Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Năm 2014
    C H B T N S B
    « Th4   Th6 »
     123
    45678910
    11121314151617
    18192021222324
    25262728293031
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Năm 24th, 2014

►“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? – Nhờ vậy mà ngày nay TQ có cớ đi khoan dầu ở Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2014

Học lực thấp kém, tài hèn mọn, đạo đức kém… thì nên làm những việc nhỏ và sống một đời bình thường và có ích. Nhưng, có những kẻ lúc nhỏ lêu lổng, không có khả năng và điều kiện để học hành, lại không chí thú làm ăn, mà chỉ thích tụ tập thành bè đảng, rồi tự nhận là học trò của bon ác quỷ. Những kẻ nầy lấy học thuyết  đấu tranh bằng bạo lực, mã tấu, búa liềm, súng đạn là phương tiện sinh nhai, nhưng lại núp bóng dưới các chiêu bài đánh đuổi thực dân, mà thật ra là mời bọn xâm lược vào quê nhà trợ giúp chúng chiếm đất giành quyền cai trị.

Tiếng tăm của bọn xâm lược là đi chiếm đất và đồng hóa dân Việt đã được tổ tiên ta ghi lại rành rành trong sử sách vài ngàn năm qua. Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Người có chút đạo đức thì chắc chắn phải né tránh bọn nầy mà không đánh bạn. Nhưng, ở đời này, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, những kẻ đạo đức thấp kém thì lại thích giao du, thỉnh cầu, mời bọn cướp đất tới giúp đỡ, và lấy biển đảo đất đai của tổ tiên làm quà đổi chác. Đó chính là hành động của những kẻ bán nước cầu vinh. Hậu quả là ngày nay TQ mới có cớ để cướp thêm biển đảo và khoan dầu trong vùng lãnh hải chủ quyền của VN.

Mời các bạn đọc 5 bài báo dưới đây.

-Hai bài báo của Ngọc Trân. (2011 và 2014)

-Một bài báo trên tờ QĐND (Thứ sáu, 01/05/2009 )

-Hai bài báo của đài BBC. (3-2014)

Về bài báo của tác giả Ngọc Trân. Bài thứ nhất đã đến tay bạn đọc năm 2011, và 3 năm sau chúng ta mới đọc được phần 2. Điều này cho thấy tác giả đã dành nhiều thời gian khảo cứu, đối chiếu,  đọc lại lịch sử của nhiều nguồn, suy tư, và chọn lọc những điểm cốt lỏi để cô đọng thành hai biết viết ngắn gọn.

Bản thân Trần Hoàng  rất cảm kích tác giả, và tự nghĩ là mình có dịp may đọc được hai bài báo xúc tích, các sự kiện lịch sử và lời phát biểu của các nhà lãnh đạo cs trong 2 bài báo của Ngọc Trân cũng dễ dàng kiểm chứng, nhờ đó mà Trần Hoàng biết thêm một nguồn tài liệu về tai họa cộng sản – đã hoành hành trên đất nước ta suốt gần 85-90 năm qua- có nguyên nhân từ đâu và để lại hậu quả gì cho hôm nay và ngày mai.

Ngọc Trân, thông tín viên RFA
2014-04-29

“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? (Phần 2)

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”.

Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới. 

Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác? 

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc. 

Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu. 

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông (công khai lập lại lời) tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản, nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

 

000_ARP2093992-250.jpg
Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam – mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.  
Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”. 

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc…Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau: “Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

“Giải phóng miền Nam”: Cho ai và vì ai? (Phần 1)

Tháng 4 năm 1975, những người cộng sản tiến vào Sài Gòn “giải phóng miền Nam” kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Bắc – Nam, kéo dài trong 21 năm.
.
000_ARP2238192-305.jpg
Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (P) ăn trưa cùng ông Hồ Chí Minh (T) vào tháng 8/1959 tại Bắc Kinh.
AFP photo
.

Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến này, dựa trên các tài liệu đã được giải mật thời gian gần đây, nhiều người nhận ra, cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” do những người Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật sự không phải vì Việt Nam.

Vì Liên Xô vào để truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản

Sau Đệ nhị Thế chiến, Joseph Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình bằng cách hỗ trợ nhiều quốc gia tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng bạo lực để lật đổ các chính thể hiện hành, thiết lập các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Tác giả Ngọc Trân dường như bỏ sót sự kiện chính của Giai đoạn 1945-1954. Nếu Mao Trạch Đông không chiếm được TQ 1949, chắc chắn ông HCM và đảng CSVN không thể đánh thắng Điện Biên Phủ 1954 và chiếm được Miền Bắc 20-7-1954  Ông HCM đã viết thư thỉnh cầu TQ xin giúp đỡ vào năm 1949, và còn đích thân qua TQ diện kiến Mao vào tháng 2-1950 để thỏa thuận đổi chác với Mao để nhận được sự giúp đỡ về viện trợ vũ khí, lương thực, quân trang, quân dụng, tiền bạc… Trần Hoàng mời các bạn đọc thêm tại liệu của 3 tướng lãnh TQ nói về giai đoạn này qua bài (Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam, 1-5-2009, Báo Quân đội Nhân dân). Từ đó, chúng ta có bằng chứng thêm để biết ông HCM và đảng CSVN cõng rắn cắn gà nhà và mãi quốc cầu vinh như thế nào.

Năm 1958, ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chính quyền Cộng sản ở miền Bắc, Việt Nam, tuyên bố: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý, xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết cho phép các lực lượng Cộng sản miền Nam sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền miền Nam. Và rồi cuộc chiến Bắc – Nam đã được những người Cộng sản khơi mào bằng các phong trào kiểu như “Đồng khởi” ở Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, sách động quần chúng đấu tranh vũ trang kết hợp với chính trị. 

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng, cuối năm 1960, Đảng Cộng sản cho ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản, hoạt động ở miền Nam với mục đích lật đổ chính quyền miền Nam, thống nhất Việt Nam, để biến Việt Nam thành một khối thống nhất, thành viên của cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa.  

Trong giai đoạn vừa kể, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Liên Xô liên tục qua lại thăm viếng nhau. Đến cuối năm 1960, hai bên bắt đầu ký nhiều thỏa thuận, trong đó, Liên Xô cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ miền Bắc, để giúp miền Bắc “giải phóng miền Nam”. 

Ngày 6 tháng 1 năm 1961, hai tuần trước khi ông Kennedy tuyên bố nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Nikita Khrushchev, Thủ tướng Liên Xô, tuyên bố, Liên Xô sẽ hỗ trợ “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” trên toàn thế giới, trong đó có Cuba và Việt Nam. Khrushchev gọi đây là những cuộc chiến tranh “thần thánh”. Ông Ilya Gaiduk, nhà sử học người Nga, tiết lộ, trong kế hoạch của Moscow, Việt Nam trở thành một kênh chính để tạo ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Ngày 31 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố, những diễn biến vừa kể là bằng chứng về tham vọng muốn thống trị thế giới của Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc.

“Tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”

Ngoài việc Liên Xô muốn vào truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản, những người Cộng sản Việt Nam cũng muốn biến đất nước trở thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”. 
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, năm 1959, nêu rõ: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ chiếm cứ miền Nam, âm mưu xâm lược miền Bắc là để tấn công phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên, thắng lợi của cách mạng Việt Nam quan hệ trực tiếp đến phe xã hội chủ nghĩa, làm cho phe xã hội chủ nghĩa càng rộng lớn, vững mạnh”.

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô. Theo đó: “Hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của phe XHCN và phong trào cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng Lao động Việt Nam, giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc của phong trào vô sản quốc tế”.

 

Kể từ đó, khối cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, đã gia tăng viện trợ quân sự, từ vũ khí, đạn dược, xe tăng, tên lửa, máy bay…cho đến các cố vấn quân sự, thậm chí cả binh lính, cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, để lật đổ chính quyền miền Nam, thực hiện cuộc cách mạng vô sản, biến Việt Nam thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.  

Trong bài nói chuyện đăng trên báo Nhân Dân, ngày 20 tháng 7 năm 1965, ông Hồ Chí Minh đã cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc về sự giúp đỡ này, ông nói: “Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp năm châu. Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN giúp đỡ lãnh đạo miền Bắc với mục đích truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam và rộng hơn là các nước Đông Nam Á, thế nhưng ông Hồ Chí Minh chỉ thấy sự giúp đỡ này là “vô tư”, “không vụ lợi”. Ông cho biết: “Các nước bạn giúp ta một cách khẳng khái, vô tư, như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi. Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”. Và ông  ông Hồ Chí Minh cho biết, ông “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”.

Tháng 2 năm 1966, khi đến Moscow tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 23, ông Lê Duẩn tuyên bố, ông có hai tổ quốc, đó là Tổ quốc Việt Nam và Tổ quốc Liên Xô. Ông Lê Duẩn cũng cám ơn Liên Xô về sự “viện trợ to lớn và nhiều mặt” cho chính phủ miền Bắc. Trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Lê Duẩn cho biết: “Liên Xô giúp chúng tôi bằng trái tim của họ, và họ đã giúp chúng tôi nhiều hơn chúng tôi có thể sử dụng, và Trung Quốc cũng giúp đỡ chúng tôi”. 

Sử gia Douglas Pike nhận xét về cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do miền Bắc khởi xướng như sau: “Bản chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi trên thực tế: từ một anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo, cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”.

Cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng miền Nam”, ngoài mục đích Liên Xô muốn đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn của phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Nam Á, những người Cộng sản Việt Nam đã “giải phóng miền Nam, là “giải phóng” cho ai? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

—————-

Trần Hoàng bổ sung thêm đoạn này để bạn đọc hiểu thêm về con người của ông Lê Duẩn:

Giữa trưa 7-1-1979, khi nghe con rể là Giáo sư Hồ Ngọc Đại đánh thức báo tin, “Quân ta đã vào Phnom Penh”, ông Lê Duẩn chỉ “ừ” rồi ngủ tiếp.

Ông Hồ Ngọc Đại nói: “Tôi rất ngạc nhiên. Khi nhận được điện thoại từ Cục Tác chiến tôi cũng không ngờ chuyện long trời lở đất như thế mà ông vẫn ngủ”.

Đưa đại quân đến thủ đô một quốc gia khác tưởng nhẹ tựa giấc ngủ trưa của một đấng quân vương, nhưng phải mười năm sau Quân đội Việt Nam mới rút được chân ra khỏi đó.”

Trích : Đức, Huy (2012-12-06). Bên Thắng Cuộc (Giải phóng)

————–

Trần Hoàng trích thêm nơi đây bài của tờ Báo Mới có các chi tiết về sự thiệt hại khổng lồ về nhân mạng mà đảng CSVN gây ra:

*Cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1954-1975 đã làm cho
1.146.250 liệt sĩ (đa số là Bộ đội Miền Bắc tử thương).
trên 780.000 thương binh
3.000 nghĩa trang liệt sĩ với tổng số trên 780.000 ngôi mộ
-300.000 bộ đội vẫn còn bị mất tích.
3.000 Bà mẹ VN anh Hùng còn sống (2012); được phong bà mẹ VN AH là: có chồng và từ 2-5 con, hoặc hơn.
cả nước hiện có trên 8,8 triệu đối tượng người có công (chiếm 10% dân số cả nước 2012)
*Cuộc chiến tranh xâm lăng Kampuchea 1978-1989 đã làm cho 70.000 bộ đội tử thương; 200.000 thương binh phần lớn bị cụt chân vì mìn. Hàng chục ngàn Thanh Niên Xung Phong đã chết vì đi tải đạn và lương thực cho bộ đội. 
————–

Tuần trước, nhân chuyện giàn khoan TQ HD 891 kéo vào Biển Đông khoan dầu, cư dân mạng bỗng sục sôi;

Yesterday

(chú ý, hàng chữ trên cổng được ghép vào. Nhưng câu nói ấy là của LD))

Ðồng chí LD nói rằng “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc.”

Chuyện tri ân đ/c Lê Duẩn tại sao không để cho Trung Quốc và Liên Xô làm mà người dân Việt Nam phải ghi ơn?

Trong khi đ/c Lê Duẩn đem lại chiến thắng cho Trung Quốc và Liên Xô, thì đã làm tổn thất sinh mạng của hơn 2 triệu người Việt trong cuộc chiến VN từ 1954-1975.

.

Photo

.

Làm TAY SAI CHO LIÊN XÔ VÀ TRUNG QUỐC:

Lê Duẩn nói: “TA ĐÁNH MỸ LÀ ĐÁNH CHO LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC…” Thế mà giờ đây lại có Đền Thờ, có Quân đội Nhân Dân VN đứng gác 4 góc đền!

Chuyện tri ân đ/c Lê Duẩn tại sao không để cho Trung Quốc và Liên Xô làm mà người dân Việt Nam phải ghi ơn?

Trong khi đ/c Lê Duẩn đem lại chiến thắng cho Trung Quốc và Liên Xô, thì đã làm tổn thất sinh mạng của hơn 2 triệu người Việt trong cuộc chiến VN từ 1954-1975.

—————

 

Đại thắng Điện Biên Phủ và Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam

QĐND – Thứ sáu, 01/05/2009 | 22:20 GMT+7

QĐND Online – Báo điện tử “Hoa Hạ kinh vĩ”(Trung Quốc), ngày 7-4-2007 truy nhập Hồi ức của ba tác giả: Trương Đức Duy, Nguyên Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam; Văn Trang, Nguyên cán bộ Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt nam; Vương Đức Luân, Nguyên cán bộ Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam công bố nhân dịp 50 năm (7/5/1954-7/5/2004) Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chúng tôi xin giới thiệu Hồi ức trên, qua bản dịch của Nhà báo-Dịch giả Vũ Phong Tạo từ nguyên bản Trung văn, để bạn đọc tham khảo.

Giao thời Xuân Hè năm 1954, địa danh “Điện Biên Phủ” này đã thu hút ánh mắt của nhân dân toàn thế giới.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch quy mô lớn nhất, mang ý nghĩa quyết định trong cuộc chiến tranh chống Pháp của nhân dân Việt Nam. Chiến dịch này kết thúc, cuối cùng quân đội nhân dân Việt Nam thắng lợi triệt để tiến công làm chủ Điện Biên Phủ, tiêu diệt toàn bộ binh lực quân đội thực dân Pháp với trên 16.000 tên, đánh một dấu son viên mãn trong cuộc Chiến tranh chống Pháp 8 năm của nhân dân Việt Nam.

Nhớ lại năm xưa, năm nay đúng là Kỷ niệm 50 năm Chiến dịch Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc Chiến tranh chống Pháp thắng lợi. Chúng tôi bỗng nhớ lại nội dung bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết bằng Hán văn nói:

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, là do nhân dân Việt Nam giành được, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ tiến hành cuộc Chiến tranh chống thực dân xâm lược Pháp. Thắng lợi này cũng là một thể hiện sinh động của tình hữu nghị chiến đấu của nhân dân hai nước Trung Việt.

Thủ trưởng của Đoàn Cố vấn Trung Quốc tại mặt trận Điện Biên Phủ: (từ trái sang)Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàm, La Quý Ba, Vi Quốc Thanh.Ảnh tư liệu

Năm ấy, chúng tôi vinh hạnh được cử vào Đoàn Cố vấn Trung Quốc, đã tham gia rất nhiều công tác cụ thể của Đoàn Cố vấn, cùng các đồng chí Việt Nam chiến đấu 5 năm dòng, đã kinh lịch vô số sự kiện xúc động lòng người, trực tiếp cảm thụ được tình cảm sâu đậm và chân thành của tình bạn chiến đấu Trung Việt, những hình ảnh ấy khiến suốt đời không thể nào quên.

Năm 1949, khi cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam bước vào giai đoạn cầm cự, cuộc đấu tranh ở vào thời khắc vô cùng gian khổ, nặng nề, cuộc Chiến tranh giải phóng của nhân dân Trung Quốc giành được thắng lợi mang tính toàn quốc, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập. Sự kiện này tạo ra hoàn cảnh vô cùng có lợi cho sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam, cũng khiến cho Trung Quốc có khả năng ra sức chi viện cho cuộc kháng chiến của Việt Nam.

Hai nước Trung Việt núi liền núi sông liền sông, sướng khổ có nhau. Bắt đầu từ thập niên 20 của thế kỷ trước, những người cách mạng hai nước đã ủng hộ lẫn nhau, giúp đỡ lần nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh và một loạt thanh niên tiến bộ Việt Nam trước sau đã tham gia cuộc Chiến tranh cách mạng và Chiến tranh kháng Nhật của Trung Quốc.

Khi nhận được tin vui nước Trung Quốc mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh lập tức cử hai cán bộ đắc lực mang theo thư tay bằng Hán văn của Người, chia nhau đi theo hai con đường (đường bộ và đường biển) bí mật đến Bắc Kinh, thỉnh cầu Trung Quốc viện trợ.

Trong thư tay, chủ tịch Hồ Chí Minh viết rằng:

Ân ca, Dĩnh thư (Tức anh Chu Ân Lai và chị Đặng Dĩnh Siêu):

Em đã xa anh, chị mười năm, luôn luôn nhớ nhung, và có rất nhiều việc mới muốn bàn với anh chị. Em xin thay mặt tệ điếm chúc mừng sự phát triển vĩ đại của quý Công ty. Tệ điếm (cửa hàng nhỏ của tôi) mấy năm qua kinh doanh khá tốt, ý muốn tranh thủ thời cơ, đánh thắng đối phương, xin cử hai người nhân viên thân tín, cấp tốc khẩn cầu anh chị giúp đỡ.

Đinh (Bí danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Tháng 10 (năm 1949), Mao Chủ tịch nói: “Cố vấn thì là cố vấn, trên thực tế chính là tham mưu…”

Tháng 1 năm 1950 sau đó, sau khi đã hoá trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh không từ gian khổ nguy hiểm, vượt núi băng sông, đi bộ tới Trung Quốc, lần lượt cùng với Chủ tịch Mao Trạch Đông và cá đồng chí lãnh đạo Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Chu Đức, v.v… thương nghị vấn đề Trung Quốc giúp đỡ Việt Nam kháng chiến.

Mao Chủ tịch nói: Cách mạng Trung Quốc đã thắng lợi, có nghĩa vụ giúp đỡ nhân dân Việt Namđang đấu tranh giải phóng dân tộc.

Đáp ứng thỉnh cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Việt Nam, Mao Chủ tịch và Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định ra sức chi viện cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, đồng thời lập tức cử đồng chí La Quý Ba, Chủ nhiệm Văn phòng Quân uỷ Trung ương làm Đại biểu liên lạc của Đảng Cộng sản Trung Quốc đi trước sang Khu giải phóng Việt Nam tìm hiểu tình hình, để cung cấp viện trợ.

Tiếp theo, lần lượt cử Đại tướng Trần Canh thay mặt Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đoàn Cố vấn Quân sự do Thượng tướng Vi Quốc Thanh đứng đầu và Đoàn Cố vấn Chính trị do đồng chí La Quý Ba đứng đầu, sang Việt Nam giúp đỡ Việt Nam kháng chiến. Trong thời gian này, chúng tôi công tác tại Đoàn Cố vấn lần lượt nhiều lần lắng nghe lãnh đạo Đoàn truyền đạt chỉ thị và căn dặn của Mao Chủ tịch và của các đồng chí lãnh đạo Trung ương, cho đến nay vẫn nhớ như mới rợi.

Đêm trước khi Đoàn Cố vấn Quân sự Trung Quốc lên đường sang Việt Nam, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Phó chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, Tổng tư lệnh Chu Đức cùng tiếp kiến Cán bộ cấp Đoàn trở lên của Đoàn Cố vấn khi ấy đã đến Bắc Kinh.

Ba vị lãnh đạo đều có chỉ thị và căn dặn quan trọng, nhiều lần nhấn mạnh phải phát huy tinh thần quốc tế chủ nghĩa, thành tâm thành ý giúp đỡ các đồng chí Việt Nam, tôn trọng các đồng chí lãnh đạo Việt Nam, thực hiện đoàn kết tốt, yêu quý nhân dân Việt Nam.

Mao Chủ tịch nói: “Lần này các đồng chí đi làm cố vấn, là một việc lớn, việc mới. Đảng và Nhà nước, quân đội chúng ta lần đầu tiên cử cố vấn ra nước ngoài. Việc này có ý nghĩa rất trọng đại, là niềm vẻ vang của chúng ta… Nhiệm vụ của các đồng chí đi Việt Nam, đầu tiên phải giúp đỡ đánh trận tốt. Hiện tại họ vẫn là chủ yếu đánh du kích chiến, chưa đánh qua những trận đánh tương đối lớn. Nhưng, chỉ đánh du kích chiến là không ổn, muốn giành được thắng lợi còn phải đánh những trận lớn hơn. Phải có thể đánh công kiên chiến, có thể đánh vận động chiến, mới có thể chuyển vào phản công, đánh bại quân Pháp”.

Về vấn đề làm cố vấn như thế nào, Mao Chủ tịch nói: “Cố vấn thì là cố vấn, nhưng trên thực tế chính là tham mưu, làm tham mưu tốt cho các đồng chí lãnh dạo của người ta. Tham mưu chính là đề xuất chủ trương, nghĩ biện pháp, hiệp tác giúp đỡ lãnh đạo. Cho nên không thể bao biện làm thay, càng không thể làm Thái Thượng hoàng, ra lệnh chỉ huy… Trước mặt quần chúng Việt Nam, không thể biểu hiện ra thái độ kiêu ngạo của chúng ta là người chiến thắng. Phải thực hiện tốt đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, đặc biệt là phải thực hiện tốt đoàn kết với những người lãnh đạo Việt Nam. Phải yêu quý bảo vệ từng gốc cây từng ngọn cỏ, từng ngọn núi từng dòng sông ở nơi đó. Phải yêu quý bảo vệ nhân dân ở nơi đó. Phải tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân, tuân thủ ba kỷ luật lớn tám điều chú ý, giống như ở Trung Quốc”.

Những lời căn dặn của Mao Chủ tịch và của các đồng chí lãnh đạo Trung ương như vậy, luôn luôn là tư tưởng chỉ đạo mà chúng tôi thường xuyên tuân theo trong nhiều năm công tác ở Việt Nam.

Chiến dịch Biên Giới: Chiến dịch Biên Giới lần đầu tiên Trung Việt hợp tác, tạo cơ sở vững chắc cho thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1950, nhằm khiến cho vũ khí trang bị và các loại vật tư do Trung Quốc viện trợ có thể thuận lợi tiến vào Việt Nam, khai thông tuyến giao thông biên giới Trung Việt bèn trở thành nhiệm vụ vô cùng trọng yếu. Vì vậy, khi ấy Trung ương hai đảng Việt Trung thương thảo quyết định mở một chiến dịch tại vùng biên giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn đồng chí Trần Canh mà Người đã quen thân trên 20 năm trước sang Việt Nam hiệp tác giúp đỡ đánh tốt trận này.

Trung tuần tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đồng chí Trần Canh làm đại biểu sang Việt Nam, giúp đỡ tổ chức thực thi chiến dịch Biên Giới.

Sau khi đến Việt Nam, đồng chí Trần Canh lập tức hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo với Hồ Chủ tịch ý tưởng tác chiến tại biên giới đã suy nghĩ suốt dọc đường, đồng thời lập tức bôn tập ra tiền tuyến cùng với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam trù hoạch tỷ mỷ kế hoạc tác chiến.

Kế hoạch tác chiến do Bộ Tổng quân đội nhân dân Việt Nam xây dựng trước là đầu tiên tấn công Cao Bằng. Kinh qua nghiên cứu tỷ mỷ, đồng chí Trần Canh cho rằng tình hình binh lực, công sự, địa hình của quân Pháp đồn trú ở Cao Bằng, dễ thủ khó công, cộng thêm xem xét về sức chiến đấu của quân đội Việt Nam khi ấy khó nắm chắc giành thắng lợi. Qua bàn bạc với đồng chí Võ Nguyên Giáp, quyết định đầu tiên không đánh Cao Bằng, chuyển sang đánh Đông Khê, điều động quân địch ở Thất Khê, Cao Bằng ra chi viện, để tiêu diệt quân địch tại dã chiến ngoài công sự. Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tán thành và căn cứ theo hướng đó đã điều chỉnh lại sự bố trí.

Thượng tướng Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tại Điện Biên Phủ.Ảnh internet

Khi ấy, Đoàn Cố vấn quân sự do đồng chí Vi Quốc Thanh lãnh đạo cũng đã đến tiền tuyến. Trong toàn bộ quá trình chiến dịch Biên Giới, cố vấn Trung Quốc cùng hợp tác mật thiết với cán bộ chỉ quy quân đội Việt Nam, cùng ra tuyến đầu. Quân đội nhân dân không quản mệt nhọc, liên tục tác chiến, giành toàn thắng to lớn.

Kết quả chiến đấu lớn hơn nhiều so với dự kiến. Từ đó, sự phong toả của quân Pháp đối với biên giới Việt Trung bị đập tan triệt để, đường giao thông biên giới giữa hai nước thông thoáng không còn trở ngại, trang bị và vật tư do Trung Quốc viên trợ được ùn ùn vận chuyển liên tục vào Việt Nam, quân đội nhân dân Việt Nam cũng giành được kinh nghiệm quý báu về đánh vận động chiến.

Trong mấy năm sau đó, làm những công tác phiên dịch, thư ký, chúng tôi lại hiểu sâu sắc rằng, Trung ương hai Đảng Trung Việt thường xuyên giữ liên hệ vô cùng mật thiết, gặp phải những vấn đề trọng đại vẫn thường trao đổi ý kiến qua lại, do Trung ương Đảng Việt Nam ra quyết định cuối cùng. Quan hệ hợp tác giữa các đồng chí lãnh đạo của Đảng, chính quyền, quân đội của Việt Nam với Đoàn Cố vấn vô cùng ăn ý, có thể nói là quan hệ rất thân mật, rất tín nhiệm lẫn nhau. Tất cả những điều kiện ấy đã chuẩn bị rất tốt cho tổ chức chiến dịch Điện Biên Phủ với quy mô to lớn hơn nhiều.

Chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch động viên toàn dân, là một chiến dịch quy mô lớn nhất, thời gian dài nhất trong cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam.

Cuối năm 1953, kinh qua trao đổi ý kiến sâu sắc giữa lãnh đạo cao cấp của hai đảng, hai quân đội Việt Trung, Trung ương Đảng Việt Nam ra quyết định trọng đại tiến hành đòn quyết chiến chiến lược với quân Pháp tại Điện Biên Phủ.

Thời gian trôi qua, chiến dịch này tuy cách hôm nay đã tròn 50 năm (Bài viết nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954- 7/5/2004) – ND), song ngày hôm nay hồi tưởng lại vẫn hiện ra rõ mồn một trước mắt.

Trong quá trình chuẩn bị và thực thi chiến dịch, khối lượng nhân lực vật lực mà phía Việt Namđộng viên khổng lồ chưa từng có. Quân chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam tập trung đến chung quanh Điện Biên Phủ, đã hình thành thế bao vây lớn đối với quân Pháp.

Sự điều động tập kết vú khí đạn dược, sự bố trí cao độ hoả lực thì khỏi phải nói, sự động viên dân công phục vụ tiền tuyến càng có quy mô chưa từng có từ khi Việt Nam chống Pháp.

Trên con đường hiểm trở quanh co, gập ghềnh đến Điện Biên Phủ, chúng tôi nhìn thấy nam nữ dân công kết thành đoàn đội, từ các khu vực xuất phát, như những dòng sông đổ ra tiến tuyến. Họ có người gồng gánh, có người gùi thồ trên vai, có người đội trên đầu, cứ vậy bằng nhiều cách vận chuyển khối lượng vật tư khổng lồ chi viện cho mặt trận.

Sự hấp dẫn nhất đập vào mắt mọi người là những đội vận tải lương thực bằng xe đạp. Những đội viên xe đạp thồ mỗi người đẩy một chiếc xe đạp đã qua cải tạo để tăng trọng tải, mỗi xe đều thồ được từ 200 đến 300 ki-lô-gam lương thực, hoạt động trên con đường dài mấy trăm cây số, rồng rồng rắn rắn lũ lượt không dứt! Đây là một cảnh tượng của cuộc kháng chiến toàn dân của Việt Nam đặc sắc biết nhường nào!

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận công kiên chiến quy mô lớn. Trang bị vũ khí, bổ cấp đạn dược, tổ chức hoả lực, cung ứng hậu cần, v.v… số lượng đều cực kỳ khổng lồ. Phía Trung Quốc quyết định toàn lực chi viện, chiến trường cần thứ gì, cần bao nhiêu, đều cố gắng cung cấp nhanh nhất.

Nhằm đối phó với ưu thế trên không và pháo hoả mãnh liệt của quân Pháp, Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc mệnh lệnh cho Quân giải phóng nhân dân điều động tập kết 24 khẩu lựu pháo 105 tốt nhất, cao xạ pháo và hàng trăm loại hoả pháo, cấp tốc vận chuyển đưa vào Việt Nam. Sườn núi chung quanh Điện Biên Phủ dốc đứng hiểm trở, pháo lớn muốn tiến vào ẩn náu trong trận địa chỉ có thể dựa vào sức người tay kéo vai vác. Chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam quen tác chiến trong điều kiện khó khăn gian khổ, một lần nữa thể hiện rõ tinh thần chịu đựng khó khăn gian khổ, kiên cường lao động. Một khẩu lựu pháo nặng mấy tấn, đương nhiên do hàng trăm chiến sĩ dùng mấy dây thừng to lớn buộc vào kéo như trò chơi kéo co, hò dô theo từng đợt nhịp nhàng, chuyển bánh từng bước một, tiến vào trận địa đã được chuẩn bị sẵn. Thực sự khiến mọi người thán phục!

Sự hợp tác thân mật của tình bạn chiến đấu Việt Trung đã được thể hiện đầy đủ nhất trong chiến dịch này.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Vi Quốc Thanh là Tổng cố vấn quân sự. Cố vấn quân sự các cấp của phía Trung Quốc ra tiền tuyến dốc toàn lực hiệp tác giúp đỡ.

Sự hợp tác giữa hai bên vô cùng ăn ý, cùng tiến hành nghiên cứu bố trí tác chiến, phương pháp tác chiến, vận dụng chiến thuật, kế hoạch rất chu toàn bí mật.

Đứng trước tình hình quân địch bố phòng nghiêm mật, công sự kiên cố, hoả lực mãnh liệt, cố vấn Trung Quốc đã giới thiệu cách đánh gần, đào giao thông hào sát địch, còn cử những chuyên gia đào hào của Quân chí nguyện từ Triều Tiên về nước sang Điện Biên Phủ, giúp đỡ chỉ đạo thực thi tác chiến hầm hào, thu được hiệu quả rất tốt.

Trước khi tiến công Điện Biên Phủ, bước vào chiến dịch “Véc-đoong ở Đông Nam Á”, quân Pháp còn đầy tự tin. Viên chỉ huy cao nhất quân Pháp tại Điện Biên Phủ – Thiếu tướng Đờ Cát vô cùng kiêu căng ngạo mạn cho máy bay thả truyền đơn thách thức Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nói: “Tôi biết bộ đội của Ngài đã bao vây Điện Biên Phủ, song vì sao không tiến công? Chúng tôi đã không còn kiên nhẫn chờ đợi được nữa rồi. Nếu Ngài có gan, dám phát động tiến công, thì bắt đầu ngay đi! Tôi đang chờ đón sự khiêu chiến của Ngài, quyết sống mái một phen với ngài!”.

Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp mỉa mai nói: “Đồ nhãi ranh, hãy đợi đấy!”.

Đồng chí Vi Quốc Thanh cũng nói: “Tên Đờ Cát thật ngông cuồng! Sau khi chiến dịch mở màn, có lúc nó sẽ phải khóc!”.

Giai đoạn thứ nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu chiến đấu từ ngày 13 tháng 3 năm 1954. Trước khi bộ binh công kích, cuộc đấu pháo của hai bên xé nát bầu trời đêm, ngẫu nhiên còn có đạn pháo bay lên chọi nhau trên không, ánh lửa khói đạn mù trời; mặt đất rung lên tiếng pháo bốn phía, tiếng hô xung phong giết giặc của quân đội nhân dân Việt Nam vang động rừng hoang núi vắng chung quanh.

Trong cuộc chiến đấu này, quân đội nhân dân Việt Nam vô cùng anh hùng dũng cảm, lần lượt công phá ba cụm cứ điểm phòng ngự ở phía bắc Điện Biên Phủ, tiêu diệt gọn 3 tiểu đoàn đủ quân Pháp và nguỵ quân, giành chiến thắng đầu tiên.

Khi giai đoạn thứ hai tiến công khu Trung tâm, hai bên tranh giành vô cùng quyết liệt, trên chiến trường ở vào trạng thái giằng co.

Đứng trước tình hình mới xuất hiện, những người bạn chiến đấu Việt Trung cùng nhau nghiên cứu tiếp tục áp dụng cách đánh đào chiến hào ngang dọc, đánh dũi đánh lấn, chia cắt bao vây, tiêu diệt từng lô cốt quân địch, khi đó gọi cách đánh này là chiến thuật “Bóc măng tre”.

Thế là, các cụm cứ điểm của quân Pháp ở Điện Biên Phủ cuối cùng đã bị bóc đi dần từng mảng từng lớp một.

Trải qua trên 50 ngày đêm chiến đấu anh hùng dũng cảm, quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hành tổng công kích vào ngày 7 tháng 5, tấn công tiêu diệt toàn bộ Điện Biên Phủ, giành thắng lợi hoàn toàn.

Lúc một tổ mũi nhọn của quân đội nhân dân xung phong vào Sở chỉ huy quân Pháp, Đờ Cát và nhân viên tham mưu của y kinh hoàng giơ cao hai tay, mặ tái mét, cúi đầu bước ra khỏi hầm cố thủ của chúng. Vẻ ngạo mạn ngông cuồng trước đó đã mất hết sạch sành sanh!

Trong Bộ Tổng chỉ huy của quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng cố vấn Vi Quốc Thanh phấn khởi nắm chặt hai tay, những người bạn chiến đấu Việt Trung xúc động ôm chặt lấy nhau, khắp phòng tràn đầy không khí hân hoan chiến thắng.

Sau khi chiến đấu làm chủ Điện Biên Phủ, một số đồng chí trong Đoàn Cố vấn chúng tôi tiến vào pháo đài “Véc-đoong ở Đông Nam Á” này. Nhướng mắt quan sát bốn phía, trên mặt đất nóng bỏng lửa đạn vừa trải qua cuộc chiến đấu quyết liệt, khói đạn đã tan dần, những tàn tích của chiến tranh vẫn còn nguyên đó: Xác mấy chiếc máy bay, những khẩu lựu pháo 155 chưa bị phá huỷ hoàn toàn và những khẩu súng máy, những mảnh dù loang lổ màu sắc phủ kín mặt đất rộng lớn. Nơi đây chỉ cách hôm nay ít lâu còn được coi là pháo đài vững như bàn thạch, nay đã trở thành những lô cốt nham nhở vết đạn pháo thảm hại ê chề.

Hồi tưởng lại giai đoạn lịch sử khó quên này, chúng tôi càng cảm thụ sâu sắc thêm tình bạn chiến đấu của nhân dân hai nước Trung Việt là do thế hệ lãnh đạo tiền bối Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dầy công vun đắp, kinh qua những người bạn chiến đấu hai nước chi viện lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, không ngừng được củng cố và tăng cường. Đúng như câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thâm tình miêu tả:

Mối tình hữu nghị Việt Hoa,

Vừa là đồng chí, vừa là anh em.

VŨ PHONG TẠO dịch theo Hồi ức của Trương Đức Duy, Văn Trang, Vương Đức Luân (Trung Quốc)

—————–

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040318_chineseadvisers.shtml

BBC – 18-3-2014

Cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam (1950-1952)

Nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, vai trò của Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam được nói đến nhiều.

Trong những năm qua, các sử gia Việt Nam có thiên hướng lướt qua vai trò Trung Quốc nhằm hoàn thiện ‘lịch sử dân tộc’, trong lúc việc không tiếp cận được với nguồn tư liệu Trung Quốc đã cản trở các học giả phương Tây trong việc tìm ra thái độ và chính sách của Bắc Kinh trong cuộc xung đột ở Đông Dương.

Bắt đầu từ thập niên 1990, có thêm một số tác phẩm mới. Gần đây nhất, đáng chú ý là “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” của Qiang Zhai (xuất bản 2000) và “Mao’s China and the Cold War” của Jian Chen (2001). Cả hai tập sách do NXB đại học North Carolina ấn hành trong khuôn khổ sêri về lịch sử chiến tranh Lạnh.

Sử dụng các thông tin do Trung Quốc công bố vài năm qua (gồm tài liệu nội bộ mới giải mật, hồi ký, nhật ký và các quyển sử của các tác giả Trung Quốc), hai học giả quốc tịch Mỹ này tái hiện chính sách của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến ở Đông Dương.

Quyển sách “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” (Trung Quốc và các cuộc chiến của Việt Nam, 1950-1975) của Qiang Zhai (Tường Trạch?), giáo sư lịch sử thuộc Auburn University Montgomery, dành hai chương bàn về vai trò của các cố vấn Trung Quốc trong cuộc chiến chống Pháp ở Việt Nam.

 Việt Nam miễn cưỡng nhắc đến vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng đối với người Pháp bởi vì tình cảm dân tộc mạnh mẽ của họ. Họ muốn chứng tỏ với thế giới rằng chiến thắng là kết quả của những nỗ lực anh hùng riêng của họ. Về tính khả tín của các nguồn tư liệu Trung Quốc, tôi nghĩ về phần lớn, chúng có thể tin được. Các tư liệu này thậm chí có thừa nhận những sai lầm mà cố vấn Trung Quốc phạm phải ở Việt Nam.
GS. Qiang Zhai, trả lời câu hỏi của ban Việt ngữ BBC

.

Không dễ để có câu trả lời có thể cân bằng giữa hai khuynh hướng: một nhấn mạnh các yếu tố ‘bản địa’ do xuất phát từ tinh thần dân tộc chủ nghĩa và một khuynh hướng từ thời Chiến tranh Lạnh xem Bắc Việt đơn thuần là tay súng bóp cò theo hiệu lệnh từ Maxcơva hay Bắc Kinh. Quyển sách của Qiang Zhai được nhiều tờ báo đánh giá là ‘nghiên cứu cân bằng và sâu sắc nhất về quan hệ Trung-Việt thời chiến tranh’, trong lúc cũng có người phê phán là quyển sách mô tả Việt Nam quá thụ động.

Với mong muốn giới thiệu các nghiên cứu lịch sử mới liên quan chủ đề mà nhiều người Việt Nam quan tâm, chúng tôi xin tóm tắt nội dung chính mà tác giả Qiang Zhai trình bày trong quyển sách. Nó có thể giúp người ta nắm bắt phần nào những gì công bố tại Trung Quốc trong mấy năm qua.

.

Tác giả Qiang Zhai cũng thừa nhận trong một bài viết năm 1993, “Do bài viết chủ yếu dựa trên tư liệu Trung Quốc, nó không tự xem là đã thể hiện đầy đủ về quan hệ Trung-Việt trong cuộc chiến Việt Nam lần thứ nhất.” Và như trong ý kiến khép lại hội thảo Pháp-Việt về Điện Biên Phủ tổ chức năm ngoái ở Paris, Điện Biên Phủ vẫn là đề tài hấp dẫn cần tìm hiểu thêm và việc biết thêm các tư liệu gần đây cũng chỉ là một gạch nối trong quá trình tìm hiểu toàn bộ những gì đã xảy ra trong các năm dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954.

.

Người bạn lớn đầu tiên

Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Ngày 15-1-1950, VNDCCH đánh điện cho Bắc Kinh yêu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Mao Trạch Đông, lúc này đang ở thăm Liên Xô, gửi điện về cho Lưu Thiếu Kỳ, tổng bí thư Đảng Cộng sản TQ, chỉ thị tiếp nhận đề nghị của VNDCCH đồng thời bảo Bộ Ngoại giao chuyển đề nghị của Bắc Việt Nam cho Liên Xô và các nước Đông Âu khác.

Trung Quốc trở thành nước đầu tiên công nhận VNDCCH vào ngày 18-1-1950. Stalin theo sau vào ngày 30-1-1950, để tiếp theo đó là các nước Cộng sản khác ở Đông Âu và Bắc Hàn.

Đến tháng Tư, ông Hồ Chí Minh đề nghị Trung Quốc gửi chuyên viên quân sự đến Việt Nam với tư cách cố vấn ở đại bản doanh Việt Minh và ở cấp độ sư đoàn, và với tư cách chỉ huy ở cấp độ trung đoàn và tiểu đoàn. Trung Quốc trả lời rằng họ sẽ gửi cố vấn, nhưng không gửi chỉ huy. Ngày 17-4-1950, quân ủy trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh thành lập nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc. Nhóm này sẽ gồm 79 cố vấn, cùng một số trợ lý.

Từ tháng Tư đến tháng Chín năm 1950, Trung Quốc gửi cho Viêṭ Minh số lượng lớn viện trợ quân sự và phi quân sự, gồm 14.000 súng trường và súng lục, 1700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, và 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2800 tấn thực phẩm (số liệu lấy từ quyển ‘Các dữ kiện lịch sử về vai trò nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giúp đỡ Việt Nam và chống Pháp’, xuất bản ở Trung Quốc 1990).

Việc Trung Quốc quyết định giúp Việt Nam xuất phát từ ba lý do chính:

Thứ nhất, Đông Dương là một trong ba mặt trận, cùng với Triều Tiên và Đài Loan, mà Bắc Kinh xem là dễ bị nước ngoài can thiệp. Lãnh đạo Trung Quốc không chỉ lo ngại về khả năng thù địch nước ngoài xuất phát từ Đông Dương mà lo cả tàn quân Quốc Dân Đảng ở Việt Nam. Sau khi đảng Cộng sản chiếm Quảng Tây tháng 12-1949, một số đơn vị Tưởng Giới Thạch đã trốn sang miền Bắc Việt Nam, trong lúc số khác lẩn trốn vào vùng núi tại Quảng Tây. Sau khi chiến tranh Triều Tiên nổ ra, tàn quân này bắt đầu tấn công quân chính phủ mới. Nhìn trong hoàn cảnh này, việc đánh bại quân Pháp ở Bắc Việt sẽ củng cố đường biên giới Trung Quốc.

Thứ hai, nghĩa vụ giúp đỡ một nước cộng sản anh em khiến Bắc Kinh không từ chối yêu cầu từ phía Việt Minh. Một chỉ thị nội bộ do Lưu Thiếu Kỳ chuẩn bị ngày 14-3-1950 là ví dụ cho thấy Bắc Kinh liên kết cách mạng Trung Quốc và quốc tế: “Sau khi cách mạng chúng ta chiến thắng, việc giúp đỡ bằng mọi cách để các đảng Cộng sản và nhân dân ở mọi quốc gia bị áp bức tại châu Á giành thắng lợi là trách nhiệm quốc tế mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc không thể thoái thác.”

Thứ ba, sự can dự của Bắc Kinh ở Đông Dương cần được nhìn theo quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc và láng giềng. Các vua Trung Quốc vẫn thường xem Việt Nam nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của phương bắc. Truyền thống này hẳn được Mao và các đồng chí của ông – những người xem lịch sử là chuyện nghiêm túc- tiếp nối. Còn người Việt vẫn có truyền thống tìm kiếm mô hình và cảm hứng từ Trung Quốc. Nên quyết định của ông Hồ Chí Minh nhờ Mao giúp đỡ không chỉ xuất phát từ lý do ý thức hệ. Quyết định đó cũng tương thích với thói quen tìm kiếm mô hình từ Trung Quốc, đồng thời tìm cách duy trì độc lập cho người Việt.

Tháng Tám 1950, ông La Quý Ba trở thành người đứng đầu một phái đoàn cố vấn chính trị sang Việt Nam. Trong bức điện gửi La Quý Ba, Lưu Thiếu Kỳ dặn La không áp đặt quan điểm lên người Việt và đừng làm mếch lòng nếu phía bên kia không chịu làm theo các đề nghị. Những dặn dò như vậy có vẻ cho thấy Bắc Kinh nhạy cảm trước lòng tự hào dân tộc của Việt Nam và mối thù địch truyền thống giữa hai nước. Tuy vậy, như những đoạn sau sẽ cho thấy, người Trung Quốc sẽ tỏ ra thất vọng và giận dữ khi các đồng chí Việt Nam của họ đi chệch khỏi đường lối Trung Quốc.

Chiến dịch Biên giới
Trận đánh đầu tiên Việt Minh thực hiện với lời khuyên và hỗ trợ của cố vấn Trung Quốc là chiến dịch Biên giới năm 1950, với mục đích liên thông mạng lưới liên lạc với Trung Quốc. Quân Pháp lúc này kiểm soát các tiền đồn dọc biên giới Trung Quốc. Việc loại bỏ các vị trí này sẽ giúp củng cố căn cứ Việt Minh ở khu Việt Bắc, thông thương đường tiếp vận từ Trung Quốc và giúp cho lực lượng Việt Minh có vị thế tốt hơn nhằm tấn công xuống khu vực đồng bằng sông Hồng trong tương lai.

Ban đầu, Việt Minh dự định tấn công Lào Cai và Cao Bằng, hai cứ điểm quan trọng. Sau khi suy tính, Việt Minh thay đổi kế hoạch, chỉ tập trung vào Cao Bằng. Bên cạnh việc yêu cầu Trung Quốc gửi viện trợ và gửi nhóm cố vấn quân sự đến Việt Nam, ông Hồ Chí Minh cũng đề nghị gửi sang một cố vấn quân sự cao cấp để điều phối chiến dịch biên giới.

Lúc này, Trung Quốc cử vị tướng nổi danh Trần Canh (1903-1961) sang Việt Nam ngày 7-7-1950. Như Trần Canh viết trong nhật ký, thì ông này phát hiện Việt Minh bỏ qua việc huy động phụ nữ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và nói điều này với bộ máy lãnh đạo Việt Nam. Nếu là như vậy, Trần Canh đã áp dụng học thuyết ‘chiến tranh nhân dân’ của Mao vào Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Nhật và chống Quốc Dân Đảng, Mao đã thành công trong việc huy động phụ nữ cho chiến tranh.

Vai trò Trần Canh
Ngày 22-7, Trần Canh gửi báo cáo về cho Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Một số đơn vị Việt Nam có tinh thần cao sau khi nhận huấn luyện và thiết bị tại Vân Nam và Quảng Tây, nhưng các cán bộ Việt Nam trên mức tiểu đoàn lại thiếu kinh nghiệm chỉ huy trong các trận đánh thật sự.” Trần Canh đề nghị nguyên tắc của Chiến dịch Biên giới nên là “hủy diệt lực lượng cơ động của kẻ địch trên các chiến trường và chiếm một số đồn nhỏ, cô lập nhằm giành thắng lợi ban đầu trong lúc tích lũy kinh nghiệm và thúc đẩy tinh thần chiến sĩ. Sau khi giành thế chủ động hoàn toàn, chúng ta có thể dần dần tiến tới các trận đánh quy mô lớn.”

sử tướng Trần Canh
1922: Gia nhập Đảng Cộng sản TQ
Phó chỉ huy tình nguyện quân TQ ở Triều Tiên
1959: Thứ trưởng quốc phòng TQ
1961: Qua đời ở Thượng Hải
1984: Quyển nhật ký được xuất bản
.

Về kế hoạch tấn công Cao Bằng của Việt Nam, Trần Canh đề nghị có chiến lược “bao vây đồn bốt trong lúc tấn công quân cứu viện.” Đặc biệt, Trần Canh đề xuất Việt Minh nên tấn công một số đồn bốt biệt lập gần Cao Bằng trong lúc thu hút cứu binh của Pháp từ Lạng Sơn. “Nếu chúng ta có thể tiêu diệt ba đến năm tiểu đoàn cơ động từ Lạng Sơn, như thế sẽ dễ hơn trong việc chiếm Cao Bằng và một số đồn gần Lạng Sơn.” Nếu thành công, Trần Canh tin rằng tình hình ở vùng đông bắc và miền Bắc Việt Nam ‘sẽ thay đổi lớn.’ Trong bức điện tín ngày 26-7, quân ủy trung ương Trung Quốc đồng ý kế hoạch này.

Ngày 28-7, Trần Canh đặt chân tới căn cứ Việt Minh ở Thái Nguyên, nơi ông gặp ông Hồ Chí Minh và La Quý Ba. Trần Canh bảo với người lãnh đạo Việt Nam rằng Việt Minh chưa nên đánh chiếm Cao Bằng, là một cứ điểm mạnh lúc ấy, mà nên trước tiên tấn công các đồn nhỏ của Pháp để rèn quân. Về mặt chiến thuật, Việt Minh nên áp dụng kiểu bao vây một đồn bốt trong lúc tiêu diệt viện quân trong các trận đánh cơ động. Cụ thể, Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt. Ông Hồ chấp thuận kế hoạch này.

 Trần Canh đề xuất tấn công Đông Khê, một đồn của Pháp nằm giữa Cao Bằng và Lạng Sơn, để lùa quân Pháp ra khỏi hai tỉnh trên và sau đó tiêu diệt.
Qiang Zhai

.

Ngày 16-9, Việt Minh tấn công Đông Khê và chiếm đồn này hai ngày sau đó. Nhưng Trần Canh vẫn chưa hài lòng với hiệu quả của Việt Minh. Quân Pháp tại Đông Khê có khoảng 260 lính, trong lúc người Việt khoảng 10.000 lính. Khi trận đánh chấm dứt, Việt Minh có khoảng 500 thương vong và để hơn 20 lính Pháp trốn thoát. Trong nhật ký (xuất bản ở Trung Quốc sau khi Trần Canh qua đời, năm 1984), Trần Canh nói phía Việt Nam có một số khiếm khuyết. Đầu tiên, họ không tuân theo thời điểm tấn công như trong kế hoạch. Cuộc tấn công dự định bắt đầu vào chập tối 16-9, nhưng các đơn vị Việt Minh chỉ bắt đầu vào sáng hôm sau. Khi mặt trời mọc, họ phải rút lui vì đe dọa không kích của Pháp. Sau đó họ phải tấn công lần hai vào hoàng hôn của ngày 17. Thứ hai, các chỉ huy Việt Minh ngại ra trước tiền tuyến, nên mất liên lạc với các đơn vị tấn công. Thứ ba, một số cán bộ báo cáo sai lạc nhằm che dấu tin xấu. Trần Canh đã nói với tướng Võ Nguyên Giáp các vấn đề này.

Tuy vậy, việc chiếm được Đông Khê vẫn là thắng lợi lớn cho Việt Minh vì từ nay, Cao Bằng bị cô lập. Quân Pháp gửi tiếp viện đi từ Lạng Sơn qua ngả Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Cùng lúc đó, một đơn vị Pháp khác hướng về đại bản doanh Việt Minh tại Thái Nguyên. Trần Canh đánh giá rằng bước tiến của Pháp về Thái Nguyên nhằm thu hút quân Việt Minh từ Đông Khê để quân Pháp ở Cao Bằng có thể thoát ra. Vì vậy, Trần Canh đề xuất quân Việt Minh vẫn ở nguyên tại Đông Khê.

Ngày 30-9, quân Pháp do Lepage chỉ huy đến đánh Đông Khê từ ngả Thất Khê, nhưng bị phục kích. Hôm 3-10, trung tá Charton bỏ Cao Bằng và dẫn quân chạy về Nam. Nhằm ngăn đơn vị của Lepage và Charton hội quân, Việt Minh đưa quân bao vây đơn vị Lepage trước khi tấn công đơn vị của Charton. Ngày 8-10, quân của Lepage bị tiêu diệt. Hai ngày sau, đơn vị của Charton cũng bị chặn đánh. Cả Lepage và Charton bị bắt sống. Trong các trận tiếp sau, Việt Minh chiếm được Cao Bằng và Thất Khê. Quân Pháp tiếp tục rút khỏi Lào Cai, Lạng Sơn và Hòa Bình, để lại 11.000 tấn đạn dược và để trống gần như toàn bộ khu vực phía bắc đồng bằng sông Hồng.

.

Chiến dịch biên giới quan trọng ở chỗ Việt Minh từ nay thông thương được với biên giới Trung Quốc. Việc Pháp rút khỏi Hòa Bình cũng mở đường liên lạc giữa Việt Bắc và vùng Bắc Việt ‘giải phóng’, kết thành một khu vực do Việt Minh kiểm soát.

Sau chiến dịch biên giới, Mao Trạch Đông gửi điện tín cho Trần Canh, bày tỏ lòng vui mừng. Trần Canh sau đó đi nhiều nơi, tổ chức các lớp cho các chỉ huy Việt Minh. Ngày 11-10, Trần Canh nói chuyện với ông Hồ và ông Giáp, đưa ra các đề nghị cải tiến lực lượng, gồm các việc như tặng thưởng cán bộ, đối xử tù binh. Trần Canh yêu cầu các lãnh đạo Việt Minh tổ chức các buổi mừng công để quảng bá thắng lợi, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chọn lựa và tặng thưởng các gương anh hùng. Về việc đối xử tù binh, Trần Canh đề nghị Việt Minh trước tiên yêu cầu họ viết thư cho gia đình và bạn bè để làm lung lay tinh thần đối phương, và rồi cố gắng chiêu mộ các tù binh Việt Nam trong lúc thả người Pháp và Marốc sau khi đã ‘giáo dục’ những người này. Theo nhật ký của Trần Canh, ông Hồ và ông Giáp ‘vui vẻ’ chấp nhận các đề xuất này.

Từ 27 đến 30-10, Việt Minh tổ chức các cuộc họp tổng kết cho các chỉ huy trên mức tiểu đoàn. Thay mặt Việt Minh, ông Trường Chinh đọc báo cáo đánh giá chiến dịch biên giới. Theo đề nghị của ông Hồ Chí Minh, Trần Canh trình bày trước cuộc họp trong bốn ngày liền. Ông phân tích các lý do cho thành công của Việt Minh, ca ngợi lòng dũng cảm của chiến sĩ. Sau đó lại nhắc các khiếm khuyết, như việc sĩ quan thiếu quan tâm binh sĩ, việc chậm thi hành mệnh lệnh, và khuynh hướng chỉ báo cáo tin tốt.

Ông Hồ yêu cầu Trần Canh ở lại Việt Nam, nhưng Trần Canh nhận lệnh mới từ Bắc Kinh và rời Việt Nam đầu tháng 11-1950. Giữa năm sau, ông được bổ nhiệm làm phó chỉ huy tình nguyện quân Trung Quốc chiến đấu tại Triều Tiên. Sau khi Trần Canh ra đi, nhóm cố vấn Trung Quốc chịu trách nhiệm cho việc cố vấn cho Việt Minh.

Tổn thất và tái tổ chức năm 1951
Cuối năm 1950, Việt Minh và nhóm cố vấn cùng quyết định thực hiện tấn công xuống đồng bằng sông Hồng. Một số cán bộ cao cấp xem chiến dịch biên giới là một phần bước tiến mà sẽ từ từ dẫn tới tổng phản công.

Ông Võ Nguyên Giáp soạn thảo tài liệu năm 1950 nói về việc chuẩn bị cho cuộc tổng phản công. Trong đó, ông nói điều kiện đã chín muồi cho lực lượng cách mạng chuyển sang tổng tiến công để loại bỏ quân số lớn đối phương và chiếm các thành phố. Cũng có nhiều thành viên trong đảng ủng hộ việc chiếm đồng bằng để giảm bớt gánh nặng thiếu gạo tại các khu giải phóng.

Tháng Giêng 1951, tướng Giáp cho tấn công Vĩnh Yên, cách Hà Nội 37 dặm, áp dụng chiến thuật biển người đang được Trung Quốc dùng tại Triều Tiên. Tướng Jean de Lattre de Tassigny, tổng tư lệnh Pháp tại Đông Dương, đưa quân phản kích, dùng cả bom napalm. Việt Minh tổn thất ít nhất 6000 chiến sĩ.

.

Điện Biên Phủ

.

 Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn. Qiang Zhai 

Đến tháng Ba, trận tấn công Mạo Khê, gần Hải Phòng, lại thất bại. Cùng một định mệnh rơi xuống quân Việt Minh trong tháng Năm khi họ đánh Phủ Lý và Ninh Bình. Các trận đánh này thực hiện với sự đồng ý của cố vấn Trung Quốc. Và thất bại khiến cố vấn Trung Quốc nhận ra họ phải thực tế và thận trọng hơn.

Đầu năm 1951, nhóm cố vấn Trung Quốc đề xuất một kế hoạch tăng hiệu năng cho cơ cấu lãnh đạo. Với sự đồng ý của ông Hồ, nhóm cố vấn giúp Bộ tổng tham mưu, tổng cục chính trị và tổng cục hậu cần cùng các sư đoàn ‘giảm biên chế’. Các cố vấn Trung Quốc ở tầm mức sư đoàn mở lớp huấn luyện cho các cán bộ Việt Nam.

Phương pháp giáo dục ý thức hệ mà các cố vấn Trung Quốc đưa vào Việt Nam có tên gọi ‘chỉnh huấn’. Phương pháp Mao-ít dựa trên truyền thống Tống Nho nhấn mạnh tầng lớp ưu tú hãy tự rèn luyện để tu dưỡng chính trị và đạo đức. Với ảnh hưởng Nho giáo ở Việt Nam, không khó để cố vấn Trung Quốc tìm ra một lớp thính giả chấp nhận ‘tư tưởng đúng đắn’ trong hành động chính trị.

Nỗ lực củng cố quân đội là một phần trong chiến dịch xây dựng bộ máy nhà nước của nước VNDCCH trong năm 1951. Trong năm này, một nhóm cố vấn chính trị Trung Quốc, do La Quý Ba làm trưởng đoàn, được thành lập. Họ sẽ bận rộn tạo lập luật lệ và chính sách liên quan tài chính, thuế khóa, quản lý báo chí và phát thanh, đối xử với các nhóm thiểu số…

Một trong những diễn biến quan trọng nhất là thuế nông nghiệp, với cả địa chủ lẫn nông dân đều đóng thuế. Phần trăm thuế sẽ do các viên chức quyết định dựa trên lợi tức và chi phí các nhân khẩu. Do hệ thống thuế mới là mượn từ Trung Quốc, nên Đảng Lao động Việt Nam thành lập một cục thuế nông nghiệp đặc biệt để khảo sát hệ thống, mở lớp huấn luyện và giải thích luật mới cho dân chúng. Chính phủ cũng thành lập Ngân hàng nhà nước Việt Nam và công bố đồng tiền mới, mà tiền giấy in tại Trung Quốc.

……………………………………………………………………………………………..

Tuần sau, bài viết sẽ đề cập tiếp về chiến dịch Tây Bắc 1952 và chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Trong các bài tới, chúng tôi cũng sẽ trình bày quan điểm của Việt Nam về sự trợ giúp của Trung Quốc

—————-

24-3-2014

Cố vấn Trung Quốc và đường đến Điện Biên

Trong bài trước, chúng tôi đã tóm tắt những ý chính của tác giả Qiang Zhai về sự hình thành và đóng góp của nhóm cố vấn Trung Quốc ở Việt Nam, 1950-1952.

Sau các tổn thất ở đồng bằng sông Hồng năm 1951, Việt Minh, theo sự cố vấn của nhóm chuyên gia Trung Quốc, mở chiến dịch Tây Bắc năm 1952.

Giáp với biên giới Lào, vùng Tây Bắc là nơi lực lượng Pháp khá yếu. Việc giải phóng vùng này sẽ dỡ bỏ đe dọa từ mặt sau đối với khu Việt Bắc đồng thời mở rộng địa bàn kiểm soát cho Việt Minh.

.

.

.

.

Chiến dịch Tây Bắc

La Quý Ba chịu trách nhiệm hoạch định chiến dịch. (Lúc này La tạm lãnh đạo nhóm cố vấn, trong lúc Vy Quốc Thanh về Trung Quốc chữa bệnh). Ngày 16-2-1952, ông La gửi báo cáo về quân ủy trung ương Trung Quốc phác họa kế hoạch mà ông định chuẩn bị cho Việt Minh. La đề nghị trong nửa đầu năm này, Việt Minh dưỡng quân đồng thời tiếp tục chiến tranh du kích; đến nửa cuối năm, thì sẽ tấn công Nghĩa Lộ và Sơn La ở Tây Bắc. La nói tiếp khi đã chiếm được Tây Bắc, Việt Nam có thể gửi quân sang Lào vào năm sau. Chuẩn y kế hoạch của La, quân ủy trung ương Trung Quốc chỉ đạo ông trung thành với nguyên tắc “tiến chắc chắn và bảo đảm thắng lợi trong từng trận đánh” trong chiến dịch này. Lưu Thiếu Kỳ bảo La “nhất định phải giúp Lào giải phóng.” La chuyển kế hoạch cho ông Giáp và được chấp nhận. Đến tháng Tư, bộ chính trị Việt Minh thông qua chiến dịch.

Một số tác phẩm của Qiang Zhai
Sách:
China and the Vietnam Wars, 1950-1975
The Dragon, the Lion, and the Eagle: Chinese-British-American Relations, 1949-1958
Bài viết:
American Policy toward Sino-Soviet Relations, 1952-1954
Transplanting the Chinese Model: Chinese Military Advisers and the First Vietnam War, 1950-1954
China and the Geneva Conference of 1954
An Uneasy Relationship: China and the DRV during the Vietnam War

 

Ngày 14-4, La Quý Ba phác họa cho Bắc Kinh kế hoạch chiến dịch Tây Bắc: Việt Minh sẽ bắt đầu tập kích vào giữa tháng Chín với việc tấn công Nghĩa Lộ; tiếp theo sẽ đánh Sơn La; rồi chiếm phần lớn Tây Bắc vào cuối năm; và đến năm sau thì tấn công Lai Châu. Năm ngày sau, quân ủy trung ương Trung Quốc đồng ý đề xuất này với lời dặn thêm là Việt Minh chú ý vấn đề thiểu số ở Tây Bắc. Ngày 11-7, La gửi về Bắc Kinh kế hoạch chi tiết. Kế hoạch cũng bao gồm thêm yêu cầu của Việt Nam rằng Trung Quốc hãy gửi quân từ Vân Nam sang Việt Nam để điều phối chiến dịch. Ngày 22-7, quân ủy trung ương trả lời Trung Quốc giữ nguyên tắc không gửi quân sang Việt Nam, nhưng họ có thể điều động một vài đơn vị dọc biên giới để thể hiện sự ủng hộ.

Ngày 31-7, La nói với quân ủy trung ương rằng Việt Minh sẽ bắt đầu mở lớp về vấn đề thiểu số cho chiến sĩ vào đầu tháng Chín trước khi tiến về Tây Bắc vào giữa tháng Chín. Ngày 8-8, quân ủy trung ương trả lời rằng còn quá sớm không nên mở đầu chiến dịch vào giữa tháng Chín, mà nên đình hoãn đến tháng Mười hoặc tháng 11 để Việt Nam đủ thời gian chuẩn bị.

Đầu tháng Chín, Bộ chính trị Việt Nam mở cuộc họp và mời La tham dự. Ông Giáp tường trình sự chuẩn bị cho chiến dịch biên giới. Ông chỉ ra các khó khăn, đặc biệt liên quan cuộc tấn công Sơn La. Đến cuối tháng Chín, ông Hồ Chí Minh có chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh để thảo luận chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược chiến thắng quân Pháp. Trung Quốc đề nghị Việt Nam nên chiếm Tây Bắc và miền bắc Lào trước tiên, và rồi đưa quân xuôi nam để đánh đồng bằng sông Hồng. Ông Hồ chấp thuận đề xuất này, và trong một bức điện gửi ông Giáp và La ngày 30-9, ông cho họ biết quyết định mà ông có với lãnh đạo Trung Quốc, rằng: chiến dịch Tây Bắc sẽ chỉ đánh Nghĩa Lộ, không bao gồm Sơn La; sau khi chiếm được Nghĩa Lộ, Việt Minh cần đặt căn cứ cách mạng tại đây.

Tây Bắc
 Đến cuối tháng Chín, ông Hồ Chí Minh có chuyến thăm bí mật đến Bắc Kinh để thảo luận chiến dịch Tây Bắc cũng như chiến lược chiến thắng quân Pháp.
Qiang Zhai

 

Đến đầu tháng Mười, Bộ chính trị Việt Minh thảo luận về hướng dẫn của ông Hồ và đồng ý bỏ Sơn La ra ngoài chiến dịch Tây Bắc. Lúc này, ông Giáp đã có mặt ở mặt trận Tây Bắc, và Trường Chinh thông báo cho ông Giáp về quyết định của bộ chính trị. Ngày 14-10, Việt Minh tập trung tám tiểu đoàn tấn công Nghĩa Lộ và các đồn bốt gần đó. Ngày 16-10, Vy Quốc Thanh trở lại Việt Nam để cùng La Quý Ba chỉ đạo chiến dịch Tây Bắc. Sau khi Việt Minh chiếm được Nghĩa Lộ, quân Pháp chạy khỏi Sơn La ngày 22-11. Đến ngày 10-12, Việt Minh đã giải phóng một khu vực lớn ở Tây Bắc, cho phép Việt Minh có lợi thế để tiến hành hoạt động ở Lào.

Cải cách ruộng đất 1953
Trong mấy năm đầu kháng chiến, Việt Minh đã duy trì chính sách trung dung – tức là giảm thuế – vì ngại rằng một cuộc cải cách ruộng đất triệt để cô lập giới địa chủ. sẽ hủy hoại tình đoàn kết kháng chiến.

Tuy vậy, cuộc chiến chống Pháp khó khăn hơn dự liệu, mặc dù sức mạnh của Việt Minh tăng theo thời gian. Để nhanh kết thúc chiến cuộc và giảm gánh nặng kinh tế cho đảng, lãnh đạo Việt Minh quyết định vào cuối năm 1952 sẽ huy động nông dân cho cuộc chiến. Phần thưởng sẽ là ruộng đất cho họ. Cải cách ruộng đất phục vụ hai mục đích: loại bỏ những phần tử ‘yếu kém’ trong đảng và huy động sự ủng hộ của nông dân. Tháng Giêng 1953, đại hội lần Bốn của Đảng Lao động Việt Nam thông qua nghị quyết kêu gọi cải cách ruộng đất ở các khu giải phóng.

Đảng Cộng sản Trung Quốc có nhiều kinh nghiệm về việc này, nên Việt Nam nhờ các cố vấn giúp đỡ. Mùa xuân 1953, Zhang Dequn trở thành lãnh đạo ban củng cố đảng và cải cách ruộng đất (thuộc nhóm cố vấn quân sự Trung Quốc). Để tăng lực lượng, Bắc Kinh gửi thêm 42 chuyên viên sang Việt Nam trong năm này.

Nhóm cố vấn cho chiếu phim ‘Bạch Mao Nữ’, nói về cô con gái nhà nông chịu ách áp bức của địa chủ. Nhiều người lính Việt Nam đã khóc khi xem phim. Một người lính giận dữ đến nỗi khi tay địa chủ xuất hiện trên màn hình, anh nâng súng trường lên và bắn. Trong chiến dịch củng cố chính trị, nhiều người có nguồn gốc nông dân và công nhân được thăng chức. Chiến dịch đã giúp tăng tinh thần cho quân đội, chuẩn bị họ cho cuộc quyết chiến với Pháp tại Điện Biên Phủ.

Nhà sàn Tây Bắc
 Mặc dù cải cách ruộng đất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu ruộng cho nông dân và huy động họ về với đảng, nhưng nó cũng để lại các hậu quả.
Qiang Zhai

 

Cải cách ruộng đất 1953 đem lại các thay đổi lớn cả trong cơ cấu nông nghiệp và trong đảng. Trong hai năm tiếp theo, không chỉ các địa chủ thân Pháp hay trung lập, mà cả những người từng ủng hộ Việt Minh đã bị phạt, mất tài sản, đôi khi bị xử bắn. Mặc dù cải cách ruộng đất thành công trong việc thỏa mãn nhu cầu ruộng cho nông dân và huy động họ về với đảng (thể hiện qua việc 200.000 nông dân vận chuyển hàng hóa qua đèo, qua núi để giúp Việt Minh), nhưng nó cũng để lại các hậu quả. Cuộc đấu tranh giai cấp trong cải cách ruộng đất đi ngược với chính sách mặt trận thống nhất của đảng và cô lập một bộ phận quan trọng trong dân số. Mang theo tinh thần quá khích, các cố vấn Trung Quốc chịu trách nhiệm cho việc giới thiệu phương thức đấu tranh giai cấp vào Việt Nam. Tác động tiêu cực này là một lý do quan trọng cho việc Việt Nam sau này chỉ trích mô hình Trung Hoa.

Đối phó kế hoạch Navarre
Tháng Năm 1953, tướng Henri Navarre đảm trách việc chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương. Ông đề nghị chiến lược ba bước: bảo đảm kiểm soát vùng đồng bằng sông Hồng trong mùa thu đông 1953-54, bình định các khu do đảng Cộng sản kiểm soát ở miền trung và nam Việt Nam trong mùa xuân 1954 và mở tổng phản kích tiêu diệt cứ địa chính của Việt Minh tại miền bắc. Tháng Chín 1953, chính phủ Eisenhower của Mỹ đồng ý cho Paris 385 triệu đôla trợ giúp quân sự để thực thi kế hoạch Navarre.

Ngày 13-8-1953, Việt Nam gửi điện cho Trung Quốc yêu cầu trợ giúp trong việc “xem xét tình hình và tìm hướng đi cho nỗ lực chiến tranh tương lai.” Cùng lúc đó, Việt Minh từ bỏ kế hoạch ban đầu định tập trung tại Tây Bắc và Lai Châu. Lần này, Việt Minh đề xuất tấn công đối phương tại đồng bằng sông Hồng. La Quý Ba dự cuộc họp của Bộ chính trị Việt Minh ngày 22-8. Tại đây, ông Võ Nguyên Giáp nói về các hoạt động ở khu đồng bằng, bỏ qua Lai Châu và hạ thấp tầm quan trọng của chiến dịch ở Lào. La tường trình lại cho Bắc Kinh về cuộc thảo luận. Ngày 27 và 29 tháng Tám, Bắc Kinh gửi hai bức điện cho La nhấn mạnh Việt Nam cần giữ nguyên kế hoạch ban đầu, tức là tập trung vào Tây Bắc và Lào. Bức điện ngày 29-8 nói: “Bằng cách tiêu diệt kẻ thủ ở khu vực Lai Châu, giải phóng khu miền bắc và trung Lào, và rồi mở rộng chiến trường sang miền nam Lào và Campuchia để đe dọa Sài Gòn…Việt Minh có thể ngăn chặn bớt sự hỗ trợ lính và tiền cho quân đội bù nhìn, xé lẻ quân Pháp….mở rộng chính lực lượng Việt Minh, và làm suy yếu rồi tiêu diệt kẻ thù dần dần và riêng rẽ.” Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương. Hiện thời, Trung Quốc nhấn mạnh, Việt Minh cần chiếm Tây Bắc và miền bắc Lào trước khi tiến về nam.

Tuân lời, nhóm cố vấn Trung Quốc đề nghị Việt Nam chọn Tây Bắc làm địa bàn chính để chiếm Lai Châu. Nhóm cố vấn nhấn mạnh đồng bằng sông Hồng chỉ là địa bàn thứ hai, nơi mà Việt Minh có thể tấn công du kích để phối hợp với địa bàn thứ nhất và lập tiền đề cho việc sau này giải phóng Hà Nội và Hải Phòng.

Tháng Chín, bộ chính trị Việt Minh thảo luận kế hoạch cho mùa đông 1953-54. Ủng hộ ý tưởng của Trung Quốc, ông Hồ Chí Minh kết luận “phương hướng chiến lược không thay đổi”, nghĩa là Việt Minh sẽ tập trung vào Tây Bắc và bắc Lào. Ông phủ quyết kế hoạch của ông Giáp muốn tập trung vào đồng bằng sông Hồng.

Đèo Pha Đin
Xe pháo qua đèo Pha Đin bị máy bay Pháp đánh phá ác liệt

 

Bắc Kinh, vào ngày 10-10, thông báo cho ông Hồ rằng họ đã bổ nhiệm Vy Quốc Thanh làm tổng cố vấn quân sự và La Quý Ba làm tổng cố vấn chính trị cho Việt Minh. Sau khi quay lại Việt Nam, Vy Quốc Thanh, vào ngày 27-10, tái khẳng định đề nghị của Bắc Kinh xoay quanh chiến lược quân sự của Việt Minh. Ông cũng trao cho ông Hồ một bản chép lại kế hoạch Navarre mà Trung Quốc thu được. Sau khi xem xét, các lãnh đạo Việt Minh nói đề nghị của Trung Quốc là đúng và rằng nếu Việt Minh làm theo, họ có thể phá vỡ kế hoạch Navarre. Việc Bắc Kinh trao bản kế hoạch Navarre cho ông Hồ chứng tỏ sự hợp tác chặt chẽ trong việc chia sẻ tin tình báo giữa hai đảng Cộng sản trong cuộc chiến Đông Dương lần một.

Đến giữa tháng 11, sư đoàn 316 và một phần sư đoàn 325 và 304 của Việt Minh tiến về Lai Châu. Theo đề nghị của Trung Quốc muốn tiếp cận Nam Việt Nam qua ngả Lào, chính quyền ông Hồ lúc này cũng soạn thảo kế hoạch làm đường cho năm 1954. Kế hoạch dự kiến làm nhiều con đường qua Lào. Nhưng Chu Ân Lai thấy nó quá tham vọng. Trong bức điện gửi La Quý Ba ngày 12-12, Chu nói “số nhân công đòi hỏi quá lớn” và rằng nó sẽ “làm tăng gánh nặng nhân dân và gây thiệt hại năng suất”. Chu thúc giục Việt Nam giảm bớt tầm mức kế hoạch bằng cách tập trung cho ba tuyến quan trọng nhất, gồm một đường đi qua Sầm Nưa.

Sau khi nhận tin tình báo về sự di chuyển của Việt Minh về hướng Lai Châu, tướng Navarre quyết định đưa quân đến Điện Biên Phủ, một thung lũng nhỏ tại cao nguyên tây bắc, trên đường sang Luang Prabang của Lào. Khi tin này đến tai Vy Quốc Thanh, ông này đang trên đường đến Tây Bắc. Sau khi thảo luận tình hình mới với ban cố vấn, Vy Quốc Thanh đề nghị Việt Minh mở chiến dịch bao vây và tiêu diệt quân Pháp ở Điện Biên Phủ trong lúc vẫn tiếp tục duy trì kế hoạch tấn công Lai Châu. Ông cũng báo cáo kế hoạch cho Bắc Kinh. Chấp nhận đề nghị của Vy, quân ủy trung ương Trung Quốc nhấn mạnh chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ quan trọng về quân sự-chính trị mà có cả ảnh hưởng quốc tế. Hứa cung cấp mọi vũ khí mà Việt Nam cần, các lãnh đạo Trung Quốc chỉ thị ban cố vấn giúp Việt Nam “quyết định” và giúp đỡ việc chỉ đạo chiến dịch.

Đường hào đồi A1
Đằng sau chiến thắng Điện Biên còn nhiều vấn đề chưa được tiết lộ

 

Rõ ràng, Mao Trạch Đông đang nghĩ đến ngoại giao quốc tế khi xem xét diễn biến quân sự ở Việt Nam. Vào tháng Chín 1953, thế giới Cộng sản đã bắt đầu nỗ lực hòa bình. Ngày 28-9, Liên Xô kêu gọi hội nghị năm bên , gồm Trung Quốc, để xem xét các cách giảm xung đột quốc tế. Mười ngày sau, thủ tướng Chu Ân Lai ra tuyên bố ủng hộ đề nghị này. Ngày 26-11, ông Hồ Chí Minh nói với báo Thụy Điển Expressen là ông sẵn sàng thương lượng với Pháp về vấn đề Đông Dương. Mao muốn có chiến thắng ở Điện Biên Phủ để củng cố vị trí của phe Cộng sản tại bàn đàm phán. Ngày 6-12, bộ chính trị Việt Minh thông qua kế hoạch đánh Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ được lập ra với ông Võ Nguyên Giáp làm tổng tư lệnh và Vy Quốc Thanh là trưởng cố vấn.

Nhìn lại, cuộc họp tháng Chín 1953 của bộ chính trị Việt Minh là điểm bước ngoặt cho cuộc chiến. Khi xét Navarre điều động quân tại Điện Biên Phủ tháng 11 chính là để phản ứng việc Việt Minh đưa quân đến Lai Châu và bắc Lào, thì như vậy việc ông Hồ Chí Minh bác bỏ kế hoạch tập trung cho đồng bằng của ông Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò quan trọng. Nếu ông Hồ thực thi kế hoạch của ông Giáp, có lẽ đã không có cuộc quyết chiến Việt-Pháp ở Điện Biên Phủ.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2004/03/040321_chineseadviserstwo.shtml

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | 1 Comment »

►Hãy hổ trợ cho nhân quyền ở Việt Nam- Cù Huy Hà Vũ

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2014

Hãy hổ trợ cho nhân quyền ở Việt Nam

17-5-2014

Quan điểm của Ts. Cù Huy Hà Vũ trên tờ The Washington Post

Đối mặt với áp lực gia tăng từ cộng đồng quốc tế và phải tìm kiếm các cam kết thương mại và an ninh từ cộng đồng này, chính quyền Việt Nam mới đây đã phóng thích năm tù nhân lương tâm. Tôi là một trong số đó.

Những cuộc phóng thích tù nhân lương tâm như vậy luôn được hoan nghênh nhưng không được nhầm lẫn với những cải thiện nhân quyền thực sự. Ước tính có khoảng 400 tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Ngay khi vài ba nhà bất đồng chính kiến ​​được thả, thì cùng lúc một số lượng lớn hơn vừa mới bị bắt giam, hoặc bị kết án tù.  [Thả CHHV, Nguyễn Tiến trung, Vi Đức Hồi, nhưng bắt giam Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh 5-5-2014, bắt giam Bùi Hằng, bắt giam Nguyễn Thị Thúy Quỳn, kết án tù Trương Duy Nhất, kết án tù Phạm Viết Đào,…]

Nhiều người ở Đông Nam Á tin rằng Việt Nam đã thay thế Miến Điện ở vị trí nước có vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất trong khu vực.

Cộng đồng quốc tế thường chú trọng vào việc gây sức ép với Việt Nam để có thêm tù nhân được phóng thích. Trong khi tôi được hưởng lợi thoát khỏi nhà tù nhờ sự chú trọng như vậy , thì nó lại thường phản tác dụng như một cách tiếp cận ngoại giao. Chính phủ Việt Nam coi tù nhân lương tâm như hàng hóa để đổi chác lấy các lợi ích an ninh và thương mại cũng như viện trợ từ Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác. Việt Nam đã tích trữ cả một kho tù nhân lương tâm cho việc mặc cả trong tương lai.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới và đạt được bình thường hoá quan hệ thương mại với Hoa Kỳ vào đầu năm 2007, chính quyền Việt Nam đã phát động một cuộc đàn áp tàn bạo nhằm vào các trí thức, nghệ sĩ, blogger, nhà báo, nhà hoạt động công đoàn và lãnh đạo tôn giáo. Cho đến bây giờ cuộc đàn áp này vẫn còn tiếp diễn.

Các chính phủ thuộc thế giới tự do cần yêu cầu chính quyền Việt Nam hủy bỏ kho công cụ đàn áp của họ – bắt đầu bằng việc bãi bỏ các Điều 79 , 88 và 258 Bộ luật hình sự – và gắn lợi ích thương mại và an ninh trong tương lai với những cải cách pháp luật như vậy. Yêu cầu này không phải là quá nhiều: các điều luật hình sự này không chỉ vi phạm Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 mà còn mâu thuẫn với chính Hiến pháp Việt Nam.

Mục đích duy nhất của những điều luật hình sự này là giữ cho chế độ của Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại. Điều 88 cấm “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là để bịt mồm những người chỉ trích Đảng cộng sản Việt Nam – các nhà báo và blogger và các nhà bất đồng chính kiến khác. Đây là một sự vi phạm trực tiếp Điều 16 Hiến pháp theo đó ” không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị ”- hay nói cách khác: không ai có thể bị sách nhiễu hay bị đàn áp, càng không thể bị bắt hay bị bỏ tù, do có quan điểm chính trị trái với quan điểm của Nhà nước.

Trong khi đó, Điều 258 lại nhằm vào những người “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Việt Nam không có “tự do dân chủ” thực sự nhưng Hiến pháp VN lại hứa hẹn cho công dân quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội. “Lợi dụng quyền” là một khái niệm mà chính quyền Việt Nam thêu dệt tạo ra nhằm phá hoại Hiến pháp để sự tự do thực thụ duy nhất mà người công dân Việt Nam có được là phải hoàn toàn đồng ý và tán thành các chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu như Điều 88 và Điều 258 nhằm vào những người bất đồng chính kiến với tư cách cá nhân, thì Điều 79 được thiết lập để ngăn cản những người bất đồng chính kiến ​​tập hợp thành tổ chức cho chính họ để cạnh tranh chính trị (với đảng CSVN). Điều luật hình sự này được sử dụng để chống lại bất kỳ ai tổ chức phản đối một cách ôn hòa sự thống trị của Đảng cộng sản Việt Nam hoặc các chính sách của đảng này. Các công đoàn lao động độc lập, các đảng phái chính trị mới bắt đầu ra đời, các tổ chức tôn giáo, các hội đoàn xã hội dân sự không chịu sự giám sát của chính quyền – tất cả đều có khả năng bị nghiền nát bởi Điều 79.

Hai phần ba số tù nhân lương tâm bị kết án theo 3 điều luật hình sự này, bao gồm Nguyễn Văn Hải (blogger Dieu Cay), linh mục Nguyễn Văn Lý, Mục sư Dương Kim Khải, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương, Võ Minh Trí, Nguyễn Văn Lía, Đặng Xuân Diệu và Trần Huỳnh Duy ThứcNhững tù nhân lương tâm này có thể không được nhiều người ở đây, tại Hoa Kỳ, biết tới nhưng họ là những anh hùng với nhiều người trong chúng tôi, những người muốn xây dựng một nước Việt Nam vừa thịnh vượng vừa bảo vệ các quyền con người cơ bản và tôn trọng pháp luật.

Cư trú tại Hoa Kỳ cho tôi quyền tự do bày tỏ quan điểm và đó là điều tôi biết ơn nhất. Vì vậy, tôi trân trọng yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ sử dụng tất cả mối liên hệ song phương và đa phương vào bất cứ lúc nào, bao gồm các cuộc đàm phán về thương mại và an ninh, cũng như các khoản cho vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, để buộc chính quyền Việt Nam hủy bỏ ngay lập tức các điều 79, 88 và 258 Bộ Luật hình sự, và trả tự do vô điều kiện cho tất cả các tù nhân lương tâm bị đã bị kết án vì những điều luật này.

Chỉ có loại bỏ các công cụ đàn áp (các Điều 79 , 88 và 258 Bộ luật hình sự) của chính quyền VN thì mới có thể có những cải thiện nhân quyền thực sự và không thể đảo ngược tại Việt Nam.

——————————————————————————

*Cù Huy Hà Vũ là một học giả về Hiến pháp, đã hai lần kiện ra tòa đương kim Thủ tướng Việt Nam do có hành vi bất hợp pháp. Ông hiện sống ở Bắc Virginia sau khi được phóng thích từ một nhà tù Việt Nam vào tháng trước.

Bài liên quan:

Quan điểm của Ts. Cù Huy Hà Vũ trên báo The Washington Post

http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2856

Nguồn http://www.danchimviet.info/archives/87340/doi-chac-te-hai-voi-viet-nam/2014/05

————

Bài viết bằng tiếng Anh rất xúc tích, ngắn gọn, và đầy đủ. Bài dịch qua tiếng Việt (trên tờ Mạch Sống) cũng khá. Tuy vậy, tựa đề dịch qua tiếng Việt hoàn toàn không đúng:Đổi chác tệ hại với Việt Nam. Trần Hoàng đã dịch lại tựa đề, và chỉnh sửa lại nhiều đoạn trong bài dịch của tờ Mạch Sống cho thêm phần chính xác; và bổ sung thêm tên của những tù nhân lương tâm mà tờ Mạch Sống đã bỏ sót. 

“Two-thirds of the known prisoners of conscience are imprisoned under these three articles, including Nguyen Van Hai (blogger Dieu Cay), Catholic priest Nguyen Van Ly, Protestant pastor Duong Kim Khai, Ta Phong Tan, Ho Thi Bich Khuong, Vo Minh Tri, Nguyen Van Lia, Dang Xuan Dieu and Tran Huynh Duy Thuc. While these names may not be familiar to many here in the United States, they are heroes to those of us who want to build a Vietnam that is both prosperous and protects fundamental human rights and the rule of law.”

Standing up for human rights in Vietnam  May 17, 2014

 

       Mục sư Dương Kim Khải bị bắt

Aug 13, 2010 – Mục sư Tin lành Dương Kim Khải – “vị mục sư ở trong chuồng bò” ven sông Sài Gòn – vừa bị công an bắt đi vào trưa 10/8/2010.

 

Aug 30, 2010 – Mục sư Dương Kim Khải, người bị bắt đi một cách bất minh từ trưa ngày 10 tháng 8 đến nay đã hơn nửa tháng. Đến hôm qua, gia đình ông …

 

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »