Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2015

►Tội phạm Ba Sàm, pháp luật ba xạo

Posted by hoangtran204 trên 30/09/2015

Người Buôn Gió

28-9-2015

Ngày 6 tháng 2 năm 2015 Viện Kiểm Sát tối cao của nước CHXHCN Việt Nam đã ra bản cáo trạng số 05 đề nghị truy tố nhà báo tự do Nguyễn Hữu Vinh (tức Ba Sàm) cùng với người đồng phạm nữ là Nguyễn Thị Minh Thuý.

Bản cáo trạng kết luận căn cứ kết luận điều tra của cơ quan an ninh để truy tố hai người này vào điều 258 của bộ luật hình sự Việt Nam hiện nay.

Nhưng cho đến những ngay cuối cùng của tháng 9 năm 2105, tức 8 tháng sau khi có bản cáo trạng này. Phiên toà xét xử hai người trên vẫn chưa được tiến hành.


Nguyên nhân là do toà án trả hồ sơ đòi viện kiểm sát làm lại hồ sơ vụ án. Cũng như trước đó viện kiểm sát đã trả lại hồ sơ cho cơ quan an ninh điều tra. Việc trả đi, trả lại hồ sơ vụ án để bổ sung cứ diễn ra hết từ cấp này đến cấp khác, hết lần này đến lần khác. Dẫn đến là hai bị cáo này bị tạm giam đã 17 tháng mà chưa được xét xử.

Theo như cáo trạng thì anh Vinh và chị Thuý bị kết vào khoản 2 điều 258, có khung hình phạt từ 2 đến 7 năm. Đây là dạng tội phạm nghiêm trọng theo luật gọi. Điều 120 của luật tố tụng hình sự quy định về thời hạn tạm giam tối đa cho tội nghiêm trọng là.

–  Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

Nếu như vậy thì tổng thời hạn tạm giam của vụ án này sẽ là 3 tháng đầu tiên, 2 tháng gia hạn lần thứ nhất, một tháng gia hạn lần thứ hai. Tổng thời hạn tạm giam sẽ là 6 tháng.

Nhưng đến nay hai người này đã bị tạm giam 17 tháng mà vẫn chưa xét xử,  gần gấp 3 lần thời gian mà điều 120 quy định.

Tất cả là vì sự nhùng nhằng trả đi, trả lại hồ sơ giữa các cơ quan tố tụng là toà án, viện kiểm sát, an ninh điều tra.

Sở dĩ pháp luật cần quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử là để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo. Tránh trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không tìm được chứng cứ kết tội mà vẫn cứ giam bị cáo   vô tội vạ trong nhà tù. Hoặc hạn chế trường hợp khi  đưa ra xét xử mức án phán quyết của toà tuyên ít hơn thời giam bị cáo tạm giam.

Trong vụ án này thì thời gian của điều tra, truy tố, xét xử đều đã hết. Nhưng anh Vinh và chị Thuý vẫn bị tam giam và chưa có thông tin gì về số phận của họ.

Ai cũng biết chế độ cộng sản không cần đến luật,  chế độ có thể giam giữ con người trong nhà tù hàng chục năm với cái tên gọi là ” tập trung cải tạo ”. Có thể bịa ra chứng cứ, nhân chứng để mở phiên toà bất cứ lúc nào và khép bất cứ tội gì, tuyên mức án mà những người làm an ninh bảo vệ chế độ này muốn.

Tuy nhiên thì trong vụ án anh Vinh và chị Thuý, cơ quan an ninh lại muốn thể hiện mình làm đúng pháp luật nên đã ra lệnh bắt khẩn cấn, khởi tố, khám xét nhà một cách công khai, rùm beng để lấy tiếng trong dư luận. Và khi đã khởi đầu một cách hoành tráng như thế để lấy oai phong,  thì không thể   kết thúc một cách nhơ nhớp như chuyển sang tập trung cải tạo hoặc đưa ra xét xử một cách tù mù.

 Vì cơ quan an ninh đã khởi đầu quá hoàng tráng vụ án này, nên đã để lại gánh nặng cho toà án phải xử một cách hoàng tráng tiếp theo. Bây giờ toà án xử thế nào cho vang dội dư luận khi mà cả hai bị cáo đều không hề nhận tội. Nếu kết tội hai bị cáo là người tán phát bài viết nói xấu chế độ, vậy thì  tác giả của những bài viết ấy đâu, những tác giả ấy có phải ra hầu toà không.? Kết luận những bài viết ấy xâm hại đến lợi ích của thủ tướng , tổng bí thư …vậy mức độ thiệt hại khi bị xâm phạm là thế nào. Những người bị xâm hại này có ra toà để bảo vệ quyền lợi của họ không, hoặc cử người đại diện, hoặc phải có ý kiến cá nhân của mình về quyền lợi bị xâm phạm.

Cứ theo chứng cứ mà bản cáo trạng nêu, thì hai cha con nhà Nguyễn Tấn Dũng phải ra toà để làm rõ mình đã bị thiệt hại thế nào,  khi bị những bài viết có tên trong cáo trạng gây ra. Còn nếu hai cha con Nguyễn Tấn Dũng không có ý kiến cho rằng mình là người bị hại thì chứng cứ trong cáo trạng nêu là vô giá trị.

Nếu xét xử mà Viện kiểm sát Nhân Dân, Toà án Nhân Dân vừa xử tội phạm vừa đứng ra đại diện bảo vệ quyền lợi thay cho người bị hại thì khác nào vừa đá bóng vừa thổi còi. Khác nào Viện kiểm sát Nhân Dân và toà án Nhân Dân là của cha con ông Nguyễn Tấn Dũng. Hoặc là thân nhân, đại diện cho cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng.

Để phiên toà hoành tráng như kiểu mở đầu của cơ quan an ninh điều tra, phiên toà cần có sự tham gia của luật sư hay đại diện chủ thể bị xâm hại. Dù chủ thể ấy là nhà nước, chế độ hay thủ tướng, tổng bí thư…những thiệt hại phải cụ thể không thể mơ hồ. Ví dụ về uy tín thì trước đây có bao nhiêu người dân tin ông Dũng, sau khi bị cáo đưa bài viết thì có bao người không tin ông Dũng. Và cái không tin ấy ảnh hưởng đến ông Dũng ra sao.? Ông Dũng bị trầm cảm phải vào viện chữa trị tâm lý, ông Dũng sắp được làm tổng bí thư nhưng vì những bài viết kia mà bị đình lại….

Thực tế là hiện nay vị thế ông Nguyễn Tấn Dũng nâng cao, trước kia ông bị tín nhiệm thấp, sau này tín nhiệm ông cao nhất trong bộ chính trị. Vậy ông Dũng không hề bị thiệt hại gì về uy tín do những bài viết mà các đối tượng đăng tải cả. Ông Dũng và con trai ông là Nguyễn Thanh Nghị trong suốt quá trình điều tra không hề có bút lục nào khẳng định mình là người bị hại trong vụ án này.

 Như thế có thể thấy rõ, chứng cứ mà bản cáo trạng đưa ra là bịa đặt, nói cách khác là ba xạo. Cần phải loại bỏ kết luận hành vi của các bị cáo trong cáo trạng là bôi nhọ cá nhân, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân. Vì đơn giản,  là chẳng có cá nhân nào đứng ra nhận mình bị xâm phạm hay bôi nhọ trong vụ án này.

Có chăng chính những kẻ điều tra vụ án này đã cố tình lôi nhưng bài viết liên quan đến cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng vào bản kết luận điều tra, với mục đích nhằm triệt hạ uy tín cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng. Muốn đẩy viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân dân phải đứng ra bảo vệ quyền lợi cá nhân cha con nhà ông này, nhằm nhục mạ hệ thống tư pháp ưu việt của chế độ CNXH.

Hoặc chính cha con nhà ông Nguyễn Tấn Dũng đã dàn cảnh tạo vụ án này để trả thù cá nhân vì bị các bài viết xúc phạm. Nhưng che dấu không dám đứng ra nhận là bị hại, ép buộc các cơ quan tố tụng phải trừng trị đối tượng để đe doạ những ai khác dám chỉ trích cha con nhà ông ta.

Dù sao thì thời hạn tạm giam, truy tố, xét xử đã hết. Phiên toà có xử theo kiểu viện kiểm sát, toà án bảo vệ quyền lợi cho người bị xâm hại là cha con ông Nguyễn Tấn Dũng hay là cha con ông Nguyễn Tấn Dũng ra toà, cử đại diện thay mình với tư cách người bj hại, hoặc cha con ông Dũng lờ đi không khẳng định mình là người bị hại. Thì cả ba yếu tố đó, yếu tố nào cũng biến phiên toà thành một trò cười thảm hại trong con mắt dư luận nhân dân trong nước và quốc tế.

Cách nào đi nữa thì vụ án xử tội phạm mang tên Ba Sàm cũng cho thấy pháp luật của chế độ Việt Nam ngày nay là ba xạo.

Advertisements

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Thắp nén hương nhân ngày giỗ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Posted by hoangtran204 trên 30/09/2015

TT Nguyễn Văn Thiệu (5-4-1923- 29-9-2001)

FB Tuan-Minh Nguyen

Bùi Anh Trinh

29-9-2015

Tôi nhận bài viết của tác gỉa Bùi Anh Trinh vào Sep 14, 2015 nhưng tôi quyết định giữ đến ngày hôm nay. Có thể bài viết đã được đăng trên online.

—–

anhbasam

H1

* Ngày 29-9 năm nay đã là ngày giỗ thứ 14 của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Ⅰ – PHẢI CHĂNG MỸ BỎ RƠI?

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Ⅱ – Frank Snepp, THÁNG 3 NĂM 1973.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval.

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Ⅲ – Nixon THẤT HỨA VỚI Liên Xô, THÁNG 8 NĂM 1974.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

Ⅳ – HÀ NỘI CAY ĐẮNG.

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Ⅴ – HẾT ĐẠN VÀ HẾT NHIÊN LIỆU.

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên).

Thiếu Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Pho không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

Ⅵ – Và TÌNH HÌNH THỰC SỰ VÀO THÁNG 3 NĂM 1975:

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Ⅶ – THẾ BẮT BUỘC của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Các đoạn trích dẫn trên đây đã giải thích vì sao Tổng Thống Thiệu phải bỏ Vùng 1 cũng như Vùng 2. Và vì sao Tướng Viên không nhiệt tình tham gia kế hoạch của Tướng Thiệu.

Cuối cùng, sau 30-4-1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 40 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.

 ———/———–

Các tài liệu được giải mật gần đây:

Thư của TT Nixon gởi TT Hiệu, 1973.

Thư TT Nixon gởi TT Thiệu tháng 1, năm 1973

Thư TT Nixon gởi TT Thiệu 17 tháng 1, năm 1973

——————-

Cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời phỏng vấn của Spiegel 1979     

29-4-2015

  • Phạm Thị Hoài dịch

    Nguyễn Văn Thiệu và Henry Kissinger

    SpiegelThưa ông Thiệu, từ 1968 đến 1973 Hoa Kỳ đã nỗ lực thương lượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn hồi ký của mình, ông Henry Kissinger, trưởng phái đoàn đàm phán Hoa Kỳ đã dùng nhiều trang để miêu tả việc ông, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, đã chống lại những nỗ lực nhằm đem lại hòa bình cho một cuộc chiến đã kéo dài nhiều năm, với hàng triệu nạn nhân và dường như là một cuộc chiến để “bóp nát trái tim Hoa Kỳ”. Vì sao ông lại cản trở như vậy?

    Nguyễn Văn Thiệu: Nói thế là tuyệt đối vô nghĩa. Nếu tôi cản trở thì đã không có Hiệp định Hòa bình năm 1973 – mặc dù, như ai cũng biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp; hậu quả của nó ở Việt Nam là chứng chỉ rõ ràng nhất. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của chính phủ Mỹ. Là Tổng thống Nam Việt Nam, bổn phận của tôi là bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.

    Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho Tổng thống Nixon và TS Kissinger rằng, đối với một cường quốc như Hoa Kỳ thì việc từ bỏ một số vị trí không mấy quan trọng ở một quốc gia bé nhỏ như Nam Việt Nam không có gì đáng kể. Nhưng với chúng tôi, đó là vấn đề sinh tử của cả một dân tộc.

    SpiegelKissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đồng ý. Nhưng ông ấy cũng nói rằng phải đàm phán lâu như vậy vì ông cản trở nhiều, rằng ông đồng ý với các đề xuất của Mỹ chỉ vì ông chắc mẩm rằng đằng nào thì Hà Nội cũng sẽ bác bỏ.

    Nguyễn Văn Thiệu: Không đúng như vậy. Để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã kéo dài gần 30 năm, người ta cần nhiều thời gian hơn là hai, ba ngày hay hai, ba tháng. Tôi hiểu rõ rằng đối với người Mỹ đã đến giúp chúng tôi, đây là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của họ. Có lẽ vì thế mà họ vội vã như vậy. Nhưng điều chúng tôi cần là một nền hòa bình lâu dài.

    SpiegelKissinger có ý cho rằng ông không thực sự muốn ký kết một thỏa thuận về hòa bình, đúng ra ông ngầm mong phía miền Bắc cũng sẽ cứng đầu như ông. Kissinger viết rằng ông đồng ý với nhiều đề xuất từ phía Mỹ – trong tinh thần sẵn sàng không tuân thủ, chỉ vì trong thâm tâm ông không tin rằng hòa bình sẽ được ký kết. Có phải là trong khi đàm phán, ông đã bịp, với hy vọng là sẽ không bao giờ phải ngửa bài lên?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Sao lại có thể nói là một dân tộc đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ suốt 30 năm lại muốn kéo dài cuộc chiến? Kissinger muốn xúc tiến thật nhanh mọi việc để Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được thả. Mà có lẽ mục đích của chính phủ Mỹ cũng là cao chạy xa bay. Họ thì có thể bỏ chạy. Nhưng chúng tôi thì phải ở lại Nam Việt Nam.

    Chúng tôi có quyền chính đáng để đòi hỏi một hiệp định hòa bình toàn diện. Không phải là vài ba năm hòa bình, rồi sau đó lại 30 năm chiến tranh.

    Nguyễn Văn Thiệu và Richard Nixon tại cuộc họp ở Midway 1969

    SpiegelVậy tại sao ông lại đi trước cả người Mỹ và tự đề nghị Hoa Kỳ rút quân trong cuộc họp tại đảo Midway ở Thái Bình Dương tháng Sáu 1969, theo tường thuật của Kissinger?

    Nguyễn Văn Thiệu: Trước khi họp ở Midway, việc chính phủ Mỹ dự định rút quân đã không còn là điều bí mật. Cho phép tôi nhắc để các ông nhớ lại, tin tức về việc Mỹ sẽ rút một số quân đã loan khắp thế giới, trước cuộc họp ở Midway. Vì sao? Theo tôi, chính phủ Mỹ muốn thả bóng thăm dò, tiết lộ thông tin trước cho báo chí và đẩy chúng tôi vào sự đã rồi.

    Spiegel: Tức là ông đã nắm được tình hình?

    Nguyễn Văn Thiệu: Đúng thế. Cuộc họp ở Midway nhằm hai mục đích. Thứ nhất, cho hai vị tân tổng thống cơ hội làm quen và bàn về đề tài Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rất rõ là bàn về việc rút những toán quân Mỹ đầu tiên. Tôi đã không hình dung sai điều gì và đã làm chủ tình thế. Không có gì phải lo lắng, và tôi đã rất vững tâm.

    SpiegelKhi đề xuất Mỹ rút quân, ông có thật sự tin rằng Nam Việt Nam có thể chiến đấu một mình và cuối cùng sẽ chiến thắng trong một cuộc chiến mà hơn 540.000 lính Mỹ cùng toàn bộ guồng máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ không thắng nổi không? Chuyện đó khó tin lắm.

    Nguyễn Văn Thiệu: Không, đề xuất đó không phải của tôi. Tôi chỉ chấp thuận. Tôi chấp thuận đợt rút quân đầu tiên của Mỹ, vì Tổng thống Nixon bảo tôi là ông ấy gặp khó khăn trong đối nội và việc rút quân chỉ mang tính tượng trưng. Ông ấy cần sự ủng hộ của dư luận và của Quốc hội. Nhưng tôi cũng bảo ông ấy rằng: Ông phải chắc chắn rằng Hà Nội không coi việc bắt đầu rút quân đó là dấu hiệu suy yếu của Hoa Kỳ.

    SpiegelVà ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi đã hình dung được rằng, đó là bước đầu tiên để cắt giảm quân số. Nhưng không bao giờ tôi có thể nghĩ Mỹ sẽ rút hẳn và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã trình bày với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm quân số sẽ phải tiến hành từng bước, như khả năng chiến đấu và việc tiếp tục củng cố Quân lực Việt Nam Cộng hòa cho phép – tương ứng với những viện trợ quân sự và kinh tế có thể giúp Nam Việt Nam tự đứng trên đôi chân của mình.

    Quan trọng hơn, tôi đã bảo ông ấy phải yêu cầu Hà Nội có một hành động tương ứng đáp lại. Phía Mỹ đồng ý với tôi ở mọi điểm; về một sự rút quân từng bước và của cả hai phía…

    Spiegel… và mang tính tượng trưng?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi hiểu rõ rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là một vấn đề đối nội của Hoa Kỳ. Và Tổng thống Nixon giải thích rằng ông ấy cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó. Trước đó một tuần tôi đến Seoul và Đài Loan, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân sắp bàn với Tổng thống Nixon ở Midway chỉ là một sự cắt giảm quân số mang tính tượng trưng. Song tôi cũng lưu ý rằng nếu Hoa Kỳ muốn rút hẳn thì chúng tôi cũng không thể ngăn cản. Vậy thì đề nghị họ rút quân từng bước, đồng thời viện trợ để củng cố một quân đội Nam Việt Nam hùng mạnh và hiện đại, có thể thay thế người Mỹ, sẽ là hợp lý hơn. Không bao giờ tôi đặt giả thiết là lính Mỹ sẽ ở lại Việt Nam vĩnh viễn.

    SpiegelMỹ vẫn đóng quân ở Hàn Quốc và Tây Đức mà.

    Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng chúng tôi là một dân tộc rất kiêu hãnh. Chúng tôi bảo họ rằng, chúng tôi cần vũ khí và viện trợ, nhưng nhiệt huyết và tính mạng thì chúng tôi không thiếu.

    SpiegelÔng đánh giá thế nào về tình thế của ông khi ấy? Vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird vừa đưa ra một khái niệm mới: “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trước đây người Mỹ chỉ nói đến việc “phi Mỹ hóa” cuộc chiến. Cái khái niệm mới ấy đã thể hiện rõ dự định rút khá nhanh của người Mỹ rồi, đúng không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Khi đến Sài Gòn vào tháng Bảy 1969, ông Nixon đã nhắc lại rằng ông ấy cần được sự hậu thuẫn của dư luận trong nước Mỹ. Tôi hiểu ông ấy. Nhưng ông ấy không hề tuyên bố rằng việc rút quân là một lịch trình mang tính hệ thống do sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói với tôi về những khó khăn trong nước, ở Mỹ, và đề nghị tôi giúp. Ông ấy bảo: “Hãy giúp chúng tôi giúp ông.” Tôi đáp: “Tôi giúp ông giúp chúng tôi.” Trong lần họp mặt đó, chúng tôi lại tiếp tục bàn về việc rút quân từng bước.

    SpiegelNhưng không đưa ra một lịch trình cụ thể?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Và ông Nixon lại hứa rằng việc rút quân của Mỹ sẽ phải đi đôi với những hành động tương ứng của Bắc Việt và phải phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như phải phù hợp với việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.

    SpiegelỞ thời điểm đó ông có nhận ra rằng nếu thấy cần thì Mỹ cũng sẽ sẵn sàng đơn phương rút quân không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Có, tôi đã ngờ. Nhưng lúc đó tôi vẫn rất vững tâm và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

    SpiegelCó lẽ ông tin thế là phải. Cuốn hồi ký của Kissinger cho thấy khá rõ rằng chính phủ Nixon không thể dễ dàng “đình chỉ một dự án liên quan đến hai chính phủ, năm quốc gia đồng minh và đã khiến 31,000 người Mỹ phải bỏ mạng, như thể ta đơn giản chuyển sang một kênh TV khác.”

    Rõ ràng là người Mỹ muốn thoát khỏi Việt Nam bằng con đường đàm phán. Chỉ trong trường hợp cần thiết họ mới muốn đơn phương rút quân. Ông có đưa ra yêu sách nào liên quan đến những cuộc thương lượng giữa Washington và Hà Nội không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chán ngấy chiến tranh và quyết tâm chấm dứt nó qua đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những kẻ xâm lăng đã tràn vào đất nước của chúng tôi phải rút đi. Tất cả chỉ có vậy.

    Spiegel: Ông đã oán trách rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975 chủ yếu là do sau Hiệp định Paris, miền Bắc vẫn được phép đóng quân tại miền Nam. Ông khẳng định rằng mình chỉ chấp nhận sự hiện diện đó của miền Bắc trong quá trình đàm phán, còn sau khi ký kết thì Hà Nội phải rút quân.

    Nhưng Kissinger lại khẳng định trong hồi ký rằng ông thừa biết việc Hà Nội sẽ tiếp tục trụ lại ở miền Nam, và cho đến tận tháng Mười 1972 ông cũng không hề phản đối những đề xuất của phía Mỹ liên quan đến điểm này.

    Nguyễn Văn Thiệu: Đó là một lời nói dối hết sức vô giáo dục của Kissinger, rằng tôi chấp thuận cho quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam. Nếu ngay từ đầu tôi đã chấp thuận như Kissinger nói thì lúc ông ấy cho tôi xem bản dự thảo, trong đó không có điều khoản nào về việc rút quân của Bắc Việt, tôi đã chẳng phản đối quyết liệt như thế.

    Điểm then chốt nhất mà tôi dốc sức bảo vệ, từ đầu cho đến khi kết thúc đàm phán, chính là yêu cầu Hà Nội phải rút quân. Tôi đã tuyên bố rõ với Kissinger là nếu không đạt được điều đó thì không có ký kết.

    Sau nhiều ngày tranh luận gay gắt, cuối cùng ông ta bảo: “Thưa Tổng thống, điều đó là không thể được. Nếu được thì tôi đã làm rồi. Vấn đề này đã đặt ra ba năm trước, nhưng phía Liên Xô không chấp nhận.” Tôi hiểu ra rằng chính phủ Mỹ đã nhượng bộ trước yêu sách của Liên Xô, và đó là nỗi thất vọng lớn nhất của tôi.

    SpiegelCó lẽ Liên Xô không thể làm khác, vì Hà Nội không chấp nhận coi Nam Việt Nam là một quốc gia khác, và một thời gian dài họ còn phủ nhận việc họ đã đưa quân đội chính quy vào miền Nam.

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi đã chiến đấu hơn 20 năm và học được rằng, đừng bao giờ tin lời Nga Xô và Hà Nội. Bắc Việt đóng quân ở cả Lào, Campuchia và Nam Việt Nam, tôi tin rằng một người mù cũng nhìn ra điều đó. Muốn chấm dứt chiến tranh thì chúng ta phải nhìn vào hiện thực chứ không thể chỉ nghe lời kẻ địch.

    SpiegelÔng có lập luận như thế với Kissinger không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tất nhiên, và với cả Tướng Haig nữa. Tôi bảo ông ấy thế này: “Ông Haig, ông là tướng, tôi là tướng. Ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép kẻ xâm lăng tiếp tục đóng quân tại lãnh thổ mà nó xâm lược không? Ông có cho phép Liên Xô vào Hoa Kỳ đóng quân rồi tuyên bố rằng ông đã ký kết thành công một hiệp định hòa bình với Liên Xô không?”

    SpiegelÔng ấy trả lời sao?

    Nguyễn Văn Thiệu: Ông ấy không trả lời được. Mà trả lời thế nào cơ chứ, chuyện đó hoàn toàn vô lý. Còn gì mà nói nữa.

    SpiegelNhưng Kissinger thì có câu trả lời trong hồi ký. Ông ấy viết rằng khó mà bắt Hà Nội rút quân, vì họ hoàn toàn không sẵn sàng từ bỏ trên bàn đàm phán những thứ mà họ không mất trên chiến trường. Nhưng ông ấy cũng nói rằng trong Hiệp định Paris có một điều khoản không cho phép xâm lấn. Ông ấy đi đến kết luận rằng “lực lượng miền Bắc sẽ tự nhiên tiêu hao sinh lực và dần dần biến mất.”

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi thấy chính phủ Mỹ và đặc biệt là TS Kissinger không hề rút ra được bài học nào khi phải đàm phán với cộng sản, sau những kinh nghiệm đau thương năm 1954 giữa Pháp và cộng sản Việt Nam và từ Chiến tranh Triều Tiên. Họ cũng không học được gì từ những cuộc đàm phán về Lào và Campuchia và cũng không nắm bắt được là nên xử sự thế nào với cộng sản và cần phải hiểu chiến lược và chiến thuật của cộng sản ra sao.

    Tức là ta lại phải trở về với vấn đề rằng, vì sao TS Kissinger, người đại diện cho một quốc gia lớn và tự cho mình là nhà thương thuyết giỏi giang nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt đóng tại miền Nam sẽ không xâm lấn. Sao ông ấy có thể tin như vậy cơ chứ?

    Ông ấy đủ sức kiểm soát từng tấc đất trên biên giới của Campuchia, và của Lào, và của Nam Việt Nam à? Dù có cả triệu nhân viên quốc tế giám sát, chúng tôi cũng không bao giờ có thể khẳng định là đã có đủ bằng chứng rằng không có xâm lấn. Sao ông ấy lại có thể tin những gì Bắc Việt nói. Ông ấy có thể tin lời cộng sản, nhưng chúng tôi thì không. Vì thế mà tôi đã cương quyết đòi Bắc Việt phải rút quân. Nếu họ thực sự muốn hòa bình thì họ ở lại miền Nam làm gì?

    SpiegelVậy Kissinger nói sao?

    Nguyễn Văn Thiệu: Còn nói gì được nữa? Ông ấy và chính phủ Mỹ chỉ muốn chính xác có một điều: rút khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt và đảm bảo việc trao trả tù binh Mỹ. Họ bảo chúng tôi là họ mong muốn một giải pháp trong danh dự, nhưng sự thực thì họ chỉ muốn bỏ của chạy lấy người. Nhưng họ lại không muốn bị người Việt và cả thế giới kết tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Đó là thế kẹt của họ.

    SpiegelKissinger viết rằng, ngay sau Chiến dịch Xuân-Hè 1972 của Hà Nội, các bên dường như đã đổi vai. Hà Nội đột nhiên muốn đàm phán trở lại, còn Sài Gòn thì muốn đánh cho đến khi giành toàn thắng.

    Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn vô nghĩa! Ông TS Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã đem chiến tranh vào miền Nam. Chúng tôi yêu cầu họ phải rút quân. Thế là chiến thắng hay sao? Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt tự coi mình là tù binh của miền Nam. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Bắc Việt bồi thường cho tổn thất chiến tranh. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi Bắc Việt giao nộp lãnh thổ. Tôi chưa bao giờ đòi có chân trong chính phủ ở Hà Nội. Vậy ông Kissinger hiểu thế nào về chiến thắng và toàn thắng?

    SpiegelVề vấn đề rút quân của miền Bắc, 31 tháng Năm 1971 là một ngày quan trọng. Kissinger cho biết là khi đó, trong các cuộc họp kín, Mỹ đã đưa ra yêu cầu hai bên cùng rút quân. Trong hồi ký, ít nhất ba lần TS Kissinger viết rằng không những ông được thông báo trước, mà ông còn chấp thuận.

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không bao giờ chấp thuận việc rút quân đơn phương. Từ cuộc họp ở Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng bước và cả hai bên cùng rút. Hoa Kỳ đã thay đổi lập trường và tìm cách ép chúng tôi, với những chiến thuật mà họ thường sử dụng, bằng cách huơ thanh gươm Damocles trên đầu tôi, chẳng hạn họ đem công luận Mỹ ra đe tôi, họ bảo: “Hình ảnh của ông tại Hoa Kỳ hiện nay rất tồi tệ!” Hoặc: “Quốc hội muốn cắt giảm viện trợ.” Vân vân. Họ áp dụng đúng những chiến thuật đã biết, tiết lộ thông tin cho báo giới và đặt tôi trước sự đã rồi.

    Nếu tôi từ chối, công luận sẽ quay ra chống tôi: “Ông ta đòi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ cho Mỹ được rút, ông ta sẽ không bao giờ cho tù binh Mỹ được trở về.” Thế là tôi luôn phải chấp thuận. Không phải tự nguyện, mà miễn cưỡng. Tôi phản đối làm sao được, khi lần nào họ cũng bảo rằng: “Ông mà chống thì sẽ bị cắt viện trợ.”

    Spiegel: Kissinger viết rằng trước bất kỳ một quyết định dù dưới hình thức nào, phía Mỹ cũng hỏi ý kiến ông trước.

    Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, họ hỏi ý kiến tôi, nhưng chắc chắn không phải là để nghe tôi nói “Không”, nếu đó là những quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Họ ưa gây sức ép hơn, và đạt được gần như mọi thứ bằng cách đó.

    SpiegelBây giờ Kissinger cay đắng chỉ trích về Chiến dịch Hạ Lào năm 1971. Ông ấy viết rằng, ông đã đồng ý rằng chiến dịch này nhất định phải thực hiện trong mùa khô. Vậy ý tưởng đó ban đầu là của ai?

    Nguyễn Văn Thiệu: Của người Mỹ. Trước đó khá lâu, chúng tôi từng có ý định thực hiện, nhưng không đủ khả năng tiến hành một mình. Đến khi phía Mỹ đề xuất thì chúng tôi sẵn sàng đồng ý, để sớm chấm dứt chiến tranh. Chiến dịch đó do liên quân Việt-Mỹ thực hiện và được vạch ra rất rõ ràng: Chúng tôi tác chiến tại Lào, còn phía Mỹ thì hỗ trợ tiếp vận từ Việt Nam và từ biên giới.

    SpiegelVì sao? Vì Quốc hội Mỹ có luật cấm quân đội Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?

    Nguyễn Văn Thiệu: Vâng, tôi tin là vậy. Nhưng cũng vì chúng tôi không có đủ phương tiện để tiếp tế cho binh lính, và nhất là để cứu thương binh ra ngoài. Việc đó chỉ có thề thực hiện bằng trực thăng, và chỉ phía Mỹ mới có đủ trực thăng. Không có họ thì không đời nào chúng tôi đồng ý thực hiện chiến dịch tại Lào.

    SpiegelKissinger viết rằng quân của ông gặp khó khăn khi yêu cầu không quân hỗ trợ, vì gần như không có báo vụ viên nói được tiếng Anh.

    Nguyễn Văn Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì với việc hỗ trợ của không quân. Đôi khi không có thì chúng tôi cũng không lo lắng; chúng tôi có thể dùng pháo binh. Vấn đề là: trong ba ngày mở đầu chiến dịch, phía Mỹ đã mất rất nhiều phi công trực thăng. Vì thế mà họ chần chừ, không bay đúng thời điểm và ở quy mô cần thiết. Điều đó thành ra một vấn đề lớn với quân lực Nam Việt Nam.

    SpiegelTinh thần binh lính bị suy sụp?

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi không đem được binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Không phải chỉ tinh thần binh lính, mà cả tiến độ của chiến dịch cũng bị ảnh hưởng.

    SpiegelKissinger nêu ra một lý do khác. Rằng ông đã lệnh cho các sĩ quan chỉ huy phải thận trọng khi tiến về hướng Tây và ngừng chiến dịch nếu quân số tổn thất lên tới 3000. Kissinger viết rằng nếu phía Mỹ biết trước điều đó thì không đời nào họ đồng ý tham gia chiến dịch này.

    Nguyễn Văn Thiệu: Đối với một quân nhân, định trước một tổn thất về quân số là điều phi lý. Nếu TS Kissinger nói thế thì ông ấy thật giàu trí tưởng tượng. Chúng tôi chỉ có thể tiến về phía Tây trong giới hạn mà trực thăng cứu viện có thể bay đến. Kissinger bảo là chúng tôi đã rút quân mà không báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái trên 10,000 quân mà họ không hay biết gì?

    SpiegelTức là ông đã thông báo cho họ?

    Nguyễn Văn Thiệu: Ồ, tất nhiên. Để tôi kể cho ông nghe một câu chuyện. Hồi đó tờ Time hay tờ Newsweek có đăng bức hình một người lính Nam Việt Nam đang bám vào càng một chiếc trực thăng cứu viện. Bên dưới đề: “Nhát như cáy”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy nó tệ. Không thể ngăn một người lính lẻ loi hành động như vậy được. Nhưng báo chí lại kết tội lính Nam Việt Nam là hèn nhát và đồng thời giấu biến sự thật về tinh thần chiến đấu sút kém của phi công trực thăng Mỹ trong chiến dịch này.

    SpiegelMột điểm gây rất nhiều tranh cãi giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam là vấn đề ngưng bắn. Theo cuốn hồi ký của Kissinger thì ngay từ mùa Hè 1970 chính phủ Mỹ đã thống nhất về việc sẽ đề xuất một thỏa thuận ngưng bắn tại các chiến tuyến hiện có. Kissinger khẳng định rằng ông không chỉ chấp thuận mà còn ủng hộ đề xuất này.

    Nguyễn Văn Thiệu: Đúng như vậy, tôi cũng cho rằng ngưng bắn phải là bước đầu tiên để đáp ứng một hiệp định hòa bình. Nhưng ngưng bắn ngay lập tức – và tôi xin nhắc lại: ngay lập tức – thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi bảo, chúng ta phải cân nhắc hết sức kỹ lưỡng việc này. Không thể thực hiện ngưng bắn trước khi tính kỹ việc ai sẽ giám sát việc ngưng bắn, nếu ai vi phạm thì hậu quả sẽ thế nào, hai bên sẽ đóng quân ở đâu, vân vân.

    SpiegelKissinger viết: “Khi đó chúng tôi vẫn tưởng rằng chúng tôi và Thiệu cùng đồng hành hợp tác.” Phía Mỹ đã không hiểu rằng ông đem những “chiến thuật né tránh” mà “người Việt thường áp dụng với người ngoại quốc” ra dùng.

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi là một nước nhỏ, gần như mọi thứ đều nhờ ở một đồng minh lớn và vẫn tiếp tục phải xin viện trợ dài hạn của đồng minh đó, không bao giờ chúng tôi lại cho phép mình dùng những thủ đoạn nào đó.

    SpiegelKhi Mỹ đã rút, còn Hà Nội thì được phép tiếp tục đóng quân ở miền Nam, chắc ông phải thấy là ông đã thua trong cuộc chiến này?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không hẳn, nếu chúng tôi tiếp tục được sự trợ giúp cần thiết từ phía Mỹ, như chính phủ Mỹ đã hứa khi chúng tôi đặt bút ký hiệp định. Ngay cả khi ký, tôi đã coi đó là một nền hòa bình tráo trở.

    Nhưng chúng tôi vẫn tin rằng có thể chống lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt. Vì hai lý do: Chúng tôi có lời hứa chắc chắn bằng văn bản của Tổng thống Nixon rằng Hoa Kỳ sẽ phản ứng quyết liệt, nếu Bắc Việt vi phạm hiệp định.

    SpiegelMặc dù ông ấy không hề cho biết sẽ phản ứng bằng cách nào.

    Nguyễn Văn Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được đảm bảo là sẽ có đủ viện trợ quân sự và kinh tế cần thiết để chống Bắc Việt xâm lược. Nếu chính phủ Mỹ thực lòng giữ lời hứa thì chiến tranh có thể kéo dài, nhưng miền Nam sẽ không bị Bắc Việt thôn tính.

    SpiegelVề điều này thì ông và Kissinger ít nhiều đồng quan điểm. Ông ấy viết rằng chiến lược toàn cục có thể sẽ thành công, nếu Mỹ đủ khả năng hành động trước bất kỳ một vi phạm nào của Hà Nội và tiếp tục viện trợ đầy đủ cho miền Nam. Nhưng chuyện gì đã xảy ra? Kissinger quy lỗi cho vụ Watergate, vì sau đó Tổng thống Mỹ không còn đủ uy tín. Ông có nghĩ rằng vụ Watergate thực sự chịu trách nhiệm, khiến tất cả sụp đổ không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không phải là người Mỹ. Tôi không muốn quét rác trước cửa nhà người Mỹ. Nhưng nếu người Mỹ giữ lời hứa thì đó là sự cảnh báo tốt nhất, khiến Bắc Việt không tiếp tục xâm lăng, và chiến tranh có thể sẽ dần chấm dứt.

    SpiegelNếu Hoa Kỳ giữ lời thì theo ông, hiệp định hoàn toàn có thể thành công?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi cho là như vậy.

    Spiegel: Như vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không đến nỗi tồi?

    Nguyễn Văn Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một hiệp định có lợi cho chúng tôi. Nó tráo trở. Nhưng đó là lối thoát cuối cùng. Ông phải hiểu rằng chúng tôi đã ký kết, vì chúng tôi không chỉ có lời hứa của chính phủ Mỹ như tôi đã nói, mà hiệp định đó còn được mười hai quốc gia và Liên Hiệp Quốc đảm bảo.

    SpiegelTrong cuốn hồi ký, TS Kissinger có những bình luận rát mặt về khá nhiều chính khách đầu đàn. Nhưng riêng ông thì bị ông ấy dành cho những lời hạ nhục nhất. Tuy đánh giá cao “trí tuệ”, “sự can đảm”, “nền tảng văn hóa” của ông, nhưng ông ấy vẫn chú tâm vào “thái độ vô liêm sỉ”, “xấc xược”, “tính vị kỷ chà đạp” và “chiến thuật khủng khiếp, gần như bị ám ảnh điên cuồng” trong cách ứng xử với người Mỹ của ông. Vì thế, cuối cùng Kissinger nhận ra “sự phẫn nộ bất lực mà người Việt thường dùng để hành hạ những đối thủ mạnh hơn về thể lực”. Ý kiến của ông về những khắc họa đó thế nào?

    Nguyễn Văn Thiệu: Tôi không muốn đáp lại ông ấy. Tôi không muốn nhận xét gì về ông ấy. Ông ấy có thể đánh giá tôi, tốt hay xấu, thế nào cũng được. Tôi muốn nói về những điều đã xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

    SpiegelHay ông đã làm gì khiến ông ấy có cái cớ để viết về ông với giọng coi thường như thế?

    Nguyễn Văn Thiệu: Có thể ông ấy đã ngạc nhiên vì gặp những người quá thông minh và mẫn cán. Có thể cũng do cái phức cảm tự tôn của một người đàn ông hết sức huênh hoang. Có thể ông ấy không tin nổi là người Việt đối thoại với ông ta lại địch được một người tự coi mình là vô cùng quan trọng.

    Để tôi kể thêm một câu chuyện nữa: Ở đảo Midway tôi thấy buồn cười, vì thật chẳng bao giờ tôi có thể hình dung là những người như vậy lại tệ đến thế. Chúng tôi, gồm ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi, gặp nhau ở nhà một sĩ quan chỉ huy hải quân ở Midway. Ở đó có ba chiếc ghế thấp và một chiếc ghế cao. Ông Nixon ngồi trên chiếc ghế cao.

    SpiegelNhư trong phim Nhà độc tài vĩ đại của Chaplin? Hitler cũng ngồi trên một chiếc ghế cao để có thể nhìn xuống Mussolini, ngồi trên một chiếc ghế thấp hơn.

    Nguyễn Văn Thiệu: Nhưng tôi vào góc phòng lấy một chiếc ghế cao khác, nên tôi ngồi ngang tầm với Nixon. Sau buổi gặp đó ở Midway, tôi nghe bạn bè người Mỹ kể lại rằng Kissinger đã rất bất ngờ vì Tổng thống Thiệu là một người như vốn dĩ vẫn vậy.

    SpiegelTrong hồi ký, Kissinger phàn nàn là đã bị cá nhân ông đối xử rất tệ; ông bỏ hẹn để đi chơi trượt nước. Nixon còn quá lời hơn. Theo Kissinger thì Nixon đã gọi ông là “đồ chó đẻ” (son of a bitch) mà Nixon sẽ dạy cho biết “thế nào là tàn bạo”.

    Nguyễn Văn Thiệu: Rất tiếc, nhưng tôi không thể cho phép mình đáp lại những lời khiếm nhã, thô tục đó của Nixon, vì tôi xuất thân từ một gia đình có nề nếp.

    Nếu tôi không tiếp TS Kissinger và Đại sứ Bunker thì đơn giản chỉ vì chúng tôi chưa chuẩn bị xong để tiếp tục đàm thoại. Họ đã cần đến 4 năm, vậy vì sao lại bắt tôi trả lời ngay lập tức trong vòng một tiếng đồng hồ? Có lẽ họ sẽ hài lòng, nếu chúng tôi chỉ biết vâng dạ. Nhưng tôi không phải là một người chỉ biết vâng dạ, và nhân dân Nam Việt Nam không phải là một dân tộc chỉ biết vâng dạ, và Quốc hội của chúng tôi không phải là một Quốc hội chỉ biết vâng dạ. Mà tôi phải hỏi ý kiến Quốc hội.

    Spiegel: TS Kissinger viết rằng thái độ của ông với ông ấy chủ yếu xuất phát từ “lòng oán hận độc địa”.

    Nguyễn Văn Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Dĩ nhiên là đã có những cuộc tranh luận nảy lửa, nhưng thái độ của tôi xuất phát từ tinh thần yêu nước của tôi.

    SpiegelKissinger viết rằng ông ấy hoàn toàn “thông cảm với hoàn cảnh bất khả kháng” của ông. Ông có thấy dấu hiệu nào của sự thông cảm đó không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Không, tôi không thấy. Tôi chỉ thấy duy nhất một điều, đó là áp lực từ phía chính phủ Mỹ.

    SpiegelKissinger viết rằng ông không bao giờ tham gia vào các buổi thảo luận về chủ trương chung. Ông ấy bảo rằng ông chiến đấu “theo kiểu Việt Nam: gián tiếp, đi đường vòng và dùng những phương pháp khiến người ta mệt mỏi hơn là làm sáng tỏ vấn đề”, rằng ông “chê bai mọi thứ, nhưng không bao giờ nói đúng vào trọng tâm câu chuyện”.

    Nguyễn Văn Thiệu: Hãy thử đặt mình vào tình thế của tôi: Ngay từ đầu tôi đã chấp nhận để chính phủ Mỹ họp kín với Hà Nội. Kissinger bảo là đã thường xuyên thông báo cho tôi. Vâng, tôi được thông báo thật – nhưng chỉ về những gì mà ông ấy muốn thông báo. Nhưng tôi đã tin tưởng rằng đồng minh của mình sẽ không bao giờ lừa mình, không bao giờ qua mặt tôi để đàm phán và bí mật bán đứng đất nước tôi.

    Các ông có hình dung được không: vỏn vẹn bốn ngày trước khi lên đường đến Hà Nội vào tháng Mười 1972, ông ấy mới trao cho tôi bản dự thảo mà sau này sẽ được chuyển thành văn bản hiệp định ở Paris, bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải làm việc với bản dự thảo tiếng Anh này, từng điểm một.

    Và bản dự thảo đó không phải do Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ soạn ra, mà do Hà Nội cùng Hoa Kỳ soạn ra. Các ông có thể tưởng tượng được điều đó không? Lẽ ra, trước hết phía Mỹ nên cùng chúng tôi thống nhất quan điểm về những điều kiện đặt ra cho hiệp định, và sau đó, nếu Bắc Việt có đề nghị gì khác thì Kissinger phải trở lại hội ý với chúng tôi. Nhưng ông ấy không hề làm như vậy.

    Thay vào đó, ông ấy cùng Bắc Việt soạn ra các thỏa thuận rồi trình ra cho tôi bằng tiếng Anh. Các ông có thể hiểu cảm giác của tôi khi cầm văn bản của hiệp định hòa bình sẽ quyết định số phận của dân tộc tôi mà thậm chí không buồn được viết bằng ngôn ngữ của chúng tôi không?

    Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng có bản tiếng Việt?

    Nguyễn Văn Thiệu: Chúng tôi cương quyết đòi bản tiếng Việt, đòi bằng được. Mãi đến phút cuối cùng ông ấy mới miễn cưỡng chấp nhận. Sau đó chúng tôi phát hiện ra rất nhiều cái bẫy. Tôi hỏi Đại sứ Bunker và Kissinger, ai đã soạn bản tiếng Việt. Họ bảo: một người Mỹ rất có năng lực thuộc International Linguistics College tại Hoa Kỳ cùng với phía Hà Nội. Nhưng làm sao một người Mỹ có thể hiểu và viết tiếng Việt thành thạo hơn người Việt. Và làm sao một người Mỹ có thể ứng đối bằng tiếng Việt với cộng sản Bắc Việt giỏi hơn chính chúng tôi? Đồng minh mà như thế thì có chân thành và trung thực không?

    SpiegelMột số quan chức cao cấp ở Hoa Kỳ từng nhận định rằng thực ra Kissinger chỉ cố gắng đạt được một khoảng thời gian khả dĩ giữa việc Mỹ rút quân và sự sụp đổ tất yếu của Nam Việt Nam. Trong cuốn sách của mình, Kissinger bác bỏ quan niệm đó. Ý kiến của ông thì thế nào?

    Nguyễn Văn Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

    SpiegelNhưng Kissinger đưa ra cả một loạt điểm để chứng minh rằng không phải như vậy.

    Nguyễn Văn Thiệu: Chính phủ Mỹ tìm cách ép chúng tôi phải đồng ý. Để họ có thể hãnh diện là đã thoát ra được bằng một “thỏa thuận danh dự”. Để họ có thề tuyên bố ở Hoa Kỳ rằng: “Chúng ta rút quân về nước, chúng ta đảm bảo việc phóng thích tù binh Mỹ.” Và ở ngoài nước Mỹ thì họ nói rằng: “Chúng tôi đã đạt được hòa bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ mọi chuyện do người dân Nam Việt Nam định đoạt. Nếu chính phủ liên hiệp biến thành một chính phủ do cộng sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”

    SpiegelKissinger viết như sau: “Nguyên tắc mà chúng tôi tuân thủ trong các cuộc đàm phán là: Hoa Kỳ không phản bội đồng minh.”

    Nguyễn Văn Thiệu: Ông cứ nhìn miền Nam Việt Nam, Campuchia và toàn bộ Đông Dương hiện nay thì biết. Khi tranh luận với các đại diện chính phủ Mỹ về hiệp định hòa bình, chúng tôi thường có ấn tượng rằng họ không chỉ đóng vai, mà thực tế là đã biện hộ cho ác quỷ.

    SpiegelCó bao giờ ông thấy một chút gì như là biết ơn đối với những điều mà người Mỹ đã làm để giúp nước ông không? Trong cuốn sách của mình, Kissinger viết rằng: “Biết công nhận những cống hiến của người khác không phải là đặc tính của người Việt.”

    Nguyễn Văn Thiệu (cười): Về những điều mà Kissinger viết trong cuốn sách của ông ấy thì tôi cho rằng chỉ một người có đầu óc lộn bậy, chỉ một người có tính khí tởm lợm mới nghĩ ra được những thứ như vậy. Trong cuốn sách đó ông ấy còn tỏ ý sợ người Việt sẽ đem những người Mỹ còn sót lại ra trả thù, sau khi Washington bỏ rơi chúng tôi. Không bao giờ chúng tôi làm những điều như thế, không bây giờ và không bao giờ.

    SpiegelCá nhân ông có cảm thấy một chút hàm ơn nào với họ không?

    Nguyễn Văn Thiệu: Hết sức thực lòng: Nếu chính phủ Mỹ không phản bội, không đâm dao sau lưng chúng tôi thì nhân dân Việt Nam mãi mãi biết ơn họ. Có lần, sau khi chúng tôi tranh luận rất kịch liệt về một văn bản trong hiệp định, một số thành viên trong chính phủ của tôi bảo rằng, nếu Kissinger lập công với miền Nam như ông ta đã lập công với miền Bắc thì may mắn biết bao. Tôi bảo họ: nếu ông ấy thương lượng được một nền hòa bình thực sự với Hà Nội thì miền Nam sẽ dựng tượng ông ấy, như MacAthur ở Nam Hàn. Nhưng đáng tiếc là đã không như vậy. Nhìn vào những hậu quả của nền hòa bình ấy: trại tập trung cải tạo, nạn đói, nhục hình tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân bỏ mạng trên biển, và một cuộc diệt chủng tàn bạo hơn, hệ thống hơn và hoạch định hơn cả ở Campuchia, tôi nghĩ tốt nhất là người Mỹ nên tự đánh giá những điều mà ông Nixon và ông Kissinger đã gây ra cho miền Nam Việt Nam. Kissinger không có gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ấy đã đạt được. Đó là hòa bình của nấm mồ.

    SpiegelXin cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.

    (Nguồn: “Die Amerikaner haben uns verraten“, tạp chí Spiegel số 50/1979. Những người thực hiện: Engel, Johannes K., Lohfeldt, Heinz P.)

    Đã đăng trên báo Trẻ Online.

    Josh Gelernter
    Athena, cộng tác viên Dân Luận, chuyển ngữ

    Nhìn sự phát triển của Hàn Quốc để tưởng tượng nếu Việt Nam Cộng Hòa còn sống đến hôm nay. Ảnh minh họa.

    Hãy nhìn vào các nước Đông Á và tưởng tượng xem Việt nam Cộng Hòa nếu còn sống sẽ trở thành một quốc gia như thế nào?

    30 tháng Tư sắp tới là ngày kỷ niệm lần thứ 40 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ. Bốn mươi năm sau khi Mỹ bỏ rơi miền Nam Việt Nam, rất có thể lời nói dối kinh điển nhất trong lịch sử nước Mỹ chính là “sự can thiệp vào khu vực Đông Dương của Mỹ là một ý tưởng quá tệ”.

    Trong hầu hết các cuộc tranh luận thì dường như ai cũng nhìn việc tham chiến ở Việt Nam là một sai lầm như một sự thật hiển nhiên, và chỉ có một số người thuộc phe bảo thủ nhìn thấy điều này là điểm đáng để tranh luận. Khi các thành viên Đảng Cộng hòa nói về Việt Nam, họ thường bảo vệ phía quân đội hơn. Thỉnh thoảng còn có người cho rằng chiến dịch Tết Mậu Thân là một chiến thắng của nước Mỹ. Thỉnh thoảng câu chuyện Mỹ Lai lại được đem ra so sánh với hàng ngàn tội ác tương tự, và hàng tá những vụ còn nặng nề hơn mà bộ đội miền Bắc đã thực hiện. Hiếm khi có người chỉ ra rằng từ khi Creighton Abrams thay thế vị trí đứng đầu Bộ chỉ huy Việt trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam do William Westmoreland nắm giữ, chúng ta đã bắt đầu thắng trong trận chiến – và bằng việc từ chối thực hiện theo các thỏa thuận sau Hiệp định Paris, Quốc Hội đã giật chiến thắng quân sự khỏi tay miền Nam Việt Nam.

    Thay vì đưa ra những lý lẽ từa tựa như vậy, tôi sẽ chỉ ra một vài thực tế về khu vực Đông Á trong thời điểm hiện tại. Sau khi chủ nghĩa đế quốc sụp đổ cùng với thời điểm kết thúc Thế chiến thứ II, khu vực Đông Á bắt đầu xây dựng lại từ đầu. Mỹ đã ủng hộ ba chính phủ chống Cộng Sản trong cuộc chiến ngăn cản chủ nghĩa Marx lan rộng: Chúng ta ủng hộ nước Trung Hoa Dân Quốc chống lại Công hòa Nhân dân Trung Hoa, chúng tôi ủng hộ nước Cộng hòa Triều Tiên (Hàn Quốc) chống lại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, và chúng tôi ủng hộ Việt Nam Cộng hòa chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này có nghĩa là, Đài Loan chống lại Trung Quốc theo phe Cộng sản, Nam Hàn chống lại Bắc Hàn, và miền Nam Việt Nam chống lại miền Bắc Việt Nam. Hai trong số ba nước cộng hòa trên giờ được xếp hạng trong top những nước phát triển, thịnh vượng, và tự do nhất trên thế giới.

    Một trong những chỉ trích công khai về việc chính phủ Mỹ ủng hộ Việt Nam Cộng hòa là chính phủ miền Nam không hề mang tính dân chủ. Điều này hoàn toàn đúng; miền Nam Việt Nam do một chính quyền quân sự cầm quyền với sự hợp tác dân sự ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, để giải thích chúng ta có thể dẫn lời ông Leo Ryan, một nghị sĩ phản chiến thuộc Đảng Dân Chủ: “Mặc dù miền Nam Việt Nam không có nền tảng dân chủ, nhưng rõ ràng là những cáo buộc đàn áp nhân quyền đã bị thổi phồng lên. Vẫn có các phe đối lập chính trị và các cơ quan báo chí. Không nghi ngờ rằng ở miền Nam thời đó có vài tù nhân chính trị nhưng người dân và các lãnh đạo phe đối lập không hề sợ hãi vì chính quyền đàn áp.”

    Điều may mắn là, thị trường tự do đã thúc đẩy các nước không có tự do này đi đúng hướng. Giống như Việt Nam Cộng hòa, hai nước Cộng hòa Trung Hoa và Triều Tiên đều trải qua thời kỳ bị lãnh đạo bởi những nhà độc tài quân sự. Nam Triều Tiên do Tướng Park Chung-hee cầm quyền từ cuộc đảo chính năm 1961 đến khi ông bị ám sát vào năm 1979. Chính quyền Park Chung-hee đã tàn lụi vì sự đàn áp chính trị, nhưng ông đã xây dựng Hàn Quốc thành một cường quốc, trở thành nền tảng phát triển dân chủ của Hàn Quốc ngày hôm nay.

    Tương tự, Trung Hoa Dân Quốc bị cai trị dưới thiết quân luật, do Tổng Tư lệnh Chiang Kai-shek lãnh đạo cho đến khi ông qua đời vào năm 1975. Giống như Park Chung-hee, luật lệ của Chiang Kai-shek cũng nhuốm màu sắc đàn áp, nhưng đã trở thành một quốc gia cực kỳ thịnh vượng – dưới thời con trai của ông, Chiang Ching-kuo – và được chuyển giao thành một nước hoàn toàn tự do, dân chủ.

    Điều không may là Đài Loan không được Liên Hợp Quốc công nhận là một quốc gia có chủ quyền. Tuy nhiên, bằng việc tính toán dựa trên công thức Chỉ số Phát triển Con người của Liên Hợp Quốc (trong đó nhấn mạnh đến mức sống của người dân), Đài Loan là nước đứng thứ 21 trên thế giới về quốc gia phát triển nhất. Hàn Quốc đứng thứ 15. Cả hai quốc gia này đều xếp trên các nước châu Âu khác như Áo, Bỉ, Luxembourg, Ý, và Phần Lan; Hàn Quốc thậm chí còn đánh bật Nhật Bản, Pháp, và Israel.

    Mặc dù có rất ít tài nguyên thiên nhiên, Đài Loan vẫn xếp thứ 19 trong số các nước có thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới: khoảng 45.854$/năm, cao hơn cả Canada, Đan Mạch, Bỉ, Pháp, Anh, Nhật Bản, và Ý. Cũng trong tình cảnh ít tài nguyên, Hàn Quốc xếp ở vị trí thứ 30 trong danh sách trên, cao hơn New Zealand, Tây Ban Nha, và cả hai nửa của Tiệp Khắc cũ (nay là Cộng hòa Séc và Slovakia).

    Nhìn sang hai nước Cộng sản đồng cấp: Trung Quốc có thu nhập bình quân đầu người đứng thứ 70, thấp hơn rất nhiều so với Đài Loan, xếp sau cả Turkmenistan, Algeria, Libya, quốc đảo Maldives, và Iraq. Bắc Triều Tiên gần như đứng chót trong bảng xếp hạng, thấp hơn cả Zimbabwe, Rwanda, và Haiti. Về mặt phát triển con người, Trung Quốc cũng đứng thứ 70 sau Đài Loan, Tunisia, Peru, Grenada, và Azerbaijan. Còn Bắc Triều Tiên, vì những lý do đã quá rõ ràng, chẳng thể nào xác định được chính xác.

    Và nếu so sánh các quốc gia Châu Á tự do có Mỹ đứng đằng sau với Việt Nam: Thiên đường của ông Hồ Chí Minh đứng thứ 122 về phát triển con người, sau cả Syria, Iraq, Moldova và Gabon, và đứng thứ 126 về GDP trên đầu người, sau Cộng hòa Congo, Swaziland, Dominica và Albania.

    Có lẽ đây là hậu quả tất yếu của cuộc tranh trừng truyền thống kiểu Cộng sản đối với các địa chủ, giáo viên, và trí thức.

    Quan trọng hơn cả nền kinh tế, hãy nhìn vào mức độ tự do ở các nước này. Đài Loan và Hàn Quốc có bầu cử tự do, nền tư pháp độc lập, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do lập hội, và tự do ngôn luận. Trong khi đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì không. Tất nhiên, Việt Nam cũng thế vì Đảng Cộng sản tiếp tục nắm quyền bầu cử và tư pháp, và tiếp tục bắt bớ, tra tấn các nhà đối lập chính trị và tôn giáo.

    Thử tưởng tượng xem Việt Nam Cộng hòa – miền Nam Việt Nam – sẽ như thế nào ngày hôm nay. Việt Nam là đất nước đông dân thứ 13 trên thế giới, với hơn 90 triệu người. Phân nửa số đó, nhiều hơn hoặc ít hơn, có thể được sống trong đất nước tự do và thịnh vượng như Hàn Quốc và Đài Loan. (Thậm chí có khi còn giàu có hơn, vì – không giống như Đài Loan và Hàn Quốc – Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn, tích trữ dưới dạng dầu mỏ ở ngoài biển.)

    Và như thế chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng, bất chấp những chuyện xảy ra vào những năm 60 và 70, vào năm 2015 thì việc chiến đấu vì miền Nam Việt Nam là điều cần phải làm. Và đó là thời điểm nhiều người cũng nói vậy – đặc biệt là giới chính trị gia và giáo viên, đặc biệt là những người cựu chiến binh đã già. Và bởi vì, 40 năm sau khi Sài Gòn thất thủ, tất cả chúng ta đều học được bài học đắt giá khi Mỹ đã từ chối đấu tranh cho điều tốt đẹp.

    Josh Gelernter viết hàng tuần cho NRO và là cộng tác viên thường xuyên cho tờ The Weekly Standard.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Hội Nghị Paris 1968-1973 | Leave a Comment »

►Người TQ tính toán gì qua việc mua đất vùng ven biển Đà Nẵng: chặt lìa Bắc – Nam ?

Posted by hoangtran204 trên 28/09/2015

Chủ tịch TQ Hồ Cẩm Đào đã dùng máy bay thị sát  Đà Nẵng 2006…

Người nói tiếng Trung Quốc ồ ạt mua đất 

ven biển Đà Nẵng?

Tuổi Trẻ

26/09/2015 11:20 GMT+7

 

TT – Ông Nguyễn Điểu, giám đốc Sở Tài nguyên – môi trường TP Đà Nẵng, vừa lên tiếng cảnh báo hiện tượng người nước ngoài núp bóng người Việt mua lại nhiều lô đất ven biển trên địa bàn.

 

Dải đất được chính quyền Đà Nẵng cảnh báo đang có hiện tượng người nước ngoài đứng sau lưng người Việt để mua đất – Ảnh: Hữu Khá

Dải đất được chính quyền Đà Nẵng cảnh báo đang có hiện tượng người nước ngoài đứng sau lưng người Việt để mua đất – Ảnh: Hữu Khá

Thông tin tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng, ông Điểu cho biết: Sở Tài nguyên – môi trường vừa gửi hồ sơ qua Sở Kế hoạch – đầu tư để xem xét cẩn trọng nguồn gốc các doanh nghiệp do người Việt đứng tên sang nhiều lô đất ở các quận ven biển Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà, nhưng sau lưng là những người nước ngoài.

Những vụ chuyển nhượng này thông qua rất nhiều cấp, thực hiện thỏa thuận với nhà đầu tư, các chủ nhà đất của dân, các chủ khách sạn… Đó là hoạt động chuyển nhượng đất đai cho người nước ngoài, chủ yếu là người nói tiếng Trung Quốc.

“Điều này tiềm ẩn nguy cơ rất lớn. Chúng tôi đã nhiều lần báo cáo” – ông Điểu nói.

Liên quan đến vụ việc, ông Trần Thọ – bí thư Thành ủy Đà Nẵng – cho rằng việc người nước ngoài đứng sau lưng người Việt để mua đất là chuyện cực kỳ nguy hiểm, đồng thời yêu cầu cơ quan chức năng lưu ý thường xuyên kiểm tra, có biện pháp phù hợp, xử lý đúng quy định pháp luật.

Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, khu vực mua bán đất có yếu tố nước ngoài xảy ra tại dải đất sát với sân bay Nước Mặn (quận Ngũ Hành Sơn). Nơi đây thường xuyên có đông đảo người nước ngoài đến du lịch, cư trú.

Vừa qua có 13 lô đất được chuyển nhượng có dấu hiệu do người nước ngoài bơm tiền cho người Việt mua đất, trong đó một số trường hợp đang làm thủ tục xây dựng nhà công trình để kinh doanh.

Ngoài ra, một số nhà hàng, khách sạn ven biển đã xuất hiện tiếng Trung to tướng bên cạnh tiếng Việt để lôi kéo khách.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Lan, một chuyên gia bất động sản ở Đà Nẵng, cho biết theo Luật đất đai năm 2013, người nước ngoài không được phép nhận quyền sử dụng đất tại VN. Luật nhà ở (có hiệu lực từ ngày 1-7-2015) chỉ cho phép người nước ngoài được mua nhà tại VN với thời hạn sở hữu tối đa là 50 năm. Do vậy, việc người nước ngoài mua bán đất, dù dưới hình thức núp bóng người Việt, cũng là hành vi vi phạm pháp luật.

Trong khi đó, dù cho rằng rất khó xử lý về mặt pháp luật do người Việt vẫn đứng tên trên giấy tờ sang nhượng đất đai, nhưng theo luật sư Lê Cao (Công ty luật hợp danh FDVN), chuyện người Trung Quốc núp bóng người Việt mua đất ven biển Đà Nẵng là vấn đề cần phải cảnh giác bởi liên quan đến chuyện an ninh quốc phòng ở các vị 
trí trọng yếu ven biển.

Theo ông Cao, để ngăn chặn hiện tượng người nước ngoài núp bóng mua đất tại các khu vực nhạy cảm này, chính quyền cần kiểm soát về mặt con người, trong đó giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ở các công trình, khu đất này. Đặc biệt là phải giám sát, kiểm soát được nguồn lao động mà chủ cơ sở sử dụng, nắm được người chủ thật sự họ 
đang làm gì ở đó.

Hữu Khá

_________

 

Trung Quốc đã đặt xong từ lâu căn cứ quân sự tại khu Hoàng Đạt, chạy dọc bờ biển và song song với sân bay Nước Mặn rồi. Đây là điểm ngắn nhất, theo đường chim bay ra tới quần đảo Hoàng Sa – quần đảo của VN bị Trung Quốc cướp năm 1974, trong sự đồng lõa của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Chiếm được vị trí yết hầu Đà Nẵng, chặt lìa Việt Nam làm hai, lúc đó chỉ còn đặt nền cai trị, hoàn thành Hội nghị Thành Đô 1990.

Thực ra, việc bán Đà Nẵng đã xong từ lâu! Nay, hiện thực hóa và công khai hóa việc bán nước để dò lòng dân thôi. Dốt như Tễu chỉ quanh quẩn ao làng còn biết vậy! (xuandienhannom.blogspot.com)

———

 

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bắt đầu thăm chính thức Việt Nam

07:00 AM ngày 16 tháng 11 năm 2006

TP – Đúng 16 giờ 30 phút ngày 15/11, chuyên cơ chở Tổng Bí thư Đảng CS Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào và phu nhân đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Đà Nẵng, mở đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Hội nghị APEC Việt Nam – 2006.

Cùng đi với đồng chí Hồ Cẩm Đào có các đồng chí Vương Cương-Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Văn phòng T.Ư Đảng CS Trung Quốc, Lý Triệu Tinh-Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Vương Gia Thụy-Bộ trưởng Bộ Liên lạc đối ngoại T.Ư, cùng nhiều quan chức cấp cao khác.

Đồng chí Hồ Cẩm Đào, phu nhân cùng đoàn đại biểu Trung Quốc đã đến thăm Nhà máy sản xuất đồ chơi Matrix tại KCN Hoà Khánh. Đây là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với vốn đầu tư 14 triệu USD, đi vào sản xuất từ năm 2004, giải quyết việc làm cho 9.500 lao động địa phương.

Tối cùng ngày, tại Khu nghỉ mát Furama, Bí thư Thành uỷ Nguyễn Bá Thanh cùng lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã tiếp kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, và sau đó là tiệc chiêu đãi của lãnh đạo địa phương chào mừng đoàn khách quý.

Theo chương trình, sáng nay (16/11), đoàn sẽ đến thăm đô thị cổ Hội An (Quảng Nam). Tại đây, đoàn sẽ thăm Hội quán Phúc Kiến và đi bộ thăm phố cổ. Sau đó, đoàn sẽ đáp máy bay ra Hà Nội.

Lễ đón chính thức Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào diễn ra chiều 16/11 tại Phủ Chủ tịch. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào sẽ có cuộc hội đàm với Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Các nhà lãnh đạo hai nước sẽ chứng kiến lễ ký kết một số văn kiện hợp tác và dự lễ khai trương trang tin điện tử Việt Nam-Trung Quốc tại Văn phòng T.Ư Đảng.

Trong thời gian thăm chính thức Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào dự kiến có các cuộc hội kiến với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng. Đồng chí Hồ Cẩm Đào sẽ đến đặt vòng hoa và viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đây là lần thứ 4 đồng chí Hồ Cẩm Đào đến thăm Việt Nam và là lần thứ 2 ông đến thăm trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Chuyến thăm lần này diễn ra trong bối cảnh quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt-Trung thời gian qua được thúc đẩy cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

Kim ngạch thương mại song phương đạt 8 tỷ USD năm 2005 và có khả năng đạt 10 tỷ USD trong năm nay. Tính đến cuối năm ngoái, Trung Quốc có 349 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đầu tư 730 triệu USD. Về biên giới, lãnh thổ, hai bên đang quyết tâm hoàn thành toàn bộ việc phân giới, cắm mốc trên đất liền vào năm 2008.

Về Biển Đông, hai bên đã triển khai điều tra nguồn lợi thủy sản trong vùng đánh cá chung, tiến hành tuần tra chung trong Vịnh Bắc Bộ, và đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh, hợp tác ba bên Việt Nam-Trung Quốc-Philippines về thăm dò địa chấn ở Biển Đông cũng đang được triển khai thuận lợi.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào diễn ra chỉ khoảng 3 tháng sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh hồi tháng 8 . Đây là dịp để hai bên tiếp tục duy trì truyền thống gặp gỡ cấp cao, khẳng định coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước.

 

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Thời Sự | Leave a Comment »

►The Washington Post: Đã đến lúc phải có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc và Tập Cận Bình

Posted by hoangtran204 trên 28/09/2015

The Washington Post: Đã đến lúc phải có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc và Tập Cận Bình (23-9-2015 )

26-9-2015
 
Đối với chủ tịch Tập Cận Bình, thành tích chủ yếu trong cuộc gặp thượng đỉnh với tổng thống Obama có thể là 21 loạt đại bác chào mừng ông ta trên bãi có trước Nhà Trắng vào ngày thứ sáu (25 tháng 9 – ND).
 
Đối với chủ tịch Tập Cận Bình, thành tích chủ yếu trong cuộc gặp thượng đỉnh với tổng thống Obama có thể là 21 loạt đại bác chào mừng ông ta trên bãi có trước Nhà Trắng vào ngày thứ sáu (25 tháng 9 – ND). Buổi đón tiếp do tổng thống Mỹ tổ chức với đầy đủ các nghi thức là sự kiện đặc biệt đối với nhà cầm quyền Trung Quốc ngay trong thời điểm khi ông vẫn đang chiến đấu nhằm củng cố quyền lực ở Bắc Kinh và chứng tỏ rằng ông có khả năng khống chế bộ máy quan liêu đầy tham nhũng và nền kinh tế đang trì trệ.
Sau khi chấp nhận dành cho ông ta vinh dự hiếm có như vậy – Trung Quốc là nước phi dân chủ duy nhất mà lãnh đạo được chính quyền Mỹ tiếp đón như chuyến thăm cấp nhà nước – ông Obama còn nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều. Ông phải thuyết phục ông Tập xem xét lại các chính sách gây hấn mà ông đang tiến hành, từ những vụ gián điệp trên mạng nhằm vào cơ quan của và công ty của Mỹ, đến việc xây dựng các sân bay quân sự ở Biển Đông. Trong suốt hai năm qua, lời phản đối của phía Mỹ về những vấn đề đó đã bị lãnh đạo Trung Quốc phớt lờ. Nếu cuộc họp hội nghị thượng đỉnh lần này không làm thay đổi được tình hình, có thể dễ dàng dự đoán rằng quan hệ của hai nước sẽ xấu đi.
     Nhà lãnh đạo Tập Cận Bình và phu nhân đã có chuyến viếng thăm nước Mỹ đầu tiên trong vai trò Chủ tịch Trung Quốc.
Trong cuộc gặp ở California cách đây hai năm, ông Obama đã tập trung vào vấn đề tình báo trên mạng. Nhưng các cuộc tấn công của Trung Quốc tiếp tục leo thang, trong đó có việc ăn cắp hàng triệu đơn khai báo về thu nhập cá nhân của các nhân viên liên bang và ăn cắp thông tin của những công ty công nghệ lớn. Tương tự như Vladimir Putin ở Ukraina, ông Tập có cách tiếp cận vô liêm sỉ là phủ nhận, nói rằng chế độ của ông không chịu trách nhiệm về những hoạt động đó, mặc dù có rất nhiều bằng chứng ngược lại. Để tránh làm gián đoạn hội nghị thượng đỉnh, tổng thống Obama đã hoãn áp dụng những biện pháp trả đũa nhắm vào những đối tượng có liên quan ở Trung Quốc. Nhưng ông cần làm rõ rằng những biện đó sẽ được áp dụng ngay sau khi Tập về nước, ngay cả khi chính phủ hai nước đồng ý về một số biện pháp về an ninh mạng.
 
Tình hình ở Biển Đông là nguyên nhận thậm chí còn đáng lo hơn. Với việc tiến hành xây dựng các đường băng trên những hòn đảo nhỏ mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, Bắc Kinh đã chuẩn bị nền tảng cho việc sử dụng vũ lực nhằm khẳng định tuyên bố thiếu căn cứ của nước này đối với những vùng biển mà nhiều nước, trong đó có Nhật Bản và Philippines, coi là lãnh thổ mình. Vì những lời phản đối bằng miệng và những lời kêu gọi đàm phán của Mỹ đã không ngăn chặn được hành động của Trung Quốc; phải xem xét những biện pháp khác, trong đó có trừng phạt. Ông Obama phải phá vỡ niềm tin của ông Tập rằng những dự án của ông ta sẽ chẳng tạo ra hậu quả gì, ngoài mấy lời đa to búa lớn từ phía Mỹ.
 
Nhiều chính sách khác của ông Tập cũng làm người ta lo lắng, trong đó có chiến dịch đàn áp những người bất đồng chính kiến ở trong nước, những vụ đàn áp các luật sư và các nhà hoạt động Thiên chúa giáo mà ông ta đang tiến hành và đạo luật mới gây nhiều phiền hà cho các nhóm xã hội dân sự, trong đó có các trường đại học của Mỹ đang hoạt động ở Trung Quốc. Ông Obama hầu như chưa nói về những vi phạm nhân quyền trong quá khứ của Bắc Kinh; đây sẽ là cơ hội tốt để làm việc đó.
 
Các quan chức của Nhà Trắng đã hứa rằng ông Obama sẽ tiến hành “cuộc thảo luận sôi nổi” với ông Tập những khác biệt, ngay cả khi họ bảo vệ quyết định dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc buổi đón tiếp với đầy đủ lễ nghi. Họ đã đúng khi cho rằng tương tác giữa các quan chức cấp cao của Mỹ và Trung Quốc phải tiếp tục, thậm chí ngay cả khi phải dành cho ông Tập nghi lễ mà ông ta đòi hỏi. Nhưng những biện pháp nhằm chống lại chính sách của ông ta phải vượt ra khỏi ngôn từ đao to búa lớn.
 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Hoa Ky | Leave a Comment »

►Mất cảnh giác

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2015

Blog VOA

Nguyễn Hưng Quốc

26-9-2015

H1Một người bạn của tôi, từ Hà Nội sang, kể tôi nghe chuyện này: Cách đây mấy năm, Bộ Công an Việt Nam xây dựng trụ sở mới ở đường Phạm Hùng, Cầu Giấy, Hà Nội. Trụ sở rất đồ sộ và lộng lẫy do một nhà thầu Trung Quốc thiết kế và xây dựng. Đến lúc xây xong, người ta mới sực nhớ một chuyện: Có thể Trung Quốc cho gắn các thiết bị do thám trong toà nhà để ghi âm tất cả các cuộc đối thoại trong đó. Thế là người ta sợ. Nhưng không có cách gì lật tung cả toà nhà ra để tìm các thiết bị do thám ấy. Mà tìm chưa chắc đã thấy. Cuối cùng, người ta chọn giải pháp: cho các nhân viên cấp trung và cấp thấp vào làm việc trong trụ sở mới, còn giàn lãnh đạo cao cấp thì vẫn ở lại trụ sở cũ.

Nghe câu chuyện ấy, tôi không thể không thắc mắc: Tại sao một việc đơn giản như vậy mà người ta không thể đoán trước được? Bạn tôi cười: “Thế mới nói! Ở Hà Nội, ai cũng đặt ra câu hỏi ấy. Nhưng không ai công khai và chính thức trả lời cả. Có khi câu trả lời rất đơn giản: Bất cẩn!”

Một chuyện nữa cũng làm tôi thắc mắc: Trung Quốc đã khởi sự việc bồi đắp các bãi đá ngầm ở Trường Sa thành đảo nhân tạo ít nhất cũng từ một hai năm trước, vậy tại sao bộ đội Việt Nam đóng trên các hòn đảo gần đấy lại không hay biết gì cả? Thế giới – và cả người Việt nữa – chỉ biết sự kiện ấy vào đầu năm nay khi Mỹ loan tin kèm theo các bức ảnh được chụp từ vệ tinh. Tại sao? Câu trả lời không chừng cũng vì họ không quan tâm, hay nói cách khác, bất cẩn.

Có thể nói, trong quan hệ với Trung Quốc, giới lãnh đạo Việt Nam lâu nay rất bất cẩn. Trước đây, Bộ Thương mại Việt Nam giao hẳn cho phía Trung Quốc toàn quyền quyết định nội dung tờ báo mạng bằng tiếng Việt của họ. Nhiều tờ báo loan cả tin bộ đội Trung Quốc tập luyện ở những vùng biển và hải đảo vốn thuộc chủ quyền Việt Nam theo các bản tin lấy từ báo chí của Trung Quốc mà không một chút phân vân hay phê phán. Nhiều cơ sở du lịch in bản đồ Việt Nam trong đó Hoàng Sa và Trường Sa được ghi rõ là thuộc về Trung Quốc. Cách đây mấy năm, dư luận rất phẫn nộ khi biết một số tỉnh miền Trung và miền Bắc cho các công ty Trung Quốc thuê dài hạn (trong vòng 50 năm) trên 300.000 hecta đất rừng đầu nguồn được xem là có vị trí chiến lược. Cuối năm ngoái, người ta cũng phát hiện nhà cầm quyền Thừa Thiên – Huế cho phép công ty Trung Quốc xây dựng khu du lịch ngay dưới chân đèo Hải Vân, nơi, cũng theo giới quân sự, có ý nghĩa chiến lược, liên quan đến an ninh quốc phòng của Việt Nam. Mới đây, báo chí lại loan tin chính quyền Quảng Ngãi thuê một công ty của Trung Quốc (CPG, có trụ sở chính tại Singapore) làm dự án quy hoạch huyện đảo Lý Sơn, nơi được xem là có vị trí trọng yếu ở mặt trận Biển Đông. Bị hỏi, giới chức ở tỉnh Quảng Ngãi trả lời là họ không biết vai trò của Trung Quốc trong tập đoàn ấy, hơn nữa, họ còn nhấn mạnh là họ làm theo đề nghị từ “các đơn vị cấp trên”. Chưa hết. Ông Lê Viết Chữ, Bí thư tỉnh uỷ, còn nói thêm: “Quan điểm cá nhân của tôi thì tôi không phân biệt tập đoàn đó thuộc quốc gia nào, tất cả chúng ta đều có quan hệ với nhau hết.”

Lời tuyên bố của ông Lê Viết Chữ rõ ràng là sai. Trong quan hệ với Việt Nam, không phải nước nào cũng như nước nào. Với các nước khác, kinh tế chỉ là kinh tế. Nhưng với Trung Quốc thì khác. Trung Quốc đã từng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Trung Quốc cũng đã chiếm bảy hòn đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa vào năm 1988. Trung Quốc đã từng xua quân tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam vào năm 1979. Trung Quốc đã từng đưa giàn khoan HD-981 vào thăm dò ngay trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào năm 2014. Trung Quốc cũng đã từng ngang ngược cho Biển Đông là thuộc chủ quyền của họ, là “sân sau” của họ. Đó là những chuyện trong quá khứ. Lại là quá khứ không xa xôi gì lắm. Trong tương lai, ai cũng biết rõ không sớm thì muộn, Trung Quốc cũng sẽ tuyên bố vùng nhận dạng hàng không trên con đường 9 đoạn vốn trùm lấp lên phần lớn Biển Đông của Việt Nam. Nói cách khác, cụ thể hơn: Nếu Trung Quốc không có ý định đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam thì họ cũng sẽ tìm mọi cách để chiếm đoạt Biển Đông của Việt Nam. Điều đó, trên thế giới, hầu như không ai nghi ngờ cả. Vậy tại sao chính quyền Việt Nam lại không biết, lại vẫn tiếp tục bất cẩn?

Theo tôi, có ba lý do chính:

Thứ nhất là người ta bị Trung Quốc mua chuộc. Có hai yếu tố khiến khả năng này là hiện thực: Một mặt, Trung Quốc vẫn nổi tiếng xưa nay về các việc đút lót trong quan hệ ngoại giao với các nước khác; mặt khác, cán bộ các cấp Việt Nam từ trước đến nay cũng nổi tiếng về việc nhận hối lộ. Không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các dự án của Việt Nam đều lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc: tiền “bôi trơn” và “lại quả” của họ cao.

Thứ hai, người ta thành thực tin là Trung Quốc tốt, là Trung Quốc sẽ không bao giờ đánh Việt Nam, do đó, người ta không cần phải cảnh giác hay lo lắng gì trong các quan hệ với Trung Quốc cả. Sự tin tưởng này, nếu có, cũng chỉ là hệ quả của công tác tuyên truyền của đảng Cộng sản và chính quyền trung ương vốn tập trung vào khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng” lúc nào cũng ra rả trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Từ sau vụ giàn khoan HD-981 đến nay, các khẩu hiệu này ít được nhắc nhở, nhưng giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chưa dám nói thẳng Trung Quốc là một sự đe doạ lớn đối với chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo. Tin tức về các âm mưu xâm lấn của Trung Quốc cũng như các hành động ngang ngược của Trung Quốc như truy đuổi các thuyền đánh cá Việt Nam ngay trong hải phận của Việt Nam ít được đề cập. Xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vẫn là hình ảnh Trung Quốc như một đối tác chiến lược gần gũi của Việt Nam. Dưới ảnh hưởng của việc tuyên truyền như thế, một số người Việt Nam, kể cả các viên chức cán bộ, từ trung ương xuống địa phương, nghĩ sai về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó, đâm ra bất cẩn trước âm mưu bá quyền của Trung Quốc không có gì là khó hiểu.

Thứ ba, người ta không tin cũng không bị mua chuộc, nhưng người ta mặc kệ, coi đó là chuyện của người khác, không dính líu gì đến mình cả. Có lẽ đây là tâm trạng khá phổ biến ở Việt Nam. Trong những người bạn ở Việt Nam thỉnh thoảng tôi tiếp xúc, nhiều người hiểu rất rõ những nguy cơ đến từ Trung Quốc nhưng khi nhìn thấy giới lãnh đạo bất động, họ cũng không quan tâm, xem việc Việt Nam rơi vào quỹ đạo thống trị của Trung Quốc là chuyện đã rồi và không thể đảo ngược được. Từ bất cần, nếu có chút quyền hành, họ cũng trở thành bất cẩn.

Dù vì bất cứ lý do gì, những sự thiếu cảnh giác như thế cũng là một điều rất đáng ngạc nhiên. Một trong những truyền thuyết cổ và phổ biến nhất của Việt Nam, chuyện Mỵ Châu và Trọng Thuỷ, đã đặt vấn đề cảnh giác trong quan hệ với Trung Quốc. Những năm chiến tranh, mặc dù quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Quốc vẫn còn êm thắm, Tố Hữu vẫn nhớ bài học ấy và từng nhắn nhủ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Sự bất cẩn hay thiếu cảnh giác của chính quyền Việt Nam hiện nay chắc chắn không phải vì chuyện “trái tim lầm chỗ để trên đầu”. Nhưng nếu không phải “trái tim” thì là cái gì? Theo tôi, không chừng chỉ có tính ích kỷ và sự ngu dốt.

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Công an Hà Nội đau đầu về sự ra đời của Kênh truyền hình Lương Tâm TV

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2015

 Nguyễn Văn Đài      24-9-2015

Ăn gì mà chuyên làm chuyện ngu???

AN Vn vô công, rỗi nghề đi quảng bá cho Lương Tâm TV. Làm mình mệt suốt đêm qua và sáng sớm nay, các NGO quốc tế, Cơ quan ngoại giao yêu cầu cập nhật thông tin liên tục.

Không những vậy, AN Vn bắt, giữ người trái pháp luật. Vi phạm Hiến pháp, luật hình sự khi xâm phạm đến quyền tự do cá nhân, bí mật riêng tư, tài sản, sức khỏe,…. của công dân.

Lương Tâm TV làm các tin tức, bình luận và phóng sự,… và post trên mạng internet quốc tế, cụ thể là Youtube, nhà cung cấp dịch vụ tại Hoa Kỳ. Cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức nào của Việt Nam đều có quyền làm như vậy mà không cần xin phép chính quyền VN.

Vậy mà AN cứ đe dọa các thành viên của LTTV rằng làm như thế phải xin phép, không xin phép là phạm luật.
Nhưng vấn đề ở đây là văn bản luật nào qui định phải xin phép? Xin phép ai?

Công dân VN được làm tất cả những gì pháp luật không cấm.

Pháp luật không cấm công dân làm clip post lên mạng, PL không qui định phải xin phép.
Vậy, Lương Tâm TV cứ làm, mà không cần xin phép.

Chỉ có những thằng ngu mới đi quảng cáo không công cho người khác, lại còn vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Cũng chẳng dọa được ai. Lại vẽ xấu lên mặt của mình và chế độ.

Có chút ít thành công là cướp được tài sản và tiền của người khác.

Nguồn LS Nguyễn Văn Đài

————

Nguyễn Văn Đài's photo.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Kiểm Soát Thông Tin- Internet, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Phỏng vấn: Kênh truyền hình Lương Tâm Tivi có 5 thành viên bị công an Hà Nội bắt cóc (đã được thả)

Posted by hoangtran204 trên 26/09/2015

Phóng viên Dân Luận thực hiện

Sáng ngày 24/09/2015. Kênh truyền hình Lương Tâm Tivi có 5 thành viên bị bắt cóc và cùng một người đi cùng. Phóng viên (PV) Dân Luận đã nhanh chóng liên lạc với Lê Yến – Biên tập viên, một trong những người bị bắt cóc để phóng vấn:

PV: Chào Lê Yến. Hôm trước bạn bị bắt tầm mấy giờ?

Lê Yến: Tầm hơn 9h, các nhà khoảng hơn 500m.

PV: Những người đó họ có mặc sắc phục không?

Lê Yến: Lúc đó tôi đang đi bộ một mình trên đường, bỗng dưng có một người đặt tay trên vai, tôi ngoảnh mặt lại thì đã thấy bốn đến năm người xung quanh, trong đó có một người phụ nữ, rồi họ đẩy tôi lên xe, trong xe cũng có 2 người mặc sắc phục.

PV: Trước đó bạn có thấy người theo dõi mình không?

Lê Yến: Tôi ra ngoài thì vẫn như mọi lần, vô tư đi. Tôi đang tên đường tới nhà anh trai.

PV: Họ bắt cóc bạn đi đưa đi đâu?

Lê Yến: Khi vừa có người chạm vai tôi, quay lại là đã có xe đi tới đỗ ngay bên cạnh, họ đẩy tôi lên xe. Họ móc điện thoại trong túi quần của tôi, lấy đồ đạc của tôi. Rồi sau đó họ bắt đầu chở đến phường Nghĩa Tân. Họ đẩy tôi lên tầng 2, tôi kháng cự, nhưng họ đông người, họ xô đẩy tôi. Có người còn quát, dọa tôi “mày đi lên”.

PV: Những người họ bắt cóc bạn, họ có giới thiệu họ là ai không?

Lê Yến: Họ không giới thiệu họ là ai, mà họ đẩy ngay tôi lên xe.

PV: Trong lúc họ đẩy bạn lên xe, họ có nói gì không?

Lê Yến: Họ hô bắt lấy con này, rồi mấy người xúm vào, họ đẩy tôi vào xe rất nhanh.

PV: Người dân xung quanh đó họ có biết sự việc đó không?

Lê Yến: Tôi chỉ kịp la lên bắt cóc người, kêu được hai lần bắt cóc người thì đã bị ép đẩy vào trong xe rồi, không kịp để ý xung quanh. Nghĩ lại cũng thấy cảnh đó buồn cười (Cười)

PV: Bạn bị bắt cóc ở địa điểm nào?

Lê Yến: Chỗ đó là Sân vận động Nghĩa Tân. Sau đó họ đưa tôi về phường Nghĩa Tân, cả đám người họ đẩy tôi lên tầng hai. Tôi phản ứng lại, rồi họ quát tháo, dọa nạt tôi, họ xưng mày tao.

PV: Bạn có yêu cầu được gọi cho người thân không?

Lê Yến: Tôi có, lúc trước họ bắt cóc tôi, họ đã móc trộm điện thoại của tôi. Sau khi lên tầng hai, vào một căn phòng phía bên trái của tầng, tôi đòi lấy lại điện thoại và liên lạc người thân. Họ không đồng ý, họ nói “Tài sản của em đã ở trên bàn đây rồi, em không được gọi điện thoại”.

PV: Rồi sau đó bạn có được gọi cho người thân không?

Lê Yến: Tôi nó với họ đó là quyền của tôi, họ không thể ngăn cấm được, họ không có quyền. Họ không cho tôi gọi điện thay vì đó họ lại gọi cho bố tôi.

PV: Khi bị bắt cóc về phường Nghĩa Tân, bạn có đòi hỏi hay yêu cầu họ làm đúng pháp luật không?

Lê Yến: Có chứ, tôi yêu cầu họ làm đúng pháp luật, họ đang bắt cóc tôi, họ đang vi phạm pháp luật. Họ đòi làm việc với tôi, tôi phản đối vì họ đang làm sai, tôi nói với họ nếu mời tôi lên đây thì phải có giấy mời, mà mời chứ không phải bắt cóc.

PV: Sau đó họ nói sao?

Lê Yến: Họ loay hoay một lúc rồi họ đưa tôi giấy mời, tôi không thèm đọc và kiểm tra giấy mời, vì về nguyên tắc là họ bắt cóc tôi họ đã sai, nên tôi không cần phải xem, tôi không có nghĩa vụ phải hợp tác với họ.

PV: Họ có phản ứng gì sau đó không?

Lê Yến: Họ có giải thích rằng, đó là một trong những thao tác để điều tra, họ bảo đó là thao tác để làm việc với công an thôi, chứ không phải là bắt cóc.

PV: Khi bị bắt cóc đưa về đồn công an Nghĩa Tân như vậy, họ có nói rõ lý do cho bạn vì sao không?

Lê Yến: Mất một khoảng thời gian tôi phản đối việc làm sai trái của họ, sau đó họ có nói với tôi là bên cục thông tin gì đó của họ nói rằng kênh truyền hình Lương tâm tivi của chúng tôi là một kênh truyền hình vi phạm những cái thông tư nghị định liên quan đến truyền hình báo chí các thứ… không xin phép, thậm trí trong đó có những nội dung có thể bị phạt lên tới hơn trăm triệu đồng.

PV: Bạn có phản đối điều đó không?

Lê Yến: Ngay từ đầu vào làm việc, tôi đã bất tuân dân sự với họ vì họ đã làm sai, nên tôi không có nghĩa vụ phải hợp tác và trả lời các câu hỏi của họ, tôi không trình bày gì hết, tôi ngồi im. Còn nếu có mà phải nói, thì chúng tôi không có gì sai, tất cả việc làm của chúng tôi đều đã được hiến pháp quy định, chúng tôi đang thực hiện các quyền của mình. Sau thời gian mà tôi không nói gì hết, họ gọi bố tôi vào và đọc những hành vi mà họ nói với tôi cho bố của tôi nghe. Trong khi đó tôi bảo, tôi không phải tội phạm, nghi phạm thì các anh phải đưa ra chứng cứ, rồi các anh mang ra tòa khởi tố khởi kiện, chứ tôi không thể làm việc theo kiểu như thế này.

PV: Họ gọi bố của bạn vào để làm gì?

Lê Yến: Họ gọi bố tôi lên, rồi họ đọc những hành vi mà họ đang gán ghép tội cho tôi để bố tôi nghe, để bố tôi tác động đến tôi.

PV: Tại sao họ lại cần đến bố bạn tác động bạn?

Lê Yến: Ngay từ ban đầu tôi đã không hợp tác, họ lấy trộm đồ của tôi, tôi đòi mà họ không trả, không những thế họ lục và kiểm kê tài sản của tôi mà không có sự cho phép của tôi.

PV: Tài sản của bạn có những gì?

Lê Yến: Tôi có mấy bộ quần áo để trong túi, một cái balo, một cái laptop, một cái máy tính bảng. Trong lúc họ cưỡng chế tài sản của tôi, tôi đã đập tan một cái máy tính bảng của tôi, để phản đối hành vi sai trái của họ.

PV: Phản ứng của phía công an lúc đó họ thế nào?

Lê Yến: Họ đã tác động bố tôi để viết một cái văn bản tự giao nộp các tài sản này của tôi mà trong khi đó tài sản đó là của tôi không phải của bố tôi.

PV: Tại sao họ lại làm vậy?

Lê Yến: Thay vì tịch thu tại sản của tôi, họ lại nhờ bố tôi viết văn bản như vậy để cho hợp pháp hơn.

PV: Bố của bạn có đồng ý không?

Lê Yến: Có, sau đó họ lục lọi đồ của tôi, lục cả ví của tôi, nhưng tôi cương quyết phản đối đến cùng, tôi vẫn giữ. Còn Laptop họ ngang nhiên mở máy tính rồi xử dụng máy tính của tôi, trong khi tôi phản đối.

PV: Bạn bị bắt cóc bao nhiêu lâu?

Lê Yến: Buổi sáng tầm hơn 9h sáng thì tôi bị bắt cóc và đến tối thì tầm hơn 11 giờ đêm tôi được trả tự do.

PV: Họ làm việc với bạn bao nhiêu lâu?

Lê Yến: Cả buổi tôi bất hợp tác, nên họ chỉ làm trong buổi sáng, đến chiều thì không làm việc gì hết, họ giam lỏng tôi trong một căn phòng, thi thoảng lại có vài ba người gặp tôi, người thì công kích tôi, người thì giả vờ vào khuyên răn dạy bảo…., buổi tối thì tôi cũng ngồi trong phòng đó không có thẩm vấn gì hết.

PV: Cả buổi làm việc ngày hôm sau (23/09) chủ yếu họ làm việc với bạn về vấn đề gì?

Lê Yến: Họ tập trung chủ yếu vào kênh truyền hình Lương tâm tivi. Kênh truyền hình này của chúng tôi mới ra, chúng tôi có rất nhiều cộng tác viên và sự hỗ trợ của các phóng viên, truyền hình của các kênh lớn. Chúng tôi mới hình thành nên còn nhiều thiếu sót, việc hình thành kênh truyền hình này là các quyền cơ bản của chúng tôi, chúng tôi muốn tạo ra một kênh truyền hình khách quan, đúng chức năng của nó. Tôi nghĩ chả có lý do gì họ ngăn cấm chúng tôi cả.

PV: Những cộng sự của bạn thì sao, họ cũng bị bắt cùng thời điểm với bạn. Bạn có gặp họ trong đó không?

Lê Yến: (Cười) Trong lúc ngồi ngán ngẩm không biết làm gì, thì tôi thấy anh Đạt béo cộng sự của tôi đi qua cửa, hai anh em chúng tôi nhìn nhau cười. Trong lúc họ thẩm vấn tôi, họ cũng nói là mấy người kia nhận tội hết rồi, người kia chắc là cộng sự của tôi, tôi nghe mà buồn cười quá, chúng tôi có gì sai mà phải nhận tội cơ chứ. (Cười).

PV: Họ có hỏi những việc nào khác ngoài chuyện kênh truyền hình Lương tâm tivi không?

Lê Yến: Tất nhiên là có, nhưng ngay từ đầu tôi đã phản đối hành vi sai trái của họ, nên tôi không có trình bày gì hết.

Sự kiện công an bắt giữ Biên tập viên và các nhân viên của Kênh truyền hình Lương tâm tivi đã khiến dư luận quan tâm. Khi không thể liên lạc được cho bạn của mình là Lê Yến BTV, facebooker Lý Quang Sơn đã đăng lên trên trang cá nhân rằng cô và các người bạn khác đã bị bắt. Ngay sau đó các hot facebooker, blogger như Nguyễn Lân Thắng, Đoan Trang, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lan Lê, Hoàng Dũng, Trịnh Anh Tuấn, Nguyễn Văn Đề, Thảo Teresa, JP Nguyễn Hữu Vinh, Lã Việt Dũng… đã chia sẻ các thông tin trên.

Đến cuối chiều ngày 23/09/2015, có khoảng trên 20 người đến trước trụ sở công an quận Hai Bà Trưng yêu cầu công an trả tự do cho các thành viên bị bắt giữ. Ngay sau đó, đầu giờ tối tất cả các thành viên đều bị đàn áp, công an đã đánh người. Tuy vậy, mọi người tham gia đòi người không dừng lại, vẫn tiếp tục yêu cầu công an trả tự do cho những người bị bắt cóc, sau khi nghe tin trên mạng các thành viên tham gia đòi người bị công an đàn áp. Mọi người kéo đến càng đông hơn.

Sau khi được trả tự do, Biên tập viên Lê Yến chia sẻ,sau một ngày phải ở trong đồn công an, cô rất mệt, hôm sau họ bắt cô lên làm việc tiếp. Buổi sáng hôm sau, công an đến nhà của cô yêu cầu cô lên làm việc, cô từ chối và phải có giấy mời. Sau đó họ đã áp tải cô về đồn để làm việc buổi thứ hai.

Kết thúc buổi làm việc thứ hai, qua trao đổi phóng viên cô cho biết, buổi sáng họ vẫn tập trung về các nội dung đã hỏi về buổi hôm trước, còn cả buổi chiều tôi đòi về họ không cho, còn lại tôi ngồi không trong phòng.

Được hỏi về tinh thần của cô thế nào sau hai buổi làm việc thì BTV Lê Yến chia sẻ: “Vào đó tôi không sợ gì hết, tôi cũng không làm gì sai, mọi thứ tôi làm pháp luật không có cấm, hơn thế họ là người làm sai, tôi rất bình tĩnh và ngay cả bản thân họ trong quá trình làm việc cũng không có gì căng, hiện tại thì tôi cũng vậy”.

PV: Bạn muốn gửi điều gì tới mọi người không?

Lê Yến: Nhân tiện cho tôi gửi lời cảm ơn tới tất cả các anh chị em, cô chú đã quan tâm và nhiệt tình giúp bọn tôi. Khi biết tin mọi người bị đánh, tôi không biết nói gì hơn, chỉ biết cảm ơn mọi người, tôi sẽ đi thăm các anh chị em, cô chú sau khi tôi xong việc với họ. Nhờ anh gửi lời cảm ơn giúp tôi.

PV: Cảm ơn bạn đã tham gia phỏng vấn, chúc bạn thành công và sức khỏe.

——

Điểm độc đáo của Lương Tâm TV là có phần phụ đề bằng tiếng Anh. Nhờ vậy, các tòa đại sứ ở Hà Nội, các phái đoàn ngoại giao  rất thích xem đài truyền hình này mỗi ngày để biết về những gì đang xảy ra ở VN mà báo chí và đài truyền hình nhà nước không đăng.  Trong khi công an, an ninh, đảng cs thì lại muốn che dấu những tin tức thời sự này.

https://m.youtube.com/results?q=Lương%20Tâm%20TV&sm=3

 

 

 

Lê Yến, tên trên facebook là Mèo Điên

 

Thực trạng Việt Nam sau 39 năm “giải phóng ”

 

 

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Cảnh báo: Người Trung Quốc núp bóng người Việt để mua đất ven biển

Posted by hoangtran204 trên 25/09/2015

Tại hội nghị, ông Nguyễn Điểu (Giám đốc Sở TN&MT TP Đà Nẵng), cảnh báo các quận ven biển như Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn đang có sự chuyển dịch, mua bán đất đai rất lớn có yếu tố người nước ngoài mà ở đây là người Trung Quốc.

Dưới sự lãnh đạo “toàn diện, tuyệt đối” của đảng CSVN, dân Việt sẽ sớm trở thành dân tộc thiểu số ngay trên mảnh đất của mình!

______

PLTP

Lê Phi

24-9-2015

(PLO) – Chúng ta cần phải cẩn trọng khi cho phép việc mua bán, chuyển dịch đất đai đối với doanh nghiệp nước ngoài.

Các vấn đề đáng quan tâm đã được đưa ra trong sáng 24-9 tại Hội nghị thành ủy Đà Nẵng lần thứ 24 dưới sự chủ trì của Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, ông Trần Thọ.

Người Trung Quốc mua đất ven biển

Tại hội nghị, ông Nguyễn Điểu (Giám đốc Sở TN&MT TP Đà Nẵng), cảnh báo các quận ven biển như Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn đang có sự chuyển dịch, mua bán đất đai rất lớn có yếu tố người nước ngoài mà ở đây là người Trung Quốc.

H1Ông Điểu cảnh báo việc người Trung Quốc mua đất ven biển. Ảnh: LÊ PHI.

“Chúng ta cần phải cẩn trọng khi cho phép việc mua bán, chuyển dịch đất đai đối với doanh nghiệp nước ngoài. Việc mua bán thì người Việt chúng ta đứng tên nhưng sau lưng lại là người Trung Quốc”, ông Điểu nhấn mạnh.

Về vấn đề này, ông Trần Thọ yêu cầu các đơn vị liên quan phải lưu ý đến việc chuyển dịch, mua bán đất đai liên quan đến người nước ngoài mà ông Nguyễn Điểu đã nêu.

“Bán đất cho người Việt Nam nhưng đứng sau cuộc mua bán lại là người nước ngoài là việc rất nguy hiểm, phải lưu ý vấn đề này”, ông Thọ nói.

Kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai

Trong khi đó, ông Võ Công Trí (Phó Bí thư thường trực Thành ủy Đà Nẵng) thông tin, hiện tại TP đang tiến hành các thủ tục thu hồi đất và giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án Khu công nghệ thông tin tập trung và các dự án chậm triển khai ven biển.

Cụ thể, các dự án chậm triển khai ven biển sẽ bị thu hồi lần này là dự án Khu du lịch giải trí Đệ Nhất; Trường dạy nghề lướt ván và Khu thể thao giải trí Huy Khánh với tổng diện tích gần 13.000m2 đất ven biển. Tuy nhiên, việc thu hồi vẫn chậm triển khai.

H1Nhiều dự án ven biển TP Đà Nẵng chậm triển khai nhưng vẫn việc thu hồi vẫn chậm. Ảnh: LÊ PHI.

Theo ông Nguyễn Điểu, để diễn ra việc chậm thu hồi các dự án ven biển chậm triển khai vì cần phải xin ý kiến các cơ quan bộ ngành trung ương. Tuy có chậm nhưng cần phải làm kỹ để tránh tình trạng kiện tụng sau này.

“Đối với dự án Khu công nghệ thông tin tập trung của TP, Sở đã xin ý kiến chỉ đạo về việc thu hồi dự án này nhưng chưa có sự phản hồi từ Bộ TN&MT. Tới đây chúng tôi sẽ có báo cáo chính thức về việc thu hồi dự án này”, ông Nguyễn Điểu khẳng định.

Ông Trần Thọ yêu cầu, xin ý kiến các bộ ngành trung ương thì vẫn cứ xin, tuy nhiên phải làm quyết liệt. Vì việc thu hồi các dự án này đã đưa vào nghị quyết của HĐND, Thành ủy.

“Chủ trương của Thường vụ Thành ủy là tới đây sẽ thành lập một đoàn thanh kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu là bí thư, chủ tịch và giám đốc các sở có liên quan về vấn đề này. Nếu không làm xong thì sẽ có kiểm điểm về trách nhiệm. Nói gì thì nói chứ phải làm”, ông Thọ nói.

Không chấp nhận kiểu kinh doanh chặt chém

Bí thư Đà Nẵng, ông Trần Thọ cho biết từ đầu năm đến nay mới có 9 tháng mà Đà Nẵng đã đón gần 4 triệu lượt khách du lịch, doanh thu tới trên 10.000 tỉ đồng là hết sức đáng mừng. Nhưng trái lại, thời gian qua lại xảy ra tình trạng chặt chém ảnh hưởng ghê gớm đến môi trường du lịch của TP.

“Tôi đề nghị Sở VH,TT&DL, Sở Công Thương và các ngành chức năng phải tổ chức kiểm tra và bắt cho được các chủ khách sạn, nhà hàng chặt chém du khách để xử lý nghiêm và công khai cho mọi người biết. TP chúng ta không chấp nhận hành vi kinh doanh ăn xổi ở thì như thế”, ông Thọ, chỉ đạo.

Ông Thọ cũng cho hay, APEC 2017 là cơ hội “ngàn vàng” cho TP Đà Nẵng quảng bá thương hiệu, kêu gọi đầu tư và kích cầu du lịch. Không phải là ngẫu nhiên mà Bộ Chính trị chọn Đà Nẵng là địa điểm tổ chức APEC 2017.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

Nhận diện thật rõ chế độ chính trị toàn trị

Posted by hoangtran204 trên 25/09/2015

Nhận diện thật rõ chế độ chính trị toàn trị

Blog VOA

Bùi Tín

25-9-2015

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Nhà báo, cũng là nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ Bùi Mẫn Hân (Min Xin Pei), gốc Trung Quốc, một học giả có uy tín, vừa cho đăng một bài báo lý thú trên tạp chí Carnegie / Hoa Kỳ (số tháng 7/2015) chuyên nghiên cứu về các quan hệ quốc tế, có nhan đề “Gốc rễ những rối loạn về kinh tế của Trung Quốc là gì? – Là chính trị, ngốc ạ!”.

Ngày 16/9 các mạng Dân Luận và Đối Thoại đã đăng bản dịch của bài báo này.

Bài báo đi từ lịch sử các chế độ độc đoán xưa và nay trên thế giới để đi đến kết luận về bản chất chế độ chính trị ở Trung Quốc hiện nay.

Có thể tóm tắt những ý kiến chính của bài báo này như sau:

– Từ thời phong kiến đến chủ nghĩa tư bản và chế độ “cộng sản” mang tên xã hội chủ nghĩa, các chế độ độc đoán đều mang tính chất bóc lột nhân dân, mang lại bất công xã hội. Các nhà nước ấy có thể mang tên là “nhà nước thú dữ” – predatory states” – có nghĩa là ăn thịt đồng loại, tất cả đều là chế độ tham ô, chuyên ăn cắp, ăn cướp của dân, phản dân chủ, phản dân tộc.

– Có những chế độ nhà nước thú dữ cá nhân, như các vương triều phong kiến hay dưới chủ nghĩa tư bản, như Ferdinand Marcos ở Philippines, Suharto ở Indonesia hay Mobotu Sese Seko ở Zaire.

– Có những nhà nước thú dữ mang hình thức tập thể của một nhóm người hay mang tên một chính đảng, như ở Liên Xô trước đây, ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hiện nay, đều là chế độ thú dữ chuyên “ăn thịt ” đồng bào và xã hội không bao giờ ngừng nghỉ.

– Có hai kiểu ăn cắp của các con thú dữ này rất đáng phân tích: “ăn cắp từ từ” và “cướp bóc nhanh” (slow thief và fast plunder). Những tên độc tài cá nhân trên đây thuộc loại cướp bóc nhanh, thu vén cho chúng và gia đình, bộ hạ tin cẩn thật gọn, thật nhiều rồi hạ cánh an toàn để hưởng thụ riêng; giới nghiên cứu gọi chúng là tầng lớp “quan tặc” – kleptocraty – cùng loại với hải tặc, dâm tặc, lâm tặc, tin tặc…

Các chế độ nhà nước thú dữ loại tập thể thì khôn ngoan, ranh ma hơn, ăn cắp từ từ, không vội vã, để kéo thật dài cuộc ăn cắp, còn sẻ cho nhân dân hưởng thụ tý chút thành quả do chính họ làm ra, nhằm ru ngủ dân chúng, che lấp tội ác ăn cắp và ăn cướp kéo dài để chia nhau phần lớn tài sản chung, dân chỉ hưởng phần bèo bọt, nhưng chúng vẫn tuyên truyền là “đời sống người dân được cải thiện rõ rệt “.

Bài báo kết luận: đó chính là gốc rễ chính trị của những rối loạn về kinh tế hiện nay ở Trung Quốc, do tham nhũng tràn lan, lòng dân phẫn nộ hết chịu nổi, kẻ cắp kẻ cướp nắm luôn toà án, luật lệ, không có ai thanh tra, kiểm soát. Bọn cướp tập thể chuyên tranh dành quyền lợi và quyền hành với nhau; sự phát triển không hài hoà, đồng bộ, do đó khủng hoảng kinh tế – tài chính – xã hội – văn hoá xen cài vào nhau, thúc đẩy cường độ khủng hoảng lên độ tột cùng, và chế độ sụp đổ là tất yếu.

Trong khi đó, thế giới lại có những gương sáng hấp dẫn để so sánh là nhà nước dân chủ – pháp quyền, coi trọng pháp luật nghiêm minh, công dân có tiếng nói, có nhân quyền, nhà nước có thanh tra, giám sát công minh, mọi việc công khai, minh bạch, hầu như không có kẽ hở cho ăn cắp, ăn cướp, nếu có cũng sẽ bị phát hiện, truy tố theo luật pháp.

Nhân đọc bài báo trên của nhà báo Bùi Mẫn Hân, tôi thử đối chiếu với Việt Nam; Nhà nước XHCN VN độc đảng, độc đoán này có thể được xếp vào loại “nhà nước thú dữ – ăn cắp từ từ ” suốt 70 năm tròn, ngày càng thiện nghệ, ma quái hơn thời chiến.

Tôi muốn góp ý thêm với nhà báo Bùi Mẫn Hân rằng theo tôi, có một điểm cơ bản chưa được ông nói đến khi nhận diện nhà nước Trung Quốc, cùng một loại với VN.

Ở VN, bộ mặt rõ ràng, thâm độc nhất của chế độ là sự đồng nhất giữa đảng CS và Nhà nước, theo kiểu độc quyền nhà nước trùm lên mọi mặt, lên tất cả.

Xin kể: Đảng CS tự coi mình là nhà nước, không chia sẻ cho ai khác, đảng CS là nhà nước, là chính phủ, là quốc hội (90 phần trăm là đảng viên CS), là toà án, là bộ máy thanh tra, giám sát; kinh tế quốc doanh thực chất là kinh tế của đảng CS, lũng đoạn, khống chế, tuy được đầu tư cực lớn, lại lỗ to, nợ lớn. Đảng CS nắm trọn ngân sách nhà nước, không để lộ một xu nào cho ai biết, kiểm tra. Đảng cũng là quân đội, Đảng cũng là công an, hung bạo, giết dân, tra tấn dân, kết hợp với côn đồ, lưu manh, lại phong hàng 300 tướng, tệ hại, là đại nạn cho toàn xã hội.

Đây là một kiểu vương triều, vua tập thể quyết định mọi chuyện. Cũng là một kiểu nhà nước thượng đế – Deo State – tự coi minh là thiêng liêng với quyền lực vô hạn, có mặt khắp mọi nơi, thường xuyên, liên tục. Sự bao biện là tuyệt đối. Dân chủ là số không.

Đúng, nhà nứơc /Đảng CS VN là loài thú dữ – Predatory State – ăn thịt đồng loại, với nghĩa là bóc lột sức lao động, hành hạ, nhũng nhiễu đồng bào mình bao nhiêu cũng chưa đủ, theo kiểu từ từ và lâu dài. Dạ dày nó không có giới hạn.

Theo tôi đó là con khủng long to lớn, hung bạo, tham ăn, nhập vào nhà nước XHCN, đồng nhất với nhà nước, đội lốt nhà nước, lũng đoạn nhà nước, phải gọi là nhà nước khủng long – Dinosaur State – mới lột tả được bản chất của nhà nước CS VN. Khủng long là một loài thú khổng lồ cách đây hàng trăm triệu năm, đã tuyệt chủng, chỉ tồn tại qua các hình vết xương trong khảo cổ học, được biết là dạ dày cực lớn, phàm ăn, hung dữ, ăn thịt các loài thú khác, khi háu đói ăn cả đồng loài.

Con khủng long – nhà nước VN ấy đã “ăn thịt” hơn ba triệu nhân mạng đồng loại trong chiến tranh, mang bề ngoài là kháng chiến chống ngoại xâm để xây dựng cơ đồ riêng cho nó, để tha hồ ăn cắp, ăn cướp vô vàn sinh mạng, tài sản, đất đai, thời gian của xã hội suốt 70 năm, gây nên đau thương, tang tóc, đau khổ, bất công cho hàng triệu đồng bào, trong thời bình nó càng phàm ăn, càng hung dữ với đồng loại.

Vậy chúng ta phải làm gì và làm thế nào? Chẳng lẽ sống cứ để cho con khủng long này bòn rút đến tận cùng xương tuỷ của dân tộc, như nhà báo Nguyễn Thị Từ Huy đặt ra câu hỏi tha thiết ấy. Nhà văn Võ Thị Hảo kêu gọi hãy chôn vùi cái bẫy – chính là con khủng long hung bạo này – xuống chín tầng địa ngục. Nhà báo Bùi Minh Quốc dùng một bài hát để kêu gọi mọi người dân Việt vùng dậy “đập tan mọi xiềng xích”, cũng chính là con khủng long khổng lồ nhưng đang bị nhiều bệnh tật và nay bị toàn dân nhận diện rõ ràng, không thể tồn tại lâu dài.

Con khủng long CS Liên Xô đã bị chôn vùi xuống chín tầng địa ngục. Con khủng long CS hung tợn láng giềng phía Bắc đang lâm trọng bệnh, đã bị nhân dân Trung Quốc, Hồng Kông và bà con luyện tập Pháp Luân Công khắp thế giới nhận diện.

Chẳng lẽ gần 100 triệu đồng bào ta vẫn còn nhẫn nhục ngậm miệng để con khủng long hung hãn, tham lam vô độ ấy hành hạ đầy ải mãi ư? Cho đến bao giờ…?

Đã có những đảng viên lão thành sớm nhận ra bản chất của đảng CS, có dũng khí trả thẻ đảng viên lại cho đảng, như ông Nguyễn Hộ, tướng Trần Độ, ông Lê Hồng Hà, Trung tá Trần Anh Kim, nhà báo Bùi Minh Quốc, người trẻ hơn như cô Tạ Phong Tần, nhà báo Phạm Chí Dũng và nhiều đảng viên trẻ. Đó là những người thật lòng yêu nước, thật lòng thương dân, quyền lực không ham, tiền bạc không màng, sống thanh thản trong tự do với lòng tự trọng trong sáng, do sớm nhận ra bộ mặt thật của Đảng CS. Đây là những gương sáng cho các đảng viên còn có lương tâm và tự trọng nhân dịp Đại hội đảng XII sắp đến. Chân lý, lẽ phải sớm muộn bao giờ cũng thắng.

Con khủng long thực dân Anh già nua đã bị nhân dân Ấn Độ do Mahatma Gandhi lãnh đạo chôn vùi trong những cuộc xuống đường bền bỉ không bạo lực. Chỉ 4 vạn dân Nam Phi nghe theo lời kêu gọi của tù nhân Nelson Mandela xuống đường trong khí thế ôn hòa bất khuất đã đủ để chôn vùi tức khắc con khủng ong phân biệt chủng tộc toàn trị liền mấy thế kỷ, đưa người tù gan góc thông tuệ lên làm tổng thống. Đó là những tấm gương sáng, kinh nghiệm hay cho toàn dân ta tham khảo và hành động.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Lợi dụng đêm khuya không ai nhìn thấy, công an Hà Nội mở trận đánh đẹp nhắm vào “ba tên phản động”

Posted by hoangtran204 trên 25/09/2015

FB Thảo Gạo

25-9-2015

H1Đây là câu chuyện của một người được tham gia và chứng kiến từ đầu sự kiện những nhà hoạt động nhân quyền ở Hà Nội đấu tranh tại đồn CA quận Hai Bà Trưng để buộc CA phải trả tự do cho sáu bạn trẻ của Lương Tâm TV bị bắt giữ tùy tiện, ngày 23/9.

Cùng nhiều anh em đấu tranh tại Hà Nội, chúng tôi có mặt tại đồn công an quận Hai Bà Trưng vào khoảng 18h30. Sau đó, luật sư Nguyễn Văn Đài, nhà báo Đoan Trang và bạn trẻ Lý Quang Sơn quyết định vào thẳng trong đồn để chất vấn. Song họ chỉ cho mình anh Đài vào. 40 phút sau, anh đi ra với câu trả lời rằng họ không biết gì cả, không giữ ai cả. Một vài nhân viên an ninh thường phục áp sát, đuổi anh về, cuối cùng thì chúng áp tải anh về tận nhà.

Những người còn lại rất nỗ lực để đối thoại với lực lượng công an tại đó, tuy vậy, thái độ bất hợp tác và bất lịch sự kiểu bề trên là tất cả những gì chúng tôi nhận lại. Chắc họ nghĩ “công an là bố dân”.

Khoảng hơn 20h, tin nhắn từ một người bạn bị bắt báo cho chúng tôi biết có người bị giữ trong đồn CA của quận Hai Bà Trưng. Mọi người quyết định tổ chức một cuộc biểu tình nhỏ ngay tại cổng, với hai khẩu hiệu: “Yêu cầu thả người” và “Phản đối bắt giữ tùy tiện”.

Như những lần khác, bạo lực từ phía công an, lại nổ ra ngay lập tức. Chúng nhắm vào những người đi đầu đoàn biểu tình, lao vào giật băng rôn, xô đẩy và đánh mọi người túi bụi. Tôi chứng kiến toàn bộ cảnh chị Đoan Trang bị chúng giật băng rôn, nhưng chị giằng lại, do đó chị bị xô đẩy, bị đánh; cũng như cảnh chú Nguyễn Sơn bị đánh ngã ra đất, cảnh Lưu Văn Minh bị chúng xúm lại đấm như giã gạo vào đầu, bóp cổ. Khi Minh bị đánh, chị Đoan Trang lao vào cứu thì bị chúng đập đèn pin vào miệng khiến chị rách môi, chảy máu.

Sau khi chảy máu miệng, chị đứng tựa lưng vào cổng sắt của đồn CA, và đồng thời tuyên bố sẽ đứng tại đó cho đến khi nào sáu người bị bắt được thả. Trước tình cảnh đó, rất nhiều tên an ninh xúm xít vây quanh chị để gây sức ép, đuổi chị ra. Thái độ của chúng vô cùng hung hãn. Thấy vậy, bạn Lưu Văn Minh ra sức bảo vệ chị và dằn giọng: “Tôi sẽ không đi khỏi đây chừng nào chị ấy còn ở đây. Tôi không thể để chị tôi đứng một mình chỗ này”. Và tôi cũng có mặt tại đó để đồng hành cùng hai người họ.

Cả đám công an áo xanh, dân phòng, bảo vệ đeo băng đỏ, và côn đồ đều xúm lại, mặt mày cực kỳ hung ác. Biết rằng Minh là con trai, sẽ là tâm điểm để chúng ra đòn, nên chị Trang ghé tai bảo: “Em đi ra ngoài kia đi”. Nhưng Minh vẫn nhất định không đi: “Không. Em không để chị ở đây một mình được”.

Khung cảnh lúc đó cực kỳ bi tráng. Mọi người đã bị an ninh dùng dây rợ (chúng gọi là “dây quang”) xô đẩy, và chúng lấy số đông, dùng sức, đẩy tất cả ra đầu phố, cách khu vực cổng đồn độ 30 mét. Chỉ còn ba đứa ở lại, tựa lưng và ghì chặt tay vào song sắt của cổng. Anh Chí, chị Lan Lê, Gió Lang Thang và chị Thảo Teresa chạy lại đưa nước uống. Chúng tôi tranh thủ gửi lại điện thoại, nhờ Gió báo cho bạn cũng như gửi lời nhắn để xin phép sếp nghỉ làm vào ngày hôm sau.

Rồi Anh Chí, chị Lan Lê, Gió và chị Thảo Teresa cũng bị bọn chúng đẩy ra xa, và chúng giăng dây biến cổng đồn thành khu vực bảo vệ, chặn tất cả xe qua lại. Chỉ còn ba đứa – Lưu Văn Minh, chị Đoan Trang, và tôi – vẫn đứng đó. Một viên công an mặc đồ cảnh sát giao thông, mang lon trung tá, tên là Lê Văn Phiêu, trước khi chỉ đạo lính xô mọi người đi còn quay lại chỉ mặt chúng tôi: “Để xong bọn kia rồi tao sẽ xử lý bọn mày”.

____

“NĂM MƯƠI ĐÁNH MỘT, CHẲNG CHỘT CŨNG QUÈ”

Suốt cả tiếng đồng hồ chúng tôi đứng đó, chúng thay phiên nhau đến vận động, dọa dẫm chúng tôi, cả đàn ông lẫn đàn bà, cả lãnh đạo lẫn lính. Nhẹ nhàng đáp lại, chúng tôi nói chỉ muốn tìm bạn, chứ không muốn làm mọi chuyện ầm ĩ lên. Nhưng tất nhiên phía an ninh không hiểu những điều đơn giản đó. Có lẽ công an đã quá quen với việc người dân phải sợ họ dẫu họ có sai lè chăng nữa, nên khi có ai đó cả gan không sợ họ, không sợ bị bắt thì họ trở nên hung dữ hơn hẳn.

Biết chúng tôi đứng ép mình giữa các thanh inox của cổng (cổng là loại tự động đóng mở thông qua nút điều khiển của trực ban, mỗi lần mở ra khoảng cách giữa hai thanh inox hẹp lại) nên chúng liên tục ra vào để có cớ mở cổng, thậm chí là mở ra ba lần cho ôtô ra rồi lại vào.

Trong lần cuối mở cổng cho ôtô ra, chúng tranh thủ xô chúng tôi ngã và thế là cả bọn bâu vào khiêng chúng tôi ra đầu đường bên kia, tức là phía ngược lại với các nhà hoạt động khác. Một gã thanh niên mặc thường phục thò tay giật luôn cặp kính cận khỏi mắt tôi. Đã bị ngã lại bị cướp kính, tôi không còn nhìn rõ nữa, nhưng số lượng nhân sự dùng để “xử lý” ba đứa cũng vào khoảng 50 kẻ cao to, cả cảnh sát, an ninh, dân phòng, “quần chúng tự phát”…

Dơ đến nỗi chúng tập kịch ngay trước mặt chúng tôi, cho một tên an ninh quát sa sả vào mặt một “quần chúng tự phát” như thế này: “Ông ra ngoài kia ngay. Ông mà còn vào khu vực chăng dây này là chúng tôi bắt đấy, nghe chưa?”. Chắc hắn muốn thị phạm cho chúng tôi biết cách cư xử với an ninh. Đồng chí “quần chúng tự phát” cung cúc ra ngoài, nhưng lát sau, hắn đã là một trong những người tham gia vừa bẻ tay vừa đánh vừa đẩy chúng tôi ra xa.

Lần đầu cả bọn khiêng chúng tôi ra xa khỏi cổng đồn khoảng 30m, rồi quẳng ba đứa lại trên mặt đường, chăng dây và kéo cả hàng rào sắt ra chặn đường luôn. Một tay dân phòng vẫy tay rồi ghé mặt hắn sát vào tai tôi, nói qua sợi dây giăng giữa hai bên: “Đ. mẹ mày!”. Chị Đoan Trang trừng mắt nhìn hắn. Hắn vênh mặt nhìn lại, nhơn nhơn.

Cuối cùng, thấy chúng tôi vẫn đứng (ngoài khu vực bị chăng dây) và gào thét đòi trả kính, trả người, chúng nổi điên, tháo dây và hàng rào sắt ra, xông ra ngoài, tiếp tục đánh, lôi, rồi khiêng ba người đến tận cuối đường.


NỖI BUỒN “HẬU BIỂU TÌNH”

Đau đớn, mệt mỏi, buồn bã do phải chứng kiến, thậm chí là tâm điểm của bạo lực, chúng tôi đành lếch thếch đi bộ qua vài tuyến phố, tìm về với anh em…

Bị cô lập gần như từ đầu, chúng tôi không biết tình hình phía xa thế nào. Nhưng tôi tin chắc tất cả anh chị em vẫn đang chờ chúng tôi ngoài đó. Gặp được mọi người, ai cũng mừng mừng tủi tủi.

Tôi khóc. Anh Lượng ôm vai tôi an ủi, và có lẽ nếu có ai nhìn thấy, cũng không hiểu vì sao ở giữa “trận địa”, tôi không khóc, mà lúc này tôi lại trào nước mắt. Vì tủi thân ư? Không phải. Chỉ vì tôi rất muốn nói về những trải nghiệm của mình, về những người chị, người anh, người bạn của mình. Họ là chỗ dựa tinh thần cho tôi trong lúc khó khăn nhất. Họ đã làm tất cả, vì tôi, vì nhau, vì những người khác.

Tôi sẽ bao giờ quên được cảnh Minh nắm chặt tay chị Trang: “Không. Em không để chị ở đây một mình được”. Minh nói như thế trong khi một tên du đãng, tay cầm điếu thuốc, vẫn dí sát mồm hắn vào mặt Minh mà nghiến răng “đ. mẹ mày, mày thích gì…”. Và lúc xô kéo chúng tôi đi, bọn chúng vẫn đánh cậu ấy thùm thụp.

Vừa mới thôi, trong inbox của tôi, Minh viết: “Tao mệt quá Gạo ạ”.

Còn hôm qua tôi gặp chị Đoan Trang thì chị chỉ cười: “Đúng là nhừ tử em ạ”. Rồi chị trầm xuống, buồn rầu: “Chẳng bao giờ chị nghĩ trong đời lại có lúc chị nhảy ra giữa phố đánh nhau với an ninh như thế này. Từ bé tới giờ, đến con chó con mèo chị còn không đánh, nữa là con người”. Chị ấy nói thế trong lúc khắp cả hai cánh tay vẫn còn đầy vết bầm tím. Và, các bạn còn nhớ chứ, chân chị ấy vẫn còn đau nhiều lắm, cũng vì một cuộc xô xát tương tự với an ninh vào ngày 26/4, trong buổi tuần hành cuối cùng của nhóm Vì Một Hà Nội Xanh…

Bất chấp ai nói gì, không ai có thể ngăn tôi ngưỡng mộ những người bạn của tôi!

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Phát động chiến dịch ủng hộ Linh mục Nguyễn Văn Lý

Posted by hoangtran204 trên 25/09/2015

VOA

Trà Mi

24-9-2015

Linh mục Tadeo Nguyễn Văn Lý, 69 tuổi, bị Hà Nội kết án 4 lần với tổng cộng hơn 53 năm tù.

Cộng đồng người Việt tại Mỹ trong tháng này phát độngchiến dịch thỉnh nguyện thưkêu gọi các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế vinh danh một nhà bất đồng chính kiến hàng đầu bị cầm tù lâu nay tại Việt Nam.

Cuộc vận động do Ủy ban Tự do Tôn giáo khởi xướng thu thập chữ ký trên mạng nhằm bày tỏ sự ủng hộ đối với công cuộc tranh đấu của linh mục bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Lý vì dân chủ-nhân quyền cho người dân Việt Nam.

Thỉnh nguyện thư viết ‘Xin ủng hộ cho linh mục Nguyễn Văn Lý đang đại diện cho hàng triệu người dân Việt Nam bị áp bức bằng cách kêu gọi các tổ chức Quốc tế công nhận cuộc đấu tranh vì quyền con người và tự do tôn giáo qua bốn giải thưởng quốc tế năm 2015: Nobel, Shakarov, Rafto, và Unesco.’

Linh mục Tadeo Nguyễn Văn Lý, 69 tuổi, một tù nhân lương tâm nổi tiếng của Việt Nam, bị Hà Nội kết án 4 lần với tổng cộng hơn 53 năm tù giam.

Ông từng chịu tù khổ sai và bị biệt giam hơn 23 năm, bị quản thúc trên 15 năm, nay đang thi hành bản án 8 năm tù tuyên hồi năm 2007 về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ sau các hoạt động mà giới bảo vệ nhân quyền xem là cổ súy cho quyền tự do tôn giáo và tự do ngôn luận tại Việt Nam, nhưng bị nhà cầm quyền Hà Nội gọi là ‘chống phá nhà nước.’

Dù đang bị bại liệt sau cơn tai biến từ năm 2009, linh mục Lý vẫn tiếp tục bị biệt giam tại trại Tân Lương ở huyện Hà Nam. Cháu ruột của linh mục Lý, ông Nguyễn Công Hoàng ở Đồng Nai, cho biết thêm về tình hình của ông hiện nay:

“Tinh thần ngài vẫn tốt. Ngài vẫn bình an vui vẻ, nhưng sức khỏe thì giảm sút, lưng gù hơn, dáng đi yếu hơn, không hồi phục được bình thường, đi cà nhắc và tay thì cũng yếu vậy vì không có điều kiện chữa trị.”

Gia đình linh mục Lý nói điều kiện giam cầm đối với tù nhân lương tâm ‘đặc biệt’ này, không đến nỗi hà khắc ngoại trừ một điều cấm kỵ tuyệt đối là ông không được tiếp xúc với bạn tù.

Tuy nhiên, thân nhân nhà tranh đấu này cho biết ông chấp nhận bản án với tinh thần tự tại và khoan dung, không ưu tư hay than phiền điều gì cho bản thân mà chỉ có những trăn trở cho một xã hội Việt Nam tốt đẹp hơn, dân chủ và nhân quyền được tôn trọng hơn.

Vẫn theo nguồn tin từ gia đình, thỉnh thoảng linh mục Lý vẫn được các phái đoàn ngoại giao quốc tế vào trại giam thăm hỏi, động viên và cũng có đề nghị đưa ông ra nước ngoài chữa bệnh, nhưng ông từ chối.

Đầu tháng này, chính phủ Việt Nam mở đợt ân xá lớn nhất từ trước tới nay đánh dấu 70 năm ngày Quốc khánh 2/9, phóng thích hơn 18.000 tù nhân nhưng không có trường hợp nào là tù  nhân lương tâm.

Một trong những điều kiện để được nhà nước đặc xá là phải làm cam kết ‘nhận tội, xin khoan hồng’.

Ông Hoàng nói từ đầu chí cuối, linh mục Lý nhất mực khẳng định mình vô tội và không ký kết bất kỳ biên bản nào chính quyền yêu cầu, cho nên phía trại giam không nỗ lực thuyết phục ông ký đơn nhận tội nữa. Theo lời ông Hoàng, bất luận tình trạng sức khỏe thế nào, linh mục Lý cũng không được ân xá vì nằm trong danh sách ‘tái phạm,’ ‘không hối cãi.’

Linh mục Lý từng nhiều lần được các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới và các nước phương Tây trong đó có Hoa Kỳ kêu gọi phóng thích nhưng không được chính phủ Việt Nam hồi đáp.

Tuy nhiên, dưới áp lực quốc tế, giữa tháng 3 năm 2010, Hà Nội đã tạm hoãn thi hành án cho linh mục Lý về địa phương chữa bệnh trong 1 năm. Gia đình ông cho biết hiện ông đang ‘trả nợ’ cho khoản thời gian đó và có thể sẽ mãn án tù vào cuối tháng 3 năm sau.

Ông Nguyễn Công Hoàng chia sẻ nguyện vọng của gia đình:

“Được sống trong cộng đồng và gia đình là ao ước của gia đình và của bản thân ngài, nhưng hoàn cảnh vậy thì chịu vậy thôi. Gia đình đi thăm cũng xa xôi quá, đi quá xa mà ra thăm được chút xíu phải quay về lại. Gia đình cũng cảm ơn tất cả bà con và các chính khách quốc tế đã lên tiếng an ủi và bênh vực cho ngài rất nhiều trong thời gian qua. Điều đó gia đình rất cảm kích. Ngài được về sớm chừng nào là niềm vui và hạnh phúc của gia đình.”

Các bản án Hà Nội dành cho sáng lập viên Khối đấu tranh cho dân chủ 8406 bị cộng đồng quốc tế mạnh mẽ lên án là vi phạm nhân quyền.

Trường hợp của linh mục Lý đặc biệt gây chú ý công luận với bức ảnh ông bị một công an bịt miệng ngay trước tòa năm 2007.

Hà Nội nói các hoạt động của nhà bất đồng chính kiến này vi phạm pháp luật Việt Nam.

Linh mục Lý từng được đề cử nhận Giải Nobel Hòa Bình năm 2013 và Giải Nhân quyền Sakharov năm 2010 vì tinh thần kiên định cổ súy nhân quyền cho người dân Việt Nam bất chấp sự đàn áp thường xuyên từ nhà cầm quyền.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Nhan Vat | Leave a Comment »

►Blogger Tạ Phong Tần: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế

Posted by hoangtran204 trên 24/09/2015

VOA

22-9-2015

ộng đồng người Việt trong đó có blogger Điếu Cày ra đón blogger Tạ Phong Tần tại sân bay Los Angeles.

Nhà bất đồng chính kiến mới được tự do cho biết rằng bà cùng blogger Điếu Cày sẽ đưa Việt Nam ra tòa quốc tế vì đã tống giam bà và ông Điếu Cày trái pháp luật.

Tuyên bố được đưa ra hôm 21/9, hai ngày sau khi bà Tần được Việt Nam phóng thích và lặng lẽ cho đi Mỹ. Nữ blogger này nói với VOA Việt Ngữ:

“Tôi làm còn hoành tráng hơn anh Điếu Cày ấy chứ vì anh Điếu Cày khi sang Mỹ là bị cướp hết các giấy tờ như bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các thứ khác. Anh Điếu Cày còn thiếu hồ sơ để khởi kiện nhưng mà tôi mang đi được đầy đủ hết. Vụ kiện của tôi còn hoành tráng hơn vì tất cả các bài viết của tôi đã đăng công khai với tên Tạ Phong Tần trên mạng Internet. Khi bọn họ đưa những thứ đó ra trước tòa để buộc tội tôi, nhưng họ không dám tranh luận với tôi là cụ thể tôi sai ở chỗ nào. Khi tôi yêu cầu được đối chất với các điều tra viên giám định tài liệu đó thì cũng không được đáp ứng. Đó là việc vi phạm luật pháp Việt Nam một cách hết sức trầm trọng, chưa nói tới việc vi phạm luật pháp quốc tế. Ngay cả căn cứ theo pháp luật Việt Nam hiện hành, tôi không phạm tội.”

Tôi bị bắt buộc phải ra đi. Một là tôi phải ngồi đủ 10 năm trong tù và 5 năm quản chế. Hai là tôi phải sang Mỹ. Trong những cái tệ thì chúng ta phải chọn cái nào đỡ tệ hơn chứ? Chúng tôi đi ra nước ngoài thì việc đấu tranh sẽ còn khó khăn hơn nhưng vẫn còn hơn là chúng tôi phải ngồi ở trong tù, không thể làm gì được…

Bà Tần, chủ trang blog Công lý và Sự thật, bị bắt vào ngày 5/9/2011 và bị kết án tù 10 năm vào năm 2012 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Bà cũng là một trong những thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo tự do cùng với blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) năm 2007.

Những năm qua, nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như các nước phương Tây đã kêu gọi Hà Nội trả tự do cho blogger từng làm trong ngành công an của Việt Nam.

Bà Tần kể với VOA Việt Ngữ về quyết định đi Mỹ:

“Tôi bị bắt buộc phải ra đi. Một là tôi phải ngồi đủ 10 năm trong tù và 5 năm quản chế. Hai là tôi phải sang Mỹ. Trong những cái tệ thì chúng ta phải chọn cái nào đỡ tệ hơn chứ? Chúng tôi đi ra nước ngoài thì việc đấu tranh sẽ còn khó khăn hơn nhưng vẫn còn hơn là chúng tôi phải ngồi ở trong tù, không thể làm gì được. Tôi đã bỏ phí mất hơn 4 năm ngồi trong tù, và tôi cảm thấy thời gian rất là phí phạm. Khi tình hình xã hội Việt Nam có sự thay đổi, thì tôi cũng sẽ quay lại Việt Nam để giúp đỡ những người dân trong nước.”

Cuối năm ngoái, ít lâu sau khi đặt chân tới Mỹ, blogger Điếu Cày cũng tuyên bố sẽ kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do, và bày tỏ tự tin rằng ông sẽ “thắng kiện”.

Nhà bất đồng chính kiến này từng nói:

“Họ không có đủ chứng cứ để buộc tội chúng tôi. Vụ án đã bị vỡ, bị sụp đổ rồi nhưng họ cố tình giam nhốt chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi phải đi ra ngoài này để bắt đầu vụ án đó từ một tòa án khác, tòa án của cộng đồng quốc tế. Chúng tôi từng bước một sẽ tiến hành việc đó. Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.”

Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc cho rằng Hà Nội bóp nghẹt tiếng nói của người dân cũng như bắt giữ những người bất đồng chính kiến.

Tuy nhiên, mới đây, hôm 14/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói rằng Việt Nam “không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung, muốn bắt ai thì bắt”.

Người đứng đầu cơ quan lập pháp của Việt Nam cũng đề nghị phải làm rõ tội danh chống phá nhà nước nhằm “đảm bảo công bằng, đảm bảo quyền con người và quyền của công dân”.

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Hà Nội: Nhiều bạn trẻ bị công an bắt cóc?

Posted by hoangtran204 trên 24/09/2015

FB TMCNN

23-9-2015

GNsP (23.09.2015) – 7 bạn trẻ sống tại Hà Nội tham gia tích cực các hoạt động xã hội dân sự, biểu tình chống Trung Cộng bị công an bắt vào sáng ngày 23.09.2015 và đưa đi đâu không rõ.

H1

Những người bị bắt tên là: Lê Thu Hà, Trần Đức Thịnh, Lê Thị Yến, Phạm Khắc Đạt, Nguyễn Mạnh Cường, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình và một người nữa chưa xác định được danh tánh.

Bạn trẻ Lê Thị Yến

Thông tin trên được anh Lý Quang Sơn, là bạn của một trong số những người bị bắt, cho GNsP biết:

Anh Quang Sơn nói: “Suốt buổi sáng, tôi cố gắng liên lạc những người này qua điện thoại nhưng vẫn không được. Đến trưa, chị Hà và anh Thịnh báo cho tôi biết đang bị công an giữ. Những người khác hiện giờ tôi vẫn chưa liên lạc được với họ, điện thoại của họ tắt máy.”

H1Bạn trẻ Lê Thu Hà

Cách đây hai ngày, tại Thái Bình, công an bắt cóc ông Trần Anh Kim tại tư gia. Ông là một Cựu Trung tá Quân đội Nhân dân, và là Cựu TNLT đã từng thọ án 5 năm 6 tháng tù giam theo 79 ‘lật đổ chính quyền nhân dân’.

H1Nhà báo Nguyễn Vũ Bình

Cũng tại tỉnh Thái Bình, dân oan Lê Văn Đài bị mất tích 21 ngày mà gia đình vẫn chưa có thông tin gì về ông, mặc dù đã trình báo lên các cơ quan chức năng. Ông Đài từng huy động hơn 100 dân oan khác ở tỉnh Thái Bình biểu tình đòi quyền lợi và tố cáo cán bộ tham nhũng.

Pv.GNsP

____

FB TMCNN

Công an Hai Bà Trưng, Hà Nội đánh đập những người bất đồng chính kiến

23-9-2015

GNsP (23.09.2015) – Nhà báo Đoan Trang, bạn trẻ Thảo Gạo, Văn Minh và nhiều người khác bị công an Hai Bà Trưng, Hà Nội đánh đập khi họ đến trước cổng công an phản đối việc bắt người trái pháp luật và yêu cầu trả tự do cho 7 bạn trẻ đang bị câu lưu tại đây một cách trái phép từ sáng ngày 23.09.2015.

H1

“Công an, như thường lệ, chối bai bải rằng họ “không bắt, không giữ ai cả”, Nhà báo Đoan Trang cho hay.

Chiều tối cùng ngày, hơn 40 người bạn của 7 bạn trẻ này đã đã đến trước cổng công an giơ biểu ngữ “phản đối công an quận Hai Bà Trưng bắt giữ người trái pháp luật, yêu cầu thả người vô điều kiện”, nhưng họ đã bị lực lượng công an xua đuổi và đánh đập.

Bạn trẻ Lý Quang Sơn, một trong những người bị công an đánh, cho GNsP biết vào lúc 21 giờ 15 như sau: “Khoảng 40 người có anh Đài, Trung Nghĩa… đứng trước cổng Công an Hai Bà Trưng, Hà Nội để đòi người. Khi mọi người đến trước cổng, cầm băng rôn lên thì công an chạy ra giựt băng rôn, họ lao vào đánh mọi người, những tên công an cầm cái đèn phin đánh vào mặt vào đầu mọi người, họ xô đẩy làm một số người nằm lăn xuống đất, tôi cũng bị họ đánh. Nhiều bà con dân oan cầm băng rôn thì bị giựt,  một số người lạ mặt xông tới chửi bới.”

H1

“Hiện nay, chị Đoan Trang, Thảo Gạo và anh Văn Minh đang đứng trước cổng công an, còn mọi người đứng cách đó khoảng 3m. Ba người này đang bị cô lập, công an bao vây rất đông. Tôi lo ngại ba người này sẽ bị công an bắt giam trong đêm nay.” Anh Sơn nói tiếp.

Như GNsP đã loan tin, 7 bạn trẻ có tiếng nói khác nhà cầm quyền, trong đó có 2 Biên tập viên của kênh ‘Lương Tâm TV’, bị công an bắt cóc và bị câu lưu tại công an Hai Bà Trưng, Hà Nội từ sáng cho đến bây giờ mà vẫn chưa có thông tin gì về họ.

Những người bị bắt tên là: Lê Thu Hà, Trần Đức Thịnh, Lê Thị Yến, Phạm Khắc Đạt, Nguyễn Mạnh Cường, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình và một người nữa chưa xác định được danh tánh.

GNsP sẽ tiếp tục theo dõi và cập nhập vụ việc này đến quý vị.

Pv.GNsP

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn ‘quyết liệt’ ủng hộ Formosa Hà Tĩnh?

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2015

VOA

Lê Anh Hùng

22-9-2015

Thủ tướng Việt Nam dự lễ cắt băng khánh thành một tổ máy đốt than của nhà máy nhiệt điện Formosa ngày 17/9

Formosa Hà Tĩnh, do tập đoàn Formosa đầu tư tại Hà Tĩnh, một tỉnh nghèo nằm ở phía bắc miền Trung, là một dự án đầy tai tiếng và mờ ám, khiến dư luận hết sức bức xúc và bất an suốt mấy năm qua:

Một doanh nghiệp Trung Quốc[i] được giao một phần lãnh thổ lên tới 3.300ha (bằng 1,2 lần diện tích Macao), bao gồm cả cảng nước sâu Sơn Dương, ở dưới chân Đèo Ngang, một vị trí cực kỳ xung yếu về an ninh – quốc phòng; [ii]

Hai văn bản quyết định đưa đến sự ra đời của dự án này đều do Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải thay mặt Thủ tướng ký: Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”;

Formosa Plastic Group, chủ đầu tư dự án Formosa Hà Tĩnh, là một tập đoàn Đài Loan – Trung Quốc chưa hề có kinh nghiệm gì về sản xuất gang thép.

Formosa Hà Tĩnh là dự án đầu tư nước ngoài được cả chính phủ trung ương lẫn chính quyền địa phương dành cho sự ưu đãi “vô tiền khoáng hậu”:  thời hạn thuê đất là 70 năm, vượt quá 20 năm so với quy định của Luật Đất đai năm 2003; miễn tiền thuê đất trong thời hạn 15 năm và chỉ thu tiền thuê đất trong thời hạn 55 năm với giá rẻ mạt (80 đồng/m2/năm, giá thuê mặt nước là 10 triệu đồng/km2/năm); miễn thuế đối với các mặt hàng tạm nhập tái xuất; miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tạo tài sản cố định; được Thủ tướng Chính phủcho phép hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãi cao nhất: chỉ 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án (thuế suất thuế TNDN năm 2008 là 28%), miễn bốn năm đầu và giảm 50% trong chín năm tiếp theo; được nâng giới hạn cấp tín dụnglên 4 lần vốn tự có (coi như là được kinh doanh bằng vốn của Việt Nam); (…);

Formosa Hà Tĩnh đã cho xây dựng những công trình đáng ngờ như hầm ngầm hay cả toà nhà đúc bằng bê tông cực kỳ kiên cố, không có lấy một viên gạch nào;

PTT Hoàng Trung Hải đã cho phépFormosa Hà Tĩnh hoàn tất các thủ tục theo quy định để thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và hộ gia đình công nhân thuê hoặc mua; còn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đồng ý cấp cho Hà Tĩnh gần 300 tỷ đồng từ ngân sách trung ương để hỗ trợ dự án xây nhà ở cho công nhân, đặc biệt là hàng nghìn công nhân Trung Quốc, của BQL Khu kinh tế Vũng Áng.

Nhiều chuyên gia kinh tế đã lên tiếng cảnh báo về sự biệt đãi mà chính phủ Việt Nam dành cho Formosa Hà Tĩnh, một dự án như bao nhà máy khác của ngành công nghiệp thép vốn đang dư thừa công suất ở Việt Nam, tức là chỉ cán thép chứ không phải là luyện kim, khâu khó nhất trong ngành thép mà VN đang thiếu. Một khi Formosa Hà Tĩnh đi vào hoạt động thì hàng loạt doanh nghiệp thép trong nước đứng trước nguy cơ bị khai tử vì phải cạnh tranh trên một sân chơi không bình đẳng.

Bất chấp phản ứng gay gắt của dư luận trên cả báo chí “lề đảng” lẫn “lề dân”, cả PTT Hoàng Trung Hải lẫn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều tiếp tục thể hiện sự ủng hộ trước sau như một của họ đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.

Mặc dù Thanh tra Chính phủ đã kết luận rằng việc chính quyền Hà Tĩnh cho Formosa Hà Tĩnh thuê đất trong thời hạn 70 năm là trái quy định của pháp luật, song Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đồng ý bảo lưu, không xét lại việc chính quyền địa phương nâng thời hạn giấy phép từ 50 năm lên 70 năm một cách trái pháp luật.

Theo VTV, trong chuyến thăm Formosa Hà Tĩnh ngày 17/9 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã “khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ đối với việc Tập đoàn này xây dựng một nhà máy lọc hóa dầu có công suất tới 16 triệu tấn, với vốn đầu tư trên 12 tỷ USD tại Khu kinh tế Vũng Áng, cũng nhưtiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa thành công”.

Chưa hết, cho dù bận trăm công ngàn việc “quốc gia đại sự” trên cương vị đứng đầu bộ máy hành pháp của một quốc gia 90 triệu dân, song dường như để thể hiện sự ủng hộ quyết liệt của mình, ngài Thủ tướng Việt Nam vẫn dành thời gian thân chinh tới dự lễ… khánh thành một tổ máy đốt than của Nhà máy Nhiệt điện Formosa, một “biểu tượng” cho tinh thần “độc lập – tự chủ” của “đặc khu Trung Quốc” mang tên Formosa Hà Tĩnh.

Với những gì nêu trên và đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng tỏ rõ tham vọng bành trướng vốn đã kìm nén bấy lâu (như việc đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không ngừng bồi đắp các đảo đá mà họ xâm chiếm của VN ở Trường Sa, biến chúng thành những căn cứ quân sự liên hoàn, v.v.), dư luận hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi: Vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn “quyết liệt” ủng hộ một dự án đầy tai tiếng và mờ ám như Formosa Hà Tĩnh?

______

Ghi chú:

[i] Chính phủ Việt Nam vẫn coi Đài Loan là một vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc. Ngoài ra, theo chuyên trang Steel First ngày 4/10/2013 thì cả 4 công ty con của Formsa Plastic Group tham gia góp vốn vào dự án Formosa Hà Tĩnh – Formosa Plastics Corp, Nan Ya Plastics Corp, Formosa Chemicals & Fibre Corp và Formosa Petrochemical Corp – đều đã quyết định giảm cổ phần tại Formsa Hà Tĩnh từ 21.25% mỗi công ty xuống còn 14.75%. Trang mạng này còn đưa tin là một quan chức của Formosa Hà Tĩnh đã cho họ biết: “Mọi cán bộ công nhân viên của Formosa Hà Tĩnh đều bị cấm đưa ra bất kỳ bình luận nào với công chúng về việc chuyển nhượng cổ phần”. Họ đã và sẽ tiếp tục chuyển nhượng cho ai thì có Trời mới biết.

[ii] Vũng Áng nằm ngay dưới chân Đèo Ngang, nơi có địa hình vừa hiểm trở vừa gần như hẹp nhất Việt Nam, chỉ cần một lực lượng quân sự nhỏ là đủ sức chia cắt đất nước thành hai phần. Đặc biệt, cảng nước sâu Sơn Dương được coi là một trong4 yếu huyệt của Việt Nam trên Biển Đông, cùng với Cam Ranh, Nam Du và Côn Đảo. Một khi có biến, với căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc ở Vũng Áng và căn cứ quân sự Tam Á trên đảo Hải Nam cách đấy không xa, Việt Nam dễ dàng bị chia cắt cả về đường bộ lẫn đường biển tại vị trí yết hầu này.

*Bài liên quan:

  1. Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng? (VOA)
  2. Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm họa mất nước (VOA)

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cựu tù nhân chính trị Trần Anh Kim bất ngờ bị bắt

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2015

RFA

22-9-2015

Ông Trần Anh Kim tại phiên xử kín ở tòa án Thái Bình ngày 28-12-2009

Cựu tù nhân chính trị Trần Anh Kim, ngụ tại thành phố Thái Bình, bị bắt đi từ sáng ngày 21 tháng 9 cho đến hôm nay 22 tháng 9 vẫn chưa có tin tức gì.

Bà Nguyễn thị Thơm, vợ ông Trần Anh Kim vào lúc 3:30 chiều ngày 22 tháng 9, cho biết như sau:

“Hôm qua họ vào đông lắm bắt anh ấy; khi bắt xong họ mới đưa tôi về. Hôm qua khoảng 9:30 đến 10 giờ họ ra cơ quan tôi nói có giấy triệu tập và đưa tôi về Công an Thành phố. Họ cứ bắt ngồi đó và coi cho đến tận khoảng 4:30 họ mới đưa tôi về nhà khi đã bắt anh Kim và thu tất cả mọi thứ rồi. Họ nói trong máy vi tính của anh Kim có bài về tuyên ngôn gì đó. Đó là bằng chứng không thể chối cãi và có lệnh khám nhà nên họ cho người khám nhà.

Họ thu điện thoại của tôi từ ngoài ( công an thành phố); không có liên quan gì đến anh Kim mà họ cũng thu. Họ thu hết và bắt anh Kim. Giờ tôi đang trên đường ra công an thành phố để hỏi họ giam anh Kim ở chỗ nào.”

Ông Trần Anh Kim là một cựu trung tá quân đội nhân dân Việt Nam. Ông bị bắt và bị đưa ra xét xử vào ngày 28 tháng 12 năm 2009 với cáo buộc âm mưu lật đổ chính quyền. Tòa tuyên ông 5 năm rưỡi tù giam và 3 năm quản chế.

Ông mãn án vào ngày 7 tháng giêng năm nay.

____

Dân Luận tổng hợp

Cựu tù nhân lương tâm Trần Anh Kim bị bắt đi đâu không rõ

22-9-2015

H1Theo tin từ Facebook Ngô Duy Quyền, ông Trần Anh Kim sáng nay đã bị cơ quan công an bắt giữ và đưa đi đâu không rõ. Ông Kim là cựu trung tá quân đội nhân dân Việt Nam, là một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng vừa ra tù vào đầu năm 2015 sau khi bị giam giữ 5 năm 6 tháng với tội danh “Lật đổ chính quyền nhân dân”.

Vợ ông là bà Nguyễn Thị Thơm từ Thái Bình gọi ra cho biết, vào khoảng 10h sáng hôm nay khi bà đang làm việc ở cơ quan thì bị lực lượng công an tới cưỡng bức bà về đồn công an thành phố Thái Bình và giam giữ bà ở đó tới 5 giờ chiều mới thả về nhà.

Khi bà về đến nhà, công an đã có sẵn chìa khóa để mở cửa cho bà vào. Đồ đạc trong nhà hoàn toàn bị xáo trộn, chắc là sau một cuộc lục soát vào ban ngày, trong đó máy tính và một số đồ đạc khác đã bị lấy mất.

Bà Thơm cố gắng gọi điện thoại cho ông Trần Anh Kim nhưng công an đã giật và thu điện thoại của bà, bất chấp sự phản đối.

Theo bà Thơm nhận định, công an đã khám và bắt giữ ông Trần Anh Kim từ buổi sáng, và trong thời gian đó họ đã tìm cách giữ chân bà trong đồn công an Thái Bình để không thể đưa tin hoặc kêu cứu.

Số điện thoại mới của bà Thơm: 0169.562.2739, độc giả quan tâm có thể gọi điện thăm hỏi và chia sẻ tinh thần với vợ chồng ông Kim trong tình trạng bị khủng bố này.

Tháng 12 năm 2009 ông Trần Anh Kim bị kết án 5 năm 6 tháng tù giam theo điều 79 Bộ Luật Hình Sự. Cáo trạng cho biết ông đã tham gia Đảng Dân Chủ Việt Nam và khối 8406, một phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam. Ông cũng viết nhiều bài viết cổ vũ cho tự do dân chủ và đăng tải công khai trên mạng internet.

Trước tòa ông Kim không chấp nhận tội danh: “Tôi tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Khối 8406 để đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền thông qua đối thoại hòa bình và hình thức bất bạo động.” Ông cũng nói rằng mình muốn chống tham nhũng ở Việt Nam.

Theo linh mục Phạm Văn Lợi, vụ bắt bớ “có thể vì hôm nay (21-09) có lễ công bố LỰC LƯỢNG QUỐC DÂN DỰNG CỜ DÂN CHỦ mà trong thành phần ban chấp hành thì: Chủ Tịch Ông Trần Anh Kim Trung Tá QĐDN Việt Nam. Phó Chủ Tịch Nội Vụ Ông Trịnh Khả Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân. Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Ông Trần Quốc Huy Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phát Nhân Ông Lê Ái Quốc Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân.”

Dân Luận sẽ tiếp tục theo dõi sự việc để đưa tin tới độc giả.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biểu Tình và Lập Hội, Tù Chính Trị, Thời Sự | Leave a Comment »

► Quyền lập hội, sao phải e dè?

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2015

VietNamNet

22-9-2015

“Ngày hôm nay, chúng ta đang e ngại khi bàn về luật hội và tự do lập hội y như cách đây 25 năm các cụ e dè khi bàn về doanh nghiệp tư nhân. Nhưng rồi DN tư nhân vẫn phát triển, thậm chí trở thành nền tảng của nền sản xuất. Kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi sự phát triển tương thích của một không gian xã hội cởi mở hơn” – TS Nguyễn Đức Thành nhận định.

LTS: Mới đây, bản dự thảo luật về hội đã được công khai để lấy ý kiến đóng góp của công chúng. Theo kế hoạch, dự thảo luật này sẽ được thảo luận và thông qua tại Quốc hội khóa tới, cùng với một loạt các luật khác nhằm cụ thể hóa các quyền con người được ghi trong chương đầu của Hiến pháp 2013 như quyền tiếp cận thông tin, quyền biểu tình,…Các dự luật này cũng nằm trong lộ trình thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như Công ước về quyền tự do lập hội của người lao động ở cơ sở…

Nhằm cung cấp thêm thông tin và các góc nhìn để các nhà làm chính sách tham khảo trong quá trình hoàn thiện dự luật, VietNamNet tổ chức bàn tròn thảo luận về dự luật hội với TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội và Luật sư Lã Khánh Tùng – thành viên của Đoàn luật sư Hà Nội.

Trì hoãn chục năm

Nhà báo Việt Lâm: Dự thảo luật về hội này đã được đưa ra lấy ý kiến lần đầu tiên cách đây gần chục năm vào năm 2006. Tại sao đến giờ chúng ta lại phải đặt ra vấn đề này?

LS Lã Khánh Tùng: Thực ra từ Hiến pháp 1946 VN cũng đã có quy định quyền lập hội của công dân rồi. Còn luật hiện hành liên quan đến lĩnh vực hội là luật về Hội ban hành năm 1957. Hiếm có lĩnh vực nào mà chúng ta vẫn áp dụng luật cũ như vậy. Nhà nước quản lí các hội này dựa vào nghị định 45 năm 2010.

Tuy nhiên, qua hoạt động thực tiễn các bộ ngành đều nhận thấy có nhiều vấn đề, vướng mắc phát sinh liên quan đến các hội, hiệp hội, hội đoàn. Chẳng hạn, gần đây nhất có các tổ chức, hội đoàn thành lập mới khiến các cơ quan nhà nước rất lúng túng, không có câu trả lời dứt khoát là các hội đoàn này có bất hợp pháp hay không.

Cùng với tinh thần Hiến pháp mới 2013 rất quan tâm đến quyền con người thì VN đã có kế hoạch ban hành rất nhiều đạo luật mới liên quan đến quyền con người trong đó có quyền lập hội, quyền biểu tình, quyền tiếp cận thông tin, luật tạm giữ tạm giam,…

TS Nguyễn Đức Thành: Nhìn từ góc độ của một nhà kinh tế, tôi thấy sự thành lập và tồn tại của các hội như các tổ chức tự nguyện vì cùng chung mục đích, cùng một lợi ích hay thậm chí như một câu lạc bộ theo đuổi một thú vui nào đó là rất cần cho xã hội. Bởi vì trong một xã hội hiện đại vận hành theo cơ chế thị trường như hiện nay, những tổ chức như vậy vừa xây dựng, vừa bảo vệ được các lợi ích rất đa dạng cho công dân.

Chúng ta cố gắng quản lý nhưng hội thì rất đa dạng, từ những hội rất nhỏ đến những hội mang tính chất chính trị hay những nghiệp đoàn lớn. Nếu chúng ta không có một luật đầy đủ để có thể bao quát được sẽ dẫn đến những trường hợp như anh Tùng vừa đề cập, có những đơn vị chúng ta không biết nên điều chỉnh như thế nào.

Về khía cạnh kinh tế, ở đây tôi nhìn thấy có vấn đề về tài chính công. Một số hội, hiệp hội quan trọng nhận được tài trợ từ ngân sách. Thậm chí, nhân sự gần như nằm trong hệ thống chính trị, trong khi những hội khác không có. Vậy đâu là tiêu chí để nhà nước can dự, hay tài trợ cho hội, và tài chính công được sử dụng cho hội như thế nào? Đó là vấn đề lớn mà tôi cho rằng luật phải đưa ra một cách rõ ràng. Không thể chỉ dựa trên cơ sở là nhà nước thấy hội nào cần thì tham dự vào chuyện nhân sự, hay tài chính, còn hội khác thì không cần.

Việt Lâm: Nguyên thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc cho biết là ông đã tham gia xây dựng và chỉnh sửa dự thảo luật về hội đến 10 lần. Còn dự thảo luật về hội được đưa ra lấy ý kiến công chúng lần này là lần thứ 14. Tại sao dự luật này lại mất đến cả chục năm, qua nhiều lần sửa đổi đến vậy?

LS Lã Khánh Tùng: Rõ ràng là lĩnh vực hội đoàn có phạm vi ảnh hưởng rất lớn về mặt chính trị – xã hội. Các hội rất đa dạng, không chỉ là các câu lạc bộ, hội nhóm mà nó còn là các liên đoàn, thậm chí các công đoàn. Ở nhiều quốc gia, người ta còn coi vấn đề đảng phái cũng thuộc lĩnh vực hội đoàn.

Do tính chất đa dạng của các hội nên người ta rất khó tạo một khuôn khổ chung, một sân chơi chung.

Ngoài ra, phải nhìn nhận thực tế là ngay trong các cơ quan nhà nước cũng chưa có được một sự thống nhất về quan điểm, chứ chưa nói đến sự khác biệt với các tổ chức xã hội dân sự. Cách đây 10 năm, Liên hiệp các tổ chức khoa học kỹ thuật VN đã đưa ra một dự thảo độc lập có cách tiếp cận rất khác với dự thảo của Bộ Nội vụ là cơ quan soạn thảo lúc đó đưa ra. Trong khi dự thảo của Bộ Nội vụ vẫn quy định rất nhiều thủ tục xin phép, những 4- 5 lần xin phép thì dự thảo của VUSTA đưa ra rất thoáng, chỉ cần đăng ký và thông báo thôi. Cùng với sự e dè của các cơ quan nhà nước, dự thảo luật về hội do vậy bị trì hoãn đến giờ.

Đã đến lúc phải thừa nhận không gian dân sự

Việt Lâm: Đành rằng, bối cảnh kinh tế – xã hội thời bấy giờ khiến cho những dự luật như vậy chưa thể được thông qua. Nhưng liệu sự trì hoãn đó có gây ra hệ luỵ gì về mặt phát triển kinh tế hay không, theo ông Thành?

TS Nguyễn Đức Thành: Lâu nay, chúng ta thường tư duy theo hướng mọi thành phần, mọi nhóm trong xã hội đều cần có sự kiểm soát. Câu hỏi quan trọng đặt ra ở đây là: Chúng ta có cần kiểm soát như vậy hay không? Thậm chí chúng ta có khả năng kiểm soát như vậy hay không, đặc biệt trong một xã hội hiện đại và kinh tế thị trường như hiện nay?

Trong một nền kinh tế thị trường, tính tự do của doanh nghiệp tạo ra cơ sở cho nền kinh tế đó và các hoạt động của nền kinh tế đó buộc phải tự do mới có sáng tạo, mới thúc đẩy phát triển. Đi liền với nó là không gian về mặt xã hội. Bên này là không gian kinh doanh, bên kia là không gian xã hội đều phải có sự tương thích. Chữ tương thích này không phải chỉ là sự tự do cho có tính chất tự do mà nó phải có sự tự do theo nghĩa là để nó phản ánh được toàn bộ nhu cầu xã hội của các nhóm người khác nhau trong một xã hội ngày càng đa dạng.

Những tổ chức đó được tổ chức dưới dạng hội. Họ không phải các tổ chức kinh doanh, cũng không phải các tổ chức nhà nước mà họ chỉ là những tổ chức dân sự. Đơn thuần là họ liên kết với nhau, hoặc có mối quan hệ nào đó để bộc lộ được nhu cầu mang tính xã hội thật sự của họ.

Nếu chúng ta không có được tư duy để họ tự nảy nở, từ đó họ sẽ phản ánh được những nhu cầu rất đa dạng của đời sống thì hội sẽ mọc lên một cách không tự nhiên. Khi nó ra đời không tự nhiên như vậy, nó sẽ phản ánh lệch lạc nhu cầu thực sự của công dân trong xã hội. Thông tin lệch lạc sẽ đi đến khu vực kinh doanh một cách lệch lạc và như thế thì xã hội cũng sẽ bắt đầu chệch choạch. Nền sản xuất sẽ không tương thích được với nhu cầu thực sự của người dân.

Lấy một ví dụ đơn giản về các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Bên sản xuất có thể xâm phạm vào quyền lợi người tiêu dùng vì mục tiêu lợi nhuận mà thị trường theo đuổi điều đó. Như vậy, phải hình thành những nhóm lợi ích, ví dụ người tiêu dùng sữa, sầu riêng, …có thể thành lập những nhóm hội để bảo vệ quyền lợi khi phát hiện ra bên sản xuất làm không đúng, buộc bên sản xuất phải điều chỉnh hành vi. Chúng ta không thể dự báo trước hội nào sẽ được thành lập, bởi nó tự phát theo hiện tượng xã hội. Do vậy, chúng ta phải để cho nó có một không gian tự do hình thành.

Cơ quan nhà nước không thể nào theo kịp được thị trường, không thể theo kịp được nhu cầu của người dân mà phải tự người dân bộc phát ra. Cho nên vai trò hội rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là tính chất tự nguyện: tự nguyện thành lập một thời gian sau đó giải tán hoặc phát triển lên, theo quy luật tự nhiên.

Tôi cho rằng, chúng ta đã thiết lập cơ chế thị trường trong vòng 20 năm qua thì đã đến lúc phải thừa nhận một không gian khác tương thích. Khi đó, đời sống của người dân, cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế mới cân đối, đầy đặn và bền vững được.

Độc lập hay là cánh tay nối dài của nhà nước?

Việt Lâm: Thực ra cũng đang có hàng nghìn hội tồn tại và phát triển ở VN hiện nay đấy thôi. Liệu họ đã làm tròn vai mà ông Thành vừa nói hay chưa?

TS Nguyễn Đức Thành: Về nguyên lý thì để hoạt động của những hội đó có ý nghĩa thì phải dựa trên tính tự nguyện cao: tự nguyện thành lập hoặc tự nguyện giải tán. Nó cũng giống như thị trường thì có nguyên tắc theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, bên nhà nước phải có pháp luật quản lý và bình đẳng.

Trong những xã hội mà nhà nước muốn kiểm soát hội thì tính tự nguyện sẽ suy giảm và theo thời gian nó trở nên hình thức.

LS Lã Khánh Tùng:Phải thừa nhận thực tế là tính độc lập của các hội đoàn ở ta chưa mạnh. Chẳng hạn như gần đây người ta tranh cãi khá nhiều về vai trò của những hội rất lớn như Hội nông dân VN với 10 triệu thành viên, hay Hiệp hội lương thực VN trong việc bảo vệ quyền lợi nông dân trong xuất khẩu gạo.

tự do lập hội, luật hội, Hiến pháp
Luật sư Lã Khánh Tùng, thành viên Đoàn Luật sư Hà Nội. Ảnh: Lê Anh Dũng

TS Nguyễn Đức Thành: Nhân nói về Hiệp hội Lương thực, vấn đề đặt ra ở đây là những hiệp hội đó được hình thành trên cơ sở nào: tự nguyện hay có sự dàn xếp, áp đặt từ các cơ quan chủ quản? Nhân sự hay thành viên có phản ánh đúng tính chất của hội không? Hay quá trình ra quyết định có đúng là nghị quyết chung của những thành viên thực sự? Chỉ khi đó, hội mới có tính đại diện thực chất.

Nếu hai bước đó đã không đạt được ngay từ đầu thì thông tin mà hiệp hội đó mang lại không phản ánh đúng cái được giả định là hội đang đại diện. Thông tin đã không chính xác rồi thì giá trị của nó không còn nhiều nữa.

Như vậy, ngay từ một hội nhỏ như hội chơi xe máy chẳng hạn, thì chính hội ấy phải quyết định hội ấy làm cái gì. Nôm na như năm nay đi du lịch ở đâu, sưu tập loại xe máy gì, đó là việc của người ta.

Còn nếu việc quyết định năm nay sưu tập xe gì hay đưa hình ảnh xe nào lên lại do một người bên ngoài quyết định thì hội đó không còn ý nghĩa nữa. Đầu tiên là các thành viên sẽ rời bỏ. Chỉ còn lại những thành viên chấp nhận trò chơi đó nhưng nó không còn ý nghĩa đúng là người đại diện.

Phải nói rằng các hiệp hội khác của chúng ta đều chưa phản ánh được hoàn toàn tính đại diện trong việc hình thành thành viên, đồng thời quá trình ra quyết định của các thành viên chưa phản ánh hết nguyện vọng của họ.

LS Lã Khánh Tùng:Độc lập có nhiều khía cạnh, trong đó độc lập về mặt tài chính có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Ở VN do nền kinh tế còn ở mức thấp nên việc huy động tài chính cho các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn độc lập gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn đến một thực trạng là rất nhiều hội đoàn muốn nhà nước dành thêm ngân sách, thêm ưu tiên cho mình.

Tôi quan sát thấy trong nhiều diễn đàn thảo luận về luật hội, không ít tổ chức đứng lên đòi hỏi điều này, thậm chí có một hội còn đặt vấn đề tại sao các hội khác lập cơ quan đảng, đoàn trong hội được mà chỗ chúng tôi lập cơ quan đảng trong hội khó khăn đến thế.

TS Nguyễn Đức Thành:Thực ra đây là vấn đề thay đổi tư duy. Chúng ta vẫn còn coi hội như một bóng mờ, một cánh tay nối dài của cơ quan quản lý nhà nước.

Để hội độc lập thực sự thì nó phải độc lập về tài chính, tức là tài chính được đóng góp từ các thành viên hoặc các thành viên tự đi tìm các nguồn tài trợ trên cơ sở thuyết phục người khác tài trợ cho mình, chứ không phải từ ngân sách nhà nước.

Ngân sách là nguồn đến từ thuế của người dân và theo một nghĩa nào đó tất cả mọi người đều phải đóng cho hoạt động của hội đó dù cho không lớn. Vì sao tất cả người dân phải đóng tiền cho hội này mà không phải cho hội khác? Ai quyết định hội này được nhận nhiều hơn, hội kia ít hơn? Nếu tất cả cùng nhận thì hội có khác gì cơ quan nhà nước?

Khi các thành viên không đóng tiền hay hội không huy động được tài trợ, tức là nó không có giá trị nữa. Như thế thì nó nên giải tán, tương tự như một DN thua lỗ thì nên phá sản. Đấy là cách thức phát triển rất tự nhiên. Không thể nào để những hội tồn tại hàng chục năm không hiệu qủa mà nhà nước vẫn cung cấp tiền cho họ. Khi nhà nước đã cấp tiền thì chúng ta không thể biết họ có đáng tồn tại hay không bởi không còn sự tự nguyện nữa.

Các hội hoạt động cũng tương tự như vậy thôi chứ không thể nào để những hội hoạt động hàng chục năm tồn tại như vậy, nhà nước vẫn cung cấp tiền cho họ. Khi nhà nước vẫn bao cấp cho hội thì chúng ta không biết là liệu họ có đáng tồn tại hay không, có còn giá trị với xã hội hay không.

tự do lập hội, luật hội, Hiến pháp

Sự tiến hoá của tư duy

Việt Lâm:Nhận thức luôn là một quá trình. Nói gì thì nói, nếu chúng ta quan sát đều có thể thấy rằng từ chỗ còn e ngại thì gần đây ngày càng có nhiều người, trong đó có các nhà quản lý, hoạch định chính sách đề cập đến sự cần thiết phải thực thi quyền tự do lập hội như đã được khẳng định trong Hiến pháp 2013. Liệu đây có phải là bước chuyển thực sự về tư duy?

LS Lã Khánh Tùng:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những chuyển biến tích cực này. Dường như rõ nét nhất là do tiến trình hội nhập quốc tế của VN. Gần đây, VN đã gia nhập thêm nhiều công ước quốc tế về quyền con người, tham gia nhiều diễn đàn của LHQ, trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền của LHQ…

Nói chung, các vấn đề về các quyền cụ thể được quan tâm nhiều hơn. Những khái niệm về tự do, những chuẩn mực quốc tế, những giá trị phổ quát được thảo luận nhiều hơn. Tuy nhiên, để tinh thần đó thực sự đi được vào những dự thảo cụ thể thì vẫn phải đợi thêm thời gian. Bởi lẽ, nhà nước bao gồm nhiều cơ quan quản lí khác nhau và chưa hẳn đã thực sự thống nhất với nhau về quan điểm. Có những bộ có vẻ khá cởi mở, như Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp. Dường như họ tiếp xúc nhiều với chuẩn mực quốc tế nên trong tiến trình soạn thảo các dự thảo luật cụ thể thì họ thường cởi mở hơn và thậm chí tiếp xúc, lắng nghe công chúng nhiều hơn.

TS Nguyễn Đức Thành: Tôi cũng thừa nhận như vậy, rõ ràng là có những tiếng nói cởi mở hơn so với trước đây. Trước đây nói về hội, tự do hội gần như là sự cấm kỵ. Giờ đây có nhiều người đã nói lên. Dù chưa nhiều, nhưng rõ ràng đó là một sự chuyển biến.

Chúng ta cũng phải hiểu rằng đây là một quá trình mang tính lịch sử. Sự thay đổi tư duy của con người cũng mang tính lịch sử, tức là đòi hỏi phải có thời gian. Tất cả những tiến triển trong thảo luận về hội của chúng ta hiện nay cũng giống hệt bối cảnh cách đây 20 -25 năm khi chúng ta thảo luận về luật doanh nghiệp.

Cách đây 30 năm chúng ta không có không gian cho doanh nghiệp tư nhân, cho kinh tế thị trường. Nói về doanh nghiệp tư nhân là điều gì cấm kỵ, khủng khiếp, lại càng không thể tưởng tượng nổi doanh nghiệp tư nhân có thể đem ra so sánh hay cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước cũng không buồn bàn những chuyện lặt vặt như vậy.

Nhưng rõ ràng là quá trình tiến bộ của xã hội đòi hỏi phải có một khu vực tư nhân năng động, linh hoạt và hiệu quả. Mục đích của nó là tạo ra của cải sản xuất tốt hơn doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại cho đến thời điểm đó. Lúc đó, chúng ta thấy luật về doanh nghiệp tư nhân rất e dè xuất hiện và tách riêng ra với luật doanh nghiệp nhà nước, tức là họ không muốn chung, coi như đây là một phần bên lề. Nhưng về sau kết hợp lại thành luật doanh nghiệp nói chung của cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, trong đó khu vực tư nhân là chính, khu vực nhà nước chỉ là phần phụ trong nội dung luật.

Tôi tin rằng tư duy về hội cũng sẽ tiến hóa như vậy. Bây giờ chúng ta còn đang e dè, e ngại nhưng đó chỉ là thời kì lịch sử. Bởi vai trò của các hội, hiệp hội bây giờ cũng khác gì so với vai trò của các doanh nghiệp trong việc sản xuất ra của cải vật chất. Ở bên này, các hội là những đơn vị phản ánh tinh thần thời đại, nhu cầu của người dân, xây dựng nên văn hóa dân chủ mà khu vực doanh nghiệp không thể giải quyết được, khu vực nhà nước không giải quyết được hoặc giải quyết không hiệu quả, với chi phí tốn kém. Nhưng một khi xã hội có nhu cầu thực sự thì nó sẽ lớn lên.

tự do lập hội, luật hội, Hiến pháp

Ngày hôm nay, chúng ta cũng đang e dè khi bàn về luật hội y như các cụ ngày xưa e ngại khi bàn về doanh nghiệp tư nhân: không có nó thì sao, nó có thay đổi toàn bộ xã hội này không, có chệch hướng hay không? Nhưng rõ ràng doanh nghiệp tư nhân đã tồn tại và thậm chí trở thành nền tảng của nền sản xuất VN hiện nay.

Điều này chúng ta có thể chứng kiến theo thời gian. Dần dần những hội chính thức sẽ phải thay đổi về mặt chính sách, nhân sự. Họ không muốn các tổ chức phi chính phủ ngang hàng với họ, họ muốn một luật riêng, các điều khoản riêng. Nhưng cũng như luật doanh nghiệp khi xưa, sớm muộn sẽ hội tụ lại với nhau. Và trong tương lai các nội dung để điều chỉnh hiệp hội tự do mang tính dân sự sẽ chiếm chi phối. Tất nhiên những hiệp hội mang tính tự do, độc lập cao đó ở trong xã hội hiện đại như vậy thì phải tuân thủ luật pháp một cách chặt chẽ.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Viễn Tượng Khủng Hoảng Kinh Tế Thế Giới

Posted by hoangtran204 trên 22/09/2015

Viễn Tượng Khủng Hoảng Kinh Tế Thế Giới

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm.

E-mailPrint

                              

Phải chăng thế giới ,1 lần nữa lại đứng trước viễn tượng 1 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và toàn diện.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, mà hậu quả của nó vẫn còn và vẫn chưa phai mờ trong ký ức người dân, thì một số những biến cố kinh tế quan trọng đến từ Trung Cộng, rồi ảnh hưởng tới thế giới, làm cho 1 số người bi quan nghĩ rằng thế giới lại đứng trước viễn tượng 1 cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và toàn diện.

Một số người khác lạc quan, cho rằng những hậu quả của kinh tế Trung Cộng không đủ sức mạnh để lay chuyển kinh tế thế giới .

Chúng ta hãy bình tâm suy xét vấn đề để đưa ra những kết luận hợp tình hợp lý hơ

I)   Quan điểm của những người bi quan:

Những người này cho rằng , dù muốn hay không Trung Cộng vẫn là cường quốc kinh tế đứng nhì trên thế giới  với tổng sản lượng là 11.212 tỉ đôla, chỉ sau Hoa Kỳ là 18.125 tỉ đôla ( theo bản tường trình của FMI tháng 8/2015) nền kinh tế thứ nhì này trước kia tăng trưởng ở mức độ 2 con số (12 hay13%), nay chỉ còn tăng trưởng ở mức độ 1 con số ( 6.8%).

Sự suy trầm của kinh tế TC tất nhiên có những hậu quả đến kinh tế thế giới nhất là đối với những nước nhỏ .

Từ ngày Trung Cộng nổ bong bóng địa ốc vào năm 2014 , làm cho ngành địa ốc TC gần như phá sản . Ngành địa ốc và ngành xuất cảng là 2 yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy kinh tế Trng Cộng phát triển. Cho tới nay nước này đứng hàng đầu thế giới về nhập cảng những vật liệu xây cất, như đồng ,chì, thép, sắt, quặng v.v chiếm từ 20 tới 40% số lượng trên thế giới, phần lớn đến từ những nước Úc, Phi Châu hay Nam Mỹ .

Riêng về ngành xuất cảng thì 3 tháng vừa qua 5,6,7 năm 2015 so với cùng 3 tháng năm 2014, xuất cảng TC đã giảm 8,3%, nặng nề nhất là nước Nhật Bản 13% , thứ nhì là đối với Âu Châu 12%, sau mới tới HK 1.8% .

Thị trường chứng khoán , sau khi bị nổ bong bóng về địa ốc, để che mắt dân và che mắt quốc tế , một phần chính phủ bơm tiền vào những hãng bề ngoài là tư doanh , nhưng thực sự là quốc doanh , 1 phần khác, qua bộ máy tuyên truyền, khuyến khích dân mua cổ phiếu ,và lập ra những cơ quan tài chính giúp đỡ dân vay tiền và thế chấp 1 cách dễ dàng, để mua cổ phiếu. Chính vì lẽ đó mà thị trường chứng khoán TC ở 2 thị trường chính là ở Thẩm Quyến và Thượng Hải, từ năm 2014 tới giữa tháng 6 năm 2015, đã tăng 150%.Tuy nhiên vì có tính cách giả tạo, do bàn tay nhà nước đứng đằng sau, thị trường này đã không đứng vững và đã tụt xuống 30%, vào cuối tháng 6, có lúc mất tới 3,500 tỉ đôla, tương đương với tổng sản lượng của nước Đức , một nước kinh tế đứng thứ 4 trên thế giới.

Gần đây nữa, TC lại phá giá đồng nhân dân tệ liên tiếp trong 3 ngày 11/12/13 tháng 8 ,với tỉ số 4,6%.

Từ những sự kiện kinh tế trên những người bi quan cho rằng đó là nguyên nhân thứ nhất dẫn đến khủng hoảng kinh tế thế giới trong tương lại.

Nguyên do thứ 2 là sự xụt giá dầu hỏa. Trong khuôn khổ bài này ,chúng ta không thể đi vào chi tiết,nhưng đại thể, thì giá dầu hỏa đã đi từ 120 tới 130  /1 thùng, xuống còn 60/50/40 đôla 1 thùng. Ở đây chúng ta không nói đến những nguyên nhân chính trị quân sự, mà chúng ta chỉ nói đến nguyên do kinh tế, đó là số cung nhiều hơn số cầu .Theo dự đoán của cơ quan năng lượng quốc tế AIE, thì vào năm 2015 số cung là 98,6 triệu thùng 1 ngày, trong khi đó số cầu chỉ là 93.3 triệu thùng 1 ngày ,thặng dư là 5.3 triệu thùng ,vào năm 2016 số cung là 99.7, số cầu là 94.5thặng dư là 5.2 triệu thùng 1 ngày và cứ như thế cho mãi tới năm 2020 số cũng sẽ là 103.2 triệu thùng 1 ngày số cầu là 99.1 triệu thùng, thặng dư là 4.1 triệu thùng 1 ngày .

Với giá dầu hỏa bị xuống giá hơn hay gần ½ như vậy, thì tổng sản lượng của những quốc gia sống vì xuất cảng dầu hỏa như Nga Sô và những nước Trung Đông cùng 1 số những nước Nam Mỹ như Soudan ,Nigeria ,Algeria, Venezuala …, tất nhiên tổng sản lượng của những nước này cũng sẽ giảm rất mạnh, và từ đó liên quan đến khả năng mua bán trên thị trường quốc tế .

Đó là lý do thứ 2 khiến những người bi quan cho rằng viễn tượng 1 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang lên cao.

Nguyên do thứ 3 đến ngay từ những nước Tây Phương trong đó có khối Âu Châu và ngay cả Hoa Kỳ .

Theo bản tiên đoán của Qũy tiền tệ Thế giới vào tháng tư năm 2015 ( IMF World Economic Outlook (WEO), April 2015) được báo cáo trong tháng 8/2015, thì khối Âu Châu, mà 2 nước chính là Đức và Pháp, Đức với tổng sản lượng là 3413,5 tỉ $ so với 2 năm trước thì tổng sản lượng của Đức đã sút giảm, vào năm 2013 tổng sản lượng của Đức là 3731,4 tỉ $ , năm 2014 là 3859,5 tỉ $ . Nước Pháp cũng vậy , năm 2013 là 2807,3 $ ,năm 2014 là 2846,9 tỉ $,nhưng vào năm 2015 chỉ còn là 2469,5 tỉ $.

Kinh tế Đức đã vững mạnh trở lại, tỉ số thất nghiệp chỉ còn là 6%, gần như bao nhiêu chục năm nay cán cân ngoại thương của Đức luôn luôn thặng dư, trung bình mỗi năm khoảng 200 tỉ $, trong khi đó thì kinh tế nước Pháp bị suy trầm từ lâu ,cán cân ngoại thương thường bị thất thâu, nạn thấp nghiệp lên tới 10% riêng đối với giới trẻ dưới 25 tuổi thì tỉ số thất nghiệp lên tới 20%.

Đó là 1 nguyên do nữa khiến cho người ta bi quan về tương lai kinh tế thế giới .

Riêng đối với Hoa Kỳ, người ta phải công nhận rằng sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, kinh tế nước này đã phục hồi, với tỉ số thất nghiệp là 5,5%, ngành địa ốc và ngành xe hơi đã hoạt động trở lại .Thêm vào đó, HK với phương pháp khai thác dầu khí đá phiến (Fracking) đã trở thành quốc gia sản xuất dầu hỏa đứng đầu thế giới, với khoảng 12 triệu thùng 1 ngày. Tuy nhiên kinh tế Hoa Kỳ chưa hoàn toàn vững mạnh, chỉ có thể nói là kinh tế HK, sau khi bị khủng hoảng thì hiện nay đang trong tình trạng phục hồi chứ chưa khỏe hẳn, và nếu không khéo thì rất có thể suy thoái trở lại.

Thật vậy, với con số chỉ dấu thất nghiệp tốt là 5,5%, nhưng thị trường lao động của HK chỉ nghiêng về những ngành nghề tạm bợ và bán thời (part time), sức sản xuất kém, trong khi đó kinh tế HK là nước có nền  kinh tế ở mức độ kỹ thuật cao , thì số thất nghiệp của  ngành  này vẫn không thuyên giảm.

Thêm vào đó cán cân ngoại thương của HK gần như bị thất thâu mỗi năm gần tới 1.000 tỉ $, riêng đối với Á Châu năm 2015 vừa qua HK xuất cảng sang Á Châu là 500 tỉ $, nhưng nhập cảng 1,000 tỉ $, thất thâu là 500 tỉ $; đối với Âu Châu, HK xuất cảng là hơn 300 tỉ $, nhưng nhập cảng hơn 400 tỉ $ , thất thâu là 100 tỉ $ ;cũng vậy đối với 2 nước gần nhất của HK là Canada và Mexico, HK xuất cảng sang 2 nước này là hơn 500 tỉ $,nhưng nhập cảng là hơn 600 tỉ $, ngay đối với những nước Phi Châu nhỏ bé, HK nhập cảng là 67 tỉ, trong khi đó xuất cảng sang Phi Châu là 33 tỉ $, thất thâu vào là 34 tỉ $.

Đó cũng là 1 nguyên nhân nữa làm cho những người bi quan cho rằng khủng hoảng kinh tế thế giới trong tương lai sẽ xẩy ra .

  II)  Quan điểm của những người lạc quan:

Những người lạc quan cho rằng kinh tế các nước Tây Phương là kinh tế tự do , tư nhân, theo luật cung và cầu ,có thể tự sửa sai, vì vậy để dẫn đến 1 cuộc khủng hoảng như cuộc khủng hoảng năm 2008 và cuộc khủng hoảng 1929 /1930, thì không phải dễ .

Các nước Tây Phương đã ý thức rằng sở dĩ có cuộc khủng hoảng 2008, tất nhiên có nhiều nguyên do, tuy nhiên 1 trong những nguyên do chính, đó là các chính phủ và các dân tộc tiêu xài quá sức của mình .Ngày hôm nay, bắt đầu bằng HK, chính phủ nước này đã tìm cách giảm ngân sách quốc gia, bắt đầu bằng ngân sách quốc phòng, đi từ 777 tỉ $ trước kia, nay chỉ còn 577 tỉ $. Đồng thời chính phủ cũng ra những luật lệ để hạn chế những sự vay mượn của người dân, để không bị lâm vào cảnh vay rồi không có tiền trả .

Một cách tổng quát đó là những phương pháp chính để sửa chữa cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 .Tuy nhiên người ta cũng khôg quên chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương, nhằm vực dậy kinh tế. Theo như trong phần trên thì Kinh tế HK có thể nói là đang trong tình trạng phục hồi chứ chưa khỏe hẳn, và nếu không khéo thì rất có thể suy thoái trở lại. Theo thông báo của bộ thương mại Hoa kỳ thì tổng sản lượng HK vào tháng 4-6/2015 đã tăng 3,7% thay vì dự đoán là 2,3%. Đồng thời đầu tư cũng tăng 3,2%, xuất cảng tăng 5,2%, nhập cảng tăng 2,8% so với cùng thời gian năm 2014 ( ARD 27.08.15 ).

Riêng đối với Âu Châu, bắt chước HK , Âu Châu cũng tìm cách giảm ngân sách nhà nước , chính phủ không được quyền chi tiêu quá 3% ngân sách đã quyết định, luật lệ này đã từ từ được các nước Âu châu áp dụng, và đã thành công .Riêng nước Đức trong tương lai vấn đề 3% không còn nữa vì ngân sách nước Đức đã thặng dư 0,3 % vào năm 2014 và trong 6 tháng đầu năm 2015 ngân sách nước Đức cũng đã thặng dư được 21,1 tỉ Euro. Về nước Pháp chỉ tiêu 3% sẽ đạt được vào năm 2016 hay 2017.

Nói 1 cách tổng quát, qua dự đoán cuả Bản công bố của Quỹ tiền tệ quốc tế như trên đã nói, thì kinh tế Âu Châu sẽ  khựng lại vào năm 2015, nhưng trên thực tế kinh tế Đức, Pháp, Anh và  các quốc gia khác vẫn phát triển. Theo thống kê mới nhất của Statista, cổng thông tin trực tuyến của Đức, tổng hợp trên nhiều nguồn thì kinh tế Đức sẽ tăng 1,1% vào năm 2015, Pháp tăng 0,7%, Anh tăng 2,7%; và nhất là các nước Đông Âu tỉ số tăng trưởng kinh tế năm 2015 đạt được con số trên 2%, đưa toàn Âu châu tăng trưởng với tỉ số 1,5% ( Das Statistik-PortalStatistiken und Studien aus über 18.000 Quellen/

http://de.statista.com/statistik/daten/studie/159507/umfrage/prognose-zur-entwicklung-des-bip-in-den-laendern-der-eurozone/ ).

Với những con số trên, thì người ta có thể nói kinh tế Ấu Châu đã từ từ phục hồi.

Bởi lẽ đó, quan niệm của những người bi quan, chỉ dựa vào sự suy trầm của kinh tế TC, mà suy đoán ra rằng sẽ có 1 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong tương lai , điều này là hơi quá đáng .

Tuy nhiên 1 câu hỏi được đặt ra, đó là với sự suy trầm này, liệu kinh tế TC có xụp đổ hay không ?

Nhìn vào quá khứ để rút tỉa kinh nghiệm.

Hãy lấy trường hợp Nhật Bản làm thí dụ:

Trong thời kỳ cuối thập niên 80 và giữa thập niên 90 , kinh tế Nhật bản cũng phát triển rất mạnh với 2 con số, làm cho nhiều người tiên đoán rằng Nhật Bản sẽ giành ngôi vị kinh tế hàng đầu trên thế giới với HK .Tuy nhiên cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ Thái Lan năm 1997, rồi lây sang Mã Lai , Nhật Bản làm cho kinh tế Nhật suy trầm cho tới hôm nay: bằng cớ đó là vào năm 2013 kinh tế Nhật tăng trưởng với con số 1.6% , nhưng vào năm 2014 lại tụt xuống với con số là -0.1% , nhưng với năm 2015 thì lại lên với con số 1.0% .Từ năm 1997 đến nay người ta không nói đến việc Nhật Bản tranh giành ngôi bá chủ kinh tế với HK .  (Thật ra kinh tế Nhật bị suy thoái kể từ 1990 cho đến 2013 do sự gia tăng giá của bất động sản ở Nhật trong thập niên 1980s và tình trạng đóng băng của bất động sản kéo dài 2 thập niên…- Trần Hoàng)

Trở về với TC thì kinh tế TC cũng đang suy trầm từ mức độ tăng trưởng với 2 con số, xuống còn 1 con số như tăng trưởng vào năm 2015 theo bản tường trình của Quỹ tiền tệ quốc tế vừa qua là 6,8% và trong tương lai theo dự đoán của nhiều nhà kinh tế thì chỉ còn là 5 hay 4 hoặc 3% mà thôi.

Từ đó người ta cũng có thể đưa đến kết luận rằng để tranh giành ngôi bá chủ kinh tế với HK, cũng là 1 việc làm rất khó khăn, đối với Trung cộng, chứ không dễ dàng như 1 số người lầm tưởng.

Trở về viễn tượng một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện và toàn cầu sau cuộc khủng hoảng 2008, chỉ dựa vào sự suy trầm của kinh tế Trung cộng, hay vào sự tụt dốc của thị trường chứng khoán vào những ngày 20, 21 hay 24 vừa qua, ngay cả thị trường New York cũng tụt giá, những dữ kiện này chỉ mới là những nguyên do tất yếu, chưa có nguyên do đủ để cho rằng nó nhất định xẩy ra như thế nào? . Nhưng đây lại là thời điểm mà Trung cộng muốn tự cứu, phải định lại vị thế của chính mình, từ bỏ mộng bành trướng và những giấc mơ viễn vông.

 

                                                                Paris ngày 28/08/2015

                                                          Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

© Tác giả gửi bài đến Ban biên tập.
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

►Đất nước của những đường cong (Đỗ Trường)

Posted by hoangtran204 trên 22/09/2015

     

Đỗ Trường

Tác giả gửi tới Dân Luận

18-9-2015

Vừa trải qua cuộc hành trình ba ngàn cây số, và hai đêm gần như thức trắng lái xe chở mấy ông bạn từ Việt Nam cỡi ngựa xem hoa, dọc mấy nước Tây Âu. Sáng nay, vẫn còn tơ lơ mơ gà gật, chợt có tiếng luận đàm từ trên kênh VTV4 làm tôi tỉnh hẳn. Một ông nhà đài dẫn kịch và ba ông tai to mặt lớn trong ngành nông nghiệp đang diễn, tụng ca công cuộc đổi mới. Từ hợp tác xã đói nghèo, Đảng, chính phủ đã sáng tạo ra khoán mười, và tư nhân hóa đồng ruộng đi đến cường thịnh, là nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ ba trên thế giới…

Giời đất ạ! Có lẽ Đảng, chính phủ và mấy ông tuyên truyền coi chín mươi triệu người dân đất Việt trong và ngoài nước là con nít chăng?

Phải nói thẳng, từ đứa trẻ thò lò lỗ mũi đến các cụ sắp trở về với đất, ai cũng thừa biết, mở cửa, đổi mới sáng tạo của Đảng là trở về cái cội nguồn, cái chính sách kinh tế, qui luật đúng đắn từ ngàn năm qua của cha ông ta. Tức là Đảng đang đổi về cái quan hệ sản xuất cũ. Cái mà Đảng đã tự tay bóp chết bằng cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất, sau khi cướp được chính quyền.

Thật vậy! Đây là sự che đậy cái dốt nát, lưu manh một cách trắng trợn và bỉ ổi nhất, kể từ ngày lập quốc đến nay. Và sự lưu manh hóa truyền hình (sống bằng tiền của dân), để đánh bóng, phục vụ cho một cá nhân, hay tập đoàn là cái tận cùng của bẩn thỉu, trơ trẽn.

Không những thế, dây thần kinh mắc cỡ, xấu hổ của lãnh đạo và giới truyền thông cũng đã hoàn toàn bị đứt bỏ. Và tuy không phải ngày nói phét tháng tư, mà là ngày đàn ông tháng năm ở Đức, trong lúc nhậu nhoẹt, ông bạn giáo viên trường Đảng cao cấp đã bị tuột xích, rất chăm chỉ đọc báo trong nước còn thông báo rất hùng hồn: Sau Thái Lan, là một số nước Tây, Bắc Âu trong đó có Đức sang Việt Nam học tập, trao đổi kinh nghiệm về trật tự an toàn giao thông và phòng chống tham nhũng đấy. Các ông đã thất kinh chưa? Làm mấy ông ngồi cạnh nhao lên, hỏi tới tấp: Ông lấy thông tin ở đâu? Hay lại từ trang Webseite của công ty rác rưởi, vệ sinh (Reinigungsfima) bình bầu cho đồng chí Ba Ếch, Tư Nhái dạo năm ngoái?

– Đây là tin thứ thiệt từ trong nước, đã qua kiểm chứng, kiểm duyệt của anh Huynh (Đinh Thế Huynh), tổng biên tập của 700 tờ báo. Chắc như bắp.

Có lẽ, trong cái xã hội à uôm, lộn nhộn này, không chỉ có giới lãnh đạo, truyền thông mà dường như cả giới trí thức văn nghệ sĩ cũng mắc chứng tụng ca hão huyền này. Tuy rất yêu mến tài năng của nhà thơ quân đội Nguyễn Hữu Qúy, nhưng hôm rồi đọc lời tụng ca nhà thơ Trần Đăng Khoa của ông, làm tôi nhột hết cả người:

“TRẦN ĐĂNG KHOA GIỎI THẬT!

Năm 1969, thần đồng thi ca Việt, Trần Đăng Khoa viết bài thơ ”Kể cho bé nghe” có mấy câu sau cùng thế này:

Người em yêu thương

Là chú bộ đội

Chăm ngoan học giỏi

Là bạn thiếu nhi

Ngu xuẩn nhất nhì

Là tổng thống Mỹ…

Thời ấy, tôi còn bé, nhưng rất thuộc bài thơ này, đến bây giờ còn nhớ mồn một như thế.

Bây giờ, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã bỏ mấy câu trên và thay nó bằng những câu như sau:

Đêm ngồi đếm sao

Là ông cóc tía

Ríu ran cành khế

Là cậu chích choè

Hay múa xập xoè

Là cô chim trĩ…

GIỎI THẬT! TRẦN ĐĂNG KHOA GIỎI THẬT! THỜI NÀO CŨNG GIỎI!“

(Trần Đăng Khoa giỏi thật- Nguyễn Hữu Qúy)

Không ai có thể phủ nhận, nhà thơ Trần Đăng Khoa ngay từ thuở thiếu thời cho đến nay có khá nhiều bài thơ và những câu thơ hay. Và tôi cũng là một trong những người đọc yêu mến ông. Nhưng với những câu vần vè thì, là, mà của cả hai đoạn thơ trên của Trần Đăng Khoa, quả thật chưa phải là thơ, và không có giá trị nghệ thuật gì ở đây. Những câu dạng vần vè, nặng tính nhồi sọ, tuyên truyền ngay từ tuổi ấu thơ như thế này, ta có thể nghe (bắt gặp) rât nhiều, từ những đứa trẻ trên lưng trâu thuở ấy, hay từ những ông phó cối trong giờ giải lao vui đùa.

Đã lâu rồi, tôi có đọc nhà thơ Trần Đăng Khoa viết bốc thơm nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, nói tiếng Anh nghe như người Mỹ, trong một lần cùng dắt tay nhau đến xứ sở này. Không biết đây là câu khen đểu, hay khen thật của bác Khoa. Đã du học ở Tây, chắc bác Khoa cũng thừa biết, tiếng Việt ta đơn âm, tiếng Tây âm kép do vậy, chỉ có các cháu sinh đẻ, hoặc từ nhỏ học ở Tây mới phát âm được như Tây. Còn dạng sang Cu Ba học tiếng Tây như bác Thiều, hoặc nửa nạc nửa mỡ như chúng tôi dù có sống mấy chục năm ở Tây, cũng chỉ là giọng Tây giả cày, rau muống mà thôi.

Có thể, mấy bài (vần) vè chúc mừng năm mới: “Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to…“ vì của lãnh tụ (Hồ Chủ Tịch), nên các bác bốc lên là thơ, còn là thơ tuyệt tác nữa. Rồi xúm vào tụng ca thật lực, bắt học sinh học và phân tích qua rất nhiều thế hệ…Điều này, dân chúng và người đọc còn có thể hiểu được. Chứ không rõ, các bác nhà thơ, nhà văn ở trong nước cứ lòng vòng bốc thơm nhau, nhằm mục đích quái quỷ gì?

Nhìn vào cơ cấu tổ chức chính trị, văn nghệ tuyên truyền phình ra như hiện nay, ta có thể thấy, quân đội Việt Nam quá cồng kềnh, không có sức mạnh chiến đấu, và chẳng giống ai. Bởi, chẳng có nước tân tiến nào quân đội lại đẻ ra cả một trường đại học sân khấu nghệ thuật và các đoàn ca kịch, hội nhà văn, tuyên truyền từ trên xuống từng đơn vị, cơ sở. Vì phải nuôi quá nhiều các văn nhân, nghệ sỹ, báo chí tuyên truyền ương ương dở dở, tào lao chi khươn. Và bác nào bác nấy cứ đến hẹn lại lên, nhiều sao lắm gạch, tiền dân chịu sao cho thấu. Gánh nặng này, là một trong những nguyên nhân làm cho quân đội ì ạch, yếu đuối cũng là phải.

Có nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam chưa có giới trí thức thật sự. Bởi trí thức, nghệ sỹ văn nhân ngoài kiến thức, tài năng còn phải có nhân cách, chí khí, luôn luôn đối đầu, phản biện với chính quyền, xã hội đương thời. Dù xã hội có dân chủ, tự do, đời sống xã hội cao như các nước Âu- Mỹ cũng vẫn phải cần những tri thức, chí khí ấy, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển tốt đẹp hơn nữa.

Nhưng cũng có những biện hộ, Trí thức Việt Nam đói quá buộc phải thúc thủ theo chính quyền là lẽ đương nhiên. Tôi nghĩ, không hẳn như vậy. Chúng ta có thể thấy, “đại trí thức“ như Ngô Bảo Châu không hề bị đói khát, bởi lương Giáo sư ở Mỹ của ông rất cao. Thế mà ông vẫn bị (hay được) chặn họng bằng căn nhà giá trị nhiều triệu Dollars. Do vậy, ông bị nghẹn, nên lúc nào cũng ú a ú ớ như mắc rọ, trước đời sống, xã hội khổ đau của người dân quê ông.

Tuy nhiên, ngoái nhìn lại lịch sử ta thấy, không riêng gì Ngô Bảo Châu, phục vụ (tụng ca) chế độ (nếu coi là) chính thống, để ôm chặt quyền lợi, dường như đó là đặc điểm chung của sĩ phu, trí thức Việt (?). Và chính lòng tham, cũng như nhân cách ấy đã giết dần tri thức của họ.

Sau tết vừa rồi, tôi ngồi lai rai bia rượu với nhà văn Nguyễn Hoàng Đức trên đường Nguyễn Trãi, Hà Nội. Dù yêu cầu nhà hàng đóng hết các cửa sổ, nhưng vẫn nghe tiếng cưa cây ầm ầm ngoài đường. Tôi hỏi, sao lại chặt cây đồng loạt như vậy, Nguyễn Hoàng Đức cười buồn, hết nạc vạc đến xương thôi, chúng đã đến lúc ăn quẩn rồi. Vậy là Hà Nội đã trở thành thành phố trọc đầu, dưới bàn tay của những kẻ trí thức giả, tiến sỹ đểu đang nắm quyền.

Trong cái trầm ngâm u buồn đó, chợt hiện ra trước mặt, đường tàu điện trên cao cong keo đang dở dang xây dựng, như mũi tên gẫy găm vào lòng người. Và không biết bao nhiêu những đồng tiền dơ bẩn cùng với bàn tay nham hiểm, đê tiện của ngoại bang đang luẩn quất đâu đó.

Và phía sau nơi tôi ngồi, đường Trường Chinh (Tàu Bay) đã bị bẻ cong, trở thành đường “cong mềm mại“ một mỹ từ che đậy của lũ đội lốt trí thức, sâu mọt quan tham, để nghiền nát nhiều nghìn tỉ đồng của nhân dân, đất nước. Thật vậy, nếu một đất nước, giới trí thức đã bán linh hồn cho quỷ, hay đang tự ru mình, ru người bởi những danh vọng, hoặc vật chất tầm thường, thì chế độ, xã hội đó đã đến ngày mạt vận.

Đây không phải là bài văn nghị luận, mà chỉ là những câu chuyện không đầu, không cuối lộn xộn, được ghi lại trong cuộc hành trình du ngoạn Tây Âu cùng hai ông bạn thuở hoa niên. Hai thằng này, đều là Đảng viên cấp cao, nhưng nói như đại tá Bùi Văn Bồng: “Tuy là Đảng viên, nhưng hai thằng này vẫn còn chơi được“.

Và những câu chuyện vặt này, đã được khép lại, bởi câu hỏi của tôi trước khi hai ông bạn lên máy bay trở về Việt Nam: Hai thằng mày đều là cán bộ cấp cao, sang chơi với thằng bạn đã từng bị an ninh Việt Nam trục xuất về Đức vì can tội viết văn, không sợ bị liên lụy, hay bị đấng ngồi trên cho đi tàu suốt sao?

Cả hai thằng cười khầng khậc: Yên tâm đi, đất nước đang lộn tùng phèo, không biết thằng bé sợ thằng to, hay thằng ngồi trên sợ thằng ngồi dưới. Thằng nào cũng có cái Thóp để bóp cả. Đường cong nhìn thấy, chưa hẳn là cái đáng sợ. Đường cong trong lòng người mới là cái kinh tởm hơn.

Vâng! Và đất nước tôi cứ nằm trong vòng cong kinh tởm như vậy.

Leipzig ngày 17-9-2015

Đỗ Trường

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Blogger Tạ Phong Tần: ‘Mỹ ép buộc CSVN phải trả tự do cho tôi’

Posted by hoangtran204 trên 22/09/2015

Người Việt

Hà Giang – Dân Huỳnh

19-9-2015

H1

WESMINSTER, Calif. (NV) – Blogger Tạ Phong Tần, chủ trang blog Công Lý và Sự Thật, đồng sáng lập viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, đến phi trường Los Angeles (LAX) tối 19 tháng Chín, 2015,  sau 4 năm bị nhà cầm quyền CSVN cầm tù.

Bà Tạ Phong Tần đến Hoa Kỳ lúc 8 giờ 30 tối trên chuyến bay của hãng hàng không China Airline.

Giây phút đầu tiên đặt chân đến nước Mỹ.

Khi đến phi trường, bà Tần phát biểu rằng sẽ không ngưng con đường mà bà đeo đuổi. ‘Sau cái tang của mẹ thì tôi càng cương quyết trang đấu và bây giờ thì càng không bao giờ bỏ cuộc.’

Blogger Tạ Phong Tần bày tỏ cảm xúc: “Trước khi đến Mỹ, tôi rất hồi hộp không biết bao nhiêu năm anh em mới gặp nhau anh em đối với mình ra sao. Nhưng khi thấy nét mặt xúc động và sự quan tâm đón chào của nhiều người thì cảm thấy an tâm và biết mình đã quyết định đúng.”

“Tôi cảm thấy như là gia đình của mình. Và tôi rất là xúc động khi gặp lại những người bạn của tôi. Đôi khi vui quá mình cũng xúc động chứ. Chưa bao giờ tôi khóc, ngay cả trước mặt bọn Cộng Sản.”

Kể lại hành trình đến Mỹ.

Kể lại giây phút bị áp giải ra phi trường, bà Tần cho biết: Tôi không biết họ đưa anh Điếu Cày đi như thế nào, nhưng riêng tôi có khoảng 50 công an áp giải. Ở trong nhà tù ra đi ba xe ô tô bảy chỗ ngồi. Khi đến sân bay lại thấy lố nhố khoảng 20 công an mặc thường phục nữa. Có người nhìn như có vẻ bàng quan, không có nhiệm vụ gì, nhưng cứ lẩn quẩn ở đó. Có khoảng một chục người cầm máy quay phim quay tứ tung. Họ đưa tôi vào khu vực phía sau sân bay, chỉ có tôi và công an. Đến khi máy bay sắp cất cánh họ mới đưa tôi ra phía ngoài. Và khi lên máy bay tôi mới gặp nhân viên đại sứ quán Hoa Kỳ đón tôi.”

Bà Tần khẳng định mình không phải bị trục xuất: “Tôi nghĩ thân nhân tôi biết tôi đi, nhưng không phải là trục xuất, bởi vì phía Mỹ ép buộc họ phải trả tự do cho tôi. Và họ đã ra một quyết định tạm đình chỉ thi hành án tù, chứ không phải trục xuất.’

TNS Janet Nguyễn, blogger Điếu Cày, Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, cùng nhiều đồng hương Việt Nam chờ đón bà Tạ Phong Tần. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

H1

* Kết quả của sự nỗ lực vận động

Blogger Điếu Cày, người từng bị cầm tù và cũng được đưa thẳng từ nhà tù đến Hoa Kỳ tháng 10 năm ngoái nói rằng: “Tin Tần được trả tự do là món quà lớn nhất cho CLBNBTD trong đúng ngày kỷ niệm sinh nhật 8 năm thành lập của Câu Lạc Bộ. Chúng tôi hết sức vui mừng! Đây cũng là kết quả của bao nỗ lực vận động của nhiều tổ chức đấu tranh khắp nơi. Đặc biệt Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã hết sức tích cực trong việc thúc đẩy đưa Tần ra khỏi nhà tù cộng sản.”

Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn có mặt tại LAX đón blogger Tạ Phong Tần phát biểu: ‘ Đi đón chị Tần tôi có cảm xúc giống như lần đi đón anh Điếu Cày. Có nghĩa là vui mừng giống nhau.’

Trả lời cầu hỏi nhà cầm quyền CSVN cứ thả các tù chính trị ra ngoại quốc như Mỹ chẳng hạn thì ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam thế nào. Bà Janet Nguyễn nói: ‘Chúng ta, một mặt vui mừng vì những người trong nước ra, qua đó giúp biết rõ phương cách đấu tranh tốt hơn. Tuy nhiên chúng ta đừng quyền họ có thể bắt người này và thả người khác. Nếu có tiến triển thực sự thì phải thả hết tù chính trị và không bắt thêm một người nào nữa.’

Blogger Điếu Cày và các đồng hương mừng đón bà Tạ Phong Tần.

* Trong vòng tay bạn bè

Ngay từ buổi chiều 19 tháng Chín, đông đảo bạn bè là thành viên của CLBNBTD đã tụ họp để cùng nhau đến phi trường LAX đón Blogger Tạ Phong Tần.

Nói về tâm trạng mình, Blogger Điếu Cày bày tỏ: ‘Hơn ai hết tôi hiểu  rõ tâm trạng của Tạ Phong Tần khi ấy đến phi trường, và tôi thấy có bổn phận phải giúp đỡ và hướng dẫn cô ấy trong những bước đầu bỡ ngỡ.’

Anh Võ Thiêm, một thành viên mới của CLBNBTD, lái xe đến từ San Diego chỉ để ra phi trường đón Tạ Phong Tần cho hay: “Tôi là thành viên mới của CLBNBTD nhưng rất cảm phục sự quả cảm của những blogger như chị Tạ Phong Tần, và hôm nay rất vui sẽ gặp được chị.””

‘Hôm nay là một ngày rất vui.’ Anh Hàng Tấn Phát đến từ San Jose so sánh ‘cũng hồi họp như hôm đến đón anh Điếu Cày.’

Anh Phát nói thêm: “ Khi nhà nước CSVN phải thả những tù nhân này, thì chúng ta sẽ gần có ngày về Việt Nam.’

Blogger Uyên Vũ, thành viên CLBNBTD: 'Không có gì vui bằng chúng tôi lại được gặp nhau tại Hoa Kỳ sau 8 năm thành lập CLB Nhà Báo Tự Do. Gặp chị ấy tôi tất nhiên sẽ ôm lấy chị và nói lên lời ngưỡng mộ lẫn nỗi nhớ xa cách.'

Một đồng hương khác, anh Sĩ Lâm, đến từ San Diego, hôm nay đến chung vui trong ngày sinh nhật thứ 8 của CLBNBTD, và rất vui cũng được dịp đi đón Blogger Tạ Phong Tần đang trên đường đến đất tự do.

Còn anh Thiện Thành ‘nôn nao đón một người cùng chí hướng ra hải ngoại để tiếp tay các anh em trong việc đấu tranh cho dân chủ cho Việt Nam.’

Trên các trang mạng xã hội như facebook đã có hàng ngàn chia sẽ, bình luận về sự kiện blogger Tạ Phong Tần được trả tự do sang Mỹ.

Từ Hà Nội, facebooker Nguyễn Lân Thắng viết trên trang của mình:  ‘Mong cộng đồng người Việt hải ngoại đón nhận chị với sự trân trọng và đừng ép chị như anh Điếu Cày…!’

Blogger nhà báo Song Chi, một trong những người sát cánh cùng blogger Tạ Phong Tần hiện đang tị nạn tại Na Uy viết: ‘Thế là thêm một thành viên của CLBNBTD rời nước và gặp lại nhau trên đất Mỹ. Chúc mừng Tạ Phong Tần. Kiểu này thì “tập hai” của CLBNBTD chuyển từ Sài Gòn sang California rồi.’

Tám năm trước khi mới thành lập và sau đó một thời gian ngồi ở công viên Chi Lăng và những nơi khác của Sài Gòn bàn nhau chuyện biểu tình chống Trung Quốc chắc mọi người cũng không ngờ… 8 năm sau lại đi xa nửa vòng trái đất thế này. Hy vọng 8 năm nữa thì lại gặp lại ở Sài Gòn, một Sài Gòn khác trong một đất nước Việt Nam hoàn toàn thay đổi.’

***

Blogger Tạ Phong Tần bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt giam năm 2011, và bị kết án 10 năm tù vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” theo  điều 88 của bộ luật hình sự, được cho là mơ hồ của Việt Nam. Thân mẫu của blogger Tạ Phong Tần, bà Đặng Thị Kim Liêng, đã vì uất ức thương con mà tự thiêu và qua đời cuối tháng Bảy, năm 2012.

o Tạ Phong Tần ‘đã đi Mỹ’

20.09.2015

 Blogger Tạ Phong Tần đã được nhân viên ngoại giao Mỹ đưa sang Hoa Kỳ hôm nay, 19/9, các nguồn tin trong nước cho hay, trong khi gia đình bà nói “cũng vừa mới nghe tin” và đang chờ điện thoại của bà.

Bà Tạ Minh Tú, em gái của nhà bất đồng chính kiến, cho VOA Việt Ngữ biết rằng “một nguồn tin nói là đã nhìn thấy chị Tần ở sân bay với hai nhân viên ngoại giao Mỹ”. Khi được hỏi về nguồn tin này thì bà nói là “chắc cũng đáng tin cậy”.

Bà nói thêm: “Gia đình không nhận được thông báo của Hoa Kỳ cũng như không có thông báo của nhà cầm quyền Việt Nam. Gia đình chỉ có đang chờ chị Tần điện về thì mình mới biết chính xác”.

Tuy nhiên, bà cho hay rằng gia đình đã biết ý định của bà Tần khi vào trại giam thăm bà hôm 13/9.

Bà Tú nói với VOA Việt Ngữ: “Tháng rồi tôi có đi thăm. Chị Tần có thông báo rằng sứ quán Hoa Kỳ tới trại giam gặp, yêu cầu chị Tần nên định cư ở Mỹ. Chị Tần có nói là sẽ trong vòng tuần này hoặc cuối năm nay chị sẽ đi Mỹ. Tôi đã biết trước rồi, nhưng chưa biết giờ nào, ngày nào”.

Khi được hỏi lý do nào khiến bà Tần phải ra đi, em gái của bà nói: “Chị có nhiều bệnh quá đi nên chị cần phải đi ra ngoài để chữa bệnh. Dù chị rất muốn ở lại Việt Nam, nhưng chị không thể có lựa chọn nào hơn là định cư ở Mỹ. Chị có muốn ở Việt Nam cũng không có được vì nhà cầm quyền không cho chị ở vì họ chống đối họ”.

Lặng lẽ ra đi

Cả phía Việt Nam cũng như Mỹ hiện chưa đưa ra bất kỳ thông báo nào về sự ra đi của bà Tần.

Bà Tần, chủ trang blog Công lý và Sự thật, bị bắt vào ngày 5/9/2011 và bị kết án tù 10 năm vào năm 2012 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước theo điều 88 Bộ Luật Hình sự.

Bà cũng là một trong những thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do cùng với blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) năm 2007.

Nếu thông tin về việc đi Mỹ của bà Tần được xác nhận, thì tình huống ra đi lặng lẽ của bà cũng giống như ông Hải.

Hồi tháng 10 năm 2014, nhà bất đồng chính kiến nay định cư ở tiểu bang California, Mỹ, đã được đưa thẳng từ trại giam tới phi trường để bay đi Hoa Kỳ cùng với nhân viên ngoại giao của nước này.

Khi ấy, blogger Điếu Cày chỉ mặc một chiếc áo cộc tay và đi đôi dép tổ ong.

Hồi đầu năm nay, blogger này cho biết đã khôi phục lại Câu lạc bộ Nhà báo tự do ở Mỹ với mục đích thúc đẩy quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, cũng như hỗ trợ các blogger khác ở Việt Nam.

Việt Nam luôn bác bỏ các cáo buộc cho rằng Hà Nội bóp nghẹt ý kiến của người dân cũng như bắt giữ những người bất đồng chính kiến.

____

Video clip đón blogger Tạ Phong Tần tại sân bay Los Angeles:

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Blogger Tạ Phong Tần đến Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2015

RFA

Ngọc Lan, thông tín viên RFA, California

20-9-2015

Vào khoảng 9 giờ địa phương ngày 19 tháng 9, 2015 nữ tù nhân lương tâm Tạ Phong Tần đã đến phi trường Los Angeles. (từ trái Blogger Điếu cầy, bà Tạ Phong Tần và nữ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Janet Nguyễn)

Phóng viên Ngọc Lan đang có mặt tại phi trường Los Angeles cùng với đông đảo các thành viên trong Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, các cơ quan truyền thông báo chí, cũng như các vị dân cử, có cả Thượng Nghị Sĩ tiểu bang California Janet Nguyễn để chờ đón blogger Tạ Phong Tần, chủ nhân trang blog Sự Thật&Công Lý được đưa thẳng từ nhà tù Việt Nam sang định cư tại Mỹ.

Ngọc Lan: Cách đây một năm, anh Điều Cày cũng là người được đưa thẳng từ nhà tù Việt Nam sang đây. Bây giờ, một năm sau, trở lại đây để chuẩn bị đón Tạ Phong Tần, thì cảm nghĩ của anh là gì?

Điếu Cày Nguyễn Văn Hải: Cảm nghĩ của tôi là có hai cảm xúc cùng một lúc. Thứ nhất là cảm xúc tôi là người đi đón Tạ Phong Tần, nôn nóng được gặp lại Tạ Phong Tần. Cảm xúc thứ hai là người cũng từng xuống sân bay, cũng từng được đón tiếp ở đây, tôi cảm thông được những điều mà Tần sẽ trải qua vào thời điểm ban đầu bước chân xuống sân bay. Vì vậy, tôi muốn khi tôi gặp Tần, chúng tôi có thể chia sẻ với nhau một số vấn đề trước khi quý vị có thể gặp Tần ở sân bay này. Những gì tôi chia sẻ cũng là cách làm sao tốt nhất cho Tần gặp gỡ được đồng hương ở hải ngoại một cách hoàn hảo nhất như chúng tôi mong muốn.

Ngọc Lan: Năm ngoái, cũng ở khoảng thời gian này, cô Janet trong cương vị là một Giám Sát Viên đã có mặt tại đây để đón blogger Điếu Cày. Năm nay, trong cương vị là một thượng nghị sĩ California, cũng đến đây để đón một tù nhân lương tâm được trả tự do từ Việt Nam đưa sang đây, vậy suy nghĩ của TNS Janet là gì?

Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn: thưa quý vị và quý đồng hương, hôm nay tôi rất vui mừng, giống như hồi năm ngoái, vì mỗi người được CSVN đưa sang Mỹ, đất nước tự do, đã nói lên sự đoàn kết, nói lên tiếng nói của chúng ta đoàn kết chung nhau, kêu CSVN phải có tự do dân chủ ở Việt Nam rất là mạnh. Thưa quý vị, hôm nay đừng nghĩ là mình đã thắng lớn, nhưng với mỗi chiến thắng nhỏ này thì mong rằng một ngày nào đó mình sẽ tới Việt Nam là một nước tự do và dân chủ. Chúng tôi cũng xin cám ơn quý đồng hương, quý dân cử và quý vị đã lên tiếng nói để giúp cho những người ở Việt Nam được qua đây như Điếu Cày và bà Tạ Phong Tần tới đây hôm nay. Mình muốn tiếp tục sự đoàn kết đó để bắt buộc CSVN phải trả lại tự do, dân chủ cho nước Việt Nam của chúng ta.

Ngọc Lan: Cũng là người có hoàn cảnh được đưa từ Việt Nam sang đây, thì hôm nay có mặt tại đây để đón Tạ Phong Tần thì suy nghĩ của anh Uyên Vũ là gì?

Blogger Uyên Vũ: Hôm nay quả thực là một niềm vui bất ngờ vì hôm nay cũng là kỷ niệm 8 năm ngày thành lập CLB Nhà Báo Tự Do của chúng tôi và một người chị em của chúng tôi đang thụ án hết sức khổ nhọc ở trong một nhà lao nổi tiếng khắc nghiệt ở Thanh Hóa. Khi nghe tin cô Tạ Phong Tần được trả tự do và đang trên đường đến Hoa Kỳ, tôi cảm thấy hết sức xúc động vì bao nhiêu kỷ niệm của ngày tháng chúng tôi cùng hoạt động với nhau trong CLB trở về, đó là những ngày tháng hết sức khắc nghiệt, hết sức gian lao. Nhưng đó cũng là thời gian đáng tự hào của riêng chúng tôi.

Ngọc Lan: Đây là Ngọc Lan của đài RFA, ngay lúc này xin chị Tạ Phong Tần cho biết cảm xúc của chị là gì?

Blogger Tạ Phong Tần: Tôi rất là vui khi tôi đã đến được xứ sở của tự do báo chí, tự do ngôn luận ở một nơi mà chúng tôi không bị cấm đoán việc tự do phát biểu chính kiến của mình. Tôi nghĩ là sau khi ổn định thì tôi sẽ bắt tay vào làm việc ngay.

Tôi không biết chính xác là tôi sẽ được đi Hoa Kỳ vào thời điểm nào, nhưng tôi biết chắc chắn là mọi người sẽ không để tôi ở trong tù lâu.

Tôi có lời nhắn gửi đến những người đấu tranh trong nước là phải kiên trì, bền chí và không bao giờ khuất phục đối với cường quyền bạo lực, phải tin tưởng vào tương lai, tin tưởng vào ngày mai và tin tưởng vào anh em của mình ở bên ngoài.

Việc tôi đi ngày giờ nào được phía công an giữ bí mật hết sức và tôi không được biết trước.

Ngọc Lan: Đến giờ phút này chị đã liên lạc được với gia đình chưa?

Blogger Tạ Phong Tần: Vẫn chưa, tôi vừa mới xuống đến đây thôi.

Ngọc Lan: Thưa chị Tần, khi được gặp lại anh Điếu Cày là một người đồng chí, một người bạn, người anh của chị ngay tại Mỹ, chị cảm thấy như thế nào? Chị có nghĩ đến ngày hôm nay hay không?

Blogger Tạ Phong Tần: Tôi rất vui mừng. Tôi đã nghĩ đến ngày hôm nay khi tôi vừa tham dự xong phiên tòa xét xử, tôi biết tin Đại Sứ Quán Hoa Kỳ, Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ, Đại Sứ Quán của Liên Minh Châu Âu cùng tất cả các tổ chức phi chính phủ, cũng như Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo và Phóng Viên Không Biên Giới đều ra thông cáo phản đối bản án vô lý đó để ủng hộ chúng tôi thì tôi biết trong thời gian tới sẽ có ngày này.

Ngọc Lan: Xin cám ơn chị.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

► Thủ tướng và Núi Pháo

Posted by hoangtran204 trên 20/09/2015

 Người Buôn Gió

18-9-2015

Núi Pháo là một địa danh ở Thái Nguyên, nơi có trữ lượng quặng hiếm có, trữ lượng quặng voframn đến 21 triệu tấn, lớn thứ 2 trên thế giới (sau Trung Quốc), về Flo có trữ lượng lớn nhất thế giới khoảng 19,2 triệu tấn. Khi đưa vào khai thác mỏ này có khả năng cung cấp 15% vonfram, 20% bitmut và 7% florit lượng cung toàn cầu.

Vonfram nếu kết hợp với cacbua sẽ trở thành chất liệu cứng thứ 2 sau kim cương, dùng phổ biến trong ngành khoan dầu mỏ, dây tóc bóng đèn, công cụ máy, … Đây là hợp kim không có vật liệu thay thế. Trung Quốc hiện nắm tới 70% trữ lượng vonfram toàn thế giới và cung cấp 85% sản lượng volfram toàn cầu. Đó là lí do, bất cứ một mỏ vonfram lớn nào nằm ngoài Trung Quốc đều có ý nghĩa vô cùng lớn.

Nhìn vào các số liệu thống kê, dễ dàng hình dung khi một chính khách nào nắm được mỏ Núi Pháo, hẳn sẽ có trọng lượng trên quan hệ quốc tế. Hầu hết những nhà độc tài ở Trung Á, Trung Phi hay Trung, Nam Mỹ đều nắm giữ những mỏ khoáng sản giá trị như dầu mỏ, kim cương…Thông qua việc kiểm soát những mỏ này những chính khách này tạo được thế lực của mình trong nước và ảnh hưởng tới quốc tế.

Tập đoàn Masan đã trả công cho công ty Bản Việt 100 triệu usd để công ty này làm tư vấn, môi giới cho Massan thâu tóm mỏ Núi Pháo.

Bản Việt là tập đoàn mà con gái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nắm giữ. Mọi bước đi của Masan đều có bóng dáng của Bản Việt dẫn đường, không chỉ Núi Pháo mà còn nhiều thương vụ khác nữa.

Như thế mỏ Massan khó mà không có ảnh hưởng của Nguyễn Tấn Dũng, chính khách hàng đầu của Việt Nam hiện nay.

Cuối tháng 8 và đầu tháng 9, mỏ Núi Pháo bị báo chí tố cáo gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, người dân biểu tình kêu cứu. Vào ngày 4 tháng 9 năm 2015 nhà báo Nguyễn Ngọc Quang bị hai côn đồ truy sát giữa ban ngày vì những bài viết tố cáo sai phạm ở Núi Pháo.

Ngay lập tức phe đối thủ của Nguyễn Tấn Dũng là Phạm Quang Nghị lên tiếng đòi làm rõ đầu đuôi, ngọn nguồn việc nhà báo Nguyễn Ngọc Quang bị đánh. Trưởng ban tuyên giáo thành uỷ Hà Nội Hồ Quang Lợi gọi đây là khủng bố dân chủ.

Nhưng thứ trưởng bộ thông tin truyền thông Trương Minh Tuấn đã chặn họng Lợi bằng một lời cảnh cáo rằng – các nhà báo nên tránh xa những điểm nhạy cảm và nên có những lời nói kiềm chế tránh bức xúc.

Chưa dừng lại ở đó, ngày 8 tháng 9 năm 2015 Trương Minh Tuấn cử phóng viên đến Thái Nguyên, ép đài phát thanh truyền hình Thái Nguyên là nơi Nguyễn Ngọc Quang công tác phải đưa ngay một bài báo ca ngợi thành công của Masan ở Núi Pháo hết lời.

Vụ Nguyễn Ngọc Quang rơi vào im lặng, âm mưu phanh phui từ vụ Quang bị đánh tới  mỏ Núi Pháo và sự thao túng của Nguyễn Tấn Dũng của phe Phạm Quang Nghị, Hồ Quang Lợi không thành.

Ngày 15 tháng 9 năm 2015, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thay thế một số lãnh đạo Thái Nguyên. Giám đốc sở tài nguyên môi trường, giám đốc kế hoach đầu tư, chỉ huy quân sự tỉnh được bổ nhiệm làm phó chủ tịch tỉnh và uỷ viên ban uỷ ban nhân dân tỉnh. Bằng một thủ thuật bổ nhiệm nhân sự Nguyễn Tấn Dũng đã đưa quân của mình trấn giữ những chức trọng yếu ở Thái Nguyên.

Nhờ thế mà Núi Pháo trở thành yên tĩnh.

Nguyễn Tấn Dũng đã dẹp yên vụ Núi Pháo như đã từng dẹp yên nhiều vụ khác lớn hơn động chạm đến ông ta.

Trên chính trường Việt Nam hiện nay Nguyễn Tấn Dũng là người có quyền lực lớn nhất. Nhiều người đặt hy vọng rằng Dũng sẽ có những thay đổi về chính sách đối ngoại cũng như đối nội, cởi mở hơn, thông thoáng hơn. Nguyễn Tấn Dũng có thể sẽ là một Góc Ba Chốp của Việt Nam.

Hy vọng đó không phải là vô cớ, sự thực thì Nguyễn Tấn Dũng có những hành đông, lời nói và quyết sách có chiều hướng cải cách thoáng hơn về đối ngoại cũng như cải cách kinh tế trong nước.

Nhưng nhiều người còn lo ngại hơn khi hình dáng độc tài tư bản quân phiệt ngày càng rõ hơn trong hình ảnh của Nguyễn Tấn Dũng. Một hình ảnh như kiểu độc tài Sa Hoàng Nga như kiểu Putin.

Với những điều kiện Pu Tin có như nắm tài nguyên, khoáng sản, nắm quyền lực an ninh, quân đội và tham vọng quyền, tiền cũng thế. Hy vọng Nguyễn Tấn Dũng trở thành một nhà cải cách dân chủ, tiến bộ thật là mong manh. Nhất là khi yếu tố hội tụ như bây giờ, không có mối lo nào khiến Nguyễn Tấn Dũng phải trở mình làm người tiến bộ, dân chủ cả. Không có một lực đối trọng nào trong hàng ngũ chính khách Việt Nam hay trong nhân dân để Dũng phải e dè. Người tham tiền, quyền và có điều kiện như Dũng chẳng tội gì phải rũ bỏ cái mình có để trao cho đất nước sự tự do, dân chủ.

Không phải những gì ông Vũ Ngọc Hoàng, uỷ viên trung ương Đảng, phó ban tuyên giáo Trung Ương nói là không có phần sự thật. Trong bài phát biểu hồi tháng 6 năm 2015. Ông Hoàng đã cảnh báo về nhóm lợi ích rằng.

” Đặc điểm của các “nhóm lợi ích” là có sự kết hợp cùng mục tiêu lợi ích, cùng hành động, cùng phân chia lợi ích, giữa những người có nhiều tiền với những người có quyền lực trong nhà nước và trong đảng cầm quyền. Có tiền chuyển hóa thành có quyền lực. Có quyền lực chuyển hóa thành có tiền. Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn.”

Đối chiếu những gì ông Vũ Ngọc Hoàng phát biểu, đấy chính là hình ảnh của tập đoàn Massan, Bản Việt và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Và cứ như đà này, tiên đoán của Vũ Ngọc Hoàng càng trở nên chính xác khi thực tiễn chứng minh ” nhóm lợi ích ” ngày càng có quyền lực và có nhiều tiền hơn.

Bắt 2 đối tượng chém trọng thương nhà báo tại Thái Nguyên

19-9-2015

Tiền Phong

Ngày 19/9, Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết đã phối hợp với Công an T.P Thái Nguyên và Công an huyện Phú Bình bắt giữ 2 đối tượng chém nhà báo Nguyễn Ngọc Quang, Phó Trưởng Phòng Thời sự, Đài Phát thanh -Truyền hình tỉnh Thái Nguyên.
Hai đối tượng Chu Văn Thế (áo xanh) và Dương Nghĩa Hậu (áo đen) tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an tỉnh Thái Nguyên.Hai đối tượng Chu Văn Thế (áo xanh) và Dương Nghĩa Hậu (áo đen) tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an tỉnh Thái Nguyên.

Hai đối tượng gồm Chu Văn Thế, sinh năm 1991, trú tại xã Kiên Đài, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang và Dương Nghĩa Hậu, sinh năm 1993, trú ở xã Xuân Phương, huyện Phú bình, tỉnh Thái Nguyên. 

Tại cơ quan điều tra, bước đầu hai đối tượng thừa nhận, do có mâu thuẫn với nhà báo Nguyễn Ngọc Quang nên sáng 4/9, chúng đã bí mật theo dõi vợ chồng nhà báo. Cả hai đi xe máy che kín biển kiểm soát, đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang rồi bám theo xe của anh Quang.

Khi đến gần giữa cầu Gia Bảy (thuộc phường Trưng Vương, TP. Thái Nguyên) hai đối tượng đã ép xe ô tô của nhà báo Nguyễn Ngọc Quang vào lề đường. Sau đó 1 tên dùng búa đập vỡ cửa kính bên phía tay lái, tên còn lại dùng dao chém nhà báo Ngọc Quang. Khi hai vợ chồng nhà báo mở cửa chạy thoát thân chúng vẫn đuổi theo chém với, khiến nhà báo Ngọc Quang bị nhiều vết chém ở vai, tay, thắt lưng…

Hiện vụ án đang tiếp tục được điều tra mở rộng.

Theo Báo Thái Nguyên

Khẩn trương điều tra vụ nhà báo bị hành hung

Người Lao động

Ngày 6-9, nhà báo Nguyễn Ngọc Quang, Phó Phòng Thời sự Đài Phát thanh – Truyền hình (PT-TH) tỉnh Thái Nguyên, cho biết hiện sức khỏe đã ổn định và đang được Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên điều trị. Các vết thương của anh không nghiêm trọng, vấn đề là ảnh hưởng tinh thần và lo lắng cho sự an toàn của gia đình.

 

Như Báo Người Lao Động đã thông tin, anh Quang bị hành hung hôm 4-9, với tổng cộng 8 vết thương. Trong đó, nhát chém sâu nhất nằm ngang thắt lưng, gần cột sống.

Cùng ngày, đại tá Đặng Đức Đang, Phó Giám đốc Công an tỉnh Thái Nguyên, cho biết cơ quan công an vẫn đang làm rõ nguyên nhân cũng như các đối tượng tấn công anh Quang. Theo ông Phan Hữu Minh, Giám đốc Đài PT-TH tỉnh Thái Nguyên, các phóng viên theo dõi những mảng nhạy cảm không ít lần bị đe dọa khi thực hiện những tác phẩm điều tra, phanh phui tiêu cực với nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Hội Nhà báo và các cơ quan báo chí tỉnh Thái Nguyên luôn cân nhắc những hoạt động ở mảng đề tài này để bảo đảm khách quan, phản ánh trung thực, góp phần vào quá trình quản lý xã hội.

 

Nhà báo Nguyễn Ngọc Quang và những vết thương trên cơ thể
Nhà báo Nguyễn Ngọc Quang và những vết thương trên cơ thể

 

“Chúng tôi đã có văn bản báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên, các cơ quan bảo vệ pháp luật, Hội Nhà báo Việt Nam… đề nghị có những chỉ đạo kịp thời, nhanh chóng nhất về việc này” – ông Minh nói.

Trước đó, chiều 4-9, ông Dương Ngọc Long, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên, đã ký văn bản chỉ đạo điều tra, xử lý vụ việc. Theo đó, yêu cầu Công an tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo khẩn trương điều tra, làm rõ vụ việc, xử lý theo quy định của pháp luật; báo cáo kết quả điều tra, xử lý về UBND tỉnh trong thời gian sớm nhất.

 

Tin-ảnh: Ng.Quyết
————————-
 

Cần xử lý nghiêm côn đồ hành hung nhà báo

5-9-2015
Người Lao Động

Xung quanh vụ việc vợ chồng nhà báo Nguyễn Ngọc Quang, công tác tại Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Thái Nguyên, bị hành hung ngày 4-9, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông (TT-TT) Trương Minh Tuấn đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Thái Nguyên có biện pháp bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật.

 
 
  • Bắt 2 kẻ chém nhà báo của Đài PTTH Thái Nguyên giữa đường

    Bắt 2 kẻ chém nhà báo của Đài PTTH Thái Nguyên giữa đường

  • Khởi tố vụ nhà báo Đài PT-TH Thái Nguyên bị chém

    Khởi tố vụ nhà báo Đài PT-TH Thái Nguyên bị chém

Ông Nguyễn Ngọc Quang nhập viện với 8 vết thương trên người
Ông Nguyễn Ngọc Quang nhập viện với 8 vết thương trên người

“Đây là vụ việc hết sức nghiêm trọng. Côn đồ hành hung nhà báo ngay giữa ban ngày, lúc đông người, rất liều lĩnh và coi thường pháp luật. Do vậy, các cơ quan chức năng tỉnh Thái Nguyên cần nhanh chóng làm rõ sự việc” – ông Tuấn nói. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, Bộ TT-TT đề nghị Hội Nhà báo Việt Nam lên tiếng mạnh mẽ, kêu gọi bảo vệ nhà báo tác nghiệp, động viên tinh thần kịp thời.

Làm rõ thêm về nhiều vụ việc nhà báo bị hành hung khi tác nghiệp, Thứ trưởng Trương Minh Tuấn cho rằng mức độ nặng nhẹ khác nhau nhưng đây là tình trạng báo động. Dẫn điều 15 Luật Báo chí, Bộ TT-TT nhấn mạnh: “Nhà báo được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Không ai được đe dọa, uy hiếp tính mạng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo; phá hủy, thu giữ phương tiện, tài liệu, cản trở nhà báo hoạt động nghề nghiệp đúng pháp luật”.

Liên quan đến vụ việc trên, ông Hồ Quang Lợi, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam, khẳng định: “Dù bất cứ nguyên nhân gì thì hành động hành hung nhà báo như vậy là vô cùng nghiêm trọng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật cần khẩn trương điều tra, xác minh làm rõ, phải trừng phạt nghiêm khắc kẻ gây ra tội ác và chắc chắn đây là tội ác có tổ chức. Những ai chủ mưu của việc này cũng phải được làm rõ”.

Cũng theo ông Lợi, đây không phải là lần đầu tiên các nhà báo bị hành hung, điều này đòi hỏi cơ quan chức năng phải vào cuộc quyết liệt để các nhà báo được tác nghiệp trong một môi trường luật pháp nghiêm minh. “Việc khủng bố các nhà báo chính là khủng bố dân chủ và vi phạm trực tiếp đến quyền được thông tin của người dân, của xã hội. Vì vậy, bảo vệ các nhà báo chính là bảo vệ dân chủ, đấy là bảo vệ quyền tự do thông tin, tự do báo chí và quyền được thông tin của người dân, của xã hội và đây là bảo vệ luật pháp” – ông Lợi bày tỏ.

Ngay sau khi xảy ra vụ việc liên quan đến vợ chồng nhà báo Nguyễn Ngọc Quang bị hành hung, Hội Nhà báo Việt Nam cũng đã có văn bản gửi Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan chức năng tỉnh Thái Nguyên đề nghị điều tra làm rõ và có biện pháp xử lý thích đáng. Bà Hà Kim Chi, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Kiểm tra Hội Nhà báo Việt Nam, nói: “Đây là hành vi côn đồ đặc biệt nguy hiểm, xâm hại tính mạng của người làm báo, gây bức xúc trong dư luận,”.

Bảo Trân

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Blogger Tạ Phong Tần được trả tự do, đang trên đường đến Mỹ

Posted by hoangtran204 trên 20/09/2015

Người Việt

19-9-2015

H1WESMINSTER, Calif. (NV) – Tin từ Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do cho biết  Blogger Tạ Phong Tần, chủ trang blog Công Lý và Sự Thật, đồng sáng lập viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, vừa được trả tự do và đang trên đường đến Mỹ.

Báo tin cho nhật báo Người Việt, blogger Điếu Cày, người được đưa thẳng từ nhà tù đến Hoa Kỳ tháng Mười năm ngoái, bày tỏ:

“Tin Tần được trả tự do là món quà lớn nhất cho Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do trong đúng ngày kỷ niệm sinh nhật 8 năm thành lập của Câu Lạc Bộ. Chúng tôi hết sức vui mừng! Đây cũng là kết quả của bao nỗ lực vận động của nhiều tổ chức đấu tranh khắp nơi. Đặc biệt Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã hết sức tích cực trong việc thúc đẩy đưa Tần ra khỏi nhà tù cộng sản.” 

Blogger Tạ Phong Tần bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt giam năm 2011, và bị kết án 10 năm tù vì tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” theo  điều 88 của bộ luật hình sự, được cho là mơ hồ của Việt Nam. Thân mẫu của blogger Tạ Phong Tần, bà Đặng Thị Kim Liêng, đã vì uất ức thương con mà tự thiêu và qua đời cuối tháng Bảy, năm 2012.

Chúng tôi sẽ tiếp túc cập nhật tin tức. (HG)

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Tính chính đáng của đảng Cộng sản…Sự thật thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2015

Tinh chính đáng của ĐCS

Nguyễn Hưng Quốc – VOA

07-9-2015

communist-300x199

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước; hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của đảng Cộng sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách mạng tháng Tám”, tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/ năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có đảng Cộng sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì đảng Cộng sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: những người dân bình thường rất chán ghét chế độ cộng sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như đảng Cộng sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do đảng Cộng sản thường nêu lên để biện minh cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

———-

Tính chính đáng của đảng cộng sản theo sinh viên Nguyễn Sơn phát biểu và đang được gần 1 triệu 500 ngàn người lắng nghe như sau

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Quốc Hội: Chưa thấy quyền tự do báo chí công dân

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2015

17-9-2015

Tuổi Trẻ Đó là ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý tại cuộc thảo luận ngày 17-9, khi Bộ Thông tin và truyền thông trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án Luật báo chí (sửa đổi).

Nghe đọc bài: Chưa thấy quyền tự do báo chí công dân
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý – Ảnh: Việt Dũng

Chúng ta dường như chỉ đang đề cập đến báo chí và nhà báo thôi, chứ không thấy đề cập quyền tự do báo chí của công dân

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật PHAN TRUNG LÝ

Trình bày quan điểm của thường trực Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Chủ nhiệm Đào Trọng Thi khẳng định: “Luật báo chí sau 16 năm thi hành bộc lộ nhiều bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn.

Đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, cùng sự phổ biến của mạng xã hội làm cho hoạt động báo chí thay đổi cả về phương thức làm báo, hình thức chuyển tải nội dung thông tin và cách thức tiếp cận thông tin của người dân.

Nhiều quy định trong Luật báo chí hiện hành đã trở nên lạc hậu, thiếu tính khả thi, đòi hỏi phải đổi mới để đáp ứng tình hình mới”.

“Phức tạp, nhạy cảm”

Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Bắc Son nói: “Có thể nói rằng đây là một luật phức tạp, nhạy cảm. Ngay đến việc chúng tôi đang xây dựng cái quy hoạch báo chí đã thấy phức tạp rồi.

Đây là quy hoạch do Chính phủ phê duyệt nhưng cũng phải thông qua Bộ Chính trị, trình trung ương cho ý kiến hai lần rồi, nhưng đến giờ phút này cũng chưa phê duyệt được chính thức”.

Bộ trưởng cho biết: “Khi hội thảo, rất nhiều người, nhiều nhà khoa học nói bây giờ tự do báo chí thì dẫn đến phải có tư nhân hóa, tư nhân làm báo chí. Nhưng tại sao trong dự thảo luật không quy định tư nhân làm báo chí? Đây là câu hỏi rất lớn.

Chúng tôi phải dẫn các văn bản của Đảng, gần đây là văn bản truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị về quy hoạch báo chí. Trong đó nêu rõ báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt của Đảng và Nhà nước, Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này.

Phải quán triệt báo chí của chúng ta là báo chí cách mạng, báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật”.

Trong khi đó, ông Đào Trọng Thi cho biết: “Qua giám sát, thường trực ủy ban nhận thấy hiện nay có quá nhiều cơ quan báo chí do các cơ quan nhà nước thành lập và cấp kinh phí hoạt động, làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Nhưng dự thảo luật không có những quy định nhằm khắc phục tình trạng này mà lại duy trì cơ chế bao cấp.

Thường trực ủy ban cho rằng dự thảo luật cần có những quy định theo hướng sắp xếp, tổ chức lại hệ thống các cơ quan báo chí, đặc biệt là các cơ quan báo chí của cơ quan, tổ chức hưởng ngân sách nhà nước nhằm nâng cao chất lượng báo chí và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước”.

“Tránh can thiệp 
quá sâu”

Liên quan đến trách nhiệm của cơ quan chủ quản báo chí, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho rằng quy định người đứng đầu cơ quan chủ quản phải chịu trách nhiệm về sai phạm của cơ quan báo chí là rất khó.

“Tôi có thời gian mười năm làm ở Trung ương Đoàn, đây là cơ quan có nhiều báo, cũng từng đi kiểm điểm sai phạm. Tôi thấy làm sao có thể đòi hỏi tổng biên tập phải báo cáo nội dung tin bài với bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn trước khi xuất bản?

Bây giờ người ta xuất bản tin bài trên báo điện tử từng phút, làm sao cơ quan chủ quản phải chịu trách nhiệm đến từng tin, bài khi mà cơ quan chủ quản không kiểm duyệt? Tôi thấy rằng tổng biên tập phải có trách nhiệm rất lớn trước các nội dung đưa lên báo” – bà Mai bày tỏ.

“Hiến pháp quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nhưng đọc dự thảo thì tôi thấy nội dung chỉ chú trọng đến nghề làm báo, rồi làm thế nào để quản lý báo chí, chứ không phải là để thể hiện quyền tự do báo chí của công dân.

Chúng ta dường như chỉ đang đề cập đến báo chí và nhà báo thôi, chứ không thấy đề cập quyền tự do báo chí của công dân” – Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý bình luận.

Trong khi đó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước đề nghị làm rõ thực trạng kinh tế thị trường ảnh hưởng thế nào đến tổ chức, hoạt động của cơ quan báo chí, ảnh hưởng đến mối quan hệ của cơ quan báo chí với các chủ thể khác thế nào.

Đồng thời phải chỉ rõ là làm luật này thì hoạt động báo chí của VN hội nhập với thế giới như thế nào, bởi vì nhiều lĩnh vực khác chúng ta đã hội nhập rồi.

Trưởng Ban Dân nguyện Nguyễn Đức Hiền lưu ý luật này là Luật báo chí chứ không phải là Luật quản lý báo chí. Do đó phải thể hiện quyền tự do báo chí của người dân thế nào để tạo điều kiện cho công dân tham gia hoạt động báo chí.

“Tôi đọc báo điện tử thấy các phản hồi của người dân rất có giá trị, tiếng nói lạc lõng thì ít thôi, còn lại đều là tiếng nói đóng góp thiết thực, chân tình” – ông nói.

Dự án luật sẽ được trình Quốc hội thảo luận vào kỳ họp 
tháng 10.

Chẳng lẽ cái gì khó thì không quản lý?

Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son cho biết: “Một số trang thông tin điện tử, mạng xã hội hiện nay không thuộc điều chỉnh của luật này. Nếu chúng ta thừa nhận thì vô hình trung chúng ta thừa nhận trang tin điện tử, blog cá nhân là báo chí.

Như vậy là chúng ta lại thừa nhận có báo chí tư nhân. Có một số trang thông tin điện tử, blog cá nhân hoạt động như báo chí nhưng không phải là báo chí, cái ranh giới rất là hẹp. Các loại hình này chúng tôi đề nghị sẽ điều chỉnh bằng một nghị định”.

Chưa hài lòng với cách giải thích này, ông Ksor Phước và Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Phan Xuân Dũng cho rằng đã là những loại hình liên quan đến báo chí, đến quyền tự do báo chí thì cần được điều chỉnh trong luật này.

“Tại sao các trang tin, mạng, blog lại không đưa vào đây, chẳng lẽ cái gì khó thì không quản lý à?” – ông Phan Xuân Dũng nêu câu hỏi.

LÊ KIÊN

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Thái Bình: công dân tham gia hoạt động Xã hội Dân sự bị mất tích

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

TMCNN

Huyền Trang

17-9-2015

Dân oan Lê Văn Đài, sống tại tỉnh Thái Bình, bị mất tích từ ngày 02.09 cho đến nay, gần 14 ngày vẫn chưa có thông tin gì về ông.

GNsP (17.09.2015) – Một dân oan từng huy động hơn 100 dân oan khác ở tỉnh Thái Bình biểu tình đòi quyền lợi và tố cáo cán bộ tham nhũng, bị mất tích gần 14 ngày, sau khi ông tham gia các hoạt động Xã hội dân sự.

Đó là Dân oan Lê Văn Đài, thường trú tại xã Nam Trung-huyện Tiền Hải-tỉnh Thái Bình, bị mất tích từ ngày 02.09.2015 cho đến nay đã gần 14 ngày. Bà Ngát, vợ ông Đài đi làm thuê cho một xí nghiệp may, cho GNsP biết:

“Nhà tôi làm việc ở xí nghiệp sản xuất giấy Nam Hải-tỉnh Thanh Hóa. Vào ngày 06.09, xí nghiệp gọi điện thoại cho tôi hỏi là anh Đài có ở nhà không, thì tôi nói là anh Đài đi làm và họ nói là anh Đài không đi làm, không có mặt ở công ty 4 ngày rồi. Bên xí nghiệp họ trình lên công an tỉnh Thanh Hóa nhưng họ nói không có thông tin gì của anh Đài. Khi nghe tin gia đình tôi lo lắng lắm, đã báo với công an tỉnh Thái Bình nhưng họ nói không có thông tin gì cả. Bây giờ, gia đình tôi không biết anh ấy đang ở đâu?”.

Một người bạn từng tranh đấu với ông Đài và quan tâm đến vụ việc của ông xin được giấu tên cho biết thêm: “Vào ngày 02.09, xí nghiệp nơi ông Đài làm việc tổ chức ăn liên hoan mừng Quốc khánh. Trong khi đợi tiệc, ông Đài nhận được một cú điện thoại của người quen cần gặp gấp. Ông Đài xin phép ông giám đốc và nói rằng sẽ quay trở lại dự tiệc. Nhưng, từ lúc đó, không thấy ông Đài quay trở lại công ty làm việc nữa. Sau 4 ngày, xí nghiệp không thấy ông Đài đâu nên đã báo về cho gia đình ông Đài biết.”

Hiện nay, gia đình bà Ngát đã trình lên các cơ quan chức năng có thẩm quyền ở tỉnh Thanh Hóa -nơi ông Đài làm việc và tỉnh Thái Bình -nơi gia đình cư trú, nhưng vẫn chưa có một thông tin gì về ông Đài.

Một nguồn thông tin chưa được kiểm chứng cho GNsP biết, ông Đài “bị công an A88 tạm giữ”.

Ông Lê Văn Đài là ai?

Ông Đài đã từng tố cáo cán bộ tỉnh Thái Bình tham nhũng trong việc đất đai, thu tiền điện sai nguyên tắc… Người bạn của ông Đài kể: “Ông đã từng tố cáo cán bộ tham nhũng, rút ruột công trình xây dựng nông thôn mới… với tổng số tiền lên đến 36 tỷ đồng. Tại xã Nam Hồng, ông tố cáo cán bộ thu tiền điện của bà con sai nguyên tắc, thu dư hơn 600 triệu đồng”.

Trong số những lần phanh phui việc làm sai trái của cán bộ, những con ‘cò mồi’ của quan chức đã thương lượng với ông Đài rằng, nên im lặng và họ sẽ cho ông một khoản tiền, nhưng ‘ông không chấp nhận, kiên quyết đấu tranh’, bạn ông Đài nói.

“Ông Đài từng lên án cán bộ tỉnh Thái Bình có hành vi bao che cho tội phạm, không điều tra làm rõ vụ việc khi tội phạm có hành vi hiếp dâm một đứa trẻ 14 tuổi. Ông Đài vận động nhiều người lên tỉnh biểu tình, để đòi lại công bằng cho cháu bé. Ông là một con người dũng cảm, có tấm lòng muốn cho xã hội được công bằng và đẩy lùi những cái xấu”. Bạn ông Đài kể tiếp.

Gia đình ông Lê Văn Đài xuất thân từ Dân oan bị mất đất, đi khiếu kiện nhiều năm nhưng không có kết quả. Nhiều lần, ông đã quy tụ nhiều bà con dân oan biểu tình để đòi lại những quyền lợi chính đáng. Bạn ông Đài kể: “Ông Đài là một người đấu tranh có uy tín ở vùng Tiền Hải. Ông là người liên kết dân oan ở tỉnh Thái Bình, huy động cả trăm người lên Hà Nội biểu tình trước trụ sở công an, Ban tiếp Công dân của chính phủ. Thậm chí, ông đã từng tổ chức cho khoảng 80 người biểu tình khiếu kiện dài ngày trước số 1 Ngô Thời Nhiệm.”

Hiện nay, vợ chồng ông có ba người con nhỏ đang trong độ tuổi đi học, chăm sóc mẹ già và gia cảnh khó khăn, nhưng ông Đài không quản ngại những việc khó khi người khác nhờ. Điều này được chính vợ ông Đài khẳng định ông là một người tốt. “Nhà tôi rất hiền lành, tốt bụng, hay giúp đỡ người nghèo, thương người lắm. Ở trong nhà chỉ có mấy vo gạo thôi thế mà ai hỏi là nhà tôi cho liền.” Bà Ngát nghẹn ngào nói.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

► Nhìn lại vụ án 13 người dân Thạnh Hoá tỉnh Long an Cố ý gây thương tích và chống người thi hành công vụ

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

– Trương Minh Tam

Dân Luận

18-9-2015 Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Việt Nam thuê công ty tư vấn Trung Quốc lập quy hoạch đảo Lý Sơn!

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

Ngọc Thu

17-9-2015

Bài báo Thanh Niên ngày 15-9-2015 có tựa đề: “Thuê tư vấn Singapore lập quy hoạch đảo Lý Sơn“. Bài báo cho biết, công ty tư vấn Singapore này chính là Tập đoàn CPG.

Nhưng, chủ sở hữu của CPG chính là tập đoàn China Architecture Design and Research Group (CAG), một công ty thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc. CPG không phải là đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch hàng đầu của Singapore như thông tin trong bài báo nêu ra.

CPG Corp (tên đầy đủ là CPG Corporation Pte Ltd) từng thuộc sỡ hữu của Temasek Holdings, với 100% vốn của Bộ Tài chính Singapore. Năm 1999, Temasek Holdings trở thành công ty cổ phần, đến năm 2002 nó được đổi tên thành CPG Corporation và một năm sau đó năm 2003, Temasek Holdings đã bán CPG cho Downer EDI, một công ty của Úc, với giá 131 triệu đô la Singapore.

Đến năm 2012Downer EDI bán CPG Corp cho công ty China Architecture Design and Research Group (CAG), một công ty thiết kế và huy hoạch lớn nhất của chính phủ Trung Quốc, với giá 147 triệu Úc kim.

Như vậy, CPG là công ty thuộc sỡ hữu của chính phủ Trung Quốc, không phải công ty của Singapore như thông tin trong bài báo nêu ra.

____

Thanh Niên

Thuê tư vấn Singapore lập quy hoạch đảo Lý Sơn

Hiển Cừ

15-9-2015

Sáng 14.9, đại diện Tập đoàn CPG, đơn vị tư vấn thiết kế và quy hoạch hàng đầu của Singapore, làm việc với UBND tỉnh Quảng Ngãi để báo cáo những đề xuất về quy hoạch tổng thể mang tính chiến lược cho huyện đảo Lý Sơn.

Ông Lê Viết Chữ, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh lưu ý đảo Lý Sơn phải được quy hoạch có chất lượng với tầm nhìn dài hạn để có thể phát triển mạnh về kinh tế, vững chắc về an ninh quốc phòng. “Việc lập quy hoạch cần phải tính đến thế mạnh về kinh tế biển, du lịch, bảo tồn di tích, hệ sinh thái, gắn kết biển đảo với đất liền và các vùng phụ cận, mở rộng không gian mặt biển, nhất là ngư trường truyền thống của ngư dân đất đảo từ bao đời nay ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, ông Chữ nhấn mạnh đồng thời đề nghị CPG sớm hành động xây dựng đề cương, xác định tiến độ thực hiện.

Đầu tháng 8.2015, UBND tỉnh phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch xây dựng huyện đảo Lý Sơn đến năm 2025, với mục tiêu phát triển đảo Lý Sơn theo hướng trở thành đô thị biển xanh kết hợp phát triển kinh tế biển, du lịch sinh thái biển với đầu tư xây dựng khu vực phòng thủ, bảo đảm vững chắc về quốc phòng, an ninh. Tỉnh ủy thống nhất cho UBND tỉnh thuê các nhà tư vấn Singapore lập quy hoạch tổng thể cho đảo.

———————

Trích: ”  Ông cũng tiết lộ nhà nước theo dõi một thương gia nước ngoài về làm ăn rất lâu và rất sâu vì chính ông bị moi ra chuyện quan hệ với một thiếu nữ Trung Quốc ông quen đã lâu, giờ không còn nhớ mà họ vẫn để ý.”  Alan Phan

Công ty Trung Quốc CPG, là anh em của các ủy viên bộ chính trị, nên bộ công an và bộ quốc phòng của Hà Nội không cần phải điều tra. Nhưng Việt kiều về làm ăn tại VN là bị công an điều tra theo dõi rất kỷ.

Tiến sĩ Alan Phan và trải nghiệm kinh doanh

Tác giả: GS Bùi Văn Phú –

VOA Tiếng Việt –

 31 Aug  2015

Không ít người Mỹ gốc Việt đã về Việt Nam làm ăn. Có người thành công, nhưng đa số thất bại. Thất bại không nói ra, nhưng thành công cũng không ai khoe vì không biết có bền lâu hay không.

Tiến sĩ Alan Phan thì khác. Ông đã trải nghiệm mấy chục năm trên thương trường quốc tế, từ châu Mỹ, châu Phi sang châu Á với thất bại cũng như thành công. Những kinh nghiệm làm ăn đã được ông ghi lại qua mười một đầu sách. Hai tác phẩm mới nhất là Doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu (600 trang) và 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc (300 trang) – gồm nhiều bài đã đăng trên Blog gocnhinalan.com – được ra mắt tại hội quán báo Thằng Mõ ở San Jose vào trưa Chủ nhật 23/8.

Trên 100 khách đã đến tham dự, trong đó có nhiều doanh nhân vùng Vịnh San Francisco như ông David Dương, Tổng giám đốc California Waste Solution; ông Trần Hồng Phúc Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam Oakland; ông Đỗ Vẫn Trọn của Truyền hình Viên Thao; ông Nguyễn Xuân Nam của TV và báo Calitoday; ông Huỳnh Lương Thiện của Tuần báo Mõ SF.

Ngoài ra còn có cựu phó thị trưởng Madison Nguyễn, kĩ sư Đỗ Thành Công và ủy viên giáo dục Vân Lê, là ba ứng cử viên cho chức Dân biểu Tiểu bang Địa hạt 27 vào năm tới. Còn lại đa số là các bạn trẻ, trong đó có những sinh viên du học đến từ Việt Nam.

alan Phan VOA photo
Bài nói chuyện của Tiến sĩ Alan Phan xoay quanh thương trường Việt Nam và những cơ hội. Theo ông, đầu tư đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kế hoạch và tùy thuộc nhiều vào nhà nước, trong khi kinh doanh là môi trường hoạt động thoáng hơn và dễ thành công hơn.

Ông mô tả: “Việt Nam là một môi trường giới hạn, không phải muốn gì thì làm nấy. Tình hình còn mù mờ. Xã hội Việt Nam so với Mỹ thì thật là bát nháo và hỉ nộ ái ố hơn. Không ở đâu buồn cười như ở Việt Nam. Mở tờ báo ra đọc là thấy đính chính tôi không bị bắt. Như mới đây ông Trần Phương Bình của Đông Á Ngân hàng phải lên tiếng. Rồi ông Đặng Thành Tâm cũng lên tiếng đính chính là chưa bị bắt.”

Câu nói vui đùa của Tiến sĩ Alan: “Tôi cũng đính chính với các bạn đây là tôi không bị bắt” đã đem đến cho khách dự một tràng tiếng cười.

Theo ông, nhiều người Việt hải ngoại về Việt Nam có những lí do riêng, gái gú cũng có, kỉ niệm ngày xưa cũng có, thắng cảnh cũng có. Quê hương cũ có một sự quyến rũ nào đó.

Nếu đó là một nơi có thể sống được, kiếm được tiền thì rất thoải mái. Ở đó có những niềm vui và những điều tiêu cực. Nhưng nói chuyện làm ăn là cần có sự may mắn và phải có quan hệ.

“Nếu về làm ăn tôi khuyên là người độc thân, về đó gặp con cán bộ là kết hôn ngay vì quan hệ rất quan trọng trong làm ăn được thua ở Việt Nam. Phải có người chống lưng, có gốc rễ.”

Ở Mỹ thì khách hàng là số một, còn ở Việt Nam, theo quan sát của ông: “Khách hàng là quan chức nhà nước. Nếu mấy ông đó thích thì sẽ bán được nhiều hàng, làm ăn lên rất lẹ. Nếu mấy ông không thích thì ô hô ôm passport lo chạy về Mỹ.”

Nội bộ lãnh đạo với tranh giành phe nhóm cũng ảnh hưởng lớn đến kinh doanh. Mình đứng về phiá thua thì coi như không còn gì.

Tiến sĩ Alan nhắc đến sự kiện ông Hà Văn Thắm là phe của …., khi ông này mất thế thì giá cổ phiếu Ocean Group của công ti do ông Thắm điều hành đang từ 100 nghìn đồng rớt xuống 1 nghìn, ngân hàng bị nhà nước mua lại với giá coi như cho không.

Ông cũng tiết lộ nhà nước theo dõi một thương gia nước ngoài về làm ăn rất lâu và rất sâu vì chính ông bị moi ra chuyện quan hệ với một thiếu nữ Trung Quốc ông quen đã lâu, giờ không còn nhớ mà họ vẫn để ý.

Nói đến các khu vực kinh doanh có triển vọng, theo nhận định của Tiến sĩ Alan thì đó là IT và nông nghiệp.

IT không cần hạ tầng cơ sở và thành phần trẻ có đam mê và ao ước làm được cái gì đó tốt đẹp cho thương hiệu Việt Nam thay vì cứ sao chép hay ăn cắp bản quyền.

Ông nói: “Phát triển IT vì quan chức không quản lý được , email không biết, software nói với mấy ông ấy như nói với vịt. Ít hạ tầng cơ sở nên mấy ông ấy không kiếm tiền được.”

IT khó kiểm soát vì tài khoản có thể đặt ngoài Việt Nam, tránh được bộ máy hành chánh chỉ đòi tiền. IT cần đột phá, sáng tạo, không cần gia truyền hay cổ truyền, tư duy luỹ tre làng bị gạt qua một bên. Đây là con đường mới cho giới trẻ, thời trang đối với Việt Nam nên họ rất hâm mộ.

Còn nông nghiệp, ngày nay không phải là sản xuất mà là tìm kiếm được thị trường. Nông phu tranh nhau đi chăn nuôi, trồng trọt nhưng tìm được thị trường rất khó vì nếu mình bán rẻ 10%, nước khác bán rẻ 20% hay 30% thì không thể cạnh tranh nổi.

Nhiều nước đã có sản xuất qui mô, công nghệ cao trong khi Việt Nam chưa đạt tới trình độ đó thì cũng khó cạnh tranh. Để tìm được thị trường cần có hàng đặc thù, trong khi nhà nước không giúp gì được vì chỉ lo “hành dân là chính”, vì thế giới trí thức có thể làm được việc này. Sau đó phải có trung gian tiếp thị, về mặt này người Việt ở hải ngoại đóng góp vai trò quan trọng.

Như người Tàu họ có chuỗi dây phân phối rất hữu hiệu. Nhưng nay với công nghệ thông tin, vai trò của người trung gian cũng đang giảm đi, thông tin về mặt hàng có thể tìm thấy trên mạng.

Đó là những lí do tại sao Tiến sĩ Alan Phan nhấn mạnh đến hai khu vực IT và nông nghiệp để Việt Nam có thể cạnh tranh và có những tiến bộ hơn về kinh tế.

Vì sao lại là hai khu vực đó? Theo ông, với dân số hơn 90 triệu, xã hội Việt Nam ngày nay gồm những nhóm sau:

1/ Những người của thế giới kỹ thuật số, họ sống xa lánh hoàn toàn với thế giới bên ngoài, biết được những thứ mà dân thường không biết, họ khao khát có tiến bộ cho đất nước. Số người trẻ này khoảng 6 đến 10 triệu.

2/ Nông dân từ 30 đến 40 triệu, chỉ lo kiếm sống và mong muốn đời sống được cải thiện một chút.

3/ Quan chức cán bộ, hơn 3 triệu. Đối với những người này, cứ trả lương cho họ nằm nhà là tốt nhất cho dân.

4/ Thành phần còn lại là những người không làm mà vẫn ăn, suốt ngày đi nhậu rồi về nhà đánh vợ, ù lì đến độ không còn chút hy vọng gì vào đám người này.

Vì thế tạo cơ hội phát triển cho hai thành phần IT và nông dân sẽ là những mũi nhọn đưa kinh tế Việt Nam đi lên.

Là người với nhiều kinh nghiệm làm ăn trên thương trường quốc tế, ông cũng đã đầu tư vào Việt Nam 2 triệu đô-la và mất hết. Những năm qua Tiến sĩ Alan Phan đã làm tham vấn hướng dẫn cho doanh nhân Việt biết cách làm ăn theo lối Mỹ.

Tuy nhiên, trong nhiều cuộc phỏng vấn ông đã nói bạo khiến quan chức nhà nước không vui: “Mình nhìn sao nói vậy nên có hơi sốc với nhiều người nên bây giờ nhà nước không cho tôi có những phát biểu trực tuyến nữa. VTV có phỏng vấn tôi 30 phút, sau khi cắt xén đi còn chừng 3 phút.”

Ông nói: “IT không cần nhiều cơ sở hạ tầng. Mấy ông quan chức rất khôn lanh, xây cầu đường, tượng đài họ chia nhau được. Mức độ trù phú của miếng bánh cắt riết mà cái bánh ngày càng nở ra. Người ta đang ăn ngon thế này thì sao đòi được. Được cái mấy ông chỉ đi vay, rồi ăn bớt ăn xén cái đó. Dân mình chịu nợ thôi. Mà tính quịt là muôn đời của người Việt Nam. 15 năm sau có nước nào đòi nợ thì chỉ còn cái quần cụt thì không có gì để đòi được nữa.”

Ông kể, một quan chức cao cấp nói thằng nào ngu cho vay thì mình cứ lấy tiền đó mình xài. Người dân họ không biết, cứ để cho dân uống bia tự do là thoải mái rồi, họ không thắc mắc gì.

Về những người từ Mỹ về đầu tư, nhắc đến ông David Dương, Tiến sĩ Alan Phan phát biểu: “Tôi nghe ông về xử lí rác thì tôi thích thú lắm. Mong ông xử lí rác ở Ba Đình thì ông lại xử lí rác ở đâu Đa Phước. Mong một ngày ông sẽ đưa cả nước vào đống rác của ông ấy”. Hội trường òa lên những tiếng cười.

Tiến sĩ Alan Phan du học Mỹ từ năm 1963, năm 1968 ông về nước và đã làm chủ  nhiều công ti thời Việt Nam Cộng hòa với số công nhân lên đến 18 nghìn.

Năm 1975 ông ra nước ngoài, có lúc điều hành công ti trên sàn chứng khoán với tài sản 700 trăm triệu đô-la. Cuộc đời nhiều thăng trầm và nay đã 70 tuổi, với tài sản chắc cũng vài chục triệu đô-la. Nhưng nếu gặp ông ngoài đường, qua trang phục ông mặc hôm ra mắt sách, với áo vét quần jean thùng thình, không cà-vạt, đi giầy ba-ta, có ai biết ông là một doanh nhân triệu phú.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, Californi

Posted in Cướp Đất Đai | Leave a Comment »

►Những người dân oan VN dám đứng lên đòi quyền con người, đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc, chống áp bức, bóc lột (Võ Thị Hảo)

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

Nhà văn Võ Thị Hảo trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành

17-9-2015

Lời giới thiệu: Áp đặt ách thống trị chuyên chính vô sản lên cả đất nước Việt Nam, suốt 40 năm qua nhà cầm quyển cộng sản đã đẩy đất nước lâm vào cảnh ngày càng tụt hậu, các quyền con người bị chà đạp.

Không cam chịu kiếp sống dưới chế độ công an trị của nhà cầm quyền cộng sản, người dân đã đứng lên đấu tranh bằng nhiều hình thức chống lại giặc ngoại xâm là Trung Quốc xâm lược và giặc nội xâm là giới bạo quyền cộng sản Việt Nam hèn với giặc, ác với dân.

40 năm qua xã hội Việt Nam xuất hiên môt từ ngữ mới “Dân Oan”. Họ là hàng chục triệu người từ Nam ra Bắc, từ thành thị đến nông thôn bị giới bạo quyền cộng sản tước đoạt các quyền sống của con người. Họ cũng là nạn nhân của Trung Quốc xâm lược lấn chiếm biên giới, biển đảo. Những người dân oan đã đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chống thù trong, giặc ngoài, chống áp bức, bóc lột, đòi lại các quyền của con người mà mình phải được hưởng.

Nhà văn Võ Thị Hảo đã nói lên những suy nghĩ của mình về dân oan Việt Nam đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chống áp bức, bóc lột qua cuộc phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành.

Nội dung như sau – Mời quí vị cùng nghe:

Trần Quang Thành (TQT): Nhà văn Võ Thị Hảo là một trong những người tham gia rất sôi nổi.trong các hoạt động xã hội dân sự.

Hiện nay có nhiều người bàn tán khác nhau về hoạt động xã hội dân sự. Có người bảo rằng đây là một hoạt động chính trị. Có người bảo rằng đây là hoạt động đơn thuần về vấn đề an sinh xã hội, về các vấn đề khác như môi trường chứ không phải là vấn đề chính trị.

Nhà văn Võ ThịHảo quan niệm thế nào về hoạt động xã hội dân sự hiện nay?

Võ Thị Hảo (VTH): Thưa anh, tôi nghĩ hoạt động xã hội dân sự cũng như nhiều hoạt động cuả con người trong một xã hội thực sư là một hoạt động chính trị. Đương nhiên nó mang tính xã hội hay tính dân sự nhưng rõ rang đấy là một hoạt động chính trị.

Chúng ta thấy người Việt Nam lâu nay vẫn rất sợ hãi cái từ gọi là hoạt động chính trị. Đó là một quan niệm hết sức cổ lỗ. Quan niệm ấy từ hồi phong kiến, từ hồi cộng sẩn đã reo rắc cho những người dân ở đất nước của họ, đặc biệt là ở Việt Nam để cho người ta sợ hãi cái từ là làm chính trị. Là vì làm chính trị là gắn với thiệt thòi, bị tàn sát, tù đầy. Cách người ta nô lệ hóa người dân là làm cho người dân làm cái gì cũng sợ liên quan đến chính trị. Nhưng nếu chúng ta đã đọc nhiều danh ngôn, đọc nhiều luận văn, đọc nhiều nhân xét của danh nhân trên thế giới, chúng ta thấy rằng nếu một con người ở trong một xã hội mà không quan tâm đến chính trị thì đấy chưa phải là thực hiện đúng cái quyền của mình, trách nhiệm, bổn phận của mình trước xã hội. Bởi vì chính trị nó không phải là những người ngồi trên cao hay là những cuộc đấu tranh, cuộc chiến đấu đổ máu mà thực sự nó ăn vào từng gia đình. Nó có thể tàn hại từng gia đình, từng ngõ ngách của tâm hồn. Bởi vậy chúng ta ai cũng phải cố gắng cho một nền chính trị lành mạnh và minh bạch.

Tôi nghĩ hoạt động xã hội dân sự đương nhiên là một hoạt động chính trị mà mỗi người cần phải làm, cần phải tham gia.

TQT: Hoạt động xã hội dân sư ở Việt Nam rất đa dạng Có hoạt động xã hội dân sự thuộc lề Đảng. Tức là những tổ chức xã hội dân sự do nhà nước đẻ ra và nuôi nó bằng tiền ngân sách tức là tiền thuế của dân và họ hoạt dộng để phục vụ cho nhà nước cộng sản. Bên cạnh đó có những hoạt động xã hội dân sự người ta gọi là hoạt động xã hội dân sự độc lập, những người độc lâp đấu tranh để mang lại lợi ích cho người dân.

Trong xã hội dân sự độc lập đó cũng đang nẩy ra nhiều ý nghĩ khác nhau về hoạt động xã hội dân sự. Nhà văn Võ Thị Hảo bình luận sao về hoạt động dân sự phía lề Dân hiện nay?

VTH: Hai hệ thống khác hẳn nhau về hoạt động. Một bên là của các đoàn thể cũng là một cái dạng cướp đoạt tiền thuế của dân. Bời vì dân không được quyền chọn các hệ thống xã hội dân sự đó. Chẳng hạn như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, mặt trân tổ quốc hay hệ thống đảng chẳng hạn. Đấy là một hệ thống cực kỳ nặng nề. Dân Việt Nam bây giờ 1 cổ 3 tròng. Trong đó có 1 tròng rất lớn phải è cổ ra; bị bóc lột đến tận xương tủy để nuôi một hệ thống mà chẳng giúp ích gì cho người dân. Đội lốt hoạt động xã hội dân sự để quản lý, để đàn áp người dân; để hỗ trợ nhà cầm quyền độc tài. Đấy là một hệ thống theo tôi nghĩ nó sẽ mất dần theo thời gian. Cái gì không đồng hành với quyền lợi của người dân thì rõ ràng nó sẽ dần dần bị triệt tiêu khi mà có một thể chế tốt hơn. Rõ ràng chúng ta thấy họ chỉ được ăn tiền ngân sách để họ làm. Còn tác động vào người dân như thế nào thì không có. Đấy là hệ thống thứ nhất.

Hệ thống thứ hai là hoạt động xã hội dân sự độc lập. Hệ thống này do những người tự bỏ tiền túi ra do nguyện vọng muốn làm một việc gì đó tốt cho mình, tốt cho cộng đồng. Và càng hoạt động nhất là trong thời gian này càng mang thiệt thòi cho bản thân mình và gia đình. Điều đó được minh chứng hết sức nhiều và rõ ràng như chúng ta đã thấy.

Tôi nghĩ hoạt động này rất tốt. Nó thực sự có hiệu quả vì nó dần dần làm thay đổi suy nghĩ của người Việt Nam. Vì con người Việt Nam hay bất kỳ con người nào trên thế giới đều có quyền biểu lộ, đều có quyền đi theo sở thích của mình miễn là không hại đến cộng đồng. Như thế nó sẽ góp cho phong trào đòi lại quyền con người, quyền dân chủ. Nó sẽ tạo ra sức ép dần dần tạo ra một xã hội minh bạch, tự do và công bằng. Đầu tiên nó có thể còn yếu ớt. Thậm chí còn có người là công an trà trộn, đội lốt hoạt động xã hội dân sự. Tất nhiên bao giờ chẳng có. Như trong một bình nước có vi khuẩn. Tôi nghĩ chúng ta đừng sợ hãi điều đó. Hãy cứ đi đi vì lối ta đi rồi sẽ thành đường. Tôi nghĩ mọi người cần khuyến khích, cần ghi nhận, cần hoan nghênh.

TQT: Trong hoạt động xã hội dân sự hiện nay có người hoạt động cho dân chủ, có người hoạt động cho nhân quyền, có người hoat đọng cho môi trường, có người hoạt động cho công đoàn vv… Nhưng có một phong trào rất lớn phải chăng đó cũng là hoạt động xã hội dân sự. Họ là dân oan, lực lượng đông đến hàng triệu người mất đất, mất nhà, mất quyền làm việc, mất các quyền làm người. Họ đi đấu tranh để bảo vệ quyền lợi cho họ và họ cũng đấu tranh để bảo vệ đất nước như chống quân Trung Quốc xâm lược. Vậy tại sao trong các phong trào rất được sự quan tâm của các tổ chức quôc tế, được sự quan tâm của mọi người bảo vệ cho những hoạt động dân chủ. Còn những người dân oan hình như họ không được sự quan tâm đầy đủ của các tổ chức xã hội dân sự. Nhà văn Võ Thị Hảo nghĩ sao vấn đề này?

VTH: Tôi không biết được nguyên nhân thực sự là tại sao những người dân oan đã thành lập một cái hội rồi mà chưa được sự quan tâm của quốc tế. Tôi nghĩ có thể những người đứng đầu tổ chức này và những người trong cộng đồng phải quan tâm trả lời tại sao và cần phải thúc đẩy việc này.

Tôi nghĩ những người dân oan họ dám đứng lên để công khai hóa, minh bạch hóa đòi quyền con người của mình đấy là một điều cực kỳ tuyệt vời. Ở những nước văn minh hơn, có thể chế không đọc tài họ đã làm và chính vì mỗi công dân phải biết quyền con người của mình và đòi nó. Đó là một tác động cực kỳ lớn làm cho xã hội minh bạch. Sự minh bạch này tất cả chúng ta đều được hưởng. Những người già, những người đang sống, những người sắp sinh ra đều được hưởng điều đó. Chính những người dân oan họ đã làm điều đó và tôi nghĩ những người dân oan họ đấu tranh chốngTrung Quốc xâm lấn, họ kêu oan mất đất, mất nhà, bị chết trong đồn công an, những thày cô giáo tự dưng bị mất việc, bắt phải hối lộ mới có được công việc. Có cô bị bắt phải hối lộ tình dục. Hiện nay bao nhiều người Việt Nam hầu hết ai chẳng là dân oan. Bởi vậy khi mà mình lên tiếng ủng hộ người khác, hỗ trợ người ta khi người ta bị oan. Cái đó nó có ý nghĩa rất lớn lao.

Ỏ Việt Nam rất kinh khủng. Một người kêu oan có thể được ủng hộ, nhưng mà rất nhiều người xa lánh và sợ hãi họ vì sợ liên lụy đến mình. Thậm chí trong một cơ quan, một người phát hiện ra ông xếp hay đồng nghiệp ăn hối lộ hay làm cái gì sai thì lập tức bị cộng đồng hắt hủi, ghẻ lạnh, xa lánh. Đó là cực kỳ tệ. Cái đó là một sự man rợ. Cái đó tất nhiên không phải người Việt Nam sinh ra đã có. Nó do hệ thống giáo dục, hệ thống đàn áp 70 năm nay mà có. Kể cả hệ thống tư tưởng Khổng giáo nó tàn sát tinh thần của người dân Việt Nam. Bởi vì cái tàn sát linh hồn, trong đó có tàn sát lương tâm. Chúng ta có thể thấy hậu quả ngày nay người ta tàn sát người thân đủ thứ trên đời. Tất cả những cái đó là do người Việt Nam bị tàn sát linh hồn. Và khi bị tàn sát linh hồn thì bị tàn sát lương tâm.

Tôi nghĩ người Việt Nam cần phải khai sáng lại chính mình. Điều đó thì khó. Nhưng những người cầm bút, những người được học phải bình tĩnh, tập trung suy nghĩ lại mình đã làm được những gì cho cộng đồng.

Trở lại vấn đề dân oan, tôi thấy đây là một vấn đề cực kỳ lớn, nó rất quan trọng. Khi những nỗi uất ức của người dân oan nổi bùng lên nó làm dân dần thay đổi xã hội, thay đổi thể chế chính tri

TQT: Có một vài ông gọi là trí thức, gọi là dân chủ. Các ông ấy nhận thức là dân oan là vai u thịt bắp; là cổ cầy vai bừa. Họ chỉ biết đấu tranh cho quyền lợi bản thân họ, không làm được việc gì. lớn cho đất nước.

Nhà văn Võ Thị Hảo nghĩ sao về sự đánh giá của một vài nhà gọi là trí thức, dân chủ đó?

VTH: Những nhà trí thức, dân chủ nhận xét như anh vừa nói theo tôi nghĩ rất là ít. Và nếu có thì họ cũng chưa đúng. Tôi nghĩ chính họ cũng là dân oan mà. Thậm chí là dân oai rai rẳng hơn, dài lâu hơn. Bởi vì là một trí thức khi thật sự có năng lực ở trong một xã hội độc tài như xã hội Việt Nam. Khi mà chỗ làm việc đáng lẽ dành cho người tài thì lại bị tước đoạt mất cho những người con ông cháu cha, những người do quan hê quyền lực hoặc quan hệ do tiền bạc. Những người trí thức đó đã đến mức họ phải đưng ra đấu tranh cho bản thân họ trước. Và trong khi ta đấu tranh cho chính ta, cũng là đấu tranh cho cộng đồng. Bởi vậy chính họ là những dân oan rai rẳng lâu dài. Và bây giờ họ vẫn oan và sẽ còn oan lâu dài. Thế thì sao có thể nói cổ cày vai bừa hay là cổ thon vai mảnh?

Chúng ta sinh ra ở trên đời; Tạo hóa tạo ra chúng ta đều có lý. Chúng ta đều phải được đối xử bình đẳng như nhau và cần phải giúp đỡ nhau và dân oan là những người cần phải được giúp.đỡ cấp bách trước hết.

Tôi nghĩ trong khi chúng ta giúp đỡ dân oan tức là chúng ta giúp đỡ chinh ta đấy. Bởi vậy tại sao lại không hết lòng giúp họ?

Tôi nghĩ tất cả các tổ chức xã hội dân sự độc lập hiện nay có thể hoạt động manh mún, có thể là nhỏ. Nhưng tất cả chúng ta sẽ là một chùm. Chúng ta nhẫn nại, nhọc nhằn cùng đi tới đích. Cái đích chung ấy là trăm sông đổ về biển, đấy là tự do, dân chủ, hạnh phúc, phồn vinh cho người Việt Nam.Tôi nghĩ cần xem trọng từng chút, từng chút một

TQT: Có một vài người nào đó có một vài bài báo nổi lên bị công an bắt, nhà cầm quyền đàn áp. Tự nhiên họ nổi lên là nhà dân chủ, là blogger anh hùng và được cộng đồng đón tiếp, bảo vệ rất là chu đáo. Kêu gọi quốc tế ủng hộ, đấu tranh bảo vệ cho họ rất mãnh liêt. Nhưng có những dân oan đi khiếu kiện ngày này qua tháng khác; từ lúc tóc hãy còn xanh nay đã bạc phơ hầu như không có một tổ chức quốc tế nào, một tổ chức xã hội dân sự nào đứng ra bảo vệ cho họ. Tại sao lại như vậy?

VTH: Phát hiện của anh rất là quan trọng. Bởi vì chúng ta những người sống trong xã hội phải có trách nhiệm. Tôi nghĩ điều đó cũng còn bất công. Tuy nhiên những người đấu tranh là trí thức với cây bút, với phương tiện truyền thông họ đã thu lượm được. Tri thức về văn hóa, về xã hội, về tự do dân chủ, về chính trị thì tất nhiên họ có sức lan tỏa mạnh và với sức lan tỏa ấy cộng đồng quốc tế họ muốn bảo vệ để những người kia có thể tiếp tục cất lên tiếng nói của mình bảo vệ tự do ngôn luận, để nó làm thay đổi xã hội. Điều đó tôi không phủ nhận vì nó rất cần. Những người như thế cần được bảo vệ và bảo vệ càng nhiều càng tốt.

Tôi nghĩ những dân oan cần phải có những người tài giỏi, có tâm tổ chức lại để bảo vệ dân oan. Những ấn tượng, những ám ảnh về dân oan thật là kinh khủng nếu chúng ta biết nhìn nhận ra họ, nếu không chúng ta sẽ rất hời hợt không nhận ra đâu là những người dân oan. Chúng ta chính cũng không nhận ra thân phận của mình là những kẻ nô lệ. Chỉ nhìn bát cơm của mình đầy hay vơi thôi và chỉ một vài bộ quần áo như thế là thỏa mãn. Tôi nghĩ như thế phí một kiếp sống.

Tôi nghĩ anh đã là người phát hiện ra vấn đề, anh đã khơi ra, tôi cũng mong rằng chúng ta, anh và những phương tiên truyền thông hãy quan tâm vấn đề này – vấn đề dân oan.

TQT: Chúng ta là những người đi hoạt động cho dân chủ, nhân quyền dều thống nhất một điểm do chế độ độc tài, do chế độ cộng sản là nguồn gốc gây ra những đâu thương, mất mát cho dân tộc ta suốt mấy chục năm qua.

Thế nhưng khi đi vào hành động cụ thể có người nói rằng anh muốn có dân chủ, muốn có tự do, muốn có độc lập, muốn có hạnh phúc không nhất thiết phải có một cuộc cách mạng đổi đời. Chỉ cần một cuộc cải cách cũng có thể làm được việc đó

Trong giáo dục người ta nói muốn cải cách toàn diện và triệt để phải có một cuộc cách mạng trong giáo dục. Phải chăng muốn cải cách triệt để và toàn diện xã hội cũng cần phải có một cuộc cách mạng trong xã hội – Thưa nhà văn Võ Thị Hảo?

VTH: Vâng, nếu gọi là cải cách triệt để và toàn diện thì là cách mạng rồi (cười). Tại sao chúng ta lại tránh từ “cách mạng”? Ngay một cậu bé 14 tuổi ở trường Tràng An cũng còn biết thốt lên là cái nền giáo dục này là thối nát rồi, chúng ta không cải cách được nữa. Chúng ta phải làm một cuộc cách mạng!

Chúng ta hãy xem trẻ con đấy, thiếu niên đấy còn nói được như thế thì người lớn chúng ta lại phải né tránh cái gọi là cách mạng? Tôi nghĩ rằng có thể người phát ngôn ra câu này họ muốn đi một con đường mềm mại để không gây xốc cho nhà cầm quyền lấy cớ đàn áp họ. Tôi nghĩ như thế. Vấn đề quan trọng là hành động của họ như thế nào? Nhưng dù sao tôi vẫn nghĩ cải cách toàn diên và triệt để, thay đổi nó đi chứ. Chế độ độc tài sao mà cải cách được. Không thể cải cách được. Chỉ có thể làm cách mạng thay đổi nó đi.

Cách mạng nó có nghĩa rộng. Nó có rất nhiều phương pháp cách mạng. Nó cỏ rất nhiều con đường đi của cách mạng.

Cách mạng bạo lực là đã xa xưa rồi. Thời đại truyền thông này. Thời đại toàn cầu hóa internet này có sự can thiệp, giúp đỡ của công đồng quốc tế chúng ta thấy có nhiều nước cách mạng vẫn êm ái như Nhật Bản. Sau khi bị bom nguyên tử, đầu hàng đồng minh Nhật Bản hoàn toàn cách mạng về thể chế đấy chứ. Sau cách mạng về thể chế họ chỉ việc đi theo các mô hình mà họ nhận thấy đem lại phồn vinh cho đất nước Nhật Bản. Cứ thế mà theo có phải bạo lực gì đâu Và nhiều nước khác trên thế giới cũng vậy.

Một khối ung thư không thể cải cách được. Chỉ có thể cắt bỏ khối ung thư đó đi và liền sẹo. Nó có thể phát triển nếu cắt bỏ khối ung thư đó đi. Chúng ta có thể cải cách một cái xe đạp hỏng hết 2 bánh, nát hết 2 bánh xe và khung gẫy không? Chúng ta không thể cải cách cái xe ấy được. Chỉ có thay xe thôi.

Cách mạng là như thế. Nó đơn giản vậy thôi. Tôi nghĩ đừng sợ từ cách mạng. Cần phải làm cách mạng chứ. Nhưng cách mạng càng tránh bạo lực càng tốt, đỡ đau thương. Những cuộc cách mạng không bạo lực bây giờ nó có rất nhiều cơ hội.

TQT: Xin cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo.

anhbasam

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Những người khốn khổ

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

FB Bạch Cúc

16-9-2015

Tôi ngồi co ro trong một quán nhỏ ven đường, trước mắt tôi là màn mưa dày đặc, một chiếc xe hơi chạy vù qua tạt một lượng lớn nước mưa lên người phụ nữ đi xe đạp đang chở cồng kềnh những bao ve chai, xốp nhựa. Bị hoảng hốt, mất thăng bằng, chị té ngã giữa đường…

Đỡ chị dậy trong cái lạnh tê buốt, chị lập cập run rẩy cảm ơn tôi và như quá ngưỡng của tủi thân, uất ức do bị té ngã, chị òa khóc, tôi cũng bật khóc theo. Những giọt nước mắt đồng cảm, xót thương nhau chan hòa trên khuôn mặt của hai người đàn bà giữa chiều mưa, đã kéo theo nhiều cái nhìn ngỡ ngàng của dòng người qua lại…

Người phụ nữ nghèo khó bị té ngã giữa đường, đã kéo tôi trở lại với hình ảnh ngôi nhà cháy đen, hình ảnh bốn quan tài với di ảnh của bốn cha con, trong “Bi kịch một người cha tẩm xăng chết chung với ba con – khi cái nghèo bủa vây” tại Tây Ninh, đã khiến tôi không còn giữ được bình tĩnh để tiếp tục cất giấu những xúc cảm đau đớn vào sâu trái tim mình.

Bi kịch bốn mạng người chết vì nghèo đói đã khiến tôi bần thần nhớ về Jean Valjean (Giăng Van-giăng), một anh thanh niên khốn khổ phải ăn cắp bánh mỳ về cho gia đình đang chết đói. Anh bị kết án khổ sai và chỉ được thả sau 19 năm ngồi tù, nhưng phải mang giấy thông hành màu vàng của người đã từng có tiền án, là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Những người khốn khổ” của đại văn hào Pháp – Victor Hugo.

“Những người khốn khổ” đã miêu tả trần trụi cả một thế giới của những con người nghèo khổ, đó là bức tranh rộng lớn về cuộc sống của những người lao động khốn cùng ở Pháp vào nửa đầu thế kỷ 19.

Vậy ở Việt Nam, đã là thế kỷ 21, đã 200 năm rồi mà tại sao vẫn còn đầy rẫy những phận người đói nghèo, khốn khó bần cùng, điều gì đã đẩy họ đến chỗ tùng quẫn, phải tự tử trong bế tắc và tuyệt vọng?

Chắc hẳn mọi người vẫn chưa quên cái chết của chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân (48 tuổi, ở ấp 5, xã An Xuyên, TP Cà Mau) vào tháng 4/2013. Đó là một người đàn bà đáng thương, bệnh hoạn, mỗi ngày phải tốn tiền thuốc 140.000 đồng, chị đã treo cổ tự vẫn kết liễu cuộc đời mình, để lại thư tuyệt mệnh với lời nhắn nhủ:

“Em không còn lối thoát… Em chết đi sẽ tiết kiệm được khoản này và còn được mọi người đi phúng điếu, sẽ kiếm thêm được chút ít tiền nữa cho chồng con…

Các con đừng trách mẹ, mẹ khổ nhiều lắm. Mẹ chạy tiền cho các con ăn học, bây giờ nợ nhiều lắm. Mẹ đã đi van xin được cấp sổ hộ nghèo để mẹ vay tiền đóng học phí cho các con. Nhưng không ai cho gia đình mình nghèo hết. Mẹ chết để giảm gánh nặng cho cha con, để chính quyền thấy nhà mình thực sự khổ rồi cấp sổ hộ nghèo, vay tiền đóng học phí cho các con. …, xin các cấp chính quyền ấp 5 thấu hiểu cho hoàn cảnh không lối thoát của chúng tôi hiện nay mà cấp sổ hộ nghèo cho chồng con tôi để sống những ngày tháng còn lại trên đời!”

Sự nghèo khổ đã khiến người đàn bà này phải bức bách mà đoạn tuyệt cuộc sống, cái chết của chị để lại sự xót xa đau đớn cho người thân và những dấu chấm hỏi ngơ ngác giữa lòng xã hội.

Và, đất nước này vẫn bất lực chứng kiến, các nhà điều hành xã hội đều lặng im, không ai nhận trách nhiệm khi tiếp tục để xảy ra thêm hàng loạt những thảm cảnh đau thương vì đói nghèo:

Mới đây, ngày 13/9/2015 tại Tây Ninh, anh T đã khóa trái cửa nhà trọ, dùng xăng tự tử cùng ba con nhỏ, để lại lá thư tuyệt mệnh cho người vợ:

“Anh không nuôi con nổi nữa nên sẽ đưa chúng đến một nơi tốt hơn…”

Anh T, người chồng, người cha trong bi kịch này đã hoàn toàn bế tắc sau ly hôn với vợ, cộng thêm những khốn khó trong cuộc sống bởi anh không có nghề nghiệp ổn định, hàng ngày phải đi làm thuê, nhổ mì để kiếm sống và nuôi con, anh bất lực phải cho đứa con đầu của mình nghỉ học vì không có tiền nộp học phí. Những khó khăn chồng chất đã dồn đẩy anh đến sự khốn cùng, buộc anh kết thúc đời mình cùng mạng sống của ba đứa con nhỏ.

Nhìn hiện trường còn sót lại sau vụ cháy, người ta không khỏi bàng hoàng khi thấy thi thể của bé Nguyễn Xuân Q (chị cả) đang ôm em là Nguyễn Phạm Xuân Q, phía trên là thi thể bé út Nguyễn Phạm Bích T, cùng nhiều sách vở của các bé bị cháy còn sót lại…

Ngọn lửa oan nghiệt đã thiêu cháy cuộc đời và giấc mơ học hành của ba đứa trẻ, liệu như thế đã đủ chưa để người ta cảm thấy bất nhẫn về một xã hội chủ nghĩa thiên đường, nơi vẫn đang tự nhiên bộc phát những thảm kịch còn thê thảm hơn cả “những người khốn khổ” của Vitor Hugo cách 200 năm về trước.

Cái vòng luẩn quẩn: nghèo, lao động cực nhọc, thu nhập không đủ sống, trẻ con thất học, bệnh tật bủa vây không có tiền chạy chữa, thiếu đói bấp bênh … những cảnh này tôi gặp nhiều lắm trong đời thật và trong những chuyến đi từ thiện về các vùng sâu vùng xa, họ chính là “những người khốn khổ” của đất nước Việt Nam hiện tại.

Một xã hội với những con người, để mặc cho đồng bào mình nghèo khổ đến mức cùng quẫn, tuyệt vọng, phải tự tìm đến cái chết, là một xã hội hoang mạc, vô cảm, mà ai trong chính chúng ta cũng đã ít nhiều tạo nên hiện trạng ấy.

____

– Bi kịch cha tẩm xăng chết chung với 3 con – Khi cái nghèo khổ bủa vây (ĐKN).

– Thắt lòng mẹ tự tử để lấy tiền phúng viếng cho con học (NĐT).

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►CSVN Sống Nhờ Xác Chết

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2015

Việt Báo

Vi Anh

16-9-2015

Tượng ông Hồ ở Hòa Bình. Ảnh: Báo ĐV

Mấy chục năm trước Ô. Hồ chí Minh lúc sinh thời từng thú thật, Ông không có tư tưởng gì, nhưng lời ông nói, những việc ông làm là theo kiểu của Mắc Lê. Cũng như Ô Lê Duẩn một người làm tổng bí thư Đảng CSVN lâu đời nhứt, quyết tâm đánh Việt Nam Cộng Hoà và Mỹ ở Miền Nam nhứt cũng nói, “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa…”

Còn bây giờ TC đang xâm lấn biển đảo VN. Dân chúng VN già trẻ bé lớn đều ghét TC. Đảng Nhà Nước “chuyển hệ tư duy sang kinh tế thị trường”, trải thảm đỏ rước Mỹ trở lại VN. Thế mà mấy tay lãnh đạo Đảng Nhà Nước CSVN từ trung ương đến địa phương cứ khư khư lấy tư tưởng Hồ chí Minh làm ý thức hệ gối đầu giường, và “hồ hởi, phấn khởi” lấy tiền dân đóng thuế và tiền bán mắc bán rè tài nguyên quốc gia ra để dựng tượng “Bác Hồ” mấy chục cái rồi, còn dự trù làm thêm mấy chục cái nữa. Có người thắc mắc tại sao Đảng Nhà Nước làm vậy. Không cần phải những người văn hay chữ tốt, mà một phó thường dân Nam Bộ cũng thấy, dễ ợt trả lời, rằng những người CSVN đang sống nhờ xác chết của Ô. Hồ chí Minh.


Thực vậy, tiêu biểu như bất chấp dư luận nhân dân cả trong lẫn ngoài nước phẫn nộ, lên án, chỉ trích… nhà cầm quyền tỉnh Sơn La, cả Đảng Nhà Nước tỉnh này, vẫn tỉnh bơ tiếp tục xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh với chi phí 1.400 tỷ đồng VN, tương đương với khoảng 70 triệu mỹ kim. Đối chiếu kinh phí này với ngân sách tỉnh, mới thấy dự án này vô cùng “vĩ đại”. 1.400 tỷ đồng làm cái tượng này bằng phân nửa ngân sách tỉnh, số tiền để lo cho nhà cầm quyền và dân chúng tỉnh Sơn La. Sơn la là tỉnh miền thượng du Bắc Việt với 1.1 triệu dân mà có tới 71.000 gia đình nghèo khó. Sơn la nghèo nhứt của nước VN, nghèo hơn Nghệ An và Thanh Hóa. Năm nay, cả tỉnh chỉ thu được khoảng 2.800 tỷ đồng cho ngân sách, nhưng sẽ phải chi 9.300 tỷ đồng. Trung ương phải hỗ trợ 6.500 tỷ đồng. Như vậy, chỉ cái việc xây tượng đài này thôi đã ngốn hết 50% phần thu của ngân sách tỉnh này trong một năm.

Giáo Sư Ngô Bảo Châu, người từng đoạt giải thưởng Fields, làm việc tại cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam, bình luận trên trang Facebook của ông, “Trẻ con ăn không đủ no, áo không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang, mà bỏ ra 1.400 tỷ đồng để xây tượng đài thì hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!”

Chưa đâu, còn trên phương diện toàn quốc, CS mới “vĩ đại” hơn nữa; “vĩ đại” đến mỗi người dân trong nước nói lái tiếu lâm giọng miền Nam chơi gọi là “dại đĩ” hơn. Vì hồi thượng tuần tháng 6 năm 2015, Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch của CSVN tổ chức một hội thảo về “Tiêu chí nội dung, địa điểm xây dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh đến năm 2030.” Ở hội thảo này, người ta ghi nhận, nhà cầm quyền CS địa phương nào cũng muốn xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh. Theo quy hoạch thì từ nay đến năm 2030, nhà cầm quyền CSVN sẽ xuất ngân sách là tiền đóng thuế của dân và bán tài nguyên của đất nước để xây dựng thêm khoảng gần 60 tượng đài Hồ chí Minh trên cả nước. Thống kê cho thấy tại Việt Nam hiện nay có 137 tượng đài Hồ Chí Minh đủ loại. Nếu năm 2030 xây thêm 60 cái nữa, thì có gần 200 cái tượng đài HCM.

CS dựng tượng đài HCM thì nhiều, nhưng không tăng tiếng tốt cho HCM, trái lại tạo rát nhiều câu ca dao tiếu lâm chê cười, theo phản ứng tất yếu của dân chúng trong gông kềm CS bị CS tước đoạt quyền tự do ngôn luận của người dân, người dân dùng tiếu lâm để xì cái ẩn ức của minh, để trả đũa CS. Như ở Cantho, Tây đô của Văn Minh Miệt Vườn, Vựa Lúa của Cả Nước, CS xây tượng HCM rất sớm, tại một nơi mát mẻ trên bờ ngả ba Sông Hậu Giang và Sông Cần Thơ. Nhưng dân chúng tiếu lâm bằng một câu thơ lục bát, “Chiều chiều ra bến Ninh Kiều, Dưới chân tượng Bác đỉ nhiều hơn dân”.

Trở lại tỉnh Sơn La nghèo nhứt nước mà xây tượng đài bằng nửa ngân sách tỉnh trong năm. Luật sư Lê thị Công Nhân, một cựu tù nhân lương tâm, nhận định về lý do Đảng Nhà Nước CS làm cái chuyện mà Giáo Sư Ngô Bảo Châu gọi là việc làm của những người hoặc là khốn nạn, hoặc là thần kinh!”. LS Lê thị Công Nhân nói trên RFA, “… Sơn La là một tỉnh nghèo, có tiếng về nghèo ở Việt Nam mà thông qua việc làm như vậy theo tôi cảm thấy đó là một việc làm, một ý tưởng điên rồ. Tất nhiên họ không hề điên như vậy. Những người đưa ra ý tưởng và thông qua ý tưởng đó là bởi vì, tôi tin chắc, đằng sau những việc này có những lợi ích bất chính, khuất tất. Có thể là sự tham ô, tham nhũng thông qua hình thức lãng phí vô cùng ghê gớm và thông qua dễ những dự án được gán cho ý nghĩa chính trị”

Tại Việt Nam, từng có những thống kê cho thấy, từ 30% đến 45% chi phí cho việc thực hiện các dự án vào túi các viên chức. Dường như đó là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào xây dựng tượng đài Hồ Chí Minh.

Thời chuyển sang kinh tế thị trường, người CS “chuyển hệ tư duy”, suy nghĩ và hành động theo kiểu “có làm mới có ăn”. Có xuất công quỹ ra xây cất công trình, đường sá, chợ búa, công thự, sân golf, nhà vệ sinh thu tiền giấy chùi, tượng đài HCM thì cán bộ, đảng viên cầm quyền mới có cơ hội “rút ruột công trình” bỏ túi riêng như Thủ Tướng Võ văn Kiệt nói. Có lợi dụng qui hoạch lấy đất của dân trả rẻ mạt như giựt thì rồi mới có thể lấy đất đó làm vốn liên doanh với các doanh nhân ngoại quốc hay đại gia với giá cao hơn 40 lần. Hoặc ăn tiền đầu, tiền đuôi, có lợi quả, phong bì theo “thủ tục đầu tiên” thời CS được. Ở các nước CS Đông Âu thì dân chúng và chánh quyền đã đập phá các tượng đài của những lãnh đạo và lãnh tụ CS hết rồi. Người ta cũng làm tiền lấy phần bể bán thành phế liệu hay triển làm thu tiền người xem như ở Đức. Tin AFP cho biết mới tì ra dược cái đầu của tượng Lenin bằng đá xanh nặng 3 tấn rưởi bị đập phá và chôn cách đây 24 năm trong khu rừng ngoài Berlin.

Cũng như khi TC xâm chiếm biển đảo của VN, CSVN xuất tiền cả chục tỷ Mỹ kim quí hiếm ra mua vũ khí, tàu lặn, may bay chiến đấu của nhiều nước, nhưng chưa thấy tàu cảnh sát biển, hải quân nào của VN ra bảo vệ ngư dân VN bị tàu TC bắn giết, cướp tàu đòi tiển chuộc. CSVN còn hèn với giặc dến nổi không dám gọi là tàu Trng Quốc mà gọi là “tàu lạ”.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »