Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Miền Nam trước ngày 30-4-1975’ Category

►Một người Đức nhớ về Việt Nam

Posted by hoangtran204 on 23/01/2015

 

Uwe Siemon-Netto | Trà Mi lược dịch

Tôi tin rằng tất cả chúng ta có nhiệm vụ phải làm chứng nhân cho lịch sử… Vì lợi ích của những thế hệ đi sau, chúng ta phải giữ cho ký ức của sự thật lịch sử sống mãi.

Tôi hãnh diện đã được yêu cầu nói chuyện với các bạn hôm nay, gần nửa thế kỷ sau lần đầu tiên tôi đến Việt Nam như một phóng viên chiến trường Tây Đức. Lúc đó các lực lượng chiến đấu Mỹ đầu tiên chưa đổ bộ vào Đà Nẵng. Đó cũng là lúc tôi bắt đầu biết yêu nồng nàn con người và đất nước của các bạn, những người đã nể trọng và gọi dân tộc chúng tôi là “Đức”, cũng có nghĩa là đạo đức.

Một ngày nọ, một chú nhỏ trong đám trẻ bán báo không nhà sống trên đường Tự Do ở Sài Gòn, đến gần tôi và nói:

“Ông là Đức, tôi tên là Đức, vì vậy cả hai chúng ta là Đức, và tôi có một đề nghị với ông. Nếu ông cho phép bạn bè của tôi và tôi ngủ trong xe của ông, chúng tôi sẽ canh giữ và lau chùi nó sạch sẽ cho ông.”

Tôi đã thuê bán thường xuyên một chiếc Citroen 15 mã lực, [còn gọi là] một chiếc trắc xông [traction]. Đây là một chiếc xe rất lớn và rất tốn xăng của Pháp chế tạo vào năm tôi ra đời. Ổ khóa cửa của nó đã mất. Vì vậy, có ai đó coi chừng giùm cũng là điều tốt. Đôi khi có bảy hay tám đứa trẻ ngủ trong chiếc xe này, giữ gìn nó thật sạch từ bên trong đến bên ngoài.

Givral trên đường Tự Do ở Saigon (Circa 1960). Nguồn TIME Magazine

Tôi luôn luôn đậu trên đường Tự Do đối diện với Continental Palace, bên cạnh quán Café Givral, nếu bạn còn nhớ. Nó, chiếc xe, không chỉ là phương tiện đi lại của tôi; quan trọng hơn, nó đã trở thành một phương tiện hữu nghị giữa Đức, các nhà báo, và một đám trẻ tuyệt vời, do Đức dẫn đầu, đi bán dạo các tờ báo như Nhật báo Sài Gòn, Saigon Post và nhiều tờ báo khác.

Tình bạn này kéo dài cho đến khi chiếc traction của tôi trở thành một nạn nhân trong cuộc tấn công Tết năm Mậu Thân 1968 và những đứa trẻ bụi đời đã biến mất khỏi đường Tự Do một thời gian.

Tôi tự hỏi chuyện gì đã xảy ra cho Đức kể từ ngày đó. Có thể anh ấy hiện đang sống tại Hoa Kỳ, có lẽ anh ấy đang ngồi ngay trong phòng này. Sẽ thật là kỳ diệu nếu tôi được nói chuyện và cười với anh ta một lần nữa; anh ấy đã là một đứa trẻ tuyệt vời.

Không phải là tôi đã ở Sài Gòn nhiều; tôi thường tháp tùng các đoàn quân của các bạn ra mặt trận. Và ở đó tôi quan sát thấy các bác sĩ QLVNCH và nhân viên y tế đã dũng cảm cố gắng cứu sống nhiều thương binh. Có lẽ một số bạn ở đây và tôi đã gặp nhau – gần Quảng Trị, Huế, Pleiku hay Pleime, Nha Trang, hay ở đồng bằng sông Cửu Long, hoặc tại các trại tù binh trên đảo Phú Quốc.

Lúc ấy là vào đầu năm 1965.

Cuối năm đó tôi bị chấn cột sống khi đi theo một chiếc trực thăng tải thương của Mỹ và chúng tôi bị bắn rơi ở phía tây An Khê, và vì vậy các bác sĩ người Mỹ đã chăm sóc cho tôi. Nhưng dẹp qua cái quốc tịch của bác sĩ và nhân viên quân y: Trong năm năm tôi ở Việt Nam, tôi rất trân trọng sự hy sinh, lòng dũng cảm và tính chuyên nghiệp của tất cả các bạn, những người Mỹ, người Việt Nam, người Đại Hàn và người Úc.

Vì vậy, các bạn và tôi có thể đã gặp nhau. Thật khó mà không thấy khi tôi đến thăm đơn vị của các bạn, ở trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, tôi là phóng viên Tây Đức duy nhất tại Nam Việt Nam, và huy hiệu của tôi xác định tôi là một người Đức.

Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, tôi thậm chí đã trở thành đồng đội của các bạn vì tôi đã bắt một cán binh Việt Cộng.

Đây là một sự kiện khá thú vị. Và đây là những gì đã xảy ra.

Vào tháng Hai năm 1965 tôi đi theo một toán A-Team của Lực lượng Đặc biệt Mỹ và tham gia vào cuộc tập nhảy dù phía tây của Mỹ Tho. Tôi rơi xuống đất. Tôi cuộn dù và nhận thấy đất lún dưới chân tôi. Tôi lùi lại. Mặt đất lại trồi lên lại. Tôi nhảy, với cả hai chân, mạnh xuống chỗ đó. Mặt đất lõm xuống. Tôi nghe thấy có tiếng rên. Một lần nữa tôi lùi lại, dỡ bỏ lớp cỏ và thấy chiếc nón cối ngụy trang của một cán binh VC và nòng khẩu súng trường loại cũ M-1 của hắn.

Trước hết tôi lấy khẩu súng, rồi nâng anh VC ra khỏi hố. Hắn là một anh chàng nhỏ bé gầy guộc trong bộ bà ba đen, và anh ta đang run rẩy. Tôi nói với hắn: “Hãy can đảm, đồng chí, với anh thì cuộc chiến đã chấm dứt.” [“Courage, camarade, pour toi la guerre est fini.”] Tôi không biết anh ta có nói tiếng Pháp hay không, nhưng chắc chắn hắn hiểu những gì tôi nói: “Hãy can đảm, anh bạn, với bạn chiến tranh đã chấm dứt.” Bấy giờ hắn mới mỉm cười.

Tôi giao anh VC và khẩu súng trường lại cho toán lính Mỹ nhưng vẫn giữ cái nón cối của hắn làm chiến tích. Suốt 46 năm sau đó nó nằm trong thư viện của tôi đến khi vợ chồng bạn tôi anh Dr. Lý Văn Quý và chị Châu đến nhà tôi ở Pháp hồi cuối tháng Mười. Tôi đã tặng cái nón cối VC lại cho họ như một món quà lưu niệm. Không phải vì tôi đã thực hiện một hành động anh hùng vĩ đại.

Tuy nhiên, tôi đã vui vẻ để giúp bạn. Vì vậy, đây – cái nón cối. Đây là chiến tích của tôi. Bây giờ nó là của hai bạn. Nó sẽ vào bảo tàng chiến tranh của bạn ở đây, tại Little Saigon.

Ba người bạn trước tòa soạn Viet Báo ở California (Từ phải): Uwe Siemon-Netto và vợ chồng Dr. Lý Văn Quý. Nguồn: vietbao.com / Tháng 4, 2013

Đó là một sự kiện lành mà tôi nâng niu làm kỷ niệm. Một vài tuần sau đó, tôi có một kinh nghiệm đau buồn ở phía tây thành phố Nha Trang. Nhưng nó có nghĩa để tôi hiểu được nhiệm vụ của mình. Vì nó đã cho tôi thấy bộ mặt thật của chiến tranh Việt Nam. Lý do tại sao bây giờ tôi nói đến sự kiện này vì nó cho thấy nguyên cớ tại sao rất nhiều người Mỹ chưa bao giờ hiểu rõ về cuộc xung đột ở Việt Nam.

Tổng thống Richard M. Nixon sau đó đã trích dẫn bài báo của tôi về vụ này trong cuốn sách của ông, The Real War. Vì vậy, xin thứ lỗi cho sự phù phiếm của tôi nếu tôi trích dẫn một Tổng thống Hoa Kỳ đã trích dẫn tôi: Nixon đã viết,

“… nhà báo Đức Uwe Siemon-Netto đã vẽ nên một minh họa sinh động về cách các toán du kích cộng sản sử dụng khủng bố để đạt mục đích của họ. Siemon-Netto, người đi cùng một tiểu đoàn của Việt Nam đến một ngôi làng lớn mà Việt Cộng đã đột kích năm 1965, đưa tin: ‘lủng lẳng trên cây và trên nhiều cột trong sân làng là ông xã trưởng, vợ ông, và mười hai người con của họ, những cậu con trai, kể cả một em bé …”

Bọn Việt Cộng đã ra lệnh cho tất cả mọi người trong làng phải chứng kiến cảnh gia đình này bị tra tấn trước, và sau đó bị treo cổ.

“Họ bắt đầu bằng em bé và sau đó từ từ tra tấn đến các em lớn hơn, rồi tới người vợ, và cuối cùng đến ông xã trưởng. … Họ ta tay rất lạnh lùng, giống như một hành động trong chiến tranh, như bắn súng phòng không …”

Việt bị thương nhận được viện trợ như chúng nằm trên các đường phố sau khi một quả bom phát nổ bên ngoài Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, Việt Nam, ngày 30 tháng 3, 1965. Khói tăng từ đống đổ nát trong nền. Ít nhất hai người Mỹ và một số Việt thiệt mạng trong vụ đánh bom. Ảnh AP Photo / Horst Faas

Tất cả trích dẫn phía trên là trích đoạn của Nixon từ một câu chuyện của tôi. Nixon giải thích rằng đây là cách người Cộng sản giành được trái tim và khối óc của người dân nông thôn. Họ đã không giành được con tim và tâm trí [người dân] bằng tình thương nhưng bằng những hình thức đe dọa và tàn nhẫn nhất. Dân làng nói với tôi rằng cán bộ Việt Cộng đã vào làng nhiều lần trước và cảnh cáo ông xã trưởng rằng nếu không ngừng hợp tác với chính phủ Việt Nam [Cộng hòa] thì ông sẽ nhận lãnh những hậu quả nghiêm trọng.

Nhưng ông vẫn trung thành, do đó, vào giữa đêm họ quay lại và đánh thức tất cả mọi người trong làng để chứng kiến vụ thảm sát, đồng thời một cán bộ tuyên truyền đã nói với mọi người: “Đây là những gì sẽ xảy ra với quý vị nếu không theo chúng tôi; nhớ đó!”

Tôi xấu hổ nhìn nhận rằng tôi không còn nhớ tên của ngôi làng đó. Nhưng điều đó không thực sự quan trọng vì những việc này hồi đó đã xẩy ra trên khắp miền Nam Việt Nam mỗi đêm.

Tuy nhiên, công chúng Mỹ phần lớn không biết đến những sự kiện này vì giới truyền thông của họ đã không nói cho họ biết. Trong những cuộc họp báo hàng ngày ở Sài Gòn – cuộc họp khét tiếng lúc 5 giờ – chỉ thuần là những phiên họp để đưa số thống kê. Người tóm tắt thông tin thường xuyên báo cho phóng viên con số lớn các “sự kiện” xảy ra trong 24 giờ trước đó.

Bản tường trình nghe như một bản báo cáo bán hàng: “Quân Đoàn I, 184 lần chạm địch; Quân đoàn II, 360 lần; Quân đoàn III, 225; Quân Đoàn IV, 480.” Tất cả chỉ có thế. Không có thêm chi tiết nào khác. Vì gần như không thể có được do số lượng quá nhiều của những cuộc đụng độ trong vòng 24 giờ.

Ký giả chúng tôi đã không thể nghiên cứu những sự kiện này trừ khi chúng tôi có mặt ở đó như trường hợp của tôi khi đi cùng với một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 22 quân lực VNCH. Tuy nhiên, những gì tôi thấy gần Nha Trang đã thực sự vô cùng quan trọng vì nó tiêu biểu cho bản chất của giai đoạn đặc biệt này của cuộc chiến Việt Nam.

Hành vi khủng bố để đe dọa dân chúng là đặc trưng của giai đoạn thứ hai trong chiến lược chiến tranh du kích của Tướng Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng quốc phòng của Bắc Việt Nam.

Tôi thật sự nghi ngờ rằng nhiều người Mỹ có thể quay lưng lại với cuộc chiến tranh Việt Nam, nếu giới truyền thông của họ liên tục miêu tả những hành động vô nhân đạo đã xảy ra ở khắp mọi nơi ở miền Nam Việt Nam. Họ đã không làm, một phần vì các nhà báo không có phương tiện để làm như vậy, một phần cũng vì nhiều phóng viên và biên tập viên của họ đã có chương trình khác. Tôi nói “nhiều” chứ không phải “tất cả”.

Ba năm sau, Tết Mậu Thân ở Huế, tôi đang đứng cùng đồng nghiệp Peter Braestrup của Washington Post ở vành của một ngôi mộ tập thể và đã vô tình nghe Peter hỏi một người quay phim cho một đài truyền hình Mỹ: “Tại sao bạn không quay cảnh này?” Người quay phim trả lời: “Chúng tôi không đến đây để tuyên truyền chống Cộng.” Điều này cho thấy một tư duy đáng xấu hổ của nhiều đồng nghiệp của tôi; tôi tin cách suy nghĩ đó là yếu tố quan trọng đã tạo thành ước vọng chấm dứt chiến tranh với bất cứ giá nào [của công chúng Mỹ].

Tướng Giáp biết điều này sẽ xảy ra. Ông biết rằng các cử tri Mỹ sẽ mệt mỏi với cuộc chiến này. Vì ông biết rất rõ những điểm yếu của một xã hội tự do, đặc biệt là khả năng chú ý ngắn của nó. Sáu mươi năm trước, ông đã viết: “Kẻ thù” – thực tế là tất cả các nền dân chủ phương Tây – “không có vũ khí tâm lý và chính trị để chống lại một cuộc chiến kéo lâu dài.”

Ông tiên đoán sự mệt mỏi chiến tranh, phong trào hòa bình, khuynh hướng đạo đức giả của ý thức hệ đã bỏ qua bản chất ghê tởm của một phong trào cách mạng độc tài; sự thiên vị để nhấn mạnh đến những thiếu sót của phe mình; xã hội dân chủ đang hy sinh lớp thanh niên, tuổi trẻ của họ cho “đồng minh” bị cáo buộc là tham nhũng; và cuối cùng mong muốn “tìm một lối thoát danh dự,” và “hòa bình trong danh dự,” rồi đi đến một thỏa hiệp công bằng.

Điểm rất đáng chú ý về vai trò của giới truyền thông tại Việt Nam là có một số phóng viên người Mỹ, những người sau này trở thành những nhân vật phản chiến hăng hái, đã biết rất rõ về sự nguy hiểm này. Ngày 13 Tháng Giêng 1965, Một columnist cũng là sử gia Mỹ nổi tiếng Stanley Karnow trích dẫn tuyên bố của tướng Giáp về sự bất lực của các quốc gia tự do để chống lại cuộc chiến tranh kéo dài và cảnh cáo người đọc về những hậu quả của nhược điểm này trong cấu tạo của bất kỳ hệ thống dân chủ nào.

Và chẳng bao lâu sau, Karnow đứng đầu giới cầm bút kích động cho cái gọi là “hòa bình trong danh dự,” và biết quá rõ rằng một cuộc hòa giải thật sự là danh dự thực sự không thể có được.

Hôm nay chúng ta nghe tiếng vọng của việc này về vấn đề ở Afghanistan. Một lần nữa chúng ta lại nghe những lời kêu gọi cho một cuộc thương thuyết hòa giải. Chúng ta nghe đến những cuộc đàm phán bí mật giữa Mỹ và Taliban. Không ai nghĩ đến việc phong trào độc tài toàn trị này có thể nhượng bộ những gì khi thương thuyết.

Thỏa hiệp loại đó có thể có những điểm: Thay vì bị cấm không được học đọc và viết, phụ nữ sẽ được phép học nửa bảng chữ cái? Trong năm năm đầu sau khi Taliban tiếp quản chỉ có một nửa số phụ nữ bị cáo buộc là ngoại tình sẽ bị ném đá đến chết thôi giống như chế độ đã sử dụng trước khi Taliban bị mất quyền lực? Và phụ nữ sẽ chỉ bị quất một nửa số roi nếu mặc áo trùm mà để hở mắt cá chân?

Một chục năm trước đây, một nhóm nữ quyền hàng đầu của Mỹ, Tổ chức Phụ nữ Quốc gia, công bố những vi phạm nhân quyền khủng khiếp của Taliban đối với phụ nữ trên trang web của họ. Hôm nay không cần mất thời giờ suy nghĩ, có khả năng rất cao là những vi phạm này sẽ được lặp lại một khi NATO rút lực lượng [ra khỏi Afghanistan] vì những lạm dụng đó là một phần trong ý thức hệ Hồi giáo cực đoan cũng như những trại cải tạo lao động [tù khổ sai] trong ý thức hệ cộng sản. Những ai trong các bạn ở đây đã có kinh nghiệm với trại tù Việt Cộng hẳn biết những gì tôi đang nói.

Tôi tin rằng tất cả chúng ta có nhiệm vụ phải làm chứng nhân cho lịch sử – các bạn, các cựu chiến binh của cuộc chiến này, và chúng tôi, những ký giả đã đưa tin về nó. Vì lợi ích của những thế hệ đi sau, chúng ta phải giữ cho ký ức của sự thật lịch sử sống mãi. Chúng ta phải tiếp tục nhắc nhở giới truyền thông ở nước sở tại của chúng ta về vai trò then chốt của họ trong việc bảo vệ tự do. Chúng ta phải cảnh báo những người đi sau chúng ta về những hậu quả khủng khiếp của một nền báo chí xấu, hàn lâm đạo đức giả và một khối cử tri chán nản không kiên quyết. Các bạn đang ở vị trí tốt nhất để làm điều này. Các bạn đã thấy và đã phải gánh chịu rất nhiều.

Hãy cho tôi nói thêm một điều: Tôi là một Kitô hữu, và một người viết sử nghiệp dư. Là một Kitô hữu tôi biết ai là Chủ tể sau cùng của lịch sử. Và là một người viết sử nghiệp dư tôi biết rằng lịch sử luôn luôn mở cửa cho tương lai. Gộp hai yếu tố này lại với nhau cho chúng ta niềm hy vọng – hy vọng cho Việt Nam, hy vọng cho Afghanistan, hy vọng cho nhân loại. Chúng ta không phải là những chủ nhân của tương lai. Nhưng chúng ta có tiếng gọi của lương tâm để giúp làm cho tương lai được tốt đẹp hơn.

Do đó, chúng ta đã không nhìn thấy những điều ác một cách vô ích, và chúng ta cũng đã không đau khổ vô cớ. Tất cả đều có lý do của chúng, và lý do đó là để chúng ta có thể nói lại với thế hệ tương lai những gì thực sự đã xảy ra, bất kể nhiều điều dối trá vẫn đang được nói đi nói lại về Việt Nam.

Những người sống sót sau cuộc thảm sát ở Đồng Xoài. Ảnh của Horts Faas, 1971

Trên đây là bài phát biểu của tác giả tại Hội nghị Quốc tế của Cựu chiến binh Quân y Việt Nam Cộng Hòa tại thành phố Westminster, Cal., ngày 15 tháng 4 năm 2012. Uwe Siemon-Netto, cựu biên tập viên tôn giáo vụ của United Press International, là một nhà báo quốc tế trong 55 năm hoạt động ở Bắc Mỹ, Việt Nam, Trung Đông và châu Âu cho các tạp chí của Đức. Tiến sĩ [Thần học] Siemon-Netto hiện quản trị League of Faithful Masks và Trung tâm Thần học Lutheran & Public Life do ông sáng lập tại Capistrano Beach, Calif.

© 2015 DCVOnline


Nguồn: A German Remembers Vietnam By Uwe Siemon-Netto , Tuesday, April 17, 2012.

dcvonline.net/2015/01/06/mot-nguoi-duc-nho-ve-viet-nam/

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►GS Trần Đức Thảo: Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực…Một chế độ để cho nghệ sĩ được tự do cất tiếng hát lên những nỗi niềm như thế không phải là một chế độ tồi tệ.

Posted by hoangtran204 on 13/10/2014

GS Trần Đức Thảo và chuyến đi đổi đời

Theo FB Nguyễn Văn Tuấn

13-10-2014

Lời dẫn: Sau vụ Nhân văn Giai Phẩm, GS Trần Đức Thảo bị quản chế tại gia ở Hà Nội. Ông không được dạy học, không được phép nghiên cứu gì cả. Ông li dị vợ (hay vợ li dị ông?), cuộc sống rất khó khăn, suốt ngày lẩm bẩm chuyện đâu đâu. Người ngoài nhìn vào tưởng ông điên, nhưng sau này ông nói ông chỉ đóng kịch thôi!

Một hôm GS Trần Văn Giàu và ông Trần Bạch Đằng từ Nam ra thăm ông, thấy hoàn cảnh bi đát như thế nên đề nghị ông chuyển vào Sài Gòn sống. Họ nói dù sao thì Sài Gòn với cá tính Nam Bộ ông sẽ dễ thở hơn. Phải qua can thiệp vài nơi ông mới được phép chuyển vào Sài Gòn. Bài dưới đây là một trích dẫn từ cuốn “Những lời trăn trối” về cảm nhận của ông khi mới đặt chân đến Sài Gòn, một chuyến đi ông xem là đã đổi đời ông sau này.

====Đang trong tình trạng mắc kẹt trong vòng cương toả của các cục “bảo vệ”, “tuyên huấn”, các ban “văn hoá, tư tưởng, khoa giáo trung ương” như vậy, thì Trần Văn Giàu, rồi Trần Bạch Đằng từ trong Nam ra thăm Hà Nội. Cả hai người miền Nam này đã kinh ngạc khi khám phá ra những ý tưởng mới mẻ của Thảo. Và nhất là họ thấy những điều kiện sống và làm việc quá tồi tệ như thế. Họ tính đề cập với các cấp lãnh đạo về vấn đề nên đối xử nhân đạo với Thảo. Nhưng sau khi giải phóng miền Nam, nay hầu hết các giới chức cách mạng cấp cao ở Hà Nội đều đổ vào Nam, nói là đi “công tác”, nhưng thực ra là vào sống ở đó, để hưởng chiến lợi phẩm của chiến thắng. Hà Nội lúc đó chỉ là những trụ sở và chức vụ tượng trưng không có thực quyền hành động.

- Anh nên vào Nam mà sống, trong ấy không khí ấm áp dễ thở hơn và có sẵn mọi thứ có lợi cho sức khoẻ và công việc nghiên cứu cũng dễ hơn. Chứ ở ngoài Bắc này, không khí canh chừng ngột ngạt khó thở quá. Làm nghiên cứu chính trị và triết học sao được!

Cánh trí thức Nam bộ này khuyên Thảo nên tìm cách vào Sài Gòn sinh sống, vì trong đó khí hậu ấm áp hơn, đời sống cũng sung túc hơn, nên dễ có điều kiện cho phép làm việc thoải mái, cởi mở hơn. Nhưng Thảo hỏi lại:

- Các đồng chí tưởng là tôi là kẻ được tự do chọn lựa, muốn đi đâu thì đi, muốn sống ở đâu cũng được sao? Tôi đã nhiều lần xin đi dạy học trở lại, họ không cho, viện dẫn lí do là đã có lệnh cấm tôi dạy học từ thời “bác” Hồ còn sống, từ đó đến nay, tôi sống như người bị giam lỏng ở Hà Nội này. Thỉnh thoảng họ chỉ bố trí tôi được tham dự những sinh hoạt có tính tuyên truyền, cũng có lần tham gia phái đoàn đi tham quan nước ngoài. Sự có mặt của tôi trong các sinh hoạt ấy đều bị kiểm soát chặt chẽ và chỉ để đánh bóng chế độ!

- Tôi sẽ vận động để mời anh vào tham quan, và ở chơi với chúng tôi một vài tháng. Một khi vào rồi thì muốn ở lại cũng dễ thôi. Trong Nam anh có quen ai không?

- Có lẽ tôi chỉ quen biết có một người là Sông Trường, hình như đang làm việc gì đó ở Sài Gòn. Đồng chí ấy trước đây là người được trung ương trao nhiệm vụ trực tiếp cai quản tôi.

- Thế thì tốt quá. Tay ấy đang ở Sài Gòn, vừa trông coi Tạp chí Cộng sản, vừa chỉ đạo toàn bộ công tác tư tưởng ở trong Nam … Đồng chí ấy có thể viết thư mời anh vào trong ấy tham quan. Nếu không thì tụi tôi sẽ gửi thư mời anh để anh xin giấy di chuyển. Nhất là lúc này, đang có những sức ép của các gia đình cán bộ, đòi phải nới rộng việc đi lại giữa hai miền Nam Bắc cho dễ dàng hơn.

[…]

Mới đặt chấn xuống cái thủ đô của miền Nam này, mọi sự đã làm tôi kinh ngạc. Qua bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ mà sao Sài Gòn nó lại khang trang hiện đại như vậy? Tôi cứ ngỡ cả miền Nam bị đói khổ vì bị Mĩ ngụy bóc lột đến nỗi miền Bắc đã phải “cắn hạt gạo làm tư” để cứu giúp miền Nam cơ mà. Vả lại, mọi người ở đây sao mà nói năng cởi mở thoải mái quá vậy? Ngay cả những cán bộ của đảng ở đây cũng có thái độ tự do quá. Họ đãi đằng tôi, họ giễu cợt tôi, coi tôi như anh mán, anh mường ở rừng mới được về thành phố.

Trịnh Công Sơn

Phải nói thẳng ra là có một điều của Sài Gòn đã làm tôi bàng hoàng đến cùng cực. Đó là những bài hát của một anh chàng nhạc sĩ trẻ của miền Nam, nói đúng hơn là của “Mĩ Nguỵ” chứ không phải của đảng. Tên anh ta là Trịnh Công Sơn. Các bài hát của anh ta mang nỗi niềm day dứt, oán trách chiến tranh. Cứ như anh ta khóc than thay cho cả chế độ ở cả hai miền Nam Bắc. Giữa những năm tháng chiến tranh một mất một còn ác liệt như thế mà sao anh ta dám cất lên tiếng kêu than như vậy. Những lời ca của những bài hát ấy đã lay động tâm hồn tôi.

Phải công nhận là trong đời tôi có hai lần bị thúc đẩy và thoát ra khỏi thái độ sợ hãi đến hèn nhát đã ngự trị trong đầu óc của bao trí thức, văn nghệ sĩ của Hà Nội. Lần thứ nhất là do nhà thơ trẻ Trần Dần, khi anh ta tới mời tôi tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Lần thứ nhì là khi tôi nghe mấy bài hát thấm thía của Trịnh Công Sơn! Đấy là thứ âm nhạc phát ra từ trái tim dân tộc.

[…]

Chế độ không tồi

Không hiểu sao chính quyền miền Nam lại để cho anh ta tự do sáng tác những bài ca làm mất tinh thần chiến đấu như thế? Điều này khiến tôi phải suy nghĩ trình độ dân chủ rất khác nhau giữa hai miền Nam, Bắc. Một chế độ để cho nghệ sĩ được tự do cất tiếng hát lên những nỗi niềm như thế không phải là một chế độ tồi tệ. Xét chung thì miền Nam đã có mức độ dân chủ rõ rệt. Cả giới trí thức lẫn dân chúng miền Nam đều bàn chuyện chính trị cởi mở, phê phán lãnh đạo và đảng rất tự nhiên. Ở miền Bắc thì không thể. Miền Bắc là cái lò của giáo điều, của chiến tranh. Không có chỗ cho một Trịnh Công Sơn, điều đó dễ hiểu.

Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi nghe tin Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng, và đã được nghe theo. Vì có lẽ dân đã thấm mệt với bao nỗi khổ, chết chóc. Tôi cám ơn miền Nam đã sinh sản được một Dương Văn Minh, một Trịnh Công Sơn. Người nhạc sĩ trẻ ấy đã góp phần vào cái giờ phút thiêng liêng buông súng, thôi bắn giết nhau. Đấy thực sự là một anh hùng của hoà bình, chính anh ta đã nêu gương cho Trần Đức Thảo này! Tôi thú thật rất cảm ơn cái lệnh buông súng ấy, vì nó đã giải thoát hàng vạn thanh niên miền Bắc ra khỏi rừng núi đầy bom và muỗi, mòng. Vì nó đã cứu hàng vạn thanh niên với số phận “sinh Bắc tử Nam”.

Chỉ tiếc rằng người cán bộ sĩ quan của “bộ đội cụ Hồ”, khi tiến vào Dinh Độc Lập gặp Dương Văn Minh, thì đã tỏ thái độ thô bỉ quá kém cỏi với một lãnh đạo chính quyền miền Nam. […] Việc ứng xử thô bỉ như vậy đúng vào giây phút chiến tranh chấm dứt như thế đã làm cho sự tuyên truyền chính sách đại nhân, đại nghĩa “hoà giải, hoà hợp dân tộc” bỗng nhiên tự nó tố cáo nó là một quỉ kế để đánh lừa kẻ thù buông súng, chứ không phải là một sự giàn xếp cao thượng giữa anh em trong một nhà. Mấy anh em cách mạng miền Nam còn than phiền với tôi là có những người bộ đội miền Bắc khi tiếp quản Sài Gòn đã nhục mạ dân chúng về tội “ăn mặc lố lăng, bắt họ phải cạo sơn móng tay, bắt cắt quần ống loa”. Rồi còn cảnh trả thù cả người chết bằng cách đập phá nghĩa trang của chế độ “Nguỵ” nữa! Thái độ ấy thật là thô lỗ quá trớn.

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Uncategorized | Leave a Comment »

►Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958–Công hàm Phạm Văn Đồng

Posted by hoangtran204 on 24/07/2014

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

Trong thảo luận về hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng có vấn đề về tư cách quốc gia (state) của VNCH ở thời điểm 14/9/1958 (lúc công hàm đưa ra). Dù tâm tư, nguyện vọng của đa số dân chúng cũng như lãnh đạo miền Nam lúc đó đều cho rằng quốc gia Việt Nam chỉ là một, và ngay cả lời nói đầu hiến pháp VNCH 1956 cũng hàm ý này “[ý] thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ luật pháp quốc tế thì VNCH có vẻ hội đủ các tiêu chuẩn để có tư cách một quốc gia: có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có chính phủ, và có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác như nêu trong công ước Montevideo 1933.

Ở thời điểm 4/1975 thì tư cách này có vẻ hiển nhiên: lúc đó VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia khác ở cấp bán chính thức, và dĩ nhiên trên thực tế cũng có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có Chính phủ, tức là hội đủ 4 tiêu chuẩn để có tư cách quốc gia .

Còn vào thời điểm 14/9/1958, thì trên thực tế VNCH cũng đảm bảo được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác thì có vẻ vẫn đảm bảo. Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ “Saigon – Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ở recordsearch.naa.gov.au. Xin giới thiệu bản chính và bản dịch danh sách này tới tất cả các bạn đọc có quan tâm:

1. Bản chính:

clip_image002

clip_image004

clip_image006

2. Bản dịch:

____________________________________

Hồ sơ V 221/5

669

18 tháng 8 năm 1958

Bộ trưởng,

Bộ ngoại giao,

Canberra.

Việt Nam: Công nhận bởi các quốc gia khác

Đính kèm là danh sách (tính đến 7 tháng 8 năm 1958) tất cả các nước hiện công nhận Việt Nam Cộng Hoà cùng với ngày mà họ công nhận nước Cộng hòa này.

(đã ký)

(D.C Nutter)

Thứ trưởng

DANH SÁCH CÁC NƯỚC CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

1. Hoa Kì 26.10.1955

2. Pháp -

3. Vương quốc Anh -

4. Úc -

5. New Zealand -

6. Thái Lan -

7. Nhật Bản -

8. Ý -

9. Trung Hoa QDĐ 27.10.1955

10. Hàn Quốc -

11. Hà Lan 1.11.1955

12. Philippines 2.11.1955

13. Tây Ban Nha 3.11.1955

14. Cuba -

15. Haiti -

16. Bolivia 6.11.1955

17. Ecuador -

18. Brazil 8.11.1955

19. Liberia -

20. Nicaragua -

21. Chile 10.11.1955

22. Hy Lạp -

23. Luxembourg 11.11.1955

24. Argentina 12.11.1955

25. Costa Rica 13.11.1955

26. Canada 14.11.1955

27. Lào 15.11.1955

28. Thổ Nhĩ Kỳ 18.11.1955

29. Bỉ 22.11.1955

30. Áo 23 11.1955.

31. Tây Đức 5.12.1955

32. Vatican 9.12.1955

33. Liên minh Nam Phi 14.12.1955

34. Honduras 12.12.1955

35. Venezuela 15.12.1955

36. Guatemala -

37. Colombia 6.1.1956

38. Sudan 5.2.1956

39. Jordan 21.2.1956

40. Bồ Đào Nha 24.5.1955

41. Đan Mạch 3.1.1957

42. Lebanon 5.3.1957

43*. Ghana 6.3.1957

44*. Ma-rốc 18.6.195

45*. Tunisia 3.8.1957

46*. Malaysia 31.8.1957

47. Thụy Sĩ 1.4.1958

48. Thụy Điển 3.7.1958

49*. Iraq 2.8.1958

——————————–

50. Indonesia

51. Na Uy

Indonésia và Na Uy tương ứng đã trao đổi giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure”)

——————————-

Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VNCH gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:

52. Ireland (Ai-len)

53. El Salvador

54. Peru

55. Panama

56. Uruguay

57. Iran

58. Ethiopia

59. Cộng hòa Dominica

——————————-

60. Ấn Độ: Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự

61. Miến Điện: Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận “trên thực tế” (de facto)

62. Campuchia: Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.

(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)

_________________________________

* Nước được Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Theo Bauxite

  1. Thủy Quân Lục Chiến VNCH bắt sống quân Trung Cộng tại Hoàng Sa

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►John Riordon giải cứu 105 người Việt rời khỏi Sài Gòn trước ngày 30/04/1975

Posted by hoangtran204 on 14/04/2014

 

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=HBqj6Jla3FQ

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, ngày ấy và bây giờ

Posted by hoangtran204 on 29/04/2012

Hình Ảnh Thành Phố Saigon Của Nhóm Trưng Vương


Chợ Bến Thành ( cửa Đông ? )

Góc đường trông ra Nhà Thờ Đức Bà

Nhà Thờ Đức Bà

Dinh Độc Lập

Hội Trường Diên HồngKhách sạn Continental PalaceNhà Hàng nổi Mỹ CảnhTượng đài An Dương Vương
Hình Ảnh Thành Phố Saigon Của Nhóm Trưng Vương Gửi Đến( tiếp theo )

Nhà hàng & Vũ Trường MaximDinh Gia LongTrưng Vương năm cuối (74) , trước khi đám QUỈ miền Bắc tràn vô Nam !! Các nữ sinh Gia Long Sân trường Gia Long  Những Con Đường Cũ

Cầu Khánh HộiĐường Minh MạngĐường Nguyễn HuệBảo Tàng Viện ( trong Sở Thú Saigon )E Ấp !!!

Theo em xuống phố … một thuở sống trong Thiên Đàng Hạnh Phúc miền Nam VNCH !!

Thủ Đô Sài Gòn … những ngày tháng TUYỆT VỜI !!

Con đường TÌNH … TA đi !!!

Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, đường Tự Do !!

Tigon

nguồn: Tigon, thành viên của vietlandnews.net

Saigon 1961

nguồn:  vietlandnews.net

—————————————————————————————————————————————————-

Người dân Miền Bắc đã bị đảng CSVN lừa gạt trong cuộc chiến tranh VN. Đảng tuyên truyền “Miền Nam bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, không có gạo ăn, không có chén bát, và bị hành hạ đủ điều…chúng ta phải vào giải phóng miền Nam ruột thịt. Chúng ta phải đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào, và thống nhất đất nước…và ta xây dựng đất nước tươi đẹp hơn 10 lần ngày nay”

Dạo ấy, những thanh niên thiếu nữ miền Bắc là những người hiền lành, nhân hậu, dễ tin, và là tầng lớp tuổi trẻ ưu tú. Họ đã không một chút nghi ngờ và đã nghe theo lời bác và đảng để vào giải phóng miền Nam. Người nào không nghe lời thì gia đình bị cắt tem phiếu, lương thực, và bị làm nhục…và cuối cùng là phải đi Nam. 

Những cán bộ cao cấp nhất, và những người tuyên truyền và xúi dục chiến tranh đã ở lại hậu phương, ở cách xa chiến trận, ăn trên đầu và ngồi trên cổ của những người đi chiến đấu. Họ tồn tại cho đến sau khi cuộc chiến tranh VN đã tàn.  Họ chia nhau chiến lợi phẩm là nhà cửa mặt tiền các khu phố, các kho hàng ở miền Nam, các tài sản của tư  sản miền Nam mà họ cướp được, và đất đai của miền Nam.  Ngày nay, họ còn chiếm đất đai của nông dân, dành độc quyền tất cả các ngành nghề công, thương, kỹ nghệ, du lịch, viễn thông, khai thác tài nguyên khoáng sản, xuất nhập khẩu…vào 100 công ty và tập đoàn, mà tổng giám đốc của các công ty quốc doanh này là  con cái, bà con, anh em của cán bộ đảng cao cấp làm chủ hoặc lãnh đạo.

Còn những bộ đội và dân công đi vào Nam chiến đấu đã chết vì bom đạn trong khoảng thời gian 1954-1975. Thương thay cho các thế hệ miền Bắc đã hy sinh vào thuở ấy.

Miền Nam bị bóc lột, nhưng dân chúng sống như thế này…

Tết Mậu Thân 1968 (?)

Nguồn: on the net.

Nhưng may mắn thay, những người tuổi trẻ ngày nay đã hiểu.

Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già…

Thơ Tố Hữu

—————————————————————————————————

*Có rất nhiều hình ảnh của Sài Gòn trước năm 1975 trên mạng internet, chỉ cần vào trang mạng google.com gõ chữ  hình ảnh Saigon trước năm 1975, và nhấp chuột vào chữ  Search (tìm kiếm).

Các thành viên của Diễn đàn này có post khá nhiều hình rất đẹp.  Mời các bạn click vào link dưới đây để xem.

http://www.luongsonbac.com/forum/showthread.php?t=134310285

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975, Tư Liệu Lịch Sử | 4 Comments »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.