Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai, 2010

►Hai Nguồn Tin khác nhau về ông Trần Văn Giàu-Đọc để Suy Xét

Posted by hoangtran204 on 31/12/2010

Đọc bài trại giam Tà Lài của ông Trần văn Giàu thời Pháp thuộc 1940 rồi so sánh với trại tù  1980-1985 ở đây: Đêm Noel trong Xà Lim Số 6 mới biết tù nào được đối xử tốt hơn.

Phần 1 : tác giả Nguyễn văn  Lục

Phần 2: báo chí trong nước

Phần 1

Ông Trần văn Giàu được xem là nhân vật đứng hàng thứ hai sau ông Hồ Chí Minh vào trước  năm 1945. Hồi Ký Trần Văn Giàu

Đọc Hồi Ký Trần Văn Giàu (I)

Nguyễn Văn Lục

Ông Trần Văn Giàu vừa chết ngày 16/12/2010 vừa qua. Ông là một trong số ít ỏi những người cộng sản kỳ cựu nhất của thập niên 1930-40 còn sống ở đầu thế kỷ 21. Chỉ 3 ngày sau khi ông chết, tập Hồi ký của ông, được nhiều người trông đợi, mới được xuất hiện trên hai trang báo điện tử viet-studies và diendan.org ở hải ngoại.

Sự xuất hiện muộn màng đợi đến khi tác giả vừa nằm xuống là một dấu hiệu vụng về và đáng buồn.

Trần Văn Giàu
Nguồn: vietbao.vn


Hơn thế nữa, tập hồi ký này được ông Trần Văn Giàu viết từ thập niên 1970, nghĩa là cách đây 40 năm nay và phải đợi lúc ông chết, nó mới được cho xuất hiện chỉ ở hải ngoại! Theo ông Nguyễn Ngọc Giao, người có trách nhiệm công bố tập Hồi ký này thì do “công cụ chuyên chính của chính quyền thì ra sức theo dõi việc biên soạn, lùng tìm những người đánh máy, tàng trữ với hi vọng thu hồi được bản thảo để hoặc thủ tiêu, cấm đoán xuất, hoặc cắt xén thay đổi trước khi cho xuất bản.”. Nguyễn Ngọc Giao, Hồi ký 1940-1945, Trần Văn Giàu. Dien dan.org

Đúng là đợi khi chết mới được nói ra lời; nhưng nói không trọn vẹn, nói u ơ, nói ngọng nghịu.
Như trước đây khi người viết bài này phê bình cuốn Hồi ký của Lý Quý Chung ở trong nước khi ông này được ra mắt sách lúc sắp chết, tôi gọi đó là cuốn “Nhật Ký của im lặng”. Vì cuốn hồi ký bị cắt đầu, cắt đuôi, chẳng nói được gì. Sau này, liên lạc được với em gái của Lý Quý Chung ở Montréal, bà Lý Thành Lễ. Qua điện thoại, bà Lễ kể cho hay, hôm sách được giới thiệu, vừa mới bán được vài cuốn thì có “lệnh ở trên” đến tịch thu tất cả.

Cho nên có thể không lấy làm lạ một đảng viên cộng sản kỳ cựu như ông Trần Văn Giàu đi nữa, ông cũng không thoát khỏi bị trù dập cho đến lúc chết. Gương của luật sư Nguyễn Mạnh Tường còn đó; gương của Trần Đức Thảo còn đó.

Nhưng ở mặt lễ nghi thì ông được “quốc táng” với một danh sách ban tổ chức gồm nhiều nhân vật lãnh đạo đảng. Đứng đầu là “đồng chí” Lê Thanh Hải. Đã có nhiều bài viết vinh danh ông bằng thứ “văn chương phúng điếu” như “ông là một nhân cách sáng ngời” giáo sư Tương Lai, Nguyễn Đình Đầu – nhà viết sử nổi lên từ sau 1975 – nói, “Giáo sư Trần Văn Giàu, mất mát chưa có người thay thế.” Dương Trung Quốc viết, “Giáo sư Trần Văn Giàu đã vét cạn đời mình cho nghiệp sử.”.
Đọc những văn chương phúng điếu ở trên, người viết tâm đắc và thấm thía câu nói của TT. Thích Trí Quang, Nó giết mình hôm nay, mai nó mang vòng hoa đến phúng điếu!

Việc ông Trần Văn Giàu phải cất dấu hồi ký lâu như thế thì chẳng một ai muốn bàn đến. Một phần lớn việc cất dấu tập hồi ký này do chính ý định của ông. Phần khác nó cho thấy sự hà khắc của chế độ ấy ra sao.

Một chi tiết không thể bỏ qua là ông Giàu cũng như Võ Nguyên Giáp là những đảng viên cộng sản kỳ cựu nhất, sống đến trăm tuổi (11/09/1911-16/12/2010), như bình thường thì Trần Văn Giàu có thể leo lên đến chức Tổng bí thư Đảng.

Vậy mà lẽ nào hồi ký cả một đời người lại thu vén vào khoảng thời gian1940-1945?

Cứ theo lời ông Giàu giải thích thì “Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, sấp xỉ 90 năm. Tôi viết ‘Lời nói đầu’ này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba.” Trích Lời nói đầu, Trần Văn Giàu.
Với chỉ vỏn vẹn 5 năm, thời gian từ 1940-1945, người đọc hy vọng đọc được gì trong khoảng thời gian đó? Bao nhiêu biến cố chính trị kể từ sau 1945 đến 1954, rồi từ 1954-1975 và nhất là từ 1975-2010, chẳng lẽ cả một cuộc đời lăn lóc làm chính trị, hy sinh cho lý tưởng cách mạng chỉ thấy có 5 năm sống có chất lượng, có ý nghĩa?

Có thể ông có cái lý của ông để chỉ viết Hồi ký 5 năm! Hồi ký để ông có thể giãi bày “nỗi oan” chuyện vượt ngục ở Tà Lài và về vụ Deschamps chẳng hạn.

– Vụ thhứ nhất về chuyện “vượt ngục” do Pháp dật giây thì cho đến ngày hôm nay, Ban tổ chức Trung Ương đi đến kết luận là “ Chưa có” chứng cớ là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt ngục. Ông Giàu chỉ muốn giải nỗi oan là thay một chữ chưa bằng chữ không, “ Không có” chứng cớ gì.

– Về vụ Deschamps do ông Giàu khai nhận, tổ chức kết luận: “Việc khai nhận của đồng chí Giàu gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường giây quốc tế.” Về điểm này, ông Trần Văn Giàu nhìn nhận:

“Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú: Trần Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có trách nhiệm trong sự tổn thất. Song Nguyễn Văn Trấn (Prigorny) còn sống, làm chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi, không một ai bị bắt vì tôi khai, cả chỗ tôi ở, không ai thấy Giàu dắt Tây về bắt người tra khảo.” (Trích Hồi ký Trần Văn Giàu, phần Lời nói đầu.)

Điều chúng ta mong muốn là không phải đọc cái hồi ký năm năm mà là Hồi ký 65 năm còn lại bị dấu kín, bị quên lãng, bị trù dập khốn đốn, bị nhục nhã, bị “ngồi chơi xơi nước” như kiểu luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Triết gia Trần Đức Thảo ở một mức độ nhẹ hơn.

Ông Nguyễn Văn Trung ở số 57 Duy Tân, cư xá giáo sư đại học Sàigòn thường qua lại thăm giáo sư Trần Văn Giàu, ở số 77 Duy Tân và kể lại cho người viết như sau, “Ông Giàu sống rất thanh bạch, rất ẩn nhẫn của một trí thức có nhân cách.

Ông tránh né và không muốn nhắc lại mọi chuyện quá khứ. Nhiều khi bà Giàu cứ kể lể, than vãn thì ông Trần Văn Giàu lại gạt đi không cho kể. Trong vườn nhà ông bà TVG ở Duy Tân đằng sau có cây khế ngọt, Bà Giàu thường phải trèo lên hái những trái khế mang ra chợ để đổi lấy rau trái ăn thêm.”
Nhưng theo ông Trung, cái nhục của ông Trần Văn Giàu là lúc đầu phường khóm chúng chẳng biết Trần Văn Giàu là ai cả! Loa phóng thanh trong phường gọi réo tên ông Trần Văn Giàu lên nay lĩnh gạo, mốt lĩnh thịt và chắc cả tiền lương! Có thể sau này thì bọn phường khóm hiểu ra rằng, đang có “một núi thái sơn” của Đảng bị thất sủng ở trong phường của chúng mới hết cảnh réo gọi.

Chúng tôi sẽ đưa ra một vài chứng từ về mối liên lạc giữa hai người trí thức giữa hai miền và nhất là cuốn sách của ông Trần Văn Giàu phê phán cuốn Nhận Định II của Nguyễn Văn Trung trong kỳ sau.

Cảm tưởng của người viết bài này là giữa một tập Hồi Ký năm năm và cả một cuộc đời 100 năm, liệu tập Hồi ký này có đủ sức chuyên chở cả cuộc đời của chính tác giả và những biến động chính trị trong dọc dài suốt 65 năm liên quan đến số mệnh dân tộc đất nước?

Và lời nhận xét của Nguyễn Ngọc Giao sau đây trong “Lời nói đầu” tỏ ra chỉ là một nhận xét ước lệ, có tính cách xưng tụng hơn là thực tế, “Họ là những nhân vật lịch sử, đã góp phần làm nên lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.”

Thực tế cho thấy trong cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” người ta đã cố tình vô ý để thiếu tên Trần Văn Giàu!

Đó là một sai lầm kép của những kẻ làm lịch sử và viết lại lịch sử.

Phải nói thẳng là cái lỗi lầm lớn nhất trong cuộc đời của Trần Văn Giàu là thủ tiêu, đẩy tất cả các đồng chí đệ tứ vào tử lộ mà cho đến lúc chết, Trần Văn Giàu vẫn phủ nhận trách nhiệm! Ông đã từng nếm trải “cảnh tù êm ái” của thực dân đế quốc, từng phải xa vợ con cả chục năm trời, lẽ nào một người như ông thẳng tay giết những đồng chí vì chỉ khác đường lối?

Lỗi lầm thứ hai xảy ra trong nội bộ đảng theo như ông tâm sự với ông Thiếu Sơn, bữa ấy có sự hiện diện của người thủy thủ có trách nhiệm ra Côn Đảo đón nhóm Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng về đất liền. Nhưng vì lý do kỹ thuật đón “muộn”, và bị hiểu lầm là về sợ tranh chỗ. Sự thực thì chỉ không kịp đón theo như nhân chứng là người thủy thủ có mặt hôm ấy. Việc đón trễ là một chuyện.

Nhưng theo Nguyễn Ngọc Giao trong cuộc nói chuyện 3 giờ với Trần Văn Giàu, tại Paris, thì khi Lê Duẩn về đất liền, chỉ được Trần Văn Giàu trao cho giữ chức vụ “đơn thuần làm trưởng phòng du kích Nam Bộ và dường như có ảnh hưởng sau này tới “ tiền đồ chính trị” của Trần Văn Giàu”. Thậm chí sau này ông phải đợi khá lâu mới được trở lại thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975.”

Cũng theo lời Nguyễn Ngọc Giao, Rất tiếc rằng lúc ấy ông không cho phép tôi công bố việc này, cũng như theo sự thỏa thuận mùa hè năm 1989, 3 giờ phỏng vấn ông ở Paris không được phổ biến lúc sinh thời. Ông còn dặn kỹ tôi: ‘Nếu chú viết về việc này, thì tôi sẽ cải chính đấy.’” (Trích Trần Văn Giàu (1911-2010), Nguyễn Ngọc Giao, cập nhật 18/12/2010, dien dan.org

Mặc dầu trong tờ Cờ Giải Phóng, cơ quan của Trung ương ĐCS Đông Dương ngày 23 tháng 10 năm 1945, đăng lời kêu họi sát hại phái đệ tứ. Nhưng chính lãnh đạo đảng cộng sản cũng phê phán hành động của Trần Văn Giàu! Phải chăng Trần Văn Giàu là nạn nhân của chính sách của Đảng?

Hồi ký của ông sẽ viết gì như biện minh trạng cho những việc làm sát hại các đồng chí cộng sản đệ tứ?

Tạ Thu Thâu
Nguồn: tài liệu đặc biệt của Sở Mật thám Đông Dương, do giám đốc Sở, trùm mật thám Louis Marty biên soạn


Người dân miền Nam trước 1975 chắc còn nhớ trước cửa chợ Bến Thành có con đường nhỏ mang tên Tạ Thu Thâu- một nhân vật cộng sản đệ tứ (Trốt kít) đã bị nhóm đệ tam sát hại tại tháng 9/năm 1945, tại Quảng Ngãi – và chính quyền cộng sản đã không quên bôi xóa con đường mang tên Tạ Thu Thâu vào năm 1975- một bôi xóa mang tính cách lịch sử?

Đối với các bạn trẻ, xin nêu rõ Tạ Thu Thâu là người từng đi du học Pháp, bị trục xuất về nước vì phản đối án tử hình xử 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. (Trong số 19 người cùng bị trục xuất về nước vào ngày 24-6-1930 trên tàu Athos II ở hải cảng Marseille có tên Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Phan Văn Chán, v.v…) (Trích Phan Văn Hùm, Thân thế và sự nghiệp, Trần Nguơn Phiêu, trang 355).

Năm 1989, khi có dịp được qua Pháp, Trần Văn Giàu trước những câu hỏi chất vấn về việc thủ tiêu các nhóm đệ tứ, Trần Văn Giàu quả quyết rằng không phải do chính ông, vì “những người có trách nhiệm trong thời kỳ đó là Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn và Tôn Đức Thắng. Rời Paris với lời hứa.(cuộc nói chuyện này đã được ghi âm) sẽ “phục hồi danh dự” (réhabilité) cho những người yêu nước bị chết oan, đến nay ông Giàu vẫn im lặng.” (Trích Nhìn lại 60 năm tranh đấu cho Việt Nam, Hoàng Khoa Khôi, trang 290).

Nhưng kể từ đó đến nay, lời hứa đó đã không hề bao giờ được tôn trọng thực hiện cho đến lúc ông chết.

Phan Văn Hùm (1902-1946)
Nguồn: Wikipedia.org


Cũng trong bài phỏng vấn Trần Văn Giàu của Nguyễn Ngọc Giao, “ông dứt khoát bác bỏ trách nhiệm của mình trong cái chết của Tạ Thu Thâu (tháng 9 năm 1945 tại Quảng Ngãi), nhưng ông giữ im lặng không trả lời câu hỏi của tôi về việc Phan Văn Hùm và các đồng chí đã bị thủ tiêu ở Nam Bộ năm 1946.”

Về cái chết của nhà Cách Mạng Tạ Thu Thâu cho đến giờ phút này, có thể chúng ta không bao giờ có lời giải đáp chính xác chắc chắn cho câu hỏi: Ai giết? Có thể không phải là ông Trần Văn Giàu giết nhưng cho chỉ thị thì có. Nghị quyết phải triệt hạ các tay sai đế quốc, phát xít cũng như phải trừng trị đích đáng bọn phản động Trốt Kít. Nhưng mặt khác thì chính họ lại thủ tiêu mọi chứng từ, giấy tờ, mọi nhân chứng và nếu cần thủ tiêu ngay cả “thủ phạm thi hành” nếu cần.

Câu hỏi ai giết, ai ám hại Tạ Thu Thâu có thể là một câu hỏi thừa đối với những người cộng sản thứ thiệt! Ai giết cũng được!

Nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ giả vờ không biết để không hỏi. Phải hỏi dù không có câu trả lời.
Nhưng trong chỗ riêng tư, đã có lần ông thú nhận với ông Thiếu Sơn là ông chỉ sát hại có một người trong suốt thời gian giữ chức vụ Lâm Ủy hành chánh chánh? Người nào thì ông không nói rõ tên.

Phải chăng đó là những người có uy tín hàng đầu như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Trần Văn Sĩ, Phan Văn Hoa? Hay những người khác như Lê Văn Vững, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, bác sĩ Hồ Vĩnh Ký và vợ là là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, Dương Văn Giáo, Huỳnh Văn Phương, Lê Kim Tỵ?

Muốn hiểu rõ ai đã ra tay giết hại những người này, có nhiều nguồn tài liệu, nhất là tài liệu của các nhóm đệ tứ. Trước hết xin đọc tóm lược tài liệu của ông Nguyễn Kỳ Nam, một nhà báo, một người nhân chứng, tường thuật tại chỗ và có tham dự những buổi họp báo của Lâm Ủy Hành Chánh, trong đó Trần Văn Giàu làm chủ tọa:

“Buổi nhóm đó có các ký giả.
Tôi không bao giờ quên khi Trần Văn Giàu mặc áo sơ mi đứng lên tay mặt đập mạnh vào khẩu súng nhỏ mang ở bên hông, để trả lời một câu chất vấn của Trần Văn Thạch .
Nghe và thấy vậy làm sao không sợ?Nhứt là người đứng lên trả lời đó là một cán bộ cao cấp của đảng cộng sản đệ tam (…) Buổi nhómKhoáng Đại Hội Nghị hôm đó, Lâm Ủy Hành Chánh để lộ chân tướng sát nhơn” rõ rệt .
Tôi nhớ hai người chất vấn: Huỳnh Phú Sổ và Trần Văn Thạch (…)
Thạch chất vấn Giàu.

– Ai cử Lâm Ủy Hành Chánh Nbam Bộ? Và cử hồi nào?
Trần Văn Giàu đứng dạy trả lời.

– Anh Thạch, tôi biết anh muốn nói gì rồi. Anh hỏi: “Ai cử Lâm Ủy Hành Chánh”, chớ thật ra, trong bụng anh nghĩ:” Ta giỏi như vầy mà sao không ai đem ta vào Lâm Ủy”. Vậy tôi xin trả lời: Chúng tôi tạm thời đảm đương Chánh phủ trong giai đoạn này.Sau rồi, chúng tôi giao lại các anh. Còn trả lời về chánh trị, tôi sẽ gặp anh ở một nơi khác.”

– Trần Văn Giàu vừa nói câu sau vừa để tay mặt nơi cây súng sáu (…) Phòng nhóm im lặng như tờ. Mọi người đều nhìn Thạch như biết số mạng của Thạch đã định … nơi khẩu súng lục kia rồi. Tôi hồi hộp, tim đập mạnh.

Từ đó, tôi mất hết tinh thần .. Nhiều bạn ký giả ngồi chung quanh tôi xầm xì:

– Thạch đã tự mình ký tên bản án tử hình rồi. Sau đó, Trần Văn Thạch bị giết, không ai còn lấy làm lạ nữa.

(Khi Huỳnh Văn Phương nắm công an, tình cờ bắt gặp được hồ sơ của mật thám để lại chứng minh rằng: Giàu có đi lại với Pháp. Vì vậy mà cộng sản không tin dùng Giàu (…) Khi Giàu liên lạc với Arnoux, chánh mật thám Đông-Dương, và Giàu làm tay sai cho Pháp để nhận một số tiền … Arnoux biết Giàu lợi hại lắm sau này cũng dám phản bội nên khi đưa tiền cho Giàu, họ đặt máy ảnh trong kẹt cửa, chụp bức ảnh, chính tay Giàu thọ lãnh số bạc từ tay Arnoux trao .. Bức ảnh này còn nằm trong hồ sơ mật của mật thám. Huỳnh Văn Phương đang làm trạng sư được Nhựt đưa vào làm Tổng Giám Đốc Công An, tìm thấy hồ sơ của Giàu, liền cho rọi bức ảnh “Mật” đó ra làm 4 bản, trao cho Huỳnh Phú Sổ, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Ký, còn một bản Huỳnh Văn Phương giữ làm tài liệu.

Huỳnh Văn Phương trao 3 bức ảnh cho 3 người để rồi cả ba đều bị ám sát trong những trường hợp khác nhau)

Riêng Huỳnh Phú Sổ tố giác:

– Tôi có đủ tài liệu chứng minh rằng. Trần Văn Giàu đã thông đồng với Pháp .. Cho nên, trong nhiều phiên họp, Huỳnh Phú Sổ thường gay gắt hỏi: Ai Việt Minh thiệt? Ai Việt Minh giả? Và ai là Việt gian?

Trần Văn Giàu, Chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh rơi mặt nạ trong những phiên nhóm này, nên về sau, Huỳnh Phú Sổ bị thủ tiêu, không ai lấy làm lạ nữa?

Riêng Phan Văn Hùm dè dặt nhất mà cũng không khỏi … Trong một phiên nhóm của Mặt Trận Quốc gia Thống Nhứt, Phan Văn Hùm đưa ra một bức thơ có chữ ký của Trần Văn Giàu chứng minh sự phản bội của Giàu, nhưng Hùm đã tỏ thái độ anh hùng của mình bằng cách lấy bức thư đó lại, đọc cho mọi người nghe, rồi đốt liền, để cho Giàu thấy rằng: một bằng cớ như vậy mà Hùm sẵn sàng thủ tiêu, để sau này không còn trong lịch sử.

Nhưng một tháng sau, khi Sàigòn tản cư, Hùm lên miền Đông gặp Dương Bạch Mai nói rằng: “Trước chúng ta bất đồng chánh kiến về chánh trị. Nay nước nhà đương cần đoàn kết chống thực dân, tôi tin rằng: “anh sẽ bỏ qua việc cũ..”

Dương Bạch Mai không trả lời, nhưng lại chỉ cho Hùm vào một phòng bên trái, tức là một nơi “một vào không ra nữa được”. Người ta gọi là cửa tử.

Thật vậy, hai hôm sau, Phan Văn Hùm bị thủ tiêu.

Còn Trần Quang An?

Trần Quang An cũng theo Hùm. Nhưng khi thấy Mai đưa Hùm vào “ cửa tử”, Trần Quang An vội vã bắt tay Mai để từ giã:

– Tôi đến đây thăm anh, anh cho phép tôi về.

Trần Quang An nói dứt lời, tính quay bước ra ngoài, nhưng Dương Bạch Mai kéo lại, và chỉ cho Trần Quang An đi theo vào một cửa với Phan Văn Hùm.

Mai nói vắn tắt:
– Anh cũng vào ngã này chớ.

– Thế rồi Trần Quang An cũng bị, thủ tiêu như Phan Văn Hùm. Phan Văn Chánh cùng chung một trường hợp như Phan Văn Hùm, Trần Quang An, vì cả ba cùng di tản một đường.

Trích tóm lược Hồi ký 1925-1964 của Nguyễn Kỳ Nam, tập II, trang 31.Sau này, rất nhiều người trong nhóm đệ tứ đã đồng loạt lên án nhóm đệ tam của Trần Văn Giàu.
Tài liệu trích dẫn: Ai đã ám sát Tạ Thu Thâu và những người Trốkít Việt Nam? Hoàng Khoa Khôi, Những nhân chứng cuối cùng, Trần Ngươn Phiêu, Bà Phương Lan, Bùi Thế Mỹ trong Nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu và Hồi ký Nam Đình, v.v…Tác giả Hoàng Khoa Khôi trong tập sách “Nhìn lại sáu mươi năm tranh đấu cho Việt Nam” trang 22, đã lên án nặng nề nhóm đệ tam của Trần Văn Giàu đã giết hại những đồng chí của mình như sau:

“Khi Lê Văn Vững bị bắn chết trước nhà ở đường Albert 1er, Đa Kao.. Nhiều bạn thân đã nhận diện được các sát thủ trong vụ này thuộc nhóm “công tác thành” của Dương Bạch Mai. (một đồng chí của Trần Văn Giàu. Tiếp theo Dương bạch Mai đã cho vây bắt các danh nhân trong Mặt Trận Quốc Gia Thống nhất như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo, Trần Quang Vinh, Diệp Văn Kỳ cũng như một số nhân vật đệ tứ phải chịu chung số phận như Hồ Vĩnh Ký, cùng vợ là Nguyễn Thị Sương, Trần Văn Thạch. Chưa kể hàng ngàn các tín đồ Hòa Hảo ở Hậu Giang .. Khẩu hiệu “đánh chung, đi riêng” trở thành chủ trương tàn sát những nhóm “ đi riêng”.
Họ đặt một số câu hỏi cho Trần Văn Giàu như: Vì sao ông Giàu với danh tiếng sử gia, nhà văn hóa (có người ví ông với Chu Văn An) im lặng. Ông ngại gì? Sợ ai? Ở địa vị, tên tuổi (lẫy lừng) của ông, lẽ ra ông chẳng phải sợ ai, ngại gì. Trong thời kỳ tiêu diệt người Đệ tứ, vai trò của ông Trần Văn Giàu là gì? Nhưng ai có thể nghĩ rằng ông không hề hay biết? Một trong những người có thể là hung thủ trực tiếp là ông Nguyễn Văn Trấn (tác giả cuốn sách “Viết cho mẹ và Quốc Hội”) Nhưng ông Trấn trong sách không hề đả động đến chuyện này.Nhận xét và so sánh nhà tù thời Pháp thuộc (nhà tù Tà Lài) và trại Cổng Trời (The Heaven Gate Prison) trong cuốn Hồi ký của tác giảTheo Trần Văn Giàu trong phần thứ nhất, “Từ ngồi tù khám lớn đến vượt ngục Tà Lài”. Đọc đoạn văn trích dẫn sau đây của ông Trần Văn Giàu mà thấm thía. Ông Trần Văn Giàu chỉ quên không cho biết rõ đã có một người tù nào trong trại tù Tà Lài thời thực dân Pháp đã chết vì kiệt lực, vì thiếu ăn, vì bị giam cầm, bị biệt giam, bị tra tấn tinh thần, bị xỉ nhục hay bị chết vì bệnh tật vì không có thuốc men!
Xin mời 300.000 ngàn “ngụy quân, ngụy quyền” thời VNCH cùng đọc đoạn văn này để cùng suy nghĩ.

Đường lên trại giamMột đường đá nhỏ hẹp dắt đi đâu không biết, cỏ cây mọc tùm lum. Một thầy đội bảo:- Đường vào căng đó, chúng ta nghỉ ăn sáng cái đã.
Lính trải vài tờ nhật trình xuống cỏ, bày bánh mòi, đồ hộp, bình toong nước, ai có phần nấy.

– Y như hướng đạo sinh đi cắm trại mùa hè!
– Cứ quất no một bụng rồi sẽ xem ra sao.

Sinh hoạt tổ chức trong trại giam Tà Lài

– Phong cảnh Tà Lài khá hữu tình. Đồn ngói của Tây, trại tranh của tù như giấu mình trong khu rừng mênh mông đầy muông thú, bên cạnh một con sông lớn nước bao giờ cũng trong và đầy, sông Đồng Nai. Bên kia sông về hướng Tây, một dãy núi xanh biếc (…) Khoảng trên của con sông, dài không biết bao nhiêu kilômét, nước đầy, chảy nhẹ, nhiều cá tôm, có cá sấu; chiều chiều đội đốn tre của anh Phúc thả bè về, quần áo quấn trên cổ, hát giọng chèo đò. (…) Một hôm chủ nhật, tốt trời, chúng tôi xin phép tổ chức “thi lội” ở khoảng sông này. Sếp Tây đồng ý (…) Nhiều buổi chiều biểu diễn của Minh (vua bơi lội) cũng được toàn căng tán thưởng, nhiều thầy chú ra xem, đôi khi xếp Tây cũng ra xem. Minh bơi lội như cá và đẹp như khiêu vũ Ba Lê ..(..) Tôi, sếp cùng hàng chục anh em binh lính đứng gác trên chiếc phà cột ở bến. Vui quá là vui! Hai thằng sếp Tây, ở trần trùng trục, tay chống đầu gối cũng hét lên với mọi người. Tôi và Tào Tỵ đứng bên hông hai sếp, cũng hét hò.

– Ba cái nhà đó ở giữa một khu đất rộng chừng bảy, tám mẫu, cây to cao đã bị đốn sạch, nhưng cây nhỏ và cỏ tranh mọc lên rậm rì, có nơi lút đầu. Ngày chúng tôi lên tới đó thì Tây vừa mới làm xong một cái trại dài bằng tranh nứa chứa đựng khoảng năm, bảy mươi người, một cái nhà bếp, một trạm y tế cũng bằng tre. Từ nay về sau, mọi sự xây dựng ở trại giam này đều sẽ do bàn tay của anh em chúng tôi.

– Hễ còn trại tập trung thì còn thực dân Pháp và chiến tranh. Trại tập trung là nhà tù không án, không thời hạn. Giam giữ là chính. Cái chính không phải là đầy ải, bắt lao động.

– Sinh hoạt tư tưởng xem như là thường xuyên, lính gác cũng được dự, có khi cả xếp Tây nữa.

– Tháng 10 năm 1940, bọn tôi, có mấy trăm người bị giam ở trại tập trung Tà Lài. Trại nằm sát mé sông Đồng Nai. Tại đây có một bến phà (…) Ở đây, bản làng đồng bào Mạ cách xa Tà lài nhiều cây số, nhưng ngày ngày vẫn có người mang nỏ, mang gùi, xách chà gạc, xách thịt rừng đi qua đây, có khi một vài lít rượu. Đỡ buồn cho tụi tôi biết mấy!

Kết luận

Ở căng Tà Lài cuộc sống không đến nỗi cực khổ quá, có thể nói thảnh thơi là khác, được như vậy, không phải do chế độ của trại giam mà do tổ chức tù nhân của chúng tôi; công việc khoán phần lớn ở trong rừng, chỉ có mã ta đi theo cốt để giữ không cho chúng tôi trốn hơn là để thúc bách tù làm. Chỉ một lần sếp Tây đánh một đồng chí một gậy, đồng chí ấy quơ xà beng lên đỡ, tất cả anh em đều đứng lên, xẻng, cuốc, dao, mác trong tay, mắt đổ dồn vào tên xếp Tây, nó khiếp quá, bỏ đi luôn. Từ đó trở đi, không có vụ đánh đập nào nữa.

Thuốc men không biết đâu là đủ, nhưng sốt rét thì có ký ninh, uống nước thì có nước sông lọc bằng thuốc tím. Ở thì nhà tranh vách nứa, tự làm, nhưng được phát mùng, phát chiếu. Tây nó cốt được yên bằng việc tách tụi tôi khỏi nhân dân, không cốt được kết quả lao động khổ sai.” dcvnews

The Heaven Gate Prison, Trại Cổng TrờiĐọc thêm về “Trại giam Cổng Trời” qua lời nhân chứng của ký giả Mặc Lâm, biên tập viên, đài RFA, để có dịp so sánh với trại tù Tà Lày của thực dân Pháp!(Còn tiếp)

© DCVOnline

Tham khảo thêm:
2./Hồi Ký Trần Văn Giàu (gồm nhiều tập)

———————————————————————————————————–

Phần 2

Viết tiếp pho sử Trần Văn Giàu

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/417291/Viet-tiep-pho-su-Tran-Van-Giau.html

Thứ Sáu, 24/12/2010, 05:48 (GMT+7)

Viết tiếp pho sử Trần Văn Giàu

TT – 10g ngày 23-12, lễ viếng GS Trần Văn Giàu mới bắt đầu nhưng từ sớm nhiều lão đồng chí, đồng nghiệp, học trò… đã chống gậy đến Hội trường TP.HCM (111 Bà Huyện Thanh Quan, Q.3, TP.HCM).

Họ đến không chỉ để thắp nén nhang tưởng nhớ, mà nói như ông Tô Bửu Giám – chủ tịch quỹ giải thưởng Trần Văn Giàu: “Một đời viết sử, dạy sử, cả cuộc đời GS Giàu là một pho sử”.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết viếng giáo sư Trần Văn Giàu – Ảnh: T.THẮNG
Xem TVO: Vĩnh biệt GS Trần Văn Giàu

Những đàn em, học trò ấy của GS Trần Văn Giàu giờ tuổi cũng đã ngoài thất thập. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đến từ đầu buổi sáng, GS Phan Huy Lê, GS Đinh Xuân Lâm bay từ Hà Nội vào từ đêm trước.

GS Nguyễn Công Bình – nguyên viện trưởng Viện KHXH TP.HCM – nay đã 80 tuổi, là một trong những hạt giống đầu tiên của ngành sử mà GS Trần Văn Giàu gieo xuống. Ông kể: “Mảnh đất mà chúng tôi được thầy Giàu chăm bón là Trường ĐH Dự bị ở Thanh Hóa năm 1952. 60 năm trôi đi quá nhanh và quá bất ngờ. Bất ngờ là bởi khi gặp thầy, chúng tôi không nghĩ có thể lĩnh hội được từ thầy Giàu nhiều đến vậy để trở thành trụ cột của công việc nghiên cứu sử nước nhà”.

Riêng với GS Phan Huy Lê, câu chuyện mà ông chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhắc mãi đó là trước khi gặp GS Trần Văn Giàu ông không hề yêu mến môn sử. Bị phân vào khoa sử, ông từng coi đó là một điều kém may mắn. “Nhưng thầy Giàu đã làm thay đổi suy nghĩ ấy trong tôi. Tôi không chỉ lĩnh hội những kiến thức và phương pháp nghiên cứu sử ở thầy, mà hơn cả ở thầy còn là một con người của lịch sử, một pho sử cuốn hút chúng tôi”.

Hai cụ già Nguyễn Thống Nhứt và Trần Thanh Phan, một người là chiến sĩ đặc công đầu tiên ở miền Nam, một người là chiến sĩ Thanh niên tiền phong. Ông Nhứt góp chuyện về GS Giàu bằng hình ảnh ngày 2-9-1945, GS Giàu làm nức lòng dân Nam bộ khi thay mặt Chính phủ ra phát biểu trước đồng bào. Còn ông Phan nhớ mãi năm 17 tuổi được nằm trong lực lượng bảo vệ GS Trần Văn Giàu khi ông về Ninh Bình diễn thuyết trong lần đầu tiên ra Bắc.

Đã là những ông già 80 tuổi, lọ mọ chống gậy đến thắp nhang nhưng hai ông đều tự nhận mình chỉ là những “cậu thiếu niên” trong mắt GS Trần Văn Giàu. Nhưng ông Nguyễn Thống Nhứt nói rằng với GS Giàu, ông thấy mình được xem như một người bạn. “Hồi ở miền Bắc, biết tôi là thương binh hạng đặc biệt từ miền Nam ra, lâu lâu ông Sáu Giàu lại đạp xe tới thăm. Sau này hòa bình, ông Sáu cũng y vậy, lâu lâu lại đạp xe từ nhà lên phường Cô Giang (TP.HCM) thăm. Không thấy nề hà, cách trở gì hết” – ông Nhứt bồi hồi.

Còn GS Tô Bửu Giám, người đang giữ tâm nguyện của GS Trần Văn Giàu với cương vị chủ tịch giải thưởng mang tên ông, nhắc về câu chuyện khi ông Sáu Giàu bán nhà lập giải thưởng mang tên mình, GS Giàu căn dặn: “Đã làm khoa học thì phải vượt khó, không được than khổ. Trao giải là phải trao cho đáng, cho công trình đã có kết quả, xứng tầm, chứ giải thưởng không phải để đem đi hỗ trợ khó khăn”. Và có lẽ vì quan điểm này mà theo lời GS Giám, những năm đã ngoài 90 tuổi mỗi ngày GS Trần Văn Giàu vẫn tự đặt ra cho mình phải viết tay được 10 trang bản thảo.

Những kỷ niệm ấy về mình, sinh thời GS Trần Văn Giàu chắc đã không thể nhớ hết, biết hết. Nhưng giờ những lão đồng chí, học trò ấy… đang ráng kể lại, viết lại. Vì không ai muốn bỏ sót một chi tiết nào về pho sử Trần Văn Giàu.

NGUYỄN VIỄN SỰ

*

Nhà cách mạng kiên trung

Sáng 23-12, lễ tang giáo sư, nhà giáo nhân dân, anh hùng lao động Trần Văn Giàu đã được cử hành trọng thể theo nghi thức lễ tang cấp nhà nước. Tính đến chiều cùng ngày đã có gần 150 đoàn khách trong và ngoài nước đến viếng. Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và nhiều vị lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã gửi vòng hoa viếng.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thay mặt Bộ Chính trị vào viếng đầu tiên, ngay sau khi linh cữu giáo sư Trần Văn Giàu được an vị tại lễ đường. Tiếp đó, các đoàn của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ… đã lần lượt vào viếng linh cữu giáo sư Trần Văn Giàu. Viện Khoa học xã hội VN, Hội đồng khoa học xã hội TP.HCM, Ủy ban Giải thưởng khoa học Trần Văn Giàu cũng cử đoàn đến viếng nhà khoa học bậc thầy. Tổng lãnh sự Cộng hòa liên bang Nga tại TP.HCM cũng đến viếng và chia buồn cùng gia đình giáo sư Trần Văn Giàu.

Trong sổ tang, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết viết: “Kính viếng đồng chí Trần Văn Giàu – người con ưu tú của Nam bộ thành đồng, người lãnh đạo tài năng, người trí thức, nhà khoa học uyên bác, người đảng viên cộng sản kiên trung. Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí thật to lớn và mãi mãi ngời sáng!”.

Cũng trong sổ tang, ông Trương Tấn Sang – ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư – đã viết: “Kính cẩn nghiêng mình tiễn biệt đồng chí Trần Văn Giàu, một chiến sĩ cách mạng đầy nhiệt huyết của đất nước và của miền Nam thành đồng Tổ quốc, một nhà khoa học lớn”. Ông Trương Tấn Sang khẳng định: “Đảng Cộng sản VN, Nhà nước và nhân dân VN mãi mãi ghi nhớ công lao của đồng chí!”.

Nguyên phó chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa ví giáo sư Trần Văn Giàu như cây đại thụ trên vùng đất Nam bộ. “Chú đi xa như cây đại thụ Nam bộ không còn, nhưng bóng cây đại thụ vẫn lan tỏa bóng mát cho đời” – bà Trương Mỹ Hoa viết.

NGUYỄN TRIỀU

————–

Thứ Sáu, 17/12/2010, 07:59 (GMT+7)

Vĩnh biệt Giáo sư Trần Văn Giàu!

TTO – Vào lúc 17g20 ngày 16-12, tại bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM), trái tim của nhà cách mạng lỗi lạc, nhà khoa học, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động, giáo sư Trần Văn Giàu – đã ngừng đập.

Đất nước và dân tộc Việt Nam mất đi một người con ưu tú. Đảng cộng sản Việt Nam mất đi một chiến sĩ cách mạng kiên trung. Giới khoa học Việt Nam mất đi một người thầy lỗi lạc. Cả nước Việt Nam mất đi một người anh hùng.

Giáo sư Trần Văn Giàu sinh năm 1911, tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An). Từ năm 15 tuổi ông đã lên học tại Sài Gòn rồi sang du học tại Pháp và đến năm 1930 thì bị trục xuất về nước sau khi tham gia biểu tình trước dinh tổng thống Pháp đòi hủy án tử hình đối với các chiến sĩ cách mạng tham gia khởi nghĩa Yên Bái.

Sau đó, ông tham gia cách mạng, bị thực dân Pháp bắt, kết án năm năm đày đi Côn Đảo. Tháng 4-1940, ông ra tù tiếp tục hoạt động cách mạng, rồi lại bị địch bắt đưa đi giam ở Tà Lài và sau đó vượt ngục trở về, tiếp tục hoạt động cách mạng.

Năm 1943, ông được bầu làm Bí thư xứ ủy Nam Kỳ, lãnh đạo cách mạng Tháng Tám ở miền Nam năm 1945 và được cử làm Chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến Nam bộ.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ông giữ nhiều trọng trách trong bộ máy nhà nước, tham gia công tác giảng dạy và nghiên cứu ở lĩnh vực khoa học xã hội.

Ông vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1992), danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, giải thưởng Hồ Chí Minh, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác.

Bước sang tuổi 100, sức khỏe của giáo sư Trần Văn Giàu đã suy giảm nhiều. Từ mồng 9 Tết Nguyên đán năm 2010, ông được đưa vào điều trị và an dưỡng tại Bệnh viện Thống Nhất. Nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày 16-11 vừa qua, ông Lê Thanh Hải – Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM – đã đến thăm và chúc mừng Giáo sư trên giường bệnh.

GS được Đảng, nhà nước, ngành y tế và gia đình tận tình chăm sóc, cứu chữa nhưng do tuổi cao sức yếu đã từ trần, thọ 100 tuổi.

Các nghi lễ trang trọng, thành kính sẽ được cơ quan có thẩm quyền thông cáo trên báo chí ở bản tin tiếp theo.

N.TRIỀU

>> Xem bản tin tiếng Anh

Tóc đã bạc nhưng lòng còn son (*) 

GS Trần Văn Giàu

20 tuổi tôi qua Pháp, lạ lùng nhất là nhìn thấy nhiều người Tây chống Tây, đứng về phía VN. Đó chính là những người cộng sản Pháp. Tôi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, một cột mốc hết sức quan trọng trong cuộc đời. Tháng 2-1930, khởi nghĩa Yên Bái với qui mô lớn xôn xao dư luận trong nước và thế giới. Nhưng nó thất bại và Pháp bắt xử tù hàng trăm người, đòi xử tử 13 người.

Tôi là một học sinh VN ở Toulouse miền nam nước Pháp, là một trong số những người tổ chức cho hàng trăm HS SV VN ở Pháp biểu tình trước dinh tổng thống Pháp ở Paris ủng hộ khởi nghĩa. Trước đó tôi đã nhiều lần bị bắt trong việc tổ chức các cuộc mittinh và được thả. Lần này tôi cùng 19 người khác bị bắt, bỏ tù một tháng và bị xử trục xuất khỏi nước Pháp.

Tôi trở về nước. Trong khi gia đình tưởng sẽ mang về một tấm bằng tiến sĩ hay kỹ sư gì đó thì tôi về với một án chính trị. Đó là chuyện lớn trong đời tôi. Từ đó tôi là một người cách mạng chuyên nghiệp. Tôi được kết nạp ngay vào Đảng Cộng sản Đông Dương, nay đã là đồng chí già 75 tuổi Đảng (cười).

75 năm, ngoài những ngày ở tù, tôi luôn luôn làm việc. Nay 95 tuổi rồi “tóc đã bạc mà lòng vẫn son”, tôi vẫn đang hoàn thành những trang viết cuối cùng của cuộc đời. Tôi muốn nói với tuổi trẻ ngày nay, phải nhìn thấy VN là nước bị các nước lớn nhất trên thế giới xâm lược nhiều lần nhất, nhưng ta đã đập tan xiềng xích, giải phóng mình. Nhìn thấy để bước tiếp.

Và sự nghiệp đất nước VN hôm nay nằm trong tay các cháu.

GS TRẦN VĂN GIÀU
(nguyên bí thư Xứ ủy Nam kỳ, nguyên chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ)

(*) Được trích từ bài viết Hồi ức 2-9

Thầy Trần Văn Giàu của chúng tôiTTCN – Nhớ lại 50 năm trước, khi bước lên bậc thềm của giảng đường đại học, sinh viên khoa văn chúng tôi có hạnh phúc được học những ông thầy vốn là học giả lừng danh: Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Tửu… Giáo sư Trần Văn Giàu là một trong những thần tượng của chúng tôi thời đó.

Các vị mà chúng tôi trân trọng kể tên trên đây hầu hết đã về với thế giới người hiền – với Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản… Riêng thầy Trần Văn Giàu tuổi dù đã cao, sức có giảm nhưng trí vẫn sáng, lòng vẫn son. Thầy luôn luôn vẫn là mẫu mực để chúng tôi tự hào, noi theo, vươn tới.

Nhắc đến thầy, tất nhiên chúng tôi không quên những năm dài hoạt động cách mạng rất đẹp của thầy. Một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau, tô đậm hình ảnh chói ngời của người chiến sĩ kiên cường: 18 tuổi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, 19 tuổi vào Đảng Cộng sản Đông Dương, 20 tuổi theo học Trường đại học Phương Đông (ở Matxcơva) – nơi đào tạo các nhà cách mạng cho hai đại lục Á – Phi.

Bốn lần vào tù ra khám, 12 năm bị giam cầm đày ải trong các nhà lao khét tiếng man rợ như Côn Đảo, Tà Lài; sau đó chỉ đạo khởi nghĩa thành công ở khắp các tỉnh thành phía Nam Tổ quốc với tư cách bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. Rồi 23-9-1945, khi thực dân Pháp nổ súng gây hấn trở lại ở Sài Gòn, nhân dân lục tỉnh dao kiếm, súng kíp, gậy tầm vông vạt nhọn trong tay nhất tề đứng lên chặn bước tiến quân thù, thầy lại đứng đầu sóng ngọn gió với trọng trách chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ…

Từ 1951 đường đời của thầy có bước ngoặt đầy ý nghĩa: chuyển hẳn sang lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học. Tất nhiên hiện tượng bất thường này có nguyên nhân sâu xa. Và sau này khi ít nhiều hiểu biết, chúng tôi càng thêm kính trọng nhân cách, bản lĩnh sống của thầy: vượt trên nghịch cảnh, thị phi, thầy luôn giữ niềm tin vào lý tưởng và tổ chức, đồng thời luôn thể hiện một cách tự nhiên sự trung thực, trong sáng và lòng kiên định cách mạng.

Các thế hệ sinh viên, nghiên cứu sinh lần lượt được thầy góp công đào tạo trong các trường Dự bị đại học, Sư phạm cao cấp thời chống Pháp; trường Đại học Văn khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1954 – 1975. Từ những mái trường ấy, hàng loạt trí thức cao cấp đã trưởng thành.

Riêng ngành sử học có thể nhắc đến bốn cột trụ tiêu biểu Lâm – Lê – Tấn – Vượng (Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng). Cả bốn anh đều là đệ tử chân truyền của thầy. Cho đến mấy năm gần đây, dù tuổi đã rất cao thầy vẫn lặng lẽ, bền bỉ hướng dẫn cho một số nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ.

Tôi cứ nhớ mãi đôi câu đối của giáo sư Hoàng Như Mai mừng thầy cách đây 10 năm, nhân dịp thầy tròn 85 tuổi:

Tám lăm năm trên mặt địa cầu, có phen lội sình lầy, có phen vượt núi băng ngàn, có phen giẫm tuyết đạp băng nơi đất lạ và có phen mang xiềng gang xích sắt chốn lao tù… Đôi chân ấy bước qua thế kỷ vẫn còn dư sức lực.

Một đời sống trong lòng quần chúng, đã từng làm “phiến loạn”, đã từng điều binh khiển tướng, đã từng dạy sử luận triết trong giảng đường, lại đã từng bị kiểm thảo và phê bình quan điểm (!)… Con người này phục vụ nhân dân kể cũng lắm công lao.

100 chữ, chỉ 100 chữ thôi, nhưng đã biểu hiện chân dung tinh thần và những chặng đường đời tột cùng gian nan mà cũng không ít cay đắng của thầy Giàu của chúng tôi.

Đến thăm thầy, hơn 40 năm trước ở Hà Nội, hay bây giờ trên căn lầu tĩnh lặng ở một hẻm rộng tại TP.HCM, ít khi tôi thấy thầy rời cây bút và quyển sách hoặc tập bản thảo. Cứ nghĩ đến tấm gương cần cù tự học ấy mà anh em chúng tôi tự cảm thấy hổ thẹn – là lớp hậu sinh vậy mà chúng tôi thiếu sự kiên tâm trì chí.

Sức đọc đã quí như thế, nhưng sức viết còn đáng nể trọng hơn.

Trong hơn 50 năm hoạt động khoa học, thầy viết hơn 150 công trình nghiên cứu về triết học, tư tưởng và cả về lịch sử, văn học.

Tổng thống Pháp F. Mitterrand và giáo sư Trần Văn Giàu

Về triết học, đáng chú ý là ba công trình mang tính tiên phong: Biện chứng pháp (1955), Vũ trụ quan (1956), Duy vật lịch sử (1957). Đây vốn là những giáo trình đại học thầy viết ngay trong mấy năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong hoàn cảnh sách vở còn thiếu thốn, những công trình này sớm giúp người đọc nắm bắt một số vấn đề cốt yếu, nền tảng của chủ nghĩa Mác, để bước đầu hiểu được học thuyết cách mạng này.Về lịch sử tư tưởng của dân tộc, ngoài những bài viết công bố trên báo chí, thầy có hai công trình dày dặn, quan trọng: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ 19 đến Cách mạng Tháng Tám (1990) và Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam (1993).

Trong hơn 1.000 trang sách của công trình thứ nhất, thầy trình bày đặc điểm và sự thất bại của ý thức hệ phong kiến và ý thức hệ tư sản trước tình hình mới của đất nước, đồng thời khẳng định tính khoa học và nhiệm vụ lịch sử của hệ ý thức giai cấp công nhân VN. Trong công trình thứ hai, thầy có cái nhìn bao quát, tập trung giới thiệu và khẳng định những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc ta trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Thành tựu của thầy trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử hết sức đa dạng và phong phú. Hơn ai hết thầy đặc biệt quan tâm đến lịch sử cận đại và hiện đại của dân tộc. Nhiều công trình được liên tiếp công bố, công trình nào cũng qui mô cỡ vài ba ngàn trang in. Chỉ xin nhắc mấy bộ sách lớn, tiêu biểu: Chống xâm lăng (ba tập, 1956 – 1957), Giai cấp công nhân Việt Nam (bốn tập, 1961), Miền Nam giữ vững thành đồng (năm tập, 1964 – 1978)…

Khó có thể kể hết những gì thầy viết, nhưng sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới những công trình thầy chủ biên như Lịch sử cận đại Việt Nam (ba tập, 1960 – 1963) hoặc đồng chủ biên với nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (bốn tập, 1987), Chủ tịch Hồ Chí Minh và miền Nam Tổ quốc (ba tập, 1990).

Khác với việc nghiên cứu lịch sử, trong lĩnh vực nghiên cứu văn học thầy không dựng những bức tranh toàn cảnh hoành tráng mà có ý thức đi sâu, đột phá vào một số trọng điểm. Có khi thầy để tâm đến văn học dân gian (Họ Hồng Bàng, Truyện Thánh Gióng, Thần Tản Viên, Thần Kim Qui, Truyện Hai Bà Trưng…).

Cũng có lúc thầy nghĩ và viết về những con người và tác phẩm vang dội của văn học trung đại như Lý Thường Kiệt và những áng văn nổi tiếng của ông: “Lộ bố đánh Tống” và “Nam Quốc sơn hà”; hoặc như Bài Hịch tướng sĩ của vị tướng soái kiệt xuất đời Trần: Trần Quốc Tuấn. Nghiên cứu về văn chương cận đại, thầy đặc biệt quan tâm đến Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ 19 (1970).

Cũng trong những năm chống Mỹ, thầy theo dõi tình hình văn học ở cả hai miền Nam Bắc, biểu dương cổ vũ kịp thời nhiều tác phẩm có giá trị như các tập Bất khuất, Những ngày gian khổ (1965) hoặc hai tập bút ký chính luận nổi tiếng xuất bản ngay giữa Sài Gòn tạm chiếm: Bọt biển và sóng ngầm (của Lý Chánh Trung), Cho cây rừng còn xanh lá (của Nguyễn Ngọc Lan)…

Chung một ý tưởng, một mạch cảm hứng với việc nghiên cứu lịch sử, thông qua những công trình nghiên cứu văn học kể trên, thầy muốn khái quát, khẳng định những truyền thống rất quí của dân tộc: trọng đạo lý thủy chung nhân nghĩa, tha thiết yêu nước thương dân, hiên ngang quật cường bất khuất.

Là thế hệ hậu sinh, chúng tôi rút ra được nhiều bài học vô giá từ sự nghiệp trước tác đồ sộ của thầy. Trước tiên, đó là bài học về động cơ cầm bút. Viết về lĩnh vực nào, về đề tài gì, hình như thầy đều xác định thế đứng vững vàng của một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng chân chính. Thầy muốn những trang viết tâm huyết của mình thật sự có ích cho cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.

Mặt khác, khi viết cái gì thầy đều tìm hiểu thấu đáo, tích lũy tư liệu hết sức dồi dào, luôn quan tâm đến những kiến thức liên ngành, tạo cho bản thân sự uyên thâm không chỉ trong lĩnh vực khoa học mà cả trong thực tiễn đời sống nữa. Giáo sư Vũ Khiêu có lý khi nhận xét: “Các tác phẩm về sử học của giáo sư Trần Văn Giàu đều có sức hấp dẫn của văn và chiều sâu của triết. Ở giáo sư trong văn có triết và trong triết có văn. Cả hai đều được lý giải vững vàng, gắn liền với sự chứng minh của sử học” (Trần Văn Giàu  tuyển tập, NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2000).

Xin được nói thêm: nhiều trang viết của thầy còn có sức cuốn hút không cưỡng nổi của tính hùng biện. Đọc văn thầy, tự nhiên chúng tôi lại hình dung ra, rõ mồn một, hình ảnh của thầy tại đại giảng đường Lê Thánh Tôn ngày nào. Ít khi thầy ngồi, chủ yếu là đứng, tư thế thoải mái, miệng như hơi cười, cặp mắt sáng và sâu nhìn thẳng vào sinh viên, giọng nói khi nhỏ nhẹ thiết tha, khi hùng hồn sôi nổi; thái độ luôn điềm đạm nhưng đầy tự tin, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng phong phú đa chiều đúng với tinh thần “nói có sách”.

Viết về thầy, có điều tôi cứ nghĩ mãi: sức hấp dẫn chủ yếu của thầy đối với các thế hệ học trò và với đông đảo trí thức trong và ngoài nước là ở phương diện nào đây? Tài năng ư? Có, nhưng thiếu gì người trình độ siêu việt nhưng rồi thiên hạ cũng quên mau. Hoặc nếu nhớ thì cũng như “đạm nhược thủy”, cứ nhàn nhạt vậy thôi. Cũng như một số thầy khác mà chúng tôi đặc biệt kính trọng, ở thầy Trần Văn Giàu chữ ĐỨC luôn chói lói, rỡ ràng, cuốn hút, trong cuộc sống riêng tư cũng như trong mọi mối quan hệ xã hội giằng chéo, phức tạp.

Tôi nhớ cuộc chia tay giữa thầy – khi mới 18 tuổi – với người vợ trẻ – cô Đỗ Thị Đạo. Trước lúc sang Pháp du học thầy đã kiếm hai cuốn Lục Vân Tiên, một đưa vợ, một cho mình. Thật là cảm động, đôi lứa ấy đã sống thủy chung như lứa đôi Kiều – Lục cho đến lúc đầu bạc răng long. Mới đây thôi, tôi đã chứng kiến nét mặt đăm chiêu của thầy, với cặp mắt tưởng như khô lệ mà vẫn có ngấn nước, và với giọng nói chùng hẳn xuống khi nghe tin giáo sư Trần Quốc Vượng qua đời: “Vượng nó mất đi, thật đáng tiếc!”.

Tôi nghĩ đến những năm đằng đẵng, con người khí phách hiên ngang mang đầy đủ tính cách Hớn Minh – Tử Trực này đã bình tĩnh nhẫn nhịn, chờ đợi sự xác minh của tổ chức. Cuối cùng, mọi chuyện phải trái, trắng đen cơ bản đã được xác minh.

Tôi không thể quên được những trang viết mang tính luận chiến sắc sảo nhưng bao giờ cũng đường hoàng, mực thước của thầy. Có thể lên án quyết liệt những thế lực xâm lược từ phương Bắc xuống, từ trời Tây sang nhưng không ai có thể hiểu đó là thái độ hận thù dân tộc. Có thể phê phán cây bút nào đó ở thành thị miền Nam chệch hướng trong nhận thức, tư duy, nhưng thái độ của thầy không khiến người trong cuộc cảm thấy bị xúc phạm. Tầm văn hóa ứng xử cao, chữ Đức sáng trong trọn vẹn…, sức cảm hóa của thầy, theo tôi chủ yếu là ở chỗ này.

Mươi ngày nữa thầy đã ở tuổi 95 – tuổi xưa nay cực hiếm. Quí hơn nữa, những năm tháng sống và hoạt động của thầy lại có chất lượng rất cao. 25 năm trước, khi bạn bè học trò đến mừng thầy bước vào tuổi “xưa nay hiếm”, thầy đã ra vế đối (đến nay vẫn chưa có ai đối chỉnh): “Bảy mươi khúc khích cười Đỗ Phủ”.

Tôi cả tin, các thế hệ học trò của thầy trong nhiều năm sắp tới, đúng ngày 6-9 sẽ còn được đến chúc thọ và được đọc những công trình mới, đặc biệt là bộ hồi ký chắc chắn sẽ hết sức cuốn hút của thây – giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động, nhà cách mạng lão thành Trần Văn Giàu. Lòng tin của tôi rất có căn cứ.

PGS.TS TRẦN HỮU TÁ

Bài viết đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần ngày 27-8-2005

Đoàn lãnh đạo Thành ủy – HĐND – UBND – Ủy ban MTTQ TP.HCM đã đến chúc mừng thượng thọ giáo sư – nhà giáo nhân dân – anh hùng lao động Trần Văn Giàu sáng 4-9 – Ảnh: Minh Đức
Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải thăm và chúc sức khỏe Giáo sư, nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu tại nhà riêng – Ảnh: Minh Đức
Giáo sư Trần Văn Giàu chụp ảnh lưu niệm cùng các cháu thiếu nhi TP.HCM – Ảnh tư liệu

Mời đọc thêm:

Cần trang bị cho thanh niên lý tưởng để hành động
Người anh hùng kiên trung
Mừng giáo sư Trần Văn Giàu bước sang tuổi 100
Giáo sư Trần Văn Giàu – trăm năm vui giữa nhân gian
Biết ơn công lao to lớn của Giáo sư Trần Văn Giàu
Trao huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cho giáo sư Trần Văn Giàu
Mừng giáo sư Trần Văn Giàu thượng thọ
Giáo sư Trần Văn Giàu tặng quà cho Tài Em
Mừng thọ 95 tuổi giáo sư Trần Văn Giàu
Gặp gỡ 4 thế hệ thầy – trò: Lấp lánh một chữ tâm

Giải thưởng Trần Văn Giàu:

Giải thưởng Trần Văn Giàu – huy chương vàng mười
Công trình nghiên cứu Óc Eo nhận giải thưởng Trần Văn Giàu
Cụm công trình “Lịch sử Nam bộ kháng chiến” được trao giải
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đoạt giải thưởng Trần Văn Giàu lần 2
Nhà nghiên cứu Thái Hồng nhận giải thưởng Trần Văn Giàu

—–

Đêm Noel trong xà lim số 6

Ngày 29-4-1984, tôi được chuyển sang xà lim số 6 trại A-20 ở chung với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, linh hồn của một vụ nổi dậy do ngài và người em chủ trương năm 1976. Tôi hoàn toàn không hiểu lý do của việc chuyển xà lim cá nhân này. Ðây cũng là ngày mà tôi đánh dấu 3 năm bị cùm hai chân và có giai đoạn cả hai tay trong xà lim số 5. Phải nói là tôi bị gông thì đúng hơn. Nếu quý vị được nhìn thấy những tội phạm của thời phong kiến bị gông như thế nào thì chúng tôi bị gông như thế nấy. Chỉ có khác là nhà tù Cộng sản không gông cổ mà thôi.
Linh Mục Vàng, một nhà giảng đạo lỗi lạc của dòng Chúa Cứu Thế, sau khi bị lên án chung thân khổ sai sau vụ và em ruột ngài là Linh Mục Hiệu bị xử tử, đã bị đưa lưu đầy tại trại A-20 Xuân Phước. Khi tôi đã nằm cùm trong biệt giam trong phòng số 5 được 2 năm thì một hôm Linh Mục Nguyễn Văn Vàng lúc ấy từ trại lao động bị đưa vào xà lim số 6, bên cạnh xà lim tôi bị giam.
Khi còn ở ngoài trại lao động, ngài là đối tượng theo dõi của đám an ninh trại giam, nhất cử nhất động đều không qua mắt được một giàn ăng ten dầy đặc vây quanh vị tu sĩ công giáo này. Bọn an ninh trại nói thẳng ra rằng nếu chúng bắt gặp bất cứ tù nhân nào liên hệ với Linh Mục Nguyễn Văn Vàng, sẽ cùm ngay.
Tôi là một Phật tử, nhưng mối liên hệ với Cha Vàng khá thân thiết và chúng tôi thường đàm đạo với nhau vào mỗi ngày sau giờ cơm chiều trước khi điểm số để vào buồng giam, không chấp lệnh của trại. Có lẽ đây là lý do bọn an ninh trại đưa tôi đi “nghỉ mát” trước và 2 năm sau họ đưa Cha Vàng và một vài anh em nữa vào những chiếc hộp nhỏ ở ngay say nhà bếp của trại A. Trại tập trung A-20 ở Xuân Phước thường được chúng tôi gọi là trại trừng giới (danh từ có từ thời Pháp thuộc để chỉ những trại có quy chế trừng trị tù nhân khắt khe). Cục Quản Lý Trại Giam của Cộng Sản thì gọi những loại trại này là Trại Kiên Giam. Tại sao chính quyền Cộng Sản gọi những trại được đánh mã số bằng chữ A và tiếp theo là một hàng con số? Thật ra thì rất ít người được biết lý do tại sao lại gọi A-20 là một trại kiên giam nếu không có dịp bị gọi đi thẩm cung nhiều lần trước khi được “gởi” vào những chiếc “hộp” ở Xuân Phước. Sau biến chuyển đánh dấu bằng việc Trung Quốc tấn công 6 tỉnh sát biên giới Việt Trung năm 1979, Cục Trại Giam được lệnh thực hiện một kế hoạch gọi là “Phương Án 4”, nghĩa là thực hiện một kế hoạch tuyển lựa tất cả những thành phần cứng đầu “không thể cải tạo được nữa” để đưa vào những trại A và trại Z. Kế hoạch này là tác phẩm của một viên Ðại Tá về sau này trở thành một tướng lãnh công an tên là Hoàng Thanh (có lẽ là bí danh). Hoàng Thanh đã thẩm cung chúng tôi và rất nhiều tù nhân khác mấy tháng trước khi tôi bị chuyển trại về A-20. Lần sau cùng là vào mùa Thu 1979, khi thẩm cung tôi lần chót, ông ta cười cười nham hiểm nhưng nói huỵch toẹt: “Tôi biết chắc chắn là khi chuyển về trại mới, các anh không còn ngày ra. Cho nên tôi khuyên các anh là tốt nhất nên ngoan ngoãn để hưởng khoan hồng của nhà nước, nói chung là được mang vợ con cách anh lên lập nghiệp ở đây cho gần. Khu vực trai giam sau này sẽ trở thành một đập nước và một thị trấn. Chúng tôi muốn thiết lập một trong những tiểu Siberia . Bây giờ, tôi thấy không còn cần phải giấu diếm gì các anh nữa”.
Trại A-20 lúc đầu (1979) có tới 4 trại được đánh số A, B, C, D, ở cách nhau trên dưới 5 cây số. Trại A được xây hoàn bằng bê tông cốt sắt tường, bệ nằm, vườn rau ao cá dưới những rặng dừa xanh tốt. Nhưng bên trong những dãy nhà gạch, mái ngói đỏ au đó là những phương thức câu thúc thân thể và tinh thần không khác dưới các trại giam ở Siberia dưới thời Stalin mà phần lớn người đọc sách ở Miền Nam Việt trước 1975 đều biết qua cuốn “Quần Ðảo Gulag” của văn hào Solzhenitsin. Tôi sẽ có dịp nói đến chuyện này trong một bài viết khác. Bây giờ tôi quay lại chủ đề của bài viết này.
Những người dây dựng trại Xuân Phước là ai? Cái oái oăm của lịch sử mà chúng tôi gặp phải chính là ở chỗ: Trại tù này lại do chính bàn tay của những người từng được di tản tới Guam trước ngày 30-4-1975, sau đó lại biểu tình đòi trở về lại Việt Nam bằng tầu Việt Nam Thương Tín, tạo dựng lên. Lúc chúng tôi được chuyển trại về đây thì có một số vẫn chưa được trả tự do. Chạy nạn Cộng Sản tới Guam , rồi vì những lý do riêng biệt hầu hết là vì gia đình còn kẹt lại, trong cơn hoang mang và đau khổ tột độ, tình cảm che lấp lý trí và bị kích động, họ đòi quay trở về với lý do xây dựng lại quê hương sau chiến tranh. Nhưng người Cộng Sản thừa hiểu, những người tị nạn này quay trở về chỉ vì có người còn vợ con, có người còn mẹ già không có người săn sóc, có người hoảng loạn bỏ lại vợ mới cưới, người tình đằng sau. Cho nên, Cộng Sản mở một cuộc đón tiếp để quay phim chụp hình và sau đó đẩy tất cả đàn ông vào khu rừng Xuân Phước và bị buộc phải xây dựng nhà tù này để chính quyền Cộng Sản giam giữ chính những đồng đội của mình. Tôi đã có rất nhiều dịp tiếp xúc với họ, nên hiểu được tấm lòng của họ và thấy họ đáng thương quý hơn là đáng trách. Một sĩ quan xưng là quản gia cho tướng Nguyễn Cao Kỳ tâm sự với tôi: “Cậu tính coi, lúc đó vì hoang mang đi gấp không kịp lôi vợ con và bà mẹ già theo. Ðến Guam, cứ nghĩ đến họ, làm sao nuốt nổi miếng cơm chứ. Tôi biết nhiều người không thể thông cảm được lý do tôi trở về, trong đó có thể có cả vợ con tôi nữa, nhưng đành chịu vậy. Cho nên dù bị đẩy vào hoàn cảnh khốn nạn như thế này, tôi vẫn thấy lương tâm yên ổn hơn”.
Tôi không có ý định nói chi tiết về vụ này mà muốn trở lại cái đêm Noel trong xà lim số 6. Xà lim là tiếng dịch theo âm Việt Nam của “cellule” (tiếng Pháp), xuất hiện trong văn chương và báo chí từ thời Pháp thuộc. Thực ra nếu tra tự điển tiếng Anh Việt hay Pháp Việt, chữ cell hay cellule đều có nghĩa là “tế bào”. Trong các trại tù của những quốc gia theo chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa cộng sản, hoặc các quốc gia dân chủ tự do, những “tế bào” vẫn được hiểu là những phòng biệt giam cá nhân để trừng phạt những tù nhân nguy hiểm. Những phòng biệt giam cá nhân này thường được xây dựng theo một tiêu chuẩn giống nhau: Không gian nhỏ hẹp của chúng phải đáp ứng được nhu cầu trừng phạt cả thể xác lẫn tinh thần người tù. Riêng tại các trại cải tạo do người Cộng Sản dựng lên, những phòng biệt giam cá nhân được gọi bằng một nhóm từ “nhà kỷ luật”. Trại A ở A-20 Xuân Phước có một dãy 10 phòng biệt giam cá nhân, mỗi phòng như vậy giống như một cái hộp với bề rộng 3 thước, dài 3 thước, cao 6 thước, xây dựng bằng vật liệu bê tông cốt sắt, kín mít chỉ có một lỗ tò vò nhỏ ở cánh cửa trước để cho vệ binh kiểm soát tù nhân ở bên trong. Ở phía trong mỗi xà lim cá nhân, có hai bệ nằm song song, cách nhau bằng một khoảng hẹp khoảng nửa thước. Người tù nằm trên bệ quay mặt ra phía cửa hai chân bị cùm chặt bằng một cùm sắt (trong hình), có nhiều trường hợp bị cùm cả hai chân hai tay.
Nhưng cùm như thế nào? Có phải là cùm bằng còng số 8 như ta thấy cảnh sát Mỹ còng tay phạm nhân để giải giao về sở cảnh sát không? Thưa không phải như vậy! Làm gì chúng tôi lại được ưu đãi đó. Loại còng trong những xà lim mà tôi trải qua suốt 5 năm liên tiếp tại A-20 trong rừng Xuân Phước là “cùm Omega”. Tại sao lại gọi loại cùm này bằng cái tên của một hiệu đồng hồ rất nổi tiếng là đồng hồ Omega. Hai cái vòng sắt để khóa hai chân người có hình thù giống y chang logo của đồng hồ Omega (minh họa của Bùi Ánh). Khi bị còng trong xà lim, người tù cải tạo bị đẩy ngồi lên bệ nằm, duỗi thẳng hai chân. Viên cán bộ an ninh trại giam sai một trật tự lấy ra một lô vòng sắt hình ký hiệu omega ra và ướm thử vào cổ chân người tù. Nếu đám an ninh trại giam không có ý định trừng phạt nặng tù nhân cải tạo thì họ ra lệnh cho trật tự lấy hai vòng omega vừa vặn với cổ chân người tù cải tạo. Ngược lại nếu họ muốn trừng phạt nặng và muốn làm nhiễm độc thối chân người tù, họ tra vào cổ chân tù cải trạo hai vòng omega nhỏ hơn vòng cổ chân rồi đóng mạnh xuống. Khi cổ chân người tù lọt vào được chiếc vòng omega, nó đã làm trầy trụa một phần hay nhiều phần cổ chân người tù. Sau đó, họ tra vào bên dưới một cây sắt dài qua những bốn lỗ tròn ở hai vòng omega, một đầu cây sắt ăn sâu vào mặt tường trong, đầu phía ngoài của thanh sắt được xỏ qua một chốt được gắn thật sâu xuống cạnh bên ngoài của bệ nằm. Một cây sắt khác ngắn hơn, một đầu được uốn tròn, đầu kia của cây sắt này được đánh dẹp và khoan một lỗ nhỏ. Khi hai thanh sắt này được khóa chặt với nhau thì một đầu của cây sắt dọc sẽ xuyên qua một lỗ nhỏ tường phái trước, thò ra ngoài ra ngoài một đoạn. Chỉ việc tra một cái khóa vào đầu phía ngoài ấy của thanh sắt dọc là tất cả hệ thống trên sẽ tạo thành một cái cùm thật chặt khó lòng một người tù nào có thể mở khóa vì mấu chốt để tháo cùm là ổ khóa bên ngoài. Phải mở được ổ khóa bên ngoài thì mới mở được cùm.
Có bốn mức cùm dành cho một tù cải tạo khi họ bị biệt giam ở trại Xuân Phước: Mức độ 1: Cùm một chân phải, mức độ 2: Cùm một chân trái, mức độ 3: Cùm hai chân, mức độ 4: Cùm hai chân hai tay. Tôi đã trải qua mức độ 4 trong 8 tháng liên tiếp, sau đó giảm xuống mức độ ba, rồi lại tăng lên mức độ 4 trước khi giảm xuống mức độ 3, 2 rồi 1. Khi còn bị cùm mức độ 4, ngoài hai bữa ăn và ban đêm, tôi được tháo cùm 2 tay, thời gian còn lại lúc nào tôi cũng phải ngồi cong như con tôm luộc vì kiểu cùm độc ác này. Sở dĩ tôi được giảm xuống mức độ 3 rồi trở lại mức độ 4 chỉ vì một sự kiện: Sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế để thả tôi ra. Khi hai thành viên của Hội này là bà Frederick Fuchs (người Bỉ) và ông Pierre Carreaux (cựu chiến binh người Pháp) từ Belgique bay qua Bangkok với một danh sách 14 ký giả, phóng viên bị trả thù bởi chế độ mới tại Việt Nam và đòi đến Hà Nội để được gặp mặt những người này. Chỉ có bà Fuchs là được vào Hà Nội, nhưng bà chỉ được nhận hồ sơ can thiệp và được phép thăm bà mẹ tôi tại Saigon chứ không được đến trại A-20 gặp mặt tôi. Khi bà Fuchs đòi chiếu khán ở Bangkok để vào Hà Nội trùng vào thời điểm tôi được tháo cùm hai tay và thời gian bà Fuchs rời Hà Nội trùng thời gian tôi bị trở lại mức cùm số 4. Trước khi tôi được tháo cùm hưởng ân huệ ở mức độ 2, thì một phái đoàn do Hoàng Thanh hướng dẫn từ Hà Nội vào “thăm” A-20. Ông ta lôi một lô những người tù cải tao đang nằm trong biệt giam tại trại A cũng như B ở A-20 ra thẩm cung. Tôi được một trong những thẩm vấn viên cho xem bản sao những lá thư can thiệp đòi thả tôi, và 13 ký giả khác trong đó có kèm theo cả những lá thư của bằng hữu và đồng nghiệp với tôi ở Pháp, trong đó có thư của ông Trần Văn Ngô tức ký giả Từ Nguyên, một cựu phóng viên của Việt Tấn Xã thuộc lớp đàn anh chúng tôi. Sau đó anh ta nói thẳng với tôi: “Bọn mày thấy đấy, mấy thằng Tây này kể cả mấy thằng ký giả Việt gian chạy trốn tổ quốc không thể đánh tháo chúng mày được. Khôn hồn thì chịu cải tạo để không bị chết trong cùm. Suốt đời chúng mày sẽ không ra khỏi cái thung lũng này được đâu. Ân Xá Quốc Tế hả, còn khuya bọn nó mới làm gì được chúng tao”. Tôi không trách gì việc can thiệp này mà lại còn vui là đằng khác, bởi vì nó củng cố cho tôi một niềm tin và thấy được tấm lòng hào sảng của bạn bè đồng nghiệp ra được nước ngoài. Tôi thành thật tri ân họ.
Những ngày tiếp theo, tôi bị nâng cùm ở mức độ 4 và bị cắt khẩu phần ăn xuống chỉ còn bằng một nửa so với các anh em bên ngoài, nghĩa là chỉ còn mỗi bữa ăn 150 grams. Nếu tính chi ly ra thì 150 grams thực phẩm mỗi ngày gồm khoản 5 lát khoai mì khô luộc và một muỗng cơm, tất cả chan đẫm nước muối và được phát cho nửa ca nước một ngày. Ăn mặn và uống nước ít, người rất dễ bị phù sẽ ảnh hưởng tới thận. Trong tù mà bị thận thì kể như tàn đời. Cho nên ăn lúc đó trở thành ít quan trọng hơn dù lúc đó chúng tôi đã là lũ ma đói. Cái khát triền miên đã che đi cái đói. Nếu tôi muốn ăn muốn ăn được khẩu phần dành cho người đang bị trừng phạt phải dùng ít nhất nửa phần nước để rửa bớt cái mặn của nước muối được chan vào cơm và khoai mì. Tôi không dám hy sinh những muỗng nước quý như vàng lúc đó để rửa phần khoai. Tôi nghĩ chỉ có cách nhịn, nhưng càng đói lả đi thì mồ hôi ra như tắm, một tình trạng hết sức nguy hiểm. Cha Vàng thấy tôi lả đi, ngài đập cửa báo cáo nhưng đám cán bộ của nhà kỷ luật im lặng, coi như không có chuyện gì xảy ra. Buổi trưa hôm đó, cha Vàng nẩy ra một ý kiến. Ngài nói: “Anh không thể tránh ăn mãi như thế. Nếu chúa che chở cho mình, phù cũng không chết. Bố tự trách không nghĩ ra việc hy sinh nửa ca nước của bố cho anh. Khoai mì ít ngấm nước muối hơn. Bố sẽ hy sinh nửa phần nước để anh rửa khoai mì cho bớt mặn”. Tôi khước từ: “Bố (trong tù chúng tôi đều gọi tất cả các tu sĩ của các đạo giáo là bố hết) lớn tuổi sức chịu đựng yếu rồi, nhịn khát như con không được đâu”. Ông cười: “Sao biết không được, đã thử đâu mà biết không được”. Tôi chọc ngài cho bớt căng thẳng: “Thế bố đã thử chưa mà khi đi giảng đạo có lúc bố nói về hạnh phúc lứa đôi”. Cả hai chúng tôi đều cười vang. Cha Vàng nói: “Ê này, để bố nói cho anh nghe chuyện này. Bố dù là linh mục thì cũng là người, con tim cũng rung động như mọi người khác, nhiều lúc bố cũng muốn thử. Những lúc như thế mình phải tranh đấu với chính bản thân mình ghê lắm để đừng vượt rào đi ăn tình. Ðiều này cũng cần can đảm mới làm được. Tín đồ kính trọng người tu hành là kính trong sự can đảm ấy, kính trọng sự vượt qua để phụng sự, chứ nếu giống như thường tình thì nói gì nữa”.
Vâng thưa quý vị, giải pháp của Cha Vàng đã khiến cho một tuần, hai tuần, ba tuần qua đi nhanh và vô hiệu hóa được sự trừng phạt. Vào tuần lễ thứ tư của cuộc trừng phạt, như một phép lạ, viên cán bộ phát cơm nhà kỷ luật không phải là tên trực trại như thường lệ mà là một anh chàng lạ hoắc. Tù nhân mang cơm cho nhà kỷ luật cũng không phải là Hùng đen mà là Tuấn “sún” ở đội tù hình sự. Thông thường, khi vào phát khẩu phần cho nhà kỷ luật, viên cán bộ trực trại thường mở xà lim có tù nhân “bị gởi” (tù nhân bị ăn chế độ trừng phạt) trước. Nhưng lần này thấy các xà lim được lần lượt mở từ 1 cho đến 9 (số hên?) Xà lim 10 không có “khách”.
Ðến xà lim số 6, cha Vàng đưa hai chiếc bát nhựa và hai ca đựng nước ra trong khi viên cán bộ đích thân mở khóa tay cho tôi. Viên cán bộ này mặc đồ công an không lon lá gì cả nên không biết cấp bậc anh ta. Phát khoai xong, thấy Tuấn “sún” múc một vá nước muối, viên cán bộ nói ngay: “Ít muối thôi, chan đẫm vào, làm sao người ta ăn được”. Ðến phần nước, khi thấy Tuấn “sún” múc đầy cả hai ca, tôi hiểu rằng hôm đó tên cán bộ trực trại có việc gì đó không mở trại kỷ luật được, nên nhờ bạn thay thế. Vì làm thế nên anh chàng này không còn nhớ hoặc không thèm nhớ là trong trại có tù nhân phải ăn khẩu phần dành cho chế độ trừng phạt. Phát xà lim số 9 xong, lại thấy có tiếng chìa khóa mở cửa xà lim số 6 của tôi. Tôi đinh ninh rằng họ quay lại để lấy bớt phần nước nên tôi vội vàng cầm ca nước uống hết. Nhưng không, Tuấn “sún” xách thùng nước đứng ở cửa phòng hỏi: “Có gì đựng thêm nước không”. Tôi nói: “Có” và đưa ca nước ra. Tuấn “sún” đổ đầy hai ca nước, rồi lại hỏi: “Còn đồ đựng nước khác không?” Cả hai chúng tôi lắc đầu. Viên cán bộ xen vào: “Ðổ vào thau cơm cho họ, chiều hay mai lấy ra”.
Hình phạt dành cho tôi chấm dứt vào đầu tháng 11. Tôi đoán hết lý do này đến lý do khán khiến chúng chấm dứt sự trừng phạt đối với tôi. Nhưng cha Vàng nhận định: “Nếu cần phải giết chúng ta, chúng đã tùng xẻo mình ngay từ lúc đầu. Ðoán làm gì cho mệt…”
Cuối tháng 11, cả hai chúng tôi đều được mở cùm cho ra đi tắm, lần đầu tiên sau 3 năm biệt giam. Khi được mở cùm, tôi đứng lên không nổi vì hai chân dường như cứng lại. Cha Vàng cũng nằm trong tình trạng ấy, nhưng ngài mới bị biệt giam hơn một năm nên còn lết được. Chúng tôi bám lấy nhau theo hướng dẫn của trật tự đi ra ngoài giếng được đào bên cạnh một ao cá ngay sau nhà kỷ luật. Thời tiết tháng 11 ở vùng tiền sơn Tuy Hòa đã lạnh lắm rồi. Tôi còn có được một cái áo lạnh tự may bằng cách phá một chiếc chăn len của một bạn tù cho từ năm 1980. Khi được cho chiếc chăn len này, tôi nghĩ ngay đến chuyện may thành chiếc áo giống như áo trấn thủ. Trò may vá trong các trại tù cũng là một thú tiêu khiển và giết thời giờ. Chúng dùng những cộng sắt để làm kim và chỉ thì bằng những sợi rút ra từ những chiếc áo hay quần may bằng bao cát. Chính ở những trò may vá này, chúng tôi học được một bài học: Cùng thì tắc biến. Trước những trò đàn áp, những mưu chước thô bạo quản thúc con người trong các nhà tù cộng sản, vẫn có rất nhiều người vượt qua được cơn khốn khó do bản năng sống còn của họ rất mạnh. Cứ thử nghĩ một người nếu ăn bất cứ con vật gì mà họ bắt được kể cả rít núi, cỏ kiểng, ăn sống cả loại khoai mì H-34 có nhiều chất độc trên đất Hoa Kỳ này, thì chỉ có nước vào nhà thương sớm. Nhưng thời gian dưới các nhà tù Cộng Sản bệnh không có thuốc, ăn bậy bạ mà các tù nhân cải tạo ít bị hề hấn gì. Tôi nghĩ một cách chủ quan rằng chỉ có phép lạ hay bản năng tự tồn của người khi bị đẩy vào cùng quẫn mạnh, mới giúp cho một người tù sống được và có ngày trở về. Một số bạn tù của tôi sau này hay nói đến chuyện sống vì tinh thần, lúc đầu tôi chỉ coi là chuyện vui, nhưng ngẫm nghĩ lại thấy cũng có phần chí lý. Khi một người tù chấp nhận phần xấu nhất về mình, sẽ bất chấp những đòn thù. Vì một người biết chấp nhận phần xấu nhất về mình trong hoàn cảnh lưu đầy, sẽ chẳng còn gì phải suy nghĩ về hiện tại lẫn tương lai, ngày về. Lúc đó nếu Việt cộng có bắn mình một viên vào ngực, có lẽ điều đó được coi là ân huệ hơn là kéo dài cuộc sống của những người tù theo cách nửa sống, nửa chết như thế. Cho nên, người cộng sản có thể tính được nhiều trò đàn áp, hành hạ con người, nhưng không tính được điều liên quan đến bản năng và tinh thần của con người.
Khi chúng tôi ra đến bờ giếng là muốn trở lại ngay xà lim. Còn tắm táp gì trong điều kiện thời tiết này. Thấy Cha Vàng run lên bần bật vì gió lạnh. Ngài lại chỉ mặc một chiếc áo len mỏng bên trong bộ đồ tù, nên tôi cởi chiếc áo trấn thủ và nói: “Bố đưa chiếc áo len con, bố mặc chiếc áo của con vào ngay. Bố phong phanh thế, cảm lạnh bây giờ. Bố nhớ rằng ở đây không có thuốc, mặc chiếc áo này của con đi, bố đưa áo len cho con”. Ông nhất định không chịu, nhưng cuối cùng tôi vẫn lột chiếc áo len của cha Vàng ra và mặc chiếc áo trấn thủ mang bằng chăn len hai lớp của tôi, tôi mặc chiếc áo len của ông. Dĩ nhiên chúng tôi chẳng tắm táp gì được cả, ngồi núp vào bức tường che giếng nước để tránh gió. Cha Vàng ít run rẩy hơn. Ngài đứng dậy và vung tay cử động. Tôi làm theo ngài. Tôi có cảm tưởng cứ mỗi lần vung tay cử động theo kiểu Dịch Cân Kinh thì chúng tôi choáng váng có thể chúi về trước, nhưng đồng thời cũng cảm thấy bớt lạnh. Viên cán bộ trực trại dặn chúng tôi: “Các anh tắm thì tắm, không muốn thì thôi. Nếu không thì ngồi đây phơi nắng (ở Xuân Phước, mùa Ðông thường không thấy mặt trời). Cấm không được liên hệ với ai”. Nói xong, anh ta bỏ đi.
Nói thì nói vậy, nhưng các anh em trong nhà bếp đều là anh em sĩ quan cải tạo, nên cũng tìm cách tiếp tế cho chúng tôi vài miếng cơm cháy, mấy tán đường. L.S, một người Việt gốc hoa, một tỷ phú, vua máy cày trước 30-4-1975 bị đẩy lên trại này sau khi lãnh cái án 20 năm tù sau đợt đánh tư sản mại bản lần thứ nhất, đang được cắt cử coi vườn rau cải. Ông ta từ vườn rau đi khơi khơi, không lén lút gì, đến thẳng chỗ chúng tôi, đưa một gói bánh trong đó có ít bánh bisquit lạt và ít đường tán, và thiết thực hơn là khoảng 10 viên thuốc B1. L.S nói: “Ngộ biếu, bánh đường ăn hết ở ngoài này đi, đừng mang vào chúng nó sẽ tịch thu. Thuốc B1 cần cho các nị lắm á. Cứ ăn từ từ, đừng có lo, nhà nước ‘no’ hết ”. Xong ông ta bỏ đi.
Nhóm người Việt gốc Hoa sống trong trại rất đầy đủ, nhưng đối với chúng tôi, lúc nào họ cũng cư xử đàng hoàng. Những tin tức từ bên ngoài được đem vào trại của họ khá chính xác. A-20 là trại trừng giới nhưng quà thăm nuôi hàng tháng của họ chất đầy chỗ nằm. Mỗi lần thăm gặp họ ở với gia đình cả ngày ở ngoài nhà thăm nuôi cũng được, nếu họ muốn. Nhưng ít khi nào họ hành động như vậy. Môi trường ở A-20 là môi trường tế nhị. Những doanh nhân này đầu óc rất thực tế: Có tiền mua tiên cũng được huống chi đám cán bộ trại giam vốn cũng đói rách. Cái giá của việc khơi khơi đến tiếp tế cho chúng tôi ít ra cũng phải trả bằng 6 tháng biệt giam, nếu bị bắt gặp. Nhưng 6 tháng biệt giam chỉ tương đương với 2 cặp lạp xưởng. Ông là người tù duy nhất ở trong trại có thể trả cái giá ấy bằng lạp xưởng hay nửa bao thuốc lá ba số 5 thay vì vào biệt giam. LS biết chắc rằng buổi tối hôm ấy, tên trật tự (bị án chung thân vì tội cướp có súng) sẽ xuống gọi LS ra cửa sổ buồng giam và xin hai ặp lạp xưởng cho cán bộ nấu xôi. Cho nên, LS đi đâu một lúc rồi ông ta trở lại với cái điếu cày, diêm và nói: “Thuốc nào này say lắm, cẩn thận. Ðừng mang diêm vào biệt giam”. Hút xong thuốc lào, chờ cơn “phê” nhạt dần, tôi chợt nẩy ra ý kiến: “Bố ơi mình giấu 2 bi (tiếng lóng của hai điếu) để đêm Noel hút”. Tôi quận nhúm thuốc còn lại cho thật nhỏ vào bao nhựa đựng 10 viên B1 và nhét vào gấu quần. Cái gấu quần là chỗ hôi thối của những người tù 3 năm không được tắm, chắc không có ai muốn sờ đến nên có thể an toàn. Biệt giam là nơi cấm hết mọi thứ kể cả thuốc hút nên chúng tôi phải hành động như vậy. Và quả thật, trước khi mang chúng tôi vào lại xà lim, trật tự Hùng đen chỉ khám sơ sơ. Tôi và Cha Vàng đã thắng.
Nhưng vào đến xà lim, sau khi xỏ chân vào cùm, nghĩ lại tôi mới thấy thất vọng: lửa ở đâu mà hút. Thảo luận mãi, Cha Vàng đưa ý kiến, lấy lửa bằng phương pháp của thời kỳ đồ đá. Tôi lại chọc vị tu sĩ Công giáo rất hùng biện này: “Bố con mình đang ở thời kỳ đất sét mà bố nghĩ đến phương pháp của thời kỳ đồ đá”. Cha Vàng cười: “Mày chỉ tầm xàm. Ðứng đắn đấy. Ðêm Noel mình sẽ hút thuốc lào, bố cáo cách rồi”. Sau đó cha Vàng giảng giải cho tôi cách lấy lửa “thời kỳ đồ đá”. Vị tu sĩ nói như giảng đạo: “Này nhé, con có biết rằng nền văn minh ngày nay đến từ việc phát minh ra lửa. Lửa chế ngự đồi sống con người khi họ thoát ra thời kỳ ăn lông ở lỗ… Con người thời kỳ đồ đá đã biết dùng đá chọi vào nhau cho đến khi xẹt lửa. Những tia lửa đó rớt xuống đám lá khô dễ bắt lửa và họ thổi cháy thành ngọn lửa”. Chà Vàng nói: “chỉ cần một thanh vỏ tre và áo mục”. Tôi hỏi Cha Vàng: “áo mục thì có sẵn, nhưng thanh vỏ tre?” Cha Vàng cười: “Bố giao nhiệm vụ cho mày nếu bị kêu đi thẩm cung, thế nào trước Noel chúng cũng gọi chúng ta ra tra vấn và khám xà lim, một biện pháp an ninh trước những ngày lễ trọng…” Do kinh nghiệm, cha Vàng nói đúng. Năm ngày trước Noel, trời có nắng, những tia nắng hiếm hoi xuyên qua cửa tò vò vào phòng giam. Ngài vội lấy chiếc áo tù bằng vải thô vá chằng vá đụp, xé hai mảnh nhỏ. Ngài nói: “Ðây là cái áo bố đã giặt rất sạch trước khi vào đây, để làm con cúi lấy lửa khi cần. Xé nó ra phơi cho thật khô. Cuộn lại cho chặt thành một cuộn bằng ngón tay cái. Dùng móng tay đánh tơi một đầu, đánh thật tơi cho đến khi sợi vải ở đầu con cúi xuất hiện một lớp bông. Dùng miếng vỏ tre thật mỏng luồn nó vào cái khe hẹp để gắn quai dép lốp rồi kéo cho đến khi thanh tre nóng bỏng. Hơi nóng của bột tre dính trên mặt bông của con cúi, lửa sẽ ngún và thổi nhè nhẹ vết lửa sẽ loang ra, chỉ cần thổi nhẹ là lửa sẽ bật lên”.
Nghe Cha Vàng nói tôi tưởng là ngài nói chuyện thần thoại. Nhưng do vẫn nghĩ đến phép lạ, nên tôi nghe theo lời ngài. Tôi nghĩ đây là một trò vui và cũng là dịp tự thử thách mình. Ðúng như dự đoán, trước Noel 1984 ba ngày, lần lượt chúng tôi bị kêu ra ngoài thẩm cung và xà lim bị khám xét rất kỹ. Nhưng họ vẫn không phát giác ra được mấy điếu thuốc lào và thuốc B1 tôi giấu trong lai quần. Có lẽ do người hôi thối quá nên, anh cán bộ nào cũng sợ mó vào quần áo tôi. Chỉ còn thanh tre mỏng. Tôi nghĩ ra một kế nên báo cáo cán bộ cho xin một thanh tre mỏng mang vào xà lim để làm dồ cạo lưỡi. Viên cán bộ hỏi tôi: “Lưỡi anh làm sao?” Tôi nói: “Ðóng bợn ba năm rồi không được cạo, nên xin cán bộ”. Anh ta không nghi ngờ gì cả nên gật đầu: “Nhưng tre ở đâu ra?” Tôi nói ngay: “Ở nhà bếp chắc có”. Anh cán bộ gọi trật tự Hùng đen: “Xuống nhà bếp bảo họ cho tôi một vỏ tre cạo lưỡi cho anh này”. Tôi lại gặp may lần nữa. Mấy anh em nhà bếp tưởng làm cây cạo lưỡi cho cán bộ nên họ làm rất kỹ và tôi có một thanh cạo lưỡi bằng vỏ tre khô dài khoảng 2 gang tay.
Sau khi trở lại xà lim, tôi bắt đầu thực tập ngay. Tháo một quai dép lốp ra, tôi luồn thanh tre vào và dùng hai tay kéo cưa. Thấy nóng thật, tôi ra sức kéo mạnh. Cha Vàng vội can: “Kéo từ, thở ra hít vào đều, ít ra cũng một tiếng đồng hồ”. Tôi lại chọc cha Vàng: “Bố ơi, mình dang ở thời kỳ đồ đất mà kéo như thế này, chắc phải ăn 5 phần khoai mì may ra mới bù lại được. Ðồ đất dễ vỡ lắm!” Vị linh mục cười hiền lành: “Thôi dừng có nói nữa, anh nói nhiều xì hơi còn sức đâu mà kéo”.Trong khi tôi đánh vật với chiếc dép và thanh tre, thì Cha Vàng móc trong tay nải lấy hai miếng vải đã phơi khô ra và làm thành một con cúi. Ông chà một đầu con cúi xuống sàn rồi lấy móng tay út lúc đó đã dài như móng tay của mấy bà người Tàu bó chân, khẩy khẩy cả tiếng đồng hồ vào những thớ vải lúc đó đã hơi bung ra. Ðến khi thấy mệt, mồ hôi ra như tắm, tôi nói với Cha Vàng: “Con chịu thua rồi bố ơi, mệt quá”. Cha Vàng khuyến khích: “Ðừng ngừng, tiếp tục để bố thử coi”. Tôi tiếp tục kéo. Bột tre đã văng ra có thể nhìn thấy trên sàn. Khi Cha Vàng lựa thế đưa cúi vào thì tôi gia tăng tốc độ. Cha Vàng reo lên: “Hơi ngún rồi tại, chưa bén than vì anh kéo chưa đủ đô”. Quả thật tôi cũng thấy một chút khói bốc lên. Ngày hôm sau, chúng tôi lại thử, một cuộc chạy đua tiếp sức của hai người. Ðể con cúi vải xuống sàn, tôi và Cha Vàng thay phiên nhau kéo, từ 9 giờ sáng cho đến hơn 11 giờ thì “phép lạ” đã đến. Ðầu con cúi bắt đầu ngún và có khói, có nghĩa là bột tre nóng quá độ đã khiến cho lớp bông nhẹ trên con cúi bén lửa. Một lát sau khi thấy xuất hiện những đốm hồng, Cha Vàng thổi nhẹ nhẹ, vết lửa lan ra, trang sử của mấy ngàn năm trước được lật lại. Cha Vàng tiếp tục thổi nhẹ để nuôi dưỡng ngọn lửa. Và khi đã ngủi thấy mùi khét của vải, ngài thổi hơi mạnh. Ngọn than hồng lan rộng ra hơn và cuối cùng chỉ cần một hơi nhẹ, ngọn lửa bùng lên. Vị tu sĩ nhìn con cúi vải có than hồng giống như một điếu thuốc lá mới được đốt lên, rồi cười vang: “Mình thắng”. Ngài lục trong tay nải một miếng giấy châm vào cúi vải, ngọn lửa lan sang đóm giấy. Xong, cha nắm chặt tay tôi giơ lên cao như một võ sĩ được trọng tài nắm tay giơ cao sau khi đấm địch thủ do ván.
Chúng tôi ngồi nghỉ một lát, sau đó Cha Vàng nói: “Chúng ta đã học xong bài học lúc bố đã ngoài 50, còn con đã 33 tuổi. Nhưng tự bố, bố thấy chúng ta xứng đáng với bài học ấy. Ðó là kiên trì đạt mục tiêu trong hoàn cảnh khó khăn nhất”. Ðúng vào tối 24-12-1984, trước khi Cha Vàng cử hành thánh lễ nửa đêm trong xà lim số 6, chúng tôi đã hút mỗi người một điếu thuốc lào. Hút bằng một miếng giấy cuộn tròn như loa kèn và ngậm nước. Hút như thế, miệng mình chính là cái điếu, và cũng có tiếng kêu, cũng chếnh choáng say như khi hút bằng điếu cày. Chỉ có điều khác với hút thuốc lào bằng điếu cày: Sau khi hút phải nhổ nước đi. Trong hoàn cảnh tôi và Cha Vàng lúc đó thì hơi tiếc vì chúng tôi thiếu nước uống kinh niên.
Kể từ ngày sống cùng một xà lim với Cha Nguyễn Văn Vàng, tôi học được nhiều điều. Trong suốt thời gian này, ngài giảng cho tôi bộ Tân Ước. Dù tôi là một Phật tử, nhưng nghe một nhà truyền đạo Công giáo chuyên môn giảng kinh, nên bộ Tân Ước đã củng cố những lập luận sau này của tôi rất nhiều. Quan trọng hơn hết, đó chính là kỷ niệm với một tu sĩ mà tôi kính trọng.
Tháng 4-1985, Cha Vàng lâm bệnh vào lúc sức khỏe của ngài đã quá yếu. Có lẽ ngài đã kiệt sức, sốt cao rồi đi vào hôn mê. Tôi đập cửa kêu cấp cứu suốt ngày, nhưng lúc tên trực trại chịu mở cửa để cho một y sĩ vào khám bệnh, thì mọi việc có vẻ quá muộn. Hai viên trụ sinh không đủ khả năng làm Cha Vàng tỉnh lại. Vào đúng lúc cả hai chúng tôi đều cảm nhận được mùa Giáng Sinh đã trở lại thung lũng Xuân Phước qua tiếng chuông của một nhà thờ dường như ở cách chúng tôi xa lắm vọng về trong đêm lạnh giá và u tịch. Linh Mục Nguyễn Văn Vàng qua đời ngay trong xà lim số 6. Trước đó, dù yếu và bệnh, ngài đã bàn với tôi là làm sao có được bánh thánh lúc ngài làm lễ nửa đêm trong Noel 1985 mà con chiên duy nhất trước ngài lúc đó lại là một Phật tử như tôi. Nhưng mơ ước của Ngài không thành, kể cả việc lớn trước đó là lập lực lượng võ trang để mong lật ngược lại tình thế của một đất nước vừa chìm đắm trong luồng sóng đỏ. Nhưng dù ngài đã mất đi, trong suy nghĩ của tôi cho đến bây giờ, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vẫn là một ngọn lửa, âm thầm cháy như con cúi vải ngày nào bỗng bùng lên soi sáng cái không gian tăm tối của tất cả những xà lim đang hiện diện trên đất nước Việt Nam.Vũ Ánh

http://ongvove.wordpress.com/2009/12/22/dem-noel-trong-xa-lim-s%E1%BB%91-6/

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

Làm Cách nào để vào Facebook – Đại Vệ Chí Dị

Posted by hoangtran204 on 31/12/2010

Nếu bạn là một Facebooker…

Southeast Asia Sea

Mẹ Nấm

DCVOnline: Ít nhất là từ cuối tuần qua, tại Việt Nam đã có dấu hiệu ngăn chặn facebook ở các nhà cung cấp dịch vụ Internet như VNTP, FPT, Viettel…Rất nhiều blogger sử dụng facebook từ Việt Nam sau khi phải cố gắng để “len lỏi” vào được blog của mình đã lên tiếng phản ảnh tình trạng ngăn chặn gắt gao này của các nhà cung cấp dịch vụ.

Bài viết dưới đây của Mẹ Nấm phản ảnh tình trạng trên, đồng thời cũng cho thấy hành động ngăn chặn khách hàng truy cập vào trang facebook của các nhà cung cấp dịch vụ Internet là phạm pháp.

Hẳn sẽ thấy thiêu thiếu và trống vắng khi việc truy cập vào mạng Facebook gặp khá nhiều khó khăn ở thời điểm này.

Đổi DNS, không ăn thua với những ai sử dụng dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao của VNPT, tại thời điểm này.

Một số chương trình vượt tường lửa khác như Tor, Ultrasurf, Free gate cũng ít phát huy được tác dụng.

Vì chưa có điều kiện kiểm chứng với nhiều bạn bè sử dụng nhiều dịch vụ Internet khác nhau, nên tôi chỉ đưa bằng chứng cụ thể là từ cá nhân mình – hiện đang sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp VNPT.

Tôi cũng đã từng nói, càng chặn thì càng có nhiều cách vượt, và cứ tiếp tục ngăn chặn thế này thì chẳng bao lâu Việt Nam sẽ là đất nước có nhiều vận động viên “vượt tường lửa” nhất thế giới.

Hãy nhìn vào con số người sử dụng dịch vụ của Facebook, bạn sẽ thấy đó thực sự là một xã hội online, với đầy đủ các thành phần. Vậy tại sao Facebook lại bị ngăn cấm ở Việt Nam?

Câu trả lời, tôi xin nhường lại cho tất cả mọi người đã cùng tham gia kết nối vào Facebook, bởi chỉ có bạn mới tìm ra được câu trả lời chính xác nhất cho bản thân mình.

Chặn Facebook không còn là vấn đề đơn giản như đặt một bức tường lửa trước những trang web chứa thông tin “không lành mạnh”, “không an toàn” đối với sự tồn tại của thể chế chính trị độc đảng tại Việt Nam nữa.

Đó là hành động tách rời xã hội Việt Nam với dòng chảy thông tin của thế giới.

Dẫu biết là có người chặn, thì nhà nhà và người người cũng sẽ tiếp tục vượt tường lửa để chạm tay vào thứ tự do mà mình cần, mình muốn.

Tuy nhiên, tôi nghĩ, chúng ta có quyền đòi hỏi mình phải được phục vụ một cách tử tế và đàng hoàng với những gì mình phải trả.

– Căn cứ Pháp lệnh Bưu chính và Viễn thông công bố ngày 25 tháng 05 năm 2002 :

Điều 5. Chính sách của Nhà nước về bưu chính, viễn thông

4. Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bưu chính, viễn thông.
5. Tạo điều kiện ứng dụng và thúc đẩy phát triển công nghệ và công nghiệp bưu chính, viễn thông.
6. Mở rộng hợp tác quốc tế về bưu chính, viễn thông trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Điều 8. Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư, dịch vụ viễn thông

1. Tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng các dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư, dịch vụ viễn thông và phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin, bưu phẩm, bưu kiện, vật phẩm, hàng hoá của mình theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát thư, dịch vụ viễn thông có trách nhiệm bảo đảm chất lượng dịch vụ và thực hiện đúng các quy định về giá cước dịch vụ do mình cung cấp cho người sử dụng theo quy định của pháp luật; có quyền từ chối cung cấp dịch vụ nếu tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật khi sử dụng dịch vụ và phải chịu trách nhiệm về việc từ chối của mình.

Căn cứ Nghị định 55/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 về việc quản lý cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet:

NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet

Chương I
Những quy định chung

Điều 1.
1. Nghị định này điều chỉnh việc quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet tại Việt Nam. Mọi tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam đều phải tuân theo Nghị định này.
2. Trong trường hợp các điều ước quốc tế liên quan đến Internet mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.

Điều 2.
1
. Internet là một hệ thống thông tin được kết nối với nhau bởi giao thức truyền thông Internet (IP) và sử dụng một hệ thống địa chỉ thống nhất trên phạm vi toàn cầu để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho người sử dụng.
2. Ở Việt Nam, Internet là một bộ phận quan trọng thuộc cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, được bảo vệ theo pháp luật Việt Nam, không ai được xâm phạm. Bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống thiết bị và thông tin trên Internet là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và cá nhân.

Điều 9. Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ Internet. Đơn vị, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet có quyền từ chối cung cấp dịch vụ, nếu tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ vi phạm pháp luật về Internet.

Cho đến tận bây giờ, chưa thấy người phát ngôn của Bộ ngoại giao Việt Nam hay bất kỳ cá nhân có trách nhiệm nào cho rằng trang mạng Facebook có liên quan hay phải chịu trách nhiệm đến việc Lợi dụng Internet để chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác. ( Điều 11 Nghị định 55/2001/NĐ-CP)

Vậy tại sao mình không đòi quyền log in vào Facebook một cách chính đáng như hàng triệu triệu Facebookers khác nhỉ?

Phụ chú:

VƯỢT RÀO VÀO FACEBOOK:

Tạm thời, với dịch vụ VNPT, mình vô trang http://www.hotspotshield.com/ , nhấn vào nút DOWNLOAD The Latest Version trên cùng ngay góc tay phải để tải chương trình về.
Đợi Install xong, nhấn kích hoạt Hotspot, nếu thấy biểu tượng ngay góc phải màn hình có màu xanh lá cây là bạn đã thành công trong việc vượt rào để vào Facebook.

– Hoặc bạn có thể truy cập Facebook từ trang này : http://www.lisp4.facebook.com/

– Chuyên nghiệp hơn bạn có thể sử dụng cách sau :

* Bước 1: Các bạn nhấn vào nút START => All Programs => Accessories => nhìn thấy NOTEPAD thì nhấn chuột phải (chú ý là chuột phải nha) rồi chọn Run As Administrator => Yes đồng ý. Sau đó sẽ hiện ra bảng Notepad mới trống trơn.

* Bước 2: Từ File Notepad mới đó, nhìn lên góc trái, chọn FILE => OPEN => phần File name thì copy dòng này vào:

C:WINDOWSsystem32driversetchosts

* Bước 3: Sau khi copy sẽ hiện ra 1 file notepad có nhiều chữ, bạn chỉ việc copy các dòng dưới đây paste xuống dưới cuối cùng là xong. Sau khi copy xong nhớ SAVE.

153.16.15.71 http://www.facebook.com
153.16.15.71 http://www.logins.facebook.com
153.16.15.71 facebook.com
153.16.15.71 logins.facebook.com
153.16.15.71 apps.facebook.com
153.16.15.71 upload.facebook.com

——–

Đại Vệ Chí Dị

12/19/2010 – 13:28

Nguồn: Blog Người Buôn Gió

18.12.2010

Nước Vệ, năm Canh Dần, triều nhà Sản.

Năm ấy nơi thì hạn hán, cá chết khô ngoài đồng, nơi lũ lụt nước ngập mái nhà. Thiên tai kinh khủng, vật giá lại leo thang. Người dân chen chúc nhau đi mua đồ tích trữ, đồng tiền nươc Vệ chẳng khác gì tờ giấy lộn, sáng mở mắt là lại thấy thực phẩm ngoài chợ tăng giá so với ngày hôm qua. Triều đình lại tới kỳ đại hội nhân sự bầu vua mới, chính sự rối ren vô cùng.

Thế sự nát bét như vậy, khiến lòng người bất mãn, tiếng ca thán vang khắp hang cùng ngõ hẹp. Nhân sĩ, trí thức, kẻ sĩ lớn tiếng chê bai triều đình bất tài, quan lại ươn hèn, bạc nhược chỉ lo vun vén cho bản thân. Việc nước làm qua loa cho lấy lệ, đến nỗi nước Đại Vệ hùng cường 4000 năm lịch sử, nay chỉ còn đống đất hoang tàn, biển đảo thì ngoại bang cướp, nợ nước ngoài không trả nổi, tài nguyên, đất đai bán và cho thuê sạch bách chả còn chỗ nào nữa.

Nông dân bị lấy đất canh tác, công nhân bị lấy mất nhà xưởng, giáo dân bị lấy mất nhà thờ. Cảnh dân tình các loại tụ lại đòi đất đai ngày càng nhiều, trong thành phần đó không thiếu gì cựu chiến binh, bà mẹ nước Vệ anh hùng…nội cảnh đó đã khiến triều đình bối rối không biết xử trí ra sao, lại thêm các tiếng nói từ mọi thành phần trí thức cất lên đòi hỏi trách nhiệm của triều đình. Triều Sản lo lắng lắm, trước lúc đai hội nhân sự mới họp lại mà luận rằng.

– Năm qua đã mở hội hè , tiệc tùng nhân dịp đại lễ kinh thành để át cái những tiếng dị nghị trong dân gian, mất đến hàng vạn lượng vàng. Ấy thế mà không ăn thua, nay đại hội nhân sự đến gần, cứ để lan truyền mãi tiếng xấu trong dân gian không phải là điều không thể. Dưới yên thì trên mới ấm, xin các đại thần nghị việc này.

Triều đình nhà Sản lao xao, kẻ bàn tăng thuế cho dân chúng cắm đầu mà lo đóng, không còn hơi đâu mà để ý việc khác. Kẻ nói tăng tuyền truyền những chỗ nào tốt đẹp để dân chúng hy vọng. Người thì nói là tạm thời đi vay tiền để hỗ trợ đồng tiền nước Vệ. Bàn bạc, cắt đặt đâu ra đấy vẫn chưa yên tâm. Đang còn phân vân thì bỗng có đại thần lớn tiếng.

– Triều ta chuyên chính cầm quyền, không việc gì phải nhún nhường bon dân đen. Thằng nào chịu khổ được thì sống, thằng nào không chịu khổ được mà ca thán, bắt hết bỏ tù. Đứa khác trông thấy ắt phải sợ mà kinh hãi. Không phải nói nhiều với chúng.

Trong các quan có người nói.

– Bắt thế sợ dân không phục.

Kẻ kia cười

– Từ xưa đến này, triều nhà Sản ta chỉ cần dân sợ chứ đâu cần dân phục. Ông nói thế là tư tưởng chính kiến chưa vững vàng, là kẽ hở để bọn thế lực thù địch chĩa mũi dùi vào khoét hai triều ta. Phải khẳng định lập trường kiên định, bắt cho kẻ khác sợ chứ không phải bắt cho người ta phục.

Trong triều lại có người nói.

– Thế bắt sao để được như vậy ?

Kẻ kia cao giọng.

– Bắt khắp trong Nam ngoài Bắc, bắt thằng nào vợ sắp sinh, bắt thằng đang ở tù bắt tù tiếp, bắt nào kiến thức pháp luật , bằng cấp đầy mình.Bắt bọn trí thức nước ngoài về, bắt cả bọn sinh viên cấu kết với công nhân. Càng thành phần nào chúng nghĩ ta không dám làm thì ta chọn đúng thành phần đó mà xử lý. Mọi việc tất yên.

Rồi triều đình nghị luận cũng xong.

Mùa thu năm Canh Dần, triều đình nhà sản cho công sai tỏa đi khắp nơi, bắt bớ một loạt các nhân sĩ, trí thức, đem bọn thanh niên mạn phía Nam ra kết án tù thật nặng. Dân chúng khiếp hãi mà im thin thít, nhà nào cũng đóng cửa cài then chặt không dám giao du với hàng xóm. Lúc sự sợ hãi đã lan rộng, bấy giờ nhà Sản mang đạo đức tiên đế ra tổng kết thắng lợi hoàn toàn trên cả nước.

Trong dân gian, chẳng ai dám bàn đến chuyện thế sự.

Nước Vệ trở lại cảnh thanh bình, dân chúng yên ổn làm ăn.

http://www.x-cafevn.org/node/1474

Posted in Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

Trung Quốc Tiến vào Lào, và đã ở sát bên cạnh sườn Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 30/12/2010

Những giới hạn của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc

Nguồn: Shawn W Crispin, Asia Times

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

23.12.2010

Vào một buổi tối tháng Mười một tại thị trấn biên giới phía bắc Lào, một đám đông tụ tập chung quanh một vụ tai nạn giao thông giữa hai lái xe người Trung Quốc. Khi tranh cãi bùng nổ, các bảo vệ sòng bài người Trung Quốc canh chừng để giữ hoà khí. Nhưng việc vắng mặt những cảnh sát Lào mặc sắc phục cho thấy rõ lỗ hổng quyền lực trong những nhiều khu vực đang mở ra ngày càng nhiều trong đó Viên Chăn đã thực sự trao chủ quyền cho Bắc Kinh.

Các nhà đầu tư Trung Quốc đã xây dựng và điều hành một tổ hợp sòng bài rộng lớn ở Boten, là một trong hai đặc khu kinh tế dành riêng cho cờ bạc và Trung Quốc giữ quyền tự quản. Tại Boten, các nhân viên tiếp tân khách sạn chỉ nói tiếng Hoa, nhân dân tệ là loại tiền bắt buộc trong trao đổi và gái mãi dâm Trung Quốc mời chào dịch vụ của mình bằng những danh thiếp in bằng tiếng Phổ Thông thay vì tiếng Lào. Tại khu thứ hai, phía ngoài thị trấn Huay Xai, xe ô tô Trung Quốc đi lại không cần biển số.

Những nhượng bộ đặc biệt này là thành quả trao đổi từ viện trợ chính thức, những tài trợ và nợ không lãi mà Bắc Kinh đã trao cho Lào trong những năm gần đây nhằm chi trả cho phương tiện thương mại và cơ sở hạ tầng đang rất cần của Lào. Việc hỗ trợ này được nhiều người đề cập đến như là “quyền lực mềm” của Trung Quốc, một canh bạc ngoại giao nhắm vào việc thay đổi quan điểm về Trung Quốc trong khu vực Đông nam Á, vốn thường xem người láng giềng khổng lồ như là một đe doạ chiến lược hơn là một cơ hội kinh tế.

Nổi lên từ sự tăng trưởng về sức mạnh kinh tế và được thúc đẩy bởi một chính sách đưa ra vào năm 2001 với tên là tẩu xuất khứ, có nghĩa là “đi ra ngoài”, khuôn mẫu được biến hoá nhanh chóng của chủ nghĩa bành trướng tư bản Trung Quốc đang bắt đầu gây ra những ngờ vực về tính bền vững của quá trình hướng ngoại này. Với ngân sách quốc gia đang tràn đầy nhờ thặng dư kinh tế trong những thập niên qua, đầu tư vào nước ngoài của Trung Quốc được trông đợi sẽ tăng trội theo mức luỹ tiến trong những năm sắp tới, đặc biệt là khu vực Đông nam Á lân cận giàu có tài nguyên.

Nhưng đầu tư vào nước ngoài của Trung Quốc giờ đây có kèm theo những điều kiện lớn, bao gồm việc cho phép nhập khẩu những lao động không kỹ năng người Trung Quốc cho những dự án do Trung Quốc đầu tư tại những quốc gia vốn thường tuyệt vọng để tạo ra công việc làm cho chính mình. Không đâu trở nên rõ ràng như tại những nước kém phát triển trong khu vực Đông nam Á, nơi việc trợ giúp tài chính hào phóng của Trung Quốc đã lũng đoạn chính sách nhà nước theo hướng có lợi cho Bắc Kinh. Điều quan trọng là Trung Quốc đã dùng những đầu tư sâu nặng nhất của mình để xâm nhập vào những quốc gia được cai trị bởi những chính phủ độc tài như Cambodia, Lào, Miến Điện và Việt Nam.

Các chính quyền cứng rắn và vô trách nhiệm đã cho phép việc chiếm đất với sự bảo trợ của nhà nước và cưỡng bức dân chúng phải tái định cư để mở đường cho nhiều dự án đầu tư của Trung Quốc, đặc biệt trong ngành khai thác mỏ và nông trại. Toàn bộ một ngôi làng đã bị cưỡng bức di dời đến một vùng đất tái định cư cằn cỗi để nhường chỗ cho đặc khu kinh tế của Trung Quốc bên ngoài Huay Xai. Điều này làm một số người trong vùng liên hệ việc đầu tư của Trung Quốc với hoạt động tham nhũng của chính quyền, làm tăng thêm những quan điểm từ đó thúc đẩy những khuấy động đầu tiên mang tính dân tộc chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc.

Những cửa ngõ mới

Điều chắc chắn là việc tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đúng là đã tạo ra ảnh hưởng tích cực đối với những nền kinh tế nhỏ đang biến chuyển trong khu vực Đông nam Á. Những con đường mới hoặc được nâng cấp và những cơ sở hạ tầng đã mở ra những cửa ngõ mới quan trọng cho giao thương buôn bán. Điều này bao gồm việc Trung Quốc tài trợ để xây Đại Xa lộ châu Á nằm trên phần đất Lào, nếu hoàn thành đúng thời hạn vào năm 2012, sẽ nối liền Bắc Kinh với Singapore và biến Lào thành từ vị thế bị bao vây bởi đất liền thành một quốc gia tiếp nối với đất liền.

Những con đường được Trung Quốc tài trợ vào những vùng hẻo lánh trước đây dọc theo Sông Mekong trong khu vực nghèo khổ phía bắc của đất nước đã cho phép nhà cầm quyền Lào mở rộng mạng lưới điện đến những ngôi làng mà tác giả đã đến thăm, những nơi này chỉ vài tháng trước đây vẫn thiếu nguồn điện ổn định. Nguồn điện này được cung cấp bởi những đập thuỷ điện vừa xây xong trên ba dòng sông phía bắc của Lào với sự trợ giúp từ tín dụng cho vay của Trung Quốc. Là quốc gia nhỏ nhất và ít dân nhất của Đông nam Á, Lào dễ bị tổn thương nhất trước sứ mạnh kinh tế đang lên của Trung Quốc và sự hiện diện và ảnh hưởng của Bắc Kinh được cho là sẽ còn tăng thêm, theo Martin Stuart-Fox, một chuyên gia nổi tiếng về Lào. Thật thế, Lào đang xuất hiện nhanh chóng như một kiểu mẫu tươi đẹp mà chủ nghĩa bành trướng tư bản của Trung Quốc sẽ xây dựng trong vùng này và khu vực rộng hơn khi Bắc Kinh tăng cường động cơ đầu tư của mình.

Trong một tài liệu nghiên cứu năm 2008, Stuart-Fox cho rằng Trung Quốc trông đợi ba điều từ viện trợ, nguồn cho vay của mình, đó là: ủng hộ tất cả chính sách của Trung Quốc từ Đài Loan đến Tây Tạng; các công ty Trung Quốc được phép tham gia khai thác tài nguyên của Lào; và những tuyến thông tin đến Thái Lan xuyên qua Lào – tất cả các điều khoản này đều được Lào trung thành chấp nhận.

Tuy nhiên, gần đây rõ ràng là Trung Quốc lại muốn có thêm nữa từ lòng hảo tâm của họ, bao gồm những vùng đặc khu kinh tế riêng biệt và những hợp đồng thuê đất dài hạn cho các dự án – kể cả một Chinatown mới sắp xây tại trung tâm Viên Chăn – điều mà các nhà phân tin cho rằng sẽ dọn đường cho những làn sóng di dân lớn hơn từ Trung Quốc sang Lào. Trong năm 2007, chính phủ Lào ước đoán có khoảng 30.000 cư dân Trung Quốc ở Lào, một chỉ số mà Stuart-Fox trong nghiên cứu của mình đã cho là một “ước tính thấp”. Tuy thế, nó vẫn cho thấy lượng Hoa kiều đã tăng gấp ba so với con số ước tính vào năm 1997.

Nhà báo và tác giả Bertil Lintner trong cuốn sách sắp xuất bản của mình cho rằng sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhanh chóng đã nảy sinh ra những làn sóng di cư của người Trung Quốc ra nước ngoài với triển vọng mang tầm mức lịch sử. Những nghiên cứu của ông cho thấy những đầu tư của Trung Quốc vào nước ngoài thường được dùng như là một bình phong của quá trình di dân ra nước ngoài của chính phủ nhằm giảm bớt tỉ lệ dân số cũng như áp lực về tài nguyên trong nước.

(Vì đất canh tác ở Trung Quốc chỉ chiếm dưới 7%, việc bảo đảm lương thực cho 1,3 tỉ người là một chính sách quan trọng được quan tâm.)

Tuy nhiên, việc nhập cư lao động và vốn ra nước ngoài lại đang bị phức tạp hoá bởi thái độ mới của Trung Quốc về chủ nghĩa ngoại lệ, một hiện tượng đặc biệt mà cả Lintner và Stuart-Fox đều lưu ý trong những nghiên cứu của mình và cũng được chứng minh một cách rõ ràng qua những đặc khu kinh tế Trung Quốc ở Lào. Stuart-Fox viết rằng những người Trung Quốc mới đến “có rất ít điểm chung với cộng đồng Hoa kiều lâu năm ở Lào” vốn đã sẵn sàng hoà nhập hơn vào quê hương mới của mình, và đa số những người mới đến “rất thiếu tế nhị đối với văn hoá Lào”. Ông đặt tên cho thế hệ dân di cư Trung Quốc mới này là “những kẻ dân tộc chủ nghĩa xấc láo”.

Lintner cũng đã nhận diện được chiều hướng dân tộc chủ nghĩa tương tự trong nghiên cứu của ông về chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương, nơi các cộng đồng Hoa kiều mới đây đã thống lĩnh hoạt động thương mại địa phương trên một số hòn đảo và đã gặp phải những phản ứng bạo lực. Ông cũng lưu ý rằng những phản ứng bạo lực chống lại một số đầu tư của Trung Quốc tại Miến Điện, nơi các doanh nghiệp Trung Quốc đã thống lĩnh ngành thương mại trong các thành phố lớn như Mandalay.

Ví dụ như một vụ nổ không tìm ra nguyên nhân tại công trình thuỷ điện do Trung Quốc tài trợ ở khu vực dân tộc thiểu số Kachin, được xây dựng để cung cấp điện cho miền nam Trung Quốc. Khoảng 10 nghìn cư dân trong khu vực xây dựng đập thuỷ điện đã bị cưỡng bức di dời, Lintner cho biết.

Bành trướng để bóc lột

Ở phía bắc Lào, sự bành trướng của Trung Quốc được thấy rõ đặc biệt trong khu vực miền núi phía nam Boten, trước đây từng là rừng rậm và hiện được khai quang cho những nông trường độc canh cao su do các công ty Trung Quốc quản lý. Những công ty này thường xuyên nhận được chế độ miễn thuế và trợ cấp từ Bắc Kinh như một phần của một chính sách rộng hơn nhằm dẹp bỏ nạn thu hoạch thuốc phiện và giúp các khu vực hẻo lánh vùng biên giới Lào và Miến Điện hoà nhập tốt hơn vào thị trường lớn hơn trong khu vực, theo Học viện Xuyên Quốc gia (Transnational Institude – TNI), một mạng lưới quốc tế gồm các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội có trụ sở tại Hà Lan.

Trong một báo cáo ngắn vào tháng Mười một, TNI viết rằng trong khi “thoạt đầu thì những chủ đất canh tác nhỏ không chính thức là hình thức chủ yếu trong việc khai thác cao su ở Lào, việc cưỡng bức từ trên xuống đang thịnh hành hơn” và rằng ‘những người nghèo khổ nhất lại hưởng ít lợi ích nhất từ những đầu tư này.” Nghiên cứu cũng cho thấy rằng nhiều nông dân Lào “đang mất đi quyền sử dụng đất đai và rừng” và “đang bị cưỡng bức di dời đến những vùng đất thấp vốn không có nhiều chọn lựa đáng kể để sống” để nhường chỗ cho những nông trường Trung Quốc.

TNI kết luận rằng “những hình thái xung đột mới đăng tăng lên từ những đầu tư tầm cỡ lớn của Trung Quốc” tại Lào lẫn Miến Điện và “việc tịch thu đất đai đã có hệ quả liên quan đến nạn sản xuất và mua bán thuốc phiện cũng như sự ổn định biên giới.” Cơ quan này cho rằng hướng đi của Trung Quốc “được những cộng đồng địa phương và các cơ quan phát triển quốc tế xem như chỉ vì mục đích trục lợi, và họ đặt vấn đề về tính bền vững trong phương cách của Trung Quốc. Hình ảnh của nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong những khu vực này vì thế đã bị ảnh hưởng xấu.”

Có những thắc mắc về việc Trung Quốc sẽ đi xa đến đâu trong việc tìm cách giữ hình ảnh đầu tư của mình. Sompawn Khantisouk, chủ nhân của một cơ sở du lịch sinh thái ở phía bắc Lào đã bị bắt cóc vào năm 2007 bởi những người được cho là cảnh sát địa phương và đến nay vẫn chưa tìm thấy. Việc Sompawn mất tích xảy ra cùng lúc với nỗ lực của ông trong việc vận động dân địa phương chống lại các dự án nông trường cao su do Trung Quốc tài trợ trong những khu vực được dùng cho du lịch sinh thái. Cơ sở du lịch của Sompawn đã thắng được những giải thưởng vì đã đóng góp vào phong trào du lịch sinh thái tự lâu bền, vốn từng là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của nhà nước.

Những blogger dân tộc chủ nghĩa ở Việt Nam đã vận động chiến dịch chống lại việc chính quyền chấp thuận cho một công ty Trung Quốc khai thác bauxite tại khu vực Cao Nguyên đẹp đẽ. Công ty này đã nhập khẩu hàng nghìn lao động Trung Quốc vào làm việc trong khu mỏ, các báo cáo cho biết. Bốn trong năm blogger chính trị hiện đang bị ngồi tù ở Việt Nam vì tội đã chỉ trích những chính sách làm vừa lòng Trung Quốc của Hà Nội chứ không phải vì kêu gọi dân chủ.

Trong một hành động rõ ràng là để ngăn chặn những chỉ trích tương tự ở Lào, Trung Quốc đã kề vai sát cánh với Bộ Thông tin và Giao thông để tạo ra một Trung tâm Internet Quốc gia Lào, sẽ được nối mạng vào năm 2011. Các nhân viên người Lào của trung tâm này đã được đào tạo kỹ lưỡng ở Trung Quốc, bao gồm cả các thành viên của đội “đối phó an ninh khẩn cấp” mới thành lập, theo một nguồn tin quen thuộc với điều này cho biết. Bắc Kinh cũng đã cung cấp những dụng cụ kỹ thuật sẽ được dùng để theo dõi và ngăn chặn các trang web, nguồn tin cho biết. Hiện tại, Lào không kiểm duyệt mạng Internet.

Vì sự thiếu vắng tự do báo chí trong các quốc gia Đông nam Á, nơi được Trung Quốc đầu tư rất nhiều, rất khó để xác định được liệu những tiếng nói chống đối vốn vẫn yếu ớt hiện đang hoặc đã đại diện cho một cơn bão dân tộc chủ nghĩa của phong trào bài Hoa hay không. Nhưng nếu Trung Quốc thực sự có dính líu vào việc đàn áp những tiếng nói này, như nhiều người nghi ngờ, thì Bắc Kinh cũng nên nhận thức những rủi ro và thiếu sót trong chủ nghĩa bành trướng tư bản đang phát triển nhanh của mình.

Thảo luận

http://www.x-cafevn.org/node/1523

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Lào | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hối Lộ và Tham Nhũng của Ban Ngành- Bộ Trưởng Biết nhưng Phải Chấp Nhận Nộp Tiền

Posted by hoangtran204 on 29/12/2010

28/12/2010 – 12:46 AM

Khi Bộ trưởng đất đai “tặc lưỡi” để có giấy đỏ

Tại lễ tổng kết của Tổng cục Quản lý đất đai vừa qua, người đứng đầu ngành tài nguyên và môi trường (TN&MT) đã tiết lộ một câu chuyện của chính bản thân ông.

Đó là việc 20 hộ cùng khu nhà ông đều có giấy tờ đầy đủ, đều cùng một đợt làm giấy đỏ nhưng chỉ có một số hộ được cấp. Nhà ông và một số hộ khác “không thấy gì”. Bộ trưởng đã phải nhờ đến lãnh đạo Sở TN&MT TP Hà Nội và được thông báo nộp 12 triệu đồng mới có giấy (dù nhà bên cạnh chỉ nộp hơn 3 triệu đồng). Hai tuần sau, giấy đó được chuyển từ quận về phường thì mức nộp lên tới hơn 14 triệu đồng!

Bất ngờ là bộ trưởng chốt: “Cũng đành nộp vậy, để có giấy đi “cầm” cho con được đi học…”.

Cứ tạm coi như 14 triệu đồng mà gia đình bộ trưởng bỏ ra để có giấy đỏ là đúng chính sách (như tiền sử dụng đất, tiền thuế, phí…) thì quả thật “ma trận” đất đai cũng rất khó hiểu. Thứ nhất là cùng điều kiện (cùng khu vực, cùng loại giấy tờ gốc) nhưng có hộ được cấp giấy, có hộ không (mà không có giải thích); thứ hai là các mức nộp quá chênh nhau (nhà 3 triệu, nhà 12 triệu đồng) và thứ ba là việc tự dưng tăng thêm 2 triệu đồng!

Thế nhưng điều khó hiểu lớn nhất lại là việc bộ trưởng “tặc lưỡi” nộp tiền để có giấy đỏ vay tiền cho con đi học mà không cho làm rõ ba việc “quái dị” nói trên dù việc ấy thuộc chức trách của ông.

Như vậy, câu chuyện thực tế của bộ trưởng lại bộc lộ điều đáng sợ: Người đứng đầu ngành TN&MT cũng phải chấp nhận những quy định mù mờ và nộp tiền để “được việc” cho mình. Thế thì những người không có quyền lực, không có tiền và không có khả năng để hỏi đến cùng những khuất tất trong “ma trận” đất đai sẽ làm cách gì để có giấy đỏ – một loại giấy tờ mà không có nó thì người dân bị hạn chế rất nhiều quyền? Ai sẽ trả lời câu hỏi này cho người dân khi chính bộ trưởng cũng “tặc lưỡi” cho qua.

PHAN MAI

http://phapluattp.vn/20101228124526593p0c1013/khi-bo-truong-dat-dai-tac-luoi-de-co-giay-do.htm

http://butlong.multiply.com/journal/item/749/749

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Đại Vệ Chí Dị – Người Buôn Gió

Posted by hoangtran204 on 29/12/2010

Nguồn: blog Người Buôn Gió

28.12.2010

Nhà Sản cai trị nước Vệ đến năm Canh Dần, tính ra cũng 65 năm.

Chính chiến liên miên mất quãng 40 năm, hết nội chiến rồi đến ngoại xâm, giặc xa đến giặc gần, chết mấy triệu người trai trẻ, một phần đất đai, lãnh hải lọt vào tay ngoại bang. Đổi lại nhà Sản cầm triều chính, thống nhất sơn hà vào trong tay.

Xưa tiên đế nước Vệ lúc nắm binh quyền có nói:

– Đất nước ta, rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù, chăm chỉ.

Sau này bọn hậu thế khi tiên đế thác đi, bèn thêm vào câu:

– Triều Sản sáng suốt, lãnh đạo anh minh.

Vậy là qua bao nhiêu biến động của mấy chục năm nhà Sản cai trị, gần hết một kiếp người, trong dân gian tin tưởng rằng:

– Đất nước Vệ rừng vàng, biển bạc, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù, triều đại, lãnh đạo anh minh sáng suốt.

Câu này được ghi vào sử sách, vào giảng dạy ở các trường tiểu học, trẻ con nước Vệ ngay từ nhỏ đã tin rằng nước Vệ tươi đẹp và giàu có như thế, việc học hành là phụ, hoan ca công đức lãnh tụ, triều đình là chính. Còn đâu học chỉ lấy thành tích, thực chất thì có kẻ còn không biết đọc Tam Tự Kinh dù học lớp tứ, lớp ngũ.

Bởi vậy sau chiến tranh qua đi, thanh niên nước Vệ chỉ ham ăn chơi, quan hệ tình dục rồi công bố cho thiên hạ xem chơi, đua xe, dùng ma túy, đâm chém lẫn nhau, thầy hiếp trò, chồng giết vợ, mẹ hai con, cháu bóp cổ bà, bọn ca kỹ xểnh tí là tụt váy cho thiên hạ ngắm. Con quan lại đứng đầu những trò ăn chơi, phạm pháp. Công sai thì mặc sức đánh người. Nước Vệ nhìn thì bình yên nhưng là thứ bình yên vô luật pháp, kẻ mạnh có vũ lực là kẻ đúng, sau nữa là kẻ có tiền. Luật để trừng phạt những kẻ không có hai thứ đó.

Nước Vệ có rừng vàng, biển bạc, tài nguyên phong phú, nên cứ bán mà ăn. Quan lại nào khai thác, ký kết nhiều hợp đồng bán đất, tài nguyên cho ngoại bang được nhiều là hình mẫu quan tiên tiến, thăng tiến rất mau, giữ chức quyền cao hơn để bán được nhiều hơn. Đến cuối năm Canh Dần, đời Cường Vệ Vương thứ mười, cơ bản đã bán gần hết tài nguyên, đất đai chẳng còn là bao nhiêu, giá lại đắt đỏ chỉ tội những người nghèo phải đi thuê mướn nhà ở. Cơ cực vô cùng.

Trộm cắp, lừa đảo nhiều như rươi. Thiên tai, hạn hán, lũ lụt chồng chất không ngớt. Bệnh dịch hoành hành, lạm phát mọi thứ đều tăng vọt, thuốc men, gạo củi đều lên giá. Người nông dân, công nhân bị mất quyền lợi tụ tập phản đối ngày càng nhiều. Trái lại các quan ngày càng giàu nứt, đổ vách, đạo đức xã hội tỉ lệ nghịch càng suy đồi.

Trước cảnh ấy, trong đám sĩ phu nước Vệ, nhiều kẻ còn chút lòng tự trọng kẻ sĩ, cũng thấy việc chướng tai, gai mắt hoành hành quá thể bèn người thì dâng sớ, kẻ thì đăng đàn vạch trần nguyên nhân băng hoại của đất nước.

Nhà Sản thấy sĩ phu ồn ào như vậy, mới nghị rằng:

– Nguyên nhân bất ổn có thể từ đây, việc nước tốt xấu thế nào đã có triều đình lo. Bọn sĩ phu khua môi múa mép kích động dân chúng hiểu sai tình hình đất nước, dẫn đến hoang mang , bất ổn. Lệnh phải trừng phạt nghiêm khắc bất kể sang hèn, có trí thức hay không có.

Năm đó nhiều người bị bắt lắm, nhà tù chật ních người. Tòa xử bọn phạm tội ” tuyên truyền chống phá triều đình” liên miên, đến nỗi nhiều vụ thiếu quan tòa xử, phải đặt ra lý do giam cứu đến hàng năm. Đáng nói trong đám tội phạm ấy có họ Cù người Can Lộc, dòng dõi công hầu, phụ thân từng cắp tráp theo hầu tiên đế buổi ban sơ, công lao rạng rỡ. Đến đời thứ hai là Cù Vũ, đậu tiến sĩ luật vậy mà triều đình cũng bị khép tội ” tuyền truyền chống phá” nói nôm na tội này như tội khi quân, phạm thượng Ở phía nam nước Vệ, mấy kẻ cựu chiến binh, con nhà cách mạng như cặp Song Hải cũng vị tội ấy mà bị tù đày.

Dân chúng hãi lắm, người người đi đường chỉ biết cúi đầu mà đi, xểnh có ai nói tới những chữ như ” triều đình, nhà Sản” bên canh là bịt, ôm đầu tai dáo dác chạy thật xa.

Quan ở bộ tuyên huấn chỉ thị cho bọn thuộc hạ, cầm loa đi khắp phố phường, làng mạc loa rằng:

– Phải giữ cho đất nước ổn định, bà con yên chí làm ăn, những kẻ phá hoại mục tiêu đó phải bị trừng trị là đích đáng.

Có kẻ điên, rách rưới, tiều tụy ở chợ nghe thấy cười mà rằng:

– Nước Vệ xuất 5 đồng, nhập về 10 đồng. Trong 5 đồng xuất thì đến 3 đồng là bán tài nguyên thô, đất đai. Trong 10 đồng thu về thì nhập hàng hóa xa sỉ đến quá nửa, buôn bán với kẻ thù phương Bắc thì thâm hụt chênh lệch quá lớn, bán cho chúng 1 đồng thì nhập đến 4 đồng (1). Ổn cái nỗi gì mà để yên được.

Nói xong kẻ ấy ngẩng mặt ra khỏi cái hố y mới đào cười ha hả. Thì ra y úp mặt vào cái hố y đào để nói cho đất nghe. Đúng lúc chợ đang giữa đêm, trăng sáng cao vằng vặng. Có kẻ ăn mày đắp chiếu nằm cạnh là nghe thấy. Công sai đi qua, thấy kẻ nói, kẻ nằm mới bắt tên ăn mày vào hỏi tên điên kia nói gì, kẻ ăn mày nói:

– Tôi thấy ông ta nói rằng, nước Vệ sắp tới thiên đường, vì tương lai không xa sẽ xuất 10 đồng tiền hàng hóa chất lượng cao và nhập về có 5 đồng tiền vật liệu, mọi cái tiêu dùng trong nước làm được hết thảy. Của cải dự trữ dồi dào, dân chúng vui sướng, một lòng tin tưởng triều đình.

Công sai nghe thấy hài lòng lắm, phán rằng:

– Đấy đến kẻ điên mà còn biết nói điều chí lý như vậy,nước Vệ hùng cường là chuyện tất yếu mà thôi.

Công sai nói xong bỏ đi. Kẻ điên mới lại gần ngắm kẻ ăn mày, nhìn mãi mới than:

– Trời đã sinh ra điên, sao nỡ còn sinh ra kẻ dại.

http://www.x-cafevn.org/node/1518

(1) thật sự thì vào năm 2009, VN xuất khẩu qua Trung Quốc gần 1 tỉ, nhưng nhập khẩu của Trung Quốc là 21 tỉ.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Những Thực Tế về “nền kinh tế lớn thứ hai” trên thế giới:

Posted by hoangtran204 on 27/12/2010

Những Thực Tế ở Thành phố Bắc Kinh

Để mua được 1 căn hộ diện tích 100 mét vuông tại Bắc kinh:

– 1 Nông dân Trung quốc phải làm việc liên tục từ năm… 907, đời nhà Tống, cho đến hôm nay 2010.

– 1 Công nhân TQ phải làm việc từ thời Chiến tranh Á phiện, 1850 cho đến 2010.

– 1 cô làm ở “lầu xanh”, phải tiếp 10 ngàn vị khách (1 người/ 1 đêm), phải tiếp từ năm cô ta 18 tuổi cho đến khi 46 tuổi, và phải làm luôn cả ngày thứ bảy và chủ nhật (và ngày kẹt “đèn đỏ”) thì mới mua nổi 1 căn nhà nhỏ.

– Một người ăn trộm phải làm 2500 vụ đào tường khoét vách, tất cả đều “trọt lót” mới mua được 1 căn nhà nhỏ ở Bắc Kinh.

Sự Giận dữ về giá nhà ở Bắc Kinh đang lan truyền như dịch bệnh

Bởi Anderlini Jamil ở Bắc Kinh

Được đăng: 23 Tháng Mười Hai 2010 20:10

Những sự tức giận nuôi dưỡng bởi Người dân Bắc Kinh về giá nhà đất cao trên trời đã được tóm gọn trong một e-mail chua chát đanglan truyền trong mạng internet ở Trung Quốc, email nầy tính toán phải mất bao lâu để cho một nông dân, những tên trộm và gái mại dâm sẽ có thể mua được một căn nhà nhỏ.

Với lạm phát cho người tiêu dùng ở Trung Quốc đang ở mức 5,1 phần trăm trong tháng mười một, công chúng không hài lòng với giá cả tăng vọt đã lên đến mức cao nhất kể từ năm 1999, theo một cuộc khảo sát gần đây của ngân hàng trung ương.

Nhưng các cuộc điều tra như vậy không thể chuyển tải lối trào phúng cay đắng quen thuộc  mà nhân dân Trung Quốc, và đặc biệt là người dân Bắc Kinh, là rất nổi tiếng khi họ phải “ngậm đắng nuốt cay” – trong trường hợp này là để có đủ tiền để mua một căn nhà.

Các e-mail này đã và đang lan truyền nhanh chóng như bệnh truyền nhiễm trùng với các phiên bản khác nhau, cung cấp các ước tính không hệ thống, nhưng có tính cách vui vui để thử đánh giá xem phải mất thời gian bao lâu để cho một công dân cần phải làm việc để mua một căn hộ 100-mét vuông ở trung tâm Bắc Kinh, mà hiện đang bán với giá khoảng 450,000 đô la hay chừng 8-9 tỉ đồng VN một căn nhà nhỏ.

Miễn là không có thảm họa của tự nhiên, một nông dân làm việc trên một lô đất trung bình sẽ chỉ có thể có đủ tiền mua một căn hộ nếu như người đó, bằng cách nào đó, đã phải làm việc kể từ đời nhà Đường, kết thúc vào năm 907, và làm cho đến ngày hôm nay 2010  (làm liên tục 1103 năm mới mua được 1 căn nhà!).

Nếu một công nhân Trung Quốc đã có được mức lương trung bình hàng tháng là 226 đô la Mỹ (hay 4 Triệu 400 đồng, hay 1, 500 nhân dân tệ),thì người nầy phải làm việc từ khi có cuộc chiến tranh thuốc phiện vào năm 1850, và phải làm việc vào cả những ngày thứ bảy lẫn chủ nhật, thì sau đó anh ta hoặc cô ta mới có thể có đủ tiền để mua một căn nhà nhỏ ấy cho riêng mình.

Những cô gái mại dâm, sẽ phải tiếp 10.000 khách hàng – một khả năng ngoại hạng và trường kỳ, đòi hỏi họ phải ngũ với một khách  một đêm, phải hành nghề kể từ năm 18 tuổi cho đến năm 46 tuổi mà không được nghĩ một đêm nào hết thì mới đủ tiền để mua căn nhà nhỏ 100 mét vuông.

Nếu là kẻ trộm, thì hắn sẽ cần phải thực hiện 2.500 vụ cướp mới kiếm đủ tiền để mua một căn nhà.

Dĩ nhiên, email ghi chú rằng các tính toán này không tính tới tiền trang trí nội thất, tiền mua đồ nội thất, hoặc đồ điện tử gia dụng.

Trong một thư điện tử phổ biến khác, một tác giả vô danh thứ hai mô tả về tình trạng khó khăn mà những người dân bình thường đang đối diện hàng ngày trong xã hội ngày càng bất bình đẳng.

“Không có đủ khả năng để được sinh ra vào thời đại nầy bởi vì chi phí một ca mổ đẻ là 147 triệu đồng VN (7350 US= Rmb50 000), không có khả năng đi học bởi vì các trường học có học phí ít nhất là 88 triệu VN (Rmb30, 000); không đủ tiền để sống ở bất cứ đâu vì mỗi mét vuông đất giá ít nhất 60 triệu đồng VN (Rmb 20, 000), không thể nào bị bệnh vì tiền thuốc ít nhất 10 lần, không có khả năng để chết  vì chi phí hỏa táng ít nhất 88 triệu đồng VN ( =Rmb30, 000), ”   Email cho biết thế.

Bản Dịch @ Trần Hoàng

—-

http://www.ft.com/cms/s/0/2dacd064-0ece-11e0-9ec3-00144feabdc0.html?ftcamp=rss#axzz19PhOnDkq

http://www.ft.com/cms/s/0/2dacd064-0…#axzz19HfflELh

Realities of the “second largest economy” in the world:

Beijing’s housing price fury goes viral

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Vì không trả nổi nợ 60 triệu đô la cho ngân hàng nước ngoài, Vinashin “đẩy” phí bảo lãnh nợ của Việt Nam tăng vọt

Posted by hoangtran204 on 25/12/2010

Tin mới: Theo tin của hãng Reuter ngầy 24-12-2010, Vinashin đã viết thư thông báo cho chủ nợ Credit Suisse rằng: Vì không có đủ số tiền đóng hàng tháng là 60 triệu đô la, nên Vinashin xin trả tiền lời 6,8 triệu đô la của tháng 12-2010, và món tiền nầy sẽ ở trong trương mục của Credit Suisse vào ngày thứ Sáu 24-12-2010. Hú Vía. Vậy là Vinashin có thêm được 30 ngày tìm đâu cho ra tiền để trả 60 triệu đô la vào trước ngày 20-1-2010.

nguồn: http://www.businessspectator.com.au/bs.nsf/Article/UPDATE-1-Vinashin-defaults-but-wants-to-meet-credi-CEKKT?opendocument&src=rss

Vinashin “đẩy” phí bảo lãnh nợ của Việt Nam tăng vọt

Tác giả: Tuyến Nguyễn (theo Bloomberg)
Bài đã được xuất bản.: 23/12/2010 10:08 GMT+7

Chi phí để đảm bảo cho các khoản nợ của Việt Nam không bị mất khả năng chi trả đạt mức cao nhất trong 17 tháng qua khi các nhà cho vay quốc tế chờ Vinashin thực hiện trả nợ 60 triệu USD đáo hạn vào hôm 20/12.

Theo ngân hàng hoàng gia Scotland Groups Plc, giao dịch hoán đổi các khoản tín dụng không có khả năng chi trả đối với các khoản nợ của chính phủ Việt Nam được định giá ở mức 295 điểm cơ bản vào lúc 13h18 hôm 20/12 tại Singapore. Đây là mức cao nhất kể từ 17/7/2009, giá từ nhà cung cấp dữ liệu CMA.

Moody đã hạ bậc tín dụng của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 vào hôm 15/12 với việc viện dẫn sự rủi ro của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán và nhấn mạnh vào “thảm cảnh nợ nần” tại Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Vinashin.

Trả lời Diễn đàn Kinh tế Việt Nam điện tử tuần trước, chủ tịch Nguyễn Ngọc Sự cho biết Vinashin không có khả năng thực hiện việc trả nợ vì không có nguồn tài chính. Theo chính phủ cho biết vào tháng Sáu, công ty mắc nợ khoảng 86 nghìn tỉ VND (4,4 tỉ USD).

Nếu không thanh toán khoản nợ, Vinashin sẽ “khiến cho bất kỳ một tổ chức Việt Nam nào, dù là công ty nhà nước hay không, mất nhiều hơn để có được các khoản vay từ nước ngoài,” Jonathan Pincus, nhà kinh tế học từ trường Harvard Kennedy School tại thành phố Hồ Chí Minh trả lời trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại “Mọi người trong chính phủ dường như không nghĩ đến tác động dài hạn của việc này đến sự tín nhiệm tài chính của Việt Nam.”

Giao dịch hoán đổi các khoản tín dụng mất khả năng chi trả trả cho người mua giá gốc nếu người vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình, trừ giá trị của khoản nợ không được trả đúng kỳ hạn.

Một điểm cơ bản tương đương với 1.000 USD hàng năm trên một giao dịch hoán đổi đảm bảo khoản nợ 10 triệu USD. Các hợp đồng giao dịch hoán đổi tín dụng ở mức 287 điểm khi đóng cửa vào ngày 17/12, mức tăng cao nhất trong tuần kể từ 27/8/2010 theo giá CMA.

Quỹ tiền tệ quốc tế trong tháng này cho rằng Việt Nam cần “một gói tích hợp” các biện pháp gồm lãi suất cao hơn để thiết lập lại uy tín của chính sách tiền tệ và làm chậm lạm phát.

Theo Ngân hàng phát triển Châu Á việc Vinashin gần sụp đổ chỉ ra một “thất bại mang tính hệ thống” trong việc giám sát các công ty nhà nước của các nhà lập pháp.

Vinashin đã thuê Credit Suisse Group Ag giúp hoạch định khoản vay 7 năm trị giá 600 triệu USD vào tháng 12/2008. Một ủy ban thường trực các nhà cho vay, gồm các đại diện từ ngân hàng Thụy Sĩ, Standard Chartered Plc và quỹ dự phòng Elliott Advisors Ltd., đã được thành lập để thương thảo với công ty.

KPMG LLP được chỉ định cố vấn và hỗ trợ Vinashin trong khi nhóm các nhà cho vay thuê công ty luật Allen & Overy LLP làm cố vấn pháp lý.

Edward Middleton, đối tác KPMG tại Hong Kong phụ trách việc tái cơ cấu lại dịch vụ, từ chối bình luận trong một thư điện tử. David Kidd, một đối tác tại Allen & Overy cũng từ chối bình luận.

Đại diện của Vinashin cũng không nghe điện thoại. Người phát ngôn của Credit Suise Adam Harper và một công ty quan hệ công chúng đại diện cho Elliott Advisors cũng từ chối bình luận.

http://vef.vn/2010-12-23-vinashin-day-phi-bao-lanh-no-cua-viet-nam-tang-vot

—–

Vinashin góp thêm 0,7% vào nợ xấu của ngân hàng

Tác giả: VnEconomy
Bài đã được xuất bản.: 3 giờ trước

Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam tính đến cuối năm 2010 vào khoảng 2,5%. Nếu góp thêm dư nợ 26.000 tỷ đồng của Vinashin thì số dư nợ sẽ tăng thêm 0,7%.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã thông báo như vậy tại phiên giải trình về lãi suất do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức sáng 25/12.

Thống đốc cũng cho biết, toàn bộ dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) chỉ dưới 26.000 tỷ đồng và hiện đang cơ cấu lại 16.000 tỷ đồng. Số này chưa đưa vào nợ xấu, và nếu tính vào cũng chỉ tăng 0,7%, ông Giàu giải thích thêm.

http://vef.vn/2010-12-25-vinashin-gop-them-0-7-vao-no-xau-cua-ngan-hang-

*Nợ xấu là nợ mà ngân hàng không thể đòi tiền lại được vì con nợ không có tiền, bị phá sản, hoặc không có khả năng thanh toán tiền bạc.

20 000 tỉ đồng VN = 1 tỉ đô la Mỹ

vậy 26.000 tỉ đồng = 1,3 tỉ đô la

0,7% = 1,3 tỉ đô la

vậy 2,5% là tương đương với 4 tỉ 643 triệu đô la.

4 tỉ 643 triệu đô la=  là con số tiền nợ mà Ngân Hàng VN không thể đòi lại được từ bản tin trên.

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Công ty đóng tàu Vinashin đối diện với hạn chót ngày trả nợ.

Posted by hoangtran204 on 22/12/2010

Chỉ mới 1 tháng trước đây, vào ngày 23-11-2010, trong bài báo cuối bài nầy và  ở đây, rõ ràng ông PTT Nguyễn  Sinh Hùng nói sắp có lãi, vậy mà hôm nay việc đóng tiền lời 60 triệu đô la thì Vinashin không thể đóng nổi.

Dân chúng bị cho ăn bánh vẽ biết bao nhiêu năm nay, mà bây giờ vẫn còn tiếp tục đút cho ăn tiếp. Hihi

Tin AFP

Công ty đóng tàu Vinashin đối diện với hạn chót trả nợ là ngày 20-12-2010.
Công ty Vinashin đang chờ đợi các chủ nợ trả lời về việc yêu cầu hoãn lại việc trả nợ của mình.

HANOI. 2010/12/21: gần như phá sản Công ty đóng tàu Vinashin của Việt Nam đã đối diện với ngày cuối cùng phải trả nợ vào ngày hôm qua vì sự thất bại về kinh tế lan rộng hơn từ cuộc khủng hoảng của công ty quốc doanh của nhà nước làm người ta lập tức tình nghi về sự bảo đảm của chính phủ (sẽ phải cứu giúp công ty nầy).

Công ty Vinashin vẫn đang chờ đợi sự trả lời  từ các chủ nợ về yêu cầu trì hoãn 12 tháng món tiền phải đóng hàng tháng là $ 60.000.000 đã tới hạn vào ngày hôm qua, Chủ tịch công ty Nguyễn Ngọc Su đã trả lời trên tờ báo nhà nước Tuổi Trẻ.

Đây là lần trả nợ hàng tháng đầu tiên trong 10 lần đóng trong khoảng thời gian 6 tháng của năm nay về món nợ  600 triệu USD bằng trái phiếu phát hành thông qua Credit Suisse trong năm 2007, ông nói.

Ông Su cho biết, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) đã không có cách nào để trả tiền ngay lập tức và “vẫn còn đang chờ đợi câu trả lời cuối cùng” theo yêu cầu hoãn nợ của mình.

Ngân hàng tín Credit Suisse và Vinashin đã từ chối bình luận khi hãng tin AFP liên lạc với họ. Các chủ nợ khác, kể cả các ngân hàng quốc tế, cũng không lên tiếng về chuyện nầy.

Chính phủ đã cho rằng, Vinashin phải giải quyết các khoản nợ của riêng mình – mà tổng số ít nhất 86 ngàn tỉ đồng (khoảng 5 tỉ 810 triệu đô la Mỹ).

Mặc dù có những ý kiến nói trên, sự tình nghi ngày càng gia tăng rằng chính phủ VN sẽ bước vào để giúp công ty Vinashin.

Cơ quan xếp hạng toàn cầu Moody’s Investors Service đã hạ giá từ tuần trước trái phiếu chính phủ của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 bởi vì các khoản nợ của Vinashin cũng như các yếu tố kinh tế khác.

“Thật là rất khó để tưởng tượng rằng chính phủ sẽ hoàn toàn bỏ mặc kệ công ty Vinashin, một nhà ngoại giao nước ngoài, yêu cầu giấu tên, đã cho biết. “Các hàm ý đã và đang được xem là khá đáng kể trong thị trường tín dụng quốc tế và tình thế sẽ  trở nên tồi tệ hơn nếu chính phủ bỏ mặc, không can thiệp. ‘

Moody’s cho rằng, việc không có đủ tiền trả nợ cho các công ty nước ngoài của Vinashin sẽ gây thiệt hại cho khả năng của Vitenam khi đi mượn nợ ở thị trường tài chính nước ngoài dành cho cho các nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn còn chưa đáp ứng (với tiêu chuẩn).

“Hơn nữa, một sự không có ý muốn để hỗ trợ một công ty chiến lược như Vinashin, là công ty thụ hưởng duy nhất của việc phát hành trái phiếu toàn cầu lần đầu tiên của Việt Nam vào năm 2007, đang đặt ra câu hỏi về sức khỏe hay tình hình của lãnh vực doanh nghiệp quốc doanh nói chung, và về sự thỏa đáng của việc nắm giữ dự trữ ngoại hối của chính phủ, “công ty Moody đã phát biểu.

Các vấn đề nợ nần của Vinashin đã có khả năng làm suy giảm chất lượng tín dụng và lợi nhuận của các ngân hàng trong nước, cho biết một cơ quan xếp hạng, Standard & Poor’s.

Một nhân viên người Việt nam là điều hành cấp cao trong ngành tài chính cho biết (trước khi Moody hạ giảm mức độ tín dụng) rằng chính phủ không có lựa chọn, ngoài trừ cho Vinashin thêm thời gian để trả nợ.

Cuộc khủng hoảng đã xuất hiện ngay trước khi Đảng Cộng sản cầm quyền có cuộc họp đại hội đảng năm năm một lần, cuộc họp nầy sẽ được tổ chức vào nửa đầu tháng 1 năm 2011, vào lúc đó các vị trí lãnh đạo hàng đầu được xác định.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dường như đã giành chiến thắng một cuộc chiến nội bộ để vẫn là một trong những nhà lãnh đạo của đất nước, mà các nhà ngoại giao nước ngoài nói “làm tăng triển vọng cho một giải quyết sớm ‘về vấn đề nợ của Vinashin. – AFP

Bản dịch @ Trần Hoàng

Nạn Nhận của Vinashin

http://tuoitre.vn/Kinh-te/344935/Vin…o-day-dua.html

“Nhìn tấm hình thấy tội nghiệp quá , tiền của thương binh mà chúng nó cũng nhẫn tâm không trả”

——–

Công ty Vinashin đóng tàu như thế nầy:

“Hãng đóng tàu mà nhân viên không biết xử dụng cưa máy, phải dùng cái cưa thời thế kỷ 17 thì thật không hiểu nổi, đúng là trình độ nông dân. Với tầm hình này đưa lên Net thì ai mà dám nhờ đóng tàu. Thảo nào chủ các hãng tàu đã hủy contract là phải, vì thế Vinashin phải ôm một đống sắt đã lỡ mua, chờ rỉ sét.”

(Source: http://www.businesstimes.com.sg/sub/…418424,00.html)

——————————————-

Khi đã bị thất bại, phá sản, tổng giám đốc ngồi tù, thì lại  được bao che và hứa hẹn thế lày:

Tin doanh nghiệp 23/11/2010 22:35 | A A A

Phó thủ tướng: Vinashin có thể có lãi từ 2013

Nếu quản trị và quản lý tốt thì đến năm 2012, Vinashin có thể sẽ đứng vững và giảm lỗ, từ năm 2013-2014 sẽ có lãi trở lại, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng phát biểu trước Quốc hội chiều 23/11/2010

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói về quá trình tái cơ cấu Vinashin.

Với nhiều cung bậc của trách nhiệm và của cả cảm xúc, phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng, cũng là vị bộ trưởng đăng đàn sau cùng, có thể nói là khá ấn tượng.

Không chỉ bởi những vấn đề khá “gai góc” như khai thác bauxite hay đầu tư đường sắt cao tốc, rồi trách nhiệm về Vinashin… được tranh luận thẳng thắn. Cũng không hẳn do sự “từng trải” và kỹ năng chất vấn đã được nâng lên. Mà có lẽ còn do sự dồn nén của thông tin và của cả cảm xúc của hơn một tháng sôi động nghị trường…

Ba bộ trưởng cùng nói về Vinashin

Vẫn là thái độ điềm tĩnh, đại biểu Nguyễn Minh Thuyết dẫn trả lời của Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng bằng văn bản, có nêu con số Vinashin làm ăn thua lỗ trên dưới 100 nghìn tỷ đồng tại chất vấn (cũng bằng văn bản – PV) của ông Thuyết là không chính xác.

Đại biểu Thuyết cho biết, con số lỗ này được ông lấy ở chính báo cáo của Chính phủ. “Báo cáo của Chính phủ nói Vinashin nợ 86.565 tỷ đồng. Nếu vay lãi 16%/năm thì nợ gốc cộng với lãi là 100.415 tỷ đồng, nếu vay lãi 19%/năm thì nợ gốc cộng lãi là 103.012 tỷ đồng. Như thế mỗi một ngày chúng ta mở mắt ra thì phải trả 30 tỷ tiền lãi cho số nợ của Vinashin”, ông Thuyết tính toán.

Sau khi dẫn nhiều chi tiết về sự không thống nhất về nhiều số liệu của Vinashin, đại biểu Thuyết lo ngại, báo cáo của Chính phủ gửi đến Quốc hội có nói một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng của Vinashin hiện nay là Vinashin luôn luôn báo cáo không trung thực với Chính phủ. “Bây giờ, Chính phủ lại dựa chính vào báo cáo của Vinashin nói rằng tài sản vốn còn 104.000 tỷ đồng, thì tôi không biết có thể tin được hay không?”.

“Việc lỗ bao nhiêu các cơ quan đang tiếp tục làm, nhưng tôi muốn khẳng định không có câu chuyện lỗ 100.000 tỷ đồng”, Bộ trưởng Dũng đáp.

Theo Bộ trưởng Dũng, đã là doanh nghiệp thì phải có vay, có nợ. “Nhưng điều bất thường của Vinashin tức là nợ này đã vượt quá cao so với tỷ lệ cho phép. Tức là nợ trên vốn chủ sở hữu đã quá cao, lên tới 11 lần, thông thường khoảng 3 lần, 4 lần thì có thể trong giới hạn an toàn. Như vậy nợ này trên vốn chủ sở hữu là quá cao, là mất an toàn và có khả năng sẽ bị phá sản”, ông Dũng nói.

Nhưng không có nghĩa rằng số nợ này là số lỗ, số nợ này và số tài sản này đang nằm trên tài sản hiện hữu của Vinashin, ông Dũng tái khẳng định.

Đại biểu Thuyết tiếp tục nhấn nút phát biểu: “Tôi xin nói thành thật là chúng tôi nói những điều này rất đau lòng, chúng tôi cũng không muốn làm gì mất lòng các đồng chí, nhưng trách nhiệm phải nói, bởi vì nhân dân giao cho Quốc hội, giao cho Chính phủ tài sản như thế, bây giờ xảy ra chuyện như vậy mà từ sáng tới giờ không ai chịu trách nhiệm cả, tôi không hiểu ra làm sao, hay cuối cùng trách nhiệm ở 500 đại biểu Quốc hội? Tôi xin nói một cách chân thật là Bộ trưởng có thể trả lời hay không trả lời cũng được, nhưng trong thâm tâm các đồng chí nên suy nghĩ thật nghiêm túc về trách nhiệm của mình, rút kinh nghiệm không để xảy ra những sự việc như thế nữa”.

Cũng liên quan đến Vinashin, được mời phát biểu sau giờ giải lao, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc nhắc lại: “Sáng nay đại biểu Đồng Hữu Mạo có nói trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải đến đâu phải báo cáo Quốc hội”.

Tuy nhiên, theo Bộ trưởng Võ Hồng Phúc, “Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã làm tròn nhiệm vụ của mình trong vấn đề Vinashin. Chúng tôi không có một trách nhiệm gì mà phải chịu trách nhiệm như đồng chí Đồng Hữu Mạo nêu. Ở đây là chúng tôi chấp hành luật, mà luật thì do Quốc hội quy định”.

Tiếp đó, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh trả lời tiếp câu hỏi của đại biểu Ngô Minh Hồng từ buổi sáng và bày tỏ, “bản thân tôi cũng rất lo lắng về việc làm ăn của Vinashin”.

Sẽ công khai kết luận kiểm điểm về trách nhiệm

Sau một ngày với nhiều bộ trưởng cùng nói về trách nhiệm liên quan đến Vinashin và chưa nhận được sự đồng tình của nhiều đại biểu, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng được mời làm rõ thêm một số vấn đề các đại biểu quan tâm.

Theo Phó thủ tướng, khi Vinashin lâm vào tình trạng phá sản thì toàn bộ ngành công nghiệp đóng tàu thế giới cũng lâm vào tình trạng này. Và Hàn Quốc đã cứu ngành đóng tàu của họ bằng 25 tỷ Đô la, Trung Quốc bỏ ra 60 tỷ Đô la. Bây giờ công nghiệp tàu thủy của Hàn Quốc và của Trung Quốc, nhất là Trung Quốc đã lên đầu.

Phó thủ tướng cũng cho biết, việc tái cơ cấu Vinashin bắt đầu từ năm 2008, sang đầu năm 2010 lại tiếp tục bước hai của tái cơ cấu, bây giờ là tái cơ cấu bước ba, theo đúng tinh thần của Bộ Chính trị. Kết quả là qua gần 6 tháng thì thu nhập ổn định, tinh thần phấn khởi, quyết tâm để củng cố lại, làm ăn để phát triển.

“Thứ hai, sản xuất kinh doanh bắt đầu phục hồi, rất may”, Phó thủ tướng nói. Theo đó, thì quan trọng nhất là 130 con tàu vẫn giữ được hợp đồng, 28 nhà máy đóng tàu đã hoạt động trở lại. Cộng với doanh thu của hoạt động công nghiệp phụ trợ nữa, năm nay Vinashin sẽ có doanh thu 14.000 tỷ đồng.

Về khả năng trả nợ – cũng là vấn đề được đại biểu Quốc hội đặc biệt quan tâm – Phó thủ tướng lạc quan, trước mắt năm nay, Vinashin vẫn tiếp tục lỗ, nhưng nếu thị trường tốt, quản trị tốt, quản lý tốt thì sang năm có thể tiếp tục lỗ ít, và năm 2012 có thể sẽ đứng vững được và giảm lỗ. Từ năm 2013-2014 sẽ trở lại lãi.

“Chúng tôi tính cả nợ ngắn hạn, cả nợ dài hạn cộng với tiền lãi suất do vay nợ gây ra thì Vinashin đều có khả năng đảm bảo trả nợ”, Phó thủ tướng nhấn mạnh.

Một vấn đề nữa cũng được Phó thủ tướng đề cập là kiểm điểm trách nhiệm. Theo Phó thủ tướng, Bộ Chính trị đã chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm một cách nghiêm túc, từ người đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng, các phó thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng liên quan và tập đoàn tổng công ty.

“Hiện nay cũng đang tiến hành kiểm điểm, và Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì việc này, giúp Bộ Chính trị và Ban Bí thư làm công tác kiểm điểm một cách nghiêm túc, tất nhiên kết quả kiểm điểm sẽ công khai trước công luận”, Phó thủ tướng nói.

Kết thúc phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhận xét, với trình bày của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nếu được làm như vậy thì rất tốt, đương nhiên đây vẫn còn có chữ “nếu”, chúng ta tiếp tục hy vọng.

Theo Minh Thúy – VnEconomy

nguồn http://www.ndhmoney.vn/web/guest/dau-tu/tong-quan-kinh-te/tin-doanh-nghiep/_/-/journal_content/journal_content_INSTANCE_6Fvc/10136/431168?_journal_content_INSTANCE_6Fvc_version=1.0

———————————————-

Từ năm 2013, Vinashin có thể có lãi

http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/hanoimoi.com.vn/Tu-nam-2013-Vinashin-co-the-co-lai/5253380.epi

————————————————————-

Shipbuilder Vinashin faces debt deadline
Vietnamese firm is waiting for creditors to respond on its deferral request
.

(HANOI. 21.12.2010): Vietnam’s nearly-bankrupt shipbuilder Vinashin faced a debt payment deadline yesterday as wider economic fallout from the state-owned firm’s crisis prompted speculation of a government bailout.

The firm was still awaiting a response from its creditors on a request to delay for one year the initial US$60 million instalment due yesterday, company chairman Nguyen Ngoc Su was quoted as saying in the state-linked Tin Tuc newspaper.

It is the first of 10 payments due at six-monthly intervals on US$600 million worth of bonds issued through Credit Suisse in 2007, he said.

Mr Su said that Vietnam Shipbuilding Industry Group (Vinashin) had no way to immediately make the payment and was ‘still waiting for the final answer’ on its deferral request.

Both Credit Suisse and Vinashin declined to comment when contacted by AFP. Other creditors, including international banks, have also remained tight-lipped.

The government has said that Vinashin must settle its own debts – which total at least 86 trillion dong (S$5.81 billion).

Despite those comments, speculation is growing that the government will step in to help the company.

Global ratings agency Moody’s Investors Service last week downgraded Vietnam’s government bond rating to B1 from Ba3 because of Vinashin’s debts as well as other economic factors.

‘It’s very hard to imagine that they’ll get left completely out in the cold’ by the government, said a foreign diplomat, requesting anonymity. ‘The implications have already been fairly significant in the international credit market and it’s only going to get worse if they stonewall.’

Moody’s said that a default on Vinashin’s foreign obligations would likely damage the ability of the country to raise affordable foreign market financing for its still largely unmet infrastructure needs.

‘Moreover, an unwillingness to support a seemingly strategic company, which was the sole beneficiary of Vietnam’s initial global bond issuance in 2007, raises questions on the health of the public enterprise sector at large, and on the adequacy of official holdings of foreign exchange reserves,’ it said.

Vinashin’s debt problems were likely to undermine the credit quality and profitability of domestic banks, said another ratings agency, Standard & Poor’s.

A senior Vietnamese finance industry executive said before the Moody’s downgrade that the government had no choice, but to give Vinashin more time to repay its debts.

The crisis has emerged just before the ruling Communist Party’s five-yearly Congress, to be held in the first half of next month, when top leadership posts are determined.

Prime Minister Nguyen Tan Dung appears to have won an internal fight to remain as one of the country’s leaders, which the foreign diplomat said ‘increases the prospects for an early resolution’ to Vinashin’s debt problems. — AFP

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Khi Đồng Tiền mất giá, người Việt đi mua vàng để tìm kiếm sự an toàn

Posted by hoangtran204 on 22/12/2010

Nguồn: Margie Mason, AP

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

21.12.2010

Đỗ Hải Ninh đã dành dụm thu nhập ít ỏi của mình cho đến khi có đủ tiền để gửi tiết kiệm. Nhưng cô giáo trung học này sẽ không bỏ tiền vào một ngân hàng Việt Nam khi giá trị đồng nội tệ đang tiếp tục đi xuống đều đặn. Cô đầu tư vào một nơi an toàn hơn: vàng.

Trong những tuần qua, các cửa hiệu vàng và những kẻ trao đổi tiền chợ đen đang bị tràn ngập bởi khách hàng khi họ tìm cách tháo khoán tiền đồng Việt Nam để đổi lấy đồng đô la hoặc vàng khi quốc gia Đông nam Á có nền kinh tế tăng trưởng nhanh này đang phải vật lộn với tỉ lệ lạm phát ở mức hàng chục và hiện tình gần sụp đổ của một trong những công ty nhà nước lớn nhất.

Những khó khăn này đã nhấn mạnh mặt tiêu cực của việc chính quyền Cộng sản thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, vốn đã giúp đưa hàng triệu người khỏi đói nghèo nhưng cũng đã tạo ra những thử thách mới mà các nhà kỹ trị của quốc gia thường không được trang bị đầy đủ để đối phó.

Việc tìm cách tạo ra những tập đoàn quốc gia ngọn cờ đầu đã làm phí tổn vốn liếng bằng những đầu tư thiếu khôn ngoan và để cho các doanh nghiệp nhà nước chồng chất quá nhiều nợ nần. Trong khi đó, việc vay mượn tăng nhanh lại không đồng bộ với việc tăng cường lượng tiền gửi, một hiện tượng hiếm thấy có thể được giải thích phần nào là do sự e ngại của các ngân hàng sau những đợt siêu lạm phát trước đã xoá sạch tiền gửi tiết kiệm.

Toàn bộ những điều này đang đè lên hệ thống tài chính đang nứt vỡ trước áp lực vô tận, được phản ánh qua sự thiếu tin tưởng của người dân Việt Nam đối với đồng nội tệ của quốc gia mình.

“Sự tin tưởng vào đồng nội tệ của người dân đã bị suy giảm trầm trọng,” nhà kinh tế học Nguyễn Quang A nói, ông là cựu chủ tịch Học viện Nghiên cứu Phát triển, cơ quan nghiên cứu độc lập đầu tiên của quốc gia, vốn đã tự giải thể vào năm ngoái để phản đối chỉ thị của nhà nước ngăn cấm quyền tiến hành và xuất bản nghiên cứu.

“Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của chính phủ mà cụ thể là Ngân hàng Nhà nước là bảo vệ sức mạnh của đồng nội tệ,” ông nói. “Chính sách chú trọng tăng trưởng nhanh lại không có đủ đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt là việc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước lẫn vào chính phủ, đã dẫn đến tình trạng hiện nay.”

Tuần trước, công ty Dịch vụ Đầu tư Moody’s đã cắt giảm hạng mức tín nhiệm nợ chính phủ bằng ngoại tệ của Việt Nam từ Ba3 xuống B1 và giữ nguyên đánh giá tương lai là tiêu cực, có nghĩa là họ có thể họ có thể cắt giảm mức tín nhiệm một lần nữa.

Moody’s nói rằng quốc gia này đang đối diện với một rủi ro ngày càng tăng về khủng hoảng cán cân thanh toán vì Việt Nam đang nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, quỹ dự trữ ngoại hối đang bị rút cạn để giúp giữ vững việc nâng giá đồng nội tệ và sự thất thoát vốn nước ngoài. Tỉ lệ lạm phát cao, các ngân hàng cho vay quá mức và những khó khăn tại tổng tập đoàn đóng tàu nhà nước Vinashin đang bị bao vây tứ phía là những nguyên nhân khác dẫn đến việc đánh tụt mức tín nhiệm, Moody’s cho biết.

Người đứng đầu Vinashin hôm thứ Hai đã lặp lại rằng công ty này không có đủ tiền để chi cho đợt hoàn trả nợ vốn đầu tiên có hạn chót vào cùng ngày với tổng số 600 triệu đô la tiền nợ từ một nhóm chủ nợ do Credit Suisse đứng đầu. Ông nói với Thông tấn Xã Việt Nam rằng công ty ông vẫn đang chủ nợ trả lời xem họ có đồng ý gia hạn việc chi trả hay không.

Chính phủ nói rằng họ sẽ không cứu công ty này, còn có tên là Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, đang nợ đến 4,5 tỉ đô la (86 nghìn tỉ đồng) tính đến thời điểm tháng Sáu. Con số này tương đương với 4,5% Tổng Sản lượng Nội địa (GDP) năm ngoái. Vinahsin đã xin các chủ nợ thêm thời gian để có thể trả nợ sau khi công ty tái cơ cấu.

Tháng trước Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận trách nhiệm về sự suy sụp của công ty, qui những khó khăn vào hoạt động phi pháp của tập đoàn và sự bành trướng quá nhanh không được kiểm soát vào những lĩnh vực bên ngoài ngành đóng tàu, từ thức ăn gia súc cho đến các khu vực nghỉ mát.

Tuần trước, cơ quan xếp hạng tín dụng Standard & Poor’s đã đưa ra một thông báo nói rằng những khó khăn của công ty chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều hơn những khoản nợ xấu tại các ngân hàng trong nước.

“Hiện nay, chính quyền đang yêu cầu các ngân hàng không đòi nợ và tiền lãi từ Vinashin,” kinh tế gia kỳ cựu Lê Đăng Doanh nói. “Tôi chắc chắn chính quyền sẽ phải bù lỗ số tiền lãi cho các ngân hàng vì ngân hàng không thể nào không thu tiền lãi trong khi phải huy động tiền tiết kiệm với tỉ giá lãi ngày càng cao.”

Đồng nội tệ đã rơi xuống vào mức thấp nhất tại thị trường chợ đen vào đầu tháng này, nằm ở giá 21.600 đồng mỗi đô la tại trung tâm thương mại Thành phố Hồ Chí Minh và 21.500 tại Hà Nội. Tỉ giá trao đổi tại một cửa hàng ở Hà Nội hôm thứ Ba là 21.140. Tỉ giá chính thức là 19.500.

Ngân hàng Nhà nước đã giảm tỉ giá hối đoái chính thức của tiền đồng ba lần kể từ tháng Mười Một 2009, cắt khoảng 10% giá trị của nó so với đồng đô la vào thời điểm ấy, nhưng hiện vẫn được cho là được đánh giá quá cao.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhanh chóng đề cao quốc gia này như một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á – sau Trung Quốc – với tỉ lệ tăng trưởng trung bình hằng năm là 7% trong hơn một thập niên qua. Chính quyền Cộng sản đã chấp nhận chủ nghĩa tư bản kể từ giữa thập niên 1980 sau những cố gắng tập thể hoá nông nghiệp và kế hoạch tập trung khiến cho đất nước này bị rơi vào tình trạng đói nghèo sau khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt vào năm 1975.

Nhưng bất chấp sự đi lên của đất nước, cô giáo trung học Đỗ Hải Ninh, 33 tuổi vẫn nói rằng cô vẫn muốn giữ những món hàng không bao giờ bị mất giá.

“Bạn có thể thấy rằng tiền đồng đang bị mất giá. Mỗi ngày bạn đi chợ vào mọi thứ đều đắt đỏ hơn,” cô nói trong khi trả 7,2 triệu đồng (360 đô la) để lấy khoảng 7,5 gram vàng tại một hiệu vàng đông đúc ở Hà Nội. “Điều này an toàn hơn cho tiền tiết kiệm của tôi.”

http://www.x-cafevn.org/node/1484

 

——-

Ôn Cố Tri Tân

Chuyện tiền đồng, tiền đô la, và vàng, lạm phát vào năm 2008 bây giờ cũng lập lại y như cũ.

Mời các bạn đọc bài viết của một thiên tài về Kinh Tế của Việt  Nam. Tiếc thay, người này đang bị ở tù 16 năm.

Trần Đông Chấn: Tiền đồng Việt Nam (VND) đang ở đâu và sẽ đi về đâu?
Những số liệu được công bố cho biết trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tăng trưởng GDP của Việt Nam là 27% (tạo ra thêm khoảng 434 ngàn tỷ đồng giá trị sản phẩm quốc nội) nhưng lượng cung tiền lại tăng tới 135%. Điều này có nghĩa rằng nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên. Nếu lượng tiền đó được lưu thông hết vào thị trường thì sẽ tạo ra khả năng lạm phát lên đến 80% trong quãng thời gian này.

Thế nhưng con số lạm phát danh nghĩa từ 2005 đến 2007 đã được công bố là 27,6% (2005: 8,4%, 2006: 6,6%, 2007: 12,6%), như vậy …
mức độ lạm phát thêm 52,4% nữa sẽ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào từ đầu năm 2008 trở đi. Nếu loại trừ các yếu tố lạm phát không do tiền tệ (giá đầu vào tăng, kỳ vọng của người dân, v.v…) trong con số 27,6% nêu trên thì mức độ lạm phát tiềm tàng còn cao hơn 52,4% nhiều. Con số này chưa xảy ra vào cuối năm 2007 nghĩa là có trên 600 ngàn tỷ đồng (tương đương 52,4% GDP của năm 2007) đã được phát hành nhưng đang bị ghim giữ bởi một số cá nhân và tổ chức nào đó chưa đẩy vào lưu thông trong thị trường.

Tiền đồng đang ở đâu?

Người dân Việt Nam không có thói quen giữ tiền đồng làm dự trữ an toàn, trong tình hình lạm phát tăng nhanh thì biện pháp này lại càng không được lựa chọ̣n. Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì luôn trong tình trạng cần vốn, phải đi vay. Các ngân hàng thương mại không có lý do gì cầm giữ một lượng tiền đồng lớn mà không cho vay ra để phải gánh chịu lãi suất huy động trừ các khoản dự trữ bắt buộc. Khả năng duy nhất là một lượng lớn tiền đồng đang bị ghim giữ bởi các quỹ đầu cơ (hedge fund) buôn chứng khoán tại Việt Nam.

Cuối năm 2006 đến cuối năm 2007, đô-la Mỹ bị mất giá mạnh trên thị trường thế giới, lãi suất của nó liên tục giảm; trong thời gian đó Việt Nam vẫn theo đuổi chính sách duy trì tỷ giá tiền đồng thấp; đầu năm 2007 nước ta chính thức gia nhập WTO. Vậy là đã hội đủ các yếu tố cần để tạo thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử sừng mềm – cách gọi của Thomas Friedman dành cho các quỹ đầu cơ tài chính trong thời đại toàn cầu hóa – tấn công trục lợi nhanh tại Việt Nam. Các hedge fund mau chóng được thành lập và huy động vốn bằng đô-la Mỹ với lãi suất thấp để đầu cơ vào Việt Nam.

Những tháng cuối 2006 đến 2007 các quỹ này đã rót khoảng 160 ngàn tỷ đồng (tương đương với 10 tỷ đô-la Mỹ) vào thị trường chứng khoán, bơm giá cổ phiếu tăng đến chóng mặt, tạo ra một ma lực cuốn hút người dân đổ tiền vào cổ phiếu. Ước tính đã có hơn 350 ngàn tỷ đồng bị hút vào chứng khoán từ nguồn tự có, vay mượn và thế chấp của người dân. Giá cổ phiếu ít thì tăng vài ba lần, nhiều thì đến vài chục lần, vượt xa hoàn toàn khả năng tạo ra giá trị thực tế của nó.

Khi mọi người đã đạt đến cơn say ghim giữ cổ phiếu bởi giấc mộng làm giàu nhanh thì tai họa ập xuống. Nhưng tai họa không chỉ đến một lần. Mỗi khi các cổ phiếu được đầu cơ bị bán ra ồ ạt để thu lợi, chỉ số chứng khoán sụt giảm thì ngay sau đó sẽ xuất hiện những thông tin hỗ trợ từ chính phủ, từ nước ngoài và được tuyên truyền quá nhiệt tình bởi các phương tiện truyền thông đại chúng chính thống. Người dân lại được hâm nóng bằng những hy vọng mới, bầy thú tiếp tục nhồi tiền làm mồi nhử, cổ phiếu lại lên giá, dân lại hồ hởi mua vào. Cái vòng xoáy hút – nhồi ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt năm ngoái đến nay. Tiền trong dân tuôn ra ngày càng nhiều, guồng máy hút – nhồi này lại càng tăng công suất, các ngân hàng trong nước càng nhiều nguy cơ.

Kết quả cuối cùng như thế nào thì giờ đây ai cũng thấy, nhưng thật đáng tiếc là chính phủ vẫn không chịu nhìn thấy, vẫn tiếp tục bị thao túng bởi những kẻ cơ hội để ra những quyết sách tiếp tay cho bầy thú điện tử. Tổng công ty SCIC dễ dàng tuôn ra 5 ngàn tỷ đồng để gọi là “cứu” chứng khoán nhưng thực tế là giúp cho những con thú điện tử bán ra những cổ phiếu sắp chết để mua vào những cổ phiếu có tiềm năng thực với giá rẻ mạt, chuẩn bị cho một sự thâu tóm.

Còn nhớ vào đầu năm 2007, khi mà chứng khoán đang trong giai đoạn bị làm giá bởi bầy thú để đầu cơ trục lợi, đã có ý kiến đề nghị SCIC nhanh chóng bán ra số lượng cổ phần của các công ty niêm yết mà tổng công ty này đang nắm giữ để giảm sốt cho thị trường, tăng lượng tiền dự trữ của chính phủ để dự phòng cho người dân đang bị cơn say ma lực. Là một cổ đông lớn nhất trên thị trường, nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu của rất nhiều các công ty niêm yết có trị giá vốn hóa đến gần 50 ngàn tỷ đồng vào lúc cao điểm, SCIC hoàn toàn đủ sức làm đối trọng để chống những hành vi lũng đoạn thị trường, làm cho nó phát triển lành mạnh. Nhưng họ đã hoàn toàn bất động, trái hẳn với sự năng động xông vào “cứu” chứng khoán vừa rồi.

Giờ đây, khi mà hàng triệu người đã trở về với “cái máng lợn” thì những con thú điện tử sừng ngắn đã tích lũy được những khoản lời kếch xù, ít thì cũng bằng số vốn bỏ vào, nhiều phải đến một vốn bốn lời. Ngược lại, giá trị tài sản của SCIC đã bốc hơi đến vài chục ngàn tỷ đồng, thế nhưng họ vẫn đang tiếp tục “ôm” vào những cổ phiếu sắp chết. Hiện nay các chỉ số chứng khoán đã lùi về thấp hơn mức trước khi bầy thú tham gia vào thị trường, điều này đồng nghĩa với mấy trăm ngàn tỷ đồng không tự mất đi mà chỉ được dịch chuyển từ túi người dân và túi nhà nước vào túi bầy thú.

Các quỹ đầu cơ này đang kiểm soát một lượng tiền đồng khoảng 500 ngàn tỷ và được giữ tại các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam trong khi mức dự trữ trong dân đang dần cạn kiệt. Và đây chỉ mới là khúc dạo đầu của một kế hoạch. Sau giai đoạn chứng khoán bị làm giá rồi rơi tự do, sẽ đến giai đoạn tiền đồng bị làm giá. Đồng tiền quốc gia của 86 triệu dân đã bắt đầu bị lũng đoạn.

Tiền Đồng VNĐ đi về đâu?

Để hỗ trợ cho đầu tư nước ngoài tăng vọt trong năm 2007, ngân hàng Nhà nước đã được lệnh phát hành thêm tiền đồng vượt mức an toàn để mua đô-la Mỹ. Lý thuyết này sẽ khả thi nếu như nền kinh tế trong nước hấp thụ được lượng vốn ngoại đưa vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh làm ra thêm của cải cho xã hội, dòng vốn được lưu thông thì ngân hàng Nhà nước dễ dàng hút tiền đồng về nhanh chóng để tránh lạm phát. Nhưng sẽ thật là mạo hiểm và vô trách nhiệm khi những nhà quản lý vĩ mô không nhìn ra và tiên liệu những tình huống ngược lại như thực tế đã diễn ra.

Áp dụng cách thức này trong lúc các điều kiện cần để tạo ra thời cơ tuyệt vời cho bầy thú điện tử đầu cơ đã hội tụ, chính là đưa đến điều kiện đủ cho một cuộc tấn công lũng đoạn có thể bắt đầu. Có nhiều chỉ trích rằng ngân hàng Nhà nước đã không tích cực hút tiền về nên làm lạm phát mạnh, nhưng cần hiểu là không thể thực hiện được điều đó khi mà chính ngân hàng Nhà nước đã tự đặt mình vào bẫy, để quyền điều tiết tiền đồng cho bầy thú kiểm soát.

Luồng vốn đầu tư gián tiếp tập kích ồ ạt vào chứng khoán nhưng hầu như chẳng được đưa vào đầu tư thực sự, nó chạy lòng vòng từ người này qua người khác theo cái vòng xoáy hút – nhồi để cuối cùng quay trở lại túi của bầy thú với trị giá được nhân lên nhiều lần. Các doanh nghiệp niêm yết huy động vốn xong lại tiếp tục đổ vào chứng khoán, chẳng có bao nhiêu tiền từ nguồn này được đưa vào đầu tư mở rộng kinh doanh tạo thêm sản phẩm cho xã hội.

Rất nhiều các lãnh đạo doanh nghiệp niêm yết vô trách nhiệm còn tiếp tay cho bầy thú điện tử lừa cổ đông để cùng hưởng lợi. Một tỷ lệ nhỏ tiền văng khỏi vòng xoáy của bầy thú, vào túi những kẻ tiếp tay. Số vốn này cuối cùng được đầu cơ vào bất động sản hoặc được cất giữ an toàn tại ngân hàng nước ngoài. Còn luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2007 chỉ thực hiện được một phần tư so với đăng ký do những rào cản hành chính, yếu kém hạ tầng và thiếu thốn nguồn nhân lực được đào tạo. Triển khai đầu tư chậm, dòng vốn lưu thông ì ạch thì tiền đâu mà ngân hàng Nhà nước hút vào.

An sinh của gần 86 triệu dân hiện nay đang phụ thuộc hoàn toàn vào sự rộng lượng của “những con sói”. Nếu vài trăm ngàn tỷ đồng đang bị ghim giữ được tung ra đổi thành đô-la Mỹ thì lạm phát sẽ đẩy người dân đến thảm họa. Lượng đô-la này nếu bị đảo chiều – chuyển ra khỏi Việt Nam – thì toàn bộ dự trữ ngoại hối của quốc gia sẽ bốc hơi trong tích tắc nhưng cũng chỉ là muối bỏ bể trước sự thâm hụt cán cân thanh toán và thương mại quốc tế trầm trọng. Một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất không thua gì vụ giá–lương–tiền hồi giữa thập niên 80 của thế kỷ trước sẽ nổ ra ngay sau đó. Tiền đồng – VND sẽ mất giá và rơi tự do.

Ngay đầu năm 2008, rất nhiều các chuyên gia và tổ chức nước ngoài đệ trình lên chính phủ các giải pháp nâng giá tiền đồng so với đô-la Mỹ, thắt chặt tiền tệ, gia tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát. Các giải pháp này lẽ ra đã phải được khuyến nghị để thực hiện từ giữa 2006 nhằm chống nguy cơ tấn công của bầy thú điện tử trước khi gia nhập WTO, giảm tăng trưởng ảo của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát để kéo dần lãi suất ngân hàng xuống nhằm thúc đẩy đầu tư cho sản xuất kinh doanh thực thụ, nhờ đó nền kinh tế sẽ được tăng trưởng dần theo hướng có chất lượng bền vững.

Thật tiếc rằng các giải pháp vĩ mô trong 2006 – 2007 đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, các nguy cơ không những không được tháo gỡ mà còn bị làm cho trầm trọng hơn. Chiến lược tăng trưởng nhờ thu hút đầu tư nước ngoài để gia tăng xuất khẩu đã ngăn cản việc nâng giá tiền đồng hợp lý nhằm gia tăng sức mua và nhu cầu nội địa – tức là gia tăng mức sống của người dân, một yếu tố quan trọng để tăng trưởng bền vững.

Việc duy trì tiền đồng yếu trong lúc đô-la Mỹ mất giá trung bình khoảng 20% so với các ngoại tệ khác trên thế giới chỉ tạo ra những sức hút ngắn hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác lợi thế giá rẻ nhờ bảo hộ tỷ giá của nhà nước. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh nhưng đa số là nhập khẩu nhanh những công nghệ lạc hậu vào Việt Nam rồi khai thác nhân công giá rẻ, nguyên liệu rẻ để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Các nhà đầu tư nước ngoài được hưởng lợi lớn, lợi kép nhờ tỷ giá. Những khoản lợi nhuận này được để bên ngoài Việt Nam bằng cách khai tăng giá nhập thiết bị và vật tư phục vụ xuất khẩu (thuế suất nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp). Giá trị còn lại trong nước chỉ là tiền công và nguyên liệu rẻ mạt, đi kèm với môi trường bị hủy hoại do công nghệ lạc hậu, và sự suy yếu sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.

Đã có những cảnh báo về các nguy cơ rối loạn kinh tế lẫn xã hội nếu luồng vốn ngoại không cân đối làm suy yếu nội lực trong nước. Nhưng sự tuyên truyền ầm vang không mệt mỏi của các phương tiện thông tin đại chúng ca ngợi sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư nước ngoài, tô hồng viễn cảnh sáng sủa của nền kinh tế đã át hẳn những tiếng nói co´ trách nhiệm. Dân chúng tránh sao được sự ảo tưởng và rơi vào vòng xoáy ma lực. Nhiều đề xuất, khuyến nghị chính phủ cần xem xét lại chính sách thúc đẩy xuất khẩu kiểu này nhưng kết luận cuối cùng là càng phải tăng mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu.

Nhưng sự thật trớ trêu là càng xuất khẩu kiểu đó thì nhập siêu càng lớn. Lý do là sức mua của toàn dân sụt giảm nghiêm trọng do tỷ giá tiền đồng thấp hơn thực tế, mà nhu cầu thì ngày càng tăng lên. Trong khi đó lại hoàn toàn thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cho việc đáp ứng các nhu cầu nội địa, biểu thuế suất nhập khẩu hàng ngàn mặt hàng (đặc biệt là nông sản) giảm xuống do gia nhập WTO. Lượng nhập khẩu tăng lên là đương nhiên để đáp ứng các nhu cầu trong nước. Giá nhập khẩu cũng phải tăng mạnh do 2 tác động kép của tỷ giá tiền đồng thấp và giá cả thế giới tăng.

Nhập siêu 2007 phi mã đến 12,5 tỷ đô-la Mỹ (hơn 2,5 lần mức 2006) là vẫn còn may mắn. Nếu dầu thô thế giới không tăng giá để mang thêm về cho Việt Nam gần 2,5 tỷ đô-la Mỹ (40 ngàn tỷ đồng) từ xuất khẩu trong 2007 thì tình hình sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Thế nhưng người dân đã không được hưởng gì từ khoản thặng dư của tài nguyên quốc gia này sau khi chính phủ quyết định cắt bỏ 10 ngàn tỷ đồng bù giá xăng dầu trong nước. Sức mua của người dân bị ép giảm sút nặng nề để tăng lợi thế cho đầu tư nước ngoài và xuất khẩu mà ở đó chỉ một nhóm nhỏ các nhà xuất khẩu, chủ yếu từ nước ngoài hưởng lợi.

Giờ đây khi mà tiền đồng đã mất giá thực sự do lạm phát tiền và nội lực trong nước suy kiệt thì các giải pháp nâng giá tiền đồng lại được thực hiện. Lại một cái bẫy. Quyền lợi lại thuộc về nước ngoài. Đầu tháng 3/2008 ngân hàng Nhà nước mới yêu cầu tăng dự trữ bắt buộc lên thêm 1% (tương đương khoảng 10 ngàn tỷ đồng) và phát hành tín phiếu bắt buộc trị giá 20,3 ngàn tỷ đồng; chỉ hút hơn 30 ngàn tỷ đồng mà đã làm cả hệ thống tài chính ngân hàng điêu đứng, náo loạn đua nâng lãi suất để động viên người dân chuyển đổi ngoại tệ thành tiền đồng gửi vào ngân hàng. Tiền đồng trở nên khan hiếm, đô-la Mỹ bị mất giá.

Người dân lại bị cuốn hút vào một cuộc chơi mới của bầy thú điện tử. Các quỹ đầu cơ này đang cần đổi tiền đồng sang đô-la Mỹ, một tỷ giá đô-la Mỹ thấp sẽ rất có lợi cho họ. Tiền đồng bị siết chặt, biên độ tỷ giá đô-la Mỹ được nới lỏng. Đô-la Mỹ rơi xuống gần 15,5 ngàn đồng/USD nhưng bán cũng không ai mua. Trong tuần thứ ba của tháng 3/2008 này bầy thú điện tử đã tung hơn 30 ngàn tỷ đồng để mua vào khoảng 2 tỷ đô-la Mỹ. Ngay lập tức lạm phát gia tăng thêm 3%, đạt mức kỷ lục 9.2% trong chưa đầy 3 tháng đầu năm 2008. Cùng lúc, các ngân hàng chuẩn bị giảm lãi suất huy động.

Cái vòng xoáy hút – nhồi, tăng lên – giảm xuống sẽ được lặp lại nhiều lần như chứng khoán, đến khi mà bầy thú đã nắm trong tay một lượng lớn đô-la Mỹ thì sức mua của tiền đồng sẽ rơi tự do không phanh. Chỉ số giá tiêu dùng CPI sẽ tăng thêm cỡ 50% nữa, con số này chưa bao gồm những tác động của việc tăng giá đầu vào và sự mất niềm tin của dân chúng. Yếu tố niềm tin này có thể dẫn đến sự sụp đổ không ai có thể lường hết được, nó sẽ vượt quá nhiều lần mọi tính toán kỹ thuật nếu như người dân nhận ra mình đã bị lừa.

Thâu tóm và thôn tính

Nhưng mục tiêu của bầy thú không chỉ đơn giản như vậy. Bây giờ có lẽ chính phủ đã nhận ra được những nguy cơ của lạm phát sẽ tác động khủng khiếp thế nào đến sự bất ổn xã hội. Nếu không muốn cuộc khủng hoảng này bùng nổ ngay trong năm 2008, chính phủ phải thương lượng mua lại khoản tiền đồng khổng lồ của bầy thú. Quá trình thâu tóm đang bắt đầu.

Nhưng tiền đâu để mua khi mà dự trữ ngoại hối của quốc gia quá yếu ớt. Ngay cả có huy động được mọi nguồn lực để có đủ số tiền này thì bầy thú sẽ nói họ không cần đô-la Mỹ vì họ có thể mua nó dễ dàng từ thị trường. Họ muốn quyền kiểm soát các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là những tập đoàn được hưởng đặc quyền và đầy lợi thế của nhà nước. Các doanh nghiệp này đã được bảo hộ chặt chẽ trong các điều khoản gia nhập WTO để không chịu sức ép cạnh tranh lớn khi hội nhập. Nhưng giờ đây chúng sẽ được trao quyền kiểm soát chi phối bằng sở hữu đa số thông qua các hiệp định song phương đang được đàm phán vội vã.

Dân chúng đừng vội mừng vì hy vọng vào sự tốt lên của các doanh nghiệp này sau khi có bàn tay của nước ngoài. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy trong một đất nước mà thiếu vắng các chiến lược để tạo ra lợi thế quốc gia trong một hệ thống toàn cầu hóa, và nguồn nhân lực thì thiếu kỹ năng được đào tạo đúng mức, cộng với tham nhũng chi phối các chính sách nhà nước thì bầy thú điện tử sẽ chỉ dùng các doanh nghiệp khổng lồ trong nước được bảo hộ để khai thác thị trường nội địa, buộc người dân phải trả giá cao để có siêu lợi nhuận. Hiệp hội các nhà sản xuất ô-tô (VAMA) vừa vận động nâng thuế nhập khẩu xe hơi để “chống nhập siêu” là một minh chứng cụ thể cho việc đó.

Áp lực đang được gia tăng lên rất mạnh để các điều khoản đảm bảo cho việc thâu tóm dễ dàng đạt được. Bầy thú đang nhả tiếp tiền đồng ra đổi lấy đô-la Mỹ khiến nó lên giá, lạm phát tiếp tục tăng vọt. Trong tình hình này có lẽ những điều kiện cần để thâu tóm sẽ phải hoàn tất trong vòng trên dưới 2 tháng nữa. Từ nay đến đó chứng khoán sẽ tiếp tục hoành hành để gây rối và gia tăng áp lực đàm phán. Đến khi mọi việc được ký kết thì tới lượt bất động sản sẽ được thổi bùng lên, giá trị thật giá trị ảo sẽ lại điên loạn lên một lần nữa – một cuộc chơi mới theo bài cũ. Nó sẽ tạo ra bất ổn đến cuối năm, không chỉ để trục lợi mà còn nhằm lũng đoạn dễ dàng các chính sách vĩ mô để phục vụ cho những kế hoạch tiếp theo.

Nhà nước nếu không cẩn thận thì sẽ bị những kẻ cơ hội tiếp tục thao túng để bơm ra lượng tiền đồng khổng lồ đã thu hồi về nhờ bán rẻ tài sản toàn dân. Trong lúc rối ren, thật giả lẫn lộn thì không khó gì để viện ra những lý do nghe xuôi tai để làm được việc ấy. Lúc đó sẽ không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Đó chính là sự kết thúc.

Nhưng đấy cũng là khởi đầu của sự thôn tính.
Trần Đông Chấn

(Trần Đông Chấn là Trần Huỳnh  Duy thức hiện đang ở tù 16 năm)

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

Trung Quốc tung bạc tỷ vào Cam Bốt để đánh bật Hoa Kỳ (và Việt Nam)

Posted by hoangtran204 on 22/12/2010

Trong những năm gần đây, nhờ hàng tỷ đô la đổ vào Cam Bốt một cách dễ dãi, Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng so với Mỹ và Việt Nam. Trong bài viết «Trung Quốc thu lợi bạc tỷ tại Cam Bốt» (China’s billions reap rewards in Cambodia) trên tờ Washington Post ngày 20/11, nhà báo John Pomfret đã điểm lại cách thức mà Bắc Kinh đã sử dụng tại Cam Bốt để giành lại uy thế mà họ đã có vào thời Khmer đỏ.

Phia dưới một con đường mòn bẩn thỉu màu đỏ máu nằm sâu trong rừng rậm miền Tây Nam Cam Bốt, tiếng gầm rú bắt đầu. Quẹo qua một khúc quanh, ta thấy ngay căn nguyên – hàng chục chiếc xe đổ đất, xe máy xúc và xe đào đất đang phát quang khu rừng. Bên trên một cái hố lớn, một lá cờ bay phấp phới trong cơn gió nhẹ mang bụi và nóng. Đó là cờ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Tại khu vực nằm sâu trong dãy núi Cardamom, nơi mà lực lượng Cộng Sản Khmer đỏ do Trung Quốc ủng hộ đã thiết lập căn cứ cuối cùng của họ vào cuối thập niên 1970, Trung Quốc đang khẳng định quyền của họ như một đế chế đang hồi sinh ở Châu Á. Thay vì xuất khẩu cách mạng và nạn máu đổ qua các láng giềng, Trung Quốc giờ đây gởi tiền và người của họ đến nơi.

Tại khu vực đập thủy điện náo nhiệt này dọc theo biên giới Cam Bốt – Thái Lan, tại Miến Điện, Lào và ngay cả tại Việt Nam, Trung Quốc đang ồ ạt đẩy mạnh việc mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị của họ trong vùng Đông Nam Á. Bằng cách tung vốn đầu tư và viện trợ kèm theo sức ép chính trị, Trung Quốc đang thay đổi diện mạo mảng lãnh thổ mênh mông dọc theo biên giới phía Nam của họ. Hãy gọi điều này là Học thuyết Monroe theo kiểu Trung Quốc.

Bị nhiều chính quyền Mỹ liên tiếp lơ là, sự trỗi dậy của Trung Quốc trong vùng đang gióng lên tiếng chuông báo động tại Washington, vốn đang tích cực chiêu dụ nhiều quốc gia Đông Nam Á. Chính quyền của Tổng Thống Obama đã nuôi dưỡng các mối quan hệ chặt chẽ hơn với kẻ cựu thù là Việt Nam. Họ cũng nỗ lực mở cửa với Miến Điện, mà theo các quan chức Mỹ nó đang có nguy cơ trở thành nước chư hầu của Trung Quốc. Mỹ cũng đang cải thiện quan hệ với Lào, quốc gia mà phân nửa phía Bắc đã bị doanh nghiệp Trung Quốc thống trị. Trong bài diễn văn về chính sách Châu Á của Mỹ đọc ngày 28/10/2010 trước khi lên đường công du các nước Châu Á lần thứ 6 trong vòng hai năm, Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton đã dùng thuật ngữ quân sự “Ngoại giao triển khai – tiến công” để chỉ đến các cố gắng của Mỹ.

Trong chuyến viếng thăm Phnom Penh gần đây, lần đầu tiên của một Ngoại trưởng Mỹ kể từ năm 2002, khi nói chuyện với sinh viên Cam Bốt và được hỏi về quan hệ của Cam Bốt với Bắc Kinh, bà Clinton đã nói rằng: «Các bạn không muốn đất nước mình bị lệ thuộc quá nhiều vào bất kỳ một nước duy nhất nào».

Thế nhưng Trung Quốc vẫn gia tăng uy lực

Trung Quốc đã hoàn tất một thỏa thuận thương mại với toàn thể 10 quốc gia Đông Nam Á, trong khi một hiệp định tương tự của Mỹ chỉ mới trong giai đoạn sơ khai. Mỹ đang củng cố quan hệ với đồng minh Thái Lan của mình, bất chấp các bất ổn chính trị mới đây tại đấy.

Tại Cam Bốt, các công ty Trung Quốc đã biến các khu vực họ được nhượng quyền khai thác mỏ và nông nghiệp tại tỉnh Mondulkiri ở vùng Đông Bắc Cam Bốt thành những nơi mà cảnh sát Cam Bốt không còn quyền lai vãng. Nhân viên canh gác tại cổng ra vào của hai trong số các khu vực khai thác này – một mỏ vàng và đồn điền trồng đay – đã xua đuổi mọi khách vãng lai trừ phi họ có thể trả tiền mãi lộ. Theo lời kể của một số người đã tham dự hội nghị về thực thi luật pháp vào đầu năm nay thì Bộ trưởng Nội vụ Cam Bốt, ông Sar Kheng, đã phải nhận xét chua cay: «Đó không khác gì một quốc gia trong một quốc gia».

Các hãng phát triển bất động sản của Trung Quốc đã đổ xô đến Cam Bốt với tất cả tham vọng, sự xấc xược và ồn ào y như thái độ của các công ty trái cây và chế tạo vỏ xe của Mỹ tại Châu Mỹ La tinh hay Châu Phi trong các thập niên trước đây. Một công ty, Liên hiệp Phát triển thuộc thành phố Thiên Tân ở mạn Bắc Trung Quốc, đã chiếm được quyền khai thác trong vòng 99 năm một khu bất động sản rộng 120 dặm vuông – gấp hai lần kích thước thủ đô Washington – ngay mặt tiền bãi biển bên vịnh Thái Lan. Tại đó, các toán công nhân Trung Quốc đang làm đường và chuẩn bị các dự án xây khách sạn, biệt thự và sân golf. Tiền đầu tư ước lượng là 3,8 tỷ đô la. Đối tượng khách hàng là ai ? Là những kẻ mới giàu lên đến từ Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu.

Tháng 10 vừa rồi, Trung Quốc cam kết ủng hộ công trình xây dựng tuyến đường sắt trị giá 600 triệu đô la giữa Phnom Penh và Việt Nam. Tuyến đường này sẽ giúp cho Trung Quốc tiến được một bước quan trọng trong việc hòa nhập toàn bộ Đông Nam Á, kể cả Singapore ở xa tận phía Nam, vào mạng lưới xe lửa của họ.

Trên khắp Cam Bốt, hàng chục công ty quốc doanh Trung Quốc đang xây dựng 8 đập thủy điện, bao gồm đập thủy điện khổng lồ với công suất 246 megawatt trên sông Tatay ở Koh Kong. Tổng số chi phí cho các con đập này sẽ vượt mức 1 tỷ đô la. Theo ông Cheam Yeap, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân Dân Cam Bốt đang cầm quyền, tổng cộng Cam Bốt đang nợ Trung Quốc 4 tỷ đô la.

«Khả năng (Trung Quốc) chiếm quyền kiểm soát là điều không thể tránh khỏi». Lak Chee Meng, thông tín viên kỳ cựu của báo Sin Chew Daily tại Phnom Penh đã nhận định như vậy. Sin Chew Daily là một trong 4 nhật báo Hoa Ngữ tại Cam Bốt, phục vụ cho 300.000 độc giả người Khmer gốc Hoa và thêm khoảng 250.000 người nhập cư đến từ Trung Quốc bao gồm di dân và các nhà kinh doanh. «Cam Bốt ngả vào Trung Quốc với vòng tay mở rộng. Đó là cách thức trước đây Mỹ dùng để giành quyền kiểm soát các láng giềng. Địa lý chính trị là như vậy».

Tiền Trung Quốc đổ vào Cam Bốt đã biến thành uy lực chính trị

Câu hỏi muôn thuở về sự trổi dậy của Trung Quốc là khi nào Bắc Kinh sẽ có thể biến tiền bạc của họ thành quyền lực. Tại Cam Bốt, điều đó đã thành hiện thực.

Chính quyền Cam Bốt đã tránh né chỉ trích Bắc Kinh trên vấn đề đập thủy điện mà họ xây dựng trên sông Mekong khúc chảy qua Trung Quốc, những công trình mà giới chuyên gia tiên đoán sẽ tác hại đến đời sống của hàng triệu người dân Cam Bốt sinh sống với nghề đánh bắt cá trên Biển Hồ.

Cam Bốt cũng tuân thủ chính sách “Một Trung Hoa” một cách nghiêm ngặt đến mức từ chối cả yêu cầu của Đài Loan xin mở một văn phòng kinh tế, bất kể hàng triệu đô la đầu tư Đài Loan tại Cam Bốt.

Uy lực của Trung Quốc được phô bày vào tháng 12/2009 khi các nhà ngoại giao Mỹ và Trung Quốc đối đầu trực tiếp với nhau về số phận của 20 người Duy Ngô Nhĩ đã bỏ chạy khỏi Trung Quốc đến Cam Bốt xin tỵ nạn chính trị. Trung Quốc nói một số trong nhóm 20 người này đang bị truy nã vì đã tham gia cuộc bạo động chống lại người Hán tại Tân Cương vào tháng 7/2009. Phía Mỹ thì nói không được gởi trả họ về Trung Quốc.

Trung Quốc đe dọa hủy bỏ chuyến đi thăm Cam Bốt của Phó chủ Tịch Tập Cận Bình, nhân vật sẽ tới Phnom Penh với các hợp đồng và tín dụng trị giá 1,2 tỷ đô la. Thế là Cam Bốt liền giao trả người Duy Ngô Nhĩ về Trung Quốc. Hai hôm sau, Tập Cận Bình, nhân vật sẽ lãnh đạo Trung Quốc sắp tới đây, đã đến Phnom Penh.

Vào tháng 4 năm nay (2010), Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo trừng phạt Cam Bốt, bằng cách hủy bỏ chuyến tàu chở 200 xe vận tải quân sự và loại xe rờ moọc trong số thiết bị quân sự thặng dư dự trù viện trợ cho Phnom Penh. Chưa đầy 3 tuần sau, Bắc Kinh tặng cho Cam Bốt 257 xe vận tải quân sự.

Cam Bốt về hùa với Trung Quốc trên hồ sơ Biển Đông

Cam Bốt cũng đi theo sự chỉ đạo của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, một vùng biển rộng 1 triệu dặm vuông mà Bắc Kinh khẳng định thuộc chủ quyền Trung Quốc.

Vào tháng 7, Ngoại trưởng Clinton phát biểu tại Hà Nội, đã bác bỏ đòi hỏi của Trung Quốc trên vùng biển khơi thuộc Biển Đông và bênh vực cho một sự tiếp cận đa phương, nhằm chia sẻ quyền đánh cá cũng như các tài nguyên dầu khí được cho là hiện nằm dưới đáy biển. Trung Quốc phản đối các cuộc thảo luận đa phương, họ chủ trương chia để trị thông qua các cuộc đàm phán song phương. Qua tháng 10, Thủ tướng Hun Sen ủng hộ đề nghị của Trung Quốc.

Cuộc đọ sức tay đôi Mỹ – Trung đã tiếp diễn tục vào đầu tháng 11. Một ngày sau khi bà Clinton rời khỏi Cam Bốt, Ngô Bang Quốc, một trong những quan chức cao cấp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đến Phnom Penh. Trong chuyến viếng thăm, bà Clinton cho biết có thể xóa bỏ một phần trong món nợ 445 triệu đô la mà Cam Bốt còn thiếu Mỹ. Ông Ngô Bang Quốc thẳng thắn hơn, xóa bỏ ngay 4,5 triệu đô la tiền nợ của Cam Bốt. Các viên chức Trung Quốc còn xem xét việc xóa thêm nợ 200 triệu đô la khác mà Cam Bốt đã vay mượn.

Việt Nam vẫn còn là cản lực của Trung Quốc tại Cam Bốt

Con đường đưa Trung Quốc lên thống trị Cam Bốt không phải không gặp chướng ngại. Việt Nam, nước từng lật đổ chế độ Khmer Đỏ vào năm 1979 và đưa ông Hun Sen lên nắm quyền, đã tỉnh giấc trước mối đe dọa của ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc và đã chỉ đạo cho các công ty quốc doanh Việt Nam đổ tiền vào Xứ Chùa Tháp. Từ 28 triệu đô la năm 2008, mức đầu tư của Việt nam vọt lên 268 triệu năm 2009 và đến 1,2 tỷ đô la trong năm nay, theo số liệu thống kê của chính quyền Cam Bốt.

Quân đội Việt Nam đang điều hành công ty viễn thông số 2 – sắp tới đây sẽ trở thành số 1- của Cam Bốt. Đa số giới chức chính quyền Cam Bốt sử dụng dịch vụ của công ty Việt Nam vì được tặng thẻ sim với thời lượng gọi miễn phí.

Nhưng Trung Quốc đã nhanh chóng phản công chống Việt Nam. Vào tháng 11, Trung Quốc và Cam Bốt ký kết một thỏa thuận tín dụng 591 triệu đô la, trị giá lớn chưa từng thấy tại Cam Bốt – mà ngân hàng Trung Quốc Bank of China dành cho các công ty viễn thông chủ yếu khác của Cam Bốt. Trong thỏa thuận này có 500 triệu đô la dùng để mua trang bị từ tập đoàn viễn thông khổng lồ Huawei của Trung Quốc.

Ngay cả lãnh đạo Cam Bốt Hun Sen, thỉnh thoảng cũng bị bực mình vì Bắc Kinh. Tháng 12/2009, công nhân Trung Quốc hoàn thành một trụ sở chính quyền đồ sộ trị giá 30 triệu đô la, nơi dự trù làm Phủ thủ tướng cho ông Hun Sen. Nhưng ông Hun Sen không thích nơi này, ông than phiền về những cái cầu tiêu kiểu ngồi xổm và «ngay cả những chùm đèn treo thích hợp cũng không có», theo lời kể của một nhà ngoại giao Phương Tây. Cũng có mối lo ngại Trung Quốc khi xây đã gắn thiết bị nghe trộm trong dinh thự này, vì thế ông Hun Sen cho xây một trụ sở khác bên cạnh và cả hai đã được khánh thành vào tháng 10.

Ảnh hưởng bắt nguồn từ lịch sử

Trung Quốc đã áp đặt quyền lực của Thiên triều trên Cam Bốt trong nhiều thế kỷ. Cách đây 800 năm, quân đội Trung Hoa đã từng cứu giúp các vua chúa Khmer, hình các chiến binh Trung Hoa thân thiện được chạm khắc trên các bức tường đền Bayon nổi tiếng gần Angkor Wat. Trong thập niên 1950-1960, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bảo bọc Quốc vương Sihanouk, rồi giúp đỡ cho Khmer Đỏ về kinh tế, an ninh và tư tưởng trong suốt thời gian cai trị đẫm máu từ 1975 đến 1979. Ông Sihanouk, năm nay đã 88 tuổi và là Vua Cha, đang cư ngụ tại Bắc Kinh.

Hoắc Triệu Quốc (Huo Zhaoguo), một người Trung Quốc quản trị dự án đồ sộ dọc duyên hải Cam Bốt của công ty Liên hiệp Phát triển, là điển hình của người Trung Quốc mới đến Cam Bốt. Trong thập niên 1980, tại Lan Châu miền Tây Bắc Trung Quốc, ông đã giàu lên nhờ bán đậu, nhưng sau đó đã bị lỡ vận. Ông đến Cam Bốt trong thập niên 1990 khi truy đuổi một nhà phân phối người Việt đã thiếu tiền ông. Sau đó ông trở về Lan Châu không một đồng xu dính túi và không thể ở lại đấy. Ông nói: «Tôi từng là người giàu có ở đây, do đó mà mọi người đều chế nhạo tôi. Một con người luôn cần đến sự tự trọng».

Ông Hoắc Triệu Quốc trở lại Cam Bốt và mở một quầy bán mì. Sau đó ông tiến tới lập một tiệm mì và gặp được ông chủ của công ty Liên hiệp Phát triển khi ông này ghé tiệm mì tìm kiếm món ăn miền Bắc Trung Quốc. Ông chủ này đã cho ông Hoắc Triệu Quốc cơ hội làm việc tại Liên hiệp Phát triển, và bây giờ ông có trách nhiệm giám sát việc xây dựng đường sá. Theo ông, sở dĩ công ty Liên hiệp Phát triển giành được khoảng đất này, đó là nhờ tiền bạc và quan hệ.

Đối với ông: “Cam Bốt còn quá nghèo và nạn tham nhũng cũng giống như ở Trung Quốc. Nếu anh có quyền thế ở đây, anh sẽ có một tương lai vĩ đại”.

Với một vẻ tự cao mang tính chất thực dân thường thấy nơi nhiều người Hoa tại Cam Bốt, ông nói: «Người Cam Bốt chẳng hề thấy là họ bị buộc phải thành đạt. Thậm chí họ còn lấy ngày nghỉ cuối tuần nữa. Chúng tôi thì không như vậy. Chúng tôi làm việc».

Nguồn: Phạm Phan/Trọng Nghĩa, RFI

http://www.danchimviet.info/archives/23426

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Trung Quốc xâm nhập Kamphuchea | Leave a Comment »