Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2015

►Tội phạm Ba Sàm, pháp luật ba xạo

Posted by hoangtran204 on 30/09/2015

Người Buôn Gió

28-9-2015

Ngày 6 tháng 2 năm 2015 Viện Kiểm Sát tối cao của nước CHXHCN Việt Nam đã ra bản cáo trạng số 05 đề nghị truy tố nhà báo tự do Nguyễn Hữu Vinh (tức Ba Sàm) cùng với người đồng phạm nữ là Nguyễn Thị Minh Thuý.

Bản cáo trạng kết luận căn cứ kết luận điều tra của cơ quan an ninh để truy tố hai người này vào điều 258 của bộ luật hình sự Việt Nam hiện nay.

Nhưng cho đến những ngay cuối cùng của tháng 9 năm 2105, tức 8 tháng sau khi có bản cáo trạng này. Phiên toà xét xử hai người trên vẫn chưa được tiến hành.


Nguyên nhân là do toà án trả hồ sơ đòi viện kiểm sát làm lại hồ sơ vụ án. Cũng như trước đó viện kiểm sát đã trả lại hồ sơ cho cơ quan an ninh điều tra. Việc trả đi, trả lại hồ sơ vụ án để bổ sung cứ diễn ra hết từ cấp này đến cấp khác, hết lần này đến lần khác. Dẫn đến là hai bị cáo này bị tạm giam đã 17 tháng mà chưa được xét xử.

Theo như cáo trạng thì anh Vinh và chị Thuý bị kết vào khoản 2 điều 258, có khung hình phạt từ 2 đến 7 năm. Đây là dạng tội phạm nghiêm trọng theo luật gọi. Điều 120 của luật tố tụng hình sự quy định về thời hạn tạm giam tối đa cho tội nghiêm trọng là.

–  Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

Nếu như vậy thì tổng thời hạn tạm giam của vụ án này sẽ là 3 tháng đầu tiên, 2 tháng gia hạn lần thứ nhất, một tháng gia hạn lần thứ hai. Tổng thời hạn tạm giam sẽ là 6 tháng.

Nhưng đến nay hai người này đã bị tạm giam 17 tháng mà vẫn chưa xét xử,  gần gấp 3 lần thời gian mà điều 120 quy định.

Tất cả là vì sự nhùng nhằng trả đi, trả lại hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng là toà án, viện kiểm sát, an ninh điều tra.

Sở dĩ pháp luật cần quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử là để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo. Tránh trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không tìm được chứng cứ kết tội mà vẫn cứ giam bị cáo   vô tội vạ trong nhà tù. Hoặc hạn chế trường hợp khi  đưa ra xét xử mức án phán quyết của toà tuyên ít hơn thời giam bị cáo tạm giam.

Trong vụ án này thì thời gian của điều tra, truy tố, xét xử đều đã hết. Nhưng anh Vinh và chị Thuý vẫn bị tam giam và chưa có thông tin gì về số phận của họ.

Ai cũng biết chế độ cộng sản không cần đến luật,  chế độ có thể giam giữ con người trong nhà tù hàng chục năm với cái tên gọi là ” tập trung cải tạo ”. Có thể bịa ra chứng cứ, nhân chứng để mở phiên toà bất cứ lúc nào và khép bất cứ tội gì, tuyên mức án mà những người làm an ninh bảo vệ chế độ này muốn.

Tuy nhiên thì trong vụ án anh Vinh và chị Thuý, cơ quan an ninh lại muốn thể hiện mình làm đúng pháp luật nên đã ra lệnh bắt khẩn cấn, khởi tố, khám xét nhà một cách công khai, rùm beng để lấy tiếng trong dư luận. Và khi đã khởi đầu một cách hoành tráng như thế để lấy oai phong,  thì không thể   kết thúc một cách nhơ nhớp như chuyển sang tập trung cải tạo hoặc đưa ra xét xử một cách tù mù.

 Vì cơ quan an ninh đã khởi đầu quá hoàng tráng vụ án này, nên đã để lại gánh nặng cho toà án phải xử một cách hoàng tráng tiếp theo. Bây giờ toà án xử thế nào cho vang dội dư luận khi mà cả hai bị cáo đều không hề nhận tội. Nếu kết tội hai bị cáo là người tán phát bài viết nói xấu chế độ, vậy thì  tác giả của những bài viết ấy đâu, những tác giả ấy có phải ra hầu toà không.? Kết luận những bài viết ấy xâm hại đến lợi ích của thủ tướng , tổng bí thư …vậy mức độ thiệt hại khi bị xâm phạm là thế nào. Những người bị xâm hại này có ra toà để bảo vệ quyền lợi của họ không, hoặc cử người đại diện, hoặc phải có ý kiến cá nhân của mình về quyền lợi bị xâm phạm.

Cứ theo chứng cứ mà bản cáo trạng nêu, thì hai cha con nhà Nguyễn Tấn Dũng phải ra toà để làm rõ mình đã bị thiệt hại thế nào,  khi bị những bài viết có tên trong cáo trạng gây ra. Còn nếu hai cha con Nguyễn Tấn Dũng không có ý kiến cho rằng mình là người bị hại thì chứng cứ trong cáo trạng nêu là vô giá trị.

Nếu xét xử mà Viện kiểm sát Nhân Dân, Toà án Nhân Dân vừa xử tội phạm vừa đứng ra đại diện bảo vệ quyền lợi thay cho người bị hại thì khác nào vừa đá bóng vừa thổi còi. Khác nào Viện kiểm sát Nhân Dân và toà án Nhân Dân là của cha con ông Nguyễn Tấn Dũng. Hoặc là thân nhân, đại diện cho cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng.

Để phiên toà hoành tráng như kiểu mở đầu của cơ quan an ninh điều tra, phiên toà cần có sự tham gia của luật sư hay đại diện chủ thể bị xâm hại. Dù chủ thể ấy là nhà nước, chế độ hay thủ tướng, tổng bí thư…những thiệt hại phải cụ thể không thể mơ hồ. Ví dụ về uy tín thì trước đây có bao nhiêu người dân tin ông Dũng, sau khi bị cáo đưa bài viết thì có bao người không tin ông Dũng. Và cái không tin ấy ảnh hưởng đến ông Dũng ra sao.? Ông Dũng bị trầm cảm phải vào viện chữa trị tâm lý, ông Dũng sắp được làm tổng bí thư nhưng vì những bài viết kia mà bị đình lại….

Thực tế là hiện nay vị thế ông Nguyễn Tấn Dũng nâng cao, trước kia ông bị tín nhiệm thấp, sau này tín nhiệm ông cao nhất trong bộ chính trị. Vậy ông Dũng không hề bị thiệt hại gì về uy tín do những bài viết mà các đối tượng đăng tải cả. Ông Dũng và con trai ông là Nguyễn Thanh Nghị trong suốt quá trình điều tra không hề có bút lục nào khẳng định mình là người bị hại trong vụ án này.

 Như thế có thể thấy rõ, chứng cứ mà bản cáo trạng đưa ra là bịa đặt, nói cách khác là ba xạo. Cần phải loại bỏ kết luận hành vi của các bị cáo trong cáo trạng là bôi nhọ cá nhân, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân. Vì đơn giản,  là chẳng có cá nhân nào đứng ra nhận mình bị xâm phạm hay bôi nhọ trong vụ án này.

Có chăng chính những kẻ điều tra vụ án này đã cố tình lôi nhưng bài viết liên quan đến cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng vào bản kết luận điều tra, với mục đích nhằm triệt hạ uy tín cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng. Muốn đẩy viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân dân phải đứng ra bảo vệ quyền lợi cá nhân cha con nhà ông này, nhằm nhục mạ hệ thống tư pháp ưu việt của chế độ CNXH.

Hoặc chính cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng đã dàn cảnh tạo vụ án này để trả thù cá nhân vì bị các bài viết xúc phạm. Nhưng che dấu không dám đứng ra nhận là bị hại, ép buộc các cơ quan tố tụng phải trừng trị đối tượng để đe doạ những ai khác dám chỉ trích cha con nhà ông ta.

Dù sao thì thời hạn tạm giam, truy tố, xét xử đã hết. Phiên toà có xử theo kiểu viện kiểm sát, toà án bảo vệ quyền lợi cho người bị xâm hại là cha con ông Nguyễn Tấn Dũng hay là cha con ông Nguyễn Tấn Dũng ra toà, cử đại diện thay mình với tư cách người bj hại, hoặc cha con ông Dũng lờ đi không khẳng định mình là người bị hại. Thì cả ba yếu tố đó, yếu tố nào cũng biến phiên toà thành một trò cười thảm hại trong con mắt dư luận nhân dân trong nước và quốc tế.

Cách nào đi nữa thì vụ án xử tội phạm mang tên Ba Sàm cũng cho thấy pháp luật của chế độ Việt Nam ngày nay là ba xạo.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

►Thắp nén hương nhân ngày giỗ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Posted by hoangtran204 on 30/09/2015

TT Nguyễn Văn Thiệu (5-4-1923- 29-9-2001)

FB Tuan-Minh Nguyen

Bùi Anh Trinh

29-9-2015

Tôi nhận bài viết của tác gỉa Bùi Anh Trinh vào Sep 14, 2015 nhưng tôi quyết định giữ đến ngày hôm nay. Có thể bài viết đã được đăng trên online.

—–

anhbasam

H1

* Ngày 29-9 năm nay đã là ngày giỗ thứ 14 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Ⅰ – PHẢI CHĂNG MỸ BỎ RƠI?

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Ⅱ – Frank Snepp, THÁNG 3 NĂM 1973.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval.

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Ⅲ – Nixon THẤT HỨA VỚI Liên Xô, THÁNG 8 NĂM 1974.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

Ⅳ – HÀ NỘI CAY ĐẮNG.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Ⅴ – HẾT ĐẠN VÀ HẾT NHIÊN LIỆU.

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên).

Thiếu Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Pho không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

Ⅵ – Và TÌNH HÌNH THỰC SỰ VÀO THÁNG 3 NĂM 1975:

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Ⅶ – THẾ BẮT BUỘC của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Các đoạn trích dẫn trên đây đã giải thích vì sao Tổng Thống Thiệu phải bỏ Vùng 1 cũng như Vùng 2. Và vì sao Tướng Viên không nhiệt tình tham gia kế hoạch của Tướng Thiệu.

Cuối cùng, sau 30-4-1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 40 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.

 ———/———–

Các tài liệu được giải mật gần đây:

Thư của TT Nixon gởi TT Hiệu, 1973.

Thư TT Nixon gởi TT Thiệu tháng 1, năm 1973

Thư TT Nixon gởi TT Thiệu 17 tháng 1, năm 1973

——————-

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979     

29-4-2015

  • Phạm Thị Hoài dịch

    Nguyễn Văn Thiệu và Henry Kissinger

    SpiegelThưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

    Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

    Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

    SpiegelKissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

    Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

    SpiegelKissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

    Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

    Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon tại cuộc họp ở Midway 1969

    SpiegelVậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

    Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

    Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

    Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

    SpiegelKhi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

    Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

    SpiegelVà ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

    Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

    Spiegel… và mang tính tượng trưng?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

    SpiegelMỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

    Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

    SpiegelÔng đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

    SpiegelNhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

    SpiegelỞ thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

    SpiegelCó lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác.”

    Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

    Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân.

    Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

    Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

    Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

    Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

    SpiegelCó lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

    SpiegelÔng có lập luận như thế với Kissinger không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?”

    SpiegelÔng ấy trả lời sao?

    Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

    SpiegelNhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

    Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

    Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

    SpiegelVậy Kissinger nói sao?

    Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

    SpiegelKissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

    Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

    SpiegelVề vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

    Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ.”

    Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

    Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

    SpiegelBây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

    Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

    SpiegelVì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

    Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

    SpiegelKissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

    Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

    SpiegelTinh thần binh lính bị suy sụp?

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

    SpiegelKissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

    Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

    SpiegelTức là ông đã thông báo cho họ?

    Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

    SpiegelMột điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

    Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

    SpiegelKissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

    SpiegelKhi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

    Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

    SpiegelMặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

    Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

    SpiegelVề điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

    SpiegelNếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

    Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

    Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

    SpiegelTrong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

    SpiegelHay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

    Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

    Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

    SpiegelNhư trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

    Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

    SpiegelTrong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.

    Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

    Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

    Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa”.

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

    SpiegelKissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

    SpiegelKissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.

    Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

    Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

    Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

    Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

    Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

    SpiegelMột số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

    Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

    SpiegelNhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

    Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”

    SpiegelKissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”

    Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

    SpiegelCó bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”

    Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

    SpiegelCá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

    SpiegelXin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

    (Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten“, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.)

    Đã đăng trên báo Trẻ Online.

    Josh Gelernter
    Athena, cộng tác viên Dân Luận, chuyển ngữ

    Nhìn sự phát triển của Hàn Quốc để tưởng tượng nếu Việt Nam Cộng Hòa còn sống đến hôm nay. Ảnh minh họa.

    Hãy nhìn vào các nước Đông Á và tưởng tượng xem Việt nam Cộng Hòa nếu còn sống sẽ trở thành một quốc gia như thế nào?

    30 tháng Tư sắp tới là ngày kỷ niệm lần thứ 40 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ. Bốn mươi năm sau khi Mỹ bỏ rơi miền Nam Việt Nam, rất có thể lời nói dối kinh điển nhất trong lịch sử nước Mỹ chính là “sự can thiệp vào khu vực Đông Dương của Mỹ là một ý tưởng quá tệ”.

    Trong hầu hết các cuộc tranh luận thì dường như ai cũng nhìn việc tham chiến ở Việt Nam là một sai lầm như một sự thật hiển nhiên, và chỉ có một số người thuộc phe bảo thủ nhìn thấy điều này là điểm đáng để tranh luận. Khi các thành viên Đảng Cộng hòa nói về Việt Nam, họ thường bảo vệ phía quân đội hơn. Thỉnh thoảng còn có người cho rằng chiến dịch Tết Mậu Thân là một chiến thắng của nước Mỹ. Thỉnh thoảng câu chuyện Mỹ Lai lại được đem ra so sánh với hàng ngàn tội ác tương tự, và hàng tá những vụ còn nặng nề hơn mà bộ đội miền Bắc đã thực hiện. Hiếm khi có người chỉ ra rằng từ khi Creighton Abrams thay thế vị trí đứng đầu Bộ chỉ huy Việt trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam do William Westmoreland nắm giữ, chúng ta đã bắt đầu thắng trong trận chiến – và bằng việc từ chối thực hiện theo các thỏa thuận sau Hiệp định Paris, Quốc Hội đã giật chiến thắng quân sự khỏi tay miền Nam Việt Nam.

    Thay vì đưa ra những lý lẽ từa tựa như vậy, tôi sẽ chỉ ra một vài thực tế về khu vực Đông Á trong thời điểm hiện tại. Sau khi chủ nghĩa đế quốc sụp đổ cùng với thời điểm kết thúc Thế chiến thứ II, khu vực Đông Á bắt đầu xây dựng lại từ đầu. Mỹ đã ủng hộ ba chính phủ chống Cộng Sản trong cuộc chiến ngăn cản chủ nghĩa Marx lan rộng: Chúng ta ủng hộ nước Trung Hoa Dân Quốc chống lại Công hòa Nhân dân Trung Hoa, chúng tôi ủng hộ nước Cộng hòa Triều Tiên (Hàn Quốc) chống lại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, và chúng tôi ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này có nghĩa là, Đài Loan chống lại Trung Quốc theo phe Cộng sản, Nam Hàn chống lại Bắc Hàn, và miền Nam Việt Nam chống lại miền Bắc Việt Nam. Hai trong số ba nước cộng hòa trên giờ được xếp hạng trong top những nước phát triển, thịnh vượng, và tự do nhất trên thế giới.

    Một trong những chỉ trích công khai về việc chính phủ Mỹ ủng hộ Việt Nam Cộng hòa là chính phủ miền Nam không hề mang tính dân chủ. Điều này hoàn toàn đúng; miền Nam Việt Nam do một chính quyền quân sự cầm quyền với sự hợp tác dân sự ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, để giải thích chúng ta có thể dẫn lời ông Leo Ryan, một nghị sĩ phản chiến thuộc Đảng Dân Chủ: “Mặc dù miền Nam Việt Nam không có nền tảng dân chủ, nhưng rõ ràng là những cáo buộc đàn áp nhân quyền đã bị thổi phồng lên. Vẫn có các phe đối lập chính trị và các cơ quan báo chí. Không nghi ngờ rằng ở miền Nam thời đó có vài tù nhân chính trị nhưng người dân và các lãnh đạo phe đối lập không hề sợ hãi vì chính quyền đàn áp.”

    Điều may mắn là, thị trường tự do đã thúc đẩy các nước không có tự do này đi đúng hướng. Giống như Việt Nam Cộng hòa, hai nước Cộng hòa Trung Hoa và Triều Tiên đều trải qua thời kỳ bị lãnh đạo bởi những nhà độc tài quân sự. Nam Triều Tiên do Tướng Park Chung-hee cầm quyền từ cuộc đảo chính năm 1961 đến khi ông bị ám sát vào năm 1979. Chính quyền Park Chung-hee đã tàn lụi vì sự đàn áp chính trị, nhưng ông đã xây dựng Hàn Quốc thành một cường quốc, trở thành nền tảng phát triển dân chủ của Hàn Quốc ngày hôm nay.

    Tương tự, Trung Hoa Dân Quốc bị cai trị dưới thiết quân luật, do Tổng Tư lệnh Chiang Kai-shek lãnh đạo cho đến khi ông qua đời vào năm 1975. Giống như Park Chung-hee, luật lệ của Chiang Kai-shek cũng nhuốm màu sắc đàn áp, nhưng đã trở thành một quốc gia cực kỳ thịnh vượng – dưới thời con trai của ông, Chiang Ching-kuo – và được chuyển giao thành một nước hoàn toàn tự do, dân chủ.

    Điều không may là Đài Loan không được Liên Hợp Quốc công nhận là một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, bằng việc tính toán dựa trên công thức Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hợp Quốc (trong đó nhấn mạnh đến mức sống của người dân), Đài Loan là nước đứng thứ 21 trên thế giới về quốc gia phát triển nhất. Hàn Quốc đứng thứ 15. Cả hai quốc gia này đều xếp trên các nước châu Âu khác như Áo, Bỉ, Luxembourg, Ý, và Phần Lan; Hàn Quốc thậm chí còn đánh bật Nhật Bản, Pháp, và Israel.

    Mặc dù có rất ít tài nguyên thiên nhiên, Đài Loan vẫn xếp thứ 19 trong số các nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới: khoảng 45.854$/năm, cao hơn cả Canada, Đan Mạch, Bỉ, Pháp, Anh, Nhật Bản, và Ý. Cũng trong tình cảnh ít tài nguyên, Hàn Quốc xếp ở vị trí thứ 30 trong danh sách trên, cao hơn New Zealand, Tây Ban Nha, và cả hai nửa của Tiệp Khắc cũ (nay là Cộng hòa Séc và Slovakia).

    Nhìn sang hai nước Cộng sản đồng cấp: Trung Quốc có thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 70, thấp hơn rất nhiều so với Đài Loan, xếp sau cả Turkmenistan, Algeria, Libya, quốc đảo Maldives, và Iraq. Bắc Triều Tiên gần như đứng chót trong bảng xếp hạng, thấp hơn cả Zimbabwe, Rwanda, và Haiti. Về mặt phát triển con người, Trung Quốc cũng đứng thứ 70 sau Đài Loan, Tunisia, Peru, Grenada, và Azerbaijan. Còn Bắc Triều Tiên, vì những lý do đã quá rõ ràng, chẳng thể nào xác định được chính xác.

    Và nếu so sánh các quốc gia Châu Á tự do có Mỹ đứng đằng sau với Việt Nam: Thiên đường của ông Hồ Chí Minh đứng thứ 122 về phát triển con người, sau cả Syria, Iraq, Moldova và Gabon, và đứng thứ 126 về GDP trên đầu người, sau Cộng hòa Congo, Swaziland, Dominica và Albania.

    Có lẽ đây là hậu quả tất yếu của cuộc tranh trừng truyền thống kiểu Cộng sản đối với các địa chủ, giáo viên, và trí thức.

    Quan trọng hơn cả nền kinh tế, hãy nhìn vào mức độ tự do ở các nước này. Đài Loan và Hàn Quốc có bầu cử tự do, nền tư pháp độc lập, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do lập hội, và tự do ngôn luận. Trong khi đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì không. Tất nhiên, Việt Nam cũng thế vì Đảng Cộng sản tiếp tục nắm quyền bầu cử và tư pháp, và tiếp tục bắt bớ, tra tấn các nhà đối lập chính trị và tôn giáo.

    Thử tưởng tượng xem Việt Nam Cộng hòa – miền Nam Việt Nam – sẽ như thế nào ngày hôm nay. Việt Nam là đất nước đông dân thứ 13 trên thế giới, với hơn 90 triệu người. Phân nửa số đó, nhiều hơn hoặc ít hơn, có thể được sống trong đất nước tự do và thịnh vượng như Hàn Quốc và Đài Loan. (Thậm chí có khi còn giàu có hơn, vì – không giống như Đài Loan và Hàn Quốc – Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn, tích trữ dưới dạng dầu mỏ ở ngoài biển.)

    Và như thế chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng, bất chấp những chuyện xảy ra vào những năm 60 và 70, vào năm 2015 thì việc chiến đấu vì miền Nam Việt Nam là điều cần phải làm. Và đó là thời điểm nhiều người cũng nói vậy – đặc biệt là giới chính trị gia và giáo viên, đặc biệt là những người cựu chiến binh đã già. Và bởi vì, 40 năm sau khi Sài Gòn thất thủ, tất cả chúng ta đều học được bài học đắt giá khi Mỹ đã từ chối đấu tranh cho điều tốt đẹp.

    Josh Gelernter viết hàng tuần cho NRO và là cộng tác viên thường xuyên cho tờ The Weekly Standard.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Hội Nghị Paris 1968-1973 | Leave a Comment »

►Người TQ tính toán gì qua việc mua đất vùng ven biển Đà Nẵng: chặt lìa Bắc – Nam ?

Posted by hoangtran204 on 28/09/2015

Chủ tịch TQ Hồ Cẩm Đào đã dùng máy bay thị sát  Đà Nẵng 2006…

Người nói tiếng Trung Quốc ồ ạt mua đất 

ven biển Đà Nẵng?

Tuổi Trẻ

26/09/2015 11:20 GMT+7

 

TT – Ông Nguyễn Điểu, giám đốc Sở Tài nguyên – môi trường TP Đà Nẵng, vừa lên tiếng cảnh báo hiện tượng người nước ngoài núp bóng người Việt mua lại nhiều lô đất ven biển trên địa bàn.

 

Dải đất được chính quyền Đà Nẵng cảnh báo đang có hiện tượng người nước ngoài đứng sau lưng người Việt để mua đất – Ảnh: Hữu Khá

Dải đất được chính quyền Đà Nẵng cảnh báo đang có hiện tượng người nước ngoài đứng sau lưng người Việt để mua đất – Ảnh: Hữu Khá

Thông tin tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng, ông Điểu cho biết: Sở Tài nguyên – môi trường vừa gửi hồ sơ qua Sở Kế hoạch – đầu tư để xem xét cẩn trọng nguồn gốc các doanh nghiệp do người Việt đứng tên sang nhiều lô đất ở các quận ven biển Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, nhưng sau lưng là những người nước ngoài.

Những vụ chuyển nhượng này thông qua rất nhiều cấp, thực hiện thỏa thuận với nhà đầu tư, các chủ nhà đất của dân, các chủ khách sạn… Đó là hoạt động chuyển nhượng đất đai cho người nước ngoài, chủ yếu là người nói tiếng Trung Quốc.

“Điều này tiềm ẩn nguy cơ rất lớn. Chúng tôi đã nhiều lần báo cáo” – ông Điểu nói.

Liên quan đến vụ việc, ông Trần Thọ – bí thư Thành ủy Đà Nẵng – cho rằng việc người nước ngoài đứng sau lưng người Việt để mua đất là chuyện cực kỳ nguy hiểm, đồng thời yêu cầu cơ quan chức năng lưu ý thường xuyên kiểm tra, có biện pháp phù hợp, xử lý đúng quy định pháp luật.

Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, khu vực mua bán đất có yếu tố nước ngoài xảy ra tại dải đất sát với sân bay Nước Mặn (quận Ngũ Hành Sơn). Nơi đây thường xuyên có đông đảo người nước ngoài đến du lịch, cư trú.

Vừa qua có 13 lô đất được chuyển nhượng có dấu hiệu do người nước ngoài bơm tiền cho người Việt mua đất, trong đó một số trường hợp đang làm thủ tục xây dựng nhà công trình để kinh doanh.

Ngoài ra, một số nhà hàng, khách sạn ven biển đã xuất hiện tiếng Trung to tướng bên cạnh tiếng Việt để lôi kéo khách.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Lan, một chuyên gia bất động sản ở Đà Nẵng, cho biết theo Luật đất đai năm 2013, người nước ngoài không được phép nhận quyền sử dụng đất tại VN. Luật nhà ở (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) chỉ cho phép người nước ngoài được mua nhà tại VN với thời hạn sở hữu tối đa là 50 năm. Do vậy, việc người nước ngoài mua bán đất, dù dưới hình thức núp bóng người Việt, cũng là hành vi vi phạm pháp luật.

Trong khi đó, dù cho rằng rất khó xử lý về mặt pháp luật do người Việt vẫn đứng tên trên giấy tờ sang nhượng đất đai, nhưng theo luật sư Lê Cao (Công ty luật hợp danh FDVN), chuyện người Trung Quốc núp bóng người Việt mua đất ven biển Đà Nẵng là vấn đề cần phải cảnh giác bởi liên quan đến chuyện an ninh quốc phòng ở các vị 
trí trọng yếu ven biển.

Theo ông Cao, để ngăn chặn hiện tượng người nước ngoài núp bóng mua đất tại các khu vực nhạy cảm này, chính quyền cần kiểm soát về mặt con người, trong đó giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ở các công trình, khu đất này. Đặc biệt là phải giám sát, kiểm soát được nguồn lao động mà chủ cơ sở sử dụng, nắm được người chủ thật sự họ 
đang làm gì ở đó.

Hữu Khá

_________

 

Trung Quốc đã đặt xong từ lâu căn cứ quân sự tại khu Hoàng Đạt, chạy dọc bờ biển và song song với sân bay Nước Mặn rồi. Đây là điểm ngắn nhất, theo đường chim bay ra tới quần đảo Hoàng Sa – quần đảo của VN bị Trung Quốc cướp năm 1974, trong sự đồng lõa của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Chiếm được vị trí yết hầu Đà Nẵng, chặt lìa Việt Nam làm hai, lúc đó chỉ còn đặt nền cai trị, hoàn thành Hội nghị Thành Đô 1990.

Thực ra, việc bán Đà Nẵng đã xong từ lâu! Nay, hiện thực hóa và công khai hóa việc bán nước để dò lòng dân thôi. Dốt như Tễu chỉ quanh quẩn ao làng còn biết vậy! (xuandienhannom.blogspot.com)

———

 

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bắt đầu thăm chính thức Việt Nam

07:00 AM ngày 16 tháng 11 năm 2006

TP – Đúng 16 giờ 30 phút ngày 15/11, chuyên cơ chở Tổng Bí thư Đảng CS Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào và phu nhân đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Đà Nẵng, mở đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Hội nghị APEC Việt Nam – 2006.

Cùng đi với đồng chí Hồ Cẩm Đào có các đồng chí Vương Cương-Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Văn phòng T.Ư Đảng CS Trung Quốc, Lý Triệu Tinh-Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Vương Gia Thụy-Bộ trưởng Bộ Liên lạc đối ngoại T.Ư, cùng nhiều quan chức cấp cao khác.

Đồng chí Hồ Cẩm Đào, phu nhân cùng đoàn đại biểu Trung Quốc đã đến thăm Nhà máy sản xuất đồ chơi Matrix tại KCN Hoà Khánh. Đây là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với vốn đầu tư 14 triệu USD, đi vào sản xuất từ năm 2004, giải quyết việc làm cho 9.500 lao động địa phương.

Tối cùng ngày, tại Khu nghỉ mát Furama, Bí thư Thành uỷ Nguyễn Bá Thanh cùng lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã tiếp kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, và sau đó là tiệc chiêu đãi của lãnh đạo địa phương chào mừng đoàn khách quý.

Theo chương trình, sáng nay (16/11), đoàn sẽ đến thăm đô thị cổ Hội An (Quảng Nam). Tại đây, đoàn sẽ thăm Hội quán Phúc Kiến và đi bộ thăm phố cổ. Sau đó, đoàn sẽ đáp máy bay ra Hà Nội.

Lễ đón chính thức Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào diễn ra chiều 16/11 tại Phủ Chủ tịch. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào sẽ có cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Các nhà lãnh đạo hai nước sẽ chứng kiến lễ ký kết một số văn kiện hợp tác và dự lễ khai trương trang tin điện tử Việt Nam-Trung Quốc tại Văn phòng T.Ư Đảng.

Trong thời gian thăm chính thức Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào dự kiến có các cuộc hội kiến với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí Hồ Cẩm Đào sẽ đến đặt vòng hoa và viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây là lần thứ 4 đồng chí Hồ Cẩm Đào đến thăm Việt Nam và là lần thứ 2 ông đến thăm trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Chuyến thăm lần này diễn ra trong bối cảnh quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt-Trung thời gian qua được thúc đẩy cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

Kim ngạch thương mại song phương đạt 8 tỷ USD năm 2005 và có khả năng đạt 10 tỷ USD trong năm nay. Tính đến cuối năm ngoái, Trung Quốc có 349 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư 730 triệu USD. Về biên giới, lãnh thổ, hai bên đang quyết tâm hoàn thành toàn bộ việc phân giới, cắm mốc trên đất liền vào năm 2008.

Về Biển Đông, hai bên đã triển khai điều tra nguồn lợi thủy sản trong vùng đánh cá chung, tiến hành tuần tra chung trong Vịnh Bắc Bộ, và đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh, hợp tác ba bên Việt Nam-Trung Quốc-Philippines về thăm dò địa chấn ở Biển Đông cũng đang được triển khai thuận lợi.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào diễn ra chỉ khoảng 3 tháng sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh hồi tháng 8 . Đây là dịp để hai bên tiếp tục duy trì truyền thống gặp gỡ cấp cao, khẳng định coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

 

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Thời Sự | Leave a Comment »

►The Washington Post: Đã đến lúc phải có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc và Tập Cận Bình

Posted by hoangtran204 on 28/09/2015

The Washington Post: Đã đến lúc phải có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc và Tập Cận Bình (23-9-2015 )

26-9-2015
 
Đối với chủ tịch Tập Cận Bình, thành tích chủ yếu trong cuộc gặp thượng đỉnh với tổng thống Obama có thể là 21 loạt đại bác chào mừng ông ta trên bãi có trước Nhà Trắng vào ngày thứ sáu (25 tháng 9 – ND).
 
Đối với chủ tịch Tập Cận Bình, thành tích chủ yếu trong cuộc gặp thượng đỉnh với tổng thống Obama có thể là 21 loạt đại bác chào mừng ông ta trên bãi có trước Nhà Trắng vào ngày thứ sáu (25 tháng 9 – ND). Buổi đón tiếp do tổng thống Mỹ tổ chức với đầy đủ các nghi thức là sự kiện đặc biệt đối với nhà cầm quyền Trung Quốc ngay trong thời điểm khi ông vẫn đang chiến đấu nhằm củng cố quyền lực ở Bắc Kinh và chứng tỏ rằng ông có khả năng khống chế bộ máy quan liêu đầy tham nhũng và nền kinh tế đang trì trệ.
Sau khi chấp nhận dành cho ông ta vinh dự hiếm có như vậy – Trung Quốc là nước phi dân chủ duy nhất mà lãnh đạo được chính quyền Mỹ tiếp đón như chuyến thăm cấp nhà nước – ông Obama còn nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều. Ông phải thuyết phục ông Tập xem xét lại các chính sách gây hấn mà ông đang tiến hành, từ những vụ gián điệp trên mạng nhằm vào cơ quan của và công ty của Mỹ, đến việc xây dựng các sân bay quân sự ở Biển Đông. Trong suốt hai năm qua, lời phản đối của phía Mỹ về những vấn đề đó đã bị lãnh đạo Trung Quốc phớt lờ. Nếu cuộc họp hội nghị thượng đỉnh lần này không làm thay đổi được tình hình, có thể dễ dàng dự đoán rằng quan hệ của hai nước sẽ xấu đi.
     Nhà lãnh đạo Tập Cận Bình và phu nhân đã có chuyến viếng thăm nước Mỹ đầu tiên trong vai trò Chủ tịch Trung Quốc.
Trong cuộc gặp ở California cách đây hai năm, ông Obama đã tập trung vào vấn đề tình báo trên mạng. Nhưng các cuộc tấn công của Trung Quốc tiếp tục leo thang, trong đó có việc ăn cắp hàng triệu đơn khai báo về thu nhập cá nhân của các nhân viên liên bang và ăn cắp thông tin của những công ty công nghệ lớn. Tương tự như Vladimir Putin ở Ukraina, ông Tập có cách tiếp cận vô liêm sỉ là phủ nhận, nói rằng chế độ của ông không chịu trách nhiệm về những hoạt động đó, mặc dù có rất nhiều bằng chứng ngược lại. Để tránh làm gián đoạn hội nghị thượng đỉnh, tổng thống Obama đã hoãn áp dụng những biện pháp trả đũa nhắm vào những đối tượng có liên quan ở Trung Quốc. Nhưng ông cần làm rõ rằng những biện đó sẽ được áp dụng ngay sau khi Tập về nước, ngay cả khi chính phủ hai nước đồng ý về một số biện pháp về an ninh mạng.
 
Tình hình ở Biển Đông là nguyên nhận thậm chí còn đáng lo hơn. Với việc tiến hành xây dựng các đường băng trên những hòn đảo nhỏ mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, Bắc Kinh đã chuẩn bị nền tảng cho việc sử dụng vũ lực nhằm khẳng định tuyên bố thiếu căn cứ của nước này đối với những vùng biển mà nhiều nước, trong đó có Nhật Bản và Philippines, coi là lãnh thổ mình. Vì những lời phản đối bằng miệng và những lời kêu gọi đàm phán của Mỹ đã không ngăn chặn được hành động của Trung Quốc; phải xem xét những biện pháp khác, trong đó có trừng phạt. Ông Obama phải phá vỡ niềm tin của ông Tập rằng những dự án của ông ta sẽ chẳng tạo ra hậu quả gì, ngoài mấy lời đa to búa lớn từ phía Mỹ.
 
Nhiều chính sách khác của ông Tập cũng làm người ta lo lắng, trong đó có chiến dịch đàn áp những người bất đồng chính kiến ở trong nước, những vụ đàn áp các luật sư và các nhà hoạt động Thiên chúa giáo mà ông ta đang tiến hành và đạo luật mới gây nhiều phiền hà cho các nhóm xã hội dân sự, trong đó có các trường đại học của Mỹ đang hoạt động ở Trung Quốc. Ông Obama hầu như chưa nói về những vi phạm nhân quyền trong quá khứ của Bắc Kinh; đây sẽ là cơ hội tốt để làm việc đó.
 
Các quan chức của Nhà Trắng đã hứa rằng ông Obama sẽ tiến hành “cuộc thảo luận sôi nổi” với ông Tập những khác biệt, ngay cả khi họ bảo vệ quyết định dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc buổi đón tiếp với đầy đủ lễ nghi. Họ đã đúng khi cho rằng tương tác giữa các quan chức cấp cao của Mỹ và Trung Quốc phải tiếp tục, thậm chí ngay cả khi phải dành cho ông Tập nghi lễ mà ông ta đòi hỏi. Nhưng những biện pháp nhằm chống lại chính sách của ông ta phải vượt ra khỏi ngôn từ đao to búa lớn.
 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

►Mất cảnh giác

Posted by hoangtran204 on 26/09/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

26-9-2015

H1Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công an Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên – Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Singapore) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, Bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết.”

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có ba lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.

Dù vì bất cứ lý do gì, những sự thiếu cảnh giác như thế cũng là một điều rất đáng ngạc nhiên. Một trong những truyền thuyết cổ và phổ biến nhất của Việt Nam, chuyện Mỵ Châu và Trọng Thuỷ, đã đặt vấn đề cảnh giác trong quan hệ với Trung Quốc. Những năm chiến tranh, mặc dù quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Quốc vẫn còn êm thắm, Tố Hữu vẫn nhớ bài học ấy và từng nhắn nhủ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Sự bất cẩn hay thiếu cảnh giác của chính quyền Việt Nam hiện nay chắc chắn không phải vì chuyện “trái tim lầm chỗ để trên đầu”. Nhưng nếu không phải “trái tim” thì là cái gì? Theo tôi, không chừng chỉ có tính ích kỷ và sự ngu dốt.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Công an Hà Nội đau đầu về sự ra đời của Kênh truyền hình Lương Tâm TV

Posted by hoangtran204 on 26/09/2015

 Nguyễn Văn Đài      24-9-2015

Ăn gì mà chuyên làm chuyện ngu???

AN Vn vô công, rỗi nghề đi quảng bá cho Lương Tâm TV. Làm mình mệt suốt đêm qua và sáng sớm nay, các NGO quốc tế, Cơ quan ngoại giao yêu cầu cập nhật thông tin liên tục.

Không những vậy, AN Vn bắt, giữ người trái pháp luật. Vi phạm Hiến pháp, luật hình sự khi xâm phạm đến quyền tự do cá nhân, bí mật riêng tư, tài sản, sức khỏe,…. của công dân.

Lương Tâm TV làm các tin tức, bình luận và phóng sự,… và post trên mạng internet quốc tế, cụ thể là Youtube, nhà cung cấp dịch vụ tại Hoa Kỳ. Cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức nào của Việt Nam đều có quyền làm như vậy mà không cần xin phép chính quyền VN.

Vậy mà AN cứ đe dọa các thành viên của LTTV rằng làm như thế phải xin phép, không xin phép là phạm luật.
Nhưng vấn đề ở đây là văn bản luật nào qui định phải xin phép? Xin phép ai?

Công dân VN được làm tất cả những gì pháp luật không cấm.

Pháp luật không cấm công dân làm clip post lên mạng, PL không qui định phải xin phép.
Vậy, Lương Tâm TV cứ làm, mà không cần xin phép.

Chỉ có những thằng ngu mới đi quảng cáo không công cho người khác, lại còn vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Cũng chẳng dọa được ai. Lại vẽ xấu lên mặt của mình và chế độ.

Có chút ít thành công là cướp được tài sản và tiền của người khác.

Nguồn LS Nguyễn Văn Đài

————

Nguyễn Văn Đài's photo.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Kiểm Soát Thông Tin- Internet, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

►Phỏng vấn: Kênh truyền hình Lương Tâm Tivi có 5 thành viên bị công an Hà Nội bắt cóc (đã được thả)

Posted by hoangtran204 on 26/09/2015

Phóng viên Dân Luận thực hiện

Sáng ngày 24/09/2015. Kênh truyền hình Lương Tâm Tivi có 5 thành viên bị bắt cóc và cùng một người đi cùng. Phóng viên (PV) Dân Luận đã nhanh chóng liên lạc với Lê Yến – Biên tập viên, một trong những người bị bắt cóc để phóng vấn:

PV: Chào Lê Yến. Hôm trước bạn bị bắt tầm mấy giờ?

Lê Yến: Tầm hơn 9h, các nhà khoảng hơn 500m.

PV: Những người đó họ có mặc sắc phục không?

Lê Yến: Lúc đó tôi đang đi bộ một mình trên đường, bỗng dưng có một người đặt tay trên vai, tôi ngoảnh mặt lại thì đã thấy bốn đến năm người xung quanh, trong đó có một người phụ nữ, rồi họ đẩy tôi lên xe, trong xe cũng có 2 người mặc sắc phục.

PV: Trước đó bạn có thấy người theo dõi mình không?

Lê Yến: Tôi ra ngoài thì vẫn như mọi lần, vô tư đi. Tôi đang tên đường tới nhà anh trai.

PV: Họ bắt cóc bạn đi đưa đi đâu?

Lê Yến: Khi vừa có người chạm vai tôi, quay lại là đã có xe đi tới đỗ ngay bên cạnh, họ đẩy tôi lên xe. Họ móc điện thoại trong túi quần của tôi, lấy đồ đạc của tôi. Rồi sau đó họ bắt đầu chở đến phường Nghĩa Tân. Họ đẩy tôi lên tầng 2, tôi kháng cự, nhưng họ đông người, họ xô đẩy tôi. Có người còn quát, dọa tôi “mày đi lên”.

PV: Những người họ bắt cóc bạn, họ có giới thiệu họ là ai không?

Lê Yến: Họ không giới thiệu họ là ai, mà họ đẩy ngay tôi lên xe.

PV: Trong lúc họ đẩy bạn lên xe, họ có nói gì không?

Lê Yến: Họ hô bắt lấy con này, rồi mấy người xúm vào, họ đẩy tôi vào xe rất nhanh.

PV: Người dân xung quanh đó họ có biết sự việc đó không?

Lê Yến: Tôi chỉ kịp la lên bắt cóc người, kêu được hai lần bắt cóc người thì đã bị ép đẩy vào trong xe rồi, không kịp để ý xung quanh. Nghĩ lại cũng thấy cảnh đó buồn cười (Cười)

PV: Bạn bị bắt cóc ở địa điểm nào?

Lê Yến: Chỗ đó là Sân vận động Nghĩa Tân. Sau đó họ đưa tôi về phường Nghĩa Tân, cả đám người họ đẩy tôi lên tầng hai. Tôi phản ứng lại, rồi họ quát tháo, dọa nạt tôi, họ xưng mày tao.

PV: Bạn có yêu cầu được gọi cho người thân không?

Lê Yến: Tôi có, lúc trước họ bắt cóc tôi, họ đã móc trộm điện thoại của tôi. Sau khi lên tầng hai, vào một căn phòng phía bên trái của tầng, tôi đòi lấy lại điện thoại và liên lạc người thân. Họ không đồng ý, họ nói “Tài sản của em đã ở trên bàn đây rồi, em không được gọi điện thoại”.

PV: Rồi sau đó bạn có được gọi cho người thân không?

Lê Yến: Tôi nó với họ đó là quyền của tôi, họ không thể ngăn cấm được, họ không có quyền. Họ không cho tôi gọi điện thay vì đó họ lại gọi cho bố tôi.

PV: Khi bị bắt cóc về phường Nghĩa Tân, bạn có đòi hỏi hay yêu cầu họ làm đúng pháp luật không?

Lê Yến: Có chứ, tôi yêu cầu họ làm đúng pháp luật, họ đang bắt cóc tôi, họ đang vi phạm pháp luật. Họ đòi làm việc với tôi, tôi phản đối vì họ đang làm sai, tôi nói với họ nếu mời tôi lên đây thì phải có giấy mời, mà mời chứ không phải bắt cóc.

PV: Sau đó họ nói sao?

Lê Yến: Họ loay hoay một lúc rồi họ đưa tôi giấy mời, tôi không thèm đọc và kiểm tra giấy mời, vì về nguyên tắc là họ bắt cóc tôi họ đã sai, nên tôi không cần phải xem, tôi không có nghĩa vụ phải hợp tác với họ.

PV: Họ có phản ứng gì sau đó không?

Lê Yến: Họ có giải thích rằng, đó là một trong những thao tác để điều tra, họ bảo đó là thao tác để làm việc với công an thôi, chứ không phải là bắt cóc.

PV: Khi bị bắt cóc đưa về đồn công an Nghĩa Tân như vậy, họ có nói rõ lý do cho bạn vì sao không?

Lê Yến: Mất một khoảng thời gian tôi phản đối việc làm sai trái của họ, sau đó họ có nói với tôi là bên cục thông tin gì đó của họ nói rằng kênh truyền hình Lương tâm tivi của chúng tôi là một kênh truyền hình vi phạm những cái thông tư nghị định liên quan đến truyền hình báo chí các thứ… không xin phép, thậm trí trong đó có những nội dung có thể bị phạt lên tới hơn trăm triệu đồng.

PV: Bạn có phản đối điều đó không?

Lê Yến: Ngay từ đầu vào làm việc, tôi đã bất tuân dân sự với họ vì họ đã làm sai, nên tôi không có nghĩa vụ phải hợp tác và trả lời các câu hỏi của họ, tôi không trình bày gì hết, tôi ngồi im. Còn nếu có mà phải nói, thì chúng tôi không có gì sai, tất cả việc làm của chúng tôi đều đã được hiến pháp quy định, chúng tôi đang thực hiện các quyền của mình. Sau thời gian mà tôi không nói gì hết, họ gọi bố tôi vào và đọc những hành vi mà họ nói với tôi cho bố của tôi nghe. Trong khi đó tôi bảo, tôi không phải tội phạm, nghi phạm thì các anh phải đưa ra chứng cứ, rồi các anh mang ra tòa khởi tố khởi kiện, chứ tôi không thể làm việc theo kiểu như thế này.

PV: Họ gọi bố của bạn vào để làm gì?

Lê Yến: Họ gọi bố tôi lên, rồi họ đọc những hành vi mà họ đang gán ghép tội cho tôi để bố tôi nghe, để bố tôi tác động đến tôi.

PV: Tại sao họ lại cần đến bố bạn tác động bạn?

Lê Yến: Ngay từ ban đầu tôi đã không hợp tác, họ lấy trộm đồ của tôi, tôi đòi mà họ không trả, không những thế họ lục và kiểm kê tài sản của tôi mà không có sự cho phép của tôi.

PV: Tài sản của bạn có những gì?

Lê Yến: Tôi có mấy bộ quần áo để trong túi, một cái balo, một cái laptop, một cái máy tính bảng. Trong lúc họ cưỡng chế tài sản của tôi, tôi đã đập tan một cái máy tính bảng của tôi, để phản đối hành vi sai trái của họ.

PV: Phản ứng của phía công an lúc đó họ thế nào?

Lê Yến: Họ đã tác động bố tôi để viết một cái văn bản tự giao nộp các tài sản này của tôi mà trong khi đó tài sản đó là của tôi không phải của bố tôi.

PV: Tại sao họ lại làm vậy?

Lê Yến: Thay vì tịch thu tại sản của tôi, họ lại nhờ bố tôi viết văn bản như vậy để cho hợp pháp hơn.

PV: Bố của bạn có đồng ý không?

Lê Yến: Có, sau đó họ lục lọi đồ của tôi, lục cả ví của tôi, nhưng tôi cương quyết phản đối đến cùng, tôi vẫn giữ. Còn Laptop họ ngang nhiên mở máy tính rồi xử dụng máy tính của tôi, trong khi tôi phản đối.

PV: Bạn bị bắt cóc bao nhiêu lâu?

Lê Yến: Buổi sáng tầm hơn 9h sáng thì tôi bị bắt cóc và đến tối thì tầm hơn 11 giờ đêm tôi được trả tự do.

PV: Họ làm việc với bạn bao nhiêu lâu?

Lê Yến: Cả buổi tôi bất hợp tác, nên họ chỉ làm trong buổi sáng, đến chiều thì không làm việc gì hết, họ giam lỏng tôi trong một căn phòng, thi thoảng lại có vài ba người gặp tôi, người thì công kích tôi, người thì giả vờ vào khuyên răn dạy bảo…., buổi tối thì tôi cũng ngồi trong phòng đó không có thẩm vấn gì hết.

PV: Cả buổi làm việc ngày hôm sau (23/09) chủ yếu họ làm việc với bạn về vấn đề gì?

Lê Yến: Họ tập trung chủ yếu vào kênh truyền hình Lương tâm tivi. Kênh truyền hình này của chúng tôi mới ra, chúng tôi có rất nhiều cộng tác viên và sự hỗ trợ của các phóng viên, truyền hình của các kênh lớn. Chúng tôi mới hình thành nên còn nhiều thiếu sót, việc hình thành kênh truyền hình này là các quyền cơ bản của chúng tôi, chúng tôi muốn tạo ra một kênh truyền hình khách quan, đúng chức năng của nó. Tôi nghĩ chả có lý do gì họ ngăn cấm chúng tôi cả.

PV: Những cộng sự của bạn thì sao, họ cũng bị bắt cùng thời điểm với bạn. Bạn có gặp họ trong đó không?

Lê Yến: (Cười) Trong lúc ngồi ngán ngẩm không biết làm gì, thì tôi thấy anh Đạt béo cộng sự của tôi đi qua cửa, hai anh em chúng tôi nhìn nhau cười. Trong lúc họ thẩm vấn tôi, họ cũng nói là mấy người kia nhận tội hết rồi, người kia chắc là cộng sự của tôi, tôi nghe mà buồn cười quá, chúng tôi có gì sai mà phải nhận tội cơ chứ. (Cười).

PV: Họ có hỏi những việc nào khác ngoài chuyện kênh truyền hình Lương tâm tivi không?

Lê Yến: Tất nhiên là có, nhưng ngay từ đầu tôi đã phản đối hành vi sai trái của họ, nên tôi không có trình bày gì hết.

Sự kiện công an bắt giữ Biên tập viên và các nhân viên của Kênh truyền hình Lương tâm tivi đã khiến dư luận quan tâm. Khi không thể liên lạc được cho bạn của mình là Lê Yến BTV, facebooker Lý Quang Sơn đã đăng lên trên trang cá nhân rằng cô và các người bạn khác đã bị bắt. Ngay sau đó các hot facebooker, blogger như Nguyễn Lân Thắng, Đoan Trang, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lan Lê, Hoàng Dũng, Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Văn Đề, Thảo Teresa, JP Nguyễn Hữu Vinh, Lã Việt Dũng… đã chia sẻ các thông tin trên.

Đến cuối chiều ngày 23/09/2015, có khoảng trên 20 người đến trước trụ sở công an quận Hai Bà Trưng yêu cầu công an trả tự do cho các thành viên bị bắt giữ. Ngay sau đó, đầu giờ tối tất cả các thành viên đều bị đàn áp, công an đã đánh người. Tuy vậy, mọi người tham gia đòi người không dừng lại, vẫn tiếp tục yêu cầu công an trả tự do cho những người bị bắt cóc, sau khi nghe tin trên mạng các thành viên tham gia đòi người bị công an đàn áp. Mọi người kéo đến càng đông hơn.

Sau khi được trả tự do, Biên tập viên Lê Yến chia sẻ,sau một ngày phải ở trong đồn công an, cô rất mệt, hôm sau họ bắt cô lên làm việc tiếp. Buổi sáng hôm sau, công an đến nhà của cô yêu cầu cô lên làm việc, cô từ chối và phải có giấy mời. Sau đó họ đã áp tải cô về đồn để làm việc buổi thứ hai.

Kết thúc buổi làm việc thứ hai, qua trao đổi phóng viên cô cho biết, buổi sáng họ vẫn tập trung về các nội dung đã hỏi về buổi hôm trước, còn cả buổi chiều tôi đòi về họ không cho, còn lại tôi ngồi không trong phòng.

Được hỏi về tinh thần của cô thế nào sau hai buổi làm việc thì BTV Lê Yến chia sẻ: “Vào đó tôi không sợ gì hết, tôi cũng không làm gì sai, mọi thứ tôi làm pháp luật không có cấm, hơn thế họ là người làm sai, tôi rất bình tĩnh và ngay cả bản thân họ trong quá trình làm việc cũng không có gì căng, hiện tại thì tôi cũng vậy”.

PV: Bạn muốn gửi điều gì tới mọi người không?

Lê Yến: Nhân tiện cho tôi gửi lời cảm ơn tới tất cả các anh chị em, cô chú đã quan tâm và nhiệt tình giúp bọn tôi. Khi biết tin mọi người bị đánh, tôi không biết nói gì hơn, chỉ biết cảm ơn mọi người, tôi sẽ đi thăm các anh chị em, cô chú sau khi tôi xong việc với họ. Nhờ anh gửi lời cảm ơn giúp tôi.

PV: Cảm ơn bạn đã tham gia phỏng vấn, chúc bạn thành công và sức khỏe.

——

Điểm độc đáo của Lương Tâm TV là có phần phụ đề bằng tiếng Anh. Nhờ vậy, các tòa đại sứ ở Hà Nội, các phái đoàn ngoại giao  rất thích xem đài truyền hình này mỗi ngày để biết về những gì đang xảy ra ở VN mà báo chí và đài truyền hình nhà nước không đăng.  Trong khi công an, an ninh, đảng cs thì lại muốn che dấu những tin tức thời sự này.

https://m.youtube.com/results?q=Lương%20Tâm%20TV&sm=3

 

 

 

Lê Yến, tên trên facebook là Mèo Điên

 

Thực trạng Việt Nam sau 39 năm “giải phóng ”

 

 

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

►Cảnh báo: Người Trung Quốc núp bóng người Việt để mua đất ven biển

Posted by hoangtran204 on 25/09/2015

Tại hội nghị, ông Nguyễn Điểu (Giám đốc Sở TN&MT TP Đà Nẵng), cảnh báo các quận ven biển như Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn đang có sự chuyển dịch, mua bán đất đai rất lớn có yếu tố người nước ngoài mà ở đây là người Trung Quốc.

Dưới sự lãnh đạo “toàn diện, tuyệt đối” của đảng CSVN, dân Việt sẽ sớm trở thành dân tộc thiểu số ngay trên mảnh đất của mình!

______

PLTP

Lê Phi

24-9-2015

(PLO) – Chúng ta cần phải cẩn trọng khi cho phép việc mua bán, chuyển dịch đất đai đối với doanh nghiệp nước ngoài.

Các vấn đề đáng quan tâm đã được đưa ra trong sáng 24-9 tại Hội nghị thành ủy Đà Nẵng lần thứ 24 dưới sự chủ trì của Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, ông Trần Thọ.

Người Trung Quốc mua đất ven biển

Tại hội nghị, ông Nguyễn Điểu (Giám đốc Sở TN&MT TP Đà Nẵng), cảnh báo các quận ven biển như Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn đang có sự chuyển dịch, mua bán đất đai rất lớn có yếu tố người nước ngoài mà ở đây là người Trung Quốc.

H1Ông Điểu cảnh báo việc người Trung Quốc mua đất ven biển. Ảnh: LÊ PHI.

“Chúng ta cần phải cẩn trọng khi cho phép việc mua bán, chuyển dịch đất đai đối với doanh nghiệp nước ngoài. Việc mua bán thì người Việt chúng ta đứng tên nhưng sau lưng lại là người Trung Quốc”, ông Điểu nhấn mạnh.

Về vấn đề này, ông Trần Thọ yêu cầu các đơn vị liên quan phải lưu ý đến việc chuyển dịch, mua bán đất đai liên quan đến người nước ngoài mà ông Nguyễn Điểu đã nêu.

“Bán đất cho người Việt Nam nhưng đứng sau cuộc mua bán lại là người nước ngoài là việc rất nguy hiểm, phải lưu ý vấn đề này”, ông Thọ nói.

Kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai

Trong khi đó, ông Võ Công Trí (Phó Bí thư thường trực Thành ủy Đà Nẵng) thông tin, hiện tại TP đang tiến hành các thủ tục thu hồi đất và giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án Khu công nghệ thông tin tập trung và các dự án chậm triển khai ven biển.

Cụ thể, các dự án chậm triển khai ven biển sẽ bị thu hồi lần này là dự án Khu du lịch giải trí Đệ Nhất; Trường dạy nghề lướt ván và Khu thể thao giải trí Huy Khánh với tổng diện tích gần 13.000m2 đất ven biển. Tuy nhiên, việc thu hồi vẫn chậm triển khai.

H1Nhiều dự án ven biển TP Đà Nẵng chậm triển khai nhưng vẫn việc thu hồi vẫn chậm. Ảnh: LÊ PHI.

Theo ông Nguyễn Điểu, để diễn ra việc chậm thu hồi các dự án ven biển chậm triển khai vì cần phải xin ý kiến các cơ quan bộ ngành trung ương. Tuy có chậm nhưng cần phải làm kỹ để tránh tình trạng kiện tụng sau này.

“Đối với dự án Khu công nghệ thông tin tập trung của TP, Sở đã xin ý kiến chỉ đạo về việc thu hồi dự án này nhưng chưa có sự phản hồi từ Bộ TN&MT. Tới đây chúng tôi sẽ có báo cáo chính thức về việc thu hồi dự án này”, ông Nguyễn Điểu khẳng định.

Ông Trần Thọ yêu cầu, xin ý kiến các bộ ngành trung ương thì vẫn cứ xin, tuy nhiên phải làm quyết liệt. Vì việc thu hồi các dự án này đã đưa vào nghị quyết của HĐND, Thành ủy.

“Chủ trương của Thường vụ Thành ủy là tới đây sẽ thành lập một đoàn thanh kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu là bí thư, chủ tịch và giám đốc các sở có liên quan về vấn đề này. Nếu không làm xong thì sẽ có kiểm điểm về trách nhiệm. Nói gì thì nói chứ phải làm”, ông Thọ nói.

Không chấp nhận kiểu kinh doanh chặt chém

Bí thư Đà Nẵng, ông Trần Thọ cho biết từ đầu năm đến nay mới có 9 tháng mà Đà Nẵng đã đón gần 4 triệu lượt khách du lịch, doanh thu tới trên 10.000 tỉ đồng là hết sức đáng mừng. Nhưng trái lại, thời gian qua lại xảy ra tình trạng chặt chém ảnh hưởng ghê gớm đến môi trường du lịch của TP.

“Tôi đề nghị Sở VH,TT&DL, Sở Công Thương và các ngành chức năng phải tổ chức kiểm tra và bắt cho được các chủ khách sạn, nhà hàng chặt chém du khách để xử lý nghiêm và công khai cho mọi người biết. TP chúng ta không chấp nhận hành vi kinh doanh ăn xổi ở thì như thế”, ông Thọ, chỉ đạo.

Ông Thọ cũng cho hay, APEC 2017 là cơ hội “ngàn vàng” cho TP Đà Nẵng quảng bá thương hiệu, kêu gọi đầu tư và kích cầu du lịch. Không phải là ngẫu nhiên mà Bộ Chính trị chọn Đà Nẵng là địa điểm tổ chức APEC 2017.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

Nhận diện thật rõ chế độ chính trị toàn trị

Posted by hoangtran204 on 25/09/2015

Nhận diện thật rõ chế độ chính trị toàn trị

Blog VOA

Bùi Tín

25-9-2015

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Nhà báo, cũng là nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ Bùi Mẫn Hân (Min Xin Pei), gốc Trung Quốc, một học giả có uy tín, vừa cho đăng một bài báo lý thú trên tạp chí Carnegie / Hoa Kỳ (số tháng 7/2015) chuyên nghiên cứu về các quan hệ quốc tế, có nhan đề “Gốc rễ những rối loạn về kinh tế của Trung Quốc là gì? – Là chính trị, ngốc ạ!”.

Ngày 16/9 các mạng Dân Luận và Đối Thoại đã đăng bản dịch của bài báo này.

Bài báo đi từ lịch sử các chế độ độc đoán xưa và nay trên thế giới để đi đến kết luận về bản chất chế độ chính trị ở Trung Quốc hiện nay.

Có thể tóm tắt những ý kiến chính của bài báo này như sau:

– Từ thời phong kiến đến chủ nghĩa tư bản và chế độ “cộng sản” mang tên xã hội chủ nghĩa, các chế độ độc đoán đều mang tính chất bóc lột nhân dân, mang lại bất công xã hội. Các nhà nước ấy có thể mang tên là “nhà nước thú dữ” – predatory states” – có nghĩa là ăn thịt đồng loại, tất cả đều là chế độ tham ô, chuyên ăn cắp, ăn cướp của dân, phản dân chủ, phản dân tộc.

– Có những chế độ nhà nước thú dữ cá nhân, như các vương triều phong kiến hay dưới chủ nghĩa tư bản, như Ferdinand Marcos ở Philippines, Suharto ở Indonesia hay Mobotu Sese Seko ở Zaire.

– Có những nhà nước thú dữ mang hình thức tập thể của một nhóm người hay mang tên một chính đảng, như ở Liên Xô trước đây, ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hiện nay, đều là chế độ thú dữ chuyên “ăn thịt ” đồng bào và xã hội không bao giờ ngừng nghỉ.

– Có hai kiểu ăn cắp của các con thú dữ này rất đáng phân tích: “ăn cắp từ từ” và “cướp bóc nhanh” (slow thief và fast plunder). Những tên độc tài cá nhân trên đây thuộc loại cướp bóc nhanh, thu vén cho chúng và gia đình, bộ hạ tin cẩn thật gọn, thật nhiều rồi hạ cánh an toàn để hưởng thụ riêng; giới nghiên cứu gọi chúng là tầng lớp “quan tặc” – kleptocraty – cùng loại với hải tặc, dâm tặc, lâm tặc, tin tặc…

Các chế độ nhà nước thú dữ loại tập thể thì khôn ngoan, ranh ma hơn, ăn cắp từ từ, không vội vã, để kéo thật dài cuộc ăn cắp, còn sẻ cho nhân dân hưởng thụ tý chút thành quả do chính họ làm ra, nhằm ru ngủ dân chúng, che lấp tội ác ăn cắp và ăn cướp kéo dài để chia nhau phần lớn tài sản chung, dân chỉ hưởng phần bèo bọt, nhưng chúng vẫn tuyên truyền là “đời sống người dân được cải thiện rõ rệt “.

Bài báo kết luận: đó chính là gốc rễ chính trị của những rối loạn về kinh tế hiện nay ở Trung Quốc, do tham nhũng tràn lan, lòng dân phẫn nộ hết chịu nổi, kẻ cắp kẻ cướp nắm luôn toà án, luật lệ, không có ai thanh tra, kiểm soát. Bọn cướp tập thể chuyên tranh dành quyền lợi và quyền hành với nhau; sự phát triển không hài hoà, đồng bộ, do đó khủng hoảng kinh tế – tài chính – xã hội – văn hoá xen cài vào nhau, thúc đẩy cường độ khủng hoảng lên độ tột cùng, và chế độ sụp đổ là tất yếu.

Trong khi đó, thế giới lại có những gương sáng hấp dẫn để so sánh là nhà nước dân chủ – pháp quyền, coi trọng pháp luật nghiêm minh, công dân có tiếng nói, có nhân quyền, nhà nước có thanh tra, giám sát công minh, mọi việc công khai, minh bạch, hầu như không có kẽ hở cho ăn cắp, ăn cướp, nếu có cũng sẽ bị phát hiện, truy tố theo luật pháp.

Nhân đọc bài báo trên của nhà báo Bùi Mẫn Hân, tôi thử đối chiếu với Việt Nam; Nhà nước XHCN VN độc đảng, độc đoán này có thể được xếp vào loại “nhà nước thú dữ – ăn cắp từ từ ” suốt 70 năm tròn, ngày càng thiện nghệ, ma quái hơn thời chiến.

Tôi muốn góp ý thêm với nhà báo Bùi Mẫn Hân rằng theo tôi, có một điểm cơ bản chưa được ông nói đến khi nhận diện nhà nước Trung Quốc, cùng một loại với VN.

Ở VN, bộ mặt rõ ràng, thâm độc nhất của chế độ là sự đồng nhất giữa đảng CS và Nhà nước, theo kiểu độc quyền nhà nước trùm lên mọi mặt, lên tất cả.

Xin kể: Đảng CS tự coi mình là nhà nước, không chia sẻ cho ai khác, đảng CS là nhà nước, là chính phủ, là quốc hội (90 phần trăm là đảng viên CS), là toà án, là bộ máy thanh tra, giám sát; kinh tế quốc doanh thực chất là kinh tế của đảng CS, lũng đoạn, khống chế, tuy được đầu tư cực lớn, lại lỗ to, nợ lớn. Đảng CS nắm trọn ngân sách nhà nước, không để lộ một xu nào cho ai biết, kiểm tra. Đảng cũng là quân đội, Đảng cũng là công an, hung bạo, giết dân, tra tấn dân, kết hợp với côn đồ, lưu manh, lại phong hàng 300 tướng, tệ hại, là đại nạn cho toàn xã hội.

Đây là một kiểu vương triều, vua tập thể quyết định mọi chuyện. Cũng là một kiểu nhà nước thượng đế – Deo State – tự coi minh là thiêng liêng với quyền lực vô hạn, có mặt khắp mọi nơi, thường xuyên, liên tục. Sự bao biện là tuyệt đối. Dân chủ là số không.

Đúng, nhà nứơc /Đảng CS VN là loài thú dữ – Predatory State – ăn thịt đồng loại, với nghĩa là bóc lột sức lao động, hành hạ, nhũng nhiễu đồng bào mình bao nhiêu cũng chưa đủ, theo kiểu từ từ và lâu dài. Dạ dày nó không có giới hạn.

Theo tôi đó là con khủng long to lớn, hung bạo, tham ăn, nhập vào nhà nước XHCN, đồng nhất với nhà nước, đội lốt nhà nước, lũng đoạn nhà nước, phải gọi là nhà nước khủng long – Dinosaur State – mới lột tả được bản chất của nhà nước CS VN. Khủng long là một loài thú khổng lồ cách đây hàng trăm triệu năm, đã tuyệt chủng, chỉ tồn tại qua các hình vết xương trong khảo cổ học, được biết là dạ dày cực lớn, phàm ăn, hung dữ, ăn thịt các loài thú khác, khi háu đói ăn cả đồng loài.

Con khủng long – nhà nước VN ấy đã “ăn thịt” hơn ba triệu nhân mạng đồng loại trong chiến tranh, mang bề ngoài là kháng chiến chống ngoại xâm để xây dựng cơ đồ riêng cho nó, để tha hồ ăn cắp, ăn cướp vô vàn sinh mạng, tài sản, đất đai, thời gian của xã hội suốt 70 năm, gây nên đau thương, tang tóc, đau khổ, bất công cho hàng triệu đồng bào, trong thời bình nó càng phàm ăn, càng hung dữ với đồng loại.

Vậy chúng ta phải làm gì và làm thế nào? Chẳng lẽ sống cứ để cho con khủng long này bòn rút đến tận cùng xương tuỷ của dân tộc, như nhà báo Nguyễn Thị Từ Huy đặt ra câu hỏi tha thiết ấy. Nhà văn Võ Thị Hảo kêu gọi hãy chôn vùi cái bẫy – chính là con khủng long hung bạo này – xuống chín tầng địa ngục. Nhà báo Bùi Minh Quốc dùng một bài hát để kêu gọi mọi người dân Việt vùng dậy “đập tan mọi xiềng xích”, cũng chính là con khủng long khổng lồ nhưng đang bị nhiều bệnh tật và nay bị toàn dân nhận diện rõ ràng, không thể tồn tại lâu dài.

Con khủng long CS Liên Xô đã bị chôn vùi xuống chín tầng địa ngục. Con khủng long CS hung tợn láng giềng phía Bắc đang lâm trọng bệnh, đã bị nhân dân Trung Quốc, Hồng Kông và bà con luyện tập Pháp Luân Công khắp thế giới nhận diện.

Chẳng lẽ gần 100 triệu đồng bào ta vẫn còn nhẫn nhục ngậm miệng để con khủng long hung hãn, tham lam vô độ ấy hành hạ đầy ải mãi ư? Cho đến bao giờ…?

Đã có những đảng viên lão thành sớm nhận ra bản chất của đảng CS, có dũng khí trả thẻ đảng viên lại cho đảng, như ông Nguyễn Hộ, tướng Trần Độ, ông Lê Hồng Hà, Trung tá Trần Anh Kim, nhà báo Bùi Minh Quốc, người trẻ hơn như cô Tạ Phong Tần, nhà báo Phạm Chí Dũng và nhiều đảng viên trẻ. Đó là những người thật lòng yêu nước, thật lòng thương dân, quyền lực không ham, tiền bạc không màng, sống thanh thản trong tự do với lòng tự trọng trong sáng, do sớm nhận ra bộ mặt thật của Đảng CS. Đây là những gương sáng cho các đảng viên còn có lương tâm và tự trọng nhân dịp Đại hội đảng XII sắp đến. Chân lý, lẽ phải sớm muộn bao giờ cũng thắng.

Con khủng long thực dân Anh già nua đã bị nhân dân Ấn Độ do Mahatma Gandhi lãnh đạo chôn vùi trong những cuộc xuống đường bền bỉ không bạo lực. Chỉ 4 vạn dân Nam Phi nghe theo lời kêu gọi của tù nhân Nelson Mandela xuống đường trong khí thế ôn hòa bất khuất đã đủ để chôn vùi tức khắc con khủng ong phân biệt chủng tộc toàn trị liền mấy thế kỷ, đưa người tù gan góc thông tuệ lên làm tổng thống. Đó là những tấm gương sáng, kinh nghiệm hay cho toàn dân ta tham khảo và hành động.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Lợi dụng đêm khuya không ai nhìn thấy, công an Hà Nội mở trận đánh đẹp nhắm vào “ba tên phản động”

Posted by hoangtran204 on 25/09/2015

FB Thảo Gạo

25-9-2015

H1Đây là câu chuyện của một người được tham gia và chứng kiến từ đầu sự kiện những nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội đấu tranh tại đồn CA quận Hai Bà Trưng để buộc CA phải trả tự do cho sáu bạn trẻ của Lương Tâm TV bị bắt giữ tùy tiện, ngày 23/9.

Cùng nhiều anh em đấu tranh tại Hà Nội, chúng tôi có mặt tại đồn công an quận Hai Bà Trưng vào khoảng 18h30. Sau đó, luật sư Nguyễn Văn Đài, nhà báo Đoan Trang và bạn trẻ Lý Quang Sơn quyết định vào thẳng trong đồn để chất vấn. Song họ chỉ cho mình anh Đài vào. 40 phút sau, anh đi ra với câu trả lời rằng họ không biết gì cả, không giữ ai cả. Một vài nhân viên an ninh thường phục áp sát, đuổi anh về, cuối cùng thì chúng áp tải anh về tận nhà.

Những người còn lại rất nỗ lực để đối thoại với lực lượng công an tại đó, tuy vậy, thái độ bất hợp tác và bất lịch sự kiểu bề trên là tất cả những gì chúng tôi nhận lại. Chắc họ nghĩ “công an là bố dân”.

Khoảng hơn 20h, tin nhắn từ một người bạn bị bắt báo cho chúng tôi biết có người bị giữ trong đồn CA của quận Hai Bà Trưng. Mọi người quyết định tổ chức một cuộc biểu tình nhỏ ngay tại cổng, với hai khẩu hiệu: “Yêu cầu thả người” và “Phản đối bắt giữ tùy tiện”.

Như những lần khác, bạo lực từ phía công an, lại nổ ra ngay lập tức. Chúng nhắm vào những người đi đầu đoàn biểu tình, lao vào giật băng rôn, xô đẩy và đánh mọi người túi bụi. Tôi chứng kiến toàn bộ cảnh chị Đoan Trang bị chúng giật băng rôn, nhưng chị giằng lại, do đó chị bị xô đẩy, bị đánh; cũng như cảnh chú Nguyễn Sơn bị đánh ngã ra đất, cảnh Lưu Văn Minh bị chúng xúm lại đấm như giã gạo vào đầu, bóp cổ. Khi Minh bị đánh, chị Đoan Trang lao vào cứu thì bị chúng đập đèn pin vào miệng khiến chị rách môi, chảy máu.

Sau khi chảy máu miệng, chị đứng tựa lưng vào cổng sắt của đồn CA, và đồng thời tuyên bố sẽ đứng tại đó cho đến khi nào sáu người bị bắt được thả. Trước tình cảnh đó, rất nhiều tên an ninh xúm xít vây quanh chị để gây sức ép, đuổi chị ra. Thái độ của chúng vô cùng hung hãn. Thấy vậy, bạn Lưu Văn Minh ra sức bảo vệ chị và dằn giọng: “Tôi sẽ không đi khỏi đây chừng nào chị ấy còn ở đây. Tôi không thể để chị tôi đứng một mình chỗ này”. Và tôi cũng có mặt tại đó để đồng hành cùng hai người họ.

Cả đám công an áo xanh, dân phòng, bảo vệ đeo băng đỏ, và côn đồ đều xúm lại, mặt mày cực kỳ hung ác. Biết rằng Minh là con trai, sẽ là tâm điểm để chúng ra đòn, nên chị Trang ghé tai bảo: “Em đi ra ngoài kia đi”. Nhưng Minh vẫn nhất định không đi: “Không. Em không để chị ở đây một mình được”.

Khung cảnh lúc đó cực kỳ bi tráng. Mọi người đã bị an ninh dùng dây rợ (chúng gọi là “dây quang”) xô đẩy, và chúng lấy số đông, dùng sức, đẩy tất cả ra đầu phố, cách khu vực cổng đồn độ 30 mét. Chỉ còn ba đứa ở lại, tựa lưng và ghì chặt tay vào song sắt của cổng. Anh Chí, chị Lan Lê, Gió Lang Thang và chị Thảo Teresa chạy lại đưa nước uống. Chúng tôi tranh thủ gửi lại điện thoại, nhờ Gió báo cho bạn cũng như gửi lời nhắn để xin phép sếp nghỉ làm vào ngày hôm sau.

Rồi Anh Chí, chị Lan Lê, Gió và chị Thảo Teresa cũng bị bọn chúng đẩy ra xa, và chúng giăng dây biến cổng đồn thành khu vực bảo vệ, chặn tất cả xe qua lại. Chỉ còn ba đứa – Lưu Văn Minh, chị Đoan Trang, và tôi – vẫn đứng đó. Một viên công an mặc đồ cảnh sát giao thông, mang lon trung tá, tên là Lê Văn Phiêu, trước khi chỉ đạo lính xô mọi người đi còn quay lại chỉ mặt chúng tôi: “Để xong bọn kia rồi tao sẽ xử lý bọn mày”.

____

“NĂM MƯƠI ĐÁNH MỘT, CHẲNG CHỘT CŨNG QUÈ”

Suốt cả tiếng đồng hồ chúng tôi đứng đó, chúng thay phiên nhau đến vận động, dọa dẫm chúng tôi, cả đàn ông lẫn đàn bà, cả lãnh đạo lẫn lính. Nhẹ nhàng đáp lại, chúng tôi nói chỉ muốn tìm bạn, chứ không muốn làm mọi chuyện ầm ĩ lên. Nhưng tất nhiên phía an ninh không hiểu những điều đơn giản đó. Có lẽ công an đã quá quen với việc người dân phải sợ họ dẫu họ có sai lè chăng nữa, nên khi có ai đó cả gan không sợ họ, không sợ bị bắt thì họ trở nên hung dữ hơn hẳn.

Biết chúng tôi đứng ép mình giữa các thanh inox của cổng (cổng là loại tự động đóng mở thông qua nút điều khiển của trực ban, mỗi lần mở ra khoảng cách giữa hai thanh inox hẹp lại) nên chúng liên tục ra vào để có cớ mở cổng, thậm chí là mở ra ba lần cho ôtô ra rồi lại vào.

Trong lần cuối mở cổng cho ôtô ra, chúng tranh thủ xô chúng tôi ngã và thế là cả bọn bâu vào khiêng chúng tôi ra đầu đường bên kia, tức là phía ngược lại với các nhà hoạt động khác. Một gã thanh niên mặc thường phục thò tay giật luôn cặp kính cận khỏi mắt tôi. Đã bị ngã lại bị cướp kính, tôi không còn nhìn rõ nữa, nhưng số lượng nhân sự dùng để “xử lý” ba đứa cũng vào khoảng 50 kẻ cao to, cả cảnh sát, an ninh, dân phòng, “quần chúng tự phát”…

Dơ đến nỗi chúng tập kịch ngay trước mặt chúng tôi, cho một tên an ninh quát sa sả vào mặt một “quần chúng tự phát” như thế này: “Ông ra ngoài kia ngay. Ông mà còn vào khu vực chăng dây này là chúng tôi bắt đấy, nghe chưa?”. Chắc hắn muốn thị phạm cho chúng tôi biết cách cư xử với an ninh. Đồng chí “quần chúng tự phát” cung cúc ra ngoài, nhưng lát sau, hắn đã là một trong những người tham gia vừa bẻ tay vừa đánh vừa đẩy chúng tôi ra xa.

Lần đầu cả bọn khiêng chúng tôi ra xa khỏi cổng đồn khoảng 30m, rồi quẳng ba đứa lại trên mặt đường, chăng dây và kéo cả hàng rào sắt ra chặn đường luôn. Một tay dân phòng vẫy tay rồi ghé mặt hắn sát vào tai tôi, nói qua sợi dây giăng giữa hai bên: “Đ. mẹ mày!”. Chị Đoan Trang trừng mắt nhìn hắn. Hắn vênh mặt nhìn lại, nhơn nhơn.

Cuối cùng, thấy chúng tôi vẫn đứng (ngoài khu vực bị chăng dây) và gào thét đòi trả kính, trả người, chúng nổi điên, tháo dây và hàng rào sắt ra, xông ra ngoài, tiếp tục đánh, lôi, rồi khiêng ba người đến tận cuối đường.


NỖI BUỒN “HẬU BIỂU TÌNH”

Đau đớn, mệt mỏi, buồn bã do phải chứng kiến, thậm chí là tâm điểm của bạo lực, chúng tôi đành lếch thếch đi bộ qua vài tuyến phố, tìm về với anh em…

Bị cô lập gần như từ đầu, chúng tôi không biết tình hình phía xa thế nào. Nhưng tôi tin chắc tất cả anh chị em vẫn đang chờ chúng tôi ngoài đó. Gặp được mọi người, ai cũng mừng mừng tủi tủi.

Tôi khóc. Anh Lượng ôm vai tôi an ủi, và có lẽ nếu có ai nhìn thấy, cũng không hiểu vì sao ở giữa “trận địa”, tôi không khóc, mà lúc này tôi lại trào nước mắt. Vì tủi thân ư? Không phải. Chỉ vì tôi rất muốn nói về những trải nghiệm của mình, về những người chị, người anh, người bạn của mình. Họ là chỗ dựa tinh thần cho tôi trong lúc khó khăn nhất. Họ đã làm tất cả, vì tôi, vì nhau, vì những người khác.

Tôi sẽ bao giờ quên được cảnh Minh nắm chặt tay chị Trang: “Không. Em không để chị ở đây một mình được”. Minh nói như thế trong khi một tên du đãng, tay cầm điếu thuốc, vẫn dí sát mồm hắn vào mặt Minh mà nghiến răng “đ. mẹ mày, mày thích gì…”. Và lúc xô kéo chúng tôi đi, bọn chúng vẫn đánh cậu ấy thùm thụp.

Vừa mới thôi, trong inbox của tôi, Minh viết: “Tao mệt quá Gạo ạ”.

Còn hôm qua tôi gặp chị Đoan Trang thì chị chỉ cười: “Đúng là nhừ tử em ạ”. Rồi chị trầm xuống, buồn rầu: “Chẳng bao giờ chị nghĩ trong đời lại có lúc chị nhảy ra giữa phố đánh nhau với an ninh như thế này. Từ bé tới giờ, đến con chó con mèo chị còn không đánh, nữa là con người”. Chị ấy nói thế trong lúc khắp cả hai cánh tay vẫn còn đầy vết bầm tím. Và, các bạn còn nhớ chứ, chân chị ấy vẫn còn đau nhiều lắm, cũng vì một cuộc xô xát tương tự với an ninh vào ngày 26/4, trong buổi tuần hành cuối cùng của nhóm Vì Một Hà Nội Xanh…

Bất chấp ai nói gì, không ai có thể ngăn tôi ngưỡng mộ những người bạn của tôi!

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »