Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Mười Hai, 2008

Chúc Mừng Năm Mới Tất cả Các Bạn

Posted by hoangtran204 trên 31/12/2008

Happy New Year to all of my friends!

Posted in Uncategorized | 9 Comments »

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2008

Trong Khi hiện nay Việt Nam đang bỏ tiền ra thuê các chuyên viên nước ngoài làm việc để lên kế hoạch mở các sòng bài bạc cho người nước ngoài chơi ở Phú Quốc, ở vùng Vũng Tàu, ở vùng Nha Trang, và ngoài bắc…, thì các Casinos lớn ở Las Vegas và Atlantis City đang lo lắng khôn cùng và phải cho nghĩ việc giảm bớt số lượng các công nhân viên vì khách đến chơi bài đã và đang giảm hẵn đi thấy rõ.Một số các sòng bài đã phải bán đi với giá rẻ.

Lý do vì từ năm 2007 đến nay, các sòng bài hay casinos đều bị thất thâu tiền, và chính quyền địa phương nơi mà các sòng bài ấy cũng bị thất thu tiền thuế.

2 bài dưới đây cho thấy sự việc ấy.

*****************

Chính phủ sẽ ra nghị định về casino

23/12/2008

Vietnamnet

Đồng ý về nguyên tắc xây dựng khu du lịch giải trí quy mô lớn có hoạt động casino tại huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang), Thủ tướng vừa  yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu xây dựng một nghị định về kinh doanh casino.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng khẩn trương rà soát, điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2030. Đây là cơ sở để xem xét các đề xuất của tỉnh về những dự án đầu tư phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng, giải trí quy mô lớn, trong đó có casino.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Kiên Giang lựa chọn tư vấn nước ngoài có uy tín, năng lực để nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đảo Phú Quốc, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bộ Tài chính bố trí kinh phí cho Bộ Xây dựng để thực hiện việc thuê tư vấn nước ngoài.

Thủ tướng cũng giao Bộ KH&ĐT nhanh chóng nghiên cứu, xây dựng trình Chính phủ ban hành khung pháp lý điều chỉnh lĩnh vực kinh doanh casino dưới hình thức nghị định.

Bộ này cũng sẽ chủ trì chỉ đạo Tổ Công tác liên ngành (đã được thành lập) nghiên cứu, xây dựng các tiêu chí (đầu bài) cụ thể để có cơ sở xem xét các đề xuất đầu tư Khu du lịch giải trí quy mô lớn có hoạt động casino tại huyện đảo Phú Quốc. Từ đó  xem xét, báo cáo Thủ tướng lựa chọn nhà đầu tư thực sự có năng lực để tiến hành các bước lập quy hoạch chi tiết và dự án cụ thể.

Mặc dù Chính phủ chưa có chủ trương cấp phép đầu tư cho các dự án kinh doanh casino nhưng hiện hầu hết các địa phương đều đang tha thiết xin được đầu tư loại hình này. Bởi muốn thu hút các dự án du lịch giải trí lớn, không thể bỏ qua casino.

Thảo luận hôm nay (23/12) tại phiên họp Ủy ban Thường vụ QH về tội đánh bạc, nhiều ủy viên cũng cho rằng nên cấp phép cho hoạt động kinh doanh có điều kiện này để tránh mất đi nguồn thu lớn do người Việt tranh thủ sang casino ở Ma Cao hay Campuchia.

————————————————

Atlantic City Bleeds as Would-Be Gamblers Pay Bills (Update1)

By Terrence Dopp

Dec. 30 (Bloomberg) — It’s 3:45 a.m. in Atlantic City, New Jersey, and Jimmy Panagiotou just walked away from the poker table after 5 1/2 hours, about $200 lighter.

The 43-year-old professional gambler, wearing a World Series of Poker baseball cap and leather jacket, is on a cigarette-and- coffee break outside Caesar’s casino, pondering his next move. Looking around, he takes his loss in stride as he notes the eerie quiet of the largest gambling district in the U.S. after Las Vegas. Only diehards remain.

“It’s not like it used to be,” Panagiotou said. “All of the casinos are struggling. People are not going to find money to gamble when they need to find it just to live.”

After 28 years of growth, Atlantic City’s gambling proceeds are down for the second time in a row. In the first 11 months of 2008, revenue from casino games fell 6.7 percent to $4.2 billion, regulators reported Dec. 10. Last year’s 5.7 percent decline was the first ever, as the number of visitors slipped to 33.3 million from 34.5 million.

The slowdown comes as Governor Jon Corzine has warned that the state faces a revenue shortfall of $1.2 billion for the year ending June 30 and $5 billion in fiscal 2010. Through November, the state collected $338 million in Atlantic City tax revenue, down from $364 million and $384 million, respectively, in the first 11 months of 2007 and 2006. Casino employment fell to 39,137 in November from more than 42,000 as recently as August and a peak of 51,560 in July 1997.

Vital for State

James Hughes, dean of the Edward J. Bloustein School of Planning and Public Policy at Rutgers University, said the casino industry is vital for the economy of southern New Jersey and for the tax revenue it generates.

“It’s possible Atlantic City is past its peak,” said Hughes, who predicted the situation may worsen next year. “It could never go back to its past glory. It’s a much tougher game now.”

Last year, the seaside resort’s gambling houses struggled with smoking restrictions and slot-machine competition from neighboring states. This year, rising unemployment and near- record home foreclosure rates deterred even more gamblers. Casino construction has been shelved. Bonds of Trump Entertainment Resorts Inc., which owns three Atlantic City casinos, trade at as little as 12.25 cents on the dollar on concern the company can’t make interest payments. A grace period for Trump to make a late coupon payment or reach agreement with bondholders to restructure its debt expires tomorrow.

Shelved Projects

Driving into the city, the roadside provides reminders of the financial maelstrom: Billboards boast of $10 table games all day at casinos where $20 to $25 minimums were once the norm. Three signs pitch a $2.5 billion Pinnacle Entertainment Inc. casino-hotel project, which the Las Vegas-based company put on hold earlier this year.

Another planned $5 billion Atlantic City resort was canceled in October by MGM Mirage, the Las Vegas-based casino company majority-owned by billionaire Kirk Kerkorian. MGM co-owns Atlantic City’s most profitable hotel casino last year, the Borgata. Casino winnings there dropped 2.9 percent last month to $57 million.

Trump, founded by Donald Trump, posted a fourth straight quarterly loss in November as its casinos attracted fewer gamblers and it wrote down the value of its Taj Mahal property. Its 8.5 percent notes due 2015 have tumbled from 77 cents on the dollar a year ago, according to Trace, the Financial Industry Regulatory Authority’s bond-pricing service. Moody’s Investors Service cut its rating on that debt to Ca, its second-lowest non- investment grade, from Caa2, after Trump said it would forgo an interest payment to conserve cash.

Dedicated Revenue

New Jersey dedicates the 8 percent casino tax to programs for senior and disabled residents. The tax drop comes as the economic slide increases demand for other state services, including Medicaid and unemployment benefits, Corzine told reporters Dec. 22.

“What it does is essentially free up dollars that the state would have to have spent to do these things,” Hughes said.

Corzine, a first-term Democrat and former chairman of investment bank Goldman, Sachs & Co., said the state will assist the casinos, in part by working with them on advertising campaigns.

“It’s an important revenue source,” Corzine said. “We are going to try and be supportive of their needs. But we can’t change the consumers’ patterns.”

Lost Luster

On a Wednesday night in early December, vacant storefronts and going-out-of-business signs stand out among souvenir stands, taffy stores and storefront massage outlets on the boardwalk. By 1:30 a.m., restaurants and bars are closed along Pacific Avenue, the main strip behind Atlantic City’s beachfront casinos. Vagrants and streetwalkers offer the only signs of life.

Atlantic City was a decaying resort area until New Jersey legalized casino gambling in 1976 and limited it to the one location. The first casino, Resorts International, opened in 1978. By 1988, 12 were running and annual visitors had increased to 33 million, according to the city’s master plan.

The city’s tax base surged to almost $7 billion last year, from $316 million in 1978. Casinos, hotels and restaurants employ about 85 percent of the city’s workforce.

“When it comes to the economy here, we’re a one-trick pony,” said Bob McDevitt, president of UniteHere Local 54, which represents 14,000 cocktail waitresses, housekeepers, bartenders and other Atlantic City casino workers. McDevitt said 450 members have lost their jobs in recent months.

“This is not the same as 450 layoffs in New York City,” McDevitt said. “You’re talking about a community of 40,000 people.”

Fewer Games

The number of table games has dropped by about half from two years ago, said gambler Nick Kakkalis, 44, lighting a cigarette in a smoking section at the Hilton at about 1:30 a.m. Fewer college kids come out for kicks and steady gamblers don’t come as often, he said.

“There are definitely less people here, probably 25 percent less,” Kakkalis said.

Some of the woes aren’t unique to Atlantic City. At the Las Vegas Strip, part of the largest U.S. gambling destination, casino revenue fell 26 percent to $475 million in October, the 10th straight decline, while Atlantic City’s gambling proceeds fell 9.9 percent to $346 million.

The U.S. gaming industry will “remain under significant pressure in 2009, with a recovery unlikely until 2010,” Michael Paladino, a Fitch Ratings analyst in New York, said in a Dec. 16 report.

Consumer Confidence

Discretionary spending will be hurt if capital markets remain weak and unemployment rises, hurting consumer confidence, Paladino said.

Bonnie Hornberger, who shuttles tourists between casinos in one of Atlantic City’s trademark rickshaw-like “pushchairs,” said she is hopeful that the gambling destination will endure.

“People’s preferences of how they spend their time will never change,” Hornberger said, as she and a friend wagered $5 on video poker at the Tropicana at 4 a.m. after they got off work. “Adults want a playground.”

Last Updated: December 30, 2008 10:23 EST

http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601109&sid=aQkQU2qtobh0&refer=home

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Châu Á Đứng Dậy

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2008

Quyền Lợi của Người Mỹ

Châu Á Đứng Dậy

Aaron I. Friedberg

Tạp chí Đối Ngoại

Số tháng 1 và 2 năm 2009

Người dịch: Trần Hoàng

Khi TT Barack Obama ngồi xuốnghọp với hội đồng an ninh quốc gia để xem xét lại bộ hồ sơ chính sách ngoại giao của Mỹ, ông ta sẽ nhìn thấy Á Châu, và chính sách của Mỹ ở Á Châu, dường như ở tình trạng tốt. Mặc cho những lời cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã làm ngơ miền đất nầy để tập trung vào Trung Đông và chủ nghĩa khủng bố, chính phủ của ông Bush thật sự đã dành nhiều công sức và sự chú ý vào Châu Á, và đang đạt được nhiều thành quả to lớn.

Những mối liên hệ hàng ngày với Trung Quốc hiện nay tốt đẹp hơn đã từng có vào dạo năm 2000. Một số nhà quan sát thời cuộc đang mô tả các mối quan hệ ấy như là nồng nhiệt hơn và hợp tác hơn bất cứ lúc nào trong 20 năm qua (1988-2008). Hoa kỳ đã và đang thắt chặt quan hệ đồng minh của họ với Nhật Bản và đã và đang bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới bắt tay hợp tác chiến lược với Ấn Độ. Chính phủ Bush đã đạt được thành công để lèo lái và vượt qua những khác biệt sâu sắc với Nam Hàn – hết thẩy mọi chuyện từ các căn cứ quân sự đến các mối đàm phán thương nghị với Pyongyang (Bắc Hàn)—có đủ sự điêu luyện để tránh những sự khác biệt trong ý kiến có thể dẫn đến những sự sức mẻ tình hữu nghị vĩnh viễn trong các mối quan hệ. Sự xuất hiện của một chính phủ mới thiên về Hoa Kỳ ở Hán Thành có thể làm cho các mối quan hệ dễ dàng hơn cho người kế tục ông Bush để đặt quốc gia đồng minh nầy trở lại trên đôi chân vững chắc.

Một kết quả quan trọng tương tự như trên về chính sách ngoại giao của ở Á châu của ông Bush là hai nồi hơi ngấm ngầm lâu nay chỉ chờ chực bùng nổ ở Đông Á trông ra bây giờ ít có cơ may để bùng nổ hơn họ đã từng có cách đây một vài năm. Nhờ vào những nổ lực của Hoa Kỳ để ngăn chận cả hai bên, TQ và Đài Loan đã và đang vượt qua khỏi một thời kỳ nguy hiểm đặc biệt trong mối quan hệ của họ. Hiện nay đang có ít nhất một cơ hội mà chính phủ mới thành lập có quan điểm thực dụng hơn ở Đài Bắc sẽ có thể đoạt được một giải pháp dài lâu bằng những cuộc thương nghị các vấn đề với Trung Quốc. Trong lúc nầy, Bắc Hàn đã và đang đi những bước quan trọng hướng tới hủy bỏ nguyên tử và đang tuyên bố ước muốn ấy của họ, theo nguyên tắc, để gỡ bỏ tất cả các yếu tố cơ bản của chương trình nguyên tử của họ. Một số chướng ngại vât hướng tới một sự dàn xếp có thể chấp nhận được tuy vẫn còn, nhưng tình thế hiện nay đường như càng ổn định hơn là tình thế dạo mùa thu năm 2002.

Vậy thì chính ở Ấ Châu mà chính quyền của TT Bush đã tiến sát tới để đạt được các mục đích của họ. Thật vậy, một cựu nhân viên đã và đang đi xa hơn nữa để mô tả Châu Á như là một miền đất của “câu chuyện thành công chưa được nói tới của thủ đô Hoa Thịnh Đốn.”. Những thành công của 8 năm qua là thực tế, nhưng những phán xét như trên thì có tình chất bề mặt và chưa chín mùi. Chính phủ Obama sẽ phải làm việc chuyên cần và chăm chỉ để ngăn ngừa những thành công đoạt được của chính phủ Bush khỏi bị hủy hoại. Chính phủ Obama cũng sẽ phải nói ra một số đề tài khó khăn từ lâu nay mà TT Bush và các cố vấn của ông có thể đã phải tránh né, hay trì hoãn chờ đợi một thời gian thuận lợi hơn trong tương lai.

Hồ Sơ Á Châu

Nếu chúng ta định giá trị chính sách ngoại giao của Obama ở Châu Á, để cho hợp lý chúng ta có thể bắt đầu với những thành đạt đáng hãnh hiện nhất của chính phủ của ông Bush:

Cải thiện những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự thật là mối quan hệ hữu hảo của 2 quốc gia nầy thì chẳng có gì chắc chắn và bảo đảm.

Trong thời gian sắp tới những hăm dọa lớn nhất sẽ xuất phát từ kinh tế hơn là lãnh vực chiến lược. Đặc biệt nếu thế giới chậm chạp phục hồi từ những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chánh, những căng thẳng về thương mại ngấm ngầm giữa 2 cường quốc Thái Bình Dương có thể dễ dàng sôi trào ra.

Chính phủ của Bush đã thành công phần lớn để ngăn chậnnhững yêu cầu đánh thuế vào cáchàng hóa của TQ để bảo vệ công nghệ Mỹ, hay phạt Bắc kinh vì không gia tăng giá trị củađồng nhân dân tệ [4] Vì những chuyện như đánh thuế hàng hóa của TQ nhập vào Mỹ và yêu cầu TQ tăng giá trị đồng nhân dân tệ là các ý kiến xuất phát chủ yếu tư bên trong đảng dân chủ, do đó TT Obama có thể nhận ra là rất khó lòng để chống cự lại những áp lực bảo vệ mậu dịch như thế của đảng dân chủ.

Thí dụ, y như các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ đã từng căng thẳng vì những bất đồng về thương mại trong thập niên 1980s, vì vậy các đề tài về kinh tế có thể dễ dàng trở thành một nguồn chính của sự mâu thuẩn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Mặc dù có nhiều điểm tương tự nhau trong sự căng thẳng mậu dịch giữa Mỹ-Nhật và Mỹ- TQ, tuy vây, các tình thế hiện nay thì có tính chất khác nhau, ít nhất là trong một khía cạnh quan trọng: Vì bất luận những sự bất đồng ý kiến của họ là gì chăng nữa, Hoa Kỳ và Nhật Bản sau cùng bị ràng buộc chặt chẻ với nhau bởi một sự liên minh phòng thủ. Cả hai đã tin rằng họ đã chia sẻ nhau những giá trị chung và đối diện với một sự hăm dọa chung. Ngày nay, trái lại, chính cái viễn cảnh của gia tăng kinh tế hổ tương đang giữ Hoa Kỳ và Trung Quốc lại với nhau, đối lập với những khuynh hướng tiềm ẩn hướng tới sự không tin cậy nhau và kình địch nhau trong chiến lược. Nếu thương mại đang trở thành một đấu trường giữa Mỹ và Trung Quốc, sẽ ít có điều gì để ngăn chặn toàn bộ mối quan hệ khỏi sự trượt dốc nhanh chóng.

Tương tự, những mối căng thẳng giữa TQ và Đài Loan hiện giờ đang trở lại và có khả năng làm yếu đi mối quan hệ giữa TQ và Mỹ. Trong khi tống thống Đài Loan Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng có thể ít ham muốn sự ưa thích độc lập hơn là đảng Dân Chủ Nhân dân để chọc giận Bắc Kinh và muốn đàm phán, tuy vậy đảng nầy sẽ không, và thật sự không thể, chấp nhận những đòi hỏi của Trung Quốc về sự thống nhất. Nói cho cùng, Đài Loan là một thể chế dân chủ trong đó một đại đa số người dân ưa thích một sự tiếp tục tình trạng không thay đổi hiện nay của Đài Loan. Nếu những nhà lãnh đạoTrung Quốc trông đợi một bước đột phá sớm sủa về mặt ngoại giao, thì họ đang hướng tới sự thất vọng.

Một phần nào đó vì những chia rẽ sâu xa về đảng phái đã và đang đặc trưng hóa nền chính trị Đài Loan vào 8 năm qua, những nổ lực để cải thiện khả năng của hòn đảo nầy cho sự tự vệ đã và đang chậm lại, mặc dù các khả năng quân sự của TQ đã và đang gia tăng nhanh chóng. Những cuộc buôn bán vũ khí đã được chấp thuận bởi chính phủ Bush trong những tháng đầu tiên của chính phủ nầy (2001) đã bị giữ lại trong nhiều năm bởi chính quốc hội Đài Loankhông chịu thi hành cho phép thông qua các ngân sách cần thiết. Sau cùng, khi Đài Bắc đã chuẩn bị đồng ý mua vũ khí, chính phủ Bush đã trì hoãn để tránh làm mất lòng và chọc giận Bắc Kinh, và sau cùng mới đây đã chấp thuận 1 phần nhỏ của đơn đặt hàng vũ khí nguồn gốc từ năm 2001 trong lúc chính phủ nầy trên đường rời khỏi nhiệm kỳ.

Giữa những vấn đề khác đang choán đầy trong công việc ở Á Châu của TT Obamasẽ là câu hỏi liệu có nên, hay làm cách nào để giúp đỡ Đài Loan duy trì một số tương đồng về cân bằng quân sự với Trung Quốc. Tiếp tục bán những vũ khí của Mỹ sẽ gây ra sự tức giận dữ dội của Bắc Kinh, nhưng không hành động thì sẽ làm cho Đài Loan bịhiểm họa ngày càng gia tăng và làm băng hoại niềm tin và đánh mất lòng can đảm của họ.

Mặc dầu sự tiến bộ đã và đang được thực hiện hướng tới gần hơn sự hợp tác chiến lược, liên minh giữa Mỹ và Nhật sẽ đòi hỏi sự chú ý thận trọng trong những năm sắp đến. Cựu thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi là một lãnh tụ đầy tài năng một cách đáng chú ý, ông đã thành công trong việc lèo lái quốc gia của ộng nhanh chóng hơn là nhiều người đã nghĩ, có thể nói là hướng tới một vị trí quốc tế bình thường và đầy tính khẳng định. Những thủ tướng kế vị ông Koizumi đã và đang thiếu khả năng và sự khẳng định của Koizumi. Sự rời bỏ quyền lựcnhanh chóng của thủ tướng Shinzo Abe đã để lại mốt số sáng kiến chưa hoàn tất, bao gồm các kế hoạch gia tăng sự hợp tác giữa các nền dân chủ của Châu Á và tái phục hồi lại hiến pháp của Nhật để các lực lượng vũ trang của Nhậtcó thể tham dự vào trong các cuộc hành quân tự vệ chung với một số nước. Một sự thiếu chú ý hiển nhiên và sự thiếu khẳng định ở người kế vị thủ tướng Abe, ông Yasuo Fukuta, ông nầy đã hăm dọa xóa bỏ một hợp đồng đang còn thương nghị về chuyện phối trí các lực lượng của Mỹ. Chuyện nầy hiện còn đang được xem xét liệu vị thủ lãnh mới, cựu bộ trường ngoại giao Nhất Taro Aso, sẽ có khả năng tiếp tục công việc mà cựu thủ tướng Koizumi đã để lại.

Nhiều người Nhật hiên nay lo ngại rằng Hoa Kỳ đang bắt đầu nghiên về Trung Quốc. Các hành động gần đây của Mỹ đã và đang làm tăng thêm các nổi lo sợ nầy: Trong tất cả cuộc nói chuyện về các giá trị chung, Washington đã bày tỏ ít nhiệt tình về các đề nghị của chính phủ Abe về cải thiện hợp tác giữa các nước dân chủ trong miền. Tương tự, sự miễn cưỡng của Mỹ để bán các chiến đấu cơ F-22 cho Nhật đã được phiên dịch rộng rãi như là một cái tát vào má vì bị thúc đẩy bởi một ước muốn không chọc tức tới những sự nhạy cảm của TQ.

Có lẻ điều đáng lo ngại nhất từ quan điểm của Nhật là sự thay đổi đáng chú ý trongchính sách của Mỹ ở Bắc Hàn. Quyết định của chính phủ của ông Bush – sau khi cuộc thử nghiệm nguyên tử của Bình Nhưỡng tháng 10 năm 2006 – để quay ngược lại con đường, làm nhẹ bớt áp lực kinh tế và bắt đầu thương nghị song phương để lại cho Nhật cái cảm giác bị cô lập và không dễ chịu chút nào. Saukhi đeo sát vào vị trí của Mỹ kể từ khi bắt đầu các cuộc họp giữa 6 quốc gia vào tháng 8/ 2003, Tokyo đột ngột nhận ra đơn độc của mìnhtrong việc ủng hộ một lập trường liên tục cứng rắn. Mặc đầu chính phủ của tổng thống Bushcho rằng mục đích của họ vẫn là xóa sạch hết mọi mãnh vụn của vật liệu phân chia hạt nhân và khả năng làm bom nguyên tử của Bắc Hàn, các nhà quan sát Nhật đã và đang bắt đầu tự hỏi có phải là những người Mỹ đã và đang có quyết định riêng lẻ rằng họ có thể sống với khả năng hạt nhân của Bắc Hàn còn sót lại.

Quyết định ấy sẽ tùy thuộc vào TT Obama. Tiến trình từng bước của Bush đã và đang sản xuất ra một kết quả đầy tham vọng. Đổi lại cho việc áp lực được giảm xuống, viện trợ được gia tăng và sự tháo bỏ khỏi tình trạng danh sách các quốc gia hậu thuẩnkhủng bố, chế độ của Kim Chính Nhất đã và đang ngưng hoạt động (nhưng vẫn chưa tháo ra từng mãnh và phá hủy) lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon và các cơ sở chế biến của Bắc Hàn và xuất trình những cái mà nhà máy nầy tự cho là đóng góp “hoàn toàn và chính xác” về cung cấp các vật liệu phân chia hạt nhân. Nhưng Bình Nhưỡng vẫn chưa đồng ý về một kế hoạch trao vật liệu nguyên tử plutonium của họ. Bắc Hàn cũng đã không tiết lộ các chi tiết về một chương trình bí mật làm giàu hạt nhân song song với việc sản xuất chất Uranium dùng cho các loại vũ khí, đóng góp cho sự liên quan của Bắc Hàn vớicác nước có ưu thế hạt nhân tựa như Syria và Iran, hay chấp nhận một loại chế độ kiểm tra sâu sát và mạnh mẻ mà xem ra là cần thiết để xác nhận những gì mà Bắc Hàn từng cho là họ sở hữu được.

Mặc dầu nếu nhu Bắc Hàn đồng ý chịu nhường bỏ mọi thứ mà họ đã và đang thừa nhận là sở hữu, họ đã có thể vẫn còn nắm giữ một số vũ khí, che giấu các cơ sở làm giàu chất Uranium và có lẻ một phần nào đó của một chương trình mà họ đã và đang cung cấp hàng hóa tới cho các quốc gia khác. Chính quyền của Obama sẽ phải quyết định liệu có nên sống với những gì không chắc chắn là một cái giá có thể chấp nhận được dành cho tất cả hay hầu hết khả năng chế tạo plutonium của Bắc Hàn. Nếu Mỹ đồng ý trả cho cái giá ấy, niềm quan tâm của Nhật sẽ không được thỏa mãn. Nếu không, Washington sẽ có nguy cơ chạm trán với Bắc Triều tiên và một sự chia rẻ theo nhiều cách với các chính phủ đang tin rằng giải pháp hiện nay là tốt nhất mà họ có thể có được – đặc biệt là chính quyền của Trung Quốc và có lẻ là Nam Hàn nữa.

Thêm vào các cuộc đàm phán nguyên tử, Mỹ có các công việc quan trọng khác vẫn còn làm chưa xong với Nam Hàn. Sau khi thương nghị một thỏa ước thương mại tự do giữa Nam Hàn và Mỹ, chính phủ của TT Bush đã gặp phải một sự phản đối rất mạnh mẻ từ các vị dân cử của đảng Dân chủ trong quốc hội những người nầy thì rất kiên quyết giữ lập trường cứng rắn về vấn đề thương mại trước các cuộc bầu cử trong năm 2008. Trách nhiệm dành cho việc thúc đẩy các thỏa ước ấy thông qua quốc hội hay để cho các thỏa ước ấy không trở thành đề tài bàn thảo nữa hiện nay đang rơi vào tay của Obama. Nếu thỏa ước đạt được sự chấp thuận của quốc hội, thỏa ước mậu dịch tự do ấy sẽ cung cấp một sự gia tăng chính cho các mối liên hệ giữa Nam Hàn và Mỹ và một nền tảng vững chắc trên đó để xây đắp liên minh nầy. Nếu thỏa ước mậu dịch Mỷ và Nam Hàn thất bại do quốc hội Mỹ không thông qua, hai đối tác lâu đời nầy có thể lại một lần nữa bắt đầu trôi dạt xa nhau.

Trong trường hợp của Ấn Độ, một tay chơi lớn khác ở trong miền nầy,Tổng thống Obama thừa hưởng một mối quan hệ đang chin mùi với các triển vọng, cũng như là các thăng trầm tiềm tàng khác. Sau nhiều năm thương nghị, sau cùng Mỹ và Ấn Độ đã đạt được một sự đồng ý trên vấn đề hợp tác nguyên tử. Với chướng ngại vật không còn nữa, chính phủ mới của Obama sẽ có thế tiến về phía trước trong việc gia tăng mốí quan hệ đối tác chiến lược sâu hơn và rộng hơn. Nhưng chính phủ cũng sẽ phải thương nghị những khác biệt có tính chất nghiêm trọng, ấy là sự hiện hữu từ lâu nhưng không ra mặt cho mãi đến bây giờ, về chuyện làm cách nào để ứng xử với Pakistan, Ahganistan, và Iran.

Sự Thách Thức của Trung Quốc

Bao trùm lên tất cả các đề tài là sự thách thúc lớn nhất có tính chiến lược mà TT Obama sẽ đối mặt ở Châu Á và, không bàn cải gì nữa, toàn thế giới: Tìm ra cách nào để đương đầu với một nước TQ ngày càng gia tăng về sự giàu có, tham vọng, quyền lực, và tính khẳng định của họ.

Chính phủ của Obama sẽ kế thừa một hướng đi thời hậu chiến tranh lạnh của Mỹ hướng tới TQ mà Mỹ đã và đang tìm cách để hòa trộn các yếu tố của sự tham dự với “đối trọng”(cách dùng ưa thích hiện nay của người Mỹ), hay “bao vây” ( Trung Quốc dùng chữ nầy), hay cái điều mà tôi sẽ ám chí tới như là “cân bằng”. Một chiến lược hầm bà lằng xáng cấu đã và đang thực hiện rất tốt trong hơn 15 năm qua, mặc dầu đôi khi có những thay đổi khó hiểu trong giọng nói và sự nhấn mạnh bởi vì những mưu toan có tính bè phái. Tuy vậy, cuối cùng chính phủ của đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa đều giống nhau là cùng hổ trợ mở rộng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Những vị tổng thống kế tục nhau đã và đang khuyến dụ Bắc Kinh trên mặt trận ngoại giao, khuyến khích quốc gia nầy trở thành một tham dự viên tích cực trong những (định chế) tổ chức đa quốc gia và tìm kiếm một cách thành thật sự hậu thuẩn của TQ vào một loạt những vấn nạn, từ sinh đẻ và chủ nghĩa khủng bố cho tới an ninh năng lượng và sự thay đổi khi hậu của trái đất.

Trong thời gian gần, những chính sách nầy đã và đang có khuynh hướng để cho những người cầm quyền hiện nay ở TQ một cổ phần đầu tư vào trong sự ổn định của trật tự quốc tế hiện nay, mặc dầu khả năng của họ để thách thức thế giới đang gia tăng.

Mục đích sâu xa hơn của sự tham dự, tuy vậy, là để gia tăng những lực lượng tiến bộ được cho rằng sẽ lãnh đạo TQ hướng tới dân chủ tự do. Những nhà làm chính sách người Mỹ hy vọng rằng, đúng lúc nào đó, sự kết hợp của giai cấp trung lưu đang lớn mạnh và sự cởi mở gia tăng của một nền kinh tế trong thời đại tin tức và hiện đại sẽ mang lại một sự chấm dứt độc quyền về quyền lực chính trị của đảng Cộng Sản TQ.

Ngay trong lúc Mỹ đang buôn bán và có những cuộc đàm phán với TQ, thì đồng thời nước Mỹ đã và đang tìm cách duy trì các vị trí chiến lược của Mỹ ở Đông Á. Mục đích không phải là “bao vây” TQ bằng cách xây một bức tường chung quanh TQ. Thay vì đó, đối diện với quyền lực đang gia tăng của TQ, các nhà làm chính sách người Mỹ đã và đang tìm cách duy trì một mức độ khả năng thích hợp để ngăn cản khuynh hướng xâm lăng, thích gây hấn hay các toan tính ép buộc (của TQ)

Thắt chặt tình thân hữu với các đồng minh khu vực và các đồng minh chống cộng thân thiết, đáng tin cậy nhất của Hoa kỳ trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á [5], tái phối trí lại các lực lượng Mỹ, và gởi một số đơn vị không quân và hải quân tới vùng tây Thái Bình Dương đang là tất cả những phần của nố lực nầy.

Tám năm qua đã và đang minh họa sự phục hồi của một chiến lược hỗn hợp nhưng cũng đặt ra nhiều câu hỏi về sự thỏa mãn kéo dài. Bất luận điều gì khác có thể được phát biểu trong 30 năm qua về sự tham dự, họ vẫn chưa biến đổi được định chế chính trị của Trung Quốc.Tóm lại, thay vì nới lỏng sự siết chặt quyền lực, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã và đang gấp đôi những nổ lực của họ để nắm quyền kiểm soát tin tức, đàn áp những người bất đồng chính kiến và

Tuyển lựa vào đảng những thành viên của những giai cấp thượng lưu và trung lưu đang gia tăng. Những chiến lược nầy sau cùng có thể thất bại, nhưng trong lúc nầy các chiến lược đó dường như được thi hành rất tốt. Dường nhưkhông còn là chuyện tưởng tượng để gợi lên rằng trong những thập niên sắp đến Mỹ và các đồng minh của họ sẽ đối diện với một nước TQ ngày càng gia tăng sự giàu có và tínhnăng động một cách kỹ thuật, nhưng chính quyền của nước ấy vẫn là độc tài.

Khi nói về liệu có phải sự tham dự trong các tổ chức quốc tế và ngoại giao đã và đang làm cho TQ trở thành một tay chơi có trách nhiệm trong hệ thống toàn cầu hiện nay hay không, hầu hết các lời phán xét thì có tính chất xấu tốt lẫn lộn. Bắc kinh đã và đang đặt niềm tin mới của họ vào trong chủ nghĩa đa phương, trái lại các chính sách của TQ được hổ trợ bằng khuynh hướng tình nghi người Mỹ cho hành động đơn phương. Và TQ đã và đang diễn tả ước muốn của họ cùng nhau làm việc với Mỹ trong một loạt các vấn đề hàng đầu. Những người lạc quan nhìn những sự phát triển nầy như bằng chứng của sự tiến bộ, nhưng làm sáng tỏ hơn các điều hoài nghi thì ít nhất cũng có vẻ đúng. TQ có thể đơn giản là đang làm những điệu bộ như có mục đích làm nhẹ bớt các điều lo ngại về sự tiến bộ nhanh chóng của họ, trong lúc lẫn tránh nói về các hoạt động trong tương lai của họ. Trong lúc giữ thái độ gần gủi với Washington, Bắc kinh cũng đã và đang làm yếu đi vị thế của Mỹ ở Châu Á. Trung Quốc đã và đang tích cực ve vãn nhiều đống minh truyền thống của Mỹ bằng các hoạt động thương mại và “chính sách ngoại giao nụ cười”, và TQ đã và đang dẫn dắt những cơ chế mới dành riêng cho “người Á Châu mà thôi” và Mỹ bị tách ra khỏi các cơ chế ấy.

Nếu vẫn còn quá sớm để tuyên bố sự tham dự là một sự thất bại, và cũng là quá sớm để tin về sự thành công sau cùng của nó. Đặc trung cơ bản của chế độ Trung Quốc vẫn là không thay đổi ngay cả khi TQ gia tăng giàu có hơn và hùng mạnhhơn, làm cho sứ mạng để duy trì một sự cân bằng quyền lực ở Châu Ángày càng khó khăn hơn và tốn kém hơn. Đó là trường hợp đặc biệt nói vềphương diện quân sự.

Hơn mười mấy năm nay, TQ đã và đang chú ý vào việc gia tăng và mở rộng các căn cứ quân sự đều đặn. Theo một báo cáo của bộ quốc phòng gần đây, chi tiêu cho quốc phòng giữa năm 1996 và 2006 đã gia tăng trung bình gần 12%, ngay cả việc còn nhanh hơn nền kinh tế của TQ, kinh tế TQ đã tăng trưởng chỉ trên 9% mỗi năm. Trong lúc các số liệu chính xác còn đang là một để tài để bàn cải, chẳng có nghi ngờ nào cho rằng Bắc Kinh đã và đang đổ rất nhiều tài nguyên hơn mức bình thường vào các lực lượng lục quân và rằng các cuộc đầu tư quan trọng đã và đang bắt đầu sinh ra cáckết quả thật sự.

Sự xây dựng lực lượng vũ trang của Bắc Kinh đã và đang gia tăng khả năng của họ để hướng sức mạnh vào không gian và hải phận bờ biển phía Đông của họ và trong các vùng biển nước sâu ở trên. Kết quả TQ đã và đang được trang bị tốt hơn để hăm dọa Đài Loan hơn họ đã từng làm cách đây chỉ hơn 10 năm, và TQ đang tiến gần tới điểm nơi đó họ có khả năng đặt ra một thách thức không thể coi thường được tới ưu thế quân sự của Mỹ trong vùng Tây Thái Bình Dương.

Kể từ giữa thập niên 1990s, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân (PLA) đã và đang đạt được nhiều ý nghĩa cho việc khám phá, truy tìm, và nhắm mục tiêu vào các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm lớn khác. Mục đich là để có thể bắn hạ chúng bằng mọi (vũ khí) thứ từ các tiểu đỉnh có vận tốc rất nhanh, tới các hỏa tiển tầm ngắn bắn ra từ lục địa bằng các đầu đạn hạt nhân. Trong cuộc khủng hoảng ở tương lai, các chiến hạm chính của Mỹ chuyên phóng  hỏa lực từ ngoài biển, một khi bị tổn hại, có thể không đủ khả năng để vận chuyển một cách an toàn trong vòng vài trăm hải lý cách bờ biển của TQ.

Thêm vào đó, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đang tích lũy được đủ các tên lửa tầm trung mang đầu đạn thường và các hỏa tiển tự điều khiểncó thể bắn phá hầu hết các mục tiêu quan trọng ở miền Đông Á, bao gồm các căn cứ Mỹ ở trong miền nầy. Gần đây, quân đội TQ đã biểu diễn khả năng dò tìm và phá hủy những vật trên không gian tựa như các vệ tinh viễn thông và các vệ tinh do thám, và quân đội TQ cũng đã và đang trở nên quan tâm rất nhiều trong các kỹ thuật chiến tranh trên mạng toàn cầu, cái mà họ dường như đang xử dụng để thâm nhập vào các hệ thống mạng computer của các doanh nghiệp và chính quyền ở cả Châu Âu và Mỹ.

Sau cùng, sự hiện đại hóa của Quân Đội Nhân Dân và sự mở rộng của lực lượng tên lửa hạt nhân chiến lược của TQ có thể làm yếu đi những sự tín nhiệm về các bảo đảm của Mỹ về an ninh của miền nầy. Khôngđiều nào trong số các điều kể trên có ý nóirằng Mỹ sẽ buộc lòng phải rút lui khỏi Á Châu.

Vẫn còn ít có ý nghĩa cho rằng một cuộc chiến tranh hầu như có thể xẩy ra vào bất cứ lúc nào, ngay cả một cuộc chiến tranh lạnh theo kiểu mới. Nhưng sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang gia tăng nhanh, và sự thăng bằng về các khả năng chiến tranh đang bắt đầu chuyển sang hướng thuận lợi của TQ. Những ưu điểm trong sức mạnh quân sự lâu nay đã và đang hổ trợ vị trí an ninh của Mỹ ờ Đông Á chẳng bao lâu sẽ là một chuyện của quá khứ.

Các Chiến Lược Thay Thế

Hiện có 3 cách, nói rộng ra, theo đó Mỹ có thể đáp ứng tới các sự gia tăng nầy:

_Tham Gia Chủ Quyền [*]

_Gia tăng sự Tham dự vào các định chế

_Tăng cường sự quân bình

Thứ nhất, được ưa chuộng bởi một số người tự cho là thuộc loại thực tế, làthừa nhận sự nổi bật của TQ và tìm kiếm một sự quản lý lưỡng cực chung xuyên qua vùng Thái Bình Dương sự quản lý chúng ấy sẽ bao gồm một sự thông cảm ngầm lên các phạm vi của sự ảnh hưởng. Mỹ có thể đồng ý, thí dụ, chấp nhận ưu thế của người Trung Quốc ở một nữa phía đông đất liền và hải đảo của miền Đông Âu và Đông Á để đổi lấy sự bảo toàn vị trí riêng của họ như một đấu thủ lãnh đạo trên vùng biển Đông Á. Một số nhà chiến lược người TQ bàn bạc rằng phạm vi của họ nên trải rộng vào trong biển Thái Bình Dương, có lẻ tới chuổi đảo thứ nhất chạy từ đỉnh phía nam Nhật Bản, xuống quá miền duyên hải phía tây của Phi luật Tân và Mã lai Á và bao gồm trong đó là Đài Loan và phần lớn Biển Đông.

Dù tốt hơn hay xấu, chẳng có sự thỏa thuận nào là có thể xẩy ra. Cho rằng sự lệ thuộc gia tăng của TQ lên các mặt hàng nhập khẩu thực phẩm, nhiên liệu, và những nguồn tài nguyên khác, Trung Quốc không thể trông đợi để chấp nhận một tình thế mà trong đó quyền lui tới vùng biển thì lệ thuộc vào thiện chí và đặc quyền của Mỹ. Về phần mình, Mỹ sẽ miễn cưỡng (không thích) nhường ưu thế ở một miền lãnh hải chứa đựng nhiều tài nguyên đang tranh cải, những hải lộ chủ yếu, và một số nước bạn bè theo chế độ dân chủ tin cậy vào Mỹ cho sự an ninh của họ.

Thay vì tìm kiếm một sự đồng ý vào các phạm vi ảnh hưởng, Washington có thể tăng gấp đôi nổ lực của họ vào sự tham dự. Những người bênh vực của chiến lược nầy, bao gồm hầu hết các nhân vật quốc tế dòng chính theo chủ nghĩa tự do, bàn luận rằng Mỹ và các quốc gia Á Châu khác nên làm nhiều hơn nữa để làm TQ trở thành một nước tham dự toàn phần vào trong hệ thống hiện hữu của các qui luật và các tổ chức quốc tế. Như nhà lý thuyết G. John Ikenberry cắt nghĩa, “Mỹ không thể nào ngăn cản sự trổi dậy của TQ, nhưng Mỹ có thể giúp bảo đảm rằng sức mạnh và quyền hạn của TQ được sử dụng phải nằm trong phạm vi những điều nội qui và các định chế mà Hoa Kỳ và các đối tác của nó đã thiết lập vào thế kỷ trước” [3]

Thêm vào niềm tin của họ trong những hiệu quả của các tổ chức quốc tế, hầu hết các nhà theo chủ nghĩa tự do cũng tin rằng sự cải thiện và dân chủ đang đến với TQ một cách không thể nào tránh được, chắc có lẻ không sớm thì muộn. Những cường quốc bên ngoài có thể không có khả năng để xúc tiến sự chuyển đổi nầy của TQ, nhưng họ có thể trì hoãn chuyện ấy nếu như họ chấp nhận và thực hiện các chính sách có tính chất phối hợp như hăm dọa hay không tôn trọng, kết quả là khơi dậy ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc và làm chậm lại tiến trình của sự tự do hóa.

Bởi vậy phe phái nầy đang dùng lý lẻ rằng, Mỹ nên thận trọng cực độ về chuyện thắt chặc những quan hệ với các đồng minh, tăng cường các lực lượng vũ trang của Mỹ trong các miền nầy, hay cố gắng làm chậm bớt sự thủ đắc các kỹ thuật vũ khí tối tân của Quân Đội Nhân Dân TQ. Bỏ qua vai trò riêng của họ trong sự khiêu khích châm ngòi cho một phản ứng của Mỹ, TQ sẽ xem các hành động nầy như là các hành động thù địch có khuynh hướng bao vây và kềm chế TQ. Bắc kinh sẽ xử dụng bất luận điều gì mà Washington đang làm để biện hộ cho hành động gia tăng quân sự của TQ và tập trung sự hổ trợ dành cho sự cai trị của đảng Cộng Sản được lâu dài.

Để từ chối ban cho TQ cơ hội nầy, một số nhà quan sát tin rằng Mỹ nên đi trước các biện pháp nầy. Nhưng hãy dễ dãi vào chuyện cân bằng và đặt nhiều sự chú trọng vào sự tham dự sẽ có nghĩa là hạ giảm bớt một vụ đánh cá cược không chắc. Nếu TQ tự do hóa khi sức mạnh của họ gia tăng, có nhiều khả năng của sự chạm trán sẽ lu mờ hay giảm sút, ngay cả những hình thức sâu xa hơn của sự tham dự và hợp tác có khả năng là có thể thực hiện được.

Sau cùng Washington có thể quyết định nhường đường cho một nước TQ dân chủ đang trổi dậy, [cũng giống như Anh đã chọn lựa để chấp nhận] ưu thế của Mỹ ở Bán Cầu Phía Tây vào cuối thế kỷ thứ 19. Nhưng nếu TQ gia tăng mạnh mẻ hơn mà không cải thiện, hay trở nên yếu kém, không còn ổn định và không thể tiên đoán được, các đồng minh của Mỹ và các lực lượng vũ trang triển khai tiền tuyến sẽ vẫn là những công cụ của chính sách của Mỹ. Thật là không khôn ngoan để cho phép TQ teo lại trên cơ bản của một lý thuyết chưa chắc chắn về sự dân chủ hóa của TQ.

Về mối lựa chọn thứ Ba: Một số biến đổi của đường lối được pha trộn mà Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi kể từ cuối cuộc chiến tranh lạnh? Lựa chọn nầy vẫn còn đem ra xủ dụng hiện nay, nhưng chúng ta nên điều chỉnh hỗn hợp các yếu tố mà phương pháp ấy bao hàm. Trong khi đẩy sự tham dự lên hàng đầu, chúng ta cũng cần cải thiện những nổ lực của chính phủ của TT Bush để duy trì “một cán cân quân bình về quyền lực để bênh vực và ưu đãi cho sự tự do” ở Châu Á. Đặt qua một bên những đặc tính bất thường có tính chất sự kiện, điều nầy có nghĩa là gì trong thực hành? Liên hệ tới Trung Quốc, có nghĩa rằng các nhà làm chính sách người Mỹ nên được huống dẫn bởi 3 nguyên lý.

Tiếp tục Tham Dự 

Thương mại và đàm phán có thể vẫn còn làm biến đổi TQ nữa: Cuối cùng, nền kinh tế thị trường và nền chính trị độc tài có thể chứng minh là kỵ nhau và không tương hợp.Trong lúc nầy, phần hùn mấu chốt của Trung quốc trong sự ổn định có thể làm các nhà lãnh đạo của họ cẩn thận hơn nữa về chuyện ủng hộ lòng vòng và có ý muốn nhiều hơn để hợp tác trong những đề tài quan tâm chung. Chính phủ của Obama nên tiếp tục tìm kiếm ra những lãnh vực nơi mà những niềm quan tâm giữa Mỹ và TQ trùng hợp nhau và làm việc chung nhau ở bất cứ nơi đâu có thể làm.

Sự tham dự không vượt qua được sự hữu ích, nhưng nó yêu cầu sự điều chỉnh và một sự định giá ngay thẳng, khách quan về các hiệu quả của nó. Thổi phồng qui mô của sự cải cách chính trị của Trung Quốc hay xếp đặt các mối quan tâm của TQ cùng với các mối quan tâm của các quốc gia dân chủ tiền tiến chỉ là dàn cảnh cho sự thất vọng và có hiệu quả ngược lại.

Tránh Những Chuyện Nhạy Bén Thái Quá

Những bước đầu (sáng kiến) có ý đồ làm gia tăng sức mạnh về vị trí của Mỹ ở Châu Á đang gây ra các cuộc phản đối và những lời cảnh báo mạnh mẻ từ Bắc Kinh. Những phản ứng của TQ đang được thu gom lại và lập đi lập lại bởi các người chủ trích ở Mỹ và ở Châu Á, những người nầy xử dụng chúng để tranh luận và thuyết phục chống lại làm bất cứ điều gì có thể làm chọc giận Trung Quốc.Trong khi sẽ là một lầm lỗi để gạt bỏ qua các lời tuyên bố của TQ là ngoài tầm kiểm soát, chấp thuận các điều ấy như là một giá trị bề ngoài (mà không chứng minh) thì có nguy cơ ban cho TQ một quyền phủ quyết hiệu quả về các hành động của Mỹ.

Những nhà chiến lược người Trung Quốc có khuynh hướng thổi phồng những điểm nhạy bén của họ, vẽ ra “các đường mực đỏ” rất rõ ràng trước các hành động mà họ xem xét như là không thể chấp nhận được. Bằng cách làm tê liệt hay ít nhất là làm chậm các đáp ứng tới việc gia tăng sức mạnh riêng của họ, TQ có thể hy vọng làm nghiên cán cân lực lượng có sẵn từ trước vào trong sự thuận lợi của họ song cho tới lúc nầy quyền ấy sẽ dường như không thể được thực hiện được nữa. Để ngăn chận điều nầy, các giới chức người Mỹ phải nên có đầu óc cứng rắn và sáng suốt đủ để biết sự khác biệt giữa những hăm dọa khoác lác ầm ỉ hay những hăm dọa thành thật.

Tiếp tục nói về các quyền lợi của con người (nhân quyền), dân chủ, và sự minh bạch.

Khi sự giàu có và quyền lực của TQ đã và đang gia tăng, hầu hết các chính quyền dân chủ đã và đang trở nên ít lên giọng chỉ trích Trung Quốc về sự thiếu tôn trọng các quyền tự do chình trị và các quyền cơ bản của con người. Hiện nay, những lời phàn nàn như thế được xem ra là không có hiệu quả và tự khoan dung mà còn có nguy hiềm cho các quyền lợi thương mại, Nước Mỹ vẫn còn cất cao tiếng nói chỉ trích TQ hơn hầu hết các quốc gia khác, nhưng phán xét từ sự đáp ứng chính thức bị câm lại về những tình trạng bất an tại Tây Tạng vào mùa xuân năm 2008, chuyện ấy đang trở thành đáng chú ý hơn.

Vì các lý do chiến lược cũng như các lý do đạo đức, sẽ là một lầm lỗi dể cho chủ đề chỉ trích ấy bị bỏ qua. Trong lúc khoe khoang khoác lác hay bắt nạt và lý thuyết, tụng niệm các câu thần chú về các đức tính của dân chủ thì không có ích, hay ngay cả vất bỏ hết các thành tích mà mình đã đạt được, Hoa kỳ không nên giữ thái độ im lặng trên những đề tài đó (vũ đàn áp Tây Tạng 2008- TH).

Thỉnh thoảng, những cuộc biểu tình có tổ chức đúng vào thời gian có các hành động ngược đãi được dùng để thông báo với Bắc Kinh rằng cả thế giới vẫn đang chăm chú nhìn vào và quan tâm vào chuyện Trung Quốc đối xử với các công dân của họ ra sao. Một chính sách ngoại giao công khai và khôn khéo hơn của Mỹ là giữ một vai trò quan trọng ở nơi đây, đó là nhắc nhở những nước khác về đặc trưng thật sự của chế độ cộng sản Trung Quốc và những giới hạn mà chế độ nầy áp đặt lên nhằm ngăn chặn các mối liên hệ giữa Trung Quốc và các nước dân chủ. Những bạn bè thật sự của nước Mỹ ở trong miền nầy vẫn còn là những quốc gia đồng minh theo chế độ dân chủ và các nhà lãnh đạo Hoa kỳ sẽ không bao giờ nên co cụm lại mà không nói lên tiếng phản đối như thế (trong vụ Tây Tạng).

Áp lực lên Trung Quốc cho những sự công khai to lớn hơn về các ngân sách quân sự và các kế hoạch của họ dùng để phục vụ cho một mục đích tương tự. Sự bí mật của TQ về đề tài nầy làm nổi bật lên đặc tính khép kín của chế độ nầy và nêu lên những câu hỏi hợp lý về mục đích sau cùng của sự gia tăng ngân sách dành cho quân đội của họ. Nếu các nhà làm chính sách Trung Quốc trở nên ngay thẳng hơn về các chương trình quân sự lâu dài của họ, những sự lo ngại của các nước làng giềng của họ sẽ hầu như lớn hơn –không nhất thiết là một điều xấu.

Một Chương Trình Nghị Sự Trong Miền Này

Đường lối của Mỹ hướng tới các nước làng giềng của Trung Quốc sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định trong miền nầy. Liên quan tới phần còn lại của Châu Á, Mỹ nên làm 4 điều:

Củng cố các mối liên hệ song phương.

Công việc quan trọng nhất của Mỹ ở Châu Á sẽ tiếp tục thi hành dựa trên cơ bản song phương, và các đối tác đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ sẽ vẫn là những quốc gia nói trên mà qua họ, Hoa Kỳ sẽ chia sẽ các nguyên tắc chính trị và các sự quan tâm.

Không có chút nào là lỗi thời, điều gọi là hệ thống “liên lạc với nhau và liên lạc xuyên qua một trung tâm” liên kết Washington với nhiều thủ đô khác nhau trong miền sẽ vẫn còn là chủ yếu tới chính sách Á Châu của Mỹ. Nhưng hệ thống nầy sẽ đòi hỏi những sự chú ý thướng xuyên và những sự củng cố mạnh hơn.

Chính phủ của Obam không nên tự cho phép mình xỏ mũi và đánh lừa bởi lời hứa hẹn xa xôi, không chắc chắn của những tổ chức an ninh mới mẻ của nhiều nước Á Châu. Thay vì đó, Hoa Kỳ nên tập trung vào làm mới lại đồng minh Nam Hàn và Mỹ, hồi phục lại các tiến bộ đã làm trong những năm gần đây hướng tới một đồng minh “bình thường” hơn với Nhật Bản, và tiếp tục xây đắp một quan hệ đối tác chiến lược chân thành với Ấn Độ. Trong vài ba năm tới đây, Mỹ cũng nên mở rộng và làm sâu đậm các mối liên hệ của họ với Indonesia, một nước dân chủ vừa nổi lên mà – cùng với Úc – nên gia tăng thành một vai trò lãnh đạo ở miền Đông Nam Á.

[Cập nhật cuối năm 2011: TT Obama và bà Clinton đã đi theo đường lối này. Họ đã tăng cường hợp tác với Nam Hàn và Nhật. Đồng thời Mỹ thiết lập căn cứ hải quân ở Singapore năm 2011. Mỹ đã tặng 2 chiến hạm tối tân cho Phi luật Tân và Phi mời Mỹ vào đóng quân trên đất nước này. TT Obama ghé thăm Úc và cả hai nước cùng tuyên bố thiết lập căn cứ quân sự ở miền Bắc nước Úc và Úc đồng ý cho 2500 TQLC Mỹ đồn trú ở Úc. Mỹ bình thường hóa  ngoại giao với Miến Điện và tách Miến Điện khỏi quỹ đạo của TQ. Vào tháng 12, 2011, Hoa Kỳ và 8 thành viên khác của APEC dự trù sẽ loan báo một thỏa thuận khung cho một nhóm mậu dịch nhỏ hơn, đó là nhóm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, mục đích giảm thuế nhập khẩu cho các quốc gia Đông Nam Á; trước đó TQ đinh ninh là  Mỹ sẽ mời TQ gia nhập nhóm này, nhưng TT Obama nói nếu TQ muốn gia nhập thì “hãy làm đơn xin”. Lời phát biểu công khai của TT Obama đã làm các nhà lãnh đạo TQ bẻ mặt, và hiểu rằng họ bị loại trừ ra khỏi nhóm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương].

Thắt Chặt Mối Quan Hệ Giữa các quốc gia dân chủ ở Á Châu

Sự nghèo nàn của các tổ chức quốc tế ở Á Châu so sánh vói Âu Châu đã và đang là một đề tài của nhiều sự thảo luận kể từ khi có sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh.

Nhiều phương cách đã và đang được đề nghị: Một Cộng đồng Đông Á lấy kiểu mẫu từ Liên Hiệp Âu Châu, một sự phối hợp của các cường quốc chính của Đông Bắc Á Châu sẽ bao gồm ít nhất năm trong số sáu quốc gia tham dự trong cuộc Đàm Phán Sáu Bên (Mỹ, TQ, Nhật, Nga, và Nam Triều Tiên), và các quốc gia khác. Với điều kiện rằng Mỹ có một ghế tại bàn hội nghị nầy, Mỹ không có lý do để phản đối tới bất cứ những sự đề nghị nào, nhưng Hoa kỳ không nên trông cậy vào các tổ chức rộng rải và mới mẻ trong miền nầy để bảo đảm các quyền lợi của họ hay gìn giữ hòa bình.

Tốt hơn nhiều cho những mục đích nầy là một tầng lớp mới của sự liên lạc liên kết các nước dân chủ ở Châu Á lẫn nhau và liên kết tới Hoa Kỳ. Các nước dân chủ nầy có nhiều điều để bàn luận giữa họ, hay ít ra là làm sao họ sẽ phối hợp các chính sách ngoại giao, đầu tư và viện trợ ngoại quốc của họ để khuyến khích sự lan tràn của dân chủ tự do khắp miền nầy.

Sự trổi dậy của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng nhất về nhu cầu để phối hợp một cách có hiệu quả hơn. Nếu các quốc gia dân chủ hy vọng quân bình được sức mạnh đang gia tăng của TQ, các quốc gia nầy nên đóng góp các tài nguyên của họ.

Một số cơ chế đã được đề nghị nhằm đạt được những mục đích nầy, thí dụ như một số quốc giaÁ châu nên hợp lại thành một khối tương đương với khối NATO, thì không thích hợp hiện nay. Không tiên đoán được tương lai của TQ ra sao và những niềm quan tâm hợp lý về chuyện khiêu khích TQ một cách không cần thiết đang làm cho đề nghị này trở thành một ý kiến không được chấp nhận. Tuy nhiên, một cộng đồng của các quốc gia dân chủ ở Á Châu sẽ có một lợi thế mềm dẽo hơn và có thể là một phần của một liên minh lớn toàn cầu của các quốc gia có suy nghĩ như họ.

Những ai phản đối lại ý kiến nầy trên cơ sở cho rằng sự hình thành tổ chức như vậy thì có tính chất “chia rẻ” hay gây hấn với các chế độ độc tài thì nên nhớ lại rằng khối Cộng đồng Châu Âu hiên nay là một tổ chức quốc tế có các điều kiện chính trị rất nghiêm khắc khi gia nhập.

Thực tế rằng Trung Quốc đã và đang thiết lập một câu lạc bộ riêng của họ dành cho các chính quyền ở Trung Á (Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – thành lập 1996 và 2001, gồm 6 nước, Nga và Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan and Uzbek [6]) sẽ làm nhẹ bớt những quan tâm về chuyện thành lập một nhóm các quốc gia dân chủ ở Á Châu.

Hướng tới sau cùng, Mỹ nên tập trung vào các thời kỳ ngắn hạn về chuyện cổ vỏ sự liên lạc và hợp tác giữa những nhóm nhỏ ngoại biên đã và đang nổi lên khắp miền nầy. Hoa Kỳ và Nhật Bản là những đồng minh. Nhật và Ấn Độ đã và đang hội họp với nhau trên rất nhiều lãnh vực nhạy bén, cũng như là Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng họp nhau. Tại sao lại không tổ chức những cơ hội cho các viên chức của cả 3 quốc gia ngồi lại cùng nhau? Những cuộc hội nghị thường xuyên giữa Nhật, Mỹ và Nam Hàn đã và đang đổ vỡ trong những năm gần đây vì những mối căng thẳng giữa Tokyo và Seoul. Tổng thống Obama nên thử hàn gắn và làm lành lại những mối bất đồng nầy và phục hồi lại một cuộc đàm phán chiến lược tay ba giữa các quốc gia dân chủ của miền Bắc Á Châu nầy. Nếu các nước khác như Úc muốn tham gia vào trong các cuộc bàn thảo, thì quá tốt đẹp.

Mục đích của tất cả cuộc đối thoại và hợp tác sẽ là cổ vỏ những bàn luận thành thực giữa các chính quyền có cùng suy nghĩ và và thiết lập các cơ chế ngoại vi đa phương và thường xuyên liên lạc nhằm chia sẽ tin tức, xem xét lại các chọn lựa trong những biến cố khác nhau, và thiết lập một phương pháp chung để liên lạc và có thể tham gia vào các cuộc hành quân tập trận. điều trở nên cần thiết trong biến cố này là để củng cố những mối quan hệ nầy gần gủi hơn tương tự như một liên minh theo truyền thống, hầu hết những điều cơ bản cần yếu sẽ được đưa ra. Chắc chắn Trung Quốc sẽ không thích bất cứ điều gì liên quan đến chuyện nầy,nhưng sẽ không ngăn cấm các quốc gia dân chủ tự bảo vệ mình và tự bảo đảm các quyền lợi của họ.

Duy Trì Sự luân chuyển tự do của các hàng hóa và con người

Chống lại chủ nghĩa bảo vệ mâu dịch thì có tính chất chủ yếu để duy trì mối quan hệ tốt đẹp nhất với TQ, nhưng bảo vệ mậu dịch cũng cần thiết cho sự sống còn để chống lại nền kinh tế đang gia tăng của TQ đang thu hút vào. Nếu Hoa Kỷ đòng chặt thị trường của mình không cho các hàng nhập cảng và các đầu tư của Á Châu vào Mỹ, miền nầy sẽ trở thành lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Ngoài sự cung cấp những phúc lợi kinh tế cho các nước liên quan, sự mở cửa thị trường của Hoa kỳ sẽ làm yếu đi những nổ lực của TQ trong việc tự đặt họ vào tâm điểm của một khối kinh tế độc quyền trong miền nầy.

Tương tự như thế, nhưng sự luân chuyển của con người cũng phải được tự do. Khi TQ tiếp tục xây dựng lên những viện đại học thành công, các phòng thí nghiệm và các khu công nghệ tiên tiến, TQ sẽ trở thành một nam châm hấp dẫn nhiều người có tài năng và tham vọng khắp Á Châu và thế giới. Nếu ý kiến chông lại việc di dân và sự lo sợ chủ nghĩa khủng bố tạo ra kết quả là những hàng rao cao khi vào nước Mỹ, chúng ta có thể tự mình tước đoạt dòng nhập cư đều đặn của những người di dân tài ba và nhiều tham vọng, họ luôn luôn là một trong những ưu điểm có giá trị nhất trong sự cạnh tranh toàn cầu về khoa học và kỹ thuật.

Vị trí của nước Mỹ cũng như quyền lực của người Á Châu không chỉ nằm trong các quyền lợi kinh tế và quan tâm chiến lược nhưng còn trong những mối quan hệ mạnh mẻ về gia đình, niềm tin, và kinh nghiệm cá nhân. Trong mấy chục năm qua những mối quan hệ nầy đã và đang buộc chặc Hoa Kỳ với Nam Hàn, Nhật bản, Úc và Philippines. Ngày nay, những mối liên hệ ấy đang liên kết Hoa kỳ với Ấn độ và TQ. Nếu những mối liên hệ ấy đơm hoa kết quả, chúng nên được thường xuyên nhắc nhở và làm cho tươi mát lại. Đối với Hoa Kỳ, sự cởi mở là một nguồn sức mạnh vĩnh viễn của quốc gia cũng giống như dấu hiệu của sự tự tin lâu dài.

Gia tăng các khả năng Quân Đội

Yếu tố sau cùng trong một chiến lược ở bình diện rộng cho Châu Á có thể chứng minh là rất khó lòng để thưc hiên. 10 năm tới đây, và chắc có lẻ là lâu hơn nữa, Mỹ sẽ phải làm nhiều để đáp ứng tới khả năng về sự gia tăng quân sự của TQ – bởi vì Mỹ cần tránh các lựa chọn của mình sao cho khỏi bị thu hẹp lại trong những cuộc khủng hoảng có thể xẩy ra, và cũng để bảo đảm rằng những đồng minh và các kẻ thù không mất niềm tin vào những bảo đảm an ninh của người Mỹ. Nếu không có quyền lực đáng tin cậy của Hoa Kỳ trong miền nầy, một số các quốc gia đồng minh đã có thể lựa chọn giải pháp đơn phương và căng thẳng như thủ đắc các vũ khí hạt nhân. Các quốc gia khác đã có thể tìm kiếm sự dàn xếp tốt nhất với Bắc Kinh. Các viễn cảnh cho sự truyền bá tự do sẽ phai mờ, và các nguy cơ của mâu thuẩn sẽ gia tăng.

Các mối quan tâm thì rõ ràng, những chướng ngại vật để đưa ra hành động thích hợp sẽ cao. Cho rằng giá cả quá cao dành cho việc duy trì quân đội hiệu lực ở vùng Thái Bình Dương – đặc biệt khi quốc gia nầy sẽ bị siết chặt ngân sách bởi nền kinh tế đang gặp khó khăn –áp lực để đối phó và giải quyết những khó khăn ở trong nước cần thiết hơn và có thể khuyến dụ các chính phủ trong tương lai làm ở mức tối thiểu. Điều nầy sẽ là một canh bạc đầy nguy hiểm. Trong thời đại mà các nhà lý thuyết và các nhà ngoại giao đang ham mê “quyền lực mềm mỏng”, sự cân bằng về vũ khí vẫn mang tính quyết định. Các nhà lãnh đạo quốc gia có trách nhiệm không có sự lựa chọn nào ngoại trừ phải đi theo điều ấy

Bản Dịch @Trần Hoàng 2008

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

*************

[1] Victor Cha, “Chiến Thắng Châu Á” Tạp chí Đối Ngoại (tháng 11 và 12/ 2007)

[2] Văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng, Bản Báo Cáo Hàng năm tới Quốc Hội: Quân Lực của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc 2008

[3] Ikenberry, “Sự Trổi Dậy của Trung Quốc và Tương lai của Phương tây” Hệ Thống Các nước Tự Do có thể Tồn tại?

Tạp Chí Đồi Ngoại (tháng 1/ tháng 2, năm 2008)

[4] TQ đã cố tình giảm giá trị đồng nhân dân tệ để có lợi thế trong xuất khẩu. Ở bên trong TQ, có nhiều hàng hóa xuất cảng sang Mỹ, và khi bán thì thu ngoại tệ đô la càng nhiều ở Hoa Kỳ; Ngược lại, vì giá đô la cao hơn nhân dân tệ, hàng hóa Hoa kỳ ở TQ trở thành quá đắt giá, dân chúng TQ không thích mua hàng cuả Mỹ. Hàng của Mỹ cũng không cạnh tranh được với hàng hóa của các nước khác ở TQ.

The American Interested LLC 2006

———————————————————

Những con hổ nguy khốn: Châu Á cần một động lực mới cho tăng trưởng

Cơ hội có thật nào cho Việt Nam trong khủng hoảng?

Sự thật về mô hình phát triển của Trung Quốc
dưới góc nhìn từ hai ký giả người Âu

3-2-2009

Văn Ngọc

Tia Sáng

Trong khi dư luận quần chúng, cùng các kênh thông tin và truyền thông ở phương Tây lại không ngớt lời ca ngợi những cái hay, cái giỏi của đất nước này về mọi mặt thì hai tác giả Pierre Cohen và Luc Richard xuất thân là nhà báo và nhà văn đã từng sống ở Trung Quốc và biết tiếng quan thoại, hiểu biết rộng về kinh tế, với cặp mắt quan sát sắc sảo của mình, họ đã đi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội Trung Quốc để tìm hiểu một thực tế vô cùng tế nhị và phức tạp để viết một cuốn «La Chine sera-t-elle notre cauchemar?» (Ed. Mille et Une Nuit – Paris 2005, tái bản 5-2008) đầy ắp thông tin và dày công phân tích nhằm chỉ ra những khuyết tật trong mô hình phát triển hiện nay của Trung Quốc.


Người ta có thể nghĩ rằng, trước hết hai tác giả này muốn nói lên một sự thật, một thực tế, mà trong nhiều năm ở phương Tây, báo chí, cùng các cơ quan truyền thông và một số người có chức quyền vẫn cố tình che giấu, hoặc tô hồng, vì dẫu sao, người ta cũng cần cái thị trường khổng lồ này trong một nền kinh tế toàn cầu hoá.

Cũng có thể, do một bản năng tự nhiên, hay một tinh thần dân tộc chủ nghĩa nào đó, các tác giả muốn vạch ra những yếu kém của mô hình phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc, để cảnh báo các xã hội phương Tây.

Cũng có thể, họ còn có một tầm nhìn rộng hơn nữa, một tầm nhìn có tính chất chiến lược, ở qui mô toàn cầu.

Nhưng cũng có thể, đó chỉ là do một sự thôi thúc nội tâm có tính chất đạo lý, vì sự thật, vì hạnh phúc của con người, và tương lai chung của cả loài người?

Tác phẩm được viết như một thiên phóng sự, một nhân chứng. Nó không chỉ nêu lên những hoàn cảnh cụ thể, có thật, nói lên những điều mà những con số thống kê không thể nói lên hết được, mà còn truyền được tới người đọc một dòng suy nghĩ, một nỗi lo âu, một lời cảnh báo.

 

 

 

1/ Nạn thất nghiệp ở thành thị

 Từ những năm 90 của thế kỷ trước, với những bước đầu của quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh TQ bị dẹp bỏ, nhường chỗ cho các xí nghiệp tư nhân. Hàng triệu công nhân bị sa thải. Năm 1998, chỉ riêng trong khâu dệt may, có 660.000 người bị rơi vào hoàn cảnh này; trong lãnh vực dầu khí, 1 triệu người. Các nhà máy cũ nhường chỗ cho các nhà máy mới do nước ngoài đầu tư xây dựng. Công nhân quá 35 tuổi không được nhận vào xưởng làm việc nữa. Một ngày công không phải là 8, 9 giờ, mà là 11, 12 giờ. Công nhân bị sa thải được gọi là xiagang (« hạ cương», từ được tạo ra để làm nhẹ bớt cái ý bị đuổi việc – cương đây là cương vị).

Chủ trương dẹp bỏ các xí nghiệp quốc doanh thực ra đã bắt đầu được thực hiện ngay từ những năm 80 và do chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý. Sự kiện này diễn ra cùng một lúc với việc Đặng Tiểu Bình cho thực hiện chính sách phân quyền về các địa phương. Cũng là một công đôi việc, tránh cho Trung ương khỏi mang tiếng! Nhưng cũng từ đó, nạn tham nhũng lan tràn về các địa phương.

Theo một cuộc điều tra gần đây của Nhà nước, thu nhập bình quân của những người giàu có nhất ở thành thị, lớn hơn gấp 12 lần thu nhập của những người nghèo; 10% nhà có của ở thành thị, chiếm 45% tổng số tài sản, trong khi 10% những người nghèo nhất chỉ chiếm có 1,4% số tài sản này.

Ở các thành phố lớn vùng đông-bắc, nạn thất nghiệp chiếm từ 20 % tới 30% dân số. Ở Phong Đô, một thành phố mới được xây dựng lại một cách rất hoành tráng ở bờ nam sông Dương Tử, gần đập thuỷ điện Tam Hiệp, tỷ lệ này lên tới 60, 70%, vì trên thực tế, đây là một thành phố chết, hoàn toàn thiếu vắng mọi hoạt động kinh tế.

50 năm sau «Bước nhảy vọt» (1958) – một sai lầm về đường lối công nghiệp hoá, đã khiến hàng mấy chục triệu nông dân bị chết oan (nạn đói những năm 1959-1961) – các nhà lãnh đạo địa phương Trung Quốc vẫn còn nghĩ rằng, chỉ cần hô hào, động viên bằng lời nói, là có ngay những người hăng hái đầu tư.

 

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương Tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6USD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

Vấn đề thất nghiệp được tóm gọn lại trong một phương trình đơn giản: năm 2004, số người thất nghiệp là 14 triệu, thêm vào đó là 10 triệu người từ nông thôn đổ ra thành thị kiếm sống hàng năm (Năm 2005, con số này lên đến 13 triệu người). Để đáp ứng nhu cầu, phải cung cấp 24 triệu công ăn việc làm cho những người này, điều mà cho đến nay các giới hữu trách mới chỉ bảo đảm được có một phần ba mà thôi.

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6U SD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

2/  Nạn thất nghiệp ở nông thôn (mingong = «dân công» , từ mới để chỉ những người thất nghiệp từ nông thôn đổ lên thành thị kiếm sống, và thường tụ tập ở các chợ lao động («chợ người»), hay ngay trên hè phố – từ này khác với từ dân công trong tiếng Việt, được dùng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam) :

Hiện nay, Trung Quốc có dân số trên 1,3 tỷ người, mà hai phần ba là nông dân, tức là số nông dân có tới 900 triệu người, trong số đó 600 triệu sống bằng nghề trồng trọt, trên những mảnh ruộng nhỏ li ti.

Năm 1978, Trung Quốc phát động phong trào hiện đại hoá nông thôn, bãi bỏ chính sách tập thể hoá. Người nông dân được phát ruộng, phát đất để trồng trọt, được đem nông phẩm ra chợ bán tự do. Ngay từ năm 1980, đời sống của người nông dân có những bước biến chuyển. Nhưng đến khoảng năm 1990, không thấy người ta bàn bạc, đả động gì đến nông thôn nữa, mà chỉ chú trọng đến sự phát triển của các đô thị, của các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, và đương nhiên là đến quá trình toàn cầu hoá.

Năm 2004, người ta được thống kê cho biết rằng số dân nghèo đến mức tối đa (tính theo tiêu chuẩn: dưới 75USD/người/năm), lần đầu tiên đã tăng lên sau 25 năm, và đa số những người này là nông dân.

Một vài thí dụ cho thấy sự nghèo khổ tột cùng của họ. Một cậu học sinh trung học ở một huyện lị kia, vì không có tiền để trả tiền học, đã lao mình xuống gầm xe lửa tự tử. Trước đó một hôm, ông đốc trường đã không cho phép cậu thi lên lớp, và bảo rằng : « Không có tiền, không được học ».

Vào mùa xuân năm 2005, đã nổ ra những vụ tranh giành đất đai giữa nông dân và các quan chức địa phương, cũng như đã có những cuộc biểu tình của nông dân chống việc các nhà hữu trách đã để cho các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường của mình.

Như vậy, là sau một thời gian ngắn ngủi, làm ăn bắt đầu khấm khá trở lại vào những năm 80, tình hình nông thôn lại một lần nữa xuống cấp : thuế má ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng, học phí cho con cái tăng, các dịch vụ y tế thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, nạn thất nghiệp tràn lan.

 

Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

Hố sâu giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

Nếu tính theo tiêu chuẩn đầu người, mỗi nông dân phải có được 0,66 ha đất nông nghiệp mới có thể làm ăn sinh sống được ở nông thôn. Con tính đơn giản này cho thấy nông thôn Trung Quốc thừa 170 triệu người. Thừa người ở nông thôn, thì người ta chỉ còn cách kéo nhau lên thành thị làm dân công.

Dân công không phải là một người vừa là nông dân, vừa là công nhân. Họ không là gì cụ thể cả. Họ không phải là nông dân, mà cũng không phải là công nhân. Họ làm công nhật,  không có hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội, hôm trước hôm sau có thể bị đuổi, mà không kêu ca được với ai. Họ bị cấm không được phép làm một số nghề (danh sách các nghề bị cấm năm 1996, tại Bắc Kinh, là 15 nghề, đến năm 2000 con số này lên tới hơn 100) . Một ngày lao động của họ có khi là 10, 12 tiếng , có khi là 15 tiếng. Họ không có quyền hưởng luật lao động. Một dân công muốn có được một chỗ làm việc, phải « mua » các giấy tờ, thủ tục hành chính, với giá 640 nhân dân tệ, bằng 2 tháng lương. Chế độ « hộ khẩu » được áp dụng chặt chẽ đối với họ.

Mặc dầu vậy, với giá nhân công rẻ mạt, họ đã « được » khai thác có hiệu quả trong các ngành công nghệ xuất khẩu, nơi mà TQ phá kỷ lục về giá thành sản phẩm.

 

Dân công  là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800 nhân dân tệ (80Eu ro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

Dân công  là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800nhân dân tệ (80Euro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

Nhà nước TQ dự kiến, trong vòng 20 năm,  giảm số nông dân xuống chỉ còn 30% số người lao động của cả nước. Dự kiến này xem ra không thực tế lắm, vì nếu như vậy thì phải chấp nhận hàng năm sẽ có tới 26 triệu nông dân kéo nhau lên thành thị sinh sống, trong khi lúc này chỉ có từ 10 đến 13 triệu. Dẫu sao, dòng thác dân công – mà người ta ước lượng khoảng từ 150 đến 200 triệu – vẫn sẽ đổ vào các thành thị, và giá nhân công nhờ đó sẽ giữ được ngày một rẻ.

Không những nông thôn thiếu đất trồng trọt, mà diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại bởi những xí nghiệp, nhà máy, được di dời về đây. Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. 190 triệu nông dân sống trong một môi trường không lành mạnh, nước sông, nước hồ phần lớn đều bị ô nhiễm.

 

3/ Số phận của những người nữ dân công

 

 

Ở Trung Quốc, những nơi phải sắp xếp, tổ chức lại các xí nghiệp quốc doanh bị dẹp bỏ, phụ nữ là những người đầu tiên bị sa thải hoặc di chuyển. Trong các ngành kỹ nghệ, điều kiện làm việc của những người nữ dân công còn tồi tệ hơn là của nam dân công nhiều. Không lấy gì làm lạ, là sau một thời gian, một số không nhỏ các nữ dân công đã phải bỏ đi làm gái điếm.

Hiện tượng mãi dâm của các cô gái từ nông thôn lên thành thị , từ hơn 20 năm nay, đã trở nên một hiện tượng bình thường dưới mắt mọi người. Phần lớn các cô này đều đã trải qua một thời kỳ làm dân công. Quan hệ tình dục đã trở thành hàng hoá trao đổi, hoàn toàn phù hợp với tâm thức coi đồng tiền là quyền lực tối cao, coi cuộc đời là tiêu xài, hưởng thụ, con người là hoàn toàn vô trách nhiệm đối với xã hội.

Nhiều người – trong đó có những khách du lịch rất nhiệt tình và hồ hởi – khi được viếng thăm các thành phố Trung Quốc, theo các tuyến « tua », cứ ngỡ rằng những biến đổi về mặt xã hội ở những nơi này cũng là những biến đổi chung cho cả đất nước Trung Hoa. Thật ra, không phải thế. Đó chỉ là cái mặt tiền.

Cuộc sống ở đô thị có thay đổi thật, người phụ nữ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn để học hành và làm việc, nhưng Trung Quốc chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp. Ở những vùng trung tâm, như Hồ Nam, An Huy, v.v., nông thôn vẫn không mấy thay đổi. Vẫn những cuộc hôn nhân sắp đặt sẵn, cô dâu về nhà chồng rồi, liền bị cắt đứt liên hệ với gia đình nhà mình. Vẫn những vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em giữa vùng này và vùng khác. Vẫn cái truyền thống «  trọng con trai, khinh con gái ». Chính sách giới hạn « một con » của Nhà nước, khiến cho các cặp vợ chồng phải chọn lựa. Trên 7 triệu trường hợp phá thai mỗi năm, 70% là thai con gái. Vai trò của người mẹ, người vợ, trong nhiều gia đình nông dân đôi khi chỉ dừng lại ở vai trò của người hầu, người ở. Từ những năm 80, sau khi chế độ hợp tác xã bị dẹp bỏ, trở lại phương thức canh tác kiểu gia đình, vai trò của người phụ nữ lại càng bị chèn ép. Bắt đầu từ năm 1990, sự xuống cấp của các khâu giáo dục và y tế ở nông thôn càng làm cho họ bị thiệt thòi. Do sự phân biệt chọn lựa vì quyền lợi kinh tế giữa con trai và con gái, tỷ lệ thất học về phía nữ là 23% năm 1997 (49% năm 1982) ; về phía nam là 9% (21% năm 1982).

 

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.   

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.   

 

4/ Giáo dục bị « hy sinh » cho kinh tế

Ở thời đại ngày nay, biết đọc, biết viết không đủ, còn phải biết đôi chút khái niệm khoa học kỹ thuật, phải biết sinh ngữ, để có thể tiếp thu được những công nghệ nhập từ nước ngoài, v.v. Trên thực tế, nhà nước Trung Quốc đã không thực sự quan tâm đến vấn đề này. Năm 2003, ngân quỹ dành cho giáo dục chỉ chiếm có 3,8% tổng sản lượng công nghiệp.

Ngay từ 1999, tại một Hội nghị của Bộ Giáo dục, một chủ trương đă được đề ra, là khuyến khích các gia đình tăng thêm ngân quỹ cho việc giáo dục con cái. Ý đồ là đi đến việc tư lập hoá các trường học. Ở các vùng nông thôn nghèo, các khoản chi phí cho việc học của con cái đối với các bậc cha mẹ lại càng lớn. Cũng bởi vì chỉ có 23% ngân sách giáo dục của nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

 

Chỉ có 23% ngân sách giáo dục của Nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

Trong một công trình nghiên cứu về gia đình người nông dân, Isabelle Attané, thuộc Trung tâm nghiên cứu dân số,  viết : « Trong một hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nhiều hơn là nhu cầu xã hội, thì những người dân nghèo khổ nhất, những người không được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, phải trả giá đắt nhất ».

Chính sách của Nhà nước về giáo dục như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cách về trình độ văn hoá ngày càng xa giữa thành thị và nông thôn (mức sống ở thành thị hiện nay cao gấp 6 lần mức sống ở nông thôn), cũng như giữa con trai và con gái (nạn thất học chiếm 6,6% giới trẻ ở nông thôn, trong đó có 3,6% là con trai, 10% là con gái).

 Điều đáng lo ngại nhất, là giáo dục vốn được coi là một công cụ có khả năng đưa tầng lớp nông dân thoát khỏi nạn nghèo đói, thì nay lại không tới được với họ nữa. Theo Philippe Cohen và Luc Richard, họ vẫn chỉ là một kho dự trữ nhân công rẻ tiền– một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm mới, rẻ, dễ cạnh tranh, dễ kiếm lời trên thị trường toàn cầu hoá.

 

5/ Khó khăn trong việc áp dụng luật pháp

Điều mà các nhà lãnh đạo TQ phải lo thực hiện trước tiên, là làm sao áp dụng được luật pháp, nói chung, trên đất nước mình ! Trong mọi lãnh vực, từ kinh tế, lao động, đến môi trường, có luật pháp là một chuyện (mặc dầu đôi khi luật pháp cũng còn rất mù mờ), nhưng áp dụng nó lại là một chuyện khác.

Chỉ cần lấy một thí dụ : công nghệ làm hàng lậu quy mô quốc tế, chẳng hạn. Người ta cho rằng hiện tượng này chỉ có thể xảy ra với sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của những quan chức địa phương mà thôi.

Các luật lao động thông thường cũng không áp dụng được giữa chủ và thợ, vì luôn luôn có sự can thiệp của chính quyền địa phương bênh vực quyền lợi của ngườI chủ, kẻ có tiền. Lương lậu của thợ thuyền, đặc biệt là của những người dân công, luôn luôn bị trả chậm.

Nhìn chung, ít nhất một nửa số nhân công làm việc trong các xí nghiệp ở quy mô quốc gia, không được hưởng luật pháp. Tại sao lại có tình trạng như vậy ? Đơn giản chỉ vì, nếu tất cả các xí nghiệp áp dụng luật lao động, thì Trung Quốc sẽ mất đi con chủ bài (nhân công rẻ) để cạnh tranh trên thị trường.

Trong lãnh vực môi trường cũng vậy. Sự áp dụng khe khắt các luật lệ về môi trường sẽ động chạm đến các quyền lợi kinh tế. Do đó, luật pháp trong lãnh vực này cũng được để lỏng lẻo, và tuỳ ở các cơ quan hữu trách địa phương có muốn áp dụng hay không. Trường hợp ô nhiễm ở sông Hoài, vùng Hồ Nam, An Huy, là một thí dụ điển hình. Năm 1994, chính quyền Trung ương hạ lệnh làm sạch con sông này, vì cả một vùng dân cư gồm 160 triệu dân bị ô nhiễm. Trên giấy tờ, hàng nghìn xưởng máy bị đóng cửa, di chuyển, hoặc cải tạo theo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm. 60 tỉ nhân dân tệ đã được chi ra cho công việc này, nhưng cho đến nay con sông Hoài vẫn bị ô nhiễm hơn bao giờ hết. Đối với chính quyền, thì vấn đề như vậy là đã giải quyết xong rồi : sổ tiền 60 tỉ nhân dân tệ (6 tỉ Euro) đã được chi ra, và vấn đề đã được xoá sổ.

***

Tác phẩm của Philippe Cohen và Luc Richard còn đề cập đến nhiều vấn đề khác nữa, liên quan đến tác hại của mô hình phát triển của Trung Quốc lên nền kinh tế toàn cầu. Song vì giới hạn của bài viết, chúng tôi đã chỉ tập trung trình bày những nhân chứng và nhận xét của các tác giả trên những vấn đề mà chúng tôi cho là liên quan trực tiếp đến Việt Nam, để chúng ta cùng suy nghĩ.

—————–

 

Những con hổ nguy khốn: Châu Á cần một động lực mới cho tăng trưởng

 

Tqvn2004 chuyển ngữ
Bien-Tap biên tập

http://danluan.org/node/49

 

The Economist

 

Lời giới thiệu: Sự đi xuống của thị trường tiêu dùng Mỹ và Châu Âu đã có ảnh hưởng tiêu cực tới những nền kinh tế Châu Á vốn dựa vào thu hút FDI và chính sách hướng xuất khẩu. Theo báo cáo mới đây của chính phủ, kim ngạch xuất khẩu tháng Một năm 2009 giảm 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi đó lượng FDI vào Việt Nam trong tháng Một chỉ bằng 11% của năm ngoái. Khi thị trường bên ngoài tiêu điều như vậy, thị trường nội địa là một trong những động lực để thúc đẩy nền kinh tế. Làm thế nào để kích cầu nội địa? Lời khuyên của tờ The Economist dành cho các con Hổ Châu Á có lẽ cũng đáng để Việt Nam học hỏi. Tòa soạn Dân Luận xin giới thiệu tới bạn đọc bản dịch này của tạp chí The Economist.

 

 

 

CÓ VẺ NHƯ chẳng có sự công bằng. Đa số các nền kinh tế Châu Á đều là điển hình của sự khôn ngoan. Trong khi các gia đình Mỹ và Châu Âu vay nợ ngập đầu, các gia đình Châu Á chắt chiu cất dấu những khoản dành dụm của mình. Trong khi các ngân hàng ở các quốc gia giàu có đang chất chồng các khoản đầu tư không thể rủi ro hơn, thì các ngân hàng Châu Á luôn kiềm chế để những khoản đầu tư như vậy ở mức thấp nhất. Và trong khi Mỹ và Anh đang vét cạn những khoản dành dụm trên toàn thế giới, chính phủ Châu Á mua vào số lượng lớn cổ phiếu – trái phiếu chính phủ nước ngoài bằng khoản dự trữ ngoại hối.

Thế nhưng nhiều con hổ Châu Á lại bị tổn thương nặng hơn những nền kinh tế “vung tay quá trán” Phương Tây. Trong quý Tư năm 2008, GPD có lẽ đã rớt với tốc độ trung bình bình quân cả năm khoảng 15% ở Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan; lượng xuất khẩu của họ sụt giảm hơn 50% bình quân cả năm. Giá cổ phiếu tại các nước Châu Á đang phát triển giảm một lượng tương đương với đợt khủng hoảng tài chính Châu Á cách đây một thập niên. Cuộc khủng hoảng đó đã bắt nguồn từ sự phụ thuộc quá đáng của Châu Á vào vốn nước ngoài. Bây giờ đây, những con hổ lại gặp rắc rối vì phụ thuộc một cách quá đáng vào xuất khẩu.

Các nền kinh tế đang nổi lên ở Châu Á đã từ lâu được coi là khu vực năng động nhất của thế giới, với GDP tăng bình quân hàng năm 7.5% trong thập niên vừa qua, nhanh gấp 2.5 lần so với toàn thế giới. Chỉ trong mùa hè vừa rồi, nhiều quốc gia trong số này đã được cảnh báo bởi những nhà quan sát nước ngoài rằng họ tăng trưởng quá nhanh và cần tăng lãi xuất để tránh lạm phát. Bây giờ đây, rất nhiều trong số các quốc gia này đang rơi tự do và tình hình có vẻ ngày càng tồi đi.

Trong quý Tư năm 2008, GDP thực giảm với tốc độ so với cả năm là 21% ở Nam Hàn và 17% ở Singapore, dẫn tới lượng sản phẩm ở cả hai quốc gia giảm 3-4% so với năm ngoái. Chính phủ Singapore đã thừa nhận rằng nền kinh tế nước này có thể suy giảm tới 5% so với năm ngoái, đây là lần suy thoái nặng nề nhất kể từ ngày độc lập của Singapore năm 1965. So với Singapore, tăng trưởng 6.8% của Trung Quốc trong năm nay cho tới quý Tư nghe có vẻ lành mạnh, nhưng những ước đoán có điều chỉnh thời vụ cho thấy sản lượng đầu ra của quốc gia này đã chững lại trong 3 tháng cuối năm.

Anh chàng khổng lồ giàu có hơn ở Châu Á, Nhật Bản, chưa báo cáo con số GDP của mình, nhưng xuất khẩu giảm 35% trong 12 tháng cho tới tháng 12. Trong cùng thời gian đó, Đài Loan giảm 42% và sản xuất công nghiệp giảm kinh hoàng 32%, tệ hơn cả cú rớt lớn nhất tính theo năm ở Mỹ trong thời kỳ Đại khủng hoảng.

Những nền kinh tế hướng xuất khẩu của Châu Á đã hưởng lợi hơn nhiều so với các khu vực khác từ sự bùng nổ tiêu dùng ở Mỹ, và vì thế các doanh nghiệp ở đây dĩ nhiên sẽ bị tổn thương nặng bởi sự đảo chiều sụt giảm đột ngột. Xuất khẩu ở Châu Á vốn đã mong manh (xem bảng 1). Và với sự suy giảm 13% của xuất khẩu toàn khu vực trong 12 tháng tới tháng Mười Hai chỉ thua kém tí xíu so với năm 1998 hay 2001, các kỷ lục bất hạnh đó sẽ sớm bị đánh bại.

Cú lao xuống của xuất khẩu càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự đổ vỡ của hệ thống tài chính quốc tế, bởi bây giờ khó kiếm được nguồn vốn cho thương mại (trade finance). Giá cổ phiếu sụt giảm trên diện rộng càng làm cắt giảm đầu ra. Thương mại giữa Châu Á với nhau đã giảm còn lớn hơn so với giữa châu lục này và Mỹ hay Châu Âu. Xuất khẩu từ Trung Quốc tới các khu vực còn lại của Châu Á giảm 27% trong tháng Mười Hai so với năm ngoái, phần nào phản ánh nhu cầu thấp hơn cho các linh kiện lắp ráp tạo ra sản phẩm để tái xuất khẩu.

Bảng 1

Những con số xuất khẩu gây kinh hoàng đó chưa phải là toàn bộ nguyên nhân cho sự phiền muộn ở Châu Á. Nếu nhìn kỹ các con số khác, người ta thấy ở phần lớn các quốc gia này, nhập khẩu còn giảm nhiều hơn cả xuất khẩu, và đó là phần lớn bởi nhu cầu nội địa suy yếu.

Ví dụ tại Trung Quốc, tiêu dùng nội địa suy yếu – đa phần là kết quả của sự sụp đổ trong lĩnh vực xây dựng nhà ở – đã chiếm quá nửa tốc độ suy giảm của quốc gia này năm 2008. Ở Nam Hàn, xuất khẩu thực thực ra đã đóng góp dương vào tăng trưởng GDP trong quý Tư, trong khi chi tiêu tiêu dùng và đầu tư cố định rớt với tốc độ bình quân cả năm là 18% và 31%. Nam Hàn là một ngoại lệ so với quy luật “khôn ngoan” của Châu Á. Các gia đình Nam Hàn nợ nần tới 150% so với thu nhập có thể sử dụng của họ, thậm chí còn cao hơn cả Mỹ. Hệ thống ngân hàng, nơi đã vay mượn nước ngoài một cách mạnh mẽ để chi trả cho làn sóng vay mượn trong nước cũng đã bị tổn thương nặng nề với sự đổ vỡ của thị trường tài chính thế giới, làm cho các công ty của quốc gia này khó kiếm nguồn vốn đầu tư cho mình.

Chi tiêu tiêu dùng nội địa cũng sụp đổ ở các nơi khác. Trong 12 tháng vừa qua, bán lẻ sụt giảm 11% ở Đài Loan, 6% ở Singapore và 3% ở Hồng Kông. Là các trung tâm thương mại lớn, hai quốc đảo trên đã bị tơi tả bởi cơn bão toàn cầu. Cả hai đều cầm nắm lượng cổ phiếu lớn, do đó sự trao đảo của thị trường chứng khóa và giá hàng hóa đã làm người dân hoảng sợ không dám tiêu dùng. Ở Hồng Kông, giá nhà trung bình đã giảm khoảng 20% kể từ mùa hè và Goldman Sachs, một ngân hàng đầu tư, dự đoán sẽ tiếp tục giảm 30% nữa tới giữa 2010.


Bảng 2

Một báo cáo gần đây của Frederic Neumann và Robert Prior-Wandesforde, hai nhà nghiên cứu kinh tế tại HSBC, một ngân hàng lớn, lập luận rằng Châu Á đang phải gánh chịu hai cuộc khủng hoảng: Một nội địa và một quốc tế. Cầu nội địa được coi là phải hứng chịu cú đập của sự sụt giảm xuất khẩu, nhưng thực ra nó bị tác động bởi hai lực. Thứ nhất, đó là sự tăng giá đột ngột của thực phẩm và năng lượng trong nửa đầu của năm 2008 làm lợi nhuận của các công ty, cũng như mãi lực tiêu dùng sụt giảm. Thực phẩm và năng lượng là hai thứ chiếm phần lớn ngân sách gia đình ở Châu Á, so với đa số các khu vực khác. Thứ hai, ở một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Nam Hàn và Đài Loan, các chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm “điều trị” lạm phát đã làm nghẹt hơn nữa cầu tiêu dùng. Đánh giá lại, người ta thấy rằng các chính sách hạn chế tín dụng của Trung Quốc để hạ nhiệt khu vực bất động sản của nó đã có tác dụng “quá tốt”.

Hai cuộc khủng hoảng thúc đẩy lẫn nhau. Một phần của sự suy giảm chi tiêu quốc nội dẫn tới ít thứ để xuất khẩu hơn, làm cho các công ty phải cắt giảm đầu tư và đuổi bớt công nhân. Điều này làm cho không ai có thể nói rằng nguyên nhân nội địa hay quốc tế là nguyên nhân chính dẫn tới sự đau đớn của Châu Á. Sự coi trọng xuất khẩu của các nền kinh tế thần kỷ ở Châu Á đã từ lâu là điều gây tranh cãi. Những con số thô sơ cho thấy, trung bình, các quốc gia đang trỗi dậy ở Châu Á xuất khẩu khoảng 47% của GDP, so với 37% của 10 năm trước. Con số thực tế biến động từ 14% ở Ấn Độ tới 186% ở Singapore (xem bảng 2). Ở Nhật Bản, một quốc gia được coi là có nền kinh tế hướng xuất khẩu, xuất khẩu chỉ chiếm có 16% GDP.

Nhưng tỉ lệ này không thể hiện đúng mức sự lệ thuộc của một quốc gia vào cầu từ bên ngoài, nếu xuất khẩu có hàm lượng nhập khẩu cao. Trung Quốc xuất khẩu chiếm tới 36% GDP, nhưng một nửa trong số đó là “xuất khẩu dạng gia công”, trong đó chứa rất nhiều linh kiện nhập khẩu. Do đó ảnh hưởng lên tăng trưởng GDP của sự sụt giảm trong xuất khẩu sẽ được phần nào bù trừ nếu nhập khẩu giảm theo. Ước tính cho thấy lượng giá trị gia tăng nội địa từ hàng xuất khẩu Trung Quốc ở mức khiêm tốn hơn là 18% GDP.

Một thước đo khác về mức độ quan trọng của xuất khẩu là sự thay đổi của lượng xuất khẩu thực trên các con số thực tế. Giữa năm 2002 và 2007, mức độ tăng trưởng xuất khẩu thực chỉ chiếm 15% tốc độ tăng trưởng GDP thực ở Trung Quốc. ngược lại, xuất khẩu thực chiếm một nửa mọi tăng trưởng ở Singapore và Đài Loan. Tuy nhiên, thước đo này không chỉ ra được ảnh hưởng tổng thể, bởi nó bỏ qua các hiệu ứng phụ của xuất khẩu tới những thứ như triển vọng kinh doanh, đầu tư, thị trường việc làm và chi tiêu tiêu dùng. Dù cách này hay cách khác, các nền kinh tế nhỏ hơn như Hồng Kông, Singapore và Đài Loan, đều phụ thuộc xuất khẩu nặng nề. Các nền kinh tế khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, đỡ phụ thuộc xuất khẩu hơn.

Sự phục hồi của Châu Á từ cuộc khủng hoảng lần trước được dẫn dắt bởi sự gia tăng xuất khẩu tới các quốc gia giàu có trên thế giới. Đây là điều khó xảy ra trong tương lai gần. Câu hỏi đặt ra là, liệu nhu cầu trong nước có tăng lên để che lấp bớt sự ế ẩm của nền kinh tế? Có những lý do để nghĩ như thế. Giá hàng hóa giảm đang kích thích sức mua của người tiêu dùng, ngược lại với chiều hướng của năm ngoái. Quan trọng hơn là tác động của sự nới rộng tài chính và tiền tệ.

Ngoại trừ Nam Hàn và Ấn Độ, Châu Á vẫn chưa chịu các vấn đề tài chính đang làm phương Tây khốn đốn. Các nhà nghiên cứu kinh tế HSBC nhận định rằng khu vực này có lẽ chỉ chịu một cái nhéo tín dụng hơn là sự đổ vỡ trên diện rộng. Trái ngược với Mỹ và Châu Âu, nơi mà nợ nần chồng chất sẽ ngăn cản chi tiêu trong nhiều năm tới, đa số gia đình và doanh nghiệp Châu Á (ngoại trừ Nam Hàn) có số nợ khá khiêm tốn. Và bởi vì hệ thống ngân hàng lành mạnh hơn, các ngân hàng Châu Á có lẽ sẽ không phản ứng giống các ngân hàng phương Tây bằng cách từ chối cho vay trong khủng hoảng. Do đó, việc giảm lãi suất và xoa dịu kiểm soát tín dụng sẽ có hiệu quả hơn bất kỳ nơi nào. Không kém phần quan trọng là sự giải cứu thị trường tài chính quy mô lớn của các chính phủ Châu Á. Điều này cũng tỏ ra sẽ hiệu quả hơn ở các nơi khác, bởi khu vực kinh tế tư nhân ở đây đang làm ăn tốt hơn và sẽ có khả năng đáp lại bằng cách chi tiêu nhiều hơn.

Châu Á chưa bao giờ triển khai vũ khí tài chính và tiền tệ của mình mạnh mẽ như hiện nay. Mỗi quốc gia trong khu vực đều cắt giảm lãi suất và thông báo gói kích thích kinh tế. Trong lần suy sụp kinh tế trước đây, chính phủ Châu Á thường bị hạn chế bởi những chỉ trích về tài chính công, hoặc nhu cầu bảo vệ giá trị đồng bản địa. Nhưng lần này họ bước vào chu kỳ suy sụp kinh tế với thâm hụt ngân sách nhỏ, hoặc thậm chí thặng dư ngân sách. Các nền kinh tế đang trỗi dậy chính của Châu Á, trừ Ấn Độ, đang có tỉ lệ nợ quốc gia trên GDP tương đối thấp.

Mặc dù kích thước thực của các gói kích thích tài chính ở một số quốc gia, đáng kể nhất là Trung Quốc, có lẽ sẽ nhỏ hơn các con số báo chí đưa, chúng vẫn gây ấn tượng. Sau khi chỉnh lý những con tính bị trùng lặp và các thước đo không thực tế, Trung Quốc, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan sẽ bắt đầu hưởng gói kích thích tài chính ở mức ít nhất là 3% GDP trong năm 2009. Trung Quốc đã ra tín hiệu rằng sẽ còn có biện pháp tiếp theo trong vòng vài tháng tới; quốc gia này chắc chắn có thể chi thêm. Ngày 22/01/2009, chính phủ Singapore đã tuyên bố một gói các biện pháp tương đương với 8% GDP. Đây là lần đầu tiên, khoản chi tiêu như thế này được tài trợ bằng cách rút từ quỹ dự trữ khổng lồ của chính phủ Singapore.

Sự hiệu quả của việc nới lỏng các chính sách tài chính phụ thuộc vào cấu trúc, cũng như kích thước của nó. Giảm thuế thu nhập được đưa ra ở Nam Hàn và Đài Loan sẽ chỉ có ảnh hưởng khiêm tốn nếu tiền đó được dành dụm thay vì đưa vào chi tiêu. Thuế doanh nghiệp, được đưa ra ở Singapore, có thể không kích thích đầu tư nếu lợi nhuận đang trên đà sụt giảm. Chính quyền Đài Loan đang nỗ lực kích thích chi tiêu tiêu dùng bằng cách phát ra những phiếu mua hàng trị giá 3.600 tiền Đài Loan (tương đương 107USD) cho mỗi công dân của mình. Các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn nghi ngờ rằng việc làm này sẽ tạo ra làn sóng tiêu dùng mới, nhưng cơ chế này đang được theo dõi khá sát bởi các chính phủ Châu Á khác.

Điều hứa hẹn hơn cả là việc các quốc gia đang lên kế hoạch kích thích chi tiêu vào cơ sở hạ tầng. Trong ngắn hạn, đây là cách tốt nhất để chính phủ thúc đẩy cầu và tăng việc làm; trong dài hạn, những xa lộ và đường xe lửa sẽ thúc đẩy sản xuất. Thắt chặt tài chính trong các quốc gia đang trỗi dậy ở Châu Á sau khủng hoảng 1998 đã khiến chính phủ cắt giảm vốn đầu tư; và kết quả là cơ sở hạ tầng công cộng ở một số quốc gia, đáng kể là Indonesia và Thái Lan, bây giờ có lẽ tồi hơn so với một thập niên trước đây. Do đó có nhiều cơ hội để chi tiêu lớn hơn vào cơ sở hạ tầng.

Nếu (vẫn là một chữ NẾU lớn) Trung Quốc và các quốc gia khác thực hiện đầy đủ kế hoạch kích thích kinh tế của họ, cầu nội địa sẽ bắt đầu khôi phục trong nửa thứ hai của năm nay, ngay cả khi xuất khẩu vẫn yếu đuối. Tăng trưởng trung bình ở các quốc gia đang trỗi dậy Châu Á có thể chỉ ở mức 4-5% cả năm, bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng của nó năm 2007, và là chậm nhất kể từ sau khủng hoảng kinh tế Châu Á. Nhưng nó vẫn còn tốt hơn là cú tụt 2.4% năm 1998 (xem bảng 3). Con số trung bình đó che dấu một biên độ biến đổi rất rộng. Nền kinh tế Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan sẽ tăng trưởng âm trong năm nay, trong khi các nền kinh tế lớn hơn, nhưng ít cởi mở hơn, như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia sẽ duy trì ở mức tốt hơn.

Mua sắm hay dành dụm

Tuy nhiên, các chính phủ ở Châu Á có nhiều thứ phải lo lắng hơn, ngoài tốc độ tăng trưởng. Sau khủng hoảng hiện thời, tăng trưởng sẽ do đâu mang lại? Sự bùng nổ tiêu dùng và mở rộng thâm hụt ngân sách Mỹ, điều đã đem lại phần lớn tăng trưởng cho Châu Á thập niên vừa qua, đã đi đến chỗ kết thúc. Thời kỳ vung tay quá trán của Mỹ có lẽ sẽ không lặp lại như một chu kỳ. Trong những năm tới, Mỹ sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn và nhập khẩu ít đi. Sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của Châu Á, vì thế, dường như đã tới giới hạn của nó.

Nó cần có một động cơ khác cho tăng trưởng: trong tương lai, nó sẽ phải dựa nhiều hơn vào nhu cầu nội địa, đặc biệt là tiêu dùng. Trong những năm gần đây, nó đã làm điều trái ngược: chi tiêu tiêu dùng đã giảm trong cấu trúc GDP, trong khi đó xuất khẩu và đầu tư đã leo lên (xem bảng 4). Hai thập niên trước, chi tiêu tiêu dùng chiếm 58% GDP của Châu Á. Tới năm 2007, con số này giảm xuống 47%. Chi tiêu tiêu dùng ở Trung Quốc chỉ chiếm 36% GDP, một nửa con số của Mỹ. Một phân tích bởi CLSA, một công ty môi giới, cho thấy tỉ trọng xuất khẩu trên GDP hiện tại vượt quá tiêu dùng cá nhân trong 6 trên 11 quốc gia Châu Á mà nó theo dõi.

Làm thế nào để Châu Á thúc đẩy tiêu dùng? Điều này phụ thuộc vào lý do tại sao nó đi xuống hiện tại. Một lý giải thường thấy là các gia đình Châu Á đang cố gắng tiết kiệm phần lớn thu nhập của mình để tránh những rủi ro về lương hưu và phúc lợi xã hội – một mối lo càng ngày càng tăng trong cuộc khủng hoảng.

Nhưng lý giải này có gì đó không hoàn toàn phù hợp với thực tế. Tại nhiều quốc gia, đáng kể là Nam Hàn và Đài Loan, tiết kiệm của các gia đình đã giảm tương đối với thu nhập trong thập niên vừa qua; ở Trung Quốc, chúng tương đối bằng phẳng (sự gia tăng của tốc độ tiết kiệm ở Trung Quốc tới từ các công ty và chính phủ, chứ không phải từ các gia đình).

Nếu các gia đình không tiết kiệm nhiều hơn, tại sao lại có sự hao hụt trong phần đóng góp vào GDP? Câu trả lời là vì thu nhập từ lương đã giảm tương đối so với GDP. Ở Trung Quốc, đóng góp từ lương giảm từ 53% năm 1998 xuống 40% năm 2007.

Một lý do là số lượng công việc tạo ra ít đi vì chính phủ khuyến khích các ngành công nghiệp thâm dụng vốn (capital-intensive). Trên khắp Châu Á, và đặc biệt là Trung Quốc, lãi suất thấp đã khuyến khích đầu tư và các chính sách như giữ tỷ giá hối đoái thấp và bảo trợ đã ưu tiên cho sản xuất thay vì các dịch vụ thâm dụng lao động (labour-intensive service).

Do đó nếu Châu Á muốn dịch chuyển động lực tăng trưởng của mình sang hướng tiêu dùng, phương thuốc thường dùng là thúc đẩy các gia đình chi tiêu nhiều hơn là chưa đủ. Các chính sách của chính phủ sẽ phải thay đổi để nâng thu nhập của các gia đình lên. Chúng bao gồm: Từ bỏ sự thiên vị về hướng sản xuất thâm dụng vốn; thúc đẩy tự do hóa thị trường tài chính để giảm chi phí vốn; cắt các bảo hộ và miễn giảm thuế dành riêng cho các ngành sản xuất, thay vì dịch vụ; và tấn công các cơ sở độc quyền và các rào cản khác tới các ngành dịch vụ. Một tỷ giá hối đoái mạnh hơn cũng sẽ giúp dịch chuyển khỏi tăng trưởng nhờ xuất khẩu, và thúc đẩy mãi lực của các gia đình nhờ giảm chí phí nhập khẩu, xét trên khía cạnh đồng tiền bản địa.

Ngược lại, một số ở Trung Quốc đang dại dột kêu gọi phá giá đồng Nhân Dân Tệ để hỗ trợ nền kinh tế. Điều này không có mấy ích lợi thúc đẩy xuất khẩu, vì xuất khẩu đang tổn thương bởi thiếu vắng nhu cầu hơn là vì thiếu sự cạnh tranh, nhưng nó lại ngăn cản các thay đổi kinh tế cần thiết.

Ngay cả nếu tiết kiệm của các gia đình giảm xuống, chúng vẫn ở mức cao, ở khoảng 20% tại Trung Quốc và Đài Loan. Điều này phản ánh tâm lý giới trẻ muốn tiết kiệm cho tuổi già. Một nghiên cứu của IFM tiên đoán rằng khi dân số già cỗi và những người về hưu này sử dụng khoản tiết kiệm của mình, nó sẽ đẩy tỉ lệ tiêu dùng trên GDP ở một số quốc gia lên 8 điểm phần trăm hoặc hơn trong thập niên tới.

Từ từ hồi phục

Những thay đổi trong chính sách cũng có thể giúp giảm mức độ tiết kiệm. Ở các hệ thống tài chính phát triển kém, các gia đình khó kiếm được các khoản vay và do đó cần phải tiết kiệm cho những lúc cần tới. Tạo ra con đường thông thoáng để các gia đình có thể vay sẽ giúp giảm mức độ tiết kiệm. Nhưng trong bối cảnh bùng nổ tín dụng và tan vỡ như thế này, các chính phủ sẽ phải cực kỳ thận trọng trong cải cách tài chính.

Việc thiếu vắng hệ thống phúc lợi xã hội đầy đủ cũng là nguyên nhân khiến người ta để dành. Như thế, chi tiêu lớn hơn vào y tế, giáo dục và hỗ trợ phúc lợi có thể khuyến khích các gia đình giảm tiết kiệm và tăng chi tiêu. Do đó, trong bản tin gần đây, Trung Quốc tuyên bố sẽ dành 850 tỉ Nhân Dân Tệ (125 tỉ USD) trong 3 năm tới để cung cấp chăm sóc sức khỏe cơ bản tới ít nhất 90% dân số vào năm 2011 là điều đáng khuyến khích. Nhưng chi tiết về kế hoạch này còn rất sơ sài.

Sau cuộc khủng hoảng Châu Á, nhiều người ngoại quốc đã quá vội vã kết luận rằng sự thần kỳ của khu vực đã chết. Các nền kinh tế đó sống trở lại không phải chỉ bởi khẩu vị của những người tiêu dùng Mỹ, mà còn bởi Châu Á vẫn còn những yếu tố quan trọng cho sự phát triển: năng suất ngày càng tăng; có nhiều khoản tiết kiệm để dành cho đầu tư; các rào cản nhập khẩu còn thấp đủ để kích thích cạnh tranh. Những thứ đó sẽ giúp Châu Á tiếp tục là khu vực tăng trưởng nhanh nhất của thế giới. Nhưng những công nhân và người tiêu dùng phải được hưởng miếng lớn hơn từ miếng bánh thu được.

Tỉ lệ tiêu thụ và vay mượn thấp của Châu Á đồng nghĩa với việc nó có thể lợi dụng tiêu dùng như một động lực phát triển trong thập niên kế tiếp. Trong lần khủng hoảng trước đây, Châu Á đã phải uống thứ thuốc không chữa đúng bệnh. Đi ra phố và tiêu tiền nhiều hơn chắc chắn sẽ tạo sự thay đổi tốt đẹp.


Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Sach doi ngoai, Chinh Tri Hoa Ky | Tagged: | 7 Comments »

Món Hàng Xuất khẩu mới của Trung Quốc: Nông Dân (12-2008)

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2008

Món Hàng Xuất khẩu mới của Trung Quốc: Nông Dân

 

Trung Quốc thiếu đất đai, Phi châu thiếu lương thực. Cho nên một doanh nhân [nào đó] đã có sáng kiến thuyết phục những người nông dân Trung Quốc di cư.

Clifford Coonan tường trình từ tỉnh Hồ Bắc

Thứ Hai, ngày 29-12-2008

báo: The Independence

Ông Lưu Kiện Quân đang mặc một [cái áo dài xuống tận dưới đầu gối có] màu sắc sặc sỡ kiểu châu Phi, đội chiếc mũ chóp cao của một người đứng đầu bộ lạc, một sợi dây chuyền có những hạt màu đỏ mang trên cổ và cầm trên tay một cây gậy với con dao gắn kín đáo trên cán. Bên cạnh nơi ông ngồi là một bức chân dung Chủ tịch Mao Trạch Đông. Nó là một khung cảnh chẳng mấy thích hợp song lại phản chiếu mối quan hệ gần gũi hơn bao giờ hết giữa nước Trung Quốc khổng lồ về kinh tế và lục địa nghèo nhất trên thế giới này.

“Người dân Phi châu hét lên, [ ‘Mao Trạch Đông cũng tốt’] và họ tỏ ta rất nồng nhiệt khi tôi tới đó,” đó là lời của một trong những vị đại diện cho khối tư nhân nổi bật nhất của Trung Quốc. “Ngay từ giây phút người dân Trung Quốc rời khỏi phi cơ, thì những người dân Phi châu đã tỏ ra thân thiện. Người Trung Quốc không đem tới súng trường và các loại vũ khí; họ đem tới hạt giống cây trồng và công nghệ.”

Bộ Thương mại Trung Quốc đã vui mừng loan báo vào tháng này rằng thương mại song phương của nước mình với lục địa châu Phi đã đạt tới 100 tỉ đô la vào cuối năm 2008, vượt trước thời hạn hai năm theo kế hoạch. Những mỏ dầu với trữ lượng dồi dào và những lớp trầm tích khoáng sản giàu có của Phi châu đứng hàng đầu trong các loại hàng nhập khẩu của Trung Quốc, và đổi lại, quốc gia đông dân nhất thế giới này đang xuất khẩu hàng chục ngàn nông dân nước mình sang đó.

Theo một số ước đoán, 750.000 người Trung Quốc đã từng ở lục địa này hoặc đã tới Phi châu thường xuyên để hoạt động kinh doanh và tận dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đây. Và Hồ Bắc, tỉnh mà từ đó người đàn ông trung niên tên Lưu đã đưa ra lời kêu gọi, cũng không là ngoại lệ. Ông cho là có 10.000 nông dân chỉ riêng từ Hồ Bắc đã tới 18 nước Phi châu trong ít năm qua.

Họ làm việc trong “những ngôi làng Bảo Bình”, được đặt tên phỏng theo khu phố nhỏ đầy bụi nơi ông Lưu từng sống; ông muốn chỉ ra rằng Bảo Bình có nghĩa là “Bảo vệ và hòa bình”. Các ngôi làng, [có tầm cỡ] từ 400 đến 2.000 người Trung Quốc, [đã và đang được dựng lên] trên khắp lục địa này, từ Nigeria cho tới Kenia, từ Sudan cho tới Zambia.

Ông Lưu đã bắt đầu gây dựng các ngôi làng Bảo Bình khi ông là nhà lãnh đạo của cơ quan ngoại thương tỉnh Hồ Bắc vào năm 1998 và đang tìm cách đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phương, từng bị suy sụp bởi cuộc [khủng hoảng tài chính châu Á (1997)]. Ông đã phát hiện ra Phi châu.

“Chúng tôi đã nhận ra là Phi châu [không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chánh, và chúng tôi cũng đã thấy rằng] dân chúng địa phương bị thiếu thốn lương thực, mặc dù ở đó có nhiều đất đai không được sử dụng để cấy trồng [và rất nhiều thú vật.”]

Đó là [một công thức mang lại chiến thắng đối với] Trung Quốc, một nước chiếm hơn 20% dân số thế giới song lại chỉ có 7% đất đai có thể trồng trọt được. “Trung Quốc có quá nhiều người và quá ít đất,” ông Lưu chỉ rõ. “Tại Phi châu, [họ có rất nhiều đất đai và có quá ít nông dân]. Những nơi như Ivory Coast bị thiếu tới 400.000 tấn lương thực mỗi năm, và dân chúng địa phương không thể cấy trồng đủ để nuôi sống số dân của mình. Các kỹ năng làm nông nghiệp của [dân chúng địa phương] không được phát triển.”

Trong lối bình luận mà bạn [không còn nghe ở nơi công cộng ở các nước phương Tây rất nghiêm cẩn về chính trị], ông Lưu miêu tả các nông dân Phi châu như là [“những kẻ hơi lười biếng,] vui lòng nhặt lên những trái cây rơi rụng hơn là trồng cây để hái quả”. Thế nhưng rõ ràng là ông yêu mến mảnh đất này.

Một trong những người dân làng Bảo Bình, tới làm việc tại một vùng cũng có tên như vậy ở Phi châu, là nông dân Trương Tuyết Đông, đã sống khoảng một năm tại Abidjin, thủ phủ của vùng Ivory Coast. “Tôi yêu mến văn hóa Phi châu và tôi thấy người dân ở đó khá là sôi nổi,” anh nông dân này nhận xét.

Mặc dù Trung Quốc đã chứng kiến mức tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc, rồi đang chậm lại trong những tháng gần đây, vẫn có [một sự cách biệt rất lớn] giữa thành thị và nông thôn, và vùng nông thôn rộng lớn nằm sâu trong đất liền vẫn còn nghèo khó. Vì vậy đối với những nông dân Trung Quốc ở những vùng như Hồ Bắc, khả năng kiếm được trên 7.000 bảng Anh một năm tại Phi châu là đặc biệt hấp dẫn, cho phép họ gửi về quê nhà những khoản tiền thiết yếu cho cuộc sống. “Gia đình tôi ở Bảo Bình trong khi tôi tới Phi châu một mình để dạy người Phi châu cách trồng rau,” anh Trương cho biết thêm.

Châu, chủ tịch Darei International Investment, là người đầu tiên nghe được về [những cơ hội làm ăn] ở Phi châu qua internet và thư từ. “Trước khi tới đó, tôi đã rất lo lắng,” theo lời ông Lý, người đã mua 2.000 mẫu Anh ở Mbale thuộc Ubanda và đang điều hành một câu lạc bộ cho những người Trung Quốc tại đó. “Gia đình tôi cũng cảm thấy lo lắng. Chúng tôi đã nghe ở đó có chiến tranh, các cuộc xung đột và bệnh tật. Thế nhưng cuối cùng tôi đã tới đó vào tháng Tám năm ngoái.” Một người bạn của ông Lưu cũng hy vọng gây dựng một trang trại và một nhà máy sản xuất máy kéo, và đang dạy
cho người châu Phi những kỹ thuật gieo trồng bằng cách sử dụng máy móc.

“Tôi không thích đồ ăn thức uống ở đó – nó luôn theo lối nấu của phương Tây – thế nhưng tôi [rất yêu] Phi châu,” ông Lý nói. “Khí hậu tuyệt vời, dễ chịu và ấm áp. Người dân tử tế và họ sống trong một xã hội hòa thuận, và đầy tình cảm nồng nàn. Tôi đã tới thăm Kenia và Uganda. Cuối cùng tôi chọn Uganda, bởi vì đất nước này ổn định. Chính quyền địa phương rất tha thiết phát triển đất nước mình, nhưng họ không biết cách làm thế nào. Thế nên họ muốn học chúng tôi. Chúng tôi đưa ra những kế hoạch ví như thành lập các khu vực phát triển riêng. Tôi cũng đã nghe nói rằng có một số khu mỏ khá lớn, mỏ vàng và mỏ đá, tại Uganda. Điều không thuận lợi là chúng tôi không biết những nước này và các phong tục tập quán địa phương của họ; tham nhũng là một vấn nạn.”

Đó không chỉ là những cá nhân đang lợi dụng một tình trạng dư thừa lực lượng lao động để gửi họ tới Phi châu. Người lãnh đạo Ngân hàng China’s Export-Import Bank, ông Lý Ruogu, đã hứa sẽ giúp đỡ cấp vốn cho những người di cư tới Phi châu [như là một phần của kế hoạch đô thị hóa nhanh chóng ở thành phố] Sung Thanh miền tây Trung Quốc, [đã được xem là vùng đô thị] lớn nhất thế giới với 32 triệu dân. “Với việc thiết lập dự án đô thị hóa nhanh chóng, vài triệu nông dân sẽ phải di chuyển,” ông Li đã trao đổi với tờ People’s Daily như vậy.

Thế nhưng những người chỉ trích kế hoạch bành trướng của Trung Quốc vào Phi châu lại nhìn thấy nhiều mặt trái của hiện tượng này. Bắc Kinh [đang quyết định] vờ như không thấy những vi phạm nhân quyền, và đang bị khắp nơi cáo buộc là [đang giúp dựng nên] những nhà lãnh đạo không được ưa chuộng, bao gồm cả tổng thống Robert Mugabe của Zimbabwe, bằng những chuyến tàu chở vũ khí. Trung Quốc cũng bị dư luận rộng rãi ở phương Tây lên án về việc đã không làm gì hơn để gây sức ép lên chính phủ Sudan – nơi mà Trung Quốc mua hai phần ba lượng dầu lửa [sản xuất ra] – nhằm chấm dứt xung đột tại Darfur.

[Hiện nay hai khu trục hạm] và một tàu quân nhu của Trung Quốc đang tới vùng biển Somali để giúp cho những nỗ lực của quốc tế chống lại nạn cướp biển. Các toán hải tặc Somali ngoài biển phía đông Phi châu đã bắt giữ hàng loạt các tàu hàng làm con tin, bao gồm ít nhất là bảy tàu mang cờ Trung Quốc hoặc có thủy thủ đoàn Trung Quốc, trong 12 tháng qua. Với thực tế đó, các chiến hạm Trung Quốc sẽ được được triển khai tới châu Phi lần đầu tiên trong 600 năm nay.

Ông Lưu nói vòng vo nhiều về những mối quan ngại địa-chính trị rộng lớn hơn, tập trung nhiều hơn vào những tác động [tích cực của những quan hệ giữa Trung Quốc-Phi Châu]. Ông lưu ý rằng sự trao đổi văn hóa thậm chí có thể tới mức có việc kết hôn. “Một số đàn ông Trung Quốc lấy phụ nữ châu Phi; họ thích con gái châu Phi vì các cô trông thon thả.”

[Nói tới đó], ông đứng dậy bên cạnh bức chân dung ông Mao, và với lấy cái áo choàng châu Phi hiếm có của mình, ông trích dẫn một câu tục ngữ Trung Quốc. “Người ta lo sợ trước khi ra đi, nhưng lại ngạc nhiên khi tới, và rồi sẽ thấy nhớ nhung khi phải ra rời bỏ.”

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

*Bài này được dịch và đăng hồi còn yahoo!360. Cuối năm 2008, yahoo!360 bị đóng cửa, Trần Hoàng và Ba Sàm đã dời TTX Vĩa Hè về WordPress.com


———————————————–

Thực Dân mới Trung Quốc đang khai thác miếng mồi ngon ở châu Phi

2-8-2011

Việc Trung Quốc đổ bộ ào ạt vào châu Phi cũng như các châu lục khác khai thác tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu nguồn năng lượng thật ra chẳng có gì đáng nói, nếu Trung Quốc không manh nha biến Lục địa đen thành một tân thuộc địa và Trung Quốc không có thủ đoạn khóa chặt nguồn tài nguyên toàn cầu để làm “của riêng”, bất chấp thế giới sống chết thế nào. Dưới đây là phần lược thuật Chương 7 (Death by Colonial Dragon: Locking Down Resources and Locking Up Markets Round the World) của quyển Death by China: Confronting the Dragon – A Global Call to Action (Peter Navarro & Greg Autry, nhà xuất bản Pearson Prentice Hall, 5/2011).

Thủ đoạn khóa nguồn tài nguyên thế giới
Vơ vét cạn kiệt nguồn tài nguyên thế giới là một phần trong chiến lược phát triển của Trung Quốc, bởi họ thiếu tài nguyên trầm trọng. Châu Phi giờ đây đang được nhuộm đỏ màu cờ Trung Quốc. Nói như tác giả Death by China, con rồng thuộc địa của Trung Quốc (Châu Phi) là đứa con hoang của con rồng sống bằng công nghiệp sản xuất vốn tham ăn vô độ đến từ “mẫu quốc” – nơi đang là một nhà máy sản xuất khổng lồ ngốn ½ lượng xi măng thế giới, gần ½ lượng thép, 1/3 lượng đồng, ¼ lượng nhôm, chưa kể vô số antimoan, crôm, coban, liti, kẽm… Đó là những nguyên liệu cần thiết cho phát triển thế giới nói chung. Thế nhưng, tất cả giờ đây hầu như đang nằm trong tay Trung Quốc.

Thủ đoạn Trung Quốc được thực hiện với một chiến thuật quen thuộc. Giới lãnh đạo Bắc Kinh đến những nước nghèo Châu Phi và hào phóng vung tiền cho vay với lãi suất thấp nhằm “hỗ trợ phát triển kinh tế”. Đổi lại, nước nhận tiền phải thực hiện hai điều. Thứ nhất, họ phải giao quyền kiểm soát tài nguyên quốc gia cho Trung Quốc; thứ hai, họ phải mở cửa cho hàng hóa Trung Quốc tiếp cận thị trường địa phương. Thủ đoạn trên hoàn toàn khác với hình thái phân bổ nguồn tài nguyên thế giới theo cách truyền thống, thông qua hệ thống mua bán – định giá và dựa vào lợi ích cộng đồng. Nó là hình mẫu chính xác của chủ nghĩa thực dân kiểu mới: kiểm soát nguồn tài nguyên vốn có thể mang lại thịnh vượng cho thuộc địa, và dùng tài nguyên thuộc địa để làm giàu cho “mẫu quốc thực dân”, rồi lại tái xuất khẩu hàng hóa cho thuộc địa. Như thế, Trung Quốc không chỉ khống chế được nguồn tài nguyên mà còn có cơ hội thuận lợi đẩy nhanh phát triển kinh tế quốc gia. Bằng cách đó, không gọi Trung Quốc là tên thực dân hút máu kẻ khác để làm giàu cho mình thì là gì?!

Trữ lượng khoáng sản châu Phi có thể được xem là kho tàng lớn nhất thế giới. Chứa khoảng 85% crôm và bạch kim thế giới, hơn 60% trữ lượng cobalt và mangan, Châu Phi cũng được xếp nhất hoặc nhì thế giới về trữ lượng kim cương, bauxite, đá phosphate, vermiculite (chất khoáng bón cây) và zirconium. Từ Châu Phi, người ta sản xuất hơn 21% vàng thế giới, 16% uranium và 13% dầu. Khu trầm tích đất hiếm Zandkopsdrift tại Northern Cape (Nam Phi) là một trong những quặng đất hiếm chưa khai thác lớn nhất thế giới. Zambia là quốc gia có nền công nghiệp khai thác đồng chủ lực của Lục địa đen và sẽ là một trong 5 nhà sản xuất lớn nhất toàn cầu…

Nguồn: Gerrohn Michalitsianos, 22-7-2011 – mg.co.za/article/2011-07-22-extracting-value/
Cái lưỡi câu móc mồi nhử của Trung Quốc có thể thấy khắp nơi. Khoản vay thế chấp bằng dầu của Angola đối với Trung Quốc hiện đã hơn 10 tỉ USD và còn tiếp tục tăng. Cộng hòa Dân chủ Congo đang “đổi” (khoáng sản) đồng “lấy” hạ tầng; Nigeria “đổi” khí thiên nhiên “lấy” nhà máy điện; và tại Peru, Trung Quốc hiện sở hữu nguyên một ngọn núi chứa khoáng sản đồng; còn ở Zimbabwe, Tổng thống nước này, Robert Mugabe, đã đem “cầm cố” nguồn tài nguyên bạch kim trị giá 40 tỉ USD để “vay nóng” vỏn vẹn 5 tỉ USD…

Bằng cách đó, Trung Quốc không chỉ ngày càng sở hữu nhiều nguồn tài nguyên thiết yếu, làm chúng biến mất khỏi thị trường toàn cầu; mà còn có được lợi thế tiếp cận nguồn tài nguyên với giá thấp, mang lại cho họ ưu thế cạnh tranh vượt trội.

Bằng cách đó, Trung Quốc bây giờ có thể “cấm vận” nguồn tài nguyên đối với thế giới. Thử tưởng tượng nếu Trung Quốc khóa hẳn nguồn bauxite từ Brazil, Equatorial Guinea và Malawi; nguồn đồng từ Congo, Kazakhstan và Namibia; quặng sắt từ Liberia và Somalia; mangan từ Burkina Faso, Campuchia và Gabon; nickel từ Cuba và Tanzania; kẽm từ Algeria, Kenya, Nigeria và Zambia… thì loạt nhà máy từ Cincinnati, Memphis, Pittsburgh (Mỹ) đến Munich (Đức), Yokohama (Nhật), Seoul (Hàn Quốc) sẽ điêu đứng như thế nào?!

Chúng ta có thể hình dung một viễn cảnh thế này: trung tâm công nghiệp xe hơi thế giới tương lai sẽ nằm ở Lan Châu và Vu Hồ – thay vì Detroit và Huntsville; trung tâm công nghiệp máy bay thế giới sẽ nằm ở Tân Châu và Thẩm Dương – thay vì Seattle và Wichita; những máy tính thế hệ kế tiếp được sản xuất ở Đại Liên, Thiên Tân – thay vì Thung lũng Silicon; và công nghiệp thép thế giới sẽ nằm ở Đường Sơn, Vũ Hán – thay vì Birmingham, Alabama và Granite City (Illinois)… Sự thay đổi này cho thấy nó hoàn toàn không là cách mà thị trường tự do hay quan hệ hợp tác quốc tế (đáng lý nên được) vận hành.

“Trung Quốc hóa Lục địa đen”
“Cho dù họ nói gì đi nữa cũng có một sự thật rằng người Trung Quốc đến châu Phi không chỉ với kỹ sư và giới khoa học. Họ còn lũ lượt kéo đến hàng đoàn nông dân. Đó là hình thái của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Nó không có tính đạo đức và giá trị gì cả” – phát biểu của Nghị sĩ Ai Cập Mustafa al-Gindi.

Có một đặc điểm rất đáng lưu ý: sự có mặt của người Trung Quốc tại các xứ nghèo rớt mùng tơi ở châu Phi không hề đóng góp cho sự thịnh vượng địa phương. Người dân bản địa nghèo vẫn hoàn nghèo, nếu không nói là nghèo hơn. Sao thế nhỉ? Trung Quốc đem tiền đến đầu tư rất nhiều cơ mà?

Vấn đề ở chỗ, không như các công ty đa quốc gia phương Tây, Trung Quốc không chỉ đến địa phương để mở công xưởng và thu nhận nguồn lao động bản địa. Họ còn mang theo một tỉ lệ dân số Trung Quốc không nhỏ! Nói cách khác, họ cướp nguồn lao động ngay tại nước bản địa.

Với một trường hợp điển hình (Sudan), bóng dáng “chú Tàu thực dân” đã được miêu tả như sau: “Người Hoa khoan dầu và bơm vào hệ thống ống dẫn của người Hoa và hệ thống ống dẫn này được người Hoa bảo vệ trên con đường vận chuyển dầu ra cảng được chính người Hoa xây, nơi dầu được chuyển lên tàu người Hoa để chở về xứ sở người Hoa. Nhân công người Hoa xây cầu đường và những con đập thủy điện khổng lồ khiến hàng ngàn người địa phương, chủ những mảnh đất nhỏ, bị trục xuất di dời. Người Hoa tự canh tác để cung cấp thực phẩm cho người Hoa. Người Hoa cung cấp vũ khí cho chính phủ sở tại thực hiện những tội ác chống lại con người; và người Hoa bảo vệ cái chính phủ phi nhân quyền đó bằng lá phiếu phủ quyết của mình với tư cách thành viên thường trực Hội đồng bảo an”.

Trong thực tế, sự đổ bộ người Hoa lên những mảnh đất tân thuộc địa là chính sách của Bắc Kinh, với mục đích “giãn dân” một cách có hệ thống, biến các nước Châu Phi và Mỹ Latin thành “quốc gia vệ tinh” của mình.

Có một ví dụ nhỏ để minh họa. Khi Namibia không thanh toán nổi khoản vay hàng tỉ đôla từ Trung Quốc, Bắc Kinh đã lập tức thương lượng việc cho hàng ngàn gia đình Trung Quốc đến nước này (vụ dàn xếp bí mật trên bị phanh phui qua WikiLeaks khiến người dân Nambia cực kỳ phẫn nộ). Đó là kịch bản cái gọi là “Trung Quốc hóa Lục địa đen” (Chinafication of Black Africa).

Trong một bài viết, nhà báo Andrew Malone đã tường thuật thế này: “Một cách không kèn không trống, một con số gây choáng gồm 750.000 người Hoa đã định cư ở châu Phi trong một thập niên qua. Và còn nhiều người nữa trong tương lai. Chiến lược này được hoạch định cẩn thận bởi giới chức Bắc Kinh, nơi một chuyên gia đánh giá rằng, Trung Quốc cần phải di cư 300 triệu dân đến châu Phi để giải quyết vấn đề dân số quá tải và ô nhiễm trầm trọng. Kế hoạch trên đang được thực hiện đúng kế hoạch. Khắp châu Phi, cờ Trung Quốc đang bay phần phật… Những tòa đại sứ mới và đường băng mới đang mở cửa hoạt động náo nhiệt. Giới giàu có mới người Hoa ở châu Phi có thể thấy khắp nơi. Họ mua sắm ở những cửa hàng sang trọng của chính người Hoa. Họ lái những chiếc Mercedes và BMW. Họ cho con ăn học tại những ngôi trường tư dành riêng cho người Hoa…”.

Hiện thời, chỉ riêng số nông dân người Hoa tại Châu Phi đã lên đến hơn 1 triệu. Diện tích đất thì bất biến nhưng tỉ lệ sử dụng tăng và vì vậy phải lấn giành mới có chỗ chứ! Và sự lấn át kinh tế của cộng đồng người Hoa ở đất bản địa tiếp tục khiến dân địa phương khóc dở mếu dở.

Theo tờ The Economist, Trung Quốc đã “xí” một thửa 70.000 hecta vốn chuyên trồng cọ tại Congo để trồng cây làm nhiên liệu sinh học. Tại Zambia, các nông trại người Hoa hiện cung cấp đến ¼ lượng trứng bán ở thủ đô Lusaka. Ở Zimbabwe, theo tờWeekly Standard, Chính phủ Mugabe ngày càng đi quá xa trong việc mở cửa cho Trung Quốc, trong đó có việc trao loạt nông trại trước kia thuộc dân da trắng sở hữu cho các công ty (thuộc nhà nước quản lý) Trung Quốc. Tất nhiên “chú Tàu thực dân” cũng phi “con ngựa thành Troy” đến Gabon, Ghana, Guinea, Mali, Mauritania, Tanzania…

Và thật mỉa mai, không chỉ chiếm đất, giành thị trường, làm khốn khó dân sở tại khi đẩy họ vào tình trạng thất nghiệp, Trung Quốc cũng hất cả bát cơm của thành phần… gái điếm địa phương. Nói cách khác, khi đến Lục địa đen, Trung Quốc mang theo cả gái điếm nước mình! Tất nhiên, với truyền thống phá giá, từ phá giá đồng nhân dân tệ, phá giá hàng hóa, phá giá thuê nhân công, phá giá đấu thầu…, Trung Quốc phá giá luôn cả dịch vụ mại dâm. Trong China Safari: On the Trail of Beijing’s Expansion in Africa, hai tác giả (Serge Michel và Michel Beuret; NXB Nation Books; ấn hành năm 2009 – ND) thuật một chi tiết cho thấy công nghiệp mại dâm Cameroon đã bị đối thủ cạnh tranh Trung Quốc đè bẹp như thế nào: “Gái điếm Trung Quốc sẵn sàng hạ giá chỉ còn 2.000 CFA (4,25 USD) trong khi gái bán hoa địa phương chẳng bao giờ chịu lên giường với giá ít hơn 5.000 CFA”. Và đây là một dữ liệu thông tin nữa. Khi cảnh sát địa phương giải cứu một nhóm phụ nữ Trung Quốc bị bọn buôn người đưa đến làm gái ở Congo – Brazzaville, những nạn nhân này thay vì bày tỏ vui mừng do được giải thoát lại nằng nặc đòi ở lại nước bản địa, bởi tiền họ kiếm được nhiều hơn so với quê nhà Tứ Xuyên. Với họ, chẳng thà làm điều nhục ở quê người còn hơn nai lưng làm ruộng ở “Đất Rồng”!

Bản chất của “sắc màu” anh thực dân kiểu mới
Trong một bài viết, giáo sư – tiến sĩ Canada gốc Hoa Khương Văn Nhiên (Wenran Jiang; Đại học Alberta) nhận xét: “Các công ty Trung Quốc trả lương thấp lại buộc công nhân làm việc thêm giờ; làm thế nào người ta kỳ vọng họ đối xử khác như thế ở nước ngoài? Với 6.700 công nhân mỏ than chết bởi tai nạn hầm mỏ mỗi năm (17 người/ngày)…, làm thế nào người ta có thể hy vọng các doanh nghiệp Trung Quốc hành xử tử tế hơn đối với những nơi khác trên thế giới? … Trung Quốc đang tàn phá nghiêm trọng hệ sinh thái nước họ trong quá trình hiện đại hóa cực nhanh; làm thế nào người ta có thể hy vọng họ ý thức áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường theo chuẩn phương Tây ở những nơi khác?”.

Cùng với việc xuất khẩu lực lượng lao động, xuất khẩu hàng hóa, “xuất khẩu” lực lượng lao động thất nghiệp trong nước…, Trung Quốc còn “xuất khẩu” cả văn hóa bê bối trong đầu tư-kinh doanh. Bất cứ nơi nào đến, họ cũng tàn phá và hủy diệt môi trường theo cách hệt như họ đối xử với con người và môi trường ở đất nước họ.

Ví dụ, năm 2002, Chính phủ Gabon dự tính thiết kế ¼ diện tích quốc gia, hầu hết là rừng nguyên sinh, vào hạng mục bảo tồn thiên nhiên. Thế nhưng, khi công ty dầu Sinopec (Trung Quốc thạch hóa công ty) đến, họ bắt đầu tàn phá ngay giữa trung tâm bảo tồn, bằng những con đường mới ngoằn ngoèo xuyên rừng…
Và hệt như những tay thực dân ác ôn thời trước, họ cũng sẵn sàng giết chết công nhân bản địa. Khi công nhân tại mỏ than Collum ở Nam Zambia bày tỏ phẫn nộ việc bị trả lương bèo và điều kiện làm việc không an toàn, hai ông chủ Trung Quốc đã phản hồi bằng phát đạn liên thanh làm ngã gục 11 nạn nhân! Vài tháng trước đó tại một mỏ khác cũng ở Zambia, một cuộc đình công biến thành bạo động đã được đáp lại bằng màn vãi súng vào đám công nhân xanh mặt ngơ ngác. Lên tiếng về vụ việc, một viên chức Bộ ngoại giao Trung Quốc nói rằng vụ trên là một sự cố “đáng tiếc” và có thảm sát gì đâu mà thật ra chỉ là một sự “hiểu lầm”!

Có lẽ cũng cần cập nhật ít thông tin liên quan (ngoài quyển Death by China). Bài báo của Xan Rice (thông tín viên đặc biệt củaThe Guardian, từng đoạt Giải tưởng niệm Gaby Rado của tổ chức Ân xá Quốc tế về những bài viết về nhân quyền Châu Phi) trên số báo ngày 6-2-2011 cho biết, mậu dịch Trung Quốc – Châu Phi đã tăng từ 6 tỉ USD năm 1999 lên hơn 90 tỉ USD năm 2009. Và BusinessWeek (11-4-2011) cho biết thêm, mậu dịch Trung Quốc – Châu Phi năm 2010 đạt đến 127 tỉ USD.

Tới đây, ngày 20-10-2011, Diễn đàn doanh nghiệp Trung Quốc – Châu Phi sẽ được tổ chức Johannesburg (Nam Phi). Xem ra tình hình vẫn tiếp tục “rất phấn khởi”, đặc biệt “phấn khởi” đối với Trung Quốc…

Tuy nhiên, như tác giả Death by China viết ở phần kết Chương 7 (trang 108), sự cấm vận nguồn tài nguyên thiên nhiên mà Trung Quốc đang áp đặt cho thế giới qua chiến lược thực dân của họ cuối cùng sẽ chẳng khác gì cái thòng lọng quấn quanh cổ các nền kinh tế khác của thế giới. Từ từ, qua thời gian, khi đế quốc thực dân của Trung Quốc trỗi dậy chiếm được quyền kiểm soát nhiều hơn hầu hết nguồn tài nguyên quí giá của Trái đất và khi lòng thèm muốn tham lam của họ tiếp tục phát triển khôn nguôi, cái thòng lọng đó sẽ siết thật chặt những cái cổ mềm của Mỹ, châu Âu, Nhật, Hàn Quốc và các nước khác…

M.K.

nguon: Thực Dân mới Trung Quốc đang khai thác miếng mồi ngon ở châu Phi

—————————

Liu Jianjun: “Africans are a bit lazy, happier to pick fruits off trees than grow it themselves” (Clifford Coonan).

THE INDEPENDENT

————

China’s new export: farmers

China has a shortage of land, Africa a shortage of food. So one entrepreneur had the bright idea of persuading Chinese farmers to emigrate.

Clifford Coonan reports from Hebei province
Monday, 29 December 2008

Liu Jianjun is wearing a brightly coloured African tunic, the tall hat of a tribal leader, a string of red beads round his neck and carrying a stick with a secret knife in the handle. Beside him sits a portrait of Chairman Mao Zedong. It is a slightly incongruous scene but one that mirrors the ever-closer relationship between Asia’s economic giant China and the world’s poorest continent.

“The African people yell, ‘Mao Zedong is all right’ and they are very warm-hearted when I’m there,” says one of China’s most prominent private sector ambassadors. “The minute Chinese people get off the plane, the Africans are friendly. Chinese do not bring rifles and weapons; they bring seeds and technology.”

China’s Ministry of Commerce triumphantly announced this month that its bilateral trade with the continent is set to hit $100bn (£67.8bn) by the end of 2008, two years ahead of schedule. Africa’s plentiful oilfields and rich mineral deposits are top of China’s imports, and in return the world’s most populous nation is exporting tens of thousands of its countrymen.

By some estimates, 750,000 Chinese people have spent time on the continent or have moved to Africa permanently to do business and take advantage of the natural resources. And Hebei, the province from where the middle-aged Mr Liu hails, is no exception. He reckons 10,000 farmers from Hebei alone have gone to 18 African countries in the past few years.

They work in “Baoding villages”, named after the dusty township where Mr Liu lives; he likes to point out that Baoding means “Protection and peace”. The villages, ranging in size from 400 to 2,000 Chinese, have been set up across the continent, from Nigeria to Kenya, from Sudan to Zambia.

Mr Liu started the Baoding villages when he was head of Hebei province’s foreign trade bureau in 1998 and was seeking ways to boost the local economy, which had been dampened by the Asian financial crisis. He discovered Africa.

“We found Africa was not affected by the crisis, and we went there, and found that local people were short of food, even though there was lots of land not in use for farming and plenty of animals,” he says. “So I decided to switch from exporting goods to exporting agricultural expertise.”

It is a winning formula for China, which has more than 20 per cent of the world’s population bu
t only 7 per cent of its arable land. “China has too many people and too little land,” Mr Liu points out. “In Africa, they have plenty of land and too few farmers. Places such as Ivory Coast are short of 400,000 tonnes of food a year, and the local people cannot farm enough to feed the population. Local farming skills are not developed.”

In the kind of comment you do not hear in public in the politically correct West any more, Mr Liu describes African farmers as “a little bit lazy, happier to pick the fruits off the trees than grow it themselves”. But he obviously loves the place.

One of the Baoding villagers who went to work in an African namesake is farmer Zhang Xuedong, who spent about a year in Abidjan, the Ivory Coast capital. “I’m fond of African culture and I find the people there quite lively,” the farmer says.

Although China has witnessed astounding economic growth, albeit slowing in recent months, there is a yawning gap between the city and the countryside, and the largely rural hinterland remains poor. So for Chinese farmers in places such as Hebei, the prospect of earning up to £7,000 a year in Africa is remarkably attractive, allowing them to send home vital remittances. “My family stayed in Baoding while I went to Africa on my own to teach the Africans how to plant vegetables,” Mr Zhang adds.

Li Zhu, chairman of Dafei International Investment, first heard about the opportunities in Africa through the internet and the papers. “Before going there, I was very worried,” says Mr Li, who bought 2,000 acres in Mbale in Uganda and is running a Chinese club there. “My family also felt worried. We all heard there were wars, conflicts and diseases. But finally I went there in August last year.” A friend of Mr Liu, he hopes to set up a farm and a tractor factory, and is teaching Africans planting techniques using machinery.

“I don’t like the food – it’s always Western cuisine – but I do love Africa,” Mr Li says. “The weather is nice, comfortable and warm. The people are kind and they live in a harmonious society, and are full of passion. I visited Kenya and Uganda. I ultimately chose Uganda, because the country is steady. The local government is very eager to develop the country, but they don’t know how to do that. So they want to learn from us. We provide ideas such as development zones. I also heard that there are some good mines, gold mines and quarries, in Uganda. The downside is that we don’t know the countries and their local customs; corruption is a problem.”

It is not just individuals who are capitalising on an abundance of workers to send over to Africa. The head of China’s Export-Import Bank, Li Ruogu, pledged to help finance emigration to Africa as part of a rapid urbanisation scheme in the western Chinese city of Chongqing, already reckoned the world’s biggest metropolitan area with 32 million people. “With the establishment of the rapid urbanisation project, several million farmers will have to move,” Mr Li told the People’s Daily.

But critics of Chinese expansion into Africa see plenty of downsides. Beijing is willing to turn a blind eye to human rights abuses, and is widely accused of helping prop up unpopular leaders, including Zimbabwe’s Robert Mugabe, with arms shipments. China has also been widely condemned in the West for not doing more to pressure the government of Sudan – from whom it buys two-thirds of the national oil output – to end the conflict in stricken Darfur.

Now two Chinese destroyers and a supply vessel are to set sail to Somali waters to help international efforts to fight piracy. Somali pirates off east Africa have taken an array of shipping vessels hostage, including at least seven ships flying the Chinese flag or carrying Chinese crew, in the past 12 months. Now Chinese warships will be deployed to Africa for the first time in 600 years.

Mr Liu largely skirts these broader geo-political concerns, focusing more on the positive impact of Sino-African relations. He notes that the cultural exchange can even extend to marriage. “Some Chinese men marry African women; they like African girls because they are very slim.”

With that, he stands up beside the portrait of Mao, and gathering his chiefly African robes, he quotes a Chinese proverb. “People are scared before they go, they are surprised when they arrive, and they miss it when they leave.”

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Phi Châu | Tagged: | 1 Comment »

Interview People of the Year

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2008

Runners-Up

Henry Paulson

When he arrived in Washington as Secretary of the Treasury in the summer of 2006, Henry M. (Hank) Paulson Jr.’s top priority was to make certain that his department would have independence and clout. If he was giving up the top job at Goldman Sachs, he wasn’t doing it for a sinecure.

Mission accomplished. Mission overaccomplished.

“I’ve always said I don’t want to be irrelevant,” Paulson said during an interview in mid-December, his 6-ft. 1-in. frame folded into a big chair in the corner of the office where such legends as Andrew Mellon and Henry Morgenthau once worked — and where he has presided over some of the most momentous Treasury meetings ever. “But, boy, I do not want to be this relevant.”

Paulson, 62, has come to play a historic role at a historic time. A lame-duck President has given him nearly complete control over the country’s economic policy in the midst of an epic financial collapse. Congress has given him close to $1 trillion to repair the financial system. Along with his partners in panic, Federal Reserve Chairman Ben Bernanke and Federal Reserve Bank of New York president Tim Geithner — who will take over at Treasury in January — Paulson has led a government economic intervention on a scale never before seen in the U.S., except perhaps during World War II.

For a brief period in late summer, before the collapse of Lehman Brothers brought the crisis into a new and much more dire phase, Paulson’s new clout was greeted by widespread acclaim. He was hailed on magazine covers as KING HENRY and PAULSON TO THE RESCUE. Congressional leaders of both parties (but especially the Democrats) sang his praises. If anybody could lead us through the crisis, it would be the hard-charging former Dartmouth College football star known as the Hammer.

You don’t hear that kind of talk anymore. Paulson has become an unpopular, controversial figure, the target of harsh criticism on Capitol Hill and in the media. If there is a face to this financial debacle, it is now his — exuding an air of perpetual embattlement.

What does Paulson think about this change in his fortunes? “I just haven’t had time to focus on it,” he said near the beginning of a long conversation, during which he made clear that he had focused on the criticism and saw most of it as unfair. “I don’t think we’ve made mistakes on the major decisions,” he argued. “We’ve done the right things.”

Is that true? As Paulson said in another context, “I think five years from now it will be a lot easier to put all of this in perspective.” Today the facts point toward two conclusions:

1) Given the political and economic realities he faced, there is no obviously better path Paulson could have followed.

2) Paulson is really bad at explaining why he made the choices he did.

To arrive at the first conclusion, you have to believe that we were on the brink of disaster in late September and early October. “The alternative we were looking at was a cascade of failing institutions,” Paulson said. “We were looking at a downward spiral or a free fall.” This fear was widely shared by economists and financial-market participants. What we’ve ended up with instead — an ailing financial system, a deep recession and a few trillion taxpayer dollars at risk — is vastly preferable to that. Give the man a little credit.

O.K., we will: “He’s smart. He listens to all the right arguments. He’s decisive at a time when few people have been willing to make decisions,” says Glenn Hubbard, dean of the Columbia Business School and a top first-term Bush economic adviser. “I can’t think of somebody I would have rather had doing that.”

Yet Hubbard has been a frequent critic of the “lurching from crisis to crisis” that has characterized the government response ever since markets began behaving strangely in August 2007. This can’t all be pinned on Paulson. In late 2007 and early 2008, most of the lurching was done by Bernanke and Geithner, and everyone in government has been hobbled by what Paulson calls an “outdated and outmoded set of regulatory policies and authorities” that kept a tight rein on commercial banks but encouraged the growth of a vast shadow banking system. The investment banks that dominated this second system spewed forth unfathomable amounts of securitized paper, like the now infamous collateralized debt obligations, over which regulators had far less control.

All this came to a head in March, when the investment firm Bear Stearns imploded. The Fed intervened, backstopping JPMorgan Chase’s shotgun acquisition with a $29 billion guarantee. The Fed could do this because it doesn’t have to ask Congress for money — it can effectively print its own. But if the Fed simply issued more currency to patch every hole in the U.S. financial system, the dollar would eventually lose all credibility.

And so after Bear Stearns, a consensus developed at the Fed and Treasury that if more bailouts were called for, they should be done by Treasury, with congressional approval. That’s when Paulson took command. He identified mortgage giants Fannie Mae and Freddie Mac as the shoes likely to drop next and decided that — with $5.2 trillion in debt securities that were seen by investors worldwide as implicitly guaranteed by the U.S. government — the companies couldn’t be allowed to fail.

Paulson outmaneuvered a recalcitrant White House economic team and got approval directly from President Bush, then held a Sunday-morning press conference to announce that he was seeking major new powers and asking Congress for hundreds of billions of dollars to backstop the two firms. Within a couple of weeks, Paulson got what he had asked for. It was a bravura performance by a man who had risen to the top of the investment-banking profession on his ability to make deals happen.

At Goldman, Paulson had always been known more as a doer than a chin-stroking thinker. “He is like a heat-seeking missile going to problems,” says Goldman board member and former Medtronic CEO William George, who has known Paulson for 30 years. And as he tried to articulate his philosophy at Treasury, Paulson talked himself into a bind. He drew a seeming line in the sand after Fannie and Freddie, making the case in speeches and interviews that some big firms had to fail. “You need that market discipline,” he told me in July.

In mid-September, Paulson followed that hard line and let Lehman Brothers go under. “I never once considered it appropriate to put taxpayer money on the line in resolving Lehman Brothers,” he told reporters the day the investment firm declared bankruptcy. He also said the government wasn’t considering a loan to struggling insurance giant AIG.

Within days, the market’s panicked reaction had changed Paulson’s tune on AIG, which the Fed saved with a loan aided by Treasury. And now he says the issue with Lehman was that Treasury didn’t have the power to do anything and the circumstances that allowed for the JPMorgan-Bear Stearns deal (a willing buyer and collateral that the Fed could lend against) weren’t present.

This may be true, but it wasn’t what Paulson said at the time, and these mixed signals confused markets and the public. When Paulson then headed to Capitol Hill to secure $700 billion in what became known as the Troubled Asset Relief Program (TARP), the signals got even more confused. At first, Paulson argued that the money should be used to buy distressed mortgage securities rather than to take direct stakes in financial institutions. “Putting capital into institutions is about failure,” he said. “This is about success.” Within weeks, he had switched course and committed almost half the $700 billion to direct investments.

This was almost certainly the right decision, but it was more evidence that the transition from dealmaker, which requires pragmatism, to policymaker, which favors consistency, was proving difficult for Paulson. Ask him what his philosophy of financial regulation is, and he begins, “My basic philosophy is hardly extreme. I believe in markets.” A few sentences later he tacks back: “I’ve never been antiregulation. I’ve always believed that raw, unregulated capitalism doesn’t work.” Then another turn: What’s needed, he says, is a regulatory setup in which financial institutions can fail without endangering the system. And another: Since we don’t have that, he and the Fed have had to intervene to save financial institutions, because history teaches that the longer you wait to intervene, “the more economic havoc is wreaked.” But wait: Interventions also distort markets.

It is as if he is circling the question, testing out every possible answer. His staffers at Treasury say this is how he makes decisions — chewing over all the arguments and facts, then quickly making his call and not looking back. It’s a pragmatic, flexible approach. It also means that with slight changes in the arguments or the facts, Paulson is capable of making the diametrically opposite decision. The result is a communications challenge for Treasury but also something of a quandary for those who would demonize Paulson.

“He’s been criticized for two things,” quips House Financial Services Committee chairman Barney Frank. “Preventing companies from going under and not preventing companies from going under.” And so Frank, while he has battled with Treasury over the use of TARP funds, continues to look to Paulson to get things done. So does the rest of Washington.

When the city’s focus turned from banks to the auto industry, Paulson at first avoided involvement. “There’s something bizarre about Congress not voting to do something with the autos and then whispering in my ear, ‘Use the TARP and don’t tell us,'” he said on Dec. 10. “You know, ‘Here’s the revolver — go do it for the good of the regiment. And then I’ll criticize you after the fact.'” Two days later, after auto-rescue legislation crashed in the Senate, Paulson was hard at work trying to craft another bailout

http://www.time.com/time/specials/2008/personoftheyear/article/0,31682,1861543_1865103_1865105-2,00.html

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2008

The Interview: Person Of the Year Barack Obama

Barack Obama interview
Callie Shell / Aurora for TIME
On Friday, Dec. 5, the President-elect sat down with TIME managing editor Richard Stengel, editor-at-large David Von Drehle and Time Inc. editor-in-chief John Huey in Obama’s spartan transition offices in Chicago to discuss his plans for the coming months, the improbability of his victory and how he’s fighting to stay in touch with the real world from inside the presidential bubble. Excerpts from their conversation:What kind of mandate do you have?
Well, I think we won a decisive victory. Forty-seven percent of the American people still voted for John McCain. And so I don’t think that Americans want hubris from their next President. I do think we received a strong mandate for change … It means a government that is not ideologically driven. It means a government that is competent. It means a government, most importantly, that is focused day in, day out on the needs and struggles, the hopes and dreams, of ordinary people. And I think there is a strong mandate for Washington as a whole to be responsive to ordinary Americans in a way that it has not been for quite some time.

When voters look at your Administration two years from now, in the off-year election, how will they know whether you’re succeeding?
I think there are a couple of benchmarks we’ve set for ourselves during the course of this campaign. On [domestic] policy, have we helped this economy recover from what is the worst financial crisis since the Great Depression? Have we instituted financial regulations and rules of the road that assure this kind of crisis doesn’t occur again? Have we created jobs that pay well and allow families to support themselves? Have we made significant progress on reducing the cost of health care and expanding coverage? Have we begun what will probably be a decade-long project to shift America to a new energy economy? Have we begun what may be an even longer project of revitalizing our public-school systems so we can compete in the 21st century? That’s on the domestic front.

On foreign policy, have we closed down Guantánamo in a responsible way, put a clear end to torture and restored a balance between the demands of our security and our Constitution? Have we rebuilt alliances around the world effectively? Have I drawn down U.S. troops out of Iraq, and have we strengthened our approach in Afghanistan — not just militarily but also diplomatically and in terms of development? And have we been able to reinvigorate international institutions to deal with transnational threats, like climate change, that we can’t solve on our own?

And outside of specific policy measures, two years from now, I want the American people to be able to say, “Government’s not perfect; there are some things Obama does that get on my nerves. But you know what? I feel like the government’s working for me. I feel like it’s accountable. I feel like it’s transparent. I feel that I am well informed about what government actions are being taken. I feel that this is a President and an Administration that admits when it makes mistakes and adapts itself to new information, that believes in making decisions based on facts and on science as opposed to what is politically expedient.” Those are some of the intangibles that I hope people two years from now can claim.

When you look at the economic issues that you ran on in the campaign, does [all the bad financial news] change your priorities about how quickly you’ve got to act on, say, jobs vs. energy?
Fortunately, most of the proposals that we made apply not only to our long-term economic growth but also fit well into what we need to do short term to get the economy back on track. I have talked during the campaign about the need to rebuild our infrastructure, and that obviously gives us an opportunity to create jobs and drive demand at a time when the economy desperately needs jobs and demand. I’ve talked about a tax cut for 95% of working families, and that fits into a stimulus package, and we can get that money out into people’s pockets fairly quickly. I’ve talked about the need for us to contain health-care costs, and it turns out there’s some spending that has to be done on information technology, for example, that we can do fairly swiftly. So there’s no doubt that most of the priorities that I had are ones that will serve our short-term economic needs as well as our long-term economic needs.

The drop in oil prices, I do think, makes the conversation about energy more difficult, not less necessary. More than ever, I think, a wholesale investment in transforming our economy — from retrofitting buildings so that they’re energy-efficient to changing our transportation patterns and thinking about how to rebuild our electricity grid — those are all things that we’re going to need now more than ever. But with people not paying $4 a gallon for gas, it means it drops on their priority list. And that makes the politics of it tougher than it might have been six months ago.

So how long and how deep a recession should the American public be ready for?
I don’t have a crystal ball, and economists are all over the map on this. I think we should anticipate that 2009 is going to be a tough year. And if we make some good choices, I’m confident that we can limit some of the damage in 2009 and that in 2010 we can start seeing an upward trajectory on the economy. But this is a difficult hole that we’ve dug ourselves into. You know, Japan found itself in a somewhat similar situation in the ’90s, made some poor decisions, didn’t squarely face some of the problems in its banking system and, despite significant stimulus, still saw this thing drag on for almost a decade. On the other hand, you’ve got countries like Sweden that went through this and acted forcefully and boldly and in two years were back on track and were growing at a really healthy clip. So the decisions we make are going to have an impact on it. But next year’s going to be tough. You made a very bold choice for Secretary of State. If she were sitting here with you now and you were to say, “Madame Secretary, here are the three stops I want you to make on your itinerary once you get in the job,” what would those three places be?
Well, since we’re literally having that conversation, I think, a day or two after this publication comes out, I’m not going to have her read it in TIME magazine. But I mentioned to you earlier some of our key priorities. There’s no doubt that managing the transition in Iraq is going to be a top priority. Managing a more effective strategy in Afghanistan will be a top priority. Recognizing that it is not simply an Afghanistan problem but it’s an Afghanistan-Pakistan-India-Kashmir-Iran problem is going to be a priority. Sorting through our policy with respect to Iran effectively — that will be a priority. Dealing with our transatlantic alliance in a more constructive way and trying to build a more effective relationship with the newly assertive and, I believe, inappropriately aggressive Russia, when it comes to the invasion of Georgia — that is going to be a priority. And seeing if we can build on some of the progress, at least in conversation, that’s been made around the Israeli-Palestinian conflict will be a priority.

Now, I mention those things, but keep in mind that some of the long-term priorities I identified in the campaign remain just as urgent today. I already mentioned nuclear proliferation. I already mentioned climate change. I think dealing with development and poverty around the world is going to be a critical component of our foreign policy. It’s good for our security and not just charity. And so, part of the goal that Senator [Hillary] Clinton and I both share — as do [Defense] Secretary [Robert] Gates and [National Security Adviser nominee] General [James] Jones — is moving our foreign-assistance agenda to the center of our national-security conversations as opposed to the periphery. Paying more attention to Latin America. You know, we have neglected our neighbors in our own hemisphere, and there is an enormous potential for us to work with other countries — Brazil, for example, which is in some ways ahead of us on energy strategies. That, I think, would be very important. And finally, managing our relationship with China and the entire Pacific Rim, I think, is something that will keep not just me busy but my successor busy.

Was there ever a point in the election when you thought you were going to lose?
Sure.

When was it?
Well, let me say it this way: There were multiple points throughout the election when I thought I could lose. Including the day I announced. And honestly, you know, we had a bunch of ups and downs in the campaign. I’ll tell you what, though: the way Michelle and I talked about it before we made the decision to get in this race was, if we run the kind of race that I wanted to run, if we were engaging people and exciting people and bringing new people into the process, if I was speaking honestly and truthfully about what I thought my priorities were, then I always thought we had a good chance of winning. And if we lost, that wouldn’t be such a terrible thing. And that’s why I think I stayed pretty steady throughout this race, despite the ups and downs.

There weren’t that many occasions during this campaign — there were a few, but not that many — where I wasn’t proud of what we were doing or felt somehow that I was making compromises of my core principles. Michelle and I pledged that whatever happened, we’d come out of this thing whole. And there wasn’t any point in this campaign where I thought we were in danger of losing who we were.

You went through a long and grueling campaign, and you won. At what point after your victory did you realize, “I can’t do a traditional kind of transition.”
It was about a month before the election. Not that I assumed that I was going to win. We had a healthy fear up until election day. But what I was absolutely convinced of was that, whether it was me or John McCain, the next President-elect was going to have to move swiftly. And so we’ve tried to accelerate all of our timetables: in appointments, not just on the Cabinet but also our White House team; in structuring economic plans so that we can start getting them to Congress and hopefully begin work, even before I’m sworn in, on some of our key priorities around the economy; on laying the groundwork for a national security team can take the baton in a wartime transition. We’ve been busy, and that’s why I have not taken the traditional post-election holiday.

Does that bother your wife?
No, no, I think she wants me to take care of business. We’ll take a little bit of a break over the Christmas holidays, but we want to make sure that I’ve got a team in place and that we’ve got a clear sense of direction.

Now that you’re faced with the enormity of it, is there any one thing that really weighs on you as being perhaps an intractable problem?
I don’t think there are problems that are intractable. But there are a couple of problems that are extraordinarily difficult.

It is not clear that the economy’s bottomed out. So even if we take a whole host of the right steps in terms of the economy, two years from now it may not have fully recovered. I’m confident about our ability to get the economy back on track, but we’ve got a big hole to dig ourselves out of. And I will be inheriting at least a trillion-dollar deficit even before you start talking about a significant stimulus. And you’ve got a structural deficit that is in place that will require some very difficult decisions. So managing jump-starting the economy in the short term and setting up a responsible fiscal policy over the long term, at a time when families are hurting and we’ve got all these unmet needs-that is a huge problem. And I don’t think there’s some magic trick to dealing with it. It’s going to require a careful balancing of priorities and we’ll probably make some mistakes along the way. Because some of those choices will engender political resistance, from not just Republicans but also members of my own party.

I’ll just lay out some of the other things that keep me up at night. I think Afghanistan is going to be a challenge. I’m confident that it’s the right thing to do to draw down our troops in Iraq. I think we can do so in a responsible way and stabilize the situation there. We’re going to have to make a series of not just military but also diplomatic moves that fully enlist Pakistan as an ally in that region, that lessen tensions between India and Pakistan, and then get everybody focused on rooting out militancy in a terrain, a territory, that is very tough — and in an enormous country that is one of the poorest and least developed in the world. So that, I think, is going to be a very tough situation.

And then the third thing that keeps me up at night is the issue of nuclear proliferation. We are going to have to take leadership in stitching back together a nonproliferation regime that has been frayed. We’re going to have to do it at the same time as the Internet has made technology for the creation of weapons of mass destruction more accessible than ever before, and at a time when more countries are going to be pursuing nuclear power. That, I think, is going to be a great challenge.

And then the final thing, just to round out my Happy List, is climate change. All the indicators are that this is happening faster than even the most pessimistic scientists were anticipating a couple of years ago. It is going to require an enormous effort on the part of the global community to deal with it. And it is not going to come without cost. Trying to bring about that transformation — which I think offers huge opportunities for economic growth and job creation over the long term, but will entail some costs in the short term — you know, that’s the hardest thing to do in politics, right? To make big investments in things that have long-term payoffs. I’ll stop there.

What’s the best piece of advice that you’ve gotten from someone about being President, about how to go about it, about how that feels?
Well, precisely because it’s sui generis, the only people that really know are the collection of ex-Presidents that we have. And I want to protect the confidentiality of those conversations since I expect to go back to them for advice, and I want to feel that they can give me unvarnished advice. I can tell you that all of them have said that it is important to carve out time to think and not spend your entire day reactive. Because there’s always a crisis coming at you, there’s always a meeting you could be doing, there’s always a press conference or a group of supporters that you could be responding to. And so I think maintaining that kind of discipline is important.

Something that I have already experienced, and I have not fully solved, is how to break out of the bubble, which is extraordinarily powerful … As a consequence of the security concerns surrounding this office, it is very hard for me to do what ordinary people do. That is the biggest adjustment, and that is not an adjustment I’ve made yet. And I’m not sure I’ll want to make it entirely. The inability to go to the gas station and pump your own gas. Or go to the store and buy groceries. Or take your kids to the park. Those are experiences that aren’t just intrinsically good, but they also keep me in touch with what Americans are going through. And so I’m trying to negotiate more space and do so in a way that doesn’t put Secret Service members in more jeopardy. I’m trying to negotiate hanging on to some sort of electronic communication with the outside world. And so far, between the lawyers and the Secret Service and the bureaucrats, I’m not sure I’m winning that battle. Given the economic situation, the picture you’ve painted of ’09, are there any taxes that can be raised in this environment?
Well, I have said that I will be providing a net tax cut. Ninety-five percent of working Americans will be getting a tax cut. In part to pay for the tax cut for people who desperately need it, I’ve proposed that people who are making more than a quarter-million dollars a year lose the tax cuts they received from George [W.] Bush and that we go back to the rates they had in the 1990s. And that is a pledge I intend to keep.

But is that by letting them expire in ’10 or by repealing them in ’09?
Well, one way or another, they are going to lose those tax breaks under my Administration. My economic team is reviewing right now what the best option is.

Considering the economic hole we’re in, and particularly the joblessness crisis right now, does that move health care up or down on the agenda in terms of real structural reform of providing health care?
I think it keeps it right where it is, which is one of my top three domestic priorities. How we sequence a movement toward affordable, accessible health care may vary because of the current economic situation.

What is it about your executive style that makes you good at standing up to big organizations to meet unprecedented challenges — whether it’s the way you ran your campaign or now — so quickly?
I don’t think there’s some magic trick here. I think I’ve got a good nose for talent, so I hire really good people. And I’ve got a pretty healthy ego, so I’m not scared of hiring the smartest people, even when they’re smarter than me. And I have a low tolerance of nonsense and turf battles and game-playing, and I send that message very clearly. And so over time, I think, people start trusting each other, and they stay focused on mission, as opposed to personal ambition or grievance. If you’ve got really smart people who are all focused on the same mission, then usually you can get some things done.

Do you ever get angry, and if you do, how would we know it?
If you want to tail me and [spokesman Robert] Gibbs for a few days, I could tell you, we’ve had it out a couple times. You know, my staff knows when I get angry. I’m not a shouter. I find that what was always effective with me as a kid, and Michelle and I find it effective with our kids, is just making people feel really guilty. Like “Boy, I am disappointed in you. I expected so much more.” And I think people generally want to do the right thing, and if you’re clear to them about what that right thing is, and if they see you doing the right thing, then that gives you some leverage. Hollering at people isn’t usually that effective. Now, there are exceptions. There are times where guilt doesn’t work, and then you have to use fear.

Now for a deeply personal question, which you may not feel comfortable answering. Did your grandmother die confident that you were going to be President?
You know, I don’t know. But I know she voted for me. The last week of her life, she was in and out of consciousness. But I’d say three weeks before the election — or was it two weeks? About two weeks before the election, I think at that point, you know, the signs were that I might pull this off. (See pictures of Barack Obama’s family tree.)

She was incredulous, I think, until the very end. I mentioned this in another interview. My grandmother would not have believed that this was possible. Not because of the race issues but because she was just a very Midwestern, steady person who generally was skeptical of these kinds of things and would have preferred I’d never gone into politics and done something sensible like try to become a judge or something after law school. My mother, on the other hand, I think would’ve never had a doubt because she was absolutely convinced that her son and her daughter were perfect. So it’s a reflection more on their personalities.

But you think about my grandmother’s life. I mean, here’s a woman who was born in, let’s see, 1912 or ’22 — I’ve got to do my math — she was 86, so ’22, rather. She really grew up in the Depression, in a small town in Kansas, and never got a college degree. Somehow found herself in Hawaii. Somehow found her daughter marrying an African guy. Raised this mixed kid who got in all kinds of trouble during his teenage years. You know, the likelihood of that little boy ending up President of the United States was pretty low.

So in some ways her life tracks this American — this remarkable American journey, where all of these different forces and cultures can come together and the possibility of upward mobility and opportunity for successive generations is a reality. Maybe not as much as we’d like it to be. Maybe not as fast as we’d like it to be. But it’s there nonetheless.

All right?

http://www.time.com/time/world/article/0,8599,1865069-3,00.html

Interview with Clinton: One Day at a Time

Hillary Clinton
On the day after her Ohio and Texas victories, TIME managing editor Rick Stengel caught up with Hillary Clinton to talk about the challenges ahead. Here are some excerpts from the interview:TIME: What would you say was the key to your victories yesterday? Was there some kind of special sauce, something that you started doing different?
CLINTON:
No, I think that I kept on the themes that I think are important for the next President. A lot of people counted me out, but I was campaigning in states where many people felt like they had been counted out from time to time and had to keep fighting and coming back. I was endorsed on Saturday in Youngstown — a city that has had a pretty rough ride over the last three or so decades by Kelly “the Ghost” Pavlik, the champion [middleweight boxer], and I think that really symbolized what I was trying to do, which was to tell people I would be a fighter for them, because I know that they deserve to have someone who gets up every day and works hard for them. And questions began to be asked about Obama and his positions concerning NAFTA and the stewardship of the economy and who was ready to be Commander-in-Chief on Day One. So clearly the people of Ohio and Texas wanted a President who they thought would fight for them and be their champion and was ready to manage the economy and be the Commander in Chief who believed that speeches weren’t as important as solutions — and that is what I put forth.

There has been a trait that maybe characterizes both of you — when your back is against the wall and people are predicting your demise — you suddenly burst forth with a new strategy and become successful. Is that something that characterizes your DNA as a politician?
Well I don’t know, Rick. I think it may be more about the voters than about me. I think that voters were not ready for this race to be over. They really wanted to keep hearing from me and they wanted me to be competitive. They were clearly voting with their hopes that this race would go on and I would continue to fight another day, so I really believe that for me in New Hampshire and on Super Tuesday and again yesterday — despite being outspent rather considerably in the media, in the mail and on the ground all the other ways that people judge your viability — I had the people on my side and that became clearer and clearer to me every day that went by.

If you had to do it all over again, would you have started drawing firmer contrasts with Senator Obama earlier during the primary process?
Well I think that every campaign has a rhythm to it. This campaign has had a lot of interesting twists and turns. One of the events that I believe helped me in the elections yesterday was the realization that Senator McCain was going to be the Republican nominee. Democrats and independents suddenly said, “Oh boy, this is going to be interesting. We better vote for someone who can go up against Senator McCain.” No one could have predicted that, but that is how it felt to me. I also think that I had to be in a position where I had the resources to back up any of the comparisons that I was drawing and I was able to do that in Ohio and Texas.

Speaking of Senator McCain, would you say that his attacks on Senator Obama have had the intended or unintended consequence of helping you?
I have no opinion on that. I think Senator McCain is his own man, as we all know. I have dealt with him, worked with him over the years. I don’t think there is any real predicting what he is going to say or do about an opponent until he does it. So I really don’t really know.

The Obama campaign has been saying that there is almost a mathematical impossibility for you to win enough pledged delegates to win the nomination. How do you respond to that?
Well, I find it interesting that a campaign that is supposed to be about hope and inspiration resorts to some kind of mathematical argument. As we move towards the final stage of this nominating process, it would be hard for this race to be any closer. After 25 million voters have voted, we are basically tied in the popular vote. The delegate count is plus or minus two percent separating us. It has been a spirited primary, which I think is all for the good and there are still millions of voters that haven’t voted yet — that want to make sure their voices are heard. I feel very good about where I am in this race, because the comparisons are being drawn, questions are being asked and I think that if people ask themselves who would be the best President to manage the economy and who would be prepared to be Commander-in-Chief on Day One that is to my benefit. I am not asking voters to make a mathematical calculation. I am asking them to make a reasoned decision about who they would hire for this job.

With all of the voters paying attention — caring passionately one way or another — would they somehow feel disappointed if in the end a group of superdelegates who are not elected would make the final decision about who the Democratic Party nominee is?
Oh I think we have a ways to go before we know what is going to happen, obviously. I feel that the campaign has really reached a critical point, which I welcome because I think this is the toughest job in the world [and] whoever is vying for it should be tested and questioned. That is certainly something I have been through and understand the territory that goes with this candidacy. And voters are prepared to have that same opportunity — to be sure they got all the information they need before they make their decision. I think it is a historic race, so obviously it is exciting. We are both bringing so many more people into the campaign. They are energized, really very passionate about this campaign. Voters want this to continue. They don’t want it to be over. I think that surprised a lot of the observers who were taken aback — number one because I did so well yesterday — but also in some of the public polling. More than two-thirds of Democrats say “No, This has got to go on.” And they need it to go on, because they are still trying to make up their minds and that is true of every kind of delegate and every kind of voter.

One group that probably ultimately wouldn’t want it to go on too long is the Democratic Party itself. Can you envision a point at which — if the race stays this close — and with the difficulties that everyone has analyzed in accumulating enough delegates to get any distance ahead where party elders would step in and say “Senators Clinton and Obama, this is now hurting the party and whoever will be the nominee in the fall. We need to figure this out.”
No I really can’t. I think people have short memories. Primary contests used to last a lot longer. We all remember the great tragedy of Bobby Kennedy being assassinated in June in L.A. My husband didn’t wrap up the nomination in 1992 until June, also in California. Having a primary contest go through June is nothing particularly unusual. We will see how it unfolds as we go forward over the next three to four months.

Could you envision it going all the way to the actual convention itself?
I think we should take it one day at a time. I find that usually is a better policy in life and in politics.

The experience argument is one that is very important to the whole campaign. It is not only important on the Democratic side, but also on the Republican side. If you were to go toe-to-toe with Senator McCain, in the category of experience doesn’t that actually in the end favor him?
No, I don’t think so. I think there is a threshold of experience that voters want to see people cross. I have a lifetime of experience. Senator McCain has a lifetime of experience. We both cross that threshold. Then we are in the arena and can engage in the debate over what that experience means. But no voter doubts that we have the experience to do the job, and I think that is a big difference.

In some of the interviews this morning you were quoted talking about whether or not there would be a possibility of a joint ticket — of a Clinton-Obama ticket or an Obama-Clinton ticket. Are there are circumstances in which you would consider being his running mate if he were to offer the ticket?
I think this is all pretty premature. There are a lot of contests left. I think the question was certainly aimed at the historic nature of our candidacies and the possibility that we would have a unified Democratic ticket and that may be something to consider down the road, but right now there are a lot of contests left and I am doing everything I can to be successful in winning them.

The Rezko case has come up a number of times. In your own words, what is the relevance of the Rezko case to his campaign and to the qualifications of Senator Obama?
Well, there seem to be a lot of questions that he needs to answer on this issue. But those are his questions to answer. I believe that this is part of the process.

There are has been talk about you being concerned that voters in Florida and Michigan would be disenfranchised. When the Democratic National Committee was making its policy in those two states, we knew that was going to happen. Why were you not concerned then about them being disenfranchised?
Oh, I was. I said it at the time. I wasn’t on the DNC, I didn’t have a vote on that. I pointed out how important it is for us to carry Michigan — you can’t win without carrying Michigan — and how critical it is to carry Florida. We haven’t won without it and we face a much more difficult electoral map if we don’t have Florida in our column. I feel strongly that the votes of Michigan and Florida should count. What I agreed to was not to campaign in either state and I did not campaign. I didn’t hold press conferences. I didn’t do political events. I complied with the rules as they were put forth for the candidates. But 1.7 million Democratic voters in Florida were privy to that agreement and Florida is in a particularly unfortunate position, because the Democrats have no say in when their primary is going to be held. It was after the first four contests that everyone tries to carve out a special space. And the voters of Florida clearly took it seriously. I think that there is an effort both on the part of the Democratic governor in Michigan and Florida to try to figure out how to sort this through. I feel strongly that we shouldn’t be telling Democratic voters in states we have to carry that their votes don’t count.

Obama criticized the way in 1992-93, the way you handled your quest for more universal health care in America, and has said that he would do it in a more open fashion. Is he being naive in terms of whether it is possible to solve this in a transparent way?
Well, what I learned from that process is that it is not the executive branch that is going to really determine what the outcome of this health care debate is. It is the legislative branch. They have hearings. They have open public hearings on the plans we suggested. They really have control over the process. It is going to be imperative that the President works with the Congress to get this done. I believe the plan that I put forth has a very good chance of garnering congressional support. Obviously Congress will work with Congress on a plan, unless something dramatically changes [with] how the world works between now and 2009. But it is something that I think I have a special insight into having been on both sides of Pennsylvania Avenue. I understand the potential influence to set the agenda and create the playing field that the President has, but the President has to understand that the Congress will come up with the legislation. I have talked about this many times in ’93. The Congress told the President, “Well, you decide what you want and then come to us.” And that didn’t work out. I have laid out a plan. I have made it universal. I intend to do everything I can to get to universal health care, unlike Senator Obama, who does not have a plan that is universal. I will be working with the members of Congress, particularly the chairs of the relevant committees, from the very beginning.

I think you know that our own Joe Klein has written about your expertise in military affairs and how many of the generals said to him that the one person in the Senate who they say understands the military is Senator Clinton. He has also written that your defense and military strategy is something that you thought all along would be something you’d talk about once the general election came along. I wonder why and whether you would be willing to critique Obama plan for withdrawal from Iraq. Is there an argument you should make that perhaps he is being incautious or unreasonable?
Well, that is a subject for another day, Rick. I am not going to have an opportunity on this phone call to discuss in depth the seriousness of the challenges we face in Iraq. But I do appreciate the support that I am getting from retired generals and admirals who have worked with me at my time during the Clinton Administration or in the Senate. I am going to be talking further about what I would be doing in Iraq and how I would be proceeding. But I will leave that for another day.

In Pakistan, President Musharraf seems to be hanging on despite the fact that the vast majority of Pakistanis don’t want him to be there. He has been an ally of ours. Should the U.S. be nudging him out of power the way we did with President Marcos in the Philippines? Is that something you would do as President?
Well, I think that the problem with the Bush Administration now is that they only have one policy and that is to continue to support Musharraf. You ought to be able to walk and chew gum at the same time. We should be reaching out to the leaders of the opposition parities that are elected resoundly. We should do more to help support civil society, particularly the lawyers and the journalists and the business leaders who have led the demonstrations against Musharraf’s rule — who are very middle-of-the-road pro-democracy voices in Pakistan. The failure of the Bush Administration to do both strikes me as indicative of their single-minded, often narrow, view of American interests. It is not America’s place at this time to be maneuvering the Pakistanis to make a decision about Musharraf’s future. That has to be something that the Pakistanis decide. But it does strike me that we should certainly be building better relationships with other elements that would be important to Pakistan’s’ future — that I just don’t see happening. I have had this debate with the Administration going back years now. I have asked them to engage much more directly, to have high-level presidential envoy between Musharraf and Afghanistan and set some real goals in terms of our expectations about Musharraf… And they just steadfastly refuse to do that. I think that is the root of the problem. This is a complex society and it may very well be that President Musharraf has not mapped out his terms, but if he were to leave we are in no position, having done so little to support the potential successors, to really know what it is we would be faced with. I would renew my emphasis on expanding our reach in Pakistan.

You criticized Senator Obama about talking to certain leaders without any preconditions. What about the idea that we need to have some kind of relationship with Iran. How do you reopen diplomacy with Iran? What would be your strategy?
I am glad you asked that because Senator Obama has taken my criticism of his specific answer in an earlier debate and expanded it to somehow imply that I do not favor diplomacy with Iran. And in fact, I believe, I was probably way ahead of him in calling for diplomatic engagement with Iran going back several years now. I recall a major speech I gave at the Woodrow Wilson School. I have been consistent in saying that we needed to open up a diplomatic process with Iran. I remember criticizing the Bush Administration for outsourcing our policy toward Iran to the Europeans. But it has been unfortunate that the Bush Administration has refused under the circumstances to permit any kind of diplomatic engagement. We had something going with our ambassador in Afghanistan early on, a meeting with the ambassador from Iran to Afghanistan, which stopped abruptly after the Axis of Evil speech. We began to have contact between our ambassador to Iraq and their ambassador to Iraq, but those never really expanded to cover the range of issues that I think we should. I have been very clear in saying that I would seek an opportunity for an open diplomatic process, but obviously not including the President as the diplomat or offering a presidential visit with Ahmadinejad without any preconditions. I don’t think that is a very useful way to proceed. I would begin the kind of diplomatic and security discussions on a broad range of matters that I think are in America’s interest.

There are maybe three or four months left in the race. What are you most looking forward to and what are you most dreading?
I am looking forward to all of it, Rick. I really feel privileged to be running this race. As physically exhausting as it is, it is incredibly energizing and gratifying. Everyday somebody says something to me or does something that reinforces my belief in the importance of this race, and it is often with the same encounters. The big stage of presidential politics, which for obvious reasons is covered by the press, is where a lot of it is laid out. But that is not what gets me up in the morning. It is the important intimate encounters with people who thank me for helping their children get health care or people who grab my hand and say, “Please bring my son home from Iraq” or ask me to help with a problem they have. That is what I feel is real and is part of what I love about public service — are people better off when I stopped than when I started. I get a lot of satisfaction, I am constantly being reminded and reinforced about my convictions about this extraordinary country that I feel privileged to live in. I take whatever comes. I don’t have anything other than anticipation looking forward.

Ex-aides say Bush never recovered from Katrina

WASHINGTON – Hurricane Katrina not only pulverized the Gulf Coast in 2005, it knocked the bully pulpit out from under President George W. Bush, according to two former advisers who spoke candidly about the political impact of the government’s poor handling of the natural disaster.

“Katrina to me was the tipping point,” said Matthew Dowd, Bush’s pollster and chief strategist for the 2004 presidential campaign. “The president broke his bond with the public. Once that bond was broken, he no longer had the capacity to talk to the American public. State of the Union addresses? It didn’t matter. Legislative initiatives? It didn’t matter. P.R.? It didn’t matter. Travel? It didn’t matter.”

Dan Bartlett, former White House communications director and later counselor to the president, said: “Politically, it was the final nail in the coffin.”

Their comments are a part of an oral history of the Bush White House that Vanity Fair magazine compiled for its February issue, which hits newsstands in New York and Los Angeles on Wednesday, and nationally on Jan. 6. Vanity Fair published comments by current and former government officials, foreign ministers, campaign strategists and numerous others on topics that included Iraq, the anthrax attacks, the economy and immigration.

Lawrence Wilkerson, top aide and later chief of staff to former Secretary of State Colin Powell, said that as a new president, Bush was like Alaska Gov. Sarah Palin, the 2008 GOP vice presidential nominee whom critics said lacked knowledge about foreign affairs. When Bush first came into office, he was surrounded by experienced advisers like Vice President Dick Cheney and Powell, who Wilkerson said ended up playing damage control for the president.

“It allowed everybody to believe that this Sarah Palin-like president — because, let’s face it, that’s what he was — was going to be protected by this national-security elite, tested in the cauldrons of fire,” Wilkerson said, adding that he considered Cheney probably the “most astute, bureaucratic entrepreneur” he’d ever met.

“He became vice president well before George Bush picked him,” Wilkerson said of Cheney. “And he began to manipulate things from that point on, knowing that he was going to be able to convince this guy to pick him, knowing that he was then going to be able to wade into the vacuums that existed around George Bush — personality vacuum, character vacuum, details vacuum, experience vacuum.”

On other topics, David Kuo, who served as deputy director of the White House Office of Faith-Based and Community Initiatives, disputed the idea that the Bush White House was dominated by religious conservatives and catered to the needs of a religious right voting bloc.

“The reality in the White House is — if you look at the most senior staff — you’re seeing people who aren’t personally religious and have no particular affection for people who are religious-right leaders,” Kuo said.

“In the political affairs shop in particular, you saw a lot of people who just rolled their eyes at … basically every religious-right leader that was out there, because they just found them annoying and insufferable. These guys were pains in the butt who had to be accommodated.”

http://www.time.com/time/politics/article/0,8599,1719900-3,00.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | Leave a Comment »

Chính Sách Đối Ngoại Mỹ và Trung Quốc (phần 2)

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2008

Sự Tham Dự Kinh Tế Chiến Lược Làm Mạnh Thêm Các Mối Quan Hệ Giữa Mỹ và Trung Quốc

Henry M. Paulson Jr.

Bộ trưởng Tài Chánh 2005-2009.

Vụ Đối Ngoại

Số báo: Tháng 9/ Tháng 10 năm 2008

Người dịch: Trần Hoàng

Phần II

CÁC QUYỀN LỢI TRÙNG NHAU

Bằng cách tập trung vào các lãnh vực chính sách mà trong đó chương trình nghị sự cải cách của TQ có cùng một điểm chúng với các quyền lợi của Mỹ, Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED) đã và đang tìm ra các phương cách mới và có tính chất xây dựng để thảo luận một số các vấn đề quan trọng nhất và các vấn đề đang còn tranh cải nhau trong mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và TQ, bao gồm sự bất quân bình về phát triển, an ninh năng lượng và sự quan trọng của môi trường, các đề tài thương mại và đầu tư (bao gồm an toàn của các sản phẩm), và vị trí của TQ trong hệ thống kinh tế toàn cầu. Nói ra các vấn đề nầy không chỉ phục vụ cho các quyền lợi của người TQ nhưng còn là việc sống còn đối với sức mạnh kinh tế của Mỹ (quốc gia được đón chào bước vào thị trường xuất khẩu quan trọng nầy) và sức mạnh lâu dài của nền kinh tế toàn cầu. Những người Mỹ nào đang lo ngại rằng TQ có thể vượt qua Hoa Kỳ là họ đang nhầm lẫn. Thay vì đó họ nên lo ngại rằng Bắc Kinh có thể không thực hiện các cuộc cải cách then chốt, hay rằng Bắc kinh sẽ đối diện với các khó khăn kinh tế về sau nầy. Những khó khăn nghiêm trọng trong nền kinh tế của TQ có thể hăm dọa sự ổn định của Hoa Kỳ và các nền kinh tế toàn cầu.

Mặc dù sự nổi lên của TQ như một cường quốc kinh tế toàn cầu – TQ hiện giờ có mức tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ làm ra trong 1 năm (GDP) đứng vào hàng thứ 4 của thế giới – TQ vẫn còn là một quốc gia đang phát triển, chỉ xếp hạng thứ 100 trên thế giới về sản lượng và dịch vụ mà một người dân làm ra được trong một năm.

Sự gia tăng lợi tức của TQ đã và đang trải rộng, nhưng không đều; hậu quả, sự bất bình đẳng trong lợi tức (hay lương, tiền làm ra của mỗi người – TH ) đã gia tăng rất nhanh trong 30 năm qua. Một điều biểu thị cho sự bất bình đẳng nầy là tỉ lệ ghi danh vào các trường trung học cấp III ở tỉnh, (cha mẹ sẽ phải đóng các thứ lệ phí).

Lúc ban đầu của thời kỳ cải cách (1982), chỉ có những khác biệt nhỏ bé trong tỉ lệ ghi danh khắp các tỉnh, nhưng vào năm 2003, việc ghi danh gần như là 100% trong các tỉnh giàu có, so sánh với chưa tới 40% trong các tỉnh nghèo khó hơn.

Với sự ổn định xã hội, TQ đã buộc chặt niềm tin rằng sự phát triển về mức giàu có (cuối cùng) sẽ xuống tận tới tay mọi người, sự phát triển lâu dài vẫn là điều ưu tiên quan trọng nhất của các lãnh tụ Trung Quốc. Nhưng những thách thức về duy trì sự phát triển và giảm bớt về bất bình đẳng về lợi tức đang trở nên dữ dội hơn khi mà nền kinh tế của TQ phát triển ngày càng phức tạp hơn, mức xuất khẩu của TQ đang bắt đầu bảo hòa ở thị trường các nước ngoài, dân số của TQ bắt đầu già nua, và các đòi hỏi của người trong nước về một môi trường sạch sẽ đang gia tăng.

Trái với lòng mong đợi, chính kiểu mẫu phát triển đã khuyến khích và lèo lái sự cất cánh của TQ trong thời gian gần đây có thể trở thành một chướng ngại vật cho sự phát triển kinh tế cao độ của đất nước nầy và sự ổn định của xã hội trong tương lai.

Hơn 40 năm qua, tất cả các thị trường xuất hiện ở Đông – Á đang chứng kiến sự phát triển về lãnh vực kỹ nghệ của họ, và nhiều quốc gia cũng đã và đang trải qua những sự gia tăng về mức độ bất bình đẳng về lợi tức (tiền, lương kiếm được). Nhưng những thay đổi nầy thì rất lớn ở TQ. Sự lệ thuộc nặng nề của TQ vào các ngành xuất khẩu và đầu tư trong nền kỹ nghệ sản xuất đòi hỏi bỏ ra quá nhiều tiền bạc để mua máy móc và trang thiết bị để hổ trợ cho phát triển đã và đang cổ vũ sự gia tăng nhanh chóng của việc tiêu thụ năng lượng (cũng như làm gia tăng sự tàn phá môi trường), sự xây dựng của các khu vực gần bờ biển nhanh hơn quá nhiều so với vùng nội địa của TQ (nơi có 740 triệu người sinh sống, hơn nửa dân số), và sự gia tăng quá nhanh trong thặng dư mậu dịch của TQ (chuyện nầy đã và đang làm gia tăng cao độ các căng thẳng với các quốc gia đối tác).

Một trong những điểm chỉ đáng ghi nhận nhất của sự phát triển không cân đối của TQ là sự thặng dư tiền bạc quá lớn, năm ngoái, số tiền nầy lên tới trên 11% của GDP. [1] Điều nầy phản ảnh thực tế rằng TQ đang tiêu dùng ít hơn là họ sản xuất và kiếm được và rằng TQ có một tỉ lệ cao về tiền tiết kiệm. Mức tiêu thụ của mỗi gia đình TQ chỉ bằng 35% của GDP trong năm 2007, giảm xuống gần 50% so với cách đây 30 năm, khi Bắc Kinh mới bắt đầu những cải cách thị trường. (Mức tiệu thụ của gia đình hiện nay là gần bằng 70% của GDP ở Mỹ và 60% ở Ấn Độ.) Ngược lại, mức tiết kiệm gia đình thì rất cao, vì những người TQ cố gắng (tiết kiệm) để bù trừ lại cho mạng lưới an toàn xã hội mong manh của quốc gia nầy, h
đã giới hạn các chọn lựa để trả tiền cho các món chi tiêu lớn như là giáo dục, và một số ít lựa chọn đầu tư khác ngoài chuyện bỏ tiền vào ngân hàng tiết kiệm.

Các đặc trưng thống kê về dân số (tuổi tác và mức lợi tức) (Demographics) sẽ làm gia tăng các khuynh hướng nầy: khi dân số trở nên già đi, các nguồn tiền bạc truyền thống hổ trợ cho người già – là con cái – sẽ trở thành hiếm hoi.

TQ nên phát triển xa hơn trong lãnh vực tài chánh của họ để giúp giảm bớt tỉ lệ tiết kiệm cá nhân quá độ như hiện nay và gia tăng mức tiêu thụ cá nhân. Với nhiều sản phẩm về tài chánh và các dịch vụ có sẵn để trả tiền cho các chi phí lớn lao và bảo hiểm chống lại chuyện không may (như tai nạn), và với các lựa chọn đầu tư sinh lợi cao hơn, các gia đình người TQ sẽ ở trong một vị trí để tiết kiệm ít lại và tiêu thụ nhiều hơn. Một lãnh vực tài chánh cạnh tranh và năng động cũng sẽ thu hút các nguồn đầu tư vào trong các kỹ nghệ mới ít tiền mua trang thiết bị, chẳng hạn như các công nghệ thông tin và phục vụ, những thứ nầy sẽ lèo lái sự phát triển ủa TQ trong tương lai.

Để bảo đảm sự ổn định, sự phát triển không có tính chất lạm phát trong ngắn hạn và sự phát triển duy trì trong dài hạn, TQ cũng cần các mức giá cả uyển chuyển, đặc biệt, một tỉ lệ hối đoái (trao đổi ngoại hối) linh động. Sự kiểm soát chặc chẻ của Bắc kinh về đồng nhân dân tệ, đi kèm với một sự thặng dư mậu dịch to lớn và số lượng tiền đầu tư của nước ngoài vào TQ quá lớn, đã và đang dẫn tới một sự tích tụ đình trệ về dự trữ trao đổi ngoại tệ. Điều nầy đã và đang khuyến khích Ngân Hàng Nhân Dân của TQ phát ra một số lượng lớn của đồng nhân dân tệ để ngân hàng nầy có thể mua tiền dự trữ ngoại tệ và giữ cho đồng nhân dân tệ khỏi gia tăng giá trị quá nhanhvà rằng, đến lượt, chuyện ấy đã và đang giúp nạn lạm phát về nhiên liệu mặc cho các nổ lực của ngân hàng trung ương hấp thu lượng tiền quá nhiều bằng cách bán ra các công khố phiếu và gia tăng các mức đòi hỏi về mức tiền dự trữ của các ngân hàng trong nước.

Nâng gia trị đồng nhân dân tệ và sự thoải mái linh động lớn hơn trong tỉ lệ trao đổi ngoại tệ có khả năng giới hạn tác động của việc làm gia tăng giá dầu của thế giới và giá cả các nguyên liệu, thực phẩm ở TQ, và cùng lúc ấy cho phép chính sách tiền tệ của TQ trở thành một công cụ có tính hiệu quả trong sự bảo đảm một sự phát triển ổn định.

Giá trị đồng nhân dân tệ mạnh hơn cũng sẽ khuyến khich hoạt động kinh tế trong các lãnh vực của nền kinh tế TQ – đặc biệt là các lãnh vực phục vụ — những lãnh vực nầy sản xuất cho thị trường nội địa. Và điều nầy sẽ giúp gia tăng phần nào của mức tiêu thụ trong gia đình trong nền kinh tế TQ, gia tăng vai trò của nhu cầu trong nước trong việc làm mạnh mẻ sự phát triển của TQ và làm cho sự phát triển ấy có thể kéo dài lâu hơn trong tương lai.

Các đề tài nầy đã và đang là trọng tâm của nhiều cuộc thảo luận ở SED. Kết quả của các cuộc nói chuyện như thế, các nhà lãnh đạo TQ đã và đang nhận ra giá trị của việc điều chỉnh lại tỉ lệ trao đổi tiền bạc, đặc biệt, quan trọng nhất là tăng tốc độ gia tăng giá trị của đồng nhân dân tệ.

Giữa tháng 7-2005, khi chính quyền TQ lần đầu tiên thả lỏng đồng nhân dân tệ khỏi tiền đô Mỹ, và giữa tháng 6- 2008, Bắc Kinh đã chấp thuận cho đồng nhân dân tệ tăng giá so với tiền đô Mỹ khoảng 20% trên cơ bản định danh và 23% trên cơ bản thật sự.

70% của việc tăng giá ấy đã và đang diễn ra kể từ khi SED bắt đầu, và một nửa của sụ tăng giá ấy xẩy ra vào năm ngoái. Rõ ràng TQ đang có nhiều khả năng để tăng giá thêm, nhưng sự tiến bộ ấy cho đến hôm nay là một thí dụ về chuyện làm cách nào mà việc đối thoại chiến lược có thể sinh ra các thành quả.

Nhờ Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED), Washington đã và đang làm việc đều đặn để giúp Bắc kinh mở lãnh vực tài chánh của TQ, đang tạo ra các cơ hội mới cho các học viện và cơ quan TQ đầu tư ở ngoại quốc và đầu tư vào ngân hàng Mỹ, công khố phiếu, và các công ty bảo hiểm hoạt động ở TQ, bao gồm luôn cả chuyện cho phép các công ty bảo hiểm nầy đầu tư vào trong thị trường chứng khoáng ở TQ.

Hoa Kỳ và các tổ chức tài chánh ngoại quốc khác là các thủ lãnh kỹ nghệ ở TQ, nhưng họ đang đối diện với các hãng cạnh tranh nội địa đang thúc đẩy việc bảo vệ (hàng nội địa). The SED tiếp tục tìm kiếm các con đường qua đó chính quyền TQ có thể tự do hóa xa hơn nữa các khu vực tài chánh của TQ, bao gồm việc cho phép các công ty nước ngoài phát hành những công khố phiếu và các công trái và mở rộng lãnh vực kinh doanh được cho phép đối với các hãng phát hành công trái.

NHỮNG THỬ THÁCH MẠNH MẺ

Như là hai nhà tiêu thụ lớn nhất và hai nhà nhập cảng dầu nhiều nhất thế giới, Hoa kỳ
và TQ là những đồng minh tự nhiên khi nói đến an ninh năng lượng. Mỹ đã và đang chọn lựa những chính sách thiên về thị trường, thúc đẩy cho sự minh bạch về cung -cầu năng lượng, và cổ vỏ sự phát triển của các nguồn năng lượng thay thế (dầu và xăng), và Mỹ đang khuyến khich TQ làm tương tự. Nhưng Mỹ (một cách khẩn cấp) vẫn còn đang cần một chính sách năng lượng toàn diện để bảo đảm an ninh năng lượng. Và TQ thì cũng như vậy.

Thực tế TQ, nếu ngày nay TQ đã đạt được sự hiệu quả giống như Mỹ đã có trong năm 1970, TQ sẽ tiết kiệm tương đương của 16 triệu thùng dầu mỗi ngày, hay vào khoảng 20% sự tiêu thụ dầu hàng ngày của thế giới.

Có những dấu hiệu thay đổi. Sau nhiều năm xem năng lượng như một đầu vào thuần túy cho sự phát triển kinh tế, hiện nay chính quyền TQ càng ngày càng nhận ra sự cần thiết (thiên về tích cực) kiểm soát nhu cầu năng lượng của họ. Ba yếu tố then chốt đã và đang thúc đẩy sự chuyển tiếp nầy.

Yếu tố thứ nhất là có tính chất kinh tế. Một cách điển hình là TQ đã và đang đặt ra những qui định về giá điện và trợ cấp giá dầu trong một nổ lực để cổ vỏ sự ổn định của xã hội, nhưng các giá cả thấp có tính chất nhân tạo như thế đã và đang khuyến khích sự tiêu thụ không có hiệu quả và tiêu thụ phí phạm, mặc dầu khi cái giá của các chương trình nầy đối với chính quyền đã và đang gia tăng với việc giá cả năng lượng toàn cầu gia tăng. Kết quả, TQ hiện giờ đang đối diện với những thiếu hụt liên tục về dầu cặn diesel và xăng, và nhiều lần khủng hoảng, chính quyền TQ không còn bảo đảm một sự cung cấp đều đặn về năng lượng cho dân chúng của họ — như đã từng xẩy ra suốt thời gian có cơn bảo tuyết đầu năm 2008.

Lý do thứ nhì, các nhà lãnh đạo TQ đã và đang nhận ra rằng sự khan hiếm về tài nguyên đang ngăn chặn khả năng của họ là duy trì sự ổn định chính trị bằng cách cải thiện phẩm chất đời sống của dân chúng. Hiện giờ chính phủ nhận ra sự cần thiết phát triển một mô hình mới ít hao tốn năng lượng cho sự phát triền kinh tế. Một cách đơn giản hiện giờ không có đủ tài nguyên năng lượng để cho phép toàn bộ dân số thế giới, hay ngay cả 1/3 dân số thế giới đại diện là người TQ, hướng tới một kiểu sống có nguồn tài nguyên dồi dào mà người Mỹ đang được hưởng hiện nay. Một cách nào đó để hổ trợ làm gia tăng các mức lợi tức cao hơn, trong lúc đặt ít gánh nặng vào các nguồn tài nguyên nên được tìm ra.

Lý do thứ 3, Bắc kinh biết rõ sự cần thiết kiểm soát năng lượng tiêu dùng đang làm gia tăng sự quan tâm của dân chúng (đặc biệt giữa các tầng lớp cao và trung cao ở Trung Quốc) qua chuyện xuống cấp của môi trường đã gây ra vì xử dụng năng lượng không có hiệu quả. Khoảng 1000 vụ tranh cải nhau về chuyện bảo vệ môi trường đang diễn ra hàng mỗi tuần ở TQ. Đang có sự tổn hại môi trường nghiêm trọng quá đến nổi theo Ngân Hàng Thế Giới đánh giá là các giá cả của sức khỏe và không phải sức khỏe cộng lại và ô nhiễm nước ở TQ lên tới 100 tỉ mỗi năm, hay vào khoảng 5,8% tổng sản lượng hàng hóa và phục vụ sản xuất trong một năm (GDP) của Trung Quốc.

Mặc cho sự lo âu của quốc tế đang qui kết việc xử dụng năng lượng của TQ và những biểu hiện thay đổi môi trường dẫn tới sự thay đổi của khí hậu, điều nầy vẫn chưa phải là một điểm gây sức ép đối với TQ. Các nhà lãnh đạo TQ một cách sắc sảo và nhạy bén đang biết rõ về cái giá khổng lồ của các vấn nạn môi trường và về các giá cả mà Trung Quốc phải trả. Chúng là các cơn lũ và các thiên tai khác, hay sự hăm dọa của các mực nước biển dâng lên tới các thành phố miền duyên hải của quốc gia nầy. Nhưng TQ đang đối diện nhiều đề tài môi trường địa phương có tính chất ngắn hạn và cấp bách hơn – chẳng hạn như không khí và nước bị ô nhiễm, các thứ nầy làm tổn hại sức khỏe dân chúng của họ — và họ xem sự thay đổi khí hậu như là một vấn nạn đã sinh ra bởi các quốc gia kỹ nghệ và bởi vậy các quốc gia ấy phải giải quyết chuyện ấy.

Bắc kinh vẫn còn xem các bàn thảo và các cuộc thương lượng quốc tế về đề tài nầy như là một cơ hội để bắt các quốc gia khác trả cho TQ để giảm bớt tác động lên môi trường về sự phát triển kinh tế của TQ. Những thỏa hiệp hiện hữu đã và đang cho Bắc Kinh lý do để hy vọng cho sự thành công với chiến lược nầy: vào năm 2007, TQ đã nhận được 73% của của các tín dụng về carbon chuẩn bị sẵn sàng dưới Cơ Chế Phát Triển Sạch, một nét đặc điểm của Thỏa Hiệp Kyoto, thỏa hiệp nầy cho phép các quốc gia đã kỹ nghệ hóa chịu nghĩa vụ dưới hòa ước này bằng cách cung cấp tiền bạc cho các dự án giảm sự phát ra các loại khí thải kỹ nghệ trong các quốc gia đang phát triển.

Khi Trung Quốc trỏ thành nước phát ra khí than (carbon) gia tăng nhanh nhất và nhiều nhất thế giới, các nước còn lại của cộng đồng quốc tế đang nhận ra rằng họ không thể đạt được mục đích của họ trong việc thay đổi khí hậu mà không có một sự cam đoan gánh vác chính bởi Bắc Kinh.

May mắn thay, có một phương cách mang tính xây dựng ở phía trước. Khi TQ thực hiện các tiến bộ về năng lượng hi
n nay và những thách thức môi trường bằng cách làm cho nền kinh tế của họ giảm ít cường độ về xử dụng năng lượng hơn xuyên qua việc thực hiện đầy đủ các chính sách như ít khí than (carbon) thải ra, dùng các chiến lược bảo vệ năng lượng và dùng các kỹ thuật mới ít hao tổn năng lượng, thì một phúc lợi có hệ quả tất yếu sẽ là một sự giảm thiểu trong tỉ lệ gia tăng của các khí thải than (carbon) của TQ. Và dầu cho vai trò phát triển của TQ trong nền kinh tế toàn cầu, phúc lợi ấy chẳng bao lâu sẽ trở thành rõ ràng, (trước nhất là đối với phần còn lại của thế giới và rồi đến Bắc Kinh), rằng chính quyền TQ nên gánh vác nhiều trách nhiệm hơn nữa trong việc đáp ứng với thử thách của sự thay đổi khí hậu.

Trong lúc nầy, mặc dầu Mỹ và các quốc gia khác đang túm lấy nhau những thương nghị hiệp định về chuyện thay đổi khí hậu, SED đã và đang tập trung những bàn thảo của họ về các giá cả của sự thay đổi khí hậu đối với Mỹ và TQ. Các sự chia nhánh của chính sách năng lượng của TQ đã và đang là một đề tài phù hợp của cuộc thảo luận tại Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ (SED), và tôi đã và đang khuyến khich chính quyền TQ tiến tới một giá cả năng lưởng được xác định bỏi thị trường (thay vì bao cấp giá cả như hiện nay – TH). Bắc Kinh đã và đang có kế hoạch dành cho việc giới thiệu những giá cả thị trường thêm trong lãnh vực năng lượng trong một thới gian tới, nhưng đang lo lắng về sự bất ổn định mà biện pháp ấy có thể gây ra. Quyết định của Bắc Kinh gia tăng giá cả nhiên liệu và xóa bỏ các phụ cấp vào tháng 6 năm vừa qua, ngay sau khi có cuộc họp lần thứ 4 của SED (Ban Đối Thoại Kinh tế Chiến Lược Giữa TQ và Mỹ) và vào lúc có một cuộc viếng thăm của phó thủ tường Wang tới Washington, đã là một bước đi đúng đắn: hành động ấy rất quan trọng cho sự ổn định của TQ mà các cuộc cải cách nên được làm trong lúc kinh tế của TQ vẫn còn mạnh mẻ.

Mỹ và Trung Quốc đang nhận ra rằng cả hai việc an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường là có tính chất cốt yếu đối với sự phát triển lâu dài của họ. Mặc dầu cả hai quốc gia đều có những nhu cầu khác nhau và đối diện với các thử thách khác nhau, cả hai nước muốn đạt được an ninh năng lượng trong lúc duy trì một môi trường lành mạnh. Một trong những thành đạt chính của SED nằm trong số các điều ghi nhận sắp tới là: việc ký kết Khuôn Khổ Làm Việc 10 năm Hợp tác Năng Lượng và Bảo Vệ Môi Trường tại SED vào tháng 6/2008. Khuôn khổ làm việc nầy đang là một cơ chế song phương tập trung vào sự thành lập ra một kiểu mẫu mới có hiệu quả về năng lượng dành cho sự phát triển kinh tế lâu dài và nói lên các yếu tố gây ra sự thay đổi khí hậu xuyên qua những hành động cụ thể. Nhận ra những vấn nạn như thế là quá to lớn cho bất cứ chính quyền nào để sửa chửa một mình, sáng kiến nầy liên quan đến tất cả các cấp của chính quyền, doanh nghiệp, và các lãnh vực khác của xã hội trong cả hai quốc gia và tập trung vào sự phát triển và sự ứng dụng của kỷ thuật mới, việc xem xét lại các chính sách hiện hành, sự triển khai các điều lệ mới và các khả năng tăng cường kiểm soát việc thi hành, và giáo dục cho công chúng có ý thức. Khuôn khổ làm việc nầy đã và đang sản sinh ra những kết quả rất rõ ràng trong các lãnh vực sản xuất ra điện và truyền tải điện, phẩm chất của không khí và nước, giao thông vận tải, và việc bảo vệ rừng và vùng đất ngập nước – gợi lên sự hứa hẹn hợp tác tương lai giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang có.

Thông qua khuôn khổ làm việc ấy, Mỹ và TQ đang hợp tác vào việc cùng nhau nghiên cứu về các nhiên liệu có khả năng tái sinh (mặt trời, gió, sóng biển – TH) và các nguồn nhiên liệu thay thế (xe điện, khí hydro, dầu bắp) dành cho giao thông và nghiên cứu về các nổ lực để cải thiện phẩm chất nước của các sông ngòi, các hồ, và các con suối ở Trung Quốc. Những tiến bộ lớn hơn có thể nằm trong những năm sắp tới đây, và khung hình làm việc nầy đã cung cấp cho chính phủ sắp tới (của TT Obama) của nước Mỹ một nền tảng quan trọng cực độ để tiếp tục “mối hôn nhân” kinh tế của Washington với Bắc Kinh.

(Còn tiếp)

Mời các bạn đón đọc phần III

Lời tựa (phác thảo 🙂 để ở cuối: Đây là bài nằm trong một loạt bài chính sách đối ngoại của Mỹ và Trung Quốc và tại Châu Á. Phần thứ nhất của loạt bài nầy dài khoảng 30 ngàn từ, đươc viết bởi các nhà ngoại giao, tài chánh, chính trị đã tham dự từ đầu trong chiến cuộc VN, và với Trung Quốc 1972-1978 cho đến hiện nay. Họ đã và đang đảm nhiệm các chức vụ chính trị, ngoại giao, tài chánh rất quan trọng là tiếng nói của Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, tại Á Châu, Âu Châu và người kia thì có quyền lực tài chánh quan trọng đứng hàng thứ hai của Mỹ.

Loạt bài phần thứ hai (sau 2 tác giả nầy) cũng sẽ được dịch dần dần cho bạn đọc thưởng thức. Loạt bài phần hai có sự tham gia của các chính trị gia khác, (theo sự tiên đoán của TH), đang viết tổng kết mối quan hệ 30 năm giữa Mỹ và TQ (1978-2008) sắp được kỷ niệm vào năm 2009.

Mối hôn nhân giữa Mỹ và TQ ra sao trong 30 năm qua (1978-2008) kể từ khi họ mới quen nhau năm 1972? Mối hôn nhân ấy sẽ như thế nào trong 10 năm sắp tới? và sẽ về đâu trong những năm sau đó? Mối tình Mỹ-Việt, rồi kế đó đã và đang là Mỹ-Trung Quốc, và rồi sẽ là Mỹ …với ai trong 2010-2020?

Loạt bài chính sách đối ngoại với các chuyện bí mật về chính sách ngoại giao, tài chánh, kinh tế, quân sự… có một không hai, bảo đảm sẽ làm quyến rũ say mê từ nh
ng sinh viên cho đến các cụ 90 tuổi và tất cả những ai còn có lòng nghĩ đến đất nước.

Trong loạt bài đó, bạn đọc sẽ nhận ra rất nhiều phần đã và đang được giữ bí mật đến nổi các nhà chính trị gia hàng đầu của Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, và các nhà bình luận về kinh tế báo chí Hoa Kỳ đã, đang vả sẽ ăn ngũ không yên và cũng chỉ đoán già đoán non và không hiểu tại sao Mỹ đã, đang và sẽ làm vậy (Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, …làm vậy) trong 30 năm qua và quan trọng nhất là 10 năm sắp tới Mỹ và TQ sẽ còn làm gì nữa đây…

Loạt bài bằng tiếng Việt nầy chưa từng được dịch ra và đăng trong tất cả các báo chí và website nào ở Việt Nam và báo chí của người Việt ở nước ngoài…đã và đang được TTX Ba Sàm dịch thuật gởi đến bạn đọc để đáp lại những gì các bạn đã và đang đọc trên blog của TTX Ba Sàm.

Đọc loạt bài nầy để hiểu rõ chuyện quá khứ và đang diễn ra của Mỹ và TQ, nhìn thấy tương lai của mối quan hệ nầy, và những mâu thuẩn đang sôi sùng sục trong quốc hội Mỹ trong hơn 10 năm qua và chực chờ ngày bùng nổ vào lúc TT Obama đang lên nắm quyền vào năm 2009.

Các thế hệ trẻ của Việt Nam nên nắm vững các vấn đề nầy để biết mình, biết người, từ đó cần rút ra được bài học gì, làm gì hôm nay, chuẩn bị gì cho tương lai, và khai thác được gì từ những bất đồng về tài chánh, kinh tế sắp nổ ra rất gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc sắp tới… để từ đó biết mình sẽ làm gì …(liệu có thể nắm lấy thời cơ giành lại các vùng biên giới trên bộ đã bị mất vào tay TQ và lấy lại Trường Sa và Hoàng Sa trong các thập niên sắp đến.)

Các bài liên quan với bài nầy:

*Phần 1:

http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=644#comments

*Mở cửa Trung Quốc, Khi Đó và Bây Giờ của Richard Holbrooke, từng tham chiến trong lãnh vực Bình Định Nông Thôn tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long 1961, và sau đó là cố vấn cho các đại sứ Mỹ Maxell Taylor và Henry Cabot Lodge Jr. VN 1962-1969 (có thể ông nầy có biết ít nhiều về vụ ám sát TT Ngô Đình Diệm(?), là Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Đông Á và Thái Bình Dương Sự Vụ 1977-1991, Đại sứ Mỹ tại Đức 1993-1994, phụ tá bộ trưởng ngoại giao Mỹ tại Âu Châu 1994-1996, và đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc 1999-2001. Ông nằm trong ban cố vấn ngoại giao của bà Clinton, và nếu Hillary Clinton thắng cử, người ta nói rằng ông có thể sẽ được cử chức vụ làm bộ trưởng ngoại giao vì sự tham gia công tác ngoại giao suốt 40 năm qua của ông ở Châu Á, Châu Âu,

đọc ở đây:

http://blog.360.yahoo.com/blog-KXmUmB85dKcsZwcjeCxWU1TlGZU-?cq=1&p=648#comments

*

Posted in Uncategorized | 2 Comments »

Việt Nam Đang Hy Vọng rằng

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2008

Giải pháp Kích thích Có thể

Vực dậy nền Kinh tế

Kế hoạch này Đã làm Sống lại Cuộc tranh luận về Vai trò và những Đòi hỏi của các Doanh nghiệp do Nhà nước làm chủ.

JAMES HOOWAY

The Wall Stret Journal

Ngày 29-12-2008

Các nhà lãnh đạo Cộng sản của Việt Nam [đang đặt lòng tin] vào một chương trình kích thích trị giá 6 tỉ đô la nhằm bơm [một ít sức mạnh] vào nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại của đất nước này và giúp các nhà xuất khẩu tư nhân thoát khỏi tình cảnh trì trệ trên toàn cầu.

Thế nhưng kế hoạch kinh tế, được loan báo vào tháng này, cũng đang làm sống lại cuộc tranh luận sôi nổi về sự lệ thuộc của chính thể Hà Nội vào [các tập đoàn kinh tế to lớn do nhà nước điều hành], nơi mà các nhà phê bình cho rằng đang đòi hỏi một phần chia sẻ [vượt quá khuôn khổ] các nguồn tài chính của Việt Nam.

Các chi tiết đầy đủ về khoản kích thích cả gói của Việt Nam được mong đợi sẽ công bố vào thứ Tư. Trong số những vấn đề khác, chính phủ đã phát đi dấu hiệu về các kế hoạch đưa ra mức giảm thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân nhỏ để giúp họ đương đầu với tình trạng tăng trưởng được dự đoán là sẽ chậm lại. Chính phủ đã dự kiến tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam sẽ là 6,2% – giảm từ mức 8,5% năm ngoái và là tỉ lệ tăng trưởng chậm nhất trong chín năm qua. Họ nhắm giữ mức tăng trưởng trên 6% năm 2009.

Một số doanh nghiệp nhà nước – đóng góp khoảng 40% GDP của Việt Nam – cũng muốn một khoản phân phát tài chính từ chính phủ. Tại một cuộc họp với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng này, các thành viên hội đồng quản trị của các tập đoàn nhà nước [đã xin được giúp đỡ], làm dấy lên những mối quan ngại rằng các doanh nghiệp lớn đang toan tính sử dụng cuộc khủng hoảng kinh tế để siết chặt ách kìm kẹp của họ đối với nền kinh tế Việt Nam.

Tập đoàn Vận tải Biển Việt Nam, là một ví dụ, đã báo cáo với thủ tướng là họ cần thêm [tiền vốn] và đề nghị chính phủ nới rộng thời hạn cuối cho những [khoản chi trả trể hạn] cho nhà cung cấp chính của mình là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Mạng lưới đường sắt do chính phủ quản lý cũng đề nghị có thêm thời gian cho những khoản nợ phải trả, trong khi Tập đoàn Thép Việt Nam đề nghị có thêm tiền và [được tự do] trong việc ấn định giá bán thép, bất chấp một tình trạng sụt giảm trong nhu cầu tiêu thụ. “Chúng tôi đề nghị chính phủ cấp thêm cho chúng tôi vốn để xây dựng các nhà máy lớn hơn,” ông Đậu Hùng, chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn thép đã nói trong cuộc họp, theo truyền thông trong nước cho biết.

Một số nhà kinh tế trong nước đã phản ứng trước những đòi hỏi của các tập đoàn này với thái độ chống đối hiếm thấy trong một đất nước Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ.

[“Các tập đoàn nhà nước là lỗ hổng, là sự thất bại, là điểm yếu nhất trong nền kinh tế của chúng ta,”] đó là nhận xét của ông Nguyễn Quang A, viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển, một nhóm các chuyên gia cố vấn kinh tế ở Hà Nội. “Chính phủ cần phải nhận thức rõ rằng các tập đoàn này làm cho nền kinh tế Việt Nam kém hiệu quả. Với việc ngồi lại và có một cuộc họp với họ, là chứng tỏ rằng chính phủ vẫn đặt họ vào một vị trí cao.”

Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã lao vào một cuộc chi tiêu ồ ạt và đa dạng trong những năm qua khi mà nền kinh tế từng đóng cửa đã chuyển sang bùng phát mạnh mẽ.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, hay còn gọi là PetroVietnam, đã bắt đầu xây dựng một khách sạn năm sao tại Hà Nội, trong khi một trong những nhà sản xuất thép lớn nhất bắt đầu sản xuất bia, khi các nhóm này tìm cách bành trướng ảnh hưởng của mình trong nền kinh tế trước khi [Việt Nam] mở cửa hơn nữa cho các đối thủ cạnh tranh ngoại quốc theo sau việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam năm 2007.

Một số doanh nghiệp nhà nước đã mở các ngân hàng riêng của mình để cung cấp tài chính cho các kế hoạch phát triển của họ và đã sử dụng [tiền thu được từ việc bán công-trái được chính phủ bảo đảm] để xây thành đắp lũy cố thủ cho mình trong những gì thường được được coi là tình trạng độc quyền.

Song các nhà phê bình tin chắc rằng sự ủng hộ của chính phủ cho những tập đoàn này đã bóp nghẹt các doanh nghiệp Việt Nam nhỏ hơn và [làm ăn hiệu quả hơn], và đã kêu gọi ông Dũng hãy giảm bớt tốc độ hỗ trợ khu vực nhà nước này.

Thủ tướng đang có những biện pháp trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ hơn — nơi cung cấp nhiều hàng dệt may của Việt Nam, với lượng hàng hóa xuất khẩu được sản xuất ra lớn nhất nước – [đang cố gắng chống chỏi] tình trạng suy sụp của nền kinh tế. Ông đã trưng ra những kế hoạch giảm thuế doanh nghiệp ở mức 30% cho các doanh nghiệp nhỏ hơn này trong quý cuối của năm 2008 và cho toàn bộ năm 2009, trong một nghị quyết của chính phủ được đưa ra đầu tháng này.

Chính phủ cũng đã cho biết sẽ cắt giảm một số biểu thuế nhập khẩu và cho phép một số công ty hoãn nộp thuế trong chín tháng đầu năm 2009, [thêm vào đó chính phủ đang hoàn trả lại khoản tiền thuế] giá trị gia tăng của năm nay cho tất cả nguyên vật liệu được sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu.

Nội đã có những giải pháp khác nữa để giúp cho các nhà xuất khẩu bằng cách cắt giảm lãi suất ngân hàng năm lần kể từ tháng Mười và cho phép đồng tiền Việt Nam giảm giá đều đặn so với đô la để hàng sản xuất tại Việt Nam cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế. Hối suất chính thức đã tuột xuống một mức thấp kỷ lục vào hôm thứ Sáu khi 17.495 đồng ăn một đô la và giảm 9% giá trị cho tới lúc này của năm.

Các giới chức [ngân hàng] trung ương trước đây cho biết họ dự định để tiền đồng được định giá thấp dần nhằm giúp Việt Nam vốn phụ thuộc vào xuất khẩu sống sót qua cơn suy thoái toàn cầu và tránh được tình trạng thất nghiệp. [Các hợp đồng tương lai về tiền bạc chỉ ra rằng tiền đồng đang được trông đợi giảm xuống] khoảng 19.000 đến 20.000 đồng ăn một đô la vào thời điểm này của năm sau.

Nếu như ông Dũng xoay xở để chống lại những lời đề nghị từ các doanh nghiệp nhà nước lớn đang mong đợi một miếng to hơn trong chương trình kích cầu, thì theo các nhà kinh tế, Việt Nam có thể nổi lên từ cuộc suy giảm kinh tế toàn cầu thành một quốc gia mạnh hơn. Thế nhưng thủ tướng phải đối mặt với sức chống cự bên trong [hệ thống chỉ huy] của Đảng Cộng sản, nơi mà một số quan chức bảo thủ coi một vai trò lớn của các tập đoàn nhà nước như là biện pháp để duy trì sự kiểm soát của đảng đối với nền kinh tế của Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước là những ông chủ lớn và [tình trạng cho nghĩ việc trên quy mô lớn] có thể làm [yếu đi sức tiêu xài] trong nền kinh tế tiêu thụ mới ra ràng của Việt Nam.

“Vẫn còn có một nguy cơ rất thực rằng chính phủ, trong những thời điểm của cuộc khủng hoảng, sẽ quay lại cậy nhờ vào cơ chế nhà nước,” theo nhận xét của một kinh tế gia đang làm việc trong nhóm tư vấn chính sách của chính phủ.

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

DECEMBER 29, 2008

Vietnam Hopes Stimulus Can Lift Economy

Plan Revives Debate on Role and Demands of State-Run Firms

By JAMES HOOKWAY

Vietnam’s Communist leaders are counting on a $6 billion stimulus program to inject some zip into the country’s slowing economy and help its privately owned exporters survive the global slump.

But the economic plan, announced this month, is also reviving a hot debate about Hanoi’s dependence on its huge, state-run conglomerates, which critics say are demanding an outsized share of Vietnam’s financial resources.

Full details of Vietnam’s stimulus package are expected to be announced by Wednesday. Among other things, the government has signalled plans to offer tax breaks to the country’s smaller, privately owned businesses to help them cope with expected slower growth. The government projects Vietnam’s gross domestic product to expand 6.2% in 2008 — down from 8.5% last year and the slowest growth rate in nine years. It aims to keep growth above 6% in 2009.

Some state-owned enterprises — which contribute about 40% of Vietnam’s GDP — also want a financial handout from the government. At a meeting with Prime Minister Nguyen

Tan Dung this month, executives of state conglomerates asked for help, raising concerns that the big companies are looking to use the economic crisis to tighten their grip on Vietnam’s economy.

Vietnam Shipping Lines Group, for instance, told the premier it needed more capital and asked the government to extend the deadline for overdue payments to its main supplier, state-run Vietnam Shipbuilding Industry Group. The state-run railway network also asked for more time to repay debts, while Vietnam Steel Group asked for more cash and for a free hand in setting steel prices, despite a slump in demand. “We propose the government

provides us with more capital to build larger plants,” steel executive Dau Hung told the meeting, according to local media reports.

Some local economists have reacted to the conglomerates’ demands with hostility rarely seen in tightly controlled Vietnam.

“They are the flaw in our economy,” said Nguyen

Quang A, president of the Institute of Development

Studies, a Hanoi-based economic think tank. “The

government should realize that these conglomerates

make Vietnam’s economy less efficient. By sitting down

and have a meeting with them, it shows that the government still puts them on a higher level.”

Vietnam’s state-run enterprises embarked on a massive spending and diversification spree in recent years as the country’s once-closed economy has boomed. The state-run Vietnam Oil and Gas Group, or PetroVietnam, began building a five-star hotel in Hanoi, while one of the largest steelmakers began brewing beer, as the groups sought to expand their influence in the economy before it opens up to more foreign competition following Vietnam’s joining the World Trade Organization in 2007.

Some state enterprises have opened their own banks to finance their expansion plans and have used the proceeds of government-backed bonds to entrench themselves in what are often monopolies.

But critics contend the government’s support for these conglomerates has stifled smaller, more efficient Vietnamese businesses, and have called on Mr. Dung to ease off the statesector

acceleration.

The prime minister is taking steps to help smaller businesses — which produce much of Vietnam’s textiles, its largest manufactured export — weather the economic downturn. He set out plans to reduce corporate tax by 30% for these smaller businesses in the last quarter of 2008 and for the whole of 2009, in a government resolution released earlier this month.

The government also said it would cut some import tariffs and allow some companies to defer tax payments for the first nine months of 2009, in addition to refunding this year’s value-added tax on all materials used for making exported goods.

Hanoi has taken other steps to help exporters by cutting interest rates five times since October and allowing the Vietnamese currency, the dong, to steadily depreciate against the dollar to make Vietnam-made goods more competitive on the international market. The official exchange rate slipped to a record low on Friday to 17,495 dong to the U.S. dollar and has fallen 9% against the currency so far this year.

Central-bank officials have said previously they intend to allow the dong to de
preciate gradually to help export-dependent Vietnam survive the global downturn and avoid job losses. Futures contracts on the currency indicate the dong is expected to fall to around

19,000 to 20,000 to the dollar by this time next year.

If Mr. Dung manages to resist the overtures from the large state enterprises looking for a bigger slice of the stimulus program, economists say Vietnam could emerge from the global slowdown in a healthier state. But the premier faces resistance within the

Communist Party hierarchy, where some conservative officials see a large role for state conglomerates as a means of maintaining party control over Vietnam’s economy. The state enterprises are major employers and large-scale lay offs could crimp the spending

power of Vietnam’s fledgling consumer economy.

“There is still a very real risk that the government, in times of crisis, will revert back to relying on state mechanisms,” said one Vietnamese economist working at government policy-advisory panel.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Việt Nam Đang Hy Vọng rằng

Posted by hoangtran204 trên 29/12/2008

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Người tố cáo Tiêu cực ở Việt Nam phải Chịu đựng

Posted by hoangtran204 trên 28/12/2008

Tham Nhũng ở Trường Học là một Vấn Nạn Lớn ở Việt Nam


BEN STOCKING, Phóng viên Hãng Associated Press [AP]

Thứ Bảy, ngày 27-12-2008


HÀ NỘI, Việt Nam – Những kẻ côn đồ đã tới sau khi trời sập tối, lúc ông Đỗ Việt Khoa và gia đình đang sắp sửa đi ngủ.

Ông kể là chúng đã đấm, đá ông, ăn cắp chiếc máy ảnh của ông và làm cho vợ con ông khiếp sợ.

Ông Khoa, một giáo viên toán và địa lý, đã cho là thông điệp của chúng thật rõ ràng: Ông hãy chấm dứt việc tố cáo hiện tượng tham nhũng tại nhà trường hoặc ông sẽ đối diện với chúng tôi.

Trong nhiều năm qua, thầy Khoa đã và đang phải chiến đấu với những hành động mua chuộc hối lộ và gian lận lặt vặt lây lan như bệnh dịch trong các nhà trường trên khắp đất nước Việt Nam, nơi mà những thầy cô giáo và những nhà quản lý giáo dục được trả mức lương còm cõi nên phải bóp nặn những đồng tiền thậm chí trong số những bậc cha mẹ nghèo khó.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã phê chuẩn một bộ luật chống tham nhũng chung trong năm 2005, thế nhưng việc thi hành nó không đồng đều. Đất nước này vẫn được xếp vào loại yếu kém trong các cuộc khảo sát về nạn tham nhũng toàn cầu, và đối với những người Việt Nam bình thường, vốn trân trọng việc học hành, thì tệ nạn tham nhũng trong nhà trường là điều đáng căm giận nhất cho tất cả mọi người.

Ít ai dám chống lại hành động tham nhũng, do họ lo sợ hành động trả thù.

Một người đàn ông xuất thân từ làng quê trông có vẻ bình thường và mảnh khảnh, thầy Khoa, 40 tuổi, đã mở ra một trang đầy kịch tính trên bối cảnh đất nước này hai năm về trước. Ông đã quay phim những học sinh gian lận trong các kỳ thi tốt nghiệp trung học của mình trong lúc các thầy cô giáo khác coi thi đã không làm gì. Các đài truyền hình của nhà nước đã phát đi phát lại đoạn băng này.

Với những ống kính truyền hình đi theo sau, vị bộ trưởng giáo dục của Việt Nam đã tới nhà thầy Khoa để trao cho ông một tấm giấy khen ca ngợi tinh thần dũng cảm của ông. Thầy Khoa đã xuất hiện trên một chương trình kiểu như của Larry King tại Việt Nam. Vị hiệu trưởng của trường Trung học Vân Tảo, nơi thầy Khoa dạy từ năm 2000, đã bị thuyên chuyển công tác.

Thế nhưng khi trở lại với làng quê Vân Hòa của mình, vùng ngoại ô cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 dặm, thầy Khoa đã chẳng nhận được một lời chào đón như một người anh hùng.

Các thầy cô giáo và những cán bộ quản lý giáo dục đã tỏ ra bực bội về sự nổi bật của con người không biết xu nịnh này. [Thậm chí trong số phụ huynh và học sinh, những người được xem là được hưởng lợi nhiều nhất từ nỗ lực của thầy Khoa, chỉ có một ít người đứng ra bảo vệ ông.]

Tất cả những gì mà các bậc cho mẹ mong muốn là cho con em họ ra trường và kiếm được việc làm, thậm chí nếu như họ phải dối trá để qua được kỳ thi cử, thầy Khoa nhận xét.

“Cả cộng đồng xa lánh tôi, thầy Khoa kể. “Họ quấy rối tôi qua điện thoại, họ gửi cho tôi những bức thư. Họ nói là tôi đã đặt ham muốn nổi danh của mình lên trên hạnh phúc của con cái họ. Một vài người trong số họ thậm chí còn doạ giết tôi nữa.”

Anh Thinh Văn Nam, 27 tuổi, một giáo viên của trường, thì cho là thầy Khoa đã tự chuốc lấy phiền toái vào mình.

“Thầy Khoa nói là chúng tôi cô lập thầy ấy, nhưng điều đó không đúng,” thầy Nam nhận xét. “Khi ai đó cảm giác là bị những đồng nghiệp của mình tẩy chay, thì anh ta cần tự hỏi mình là vì sao.”

Các vụ việc đã diễn ra theo chiều hướng leo thang trong tháng qua, khi bốn người đàn ông tới nhà thầy Khoa – hai trong số họ là bảo vệ nhà trường, theo như tin tức báo chí cho hay. Hiện công an vẫn đang điều tra vụ việc.

Thầy Khoa cũng đã động chạm tới vị hiệu trưởng mới, ông Lê Xuân Trung, sau khi gửi một bức thư cho các giới chức trung ương và địa phương, khẳng định rằng ông Trung đã áp đặt nhiều khoản lệ phí không đúng nguyên tắc nhằm làm giàu cho cán bộ nhân viên nhà trường từ chi phí của cha mẹ học sinh.

Trong những lời phàn nàn mạnh mẽ nhất của thầy Khoa là về “những lớp mở thêm” được thực hiện ở trường của mình và những nơi khác trên khắp đất nước, mà tại đó các thầy cô giáo trong biên chế nhà trường đã dạy thêm học sinh để kiếm tiền.

“Nếu các em không học, thì các thầy cô giáo sẽ cho điểm kém,” thầy Khoa nói.

Một giáo viên có thể tăng lên gấp ba lần khoản thu nhập của mình bằng cách nhồi nhét các học sinh vào trong những buổi học thêm đó. Điều này đã làm tốn kém cho các bậc cha mẹ khoảng 6 đô la một tuần – nhiều gần bằng số tiền họ kiếm được từ nghề nông.

Th
y Trung hiệu trưởng đã không trả lời trước yêu cầu có một cuộc phỏng vấn. Thế nhưng ông đã được trích lời trên tờ báo Công an Nhân dân khi nói rằng các học sinh tham gia những lớp học này là tự nguyện.

Theo bài báo thì ông Trung cho rằng thầy Khoa “thường không tập trung vào việc dạy học và không tuân theo các quy định của nhà trường,” và “thầy đã sử dụng máy ảnh và máy ghi âm của mình quá nhiều, nên làm cho mọi người không cảm thấy thoải mái khi nói chuyện với thầy.”

Một người đang bảo vệ thầy Khoa là ông Vũ Văn Phúc, có con trai đang học ở trường Vân Tảo. “Thầy giáo đang lên tiếng chống lại những đòi hỏi vô lý mà nhà trường đã áp đặt này,” ông nói.

“Thầy thực sự là người can đảm,” đó là nhận xét của ông Giang Xuân Dũng, một thầy giáo dạy toán. “Tôi khâm phục tinh thần dũng cảm và bền bỉ của thầy.”

Các trường khác đã đưa ra đề nghị mời thầy Khoa về làm việc.

“Tôi nghĩ là chúng ta phải ủng hộ thầy Khoa,” ông Văn Như Cương, một hiệu trưởng nhà trường ở Hà Nội, người từng cố gắng mời thầy Khoa về trường mình, đã nói. “Chúng tôi thực sự cần những người dám nói thẳng nói thật.”

Thầy Khoa đã từ chối bởi vì trường này quá xa nhà thầy.

Vợ thầy, bà Nguyễn Thị Nga, đã lo lắng cho “cuộc thập tự chinh” của chồng mình.

“Chuyện này đã gây ra cho chúng tôi nhiều phiền toái,” bà kể. “Tôi mong mọi người sẽ hưởng ứng cuộc đấu tranh chống lại tham nhũng để chúng tôi sẽ không trở thành những kẻ lẻ loi.”

[Dù có bất cứ chuyện gì xẩy ra, Thầy Khoa nói, ông sẽ không ngừng chuyện tranh đầu để ủng hộ cho tinh thần trung thực và liêm chính đã được cổ vỏ bởi những nhà cách mạng vô sản đã giải phóng Việt Nam khỏi chế độ thuộc địa.]

“Nhiều thầy cô giáo đang làm nhơ bẩn hình ảnh của ngành giáo dục,” ông nhận xét. “Tham nhũng là một hành động phản bội lại tư tưởng cộng sản và phản bội đất nước.”

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng


Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008


———————–

Do Viet Khoa, a high school math and geography teacher,sits in his house in Thuong Tin district in Hanoi, Vietnam, Wednesday, Dec. 10, 2008. Khoa has been trying to root out the petty bribery and cheating that plagues schools across Vietnam, where poorly paid teachers and administrators squeeze money out of impoverished parents who can’t afford to pay but feel they have no choice. (AP Photo/Chitose Suzuki)

San Francisco Chronicle / Press Democrat / Star Tribune /

————-

Corruption in schools a big problem in Vietnam

By BEN STOCKING Associated Press Writer

Published: Saturday, December 27, 2008 at 11:39 a.m.
Last Modified: Saturday, December 27, 2008 at 11:39 a.m.

HANOI, Vietnam – The thugs came after dark, as Do Viet Khoa and his family were getting ready for bed.

He says they punched him, kicked him, stole his camera and terrified his wife and children.

Khoa, a high school math and geography teacher, thinks the message was clear: Stop blowing the whistle on school corruption – or else.

For several years, Khoa has been fighting the petty bribery and cheating that plagues schools across Vietnam, where poorly paid teachers and administrators squeeze money out of even poorer parents.

Vietnam’s leaders approved a sweeping anti-corruption law in 2005, but implementation is uneven. The country still ranks poorly on global corruption surveys, and for ordinary Vietnamese, who treasure education, school corruption is perhaps the most infuriating of all.

Few dare to fight it, for fear of retaliation.

A slight, ordinary-looking man from a farming village, 40-year-old Khoa made a dramatic entrance onto the national scene two years ago. He videotaped students cheating on their high school graduation exams while their teachers watched and did nothing. State-owned TV stations played the tape repeatedly.

With TV cameras in tow, Vietnam’s education minister went to Khoa’s house to hand him a certificate praising his courage. Khoa appeared on Vietnam’s version of the Larry King show. The principal of the Van Tao High School, where Khoa has taught since 2000, was transferred.

But back in his farming village of Van Hoa, about 15 miles outside Hanoi, Khoa got anything but a hero’s welcome.

Teachers and administrators resented the unflattering spotlight. Even among parents and students, who stood to gain most from Khoa’s efforts, few came to his defense.

All the parents wanted was to get their children through school and into jobs, even if they had to cheat to pass their exams, Khoa said.

“The entire community has shunned me,” Khoa said. “They harass me on the phone, they send me letters. They say I put my thirst for fame ahead of their children’s welfare. Some of them even threatened to kill me.”

Thinh Van Nam, 27, a teacher at the school, thinks Khoa has brought his problems on himself.

“Khoa says we isolated him, but it is not true,” Nam said. “When someone feels ostracized by his peers, he needs to ask himself why.”

Matters escalated last month, when the four men came to Khoa’s house – two of them guards at his school, according to news reports. Police are still investigating.

Khoa has also run afoul of the new principal, Le Xuan Trung, after sending a letter to national and local officials alleging that Trung imposed various unfair fees to enrich school staff at parents’ expense.

One of Khoa’s biggest complaints is the “extra classes” implemented at his school and others across the country, in which regular school teachers tutor students for money.

“If they don’t go, the teachers give them bad grades,” said Khoa.

A teacher can triple a salary by packing students into the sessions. These cost parents about $6 a wee
k – nearly as much as they earn farming rice.

Principal Trung did not respond to an interview request. But he was quoted in the People’s Police newspaper as saying enrollment in the classes is voluntary.

Trung reportedly said Khoa “did not always concentrate on his teaching and follow the school regulations,” and “he used his camera and recorder too much, so people did not feel comfortable talking to him.”

One man defending the teacher is Vu Van Thuc, whose son goes to the school. “He is raising his voice against these absurd requirements imposed by the school,” he said.

“He is really brave,” said Giang Xuan Dung, a math teacher. “I admire him for his courage and patience.”

Other schools have offered to hire Khoa.

“I thought we should support him,” said Van Nhu Cuong, a Hanoi headmaster who tried to hire him. “We really need people who dare to speak out.”

Khoa refused because the school is too far from his home.

His wife, Nguyen Thi Nga, worries about her husband’s crusade.

“This has caused us a lot of stress,” she said. “I wish everyone would join the fight against corruption so that we wouldn’t be the odd ones out.”

No matter what happens, Khoa said, he won’t stop fighting to uphold the ideals of honesty and integrity promoted by the communist revolutionaries who freed Vietnam from colonial rule.

“Many teachers are soiling the image of education,” he said. “Corruption is a betrayal of communist ideology and of the country.”

Posted in Uncategorized | 5 Comments »