Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy, 2009

Phạm Chi Lan – vs Hồ Cẩm Tỏa (Trung Quốc)

Posted by hoangtran204 on 03/07/2009

Tuyên chiến với cuộc tấn công của hàng ngoại

chất lượng thấp

17/06/2009
Xem hình

Dù tất cả đã có nhưng lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra thị trường, nói chính xác hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến ngăn chặn hàng giá rẻ, chất lượng thấp; vào thị trường Việt Nam cũng sẽ bị thủng…”- TS. Nguyễn Minh Phong nói.

Người bán vé chợ

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa TS. Nguyễn Minh Phong, có một bạn đọc nhận xét rằng, hiện nay khi thị trường thế giới là một đại siêu thị thì thị trường của chúng ta giống như một cái chợ tạm, chợ cóc. Nhà nước, các nhà hoạch định chính sách giống như người quản lý chợ, chỉ thu vé vào thôi chứ chưa rốt ráo hoạch định cái chợ đó cho đúng tầm thời thế. Ông có ý kiến gì về nhận xét này. Liệu đây có phải là một ý kiến quá cực đoan, quá cay nghiệt hay đây là một sự thật chúng ta cần đối mặt?

TS. Nguyễn Minh Phong. Ảnh: Chí Cường

Nguyễn Minh Phong: Nếu so sánh ở một góc độ nào đó chuyên biệt, hơi hẹp thì tôi hoàn toàn đồng tình với ý kiến đó.

Đúng là ở một góc độ nào đó, Nhà nước chưa làm hết vai trò, tư cách của một ông cầm trịch. Bàn tay Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vẫn chỉ là khoanh vùng rồi bán vé, còn những khâu thiết kế, tổ chức, kỹ thuật, chế tài, quy định, kể cả những hỗ trợ cần thiết cho mục tiêu của mình dường như chưa được đặt ra đầy đủ.

Nhân đây, tôi muốn phát triển thêm ý của chị Chi Lan khi nói rằng: thương hiệu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Trước hết, nó phụ thuộc vào tầm quốc gia, trình độ phát triển kinh tế – xã hội, trình độ công nghệ của quốc gia. Tiếp đến, nó phụ thuộc vào chất lượng và mẫu mã cụ thể của sản phẩm, trong đó chất lượng nhiều khi rất đơn giản.

Để trả lời câu hỏi của độc giả, tôi cho rằng Nhà nước cần phải xác định lại vai trò, vị trí của mình đối với nền kinh tế thị trường, xác định bàn tay của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường nên như thế nào, đúng mực hơn, thay vì làm một ông bán vé chợ.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Tuy nhiên không phải cứ nói làm hàng hoá chất lượng cao là sẽ làm được ngay. Tôi cho rằng, sẽ cần phải có rất nhiều điều kiện, như ý chí, chính sách, trách nhiệm xã hội, vai trò Nhà nước, vai trò doanh nghiệp, tâm lý xã hội tiêu dùng….?

TS. Nguyễn Minh Phong: Chính xác. Nhưng chúng ta cần có một tư duy mới về cách làm thương hiệu. Thương hiệu Việt Nam được định hình qua một chiếc ôtô hay máy bay là không thể có được, giai đoạn đó đã vĩnh viễn qua rồi.

Chị Chi Lan nói rất đúng về quy mô thị trường, hãy bán một cái đinh ốc cho toàn thế giới thay vì bán cả cái máy ảnh chỉ ở một vài xã phường nào đấy.

Giờ đây, thay vì làm thương hiệu cho cả một sản phẩm hoàn chỉnh, chúng ta nên chấp nhận làm thương hiệu cho một chi tiết trong cả tổng thể.

Không nên dại dột đuổi theo một thương hiệu lớn có thể bị phá sản dễ dàng mà nên sản xuất những chi tiết nhỏ bất kỳ ở đâu cũng có thể dùng, với chất lượng tốt. Chỉ khi những gì chúng ta làm chủ được, trọn gói là của mình thì nên lấy đó làm một thương hiệu.

Tiếp đến, để xây dựng và quảng bá thương hiệu, tôi đồng ý với chị Lan, là phải có vai trò của hiệp hội chứ không phải của Nhà nước và càng không phải của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thay vì cơ cấu như một bàn tay nhà nước nối dài, hiệp hội phải mang đúng nghĩa NGO của nó, có tầm quốc tế và thực sự vì lợi ích của doanh nghiệp. Nếu như vậy chúng ta mới có thể thay đổi hẳn về mặt thương hiệu.

Chất lượng công quyền

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Không rõ có chính xác hay không, nhưng tôi cảm giác Nhà nước mình như một ông chủ đội bóng, bỏ tiền ra mua đội bóng đó, đầu tư cho đội bóng nhưng lại giữ chân huấn luyện viên. Theo tôi hiểu, huấn luyện viên là một chuyên môn khác, đẳng cấp khác, còn việc của người quản lý đương nhiên là một công việc khác hoàn toàn.

Xin được quay trở lại câu chuyện còn đang dở, chúng ta vừa nói đến hàng may mặc Trung Quốc, nhưng giờ chúng ta phải nói đến tất cả các hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc, bởi có những thứ kém chất lượng, độc hại mà cơ quan kiểm định đã công bố, và thế giới cũng đều biết, đang có mặt nhan nhản ở thị trường Việt Nam.

Rõ ràng, chúng ta có những phòng tuyến chặn cửa như hải quan, các cơ quan kiểm thị trường, kiểm dịch, công an, quân đội và cả thuế vụ nữa… nhưng tại sao hàng ngoại chất lượng thấp lưu hành trên thị trường tiêu dùng vẫn không hề giảm đi, thậm chí có phần ồ ạt tiến vào vào thị trường Việt Nam. Liệu có hay không phòng tuyến nào của bị hổng, hay tất cả đều bị hổng, thưa TS. Nguyễn Minh Phong?

TS. Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng có 3 điểm cần lưu ý. Thứ nhất, chúng ta phải học tập Nhật và Trung Quốc, nghĩa là hàng tốt của Việt Nam phải bán cho người Việt Nam, chứ không phải hàng tốt thì mang hết ra nước ngoài, còn hàng bán ở Việt Nam toàn hàng xấu, tự nhiên người tiêu dùng trong nước bị ấn tượng hàng Việt Nam là hàng xấu.

Thứ hai, những chế tài và những quy định pháp lý, đặc biệt là những chế tài quy định liên quan đến hàng rào kỹ thuật cần phải được tăng cường hơn. Lâu nay, chúng ta sử dụng nặng công cụ thuế, còn công cụ hàng rào kỹ thuật lại xem rất nhẹ, thậm chí còn không biết làm như thế nào vì tiêu chuẩn chưa định hình, cái đã định hình thường thấp hơn rất nhiều so với thế giới. Do vậy, những hàng rào kỹ thuật, những tiêu chuẩn hoá về kỹ thuật cần sớm được quốc tế hoá, được xác lập và triển khai trên thực tế một cách hiệu quả.

Thứ ba, rất quan trọng. Dù tất cả những tiêu chuẩn đó đã có nhưng nếu lực lượng hải quan, lực lượng kiểm tra, hay nói gọn hơn là con người mà bị thủng thì phòng tuyến đương nhiên sẽ bị thủng… Cái thủng của con người là cái thủng lớn nhất. Chúng ta đã có rất nhiều bài học như vụ án hàng lậu Tân Thanh. Một khi quan chức liên tỉnh bắt tay dằng dây sẽ vô hiệu hóa tất cả những hàng rào kĩ thuật khác.

Bà Phạm Chi Lan. Ảnh: Chí Cường

Bà Phạm Chi Lan: Về lỗ thủng chất lượng đội ngũ tôi đồng ý với anh Phong. Nhưng chúng ta nhìn nó rộng ra hơn một chút là cơ chế có thể tạo nên những con người như vậy, muốn có đội ngũ công chức thật tốt như chúng ta mong muốn thì phải có hệ thống cơ chế trong đó bao gồm cả thể chế cả chính sách, cả tiêu chuẩn cán bộ như thế nào, cách để chọn vào ra như thế nào, tất cả đều phải nghiêm chứ đừng chỉ đứng hô hào chung chung.

Bản thân Nhà nước phải rất nghiêm với chính mình về hàng rào kĩ thuật này, đã đặt ra phải xử lí, chỗ nào chưa có phải làm. Không phải bây giờ khi cả xã hội kêu lên là hàng chất lượng thấp thì Bộ nọ, Bộ kia lại chưa có căn cứ, chưa có tiêu chuẩn để kết luận đó là xấu, ngăn chặn không cho họ vào hoặc phản ứng lại với họ. Đó là cách trả lời vô cùng thiếu trách nhiệm. Lỗ thủng về trách nhiệm ở đây cũng là rất lớn, chứ không phải chỉ là vấn đề về tư cách con người hay về tham nhũng không thôi.

Tôi không đồng tình với anh Phong ở chỗ anh cho rằng, nên làm hàng tốt bán trong nước. Thực ra vấn đề chính không chỉ là hàng tốt, bán ở trong nước. Nếu nói như vậy thì cơ hội xuất khẩu của chúng ta sẽ khó. Vấn đề là các doanh nghiệp Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam phải nỗ lực hết sức để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình.

Chấm dứt đi cái thời cạnh tranh bằng giá cả là chính. Giá rẻ của chúng ta lại chính là giá rẻ của những giọt mồ hôi của người công nhân, giá rẻ của tài nguyên thiên nhiên đem bán mà không tạo nên giá trị gia tăng gì cả. Chấm dứt thời kì đó bằng cách đầu tư vào công nghệ, đầu tư vào nguồn nhân lực, nâng cao tay nghề, tạo dựng thiết chế tốt, môi trường kinh doanh lành mạnh để làm sao nâng cấp được sản phẩm, cũng như chất lượng kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam lên.

Một khi chất lượng thể chế của Việt Nam khôi phục. Lúc đó chúng ta sẽ có nền kinh tế cạnh tranh hơn, và khả năng cạnh tranh của chúng ta trong nước cũng như nước ngoài nâng lên. Đó là cách phòng thủ tốt nhất để chống lại sự lấn át bên ngoài bằng cách nâng lên sức mạnh của chính mình.

Chiến lược thực tế

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan, tôi đã từng nghe một số nhà nghiên cứu nói rằng Trung Quốc đã có một hồ sơ kĩ lưỡng về chiến lược hàng Trung Quốc đối với Việt Nam. Nghĩa là Trung Quốc có những chiến lược cụ thể, có đường lối rõ ràng cho từng khu vực, từng nước, từng mọi mặt hàng, từng mọi vấn đề của họ. Chính vì thế họ tạo sự đồng nhất trên toàn cầu. Người Trung Quốc ở Mỹ, China town ở Austraylia hay China town ở Pakistan rất bé nhỏ.

Vậy thưa bà chúng ta đã có một bộ hồ sơ cho nền kinh tế chúng ta, cho ngành nghề nào đó chưa với một khu vực hay với từng giai đoạn như vậy của chúng ta chưa hay ta vẫn chỉ là một sự ngẫu hứng, một sự chuyển động rời rã của chân con rết?

Bà Phạm Chi Lan: Đó là điều rất đáng tiếc về phía chúng ta. Việc làm sao chống được sự xâm lấn của hàng bên ngoài thì yếu tố quan trọng hàng đầu vẫn là sức mạnh của chính mình.

Ngoài những yếu tố về chất lượng, điều anh Thiều nêu ra hoàn toàn chính xác, phải là một tính hệ thống, mang tính chất chiến lược và làm sao thu hút được tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt trong nước hay ở nước ngoài, cùng nhau đồng tâm nhất chí với một chiến lược đó, theo một hướng đó để chiến đấu cho sự nghiệp phát triển của đất nước này, của dân tộc Việt Nam. Nếu tính về các sản phẩm, hoặc chiến lược phát triển cụ thể thì thực tình tôi thấy vẫn thiếu vắng.

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cho giai đoạn từ 2001 đến 2010, có đưa ra một số ý tưởng đối với một số ngành mà nhà nước coi là có tầm quan trọng, chiến lược phải được đặt vào trong chiến lược chung đó để phát triển. Nhưng còn cụ thể đối với các ngành thông thường chúng ta vẫn thiếu các chiến lược và ngay cả khi có chiến lược thì vẫn rất thiếu tính cụ thể cần thiết, thiếu những công cụ, biện pháp đi cùng để có thể thực hiện được.

Ví dụ, có thời chúng ta thiết kế chiến lược của ngành ô tô với tham vọng Việt Nam sẽ cung cấp được 60% ô tô và yêu cầu một khoản bố trí ngân sách. Khi nhìn vào chiến lược đó, ngay từ đầu tôi có cảm giác ngay đây là của một số doanh nghiệp đại gia với mục tiêu quan tâm chỉ nhắm vào con số bao nhiêu nghìn tỉ ngân sách hơn là cái nhìn đúng mức liệu Việt Nam có được vị thế trong ngành ô tô thế giới không. Đó là ví dụ điển hình, có rất nhiều chiến lược ngành của chúng ta cũng vậy.

Ngay như chiến lược tăng tốc của ngành dệt may cũng vậy. Bản thân chiến lược đó vẫn chỉ là một số tư tưởng, định hướng. Ngay cả con số 4 tỉ nêu lên cũng đâu phải con số Nhà nước đầu tư vào mà chỉ nói là để thực hiện chiến lược này thì cần bao nhiêu. Chi tiết cho 4 tỉ đó là cái gì để đạt được từng chuẩn mực như thế nào thì chúng ta không có.

Theo tôi, đã là chiến lược phát triển phải rất cụ thể và rất tường tận. Đi cùng hàng loạt các công cụ về chính sách, những nhân tố vật chất về nguồn lực về con người để thực hiện, chứ không phải cứ vẽ ra cho vui, lấy oai cho ngành này ngành khác.

Bệnh thành tích

Thành tích là bề nổi của cơ chế chúng ta đang sử dụng. Ảnh: Chí Cường


Nhà báo Nguyễn Quang Thiều:
Những điều mà bà Phạm Chi Lan nói về chiến lược xuất khẩu ô tô, hoặc chúng ta sản xuất máy bay đã được thực tế chứng minh về tính khả thi. Dự án ô tô Mê kông là một sự thất bại to lớn. Lịch sử đã chứng minh người Việt rất cần cù, rất chịu khó, sáng tạo, khéo tay, quả cảm…, nhưng đôi khi chúng ta cũng rất ảo tưởng..

Nhớ hồi còn học ở Cuba, tôi có quen với 1 người là Phó tổng giám đôc Công ty xuất nhập khẩu Tobaco (Cuba). Ông ấy nói:: “Chúng tôi không cần gì khác, không cần ô tô, không cần tàu thủy.. chỉ cần Tobaco nổi tiếng nhất thế giới là chúng tôi đã chiến thắng.

Với chúng ta, tôi nghĩ rằng chúng ta đang hão huyền sinh ra bệnh thành tích. Ngày xưa ông cha ta căn cơ, chính xác, gọn ghẽ đâu ra đấy. Nhưng chủ nghĩa thành tích đã sinh ra sự hão huyền, chạy theo thành tích sẽ thế này thế kia… chúng ta phải rời bỏ điều đó, phải trở lại hiện thực và làm một bát phở thật ngon, hãy may một cái áo thật đẹp…

Tôi những tưởng mây tre Việt Nam sẽ nhất thế giới, nhưng sau này đi ra thế giới tôi thấy chúng ta bại trận hoàn toàn. Chúng tôi đau đớn khi mua những đồ thủ công mỹ nghệ bằng cói, tre từ Nhật, Hàn Quốc trở về. Thưa Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, ông suy nghĩ gì về điều đó, về chủ nghĩa thành tích vẫn đeo bám chúng ta, ăn sâu vào ta, khiến ta sẽ còn gặp nhiều khó khăn?

TS. Nguyễn Minh Phong: Nói một cách chính xác đến nay không phải chỉ là dư âm thành tích. Thành tích chỉ là bề nổi của cơ chế chúng ta đang sử dụng, đó là cơ chế điều hành quản lý mang tính chất quân sự, trận đánh. Cả một chuỗi quá trình như vậy cho đến nay vẫn quán tính như vậy. Quán tính này đi vào kinh tế thể hiện ở chỗ những phong trào thi đua, chiến dịch thành tích báo cáo. Rõ ràng chúng ta đang tự mình làm con tin, tự mình là nạn nhân của chính mình trong vấn đề cơ chế như vậy.

Đã đến lúc chúng ta phải bỏ qua tất cả những hình thức phù phiếm, tất cả những khẩu hiệu sáo rỗng, bánh vẽ giá trị ảo để trở về cuộc sống thực tế, giá trị thực để đáp ứng nhu cầu.

Không phải người Việt Nam không phải tiêu dùng hàng Việt Nam là yêu nước mà phỉ là người Việt Nam sử dụng hàng chất lượng cao mới là yêu nước. Như vậy mới là đúng tất cả các khía cạnh, thỏa mãn tất cả các nhu cầu, đảm bảo cho hàng Việt Nam đứng vững và cả ở nước ngoài.

Giải pháp khả thi

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Thưa bà Phạm Chi Lan cơn lũ hàng nhập ngoại xấu, kém chất lượng, độc hại đang tràn vào Việt Nam đã lên đỉnh điểm chưa, hay sẽ tiếp tục, hoặc giảm xuống?

Bà Phạm Chi Lan. Ảnh: Chí Cường

Bà Phạm Chi Lan: Nó như thế nào phụ thuộc vào thái độ của chính chúng ta. Nếu chúng ta bỏ lơ, coi thường chuyện đó, các cơ quan Nhà nước vẫn cảm thấy dửng dưng không ý thức ngặn chặn, bảo vệ cho đồng bào mình thì làm sao cơn lũ này chấm dứt được.

Hoặc truyền thông của chúng ta không dấy lên được tiếng nói mạnh mẽ để cổ động cho hàng Việt Nam, biểu dương cho những doanh nghiệp hàng tốt như May 10, và rất nhiều những doanh nghiệp khác, trân trọng người tiêu dùng trong nước thì làm sao ngăn nổi cơn lũ này.

Nếu không cùng nhau làm việc đó như một tính chất cả hệ thống thì cơn lũ đó chưa tới đỉnh điểm đâu, sẽ tiếp tục đổ vào, tiếp tụ tràn vào dữ dội hơn. Người ta đã có hẳn một kế hoạch lớn, chiến lược lớn để làm điều đó, họ sẽ không dừng lại trừ khi chúng ta biết tự vạch hướng đi cho mình, tự bảo vệ cho mình, đẩy làn sóng đó ngược trở lại trả về phía bên họ.

Quả thực tôi lo lắng cơn lũ này chưa đến đỉnh điểm, mà còn có thể tệ hại hơn nữa bởi vì chúng ta vẫn chưa làm được gì nhiều để ngăn chăn.

Tôi nói vui với các doanh nghiệp là bây giờ biên mậu đã diễn ra ở tận thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải biên mậu ở Lào Cai, Lạng Sơn nữa.

Thực tế, người ta đã vào tận thành phố Hồ Chí Minh để làm rồi, gần như tất cả các giao dịch diễn ra ngay tại đó. Chỉ cần nhấc một cú điện thoại lên thôi là hàng hóa đâu vào đó. Không khó để bắt gặp từng đoàn xe mang biển số của một quốc gia láng giềng có thể vào đất Việt Nam đàng hoàng, thậm chí người nước họ cũng ra vào làm việc ở đây tự do. Nếu chúng ta vẫn dễ dãi như vậy thì cơn lũ hàng giá rẻ, chất lượng thấp còn tiếp tục dấn tới.

Tôi vừa từ Lục Ngạn (Bắc Giang) về. Tôi đã chứng kiến một đoàn 65 thương gia Trung Quốc đang ở đó, tại những cứ điểm để thu mua Vải, và họ là người quyết định giá cả.

Chúng ta đã để đến mức như vậy thì việc không tự bảo vệ được mình là do chính mình, mình vừa là nạn nhân, vừa là tội nhân của việc đó, chứ không thể đổ hoàn toàn cho chính sách của nước khác được. Mình không biết tự mình bảo vệ mình thì nói được gì nữa. Nếu ta không có hành động từ cao nhất, làm quyết liệt thì các doanh nghiệp phần nào phải bó tay.

Ảnh: NLD

TS Nguyễn Minh Phong: Tôi cho rằng, hàng may mặc, hàng điện tử là một ví du, tất cả những hàng đơn lẻ đó là một ví dụ và trong tương lai nó sẽ thành dòng thác lũ.

Tôi đồng ý với chị Chi Lan nếu như chúng ta vẫn bình chân như vại, cơ chế trách nhiệm vẫn như hiện nay, các bộ phận doanh nghiệp rời rạc thiếu gắn kết quyện hòa, cơ chế bảo vệ không rõ ràng sẽ tiếp tục tạo ra lỗ hổng để cho hàng ngoài vào tự do, gây thiệt hại cho chính những người trong nước, cho nền kinh tế quốc gia.

Đã đến lúc nhà nước phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về bàn tay của nhà nước để tạo ra chất kết dính. Mỗi doanh nghiệp có sức mạnh của riêng họ, có trách nhiệm, yếu điểm và cái lí của mình. Để bảo vệ một cộng đồng dân tộc nói chung thì phải bằng bàn tay Nhà nước, chứ một May 10 cũng không làm được, một cá nhân không làm được. Bàn tay nhà nước ở đây rất cụ thể, của Chính phủ, của bộ, ngành và của từng vị trí công quyền.

Phải tạo ra sức mạnh cộng hưởng như vậy, chúng ta mới có hy vọng đẩy lùi được cơn lũ hàng ngoại giá rẻ kém chất lượng.

Nhà báo Nguyễn Quang Thiều: Các doanh nghiệp ta đang trong tình trạng số phận là tự bơi lấy một mình. Chúng ta không thiếu trí tuệ, không thiếu chuyên gia kinh tế, giáo dục, khoa học. Chúng ta đang sở hữu họ, nhưng không sử dụng họ điều này rất nguy hiểm.

Và chúng ta cũng đang thiếu một điều là tính hệ thống để tập hợp tất cả tạo thành một nguồn lực sức mạnh lớn nhất.

Trong cuộc bàn tròn hôm nay, tôi xác định rõ kẻ thù đối với thị trường của chúng ta, nhưng ngày mai bước ra đường đến một cửa hiệu, tôi lại dày vò chọn lựa hàng này của Việt Nam hay hàng kia của nước ngoài.

Những gì được đặt ra tại bàn tròn hôm nay đã phần nào động chạm tới những điều cơ bản và chi tiết, chúng ta cũng đã nói ra tất cả những điều mang tính hệ thống, chiến lược. Nếu biết lắng nghe, biết sửa mình thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn, còn nếu vẫn chỉ là trách nhiệm, là lợi ích cá nhân thì e rằng 50 năm nữa chúng ta lại ngồi lại đây, nói lại những điều phiền muộn này.

Xin cám ơn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong, anh Thân Đức Việt, và cám ơn tất cả các quí vị độc giả của Tuần Việt Nam/Vietnamnet.

Chúng ta hi vọng rằng có thể trong lúc trước mặt chúng ta còn quá nhiều chân trời mờ mịt, nhưng chúng ta phải đi tìm, không cách nào khác là phải lên tiếng. Nói một lần, hai lần, nói ngày lẫn đêm và cả trong giấc ngủ để một ngày nào đó chúng ta nhận ra rằng lòng tự trọng dân tộc thật lớn.

Một lần nữa, xin cảm ơn các quý khách đến dự hôm nay, và tôi tin rằng bạn đọc sẽ gửi những phản hồi nhiều chia sẻ, đồng tình lên tiếng cùng chúng ta về một vấn đề đang nhức nhối để từng bước tiến đến một dân tộc hùng mạnh.

Tôi nhớ lại cách đây 5 năm, khi cùng một Giáo sư Mỹ đến siêu thị ở Boston và ông ta kêu lên trong siêu thị khiến tất cả mọi người kinh ngạc: “Thiều quay lại đây” và chỉ cho tôi một chiếc quần kaki Made in VietNam. Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả quý vị!

(Theo Tuanvietnam)

http://vnids.com/modules.php?name=News&file=article&sid=154

—————————-

Một số báo chí VN có ngôn luận không hữu nghị

với TQ- Đc Hồ Tỏa Cẩm

Tham Tán Kinh Tế- Thương Mại Hồ Tỏa Cấm được sự ủy quyền của đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam đã lên tiếng nhắc nhở về những bài gần đây trên một số báo Việt Nam có đề cập đến hàng hóa Trung Quốc.

Ông Hồ Tỏa Cấm nói rằng hàng hóa TQ có nhiều loại.Hàng TQ kém chất lượng vào Việt Nam là do bên phía Việt Nam có nhu cầu vậy. Bên này có người mua thì bên kia có người ” giúp”.

Hồ Cẩm Tỏa chỉ đích danh tên bà Phạm Chi Lan chuyên viên kinh tế, phó chủ tịch VCCI và học giả Nguyễn Minh Phong của Việt Nam đã có những phát biểu không hữu nghị.

Hồ Tỏa Cẩm nói rằng ông ta từng là phóng viên của Tân Hoa Xã trú tại Việt Nam mấy năm. Giờ đây ông rất ngạc nhiên khi thấy chính phủ Việt Nam lại để cho một số bài báo như vậy xuất hiện. Ông mong cơ quan quản lý là bộ TT&TT của Việt Nam chú ý nhắc nhở, khuyến cáo…các tờ báo này. Ông Hồ nhấn mạnh báo chí phải làm theo thỏa thuận của 2 chính phủ, 2 nhà nước

Trả lời ông Hồ Tỏa Cẩm, đại diện phía Việt Nam là bà Quản Duy Ngân Hà vụ trưởng Vụ hợp tác QT nói rằng.

– Những bài báo đó là quan điểm của các học giả, không phải là quan điểm của cơ quan, tổ chức chính phủ của Việt Nam.

– Những bài báo này trách nhiệm do phía tòa báo, nếu sai họ sẽ bị kỷ luật thích đáng. Nói chính phủ Việt Nam cho phép đăng những bài này là không chính xác.

Bà Hà khẳng định quan hệ giữa hai nước là tốt đẹp. Việc mà ông Hồ Tỏa Cẩm bận tậm sẽ được bà Hà báo cáo sang bộ TT&TT để các đồng chí bên ấy xem xét.

Ông Hồ Tỏa Cẩm nói thêm rằng. Cần phải rút kinh nghiệm lần sau, xem có cách gì triệt để.Không nên để tình trạng cứ đăng bài như vậy rồi xem xét được. Cần quản lý chặt hơn.

Hai bên có nhắc đến việc đoàn quản lý báo chí Trung Quốc sẽ đến Việt Nam để giúp đỡ bộ TT&TT Việt Nam những kinh nghiệm quý báu trong quản lý báo chí.

———–


Thủ đọan cổ điển của TQ vẫn ăn khách
Mặc Lâm, phóng viên đài RFA
2009-06-26
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Chinese-enterprises-to-buy-and-sell-VN-commodities-with-deceiful-methods-06262009111554.html?searchterm=None
Hiện tượng doanh nhân Trung Quốc vào Việt Nam thu mua nông thuỷ sản với giá cao rồi lũng đoạn chính thị trường Việt Nam bằng nhiều cách.
Thủ đoạn gian dối và mua bán bất chính của họ không được nhà nước ngăn chận bằng các biện pháp cứng rắn đã khiến nhiều nông dân tay trắng và doanh nghiệp phá sản vì không cạnh tranh nổi. Mới đây doanh nhân Trung Quốc lại tràn vào Việt Nam thu mua tôm với giá cao và bán lại cho thị trường với giá rẻ sau khi tái chế. Mặc Lâm phỏng vấn bà Phạm Chi Lan, nguyên tư vấn kinh tế cho Văn Phòng Thủ Tướng, để tìm hiểu thêm chi tiết vấn đề này.

Quản lý thị trường quá lỏng lẻo
Mặc Lâm : Thưa bà, hiện đang xảy ra tình trạng doanh nhân Trung Quốc vào Việt Nam thu mua tôm với giá cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước. Sau đó họ pha hoá chất vào để tăng trọng lượng của con tôm và bán ngược vào Việt nam với giá rẻ hơn thị trường. Theo bà thì tình trạng này được nhà nước quản lý ra sao để bảo vệ doanh nghiệp nội địa cũng như sự an toàn thực phẩm cho người dân?
Bà Phạm Chi Lan : Tôi nghĩ đây trước hết là vấn đề về quản lý nhà nước. Từ khi Việt Nam tham gia WTO thì cũng đồng ý cho tư nhân của các nước có thể vào kinh doanh buôn bán ở Việt Nam, nhưng mà tất cả người nước ngoài kể cả người Việt Nam kinh doanh buôn bán đều phải đăng ký với nhà nước theo pháp luật. Thông qua sự đăng ký hoạt động đó thì nhà nước cũng kiểm soát được những hành vi buôn bán của người ta. Những cái gì mà gây phương hại, ví dụ như về môi trường hay tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh mà làm hại cho bất cứ một bên nào đó thì đều có thể bị đưa ra pháp luật để xem xét và xử lý.
Mặc Lâm : Báo chí cho biết là doanh nhân Trung Quốc không phải ai vào Việt Nam kinh doanh cũng có giấy phép. Vai trò quản lý thị trường của nhà nước đã tỏ ra không hiệu quả lắm trong vấn đề này. Bà nghĩ sao về những nhận dịnh như vậy ?
Bà Phạm Chi Lan : Thương lái Trung Quốc vào, vấn đề chính ở đây là họ vào bằng những con đường không chính thức, họ vào kinh doanh ngầm, không chịu sự kiểm soát của ai, không nộp thuế cho nhà nước, và do đó cũng rất khó kiểm soát hành vi của họ.
Đây là vấn đề lớn mà theo tôi, trước hết là vấn đề quản lý nhà nước lỏng lẻo, chưa triệt để, cho người từ bên ngoài vào, xâm nhập và kinh doanh với mức độ đó. Khi nào các doanh nhân nước ngoài hoạt động ở Việt nam, ví dụ như một số họ cũng làm về kinh doanh, mua các sản phẩm nông sản, thuỷ sản, ví dụ như cà phê chẳng hạn để chế biến rồi xuất khẩu thì họ đều tuân thủ. Nếu họ làm tốt thì không có chuyện gì.

Mánh khóe và thủ đoạn
Mặc Lâm :
Dư luận cho là nhà nước vẫn có một sự do dự nào đó đối với các doanh nhân Trung Quốc vì nếu vi phạm cùng một hình thức thì doanh nhân Việt Nam luôn bị xử phạt nặng hơn. Bà có ý kiến gì về việc này?
Bà Phạm Chi Lan : Thật ra thì đối với Việt Nam, trong trường hợp doanh nhân Việt Nam, bất cứ ai làm như vậy mà không có đăng ký kinh doanh thì đều có thể bị phát hiện và bị kỷ luật ngay.
Nhưng mà đối với doanh nhân Trung Quốc họ làm được như vậy thì đây là một điều mà phía Việt Nam, chính quyền các cấp rất cần xem lại cái hoạt động kiểm tra – giám sát của mình như thế nào mà để lọt như vậy.
Các doanh nhân Việt Nam nếu như mà vi phạm nhẹ thì có thể bị xử phạt, mà vi phạm nặng thì thậm chí có thể bị chấm dứt, nhà nước không cho phép tiếp tục kinh doanh nữa. Thì đấy là theo pháp luật chung, ngay cả đối với doanh nhân Việt Nam xưa nay cũng vẫn đều phải tuân thủ điều đó
Mặc Lâm : Theo kinh nghiệm của bà thì cách thông thường mà doanh nhân Trung Quốc sử dụng tại Việt Nam là gì?
Bà Phạm Chi Lan : Chính sách họ mua như thế này của nông dân thì có thể trước mắt là họ trả giá cao lên một chút thì người bán tưởng chừng như mình được lời. Nhưng mà xưa nay Việt Nam đã gặp nhiều chuyện với Trung Quốc rồi, tức là lúc đầu họ trả cao nhưng sau đó nếu họ khống chế được thị trường tới một mức độ nhất định thì họ giảm giá xuống đột ngột và họ dừng lại, họ không mua nữa thì lúc bấy giờ người sản xuất, người cung cấp sẽ hết sức là khó khăn.
Câu chuyện đó đã xảy ra khi Việt Nam bán mủ cao su cho Trung Quốc ở biên giới, bán hạt điều, bán trái dưa hấu, vân vân. Đã có rất nhiều bài học xảy ra rồi. Nhưng người nông dân thì trước sau gì họ cũng không được thông tin, không được hướng dẫn đầy đủ, nhiều khi họ ham cái lợi nhỏ trước mắt thì họ vẫn có thể huỷ bỏ hợp đồng đã ký với những doanh nhân khác của Việt Nam và của người nước ngoài khác ở Việt Nam đã ký trước với họ để đi bán cho những thương lái bất chợt đến và trả giá cao hơn.

Siết chặt quản lý thị trường-Thông tin hướng dẫn nông dân
Mặc Lâm : Xét về khía cạnh kinh tế thì việc mua bán gian lận này sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào, thưa bà?
Bà Phạm Chi Lan : Về mặt kinh tế thì cái cách họ làm như thế này sẽ gây bất lợi rất lớn cho các doanh nhân Việt Nam, cho các nhà máy chế biến của Việt Nam, cho ngành hàng xuất khẩu nói chung, cũng như cho bản thân người nông dân.
Dần dà họ thu mua như vậy thì có thể làm thâm hụt đi cái nguồn cung cấp cho các nhà náy, cho các ngành xuất khẩu vẫn thường làm, và do đó thì xuất khẩu của Việt Nam sẽ có thể bị giảm đi hoặc là khó khăn trong việc đảm bảo những hợp đồng đã thoả thuận với phía bên ngoài.
Mặc Lâm : Còn doanh nhân trong nước thì sao, thưa bà?
Bà Phạm Chi Lan : Về phía các doanh nhân Việt Nam hoặc là doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam cũng không ít người đã bỏ tiền ra đầu tư cho người nông dân để người ta sản xuất cho mình, thế bây giờ lẽ ra theo cam kết hợp đồng thì người nông dân phải cung cấp lại cho người đầu tư ban đầu, nhưng họ lại ham lợi mà đi bán cho người khác thì như vậy là làm cho người đầu tư bị thua thiệt về nhiều đường.
Mặc Lâm : Theo bà thì giải pháp nào cho vấn đề này? Bà nghĩ là có thể thực hiện được ngay từ bây giờ?
Bà Phạm Chi Lan : Theo tôi, bây giờ phải làm chủ yếu là, một là nhà nước phải siết chặt cái quản lý của họ, nhất là đối với những thương lái không có đăng ký từ Trung Quốc như vậy. Hai là cũng rất cần thông tin cho người nông dân biết, huớng dẫn và làm sao nói cho người ta hiểu được rằng làm như vậy là không được, không nên.
Ba là người nông dân Việt Nam nuôi con tôm con cá với những người thu mua, những người doanh nhân đàng hoàng khác mà có đầu tư, có quan hệ thu mua bền lâu với họ từ trước tới nay thì rất cần làm việc lại với nhau và đưa ra những cam kết cho vững chắc hơn.
Và khi một bên vi phạm cam kết thì nhà nước phải can thiệp, phải đứng ra để xử lý, hoặc là có một trọng tài để xử lý. Lâu nay đổ bể hợp đồng giữa nông dân với những người doanh nhân bỏ tiền ra đầu tư hoặc là thu mua thì thường cũng vẫn hay xảy ra nhưng ít đuợc xử lý nghiêm khắc từ phía pháp luật, cho nên nhiều khi chuyện nọ vẫn xảy ra hoài.
Mặc Lâm : Xin cám ơn bà Phạm Chi Lan đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Copyright © 1998-2009 Radio Free Asia. All rights reserved.

————————

Tự sự của một nội tướng về hàng… Trung Quốc
07:36′ 03/07/2009 (GMT+7)

– Không phải kỳ thị hàng Trung Quốc nhưng tôi thấy rõ ràng là tính về kinh tế, sử dụng các sản phẩm của Việt Nam hơn đứt sản phẩm của nước bạn. Hơn nữa, có một điều tôi phải đắn đo khi mua hàng Trung Quốc, chính là lòng tự tôn dân tộc.

Là nội tướng trong gia đình, tôi thường xuyên phải mua sắm tất tần tật mọi thứ từ cái kim sợi chỉ, quần áo, giày dép cho đến cái phích nước, cái quạt điện… để sử dụng trong nhà. Tuy nhiên, tôi không biết các bà nội trợ khác nghĩ gì, riêng bản thân tôi thường tâm niệm một điều là “bất đắc dĩ lắm mới phải mua hàng Trung Quốc”.

TIN LIÊN QUAN

Không phải là tôi có tâm lý kì thị gì hàng hoá của Trung Quốc, nhưng có 3 lý do khiến tôi có suy nghĩ như vậy.

Thứ nhất là trước đây đã không ít lần tôi mua phải hàng Trung Quốc chất lượng kém, nhanh hỏng hóc, tiền mất mà của cũng sớm ra đi.

Thứ hai là thời gian gần đây tôi đã đọc được nhiều thông tin về tình trạng kém chất lượng, thậm chí độc hại của một số sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc như tình trạng sữa bột nhiễm melamine, quần áo, đồ dùng trẻ em Quảng Đông chứa hoá chất độc, hoa quả Trung Quốc có chứa chất bảo quản…

Và một điều nữa khiến tôi phải đắn đo khi rút ví tiền mua hàng Trung Quốc đó chính là vì lòng tự tôn dân tộc. Dường như tận trong đáy lòng tôi vẫn cảm thấy áy náy khi mua hàng ngoại mà thờ ơ với hàng sản xuất trong nước.

Rủi ro vì hàng không nguồn gốc

Thỉnh thoảng tôi có đọc một số bài báo hoặc thông tin ca ngợi chất lượng hàng Trung Quốc và than phiền về chất lượng hàng Việt Nam. Bài báo “Tìm mua hàng Việt Nam sao khó quá” của tác giả Lê Đức Tấn đăng trên VietNamNet ngày 27/06/2009 là một ví dụ.

Trong bài báo này tác giả viết: “Nhìn sản phẩm của họ, tôi phải thán phục, mẫu mã đa dạng và rất đẹp, giá rẻ, rất phù hợp với túi tiền của người dân. Nhìn sang bát sứ Hải Dương, tôi thấy chán vô cùng, mẫu mã thì ít, hình thức thì thô và khô khan không muốn nhìn”.

Tôi thấy những điều mà tác giả Lê Đức Tấn cũng như các tác giả khác đề cập có phần đúng nhưng chưa đủ, chưa hoàn toàn chính xác và có cả phần “oan uổng”. Bởi lẽ hàng Việt Nam cũng có những sản phẩm đáng để người tiêu dùng để mắt đến lắm chứ thay vì cứ nhăm nhăm vào hàng hoá Trung Quốc.

Quạt Trung Quốc lấn át quạt Việt Nam trên thị trường. (Ảnh: giadinh.net)

Chẳng hạn khi đi mua phích đựng nước nóng, bà bán hàng giới thiệu cho tôi phích nước của Trung Quốc với giá khoảng 50 nghìn đồng một chiếc, trong khi đó phích nước Rạng Đông của Việt Nam là 60 nghìn đồng.

Hai sản phẩm giá cả chênh lệch nhau chút ít, mẫu mã cũng tương đương nhau, đương nhiên là tôi chọn sản phẩm của Rạng Đông vì dù sao nó cũng là sản phẩm uy tín lâu năm ở trong nước, còn hơn là mua sản phẩm ở tận đâu mà mình không hay biết gì về nguồn gốc.

Hoặc khi đến cửa hàng quần áo để mua quần áo cho con, tôi luôn luôn cảm thấy hài lòng với những sản phẩm của Dệt kim Đông Xuân, Hanosimex và các nhà sản xuất khác trong nước, chất lượng, mẫu mã của những sản phẩm này cũng khá tốt mà giá cả cũng rất hợp lý.

Trước đây có nhiều lần cũng chỉ vì hoa mắt trước mẫu mã và ham giá rẻ hàng Trung Quốc mà tôi đã “dính” phải hàng rởm kém chất lượng. Tôi nhớ mãi cái lần mình đi mua quạt điện. Lúc ở nhà ra đi tôi đã dự định mua chiếc quạt Điện cơ Thống Nhất. Nhưng khi đến cửa hàng bán quạt, thấy người bán hàng cứ giới thiệu những chiếc quạt của Trung Quốc đủ kiểu dáng rất bắt mắt, giá cả lại rất mềm, thế là tôi xiêu lòng và ẵm ngay một chiếc quạt cây hàng Trung Quốc về nhà.

Dùng chiếc quạt được vài hôm thì bỗng nhiên thấy nó cứ kêu long sòng sọc rồi ngừng quay. Vậy là tôi đành phải đi tìm thợ sửa quạt. Sửa được vài hôm quạt lại hỏng. Tôi đành bấm bụng vứt xó chiếc quạt, vậy là mất cả chì lẫn chài vì tham đẹp, tham rẻ. Từ đó nếu định mua quạt điện tôi cứ nhắm sản phẩm “cây nhà lá vườn” Điện cơ Thống Nhất Vinawind mà dùng, nhất quyết không ngó ngàng đến mấy cái quạt không rõ nguồn gốc xuất xứ kia nữa.

Hay đơn giản như khi đi mua chiếc màn chụp cho bé, tôi cũng được bà bán hàng quen biết giới thiệu, có hai loại màn chụp của Trung Quốc và của Việt Nam. Mẫu mã, chất lượng hai loại này thì tương đương nhau nhưng sản phẩm của Trung Quốc rẻ hơn gần 10 nghìn (khoảng 30 nghìn), tôi bèn chọn sản phẩm của Trung Quốc.

Chiếc màn chụp đó khi mang về nhà tôi sử dụng rất cẩn thận cũng chỉ được 2 tháng là hỏng gọng, rách vải. Vậy là tôi lại phải đi ra cửa hàng mua một chiếc màn chụp khác của Việt Nam, chiếc màn này giá đắt hơn chiếc màn hàng Trung Quốc một chút (khoảng gần 40 nghìn) nhưng tôi đã sử dụng nó được tròn năm mà vẫn còn tốt nguyên, chưa phải mất tiền lo thay cái khác.

Từ những kinh nghiệm nhớ đời trên, tự nhiên tôi cảm thấy cần phải thận trọng với hàng hoá có chữ Made in China. Ngay cả sản phẩm bát đũa Trung Quốc được tác giả Lê Đức Tấn ngợi khen tôi cũng cảm thấy có vấn đề. Có lẽ sản phẩm tác giả đề cập đến ở đây là hàng bát đũa Trung Quốc cao cấp có chất lượng tốt.

Tôi được biết bát đĩa hàng Trung Quốc loại bình dân thường chỉ dùng được một thời gian ngắn, ban đầu màu sắc còn bắt mắt, về sau các sản phẩm này phai hết màu và trầy xước, hình thức xuống cấp rất nhanh. Ngoài ra, bát đĩa hàng Trung Quốc loại này có vẻ khá giòn nên chỉ cần va đập nhẹ là bị mẻ, bị vỡ.

Dùng sản phẩm chén bát của Bát Tràng hay Hải Dương tuy mẫu mã không phong phú bắt mắt bằng hàng Trung Quốc, giá cả lại có phần cao hơn chút ít nhưng lại rất bền. Nếu tính về kinh tế thì rõ ràng là sử dụng các sản phẩm trong nước hơn đứt sản phẩm của Trung Quốc. Hơn nữa, với tôi, khi cầm chiếc bát đôi đũa được nặn nên từ hòn đất, cái cây của quê nhà, bữa cơm gia đình dường như ấm cúng, ngon lành hơn.

Hàng Việt Nam, hàng Trung Quốc hay hàng bất cứ quốc gia nào cũng có cái hay, cái dở riêng của nó. Tuy nhiên, là người Việt Nam sống trên đất Việt Nam, tôi vẫn muốn dùng hàng nội, do chính người lao động Việt Nam sản xuất ngay trên đất nước mình.

Và tôi luôn luôn mong muốn là hàng Việt Nam sẽ cải tiến chất lượng để “người Việt dùng hàng Việt”, như báo chí vẫn kêu gọi hằng ngày.

  • Thanh Mai

http://www.vietnamnet.vn/bandocviet/2009/07/856113/

——————————————-

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Viet-Studies

Posted by hoangtran204 on 03/07/2009

Gặp “ông chủ” Viet-studies


Nguyễn Thị Ngọc Hải
Các “fan” bất ngờ gặp ở Press Café trong cơn mưa lạ Sài Gòn. Hiểu vì sao trên trang web được coi như bộ lọc tri thức lớn nhất, có dòng báo cáo: “Cho đến ngày 16.8 trang này không được cập nhật thường xuyên – người làm trang về quê”. Vị khách cao gầy, áo pun giản dị, kêu “1 ly cà phê đá lớn” – giáo sư tại Mỹ nổi tiếng nhưng khiêm nhường – Trần Hữu Dũng.Dị ứng với “trí thức” và “Việt kiều”

Dị ứng với cách gọi “trí thức” “Việt kiều” vậy thưa phải gọi ông là gì ạ?

Gíao sư Trần Hữu Dũng: Một người sống xa tổ quốc. Tôi không nghĩ mình là Việt kiều. “Trí thức” nghe quá kênh kiệu. Người khác dùng trung hoà hơn. Tôi cũng dị ứng với các từ “toàn cầu hoá” và “hiến kế”. Nghe to tát quá.

Ông quan niệm trí thức chỉ là một thuộc tính của nhiều ngành. Toàn cầu hoá sản sinh một giai cấp mới, làm việc sinh sống khắp nơi. Nhưng vì sao tham luận của ông trong hội thảo hè Nha Trang vừa xong lại là về trí thức Trung Quốc 20 năm gần đây?

Quan niệm mới của một nhà kinh tế – triết gia (Amartya Sen) viết về “toàn cầu hoá nhân thân” cho rằng toàn cầu hoá và yêu quê hương không trái nhau. Phải có một quê hương. Giúp toàn cầu hoá trọn vẹn đúng nghĩa hơn. Nhưng sống ở đâu cũng đóng góp được cho quê. Bên nhà lâu lâu lại nói “thu hút Việt kiều về nước đóng góp” là cổ lỗ sĩ. Trí thức là đầu óc mở rộng, không là bằng cấp. Nhiều người bằng cấp không trí thức.

Nhưng tại sao tham luận của ông không là nghiên cứu trí thức Việt Nam mà lại là trí thức Trung Quốc?

Tôi phát hiện thấy họ có sinh hoạt rất sinh động, bộc lộ được quan điểm công khai trên báo, có những phê phán chính phủ được lắng nghe. Nhiều chính sách ra đời từ ý kiến như thế. Trí thức mình ít bộc lộ – nước mình không như Âu Mỹ (mặc dù ai mà nói chỉ có Mỹ dân chủ là tôi “xin phép” đó). Nhưng tôi hiểu ở đâu cũng có những vùng trống cho phép. Thí dụ ở Trung Quốc đó là các vấn đề môi trường, y tế giáo dục, đất đai, hành chính, lãnh chúa đỏ… Họ thử từng bước, không ngồi than. Lãnh đạo phải tự tin, phải để vùng trống cho suy nghĩ, không sợ nghe phản biện.

Có phải vì thế mà trang web của ông có tờ Thời Đại Mới, “Một tạp chí nghiên cứu thảo luận” – và một web tiếng Anh (cùng làm với một giáo sư triết người Mỹ) – web này được giải lớn tương đương Oscar trong điện ảnh và tờ New York Times gọi đó là “chỗ hẹn trí thức toàn cầu”?

Sở trường của tôi là đọc nhiều trào lưu kinh tế văn hoá. Tờ Thời Đại Mới của chúng tôi viết khoa học cho dân đọc, những vùng trống có thể làm được. Nếu không thử, sẽ không tìm ra cách. Ở ngoài nước, cứ tối ngày ngồi than Việt Nam thiếu dân chủ, nhưng có nhiều vấn đề ích lợi học thuật sao không làm. Không ai thử, chỉ ngồi than. Tiếp xúc trong nước tôi cũng thấy vậy, 2/3 câu chuyện là than phiền.

Làm Viet-studies.info

Ông vừa giảng dạy đại học, hướng dẫn sinh viên vừa viết sách giáo khoa kinh tế bằng tiếng Anh, lại làm trang web như một bộ lọc tri thức lớn, ông lấy đâu ra thời gian và có ai giúp không?

Tôi làm một mình từ A-Z kể cả đánh máy, còn bỏ tiền túi ra làm. Nhưng mỗi năm bỏ 2.000 USD không là vấn đề. Mà bỏ rất nhiều thời gian. Một ngày ngủ 4 tiếng, trừ thời gian lái xe trên đường là không làm việc. Còn thì ngồi computer. Cơm cũng dọn ăn ở bên computer.

Tôi ham nhiều thứ, luôn viết trễ. Giáo trình kinh tế lãnh nhuận bút rồi mà chưa nộp. Tôi ham chuyện này làm một nửa lại bắt chuyện khác. Tội tôi thường xuyên.

Ông làm Viet-studies như thế nào?

Tôi không coi đó là tờ báo, chỉ thu thập những bài vở có nhiều người thích như tôi để chia sẻ với bạn bè. Tôi đọc không phân biệt. Bài hay ở nguồn nào cũng đăng. Tờ Công An Nhân Dân có mục văn hoá khá.

Sao ông không cho đăng mục ý kiến ngắn như nhiều web làm?

Tôi không thích những comment, giống như “người tức giận chạy xe qua quăng lựu đạn rồi chạy mất”. Ngay cả nhiều trang hải ngoại nghiêm túc để cho độc giả phê bình, tôi thấy như có người đi ngang qua chửi, cười hà hà, bất công với tác giả.

Nhưng lời bình ngắn của ông sau các bài, tuyệt vời độc đáo đấy chứ! Nhiều câu đau. Nhiều câu hóm lắm, đọc rồi cười mãi không thôi. Ngay cả vấn đề nghiêm túc…

Vậy à?

Thí dụ: “Bộ trưởng chống lãng phí hội họp” – bình: Bộ trưởng cho biết không bao giờ ông ngủ gật lúc họp – xin lỗi bộ trưởng, tôi không tin”. Hoặc: “Cho ăn kẹo tôi cũng không dám bình luận chỉ thị này”. “Gia tăng xâm hại tình dục trẻ em” – bình: Một dân tộc mà không che chở được con cháu của mình là một dân tộc gì. “Tường đổ đè trúng 3 người đang uống café sáng” – bình: tự nhủ, về Việt Nam lần sau phải cẩn thận chọn chỗ ngồi uống café, không nên để fan của viet-studies dẫn đi đâu thì đi đó, hahaha!

Tôi vẫn thường nhờ anh em khi nào có lời bình quá đáng thì nhắc nhở giùm. Tôi cố khách quan, đúng đắn, không phá đám, cũng không cuồng tín.

Ông có lý giải được vì sao độc giả miền Bắc đọc Viet-studies nhiều hơn miền Nam?

Thắc mắc của tôi đó. Hỏi nhiều anh em. Có lẽ miền Bắc văn chương chú ý nhiều. Miền Nam kinh tế làm ăn năng động hơn.

Giáo dục – khó không do tiền bạc

“Một nhóm tư nhân” – chữ dùng của Ban tổ chức – thường tổ chức những hội thảo hè ở nhiều nước (vừa rồi ở Nha Trang). Ông còn tham gia đề án cải cách giáo dục Việt Nam cùng nhóm giáo sư – nhà nghiên cứu tên tuổi trong ngoài nước. Ông thấy khó nhất của Việt Nam là gì?

Là cơ chế.

Xin ông nói rõ. Vì “cơ chế” như cái “bị bông” đấm hoài không đổi. Rất mơ hồ, xin ông nói cụ thể.

Ai cũng biết tình trạng giáo dục như thế nào. Chúng tôi làm đề án không thấy khó tiền bạc. 20 triệu USD là có thể có một trường đại học chất lượng cao. Bằng kinh phí cuộc thi hoa hậu hoàn vũ vừa rồi. Kinh nghiệm canh tân của Hàn Quốc, Nhật rất cần quyết tâm nhà lãnh đạo. Dự án nguyên tử Manhattan của Mỹ, hoặc dự án đưa người lên mặt trăng. Chọn người chỉ huy project toàn quyền, tổng thống đứng sau. Đó là cơ chế.

Còn ở Việt Nam? Làm sao chọn được người chỉ huy như vậy?

Đúng. Nếu ở Việt Nam cho tôi làm bộ trưởng, tôi cũng không biết làm được gì. Khó khăn nhất là cơ chế chồng chéo mê hồn trận. Sự cố lặt vặt hành chính giấy tờ không tưởng tượng được. Nhiều người Việt ở ngoài muốn giúp đất nước lắm, nhưng cơ chế xơ cứng ngăn cản. Thí dụ nhỏ thôi như ông Võ Tòng Xuân được mấy anh em bên Úc về An Giang thấy cơ sở của ông xài vi tính cũ quá. Anh em gửi, hải quan không cho nhập, bảo hàng second-hand, phải có lệnh bộ Tài chính. Ông chạy tới chạy lui. Mấy trăm cái vi tính nằm hải quan cả năm. Chắc hư hết rồi. Tôi cũng có mấy ngàn quyển sách quý muốn gửi về, nghe nói phải kiểm duyệt.

Là một giáo sư đại học Mỹ, ông thấy sự khác biệt nào trong giảng dạy, học hành so với Việt Nam?

Chuyện lương đủ sống để chuyên tâm giảng dạy, nghiên cứu thì biết rồi. Còn nạn xin điểm, dùng áp lực thì Mỹ chỗ tôi không có. Trưởng khoa tôi không có quyền nếu tôi cho học sinh rớt. Có chuyện con một giám đốc cỡ lớn, ông ta cho trường cả triệu đô. Tôi cho rớt vì điểm kém. Ban giám hiệu đứng sau giáo sư, ủng hộ. Đó cũng là cơ chế chứ gì?

Sinh viên tôi vào lớp không đọc – chép. Phải đọc sách trước đó, phải hỏi, phải thảo luận. Một cua tôi dạy mỗi người có thể chọn một SGK tham khảo, đọc các bài báo chuyên ngành để vào lớp thảo luận.

Nhớ mùi hương tuổi trẻ

Về Việt Nam lần này, ông thấy sao?

Tôi khá ngạc nhiên, tưởng lạm phát kinh tế suy thoái, mà dân thành thị vẫn ăn nhậu như điên. Giàu nghèo phân hoá sâu sắc. Kinh tế thuơng mại thiếu dữ liệu, nhiều tin đồn. Tập đoàn này của ông này, vợ ông kia, đúng sai không rõ, nhiều việc không biết địa chỉ ai làm. Về lần này tôi phát giác một điều: cuộc sống tôi may mắn. Bình ổn. Có cảm giác sống ở Việt Nam bon chen quá, ham kinh tế, quyền lực.

Biểu hiện nào làm ông nghĩ tới ham quyền lực?

Qua câu chuyện, họ tả xã hội Việt Nam ông này muốn làm cái này, muốn tranh chức kia. Bị ám ảnh quyền lực.

Cuộc sống của ông ở Mỹ thế nào?

Tương đối bình ổn, dù con người không bao giờ hết lo. Lúc trẻ lo lên, xuống, biên chế… tôi qua rồi. Làm chuyện nghiên cứu. Nhược điểm: ham nhiều việc, không có thời gian. Đời sống ở Mỹ khắc nghiệt so với châu Âu. Nhưng ít bị áp lực nhóm xã hội như ở Nhật. Chữ hạnh phúc cũng khó nói. Châu Á liên hệ gia đình nhiều. Thời kỳ tôi phỏng vấn đi làm, một người hỏi: mày li dị mấy lần rồi. Họ cho là thường nhưng ở Việt Nam đó là điều tổn thương nặng nề. Vậy mà người Việt bên đó bắt đầu như vậy.

Ông có như nhiều người lớn tuổi muốn về Việt Nam sống?

Ai cũng nhớ quê hương . Nhưng nhiều người nói để tôi ở bên ấy làm nhiều điều ích lợi hơn về đây dạy học. Mỗi năm chúng tôi cũng giúp cho các em sinh viên đi du học. Còn bây giờ bắt tôi vào lớp Việt Nam dạy cách đó tôi dạy không được.

Yêu và nhớ thương quê hương nhất là những khoảnh khắc: chiều mưa, một nụ cười cô gái, cụ thể chứ không hùng vĩ sông núi. Tôi nhớ mùi hương, khó nói lắm. Mùi sau cơn mưa. Nước, lá cây, gió lạnh mát… không diễn tả được. Sáng nay tôi nghe ở nội thành Sài Gòn có tiếng gà gáy. Tiếng bà hàng xóm quét lá. Quê hương là tố chất của con người. Không có thì thiếu thốn. Nghĩ nặng nặng, buồn buồn trong tâm hồn. Quê hương quá khứ của mình…

Buồn buồn vì nghĩ quê hương còn khổ, hay vì phải xa cách?

Vì xa cách theo hai nghĩa: địa lý và thời gian. Quê hương sinh đẻ. Đi con đường nghe mùi hương chợt nhớ mùi hương tuổi trẻ của mình. Thế mới biết công ơn nhân loại như Einstein hoặc mỗi ngày nghe nhạc Mozart đem lại cho con người niềm vui hoài hoài. Phần thưởng tạo hoá cho con người hưởng mãi.

Ông là con trai bác sĩ nổi tiếng Trần Hữu Nghiệp, yêu thích y khoa, văn học, báo chí, âm nhạc lại trở thành giáo sư kinh tế ở Mỹ?

Con người là sự tình cờ của lịch sử. Ngay việc tôi qua Mỹ, được học bổng, đổi nghề (ngày xưa tôi là kỹ sư), cũng tình cờ như tung đồng xu sấp, ngửa. Tôi thích sử. Hồi lên 7 tuổi, tết được tiền lì xì. Đang buổi tối tôi gõ cửa nhà sách xin mua cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim về đọc liền.

Ông có biết tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn?

Cũng tình cờ, mà đâu biết ông làm tình báo. Thời kỳ tôi mới học ở Mỹ về còn chờ việc làm, hay ra ngồi café với ông Ẩn và đám báo chí tán dóc. Thời kỳ ở Givral – tiệm Café.

Tôi học tiếng Việt thực sự

Qua Mỹ rất sớm, từ những năm 60, nhưng tiếng Việt của ông thật tuyệt vời – là do ông làm báo mạng?

Không dễ vậy đâu. Tôi học tiếng Việt thật sự. Câu nào hay, tôi chép lại. Hơn 10 năm về trước tôi viết tiếng Việt chưa thạo. Vì có nhu cầu viết nên tôi làm một từ điển kinh tế Anh Việt cho mình.

Ông thấy tiếng Việt trong nước có nhiều biến đổi không?

Tiếng Việt giàu có hơn. Tiếng đời thường đi vào viết lách nhiều hơn. Xưa miền Nam không đưa vào văn viết chữ “hầm bà lằng” chẳng hạn. Nguyễn Ngọc Tư viết nhiều tiếng dân dã. Tôi dám viết vì thấy xài rồi. Tôi yêu tiếng Việt có những cái hồn, người hiểu tiếng Việt mới thấm được. Ngay cả khi viết mail, đối với tôi tiếng Việt không dấu thì cũng như bỏ một đoá hoa thơm vào bao giấy kiếng, không có mùi hương gì hết.

Tôi viết có dựa vào cuốn từ điển của Hoàng Phê. Mua hai cuốn. Một để ở sở làm, một ở nhà. Nhiều người muốn viết hồi ký để lại cho các con, nhưng con đâu biết tiếng Việt. Thật buồn phải không?…

Nguyễn Thị Ngọc Hải (thực hiện)

===========

Bàn về chuyện người làm gây mê ở Bv Chợ Rẫy


Nguyễn Văn Tuấn
02.07.2009Mấy ngày nay, báo chí có vẻ làm ầm ĩ về một người giả bằng cấp để vào làm bác sĩ gây mê hồi sức ở bệnh viện Chợ Rẫy. Không cần bàn cãi gì việc làm sai trái của anh này, và chắc anh ta cũng chấp nhận hình phạt sắp đến. Khi sự việc được phát hiện, anh ta cũng không dấu diếm việc sử dụng giấy tờ giả. Nhưng hình như qua báo chí, chưa thấy anh này gây tác hại cho ai, dù đã “đã tham gia gây mê cho rất nhiều bệnh nhân.” Nhưng báo chí nhanh nhẹn nói anh ta làm việc theo êkíp, nên chẳng gây tác hại cho ai. Hình như đây là một biện minh không mấy thuyết phục, vì nó cho thấy anh này không chừng cũng có khả năng học nghề và hành nghề ok. Không ok thì sao anh ta được vào biên chế và kí hợp đồng lao động. Nói tóm lại, dù anh ta có lỗi, nhưng hình như là cũng làm được việc.

Nghề dạy nghề. Gây mê hồi sức và phẫu thuật cũng là nghề, nên anh ta dù chưa học y khoa nhưng qua tiếp cận thực tế và học người đi trước nên cũng có thể làm đúng theo qui trình. Ở bên Úc và Anh có nhiều bác sĩ nội khoa “ác miệng” thì mỉa mai cho rằng các chuyên gia phẫu thuật là “butcher”, chứ không phải bác sĩ. (Ý nói bác sĩ thì phải biết sử dụng thông tin, biết suy luận giỏi, biết vận dụng và diễn giải dữ liệu khoa học tốt, v.v…)

Tôi lan man đến chuyện lớn hơn. Câu chuyện vừa đề cập mà báo chí làm ầm ĩ chỉ là một cá biệt, rất hi hữu, và cũng chẳng gây tác hại cho ai (nếu không muốn nói là … giúp người). Nhưng một vấn đề lớn hơn, đã và đang gây tác hại cho quốc gia không chỉ hôm nay và còn nhiều thế hệ sắp đến là câu chuyện bằng thật nhưng học giả. Có người nói đây là một vấn nạn. Chưa bao giờ trong lịch sử giáo dục nước ta có nhiều thạc sĩ, tiến sĩ, và giáo sư như hiện nay. Nhiều đến nổi người dân mỉa mai là ra đường cũng gặp tiến sĩ!

Nhưng bao nhiêu người là do thực học và bao nhiêu là do học giả là đề tài bàn tán của mọi người quan tâm đến giáo dục nước nhà. Theo Gs Hoàng Tụy thì 70% giáo sư tiến sĩ hiện nay nếu đối chiếu với tiêu chuẩn nghiêm chỉnh sẽ không xứng đáng với chức danh và bằng cấp đó. Nhưng có người nói rằng con số đó có thể lên đến 90%! Như một tác giả đã viết trên TuanVietNam rằng: “Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói tử tế bây giờ lại trở nên hài hước.”

Nhưng rất nhiều những người này đang cầm trịch kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn học của đất nước. Và, hệ quả của chuyện bằng thật học giả này đang càng ngày càng rõ hơn. Cầu cống mới xây rất hoành tráng, khánh thành xong là có vấn đề. Đường lộ mới xây xong là hư. Đường hầm hiện đại mới khánh thành vài giờ đã ngập nước. Đó là những cái chúng ta có thể thấy được nhờ báo chí phản ảnh, chứ còn biết bao công trình khác mà chúng ta chưa thấy hay chưa biết được trên khắp nước. Nhìn chung, tính đầu người và ngay cả tính bằng con số tuyệt đối, nước ta có nhiều giáo sư tiến sĩ hơn Thái Lan, nhưng năng suất khoa học của ta chỉ bằng 1/5 của Thái Lan.

Báo Lao Động chạy cái tít “Bệnh viện Chợ Rẫy có bác sĩ dỏm” thì đúng, nhưng cả nước có hàng ngàn tiến sĩ giáo sư dỏm thì sao? Trong bối cảnh “nói dối quá lâu” và “bằng thật học giả” tràn lan thì đừng ngạc nhiên tại sao có một sự cố như ở Chợ Rẫy.

Tôi nghĩ phải nhìn như thế để thấy rằng trường hợp “bằng giả làm thật” mà báo chí đang quan tâm chẳng nhằm nhò gì so với cái quốc nạn “bằng thật học giả” đang tràn lan hiện nay ở nước ta mà vài thế hệ sắp tới sẽ trả giá.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Dịch Anh Việt và Việt Anh dung google

Posted by hoangtran204 on 03/07/2009

Bài giới thiệu nầy của Anhtu1
(lưu ý là bản dịch trên Google không chính xác trong RẤT nhiều trường hợp. Nhiều phần dịch sai bét 100%. Nếu bạn biết được tiếng Anh kha khá,  thì dùng trang nầy đối chiếu. tóm lại, nếu ai hoàn toàn không biết tiếng  Anh, dùng trang dich nầy, thì cần kiểm chứng lại và xem bản dịch ở mức tương đối mà thôi. Bản nầy cần nhiều thời gian để hoàn chỉnh lắm)
Khi lướt Web chúng ta thường gặp rắc rối về ngôn ngữ , thật may mắn cho ai biết tiếng anh vì đa số site đều dùng tiếng anh .

Nhưng riêng những người ở việt nam thì sao ??? không ít thì nhiều bị giới hạn về ngôn ngữ . Tôi thấy Google có một dịch vụ rất hay , đó là dịch cả web site bất kể ngôn ngữ nào , sang tiếng bạn thích đọc như anh , việt , pháp . Riêng các bạn làm báo ở việt nam , chỉ cần một cái nhấp chuột , vào tất cả báo trên thế giới , le monde , newyork time , mosko news v..vv. trong vòng ba giây , tất cả đều dịch hẳn sang tiếng việt , bạn chỉ cần copy và dán vào word , sau đó chỉnh sửa lại bằng tiếng việt cho trau chuốt , Thế là chỉ trong một tiếng đồng hồ bạn đã làm xong công việc của người xưa làm một tuần .

Ngược lại nếu bản tin nào hay , bạn dịch sang tiếng anh cũng trở nên dễ dàng .
Bạn vào trang google , nhấp vào chuột chọn ngôn ngữ mình thích , giữ nguyên đẩy mũi tên đưa vào Tool bar , nó sẽ tự động copy vào tool bả cho bạn . Khi bạn vào Website nào , bạn chỉ cần bấm vào chỗ tool bar , tự động cả website dịch sang tiếng việt .

http://translate.google.com/translate_buttons

Click the image to open in full size.

Thí dụ tôi muốn đọc Xcafe bằng tiếng anh văn cho có vẻ người lớn , tôi chỉ cần bấm vào chữ English ở tool bar , thế là tất cả hiện lên bằng tiếng anh trong 1 giây như sau :

Click the image to open in full size.

còn muốn dịch cả bài trên trong 1 giây , bấm vào chỗ tiếng việt , thế là bạn có thể đọc tiếng việt thoải mái , không cần biết tiếng anh , tiếng pháp , hay tiếng nga , kể cả tiếng trung quốc .

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Đài Loan đang làm gì giữa tình thế khủng hoảng Kinh tế và bị bủa vây ngoại giao

Posted by hoangtran204 on 01/07/2009

(note: US build American Institute in Taiwan 5-2009, and Stephen Young is the president of the institute)

Taiwan opens door for Chinese investment

Taiwan has opened up key parts of its manufacturing and service sectors to Chinese investment as another barrier falls between the once bitter foes.

By ANNIE HUANG

Page modified June 30, 2009 at 8:03 AM

TAIPEI, Taiwan —

Taiwan has opened up key parts of its manufacturing and service sectors to Chinese investment as another barrier falls between the once bitter foes.

The new rules announced Tuesday are part of President Ma Ying-jeou’s ambitious effort to move Taiwan’s economy closer to that of China, and foster a dialogue aimed at ending six decades of mutual bitterness and distrust.

The two sides split amid civil war in 1949, and China continues to claim Taiwan as part of its territory. It has threatened war if Taiwan moves to makes its de facto independence permanent, but unlike his pro-independence predecessor, Ma has already pledged he has no intention of doing that.

Under the new Taiwanese rules, Chinese companies will be able to invest in 100 categories of local business, including computer components, cell phones, car making and building of resort hotels and commercial ports.

But Taiwan is keeping the semiconductor, flat panel display, solar panel making and communications sectors to itself, to safeguard the island’s secrets, and maintain its technological advantages. Real estate development will not be open to Chinese companies, though their Chinese employees will be permitted to buy property for private use.

Chinese investments “with a military purpose” will be banned, as will those that could harm Taiwan’s economic and financial development, according to a government statement.

No specific investment caps have been imposed but officials said the percentage of Chinese ownership in a Taiwanese firm will be subject to approval on a case-by-case basis.

The guidelines apply to all Chinese companies and to foreign firms in which Chinese ownership is 30 percent or more.

Under the new rules, mainland institutional investors will also be allowed to buy Taiwanese shares as long as the accumulated stock does not exceed 10 percent of a listed firm’s total share value, the government said.

The new rules take effect immediately.

“We will start on a smaller scale and expand the scope when we see results of the (initial) investments,” said Vice Economics Minister Deng Cheng-chung.

Despite the limitations, a substantial influx of Chinese capital is expected into the island. China has encouraged its businesses to invest in Taiwan, apparently viewing such investment as a chance to establish a foothold across the Taiwan Strait.

Until now, the trade and investment flows have been largely one way. Cumulative Taiwanese investment on the mainland since the late 1980s stands at more than $100 billion and trade – mostly Taiwanese exports – now exceeds $110 billion annually.

Since President Ma took office 13 months ago, he has pushed aggressively to cement closer economic ties and liberalized conditions for Taiwanese investment on the mainland. The two sides launched regular direct air and maritime links last December.

Fresh Chinese funds are expected to help stimulate Taiwan’s economy, which shrank by a record 10.2 percent in the first quarter of 2009 from a year earlier.

Property developers say they expect upscale office rentals in Taipei – currently lagging way behind those of Hong Kong or Singapore because of the sluggish local economy – to shoot up as more Chinese enterprises set up operations on the island.

Copyright © The Seattle Times Company

———————

Taiwan’s jobless rate hits record high

AP- June 22, 2009

TAIPEI, TAIWAN — Taiwan’s jobless rate hit a record high of 5.8 percent in May, the government said Monday, as new graduates started to look for jobs and more companies closed amid the economic slump.

The Directorate-General of Budget, Accounting and Statistics said in a statement that a total of 633,000 people were unemployed, up from 625,000 in April.

One reason for rising unemployment, it said, was companies going out of business because of the recession.

Taiwan’s GDP shrank 10.2 percent in the first quarter of 2009, following an 8.4 percent contraction in the final quarter of last year. The government is forecasting the economy to contract 4.25 percent this year.

——————-

June 17, 2009

Such power in a single man’s hands

By Lu I-Ming 呂一銘

Wednesday, Jun 17, 2009, Page 8

Most academics and people polled in recent surveys do not support the idea of President Ma Ying-jeou (馬英九) doubling as Chinese Nationalist Party (KMT) party chairman. Most academics, on the other hand, advocate reforms to Taiwan’s constitutional democratic system and the establishment of a system similar to those of Western countries.

Such ideas, however, ignore Ma’s real thoughts and his attitude toward democracy. So far, I have not heard any convincing arguments supporting Ma taking over as party chairman. All we have seen is infighting and power struggles within the KMT.

Ma’s low-key profile on the 20th anniversary of the Tiananmen Square Massacre and democracy and human rights in China, as well as his comments about how Demos Chiang (蔣友柏), the great-grandson of Chiang Kai-shek (蔣介石), does not understand democracy despite having studied overseas, are good indicators of Ma’s ideas on democracy.

Nicholas Kristof, a columnist for the New York Times, had the following to say about Ma in a piece on the Tiananmen Square Massacre: “In Taiwan in 1986, an ambitious young official named Ma Ying-jeou used to tell me that robust Western-style democracy might not be fully suited for the people of Taiwan.”

Even as president, Ma has said to Taiwan’s Aborigines: “I regard you as humans.”

Ma has also shown a lack of respect for opposition parties by talking to the media rather than engaging in dialogue. For example, he has not adopted democratic procedures to inform the public on the signing of an economic cooperation framework agreement (ECFA) with China. He has even said that people cannot say there is no consensus just because the opposition party disagrees. Such rhetoric is reminiscent of comments made by former Singaporean prime minister Lee Kuan Yew (李光耀).

But Taiwan is not Singapore. These examples highlight the contradiction between Ma’s democratic understanding and his squeaky-clean image.

One of the reasons Ma wants to double as party chairman is the legislature’s “disobedience,” which on several occasions has sent him begging for support on legal bills and election promises as well as personnel appointments to the Control Yuan and the Examination Yuan.

In addition, the Cabinet, which enjoys Ma’s full support, has often been kept in check by the legislature because of its own vested interests. But we have yet to see Ma handle these matters using democratic means. Instead, he feels that from a government perspective, the party should cooperate and help him smoothly achieve his political goals, while forgetting that this could belittle the legislature and turn it into a rubber-stamp office.

Is it OK to bypass legally required procedures to make things easier for the Cabinet? Regardless of whether we look at this issue from a three-branch or a five-branch government, moves aimed at restoring the party-state are detrimental to the consolidation of democracy and riddled with problems.

Chinese President Hu Jintao (胡錦濤) has also been a factor in the calls for Ma to take over the party chair from Wu Poh-hsiung (吳伯雄).

In addition to clearly stating that the forum between the KMT and the Chinese Communist Party (CCP) would continue, Hu has showed a willingness to negotiate important agreements, including a peace agreement.

While not discussing the appropriateness of party-to-party talks, the KMT-CCP platform still requires chairman status to facilitate meetings.

In particular, since Hu’s term ends in October 2012, he naturally hopes Ma will become party chairman sooner rather than later to allow the necessary time to go through the laborious process of setting up a meeting. Such a meeting would affect Hu’s place in history and that is also why American Institute in Taiwan Chairman Raymond Burghardt told reporters that cross-strait relations were at an all-time high after a meeting with Ma as he transited in the US.

During his year in office, Ma has been troubled by lack of government-party synchronization, with even the KMT-CCP forum coming up against resistance at times.

Ma learned from former president Chiang Ching-kuo (蔣經國) that authoritarianism is not necessary and that power and influence can be obtained by controlling the party-government and the legislative party caucus.

In addition, the party chairman holds the right to nominate candidates for elections at all levels, and he can even decide who becomes legislative speaker and legislator-at-large.

That means Ma begins with his hold on power and then continues with system reform. However, being both president and party chairman is a double-edged sword.

It will facilitate policy implementation, but also means there may not be room to maneuver, especially when it comes to handling elections, disagreements and political infighting between faction leaders.

Ma’s clean image is easy to talk about but difficult to use, and it actually interferes with the operation of the system of checks and balance between the Cabinet and legislature. Only time will tell if Ma can carry out constitutional reform.

The process to determine whether Ma will double as party chairman has been rather coarse and the issue of the “government leading the party” can potentially lead to conflict over government and party appointments.

Lu I-ming is the former publisher and president of the Taiwan Shin Sheng Daily News.

TRANSLATED BY DREW CAMERON
This story has been viewed 804 times.

—————

China says to buy more Taiwan goods to help economy

Reuters, Wednesday June 10 2009

BEIJING, June 10 (Reuters) – China said on Wednesday it will send more delegations to Taiwan to buy goods as a way of helping the self-governing island’s export-dependent economy, which has been battered by the global financial crisis.
Fan Liqing, spokeswoman for China’s Taiwan Affairs Office, said a visit by representatives from 35 Chinese firms earlier this month resulted in deals worth more than $2.2 billion, covering computers, LCD screens, chemicals and textiles.
“This is the mainland’s way of helping Taiwan overcome the unfortunate effects of the international financial crisis and a positive way of helping them overcome economic difficulties,” Fan told a regular news briefing.
Taiwan’s economy contracted at a record pace of more than 10 percent in the first quarter from a year earlier, keeping the economy deep in recession as exports demand slumped globally.
Exports in May fell by almost a third from a year earlier, but the fall was slightly less than expected as a slump in demand from the island’s major trading partners showed tentative signs of easing.
May exports totalled $16.17 billion and imports were $13.01 billion, leaving a trade surplus of $3.17 billion.
China exports dropped 30.0 percent from a year earlier, a modest improvement from a 33.6 percent fall in April’s data.
Beijing has pledged to help the island, despite past political tensions.
China has claimed sovereignty over self-ruled Taiwan since 1949, when Mao Zedong’s forces won the Chinese civil war and Chiang Kai-shek’s KMT fled to Taiwan.
Beijing has vowed to bring Taiwan under its rule, by force if necessary, but tensions have eased over the past year since China-friendly Taiwan President Ma Ying-jeou took office and signed a series of trade and tourism deals. (Reporting by Ben Blanchard; Editing by David Fox)
————-
ANALYSIS:

Ma’s Central American trip receives mixed reviews

MEDIA MAULED: One commentator said the press had paid too much attention to the first lady and ignored whether the trip had produced any concrete results
By Ko Shu-ling
STAFF REPORTER
Friday, Jun 19, 2009, Page 3

President Ma Ying-jeou (馬英九) is scheduled to visit Central America later this month, but his trip to the same region earlier in the month received a mixed response.

While Ma took a cultural performance group on the last trip, he intends to take business leaders with him this time around. Last time also marked the first time Ma brought his wife, Chow Mei-ching (周美青), on an overseas trip since he took office in May last year.

Ma lauded the results of his journey to Belize, Guatemala and El Salvador as “better than expected.”

His critics, however, have been less impressed.

Former Government Information Office minister Shieh Jhy-wey (謝志偉) irked many when he described Chow’s performance with a musical band during the trip as a “monkey show.”

Shieh later said he could apologize for not flattering Chow enough, but his comment was an “appropriate description” of Ma’s trip.

Institute for National Development executive director Leou Chia-feng (柳嘉峰) said the media paid too much attention to Chow and ignored whether the trip had produced any concrete results.

Leou said Ma met US Secretary of State Hillary Clinton in El Salvador, but it was a brief exchange and Washington remained reluctant to sell Taiwan F16C/D fighter jets.

Ma’s short encounter with Clinton was not a diplomatic breakthrough as some media organizations portrayed, Leou said. During former president Chen Shui-bian’s (陳水扁) eight years in office, Leou said the former president met former US secretary of state Colin Powell while in Panama to attend the country’s centenary celebrations in 2003.

Chen also exchanged greetings with then-US first lady Laura Bush at an inauguration ceremony for Costa Rican President Oscar Arias in San Jose in May 2006, Leou said.

Commenting on Ma’s announcement that he would no longer engage in “checkbook diplomacy” during his trip, Leou said Ma might be well-intentioned, but he was curious to know whether there were any under-the-table deals.

Some commentators have criticized Nicaraguan President Daniel Ortega, who twice postponed a meeting with Ma in El Salvador. Leou said while punctuality might not be a virtue in Nicaragua, the matter was more complicated than that. Ortega, who was close to Chen, might have done it for his old friend or maybe it was just a scheme to secure more aid as speculated, he said.

Ma later canceled the meeting with Ortega, raising concerns over bilateral ties.

Regarding Ma’s proposal of a “diplomatic truce” with Beijing, Leou said he personally was not against any policy conducive to the national interest. However, it remained to be seen whether the policy would help cement ties with diplomatic allies and motivate them to speak in favor of Taiwan in the international arena.

Chao Yung-mao (趙永茂), a political science professor at National Taiwan University, said that he saw no diplomatic breakthroughs as a result of Ma’s trip.

He was worried instead that Ma’s foreign policy would compel diplomatic allies to look more practically at their relationship w ith Beijing.

Chao said China has made aggressive efforts to push its diplomatic agenda on the cultural front in that region.

“Yes, Ma did bring a percussion troupe on the trip, but it looked more like a performance group entertaining good friends,” Chao said.

“I am more curious to know what his overall strategy is and how he plans to connect our businesses with their counterparts in Central America,” he said. “He needs to carefully examine his soft foreign policy or he will find himself losing ground to Beijing.”

Chao encouraged Ma to adopt the same approach as the Dalai Lama, who used Tibet’s advantages to peacefully promote his political agenda.

“Ma does not need to provoke Beijing, but he does not need to be so low-key and weak-kneed either,” he said. “He would receive much more respect if he dared to speak up for Taiwan at an appropriate time. He would also raise the country’s international profile and secure more support from the international community.”

Liou To-hai (劉德海), a political professor at National Chengchi University, however, gave high marks to Ma’s last overseas trip. Nevertheless, he expressed concern over Ma’s proposed “diplomatic truce” with Beijing.

“It’s worth a try, but the problem is that we must depend on Beijing’s goodwill,” he said. “If China is bent on luring our diplomatic allies, there is nothing we can do about it and it poses a big risk.”

Beijing, however, has restrained itself so far because it realizes that it is to its disadvantage to give the Ma administration a hard time, because no matter who wins the next election, Liou said, no future leader will be as willing as Ma to improve relations with Beijing.

“It is obvious Beijing’s concessions to Taiwan are aimed at countering Washington’s domination in the region,” he said. “Taipei and Beijing might maintain improved relations for a while, but we also know that we don’t have any other alternative but to continue engaging Beijing.”

Liou said he agreed that the administration should focus on sustaining the country’s economic survival.

To boost international competitiveness, Liou said the government should team up with businesspeople to create the optimum environment for them.

He was not against signing free trade agreements with the country’s diplomatic allies in Central America, but such economic pacts seemed to have more political value than economic, he said.

Nor was he opposed to encouraging businesses to invest there if it conformed to their interests and that of the country, he said, but he did not think it was worth exchanging this for political recognition.

“Both the KMT and former Democratic Progressive Party (DPP) governments attached too much importance to political recognition,” he said. “Sometimes we are threatened or blackmailed, but we take it because diplomatic relationships are what we are after and that is the price we have to pay.”
This story has been viewed 886 times.

———————

China Airlines planning to raise NT$5.8 billion

CASH CRUNCH: CAL revenue in Q1 fell 26 percent year-on-year to NT$23.1 billion, down 18 percent from the previous quarter. Net loss totaled NT$2.96 billion


Friday, Jun 26, 2009, Page 11By Kevin Chen Staff reporter China Airlines Ltd (CAL, 中華航空) plans to raise NT$5.8 billion (US$176 million) through a private placement to increase the company’s operating funds and repay debt, the nation’s largest carrier said in a statement yesterday.

The airline said its board of directors approved the plan on Wednesday, through which CAL would issue 602.9 million new shares at NT$9.62 each, the statement said.

The carrier expects to raise the funds between today and July 28 from designated investors, including state-run China Aviation Development Foundation (航發會), spokesman Bruce Chen (陳鵬宇) said yesterday by telephone. He did not elaborate.

The private placement is part of the company’s plan to sell up to NT$10 billion in bonds this year, in addition to new share issurance, to repay debt and boost its working capital, the company said in early April.

CAL, which reported its sixth quarterly loss in a row during the first three months of the year, said on April 30 that it expected to see rising quarterly revenue for the rest of the year thanks to more flights between Taiwan and China, as well as continued capacity adjustments and cost controls.

AGREEMENTS

Based on cross-strait transportation agreements reached in April, starting from next month, the number of direct flights will be increased from 108 charter flights operated weekly by both sides to a total of 270 regular and chartered flights.

Earlier this month, the government reached agreements with the nation’s five carriers including CAL on the scheduled-flights allocation across the Taiwan Strait. Under the arrangement, CAL will operate 55 flights per week, as will EVA Airways Corp (長榮航空), while TransAsia Airways (復興航空) will operate 24 weekly flights.

Against this backdrop, CAL is likely to “re-allocate fleet capacity from Japan routes” next month to meet rising demand for cross-strait flights, Peter Kurz, head of Taiwan equity research at Citigroup Global Markets Inc, said in a client note on Tuesday.

But Chen dismissed speculation that the proceeds raised from the private placement would be used to expand its fleet of aircraft or other route adjustments in relation to the expansion of cross-strait flights.

“The purpose of this private placement is to strengthen our capital structure,” he said.

REVENUE

CAL’s revenue in the first quarter fell 26 percent year-on-year to NT$23.1 billion, and was down 18 percent from the previous quarter.

Its net loss totaled NT$2.96 billion, or NT$0.62 per share in the quarter.

That compared with a net loss of NT$2.97 billion a year earlier and a loss of NT$19.94 billion in the previous quarter.

For last year alone, the carrier recorded a net loss of NT$32.35 billion.

While falling oil prices and expanding direct flights were positive for CAL earnings, Kurz said in the note that CAL might continue posting net losses over the next two years, citing reasons such as falling demand for cargo transport amid the slowing global economy.
This story has been viewed 604 times.

http://www.taipeitimes.com/News/biz/archives/2009/06/26/2003447157


Posted in Uncategorized | Leave a Comment »