Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Sáu, 2015

►Nước còn hay mất?

Posted by hoangtran204 trên 29/06/2015

Song Chi.

28-6-2015

rfavietnam

Bàn đến hiểm họa Trung Quốc, nhiều người cho rằng thời đại bây giờ có lẽ cũng khó có chuyện một quốc gia nào đó ngang nhiên đem quân đánh chiếm nước khác sau đó công khai áp đặt sự đô hộ hay cai trị của mình lên quốc gia đó như thời xưa, hay thậm chí như thực dân, đế quốc trước đây. Cùng lắm là đánh chiếm một phần lãnh thổ của nước khác, điều mà nước Nga của Putin đã làm với Crimea của Ukraine, là ví dụ gần đây nhất.

Vì thế, chuyện Trung Cộng sẽ đem quân xâm lược Việt Nam, biến VN thành một quận huyện của Trung Quốc như trong quá khứ là khó có thể xảy ra. Thế giới chắc chắn không thể để yên cho một hành động ngạo ngược như vậy và Trung Cộng có nhiều thứ để mất nếu hành động chống lại cả thế giới.
Nhưng liệu có cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh tốn hao người và của khi Bắc Kinh biết rõ rằng họ có thể nắm gọn được VN bằng nhiều cách khác, từ khống chế về chính trị, quân sự, tạo ra sự lệ thuộc nặng nề về kinh tế cho tới gậm nhấm dần dần lãnh thổ, lãnh hải, điều mà họ đã và đang tiếp tục tiến hành lâu nay?
Còn đối với dân tộc VN, có phải đợi đến lúc VN bị đổi tên, người VN phải học một thứ ngôn ngữ khác, và có một thế lực ngoại bang công khai ngồi đó cai trị thì mới là mất nước?
Hay trên thực tế, nước còn mà cũng như mất? Khi người dân không được phép quan tâm đến chính trị vì “mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo”, không được phép có ý kiến hay bày tỏ sự bất bình, phẫn nộ trước mọi hành vi ngang ngược, xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ VN của “nước lạ”? Trái lại, nếu vì bất bình mà lên tiếng phản đối thì lại bị chính nhà cầm quyền VN đàn áp, xách nhiễu, tống giam vào tù với những bản án vô vùng phi lý, khắc nghiệt.
Khi suốt từ Nam ra Bắc, đâu đâu cũng thấy sự hiện diện cách này hay cách khác của “nước lạ” Trung Quốc? Từ thực phẩm, hàng hóa đủ loại tràn vào VN bằng mọi con đường, chính thức hay buôn lậu, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất nội địa; từ việc các doanh nghiệp lớn nhỏ của Trung Quốc thắng thầu phần lớn các công trình trọng điểm của VN trong các lĩnh vực xây dựng, thủy điện, khai thác khoáng sản… dẫn đến sự có mặt của hàng trăm, hàng ngàn công ty, khu công nghiệp và cả những khu vực toàn người Trung Quốc, mà ngay cả chính quyền địa phương cũng không được phép xâm nhập vào. Truyền hình VN từ đài trung ương đến đài địa phương tràn ngập phim cổ trang, lịch sử cho tới phim truyện thời hiện đại của Trung Quốc, các cửa hàng sách lớn nhỏ tràn ngập sách truyện dịch từ Trung Quốc…
Khi sự hiện diện của Trung Quốc không chỉ bao trùm trong lĩnh vực kinh tế, một phần văn hóa, mà rõ rệt nhất là trong lĩnh vực chính trị, thông qua mối quan hệ không tương xứng giữa hai đảng, hai nhà nước Việt-Trung. Các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN tiếp nối nhau đều mặc nhiên chấp nhận tình trạng bất tương xứng này và ngoan ngoãn phục tùng Trung Quốc. Không chỉ nhất cử nhất động học theo mô hình thể chế xã hội của Trung Quốc mà còn phải nghe theo những lời chỉ đạo từ xa, kể cả “cầm tay chỉ việc” của Bắc Kinh từ thời chống Pháp, thời cải cách ruộng đất cho tới bây giờ cũng không khá hơn. Bàn tay nhám nhúa của Trung Nam Hải còn thò sâu vào nội bộ đảng cộng sản VN, mua chuộc, thao túng, gây chia rẽ, kẻ nào thân Tàu thì có cửa leo cao tiến xa và ngược lại.
Thì như thế nước còn mà cũng như mất.
Khi tàu Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc, đánh chìm tàu, làm bị thương, bắt giữ người trên các tàu cá của ngư dân VN từ bao nhiêu lâu nay, ngược lại, hàng ngàn tàu cá và tàu quân sự Trung Quốc ngang nhiên đi lại trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN mà nhà cầm quyền không hề dám phản ứng mạnh.
Gần đây, trước thực trạng Trung Quốc ồ ạt biến các đảo ngầm thành những hòn đảo nhân tạo và căn cứ quân sự trong tương lai, tình hình trở nên hết sức đáng ngại nhưng quốc hội VN vẫn chỉ đóng cửa họp kín về tình hình biển Đông và không dám đưa ra một nghị quyết phản đối mạnh mẽ nào. Trả lời báo chí, ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc nói rằng“Quốc hội sẽ tiếp tục theo dõi sát tình hình Biển Đông và nếu cần thiết sẽ ra Nghị quyết về vấn đề này tại các kỳ họp sau”. (“Các kỳ Quốc hội sau sẽ ra Nghị quyết về Biển Đông nếu cần thiết”, Infonet).
Người dân tự hỏi không biết đến bao giờ thì mới là cần thiết, đợi đến khi các căn cứ quân sự đã xây xong và giặc chiếm nốt những hòn đảo còn lại của quần đảo Trường Sa hay khi giặc đã vào đến tận Hà Nội?
Trong tháng 6, Trung Quốc lại đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến vùng biển VN, hoạt động tại vùng chồng lấn ở cửa vịnh Bắc Bộ mà hai nước đang đàm phán phân chia ranh giới, nhưng lực lượng cảnh sát biển VN chỉ dám theo dõi, tuyệt không dám “mời” ra khỏi lãnh hải nói gì đến phản ứng mạnh hơn.
Thậm chí khi có cơ hội lên tiếng, chẳng hạn như tại Đối thoại Shangri-la 2015 tại Singapore, phái đoàn VN do ông Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh dẫn đầu lại có quan điểm “Lần này, VN lắng nghe là chính, không phát biểu”(“Tướng Nguyễn Chí Vịnh: TQ cần hành xử đúng luật quốc tế”, VietnamNet), thay vì nhân dịp này tố cáo trước quốc tế những hành động xâm phạm chủ quyền đất nước và đe đọa đến hòa bình ổn định trong toàn khu vực biển Đông của Bắc Kinh. Ông Vịnh lại còn cho rằng: “Càng căng thẳng thì càng phải độc lập tự chủ. Càng căng thẳng thì càng không bao giờ để kéo vào những liên minh với nước này để chống nước khác…” (“Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: Càng căng thẳng, càng phải độc lập tự chủ”, Tuổi Trẻ). Trong khi ai cũng thấy rõ VN là nước đã, đang và sẽ chịu thiệt thòi nhiều nhất trong việc Trung Cộng bành trướng trên biển Đông, VN cô độc và cần đến sự giúp đỡ của thế giới như thế nào nếu phải đương đầu với Trung Quốc.
Thì như thế có nghĩa, nước còn mà cũng như mất.
Khi từ các cấp lãnh đạo cao nhất cho đến từng người dân VN chưa đánh đã mang tâm lý đầu hàng trước “Trung Quốc nó mạnh thế đánh làm sao nổi?”, và tâm lý ngồi chờ. Nhà cầm quyền thì chờ Philippines đi kiện Trung Quốc xem tình hình ra sao, chờ các nước khác lên tiếng giùm, nhất là chờ Hoa Kỳ có những phản ứng mạnh mẽ có thể ngăn chặn được Trung Quốc. Hết chờ các nước khác can thiệp lại mong chờ hão Trung Quốc sẽ nể tình mối quan hệ bao lâu nay giữa hai đảng, hai nhà nước mà chiếu cố cho, không xâm lấn hơn nữa.
Còn người dân thì cũng ngồi chờ cho nhà nước này tỉnh ngộ mà thoát ra khỏi mối quan hệ bị lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Thậm chí có những người ngồi chờ Trung Quốc nổ ra chiến tranh, dù từ bên trong hay bên ngoài, khiến cho chế độ hiện tại của Bắc Kinh phải sụp đổ, Trung Quốc chuyển đổi thành một nước dân chủ thì khi đó VN và các nước láng giềng may ra mới được yên ổn v.v và v.v…
Khi chúng ta không hành động gì mà chi ngồi chờ…sung rụng như thế, thì nước còn mà cũng như mất, và sớm muộn gì cũng mất thật!
Hay nói cách khác, cái giang sơn mà từng tấc đất, ngọn cỏ, dòng sông, đều thấm máu của hàng triệu triệu người Việt qua bao nhiêu cuộc chiến tranh với thiên nhiên để sinh tồn và những cuộc chiến tranh ác liệt chống ngoại xâm, được gìn giữ, bảo vệ và phát triển qua hàng ngàn năm thành một quốc gia trải dài từ Nam ra Bắc, ngày hôm nay, dưới chế độ cầm quyền của đảng cộng sản, đã bị “teo tóp”, mất mát dần vào tay ngoại bang và trên thực tế chỉ còn lại cái vỏ độc lập giả hiệu bên ngoài mà thôi.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Hoa Kỳ và vấn đề từ bỏ đồng minh

25-6-2015

 

 

aus-us-300x155

Thời Đệ nhị thế chiến

Thế chiến Thứ hai bùng nổ năm 1939, Hoa kỳ trung lập đứng ngoài cuộc giao tranh mà họ cho là không liên hệ, đây gọi là chủ trương biệt lập Isolationism.

Mặc dù đứng ngoài vòng chiến để được yên thân nhưng vẫn bị giáng một đòn nặng sáng ngày 7-12-1941 khi hạm đội lớn của Nhật tấn công Trân Châu Cảng, căn cứ Hải quân Mỹ tại Hawaii. Khi bắt đầu cuộc Thế chiến, nước Nhật có 10 hàng không mẫu hạm được coi là lớn và tối tân nhất thời đó. Trận đánh đã gây kinh hoàng cho cả nước Mỹ, gây thiệt hại nặng, khoàng 20 tầu chiến bị chìm hoặc hư hại, 188 máy bay bị hủy hoại 2,400 thủy thủ, phi công bị giết.

Hôm sau Mỹ tuyên chiến với Nhật và hai ngày sau 11-7 Đức, Ý cũng tuyên chiến với Mỹ, dù muốn dù không Hoa Kỳ phải từ bỏ biệt lập sang tham chiến, một cuộc chiến đẫm máu nhất từ xưa đến nay. Theo hồi ký của Đại tướng Eisenhower, cựu Tư lệnh quân đội đồng minh tại Âu châu, khi cuộc chiến bắt đầu, phe trục Đức -Ý -Nhật mạnh hơn đồng minh. Ông cũng cho biết Mỹ Anh đã thỏa thuận giải quyết chiến trường Âu châu trước vì Đức Quốc Xã nguy hiểm hơn Nhật và vì sợ chúng chế tạo vũ khí giết người hàng loạt (1). Mỹ đưa 80% lực lượng sang Âu châu chỉ để lại 20% tại Thái Bình Dương. Đưa quân sang Âu châu không phải để giải phóng cho các nước Pháp, Bỉ, Hòa Lan.. như người Mỹ thường kể mà chỉ là để tự vệ cho chính họ, để ngăn ngừa hậu họa.

Năm 1942 đồng minh bắt đầu thắng thế, Nhật thua to tại trận thủy chiến Midway, Đức Ý thua hai trận lớn tại Bắc Phi và Stalingrad. Năm 1944 Đức Quốc Xã thất bại trên khắp các mặt trận miền đông, tháng 6-1944 đồng minh Anh-Mỹ đổ bộ vào Normandie, tháng 2 năm sau đã vào tới miền tây nước Đức,

Từ ngày 4 tới 11-2-1945, khi chiến tranh Âu châu gần kết thúc Roosevelt, Staline, Churchill họp nhau tại Yalta để bàn về tổ chức lại Âu châu thời hậu chiến. Thực ra chỉ là để chia chác ảnh hưởng với nhau vì thế tác giả Arthur Conte năm 1974 đã viết cuốn sách về hội nghị này “Yalta Ou Le Partage Du monde”, Hội Nghị Yalta Hay Sự Chia Phần Thế Giới

Tháng 4-1945 đồng minh đã tiến tới biên giới Tiệp Khắc nhưng phải dừng lại vì xứ này đã được nhường cho Nga, chương cuối của bộ Lịch Sử Thế Chiến Thứ Hai (2) có nói về sự bất đồng ý kiến giữa Anh và Mỹ. Người Anh đề nghị tiến chiếm Đông Âu không nhường Nga và đặt họ trước sự đã rồi nhưng Mỹ không chấp nhận, người Anh nhận định Mỹ ngây thơ và nhát.

Mặt trận châu Âu kết thúc, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ họ phụ giúp đánh quân Nhật tại Á châu vì lực lượng địch còn khoảng bốn, năm triệu, trù tính đánh từ một năm rưỡi tới hai năm mới xong.

Năm 1957 C.V Gheorghiu (3) nhà văn nổi tiếng Lỗ Ma Ni viết Les Sacrifies du Danube, Những Kẻ Hy Sinh Vùng sông Danube, truyện dài trên 100 trang thể hiện nỗi uất hận của những nước Đông Âu trong vùng Danube: Hung Gia Lợi, Nam Tư, Lỗ Ma Ni, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi … đã bị Tây Phương, Hoa Kỳ nhường cho Xô Viết năm 1945. Tác giả nói để cứu nền văn minh Tây Âu, Mỹ đã nhường Đông Âu cho Sô viết khiến cho trên 150 triệu người đã bị tan gia bại sản, trở thành nô lệ cho Cộng Sãn Xô viết.

Truyện sẩy ra tại Bảo Gia Lợi thể hiện nỗi ám ảnh kinh hoàng của người Đông Âu: Một người chạy trốn Cộng Sản sang phần đất tự do bị trúng đạn của lính biên phòng, hai người nhân đạo cứu anh đem về nhà băng bó vết thương. Một người ứa nước mắt bảo vết thương đã có dòi, người kia đề nghị đi tìm bác sĩ hoặc đưa nạn nhân đi nhà thương nhưng anh này gạt đi bảo: “Nếu tìm bác sĩ thì rồi bọn công an CS cũng sẽ biết, sẽ tìm đến đây, người nạn nhân này sợ công an còn hơn dòi bọ, chẳng thà để hắn chết vì dòi bọ còn hơn để hắn sa vào tay bọn mật vụ CS”

Trước Thế chiến thứ hai chỉ một mình nước Nga theo Cộng Sản, Staline chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi đất nước trái với Trosky , Đệ tứ quốc tế muốn tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Thế chiến Thứ hai chấm dứt là cơ hội bằng vàng cho Staline bành trướng thế lực bằng họng súng mà chẳng cần thực hiện cách mạng vô sản theo đường lối cổ điển Mác Lê. Người Mỹ đã vô tình mở đường cho Xô Viết đi làm “nghĩa vụ quốc tế”. Các nước tư bản dân chủ tự do Đông Âu đã cùng Tây phương chiến đấu chống phát xít Đức đến khi chiến thắng đã bị Hoa Kỳ tàn nhẫn bán đứng cho Xô viết làm nô lệ.

Sau 1945 Xô Viết tiến chiếm các nước Đông Âu, cướp bóc, vơ vét quí kim, vàng bạc trong ngân khố các nước nạn nhân, dựng lên các chính quyền CS chư hầu và tiếp tục bành trướng tại Á châu. Đại tướng Eisenhower nói trong hồi ký: năm 1939 quân sự của Hoa Kỳ rất xoàng, lục quân còn thua cả Ba Lan nhưng sau Thế chiến đã trở thành cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Năm 1939 Lục quân Mỹ chỉ có 170,000 người nhưng năm 1945 Lục quân Mỹ thành 6 triệu. Măm 1939 Mỹ chỉ có khoảng 2500 máy bay và 760 tầu chiến nhưng năm 1945 họ có khoảng 80,000 máy bay và 2,500 tầu chiến (4)

Cuộc nội chiến Trung Hoa

Các hạm đội Mỹ, Anh từ Âu châu chuyển về Thái Bình Dương để kết thúc mặt trận châu Á, Sô viết cũng chuyển quân bằng đường bộ từ Tây sang Đông như đã thỏa thuận tại Yalta. Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Xô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc. Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.

Năm 1946 Tổng thống Truman cử Tướng George Marshall sang Tầu ngăn cản một cuộc chiến tranh Mao – Tưởng hy vọng họ lập chính phủ liên hiệp sống chung hòa bình. Người Mỹ vẫn lạc quan ngây thơ không hay biết gì về âm mưu thâm độc của Staline, ông ta đã lừa gạt họ từ đầu chí cuối. Mao vận động Nga yêu cầu Anh, Mỹ bắt ép Tưởng Giới Thạch ký đàm phán (5). Sau hơn một tháng thảo luận từ cuối tháng 8-1945 tới 10-10-1945 hai bên ký hòa ước tháng 1-1946 nhưng chỉ được 6 tháng cuộc nội chiến bùng nổ. thời gian này CS Tầu chỉ khiểm soát 1/4 đất đai và 1/3 dân số.

Tưởng Giới Thạch đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân từ miền nam lên Mãn Châu, họ được Mỹ giup về không vận, đây là nơi thử thách đầu tiên của cuộc chiến tranh Quốc – Cộng. Tưởng thắng được những tháng đầu rồi dần dần mất ưu thế, năm 1948 đánh dấu khúc quành cuộc chiến. Quốc Dân Đảng chia rẽ lại cách xa căn cứ tiếp liệu tại miền trung nước Tầu, cuối cùng đất đai bị Cộng quân chiếm. Mao vừa khủng bố và dụ dỗ người dân để đưa họ ra trận tuyến gian khổ. Quốc dân đảng cũng mất lòng dân vì dùng bạo lực nên họ đã bỏ theo CS (6). Mãn châu là khởi đầu cuộc chinh phục nước Tầu của Mao Trạch Đông, Quốc dân Đảng (QDĐ) mất hơn triệu quân tại đây và bắt đầu thất thế.

Tháng 3-1947 Quốc Dân Đảng chiếm Diên An đến năm 1948 Cộng quân lại tái chiếm, từ 12- 9 tới 12-11-1948 diễn ra những trận đánh lớn, Quốc Dân Đảng ở thế thủ, dần dân xa cách Mỹ, Cộng quân chiếm được nhiều thành phố lớn Hoa Bắc như Thẩm Dương và Trường Xuân, họ chiếm Mãn châu hoàn toàn. Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của Quốc Dân Đảng. Cuối năm 1948, đầu 1949 bà Tống Mỹ Linh phu nhân Tưởng Giới Thạch sang Mỹ xin viện trợ nhưng không được họ đáp ứng. Tháng 9-1948 Cộng quân chiếm tỉnh Sơn Đông, tháng 4-1949 Cộng quân vượt sông Dương Tử chiếm Nam Kinh Thủ đô Quốc Dân Đảng Trung Hoa, họ tiến về Hoa Nam.

Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng Giới Thạch và khoảng 2 triệu người thuộc phe Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

Dư luận Mỹ chỉ trích, lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Thượng nghị sĩ Joe McCarthy cho rằng việc ngăn chận CS Tầu cần phải viện trợ nhiều hơn và có lẽ phải dùng cả không lực. Người ta bắt đầu hỏi ai đã làm mất Trung Hoa? tỷ lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Bộ trưởng ngoại giao của Truman bị coi là thằng hèn, Tướng George Marshall, bộ trưởng ngoại giao tiền nhiệm bị coi là tên phản bội.

Thượng nghị sĩ Cộng Hòa Peter Beinart nói nhiều thập niên sau, Lyndon Johnson hồi đó là Thượng nghị sĩ Texas cho rằng Truman đã không tròn trách nhiệm để mất Trung Hoa, khi Johnson lên làm Tổng thống (1964) ông đã cố không đi vào vết xe đổ của quá khứ.

Nhiều người Mỹ cho rằng cuộc Cách mạng Trung Hoa chỉ là sự nối dài quyền lực của Sô Viết. Dean Rusk (phụ tá bộ trưởng ngoại giao thời Truman 1949-51, Kennedy, Johnson 1961-69) mô tả cuộc Cách mạng Trung Hoa không phải của người Tầu mà là Made in Moscow, được làm tại Mạc Tư Khoa. Nhiều người Mỹ cho rằng CS đang tiến bước mạnh và nếu không ngăn chận chúng sẽ tràn ngập thế giới. (7)

Các tài liệu về cuộc chiến vĩ đại này cho biết:

Năm 1946-1947 Tưởng có hơn 4 triệu quân chủ lực – Mao có khoảng 1 triệu 3 trăm ngàn quân chủ lực và 2 triệu du kích,
Giữa năm 1948 Tưởng còn 3 triệu rưỡi – Mao có 2 triệu 8,

Tháng 6-1949 Tưởng còn 1 triệu rưỡi – Mao có 4 triệu

Dư luận chê Quốc Dân Đảng Trung Hoa có một lực lượng hùng hậu, được Mỹ viện trợ 4 tỷ đô la quân sự nhưng lại bị Cộng quân yếu hơn đánh bại. Người ta cũng nêu lý do Quốc Dân Đảng mất lòng dân, tàn ác trong khi đối phương tuyên truyền khiến đạo quân ngày càng lớn mạnh chuyển bại thành thắng.

Nhưng cũng có tài liệu nói sau Thế chiến thứ hai, cán cân quân sự nghiêng về phía Cộng Sản Tầu. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Vùng kiểm soát của họ có 19 căn cứ chiếm 1/4 lãnh thổ Trung quốc và 1/3 dân số gồm nhiều tỉnh thành quan trọng. Ngoài ra Nga Sô đã trao cho CS Tầu vũ khí lấy được của Nhật cũng như đã viện trợ cho họ nhiều vũ khí, CS cũng được Nga giao cho miền Đông Bắc Trung Hoa (8)

Quốc Dân Đảng có lợi thế về đất và sức mạnh quân sự, họ chống quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận đánh lớn khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Tưởng Giới Thạch cho Mãn Châu là một vị trí chiến lược quan trọng cần phải chiếm giữ và đã đưa 1 triệu 6 trăm ngàn quân lên đánh CS được Mỹ giúp chuyển quân bằng không vận từ miền Trung lên. QDĐ thua trận mùa thu 1948 đó là một khúc quành quan trọng trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng , QDĐ chia rẽ và vì xa trung tâm tiếp liệu ở miền Trung nên đã thảm bại (9)

Một phần vì tại Hoa Bắc, Mãn Châu địch mạnh, một phần QDĐ bị suy yếu vì Thế chiến thứ hai, sự sai lầm của Tưởng cho chuyển quân lên vùng xa xôi nên đã mất hơn một triệu quân. Địch tuyển được nhiều quân, đánh biển người, một chiến thuật man rợ và lợi hại khiến QDĐ ngày càng thua nhiều trận lớn. Tướng George Marshall nói không có dấu hiệu gì cho thấy Nga Sô viện trợ quân sự cho Mao, đó là điều ngây thơ lạc quan, khinh địch vốn dĩ của người Mỹ. Cuộc chiến Quốc – Cộng kéo dàì mấy năm, sôi động nhất là những năm 1947, 1948, 1949, hai bên đánh bằng cấp quân đoàn, lộ quân có khi lên tới hàng trăm sư đoàn. Nếu không có viện trợ của Sô Viết, Tầu cộng lấy đạn dược tiếp liệu ở đâu để đánh những trận long trời lở đất trong cuộc chiến vĩ đại này?
Sau này năm 1985 cựu Tổng thống Nixon nói (10) Sô Viết không phải gửi quân nhưng đã thống trị được 9 nước kể từ 1974, Nixon cảm phục Liên sô không đem quân qua, chỉ đứng ngoài giật giây mà đã chiếm được nhiều nước. Cuộc chiến tranh Quốc – Cộng 1946-1949 cho thấy Nga không đem quân vào, trong khi Mỹ đã đưa vào 50,000 quân mà vẫn thất bại.

Hoa Kỳ nhường Đông Âu cho Nga năm 1945 để nhờ họ đánh quân Nhật là một lỗi lầm tai hại, vừa mất Đông Âu rồi mất cả Trung Hoa. Khi Mỹ đã ném bom nguyên tử xuống Nhật thì Sô Viết mới nhẩy vào ăn có. Họ chiếm Mãn Châu, tháo gỡ sạch các nhà máy đem về nước, lấy kho vũ khí lớn của Nhật giao cho Mao đưa tới khúc quành bi thảm cuộc chiến tranh Quốc – Cộng.

Người Mỹ bỏ rơi Tưởng Giới Thạch vì vai trò chống Nhật của ông đã hết, Thế chiến thứ hai kết thúc, đã đến lúc người ta vắt chanh bỏ vỏ. Họ bỏ Trung Hoa cũng vì không thấy tầm quan trọng của vấn đề, chưa nhìn ra hậu quả lớn lao ngay sau đó, nó làm lệch cán cân quân sự quốc tế của hai phe và đưa tới các cuộc chiến đẫm máu khác ngay trong năm sau.

Ngày 5-12-1949 Mao đã ra lệnh sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ bộ chiếm Đài Loan. Ngày 5-1-1950 Truman tàn nhẫn tuyên bố thừa nhận Đài Loan là lãnh thổ Trung Quốc, ông ta nói sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp, sẽ không viện trợ quân sự cho Tưởng, có nghĩa là công khai tuyên bố bỏ Đài Loan (11). Mỹ công kích Tưởng và các Tướng lãnh QDĐ bất tài, tham nhũng làm mất Trung Hoa để tự bào chữa cho dã tâm của mình.

Chiến dịch cứu nguy Điện Biên Phủ năm 1954

Giữa năm 1950 Bắc Triều Tiên được Nga Sô, Trung Cộng yểm trợ vượt vĩ tuyến 38 xâm lược Nam Triều Tiên. Sô Viết đã chiếm được Đông Âu, Trung Hoa, đã có bom nguyên tử tháng 8-1949 nhờ đánh cắp tài liệu, bây giờ Nga không ngán Mỹ, công khai đương đầu với Mỹ. Cuộc chiến bùng nổ, Tổng thống Truman đưa quân vào nam Triều Tiên can thiệp dưới danh nghĩa Liên Hiệp Quốc. Mỹ lại tuyên bố bảo vệ Đài Loan vì nay đã thấy rõ mối đe dọa bành trướng của Nga, Trung Cộng, cương quyết không nhường đất cho CS.

Đài Loan thoát chết, Mỹ bảo vệ hòn đảo này để phòng thủ cho chính họ. Vừa chiếm trọn nước Tầu, đuổi Tưởng ra Đài Loan, Trung Cộng đã trực tiếp, gián tiếp gây chiến tại Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946 đến nay đã được 4 năm

Năm 1946 Việt Minh yếu thế rút vào hậu phương. Quân Pháp tại phía trên vĩ tuyến 16 có hơn một sư đoàn không đủ để bình định hết miền Bắc mà chỉ đủ giữ các thành phố. Từ 1947-1949 Pháp mở những cuộc hành quân tiêu diệt chủ lực quân VM nhưng họ lẩn tránh để bảo toàn lực lượng, tổng cộng khoảng 40,000 người.

Trung Cộng tiến tới biên giới Bắc Việt tháng 11-1949 là lúc chấm dứt chương thứ nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương và nó đã quyết định số phận của người Pháp, họ không hy vọng gì chiến thắng.(12)

Việt Minh được Trung Cộng huấn luyện tại biên giới. Năm 1950 họ giúp VM thành lập năm sư đoàn chính qui: 304, 318, 312, 316, 320 và sư đoàn 351 vũ khí nặng. Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận Cao Bắc Lạng, nó đã làm rung động cả nước Pháp, họ không ngờ VM mạnh đến thế. Pháp thiệt hại 7,000 người vừa bị giết và mất tích, VM tịch thu được rất nhiều vũ khí có thể trang bị cho một sư đoàn (13)

Cuối năm 1950 Ba Lê cử Tướng de Lattre sang làm Tư Lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương, viên dũng tướng này chuyển bại thành thắng đánh bại VM và các cố vấn Tầu nhiều trận trong năm 1951. De Lattre chết đầu năm 1952, Tướng Salan lên thay tình hình quân sự ngày một xấu, VM ngày càng mạnh.

Đầu thập niên 50 Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp nhưng thực sự giúp từ 1952, trong khi đó họ còn phải tham chiến tại Triều Tiên. Henri Navarre cựu Tư Lệnh quân viễn chinh Đông Dương nói:

“Qua kinh nghiệm đau thương Trung Hoa và nhất là Triều Tiên, người Mỹ mới nhận ra mối nguy Cộng Sản bành trướng tại Đông Nam Á, nhưng họ biết trễ mất 5 năm”
(14)

Đúng ra Hoa Kỳ phải thức tỉnh sớm hơn là để nước đến chân mới nhẩy, họ đã lạc quan tin tưởng Staline.

Salan giữ chức Tư lệnh một năm rưỡi thì về Pháp, tháng 5-1953 Tướng Henri Navarre được cử sang thay ở thời điểm mà ông bi quan cho là Đông Dương đang từ từ mất về tay CS.

Cuối tháng 7-1953 Triều Tiên đình chiến, Trung Cộng cung cấp nhiều viện trợ cho VM hơn trước, Mỹ cũng tăng viện trợ cho Pháp, năm 1954 Mỹ đã gánh 78% chiến phí (15). Cuối năm 1953 Navarre được lệnh bảo vệ Thượng Lào (16) và ông đã chọn thung lũng Điện Biên Phủ cho đóng đồn lũy để chận đường chuyển quân của địch sang Lào và mở mặt trận lớn tại đây để VM khỏi đánh Hà nội và châu thổ sông Hồng. Nay quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp gồm 7 Liên đoàn lư động và 8 tiểu đoàn nhẩy dù (17).

Navarre cũng dùng kế dụ địch giết địch, nay VM ngày càng mạnh nên phải đưa chúng vào bẫy giết một mẻ cho chết bớt đi nhưng mấy ai học được chữ ngờ: VM quá đông, hỏa lực địch quá mạnh (18), ông ta đã đưa quân vào miệng cọp.
ĐBP là một khu lòng chảo có nhiều đồi núi bao quanh, một cánh đồng dài 16km, rộng 9 km gần biên giới Lào – Việt. Trận ĐBP có tầm vóc lớn, toàn bộ chiến trường Đông Dương. Căn cứ ĐBP được xây dựng kiên cố nhất Đông Dương hồi đó, phía Bắc có hai tiền đồn với hai tiểu đoàn trấn giữ, khu Trung ương đóng trên 5 ngọn đồi gồm 8 tiểu đoàn, phía Nam cứ điểm Isabelle 2 tiểu đoàn.

Việt Minh đưa gần hết các sư đoàn chính qui của họ vào trận đánh tổng cộng 63,000 người (19), Pháp có 12 tiểu đoàn sau cho nhẩy dù thêm 5 tiểu đoàn tổng cộng khoảng 16,000 người. Ngày giao chiến đầu tiên 13-3-1954 căn cứ Béatrice sụp đổ trước trận pháo kích dữ dội của 40 khẩu pháo VM (20), hôm sau căn cứ Gabrielle cũng bị đánh sập. Tình hình quân sự ĐBP ngày một xấu, phi trường bị pháo kích hư hại, sau ngày 26-3-1954, khu lòng chảo chỉ còn tiếp tế tăng viện bằng thả dù quân lính cũng như lương thực, đạn dược.

Do sự sai lầm của Navarre đã chọn địa điểm xa xôi, hiểm trở để lập căn cứ chỉ liên lạc với hậu cần bằng máy bay không có đường bộ trong khi không quân Pháp quá yếu, toàn chiến trường Đông Dương chỉ có khoàng 200 máy bay (21). Tiếp tế bằng thả dù rất khó khăn vì bị phòng không địch chế ngự, nhiều kiện hàng thực phẩm, đạn dược đã lọt sang khu vực VM, kể từ sau ngày 26-3 số phận của Điện Biên Phủ coi như đã được quyết định rồi.

Pháp cũng như Mỹ đều đã thấy nguy cơ ĐBP sẽ thất thủ, giữa năm 1953 Trung Cộng ký đình chiến Triều Tiên rồi quay về giúp Việt Minh đánh Pháp, viện trợ quân sự của họ tăng vọt lên. Từ cuối tháng 3, Tòa Bạch Ốc đã nghiên cứu kế hoạch cứu nguy ĐBP bằng oanh tạc ồ ạt với khoảng gần 100 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi chiếc mang 9 tấn bom cùng với 400 máy bay chiến đấu hộ tống. Kế hoạch này do Đô đốc Arthur Radford, Tham mưu trưởng liên quân đề nghị được Tổng thống Eisenhower, Phó Tổng thống Nixon, Bộ trưởng ngoại giao Foster Dulles ủng hộ, chấp thuận.

TT Eisenhower muốn hỏi ý kiến Quốc hội vì rút kinh nghiệm chính phủ Truman tham chiến tại Triều Tiên không hỏi Quốc hội đã bị chỉ trích. Kế hoạch này đã được Giáo sư, tác giả Bernard Fall và nhà nghiên cứu Philippe Devillers tường thuật lại thập niên 60. Mấy năm gần đây, Giáo sư Fredrik Logevall và ký giả Ted Morgan cũng nghiên cứu lại đề tài này trong hai tác phẩm của họ (22). Xin sơ lược như sau:

Ngày thứ bẩy 3-4-1954, tám vị Trưởng khối đại diện Quốc hội được chính phủ mời tới Bộ ngoại giao để hội thảo bí mật với Dulles, Radford, một số cố vấn. Foster Dulles nói Tổng thống Eisenhower yêu cầu mời họp và Tổng thống muốn được Quốc hội thông qua một quyết định cho phép Hành pháp xử dụng không quân, hải quân tại Đông Dương. Đô đốc Radford nói về tình trạng nguy khốn của ĐBP, còn Dulles cảnh giác nếu Đông Dương mất Đông Nam Á sẽ lọt vào tay CS và rồi Mỹ sẽ phải rút về Hawaii nếu Mỹ không giúp Pháp và chính phủ địa phương (QGVN) và sẽ khiến Pháp từ bỏ cuộc chiến.

Đô đốc Radford nói về kế hoạch “Kên kên” (Vulture): Gồm hai Hàng không mẫu hạm Essex và Boxer, có tăng cường bởi không lực tại phi trường Clark Phi Luật Tân. Theo tin tức Pháp tổng cộng có 60 oanh tạc cơ hạng nặng B-29, mỗi cái mang 9 tấn bom, khoảng 450 máy bay chiến đấu hộ tống bảo vệ. Theo nguồn tin Mỹ tổng cộng 98 pháo đài bay B-29, mỗi cái mang 14 tấn bom gồm hai cánh ở Okinawa và một tại Clark field, có khoảng 450 máy bay chiến đấu theo hộ tống để phòng ngừa Mig Trung Cộng nếu có.

Cuộc tranh luận sôi nổi, ông Trưởng khối thiểu số Thượng viện Lyndon B. Johnson đòi hỏi phải có liên minh các nước. Cả tám vị dân cử cho Hành pháp biết Quốc hội ủng hộ chiến dịch “Kên Kên” dưới ba điều kiện.

1- Lập liên minh các nước tự do ở Đông nam Á, Phi LuậtTân và Liên Hiệp Anh.
2- Pháp phải nhanh trả độc lập cho các nước Đông Dương
3- Pháp phải ở lại tiếp tục chiến đấu.

Những lý do thực tiễn đó đã hủy hoại mọi cơ hội cứu ĐBP vì không còn đủ thời giờ đi tìm đồng minh thành lập “Mặt trận thống nhất” để được chấp thuận kế hoạch “Kên Kên” trong khi ĐBP ngày càng nguy ngập, Trung Cộng tăng cường viện trợ pháo binh và cao xạ cho VM.

Ba Lê chính thức xin Mỹ dùng không quân oanh tạc ồ ạt cứu ĐBP trong khoảng thời gian này. Cùng ngày Tổng thống Eisenhower viết thư dài cho Churchill nói ý niệm về một mặt trận thống nhất. Người Anh kinh ngạc khi nhận thư Eisenhower, họ chống lại bất cứ hành động nào có thể phương hại Hội nghị Genève sắp nhóm họp. Ba ngày sau Churchill trả lời thư, ông nói sẽ bàn với Dulles tại London ngày 12-4.

Người Pháp chán nản coi kế hoạch Kên Kên như bỏ, họ lên kế hoạch cứu quân nhân còn trong trại.

Khi Dulles đang bàn với Pháp về kế hoạch Kên Kên tại Paris, Tướng Partridge, Tư lệnh không quân Mỹ tại Viễn đông tới Sài Gòn, ông tiếp xúc với Cao ủy Maurice Dejean và Tướng Tư Lệnh Navarre khiến họ vẫn hy vọng vào sự can thiệp của Mỹ.
Dulles ở Paris ngày 23-4, Hội nghị Genève bắt đầu ngày 26-4, Pháp chỉ hy vọng vào ngưng bắn, họ năn nỉ Dulles thực hiện kế hoạch “Kên Kên”. Tổng thống Eisenhower cho Dulles biết sẽ không có oanh tạc quanh ĐBP nếu không thỏa mãn yêu cầu của các vị đại diện Quốc hội ngày 3-4. Không quân Mỹ chỉ hành động trong khuôn khổ lực lượng đồng minh sau khi họ bàn luận và biểu quyết.

Chiều ngày 23-4 đã xóa sổ vấn đề ĐBP mà người Pháp không biết. ngày 24-4 Eden tới Paris họp về NATO, đô đốc Radford thuyết phục ông chỉ cần ủng hộ tượng trưng. Eden vẫn cứng rắn và nói tại cuộc chiến Triều Tiên, mới đầu Mỹ oanh tạc sau Mỹ cũng đổ bộ quân vào, sau đó Mỹ lại thúc giục các nước đồng minh gửi quân vào. Ngày chủ nhật 25-4, Eden về Luân Đôn dự phiên họp nội các giải quyết một lần cho xong.

Tất cả nỗ lực để cứu ĐBP bằng không quân sụp đổ cuối tuần này, ngày 24-4 Dulles tại tòa Đại sứ Mỹ Ba Lê gửi văn thư cho Bidault (Bộ trưởng ngoại giao Pháp) nói (năm 1966 mới được tiết lộ)

“Một quyết định chiến tranh phải có phép của Quốc hội (US) mới thực hiện được”

Cuối thư nói ĐBP không phải là quá quan trọng, không cần cứu bằng không quân, ta đã gây thiệt hại nặng cho địch. Bidault gửi thư trả lời cùng ngày nói lực lượng địch tập trung đông đảo tại ĐBP sẽ khiến cuộc oanh tạc không những cứu được ĐBP mà còn thay đổi toàn bộ cán cân cuộc chiến.

Còn một nỗ lực cuối cùng, Pháp cử người gặp thủ tướng Chrchill để thuyết phục ông ta tại Luân Đôn ngày 27-4. Chrchill tiếp Đại sứ Pháp René Massigli, ông vẫn cứng rắn từ chối nói.

“Chúng tôi đã chịu mất Singapore, Hong Kong, Tobruk, người Pháp sẽ phải chịu thua tại ĐBP”

Chiến dịch Kên Kên chết lịm dần, Thiếu tướng Caldera, Tư lệnh không đoàn B-29 tại phi trường Clark Phi luật Tân đi thăm Đông Dương một lần nữa ngày 26-4, vẫn chuẩn bị oanh tạc ĐBP một khi có lệnh. Tất cả gồm 80 oanh tạc cơ tấn công liên tiếp quanh ĐBP và kho hậu cần tại Tuần Giao với phi hành đoàn hỗn hợp Pháp-Mỹ. Một sĩ quan cao cấp không quân Pháp đã từ Sài Gòn qua Clark Field chuẩn bị chiến dịch, có lẽ tình thế chưa tuyệt vọng.

Màn bi kịch cuối cùng là cuộc họp của Tổng Thống Eisenhower, Đô đốc Radford, các viên chức cao cấp ngày 29-4 tại Hoa Thịnh Đốn, họ duyệt lại toàn bộ tình hình một lần nữa. Trong số các nhà quân sự chỉ có Đô đốc Radford vẫn ủng hộ hoàn toàn dù là can thiệp đơn phương (không cần Quốc hội) của Mỹ để cứu ĐBP khỏi sụp đổ. Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Carney và Tướng Twining, TMT không quân không nhiệt tâm với kế hoạch này, Tướng Ridway, TMT lục quân Mỹ chống đối hoàn toàn kế hoạch. Cuối cùng TT Eisenhower quyết định không giúp Pháp, một tuần sau, ngày 7-5-1954 ĐBP hoàn toàn thất thủ, hơn mười ngàn tù binh bị bắt mà phần lớn đã chết trong trai giam.

Dù Anh có đồng ý tham gia, ủng hộ hay không, Eisenhower vẫn có toàn quyền quyết định (không cần Quốc hội), mười hai năm sau ông cho biết không muốn cho Hoa Kỳ sa vào cuộc chiến tốn kém. Nếu chiến đấu một mình sẽ làm cho Mỹ cạn kiệt tài nguyên, đánh con rắn Trung Cộng phải đánh dập đầu chứ không đánh cái đuôi nó.

Như thế quyết định không cứu Pháp ở ĐBP chính là của Mỹ, của cấp thượng đỉnh: Các vị Trưởng khối dân cử, Bộ Tham mưu liên quân và Tổng thống, nên khi quyết định đã xong không thể đổ lỗi cho Anh(23), các vị đại diện Quốc hội đòi hỏi.
-Trước hết thành lập liên minh các nước
– Pháp trả độc lập cho các nước Đông Dương
-Pháp phải tiếp tục cuộc chiến (24)

Ba điều kiện của tám vị đại diện Lập pháp Mỹ đưa ra đòi thành lập liên minh các nước chống CS tại ĐNÁ thực hiện chiến lược be bờ ngăn chận CS để bảo vệ an ninh cho Mỹ. Đòi Pháp phải trả độc lập cho Đông Dương sau đó ở lại chiến đấu cho quyền lợi của Mỹ. Ngoại trưởng Dulles đi vận động suốt tháng 4-1954 (25), ông ta đi hàng trăm dặm viếng thủ đô các nước không CS tại châu Âu, châu Á và cả Phi châu, Nam Mỹ. Trung bình Dulles 200 dặm một ngày để thành lập Liên minh chống Cộng nhưng không có kết quả, Anh, Pháp đều không tham gia, họ không có nhiều quyền lợi tại đông nam Á, đó là chuyện riêng của Mỹ.

Việc Hoa Kỳ không thực hiện được chiến dịch Kên Kên đã ám ảnh theo đuổi chính phủ Eisenhower một cách kỳ lạ ngay cả sau khi ngoại trưởng Dulles qua đời năm 1959 (26). Người ta hối tiếc đã để Việt Minh, phía CS thắng lớn đưa tới khúc quành lịch sử.

Bernard Fall nói

“Trong trường hợp này, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, họ đã bỏ rơi một đồng minh trong khi nước này (Pháp) tham gia một cuộc chiến mà Mỹ đã khuyến khích người ta chiến đấu, nó đi xa hơn mục tiêu chính trị của nước này (Pháp) và nhất là vượt quá khả năng quân sự của họ. Ở đây ĐBP không phải chỉ là thất trận của Pháp mà cả của Mỹ. (27)

Từ năm 1952, 1953, Pháp đã mệt mỏi vì cuộc chiến Đông Dương, chêt người tốn của, Mỹ đã tăng viện trợ cho Pháp những năm 1953, 1954 để khuyến khích họ tiêp tục chiến đấu ngăn chận CS tại ĐNA có lợi cho Mỹ hơn là cho Pháp. Và rồi cuối cùng Mỹ bỏ rơi họ vì nhiều tính toán nào sợ sa lầy, mất phiếu, sợ Trung Cộng đưa quân vào…

ĐBP đã khiến các giới chức quân sự chính trị lưu ý khi Tướng De Gaulle xác nhận rằng trong cuộc khủng hoảng mà không liên hệ trực tiếp nước Mỹ, ta không thể tin tưởng họ được (28).

Tính già hóa non, người Mỹ bỏ Đông Âu dẫn tới mất Trung Hoa, mất nước Tầu đưa tới ĐBP, bỏ rơi Pháp đưa tới chiến tranh VN

Cuộc chiến Việt Nam

Bernard Fall nhận định ĐBP đóng vai trò chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ, nó cũng là thời điểm Quân đội CSVN thành hình để trở thành lực lượng CS tại ĐNÁ. Sau này tình thế đã khiên Mỹ phải can thiệp vào miền nam VN những năm 1965, 1966…mà họ đã tránh hồi 1954, già néo thì đứt giây. Hậu quả mà Mỹ đã phải gánh chịu vì tránh can thiệp ĐBP mà họ sợ sa lầy năm 1954 để rồi sau đó mười năm phải đối đầu một cuộc chiến khác đẫm máu hơn (29)

Hai cuốn sách Mỹ mới viết gần đây cũng nhận định ĐBP thất thủ đã khiến Mỹ phải tham chiến tại VN. Fredrik Logevall Giáo sư lịch sử , tác giả cuốn “Tàn Lửa Của Cuộc Chiến Tranh, Sự Sụp Đổ Của Đế Quốc Pháp Và Khởi Đầu Cuộc Chiến Của Người Mỹ tại Việt Nam, dầy 840 trang, in năm 2012 (Embers of War, The Fall of An Empire And The Making Of America’s Vietnam). Tác giả nói ĐBP đã làm sụp đổ đế quốc Pháp và khiến người Mỹ tham dự vào cuộc chiến VN.

Ký giả Ted Morgan viết “Thung Lũng Tử Thần,Thảm Kịch Điện Biên Phủ Đã Đưa Mỹ Vào Cuộc Chiến Việt Nam, dầy 722 trang, in năm 2010” (The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War). Tác giả cũng muốn nói Mỹ không anh tạc cứu ĐBP nên đã phải đối đầu với cuộc chiến VN.

Năm 1954 Thượng nghị sĩ Johnson, trưởng khối thiểu số đã đưa điều kiện đòi hỏi Eisenhower phải lập liên minh các nước, nó được tám vị dân cử đồng ý và đã cản trở hành pháp thực hiện Kên kên.

Bất ngờ cuối thập niên 50 Hà Nội phát động chiến tranh xâm lược miền nam VN. Dưới thời Kennedy 1961, 62, 63 cuộc chiến chưa mở rộng nhiều. Lyndon B. Johnson lên thay Kennedy bị ám sát cuối 1963 và đắc cử TT 1964. Rút kinh nghiệm biến cố do chính mình gây ra tháng 4-1954, nay 1964, khi làm Tổng thống ông đã vận động được Quốc hội ủng hộ Hành pháp ra Nghị quyết tháng 8-1964 dành cho Tổng thống quyền hạn can thiệp vào miền nam VN. Những năm 1964, 1965 lợi dụng tình hình chính trị miền nam xáo trộn, Cộng quân gia tăng xâm nhập quân chính qui và bắt đầu đánh lớn, miền nam có nguy cơ mất về tay CS

Tháng 2-1965 qua thăm dò của Harris poll, 78% người dân ủng hộ cuộc chiến chống CS tại đông nam Á, lưỡng viện Quốc hội ủng hộ Chính phủ, thuyết Domino được tin tưởng mạnh

Đầu tháng 3-1965, sau khi đắc cử Tổng thống, Johnson cho oanh tạc giới hạn Bắc Việt mục đích ngăn chận xâm nhập và vận chuyển tiếp liệu của địch vào miền nam để khiến họ phải từ bỏ cuộc chiến ngồi vào bản hội nghị. Cuộc oanh tạc không có kết quả nên Johnson và các cố vấn phải thay đổi kế hoạch bằng đưa thêm quân vào VNCH để có thể thắng bằng cuộc chiến dưới đất (30)

Tổng thống Johnson đã có một lựa chọn định mệnh, đưa Hoa Kỳ đi vào con đường can thiệp vào VN ồ ạt (31). Trong giai đoạn định mệnh này Johnson đã oanh tạc Bắc Việt và đưa quân vào VNCH từ 23,000 ngươi (1964) lên 175,000 (1965). Trung bình mỗi năm tăng quân 100,000 cho tới năm 1968 lên tới đỉnh cao 536,100 người

Giữa năm 1965 VNCH có nguy cơ sụp đổ trong vòng 6 tháng, BV tấn công liên tục, tình hình quân sự ngày càng xấu (32). Thực trạng nguy kịch của miền nam VN khiến Johnson quyết định đưa quân vào. Những năm 1964, 1965 tỷ lệ ủng hộ của người dân và Quốc hội rất cao người ta tin tưởng vào thuyết Donino và chính sách be bờ ngăn chận CS tại ĐNA. Rút kinh nghiệm năm 1950 TT Truman để mất Trung Hoa, Johnson quyết không để VN lọt vào tay CS.

Chính sách oanh tạc và quân sự của Johnson có mục đích đe dọa địch để chúng phải vào bàn hội nghị nhưng ông đã thất bại, sau này TT Nixon nhận xét

“Ta cần phải biết rằng không thể mơn trớn dụ dỗ Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến. Chúng ta phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (33)

Johnson đã sai lầm 1954 nay lại sai lầm thêm một lần nữa, ông ta chủ quan khinh địch, Hà Nội đã có khối CS quốc tế Nga, Trung Cộng, Đông Âu đứng sau lưng.

Các chiến dịch quân sự tại miền nam VN tuy có kết quả cụ thể, giết được nhiều Việt Cộng, từ đầu 1965 cho tới cưối 1967, trong vòng ba năm địch bị thiệt hại 344,000 quân (34) nhưng chúng vẫn tiếp tục xâm nhập. Cuối năm 1968 trả lời phỏng vấn nữ ký giả Ý Fallaci, Võ Nguyên Giáp cho biết đã mất hơn nửa triệu quân.

Cuộc chiến tranh hạn chế của Johnson và Bộ trưởng quốc phòng McNamara thất bại. Sau này tháng 4-1969 Tướng Westmoreland, cựu Tư lệnh Mỹ tại VN và Đô đốc Grant Sharp, Cựu Tư lệnhThái Bình Dương đã công bố bản phúc trình công kích chính sách chiến tranh và oanh tạc hạn chế của Johnson-McNamara, không cho đánh qua hậu cần địch Mên, Lào… đã đưa tới thất bại

CSBV đưa 84,000 quân vào trận tổng tấn công Tết Mậu Thân đầu năm 1968, tổng cộng 58, 370 tên bị giết, 9,400 người bị bắt làm tù binh. Mặc dù thảm bại, nhưng Hà Nội đã thắng lớn về chính trị, phong trào phản chiến tại Mỹ lên rất cao, người dân quyết tâm đòi hòa bình, vào lúc này số binh sỉ Mỹ tử trận tại VN đã lên gần 20,000 người. Miền nam VN thắng một trận lớn nhưng thua cuộc chiến.

Năm 1965 tỷ lệ ủng hộ là 61%, cuối 1966 còn 51%, cuối 1967 còn 48%, tháng 2-1968 còn 41%, cuối 1968 chỉ còn 35%(35).
Sau trận Tết Mậu Thân, TT Johnson đề nghị Hà Nội đàm phán nếu không sẽ cho nếm mùi sức mạnh, CSBV nhận lời. Hòa đàm Paris mở đầu từ 10-5-1968.

Johnson-McNamara thất bại không thắng được BV khiến cho cuộc chiến tại đất nhà lên cao, hai nhà chính trị đã phạm nhiều sai lầm trong việc lãnh đạo cuộc chiến mà đáng lý ra phải Việt Nam hóa chiến tranh từ 1965.

Năm 1969, Nixon đắc cử Tổng thống thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, cho rút quân về nước, phong trào phản chiến lên cao mạnh hơn trước rất nhiều. Năm 1968 quân đội VNCH có 820,000 người, năm 1969 lên 897,000 người, năm 1970 lên 968.000, năm 1971 lên 1,046,250, năm 1973 lên 1,110,000.

Năm 1969 Mỹ rút 61,000 người, năm 1970 rút 141,000 người, năm 1971 rút 178,000 người, năm 1972 chỉ còn 24,000 người, năm sau còn 50 người. (36). Trận Mậu Thân 1968 đánh dấu ý định rút bỏ Đông Dương của người Mỹ, năm 1969 họ rút quân dần dần thỏa mãn nguyện vọng người dân.

VNCH được Hoa Kỳ yểm trợ đã mở cuộc hành quân sang Miên ngày 13-4-1970 để phá hủy các căn cứ hậu cần an toàn của BV, nơi xuất phát những cuộc tấn công VNCH và để giúp chính phủ Miên chống lại áp lực của CS.

Cuộc hành quân sang Kampuchia từ 29-4-1970 tới 22 -7-1970 đã đánh bại và ruồng bố được khoảng 40,000 quân CS, giết trên 10 ngàn cán binh,

Kế đó cuộc hành quân Lam Sơn tại Hạ Lào bắt đầu ngày 8-2-1971, BV phản công mạnh. Ông Thiệu lệnh cho các Tướng lãnh ngưng tiến quân. Giữa tháng ba, một thời gian ngắn sau khi quân đội VNCH tới Tchpone, họ rút lui về phía nam theo đường 914 bị Cộng quân truy kích thiệt hại nhiều. Cho tới 25-3-1972 cuộc hành quân coi như chấm dứt, tổng cộng chỉ kéo dài 45 ngày. Mặc dù không đạt kết quả nhưng cũng gây nhiều thiệt hại nặng cho CSBV.

Kissinger đàm phán đi đêm với BV tại Ba Lê, cuộc hội nghị kéo dài mấy năm. Hà Nội thương thuyết rất dai dẳng, đây là cuộc hòa đàm bẩn thỉu nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới. Hà Nội không từ một mánh khóe hạ tiện nào để đạt thắng lợi tại bàn Hội nghị. Tháng 3-1972, lợi dụng khi quân đội Mỹ rút về gần hết, Hà Nội mở trận tổng tấn công miền nam VN với trên mười sư đoàn và nhiều xe tăng, đại bác. Tháng 2-1972 Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông, cái bắt tay thay đổi nhiều thập niên. Tháng 5-1972 Nixon họp thượng dỉnh tại Mạc Tư Khoa, hai bên thỏa thuận tài giảm binh bị. Trong năm 1972 ông ta vừa đánh bại CSBV, bắt tay Trung Cộng, hòa với Nga.

Trong tháng 5 -1972 miền nam đã thắng thế BV, TT Nixon oanh tạc Cộng quân dữ dội bằng B-52 để yểm trợ VNCH, ông nói chúng ta đã có khuynh hướng dọa cho dữ nhưng làm ít, đó là điểm yếu của chính phủ Johnson

(I think we have too much of a tendency to talk big and act little, I wrote “This was certainy the weakness of the Johnson administration).
(37)

Nixon là người cứng rắn dám dùng sức mạnh tối đa khi cần nhưng cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của miền nam VN về chính trị. CSBV bị thiệt hại nặng trong trận muà hè đỏ lửa này, tháng 9/1972 có vào khoảng từ 70 ngàn cho tới 100 ngàn cán binh CS bị giết, khoảng 700 chiến xa bị phá hủy (38). Sau trận thảm bại 1972, Hà Nội chịu nhượng bộ tại bàn hội nghị: không đòi TT Thiệu từ chức, không đòi miền nam trung lập, VNCH chống đối hòa đàm. Bầu cử Tổng thống 7/11/1972 về cử tri đoàn Nixon thắng 49 tiểu bang, 520 điểm, thắng 47 triệu phiếu phổ phông, 60.7% số phiếu bầu, hơn McGovern 18 triệu phiếu, trận thắng cử lớn nhất từ xưa tới nay. Nixon đã đem quân về nước, lấy lại tù binh, không bỏ đồng minh, hòa với Nga, bang giao với Trung Cộng

Trước sự thúc ép của Quốc hội, Nixon ký kết Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Cộng quân không phải rút về Bắc, miền nam thắng mà như thua. Trước khi ký Hiệp định, Lập pháp hứa với Hành pháp sẽ tiếp tục viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH nhưng khi đã đem quân về nước, họ trở mặt cắt giảm dần dần.

Sau ngày ngưng bắn Hà Nội hối hả đưa khoảng 18,000 xe vận tải và 70,000 người xâm nhập miền Nam . Quốc hội Mỹ bắt đầu soạn tu chính án cấm xử dụng mọi ngân khoản cho các cuộc oanh tạc tại Đông Dương. Nixon ký thành luật ngày 30-6-1973, có hiệu lực ngày 15-8-1973. Tu chính án xác định từ nay không còn ngân khoản nào dùng trực tiếp và gián tiếp cho các hoạt động quân sự của My tại Miên, Lào, Bắc và Nam VN hay ngoài khơi Mên, Lào, Bắc, Nam VN.

Nixon không còn thẩm quyền giữ hòa bình cho VN, Quốc hội đã cho phép lãnh đạo Hà Nội tự do thao túng tại miền Nam VN. Quốc hội tiếp tục hạn chế quyền Tổng thống về quân sự đó là Dự luật War Power act: Tổng thống phải thảo luận với Quốc hội trước khi tham chiến. Ngày 7-11-1973 hình thành luật hạn chế quyền Tổng thống.

Sau ngày ngưng bắn, Hà Nội chuyển vũ khí đạn dược vào Nam, Quốc hội cắt xén viện trợ cho VNCH liên tục, ngân khoản do Nixon đề nghị đã bị Quốc hội cắt giảm từ hai tỷ mốt (2,1 tỷ) tài khoá 1973 xuống một tỷ tư (1,4 tỷ) tài khoá 1974 và 700 triệu tài khoá 1975. Trong khi ấy BV vẫn được CS quốc tế viện trợ dồi dào. Khi kết thúc Hiệp định Paris, Nixon đã đề ra hai kế hoạch bảo đảm hòa bình: Trước hết duy trì sự đe dọa trừng trị của Mỹ đối với một cuộc xâm lăng từ BV và sau đó là viện trợ quân sự đầy đủ cho VNCH để cân bằng lực lượng nhưng chung cục cả hai điều kiện trên đã bị Quốc hội phá hỏng hết (39)
Ngày 9/8/1974 Nixon từ chức vì vụ Watergate, Phó TT Gerald Ford lên thay, ông tân Tổng thống này chỉ là bù nhìn khi đảng đối lập Dân chủ nắm ưu thế hoàn toàn tại Quốc hội: 67% Hạ viện và 60% Thượng viện.

Quốc hội Dân chủ kiên quyết chống chiến tranh VN, trả thù cho thất bại nhục nhã trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1972 bằng cắt giảm viện trợ quân sự miền nam VN như trên. Hậu quả của sự cắt giảm tàn nhẫn này là tháng 4-1975, pháo binh VNCH hết đạn, máy bay hết săng, nhiên liệu…

Quốc hội lợi dụng thành quả của Hành pháp Nixon: Hòa với Nga, bắt tay Trung Cộng để bỏ Đông Dương, nay thiên hạ thái bình, thuyết Domino không còn ý nghĩa, CS không còn là mối nguy đe dọa ĐNA.

Nhờ xương máu của hàng triệu quân dân VNCH mà họ đã hòa được với Nga, Tầu khi cả hai phía đã cùng mệt mỏi. Nay miếng xương Đông Dương không còn ý nghĩa.

Từ thập niên 80 Hoa Kỳ và các nước Tây phương đầu tư vào Hoa Lục hy vọng nâng cao đời sống của họ để rồi từ từ chế độ Cộng sản sẽ phai mầu hóa ra hiền lành không còn hiếu chiến như xưa. Đầu thập niên 90 chế độ CS sụp đổ tại Liên Xô, Đông Âu khiến người Mỹ càng tin tưởng họ đang được hưởng thái bình đời vua Nghiêu Thuấn.

Mấy chục năm trôi qua, người Mỹ bỏ Đông Dương vì tin rằng đã hòa được với CS quốc tế, niềm tin nay đã thành ảo tưởng. Trung Cộng càng giầu, kinh tế phồn thịnh càng hung dữ hơn trước.

Nay ngân sách quốc phòng Trung Cộng (40) tăng lên 188 tỷ Mỹ kim gần bằng 1/3 của Mỹ (640 tỷ).Trong vòng 10 năm từ 2002 tới 2012 chi phí quốc phòng Trung Cộng tăng lên hơn gấp năm lần (41). Một hai thập niên trước họ chưa giầu mạnh ra vẻ khiêm tốn nay ra mặt thách thức Mỹ tại biển đông.

Nga từ bỏ chế độ CS, dân số chỉ còn 145 triệu nhưng cũng tăng cường ngân sách quốc phòng lên 88 tỷ Mỹ kim đứng thứ ba trên thế giới, họ trở lại chính sách bành trướng xa xưa. Tình hình Ukraine 2014 căng thẳng do Nga gây hấn can thiệp, Tổng thống Putin sáp nhập những tỉnh biên giới và thách thức Mỹ, Tây Âu. Trong cơn nóng giận ông ta hăm dọa: Nga là nước duy nhất trên thế giới có khả năng biến nước Mỹ thành tro bụi.

Tác giả Ted Morgan trong “The Valley Of Death, The Tragedy At Dien Bien Phu That Led America In to The Vietnam War”, trang 411 nói về Điện Biên Phủ

“Tháng 3 và tháng 4 năm 1954 Mao tăng viện trợ cho VM 4 tiểu đoàn phòng không, VM được huấn luyện tại Trung Cộng với súng cao xạ 37 ly và đã được đưa tới ĐBP…..
. . . . Mao cho huấn luyện thêm hai sư đoàn pháo và hai tiểu đoàn công binh cho VM. . .
Về việc cố vấn và viện trợ Mao có ưu thế hơn Mỹ nhiều, ông ta không phải vận động quốc hội như Mỹ, Mao thảo lệnh và được thi hành ngay, Việt Minh không cãi lại ý kiến của Trung Cộng trong khi Pháp luôn than phiền Mỹ can dự vào”.

Trong khi Mao, Staline ban lệnh và được thi hành ngay, Tổng thống Mỹ phải thăm dò ý kiến người dân, tham khảo Quốc hội, ngoài ra Anh-Pháp-Mỹ chia rẽ nhau vì quyền lợi, như thế không thể thắng được cuộc chiến.

Tại một đất nước mà chính phủ không có thực quyền, đảng nọ phá đảng kia, Quốc hội lộng hành, người dân yêu sách… thì các đồng minh của họ bị chết oan vì bức tử là điều không có gì khó hiểu.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

http://www.danchimviet.info/archives/96717/hoa-ky-va-van-de-tu-bo-dong-minh/2015/06

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á | Leave a Comment »

► Ý kiến anh tài xế taxi

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Theo Fb Nguyễn Tuấn

26-6-2015

Tôi thích trò chuyện và nghe ý kiến của giới tài xế taxi. Những ý kiến, những trăn trở của họ có thể ví như là một nhiệt kế thời sự. Hôm qua, đón chiếc taxi hiệu TN ở trung tâm Hà Nội về khách sạn, và có dịp nghe những ý kiến của anh tài xế trẻ làm mình có nhiều … tâm tư.

Bước lên xe, nghe giọng Nam kì của tôi, anh ta hỏi một cách dè dặt: bác từ trong Nam ra? Tôi gật đầu, và vui vẻ thêm rằng đáng lí ra người trong ấy nói giọng Bắc, nhưng chắc do đột biến nên giọng nói cứ phai dần từ Hà Lội, chuyển hoá sang trọ trẹ ở Quảng Bình, Huế, nẫu ở Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, và dịu dần cho tuốt đến Cà Mau thì mất luôn âm hưởng Bắc kì. Anh ta cười lớn, thấy tôi có vẻ vui tính, nên nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, làm cho chuyến đi xa trở nên ngắn lại.

Anh ta hỏi tôi nghĩ gì về Hà Nội. Được hỏi bất ngờ làm tôi suy nghĩ một phút. Tôi nói cảm nhận cá nhân của tôi là (1) Hà Nội hơi chật hẹp, không gian có vẻ ngột ngạt; (2) bất tiện ban đêm vì sau 10 giờ tối thì hàng quán ăn uống đóng cửa; (3) khó tìm chỗ nghe nhạc sống, thậm chí khó tìm giải trí bình dân “hát cho nhau nghe” theo kiểu Sài thành; (4) người dân có vẻ thiếu tính thân thiện, nhìn khách một cách dò xét, và khi họ đội nón cối xanh nữa thì trông rất lạ, nhưng trong thực tế họ lại thân thiện; (5) mấy cô Hà thành hình như có xu hướng mang giầy cao gót với độ cao cao hơn và dốc hơn mấy cô Sài thành, và như thế là nguy hiểm vì khi té là dễ bị gãy xương …

Tôi nói chưa hết những cảm nhận của tôi thì anh ta chen vào nói một mạch như vừa giải thích, vừa giải toả những bức bối nội tâm. Anh nói không chỉ Hà Nội mà những nơi khác ngoài Bắc cũng rất chật hẹp và ngột ngạt, và đó chính là lí do nhiều người ngoài Bắc bỏ quê vào Nam lập nghiệp, rồi khi định cư trong Nam thì họ không về Bắc mà gọi Nam là quê hương luôn. Anh ta chỉ ra một sự thật: Bác có thấy dân Nam ra ngoài này và gọi nơi này quê hương không?

Bằng một giọng nói Bắc kì trầm bổng, bỏ dấu đâu ra đó, và cách lập luận chặt chẽ, tôi chợt nghĩ đến hay là anh chàng này là sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm nên làm nghề lái taxi. Nghĩ thế tôi nhìn anh tài xế cho kĩ hơn. Thấy anh ta còn trẻ, chưa đầy 30, người có vẻ ốm yếu nhưng làn da nâu có lẽ do ngồi taxi tối ngày, mắt sáng, ăn mặc đàng hoàng. Tôi đón xe một cách ngẫu nhiên, chứ không qua ai đó gọi đến, nên tôi nghĩ khả năng cao anh ta không phải là “DLV”. Tôi cảm thấy yên tâm rằng đây là dân thật, chứ không đóng kịch.

Rồi anh ta nói tiếp điểm thứ hai. Anh nói rằng thật ra, Hà Nội cũng có những điểm ăn tối đấy, và họ cũng mở đến 3 giờ sáng, nhưng phải là dân địa phương mới biết. Anh ta thêm rằng nhưng những quán như thế thường không có “đèn sáng” như khu Nguyễn Trãi ở Sài Gòn. Còn nghe nhạc thì anh ấy nói cũng có chỗ luôn, nhưng phải nhờ người sành điệu mới biết. Anh ta cho biết dân Hà thành không có dịch vụ kiểu “hát cho nhau nghe” như trong Sài Gòn. Rồi anh ta khuyên tôi không nên đến mấy chỗ nghe nhạc ban đêm, vì … chẳng có gì hay.

Đến điểm thứ 4, anh ta phản đối tôi. Anh nói rằng người dân ngoài này có thói sống 2 mặt. Ngoài mặt họ thân thiện với bác, đằng sau họ không ưa bác đâu. Này, cháu là dân Hà Tây, Bắc kì 100% nhé, mà cháu cũng cảm thấy không thích cái thói đó. Bác lịch sự quá, cháu làm nghề này và nghe dân Nam ra đây chửi chúng cháu là quân ăn cướp, chặt chém các bác ấy, nhưng cháu cũng phải công nhận các bác ấy nói có phần đúng đấy. Tôi phải vận dụng kĩ năng ngoại giao và nói với anh ấy rằng ở Hà Nội, cũng như ở Sài Gòn, có người thế này thế kia, tôi thì không nghĩ đồng hương ngoài này là “quân ăn cướp”, vì nếu nói ăn cướp thì trong Sài Gòn mới đúng là ăn cướp và còn nguy hiểm nữa. Anh ta không chịu và phản biện: không, ăn cướp trong ấy là manh động và qui mô nhỏ, còn ăn cướp ngoài này là qui mô lớn và êm ái, bác à. Lần đầu tiên tôi nghe khái niệm “ăn cướp êm ái”!

Như để minh hoạ, anh ta đưa tay chỉ về hướng thành phố do một đại gia tỉ phú USD xây, anh ta nói: đấy, đó là ăn cướp đấy bác. À, thì ra, anh chàng này nói ăn cướp theo cái nghĩa rộng hơn. Anh ta nói ngày xưa đất ở đây chỉ là đồng ruộng thôi, rồi cái tay đại gia này vào, dùng uy thế hay quyền thế để xua đuổi người dân, rồi xây dựng lên một thành phố trong thành phố và giàu thêm, còn người dân và mồ mả bao đời ở đây thì bị dạt ra ngoài thành phố. Anh ta nói một mạch, rồi hỏi tôi: bác có biết vụ cướp đất ở Hưng Yên không? Tôi chạy một cái scan trong não và chưa nghĩ ra vụ nào, nên lắc đầu. Anh ta nói rằng ở Hưng Yên có một đại gia là anh của đại gia anh ta vừa nói đến đó mua đất giá rẻ mạt, sau đó một đại gia khác đến mua đất giá đắt hơn chút, và thế là người dân biết mình bị lừa, nhưng biết thì đất đã mất rồi và họ trở thành “dân oan”. Anh ta nói say sưa, như anh ta chính là nạn nhân hay là một dân oan vậy.

Tôi thấy anh ta có vẻ biết nhiều chuyện, nên hỏi anh ta nghĩ gì về chuyện Biển Đông. Anh ta có những phát biểu chứng tỏ rõ ràng anh ta đọc báo lề dân hơi nhiều. Anh ta nói rằng VN chúng ta sẽ có nguy cơ cao bị Bắc thuộc lần nữa. Rồi anh ta tỏ vẻ tiếc nuối thời xa xưa. Anh nói tư tưởng của cụ Hồ là đúng đấy, nhưng các bác sau này chẳng ai làm theo cụ Hồ nên đất nước ra nông nỗi này. Đột nhiên, anh ta nói như so sánh rằng cái chính quyền VNCH ấy nó phản dân hại nước chạy theo Mĩ nên cũng chả ra gì. Tôi tò mò hỏi anh ấy là anh đi đến nhận định cái chính quyền phản dân hại nước và tay sai đó từ đâu, thì anh ta cười nói: dạ, cháu chỉ đọc sách báo thôi ạ. À, câu này giải thích tại sao em ấy là fan của tư tưởng cụ Hồ.

Cuộc trò chuyện càng lúc càng hào hứng, nhưng rồi cũng đến lúc chia tay. Xe trờ đến khách sạn, cuộc trò chuyện phải tạm chấm dứt. Tôi đưa tiền cho anh ấy và dặn làm chẵn, coi như một cách tặng thêm cho anh ta hai chục ngàn để nuôi vợ con (hay bồ bịch). Anh ta thối tiền đàng hoàng, và thấy tôi kín đáo đếm tiền, anh ta nói đùa: bác cẩn thận coi chừng bọn Hà Nội ăn cướp tiền đó nhé. Tôi cười lớn, vỗ vai anh ta, rồi nói lời tạm biệt, chúc anh ta nhiều may mắn trong một cái nghề khác thích hợp hơn với trí thông minh và tính hóm hỉnh của anh.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►“Nếu chúng ta nói rõ cái gì của ai thì đất nước đã khác”

Posted by hoangtran204 trên 28/06/2015

Tư Giang lược ghi

TS Phạm Duy Nghĩa.

Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã có bài thảo luận về quyền sở hữu tại một hội thảo do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức vào ngày 25-6. Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online lược ghi.

Điều gì đã cản trở Việt Nam trong 20 năm vừa rồi không thể phát triển? Thực ra, trong 30 năm vừa rồi, mình cải cách nửa chừng, giúp đất nước phát triển, nhưng cũng làm đất nước vướng nhiều cái do mình làm không đến nơi đến chốn….

Nền kinh tế tư nhân chia thành hai loại. Một loại giàu lên rất nhanh. Ngay như điểm tin sáng nay cũng thấy, có đại gia ôm hàng trăm tỉ tiền mặt vào Phú Quốc mua đất. Sự giàu có của một bộ phận tư nhân gắn bó với sân sau, với những người có quyền phân chia đất. Như vậy, có một bộ phận tư nhân phát triển rất tốt, tốt một cách không tin được. Nhưng có một bộ phận tư nhân khác, tức hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp tư nhân chết mà không chết được, teo tóp đi.

Tức là loại nào mà bám vào chính quyền, quan hệ tốt, trở thành sân sau thì phát triển rất tốt, còn loại không có được những quan hệ đó rất khó.

Còn về doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì bao nhiêu năm nay vẫn không có gì mới. Chúng ta đã nói từ mấy chục năm nay rồi. Sở hữu không rõ, thành ra nhiều anh khai thác quyền của mình để kiếm được lợi tư từ khối DNNN.

Vì vậy, DNNN thích hợp với những ai nắm quyền quản trị, và can thiệp được vào khối tài sản này. Cũng có những DNNN thành công như Vinamilk, Viettel… Nhưng còn các DNNN khác thì cũng có nhiều khó khăn lắm. Những khó khăn này dẫn đến thoái vốn, bán tống bán tháo tài sản nhà nước đi. Rồi dưới chiêu bài xã hội hóa, công tư hợp doanh để phân phối tài sản công cho tư nhân cũng khá nguy hiểm.

Khu vực thứ 3 là doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) thì lại đang phát triển tốt, ngày càng tăng trưởng. Lập luận của chúng tôi là, hóa ra khu vực này nó không dùng luật Việt Nam mình. Tài lực, vật lực nó mang từ bên ngoài vào, thuê đất, nhân công của mình, lắp ráp ở mình rồi bán đi. Tài sản của họ ở mình thì có nhiều đâu. Nếu có tranh chấp thì họ có nhờ tòa mình xử đâu, họ mang ra nước ngoài.

Như vậy, thể chế của Việt Nam mình chỉ làm khổ dân mình thôi, chứ không làm khổ khu vực nước ngoài nhiều lắm. Chính vì vậy, họ vay mượn từ bên ngoài, họ vượt qua được thể chế của mình. Đó là lý do giải thích vì sao khu vực FDI có thể đóng góp vào xuất khẩu lớn với lý do không vướng vào những phiền nhiễu của chế độ sở hữu trong nước.

Bây giờ cải cách thế nào? Nếu mà đất nước nói rõ cái gì của ai thì đã khác. Chỉ đơn giản thế thôi chứ có gì đâu mà phải nghĩ ngợi cho nhiều. Chẳng hạn như lô đất này của VCCI, thì chủ của nó là VCCI. VCCI không thích thì bán, hay cho thuê. Như vậy sẽ rõ chủ sở hữu của mảnh đất là ai…

Hơn 10 năm trước, chúng tôi từng nói một ý rằng: sở hữu toàn dân là cái ý chí chính trị, nhưng khái niệm ấy không dùng được, không có ý nghĩa về pháp lý. Nó phải có chủ thể rõ ràng. Lấy ví dụ, Hà Nội hay TP.HCM là một pháp nhân. Là pháp nhân thì họ có đất, cây… khi cây đổ vào ô tô của tôi thì tôi có thể kiện chính quyền. Sở hữu toàn dân như là một vòng kim cô. Việt Nam mình phải làm như Trung Quốc năm 2007 khi ban hành luật về vật quyền.

Sở hữu toàn dân rất có lợi cho những người biến ao ruộng, miếng đất đáng giá thành bao nhiêu cây vàng. Cái lợi ấy chạy hết vào túi của những người đó, nhà nước chẳng thu được đồng thuế nào, vì phần lớn sẽ nằm trong tay những người có quyền quyết định đối với những lô đất đó. Vì thuộc về toàn dân, thuộc quyền nhà nước nên xảy ra nhũng nhiễu, hạnh họe người ta. Nếu sở hữu rõ ràng thì phải thương lượng. Vì không rõ sở hữu nên nay anh thu hồi, mai anh chuyển đổi. Những người đó giàu lên rất dữ nhưng nó làm cho doanh nghiệp không dám đầu tư lớn. Thể chế sở hữu không chắc chắn thì không ai dám đầu tư.

Rất nhiều đại gia Việt Nam bây giờ đang bán tài sản cho nước ngoài. Đây cũng là điều cảnh báo cho những nhà làm chính trị tại Việt Nam. Khi những đại gia này làm ăn đến mức nào đó … người ta bán đi.

Ngoài ra còn có những loại sở hữu thông qua hợp đồng. Chẳng hạn có người sở hữu biệt thự ở Vũng Tàu, cho thuê 2 tuần/lần. Người ta sẽ sáng tạo ra đủ thứ sở hữu. Đáng ra luật pháp phải đảm bảo sự tự do đó, và dùng hệ thống tòa án bảo vệ những điều đó.

Thứ 3, giả sử một người làm ăn tồi, vỡ nợ, thì tài sản đó phải nhanh chóng chuyển sang tay chủ nợ. Chẳng hạn một ngày đẹp trời, OceanBank, Ngân hàng Xây dựng sẽ chuyển sang cho anh khác. Nên luật phá sản là cái roi rất dữ đe nẹt những anh làm ăn dở. Nhưng mình chưa bảo vệ được những chủ nợ.

Nhưng vấn đề sở hữu ở đất nước mình chưa ai dám thảo luận rộng, sâu.

Giới nhà giàu có được quyền lợi từ cái đó cũng không muốn đổi, còn những thành phần khác muốn đổi thì tiếng nói không mạnh.

Bây giờ, nhà nước muốn lấy đất đai của dân thì khó hơn một chút, giá thì do nhà nước đề ra, dân mất đất thì có thể khiếu nại, tố cáo… Thế thì vòng vo tam quốc nhưng mình có chữa được luật đâu. Hôm nay mình nói mạnh hơn để cố gắng 20 năm sau con cháu mình nó có cái nhà của nó là của nó, không phải của nhà nước. Nhà nước muốn lấy, thu hồi thì phải thương lượng, mua với giá đàng hoàng, chứ không thể thu hồi không.

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Viết Từ Sài Gòn – Ngu dốt luôn đi đôi với bảo thủ

Posted by hoangtran204 trên 24/06/2015

23-6-2015

rfavietnam.com/node/2658

Năm ngoái, chuyện này cũng đã rùm beng, thậm chí được báo chí trong nước đẩy lên thành sự kiện chính trị, nhiều tờ báo loan tin, đại khái: “ngành an ninh đã bắt được một số lượng lớn nón cối, quần áo, giày dép nhà binh Mỹ. Có thể đây là nguồn hàng có liên quan đến những nhân vật ‘anh hùng rừng lá thấp’ đã âm thầm hoạt động chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Và bản tin kiểu đó xuất hiện khá nhiều. Sau đó bặt đi gần một năm, mãi đến khi chuyện hợp đồng may quân phục Mỹ của một doanh nghiệp Việt Nam bị hủy, doanh nghiệp Việt Nam mất đứt hợp đồng trị giá hai tỉ USD, chuyện mới vỡ xòa.

Mà buồn cười nhất là vấn đề cái dốt, sự ngu muội luôn đi đôi với tính bảo thủ thành một chân lý. Cái chân lý buồn cười này không phải quốc gia nào cũng vinh hạnh có được giống như Việt Nam. Cũng xin nói thêm, vụ tịch thu hàng mẫu trong hợp đồng quân phục Mỹ này do an ninh một sân bay quốc tế Việt Nam lập công. Cũng giống như bao cảng hàng không quốc tế tại Việt Nam, đâu đâu cũng có thể bắt gặp hệ thống an ninh sân bay rất gắt gao, soi từng cọng lông nhưng hành lý của khách mất vẫn cứ mất, Việt Kiều thì mất càng bạo tay hơn.

Đó chỉ là chuyện mất vặt, nhưng mất hợp đồng hai tỉ đô la Mỹ thì chuyện chẳng phải đùa nữa. thế nhưng mất hợp đồng thì doanh nghiệp tự chịu lấy, chẳng có ông an ninh nào, bà hải quan nào đứng ra chịu trách nhiệm hay xin lỗi “khổ chủ”. Và trong trường hợp này, cũng khó mà kiện được bởi bị đơn là một hệ thống đang được nhà cầm quyền trung ương ưu ái nhất – hệ thống công an.

Không phải đơn giản muốn cấm thì cấm, muốn thu thì ngang nhiên tịch thu hay muốn khoắn thì tha hồ khoắn mà đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến danh dự nghề nghiệp, danh dự quốc gia. Một khi phạm tội, sai phạm nhiều lần mà hệ thống này vẫn cứ hoạt động nhịp nhàng, vẫn cứ khoắn của hành khách đều đều và gây tổn thất hợp đồng hai tỉ USD cứ như chuyện đùa thì chắc chắn bên trên hệ thống đó phải có cái dù to lớn đến mức che cả mặt trời, che cả công lý và che cả lòng dân rồi.

Thiết nghĩ cũng không cần bàn thêm về cái dù mà thử đặt câu hỏi tại sao có những cái dù hết sức kì cục như vậy, vừa bao che cho cái xấu, đỡ đầu cho tội ác lại vừa gián tiếp bán rẻ danh dự quốc gia, bôi tro trét trấu lên gương mặt dân tộc?

Vì gì? Câu trả lời không thể xoay vào đâu được ngoài cái vì độc tài, độc đoán và bảo thủ. Vì độc tài, người ta tôn vinh tính độc đoán và để đảm bảo độc đoán, người ta hành xử bảo thủ. Bởi vì chỉ có bảo thủ mới đảm bảo được những yêu cầu của độc đoán và độc tài. Và để đảm bảo sự bảo thủ của mình được thông suốt, không bị lực cản, người ta buộc phải dùng đến hệ thống khát máu, gian xảo, bất chấp thủ đoạn. Hiện tại, để có hệ thống theo chiều dọc nhằm đảm bảo tính bảo thủ của chế độ cầm quyền để bảo vệ nền độc tài, người ta đã sử dụng lực lượng mang tính chất vừa nêu.

Và an ninh sân bay là một trong những nhóm tay chân, bộ hạ nhằm bảo vệ nền độc tài. Đặc biệt, an ninh sân bay có công việc tương đối phức tạp, vừa liên quan đến nghiệp vụ an ninh thuần túy lại vừa liên quan đến chức năng bảo vệ đảng, bảo vệ nền độc tài. Chính vì kiểu làm việc kiêm nhiệm, đôi khi phải chịu khổ nhục về thể diện trước con mắt quốc tế như vậy mà an ninh sân bay được ưu ái nhiều thứ. Trong đó có ưu ái để ăn cắp vặt, ưu ái để phá hoại.

Sự việc an ninh sân bay phá hoại hay ăn cắp không còn xa lạ gì trong con mắt hành khách quốc tế cũng như hành khách trong nước. Nó vẫn diễn ra ngày càng mạnh bạo hơn và ngang nhiên không coi ai ra gì. Bởi vì nó được bảo kê bởi một hệ thống quyền lực bên trên. Nhưng vì sao người ta lại chọn phương thức tồn tại nhục nhã như thế? Bởi suy cho cùng, bất kỳ phương tiện nào đi đến mục đích có tính chất gian manh đều cho thấy mục đích chẳng tốt đẹp của nó.

Trong trường hợp này, lực lượng công an cùng với hệ thống hành vi hết sức vô văn hóa, gian manh và giảo hoạt của họ đều là phương tiện nhằm bảo vệ chế độ. Và một khi phương tiện ưu tú cỡ đó thì chắc không mấy khó khăn đoán ra mục đích cũng như bản chất tồn tại của nó. Bởi chỉ có sự ngu dốt mới đảm bảo cho tính bảo thủ đi cạnh nó lâu dài. Và bao giờ còn bảo thủ, còn nhũng nhiễu, còn độc tài thì sự ngu dốt còn hiện hữu, còn hoành hành mảnh đất Việt Nam này.

Rất tiếc là câu chuyện ngu dốt và bảo thủ, độc đoán, độc tài vẫn là câu chuyện chưa bao giờ có hồi kết thúc trong chế độ công an trị tại Việt Nam hiện tại! Và một khi nó còn hiện hữu thì cơ hội để tiến bộ cũng như cơ hội làm giàu, góp tay xây dựng đất nước của mọi doanh nghiệp, cá nhân đều bị con mắt soi mói của nó chiếu cố. Đợi cho nó đồng thuận sau một chu kì soi mói để được tiến bộ, làm giàu, chắc người ta đã già đi hoặc người ta đã phá sản vì nó. Đó là cái giá của một công dân sống dưới bóng mây độc tài, bảo thủ!

Theo RFA

—————————/——–

Những luận điểm ngụy biện của Đảng CSVN cần phải bị loại bỏ trong tư duy người Việt hiện đại 

23-6-2015

Dương Hoài Linh

85 năm dưới chính thể độc tài toàn trị, Đảng CSVN đã áp đặt những tư duy mông muội lên tâm thức người Việt và những hệ lụy ấy đang kéo dài đến ngày nay. Chúng đã gián tiếp tạo ra nhiều thế hệ thụ động, bảo thủ và lạc hậu đối với những quy luật phát triển của thế giới văn minh loài người. Thiết nghĩ đã đến lúc cần hệ thống lại và loại bỏ các luận điểm này ra khỏi suy nghĩ của người Việt nhằm hướng tới những tư tưởng tiến bộ hơn trong tiến trình phát triển đất nước:

1/ YÊU NƯỚC LÀ PHẢI YÊU CNXH:

Đây là luận điểm phi lý nhất trong các luận điểm phi lý. Nước là của cha ông có bốn ngàn năm văn hiến. CNXH là cái quái thai được tha về. Tại sao phải đồng nhất hai khái niệm này? Chính nhận thức này đã tạo ra sự nhân nhượng cho kẻ cùng chung ý thức hệ Trung Quốc dẫn đến hệ quả là chủ quyền quốc gia đang càng ngày càng mất vào tay kẻ cướp láng giềng. Đã đến lúc bỏ cái CNXH vào thùng rác và cần phải nêu cao tư tưởng bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt “Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách trời…”

2/ TRUNG VỚI ĐẢNG:

Đảng phái là một tổ chức chính trị tự nguyện, có một hệ tư tưởng hay một đường lối nhất định, nhưng cũng có thể đại diện cho một liên minh giữa các lợi ích riêng rẽ. Đảng nắm quyền phải thông qua bầu cử tự do không áp đặt. Do đó bắt buộc hoặc cổ vũ “Trung với Đảng” là một điều khiên cưỡng. Đảng CSVN lại đang thực hiện mục tiêu định hướng XHCN, một mục tiêu mơ hồ ngay với chính lý luận của Đảng. Hơn nữa Đảng CS còn là một tổ chức không chính danh, ăn bám xã hội, độc tài và có trí tuệ thấp hơn mặt bằng dân trí của toàn xã hội. Vì vậy “Trung với Đảng” là tự sát tập thể.

3/ TỘI PHẢN CÁCH MẠNG XHCN:

Cách mạng là xóa bỏ cái cũ để thay thế bằng cái mới tiến bộ hơn. XHCN là cái lạc hậu, cái cần phải loại trừ do đó phản cách mạng XHCN không thể xem là một tội. Cần phải xem lại vai trò của những người dám phản cách mạng XHCN hiện nay vì đó mới là những người yêu nước thật sự. Không thể gán cho họ cái từ “phản động” một cách tùy tiện để phân biệt đối xử và tước bỏ tự do của họ.

4/ TỘI TUYÊN TRUYỀN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN:

Không thể có một “chính quyền nhân dân” trong một thể chế chính trị độc tài. Hai chữ “nhân dân” này đã bị tiếm danh. Khái niệm “nhân dân” chủ thể của quyền lực chỉ thực chất khi họ có khả năng bầu cử bằng lá phiếu và dùng lá phiếu để truất phế chính quyền. Khái niệm một nhà nước, một chính quyền hạn chế không phù hợp với nguyện vọng nhân dân đã có từ lâu trong lịch sử thế giới. Thay thế một chính quyền không còn phù hợp là một việc làm chính đáng. Do đó không thể có tội “Tuyên truyền lật đổ chính quyền nhân dân” mà chỉ có tội”Lợi dụng nhân dân để nắm quyền lực và làm tha hóa quyền lực”.

5/ TỘI ĐE DỌA AN NINH QUỐC GIA:

An ninh quốc gia là một khái niệm để chỉ sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ xã hội: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Để có an ninh quốc gia, một quốc gia cần phải có an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh môi trường,.. Do vậy đe dọa an ninh quốc gia thường rơi vào những kẻ nắm trong tay quyền lực. Đó là “tham nhũng,buôn bán ma túy, nhóm lợi ích,tập đoàn lợi ích đa quốc gia”, những kẻ ký kết bán rẻ chủ quyền, quyền lợi quốc gia thông qua những hiệp định bí mật. Không thể dùng khái niệm này để áp đặt tội danh lên những người bất đồng chính kiến, những người chủ trương đấu tranh bất bạo động để thay đổi một thể chế chính trị.

6/ ĐA ĐẢNG LÀ LOẠN:

 

Đa đảng là hệ thống chính trị mà ở đó có hai hoặc nhiều hơn các đảng phái có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau. Hệ thống đa đảng là thiết yếu trong một nền dân chủ vì nó ngăn ngừa sự lãnh đạo của một đảng duy nhất dẫn đến những chính sách không mang tính cạnh tranh. #danluan Đa đảng là hệ thống tốt nhất để kiểm soát quyền lực chống tham nhũng, chống lạm quyền.

Chính quyền Việt Nam lợi dụng sự mất ổn định tạm thời của một số nước đa đảng như Thái Lan, Campuchia, Trung Đông, Châu Phi… để bài xích đa đảng là không thuyết phục. Bởi các nước này đang ở giai đoạn”dân chủ khiếm khuyết”, các chỉ sơ dân chủ chưa cao. Thực tế trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ thì có đến 118 theo hệ thống đa đảng. Cụ thể như sau: Châu Á có 24, châu Âu có 40, châu Mỹ có 22, châu Phi có 24 và châu Đại Dương có 8. Hầu hết các quốc gia đa đảng đều có sự ổn định chính trị, tính cạnh tranh và minh bạch trong điều hành xã hội đều rất cao.

7/ NGUYÊN TẮC DÂN CHỦ TẬP TRUNG:

Đây là nguyên tắc căn bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo đó thì “Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung”. (Hồ Chí Minh toàn tập – Tập 5). Và: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Uỷ ban kháng chiến hành chính địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương.”

Đây là một quan điểm ngụy biện. Thực chất của”dân chủ tập trung” là một thể chế độc tài toàn trị theo kiểu Stalin. Bởi vì người dân không được đề cử người mình muốn bầu mà là do Đảng cử. Do đó cái gọi là Đại Biểu quốc Hội đều không phải là Đại biểu của nhân dân mà là một sự lẫn lộn, pha tạp, hổ lốn giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp giữa chính quyền và các thành phần có chức quyền, địa vị trong xã hội. Tất cả trộn lại tạo thành một tập thể “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

8/ TỰ DO PHẢI THEO LUẬT PHÁP:

Đó là một quan điểm đúng nhưng không đủ. Tự do phải theo luật pháp nhưng phải là thứ luật pháp độc lập, không vi hiến và tuân theo các nguyên tắc căn bản của một nhà nước pháp trị. Trong nhà nước pháp trị các quyền hiến định phải được tôn trọng và phải có một cơ quan bảo hiến. Sự thượng tôn pháp luật phải được đặt lên hàng đầu và tất cả mọi công dân đều bình đẳng như nhau.

Do đó tự do là phải tôn trọng các quyền con người được hiến pháp quy định rõ ràng. Chà đạp lên hiến pháp bằng các điều luật vi hiến là chà đạp lên tự do của con người.

9/ NHẬN DIỆN THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Đảng CSVN thường dùng cụm từ “thế lực thù địch” để chỉ những người Việt bất đồng chính kiến ở nước ngoài. Nếu định nghĩa “thế lực thù địch” với đất nước Việt Nam là những kẻ ăn tàn phá hoại, bán đứng chủ quyền, đất đai, tài nguyên quốc gia, làm băng hoại các giềng mối đạo đức, đạo lý dân tộc thì kẻ đó chính là Đảng CSVN chứ không phải ai khác. Do đó phải nhận diện “thế lực thù địch” với dân tộc Việt nam không ở nước ngoài mà ở chính ngay trong nước.

Trên đây là một số luận điểm được Đảng CSVN ngụy tạo nhằm lợi dụng sự cả tin, nhẹ dạ và thiếu hiểu biết về chính trị của người dân nhằm mục đích duy trì quyền lực lãnh đạo của một thể chế độc tài thối nát,đã mất hết vai trò và sứ mệnh lịch sử. Thế lực này càng tồn tại ngày nào nhân dân Việt nam càng đau khổ ngày đó. Thế nhưng với bản chất coi trọng quyền lực, cố bám giữ quyền lực bằng mọi giá Đảng CSVN sẽ không bao giờ từ bỏ chiếc ngai vàng của mình. Chúng sẽ bỏ qua các nguy cơ mất nước,thảm họa nô lệ của dân tộc, vô cảm với những bất công xã hội, sự khốn cùng của người dân. Tất cả sẽ bằng vào ngụy biện, dối trá và bạo lực bất chấp luật pháp để tồn tại. Thế nhưng sự thật đang phơi bày ngày càng rõ ràng trước mắt và người dân đang ngày càng tỉnh táo hơn. Và có lẻ chỉ có người dân Việt nam mới có thể cứu lấy tương lai của chính họ sau này.

.

Posted in Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Kinh Te | Leave a Comment »

► Hồ Chí Minh và pháp lệnh “Trừng trị các tội phản cách mạng”

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

Blog RFA

Nguyễn Thị Từ Huy

21-06-2015

Các điều luật 78, 79, 88, 258 của bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành đang được chính quyền sử dụng làm cơ sở pháp lý để, trong một số trường hợp, biến những người vô tội thành có tội; đó là trường hợp của những người yêu nước và những người đấu tranh cho dân chủ bị biến thành tội phạm.

Mục đích của tôi ở bài này không phải là nhằm chỉ ra sự vô lý hay tính chất phản dân chủ của các điều luật nêu trên đây. Mục đích của tôi ở đây là giới thiệu với quý độc giả văn bản pháp lý đầu tiên, cơ sở cho các điều luật ấy.

Văn bản đó là pháp lệnh « Trừng trị các tội phản cách mạng” do Hồ Chí Minh ký và ban hành tháng 11 năm 1967. Mặc dù pháp lệnh này do Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua, và do Trường Chinh ký trước khi trình lên chủ tịch nước, nhưng Hồ Chí Minh là người ký và ban hành trên toàn quốc, nên Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong văn bản.

Có thể tìm thấy văn bản này trên website của chính phủ. Tuy nhiên, văn bản trên website của chính phủ là văn bản của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Trường Chinh ký ngày 30/10/1967. Văn bản này được đệ trình lên Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và ban hành ngày 10/11/1967. Pháp lệnh này được công bố trên báo Nhân dân ngày 21/3/1968. Những thông tin này dẫn theo nguồn của Céline Marangé, trong cuốn “Le communisme vietnamien (1919-1991) ». Vì sao website của chính phủ đăng bản đệ trình của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, mà không đăng Pháp lệnh chính thức do Hồ Chí Minh ban hành ? Điều này có lẽ chỉ có Bộ Chính trị mới trả lời được.

 Văn bản của Hồ Chí Minh không còn hiệu lực, bởi nó đã được luật hóa bằng các điều luật trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, do Nông Đức Mạnh ký và ban hành năm 1999. Dĩ nhiên trước đó còn có những Bộ luật hình sự khác, nhưng chúng tôi không đề cập đến ở đây. Bộ luật hình sự 1999 là bộ luật hiện hành.

Ở đây tôi chỉ trích dẫn một số điều khoản tiêu biểu trong Pháp lệnh của Hồ Chí Minh, và đem so sánh với các điều khoản đã nêu ở trên, trong Bộ luật Hình sự.

 “Điều 1.

Tội phản cách mạng là tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phá hoại quốc phòng, phá hoại sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà. »

Nội dung điều 1 của Pháp lệnh Hồ Chí Minh về cơ bản được chuyển vào trong nội dung điều 78 của Bộ luật Hình sự 1999:

Điều 78. Tội phản bội Tổ quốc 

1. Công dân Việt Nam nào câu kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

Ngay ở điều 1 của Pháp lệnh, ta thấy rằng: để định nghĩa “tội phản cách mạng”, Hồ Chí Minh đã đồng nhất tội danh này với tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tuy nhiên không định nghĩa rõ như thế nào thì bị xem là « chống ».

Mặc nhiên, “cách mạng” ở đây phải được hiểu là “cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, vì sao có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc? Thời điểm này tôi chưa có câu trả lời. Thời điểm này tôi chưa hiểu được vì sao Hồ Chí Minh có thể đồng nhất cách mạng xã hội chủ nghĩa và Tổ quốc.

Vì sao đem một thứ chủ nghĩa ngoại lai về du nhập vào Việt Nam rồi đem nó đồng nhất với Tổ quốc? Và vì sao biến những người bày tỏ sự phản đối chủ nghĩa đó thành tội phạm chống lại Tổ quốc ? Tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu để có một câu trả lời khả dĩ.

 “Điều 4. Tội âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân

Kẻ nào thành lập hoặc tham gia tổ chức phản cách mạng nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, phá bỏ chế độ chính trị, kinh tế và xã hội đã được Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định thì bị xử phạt như sau:

a) Bọn chủ mưu, cầm đầu, xúi giục, bọn hoạt động đắc lực thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến tù chung thân hoặc bị xử tử hình;

b) Bọn tham gia thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì kẻ phạm tội bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. »

Điều 4 này chính là điều 79 trong Bộ luật Hình sự của Nông Đức Mạnh:

Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 

Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau:

1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

Dưới thời Hồ Chí Minh, chính quyền được gọi là “chính quyền dân chủ nhân dân”; đến thời Nông Đức Mạnh, “dân chủ” đã biến mất, chỉ còn là “chính quyền nhân dân” (dĩ nhiên chữ “nhân dân” được dùng với chức năng gì thì cần được làm sáng tỏ vào một dịp khác). Ngoài ra có thể thấy ngôn ngữ văn bản hành chính dưới thời Hồ Chí Minh mang tính khẩu ngữ, thiếu chuẩn mực của văn phong hành chính, ví dụ sử dụng từ “bọn”.

Điều 15. Tội tuyên truyền phản cách mạng

Kẻ nào vì mục đích phản cách mạng mà phạm tội như sau:

1. Tuyên truyền, cổ động chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, xuyên tạc chế độ xã hội chủ nghĩa;

2. Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý của địch; xuyên tạc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, phao đồn tin nhảm, gây hoang mang trong nhân dân;

3. Tuyên truyền cho chính sách nô dịch và cho văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc;

4. Viết, in, lưu hành, cất giấu sách, báo, phim, tranh, ảnh hoặc mọi tài liệu khác có nội dung và mục đích phản cách mạng;

thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm. »

Điều 15 này của Pháp lệnh, khi đi vào Bộ luật hình sự, đã trở thành điều 88:

Điều 88. Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;

b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân;

c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Ở đây có thể thấy: “Phản cách mạng” ở điều 15 Pháp lệnh của Hồ Chí Minh đã được cụ thể hóa thành “Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” ở điều 88 trong Bộ luật hình sự của Nông Đức Mạnh. Mặc dù thế, điều đó chẳng ảnh hưởng gì đến tinh thần chuyên chế của cả Pháp lệnh lẫn Bộ luật hình sự, chẳng ảnh hưởng gì đến bản chất của sự việc: dưới thời Hồ Chí Minh cũng như dưới thời Nông Đức Mạnh và cho đến hiện nay, luật pháp được sử dụng như một công cụ để bảo vệ chế độ, chứ không phải để bảo vệ con người.

Như vậy, pháp lệnh “Trừng trị tội phản cách mạng”, do Hồ Chí Minh ban hành hai năm trước khi ông mất, chính là nguồn gốc của mọi sự đàn áp mà những người yêu nước không theo cách của chính quyền và những người bất đồng chính kiến hiện nay đang phải gánh chịu, trong đó có tôi (những đe dọa đối với cá nhân tôi và những người khác vẫn tồn tại trên các website mang tên và chức danh những lãnh đạo đương nhiệm thuộc hàng cao cấp nhất).

Khi đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc có lẽ Hồ Chí Minh không hình dung được rằng, Việt Nam sẽ nhanh chóng đi tới một giai đoạn mà những người kế nhiệm của ông sẽ phải đối diện với nan đề của lịch sử: muốn bảo vệ chủ nghĩa xã hội thì không thể nào bảo vệ được Tổ quốc, hay nói cách khác là sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội sẽ đẩy quốc gia tới chỗ mất độc lập. Tuy nhiên, chính quyền đương nhiệm, bộ máy đảng, bộ máy nhà nước, bộ máy quốc hội, đang bộc lộ ý chí mạnh mẽ bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chế độ. Vì thế nhân dân không thể biết được số phận của Tổ quốc Việt Nam tới đây sẽ như thế nào. Trừ phi chính nhân dân tự thức tỉnh và tự giành cho mình quyền quyết định số phận của Tổ quốc.

Ngoài số phận mù mịt của Tổ quốc thì vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải trả lời : Vì sao Pháp lệnh này được ban hành năm 1967 ? Trong điều kiện cụ thể nào ? Vì sao phải đặt ra « tội phản cách mạng » ? Và vì sao phải đồng nhất tội phản cách mạng với tội phản bội Tổ quốc ? Vì sao đồng nhất chủ nghĩa xã hội với Tổ quốc?

Paris, 21/6/2015

anhbasam.WordPress.com

Posted in Luật Pháp | Leave a Comment »

►Cho thắng thầu, DN Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng ‘tiền tươi’

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

(VTC News) – TS Lê Đăng Doanh nói về con số lại quả khổng lồ bằng ‘tiền tươi’ của ‘bậc thầy đút lót’ Trung Quốc cho đối tác ở nhiều dự án thắng thầu. 

Vì sao các doanh nghiệp Việt Nam “thích chơi” với Trung Quốc, sẵn sàng phụ thuộc vào thị trường này trong khi đây là thị trường chứa đựng khá nhiều rủi ro?  
 
Chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh đã trả lời phỏng vấn VTC News xung quanh vấn đề này.
 

– Ông từng nói “Trung Quốc là bậc thầy của đút lót”. Vậy nghĩa là sẽ có những “bậc thầy nhận đút lót”? 

TS Lê Đăng Doanh
Đúng là tình trạng nhận đút lót của doanh nghiệp Trung Quốc rất phổ biến và nghiêm trọng. 
 
Việc Trung Quốc xuất lậu vào Việt Nam trên 5,2 tỷ USD, tương đương 130.000 tỷ hàng hóa qua biên giới và Việt Nam xuất lậu 5,3 tỷ USD sang Trung Quốc theo số liệu của Hải Quan Trung Quốc công bố thực sự rất nghiêm trọng. 
 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng. 
 
Việc thắng thầu cũng vậy, nguồn tin am hiểu nội bộ giấu tên cho biết Trung Quốc sẵn sàng lại quả tối thiểu 30% bằng “tiền tươi”. 
 
Việc cho thuê rừng, đất rừng 50 năm trên diện tích rất lớn tại những vị trí chiến lược cũng có quá nhiều sự mờ ám. 
 
 
 
Người ta đã nói đến phối hợp giữa các nhóm lợi ích ở hai bên biên giới, vì nếu không, khối lượng lớn hàng hóa như vậy làm sao qua mắt được các cơ quan chức năng.
 

Nhiều đài địa phương đua nhau chiếu phim Trung Quốc để nhà đài được Trung Quốc mời đi “nghiên cứu” cũng cần phải được xem xét.

 
– Như vậy rõ ràng có vấn đề lợi ích nhóm chi phối trong mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc?
 

Đúng là như thế.Rõ ràng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.

 
Vì vậy, muốn giảm sự phụ thuộc vô lý, rất có hại cho lợi ích quốc gia vào Trung Quốc thì phải cải cách thể chế của nước ta. 
 
Vừa qua, Chính phủ họp có thể thấy các tỉnh phía Nam rất bức xúc trước tình trạng phụ thuộc nguy hiểm này nhưng các tỉnh biên giới lại rất nhẹ nhàng cho ta thấy tính phức tạp của tình hình và không dễ khắc phục.
 
– “Đừng than phiền vì là hàng xóm của Trung Quốc, mà phải biết tận dụng lợi thế đó để tự chủ hơn trong kinh tế”, là vấn đề được ông nêu ra tại hội thảo mới đây. Theo ông, để tận dụng lợi thế đó, Việt Nam phải làm gì?
 
Trên thế giới có Phần Lan bên cạnh nước Nga, Canada bên cạnh nước Mỹ, các nước đó chịu nhiều sức ép, rất bất bình trước cách ứng xử áp đặt, thậm chí bắt nạt của nước lớn láng giềng nhưng họ có đối sách tốt và tận dụng vị trí đó để đi lên. 
 
Đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, một trong những dự án lớn của nước ta mà doanh nghiệp Trung Quốc thắng thầu   (Ảnh: Thế Kha)
Họ có chính sách kinh tế, cơ cấu kinh tế khác và bổ sung cho kinh tế nước lớn láng giềng, họ thoát hẳn khỏi tư duy chính sách của nước láng giềng. Sản phẩm của Phần Lan hoàn toàn khác Nga, hệ thống ngân hàng Canada có hiệu quả và ít bị khủng hoảng hơn Mỹ. 
 
Việt Nam cần học tập các nước đó để tận dụng được lợi thế gần Trung Quốc mà không bị phụ thuộc vào Trung Quốc. 
 
 
 
Vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, một số người đã tự nguyện phụ thuộc vào Trung Quốc.
 

Chúng ta phải có tư duy chính sách độc lập với Trung Quốc, lợi dụng các nước bạn ủng hộ ta, phát triển kinh tế bổ sung cho kinh tế Trung Quốc, làm cho kinh tế Trung Quốc cần ta chứ không lợi dụng và bắt nạt ta. 

 

Muốn thế phải có bộ máy trong sạch, không bị Trung Quốc mua chuộc hay bắt bí được.Bộ máy phải hiểu Trung Quốc để phát hiện ra mặt yếu của họ để làm khác đi.

Chúng ta phải học tiếng Hoa, nghiên cứu sâu sắc về Trung Quốc để không bị họ lừa, họ cho ta vào bẫy của họ.

 
– Đặt giả dụ Trung Quốc đột nhiên đóng hàng loạt cửa khẩu với Việt Nam như thông tin mà Bộ NN&PTNN đưa ra tuần trước, điều gì sẽ xảy ra với Việt Nam, thưa ông?
 
Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo, luôn sẵn sàng nuốt lời hứa, xé hiệp định cam kết họ vừa ký, cho nên, cần đề phòng tình huống xấu nhất là rất cần thiết. 
 

Ngay bây giờ Việt Nam cần đa dạng hóa thị trường xuất-nhập khẩu, nếu vẫn phải tạm thời tiếp tục nhập từ Trung Quốc thì phải tìm cách nhập những linh kiện cần thiết qua một nước thứ ba.Ngành dệt may, da giày phải có ngay phương án để khỏi bị động.

Cần xây dựng những chuỗi giá trị, bán hàng giao sau để có thị trường ổn định cho nông sản.

 

vtc.vn/dn-trung-quoc-san-sang-lai-qua-toi-thieu-30-bang-tien-tuoi.1.495426.htm#sthash.6M2G0x4d.dpuf

 

BỘ TRƯỞNG THĂNG MUỐN ‘TRẢM’ NHÀ THẦU TRUNG QUỐC YẾU KÉM NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC

Việc nhà thầu TQ rất yếu kém, tôi đã nhiều lần muốn thay họ nhưng không thể thay được, bởi đó là điều kiện trong Hiệp định ký kết… – Bộ trưởng Thăng nói.

Bộ trưởng Thăng không thể trảm các nhà thầu Trung Quốc đang thi công dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, dù rất muốn. ảnh Văn Duẩn

 

Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã phân trần như vậy trong buổi gặp gỡ báo chí ngày 9-6 tại Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) về những vấn đề liên quan đến dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông.

Tại cuộc gặp gỡ này, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã lí giải vì sao Việt Nam phải mua 13 đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông mà không phải là của các nước khác, đồng thời tại sao lại không thể “đuổi” nhà thầu Trung Quốc yếu kém về năng lực.

Theo Tư lệnh ngành giao thông, việc mua các đoàn tàu của Trung Quốc cho dự án này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhân dân cũng như các cơ quan truyền thông.

“Vì mua đoàn tàu của Trung Quốc mà tôi đã nhận được rất nhiều tin nhắn, đe dọa có, khuyên giải cũng có mà đề nghị cũng có. Thâm chí có người còn bảo: ông Thăng ơi, ông đừng mua các đoàn tàu của Trung Quốc. Tại sao lại mua, ông có vấn đề gì với với Trung Quốc không” – Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết.

“Dự án được thực hiện theo Hiệp định được ký giữa Chính phủ 2 nước Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2008”- Bộ trưởng Thăng nói.

Theo Hiệp định này, phía Trung Quốc tài trợ vốn. Các nhà thầu thi công, giám sát, cung cấp thiết bị cũng là của Trung Quốc. Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết đây là các điều kiện trong Hiệp định đã được ký giữa hai Chính phủ, là việc rất khó khăn nên không thể muốn thay đổi là có thể thay đổi được.

  “Ngay cả các nhà thầu Trung Quốc thi công dự án này rất yếu kém, tôi đã rất nhiều lần muốn thay các nhà thầu nhưng cũng không thể thay được, bởi tất cả các điều kiện họ đều đưa vào trong Hiệp định”- Bộ trưởng Đinh La Thăng nói.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Thăng cũng chia sẻ: Thực ra cũng không chỉ riêng đối với Trung Quốc, các dự án ODA của Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác cũng đều phải thực hiện theo nguyên tắc: Nhà tài trợ vốn thì đồng thời họ được đưa các nhà thầu tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công, cung cấp vật liệu thiết bị chủ yếu cũng phải là nhà thầu của các nước tài trợ vốn. “Điều này là rất khó khăn”- ông Thăng bày tỏ.

Trước đó, Ban quản lý dự án Đường sắt trình Bộ Giao thông vận tải 6 phương án thiết kế đoàn tàu cho tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của Hà Nội – tuyến Cát Linh – Hà Đông. Ban quản lý sẽ mua 13 đoàn tàu loại B1 của Trung Quốc với cấu hình mỗi đoàn tàu gồm 4 toa xe, thân tàu sử dụng vật liệu thép không gỉ. Nhà sản xuất đoàn tàu là Công ty Trách nhiệm hữu hạn trang thiết bị tàu điện ngầm Bắc Kinh (Beijing Rolling Stock Equipment Co., Ltd). Tổng chi phí mua tàu cho tuyến Cát Linh – Hà Đông là hơn 63,2 triệu USD. Mỗi đoàn tàu có 4 toa xe, thân làm bằng thép không gỉ. Trong đó, chi phí sản xuất đoàn tàu (giá thành, bảo hiểm và cước tại cảng Hải Phòng) là 59,2 triệu USD. Chi phí bảo hiểm, vận chuyển tài sản về tới chân công trình tạm tính là 4 triệu USD.

Dự án Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt (Trung Quốc) làm tổng thầu EPC. Dự án gồm 12 nhà ga trên cao, tổng chiều dài 13 km khổ 1.435 mm, tốc độ đoàn tàu 80 km/giờ, sử dụng vốn ODA Trung Quốc và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Dự án trang bị 13 đoàn tàu, mỗi tàu có 4 toa xe, công suất khoảng 1.200 người, tần suất chạy 2 phút/chuyến. Toàn tuyến đường sắt đi trên cao và chủ yếu chạy trên dải phân cách giữa 2 làn đường bộ thuộc trục đường Hào Nam và Nguyễn Trãi; điểm khởi đầu là ga Cát Linh (quận Đống Đa), kết thúc tại ga Yên Nghĩa (quận Hà Đông), gồm 12 ga đón/tiễn khách và khu depo (trung tâm điều hành tuyến).

Dự án được chính thức phát lệnh khởi công từ ngày 10-10-2011 và dự kiến sẽ hoàn thành cuối năm 2014 để đưa vào khai thác sử dụng từ quý II/2015. Sau hàng loạt lý do dẫn đến sự chậm trễ, dự án được chuyển sang cuối năm 2015 mới xong và đưa vào chạy thử vào đầu năm 2016. Ngoài chậm tiến độ, sau 5 năm thi công, tổng mức đầu tư dự án này đã phải điều chỉnh từ 552 triệu USD lên 868 triệu USD, tăng 316 triệu USD so với ban đầu.

Dự kiến, Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông sẽ hoàn thành và đưa vào khai thác thương mại vào cuối năm 2015. Tuy nhiên, do thực tế có rất nhiều khó khăn từ năng lực nhà thầu nên Bộ GTVT cũng đặt ra khả năng đến quý I-2016 dự án mới có thể kết thúc.

Văn Duẩn

Theo nld.com.vn

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Sở tư pháp đang chỉ đạo Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

LS Võ An Đôn

22-6-2015

Theo Fb LS Võ An Đôn

Ông Nguyễn Thái Học – Trưởng ban nội chính Tỉnh ủy Phú Yên, nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi với hình thức nặng và sau đó sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi. 

 

Ban nội chính Tỉnh ủy là cơ quan Đảng, thuộc một trong năm ban của Đảng (Ban tổ chức, Ban kiểm tra, Ban tuyên giáo, Ban dân vận, Ban nội chính), có chức năng tham mưu cho Thường trực Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác nội chính. Ban nội chính phụ trách lãnh đạo các cơ quan nội chính gồm: Quân sự, Biên phòng, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Tư pháp, Kiểm lâm. 

Theo quy định của pháp luật và điều lệ Đảng thì Ban nội chính Tỉnh ủy không có quyền can thiệp vào công việc của Đoàn luật sư, vì Đoàn luật sư là một tổ chức xã hội nghề nghiệp độc lập, kinh phí hoạt động do các thành viên luật sư tự đóng góp, hoạt g theo luật doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Thái Học thừa biết điều này, nhưng vì quá cay cú trước thất bại nặng nề trong việc chỉ đạo Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử nhẹ và cho các bị cáo trong vụ án “Năm công an đánh chết dân” được hưởng án treo, gây ra sự phẩn nộ của dư luận cả nước. Thất bại này không biết đổ cho ai, nên ông Nguyễn Thái Học đã quyết liệt chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi.
Vì sợ báo chí và dư luận biết, nên việc chỉ đạo này của ông Nguyễn Thái Học hết sức bí mật, chỉ có lãnh đạo các Cơ quan nội chính, lãnh đạo Sở tư pháp và Chủ nhiệm Đoàn luật sư biết, nên việc thu thập bằng chứng cụ thể cho từng lần chỉ đạo là hết sức khó khăn. Hơn nữa, Ông này rất ranh ma, nếu chỉ đạo việc gì đúng pháp luật thì ra văn bản đóng dấu, ký tên đàng hoàng; còn việc gì thấy không đúng pháp luật thì chỉ đạo bằng miệng, nếu cấp dưới không làm theo thì khó mà sống nổi, còn nếu nghe theo thì khi xảy ra sự việc gây hậu quả xấu thì người ghe đó chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Việc ông Nguyễn Thái Học nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi là chỉ đạo bằng miệng, không có bất kỳ một văn bản giấy tờ nào nhưng Sở tư pháp vẫn tuân lệnh làm theo, còn Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên nhiều lần yêu cầu Ban nội chính ra văn bản chỉ đạo kỷ luật tôi để làm cơ sở giải quyết thì ông Nguyễn Thái Học không dám ra. Do đó, đến nay Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên vẫn chưa kỷ luật tôi vì biết việc làm này là sai trái, nếu xảy ra hậu quả không tốt thì Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm, chứ ông Nguyễn Thái Học đâu có chịu trách nhiệm gì đâu.

Rất may mắn là tối hôm qua, có một anh cán bộ đang làm việc tại Sở tư pháp tỉnh Phú Yên cung cấp cho tôi Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung ông Nguyễn Công Danh – Giám đốc Sở tư pháp tỉnh Phú Yên nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện. 

Ngoài công văn nêu trên, tôi còn giữ một file nghi âm rất quý giá do một người quen đang làm việc ở Tỉnh ủy Phú Yên cung cấp, nội dung file ghi âm này ghi âm “Cuộc họp giao ban nội chính” thành phần dự họp gồm có ông Nguyễn Thái Học, lãnh đạo các cơ quan nội chính, chỉ đạo kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi (File ghi âm này tôi sẽ công bố cho công luận biết vào “Phút cuối”).
“Ông trời con” này là một trong hai người quyền lực nhất tỉnh Phú Yên hiện nay, có quyền chỉ đạo Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Quân sự, Biên phòng, Kiểm lâm, Thanh tra, Tư pháp làm theo lệnh của mình nên nghe danh Ông này ai cũng phải khiếp sợ. Không biết là qua sự kiện này, tôi có còn sống để tiếp tục bào chữa miễn phí cho dân nghèo và người cô thân yếu thế trong xã hội hay không.
Từ giây phút này, tính mạng của tôi còn hay mất là do cộng đồng mạng và dư luận xã hội quyết định, chứ tôi không còn biết trông chờ vào ai. Mong cộng đồng mạng hãy bảo vệ tôi và bảo vệ công lý của xã hội.
LS Võ An Đôn

Dưới đây là Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung: Sở tư pháp nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp | Leave a Comment »

► Vuột mất đơn hàng 2 tỉ USD rất vô lý!

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2015

 

Lê Thanh Phong,

22-6-2015

 

Doanh nghiệp Việt mất hợp đồng 2 tỉ USD 7may quân trang cho quân đội Mỹ. Hay tin này ai cũng thấy tiếc đứt ruột, 2 tỉ USD quá lớn, nhưng lại để vuột mất. Nhiều người cứ tưởng như DN may Việt Nam yếu kém, không đáp ứng yêu cầu chất lượng của đối tác nên hỏng ăn. Ai ngờ, chuyện hỏng ăn lại không vì doanh nghiệp bất tài, mà vì bất lực trước cơ chế.

Hiểu ra chuyện càng thấy đứt ruột, mà còn tức anh ách nữa, bởi vì một số DN dệt may trong nước được chào hàng gồm quần áo, cờ, giày dép, quân trang cho quân đội Mỹ, đã thỏa thuận xong nhưng hàng mẫu về lại bị ách ở hải quan vì là hàng cấm nhập theo quy định của Bộ Quốc phòng. DN xoay chạy cho xong thủ tục thì đã muộn, đối tác không thể ngồi chờ cơ chế của VN.

Quy định của Bộ Quốc phòng là căn cứ vào Quyết định số 80/2006/QĐ-BQP ngày 9.5.2006, cấm nhập khẩu mặt hàng quân trang, quân dụng. Hàng mẫu của đối tác gửi vào cho các DN sản xuất bị xem là hàng quân trang nhập khẩu, thế là bị ách.

Không hiểu tại sao các cơ quan chức năng lại áp dụng quy định máy móc đến mức vô lý như vậy. Ở đây không phải là nhập khẩu quân trang, quân dụng, mà nhận hàng mẫu để sản xuất theo đơn hàng. Các DN dệt may có quyền tìm kiếm đối tác nước ngoài, đấu thầu gia công hàng hóa. Quân trang, quân dụng của quân đội các nước đặt may cũng giống như các loại sản phẩm may mặc khác, cần linh động để DN làm ăn. Chỉ vì áp dụng quy định máy móc, đã khiến cho một số DN mất cơ hội vàng.

2 tỉ USD hợp đồng sẽ tạo ra nhiều việc làm cho NLĐ ngành dệt may, kéo theo các ngành nghề kinh doanh khác như vận tải, sản xuất nguyên phụ liệu. Với đơn hàng “khủng” này, DN có lãi, đóng thuế cho Nhà nước. Nhìn xa hơn, khi DN dệt may VN thực hiện tốt các hợp đồng cho quân đội Mỹ, họ sẽ có uy tín thương hiệu để tiếp tục nhận các hợp đồng may quân trang tiếp theo, không chỉ riêng của Mỹ mà còn nhiều nước khác như Australia, Romania, Italia…

Các hợp đồng may quân trang cho lực lượng vũ trang thường rất lớn, các DN dệt may xem đó là thị trường béo bở cần nỗ lực cạnh tranh. Thế nhưng, họ đã thất bại hoặc mất ưu thế chỉ vì hàng rào do chính nước mình đặt ra.

Chúng ta nói quá nhiều đến việc tạo điều kiện thuận lợi, tháo bỏ các rào cản cho DN phát triển, xây dựng các chính sách thông minh cho DN hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhưng trên thực tế còn tồn tại quá nhiều những điều ngược lại.

Chuyện các hợp đồng may quân trang cho quân đội Mỹ bị vuột mất chỉ là một ví dụ.

laodong.com.vn/su-kien-binh-luan/vuot-mat-don-hang-2-ti-usd-rat-vo-ly-344241.bld

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

► Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

Posted by hoangtran204 trên 18/06/2015

BBC

Đức Hồng – Gửi tới BBC từ Tp HCM

17-06-2015

Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

Bức ảnh 'Em bé Napalm' được báo chí dùng nhiều trong Cuộc chiến Việt Nam

Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải.

Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.

Nguồn gốc của bức ảnh

Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.

Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?

Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.

Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?

H1

Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế.

Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.

Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.

Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?

Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.

Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”.

Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn?

Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.

Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?

 Nhiếp ảnh gia Nick Út tại cuộc triễn lãm ảnh Chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội vào tuần trước

Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.

Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.

Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?

Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?

Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ.

Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.

Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.

Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì? Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại.

Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.

Nhà cầm quyền Việt Nam – phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.

Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »