầu tư (sử dụng nguồn vay ấy) còn kém; thu nhập thấp, sản phẩm công nghiệp xuất khẩu hầu như không có, các chương trình nội địa hóa không thành công, chủ yếu là làm thuê và cho thuê mặt bằng, nền kinh tế Việt Nam đang rơi vào “bẫy thu nhập trung bình thấp”. Nhìn lại nguyên nhân các nước bị “bẫy thu nhập trung bình” và nhìn lại tình hình nền kinh tế của ta thì thật đáng lo ngại.

Hậu quả thứ hai do “nhóm lợi ích” gây ra là nhất định sẽ chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính (và cũng xa lạ với chủ nghĩa tư bản hiện đại), đất nước đi theo một con đường khác, sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, đó là con đường không có tiền đồ và rất nguy hiểm, không có tự do và dân chủ (vì bị “nhóm lợi ích” độc quyền về kinh tế và chính trị thâu tóm, lũng đoạn), để lại hậu quả lâu dài mà dân tộc phải gánh chịu. Chúng ta mong muốn xây dựng một xã hội trên nền tảng của các giá trị nhân cách thì “nhóm lợi ích” lại thúc đẩy đồng tiền cộng với quyền lực chiếm địa vị thống trị.

Thực chất “nhóm lợi ích” là đồng tiền (tư bản) chi phối quyền lực, trực tiếp tham gia giành và chiếm giữ quyền lực, làm cho quyền lực không còn là của nhân dân, cũng có nghĩa là chệch khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa (chân chính).

Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Ông Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng

“Lợi ích nhóm” và “nhóm lợi ích” có từ rất sớm, ít nhất là từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến; nhưng sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa thì nó phát triển và diễn biến phức tạp hơn, kể cả trình độ, quy mô và tính chất. Trong Chủ nghĩa tư bản “hoang dã”, “mông muội”, các “nhóm lợi ích” hoạt động phổ biến, công khai, tích lũy và tập trung tư bản bằng mọi thủ đoạn, kể cả bạo lực, giết người.

Nhân đây, trước khi nói đến hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra, xin nói rõ hơn về “chủ nghĩa tư bản thân hữu”. Suốt mấy trăm năm nay, qua quá trình cạnh tranh, qua đấu tranh xã hội, chịu sự tác động của các quy luật khách quan về kinh tế và xã hội, chủ nghĩa tư bản buộc phải liên tục điều chỉnh. Ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những điều chỉnh rất đáng ghi nhận; tạo ra nhiều thành tựu và một số nước đạt trình độ phát triển cao, tính chất xã hội hóa sản xuất cao hơn, đang dần dần từng bước tạo ra các nhân tố mới của xã hội tương lai (xã hội xã hội chủ nghĩa).

Đồng thời với quá trình tiến hóa tự nhiên ấy, trong thực tiễn thế giới tư bản còn xuất hiện một khuynh hướng khác, một khuynh hướng không lành mạnh, không bình thường, một khuynh hướng tha hóa, đó là “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, một loại hình nguy hại cho sự phát triển của các quốc gia.

 Nước nào rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thì không ngóc đầu lên được. “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” thực chất là sự bành trướng, biến dạng, biến tướng, sự thoái hóa cao độ của “nhóm lợi ích” gây ra. Đây là một loại hình rất lạc hậu, khác xa so với chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa tư bản hiện đại có nhiều mặt tiến bộ, mà chúng ta cần nghiên cứu để học tập kinh nghiệm) và tất nhiên là càng xa lạ với chủ nghĩa xã hội văn minh.

“Chủ nghĩa tư bản thân hữu” còn có các cách gọi khác nhau, là “chủ nghĩa tư bản lợi ích”, “chủ nghĩa tư bản bè phái”, “chủ nghĩa tư bản bè cánh”, “chủ nghĩa tư bản lũng đoạn”,… “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” không phải là một giai đoạn của chủ nghĩa tư bản, mà là một hiện tượng, một khuyết tật, một sự tha hóa của chủ nghĩa tư bản. Đây là loại hình “phát triển” mà trong đó các doanh nghiệp dựa vào ưu thế về mối quan hệ với những người có quyền lực để tạo ra nguồn thu tài chính cho cá nhân và đơn vị mình.

Các doanh nghiệp này tập trung đầu tư vào “quan hệ”, vào “quan chức” để từ đó mà dùng quyền lực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch.

Đặc trưng của “chủ nghĩa tư bản thân hữu” là có sự cấu kết, xâm nhập lẫn nhau giữa nhóm đặc quyền kinh tế và nhóm đặc quyền chính trị, người kinh doanh cũng đầu tư vào quyền lực và người có quyền lực cũng tham gia kinh doanh, làm quan chức để làm giàu, họ cùng nhau bóc lột “mềm” toàn xã hội, bóc lột cả dân tộc, họ thâu tóm các nguồn tài chính, của cải và thâu tóm quyền lực chính trị, biến bộ máy nhà nước thành công cụ của một nhóm người (nhân danh nhà nước và đảng cầm quyền) thực hiện độc quyền kinh tế kết hợp với độc quyền chính trị.

Nói họ thực hiện bóc lột “mềm” là vì không có hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh cụ thể để trực tiếp bóc lột giá trị thặng dư của lao động, sự bóc lột của họ tinh vi hơn, nhưng tai hại hơn, gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Sự bóc lột ấy thực hiện thông qua các dự án, các chương trình đầu tư; thông qua các cơ chế, chính sách (không phục vụ cho toàn xã hội mà phục vụ cho một nhóm người) và thông qua cách điều hành, cách quản lý mập mờ, không minh bạch, gây tiêu cực, tham nhũng… Họ thu lợi thông qua các công ty “sân sau”, công ty con, công ty cháu, công ty nhánh của gia đình, của “cánh hữu”. Nó ra đời trong (và gắn với) chủ nghĩa tư bản “man rợ”, chủ nghĩa tư bản “dã man”, chứ không phải chủ nghĩa tư bản văn minh.

Rất đáng lưu ý là, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” không chỉ có trong xã hội tư bản (yếu kém và tha hóa) mà còn có trong các xã hội khác, ở các nước mới bắt đầu vận hành nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường, khi mà ở đó “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích”, “lợi ích bè phái”, “tính thân hữu vì lợi ích” đang nổi lên và hoành hành; khi mà đảng cầm quyền cùng nhà nước do nó lãnh đạo bị suy thoái về đạo đức, tham nhũng trở nên phổ biến và pháp luật không được tuân thủ trong sự quản lý đất nước, quản lý xã hội (tức là trình độ quản trị quốc gia yếu kém).

Thực tiễn thế giới cho thấy, “chủ nghĩa tư bản thân hữu” kìm hãm sự phát triển của quốc gia, làm cho đất nước rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” hàng thế kỷ không ra được, làm băng hoại đạo đức xã hội (do lệch chuẩn giá trị); làm méo mó, biến dạng các chủ trương, đường lối; gây nên các khuyết tật của nền kinh tế và của xã hội, để hậu quả lâu dài.

 “Chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất phát từ các nguyên nhân, nguồn gốc: “Lợi ích nhóm” tiêu cực, các dạng ma-phi-a, tham nhũng có tổ chức, sự suy thoái đạo đức của cán bộ có chức quyền, không có cơ chế kiểm soát quyền lực, để quyền lực tha hóa và không có cơ chế tốt để nhân dân làm chủ và có quyền lực thật sự, trình độ và năng lực quản trị quốc gia yếu kém, luật pháp còn nhiều kẽ hở và việc chấp hành pháp luật không nghiêm, bảo kê, bao che và dung túng cho các sai phạm.

Ở đâu và khi nào mà “nhóm lợi ích” không bị ngăn chặn có hiệu lực, hiệu quả, mà để nó phát triển mạnh, lan tràn, hoành hành, vai trò của Nhà nước lành mạnh bị vô hiệu hóa, thì ở đó, tất yếu sẽ kéo theo “chủ nghĩa tư bản thân hữu” xuất hiện và tồn tại, không thể tránh được, không thể khác được, dù có muốn hay không.

Lâu nay Đảng ta đã nhiều lần lưu ý nguy cơ chệch hướng. Nếu chệch hướng thì sẽ chệch đi đâu? Chắc không thể trở lại chế độ phong kiến, vì trình độ phát triển đã vượt qua. Cũng không thể chệch sang chủ nghĩa tư bản phát triển văn minh, vì trình độ phát triển của nước ta chưa đạt đến, và nếu vậy thì có ý kiến cho rằng cũng không đáng sợ, bởi chúng ta sẽ gần hơn với chủ nghĩa xã hội. Khả năng lớn nhất, hiện hữu và cũng đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất là chệch hướng sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, con đường nguy hại cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, đồng thời cũng nguy hại cho chế độ chính trị – xã hội.

Trở lại hậu quả của “nhóm lợi ích”. Hậu quả thứ ba do “nhóm lợi ích” gây ra là sự suy đồi về văn hóa, đạo đức xã hội do hệ giá trị bị đảo lộn (đồng tiền và quyền lực chiếm vị trí trung tâm và cao nhất, trong khi nhân cách bị đẩy sang bên cạnh và xuống hàng thứ yếu) và do tha hóa quyền lực (tác nhân mạnh nhất). Việc phân hóa giàu – nghèo sẽ ngày càng lớn, tạo ra bất bình đẳng và mâu thuẫn xã hội. Hỏng văn hóa và gây ra mâu thuẫn xã hội thì hậu quả khôn lường, thâm sâu và lan tỏa rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến nền tảng xã hội và sức mạnh nội sinh của dân tộc.

Hậu quả thứ tư do “nhóm lợi ích” gây ra là làm lẫn lộn thật – giả, đúng – sai, khác nhau giữa lời nói và việc làm, đường lối đúng không vào được cuộc sống…; làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng cầm quyền và đối với nhà nước, tức là làm hỏng nền tảng chính trị, dẫn đến mất ổn định chính trị, mất sức mạnh của một quốc gia, và từ đó các thế lực xâm lăng từ bên ngoài có thể lợi dụng thời cơ để xâm lấn, chèn ép, dẫn đến nguy cơ mất độc lập, thậm chí là mất nước.

Hậu quả thứ năm do “nhóm lợi ích” gây ra là chính sách sử dụng cán bộ méo mó, phát triển nạn “chạy chức”, “chạy quyền”, sắp xếp cán bộ trên cơ sở “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ”, chứ không phải sử dụng người có tài đức, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ; là sự phát triển, sự gia tăng các hoạt động bè phái, mất đoàn kết nội bộ, phá vỡ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng cầm quyền, từ đó dẫn đến đảng cầm quyền mất vai trò lãnh đạo, tan rã hoặc bị “nhóm lợi ích” thâu tóm làm thay đổi hoàn toàn bản chất, không còn là đảng phục vụ nhân dân, và nhà nước cũng hư hỏng, biến chất, không còn là nhà nước của nhân dân, mà thành bộ máy cai trị, tham nhũng và bóc lột nhân dân, từ đó, nòng cốt chính trị đổ vỡ, bất ổn định chính trị từ bên trong.

Tư bản thân hữu, lợi ích nhóm, ĐCS, bóc lột, Vũ Ngọc Hoàng
Phố Xã Đàn, một trong những con đường “đắt nhất hành tinh”. Ảnh minh họa: VOV.

Tình hình “nhóm lợi ích” ở Việt Nam đã đến mức độ nào? đang và sẽ đi về đâu? Như chúng ta đã biết, trước đây trong lịch sử nhiều lần các triều đại phong kiến Việt Nam bị sụp đổ, kể cả có lúc đất nước bị chia cắt là do “nhóm lợi ích” gây nên.

Ngày nay, tuy chưa có các công trình nghiên cứu cấp quốc gia một cách thật đầy đủ và khoa học về “lợi ích nhóm ở Việt Nam”, nhưng qua thông tin, qua dư luận xã hội, qua nghiên cứu của một số chuyên gia và cảm nhận của nhiều người, thì tình hình “lợi ích nhóm” đã khá nghiêm trọng, tương đối phổ biến, ở cấp nào cũng có, cấp cao hơn thì mức độ càng nặng hơn, ở lĩnh vực nào cũng có, kể cả ở những nơi mà xưa nay trong tiềm thức xã hội thường cho rằng đó là nơi luôn trang nghiêm, trong sạch.

 “Lợi ích nhóm” cũng chính là một kiểu tham nhũng nghiêm trọng nhất, tham nhũng có tổ chức. Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhưng thực tế xã hội vẫn diễn ra một tình hình rất đáng lo ngại là ở nước ta đang có nguy cơ chuyển biến dần dần sang “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, do hoạt động của “nhóm lợi ích” gây nên. Cũng có ý kiến cho rằng nước ta đã rơi vào “chủ nghĩa tư bản thân hữu” rồi, đã vào sâu lắm rồi (?). Ở các nước, việc quản lý nhà nước và việc điều hành kinh tế tách biệt rành mạch, và ở họ doanh nghiệp nhà nước cũng ít hơn ta.

Còn ở ta, với đặc điểm cơ quan nhà nước vừa quản lý về mặt nhà nước, vừa trực tiếp điều hành kinh tế, doanh nghiệp nhà nước nhiều, lại yếu kém trong quản lý, không ít trường hợp đằng sau cái vỏ doanh nghiệp nhà nước là tư nhân núp bóng, vì vậy, đề phòng “lợi ích nhóm” ở Việt Nam còn phức tạp hơn các nước khác, nếu không đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả. Đây là nguy cơ lớn nhất đang hiện hữu dần, đe dọa sự phát triển lành mạnh của đất nước và sự tồn vong của chế độ theo định hướng xã hội chủ nghĩa (lành mạnh).

Nguy cơ này bao trùm, đáng lo hơn bất kỳ sự đe dọa nào, tác động chi phối chính, làm trầm trọng các nguy cơ khác, tạo điều kiện cho các nguy cơ khác phát triển và gây tác hại. Đây là điểm lớn nhất, cốt lõi nhất của cuộc đấu tranh về quan điểm lập trường; là trọng tâm trong chống “tự diễn biến”.

Nếu Đảng và Nhà nước ta không ngăn chặn được hoạt động của “nhóm lợi ích”, để nó tiếp tục phát triển, dẫn đến lũng đoạn ngày càng lớn hơn thì sự phát triển của đất nước bị nguy khốn và chế độ chính trị cũng biến chất, cũng thay đổi theo hướng xấu, chắc chắn không còn là con đường xã hội chủ nghĩa chân chính nữa, mà sẽ là nơi phát triển “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, mong muốn của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân đã chiến đấu, hy sinh xương máu sẽ trở nên xa vời và vô vọng, mong muốn thiết tha của Bác Hồ cũng không thực hiện được, Đảng chân chính sẽ không còn và Nhà nước sẽ biến chất, dân tộc sẽ bị bóc lột, bị tước đoạt quyền lực và tài sản của cải, chế độ xã hội sẽ là một chế độ không có dân chủ và tự do, không có bình đẳng.

Lúc này, hơn lúc nào hết, các cấp ủy và toàn Đảng phải nhận thức rõ nguy cơ và quyết tâm bảo vệ quyền lợi dân tộc, thành quả cách mạng và bảo vệ chính Đảng ta, không để Đảng bị “nhóm lợi ích” và “chủ nghĩa tư bản thân hữu” thao túng, làm hư hỏng, biến chất, dẫn đến đổ vỡ.

Chống “lợi ích nhóm” là công việc hết sức khó khăn, phức tạp, vì không rõ “chiến tuyến”, thường ở trong trạng thái lẫn lộn trắng đen, trong nó có ta và trong ta có nó, vừa là ta lại vừa là nó.

Ngoài việc cần nhận thức đầy đủ và sâu sắc tình hình và nguy cơ, cần thảo luận rộng rãi trong Đảng và trên công luận. Đảng và cả hệ thống chính trị phải kiên quyết đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, hết sức hệ trọng và cấp bách; tập thể lãnh đạo từ cấp cao nhất cần có quyết tâm chính trị và thật sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”, sử dụng tất cả các biện pháp có thể; khẩn trương nghiên cứu ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế kiểm soát quyền lực (bằng quyền lực nhà nước, quyền lực của nhân dân và công luận);

cơ chế thực thi dân chủ rộng rãi, minh bạch thông tin và quy định rõ trách nhiệm giải trình, điều trần; tạo hành lang pháp lý chặt chẽ cho báo chí vào cuộc, cho nhân dân thực hiện quyền tham chính; đổi mới căn bản công tác cán bộ, thực hiện tranh cử trước nhân dân đối với các chức danh bầu cử và thi tuyển công khai đối với các chức vụ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế giám sát hoạt động, kết quả công việc, thi hành việc bãi miễn và thay đổi vị trí công tác của cán bộ khi xét thấy không có lợi cho cuộc đấu tranh chống “lợi ích nhóm”./.

TS. Vũ Ngọc HoàngỦy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương.

* Theo Tạp chí Cộng sản. Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt.

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

► Dự án sân bay Long Thành: Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng: “Thiếu nghiêm túc ngay từ đầu”

Posted by hoangtran204 trên 10/06/2015

Dự án sân bay Long Thành:
“Thiếu nghiêm túc ngay từ đầu”

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống

6-6-2015

(GDVN) – Đó là nhận định của PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Bách Khoa Tp. HCM về Dự án sân bay Long Thành.

Dự án Cảng hàng không Quốc tế Long Thành (Dự án sân bay Long Thành) tiếp tục nóng lên những ngày gần đây khi Quốc hội thảo luận dự án này.

Khác với kỳ họp trước, trong báo cáo mới nhất của Chính phủ, dự án sân bay Long Thành đã có sự điều chỉnh so với dự tính ban đầu.

Cụ thể diện tích thu hồi cho dự án được điều chỉnh giảm từ 5000 héc-ta xuống còn 2.750 héc-ta, số tiền đầu tư cho giai đoạn 1 cũng giảm tới 2,6 tỷ USD.

Tuy nhiên chính những thay đổi lớn về con số khiến dư luận đặt nhiều câu hỏi. Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam xin gửi tới độc giả quan điểm của PGS-TS Nguyễn Thiện Tống – Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM về dự án này.

“Không nghiêm túc”

Đối với dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành có tầm quan trọng và quy mô rất lớn thì việc nghiên cứu tiền khả thi là rất cần thiết nhằm trả lời câu hỏi về khả năng thỏa mãn các điều kiện cơ bản của việc đầu tư, đảm bảo các điều kiện cần để quyết định tiếp tục bỏ vốn nghiên cứu khả thi một cách toàn diện và đầy đủ về dự án hay loại bỏ để nghiên cứu chọn lại phương án đầu tư dự án khác.

Thiết kế ý tưởng sân bay Long Thành trong hồ sơ quy hoạch được duyệt – Nguồn Cục Hàng không Việt Nam.

Nếu nghiên cứu tiền khả thi cho thấy dự án sân bay Long Thành không có hiệu quả tài chính, không chắc có hiệu quả kinh tế, không phù hợp với điều kiện hiện tại của đầu tư công cũng như khả năng vốn của nhà nước, không có khả năng thực hiện đạt mục tiêu cảng hàng không trung chuyển quốc tế của khu vực thì không cần phải tốn kém một khoản tiền lớn đầu tư cho bước nghiên cứu khả thi.

Vì nghiên cứu khả thi là nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc tất cả các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, kinh tế, quản lý với nhiều phương án khác nhau nhằm thực hiện ý đồ dự án với lợi ích cao nhất, là bước cuối cùng của công tác chuẩn bị đầu tư. Cho nên trong trường hợp dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành quy mô rất lớn, chi phí nghiên cứu khả thi khoảng 3000 tỷ đồng.

Qua các Tóm tắc Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành (tháng 6 năm 2013, tháng 9 năm 2014, tháng 3 năm 2015), Tờ trình xin phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành của Bộ Giao thông vận tải gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 12/9/2014, phần phân tích khả thi tài chính hầu như không có gì.

Chỉ riêng Báo cáo Giải trình bổ sung về Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành của Chính Phủ gửi Quốc hội ngày 27/10/2014 mới có phần đề cập đến phân tích tài chính đối với hạng mục nhà ga hành khách (nguồn vốn doanh nghiệp, công ty cổ phần, PPP) với kết quả tính toán cho chỉ số nội hoàn tài chính FIRR là 13,9% xem xét cho thời hạn 25 năm (tr. 21 Báo cáo Giải trình bổ sung).

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống – Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM (ảnh Hoàng Lực)

Đây là hạng mục có khả năng cho lãi suất cao nhất được chọn để tính toán với dự báo lạc quan về nhu cầu hành khách nhằm đưa ra chỉ số nội hoàn tài chính FIRR cao là 13,9%, tuy nhiên đối với những hạng mục khác cần đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa (tư nhân) mà có khả năng cho lãi suất thấp hơn thì chỉ số nội hoàn tài chính FIRR chắc chắn sẽ thấp hơn 13,9%. Nhiều hạng mục có chỉ số nội hoàn tài chính FIRR thấp hơn 10% thì sẽ không hấp dẫn nhà đầu tư và như thế khả năng huy động nguồn vốn tư nhân cũng sẽ không có.

Mặt khác phân tích khả thi tài chính cho toàn thể dự án hay cho giai đoạn 1 của dự án là nghiên cứu quan trọng nhất của nghiên cứu tiền khả thi. Tuy nhiên Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành lại không thực hiện vì vậy không đạt yêu cầu về nghiên cứu tiền khả thi.

Như TS Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright từng phát biểu “Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành tính toán tài chính cách nào cũng lỗ” cho nên chủ đầu tư là Tổng Công ty cảng hàng không Việt Nam cố tình tránh né không thực hiện phân tích tính toán tài chính.

Để trả lời câu hỏi về nhu cầu vốn đầu tư cho dự án, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi phải thể hiện ngân lưu tài chính (dòng tiền) qua từng năm của thời gian thực hiện dự án. Đồng thời cho biết khả năng vốn của chủ đầu tư (Tổng Công ty cảng hàng không Việt Nam) và khả năng huy động nguồn vốn tư nhân cùng nhu cầu bù lỗ của nhà nước cho từng năm là bao nhiêu? Và cho toàn thể là bao nhiêu.

Phân tích tính toán về kinh tế trong các Báo cáo đầu tư Dự án vừa quá sơ sài vừa sai lệch cả về chi phí và lợi ích. Tóm tắc Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành lần đầu (tháng 6 năm 2013) đưa ra chỉ số nội hoàn kinh tế EIRR là 22,1%, rồi lần thứ hai (tháng 9 năm 2014) thì EIRR là 29,8%, và lần thứ ba (tháng 3 năm 2015) lại là 24,5%.

Trong khi đó số vốn đầu tư cho giai đoạn 1 lúc đầu là 7,8 tỷ USD cho diện tích sân bay 2.565 ha với 2 đường băng cất hạ cánh và nhà ga hành khách 400.000 m2 để đạt năng suất 25 triệu khách/năm, nay trong Tóm tắc Báo cáo đầu tư Dự án vào tháng 3 năm 2015, số vốn đầu tư cho giai đoạn 1 rút xuống còn 5,2 tỷ USD cho diện tích 1.165 ha với chỉ 1 đường băng cất hạ cánh và nhà ga hành khách 400.000 m2 để đạt năng suất 25 triệu khách/năm.

Vốn đầu tư cho giai đoạn 1 giảm đi 1/3 như thế chủ yếu là do giảm 1.400 ha diện tích sân bay và giảm 1 đường băng cất hạ cánh trong khi năng suất vẫn đạt 25 triệu khách/năm. Những thay đổi lớn như thế về vốn đầu tư sẽ làm thay đổi nhiều về kết quả tính toán tài chính và kinh tế.

Điều này chứng tỏ thêm rằng số liệu của Báo cáo đầu tư Dự án xây d cảng hàng không quốc tế Long Thành là không đáng tin cậy và cần có thời gian để nghiên cứu kiểm chứng độc lập trước khi Quốc Hội quyết định.

Phần phân tích tài chính và phân tích kinh tế của Báo cáo đầu tư Dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành còn sơ sài, thiếu sót, không chặt chẽ, không chính xác, không có tính hiện giá ròng tài chính FNPV, không có tính chỉ số nội hoàn tài chính FIRR cho dự án, không tính hiện giá ròng kinh tế ENPV, chỉ số nội hoàn kinh tế EIRR cho dự án không đáng tin cậy. Báo cáo Đầu tư dự án xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành không đạt yêu cầu về nghiên cứu tiền khả thi.

Chứng tỏ dự án lúc đầu không nghiêm túc, làm đại ra, nếu không không có những phản biện của các chuyên gia nhà, nhà khoa học mà làm như dự toán ban đầu thì quá lãng phí.

Nhiều điểm không trung thực

Một số thông tin trong Báo cáo mới chỉ nói một nửa sự thật, nói một nửa sự thật là nói dối.

Cụ thể trong Báo cáo nếu ra một số ví dụ sân bay lớn có diện tích từ 4.000 ha – 5.000 ha trở lên. Rồi từ đó kết luận sân bay lớn phải có diện tích trên  4.000 ha điều này nhằm biện hộ cho sân bay Long Thành rộng 5.000 ha.

Dữ liệu thứ hai, Báo cáo dự án nói đến việc sân bay lớn đều cách xa trung tâm thành phố. Báo cáo đưa ra một số ví dụ các sân bay lớn ở xa trung tâm đô thị để nhằm biện hộ cho Long Thành.

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống:
Tiến sĩ Kỹ thuật Hàng không, Đại học Sydney; Thạc sĩ Quản trị Hành chánh công, Đại học Harvard; Nguyên Giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright; Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Bách Khoa TpHCM.

Tuy PGS-TS Nguyễn Thiện Tống đã nghỉ hưu nhưng ông vẫn được mời dạy thỉnh giảng, mời tham gia hội đồng khoa học chấm luận án Tiến sĩ.

Đây cách diễn giải không đúng, không trung thực, nói thẳng ra là “nói láo”. Bởi để dư luận ủng hộ người viết dự án cố tình lấy những sân bay có diện tích lớn, có khoảng cách các xa thành phố đế minh họa dẫn đến hiểu sai, tức là mới chỉ nói 1 nửa sự thật.

Trong khi thực tế rất nhiều sân bay lớn khác có diện tích nhỏ hơn, ở ngay trung tâm thành phố nhưng vẫn phục vụ hàng chục triệu khách mỗi năm. Nếu công tâm, khách quan tại sao không đưa thông tin đó vào?.

Thực sự có đến 29 trong số 100 sân bay đông khách nhất thế giới năm 2011 chỉ cách trung tâm thành phố từ 10 km trở xuống. Sân bay Tân Sơn Nhất cách trung tâm thành phố 7 km nên ở trong nhóm này.

Sân bay Schiphol có 52,5 triệu khách năm 2013 cách trung tâm thủ đô Amsterdam của Hà Lan 9 km. Sân bay McCarran có 41,9 triệu khách cách trung tâm thành phố Las Vegas ở Mỹ 8 km. Sân bay Madrid có 39,7 triệu khách chỉ cách trung tâm thủ đô của Tây Ban Nha 9 km. Sân bay Kingsford Smith có 37,9 triệu khách cách trung tâm thành phố Sydney ở Australia 7 km. Sân bay Ninoy Aquino có 32,9 triệu khách cách trung tâm thủ đô Manila của Philippines 7 km. Sân bay Benito Juarez có 31,5 triệu khách chỉ cách trung tâm thủ đô của Mexico 5 km. Sân bay Logan có 30,2 triệu khách chỉ cách trung tâm thành phố Boston ở Mỹ 4,8 km.

Khi khoảng cách đó là từ 15 km trở xuống thì có 46 sân bay, trong đó có những sân bay như Orly của Paris ở Pháp, Hồng Kiều của Thượng Hải ở Trung Quốc, Haneda của Tokyo ở Nhật bản, Gimpo của Seoul ở Hàn Quốc… và sân bay Hartsfield Jackson đông khách nhất thế giới năm 2013 với trên 94 triệu khách mà chỉ cách Thành phố Atlanta ở Mỹ 11 km.

Khi khoảng cách đó là từ 20 km trở xuống thì có đến 58 sân bay. Khi khoảng cách đó là từ 30 km trở xuống thì có đến 79 sân bay. Có 13 sân bay cách trung tâm thành phố từ trên 30 km đến 40 km. Chỉ có 8 sân bay cách trung tâm thành phố trên 40 km. Sân bay Long Thành cách Tp.HCM 45 km đường chim bay và trên 50 km đường bộ nên ở trong nhóm này.

Tờ trình xin phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án của Bộ Giao thông vận tải  gửi Thủ tướng Chính phủ ngày 12/9/2014 có đoạn viết “theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, các cảng hàng không lớn trên thế giới nằm cách trung tâm thành phố từ 40 đến 60 km…” (trang 7 Tờ trình).

Ở các nước tiên tiến vấn đề tiếng ồn mà dân cư ở khu vực sân bay phải chịu đựng được giảm bớt bằng cách hạn chế giờ bay vào giữa khuya. Mặt khác tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng làm giảm tiếng ồn của động cơ phản lực để ở khoảng cách 700 m nó chỉ bằng với tiếng ồn của ô tô ở khoảng cách 10 mét. Chủ tịch UBND Tp.HCM Lê Hoàng Quân chỉ bằng cảm tính mới cho rằng “những máy bay có khối lượng lớn lên xuống trên hệ thống nhà dân là không an toàn”, chứ thực tế trong hơn nửa thế kỷ qua những máy bay lớn hoạt động rất an toàn ở hàng trăm hàng ngàn sân bay trên thế giới, trong đó rất nhiều sân bay trong thành phố.

Đừng để sân bay Long Thành có số phận bị đập bỏ như sân bay Mirabel ở Montreal 40 năm sau khi xây dựng hoành tráng.
“Sân bay quốc tế Mirabel cách Montréal 39 km về phía tây bắc, hoạt động từ tháng 10 năm 1975, là cửa ngỏ của Montreal cho mọi người đến dự Thế Vận Hội Olympic 1976 ở Canada. Đây là sân bay lớn thứ nhất thế giới về diện tích (400 km²) vào thời điểm đó. Sân bay này được dự định thay thế cho sân bay Dorval hiện hữu trước đó, cách Montreal 20 km.
Vào những năm cuối thập kỷ 1960, Chính phủ Canada dự đoán rằng sân bay Dorval sẽ hoàn toàn bảo hòa vào năm 1985 nên không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu 20 triệu hành khách/năm thông qua sân bay ở Montreal. Họ quyết định xây dựng một sân bay mới ở Mirabel. Trong giai đoạn đầu tiên chuyển tiếp, từ 1975 đến 1997, tất cả các chuyến bay quốc tế đi và đến Montréal, ngoại trừ những chuyến bay đi và đến từ Hoa Kỳ, được yêu cầu phải dùng sân bay Mirabel. Giai đoạn sau đó sân bay Dorval cuối cùng sẽ bị đóng cửa.
Mirabel có các phương tiện phục vụ tối tân và tiện nghi hơn sân bay cũ Dorval, nhưng nó xa trung tâm thành phố và thiếu kết nối giao thông thuận tiện cho hành khách đi lại giữa sân bay Mirabel và trung tâm Montreal. Dần dần các hãng máy bay gây áp lực để quay trở lại sử dụng sân bay Dorval nên Dorval không thể bị đóng cửa như dự định ban đầu. Các hãng hàng không mới thật sự có quyền lực quyết định sân bay họ muốn sử dụng, vì thế Ban quản lý sân bay Mirabel không thể nào ép buộc họ sử dụng Mirabel được khi họ đã chọn quay lại sân bay Dorval.
Do đó đến năm 2004 thì Mirabel không còn một chuyến bay chở hành khách nào nữa, mà nó chỉ được dùng cho vận chuyển hàng hóa và làm chỗ đóng phim.
Ban đầu sân bay Mirabel hoành tráng là một niềm tự hào ở Canada, nhưng sau đó nó trở thành một điều ngượng ngùng khi nhắc đến. Ngày nay nó trở thành một vùng đất bỏ phí mục nát và sắp bị đập bỏ, sau khi Thành phố Montreal không tìm được một kế hoạch hợp lý để sử dụng nhà ga hành khách.
Bài học rút ra từ sân bay Mirabel là “Bất kế phương tiện phục vụ hiện đại ra sao, sân bay hoành tráng không lôi cuốn và đem lại khách hàng mà sự thuận tiện đi lại nhanh chóng do kết nối giao thông và khoảng cách gần trung tâm thành phố mới là yếu tố đáp ứng nhu cầu hành khách và làm cho sân bay tồn tại và phát triển”. Vì thế đừng để sân bay Long Thành có số phận bị đập bỏ như sân bay Mirabel ở Montreal 40 năm sau khi xây dựng hoành tráng.

Posted in Kinh Te, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Uncategorized | Leave a Comment »

►Bộ trưởng Thăng giải thích việc mua 13 đoàn tàu Trung Quốc— các dự án ODA

Posted by hoangtran204 trên 10/06/2015

Bộ trưởng Thăng giải thích việc mua 13 đoàn tàu Trung Quốc

“Vì việc mua đoàn tàu của Trung Quốc cho tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông mà tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn”…

Bộ trưởng Thăng giải thích việc mua 13 đoàn tàu Trung Quốc

Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng.

ANH MINH

Tại cuộc gặp mặt báo chí hôm 9/6, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng cho hay ông từng “nhận nhiều điện thoại, e-mail, tin nhắn liên quan đến việc mua lô tàu Trung Quốc cho tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông”.

Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết, dự án được thực hiện theo hiệp định được ký giữa chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2008.

“Vì việc mua đoàn tàu của Trung Quốc cho tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông mà tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn, trong đó có tin nhắn đe dọa, có tin nhắn đề nghị, có tin nhắn khuyên giải là đừng mua đoàn tàu của Trung Quốc. Thậm chí có người còn đặt câu hỏi với tôi, hay là có vấn đề gì với Trung Quốc?”, Bộ trưởng Đinh La Thăng nói.

Theo Bộ trưởng, theo hiệp định đã ký, Trung Quốc là nước cho vay thông qua ngân hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc, đồng thời hiệp định cũng có nhiều điều kiện ràng buộc khác, nên “không thể muốn thay đổi là có thể thay đổi được”.

“Theo hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn, các nhà thầu thi công, giám sát, thiết bị cũng là của Trung Quốc. Ngay cả việc nhà thầu Trung Quốc rất yếu kém, tôi đã nhiều lần muốn thay nhà thầu, nhưng cũng không thể thay được, bởi đó là điều kiện trong hiệp định”, ông nói.

Bộ trưởng cũng giải thích, không chỉ riêng đối với Trung Quốc, các dự án ODA của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác cũng đều phải thực hiện theo nguyên tắc tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, thi công, cung cấp vật liệu thiết bị cũng phải là nhà thầu của các nước tài trợ vốn.

Trước đó, ban quản lý dự án đường sắt  đã có tờ trình lên lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải về việc lựa chọn phương án thiết kế ngoại thất, nội thất của 13 đoàn tàu do Công ty TNHH Trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh (Trung Quốc) chế tạo, mỗi đoàn gồm 4 toa xe.

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông dài 13 km, khổ 1.435 mm, tốc độ đoàn tàu 80 km/h, sử dụng vốn ODA Trung Quốc và vốn đối ứng của Việt Nam.

Tổng mức đầu tư của dự án ban đầu là 552 triệu USD, sau đó đã được điều chỉnh lên 891 triệu USD.

Theo kế hoạch, dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác thương mại vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, kế hoạch này có thể bị chậm lại do tình hình thi công hiện nay chưa đạt yêu cầu.

Cũng tại cuộc họp báo này, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã trần tình về các vấn đề nổi cộm của ngành hiện nay, bao gồm vấn đề an toàn giao thông, vấn đề hằn lún mặt đường, vấn đề kiểm soát tải trọng xe, vấn đề các trạm thu phí… Ông cho hay, cá nhân mình và Bộ Giao thông Vận tải đã và đang nỗ lực giải quyết từng vấn đề và mong nhận được sự sẻ chia của công luận.

Đối với vấn đề hằn lún mặt đường, Bộ trưởng cho biết, “đây là vấn đề đau đầu của ngành giao thông nhiều năm qua và hiện vẫn chưa có giải pháp xử lý triệt để, khiến cho “mỗi lần thông xe một dự án là lại thấy nơm nớp lo”.
Trong khi đó, đối với vấn đề kiểm soát tải trọng xe, ông thừa nhận, mặc dù “cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, song hiệu quả chưa cao do đụng chạm đến nhiều người, nhiều nhóm lợi ích khác nhau”.

Tàu Trung Quốc gặp tai nạn thảm khốc do lỗi thiết kế

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Nhà thầu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, sẽ đóng tàu cho lực lượng tuần duyên Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 09/06/2015

Công ty Metal Shark ở bang Louisiana, nhà thầu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, sẽ đóng tàu cho lực lượng tuần duyên Việt Nam, theo tin của tờ The Advocate hôm 7 tháng 6.

Bản tin nhắc lại rằng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter hồi tháng 5 đã cam kết tài trợ để mua tàu tuần duyên Metal Shark Defiant lớp 75 cho Lực lượng Tuần duyên Việt Nam.

Tuần trước, Phó Chủ tịch công ty Metal Shark Greg Lambrecht cho hay công ty này hy vọng sẽ khởi công đóng tàu vào tháng Bảy năm nay. Ông không cho biết trị giá của hợp đồng đóng tàu cho Việt Nam là bao nhiêu, hay bao nhiêu chiếc tàu với tốc độ 40 hải lý/giờ sẽ được đóng cho Việt Nam.

Bản tin của Reuters cho rằng trị giá của hợp đồng này là 18 triệu đôla.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link https://bubblearcheology.com/vv hoặc http://vn1975.info để vượt tường lửa)

Công ty Mỹ sẽ đóng tàu cho lực lượng tuần duyên Việt Nam

Công ty Jeanerette ở bang Louisiana, nhà thầu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, sẽ đóng tàu cho lực lượng tuần duyên Việt Nam

voatiengviet.com

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link https://bubblearcheology.com/vv hoặc http://vn1975.info để vượt tường lửa).

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10152921463753008&id=144239423007

Comments on facebook:

“Chơi với mấy thằng tư bản này chẳng ăn uống gì được! Nghe 18 triệu USD Thanh heo (Phùng Quang Heo) nhà ta mừng húm, tưởng cú này bèo cũng được một hai triệu! Ai ngờ bọn nó lại đưa bằng…hiện vật mới móm chứ(!). Thảo nào đám Ba Đình khoái làm ăn với Tàu cộng!”

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Sinh viên Trung Quốc đòi công lý cho vụ thảm sát Thiên An Môn -Kẻ giết người phải bị xét xử

Posted by hoangtran204 trên 06/06/2015

 
 

Một nhóm sinh viên đại học Trung Quốc du học ở nước ngoài đang phổ biến một bức thư ngỏ kêu gọi các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản phải nhận lãnh trách nhiệm về những hành vi tàn ác đã phạm cách đây đúng 26 năm, khi lực lượng Trung Quốc giải tán người biểu tình đòi dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn.

Bức thư do sinh viên cao học trường Đại học Georgia viết và có chữ ký của 10 sinh viên khác, là cố gắng mới nhất để chống lại chiến dịch tuyên truyền ráo riết vây quanh vụ việc trong đó hàng trăm và có thể cả hàng ngàn người biểu tình ôn hòa đã bị sát hại.

Bắc Kinh không cho phép công khai bàn luận hay tưởng niệm vụ Quân đội Giải phóng Nhân dân thảm sát sinh viên biểu tình vào tháng 6 năm 1989. Các sinh viên này tụ tập ở trung tâm Bắc Kinh và các nơi khác khắp nước đòi cải cách dân chủ và chấm dứt nạn tham nhũng tràn làn trong các giới chức.

Kết quả là, nhiều người Trung Quốc trẻ tuổi không biết ngay cả các chi tiết cơ bản của sự kiện được coi như một trong những thời khắc quyết định nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc. Những người viết bức thư hy vọng nỗ lực của họ sẽ giúp gia tăng nhận thức quần chúng ở Trung Quốc.

Kẻ giết người phải bị xét xử

Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.Chân dung các nạn nhân ngày 4 Tháng 6, 1989 đẫm máu tại viện Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn ở Hồng Kông.

Bức thư viết, “Càng biết nhiều, chúng tôi càng cảm thấy chúng ta gánh một trách nhiệm nghiêm trọng trên vai. Hỡi các bạn sinh viên đại học trong nước, chúng tôi viết bức thư ngỏ này để chia sẻ sự thực với các bạn và phơi bày các tội ác đã phạm cho tới ngày hôm nay, liên quan đến vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989.”

Bức thư viết tiếp: “Chúng tôi không yêu cầu đảng Cộng sản Trung Quốc đền bù lại những sự kiện đã xảy ra vào mùa xuân ấy, bởi vì chúng tôi không trông mong những kẻ giết người sẽ thanh minh cho những người đã chết, nhưng những kẻ giết người phải bị xét xử. Chúng ta không quên, cũng không tha thứ, cho đến khi nào đạt được công lý và cuộc đàn áp đang tiếp diễn phải chấm dứt.”

Bức thư đã được phổ biến bên trong Trung Quốc dưới dạng PDF, một hình thức hồ sơ đã giúp vượt qua dễ dàng những cơ quan kiểm duyệt gay gắt của Trung Quốc. Hồ sơ cũng đã nhiều người đọc hơn sau khi nhật báo Global Times của đảng Cộng sản viết một bài xã luận đả kích bức thư.

Báo Bắc Kinh đả kích ‘Các Lực lượng Thù địch Nước ngoài’

Báo Global Times, với các bài xã luận thường phản ánh các ý kiến chính thức, đả kích những “quan điểm cực đoan” về vụ Thiên An Môn. Bài báo viết, “Bức thư của sinh viên đả kích gay gắt chế độ đương thời của Trung Quốc, bóp méo các sự kiện cách đây 26 năm với những lời tường thuật của các lực lượng thù địch nước ngoài.”

Bài báo nói thêm, “Nếu bức thư thực sự do một vài sinh viên nước ngoài viết, chúng ta phải nói rằng những người trẻ tuổi ấy đã bị tẩy não ở các nước ngoài, bắt chước nhóm thiểu số nghi kỵ ở nước ngoài.”

Giới hữu trách kiểm duyệt Trung Quốc sau đó đã yêu cầu gỡ bỏ bài báo Global Times khỏi các cổng thông tin trên mạng, theo trang web của China Digital Times, có lẽ bởi vì bài báo lại có tác dụng ngược lại với ý đồ của nó.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, khi đề cập đến vụ Thiên An Môn, thường tìm cách biện minh cho vụ trấn át tàn bạo của Quân đội Giải phóng Nhân dân bằng cách nêu bật tiến bộ ồ ạt về kinh tế mà giới lãnh đạo đảng Cộng sản đã đạt được trong những thập niên sau đó.

Cựu Phụ tá viết bài Xã luận nghiêm khắc

Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.Nhân viên y tế đứng cạnh thi thể của những người biểu tình bị sát hại tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 4/6/1989.

Một cố vấn lâu năm cho cựu thủ tướng Triệu Tử Dương tuần này đã chống đối lập luận đó. Trong một bài xã luận đăng trên báo New York Times, ông Bao Đồng nói, “nhiều người cầu mong giới lãnh đạo đảng tự nguyện thú thực sự bất công và tính phi pháp của những vụ giết hại đó.”

Ông nói, “Đây cũng là hy vọng của tôi. Nhưng tôi không lạc quan, bởi vì cho đến giờ này, chưa có mấy dấu hiệu gợi ý là điều này sẽ xảy ra.”

Ông Bao cũng lên án điều ông gọi là “tình trạng tham nhũng từ trên xuống dưới” của đảng Cộng sản, mà ông cho là đã giúp các giới chức có thế lực cùng với thân nhân của họ làm giàu bất kể người khác.

Bắc Kinh đã phát động một chiến dịch mạnh để diệt trừ tình trạng tham nhũng trong các giới chức. Nhưng chiến dịch này sẽ không có hiệu quả, theo ông Bao, một phần vì các công dân độc lập bị đối xử như tội phạm nếu họ tố giác tham nhũng.

Ông nói, “Các phong trào chống tham nhũng của quần chúng đã bị đàn áp gay gắt, giống như hồi năm 1989.”

Ông Bao từng là phụ tá của cựu thủ tướng Triệu Tử Dương, người đã có một chủ trương hòa giải hơn đối với những người biểu tình Thiên An Môn và sau đó đã bị cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình lật đổ.

Trong bài xã luận trên tờ New York Times, phát hành hôm qua, ông Bao nói trong tháng trước, ông đã bị ngăn không cho trả lời phỏng vấn. Truyền thông Hong Kong sau đó nói ông là một trong nhiều nhân vật bị buộc phải rời khỏi thủ đô Trung Quốc trước ngày kỷ niệm vụ thảm sát hôm nay.

Việc Bắc Kinh truy lùng và tạm thời làm biệt tích các nhân vật nhạy cảm đã trở thành lệ thường đối với Bắc Kinh trước ngày kỷ niệm Thiên An Môn.

Posted in Thiên An Môn - Trung Quốc | Leave a Comment »