Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2012

►Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc

Posted by hoangtran204 trên 29/02/2012

Từ tiếng hát Việt Khang tới thỉnh nguyện thư

Cách đây hơn một tuần tôi đến trung tâm y tế Ne Ponset Health Center ở Boston để hỏi về những chương trình y tế. Ở đây tôi đã gặp một chuyện đặc biệt là một cô gái Việt làm ở phòng Dịch Vụ Tư Vấn đã nói với tôi về nhạc sĩ Việt Khang. Cô cho biết Việt Khang làm hai bản nhạc: Việt Nam Tôi Đâu? Và Anh là ai?. Nội dung hai bài hát nói lên lòng yêu nước và sợ mất nước và hỏi công an Việt Nam tại sao lại đàn áp, đánh đập những người Việt biểu tình biểu lộ lòng yêu nước. Và chỉ vì hai bài hát này mà Việt Khang đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam bắt ngày 23/12/11. Vì thế nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN và tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành BPSOS đã phát động một chiến dịch kêu gọi người Việt ở Mỹ ký Thỉnh Nguyện Thư vào thẳng trang mạng của White House yêu cầu Tổng Thống Obama tạo áp lực, yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho Việt Khang và những người tù lương tâm trong nhà tù hay tù tại gia.

Sau khi trình bày xong biến cố Việt Khang và thỉnh nguyện thư, cô nói:

– Cháu xin bác một chữ ký để cứu Việt Khang.

Tôi xúc động nhìn cô nói:

– Cám ơn cháu đã cho bác biết chuyện Việt Khang. Việc này bác đã biết qua trên net, cũng có ý định ký, nhưng vào trang mạng tòa Bạch Ốc khá phức tạp nên chưa ký được. Tiện đây cháu giúp bác thì tốt quá.

Cô nhìn tôi cười tươi, xoay chiếc laptop, rồi miệng hỏi cùng với những ngón tay di chuyển trên keyboard. Và chỉ khoảng 15 phút sau, cô dừng tay nói:

– Xong rồi bác.
– Cám ơn cháu, tôi nói rồi hỏi:

– Từ ngày khởi đầu chiến dịch đến nay, cháu đã kêu gọi được bao nhiêu người ký tên?

Cô ngẫm nghĩ một lát, rồi đáp:

– Dạ, trên 20 người. Cũng có người từ chối, nhưng đa số đã sốt sắng ký tên. Ngoài Boston, cháu đã gọi cho những người bạn ở mấy tiểu bang khác tham gia vào việc này – Cô ngừng lại, mở tấm bìa dày, lấy 5 tờ giấy đầy chữ đưa cho tôi

– Thưa bác đây là tiểu sử Việt Khang, 2 bài hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Và một bài viết về Việt Khang, cháu lấy từ trang mạng Tuổi Trẻ Yêu Nước… Xin bác vận động người thân và bạn bè cho Việt Khang một chữ ký. Nếu không có computer hay không thể vào trang mạng của White House, bác bảo họ đến Hội Người Việt bên Dorchester. Ở đó có người thường trực hướng dẫn bà con việc ký tên.

Giọng nói nhiệt thành với ánh mắt của cô gái đã theo tôi mấy ngày nay. Tôi đã sống ở Mỹ trên 25 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp một cô bằng tuổi cháu mình, nói với mình về một người yêu nước ở quê nhà, rồi lại còn khẩn khoản nhờ tôi đi vận động những người khác: Bác xin cho Việt Khang một chữ ký.

Qua việc theo dõi chiến dịch và làm theo lời cô gái, tôi có một số ý nghĩ, nên xin ghi lại:

1. Từ tiếng hát Việt Khang:

Sau khi nghe Việt Khang hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai?, tôi có nhận định là hai bài hát đã kết tinh được thảm kịch cách mạng vô sản của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân, với nước.

Thảm kịch với dân: Khởi đi từ mục tiêu đấu tranh giải phóng dân nghèo, đảng Cộng Sản đã cướp được chính quyền và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa 20 năm ở miền Bắc và 37 năm trên cả nước, nhưng Việt Khang đã nhận rõ: Chế độ của đảng Cộng Sản không giải phóng dân nghèo mà là chế độ dối trá, áp chế, bóc lột dân nghèo:

Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Thảm kịch với nước: Khởi từ mục tiêu đấu tranh giải phóng đất nước, đảng Cộng Sản đã phát động 2 cuộc chiến tranh, gọi là kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), rồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1975), hủy diệt trên 3 triệu sinh mạng, cướp cho được miền Nam. Nhưng Việt Khang cũng lại nhận rõ: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp cả nước để dâng cho Tàu:

Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất? Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta.

Hoàng, Trường Sa đã bao người dân vô tội,
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu.

Vì thế, trước nỗi nguy của nước và nỗi đau, nỗi nhục của dân, Việt Khang kêu gọi mọi người đứng lên:

Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam.

Với những tiếng kêu thảng thốt: Việt Nam tôi đâu?, Việt Khang đã đứng dậy cùng đồng bào yêu nước đấu tranh cho sự sống còn của dân tộc:

Tôi không thể ngồi yên khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
Dân tộc tôi phải đắm chìm một ngàn năm hay triền miên tăm tối.
Tôi không thể ngồi yên, để đời sau con cháu tôi làm người,
Cội nguồn ở đâu, khi thế giới này không còn Việt Nam?

Nhưng công an của đảng Cộng Sản đã đàn áp, đánh đập, bắt bỏ tù những người biểu tình yêu nước lên tiếng chống Tàu xâm lược. Trên nửa thế kỷ đảng Cộng Sản Việt Nam đã đồng hóa hai tiếng yêu nước với đảng Cộng Sản: Yêu nước chống Pháp, yêu nước chống Mỹ, yêu nước chống bá quyền Bắc Kinh. Nhưng nay thì đảng Cộng Sản lại từ bỏ hai tiếng yêu nước, về phe với bọn bá quyền Bắc Kinh để đàn áp dân Việt yêu nước. Vì thế Việt Khang đã hỏi: Anh Là Ai?

Câu hỏi Anh Là Ai, nhìn gần thì đó là hỏi những tên công an đánh đập, đạp vào mặt, quăng những người biểu tình lên xe như quăng súc vật, còn nhìn xa hơn thì Anh là Ai là hỏi đảng Cộng Sản. Anh là Ai? Là Việt hay Tàu mà lại làm tay sai cho Tàu để đưa Việt Nam vào vòng nô lệ Tàu?

Với 2 bài hát, Việt Khang đã tổng kết được lịch sử 67 năm của đảng Cộng Sản: Từ cách mạng giải phóng lao động thành áp chế, bóc lột lao động. Từ yêu nước thành tay sai bán nước. Ở đây xin nói thêm là đảng Cộng Sản đã làm nên lịch sử ấy bằng núi xương, sông máu, bằng hận thù dân tộc, bằng tàn phá đất nước nhân danh cách mạng vô sản.

Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai là hai câu hỏi đảng Cộng Sản không dám trả lời mà chỉ dùng công an và nhà tù để đáp lại những người dám lên tiếng hỏi thẳng đảng Cộng Sản như Nguyễn Xuân Nghĩa, Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), Phạm Thanh Nghiên, Cù Hà Huy Vũ, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng… và nay đến lượt Việt Khang.

2. Đến Thỉnh Nguyện Thư

Bao lâu nay, mỗi lần chính quyền Cộng Sản Việt Nam bắt một người đấu tranh cho dân chủ là mỗi lần cộng đồng người Việt ở Mỹ biểu tình lên án chế độ độc tài và kêu gọi quốc tế can thiệp. Lần này với Việt Khang cũng thế. Nhưng với sáng kiến làm Thỉnh Nguyện Thư gửi Toà Bạch Ốc của nhạc sĩ Trúc Hồ và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã đưa cuộc vận động lên một bình diện cao, rộng, đơn giản mà cụ thể. Vì thế kết quả không ngờ là cùng với hai bài hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai?, chiến dịch đã lan tỏa nhanh chóng, dấy lên như những lớp sóng:

– Thành phố lớn nào có cộng đồng người Việt là có hội đoàn đứng ra cùng với những người trẻ thông thạo máy điện toán, vừa vận động vừa giúp đồng bào ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư.

– Chiến dịch dâng cao với những con số thay đổi từng giờ. Ngày khởi đầu là 8 tháng 2, chỉ 4 ngày sau, con số đã vượt 25.000, con số cần đạt được trong 30 ngày để Tòa Bạch Ốc trả lời trực tiếp.

– Đến ngày 19/2, con số lên tới 54.000 và Tòa Bạch Ốc đã phải lên tiếng xin được gặp cộng đồng người Việt để nghe tiếng nói của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ về những vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và về những tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong nước.

– Theo sự thông báo của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng thì chiến dịch có thể đạt quá con số 100.000 vào ngày Cộng Đồng Người Việt vào Tòa Bạch Ốc, và hiện đã có một số tác dụng đáng kể:

Thứ nhất, Tòa Bạch Ốc cho biết một số tổ chức thuộc các cộng đồng bạn ngỏ ý muốn vào Tòa Bạch Ốc ngày 3/5 để yểm trợ tiếng nói của cộng đồng người Việt.

Thứ nhì, nữ dân biểu Zoe Lofgren (Dân chủ, CA) sẽ thảo một văn thư để các đồng viện cùng ký gởi Tổng Thống Obama, kêu gọi Hành Pháp đáp ứng thỉnh nguyện của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Thứ ba, Người Việt ở nhiểu nơi sẽ về Hoa Thịnh Đốn tham gia việc biểu dương ý chí và nguyện vọng trước Tòa Bạch Ốc.

Thứ tư, Cựu dân biểu Cao Quang Ánh lên tiếng kêu gọi người Việt ở mọi nơi đồng loạt tổ chức các cuộc biểu tình ngay tại địa phương của mình vào cùng ngày và cùng giờ với cuộc biểu tình trước Tòa Bạch Ốc.

Thứ năm, hưởng ứng chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư của người Việt ở Mỹ, ngày 24/2, Liên Hội Người Việt Canada phát động chiến dịch gửi Thỉnh Nguyện Thư lên chính phủ Canada với mục đích tương tự như Thỉnh Nguyện Thư của cộng đồng người Việt ở Mỹ.

Kết luận

Từ biến cố Việt Khang và chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư chúng tôi có mấy kết luận sau đây:

1. Từ đầu thập niên thế kỷ XXI đến nay, những người trẻ ở trong nước đã vượt qua sự sợ hãi bạo quyền, xuất hiện ngày càng nhiều với những bài viết cùng tiếng nói để đấu tranh cho dân chủ, dân quyền và hầu hết đã bị bắt với những bản án 3, 7 năm tù. Đến nay Việt Khang tiếp nối những người đi trước, và anh đã dùng thân mạng mình để hỏi đảng Cộng Sản: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Lời đau, cay đắng mà hùng của hai câu hỏi này đã vang xa, vì chỉ trong một tuần chúng tôi đã được nghe chục người hát từ nhiều nơi vọng lại. Nghe lời hát cùng những lời phát biểu của nhiều người ở trong nước cũng như ở Hoa Kỳ về hiện tượng Việt Khang, chúng tôi nghĩ rằng rồi đây dân Việt, người người sẽ hỏi đảng Cộng Sản: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai, hỡi người Cộng Sản Việt Nam?

2. Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ luôn luôn có những cuộc vận động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng cuộc vận động ký Thỉnh Nguyện Thư trước biến cố Việt Khang có thể nói là cuộc vận động chính trị đầu tiên được giới trẻ tham dự đông đảo và nhiệt thành. Thật sự các bạn trẻ đã thúc đẩy lớp người có tuổi vào cuộc. Và chính người trẻ với chiếc laptop đã đưa cuộc vận động đi xa, đi vào từng ngõ ngách của cộng đồng người Việt ở khắp nơi.

Trong bài “Hiện Tượng Việt Khang”, trên trang mạng của đài RFA (2/27/12), thông tín viên Hiền Vy đã ghi lại nhiều lời ca ngợi Việt Khang của các bạn trẻ. Trong đó một bạn tên là Linh Trần ở Houston đã nói: “Cùng với một số ông bà và anh chị em, tôi đã thu ra 200 cái CD trong đó có 2 bài ca bất hủ của Việt Khang. Chúng tôi đã vận động được trên 1000 chữ ký để nỗ lực đấu tranh đòi hỏi lại cái dân quyền bình đảng cho người dân trong nước”. Và trong cuộc biểu tình do Ủy Ban Đấu Tranh Chính Trị Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận tổ chức trước Lãnh Sự Quán Việt Nam (2/27/12) để đòi Hà Nội trả tự do cho những người tù lương tâm, một bạn trẻ tên Thông đã nói: “Việt Khang là một người trẻ sinh ra sau 75. Anh dám viết nói lên cái nguyện vọng cuà anh đối với đất nước. Anh Việt Khang là một người rất can đảm, là cái gương sáng cho tất cả tuổi trẻ sống tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại. Tuổi trẻ ở hải ngoại có rất nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói của mình và tham gia các cuộc biểu tình cũng như những cuộc vận động cho dân chủ và tự do tại Việt Nam”. Anh Thông cho biết: “Em là một trong những người ký tên ngày đầu tiên. Em cũng giúp mẹ em ký tên và em cũng vận động chị, anh và bác của em ở San Francisco, thì họ đã gọi vào SBTN ký tên rồi”.

Trước hiện tượng giới trẻ đi vào cuộc vận động ký Thỉnh Nguyện Thư, chúng tôi phấn khởi với một niềm tin là thế hệ trẻ dù sanh Mỹ hay ở đâu, nhưng các bạn ấy vẫn quan tâm đến quê cha đất tổ, vẫn biết Việt Nam bây giờ ra sao.

3. Từ hai câu hỏi: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Cùng những việc đàn áp, bắt bớ, coi những người biểu tình chống Tàu xâm lược như kẻ thù, chúng tôi có một nhận định là chế độ độc tài đảng trị đã đưa đất nước tới chỗ cùng. Và từ chỗ cùng này hồn nước đã bật dậy.

– Tại sao một đảng, một chế độ đã dùng mấy chữ yêu nước chống xâm lăng để có chính quyền và giữ chính quyền lại đưa dân tới một câu hãi hùng: Việt Nam Tôi Đâu?

Việt Dương gửi tới

© Đàn Chim Việt

 

Advertisements

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | 2 Comments »

►“Việt Nam tôi đâu?” câu hỏi của nhiều thế hệ

Posted by hoangtran204 trên 27/02/2012

Tác giả: Trần Trung Đạo


Buổi trưa ở Chennai.

Làm việc xong trên đường trở về khách sạn, tôi nhờ người lái xe đưa đi thăm vịnh Bengal. Đứng bên bờ vịnh nhìn sang phía bên kia bờ là Đông Nam Á. Tôi tự hỏi Việt Nam đang nằm ở đâu sau dòng nước xanh xa thẳm kia. Và cùng lúc tôi chợt nghĩ đến bài hát “Việt Nam tôi đâu” của Việt Khang đang trở thành khẩu hiệu cho tuổi trẻ trong vào ngoài nước.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi của tôi vang lên theo từng đợt sóng dội vào bờ cát Chennai nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Một người đứng trên đất khách và một kẻ đang ở trong tù có cùng một câu hỏi.

Thì ra, không phải người đi xa mới thấm thía nỗi đau của kẻ thiếu quê hương mà cả những người đang sống trên đất nước vẫn đi tìm kiếm quê hương. Và quê hương chúng tôi đang tìm kiếm, không chỉ là núi đồi, sông biển, ruộng vườn, cây trái nhưng là một quê hương có khối óc tự do, có tâm hồn nhân bản, có trái tim dân chủ, có đôi chân tiến về phía trước và đôi tay kiến tạo một xã hội thanh bình thịnh vượng cho mãi mãi Việt Nam.

Thời gian tôi sống ở xứ người dài hơn so với thời gian sống ở Việt Nam và đã nhiều năm làm công dân Mỹ nhưng ngoại trừ việc phải điền vào những giấy tờ cần thiết, khi được hỏi tôi là ai, tôi luôn trả lời tôi là người Việt Nam. Một phần, tôi cảm thấy chút gì đó ngượng ngùng khi nhận mình là người Mỹ và một phần khác tôi không thể từ chối đất nước đã sinh ra tôi. Tôi cám ơn nước Mỹ đã cứu vớt tôi từ biển cả, cho tôi chiếc nệm ấm, giúp tôi có cơ hội học hành, dang rộng đôi tay chào đón khi tôi bước xuống phi trường lần đầu trong một đêm đông lạnh, nhưng suy nghĩ và phân tích cho cùng, tôi vẫn là người Việt Nam. Tôi nghĩ về nước Mỹ với một trách nhiệm công dân mang tính pháp lý hơn là một người con mang trên vai nghĩa vụ tinh thần. Tôi không biết kiếp sau, nếu có, tôi là gì nhưng kiếp này tôi là người Việt Nam. Tôi dặn lòng như thế.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi có vẻ ngô nghê nhưng không phải dễ trả lời. Nếu ai hỏi, thật khó cho tôi gỉải thích đủ và đúng trong một câu ngắn gọn. Việt Nam của tôi không phải là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và dĩ nhiên không phải là chế độ cai trị con người bằng nhà tù và sân bắn như hiện nay.

Nhìn chiếc ghe hư nằm trơ trọi trên bờ biển Chennai, tôi chợt nhớ đã có một thời, nhiều thuyền nhân Việt Nam từng hỏi “Việt Nam tôi đâu” và đã đồng ý với nhau rằng Việt Nam đã chết như trong bài hát Một lần miên viễn xót xa quen thuộc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Thành:

Giờ đây, mỗi đứa con lạc loài mỗi nẻo
Đứa London, đứa Paris, đứa đèo heo gió hút
Gặp nhau từng hàng lệ xót xa, buông những câu chào
Đôi ba sinh ngữ, Bonjour, Au revoir, Hello, Good bye
Con gục đầu chua xót đắng cay.
Thưa me, thưa me, thưa me, quê hương mình
Đã chết rồi, mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ Việt Nam ơi …”

Vì “quê hương mình đã chết rồi” nên hàng triệu đứa con của mẹ phải bỏ ra đi khắp chân trời góc biển.

Có người không đồng ý và cho rằng quê hương vẫn còn đó, núi sông vẫn còn đó, chết chóc gì đâu mà than vãn. Việt Nam là quê hương của tất cả chúng ta. Không có quê hương của người quốc gia hay quê hương của người cộng sản. Không có quê hương tư sản hay quê hương vô sản. Quê hương vẫn còn có đó và sẽ mãi mãi còn đó cho ngàn đời sau.

Đúng hay sai, còn hay mất, sống hay chết tùy theo cách hiểu và cách nhìn về đất nước. Với tôi và có thể với nhiều đồng bào cùng cảnh ngộ, quê hương không chỉ là những vật vô tri, vô giác nhưng phải là một quê hương sống động và có tâm hồn. Sau 30 thágng Tư năm 1975, quê hương Việt Nam đã mất tâm hồn và thậm chí trở thành tù ngục. Việt Nam, nơi con người bị đối xử như con vật. Việt Nam, nơi con người không có quyền nói những điều họ muốn nói, hát những bài hát họ yêu thích, viết những dòng thơ họ muốn viết. Hàng triệu người Việt Nam đã không còn chọn lựa nào khác hơn là ra đi.

Hành trình của hơn hai triệu người Việt Nam từ sau tháng Tư năm 1975 không chỉ được ghi bằng những bước chân rỉ máu trên những chặng đường đầy đau thương thử thách nhưng còn qua những bài hát được viết như tiếng thét gào của đoàn lưu dân trên sa mạc trần gian.

Mai tôi đi, tôi đi vào sương đen
Sương rất độc tẩm vào ngươì nỗi chết
Quê hương ta sống chia dòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin.
(Mai tôi đi, nhạc Nguyễn Đình Toàn)

Những ngày tháng lênh đênh đó, ai không dừng tay dù đang làm việc gì khi nghe Người di tản buồn của nhạc sĩ Nam Lộc, Sài Gòn niềm nhớ không tên của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn hay Đêm nhớ về Sài Gòn của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cất lên từ giọng ca Khánh Ly? Có ai không chợt nghe lòng mình chùng xuống khi chị Nguyệt Ánh cất lên những lời não nùng trong Một chút quà cho quê hương của nhạc sĩ Việt Dũng? Có ai không nghe như có tiếng mưa rơi dù đang đứng giữa phố Bolsa nắng gắt khi nghe giọng Ngọc Lan kể lể trong Khóc một dòng sông của nhạc sĩ Đức Huy? Và nhiều nữa, Phạm Duy với 1954 Cha bỏ Quê 1975 Con bỏ Nước, Nhật Ngân với Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh, Châu Đình An với Đêm chôn dầu vượt biển, Phan Văn Hưng với Ai trở về xứ Việt, Phan Ni Tấn với Bài hát học trò, Tô Huyền Vân với Quê hương bỏ lại v.v…

Và tất cả đã đóng góp phần mình viết nên bài trường ca đầy bi tráng của một bộ phận dân tộc Việt Nam sau mùa bão lửa 1975. Từ Camp Pendleton đến Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang, những tên tuổi địa danh đi vào lịch sử Việt Nam qua  cái chết tủi buồn của mẹ, qua  giọt nước mắt của em, qua tiếng gào thống thiết của anh vọng lên giữa Thái Bình Dương bát ngát.

Thời gian cuốn đi bao vết tích, tạo ra bao đổi thay của thời thế và con người. Bây giờ, một số nhạc sĩ đã qua đời, một số đang qua đời trong cách khác và một số vẫn tiếp tục đi trên con đường lý tưởng dù tuổi tác đã già. Nhưng dù sống hay chết, bỏ đi hay ở lại, những bài hát của họ đánh dấu một giai đoạn lịch sử nhiều bi tráng của đất nước và góp phần xây lên tấm bia đá thuyền nhân bi thương ngàn đời trong lịch sử Việt Nam.

Và những người còn ở lại, phải chăng họ dễ dàng trả lời “Việt Nam tôi đâu?”

Không. Tôi không nghĩ thế. Nếu ai hỏi những người thuộc thế hệ đã trải qua giai đoạn cùng cực những năm sau 1975 còn sống hôm nay có thể họ cũng sẽ trả lời trái tim Việt Nam có một thời ngừng đập. Thời gian dừng lại. Không gian đóng kín bịt bùng. Việt Nam đã chết ngay cả trong lòng những người đang sống giữa lòng đất nước. Một triệu dân Sài Gòn dắt nhau sống lây lất trong các vùng kinh tế mới. Nhiều trăm ngàn sĩ quan viên chức miền nam bị đầy đọa khắp các trại tù. Con người Việt Nam sau 1975 vẫn phải sống, phải thở, phải tìm mọi cách để sinh tồn trong hoàn cảnh nghiệt ngã chứ không phải là những con người an vui hạnh phúc như phần lớn của sáu tỉ người còn lại trên thế giới. Chính ông Võ Văn Kiệt khi còn sống đã phải thừa nhận niềm vui của đảng Cộng Sản là nỗi buồn của nhiều triệu người dân Việt.

Dân tộc nào cũng có thể phải trải qua những chặng đường đau thương gian khổ nhưng Việt Nam có thể nói là một trong số rất ít quốc gia mà sự chịu đựng kéo dài qua nhiều thế hệ. Hơn nửa đời người trôi qua, tiếng thét vẫn còn vang vọng qua bài hát của nhạc sĩ Việt Khang:

Viêt Nam ơi
Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Sau 36 năm, Việt Nam  chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, so với đà tiến nhân loại, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức đang trở về với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Người mẹ đang từng cơn xót dạ nhìn đời mà Việt Khang gặp hôm nay không khác gì người mẹ mà tôi gặp đi bán máu ngoài nhà thương Chợ Rẫy mấy chục năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của mẹ ở đâu, chắc chắn mẹ sẽ chỉ ra những nấm mồ vô chủ. Những bầy em đói khổ nghèo nàn mà Việt Khang mô tả hôm nay cũng không khác gì đám trẻ tôi đã gặp ở vùng kinh tế mới Đồng Xoài ba mươi lăm năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của các em đâu, các em sẽ chỉ ra những vỉa hè bụi bặm, những góc phố tối tăm. Nhưng hiểm họa đất nước đang phải đương đầu không chỉ là độc tài, tham nhũng mà còn là đại họa mất nước.

Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất
Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta
Hoàng Trường Sa, đã bao người dân vô tội
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu

Là một người con dân Việt Nam
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm
Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nệ chi
Già trẻ gái trai giơ cao tay
Chống quân xâm lược
Chống quân nhu nhược
Bán nước Việt Nam

Việt Nam tôi đâu
Việt Nam tôi đâu

Chúng ta đọc quá nhiều, nghe quá nhiều, hãnh diện quá nhiều về lịch sử hào hùng bốn ngàn năm giữ nước. Vâng, nhưng đó chỉ là những hào quang của quá khứ, là những thành tựu của tổ tiên, không phải của chính chúng ta. Những bài học thuộc lòng về một quá khứ hào hùng của dân tộc không thể giúp lau khô đi dòng nước mắt hôm nay:

Kính thưa thầy đây bài thuộc lòng của con
Tổ quốc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến
Một trăm năm Pháp thuộc
hai mươi năm đọa đày
Làm sao con thuộc được truyện Kiều Nguyễn Du.
Kính thưa thầy đây là quyển vở của con
suốt một năm không hề có chữ
con để dành ép khô những giòng nước mắt
của cha con, của mẹ con, của chị con, và của …chính con.
(Bài học của con, nhạc Phan Ni Tấn)

Lịch sử không phải là một ngôi miếu để thờ cúng nhưng là một đời sống luôn đổi mới. Truyền thống chỉ là một thói quen lỗi thời nếu truyền thống không được hiện đại hóa. Angkor Wat, Angkor Thom nguy nga, đồ sộ nhưng không cứu được một phần tư dân tộc Khờ Me khỏi bàn tay Pol Pot. Tương tự, Ấn Độ, một dân tộc có nền văn minh lâu đời nhất nhân loại và trải qua các thời đại hoàng kim từ Ashoka đến Gupta, cũng đã chịu đựng hàng loạt ngoại xâm từ Mông Cổ, Hồi Giáo và thực dân Anh kéo dài suốt 600 năm.

Việt Nam cũng thế. Nếu chỉ biết tôn vinh quá khứ và làm ngơ trước hiểm họa Trung Quốc hôm nay, rồi lịch sử dân tộc với những chiến công hiển hách của các thời Ngô, Đinh, Lý, Trần cũng sẽ chỉ là những tấm bia trong một ngôi đền cổ. Hãy tưởng tượng, nếu tất cả chúng ta đều im lặng, làm ngơ, chịu nhục trước hiểm họa mất nước, rồi bốn ngàn năm nữa, những đứa trẻ dòng Việt tộc, đi ngang qua di tích đền Hùng, sẽ căm hận biết bao khi nghĩ về tổ tiên nhu nhược của chúng vào bốn ngàn năm trước đó.

Đừng để lại cho các thế hệ Việt Nam tương lai một ngôi đền mà ngay hôm nay hãy xây cho họ một căn nhà Việt Nam Mới tự do, dân chủ, công bằng, bác ái.

Bài hát Việt Nam tôi đâu của Việt Khang là tiếng chuông đánh thức hồn thiêng sông núi đang ngủ quên trong lòng người. Ngọn đuốc Việt Khang thắp lên soi sáng con đường đi về phía trước. Các thế hệ Việt Nam từ lúc chào đời đã mang tinh hoa tinh huyết của dòng giống Lạc Long, nhưng tinh hoa tinh huyết  đó phải được mài dũa thành vũ khí để bảo vệ đất nước hôm nay. Cứu Việt Khang, do đó, không phải chỉ cứu một thanh niên, một nhạc sĩ đang bị tù đày nhưng hơn thế nữa, tự cứu chính mình và từ đó đứng lên cứu dân tộc mình.

© Trần Trung Đạo

© Đàn Chim Việt

* Châu Á Đứng Dậy đọc ở đây

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

Độc thoại với anh Tư về bầy sâu

Posted by hoangtran204 trên 26/02/2012

Huỳnh Ngọc Chênh

Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này“.

Từ hồi nghe anh Tư nói đến bầy sâu như trên, tôi tò mò dò tìm lại những vụ lùm xùm trong quá khứ để xem chân dung của bầy sâu ra sao và việc xử lý chúng như thế nào. Nhưng rồi tôi thất vọng.

Vụ PMU 18 ban đầu nổi đình nổi đám lên với một bầy sâu bị bắt. Nhưng dần về sau thế cờ bị lật ngược, những con sâu bự lên đến cấp thứ trưởng cũng được thả ra, chỉ còn vài con sâu ở cấp PMU trở xuống bị tù.
Rồi tiếp theo, tôi cứ tưởng vụ đại lộ đông tây TP HCM cũng sẽ lòi ra một bầy sâu nhung nhúc vì một mình con tốt Sỹ làm sao cả gan nuốt hết gần một triệu USD. Để ăn hết và ăn được chừng ấy tiền thì phải có đến cả một bầy sâu, phải có những con sâu lớn hơn Sỹ nữa kia. Thế nhưng kết thúc chỉ có một con sâu bé nhất bị diệt.

Gần đây nhất, ở chỗ tôi tưởng như đã thấy được cả một bầy sâu đó là tập đoàn Vinashin với khoản thất thoát lên đến 4 tỷ USD. Nhưng rồi qua một thời gian điều tra xem xét, quy trách nhiệm lại chỉ thấy có một con sâu Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT lộ ra. Vài đại biểu Quốc hội cố truy lần trách nhiệm lên trên lại chẳng thấy sâu nào, chỉ thấy kết luận của Bộ chính trị về vụ Vinashin là không có cá nhân nào trách nhiệm cả.

Rồi những chuyện xảy ra gần đây cũng chỉ thấy vài con sâu bé nhỏ và lẻ tẻ lòi ra. Cở như Lèo cờ đánh bạc tiền tỷ, cở viện trưởng VKS huyện dẫn gái đi chơi thuyền… Chưa thấy đâu có sâu lớn bị bắt hoặc thấy có cả bầy sâu làm “chết” đất nước nầy như anh Tư nói. Chẳng lẻ anh Tư vì quá bi quan mà nói sai? Bầy sâu ở đâu? Bầy sâu ở đâu nào?
Thế như là để trả lời những boăn khoăn của tôi, một bầy sâu to đùng xuất hiện. Chúng công khai trỗi dậy, bò lổn ngổn, kết bè với nhau tàn phá cả một vùng của đất nước.

Đó là bầy sâu mà đến hôm nay không cần nói ra nhưng ai cũng biết: Bầy sâu ở Hải Phòng.

Từ những con sâu rất bé là bọn đầu gấu xã hội đen cướp giật tôm cá trong đầm anh em Đoàn Văn Vươn, ngăn cản hành hung báo chí vào đầm tìm hiểu. Tiếp theo là các con sâu cấp xã như Hoan, Liêm, rồi đến những con sâu to hơn ở cấp huyện như Nghĩa, Hiền, Khanh, Mải… Mới chừng ấy đã thấy một bầy rồi.

Nhưng chưa hết, những con sâu cấp cao hơn vì muốn bao che, chống chế cho đàn em, dần dần lộ mặt. Ban đầu là sâu Thoại, sâu Ca và mới đây nhất con sâu to nhất ở Hải Phòng lộ diện: Bí Thư thành ủy Nguyễn Văn Thành.

Đến đây và đến hôm nay đã có một bầy sâu xuất hiện nguyên hình. Chúng cấu kết với nhau từ cấp xã hội đen lên cấp xã, cấp huyện rồi đến cấp thành… Lâu nay chúng đã ngang nhiên đục khoét, tàn phá địa phương này, gây hại người dân qua biết bao nhiêu vụ việc. Bây giờ bị phát hiện chúng tiêp tục cọ quậy, tìm cách chống trả. Không biết bên trên còn con sâu nào nữa chống lưng cho chúng mà chúng chẳng tỏ ra chút nào sợ sệt.

Cả một đàn sâu đấy anh Tư ạ! Còn chờ gì nữa mà anh không nhanh chóng ra tay như đã hứa với cử tri trước đây. Xịt liền cho chúng một bình thuốc rầy. Để càng lâu chúng sẽ lây lan ra khắp nơi và không khéo dự báo của anh “ tất cả thành sâu hết” trở thành hiện thực thì đúng là “chết cái đất nước nầy”. Anh Tư ới, anh Tư à!

*nguồn: danluan.org

* Châu Á Đứng Dậy đọc ở đây

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Đi thăm Cù Huy Hà Vũ đang ở tù ở Thanh Hóa

Posted by hoangtran204 trên 25/02/2012

Nguyễn Huệ Chi

Phải trở dậy lúc 4 giờ sáng đối với tôi là cả một cực hình, nhất là mấy hôm nay lại trở chứng, rối loạn tiền đình làm chóng quay cả mặt, nhưng việc anh em mời đi thăm Cù Huy Hà Vũ khiến tôi không còn cách nào khác là vừa nghe chuông đổ đã phải vin thành giường đứng dậy. Dù cảm thấy trời xoay nghiêng ngả vẫn cứ phải bật cười nhớ đến Phùng Quán: “Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Đúng là mình không biết vịn vào thơ nên mới xoay tít mù như thế này đây.

Đúng 5 giờ kém 15, người bạn thân, Thượng tá C. quân phục oai nghiêm, đã có mặt trước cổng nhà. Tiếp ngay đó, bạn Lê Dũng bấm chuông: xe anh đã sẵn sàng đón tôi. Chúng tôi lên xe trong cái lạnh tinh mơ của Hà Nội nên nhà tôi cố nhét thêm cho anh C. một chiếc khăn quàng len vì thấy bộ quân phục của anh tuy trông rất oách nhưng lại quá mỏng. Đường Hà Nội lúc này mới thật là Hà Nội lý tưởng của 60 năm về trước, trên đường chỉ lác đác vài bóng người. Hình như đây cũng là giấc mơ không có thật của ông Bộ trưởng Đinh La Thăng, một Hà Nội sạch sẽ tinh tươm và không phải lèn nhau như nêm cối. Biết đâu ông ấy chẳng ra lệnh đổi ngày làm đêm để làm cho biện pháp điều chỉnh giao thông của mình đích thực có hiệu quả? – Hình như cả mấy chúng tôi nhìn lướt trên con đường chưa rõ mặt người đều có ý nghĩ vậy thì phải.

Khi đến chỗ hẹn thì chỉ mới lố nhố dăm bảy anh chị em, nhưng chỉ loáng cái cả năm chiếc xe và người đều đến đầy đủ. Đúng 20 người, toàn những mặt quen, trừ vài ông đầu bạc ra còn thì đều là Tiến sĩ trong một vài viện nghiên cứu, hoặc Kỹ sư đang thành đạt trong vai doanh nhân, lại có cả một “biểu tình viên” ba tuổi mẹ từng ẵm đi biểu tình tại Hồ Gươm chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải nay cũng có mặt, vừa nhìn thấy các cô chú đã nhoẻn cười như gặp lại bạn bè thân quen. Ai nấy vui như hội vì biết rằng mình đang thực hiện cái nghĩa vụ tình cảm lâu nay vẫn canh cánh là làm sao có một lần được tháp tùng Dương Hà vào thăm bạn Hà Vũ mà có người chỉ mới “văn kỳ thanh” chứ đã một lần xáp mặt nào đâu. Nhưng dầu gặp hay chưa thì kể từ khi chàng phải giã biệt Hà thành khoác chiếc áo phạm nhân, những lá đơn kiện nẩy lửa gửi lên các cấp cũng vắng bặt trên báo chí và các trang mạng khiến hình như ai cũng thấy thiêu thiếu một cái gì.

Tất cả lên xe sau khi đã trao đổi đường đi và các chú tài cứ thế theo ngả Xuân Mai phóng tít để đi vào con đường Hồ Chí Minh với đích đến đầu tiên là thị trấn Cẩm Thủy Thanh Hóa. Xe chạy ngon quá làm tôi tưởng mình thiếp đi và khi tỉnh dậy thì ô kìa đây rồi, đã đến thị trấn Cẩm Thủy, kỳ thực có ngủ được chút nào đâu, bởi có mấy chiếc áo vàng công an đứng đếm tốc độ bên đường tôi đều nhìn rõ. Vượt cầu Cẩm Thủy mươi km, đã nhìn thấy tấm biển chỉ Trại giam số 15 rẽ trái, và vượt một quãng đường 30 km nữa, hơi khó đi và mù mịt bụi, đến giữa một vùng núi đá vôi thuộc huyện Yên Định, rẽ phải, lại rẽ trái, đúng 10 giờ thì chúng tôi đã ở ngay trước mặt chiếc cổng K5: Cù Huy Hà Vũ ở trong khu trại này, gần chúng tôi lắm lắm rồi.


Khu Trại giam 15 nằm giữa một vùng núi đá vôi ở huyện Yên Định Thanh Hóa
Cả mấy chiếc xe đều lấm láp bụi đường
Và người cũng phải nhắm tịt mắt lại, nhưng thế là đã đến đíchĐương nhiên là như mọi người dự đoán, chỉ một mình Dương Hà được vào theo chế độ thăm nuôi cùng với một chiếc xe chở số lượng thực phẩm đúng quy định. Anh lái xe cho Dương Hà đang đứng nghỉ, nghe người lính gác cổng truyền rõ thế bèn chuẩn bị lên buồng lái chở Hà vào khi hai cánh cổng vừa mở, thì nhanh như cắt bạn J.B. Nguyễn Hữu Vinh đã nhảy tót lên lái thay. Anh kia ớ người ra trong khi anh em cười ồ. Thôi thì được người nào vào hay người ấy. Chúng tôi nhìn chiếc xe đi tít sâu vào phía trong và hai cánh cổng đóng lại mà lòng ngẩn ngơ buồn tiếc. Dù mục đích chuyến đi là để cho Vũ ở trong kia biết có anh chị em đông đảo đến thăm để anh phấn chấn hơn trong việc chống chọi với mọi khó khăn của kẻ “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”, yên tâm chờ ngày trở về với vợ con bầu bạn, nhưng đến đây rồi mà không được vào thì ai mà không cảm thấy hụt hẫng.


Sau khi xe Dương Hà đi vào, hai canh cửa sắt cổng K5 Trại giam 15 lại đóng lại làm ai nấy ngẩn ngơ buồn tiếcMọi người đành lấy bánh mỳ giò chả và mấy chai nước ra cùng nhấm nháp, bởi từ sáng dậy sớm chưa ai có trong bụng một tí gì. Đang ăn, tôi bỗng nghe điện thoại reo. Dương Hà gọi ra khuyến khích tôi lấy tư cách một người nhiều tuổi vào tán anh bộ đội gác cổng đề nghị cho gặp ông Giám thị để xin cho mọi người cùng vào. Tôi làm ngay tắp lự. Anh lính gác nói với tôi với giọng nhã nhặn, rằng việc đó rất khó vì vượt nguyên tắc, mà chúng tôi lại không có một giấy giới thiệu của tổ chức nào cả. Tôi ngẫm nghĩ một tí, trở ra ghé tai bảo Thượng tá C. vào tiếp sức. Quả nhiên, C. đã thành công. Bằng kinh nghiệm của một Thượng tá lâu năm, anh được anh lính gác rất nể đưa cho số điện thoại của cả Giám thị Tuyến và Phó giám thị Sáu. Lại bằng cái giọng thân mật của cánh lính với nhau, anh mời được anh Phó giám thị Sáu ra tiếp chúng tôi. Thế mới giỏi làm sao!

Một người còn khá trẻ gầy và cao, khuôn mặt điềm đạm từ xa đi lại. Trước những lời trình bày chân tình của chúng tôi anh ta cũng đáp lại bằng giọng nhẹ nhàng từ tốn và có vẻ cởi mở. Còn C. thì không úp mở, không cần xưng anh tôi, gọi thẳng tên ngay: “Sáu à…”. Nhưng anh Sáu này vẫn nghiêm trang nói cho biết, chúng tôi không được vào là luật định, vì không có ai ở trong danh sách thăm nuôi đăng ký định kỳ của trại cả. Thế thì vào sao được. Tuy nhiên, khi thấy giọng của C. đúng giọng “cánh lính mình” quá, lại thấy trên khuôn mặt mọi người đều thuỗn ra cùng một dấu hỏi của sự chờ đợi một “biệt lệ” nào đấy, anh ta bèn thong thả nói thêm: “Thôi thì các bác đã đến đây… chỉ có đồng chí Giám thị mới quyết định được việc này. Các bác cứ ghi rõ tên họ, trình chứng minh thư, để tôi cầm vào xem thế nào…” Được lời như mở cờ, người nào người ấy đến ghi tên lên một mảnh giấy thành một danh sách dài, riêng tôi ngồi yên không nhúc nhích, bởi đã có C. ghi thay cho mình. Khi bước ra, anh chị em tề tựu trước căn phòng xét giấy tờ của người canh cổng, bảo anh Sáu chụp chung một “bô” ảnh làm kỷ niệm, anh ta ngần ngừ một tí, cười nhưng rồi lắc đầu. Chỉ có người lính gác là hồn nhiên chơi với cháu nhỏ và đi vào khuôn ảnh của chúng tôi.

clip_image010_thumb1.jpg
Chỉ có người lính gác là hồn nhiên chơi với cháu bé và vào khuôn ảnh của chúng tôiclip_image012_thumb1.jpg
Có chữ “Trại giam số 5” trên đầu mình là một kỷ niệm quý giá đấyChỉ chừng mươi phút sau đã có điện gọi ra: ông Giám thị từ chối! Từ trong thâm tâm tôi đã nghĩ đến điều ấy. Danh sách kia hoặc vì anh Phó giám thị nể quá, hoặc cũng có thể là tương kế tựu kế để giúp ngành an ninh biết rõ ai đã dám đến đây “vuốt râu hùm”, biết đâu! Nhưng chúng tôi cười xòa với nhau: Thì mình cũng muốn cho họ biết kia mà, mình đăng hết lên mạng còn sợ quái gì nữa. Tôi chỉ hơi so sánh thoáng qua: Hồi còn mồ ma thực dân Pháp bà Tôn nữ Thị Cơ đã đến thăm nuôi GS Cao Xuân Huy tại Lao Bảo vào năm 1930 mà lúc ấy họ chỉ mới là quen sơ chứ đã có chuyện gì với nhau đâu, bà con cũng chẳng phải. Thế mà vẫn được thăm mới lạ chứ. Nhưng nghĩ thoáng qua thôi, bới đấy là thời Pháp. Thời bây giờ dân chủ gấp triệu lần, vì thế mà chỉ đi thăm cô Bùi Minh Hằng vẫn còn đủ quyền công dân còn không được gặp, huống nữa là thăm một anh chàng phản động đứt đuôi vì… hai bao cao su đã qua sử dụng như Cù Huy Hà Vũ! Vậy thì so sánh làm gì cho mệt người.

Một tiếng sau thì chiếc xe chở Dương Hà quay ra. Mọi người tíu tít quây lại. Người vừa được chồng ôm hôn có khác, nét mặt rạng rỡ hẳn làm ai nấy cũng vui lây, nhưng điều vui thích nhất là sự có mặt của chúng tôi đã truyền niềm vui và nghị lực cho chính Cù Huy Hà Vũ, theo lời Dương Hà. Vũ không ngờ lại có đông người ở ngoài cổng trại đến thế. Ai cũng biết rằng đấy là Hà hạn chế báo tin đấy, còn nếu báo rộng hơn, có thể đã có đến vài trăm người. Bởi vì ai mà không mong muốn được tiếp thêm một chút nội lực của mình cho Vũ có thêm vài đêm ngon giấc, và nhất là ai cũng đinh ninh trong bụng câu nói của Vũ: “Tôi là người trung thành với Tổ quốc. Nhân dân cả nước sẽ phá án cho tôi”.

Trên đường về, tôi có một băn khoăn thắc mắc cứ muốn đem hỏi Dương Hà mà thấy chưa tiện nên ngồi trên xe mặt cứ bần thần. Mãi đến chỗ ngã ba trước thị trấn Cẩm Thủy, cả 5 xe cùng dừng lại, mang xách bánh mỳ giò chả vào quán ăn trưa, nhân thể, Hà đứng yên một góc, giở túi lấy ra hai tấm ảnh Vũ vừa vẽ chân dung Hà và tự họa chân dung mình ấp lên ngực, mặt đăm đăm có vẻ đang tư lự, tôi mới đến gần hỏi nhỏ: “Thế chế độ thăm nuôi được có mỗi tháng một tiếng đồng hồ thôi ư?”

clip_image014_thumb3.jpg
Dương Hà với hai tấm ảnh quý chồng vừa tặngHà quay nhìn tôi lâu lâu một chút rồi mới nói: “Anh ạ, mọi tù nhân khác thì đều được hưởng chế độ thăm nuôi không quá 24 giờ mỗi lần, riêng Vũ nhà em có lệnh cấm, chỉ được thăm có một tiếng thôi, mà luôn luôn có giám thị chứng kiến”. “Ôi thế a?” – tiếng kêu cùng lúc bật ra của nhiều người, và tiếng bàn tán xôn xao. Riêng tôi, cứ đuổi theo cái ý nghĩ vốn đã hình thành trên suốt chặng đường về: Cái kẻ nào đưa ra “điều lệnh” này thật là quá giỏi, bởi vì đây mới đúng là để trị cái tội… hai bao cao su đã qua sử dụng. Rồi như một kẻ vô thức, vừa đi ra phòng toa lét tôi vừa buột thốt thành lời câu văn của Nam Cao: “Tài thật! Tài thật Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo!”

N.H.C

Posted in Tù Chính Trị, Tự Do ngôn Luận, Trại Tù | Leave a Comment »

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2012

Trích:

    “Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, “đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và đề ra phương hướng để tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp. Sau đó, ông và gia đình bị cô lập với xã hội chung quanh, bản thân ông không được làm bất cứ nghề gì để kiếm tiền. Gia đình ông đã sống lây lất trong nghèo đói trong nhiều năm dài nhờ vào tiền bán dần mọi thứ trong nhà và nhờ sự giúp đỡ dấu diếm của bạn bè, thân hữu.” Ông bị vùi dập cho tới ngày ông qua đời 1997 tại Hà Nội.

Năm 2012, thầy giáo Đinh Đăng Định cũng đang bị bắt cầm tù và đang bị công an giam giữ và hỏi cung ở Tỉnh Dak Nông.  Lý do thầy Định bị bắt cũng không khác gì với trường hợp của luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Ai nói tới đảng, dù là lên tiếng một cách ôn hòa, cũng đều bị tù. Có người  vừa mới  trở về và đang bị quản chế như các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Huỳnh Nguyên Đạo, bác sĩ Lê Nguyên Sang, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, tiến sĩ Hà Sĩ Phu…Và có những người còn đang ở trong tù như các anh Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, luật sư Cù Huy Hà Vũ…

Vậy là 56 năm trôi qua, quyền tự do ngôn luận và các thứ quyền cơ bản khác vẫn còn tiếp tục bị đảng khống chế và không cho ai nói gì trái ý đảng.

 

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường

Trịnh Bình An

Nguyễn Mạnh Tường là một người nổi tiếng trong giới luật sư nói riêng, giới trí thức Việt Nam nói chung; nhưng vẫn có rất nhiều người không biết đến ông, trong đó có tôi. Và tôi đang có trong tay quyển sách “Kẻ bị khai trừ”(i) của Nguyễn Mạnh Tường do Tủ Sách Tiếng Quê Hương mới xuất bản, vậy mà tôi thấy mình rất ngần ngừ, rất ì ạch, không muốn giở ra đọc. Tôi không muốn mình phải đau lòng và bực tức thêm vì thấy một người học vị đầy mình lại đi theo cộng sản để rồi bị chính cộng sản đầy đọa.

Thế nhưng tay tôi vẫn lật qua mấy trang. Và một dòng chữ ập vào mắt tôi, đó là lời giới thiệu của chính Nguyễn Mạnh Tường, Bản thảo của cuốn sách này đã được soạn và đánh máy trong một tình thế lén lút và bị cô lập…

Một cuốn sách của một luật sư nổi tiếng bậc thầy, được viết trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, vậy mà tôi, tôi chỉ bỏ ra ít thì giờ nhàn nhã để đọc, thế mà đã nhăn nhó hay sao?

Vâng tôi sẽ đọc, và tôi sẽ hỏi ông Tường cho ra ngô ra khoai, rằng tại sao ông là người giỏi giang cỡ ấy lại cắm đầu chui vào cái rọ Cộng Sản để bị chúng lợi dụng chán chê mê mỏi rồi vứt vào xọt rác không thương tiếc. Mấy năm trước, Đảng còn bày đặt mừng sinh nhật 100 tuổi (!) của ông nhưng thực chất chỉ muốn ra cái điều Đảng cũng biết sửa sai (1).

Nguyễn Mạnh Tường
Nguồn ảnh: OntheNet


Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học trường Albert Sarraut và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại Học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa và Tiến sĩ Quốc gia Văn chương (ii).

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ. Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, ông làm luật sư, dạy học tại Thanh Hóa. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự Hội nghị Trừ bị Đà Lạt năm 1946, dự các Hội Nghị Hòa Bình Thế Giới ở Bắc Kinh và Wien năm 1952. Sau năm 1954, ông từng giữ những chức vụ quan trọng như trưởng khoa Đại Học Luật Hà Nội, phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, chủ tịch Đoàn Luật Sư, phó trưởng khoa Đại Học Sư Phạm Hà Nội, thành viên Uỷ Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, và sáng lập viên Câu Lạc Bộ Đoàn Kết.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và đề ra phương hướng để tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp. Sau đó, ông và gia đình bị cô lập với xã hội chung quanh, bản thân ông không được làm bất cứ nghề gì để kiếm tiền. Gia đình ông đã sống lây lất trong nghèo đói trong nhiều năm dài nhờ vào tiền bán dần mọi thứ trong nhà và nhờ sự giúp đỡ dấu diếm của bạn bè, thân hữu.

Nguyễn Mạnh Tường mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi.

Bìa Hồi Ký của Nguyễn Mạnh Tường
Nguồn ảnh: OntheNet


“Kẻ bị khai trừ” được viết bằng tiếng Pháp – Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel – do Nguyễn Quốc Vĩ dịch sang tiếng Việt, tựa là “Kẻ Bị Rút Phép Thông Công”. Thuật ngữ “rút phép thông công” hay “vạ tuyệt thông” nói tới một kỷ luật nặng nề nhất trong Giáo hội Thiên Chúa Giáo khi một người bị cho là đã phạm trọng tội nên sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Giáo hội. Hiểu như thế thì ta sẽ thấy Nguyễn Mạnh Tường tự ví mình là một kẻ mắc tội trọng với Đảng Cộng Sản vì thế mà bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội.

“Kẻ bị khai trừ” gồm có ba chương: 1– Đến đỉnh vinh quang. 2 – Mỏm đá Tarpeinne. 3 – Hành trình đi vào sa mạc. Ba chương này tương ứng với 3 đoạn đời của Nguyễn Mạnh Tường: 1 – Được cưng chiều (và bị lợi dụng). 2 – Phản kháng và bị “đấu tố”. 3 – Bị cô lập và đày đọa.

Một trong những điểm đặc biệt của “văn” Nguyễn Mạnh Tường là mang nhiều điển tích Tây phương. Nếu đọc truyện Kiều mà không biết các điển tích Trung Hoa, ta sẽ rất khó hiểu hết ý nghĩa gởi gắm trong câu thơ; với Kẻ Bị Khai Trừ cũng thế, nếu một người không biết các điển tích cổ của phương Tây thì sẽ khó hiểu được trọn vẹn ý tác giả.

Như chữ “Mỏm đá Tarpeinne”. Roche Tarpéienne – tiếng Pháp, hay, Tarpeian Rock – tiếng Anh, là một vực núi đá vách dựng đứng tại nước Ý. Thời cổ La Mã, những ai bị kết án giết người, phản bội, làm chứng dối, và những nô lệ phạm tội ăn cắp, sẽ bị xử tử bằng cách ném từ trên mỏm Tarpéienne xuống vực sâu. Đây là một hình phạt nặng nề hơn bị treo cổ hay đốt trên dàn lửa vì kẻ bị ném xuống vực – và gia đình họ – đã bị coi là những kẻ đồi bại, đáng nguyền rủa nhất trong xã hội.

Khi hiểu được ý nghĩa của “Mỏm đá Tarpeinne” ta mới phần nào hình dung được cái bản án Đảng dành cho luật sư Nguyễn Mạnh Tường – người dám nghi ngờ sự lãnh đạo “anh minh” của Đảng. Thật ra Đảng đã sai lầm ngay từ đầu khi tưởng rằng có thể mua chuộc được Nguyễn Mạnh Tường bằng những thủ đoạn mua chuộc vuốt ve từng tỏ ra rất thành công với nhiều người khác.

Bìa Kẻ bị khai trừ
Nguồn ảnh: TQH


Năm 1956, Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ triệu tập đại hội tại thủ đô Bruxelles của Bỉ, nhà cầm quyền Bắc Việt tổ chức một đoàn đại diện đi tuyên truyền cho chính nghĩa của mình. Trong cương vị phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, Nguyễn Mạnh Tường được giao làm trưởng đoàn với nhiệm vụ là làm sao được hội nghị đưa ra nghị quyết ủng hộ dân tôc, quyền đấu tranh thống nhất đất nước. Luật sư Tường đã đọc một bản tham luận sắc bén, cháy bỏng lòng yêu nước và đã thuyết phục được hội nghị, đạt được thành quả mỹ mãn.

Thế nhưng cố gắng của Nguyễn Mạnh Tường không hề để phục vụ cho Đảng, ông chỉ làm vì lòng yêu nước, vì muốn đất nước được thống nhất để tránh một cuộc chiến nồi da xáo thịt. Còn mỗi khi có dịp, ông sẵn sàng phân tích những sự thật rung rợn về chế độ Cộng Sản. Như khi ghé thủ đô Prague, gặp các luật gia Tiệp Khắc, ông mô tả bản chất của chế độ này trong một câu ngắn nhưng trọn vẹn:

“Đây là một chế độ chuyên chế ở ba chiều không gian, một chế độ chuyên quyền gần như tuyệt đối, gian xảo nhất, cứng rắn nhất trên thế giới và trong lịch sử nhân loại. Dưới một chế độ như thế, quyền tự do là một lầm lẫn, một loại bệnh hoạn cần phải loại bỏ trong dân chúng. Vì vậy, không có bất cứ ngành nghề nào là nghề tự do.”
Nguyễn Mạnh Tường còn cảnh báo các đồng nghiệp biết rằng, trong các ngành nghề, Đảng ghét nhất là giới luật gia:

“Nếu Đảng áp dụng biện pháp khắt khe trên giới luật gia, trước hết vì họ là người trí thức và là đối tượng ghét hận của những kẻ chuyên quyền, vì luật gia là người có cái đầu để suy nghĩ và có cái miệng để nói, hai thuộc tính gây ác cảm nơi kẻ cầm quyền, làm phức tạp cho công việc và gây xáo trộn cho kế hoạch của họ. Hơn nữa, trong hàng ngũ trí thức, giới luật gia càng nổi trội với kiến thức về Luật, thông thạo, thường nắm vững các hội nghị, các cuộc phê bình, và hơn nữa, họ còn có ý thức về tư cách, danh dự và trách nhiệm. Họ tự mình đặt vào thế tương phản với con người máy khúm núm nịnh bợ những kẻ chuyên quyền.”
Điều Nguyễn Mạnh Tường nói quả không sai. Gần đây, giới luật sư là những người lên tiếng phản kháng mạnh mẽ nhất để chống lại những hành vi sai trái của Đảng. Các luật sự này được đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa và không hề dính dáng tới chế độ “ngụy”, vậy mà họ vẫn ương ngạnh làm “phức tạp và xáo trộn” những kế hoạch do Đảng đề ra; đó là những Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật, Huỳnh Văn Đông, Lê Công Định, Trần Quốc Hiền,…

Rồi tới khi ghé qua Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa Cộng Sản, Nguyễn Mạnh Tường cũng gặp gỡ và trò chuyện với các luật gia nước này. Ông bảo thẳng với bạn rằng Đảng CS sẽ tự chuốc lấy kết quả bi thảm:

“Bi thảm là ở chỗ chính Đảng đã tự lừa dối, nghĩ rằng mình có thể đưa ra nhừng đường lối chính trị trẻ con phát xuất từ bệnh ấu trĩ, duy ý chí, chủ quan, vi phạm những định luật của khoa học, quay lưng lại với thực tiễn, những chính sách này sớm hay muộn cũng sẽ đưa đất nước vào sự nghèo túng và đưa nhân dân vào sự đau khổ. Bên cạnh đó, với niềm tin cho rằng mình là vô địch, Đảng nghĩ rằng mình có thể áp chế nhân dân, chơi đùa trên sinh mạng của họ, buông lơi pháp luật, hành động với sự tàn ác vô nhân tính như đã xảy ra trong đợt Cải Cách Ruộng Đất, một kỷ niệm đau buồn không bao giờ quên được trong tâm khảm của người dân.”
Điều Nguyễn Mạnh Tường nói cũng đã thành sự thật, chế độ Cộng Sản đã đưa mọi quốc gia đến chỗ tận cùng lụn bại, để rồi Nga và các nước Đông Âu đã tìm mọi cách gỡ bỏ cái chủ nghĩa ma quái ấy để tự cứu lấy chính mình.

Nếu như Nguyễn Mạnh Tường không kể lại những điều trên thì tới ngày nay người ta vẫn tưởng rằng ông Tường đã bị mờ mắt, bùi tai vì những chức tước và lời ca tụng của “Bác và Đảng” đã dành cho ông. Đảng nhìn lầm ông Tường chỉ vì họ tưởng ông cũng là loại như họ. Sự thật, Nguyễn Mạnh Tường là một người khác hẳn với họ, ông là người có học, có trí tuệ, và nhất là, có trái tim; vì thế ông không thể im lặng khi thấy đồng bào ông quằn quại dưới những nhát chém đẫm máu của cái-gọi-là Cải Cách Ruộng Đất.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội đã đọc bài diễn văn có tựa đề “Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo”.

Trong đó, Nguyễn Mạnh Tường chỉ rõ mọi tầng lớp nông dân, công nhân, tiểu thương, kể cả các cán bộ, đều phải chịu đau đớn cơ cực vì các cuộc đấu tố, xử giảo man rợ trong Cải Cách Ruộng Đất. Ông tin rằng pháp luật chân chính là phải theo nguyên tắc: “Thà 10 địch sót còn hơn 1 người bị kết án oan”. Cuối cùng, ông đề nghị phải xây dựng một chế độ pháp trị chân chính, thực sự dân chủ trong đó các cán bộ Đảng phải chiu trách nhiệm với việc mình làm, và mọi người dân được quyền lên tiếng.

Hẳn không quá khó cho chúng ta biết Đảng đã làm gì với những đề nghị ấy. Cho tới tận ngày nay, Đảng vẫn ôm quan điểm “Thà chết 10 người oan còn hơn để sót 1 địch” vì đó là sức mạnh cốt lõi của chế độ. Kết quả, Đảng ném những đề nghị của ông Tường vào sọt rác và ném cái người dám nói những lời lẽ “phản động” ấy xuống vực Tarpéienne bằng cách đưa Nguyễn Mạnh Tường ra kiểm điểm công khai hòng bêu xấu ông, hạ gục ông trước mặt mọi người.

Nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược, đám đông đứng nghe như nuốt từng lời của vị lưỡng quốc luật sư tài giỏi và can trường. Đó là điều cực kỳ nguy hiểm cho sự tồn vong của chế độ. Cuối cùng, để trả thù nhưng không muốn đánh động dư luận, Đảng thi hành cái kế hèn hạ nhất, độc địa nhất mà chỉ có họ mới đủ ác để nghĩ ra: cho Nguyễn Mạnh Tường và gia đình được sống, nhưng đó là cái sống tệ hơn cái chết gấp trăm lần, cái sống mà không ai dám đến gần như thể họ là những kẻ cùi hủi, cái sống mà thân xác lúc nào cũng quằn quại đớn đau vì… đói.

Tới đây, hẳn có người sẽ bảo ông Tường biết Cộng Sản nó gian nó ác, nó ngu dốt, nó cứng đầu mà còn muốn sửa sai nó, thế thì tự chuốc họa vào thân là đúng rồi.

Tôi cũng đã từng nghĩ như thế, nhưng sau khi đọc những điều ông viết tôi chợt nhận ra rằng Nguyễn Mạnh Tường là một người có những khả năng kỳ lạ, một trong những khả năng ấy là ông có thể tự tách mình ra khỏi chính mình để quay lại nhìn mình. Trong ông là 2 con người: một người bình thường biết sợ, biết đau, biết đói, nhưng người kia lại rất bình thản, ung dung để có thể ngắm nghía và ghi nhận mọi sự kiện, ngay cả nỗi đau đớn của chính mình. Ta hãy xem thái độ của Nguyễn Mạnh Tường trước một buổi “kiểm điểm – xử án” mà ông gọi là màn “đấu bò” mà ông là chính con bò bị đẩy ra giữa đấu trường:

“Cho đến hôm nay tôi đã phải trải qua những thử thách không ai có thể nghĩ tới. Trong tình thế đó, tôi có thể lượng sức chịu đựng của mịnh và sự tò mò đã giúp tôi vượt qua nỗi ức chế. Bất chấp các “đồng sự” đang lay động tấm vải đỏ trước mắt, chính tôi là kẻ tấn công!”
Chính nhờ khả năng “tách mình làm đôi” ấy nên trong những lúc cùng quẫn nhất, ông vẫn tìm ra lối thoát cho mình; dù phải một mình đối đầu với kẻ địch to lớn nhất, ông vẫn giữ vẹn con người của mình.

“Và ngày nay, đối diện với người Cộng Sản, người ta phải sống với thái độ nào để giữ được con người thực và chân chính của mình?

Tôi, tôi tự thu mình vào cuộc sống nội tâm, bày biện và vui với nó. Phải tách góc nhà đó (nội tâm) khỏi cộng đồng vợ chồng, kể cả con cái, kể cả người dưng. Từ đài quan sát đó, nơi mà mình tự quan sát lấy mình, chúng ta có thể làm khán giả nhìn cuộc đời người khác để rồi tự đánh giá và điều chỉnh bản thân.”

Cái mà Nguyễn Mạnh Tường gọi là “sự tò mò” phải chăng là cái cốt lõi nhất của một người làm khoa học, đó là lòng muốn biết, biết tới cái tận cùng của sự việc. Sự hiểu biết của nhà khoa học còn phải được chứng thực bằng thử nghiệm, do đó, nếu Nguyễn Mạnh Tường không thử hết các cách có thể làm được thì hẳn ông sẽ không thể cam lòng. Vì thế dù biết Đảng ghét và sợ bị phê bình và sẵn sàng khủng bố kẻ nào dám phê bình thì Nguyễn Mạnh Tường cũng vẫn phải thử.

Nhiều người sống dưới chế độ Cộng Sản không dám thử kiểu ông Tường nên họ được sống yên tới già tới chết theo cái kiểu của Nguyễn Tuân “Tôi tồn tại được vì tôi biết sợ”. Nhưng, nghĩ lại mà coi, Nguyễn Mạnh Tường vẫn “tồn tại” tới cái tuổi cổ lai hy đó thôi. Cuối cùng, Đảng chẳng giết nổi ông. Nguyễn Mạnh Tường vẫn sống nhờ có sự giúp đỡ của những người chung quanh.

“Và khi chúng tôi cạn kiệt tiền bạc thì tấm lòng hào hiệp của các người bạn ở trong nước hay ở nước ngoài ném cho những chiếc phao cứu hộ giúp chúng tôi nổi trên mặt nước thay vì phải chìm đến tận đáy sâu của hư không (…) Họ là những kẻ không tên, không biết mặt nhưng không thiếu thận trọng đã sáng tạo ra nhiều phương cách tài tình chế nhạo những kẻ cầm quyền trên thế giới, bất kể cái hung tàn đần độn và cái cảnh giác gay gắt của chúng. Họ đã chung tay làm nên một mặt trận không chính thức nhưng năng động, mặt trận của lòng trắc ẩn và sự tử tế, đưa bàn tay cứu giúp đến các nạn nhân của độc tài khát máu.”
Hoặc nhờ những tấm lòng của người chung quanh, hoặc vì chính tấm lòng của Nguyễn Mạnh Tường quá lớn, hoặc vì cả hai, nên dù phải chịu sự tra tấn ác độc của kẻ thù, ông vẫn không hề đem lòng oán hận.

“Tất cả kẻ thù của chủ nghĩa Cộng Sản đang chờ tôi trút cơn giận điên người lên chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi là nạn nhân. Nhưng xin mọi người hãy tha thứ cho tôi: tôi chọn thái độ của một triết gia: chỉ tìm hiểu chứ không xử án. Hiểu biết đòi hỏi mình phải tìm hiểu dưới mọi khía cạnh và dưới hai phía: mặt ưu và mặt khuyết, mặt trái và mặt phải của trang giấy, sự tốt và sự xấu. Nó sẽ dẫn đến sự công bằng, và người trí thức chỉ muốn điều đúng đắn.”
Tất cả những điều Nguyễn Mạnh Tường viết về chủ nghĩa Cộng Sản, về Đảng Cộng Sản không là sự trả thù, đó chỉ là sự chiến đấu của một trí thức chống lại cái ngu, cái ác.

“Cuộc chiến đấu của trí thức chống lại thứ độc tài mù quáng và vô nhân đạo bởi kẻ độc tài đã ra tay đày đọa người trí thức. Một trí thức, với cái liêm chính của con người và cái minh mẫn của tinh thần, là người lính chống lại kẻ áp chế chuyên lặp đi lặp lại các lời hứa hão huyền và sự bất lực đã phải cầu cứu đến sức mạnh của công an để giữ vững ngai vàng.”
Cái đày đọa Nguyễn Mạnh Tường nhất, thật ra, không phải là cái khổ, cái đói, mà là ông không còn cơ hội truyền đạt kiến thức của mình cho các thế hệ đàn em. Đảng không chỉ tước đoạt quyền làm người, Đảng còn xé nát cả mơ ước được xây dựng đất nước của một người. Nhưng Đảng không toàn thắng như Đảng thường rêu rao, Đảng thua vì Nguyễn Mạnh Tường không chịu thua. Hơn 20 năm bị cô lập trong đói khổ, Nguyễn Mạnh Tường không ngừng viết. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm như một hiến dâng cho đất nước và dân tộc.(2)

Vậy là, qua từng trang giấy, lần lượt Nguyễn Mạnh Tường đã trả lời đầy đủ cho tôi mọi câu hỏi. Nguyễn Mạnh Tường không ngu, cũng không dại, ông biết kẻ thù là ai, ông cũng biết số phận của mình rồi sẽ như thế nào. Sở dĩ Nguyễn Mạnh Tường làm những điều ông đã làm vì Nguyễn Mạnh Tường thà chọn cái khổ, cái chết hơn cái nhục, và cái nhục ở đây không là do kẻ khác gán lên mình, cái nhục nhã nhất là làm trái với lương tâm và rồi mình sẽ phải tự khinh bỉ chính mình. Nguyễn Mạnh Tường thà làm kẻ bị Đảng khai trừ nhưng không thể làm kẻ bị lương tâm nguyền rủa.

Có thể xem “Kẻ bị khai trừ” là một tự truyện đau đớn và bi thảm của một con người yêu nước, tài hoa, nhưng bất hạnh; nhưng cũng có thể xem “Kẻ bị khai trừ” là một trường ca hào hùng của con người không khuất phục trước cái Ác, để rồi trong tận cùng đau khổ, người đó đã tìm ra chân lý đích thực cho chính mình.

“Từ 1958 tới nay, gần bốn mươi năm hiện hữu, tôi đã sống qua những thử thách tồi tệ nhất mà người ta có thể gán cho một trí thức, một con người. Đó lại là những năm tuyệt vời mà tôi biết được. Tôi như được thăng hoa, sung sướng là đã thắng mọi nghịch cảnh mà người ta đưa ra để chặn đường sống của tôi, đã thể hiện cách sinh hoạt của mình hướng theo sở thích, theo chọn lựa và cống hiến khả năng khiêm nhường cho dân tộc. Ý chí của tôi đã thắng tâm địa độc ác, đồi bại của những kẻ thề hạ gục tôi. Nhưng tôi vẫn tha thứ cho họ bằng cách lặp lại câu nói bất hủ: “Chúng không biết chúng đang làm gì!”. Người ta sẽ quên đi Cinna, và sẽ nhớ mãi August với lòng khoan dung quảng đại” (3)

DCVOnline

(i) Bản dịch sang tiếng Việt của Nguyễn Quốc Vĩ cuốn Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel của Nguyễn Mạnh Tường đăng nhiều kỳ trên tạp chí Thông Luận với tựa đề Kẻ bị rút phép thông công. Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức

Lời người dịch

Cuốn tự truyện Kẻ bị rút phép thông công được cụ Nguyễn Mạnh Tường hoàn tất năm 1991 viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Anh năm 2008(*).
[…]
Người dịch: Nguyễn Quốc Vĩ
Paris ngày 23 tháng 11 năm 2009

© Thông Luận 2009

(*) Bản dịch tiếng Anh của Gs. Phó Bá Long hoàn tất năm 2008, nhưng hiện chưa ấn hành và phổ biến rộng.

(ii) – Nguyen Manh Tuong, L’Annam dans la littérature française. Jules Boissière (1863-1897). Thèse complémentaire pour le doctorat ès lettres. Université de Montpellier. Faculté des lettres. Impr. de Mari Lavit, 1932 – 226 pages.
– Nguyen Manh Tuong, L’Individu dans la vieille cité Annamite. Thèse pour le doctorat en droit. Université de Montpellier. [The Individual in the Old Annamese Society. (Trad. RAF.)] Édition: Montpellier: Impr. de la Presse, 1932 – 411 pages.

(iii) Nguồn của tất cả các trích dẫn về/của Nguyễn Mạnh Tường (trong block quote) trong bài đều trong cuốn Kẻ bị khai trừ. (Tiếng Quê Hương, 2011).

Chú thích của tác giả
(1). Như trong bài “Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường” của Nguyễn Văn Hoàn (2009) nhân sinh nhật 100 năm (!?) của Nguyễn Mạnh Tường, đã cố tình lờ đi nhừng cuộc luân phiên đấu tố và những năm tháng bị bỏ đói mà ông đã phải chịu đựng, thay vào đó chỉ là câu trả lời phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Tường “Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn. Tôi như thành một người “phạm pháp quả tang”, bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa.”
(2). Nguyễn Mạnh Tường để lại khoảng hơn 20 tác phẩm như: Nền tảng Pháp, Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Kinh nghiệm và nước mắt tuổi trẻ, Những chủ thuyết về Giáo Dục của Âu Châu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, Eschyle và bi kich của Hy Lạp, Bản dịch tiếng việt của tác phẩm Oresteia của Eschyle, với một chương nghiên cứu dùng như lời giới thiệu, Virgile và sử thi Hy Lạp, Tình yêu vợ chồng dưới chế độ cộng sản, Bi kịch di dân, Tiểu thuyết về Việt Nam 1950-1990, v.v. Một số viết bằng tiếng Pháp chưa được dịch và in ra tiếng Việt.
(3). – Câu “Chúng không biết chúng đang làm gì!” là viết tắt của câu “Lạy Cha, xin tha tội cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”, là lời khấn nguyện của Đức Jesus khi Người đang chịu nạn trên thập giá (Phúc âm Lu-ca 23: 34).
– Cinna và August là hai nhân vật trong vở kịch Cinna ou la Clémence d’Auguste (Cinna, hay sự ân xá của đại đế Augustus). Cinna nghe lời người yêu là Émilie nên rắp tâm mưu sát vua để trả thù cho cha của Émilie bị vua giết tội. Mặc dấu mưu đồ bị lộ, Cinna và Émilie không bị trị tội mà được vua August ân xá và ban chức tước.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

Cưỡng chế đất ở Campuchia: dân làng bắt giữ con tin

Posted by hoangtran204 trên 24/02/2012

Nguồn: Tep Nilmol – The Phnom Penh Post

  Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

Lời người dịch: Qua bản tin ngắn này từ nước láng giềng, ta không khỏi so sánh với sự kiện Đoàn Văn Vươn tại Việt Nam, từ việc hành xử của chính quyền địa phương cho đến cách giải quyết vấn đề của hai bên. Nó cũng khiến ta lưu ý đến cách đưa tin khách quan, tìm hiểu hai mặt của vấn đề của phóng viên tờ Phnom Penh Post so với một số tờ báo trong nước khi vụ Tiên Lãng vừa xảy ra.

23.02.2012

Việc giải toả đất ở đồn điền cao su Ratanakkiri đã bị đình chỉ sau khi hơn 300 người dân tộc thiểu số làng Tumpoun bắt giữ bốn nhân viên bảo vệ và một viên chức của công ty, trói họ lại và giữ làm con tin vào hôm thứ Ba, các quan chức của công ty cho biết vào hôm qua.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Jing Zhong Ri Cambodia đã được huyện Lumphat cho phép hợp đồng sang nhượng 9 nghìn hecta “khu vực sử dụng lâu dài” Ratanakkiri trong vòng 70 năm vào tháng Năm và vừa qua đã bắt đầu khai quang khu vực này.

Những người dân làng Tumpoun nói rằng công ty này không có quyền san bằng ruộng đất của họ.

Sáng thứ Ba, họ đã phát động một cuộc tấn công vào khuôn viên công ty JZR, phá tan một máy ủi và một chiếc xe khác trước khi tiến vào văn phòng môi trường của công ty, cảnh sát trưởng huyện Lumphat là Suoy Phay nói với phóng viên tờ Post.

Đại diện dân làng là Tuy Nheb nói rằng khi người dân tiến tới, một nhân viên môi trường và các bảo vệ đã bắn chỉ thiên và dùng súng đe doạ họ.

Thay vì giải tán, những người dân làng trang bị gậy gộc, dao vào liềm, đã xáp vào nhân viên môi trường và các nhân viên bảo vệ, bắt giữ cả năm người vào 10 giờ sáng, các dân làng và chính quyền cho biết.

Souy Phay nói rằng dân làng đã bắt giữ năm nhân viên của công ty tại một ngôi nhà công cộng và trói tay họ lại, giữ làm con tin.

Những người dân tộc thiểu số trong làng sau đó đã phá tan văn phòng của nhân viên môi trường và yêu cầu công ty phải chấm dứt san bằng đất ruộng của họ ngay lập tức.

“Các nhân viên công ty cuối cùng đã được trả tự do khoảng vào giữa trưa hôm thứ Ba sau cuộc hoà giải thành công giữa dân làng và chính quyền địa phương,” Suoy Phay nói.

“Việc dân làng tự ý bắt giữ các viên chức công cộng là bất hợp pháp , vì không có phán quyết của toà, và hành động này được xem là bắt người bất hợp pháp,” ông nói.

Hai nhân viên bảo vệ bị bắt giữ cũng là nhân viên cảnh sát địa phương bán thời gian và hai người kia là lính bán thời gian của Quân đội Hoàng gia Cambodia.

Đến khi bài báo được đăng, toà án địa phương vẫn chưa đưa ra trát đòi bắt giữ bất kỳ người dân làng nào và không một người dân làng hoặc những nhân viên bị bắt làm con tin cũng như công ty đã chính thức đệ đơn kiến nghị với chính quyền.

Nhân viên quản lý của công ty là Chlay Em đã nói với tờ Post ngày hôm qua rằng việc đình chỉ quá trình san bằng khu đất được chuyển nhượng cho công ty sẽ được giữ nguyên cho đến khi chính quyền địa phương và dân làng đạt được một giải pháp nhằm tránh thêm bạo lực.

“Người dân làng quá dại dột, vì công ty này đầu tư nhằm tăng cường phát triển đất nước,” Chhay Em nói.

“Bất kỳ sự phá huỷ nào đối với tài sản công ty cũng là sự phá huỷ đất nước họ, và những gì chúng tôi làm đều theo đúng luật lệ.”

Đại diện làng Tumpoun là Tuy Nheb nói rằng việc bắt giữ là một hành động tuyệt vọng nhằm ngăn chặn công ty san bằng đất của họ và để trả đũa khi họ bị nổ súng đe doạ.

“Dân làng chỉ muốn bảo vệ đất của mình, việc này không phải là bất hợp pháp,” Tuy Nheb nói.

Pen Bunna, điều phối viên của tổ chức nhân quyền Adhoc nói rằng công ty chưa có giấy phép san bằng đất san nhượng và chỉ được chính quyền cho phép tiến hành một nghiên cứu đầu tư.

“Giải pháp chỉ có được sau khi dân làng bạo loạn, và nó tạo ra một tấm gương tốt cho tất cả các cộng đồng khác để phản đối sau khi ước nguyện của họ bị chính quyền địa phương cũng như cơ quan lập pháp phớt lờ,” Pen Bunna nói.

“Vì thế, tôi đề nghị chính quyền nên giải quyết vấn đề này càng sớm càng tốt.”

Thảo luận

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

“Đinh Đăng Định – kẻ phản quốc, hại dân” – hay báo Công An ĐN viết sai sự thật

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2012

Lời tựa:  Trong khi đọc bài báo có tựa đề: “Đinh Đăng Định – kẻ phản quốc, hại dân” đăng trên tờ Công An Đà Nẵng, tôi nhìn thấy hình ảnh thấy giáo Đinh Đăng Định.  Gương mặt thầy vui vẻ,  nét mặt đầy tự  tin, phong thái chửng chạc, đúng là người chính trực, tương phản với cái áo tù mà thầy đang mặc. Tò mò, tôi search trên google hai bài báo của thầy mà tờ công an có nhắc tới.  (“Dân Luận” +“Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập”; muốn tìm kiếm bất cứ bài báo hoặc tài liệu  nào trên google,  các bạn nhớ để trong ngoặc kép những chữ   chính hay key word, và search…)

Đọc xong các bài viết của thầy Đinh Đăng Định, tôi nhận ra  tờ Công an Đà Nẵng viết sai với sự thật. Đây là hành động không chính trực của phóng viên Thiên Triều và của tờ CA Đà Nẵng, hành vi của tờ báo là vi phạm pháp luật, đánh lừa đọc giả,  và vi phạm quyền tự do ngôn luận.

Admin (Nguyễn Công Huân) của trang Dân Luận cũng đã viết trả lời trong mục phản hồi như sau (trích): “Công an bắt thầy Đinh Đăng Định vì “viết bài gửi đăng Dân Luận chỉ là cái cớ hết sức ngớ ngẩn của bên an ninh, bởi lẽ những bài viết này ông Đinh Đăng Định hoặc (1) ghi lại trực tiếp từ buổi nói chuyện với cơ quan an ninh, hoặc (2) đã gửi trực tiếp tới các vị lãnh đạo Việt Nam, các báo công an nhân dân, quân đội nhân dân (chỉ có điều họ không cho đăng).”

(mời bạn đọc hai bài báo này đã được post dưới cùng của blog này– TH hoặc ở 2 link sau đây)

(1) http://danluan.org/node/6767

(2) http://danluan.org/node/7316

(Trích) “Bên an ninh đã biết ông Đinh Đăng Định là ai và đã quấy quả ông ấy cả năm trời trước khi ông đăng bài trên Dân Luận rồi. Quấy quả đến mức ông ấy chán không thèm lên gặp bên an ninh nữa, vậy mà báo Công an viết câu chuyện ngược ra thành thế này:

“Để thực hiện âm mưu của mình, Đinh Đăng Định đã sử dụng bí danh “Văn Nguyễn” và thông qua các hộp thư điện tử của cá nhân để tham gia soạn thảo một số tài liệu có nội dung xấu, phản động rồi tuyên truyền tán phát trên các trang mạng phản động. Tháng 8-2010, Định đã viết bài “Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước” với nội dung phản đối dự án khai thác boxit ở Nhân Cơ, đòi đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng CA, quân đội và đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và đưa lên các trang báo mạng Songthan.org, Danluan.org, Baotoquoccom… Tháng 11-2010, Định tham gia soạn thảo, chỉnh sửa một số bài viết như “Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập”, “Giải phóng”, “Nỗi kinh hoàng của người dân Việt Nam”… rồi đưa lên mạng và các trang web phản động của nước ngoài.

Qua kiểm tra máy tính của Đinh Đăng Định, Cơ quan ANĐT phát hiện 19 tập tài liệu với 195 trang có nội dung xuyên tạc thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng CSVN. Bên cạnh đó, Định còn thường xuyên liên lạc trao đổi, bàn bạc với Nguyễn Trung Lĩnh – một đối tượng cầm đầu tổ chức phản động nhằm thành lập “Đảng tự do dân chủ tại Việt Nam”; tham gia trả lời phỏng vấn tại các diễn đàn, các cơ quan báo, đài và một số trang web phản động với nội dung chống Đảng, chống chính quyền nhân dân nhằm mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam…

Trong quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT đã nhiều lần tiến hành gọi hỏi, triệu tập Đinh Đăng Định để làm việc nhưng Định chẳng những không chấp hành mà còn tỏ rõ thái độ ngoan cố, bất hợp tác và kiên quyết chống đối đến cùng.”

Nguyên văn bài báo đăng trên tờ Công An Đà Nẵng như sau:

Đinh Đăng Định – kẻ phản quốc, hại dân

Cadn.com.vn) – Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) CA tỉnh Đắc Nông vừa tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Đinh Đăng Định (1963, trú khối 4, TT Kiến Đức, H. Đắc R’Lấp, Đắc Nông – nguyên cán bộ, giáo viên Trường THPT Lê Quý Đôn, H. Tuy Đức) về hoạt động “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” và lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà  nước…, theo Điều 88 – Bộ luật Hình sự.

SỰ THA HÓA CỦA MỘT THẦY GIÁO

Theo hồ sơ của Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông, năm 1985, sau khi tốt nghiệp Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội chuyên ngành Hóa học, Đinh Đăng Định về nhận công tác và giảng dạy tại Trường Sĩ quan Phòng hóa, thuộc Binh chủng Hóa học Sơn Tây – Hà Nội. Trong thời gian công tác tại đây, Đinh Đăng Định đã bộc lộ những quan điểm, tư tưởng phản động, nhưng đã bị các giáo viên trong trường phản đối kịch liệt. Tháng 10-1987, Định bị Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng hóa kỷ luật với hình thức cảnh cáo, điều chuyển công tác do vi phạm quy chế huấn luyện, lên lớp không có giáo án, không chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy và quan hệ nam nữ bất chính. Tháng 3-1988, Định xuất ngũ với quân hàm  trung úy, rồi xin chuyển công tác đến nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương khác nhau. Tuy nhiên, do ở môi trường công tác nào, Định cũng không chịu rèn luyện, phấn đấu, mà luôn có những hành vi gây mất đoàn kết nội bộ và tỏ thái độ chống đối nên đã 8 lần bị xử lý kỷ luật và điều chuyển công tác…

  Đinh Đăng Định đang khai báo sự việc với cơ quan An ninh.

TỰ TỔ CHỨC THI HỌC KỲ

Trong thời gian công tác tại Trường THPT Lê Quý Đôn (từ tháng 9-2007 đến nay), Đinh Đăng Định chẳng những không chấp hành các quy trình kiểm tra về công tác chuyên môn của Sở GD-ĐT tỉnh Đắc Nông mà còn có những phát ngôn trái với quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy định của ngành Giáo dục, có những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của tổ chức và tập thể cán bộ giáo viên nhà trường. Tại cuộc họp triển khai nội dung Thông tư số 30 của Bộ GD-ĐT về đánh giá “chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, THPT” do nhà trường tổ chức ngày 13-8-2011, Đinh Đăng Định đã có những phát biểu bày tỏ quan điểm tư tưởng phản động như: “Không thừa nhận Đảng CSVN, bác bỏ Đảng CSVN, phủ nhận đạo đức Hồ Chí Minh”… và tuyên bố không theo đạo đức Hồ Chí Minh…”, không thừa nhận Ban Giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường…”. Đặc biệt, sự việc diễn ra nghiêm trọng hơn khi Đinh Đăng Định đã tự ý tổ chức cho học sinh thi học kỳ II trước thời gian quy định (năm học 2010-2011) mà không thông qua Ban Giám hiệu nhà trường.

TUYÊN TRUYỀN TÁN PHÁT TÀI LIỆU PHẢN ĐỘNG

Quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông đã phát hiện trong thời gian giảng dạy tại Trường THPT Lê QUÝ Đôn, Đinh Đăng Định đã tham gia câu kết, móc nối với các phần tử, tổ chức phản động trong và ngoài nước để hoạt động chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ, xúc phạm uy tín, danh dự của các lãnh tụ.

Để thực hiện âm mưu của mình, Đinh Đăng Định đã sử dụng bí danh “Văn Nguyễn” và thông qua các hộp thư điện tử của cá nhân để tham gia soạn thảo một số tài liệu có nội dung xấu, phản động rồi tuyên truyền tán phát trên các trang mạng phản động. Tháng 8-2010, Định đã viết bài “Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước” với nội dung phản đối dự án khai thác boxit ở Nhân Cơ, đòi đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng CA, quân đội và đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và đưa lên các  trang báo mạng Songthan.org, Danluan.org, Baotoquoccom… Tháng 11-2010, Định tham gia soạn thảo, chỉnh sửa một số bài viết như “Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập”, “Giải phóng”, “Nỗi kinh hoàng của người dân Việt Nam”… rồi đưa lên mạng và các trang web phản động của nước ngoài.

Qua kiểm tra máy tính của Đinh Đăng Định, Cơ quan ANĐT phát hiện 19 tập tài liệu với 195 trang có nội dung xuyên tạc thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng CSVN. Bên cạnh đó, Định còn thường xuyên liên lạc trao đổi, bàn bạc với Nguyễn Trung Lĩnh – một đối tượng cầm đầu tổ chức phản động nhằm thành lập “Đảng tự do dân chủ tại Việt Nam”; tham gia trả lời phỏng vấn tại các diễn đàn, các cơ quan báo, đài và một số trang web phản động với nội dung chống Đảng, chống chính quyền nhân dân nhằm mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam…

Trong quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT đã nhiều lần tiến hành gọi hỏi, triệu tập Đinh Đăng Định để làm việc nhưng Định chẳng những không chấp hành mà còn tỏ rõ thái độ ngoan cố, bất hợp tác và kiên quyết chống đối đến cùng.

Trước những hành vi ngông cuồng, bất chấp pháp luật của Đinh Đăng Định, ngày 21-10-2011, trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương, các ngành chức năng và gia đình, Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông đã thi hành lệnh bắt tạm giam 4 tháng đối với Đinh Đăng Định. Tại CQĐT, trước những tài liệu không thể chối cãi, Định đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, mong muốn được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Rồi đây, Định sẽ phải trả giá cho những hành động và việc làm sai trái của mình. Đáng tiếc thay, từ một trí thức được đào tạo, từng tham gia công tác trong ngành Quân đội và là một nhà giáo, đảng viên Đảng CộNG sản, được học tập dưới mái trường XHCN…, nhưng Đinh Đăng Định lại có bước trượt dài trên con đường tha hóa, ngày càng lún sâu vào những hành động, việc làm đáng bị lên án đến như vậy. Âu đó cũng là bài học đắt giá cho những kẻ nuôi ảo vọng chống phá, âm mưu lật đổ chính quyền, đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Vụ việc đang được Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông tiếp tục mở rộng điều tra làm rõ.

Thiên Triều

*************************************************************

Dưới đây là hai bài viết của thầy giáo dạy môn hóa học Đinh Đăng Định:

Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước (1)

Tác giả Đinh Đăng Định

Bản đánh máy từ bản viết tay đã giao cho cơ quan an ninh chính trị nội bộ Daknong ngày 25-10-2010.

Dakrlap – Daknong, ngày 25-10-2010.

SUY NGHĨ CÁ NHÂN (TÓM TẮT) THỂ THEO YÊU CẦU CỦA CƠ QUAN AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TỈNH DAKNONGDo giới hạn hiểu biết về tình hình đất nước, khả năng bản thân, thời gian quá eo hẹp (khoảng 2 ngày) để trình bày những vấn đề lớn tầm quốc gia quả là không thể đối với một giáo viên hóa học THPT là tôi trong bối cảnh này. Với tinh thần hợp tác tôi cố gắng trình bày tóm lược những suy nghĩ của mình về các vấn đề sau đây, theo yêu cầu của Cơ quan An Ninh Chính Trị Nội Bộ Daknong.

  1. Bô xít Tây Nguyên,
  2. Hiện tình xã hội Việt Nam,
  3. Dân chủ – đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam,
  4. Điều 4 – Hiến pháp (1992),
  5. Phi chính trị hóa quân đội, công an, giáo dục-đào tạo.

VÀI NÉT ĐẠI CƯƠNG

Việt Nam hiện nay có dân số khá đông, khoảng 86 triệu (chưa kể số người Việt hải ngoại), những con người cần mẫn, giàu lòng vị tha; đất nước ở địa lý thuận lợi; có tiềm năng của một nước lớn và giàu có, giữ địa vị quan trọng trên thế giới.

Dù vậy, chúng ta (VN) cho đến nay vẫn là một quốc gia gia nghèo nàn, lạc hậu tốp cuối của thế giới. Mâu thuẫn đau lòng đó là câu hỏi thường trực trong lòng mỗi con dân nước Việt trước một tương lai chưa hứa hẹn ở thế kỷ 21.

Những chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là cách thức tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội tốt hay xấu có thể làm thay đổi hẳn số phận của một đất nước, một dân tộc. Thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia mặc dù đất đai ít, tài nguyên thiên nhiên nghèo, nhờ có tổ chức xã hội tốt đã vươn lên (Nhật Bản là ví dụ rất gần với Việt Nam); bên cạnh đó nhiều quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, sau nhiều chục năm xây dựng vẫn quằn quại trong nghèo đói, đồng hành với tài nguyên cạn kiệt…Chúng ta càng ý thức được việc tổ chức xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng như thế nào khi so sánh lợi tức của người Nhật gấp tới hơn 40 lần người Việt (đây mới chỉ là con số về GDP!). Sự thua kém, tủi hổ này buộc người VN phải tự suy xét về bản thân mình, tìm lối đi cho mình, cho phép ta tin rằng nếu tổ chức lại giang sơn đất nước một cách khoa học, hiệu quả thì người Việt Nam chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi nghèo hèn (gồm cả đói ở một bộ phận mỗi khi có thiên tai giáng xuống vùng đó) hiện nay và đủ sức vươn lên.

Nhưng chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội rồi.

Cơ hội lớn nhất là chế độ thực dân sụp đổ sau chiến tranh thế giới II, cơ hội giành độc lập và vươn lên đã bị bỏ lỡ! Nội bộ quốc gia – dân tộc bị chia rẽ sâu sắc, lên án nhau, mạt sát nhau và tiêu diệt nhau khi có cơ hội và tìm mọi cơ hội! Chính nó tạo ra sự rạn nứt trong lòng quốc gia – dân tộc, thật khó có thể hàn gắn. Kết quả cuối cùng là chúng ta thu được chế độ chính trị Cộng Sản Toàn Trị (độc tài, đảng trị) cho đến tận bây giờ! Trong khi đó, các dân tộc khác dù tốn rất ít xương máu, thậm chí không, cũng đã có độc lập và còn xây dựng xã hội dân chủ từ nhiều chục năm qua. Vì thế mà họ đã bỏ xa chúng ta!

Ngày nay, nhân dân cùng cực và chán ngán chế độ sinh ra chán nản với cả quê hương đất nước mình, đất nước đã kiệt quệ, tụt hậu và bế tắc. Nguy cơ thua kém vĩnh viễn là nguy cơ mất nước trở thành thách thức đang hiện hữu. Nhưng, quốc gia không mang lại hạnh phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm thì muộn sẽ bị giải thể theo quy luật đào thải – chọn lọc và phát triển một lẽ tự nhiên.

Con đường thoát khỏi bế tắc để vươn lên là DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN VÀ NHÂN QUYỀN. Dân chủ là động lực phát triển; đa nguyên tự nó tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội làm xã hội càng phong phú và thực hiện hòa giải dân tộc sau những xung đột đẫm máu; nhân quyền phát huy sinh lực, nguồn lực, sáng kiến và ý kiến mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc và đặc biệt là tôn vinh con người.

Nhìn lại, nguyên nhân dẫn đến những rạn nứt mà nước ta phải gánh chịu chính là vì chúng ta không đầu tư đủ tư duy để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và tìm hướng giải quyết. Chúng ta thiếu hẳn một DỰ ÁN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của đất nước. Cuối cùng người đồng bào, con lạc cháu hồng đã tàn sát lẫn nhau vì ý thức hệ không phải của mình mà sự tàn sát còn đẫm máu hơn, bảo vệ say sưa hơn ở các dân tộc khởi xướng ra nó, thảm bại thay!

Bài học đau đớn đó, dứt khoát chúng ta từ bỏ đầu óc độc quyền lẽ phải, tôn trọng sự khác biệt, đối thoại, thảo luận và thỏa hiệp trong tinh tần tương kính với thái độ lương thiện, xây dựng từ nhận thức rằng người VN rang buộc trong một than phận chung rằng, nếu đất nước giàu mạnh, cuộc sống khá hơn và tất cả chúng ta được kính trọng; ngược lại nếu đất nước ta nghèo nàn, lạc hậu, đói khổ tất cả chúng ta đều bị coi thường bất kể ta thuộc xuất xứ tôn giáo nào, đảng phái chính trị nào hay theo chủ nghĩa gì. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, điều tốt nhất cho một người cũng là điều tốt nhất cho mọi người và ngược lại.

I. VẤN ĐỀ BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN

Tôi hoàn toàn ủng hộ bản kiến nghị được khởi thảo bởi các nhà trí thức yêu nước và tinh hoa của đất nước, gồm 10 chữ kỹ khởi thảo của các thành viên IDS (cũ) và nhóm BVN đã loan tải trên BVN, tuanvietnam.net… Trong bản văn này tôi không viết thêm nữa.

Tôi đã ký ở số thứ tự 629.

II. HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

Nổi lên trên hết vấn đề hệ trọng nhất của xã hội VN hiện nay là SỰ BẤT CẬP, theo nhà giáo lão thành Phạm Toàn ở Hà Nội, một thành viên của BVN. Gồm:

  1. Bất cập về hiểu biết. Tầng lớp trí thức trong nước hiện nay hoàn toàn lạc hậu không biết làm gì cho Tổ Quốc sống lại dẫn đến bất cập về tổ chức đất nước nên có tổ chức mà KHÔNG hiệu quả mọi mặt.
  2. Bất cập về luật pháp. Luật gốc là hiến pháp đầy bất cập, đang đòi hỏi phải làm lại. Các bộ luật trong khi thực hành đều gặp mâu thuẫn hoặc sai hoặc không đầy đủ. Nếu có luật nào đúng thì cũng không thực thi đầy đủ do hệ thống quan chức tòa án, công chức hành chính đã bất cập sẵn…
  3. Bất cập về trình độ văn hóa tối thiểu của một dân tộc trong một thời đại văn minh dẫn tới bất cập về tâm lý sẵn sàng xây dựng Tổ Quốc rạng rỡ, thể hiện ở sự vô cảm của mọi người, thiếu trách nhiệm với chính mình, bản chất con người đang bị lưu manh hóa theo cách cynical của quan chức chỉ giỏi nói- mà nói cũng không giỏi – sểnh ra là hối lộ, chạy chọt, đút lót, luồn lách! Trách nhiệm công dân bị lột bỏ.

Với ba bất cập này, xã hội VN hiện tại rơi vào tình trạng mất dần kiểm soát, mạnh ai nấy giành từ quan tới dân đều hối hả vội vã vơ vét về như là ngày mai không còn sống để vơ vét nữa, rõ nhất là các tấm gương của hệ thống quan chức tham nhũng mà hàng ngày các báo “lề phải” cũng không thể che dấu!

Trước hiện tình xã hội VN đang rối ren, bất cập, hậu quả thật khôn lường thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc gia bị đe dọa từ nhiều phía; đạo đức xã hội, đạo lý băng hoại. Tôi hoàn toàn đồng ý với kiến nghị (nếu được) của nhà giáo Phạm Toàn để giải thoát tình hình đất nước hiện nay.

Nếu có một Hội Nghị Quốc Gia – Đồng Bào, như Hội Nghị Diên Hồng để hòa giải – hòa hợp dân tộc, sẽ trình kiến nghị:

  1. Thành lập hội đồng luật pháp viết lại Hiến Pháp cho 100 đến 1000 năm của nước Việt tương lai xây dựng Tổ Quốc mà không cần thay đổi hay sửa chữa nhiều, đủ sức trưng cầu ý dân cả nước.
  2. Thành lập ở các cấp, các ngành… mỗi hội đồng kiểm điểm công khai có trách nhiệm báo cáo công khai mọi ưu khuyết điểm của các tổ chức, mọi tầng lớp nhân dân đều biết, đều nghe trong khoảng thời gian chí ít là từ 30-4-1975 đến nay.
  3. Thành lập Hội Đồng Quốc Gia về kinh tế, nghiên cứu và đưa ra đường lối phát triển kinh tế đất nước, sao cho đảm bảo chắc chắn rằng: Người học ở bậc phổ thông(trước hết) không mất tiền; người bệnh đến bệnh viện không mất tiền ở hệ thống công lập, nhà nước quản trị.

III. DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG CHO VN

Trước hết xin trích phát biểu gần đây của ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc:

Dân chủ và tự do là khát khao và ý chí của nhân dân không gì có thể ngăn cản. Kẻ đi theo thời đại sẽ phát triển; kẻ đi ngược thời đại bị đào thải” (hết trích).

Tự do dân chủ là giá trị căn bản mà loài người tranh đấu với thiên nhiên, với chính mình trải hàng ngàn năm mới có được. Dân chủ nhất quyết không thể do ai ban phát.

Tổng thống lập quốc của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ngài Thomas Jefferson nói: “Chính phủ lập ra không phải để ban phát tự do, mà để bảo vệ nó”. Tình trạng không có tự do dân chủ ở VN thể hiện: Luật báo chí không cho phép tư nhân ra báo. Rõ ràng vi hiến. Các-Mác ông tổ của học thuyết CNXH và CNCS nói: “Đối lập với báo chí tự do là báo chí bị kiểm duyệt”; ông còn nói báo chí bị kiểm duyệt là ”con quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tắm nước hoa”.

Điều 19 công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,(1966 của LHQ, VN ký công nhận 1982) viết rằng:

  1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm chính trị của mình mà không ai có quyền can thiệp vào.
  2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền như: truyền miệng, viết, in… hay các phương tiện truyền thông khác tùy theo sự lựa chọn.

Điều 69 – Hiến Pháp 1992 nước CHXHCNVN thừa nhận tự do ngôn luận,tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội,đoàn… theo quy định luật pháp.

Luật báo chí đã vi hiến và đi ngược với giá trị tự do dân chủ căn bản; luật biểu tình không có chứng tỏ nhà nước CHXHCNVN vi phạm chính hiến pháp mà mình làm ra.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn nói: ”Kiên quyết không tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và để cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng gây tổn hại cho đất nước”.

Thực tế, chế độ chính trị VN đã chống lại các giá trị nhân bản tự do dân chủ xét trên phương diện báo chí là sự thật không thể bác bỏ!

Thực tế không thể chứng minh được tự do báo chí, báo chí tư nhân gây tổn hại cho đất nước. Rằng, bất kỳ hành vi nào gây tổn hại cho đất nước đều không thể dung tha cho dù xuất phát từ cá nhân, tập thể, hay đảng phái chính trị nào kể cả là đảng cầm quyền. Người ta – những người cộng sản đang cầm quyền ở đất đất nước VN này đã quên rằng, chính lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng cộng sản VN của họ đã nói rằng: “dân chủ là để cho người dân được mở mồm nói”. Ông muốn nói tới con người dân cụ thể, chứ không phải đại từ nhân dân chung chung. Chỗ để nói có văn hóa chính là báo chí.

Nhà văn, triết gia Pháp Voltaire(1694-1778) từng nói (đại ý): Tôi không tin những điều anh nói, nhưng tôi sẵn sàng hy sinh bảo vệ quyền anh được nói. Vâng, thật sự là văn hóa của xã hội có tự do ngôn luận.

Cần phải nói thêm rằng, từ 1936 – 1938 tờ Dân Chúng (báo cộng sản) và 11 tờ báo tư nhân khác đều tán thành tự do dân chủ và đòi ân xá các chính trị phạm ở Đông Dương. Chẳng lẽ ngày nay, chế độ chính trị cộng sản lại kiểm soát đồng bào mình gay gắt hơn cả bọn thực dân Pháp hay sao? Nguy cho dân tộc quá!

Lịch sử sự sụp đổ các chế độ chính trị độc tài ở Đông Âu là bài học máu thịt cho ĐCS, thiết nghĩ các đảng viên cao cấp của ĐCS VN và ban lãnh đạo cần rút tỉa bài học là: vì đảng hay vì quốc gia – dân tộc. Cuộc sống đã và đang đặt ra một đòi hỏi chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên mà hệ quả hiển nhiên là đa đảng chính trị như một tất yếu của lịch sử để giải quyết các vấn đề có tính quyết định của đất nước hiện tại và mai sau.

Dân Chủ – Đa Nguyên với nền tảng là tư tưởng đa nguyên, chủ nghĩa đa nguyên. Nó tiếp nhận, chứa đựng mọi sự khác biệt về ý thức, ý thức hệ càng gia tăng tính phong phú cho xã hội, xã hội càng giàu có về văn hóa.

Trong môi trường xã hội dân chủ – đa nguyên, các đảng phái sẽ cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển thân thiện, thay vì cạnh tranh kiểu “địch ta”, tiêu diệt đẫm máu như từng xảy ra trong lịch sử hơn 60 năm qua; sẽ là thảo luận, đối thoại tiến tới đồng thuận quốc gia trên những nét chung nhất: hiến pháp, luật pháp, an ninh quốc gia, an sinh xã hội… Đặc biệt và đương nhiên là loại trừ các yếu tố bạo lực tận gốc rễ xã hội – đạo lý.

Các tầng lớp xã hội cùng nhau tham gia thảo luận tích cực và tự giác, đóng góp ý kiến cho một xã hội thăng tiến, chống tụt hậu. Nước ta hiện là một trong các nước nghèo nhất thế giới, lạc hậu cả về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, kinh tế và quốc phòng…

Trong chế độ chính trị độc đảng hiện nay, các thành viên tham gia làm chính trị chủ lả tìm kiếm danh lợi cá nhân và phe nhóm (cronny) bằng cố gắng cá nhân và phe nhóm kể cả là luồn lách, các thủ đoạn chính trị hèn mạt (giăng bẫy, ngụy tạo nhân cách…). Lẽ ra, làm chính trị là bổn phận đạo lý của công dân. Chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên nhất định tháo bỏ văn hóa chính trị bệnh hoạn này; không thể xây dựng gì cho xã hội với những cá nhân, phe nhóm với đầy ắp tham vọng ích kỷ, bản vị này.

Nền chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên là nơi hội tụ của Quốc Gia – Dân Tộc với quyết tâm đánh bại mọi sự tồi, dở, gian ác, tham lam, tàn bạo, lưu manh… để thay đổi phương thức tổ chức xã hội với mục tiêu tôn vinh con người và phẩm giá con người đem lại phúc lợi tối đa cho con người. Lương tri dân tộc thôi thúc không ngừng nghỉ cuộc đấu tranh về Dân Chủ – Đa Nguyên cho nước nhà, cho dù vô cùng khó khăn nhưng, sẽ gặp vô cùng thuận lợi nếu ban lãnh đạo ĐCS hiện thời nhận thức rằng Quốc Gia – Dân Tộc phải được hưởng phúc, chế độ Dân Chủ – Đa Nguyên là sản phẩm của xã hội văn minh được nhân loại đem tới. Với sự hợp tác của ĐCS VN đứng đầu là Ban chấp hành Trung Ương và Bộ Chính Trị, dân tộc ta sẽ hân hoan bắt tay nhau trong tình nhân ái cùng làm lại một nước VN đã tan hoang, tàn tệ sau nhiều chục năm bị tàn phá bởi chiến tranh và cả hòa bình làm cho đất nước tụt hậu toàn diện, để tránh cho đất nước ta một lần nữa rơi vào tình trạng vô chính phủ thậm chí thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng chế độ độc tài khác đều nguy khốn cho Quốc Gia – Dân Tộc.

Dân Chủ – Đa Nguyên không thuần thúy chỉ là ứng cử, bầu cử tự do hay tam quyền phân lập giản dị mà là thành quả của dòng tư tưởng mãnh liệt phát xuất từ quá khứ chảy tới tương lai. Cuộc đấu tranh thay thế chế độ độc tài đảng trị cộng sản hiện nay bằng chế độ dân chủ đa nguyên là cuộc cách mạng tư tưởng vĩ đại nhất kể từ xưa mà nó nhất định phải xuất hiện, có thật trên đất nước VN thân yêu của chúng ta. Đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã thật kém may mắn, bất hạnh vì đã thuộc quyền lãnh đạo, cai trị toàn trị của ĐCS VN.

Nhưng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (lời cổ nhân). Lịch sử dân rộc ta tuy đau thương vô cùng nhưng, dân tộc ta khoan dung độ lượng vô cùng, chấp nhập mọi quá khứ chính trị, văn hóa, tư tưởng và lịch sử. Tư tưởng Dân Chủ – Đa Nguyên và những con người Dân Chủ VN đã có, còn có ở ngay trong các đảng viên cao cấp của ĐCS VN. Tôi rất hy vọng cuộc hợp tác vĩ đại của Dân Chủ và Cộng Sản, của Dân Tộc VN và ĐCS VN sẽ thành công để cùng ngồi vào bàn ĐẠI HỘI QUỐC GIA – DÂN TỘC bàn thảo làm lại giang sơn xã tắc (mượn ý của ông Nguyễn Trung, một trí thức yêu nước).

Cá nhân tôi sẵn sàng đóng góp cho cuộc chuyển hóa về Dân Chủ cho nước Việt thân yêu với điều kiện tiên quyết loại trừ các yếu tố bạo lực, bạo động trong tất thảy các sinh hoạt chính trị, văn hóa xã hội để hạn chế tối đa những đổ vỡ đáng tiếc cho đất nước. Kiên quyết không để có KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC.

***********************************************************

Thư khẩn gửi quý ông lãnh đạo đất nước và hai bộ trưởng Công An và Quân Đội

 Đinh Đăng Định
ĐẮKNÔNG NGÀY 07–12-2010
KÍNH GỬI:
TÒA SOẠN BÁO NHÂN DÂN
TÒA SOẠN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
TÒA SOẠN BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN
BAN BIÊN TẬP TRANG MẠNG BÔ-XÍT VIỆT NAM: boxitvn.net/ boxitvn.blogspot.com

Tôi là Đinh Đăng Định, 47 tuổi,

Hiện đang làm giáo viên trường THPT Lê Quý Đôn-Tuy Đức-Daknong

Nhà ở: số 214-Nơ Trang Long thị trấn Kiến Đức-Dakrlap-Daknong.

Tôi long trọng gửi tới quý tòa soạn và BBT BVN lời chào trân trọng và lời chúc sức khỏe, hạnh phúc. Lần đầu có thư thư tòa soạn các báo nhân dân (ND), quân đội nhân dân (QĐND), công an nhân dân (CAND), tôi thành thật xin lỗi vì đã làm phiền. Thưa quý tòa soạn
Tôi biết rằng, báo ND là tiếng nói của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), báo QĐND là tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, báo CAND là tiếng nói của bộ công an.

Còn tôi, người viết thư này, nguyên là trung úy QĐNDVN (ra quân 1988); tôi ý thức được ĐCSVN là lực lượng độc nhất lãnh đạo đất nước theo điều 4-hiến pháp hiện hành (1992) với cơ quan ngôn luận là báo ND; tôi còn là nạn nhân của lực lượng an ninh chính trị nội bộ(ANCTNB) tỉnh Daknong. Trong thời gian qua, từ 19–10–2010 và, hiện tại chưa thể khảng định cái KHỔ NẠN này đã kết thúc. Mà tôi cũng ý thức được lực lượng ANCTNB của bộ CA là BẢO KIẾM, là CÁNH TAY ĐẮC LỰC bảo vệ ĐCSVN với quyết tâm “còn Đảng còn mình”.

Vâng, còn trang mạng BVN- boxitvn.net / boxitvn.blogspot.com với tôi, là độc giả thân thiện từ ngày đầu trang Nhà ra đời.

Đôi lời tự giới thiệu, làm quen chỉ với mục đích là tôi thiết tha nhờ quý tòa soạn các báo và BBT trang BVN chuyển giúp tôi THƯ KHẨN, mà tôi muốn gửi tới quý ông lãnh đạo tối cao của đất nước và hai ông bộ trưởng quốc phòng và công an. Vì tôi không biết địa chỉ email hay nơi ở của họ, chỉ biết họ đang sống, làm việc ở Hà Nội thôi.

Một lần nữa tôi thành thật xin lỗi quý tòa soạn và BBT BVN vì đã làm phiền; tôi cũng rất biết ơn và tin rằng quý tòa soạn cùng BBT BVN giúp tôi thực hiện nguyện vọng chính đáng này. Tôi xin khảng định là tôi chỉ nhờ chuyển.

Xin nhận nơi tôi lòng thành kính và biết ơn.

Đinh Đăng Định
ĐT nhà riêng 05013 647 002
Emai danbicuop@gmail.com

Posted in Báo chí cách viết, Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

Hãi hùng “sở hữu toàn dân”!

Posted by hoangtran204 trên 22/02/2012

Hãi Hùng “Sở Hữu Toàn Dân”

Anh Vươn từng được báo chí ca ngợi như anh hùng mở đất, lấn biển 2005

Tác giả: Hà Sĩ Phu

Danchimviet.info

Đã có một thời ấu trĩ, nghèo khó, trông con đường “tám thước” đã thấy “rộng thênh thang” [1], thấy ánh điện sáng trên cầu Việt Trì đã sướng nhảy lên “Ơ này anh em ơi” [2], thế mà trong đầu còn mở ra những thứ thênh thang gấp bội thì lâng lâng cũng phải. Này là bài ca hữu nghị Việt – Trung – Xô, này là anh cả Liên xô chị hiền Trung Quốc, này là vô sản toàn thế giới, này là thế giới đại đồng…Trước những thứ hoành tráng, bát ngát như vậy cái gì là RIÊNG, là cá nhân chẳng những bị xem là nhỏ bé mà còn tội lỗi nữa, phải nép vào một xó, nhường chỗ cho những gì là CHUNG, là “tập thể”, là “toàn dân”…Đã là cá nhân, lại kèm thêm chữ “CỦA” (tức là sở hữu đấy), như của tôi, của anh, thì xấu xa lắm, phải từ bỏ ngay hoặc chôn kín trong lòng.

Đừng trách các nghệ sĩ cứ “tớn” lên mà tội, khi có cả một lý thuyết đang trùm lên xã hội. Ngọn nguồn từ mấy ông râu xồm bên Tây kia.

Số là, từ thế kỷ 18, xã hội loài người đến thời văn minh công nghiệp thì sự chênh lệch giữa con người với nhau đã rất khủng khiếp. Bằng cảm tính trực quan, rất dễ thấy sự bất công là do chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất mà ra. Bần cố nông không có ruộng nên phải làm thuê cho địa chủ phú nông chiếm nhiều ruộng đất. Công nhân không có nhà máy nên phải làm thuê cho nhà tư bản có công xưởng. Kết quả là người lao động làm ra của cải mười phần nhưng chỉ được hưởng dăm ba phần vì bị các “chủ tư liệu” chiếm mất thành quả.

Thế là, xuất phát từ cảm tính trực quan, không ít người nghĩ đến giải pháp: từ nay không cho ai chiếm hữu ruộng đất hay công xưởng nữa, tất cả tư liệu sản xuất lớn phải là của chung, sẽ chẳng ai phải làm thuê cho ai, thế là triệt tiêu “tận gốc” sự bóc lột và bất công, thế là cứu dân. Nhiệm vụ cách mạng là phải chống cái RIÊNG, đặc biệt là cái riêng trong sở hữu những cơ sở vật chất. Theo luận lý ấy, đất đai là loại hình tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn vốn lớn nhất, giá cả có thể vô hạn tất nhiên không ai được sở hữu riêng, nếu quy thành luật “đất đai thuộc Sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý” thì cũng phải thôi.

Công cuộc chống cái Riêng sẽ dẫn xã hội tới Thiên đường khiến Tố Hữu reo lên:

Ngày mai đây, tất cả sẽ là CHUNG
Tất cả là vui và ánh sáng! (Tố Hữu-Liên hiệp lại)

Mơ tiếp, con người sẽ làm việc theo khả năng nhưng tiêu dùng thì tất cả đều lấy từ cái kho chung của toàn dân, như múc nước trong bể, ai khát nhiều thì múc nhiều, ai khát ít thì “tự giác” múc ít (thật quá ư nhân đạo và hợp lý), bởi khi ấy con người đều cao thượng, tất cả đã là của chung thì còn “tham sân si” làm gì nữa, thanh bình đến thế là cùng!

Chẳng còn ai có sở hữu tư liệu sản xuất riêng, ai cũng là công nhân công nghiệp hay công nhân nông nghiệp như nhau, hết cả giàu nghèo, hết cả sang hèn, nên xã hội đặc trưng ở tính chất SAN BẰNG, CÔNG HỮU HÓA, TẬP THỂ HÓA…

Đến nay, nhiều điều phi lý trong “xã hội không tưởng” như trên đã được nhận ra và không nhắc đến nữa, nhưng tại sao chủ trương Công hữu hoá về đất đai vẫn được giữ nguyên mặc dù chủ trương này đã gây nên bao vụ tranh chấp đất đai nghiêm trọng, kéo dài, như một vấn nạn lớn, thách thức sự tồn vong của chế độ?

Để trả lời câu hỏi trên, và có thể sửa chữa tận gốc sai lầm về “sở hữu toàn dân” đối với đất đai, chứ không dừng ở việc điều chỉnh để đối phó, thiết nghĩ cũng nên phân tích ngắn gọn với nhau mấy nguồn gốc xuất phát của sai lầm này.

1/ Những sai lầm từ trong nhận thức của Ý thức hệ:

– Xã hội không thể san bằng: Chẳng riêng gì loài người, sinh vật một khi đã sống thành bầy đàn hay xã hội thì khó lòng tránh khỏi bất bình đẳng. Ngay trong một cơ thể thực vật, các tế bào nằm sát nhau thì vừa hiệp lực vói nhau để hoàn thành một chức phận trong cơ thể vừa giới hạn lẫn nhau, chèn ép lẫn nhau, mỗi tế bào không thể căng tròn hết cỡ như khi được nuôi tự do trong môi trường nuôi cấy nhân tạo. Vừa hiệp lực lại vừa cạnh tranh, đấu tranh với nhau trong một tổng thể vốn là quy luật tương sinh tương khắc muôn đời của Sinh giới.

– Hệ quả của quy luật nói trên là sự phân ly thành hai cực CHÍNH QUYỀN và DÂN CHÚNG, cùng với sự phân cách GIÀU NGHÈO. Những sự phân ly vừa tương sinh vửa tương khắc này là tất yếu, không thể dùng “cách mạng” để san bằng.

– Đã không thể xoá bỏ hay san bằng thì phải có Luật và có Dân chủ, gọi chung là nền Dân chủ Pháp trị, để cho những mặt đối lập cùng tồn tại, không diệt nhau mà còn nương tưa vào nhau, hiệp lực với nhau trong xã hội chung.

– Là xã hội đương nhiên có tính Tổ chức: từ cá nhân đến các tổ chức nhỏ, tiếp đến các tổ chức lớn hơn, rồi thành quốc gia, quốc tế. Do đó Dân chủ cũng có Dân chủ trực tiếp và Dân chủ đại diện. Một tổ chức cấp cao có đại diện được cho các thành viên hợp thành hay không là do Cơ chế tổ chức có Dân chủ hay không. Nếu xã hội không dân chủ thì sự đại diện chỉ là mạo danh, “sở hữu toàn dân” là một sự mạo danh.

– Sở hữu là cơ sở vật chất để con người có thể tồn tại như một thực thể riêng trong xã hội, nên việc đưa tất cả đất đai cho nhà nước thống nhất quản lý là vô lý, đặc biệt là khi Công hữu hoá lại đi kèm với những thiết chế phản dân chủ thì chủ trương xoá bỏ sở hữu tư nhân đối với đất đai chính là cột chặt sinh mệnh toàn dân vào trong bàn tay của một đảng cầm quyền, chẳng khác nào truất phế tư cách tồn tại của họ.

2/ Sai lầm trong thời buổi “Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa”.

Những sai lầm vừa kể trên là sai lầm về nhận thức, về động cơ có thể là muốn xây dựng một xã hội “của chung”, tưởng rằng mọi thứ đều công hữu hoá, tập thể hoá thì nhân dân sẽ thoát vòng nô lệ và được hạnh phúc.

Song, khi phe XHCN thế giới đã sụp đổ, đảng Cộng sản đã chuyển sang chiến lược “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, ảo tưởng về nhận thức không còn nữa, tại sao vẫn chủ trương “toàn dân hoá” sở hữu đất đai?

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” ư? Toàn dân là một khái niệm chung chung, mơ hồ, chẳng là ai cụ thể, ai đang có quyền thì chiếm chỗ ấy. Sự thể ra sao thì vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng – Hải Phòng đủ nói lên tất cả.

Đất đai là miếng mồi ngon nhất, lớn nhất. Trong một cơ chế độc quyền lãnh đạo, kẻ nào nắm độc quyền lãnh đạo ắt thèm rỏ rãi, ắt dùng tổ chức công khai, dùng con dấu để “cướp ngày, cướp cạn” (chữ của bác Lê Hiền Đức). Dân bị cướp khắp nơi, kêu trời không thấu. Kiện chỉ là kiện củ khoai vì từ dưới lên trên đều cùng một duộc. Đó là một “lỗi hệ thống”.

Trong cơ chế “trên bảo dưới không nghe”, thủ tướng cũng chẳng cách chức nổi cấp dưới thì mạnh ai nấy làm, ai có quyền cũng là “anh hùng nhất khoảnh”, ấy là nạn phân ly, “cướp ngày” nổi lên khắp nơi. Nhưng bên cạnh nạn phân ly lại có nạn liên kết: liên kết giữa kẻ có quyền và kẻ có tiền, đôi khi liên kết cả với đám lưu manh anh-chị, liên kết trong lợi ích nhóm, liên kết trong nhiệm kỳ…thả sức cướp bóc, đầy ải nhân dân.

Trong đám mây mù tệ nạn, phải tìm ra cái trục gây ác. Trục gây ác cũng là trục quyền lực. Trục “hợp tung” của quyền lực từ trên xuống là: Chủ nghĩa – Đảng – Công an (công an là chủ lực thi hành). Trục “liên hoành” là các cấp uỷ, uỷ ban, công an, các đoàn thể trong Mặt trận, các đại doanh gia, các nhà cơ hội, các nhóm xã hội đen…

– Chính cái cơ chế “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” là nhân tố mở đường, là cái khiên che, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mọi đám “cướp ngày”, nó cần được huỷ bỏ.

– Việc duy trì điều luật này không còn là sai lầm về nhận thức mà là tội phạm có ý thức, nó cần được huỷ bỏ.

– Điều luật này là điều béo bở cho các quan, nhưng là nỗi hãi hùng cho Dân, nó biến cái CHUNG mạo danh Nhân dân thành cái RIÊNG của các quan, sở hữu “toàn dân” biến thành sở hữu “toàn quan”, nó cần được huỷ bỏ.

Xin trích đủ 4 câu trong bài thơ “Liên hiệp lại” của Tố Hữu:

Quyết chiến đấu! Nào, ta liên hiệp lại
Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng!
Ngày mai đây, tất cả sẽ là CHUNG
Tất cả là vui và ánh sáng!

(Tố Hữu-Liên hiệp lại)

Hai câu dưới là giấc mơ tương lai từ trong quá khứ, nên lưu lại trong một Bảo tàng Ý thức hệ.

Hai câu trên trải mấy chục năm vẫn như thời hiện tại, đọc lên cứ tưởng thơ tặng những gia đình khốn khổ như gia đình Đoàn Văn Vươn hôm nay.

Những tiếng nói yêu cầu huỷ bỏ điều luật này về Sở hữu đất đai, trao quyền Sở hữu ruộng đất về cho Dân (tất nhiên Công hữu xưa nay vẫn có phần dành cho Nhà nước) là những tiếng nói chân thành, nhìn thẳng sự thật, giúp đảng Cộng sản và Chính phủ vớt vát lại uy tín, vớt vát lại sự Chính danh.

Nếu tôi là những cấp lãnh đạo, tôi sẽ cảm ơn những liều thuốc đắng. Đoàn Văn Vươn cũng là một liều thuốc đắng như vậy.

Tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn là phát pháo hiệu báo nguy của anh bộ đội trên boong, báo cho người lái con tàu Titanic Việt Nam rằng: phía trước là một tảng băng ngầm.

19/2/2011

Hà Sĩ Phu

____________________

[1] Ta đi tới-Thơ Tố Hữu
[2] Bài ca Ánh đèn cầu Việt trì của nhạc sĩ Hoàng Hà, 1956

*hasiphu.com

 

you can fool some of the people all of the time,
and all of the people some of the time,
but you can not fool all of the people all of the
time.Bạn có thể lừa  một vài người trong tất cả mọi lần, vàbạn có thể lừa mọi người trong một vài lần,

nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người mãi  mãi

 

________________

Sở hữu của toàn dân

Alan Phan

3 December 2012

Theo luật quốc tế, người ta thường qui trách nhiệm pháp luật cho sở hữu chủ. Tôi còn nhớ một bài học đắt giá vào năm 1977 tại California. Một người bạn thân từ Pháp ghé thăm và vì tôi phải đi làm, nên giao chiếc xe Pontiac Bonneville của mình cho anh mượn, lái thăm quan tiểu bang mà anh yêu thích. Anh lái theo kiểu dân Paris chính cống , lượn lách ngay cả trên các xa lộ cao tốc. Qua khỏi Burbank, xe anh đâm vào một chiếc xe khác từ sau, gây tử vong cho một phụ nữ mới 28 tuổi.

Đương nhiên là anh có lỗi và phải chịu toàn trách nhiệm. May là xe tôi có bảo hiểm, nhưng lại bị giới hạn về tiền bồi thường (tối đa 1 triệu đô la). Tòa xử phía bị đơn phải bồi thường tổng cộng khoảng 1.25 triệu đô la cho phiá nạn nhân. Tôi lãnh đủ 250 ngàn tiền sai biệt sau khi hãng bảo hiểm trả phần họ; cộng với chiếc xe Pontiac hư hại hoàn toàn. Anh bạn thì sợ bỏ trốn về Pháp 2 ngày sau khi gây tai nạn và biệt tích giang hồ.

May mà gia đình nạn nhân cũng giàu có nên họ bớt cho tôi 100 ngàn và cho tôi trả 150 ngàn đô còn lại trong 3 năm. Sau đó các bạn tôi thường than phiền là tôi ích kỷ, không thích cho ai mượn xe.

toan dan so huu11

Tuần vừa qua, một quan chức Việt Nam, ông Tường, TGD Công Ty Đường Sắt Viêt Nam, nhắc nhở lại cho chúng ta quy tắc trên về luật sở hữu. Trách nhiệm sau cùng phải thuộc về sở hữu chủ, dù họ có can dự hay không vào “các tai nạn” hay bất cứ “sai phạm, thất thoát, lãng phí” ngay việc “sử dụng” các tài sản này có tạo ra tội ác hay không? Ông hoàn toàn đúng luật.

Về điểm này, tôi phải thành thực mà công nhận chủ nghĩa XH “ưu việt” hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. Và các nhà lập pháp hay hành pháp (nôm na là các bác lãnh đạo) thuộc phe XHCN xứng đáng là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Khi để “toàn dân” sở hữu tất cả tài sản quốc gia từ đất đai đến khoáng sản đến các công ty sân sau của phe nhóm, thì ‘toàn dân” phải chịu trách nhiệm cho mọi sự cố từ tốt đến xấu. (Thực ra, theo lịch sử, thì 5 ngàn năm qua chưa bao giờ có sự cố tốt hay xấu cho các tài sản “tập thể”, chì có “tai nạn” và “ thảm họa” do hoàn cảnh khách quan). Ngoài ra, vì “toàn dân” là sở hữu chủ nên họ phải chịu trách nhiệm về mọi nợ nần, hư hỏng hay phá hoại. Tôi đang đợi một phiên tòa quốc tế có 90 triệu dân bị còng tay đưa ra xét xử về tội “xù nợ” hay “tàn phá môi trường”.

Đến ngày hôm nay, tôi mới thông hiểu hết cái thâm thúy tuyệt vời của chủ nghĩa Mác Lê. Một chủ thể gọi là “toàn dân” mới chính là tội đồ cho mọi đổ đốn nơi đây. Tên “toàn dân” này quả là một thế lực thù địch nguy hiểm nhất của xã hội.

Lời khuyên của ông già Alan: Bạn đừng làm “toàn dân”. Coi chừng có ngày phải đi tù vì trong sổ sách của tòa, tội trạng của tên “toàn dân” này sau 67 năm dài hơn 48 cuốn Thư Mục Tham Khảo (encyclopedia) của Britannica… và sắp sửa lấp đầy Thư Viện Quốc Gia.

Alan Phan

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Tagged: | Leave a Comment »

Tòa Bạch Ốc hẹn gặp cộng đồng Việt nói chuyện nhân quyền

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2012

và xin được nghe và tìm hiểu nội dung cũng như ý nghĩa của hai bài hát ‘Anh Là Ai?’ và ‘Việt Nam Tôi Ðâu?’ của nhạc sĩ Việt Khang


Tòa Bạch Ốc đã chính thức xin được tiếp xúc và gặp gỡ cộng đồng người Việt về vấn đề nhân quyền cho Việt Nam, cũng như những quan tâm đến các nhà tranh đấu và tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong nước.

Cuộc tiếp xúc sẽ được diễn ra từ 12 giờ trưa đến 3 giờ chiều 5 Tháng Ba. Qua ngày hôm sau, phái đoàn Việt Nam sẽ gặp các vị dân cử ở Quốc Hội Hoa Kỳ. Tin này đến vào lúc có hơn 54,000 người ký thỉnh nguyện thư nhân quyền trên trang mạng Tòa Bạch Ốc.

Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN, cho biết: “Tối Thứ Bảy, một viên chức Tòa Bạch Ốc đã gọi cho Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng nói họ muốn gặp cộng đồng Việt Nam. Họ xin được nghe và tìm hiểu nội dung cũng như ý nghĩa của hai bài hát mà nhạc sĩ Việt Khang đã sáng tác. Ðó là hai nhạc phẩm ‘Anh Là Ai?’ và ‘Việt Nam Tôi Ðâu?’ cùng một số sáng tác khác ở hải ngoại thể hiện tinh thần yêu nước và tranh đấu cho nhân quyền của người Việt tự do.”

SBTN là nơi phát động chiến dịch ký thỉnh nguyện thư yêu cầu Tổng Thống Barack Obama đình chỉ việc mở rộng thương mại với Việt Nam khi nhân quyền không được tôn trọng. Những nhà tranh đấu được nêu tên trong thỉnh nguyện thư gồm có Linh Mục Nguyễn Văn Lý; hai vị được đề cử giải Nobel Hòa Bình là Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ và Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế; Blogger Ðiếu Cày (Nguyễn Văn Hải); và nhạc sĩ Việt Khang, người bày tỏ lòng yêu nước qua hai nhạc phẩm “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Ðâu?”

Chiến dịch này kéo dài trong một tháng, từ 8 Tháng Hai đến 8 Tháng Ba, kêu gọi mọi người ký thỉnh nguyện thư gởi Tòa Bạch Ốc. Theo quy định của trang mạng này, để được Tòa Bạch Ốc chính thức trả lời trực tiếp, một thỉnh nguyện thư phải đạt được 25,000 chữ ký trong vòng 30 ngày.

Ðến chiều Chủ Nhật, đã có hơn 54,000 người ký vào thỉnh nguyện thư trên trang mạng của Tòa Bạch Ốc.

Tòa Bạch Ốc đang quan sát mức độ ký thỉnh nguyện thư này rất kỹ. Khi chúng ta có 25,000 chữ ký họ đối xử với chúng ta khác. Khi có 50,000 chữ ký tình hình sẽ khác nữa. Và khi chúng ta có 100,000 hoặc 200,000 chữ ký, chắc chắn tiếng nói của cộng đồng chúng ta sẽ được các vị dân cử liên bang lắng nghe,” nhạc sĩ Trúc Hồ nhận xét.

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi giữa Tháng Giêng của bốn thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam có đưa ra một danh sách dài nhiều loại vũ khí, trang bị quốc phòng muốn mua của Mỹ, từ dàn radar cho đến hỏa tiễn phòng thủ, bộ phận máy bay. Tuy nhiên, TNS John McCain, một người đi trong đoàn, nói rằng “Việt Nam phải cải thiện nhân quyền” trước khi Hoa Kỳ có thể chuyển giao những hệ thống này.

Trong buổi nói chuyện với Ðại Sứ Ron Kirk, đại diện mậu dịch Hoa Kỳ, hôm 19 Tháng Giêng, Dân Biểu Loretta Sanchez cũng đưa vấn đề nhân quyền trong giao thương Mỹ-Việt.

Mỗi lần Việt Nam được một thành tựu trong mậu dịch, như PNTR trong thương mại song phương với Mỹ, WTO, hay vào Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, là một lần Việt Nam nuốt lời hứa về nhân quyền và đàn áp nhiều hơn thay vì tự do nhiều hơn,” bà Sanchez nói.

Bà nói thêm: “Việt Nam ngày càng bỏ tù nhiều người, không chỉ các vị lãnh đạo tôn giáo hay những người tranh đấu đòi dân chủ, mà cả những người trẻ lên Internet nói lên những vấn đề của đất nước, như nhạc sĩ Việt Khang.”

Tuy nhiên, vì Việt Nam cứ hứa cải thiện nhân quyền rồi sau đó không thực hiện, Dân Biểu Sanchez đặt vấn đề với Ðại Sứ Kirk là nên bắt Việt Nam thực hiện trước rồi mới ký. Tuy Ðại Sứ Kirk không trả lời rõ ràng về đề nghị này, nhưng theo bà Sanchez, “Chúng ta vẫn có thể đặt điều kiện vào các hiệp định mậu dịch để các nước sẽ gặp khó khăn nếu không thực hiện những điều họ hứa.”

Nhạc sĩ Trúc Hồ cho biết đài SBTN sẽ chọn ra 50 người từ 50 tiểu bang đã tham dự trong cuộc vận động ký thỉnh nguyện thư cùng với phái đoàn truyền thông và một số các tổ chức đã tiếp tay trong thời gian qua để vào Tòa Bạch Ốc ngày 5 Tháng Ba.

Ngoài ra, một số ca sĩ của Trung Tâm Asia từng hát hai tác phẩm của nhạc sĩ Việt Khang cũng sẽ đi cùng để trình bày hai nhạc phẩm này tại Tòa Bạch Ốc.

Nhạc sĩ Trúc Hồ cũng cho biết buổi tiếp xúc cộng đồng Việt Nam và trình diễn hai tác phẩm của nhạc sĩ Việt Khang sẽ được trang mạng của Tòa Bạch Ốc truyền tải trực tiếp để mọi người cùng xem.

Nhạc sĩ Trúc Hồ cho biết thêm: “Những người muốn đi, xin chuẩn bị gởi tên, ngày tháng năm sinh cùng địa chỉ về cho SBTN để xin giấy phép vào Tòa Bạch Ốc nội trong ngày Thứ Hai, 20 Tháng Hai và xin chú ý là Tòa Bạch Ốc chỉ hạn chế tiếp xúc khoảng 100 người mà thôi. Riêng Quốc Hội thì không giới hạn số người tham dự. Quý vị tham dự viên phải tự túc vé máy bay đến thủ đô Hoa Thịnh Ðốn.”

Khi được hỏi cảm tưởng về sự kiện cộng đồng Việt Nam được Tòa Bạch Ốc chú ý với hơn 54,000 chữ ký, nhạc sĩ Trúc Hồ nói: “Có thể nói, đây là một Hội Nghị Diên Hồng ở xứ Mỹ. Chúng ta đến Tòa Bạch Ốc lần này với tư cách những người gởi thỉnh nguyện thư trực tiếp, chứ không phải một đảng phái nào. Ðây là năm bầu cử, chúng ta phải tận dụng cơ hội này.”

Thỉnh nguyện thư vẫn còn trên trang mạng Tòa Bạch Ốc và vẫn còn nhận chữ ký, tại địa chỉ https://wwws.whitehouse.gov/petitions.

Đỗ DZũng (Người Việt)

nguoi-viet.com

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bị “trấn lột” ở sân bay

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2012

Paulo Thành Nguyễn

Sau vài ngày tham quan thị trường vật liệu xây dựng kết hợp du lịch ở Bangkok, tôi rất có cảm tình với phong cách tiếp đón chân tình và thân thiện của người Thái.

Mang theo niềm vui, kinh nghiệm đời sống của người dân Thái về Việt Nam để chia sẻ cùng bạn bè. Vừa bước xuống sân bay thì nhận được một sự “tiếp đón” khá bất ngờ: từ lúc làm thủ tục nhập cảnh cho đến lúc kiểm tra hành lý luôn có máy quay phim theo sát bước chân tôi, lúc lấy hành lý xong sáu nhân viên sân bay và một an ninh thường phục ập đến giữ hành lý của tôi lại.

Họ phấn khích cứ như cảnh thú săn được mồi, tất cả xúm lại lục tung đồ đạc trong ba lô lên, kéo ngăn lớn, ngăn nhỏ… Đang khi kiểm tra hành lý thì một cô tiến lại gần yêu cầu tôi bỏ hết đồ đạc trên người ra, tôi cũng hợp tác móc bóp, điện thoại để lên trên bàn. Tôi hỏi cô ấy có cần cởi luôn quần không thì cô ta nói không cần. Lại thêm một lần sục sạo nữa: quần sịp, quần đùi, bị lộn trái, lộn phải tứ tung cả lên.

Trong khi khám xét họ lại liên tục nhắc chừng nhau: “Xem có laptop không?”, “Xem có sách vở gì không?”, “Để ý xem có USB không?”… Ngay lúc đó một người trong nhóm kiểm tra kêu lên là tìm thấy cái USB thì cả nhóm im lặng tập trung vào cái USB với vẻ mặt rất căng thẳng… Sau 1 phút loay hoay bàn tính làm thế nào với cái USB thì anh an ninh yêu cầu mời tôi vào phòng làm việc để mở lên xem nội dung trong đó là gì.

– Xem có file văn bản nào không? Anh an ninh yêu cầu nhân viên sân bay.

– Không có gì hết! -Nhân viên sân bay nói.

Anh an ninh với vẻ mặt hơi thất vọng xem lại một lần nữa thì thấy tấm hình chụp chiếc nón “HS-TS-VN” của cô Bùi Hằng và hình Kim Tiến mặt áo NO-U thì nhếch mép nói: “Đồng bọn nó đó, tụi mặc áo lưỡi bò!”.

Xem lại thêm vài lần và gọi vài cuộc điện thoại thì anh an ninh yêu cầu tổ sân bay giữ USB và thẻ nhớ của tôi lại. Tôi phản đối hành động đó vì cảm thấy bị xâm phạm quyền tự do cá nhân, nhưng tổ sân bay nói rằng họ có quyền làm như vậy, bất cứ điều gì họ cảm thấy nghi ngờ đều có quyền thu giữ lại.

Đôi co một hồi tôi cũng đồng ý cho họ giữ với điều kiện phải soạn văn bản niêm phong cho đàng hoàng, đừng quăng cái gì vào đó rồi đổ tội cho tôi.

Sau 20 phút chờ soạn văn bản xong, tôi ký tên và ra về với nhiều câu hỏi lớn: “Từ bao giờ, ở đất nước này, người ta xem những hình ảnh liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa là văn hóa phẩm phải giám sát? Tại sao lực lượng an ninh lại cư xử với tôi như một tội phạm nguy hiểm như vậy? Phải chăng vì tôi đã xuống đường bày tỏ tình yêu của mình đối với Hoàng Sa – Trường Sa?? Tại sao những người yêu Tổ quốc khoác trên mình chiếc áo No-U kia lại là “đồng bọn” – là thành phần bị xem là đối lập với lực lượng an ninh, những người có trách nhiệm bảo vệ sự bình yên và toàn vẹn lãnh thổ??? 

Một cái USB và một thẻ nhớ – có thể giá trị của nó không lớn, nhưng cách hành xử bất tuân pháp luật và kém văn minh khiến góc nhìn của tôi đối với lực lượng an ninh khác đi khá nhiều.

Một câu nói: “Đồng bọn nó đó, tụi mặc áo lưỡi bò!” – có thể rất vô cảm xuất phát từ cửa miệng của một anh công an cấp thấp. Nhưng nó như một lưỡi dao lạnh lùng đâm suốt tim tôi.

Welcome back to Việt Nam.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nhà máy lọc dầu Dung Quất cần thêm 1,5 đến 2 tỷ đô la

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2012

Xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất tốn 3 tỷ, mới khánh thành 6-1-2011,  vẫn đang còn trả nợ hàng tháng, nay nhà máy cần thêm tiền. Mặc dù  Nhà máy DQ lỗ mỗi ngày là 500 000 đô la, hay 120 -150 triệu đô la mỗi năm. Lọc 1 tấn dầu thô tiền công từ 5–30 đô tùy theo giá dầu ngoài thị trường cao hay thấp, Nhà máy DQ  luôn luôn báo cáo là chạy hết công suất 100%, nhưng khi tổng kết từ đầu năm 2009, đến tháng 8-2011, tổng số xăng dầu lọc được trong hơn 2 năm rưỡi qua chỉ có 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại.

Nay nhà máy cần thêm tiền!

Để xây dựng nhà máy lọc dầu công suất 10 triệu tấn một năm, thời giá lúc xây dựng chỉ có à 1,2 đến 1,5 tỷ. Nhưng Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất đã đầu tư vào hơn 3 tỷ đô để xây dựng lọc dầu thô loại ngọt, ít lưu huỳnh, độ acid rất thấp, chỉ  dành riêng cho giếng dầu Bạch Hổ. Nhưng sau thời gian khai thác hơn 20 năm qua, giếng Bạch Hổ nay đã cạn, không còn dầu ngọt nữa, nhà máy DQ vì thế đã phải mua dầu ngọt rất đắt tiền pha trộn với dầu chua (chứa nhiều lưu huỳnh, nên độ acid rất cao), phá tan các van lọc trong hệ thống lọc của Dung Quất.

Đó là lý do tại sao nhà máy DQ hoàn thành đầu năm 2009, chạy cà ạch cà ụi, thử tới, thử lui, và khánh thành đầu năm 2011, nhưng chỉ chạy chừng 4  tháng, lại phải thay van 1 lần, vì acid trong dầu chua rất cao hơn dầu ngọt, đã phá tan hệ thống van lọc. Thực tế là phải thay van mới lọc được dầu, nhưng nhà máy phải nói tréo qua là: nghĩ bảo dưỡng…định kỳ.

Nhà máy đã thuê Nhật tới thay van và tái thiết kế lại các van để nhà máy có thể lọc dầu chua, nhưng xem ra khó có thể tiếp tục lọc lâu dài, Nếu phá bỏ nhà máy bán sắt vụn thì tiếc, và cần phải có tiền, khoảng 1,5 tỷ đô la, để xây dựng nhà máy lọc dầu chua.

Vào ngày 6-1-2011, Tổng Giám Đốc Dung Quất công bố bán 49% nhà máy, với giá 1,2 đến 1,5 tỷ đô la, nhưng không một công ty nước ngoài nào mua,  vì giá xây dựng mới của một nhà máy lọc dầu (chua)  chỉ có 1,5 tỷ đô la.

Sau một năm bán không ai mua, nay Dung Quất đổi chiến thuật,  nói trớ qua là: cần nâng công suất lọc từ 6 triệu tấn lên 10 triệu tấn mỗi năm và đang kêu gọi nhà nước bỏ thêm 2 tỷ đô la vào. 

Chú ý: dầu thô được chia thành 2 loại, dầu chua và dầu ngọt. Dầu thô có nhiều lưu huỳnh (độ acid rất cao) gọi là dầu chua. Xây dựng nhà máy lọc dầu chua giá thành hiện nay là 1,2- 1,5 tỷ đô. Và dầu thô có chứa ít lưu huỳnh gọi là dầu ngọt. Dầu ngọt giá rất đắt và lọc rất dễ, nhưng kết cấu máy móc và hệ thống van của nhà máy lọc dầu ngọt khác với nhà máy lọc dầu chua. Đem dầu chua lọc ở nhà máy lọc dầu ngọt ở Dung Quất thì van bị hỏng rất nhanh, vì acid ăn mòn hệ thống van lọc.

Để dễ hình dung sự khác biệt hãy tạm lấy thí dụ mua 1 truyền hình màu ở Mỹ, hệ NTSC đem về VN. Xem phim thì được, nhưng hình chỉ có hai màu đen trắng. Nhờ thợ gắn bộ chuyển hệ qua Pal-DK thì phải trả thêm tiền. Người xem sẽ nhìn thấy hình có đủ màu, nhưng hình không rõ nét, và  mờ. Cuối cùng, nhiều gia đình bỏ luôn và mua loai truyền hình đa hệ hay chỉ có hệ Pal-DK. Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất hiện đang ở tình trạng chuyển hệ. Nên chỉ còn cách phá bỏ, bán sắt vụn, và xây dựng nhà máy mới. Do sản phẩm xăng giá thành cao và phẩm chất xấu, thua xăng Singapore, đó là lý do tại sao các công ty hàng không của vn không chịu mua xăng Dung Quất, mà cứ tiếp tục nhập xăng singapore.

Ngay từ năm 1993, khi đảng CSVN muốn xây dựng nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, tỉnh Quãng Ngãi, đã có nhiều công ty nước ngoài và các Việt Kiều góp ý là không nên xây dựng ở Quãng Ngãi, vì dầu thô khai thác ở ngoài khơi Vũng Tàu, vận chuyển 600 km mới về đến Quãng Ngãi (quãng đường này còn dài hơn vận chuyển tới các nhà máy lọc dầu ở Singapore), và sau khi lọc xong, thì phải chại ngược vô Nam hoặc ra Bắc…phí vận chuyển do đó sẽ tăng cao. Nói cách nào thì đảng vẫn không nghe, đảng theo đúng phương châm: đã quyết định thì phải làm, bất chấp thiệt hại! Ngày nay thì tai hại trước mắt. Dâu thô khai thác ra, phải bán hết cho Nhật, cho Singapore, và đi mua xăng của Singapore! Và khi đem về VN, các loại thuế và phí đánh vào giá xăng làm cho 1 lít xăng ở VN luôn luôn cao hơn 20-25% giá 1 lít xăng ở Mỹ. Giá này thì người dân VN phải trả, còn đa số cán bộ đảng cấp quận huyện trở lên thì được cấp  xe công, đổ xăng chùa, không phải trả tiền. 

 

Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Cần 1,5 – 2 tỷ USD để mở rộng, nâng cấp

http://www.sggp.org.vn/dautukt/2012/2/280955/

Gần 2 giờ trò chuyện với Tổng Giám đốc Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) Nguyễn Hoài Giang (ảnh), người đang “cầm lái” con tàu khổng lồ Dung Quất (vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD) vận hành trơn tru, giúp chúng tôi cảm nhận được bầu nhiệt huyết, khát vọng trong ông với những toan tính về ngành lọc hóa dầu trong tương lai.

– PV: Ông đánh giá thế nào việc thị trường xăng dầu năm qua có nhiều biến động, trong khi công suất của nhà máy 6,5 triệu tấn/năm chưa thể điều tiết thị trường?

 

– Ông NGUYỄN HOÀI GIANG (ảnh) : Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất hiện nay dù chạy tối đa 100% công suất cũng chỉ đáp ứng 30% nhu cầu toàn quốc nên chưa đủ sức điều tiết mạnh mẽ nhu cầu thị trường khi có biến động, bởi trên 70% lượng xăng dầu chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu. Vì thế, ngay từ khi đi vào vận hành, chúng tôi đã có kế hoạch mở rộng, nâng công suất nhà máy lên 10 triệu tấn/năm; đồng thời có những bước chuẩn bị xây dựng NMLD số 2, số 3 để đáp ứng 100% nhu cầu xăng dầu trong cả nước. Mở rộng và nâng cấp NMLD Dung Quất là bài toán lớn, vốn khoảng 1,5-2 tỷ USD nên cần nghiên cứu chi tiết, thấu đáo và triệt để cả về công nghệ, kỹ thuật, môi trường và thị trường thương mại. Vì vậy, phải mất 5-6 năm dự án mở rộng mới xong, lúc đó bức tranh về thị trường xăng dầu toàn quốc sẽ sáng hơn bây giờ.

– Tiến độ mở rộng sản phẩm hóa dầu có khả quan?

– Chúng tôi đang tiến hành bước nghiên cứu khả thi chi tiết với nhà thầu Nhật Bản, đến tháng 3 năm nay mới kết thúc, sau đó mới tính đến các bước khác.

Hiện NMLD Dung Quất cùng với nhà máy sản xuất hạt nhựa Polypropylene (PP) đã có thể coi là tổ hợp lọc – hóa dầu rồi. Tuy nhiên, tổ hợp này vẫn còn ở quy mô nhỏ, chủng loại cũng chưa đa dạng so với các nước khác trên thế giới (mới có 8 loại sản phẩm); chưa đa dạng về mặt tổng thể để chúng ta có thể kéo theo, đầu tư các ngành công nghiệp – dịch vụ vệ tinh, công nghiệp nhẹ sử dụng đầu ra của NMLD. Vì vậy, dừng lại ở đây là thất bại, chúng ta phải bước tiếp bằng cách nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất.

– Đóng góp của NMLD cho nguồn thu ngân sách Nhà nước khoảng 14.000 tỷ đồng/năm, nhưng lợi ích của người dân dường như vẫn chưa rõ?

– Hàng đêm, khi nhìn ngọn đuốc của nhà máy, những ánh đèn trong các phân khu công nghệ bật sáng lung linh, NMLD Dung Quất như một thành phố thu nhỏ nhưng trăn trở lớn của chúng tôi là làm sao ngọn lửa đó thật sự sưởi ấm cho những người dân nghèo, những người đã nhường đất cho nhà máy. Tuy nhiên, hiệu quả đó phải lan tỏa từ từ, bằng chứng là nguồn lợi của NMLD đã quay ngược lại phục vụ lợi ích của người dân Quảng Ngãi, khu vực miền Trung, giúp nâng cao tổng thể đời sống văn hóa – xã hội, lôi kéo được các nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở hạ tầng, giao thông, dịch vụ phát triển… thu hút nhân lực, lao động, tạo thêm việc làm.

– Theo ông, chỉ nên mở rộng, nâng cấp thay vì xây mới nhà máy lọc dầu?

– Hai cái đó khác nhau, chúng ta vẫn phải xây mới, và nhu cầu đó vẫn đang được triển khai, bởi có lọc dầu mới có hóa dầu. Ở NMLD Dung Quất hiện đã có lọc dầu, hóa dầu rồi, việc nâng cấp mở rộng là bước tiếp theo để nâng cao sản lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm để phát triển tiếp các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dịch vụ ăn theo. Chúng ta đã đầu tư vào đây, đã sẵn có hạ tầng, cảng biển nước sâu, thành phố Vạn Tường, đường giao thông, cung cấp điện, xử lý chất thải, xử lý nước, dự án công nghiệp dịch vụ ăn theo (Doosan, cảng Gemadept…) nên nâng cấp, mở rộng là bước kế thừa những lợi thế của hạ tầng sẵn có, khác hẳn với việc đầu tư mới tốn kém hơn rất nhiều.

Kế hoạch nâng cấp, mở rộng vẫn đang được tiến hành và nhà nước vẫn đang kêu gọi đầu tư vào NMLD số 2, số 3, hai vấn đề này không mâu thuẫn nhau mà bổ sung, hỗ trợ nhau đưa ngành lọc hóa dầu nước ta lên tầm cao hơn.

– Việt Nam tự sản xuất xăng – dầu có khó không?

– Thật ra sản xuất xăng – dầu không khó khăn gì cả, bởi việc này các nước khác đã làm từ lâu rồi, chúng ta theo sau mà thôi, chẳng qua với chúng ta dự án này quá mới, hiện đại, phức tạp so với những dự án khác trong nước. Xây dựng NMLD Dung Quất, chúng ta tự hào đã thành công, nhưng đây mới chỉ là thành công bước đầu, còn khiêm tốn.

Ông có nghĩ đến ngày Việt Nam xuất xăng – dầu ra thế giới?

– Ước mơ thì có, nhưng đừng bao giờ mơ ước viển vông. Với tôi, ước mơ bao giờ cũng gắn với thực tế và khả thi nhất trong thời gian nhất định. Còn bây giờ, hãy đáp ứng và cung cấp đầy đủ các nhu cầu xăng dầu nội địa cho đất nước, rồi hãy nghĩ đến xuất khẩu. Để vươn ra thế giới, cạnh tranh với thế giới thì ngay bây giờ, chúng ta phải nhen nhóm và đốt lên được ngọn lửa trong trái tim; bắc những nhịp cầu, đặt những nền móng đầu tiên cho thế hệ tiếp theo, để họ có bản lĩnh, kinh nghiệm biến ước mơ đó thành hiện thực.

HÀ MINH (thực hiện)

———————

Chủ Nhật, 29/01/2012 | 11:29

http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/213188-con-dao-phai-du-sac-de-cat-nhung-cuc-cung-loi-thoi.aspx

“Con dao phải đủ sắc để cắt những cục cưng lỗi thời”

“Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các doanh nghiệp nhà nước chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích. Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các doanh nghiệp khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng

Những “cục cưng” được kỳ vọng

Trên thực trạng nền kinh tế Việt Nam lâu nay, những con số thống kê ngày càng lộ diện vấn nạn “cục cưng”.

Nổi bật là những doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các DN này chiếm tới 70% tổng số vốn đầu tư từ xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA ở Việt Nam.

Họ được hưởng mọi loại ưu đãi về vốn, cơ chế, một số DN còn được ngồi trên các “mỏ vàng độc quyền”, như kinh doanh xăng dầu, điện… Ở dưới trông lên, kỳ vọng da diết của nhân dân là các “cục cưng” này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đem lại phồn vinh cho xã hội.

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%. Chi phí làm ra cùng một mặt hàng, cùng một  chất lượng cao gấp hai lần so với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không được đầu tư đồng nào từ vốn nhà nước và không có bất cứ ưu đãi gì từ cơ chế chính sách…

Còn theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua. Hiện nay, các “cục cưng” này chiếm tới khoảng 70% “nợ khó đòi” – nghĩa là không đòi được – của các ngân hàng thương mại. Nhiều tập đoàn, công ty độc quyền đã thua lỗ trong nhiều năm.

Nếu là lãnh đạo DNTN, họ sẽ phải cầm cố tài sản, bán tháo nhà cửa, thậm chí phải tự tử để cứu vãn danh dự cho gia đình. Nhưng vì là những “cục cưng”, nên các ông chủ này vẫn ung dung, phớt lờ dư luận, đổ trách nhiệm cho người khác, vẫn tự chia cho mình những khoản thu nhập cao chót vót, và báo lỗ vô tội vạ.

Từ năm 2009 đến nay, nhiều DNNN gây thất thoát. Không chỉ DN không được độc quyền, mà cả những DN quá được ưu đãi về cơ chế kinh doanh, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Xăng dầu cũng luôn gánh trên mình những món nợ khổng lồ, nhưng lại đặt ra vô số nghi hoặc về nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Ứng phó, tái cơ cấu, hiệu quả đến đâu chưa biết, nhưng giải pháp đầu tiên mà Bộ Tài chính đưa ra là cho “uống thuốc bổ”. Đương nhiên, dù cách nào, cũng là bằng tiền thắt lưng buộc bụng của dân.

Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính đang xem xét phải dành hơn 50.000 tỷ đồng nhằm tái cấu trúc nợ, cấp thêm vốn điều lệ… cho các DNNN được tái cơ cấu. “Việc sắp xếp lại DN phải có tiền. Tôi báo cáo với Chính phủ phải có bồi bổ trước, rồi mới dùng kháng sinh, chứ con bệnh đang sốt cao mà chữa ngay là không chịu được”. Ông còn cho biết, Tập đoàn Sông Đà sẽ “đi tiên phong” trong tái cơ cấu DN, song chi phí cho họ lên tới 10 triệu USD. Số tiền này vay của Ngân hàng Phát triển châu Á.

Và những “đứa trẻ” không được “uống thuốc bổ”

Có ai nghĩ đến chuyện xoa dịu vết thương và cứu giúp những DN nhỏ và vừa – hầu hết là DNTN, chẳng bao giờ được “uống thuốc bổ” không? Đó là lực lượng làm nên nền kinh tế thị trường thực sự.

Chỉ cần bớt ít chút vô cảm, nghiêng mình xuống gần đất hơn, ta sẽ phải thương khóc cho cái chết của vô số DNTN nhỏ và vừa – những đứa con sinh ra bởi kinh tế thị trường, góp phần thực sự lớn vào tài sản xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều công dân. Nhưng họ chẳng bao giờ được uống “thuốc bổ”, mà còn phải chịu đựng nhiều áp lực.

Áp lực chi phí liên tục tăng do lạm phát, do bị cạnh tranh không lành mạnh, thị trường bị thu hẹp…, khiến hệ thống DN, đặc biệt là DNTN, bị ép cả từ nhiều phía và “phần đông hầu như chỉ còn thoi thóp thở”. Khác với những “cục cưng”, những DNTN hầu hết phải tự vật lộn và xoay xở bằng chính đồng vốn và năng lực của mình.

Theo Tổng cục Thuế, mặc dù 2010 là năm có số DN phá sản tới mức báo động, nhưng vẫn không thể so sánh với tốc độ phá sản của năm 2011. Thống kê chưa đầy đủ, năm 2011, có tới khoảng 49.000 DN giải thể hoặc ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng Hà Nội đã có tới hơn 3.000 DN phá sản hoặc ngừng hoạt động.

Họ phá sản có thể do năng lực yếu kém, do bị “chết lây” vì khủng hoảng kinh tế, vì lạm phát, vì thiếu may mắn hoặc có thể do những “giật cục” bất thường của chính sách… Khác với những DNNN, DNTN phải trả giá cho sự phá sản bằng chính sinh mạng mình và gia đình mình, mặc dù bản thân họ đã cố gắng hết sức để giảm giá thành sản phẩm và tiết kiệm tối đa mọi chi phí.

Mỗi một DN phá sản ảnh hưởng tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn thành viên của DN. Trong đó, mỗi thành viên này lại ảnh hưởng đến cuộc sống của cả một gia đình. Chưa kể các vụ vỡ nợ, giật hụi, lừa đảo… trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xuất hiện ngày càng nhiều gần đây, khiến cho hàng triệu người phải khốn đốn, mất nhà cửa, tài sản, tha phương cầu thực.

Nếu họ có tài sản thế chấp và chịu chi phí “bôi trơn”, DN ngắc ngoải của họ có thể vay được vốn ngân hàng với tỷ lệ lãi suất thuộc hàng cao nhất thế giới: 18-27%/năm. Chỉ cần một khâu trục trặc của thị trường hoặc chính sách thay đổi, họ không có cách nào tránh khỏi cái chết được báo trước đối với lãi suất ấy.

Với tỷ lệ lạm phát được nhận xét là cao nhất châu Á và đứng thứ nhì thế giới. Với sự phá sản của hàng loạt DN, lại thêm gánh nặng nợ nần từ các DNNN chất lên vai, cùng với nguy cơ nợ xấu và sự đóng băng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…,  làm lung lay dữ dội sự an nguy của các ngân hàng trong nước. Cộng thêm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước nhà đang lâm vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ 20 năm qua.

Cần một con dao mổ sắc bén

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã nhấn mạnh việc tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế.

Cả Hội nghị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã khẳng định nhiệm vụ tái cơ cấu với ba trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và DNNN.

Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra một trong những mục tiêu trọng điểm của các năm tới là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều ngành, nhiều cấp đã có những hội thảo lớn. Nhưng nếu sửa bằng cách “cho uống thuốc bổ”, thì lại tốn thêm nhiều tỷ USD vào nền kinh tế đang vô cùng khó khăn, nợ nần quốc gia thêm chồng chất. Cho uống thuốc bổ mà không phẫu thuật “khối u phát bệnh”, thì chỉ làm bệnh càng nặng thêm.

Câu hỏi đặt ra là, đối tượng nào sẽ được lợi nhiều nhất sau những chương trình tái cấu trúc DN; và nợ của DN sẽ do ai gánh chịu?

Do đó, vấn đề cấp thiết là phải sửa từ nhận thức chiến lược, từ tư duy chỉ đạo. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mọi sự sửa từ nhiều năm nay cuối cùng cũng chỉ là tạo mọi điều kiện để DNNN được có mọi ưu tiên để “đóng vai trò chủ đạo”. Chúng cũng là nơi vô tình sinh sôi của các nhóm đặc quyền đặc lợi, tham nhũng và bòn rút tài nguyên quốc gia. Điều này đã làm tha hoá một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức và ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng.

Để thực hiện mục tiêu từ cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu, cải cách DNNN đến sắp xếp lại hệ thống ngân hàng…, tất cả đều vấp phải trở lực quyết liệt từ các nhóm lợi ích đầy thế lực tìm cách ngăn cản.

Lực cản đó nằm giữa lợi ích của các bộ, ngành chủ quản, của tầng nấc lãnh đạo DNNN, của các cá nhân có trách nhiệm về sai lầm, thất thoát của DN trong quá khứ. Để tái cấu trúc ngân hàng, liệu đã ai thấy có đủ sức mạnh để triệt tiêu lợi ích của các “quyền lực ẩn” đằng sau các ngân hàng này và các DN mà sự sống chết của họ gắn liền với sự hưng vong của các ngân hàng có chức năng và quyền lợi từ “bơm máu chùa”?

Nếu không khống chế và triệt tiêu được các lực ẩn này, thì quy định được ghi trong văn bản đại hội Đảng: “Các thành phần kinh tế đều bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh…” đã bị vô hiệu hóa. Và mục tiêu của Chính phủ đề ra sẽ không thực hiện được.

Ai cũng hiểu rằng, tái cơ cấu là sửa lại cơ cấu hiện có. Nhưng một khi còn chưa rõ ràng về quan điểm, nhất là về vai trò của DNNN trong nền kinh tế, thì đường hướng sẽ bị ách tắc.

Thủ tướng Chính phủ phân định: muốn đổi mới DNNN thành công, khung thể chế đóng vai trò quyết định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc tiếp tục duy trì một cách duy ý chí các DNNN chỉ làm sai lệch chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới DNNN Phạm Viết Muôn nói rằng, khó khăn lớn nhất trong cải cách DNNN là thống nhất tư duy. Ông nói: “Chúng ta nói nhiều mà làm chưa được bao nhiêu. Tôi cho khó khăn lớn nhất là chính sách cần để đổi mới thì làm quá lâu, khi có thì không còn phù hợp với thực tế. Đi bắt con thỏ mà huy động nhân lực cả tháng, ra đến nơi thì nó chạy mất rồi”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói: “Cải cách DNNN đến nay tư duy còn đầy tranh cãi”. “Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các DNNN chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích.

“Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các DN khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng” (theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương).

Đó là những ý kiến hợp lý và đầy trách nhiệm. Chính phủ nên sử dụng “con dao mổ sắc bén” ấy cho một cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ khối u và làm lành vết thương cho nền kinh tế.

Võ Thị Hảo

đầu tư chứng khoán

————

Mời các bạn coi thêm ở đây về Petrovietnam và  Dung Quất: http://wp.me/po94e-1×5

——————–

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la), chiếm 40% GDP. Nhân sự điều hành 100 công ty quốc doanh và tập đoàn là con cháu, bà con thân thích của 14 ủy viên Bộ Chính Trị và 174 ủy viên trung ương Đảng.  Đây là sân sau, là nơi vừa làm vừa chơi và thua lỗ hàng năm, vừa là nơi hút tiền cho các nhân vật cao cấp trong chính quyền.

Bộ tài Chánh báo cáo đầu năm 2012: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng hay 50 tỷ đô la Mỹ!

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Tagged: | Leave a Comment »

Từ Tiên Lãng nghĩ về sự bất trị của nhà nước đức trị

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2012

Từ những năm đầu của thế kỷ 20, cụ Phan Chu Trinh đã vạch ra những ưu khuyết của nhà nước pháp trị và nhà nước đức trị. Cụ nói chủ nghĩa nhân trị (đức trị) đầy rẫy sự tệ hại, tùy tiện và trông chờ may rủi vào cái đức của kẻ cai trị. Thời của cụ kẻ cai trị là nhà nước phong kiến, đứng đầu là một ông vua. Đất nước, dân tình được hay mất, hoàn toàn tùy thuộc vào đạo đức của ông vua nầy. Vua minh thì đất nước thịnh trị, vua tồi thì đất nước loạn lạc, dân chúng lầm than, bất công trỗi dậy.

Qua hơn trăm năm rồi, kể từ đó, Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi chủ nghĩa đức trị. Nhân dân đổ bao nhiêu xương máu đứng lên làm cách mạng với mong muốn thay thế một nhà nước phong kiến đức trị bằng một nhà nước dân chủ pháp trị. Thế nhưng kết quả không như mong muốn. Ngày nay chúng ta vẫn nằm trong vòng cai trị của một nhà nước đức trị. Triều đình phong kiến Nhà Nguyễn bị lật đổ để thay thế bằng một nhà nước siêu phong kiến khác mà đứng đầu, theo ông Nguyễn Văn An, là vua tập thể.

Mô hình nhà nước của Việt Nam hiện nay là mô hình đã có của Liên Xô và Trung Cộng. Hai nhà nước đức trị ấy đã làm cho nhân dân hai nước ấy ra như thế nào thì lịch sử đã ghi chép rõ. Nhân dân hai nước ấy trải qua những thời sướng khổ là hoàn toàn tùy thuộc vào sự nóng lạnh của các ông vua đứng đầu. Nhà nước đức trị ấy đã đưa lên một ông vua Staline tàn bạo đã làm cho nhân dân Liên Xô điêu đứng suốt trong mấy chục năm mà không ai làm gì được y cho đến khi y chết già. Mao Trạch Đông vì khao khát sự muôn năm trường trị cho cá nhân mà tiến hành biết bao nhiêu cuộc “đại loạn” giết chết hàng chục triệu người và đẩy hàng trăm triệu con người khác vào thảm cảnh trong thời gian đức trị của y cho đến khi y chết già. Cũng may mắn cho dân Trung Cộng, thay thế Mao là Đặng Tiểu Bình, nhờ cái đức tốt của ông ta mà họ dễ thở hơn đôi chút (nhưng vẫn còn quá tệ so với dân Đài Loan). Thay vì Đặng Tiểu Bình mà là Giang Thanh thì thử hỏi dân Trung Cộng ngày nay sẽ ra sao nhỉ?

Nhà nước pháp trị không cho cá nhân lãnh đạo xấu xa nào có cơ hội làm điều xấu lâu dài bởi tất cả các cơ quan quyền lực, các cá nhân lãnh đạo đều nằm trong vùng phủ sóng của pháp luật. Họ bị pháp luật trừng trị ngay khi ló ra hành vi xấu. Ngược lại, ở nhà nước đức trị thì các cơ quan quyền lực và cá nhân lãnh đạo đứng lên trên phủ bóng xuống pháp luật.

Chuyện xảy ra ở Tiên Lãng là ví dụ điển hình về khuyết tật chết người của hệ thống chính quyền đức trị.

Vì lòng tham muốn cướp đất của Lê Văn Hiền (và đứng sau là Bí thư huyện ủy Bùi Thế Nghĩa)… mà cả một bộ máy chính quyền đồ sộ bị vô hiệu hóa, cam tâm đứng ra phục vụ cho ý đồ đen tối của y. Tại sao tòa án, quân đội, công an, truyền thông, hội đồng nhân dân, đoàn thể… đều đứng về phía sai trái của Lê Văn Hiền chà đạp ức hiếp người nông dân vô tội? Vì tất cả các cơ quan tổ chức đó đều thuộc huyện ủy lãnh đạo bằng đức trị đứng ra ngoài vùng phủ sóng của pháp luật. Cái đức lãnh đạo của Huyện ủy tốt thì dân nhờ, cái đức ấy tệ thì dân ráng chịu, không cơ quan pháp luật nào dám đứng ra xét xử, trừng trị cái đức ấy. Bằng chứng thấy rõ là ngay cả sau kết luận của Thủ Tướng, chỉ vài cá nhân ở Huyện Tiên Lãng bị xử lý chứ cái sai tầy đình của Huyện ủy Tiên Lãng không thấy ai đá động đến.

Rồi đến Thành ủy Hải Phòng. Nếu cái đức của thành ủy tốt ngay từ đầu thì từ trứng nước đã dập tắt ý đồ cướp đất đen tối của Lê Văn Hiền. Không có lệnh thành ủy thì ai phê duyệt cái gọi là chủ trương thu hồi cưỡng chế của Hiền? Ai cho phép thành ủy viên Đỗ Hữu Ca mang hàng trăm “ba thứ quân” đến bạo lực trấn áp dân như trấn áp kẻ thù? Ai cho phép thành ủy viên Đỗ Trung Thoại đứng ra phát ngôn đổ vấy tội ác phá nhà anh Vươn lên đầu nhân dân để bao che cho Hiền? Ai cho phép tất cả các cơ quan truyền thông của Đảng từ huyện lên thành phố suốt ngày ra rả luận điệu cưỡng chế là đúng luật?

Sau kết luận của Thủ Tướng, dù đã quay ngoắc 180 độ nhưng cái đức của thành ủy Hải Phòng như thế nào thì mọi người cũng dần thấy rõ qua cách chỉ đạo vụ xử lý Tiên Lãng. Đỗ Hữu Ca vẫn đứng đầu cơ quan đi điều tra sai phạm ở Tiên Lãng. Đỗ Trung Thoại vẫn làm tổ trưởng tổ công tác chỉ đạo xử lý vụ Tiên Lãng ( sau bị dư luận phản ứng quá mới cho xuống tổ phó)… Và tóm lại vụ Tiên Lãng được xử lý như thế nào là hoàn toàn may rủi tùy thuộc vào cái đức của thành ủy Hải Phóng chứ không phải vào các điều khoản của pháp luật.

Lên tối cao thì có Bộ Chính trị. Hiện nay chưa có một cá nhân nào nổi trội để có thể vượt lên “lãnh đạo” cả bộ chính trị như Staline thời Liên Xô hung tàn, Mao thời Trung Cộng đại loạn, Lê Duẩn thời Việt Nam bao cấp. Do vậy đất nước đang tùy thuộc vào cái đức của tập thể 14 ông BCT (hay 14 ông vua nói như Nguyễn Văn An).

Trong vụ Đoàn Văn Vươn, cái đức ấy tốt được một nửa. Bởi kết luận của Thủ Tướng vẫn còn dung dưỡng cho huyện ủy Tiên Lãng, vuốt ve thành ủy Hải Phòng và vẫn đẩy người dân tự vệ chính đáng chống trả lại bọn cướp đất vào con đường tù tội. Anh em Vươn thoát tù hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào cái đức của ông Thủ Tướng đại diện cho BCT chứ không phụ thuộc vào pháp luật. Đức ấy sáng thêm tí nữa, anh em Vươn thoát tù, vợ con Vươn Quý thoát tội; đức ấy vẫn còn chạng vạng, anh em Vươn đi tù, vợ con họ cũng vào vòng lao lý.

Đảng vẫn nói nhà nước chúng ta là nhà nước pháp quyền, mọi cơ quan quyền lực đều nằm trong vòng điều chỉnh của pháp luật nhưng thực tế bộ chính trị có nằm dưới pháp luật không nhỉ?

Vụ Vinashin thua lỗ, thất thoát hàng chục ngàn tỷ đồng được nói đó là trách nhiệm của BCT thì không thấy BCT nào bị đưa ra pháp luật để xử lý cả. Pháp luật nào trị được BCT nào?

Vụ khai thác Bô xít đến nay các chuyên gia đánh giá không mang lại một chút lợi lộc nào ngoài những tổn thất lớn về an ninh, môi trường… thế nhưng được nói rằng đó là chủ trương của BCT là không một đại biểu Quốc Hội nào dám ý kiến bàn cải nữa. Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng nào dám ngăn cản BCT nào?

Đảng vẫn cố làm cho dân hiểu rằng nhà nước ta là nhà nước pháp trị nhưng thực tế trong đảng vẫn hiểu với nhau rằng đó là nhà nước đức trị. Mọi sự may rủi trông chờ vào cái đức của các vị lãnh đạo.

Đảng biết rất rõ rằng nước có giàu, dân có được hạnh phúc, bất công có giảm bớt hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào cái đức của các quan lãnh đạo từ thấp lên cao. Đó là lý do tại sao đảng không ngại tốn kém liên tục đẩy mạnh cuộc vận động các quan chức học tập đạo đức Hồ Chí Minh.

Cố lên các ngài lãnh đạo! Nhân dân sẵn sàng nhịn ăn để đóng thuế cho các ngài học tập. Học thật giỏi đạo đức Hồ Chí Minh đi các ngài! Vận mệnh của đất nước, số phận của dân đen chúng tôi là hoàn toàn lệ thuộc vào nỗ lực học tập và trau dồi đạo đức của quý ngài.

*Huỳnh Ngọc Chênh đã từng là Thư ký tòa soạn của tờ Thanh Niên Online

và nguồn 2: danluan.org

Ý kiến

*Hai Lúa (khách viếng thăm) gửi lúc 06:52, 17/02/2012 – mã số 52550

Đây là nhận xét từ rất lâu của mình về Đảng và Nhà Nước VN hiện tại/đương đại, xin chia xẻ cùng tác giả Huỳnh Ngọc Chênh:

Đảng là siêu nhà nước, siêu quyền lực, là ông trùm hoạt động ngoài vòng pháp luật, dựt dây, điều khiển con rối nhà nước, mọi ngành kể cả lập pháp, hành pháp, và tư pháp, và tất cả những cơ quan giả bộ dân chủ như Quốc Hội, Mặt trận Tổ Quốc, truyền thông, văn hóa, giáo dục, tư tưởng, … tất tần tật, cho nên Đảng không những có quyền xử tội nặng nhẹ tùy hứng tình mà còn nắm toàn quyền sinh sát đối với tất cả mọi công-dân-tù-dự-khuyết mang chứng minh thư nhân dân CHXHCNVN. Nó là con ác quỉ vô hồn vô đức mà có tới “trăm tay nghìn mắt” nên rất tàn độc!

*Khách Lò Văn Nhẻn (khách viếng thăm) gửi lúc 15:19, 17/02/2012 – mã số 52591

NHà nước ta không phải là NN pháp trị, cũng không phải là NN đức trị mà là NN đảng trị như đảng đã công nhận “đảng ta là đảng cầm quyền”. Người miền núi hay suy nghĩ cụ thể, khi nghe nói đến “ơn đảng”, có cụ bảo đảng là cái gì tôi không hiểu, đưa đảng đây cho tôi xem. Không ai đưa cho cụ xem đảng như thế nào, có ông đưa ra cái ảnh ông Nguyễn TRường Tô cho cụ xem, cụ bảo cái thằng lưu manh này hiếp trẻ con mà bảo tao biết ơn à? Có người bảo Đảng là băng nhóm tội phạm lưu manh, như vậy NN ta là NN lưu manh trị. Rõ ràng lưu manh trị nên toàn dùng vũ lực khắp nơi, ở Hà Nội thì dùng công an và lưu manh côn đồ đàn áp dân biểu tình, ở Hải Phòng thì dùng công an quân đội và chó đi cướp đất nhà ông Vươn. Ông Vươn đã chôgns lại bọn lưu manh thì dân phải học tập và làm theo ông ta thì sẽ bớt tai họa.

Posted in Đảng CSVN | Tagged: | Leave a Comment »

Chúng tôi, Việt Kiều vẫn còn rất…lấn cấn

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2012

Nguyên Dung

Mấy hôm trước tình cờ đọc qua lời phát biểu của ông Dương Trung Quốc: ”Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị…“, trong bối cảnh nhà nước đang ra rả kêu gọi “hòa hợp dân tộc”.

Đọc xong câu phát biểu quả quyết ấy, lòng tôi vẫn có gì rất lấn cấn…

Tôi không thuộc tàn dư chế độ cũ, trái lại gia đình thuộc tầng lớp trí thức được hưởng nhiều ưu đãi của nhà nước. Bản thân tôi lớn lên dưới mái trường XHCN, đã được nhồi nhét kỹ lưỡng đạo đức XHCN, đạo đức người CS, lịch sử chói lòa của dân tộc, cuộc chiến hào hùng chống Pháp, chống Mỹ cứu nước… Tôi cũng bị học thuộc nằm lòng những nhân vật anh hùng có thật và cả không có thật trong lịch sử VN.

Chỉ có điều khi trí não của tôi bắt đầu biết tư duy độc lập thì cũng là lúc tôi bắt đầu tự hỏi mình: Sao một đất nước tươi đẹp với lịch sử hào hùng, những nhà lãnh đạo tuyệt vời gần như thần thánh lại có hàng vạn, hàng trăm ngàn người dân ào ạt sống chết bỏ quê hương mà đi như vậy? Thế rồi tôi bắt đầu ngờ ngợ nhìn lại chung quanh mình…

Thật khủng hoảng khi mỗi ngày vào lớp, những chiếc bàn, ghế trống rỗng, bạn bè cứ thưa thớt dần, thầy cô giáo cũng từ từ biến mất!… Chúng tôi thì thầm với nhau, chúng tôi buồn ngơ ngẩn vì không được nói lời chia tay. Làm sao cắt nghĩa được những đứa bạn học hàng ngày túm tụm chơi đùa, học hành cùng nhau, rồi bỗng dưng biến mất không một lời báo trước? Những cuộc chạy trốn thầm lặng mà quyết liệt những năm tháng đó vẫn ám ảnh tôi tới tận bây giờ.

Trí óc non nớt của tôi không ngừng đặt những dấu hỏi. Có đôi lúc về nhà hỏi bố mẹ thì chỉ nhận được những cái lắc đầu chán ngán của mẹ, tiếng thở dài và lời đáp bâng quơ của bố:

– Đất nước thế này thì không bỏ đi mới là lạ!

Chẳng hiểu gì hơn, tôi bèn mở báo chí ra đọc thì chỉ thấy toàn những tin tức đại loại như: Toàn dân toàn quân quyết tâm thi đua lập chiến công mừng đại hội Đảng, mừng sinh nhật Bác, mừng kỷ niệm chiến thắng v.v…

Hoặc Bộ A, bộ B đã đạt chỉ tiêu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao…

Toàn những tin tức tốt đẹp, rặt một luận điệu như nhau!

Không một tờ báo nào, không một ai giải thích cho tôi tại sao người VN từ Sài Gòn, Hà Nội tới tận những vùng đèo heo hút gió bấy giờ đều rùng rùng bỏ cha bỏ mẹ, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ ruộng vườn để chạy trốn đất nước của mình. Có lần tò mò không chịu nổi, tôi bèn hỏi cô giáo chủ nhiệm lớp. Cô dạy văn, tôi nhớ mãi giọng cô đều đều khi giảng cho chúng tôi những bài thơ của Tố Hữu, và những bài thơ sặc mùi máu lửa cách mạng khác. Khi tôi hỏi cô tại sao ai cũng đi vượt biên hoặc tìm cách đi bảo lãnh, có phải người ta sợ CS phải không cô? Thì cô tái mặt lấm lét nhìn quanh, rồi bảo nhỏ với tôi: Em không được hỏi thế nữa nghe chưa? Hỏi như vậy là vi phạm kỷ luật.”

Sau đó chừng vài tháng, cô cũng biến mất, chúng tôi tới tìm thì hàng xóm bảo cô đi vượt biên rồi, nhà đã bị tịch thu. Một lần nữa chúng tôi lại ngơ ngác!

Chúng tôi, những đứa còn lại tiếp tục đi học với hàng ngàn hàng vạn câu hỏi trong đầu, với nỗi thắc thỏm không biết bao giờ đứa bạn ngồi bên cạnh lại biến mất. Rồi tôi cũng hiểu ra rằng học sinh chúng tôi không có quyền hỏi, không có quyền thắc mắc. Chúng tôi chỉ được quyền học những gì ghi trong chương trình giáo khoa. Dù là những điều vô lý nhất, những điều không có thật…

Các thầy cô giáo vẫn lên lớp, giờ Pháp văn cô bắt chúng tôi dịch ra tiếng Việt những bài văn ca tụng mái trường XHCN, sự độc ác, đời sống nghèo khổ, bất công ở XH tư bản, nơi đó trẻ em nghèo không được đi học. Cô giáo dạy Pháp văn (một nữ tu, và cũng đã từng du học ở Châu Âu) lúc giảng tới đoạn này, đã cau mày, và im lặng vài giây, có lẽ cô áy náy biết mình đang bắt học sinh học những điều bịa đặt!

Thế rồi cũng đến lúc tôi bỏ xứ mà đi, vì thuộc vào diện được ưu đãi nên tôi dễ dàng xin qua Châu Âu du học.

Năm đầu bên trời Âu, tôi vẫn mang trong người một tấm lòng đầy nhiệt huyết, một niềm kiêu hãnh vời vợi của dòng máu VN, dân tộc đã từng đánh thắng Tàu, Nhật, Pháp, Mỹ. Nhưng rồi ngoài cái niềm kiêu hãnh suông ấy, tôi nhận ra rắng mình chẳng có một tí vốn tri thức nào. Tất cả chỉ là những giáo điều học vẹt. Ngay cả lịch sử VN, tôi cũng rất mù mờ. Thế hệ chúng tôi chỉ được học một thứ lịch sử đã bị bóp méo, bẻ cong nhằm ca tụng và thần thánh hóa Đảng và những lãnh đạo Đảng.

Qua sách vở,báo chí nước ngoài tôi mới biết tới vết nhơ lịch sử như Cải Cách ruộng đất, Mậu Thân, những góc nhìn đa khía cạnh của cuộc chiến hai miền Nam Bắc, ai thật sự vi phạm hiệp định Paris v.v…

Câu hỏi cay đắng nhất của tôi là tại sao tôi phải học lịch sử của nước mình qua những thông tin lượm lặt ở nước ngoài? Tại sao và tại sao?

Tại sao những chính sách sai lầm như: Cải Cách ruộng đất, đày đi cải tạo hàng trăm ngàn người lính chế độ cũ, đánh tư sản, đuổi dân đi kinh tế mới, đổi tiền, lại không bao giờ được chính quyền CS công khai đem ra mổ xẻ rút kinh nghiệm? Tại sao lại ỉm đi và thay vào đó là những khẩu hiệu được gào lên từ năm này qua tháng nọ: Đảng CS VN vinh quang dẫn dắt toàn dân đi từ thằng lợi này tới thắng lợi khác? Tại sao và tại sao???

Tôi đi tìm gặp lại những người bạn, những thầy cô năm xưa. Từ khắp các nơi chúng tôi tìm về họp mặt. Giờ đây chúng tôi không phải e dè sợ sệt, nghi kỵ nhau nữa. Chúng tôi có thể nói với nhau tất cả những điều muốn nói.

Cô lớp trưởng năm xưa bây giờ đã thành một doanh nhân thành đạt cười bảo chúng tôi:

Nếu năm xưa, không đi vượt biên thì giờ chắc đang quét rác!

Họ lần lượt kể cho tôi nghe lí do chạy trốn CS của họ. Thời gian đã làm mờ nhạt những ký ức đau đớn. Nhưng phải sống trong hoàn cảnh lúc ấy mới biết cái chết cận kề như thế nào, nguy hiểm rình rập từng người thế nào, nỗi đau kẻ ở người đi to lớn thế nào. Tất cả đều có một câu kết luận chung: Họ bỏ đi ngày ấy chỉ vì không còn sự lựa chọn nào khác!

Qua những câu chuyện kể, lúc ấy tôi mới hiểu ra người ta bỏ chạy, sẵn sàng liều mạng, một sống hai chết, tự do hay là tù tội, kẻ liều mình đi trước phó mặc cho biển cả, cho sự run rủi của trời đất, để có cơ hội bảo lãnh kẻ đi sau. Nhiều gia đình tan tác, những cuộc chia lìa bi thảm, chỉ vì chế độ CS quá hà khắc, quá nghèo đói. Vâng người ta sợ! Phải nói là sợ CS còn hơn sợ cái chết mất xác ngoài khơi.

Tôi cũng gặp lại rất nhiều thầy cô, hơn hai mươi năm sau tôi lại hỏi cô giáo cũ của mình câu hỏi đã từng nung nấu tôi những ngày niên thiếu: Cô ơi ngày ấy cô dạy chúng em về cuộc sống tươi đẹp trong đất nước XHCN, thế cô có tin không? Cô trả lời rằng cô không tin, cô chưa bao giờ tin vào những điều cô dạy chúng tôi dưới mái trường XHCN.

Đau lòng thay cho thế hệ chúng tôi đã buộc phải học những điều mà cả thầy lẫn trò đều biết là dối trá!

Ông Dương Trung Quốc lập luận rằng kiều bào không còn lấn cấn nữa về chính trị!

Thưa ông chúng tôi vẫn còn lấn cấn, rất lấn cấn là khác. Ở hải ngoại hiện giờ có hai nhóm: một nhóm chống cộng cực đoan, dị ứng tất cả cái gì liên quan tới hai chữ CS và HCM. Tôi không muốn bàn nhiều về họ, tuy hiểu và thông cảm cho mối hận thù sâu sắc dẫn tới sự quá khích của họ. Phần lớn đó là những người bị lừa mang quần áo đi học tập một tuần, sau đó bị bắt đi đày hàng (chục) năm dài trong những vùng rừng thiêng nước độc, sinh hoạt ăn uống còn kham khổ hơn cả một con chó, ngay cả chữ tù đày cũng bị bẻ cong để gọi là Học Tập. Đó là những gia đình bị CQ một ngày nọ tới xúc đi kinh tế mới, tịch biên nhà cửa của họ để chia chác cho cán bộ. Đó là hàng vạn con người miền Nam, một sáng đẹp trời bị liệt vào thành phần tư sản và công an ngang nhiên đến tận nhà vơ vét tất cả của cải, vàng bạc. Họ căm thù CQCS vô cùng! Họ càng phẫn hận hơn khi thấy những kẻ khi xưa không ngừng rêu rao chửi bới họ là ăn bơ thừa sữa cặn đế quốc Mỹ nay lại tìm mọi cách lũng đoạn, ăn bớt ăn xén công quỹ quốc gia, để có tiền cho con cái, dòng họ qua Mỹ, cái xứ tư bản xấu xa mà sách giáo khoa VN năm nào đã nói là trẻ em nghèo không được đi học. Những kẻ khi xưa liệt họ vào thành phần tư sản để có cớ cướp bóc tài sản của họ, nay lại giàu có hơn họ hàng ngàn lần, mà sự giàu có lại tới từ tham nhũng, đám người năm xưa đánh tư sản nay nghiễm nhiên trở thành tư sản đỏ mà không sợ ai trừng trị.

Nếu nhà nước thật lòng muốn xóa bỏ hận thù, muốn hàn gắn những vết thương sâu hoắm thì hãy ngừng ngay việc kêu gào hòa hợp bằng miệng. Việc giảm bớt thủ tục nhiêu khê cho Việt kiều về thăm nhà, những cởi mở cỏn con làm sao hàn gắn được hết những vết thương lở loét, những tội lỗi tày đình của quá khứ.

Muốn xóa bỏ hận thù với tầng lớp VK chống cộng này, CQ còn phải nổ lực nhiều hơn nữa. Hãy nói thẳng và nhìn lại lịch sử. Hãy thẳng thắn nhận lỗi đã giam tù không xét xử hàng trăm ngàn người chế độ cũ, và đã phân biệt đối xử con cái họ.

Hãy cho du nhập báo chí, sách vở nói về cuộc chiến Nam Bắc với những cái nhìn đa chiều, những quan điểm của anh lính bộ đội và cả anh lính CH. CQCS không thể  kêu gào hòa hợp trong khi vẫn áp đặt lý luận của mình lên quá khứ, vẫn bóp méo lịch sử. Tất cả những ý kiến trái chiều đều bị chụp mũ là phản cách mạng. Hòa hợp không có nghĩa là kẻ chiến bại phải im mồm, và kẻ chiến thắng mới được quyền độc diễn và độc thoại.

Hãy cùng nhau nhìn nhận những sai sót hôm qua để chữa lành những vết thương thù hận hôm nay.

Trên đây tôi chỉ muốn đề cập một cách sơ xài về những VK chống cộng cực đoan, những con người còn mang nặng nỗi hận thù rất là chính đáng.

Tầng lớp mà tôi muốn nói tới là những người Việt kiều lúc nào cũng hướng về quê hương, yêu nước và muốn cống hiến rất nhiều cho quê mẹ. Họ rất đông đảo, ở khắp năm châu, bốn bể, có tri thức cao, có tấm lòng, rất nhiều trong số ấy đã được đào tạo tại những môi trường tốt nhất. Thử nghĩ nếu thu hút được sự đóng góp của họ thì cơ hội cho VN vươn ra thế giới sẽ nằm trong tầm tay. Nhưng… cũng nên tự hỏi tại sao hòa bình hơn 35 năm rồi, mà lực lượng bà con về giúp đỡ quê nhà lại èo uột thế? Lèo tèo vài ba tổ chức giúp VN về khoa học kỹ thuật , có thấm tháp gì so với hàng triệu kiều bào tại nước ngoài?

Tại sao tới giờ đóng góp của họ chỉ giới hạn trong việc gởi tiền cho thân nhân, thành lập các hội nhóm đoàn thể riêng lẽ làm từ thiện?

Ông Dương Trung Quốc và các ông lãnh đạo có hiểu vì sao không? Tôi nghĩ các ông hiểu, cũng như mọi người đều hiểu tại sao, chỉ có điều phía các ông không ai nhìn thẳng vào vấn đề, mà thay vào đó chỉ biết kêu gào và kêu gào.

Thưa là vì nhóm Việt kiều này tuy họ không mang lòng hận thù sâu sắc với CQ CS, nhưng họ chán và khinh bỉ (xin lỗi vì dùng từ xác đáng) chế độ chính trị tham nhũng, quan liêu, và ngu dốt đang thống trị tại VN.

Xin thưa họ hoàn toàn không có lòng tin vào bộ máy CQ hiện nay tại VN.

Đối với họ, CQ CS đồng nghĩa với tráo trở, khôn vặt, độc tài và tham lam vô tận.

Khi nói về VN, hiện tình đất nước, họ thường thở dài và lắc đầu nguây nguẩy, buông những câu đại loại: Ai mà tin nổi tụi nó?

Hay: Dại gì mà đầu tư ở VN! Tụi nó muốn cướp là cướp! Toàn là luật rừng!

Hoặc: Thôi, làm ăn ở VN nhức đầu lắm, không đút lót không làm gì được đâu!

Đó là những gì chúng tôi vẫn nói với nhau khi bàn về chế độ chính trị và môi trường làm việc tại VN.

Ông chú tôi, VK Pháp, từng được huân chương kháng chiến, đã từng đưa đón các ông lớn CS VN qua Paris ký kết các hiệp định tại Pháp. Lúc về hưu ky ca ky cóp được ít tiền tiết kiệm, cộng thêm đám sinh viên Pháp cũng hùn lại trao cho ông một món tiền. Ông hồ hởi, phấn khởi đem về VN, tính thực hiện giấc mơ cuối đời của mình: xây một ngôi trường tình nghĩa tại cái làng nơi ông sinh ra.

Ba tháng sau ông trở qua, mặt mày tiu nghỉu, tôi hỏi và được ông trả lời rằng CQ địa phương đòi ông xùy tiền thì mới cho xây. Cuối cùng ông quyết định mang tiền về trả lại cho sinh viên Pháp, vì thật lòng không biết cắt nghĩa làm sao với họ về khoản tiền bôi trơn ấy! Tôi vừa thương hại lại vừa buồn cười vì ông là CS lão thành mà còn ngây thơ: Ở VN không bôi trơn thì làm gì cỗ máy chạy?

Chúng tôi luôn nhìn về nước nhà để rồi càng nhìn càng… chán ngán, càng bàng hoàng!

Sống và được giáo dục tại những nước mà luật pháp nghiêm minh, bình đẳng, tự do ngôn luận, tự do phản biện, đại đa số VK không chấp nhận và bất mãn về thể chế chính trị trong nước. Những ý kiến đóng góp của chúng tôi về sự cải tổ xã hội, giáo dục đều như nước đổ đầu vịt. Ngay cả các lãnh tụ thế giới qua VN hội họp, thì những phần phát biểu, “đụng chạm, nhạy cảm” đều bị báo Đảng cắt xén thảm thương huống chi những góp ý của chúng tôi?

Các Việt kiều về nước đầu tư, thử hỏi có ai không bị thuế má hoạch họe để phải xì tiền ra? Thử hỏi có ai không chung chi mà yển ổn làm việc?Thử hỏi ai không bị guồng máy hành chính vật cho tơi tả?

Nền giáo dục băng hoại, trộm cướp tràn lan, nạn tham nhũng hoành hành từ làng quê heo hút tới bản doanh trung ương. Nạn bằng cấp giả, nạn chạy chức chạy quyền. Càng làm chức cao càng vô liêm sĩ, không biết từ chức.

Không có tự do báo chí, văn học. Tiền cứu trợ dân nghèo cũng bị bòn xẻo, hệ thống giao thông bát nháo, dự án công cộng nào cũng bị cắt xén, các quan lớn nhỏ thi nhau ăn vô tội vạ trên quê hương kiệt quệ, nợ nần ngập đầu. Những trí thức phản biện đều bị nhốt giam, quy chụp cái mũ phản động. Vài năm gần đây để đánh lừa dư luận lại dùng quái chiêu: “Quần chúng tự phát ức chế” để thẳng tay đàn áp, đánh đập nhân dân bất mãn.

Những vấn nạn đó làm việt kiều yêu nước đau xót và làm kiệt quệ lòng tin của họ, dẫn tới việc bất hơp tác, thờ ơ với lời kêu gọi của CQ. Thử hỏi nếu Việt kiều ồ ạt kéo về nước làm việc, rồi lập hội lập nhóm, hoặc đi biểu tình thì họ có bị khép vào tội phản động không? Trong khi những điều đó lại hết sức bình thường tại nước ngoài? Hay CQ chỉ muốn Việt kiều cũng ngoan ngoan và dễ dạy như người dân trong nước, lâu lâu cho ăn cái bánh vẽ Cải Cách, Đổi Mới là hài lòng trùm chăn, bịt tai bịt mắt trước mọi bất công của xã hội?

Ngay bản thân tôi, nhớ lại hơn hai mươi năm trước, tôi đau đớn khi khám phá ra mình chỉ học những điều dối trá ở nhà trường. Hai mươi năm sau quay lại vẫn không có gì thay đổi! Cả một xã hội nói dối để sống, để làm việc, để được yên thân, để kiếm chác!

Ngoài đường vẫn giăng đầy những khẩu hiệu sáo rỗng. Càng nhiều khẩu hiệu, đạo đức càng suy đồi, người ta càng chán ghét.

Tóm lại qua kinh nghiệm bản thân tôi nghĩ con đường hòa hợp dân tộc là con đường rất nhiều chướng ngại vật. Việc ra sức kêu gọi bằng mồm các việt kiều đóng góp xây dựng cho nước nhà là một điều khó thành hiện thực lúc này.

Chừng nào cơ chế chính trị trong nước thay đổi thì họa may. Chừng nào hai chữ hòa hợp không mang tính áp chế của phe chiến thắng thì mới nói tới chuyện cởi bỏ hận thù , hàn gắn dân tộc. Chừng nào những sai lầm chết người trong lịch sử không còn bị ém nhẹm, bóp méo, mà được công khai đem ra mổ xẻ trước bàn dân thiên hạ thì mọi người mới sẵn lòng ngồi lại với nhau, hàn gắn trên những đổ nát. Chừng nào?

Nguyên Dung
30/01/2012

nguồn danluan.org

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Hòa hợp Hòa Giải | Tagged: | Leave a Comment »

“gọi Nhà nước “Cộng hòa XHCN Việt Nam” là “Chính quyền Cộng sản…Cách gọi này không chỉ xúc phạm một Nhà nước, mà còn phá hoại quan hệ hợp tác, hữu nghị …giữa VN và Hoa Kỳ.”

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2012

Chị Phạm thị Hoài, người phụ trách trang talawas, viết trên blog procontra.asia rằng: Nhà nước Việt Nam không thích bị gọi là “chính quyền cộng sản”. Chị ấy rút ra sự kiện trên sau khi đọc bài bình luận : Dự thảo “Luật Nhân quyền 2012” – Một tư duy lạc hậu trong QHQT, , của tác giả Trần Nguyễn, đăng trên báo Công an Nhân dân Online ngày 14-2 (mời xem ở cuối bài này).

Có lẻ đây là lần đầu tiên một tờ báo nhà nước công khai lên tiếng không thích bị ai gọi là chính quyền cộng sản mà chỉ thích được gọi là CH XHCN VN.

Đặc biệt, khi vào website của đảng CSVN thì không tìm ra chữ Cộng Hòa XHCN Việt Nam ở chỗ nào hết! Mời xem ở đây .

Nhấp chuột vào góc trái, dưới chữ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sẽ thấy chữ Tổng Bí Thư Đảng ở hàng cao nhất, dưới là Chủ Tịch Nước, dưới nữa là Thủ Tướng, và đứng hạng cuối cùng là Chủ tịch Quốc hội. Chữ Đảng luôn luôn được viết hoa, và đứng trước Nhà nước; chữ nước luôn luôn được viết thường. Bởi vậy, các blogger nói chí phải: đảng viên đảng CSVN quí đảng hơn nước. Thà làm tôi mọi và quì mọp xuống đất thuần phục bọn TQ, để giữ đảng; dẫu TQ có lấy mất đảo Hoàng Sa, Trường Sa, lấn chiếm Biển Đông, lấn chiếm Thác Bản Giốc, lấy Ải Nam Quan, dời cột mốc biên giới ở phía Bắc để lấn sâu vào nội địa VN…thì đảng viên đảng csvn cũng ráng ngậm miệng không dám phản đối. Nếu phản đối, TQ sẽ tung ra các chi tiết rất bất lợi cho đảng về chiến tranh VN, về chiến thắng Điện Biên Phủ, về ông Hồ Chí Minh, về các nhân vật cao cấp lãnh đạo đảng CSVN trong 60 năm qua. Bởi vậy, TQ nói sao, đành nghe vậy chỉ vì sợ đảng mất mặt trước người dân VN.    

Khi họp đại hội đảng, thì đảng viên chọn ai là Tổng bí thư, chọn làm chủ tịch nước, thủ tướng, và chủ tịch quốc hội. Đảng giới thiệu người nào làm chức vụ gì, rồi giả vờ đưa ra Quốc hội cho có vẻ bầu bán, chứ thật ra quốc hội chỉ là các nghị gật, không dám trái ý đảng. 

Đối với một đảng viên đảng cộng sản VN và những người làm việc cho chính quyền, thì đảng là tối cao và thiêng liêng nhất. Đảng đứng trên nhà nước, đứng trên chính quyền trung ương lẫn địa phương. Người bí thư đảng ủy quyết định tất cả mọi vấn đề của xã, huyện, tỉnh, thành phố, quốc hội, cơ quan, công ty, nghiệp đoàn, bộ, bản án của tòa án cũng do bí thư chi bộ quyết định, cho ai đi tù bao nhiêu năm, giam giữ bao lâu, và khi nào được thả…

Dân chúng cũng xem đảng là tối cao, ban mưa móc và ơn huệ cho họ. Bởi bậy, thay vì nói cám ơn, người miền Bắc vẫn thường nói “ơn đảng, ơn chính phủ”, hoặc “ơn đảng, ơn bác” như lời mào đầu câu chuyện.

Vài năm trước, các blogger còn xoen xoét vạch ra sự thật mà lâu nay ít ai chú ý: Đảng còn đứng cao hơn cả các hiện tượng tự nhiên của đất trời bằng cớ là thông qua khẩu hiệu: Mừng Đảng, Mừng Xuân; đảng được chúc mừng trước, rồi mua xuân mới được chúc mừng sau.

Hơn thế nữa, để chỉ rõ lòng trung thành và đã bị thuần hóa, năm 2010, nhân kỷ niệm ngày thành lập, Công an Nhân dân Việt Nam còn trương khẩu hiệu trước trước trụ sở công an ở Hà Nội: CAND chỉ biết Còn Đảng, Còn Mình (xem hình cuối bài).

Vậy, tại sao Trần Nguyễn viết bài bình luận đăng lên tờ báo Công An Nhân Dân lại cho rằng: Dân biểu Chris Smith “gọi Nhà nước “Cộng hòa XHCN Việt Nam” là “Chính quyền Cộng sản…Cách gọi này không chỉ xúc phạm một Nhà nước, mà còn phá hoại quan hệ hợp tác, hữu nghị …giữa VN và Hoa Kỳ”

Dự thảo “Luật Nhân quyền 2012” – Một tư duy lạc hậu trong QHQT

Báo Công An Nhân Dân online

11:14:00 14/02/2012
Trần Nguyễn
Theo một số hãng thông tấn “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012) do ông Smith, Chủ tịch tiểu ban về châu Phi, Y tế toàn cầu và Nhân quyền đệ trình vừa được tiểu ban này thông qua vào ngày 8/2. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Dự luật sẽ được trình ra Hạ viện. Nếu Hạ viện thông qua, bước tiếp theo, sẽ được đệ trình tại Thượng viện. Và để Dự luật có hiệu lực, nó phải được Thượng viện thông qua và sau đó được Tổng thống phê chuẩn.

Vào đầu năm nay, ngày 25/1, ông Chris Smith đã có buổi điều trần về Dự luật này, lúc đó văn bản được gọi là “Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2011”.

Tại buổi điều trần lần này có những gương mặt quen thuộc, như cựu dân biểu Cao Quang Ánh, Nguyễn Đình Thắng (từ tổ chức Boat People SOS); ông Giám đốc Tổ chức cái gọi là Nhân quyền cho người Thượng; ông John Sifton từ tổ chức Human Rights Watch – một tổ chức chưa bao giờ được cấp phép vào Việt Nam. Điều khôi hài nhất là trong buổi điều trần lần này có mặt Vũ (thị) Phương Anh, được giới thiệu là “nạn nhân buôn người”, với chứng cứ là VPA “bị (Chính phủ Việt Nam) đưa đến một công xưởng ở Jordan, nơi bà nói đã phải làm việc cả ngày lẫn đêm với tiền công ít ỏi”.

Có thể nói, ngôn từ của ông Smith trong buổi điều trần thật sự không phù hợp với tư cách của một chính khách, một chính trị gia, thậm chí không được như một công dân Mỹ bình thường. Ông đã vu cáo trắng trợn Chính phủ Việt Nam rằng “Chính quyền Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm tệ hại nhân quyền. Lời khai mà người ta nghe được đã xác nhận rằng việc truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc tiếp diễn và trong nhiều trường hợp còn tăng nhiều thêm, và rằng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tiếp tục đón nhận những kẻ chuyên buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức”. Rồi ông đe dọa: “Cần phải cho thấy, Hoa Kỳ gửi một thông điệp minh bạch tới chế độ Việt Nam rằng họ phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”.

Tạm gác lại sự vu cáo trắng trợn của ông Smith, nội dung Dự luật đưa ra cho thấy ông Chủ tịch Tiểu ban nhân quyền Hạ viện và những người soạn thảo Dự luật này vẫn giữ nguyên một cách tư duy, ứng xử lạc hậu đến hết chỗ nói. Đó là:

1 – Ông Smith không hề có một chút tôn trọng nào Quốc hiệu của một dân tộc. Ông gọi Nhà nước “Cộng hòa XHCN Việt Nam” là “Chính quyền Cộng sản”, như cách gọi của những “thuyền nhân”, không có công ăn việc làm, chuyên hành nghề chống Cộng trên đất Mỹ.

Ai cũng biết cách gọi Nhà nước Việt Nam là “Chính quyền Cộng sản” có nguồn gốc từ thời kỳ “Chiến tranh Việt Nam” (1954-1975), từ thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống TBCN và XHCN. Cách gọi này không chỉ xúc phạm một Nhà nước, mà còn phá hoại quan hệ hợp tác, hữu nghị đã được tạo dựng trong nhiều năm qua giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

2 – Về nội dung, Dự luật yêu cầu Việt Nam “thả các tù nhân bị bắt giữ vì “sự vận động trong hòa bình cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền”, và việc đòi hỏi Việt Nam phải “Đưa ra những tiến bộ vượt bậc trong việc cải thiện luật pháp để ngăn chặn việc hình sự hóa các hoạt động dân chủ”, hàm ý phải thay đổi nhiều Điều luật Hình sự liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng… Đáng tiếc ông Smith không hiểu rằng trong tư duy chính trị hiện đại người ta phải biết tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của mỗi dân tộc. Điều này đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong “Công ước quốc tế về quyền các quyền dân sự, chính trị”, năm 1966. Điều I Công ước này quy định rằng: “Các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị…” (1) của mình. Xây dựng Hiến pháp và hệ thống pháp luật như thế nào hoàn toàn thuộc quyền của mỗi quốc gia – dân tộc, mà không có bất cứ quốc gia nào, một lực lượng chính trị nào có quyền áp đặt, kể cả Liên hợp quốc.

3 – Về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, ông Smith vẫn nghĩ rằng, Hoa Kỳ có thể “ra lệnh”, can thiệp thô bạo đối với nhà nước Việt Nam. Ông đưa ra “thông điệp” – Việt Nam “phải ngừng vi phạm nhân quyền của các công dân của họ”.

Lẽ ra với tầm nhìn của một chính khách, một chính trị gia, ông Smith phải hiểu rằng, dân tộc Việt Nam đã từng đứng lên đấu tranh giành lại quyền dân tộc tự quyết, giành lại quyền sống, quyền con người, quyền làm người của mình trong tay nhiều đế quốc hung bạo, trong đó có Mỹ, lẽ nào Chính phủ Việt Nam lại chà đạp lên quyền con người của công dân mình?

Việc trừng phạt những kẻ nào đó vi phạm quy định pháp luật quốc gia hoàn toàn không có nghĩa là vi phạm nhân quyền, ngược lại là việc làm cần thiết để bảo vệ quyền con người của người khác, cho cả dân tộc. Chính phủ nào cũng phải làm như vậy – kể cả Hoa Kỳ.

Thêm nữa, Dự luật này lại đưa ra những đòi hỏi về nhân quyền (theo quan điểm của mình), như là một điều kiện trong quan hệ giữa hai quốc gia. Đây là điều không tưởng. Hơn nữa điều đó còn đi ngược lại xu hướng phát triển giữa hai quốc gia.

Do nhiều nguyên nhân, sự khác biệt nào đó về quan điểm, về pháp luật giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là hoàn toàn có thể hiểu được. Nếu hai bên có thiện chí, bằng những hành động cụ thể hợp tác với nhau, giúp đỡ lẫn nhau như tiếp tục tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, tẩy rửa chất độc da cam, hỗ trợ nạn nhân chiến tranh… và đối thoại trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau thì hoàn toàn có thể thu hẹp dần sự khác biệt đó. Hơn nữa có thể phát triển tốt đẹp mối quan hệ giữa hai dân tộc

1 – Viện Nghiên cứu quyền con người “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, HN, 2002, tr250.

T.N.
*Chữ viết tắt QHQT = Quan Hệ Quốc Tế

Kết hợp với Đài Loan Lừa gạt người dưới miền quê vùng Thanh hoa, Nghệ An, Hà Tỉnh, nộp sổ đỏ, cầm nợ cho ngân hàng lấy 30 Triệu (1500 đô), mua vé máy bay, Đi xuất khẩu lao động theo diện xóa đói giảm nghèo cho người dân nghèo khổ, đi nước ngoài, qua Jordani, làm may, làm 8 giờ ngày, theo VN nói,  220 đô/ tháng + trợ cấp xa nhà, chuyên cần, thành 300 đô tháng, nộp trước 2000 đô, 32 triệu VN, đi 3 năm. Tính toán rằng đi mất có 2000 đô, tháng làm được 300, không tiền thì viết giấy, chuẩn bị đi lao động hợp tác nhờ Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp   cho người lao động vay vốn, lấy sổ đỏ thế chấp với ngân hàng, ngân hàng cho vay tiền, lấy tiền này đưa cho công ty dịch vụ xuất khẩu lao động (do con của các cán bộ cao cấp điều hành, mua vé bay và tiền lệ phí dịch vụ) . Khi sang Trung Đông, mỗi người đóng trước cho dịch vụ 2000 đô x 276 người; số tiền 2000 đô này là chưa kể tiền làm hộ chiếu, tiền khám sức khỏe, tiền ăn học về đời sống ở nước ngoài.
Nhiều người đi lao động đòi hỏi ký hợp đồng, nhưng công ty dịch vụ xuất khẩu người lao động lờ đi. Chỉ vào đêm trước khi lên máy bay, họ nói công nhân xuống ký hợp đồng, họ chỉ vào tờ giấy và nói ký vào chỗ này chỗ kia, và không ai có thời gian đọc được tờ giấy này viết cái gì. Người đi lao động nói đó là các tờ giấy bằng tiếng Anh và tiếng Trung Quốc và tiếng Việt, nhưng họ không cho công nhân có thời giờ để đọc, không nói cho công nhân biết đấy là hợp đồng.
Ở Jordan, người lao động làm 15 tiếng mỗi ngày. Giờ  làm từ 7:30 sáng- 11:30; nghĩ 30 phút ăn trưa, sau đó tiếp tục làm từ 12:00 – 6 giờ:30 chiều;  nghĩ 30 phút dăn cơm, rồi làm tiếp từ 7:00 tối-12 giờ đêm.
Người lao động suy nghĩ, chiếu theo hợp đồng thì làm 8 tiếng sẽ được  300 đô; nay làm 15 tiếng mỗi ngày chắc  sẽ được lãnh tiền gấp đôi. Về ăn uống, mỗi tuần ăn 1 cánh gà, 1 tuần được ăn 1 con cá, sáng ăn cháo, trưa chiều ăn bắp cải xào mở cừu. Qua 29-1-2008, làm 10 ngày, lãnh lương, được 10 đô la!
Hỏi lương sao ít thế, thì chủ hãng may bảo là thử việc, nên đó là lương thử việc. Người có tay nghề quá cứng cũng lãnh chừng đó tiền. Người qua trước, đã làm 1-2 tháng rồi được lãnh 80 đô/ tháng; người đã làm  4- 5 tháng thì lãnh 120 đô tháng. Không có ai lãnh được 200 tháng như công ty xuất khẩu lao động bên VN đã nói trước khi qua  Jordan.
Năm đó, 2008, VPA 26 tuổi. Nhiều người lao động viết đơn hỏi rõ tiền lương, VPA dịch qua tiếng Tàu cho chủ là người Đài Loan. Các lao động tin rằng vào chính phủ. Vì  chính phủ nói phải là chính xác, vì họ là người lãnh đạo của đất nước. Xin chủ  chỉnh mức lương và mức giờ làm việc theo lời hứa hẹn, để người lao động yên tâm làm việc trong 3 năm. Nhưng người chủ Trung Quốc nói: chúng tôi đã làm việc đúng (theo hợp đồng), các cô muốn biết thêm, hãy gọi điên thoại về hỏi ông chủ bên VN. công nhân lao động liền điện thoại hỏi quản lý công ty tên là La Thanh Khương, chị ấy nói là cứ đi làm đi, sẽ liên lạc với ông chủ ở Jordan sau. Trong khi chờ đợi công ty bên VN liên lạc qua nói chuyện với chủ hãng, công nhân VN đã không đi làm.
Chủ bắt đầu cắt khẩu phần ăn, cắt điện, cắt nước, của công nhân và kêu cảnh sát Jordan đến đàn áp, đánh đập, bắt công nhân đi làm.VPA cầm cell phone cụp lại hình ảnh của công nhân bị hộc máu mũi, máu miệng, máu tai, túm nhấc đầu. Ngu si dốt nát mà tin vào lời của những người đưa công nhân đi xuất khẩu lao động. Gọi điện về VN cũng ko được cứu giúp. Báo TT đăng 1 mẫu tin nhỏ, 276 lao động VN bị đánh đập và bỏ đói ở Jordan. Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đọc được mẫu tin ấy, và đã điện thoại hỏi người lao động bên Jordan có cần giúp đỡ gì không. Sau đó, ông đã nhờ người cầm 3000 đô đến cho 276 lao động VN có tiền ăn. VPA là người nhận tiền và liên lạc với tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng.
Trần Việt Tú làm ở lãnh sự quán Ai Cập, Trương Xuân Thanh ở bộ ngoại giao, ông Tạo bộ lao động, đem 12 người qua Jordan, bảo các công nhân hãy tiếp tục đi làm, và nói VPA đã nhận tiền của phản động, nhận tiền của “tên” Thắng là một tổ chức chống lại chính phủ VN. Các ông này nhìn đã nhìn thấy các công nhân Ngọc và Vang bị đánh và đã gần chết, nhưng họ cũng không lo giúp đỡ cứu chữa hay đưa những người này đi bệnh viện để cứu chữa cho các công nhân này.
một chính phủ cai trị đất nước trong 56 năm, mà không đề ra được kế hoạch tạo công ăn việc làm cho người dân, cuối cùng phải xuất khẩu người dân ra nước ngoài đi làm thuê. Vừa được nhiều mối lợi cho đảng là: những người dân phải cầm có nhà cửa ruộng vườn cho ngân hàng của nhà nước, ngân hàng cho vay tiền có lãi, công ty dịch vụ XK người lao động do các c
54 phút- có phụ đề tiếng Anh.

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Ông Đỗ Nam Hải bị hành hung

Posted by hoangtran204 trên 17/02/2012

Cách đây vài tuần, ngày 6-2-2012, ông Đỗ Nam Hải (Ban đại diện Khối 8406) có tung lên mạng toàn cầu vài tấm hình về một công an có nhiệm vụ canh rình ông từ cửa ngôi nhà số 430 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận, Sài Gòn (đối diện với ngôi nhà của ông ở số 441 Nguyễn Kiệm, phường 9, quận Phú Nhuận). Nơi đây, kể từ tháng 8 năm 2004, luôn luôn có tốp 3 công an đóng chốt, theo dõi, khiến ông thậm chí không thể làm công việc mưu sinh.

Bức hình tung ra đã làm cho công an tức giận và dẫn tới một số hành động mà ông Hải mô tả là “báo thù”.

Sáng hôm qua, 15-02-2012, khi ra phố có việc, ông Hải đã bị một công an bám theo sát nút như thường lệ. Vừa về tới nhà, ông liền đem máy ảnh ra chụp hình anh này khi anh ta đang đứng dựa vào một chiếc xe máy trước cửa nhà số 420 Nguyễn Kiệm (đây là người khác với người bị chụp ảnh hôm trước).

Cậu thanh niên khoảng 30 tuổi chạy qua cự nự và đòi ông Hải giao máy ảnh.

Ông Hải cho rằng, đang ở giữa đường phố, không ai có quyền ngăn cản việc chụp ảnh.

Nơi xảy ra ẩu đả

Thanh niên nọ xông tới đấm thẳng vào mặt ông Hải. Trấn tĩnh lại sau cú đòn bất ngờ, Đỗ Nam Hải đã phản công lại. Hai bên ghì nhau, đẩy nhau vào tận chỗ để xe trong nhà của ông Hải. Ông Hải quật ngã được tên côn đồ xuống , tay trái chặn cổ không cho hắn ta cựa quậy, còn tay phải ông vớ nhanh lấy một thanh sắt ở ngay trên đầu hắn ta (thanh sắt dài khoảng 40 cm, là vật dụng của chiếc máy hút bụi).

Đỗ Nam Hải nói: “Cậu đã chủ động đánh tôi trước, nên bây giờ tôi có thể đánh chết cậu bằng quyền tự vệ chính đáng của mình, khi cậu đã xông vào nhà tôi như thế này! Nhưng tôi tha cho cậu! Cút ra ra khỏi nhà tôi ngay!”

Người thanh niên vội đứng lên lủi mất. Sự việc diễn ra vào khoảng 9 giờ sáng ngày 15-2-2012, trước sự chứng kiến của hàng chục người hàng xóm xung quanh. Khoảng vài phút sau thì vài công an khác cùng tốp tới nhưng chúng chẳng dám làm gì.

Ông Hải sau đó đã gọi điện thoại cho trung tá Nguyễn Văn Tâm, Phòng PA 35 thuộc công an thành phố Sài Gòn (Đt: 0908.140.545) để nói lại việc liên quan tới hành động thuộc cấp của ông này. Ông ta liền đánh trống lảng:

– Anh có chắc đó là công an không?
– Sao lại không? Cậu ta theo dõi tôi từ lâu nay rồi, sao tôi không nhớ mặt?

Sau cuộc “chạm trán” kể trên ông Hải bị trẹo cổ tay trái khá nặng và phải tới cơ sở y tế kiểm tra thương tích. Chiếc taxi chở ông đi vẫn tiếp tục bị đeo bám.

Biên tập theo bản tin của khối 8406 gửi tới.

© Đàn Chim Việt

*Đàn Chim Việt là website do các sinh viên, doanh nhân và thanh niên Miền Bắc đã từng đi du học ở Nga, và các nước Đông Âu, hoặc định cư ở Ba lan thành lập khoảng 2003 (?). Báo mạng này là hậu thân của tờ báo giấy xuất bản ở Ba Lan. 

*Dân Luận (danluan.org) cũng là tờ báo mạng do Nguyễn Công Huân, sinh ra và lớn lên ngoài miền Bắc, du học qua Đan Mạch thành lập. Tiểu sử ở đây

 

Posted in Công An, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►18 tỉnh Việt Nam cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê mướn 400.000 hecta đất với giá 180.000 đồng/ 1 mẫu/ 1 năm, sao không bị chính quyền cưỡng chế?

Posted by hoangtran204 trên 16/02/2012

Nhà nước và các tỉnh cho người nước ngoài (Đài Loan, Trung Quốc) thuê đất đai với giá rất rẻ, có nơi được thuê 50 năm, có chỗ được thuê 99 năm.

Giá tiền thuê 1 ha (một mẫu) là 10 đô la/ 1 năm. Tại sao chính quyền tỉnh và huyện không cưỡng chế thu hồi đất đai của các công ty nước ngoài này?

Trái lại, các tỉnh và huyện cho nông dân VN  thuê đất với giá rất cao, hợp đồng thuê đất thì rất ngắn hạn, 14 năm-20 năm. Nhiều nông dân bị tỉnh và huyện cưỡng chế lấy lại đất trước thời hạn.

************

Cho nước ngoài thuê 180.000 đồng một ha đất trồng rừng

chú ý: _1 ha đất = 1 hecta = 10.000 mét vuông.

11-10-2011    Báo VNEpress

Sáng 11/10, đánh giá tổng kết dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (1998-2010), Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường đã chỉ ra 8 điểm hạn chế, trong đó có việc cho nhà đầu tư nước ngoài thuê đất lâm nghiệp với giá quá thấp.

> Tạm ngừng cho doanh nghiệp nước ngoài thuê rừng

Sau 13 năm triển khai dự án, độ che phủ rừng tăng dần từ 32% (năm 1998) lên 39,5% (năm 2010); diện tích rừng được bảo vệ đạt 2,4 triệu ha; diện tích rừng bị cháy giảm, y thức về bảo vệ, phát triển rừng của địa phương và người dân đã có bước chuyển biến.

Tuy nhiên, qua giám sát Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường đã chỉ ra 8 điểm hạn chế, trong đó có việc giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp thực hiện chưa tốt, chậm tiến độ. Người dân làm nghề rừng thu nhập còn thấp. Với mức giao đất lâm nghiệp bình quân hiện nay khoảng 5-6 ha một hộ thì chưa đủ để người dân có thu nhập chủ yếu từ rừng.

Đặc biệt, việc cho thuê đất lâm nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài còn có nhiều bất cập, gây bức xúc trong dư luận. Hiện tổng diện tích đất cho nhà đầu tư nước ngoài thuê để trực tiếp trồng rừng là 288.974 ha, giá thuê đất quá thấp (bình quân khoảng 180.000 đồng một ha) trong khi người dân địa phương vẫn có nhu cầu nhận đất để trồng rừng.

“Một số địa phương còn có tình trạng cấp giấy chứng nhận đầu tư ở những địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư trên cả những diện tích đất rừng đã giao cho hộ gia đình quản lý”, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường nêu rõ.

Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường kiến nghị Chính phủ chỉ đạo bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, ổn định quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, có giải pháp hợp lý đối với diện tích đã cho nhà đầu tư nước ngoài thuê trồng rừng sản xuất để bảo đảm quyền lợi người dân địa phương.Theo đánh giá của Ủy ban này, công tác bảo vệ rừng tuy đã có bước chuyển biến nhưng các hành vi vi phạm pháp luật vẫn diễn ra phổ biến, có lúc rất gay gắt, đặc biệt là tình hình chống người thi hành công vụ. Tình trạng đốt phá rừng để làm nương rẫy còn xảy ra ở nhiều nơi, nhiều khu rừng trồng xong, hết tiền đầu tư bảo vệ có nguy cơ bị phá hoặc bị cháy.

Vấn đề cho nước ngoài thuê đất trừng rừng từng làm nóng nghị trường tại kỳ họp giữa năm 2010. Trả lời câu hỏi liên quan đến trách nhiệm, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát khẳng định theo Luật đầu tư, Luật đất đai, việc xem xét cho đầu tư thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh. Các bộ chỉ có ý kiến khi được địa phương yêu cầu. Bộ đã đi kiểm tra ở hai tỉnh và thấy địa phương đã nghiêm túc thực hiện quy định của luật pháp, có xem xét khía cạnh kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Lê Quang Bình lại phản ánh tuy không khảo sát hết, nhưng qua một số địa phương và thông tin từ Bộ Quốc phòng, Công an, có 19 dự án được cấp phép trồng rừng tại 18 tỉnh với diện tích cao hơn hẳn báo cáo của Bộ Nông nghiệp. “Bộ Nông nghiệp không nói rõ đặc điểm của đất, nhưng chúng tôi xác định hầu hết đất nằm ở khu vực trọng yếu về quốc phòng an ninh, có khu vực là đất rừng phòng hộ, đầu nguồn”, ông Bình thông tin.

****************************************

Căng thẳng việc cho nước ngoài thuê đất trồng rừng

12/06/2010

* Kiên quyết rút giấy phép cho thuê đất rừng trọng yếu

Hôm qua (11.6), không khí nghị trường đã trở lên “nóng” nhất, kể từ đầu phiên chất vấn, với những câu hỏi đầy “gai góc” liên quan đến vấn đề cho nước ngoài thuê đất  trồng rừng.

ĐB Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) phát biểu tại hội trường – Ảnh: L.Q.P

Không phải trách nhiệm của Bộ(?)

Không lòng vòng, ĐB Nguyễn Văn Tuyết (Yên Bái) mở đầu phiên chất vấn: Việc tiến hành rà soát, kiểm tra, đánh giá cho thuê đất trồng rừng khi nào xong? Sau khi rà soát xong có cho các tỉnh tiếp tục cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và ký hợp đồng cho thuê đất đối với các dự án trồng rừng của nước ngoài?

Cùng mối quan tâm trên, ĐB Lê Như Tiến (Quảng Trị) nhận định, việc cho nước ngoài thuê đất dài hạn là lợi bất cập hại, không có tầm nhìn xa. ĐB Tiến đặt câu hỏi: “Các địa phương lý giải đã thực hiện đúng luật đầu tư nhưng việc làm này có phù hợp với pháp luật và an ninh quốc gia, pháp luật về biên giới, pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về tài nguyên rừng?”.

    Trong diện tích 305.353 ha

 

vừa qua đều là đất được quy hoạch để trồng rừng sản xuất, không có rừng tự nhiên cũng như những khu đất để trồng rừng đặc dụng hoặc phòng hộ. Bộ trưởng Cao Đức Phát

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát cho biết, số liệu tổng hợp tới cuối năm 2009, có 10 địa phương đã xem xét và có văn bản chấp thuận các dự án đầu tư trên tổng diện tích là 305.353 ha nhưng đây mới là chấp thuận chủ trương. Còn trên thực tế mới có văn bản giao để cho thuê 50 năm là 15.664 ha và đồng ý để liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp ở trong nước và bà con nông dân trong nước với các nhà đầu tư trên diện tích 18.160 ha, trên thực tế các nhà đầu tư đã trồng 15.183ha, khoanh nuôi 542 ha.

Bộ trưởng Phát cho rằng, theo Luật Đầu tư cũng như Luật Đất đai, việc xem xét cho thuê đất cũng như chấp thuận các dự án đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc thẩm quyền của UBND các tỉnh. Vì thế, các bộ chỉ có ý kiến khi được các địa phương có yêu cầu.

Lý giải về chủ trương cho nước ngoài thuê đất rừng, Bộ trưởng Phát nói: “Cách đây 5, 10 năm, tình hình của đất nước ta có khác, đất trống đồi núi trọc rất nhiều, vì thế nên đã có chủ trương và ghi ở trong các văn bản rằng chúng ta hoan nghênh và khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài vào trồng rừng nhất là ở vùng sâu, vùng xa và coi đây là lĩnh vực ưu tiên. Hưởng ứng chủ trương đó, một số nhà đầu tư nước ngoài đã đến.  Tuy nhiên, hiện nay tình hình đã thay đổi, nhiều doanh nghiệp và nhân dân chúng ta cũng có nguyện vọng trồng rừng và đất đai để trồng rừng hạn chế hơn, vì thế nên chúng ta rất phải cân nhắc. Tuy nhiên giải quyết những trường hợp các nhà đầu tư đã đến, các địa phương đã có cam kết, chúng ta cần thực hiện theo đúng các quy định của luật pháp, xem các trường hợp cụ thể, có tính đến lợi ích tổng hợp cả về kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và an ninh quốc phòng”.

ĐB Lê Như Tiến  (Quảng Trị) “truy”: “Bộ trưởng có vai trò, trách nhiệm gì

trong việc cấp đất này khi phát hiện ra sự bất hợp lý và có dấu hiệu sai phạm ?”. Bộ trưởng: “Các địa phương đã có giấy chứng nhận đầu tư nhưng điều đó không có nghĩa là toàn bộ diện tích 305.353 ha đã được giao cho các nhà đầu tư. Mà trên cơ sở giấy chứng nhận này thì các nhà đầu tư phối hợp với chính quyền cấp huyện, cấp xã tiến hành khảo sát làm rõ từng khu đất cụ thể và chỉ giao khi đất đó không có chủ quản lý hoặc không đáp ứng những yêu cầu khác, trên thực tế đã và đang làm như vậy”.

Ông Phát cũng cho biết, các địa phương có thiếu sót là khi cấp giấy chứng nhận đầu tư chỉ căn cứ vào những thông tin khảo sát sơ bộ nên đã có những nơi cấp cả những diện tích đã giao cho một số ít bà con nông dân hoặc thậm chí giao cho dự án khác.

Về trách nhiệm của mình, ông Phát nói: “Theo luật pháp hiện hành, chúng tôi quản lý nhà nước về rừng, vì thế nên các địa phương thường chỉ hỏi và có ý kiến đối với Bộ khi có liên quan đến việc giao rừng. Trong diện tích 305.353 ha vừa qua đều là đất được quy hoạch để trồng rừng sản xuất, không có rừng tự nhiên cũng như những khu đất để trồng rừng đặc dụng hoặc phòng hộ”.

Hầu hết đất cho thuê nằm ở khu vực trọng yếu

Phiên chất vấn trở nên căng thẳng khi ông Lê Quang Bình – Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của QH cung cấp thông tin: “Ủy ban Quốc phòng – An ninh đã tiến hành đi khảo sát, tuy đi không hết nhưng thông qua đi một số địa phương và thông tin ở Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thì hiện nay, toàn quốc có 19 dự án nước  ngoài được cấp phép trồng rừng tại 18 tỉnh nhưng Bộ NN-PTNT nói là 10 tỉnh. Với diện tích đất rừng là trên 398.374 ha, Bộ NN-PTNT thông báo là 305.353 ha”.

Đặc điểm của đất giao thì trong báo cáo của Bộ NN-PTNT không nói rõ, nhưng theo ông Lê Quang Bình: “Hầu hết đất nằm ở vị trí khu vực trọng yếu về quốc phòng an ninh, có khu vực là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn”.

Ông Bình đề nghị, tới đây Chính phủ cần xem phân cấp lại, nếu giao cho các địa phương thì Chính phủ phải có cơ chế kiểm tra kiểm soát, còn nếu không kiểm tra, kiểm soát được thì những trường hợp đã cho nước ngoài thuê đất phải báo cáo và được sự đồng ý của Chính phủ thì mới được giao.

Không có phản ứng nào về con số “vênh” mà ông Bình đưa ra, Bộ trưởng Cao Đức Phát bày tỏ sự nhất trí với ý kiến của ông Lê Quang Bình là cần phải xem xét kỹ về vấn đề phân công, phân cấp đối với các địa phương trong việc quyết định chủ trương đầu tư.

Ở một khía cạnh khác, Đại biểu B Trần Việt Hưng (Hòa Bình) bức xúc trước việc cho thuê rừng với giá rẻ như cho không, ví dụ 1m2 đất mà giá cho thuê một năm chỉ với 2,75 đồng*. Vì mất đất nên nhiều người dân đã phá rừng nguyên sinh để sản xuất, không có việc làm đã gây nhiều tệ nạn xã hội ở nông thôn miền núi.

Báo Thanh Niên

12/06/2010

*Cho thuê 10.000 mét vuông giá x 2,75 đồng = 275.000 đồng / 1 năm !!!!

————————

Trong diện tích 305.353 ha

 

vừa qua đều là đất được quy hoạch để trồng rừng sản xuất, không có rừng tự nhiên cũng như những khu đất để trồng rừng đặc dụng hoặc phòng hộ.

Bộ trưởng Cao Đức Phát

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | 9 Comments »

►Công an Tp.HCM đề nghị LS Lê Công Định rút lại đơn xin tị nạn

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2012

Thoạt nhìn vào, ai cũng tưởng giữa địa phương và trung ương đang có mâu thuẩn về chuyện tiếp tục bỏ tù hay thả Lê Công Định. Vì theo tin của VOA thì Bộ Ngoại Giao và Bộ Nội Vụ ở Hà Nội đồng ý cho LS Lê Công Định đi tị nạn chính trị ở Mỹ, nhưng Sở Công an TPHCM đề nghị gia đình khuyên luật sư Lê Công Định rút lại đơn xin đi Mỹ tị nạn chính trị. Nhưng chắc không phải vậy, Sở CA thành phố thì làm gì dám đương đầu với ngoài Trung Ương. Vụ này chưa giải quyết ổn thỏa vì có lẻ còn đang có sự mặc cả và kèn cựa trong nội bộ của đảng. Việc này tưởng là giải quyết kín, nhưng nay thì quá nhiều người biết, nên  cuối cùng thì Lê Công Định cũng được đi tị nạn qua Mỹ mà thôi.

Công an Tp.HCM đề nghị LS Lê Công Định rút lại đơn xin tị nạn

Công an TPHCM đề nghị gia đình khuyên luật sư Lê Công Định rút lại đơn xin đi Mỹ tị nạn chính trị, nhưng ông Định đã từ chối.

Sở Công an TPHCM đề nghị thân nhân của luật sư bất đồng chính kiến Lê Công Định khuyên ông nên rút lại đơn xin đi Mỹ tị nạn chính trị, theo tin từ gia đình của luật sư Định.
Bà Ánh, chị dâu của ông Định cho VOA Việt ngữ biết:

“Trước khi Định nộp đơn, Bộ Nội vụ có vô trại giam làm việc và hỏi ý kiến Định về việc họ tính cho Định đi tị nạn chính trị. Định mới nộp đơn đồng ý đi Mỹ ngày 23/11. Đến ngày 12/2, hai cán bộ Sở Công an thành phố tới nhà làm việc với mẹ của Định, đề nghị khuyên Định rút đơn xin đi Mỹ lại vì không có lợi. Mẹ Định vào thăm nói với Định, Định bảo đã quyết định rồi, không rút đơn lại. Từ ngày Định nộp đơn, nói chung cũng có nhiều áp lực. Người nhà tôi chỉ trông giải quyết cho Định được tự do. Nghe nói Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ đã làm việc xong rồi, không hiểu sao thành phố chưa chuyển đơn của Định lên trên. Tôi hỏi thăm Tòa đại sứ Mỹ, họ bảo chưa nhận được đơn đó. Tòa đại sứ cho biết Bộ Ngoại giao và Bộ Nội vụ đồng ý cho Định đi tị nạn chính trị với điều kiện Định phải chịu định cư ở Mỹ. Định đã nộp đơn hợp lệ rồi, không hiểu lý do vì sao họ cứ đợi chờ. Bây giờ mỗi tháng gia đình được thăm gặp 1 lần, gần đây nhất là hôm 3/2.”

Trường hợp của luật sư Lê Công Định được chú ý trước chuyến thăm của phái đoàn thượng nghị sĩ Hoa Kỳ và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á, Kurt Campbell, tới Việt Nam đầu tháng giêng và đầu tháng hai (2012) , mà qua đó, Hà Nội gửi thông điệp muốn được Mỹ cung cấp võ khí. Đáp lại, ông Campbell nói Việt Nam nên cải thiện thành tích nhân quyền để đạt tiến bộ trong quan hệ với Mỹ.

Đầu năm 2010, luật sư nhân quyền được nhiều người biết đến Lê Công Định bị tuyên án 5 năm tù với tội danh ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’ vì tham gia các hoạt động kêu gọi dân chủ và đa đảng tại Việt Nam.

Nguồn: VOA

———————————————————–

Luật sư Lê Công Định đã được trả tự do

6-2-2013

SÀI GÒN (NV) – Nhiều nguồn tin trên mạng xã hội từ Việt Nam cho hay, luật sư Lê Công Định đã được trả tự do trước thời hạn vào sáng 6 tháng Hai, 2013, theo giờ Việt Nam.

Trang Blog của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết, ‘Sáng nay những người thân của LS Lê Công Định đã vào khám Chí Hòa Sài Gòn đón LS trở về nhà. Ông được thả ra trước thời hạn. LS Lê Công Định bị kết án 5 năm tù kể từ năm 2009 theo điều 79 và 88 Bộ luật hình sự.’


Luật sư Lê Công Định. Hình chụp năm 2009. (Hình:AFP/AFP/Getty Images)Trả lời phỏng vấn của báo Người Việt, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh xác nhận tin này và nói thêm rằng, ông ‘rất vui vì trước đây có gặp Đinh vài lần do công việc. Định là người trẻ tuổi, tài năng, có tâm với đất nước, lý tưởng Định theo đuổi với các bạn của mình như Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long… là điều tốt đẹp mà hiện nay nhiều thanh niên đang hướng theo. Nó đó là làm cho xã hội văn minh dân chủ , kinh tế giàu mạnh.’

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh nói thêm, ‘Gia đình và bạn bè của Định sẽ rất vui, nhiều bạn đã vào tận Khám Chí hòa đón Định ra.’

Luật sư Lê Công Định, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư Sài Gòn, một trí thức từng có nhiều bài viết cổ súy cho dân chủ tại Việt Nam, bị bắt vào lúc 11 giờ trưa Thứ Bảy, 13 tháng 6, năm 2009, tại nhà riêng ở Sài Gòn.

Cùng bị bắt với Lê Công Ðịnh, là các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, và Nguyễn Tiến Trung.

Tất cả đều bị qui chụp cho tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 của Luật Hình Sự Việt Nam.

Tại phiên tòa sơ thẩm diễn ra ngày 20 tháng Giêng năm 2010, Tòa án thành phố Sài Gòn tuyên án Luật sư Lê Công Định bị 5 năm tù giam (kèm 3 năm quản chế). Ba người khác là doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm tù giam (kèm 5 năm quản chế), Nguyễn Tiến Trung bị 7 năm tù (kèm 3 năm quản chế), Lê Thăng Long bị 5 năm tù (kèm 3 năm quản chế).

Bốn tháng sau, tại phiên tòa phúc thẩm ngày 11 tháng 5, 2010, luật Sư Lê Công Ðịnh, ông Trần Huỳnh Duy Thức đã bị y án sơ thẩm trong khi ông Lê Thăng Long được giảm xuống còn 3.5 năm tù, còn Nguyễn Tiến Trung, không kháng án.

Trước luật sư Lê Công Định, nhà dân chủ Lê Thăng Long được trả tự do hôm 4 tháng 6 năm 2012.

Vụ án bắt giam và bỏ tù luật sư Lê Công Định và các bạn bè của ông, thường được gọi là ‘vụ án Lê Công Định’, đã gây rúng động dư luận cả trong lẫn ngoài Việt Nam, khi những người trí thức trẻ tuổi dấn thân cho công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.

Thời gian vừa qua, từng có tin đồn Luật sư Lê Công Định được thả và Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận cho ông tị nạn chính trị, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Sau khi Lê Công Định bị bắt và giam giữ trong tù, Bộ Ngoại Giao và nhiều Dân Biểu Hoa Kỳ cùng nhiều tổ chức quốc tế đã kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông.

Ngay sau khi Lê Công Định bị bắt, bản lên tiếng của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ viết: ‘Hoa Kỳ quan ngại sâu sắc hành động của Chính Phủ Việt Nam bắt giữ luật sư Lê Công Định. Ông Định là một luật sư nổi tiếng của Việt Nam cũng như trong cộng đồng luật sư quốc tế. Không một ai có thể bị bắt chỉ vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận, và không một luật sư nào có thể bị kết tội chỉ vì nhân thân của người mà họ chọn để tư vấn hay biện hộ.’

‘Vụ Việt Nam bắt ông Định là mâu thuẫn với luật pháp và đi ngược lại những cam kết của Chính Phủ Việt Nam đối với các tiêu chuẩn có tính quốc tế về nhân quyền. Chúng tôi kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho ông Định cũng như những tù nhân đang bị giam giữ vì đã bày tỏ một cách ôn hòa quan điểm của họ.’

Thậm chí, ngay sau đó cả trong lẫn ngoài nước đã xuất hiện một phong trào vận động chữ ký trên internet phản đối nhà cầm quyền CSVN đã bắt giam luật sư nhân quyền Lê Công Định. (KN)

Posted in Trại Tù | Leave a Comment »

Các động tác giả của chính quyền trung ương nhằm xoa dịu bất mãn của dân chúng

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2012

Đình chỉ chức vụ Bí thư và Chủ tịch xã Vinh Quang

Ông Lê Thanh Liêm (phải) đội mũ ngồi nghe công bố quyết định đình chỉ chức vụ với mình – Ảnh: Thế Dũng

Đúng 17 giờ chiều nay (13-2), Huyện uỷ và UBND huyện Tiên Lãng đã công bố các quyết định đình chỉ công tác với ông Phạm Đăng Hoan – Bí thư, Chủ tịch HĐND xã Vinh Quang và ông Lê Thanh Liêm – Chủ tịch UBND xã Vinh Quang để tổ chức kiểm điểm.

Các quyết định nêu rõ, hai ông Phạm Đăng Hoan và Lê Thanh Liêm cùng bị đình chỉ chức vụ trong thời gian 15 ngày để kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm cá nhân trong những sai phạm liên quan tới vụ cưỡng chế thu hồi đất “sai luật, trái đạo lý” đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng.

Tham dự buổi công bố quyết định đình chỉ chức vụ với hai ông Hoan và Liêm có ông Trần Minh Thông – Phó Bí thư Đảng ủy Huyện Tiên Lãng, ông Lương Hữu Huyền – Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng phụ trách hoạt động huyện… cùng các vị đại biểu của HĐND, UBND xã Vinh Quang, các cán bộ thôn.

Ông Phạm Đăng Hoan bị đình chỉ chức vụ Bí thư đảng uỷ, Chủ tịch HĐND xã Vinh Quang nhiệm kỳ 2010-2015. Bà Ngô Thị Hoài – Phó Bí thư thường trực Đảng ủy xã Vinh Quang sẽ phụ trách hoạt động của Đảng ủy xã trong thời gian ông Phạm Đăng Hoan bị đình chỉ.

Ông Lê Thanh Liêm bị đình chỉ chức vụ Phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Vinh Quang nhiệm kỳ 2010 -2015. Ông Mai Công Nhìu – Phó chủ tịch UBND xã Vinh Quang sẽ phụ trách hoạt động của UBND xã Vinh Quang trong thời gian ông Lê Thanh Liêm bị tạm đình chỉ công tác.

Lãnh đạo huyện Tiên Lãng yêu cầu hai ông Hoan và Liêm trong thời gian bị đình chỉ chức vụ phải thực hiện kiểm điểm một cách nghiêm khắc với tinh thần cầu thị.

Hai ông Phạm Đăng Hoan và Lê Thanh Liêm bị đình chỉ chức vụ 2 ngày sau khi Thành uỷ và UBND TP Hải Phòng công bố các quyết định tạm đình chỉ chức vụ đối với ông Lê Văn Hiền — Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng và ông Nguyễn Văn Khanh, Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng.

Theo các quyết định có hiệu lực từ ngày 11-2 trên, ông Lê Văn Hiền bị đình chỉ chức vụ phó bí thư Đảng ủy và tạm đình chỉ chức vụ Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng trong 15 ngày; ông Nguyễn Văn Khanh bị tạm đình chỉ sinh hoạt Đảng và chức vụ Phó chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng trong 15 ngày để kiểm điểm trách nhiệm cá nhân trong vụ cưỡng chế, thu hồi đất sai trái đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn.

Tại buổi công bố các quyết định với hai ông Liêm và Khanh, Chủ tịch UBND TP Hải Phòng Dương Anh Điền cũng chỉ đạo UBND huyện Tiên Lãng phải thực hiện các thủ tục đình chỉ công tác với các ông Phạm Đăng Hoan và ông Lê Thanh Liêm để tổ chức kiểm điểm, xác định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân của xã Vinh Quang liên quan đến các vi phạm trong việc giao đất, thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất; có biện pháp xử lý theo thẩm quyền, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Những ngày qua, Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng đã liên tục triệu tập ông Phạm Đăng Hoan và ông Lê Thanh Liêm để điều tra, làm rõ trách nhiệm cá nhân của hai ông này sau khi ra quyết định khởi tố vụ án cố ý hủy hoại tài sản để điều tra vụ phá nhà ông Đoàn Văn Quý xảy ra vào ngày 6-1.

Thế Dũng-Mai Phương (Người Lao Động)

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Tổ chức phản động ‘Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn’ là ai?

Posted by hoangtran204 trên 11/02/2012

Lời tựa:

Ở Việt Nam, khi muốn chiếm đất đai của dân chúng, đất đai của chùa, hay của nhà thờ,  chính quyền trung ương và địa phương thường tìm cớ, hay các sơ hở của chủ đất đai và gán cho tội phản động. Muốn tìm ra chứng cớ, thường thường chính quyền theo dõi các hành vi của cá nhân ấy trong một thời gian dài, sau đó tổ chức các cuộc lục soát bố ráp, rồi tung hô lên báo chí và truyền hình là công an vừa tịch thu được các vũ khí, tiền ngoại quốc, điện đài, tài liệu, hình ảnh bất hợp pháp, và ghán ghép các chủ đất là phản động, tổ chức phản động đang có âm mưu cấu kết với người nước ngoài lật đổ chính quyền; hoặc có hành vi trái với pháp luật, vi phạm điều khoản nào đó…

Tài sản của chủ đất, ngay sau đó, sẽ bị chính quyền tịch thu, và quản lý. Quyền sở hữu được trao tay nhanh gọn và chính quyền không mất tiền để mua. Quá dễ khi chính quyền có súng ống và công an cùng quân đội ở trong tay. Vài ba năm sau, khi người dân địa phương tạm quên đi biến cố ấy, các giới chức cán bộ cao cấp tại địa phương và trung ương chia nhau hưởng phần khai thác và hưởng lợi từ các vụ tịch thu đất đai ấy. 

Bài bản này lập đi lập lại từ các cuộc đấu tố, cải cách ruộng đất hồi 1954, suốt cuộc chiến tranh VN kéo dài 20 năm, rồi trở nên rất phổ biến  sau năm 1975 ở miền Nam, và kéo dài cho đến nay. Hàng ngàn cơ sở bất động sản như: trường đại học, trung học, tiểu học, cô nhi viện, tu viện, thiền viện, đất đai của Công Giáo và Phật Giáo đã bị tịch thu, rồi giao cho chính quyền quản lý, và ít lâu sau các cán bộ đảng chia nhau chiếm dụng làm của riêng. Đó không phải là cướp thì còn gọi là gì? 

Điển hình là vụ bà Ba Sương dưới miền Tây là do bí thư thành phố và chủ tịch UBND tp Cần Thơ muốn chiếm 7000 hecta đất của nông trường Sông Hậu để bán cho các chủ đầu tư xây dựng. Vụ này đã và đang xảy ra ồn ào và kéo dài trong mấy năm qua; One Connection của Trần Huỳnh Duy Thức cũng bị các công ty viễn thông quốc doanh chiếm lấy thị phần của chủ đầu tư và gia đình sau khi ghán ép “tội có tư tưởng phản động” rồi bỏ tù chủ doanh nghiệp viễn thông internet nối kết này năm 2009; vụ Đoàn Văn Vươn đang xảy ra cũng là vì chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng và chủ tịch UBND xã Vinh Quang cùng các đảng viên cao cấp muốn chiếm đất đai của nông dân Đoàn Văn Vươn và đất đai của 260 chủ đất khác đang khai thác nuôi tôm, cá và đang làm ăn rất có nhiều lợi nhuận cao ở Hải Phòng.

►Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978

Mời các bạn đọc bài dưới đây, mà các chứng cớ do công an tạo ra để bắt giam các chủ đất.

Tổ chức phản động ‘Hội đồng công luật công án Bia Sơn’ là ai?

“…Khu du lịch này gồm 60 công trình kiến trúc lớn nhỏ, xây dựng rải rác trên các triền núi… Phải chăng đây mới là mục đích của vụ án này?…”


Núi Đá Bia, Đông Hòa – Phú YênChìm trong núi sự kiện của vụ thu hồi cưỡng chế đất không thành tại Tiên Lãng nên một tin tức khá quan trọng không được dư luận chú ý đó là vụ bắt giữ 9 thành viên của một ‘tổ chức phản động’ có tên là “Hội đồng công luật công án Bia Sơn’”.

Tìm trên Google thì đây là lần đầu tiên chúng ta nghe nói về tổ chức này và chỉ sau khi nghe tin họ đã bị bắt giữ bởi công an tỉnh Phú Yên với tội danh ‘âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân’. Theo báo Công an TPHCM thì tổ chức chính trị phản động có danh xưng “Hội đồng công luật công án Bia Sơn” do đối tượng Phan Văn Thu tức Trần Công (sinh năm 1948, quê ở xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, đăng ký hộ khẩu thường trú tổ 10, Liêm Trực, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định) cầm đầu. ‘Đây là đối tượng đã lập nên tổ chức “Ân đàn đại đạo”, núp dưới danh nghĩa tu hành để hoạt động tình báo, gián điệp. Từ năm 2004 đến năm 2011, Trần Công về Khu du lịch sinh thái Đá Bia (Hòa Xuân Nam, Đông Hòa) làm trung tâm hoạt động để bí mật phát triển tổ chức có danh xưng “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”, hoạt động dưới danh nghĩa “bất bạo động” với âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân’.

Rất buồn cười cho ‘tổ chức phản động’ này vì âm mưu tuy rất ghê gớm là ‘lật đổ chính quyền nhân dân’ nhưng thủ lĩnh Trần Công lại thu nạp thành viên bằng cách: ‘Một hình thức khác để lôi kéo, ru ngủ mọi người tham gia vào “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”, Trần Công đã tổ chức thuyết giảng, tuyên truyền “Cửu kinh Minh triết” với nhiều nội dung mơ hồ như: “Thống thức chân quang kinh”, “Hệ thống kinh quỹ bát đoạn”, “Chân tính ánh sáng bất đoạn sát na trong hệ thống Tam thiên Đại thiên thế giới”, “Nguyên lý pháp tính bất diệt” .v.v. Hàng ngày, buổi sáng từ 4 đến 5 giờ 30, buổi chiều từ 18 đến 21 giờ, Trần Công trực tiếp thuyết giảng tại Khu nhà hàng Kim Việt để lôi kéo mọi người tham gia’. Không hề thấy các thành viên học tập gì về chính trị hay sử dụng vũ khí gì cả, sao lạ vậy ta?

Một điều nực cười hơn nữa là ‘tổ chức phản động’ này tuy ‘hoạt động bí mật’ nhưng lại thành lập một khu du lịch rộng lớn là “Khu du lịch sinh thái Đá Bia – chi nhánh Công ty TNHH Quỳnh Long có tổng diện tích 48,1ha được bao bọc bởi rừng cấm Đèo Cả, có địa hình phức tạp. Từ trên cao nhìn xuống khu du lịch không khác gì lòng chảo Điện Biên. Bên trong khuôn viên là quần thể với trên 60 công trình kiến trúc được xây dựng rải rác trên các triền núi. Để tạo vỏ bọc trá hình, bọn chúng đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc kiên cố với những cái tên khá mỹ miều như Động Bích Lạp, Động Tam Thanh, Động Đại Bi, Ngọc Động, Thạch Linh cung, nhà hàng Hoàng Trang… Tại mỗi công trình này, các đối tượng vừa sử dụng làm nơi ở, vừa lấy đó làm nơi làm việc, tổ chức các hoạt động và cất giữ tài liệu’, vẫn theo báo Công An TPHCM.

Sau khi tổ chức này bị bắt giữ thì trong buổi họp báo ngày 6/2 thiếu tướng Phạm Văn Hóa, Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên cho biết công an tỉnh đã ra quyết định khởi tố vụ án ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của tổ chức, công dân’ đối với nhóm của Trần Công (Phan Văn Thu).

Ông Hóa cho biết ‘qua khám xét, Công an Phú Yên đã thu giữ hàng trăm tập tài liệu thể hiện nội dung cương lĩnh hoạt động của tổ chức, 19 kíp nổ, 10 bộ đàm, 1 ống nhòm, trên 12.000USD, gần 190 triệu đồng tiền Việt Nam và một số phương tiện hoạt động khác’.

Đằng sau những lời lẽ buộc tội nặng nề của chính quyền Việt Nam dành cho tổ chức này và sau khi gạn lọc những thông tin trên báo chí chính thống chúng ta có thể thấy được những gì đằng sau vụ án?

Đầu tiên, dễ nhận thấy nhất là tổ chức này không phải là một tổ chức chính trị mà chỉ là một ‘giáo phái tu hành’ hay đơn giản là một tổ chức dân sự không được chính quyền thừa nhận. Nếu là một tổ chính trị thì bắt buộc phải có danh xưng, thủ lĩnh, cương lĩnh, phải tuyên truyền rộng rãi trên mạng internet… Nếu là một tổ chức vũ trang thì không thể nào chỉ có ‘19 kíp nổ’ (có thể để dùng trong việc xây dựng trên núi). Chứng cớ buộc tội của công an quá yếu và không thuyết phục, với ‘10 bộ đàm, 1 ống nhòm, trên 12.000USD, gần 190 triệu đồng tiền Việt Nam’ thì rất nhiều người Việt Nam cũng có thể cùng chung tội trạng. ‘Hàng trăm tập tài liệu’ mà công an thu được là gì? Nội dung ra sao? Cần công bố rõ ràng chứ không thể mù mờ như thế?

Thứ hai, tổ chức này hoàn toàn hoạt động công khai, họ có cả một khu du lịch rộng lớn với 48 héc-ta, lớn hơn cả khu đầm của anh Đoàn Văn Vươn 8 héc-ta. Khu du lịch này gồm 60 công trình kiến trúc lớn nhỏ, xây dựng rải rác trên các triền núi… Phải chăng đây mới là mục đích của vụ án này?

Thứ ba, vụ án này phản ánh rằng quyền lực ngày càng lớn của Bộ Công an Việt Nam cũng như thái độ bất khoan dung của chính quyền Việt Nam đối với các cá nhân và tổ chức không cùng quan điểm, đúng như nhận xét của giáo sư Adam Fforde từ Đại học Victoria ở Melbourne, khi ông cho rằng ‘việc loan báo vụ bắt giữ cho thấy một cuộc khủng hoảng sâu sắc ở Việt Nam vì chính quyền không thể thay đổi cung cách lãnh đạo’. Xem bài “Tiềm ẩn bất ổn sau vụ Phú Yên” của BBC.

Hệ quả sau vụ này là sự bất ổn ở Phú Yên sẽ gia tăng. Phát súng của Đoàn Văn Vươn đã làm thay đổi hoàn toàn ý thức phản kháng của người dân Việt Nam đối với đảng cộng sản Việt Nam. Người dân đã chuyển đổi thái độ từ nhẫn nhục, cam chịu sang việc sẵn sàng cầm vũ khí để chống lại chính quyền.

Việc chính quyền Việt Nam và tỉnh Phú Yên cần làm ngay để tránh những hậu quả đáng tiếc sau này như vụ án Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng là phải công khai minh bạch trong quá trình điều tra, xét xử các thành viên của tổ chức ‘Hội đồng công luật công án Bia Sơn’. Hãy để những người này được tiếp xúc với các luật sư để các luật sư tư vấn luật pháp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ và cho phép họ được liên lạc với gia đình, tuyệt đối tránh việc bức cung và dùng nhục hình với họ trong lúc bị giam cầm để buộc họ phải nhận tội…

Đã đến lúc chính quyền Việt Nam cần thay đổi và hủy bỏ những điều luật mơ hồ và trái với hiến pháp (ngay cả với Hiến pháp Việt Nam) như điều 88: ‘Tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN’ hay điều 79: ‘Âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng’ trong Bộ luật Hình sự nhằm bịt miệng mọi tiếng nói bất đồng của người dân đối với chính quyền.

Không thể buộc tội ‘lật đổ chính quyền’ với một tổ chức hoạt động ‘bất bạo động’ như ‘Hội đồng công luật công án Bia Sơn’.

Việt Hoàng

Tiềm ẩn bất ổn đằng sau vụ Phú Yên

BBC – thứ sáu, 10 tháng 2, 2012

Núa Đá Bia là nơi Hội đồng Bia Sơn hoạt động trong bảy năm quaNúa Đá Bia là nơi Hội đồng Bia Sơn hoạt động trong bảy năm quaViệc bắt giữ 10 người tại tỉnh Phú Yên đầu tháng Hai, được nói thuộc tổ chức “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”, đã gây nhiều chú ý cho giới quan sát.Công an Việt Nam nói đã thu giữ “hàng trăm tập tài liệu cương lĩnh phản động”, cùng kíp nổ, bộ đàm, tiền bạc.Phát biểu trên Radio Australia, Bấm giáo sư Adam Fforde, từ Đại học Victoria ở Melbourne, cho rằng việc loan báo vụ bắt giữ cho thấy một cuộc khủng hoảng sâu sắc ở Việt Nam vì chính quyền không thể thay đổi cung cách lãnh đạo.Trong khi đó, ông Phil Robertson, phó giám đốc ban châu Á của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, nói với BBC rằng bộ máy an ninh “đang áp dụng tối đa các biện pháp nhằm ngăn cản khả năng nổi dậy có thể xảy ra trong dân chúng”.Phil Robertson: Theo như thông tin chúng tôi nắm được, có ít nhất 33 trường hợp bị xử tù, phần lớn vì vi phạm các điều luật về an ninh quốc gia như điều 88 Tuyên truyền chống nhà nước, điều 79 Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền hay điều 258 Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước.Chúng tôi vẫn chưa biết nhóm hoạt động gồm chín người vừa bị bắt gần đây sẽ bị truy tố như thế nào. Chúng tôi đang chờ đợi thông báo chính thức từ phía chính quyền Việt Nam trước những vấn đề liên quan đến việc tổ chức này làm gì, bị cáo buộc ra sao.

Chính phủ loại trừ bất cứ các tổ chức nào mà họ cho là có thể gây đe dọa. Họ buộc tội bằng các quy định luật pháp rất mơ hồ và quá chung chung giống như tuyên truyền chống nhà nước hay hoạt động muốn lật đổ chính quyền.”

Phil Robertson

BBC:Ông có ngạc nhiên trước việc xuất hiện một tổ chức gọi là “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”?

Tôi không hề ngạc nhiên trước những kiểu bắt giữ như thế này vẫn tiếp diễn thường xuyên ở Việt Nam. Nhưng tất nhiên, đối với những người giống như tôi làm việc từ bên ngoài Việt Nam thì việc khó khăn là lấy được những thông tin đáng tin cậy để có thể đưa ra bình luận hay bất cứ xác nhận gì.

Bây giờ chúng tôi đang tiến hành điều tra, thu thập thông tin về trường hợp này. Đây cũng là công việc mà chúng tôi phải làm mỗi khi có các trường hợp như thế xảy ra.

Cảm nhận của chúng tôi là không hề ngạc nhiên trước hành động theo dõi của chính phủ đối với những nhóm và tổ chức kiểu này vì họ nhìn thấy ở đâu cũng là kẻ thù.

Thực tế là mọi người chỉ đơn giản thực thi nhân quyền, thực thi quyền tự do ngôn luận, nhóm họp và lập hội. Họ chỉ muốn tiếng nói của họ được lắng nghe và trong một số trường hợp những điều họ nói bị chính quyền cho rằng nó ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước.

Tôi nghĩ chính phủ Việt Nam nên tự cảm thấy an tâm hơn, nên sẵn lòng cho phép người dân thực thi những quyền đó như quyền tự do ngôn luận, nhóm họp và lập hội.

Tôi nghĩ rằng chính quyền nên lập tức cho phép nhóm những người này có cố vấn pháp lý và luật sư cũng như tiếp xúc gia đình họ. Tuy nhiên, thật không may các hình thức tra tấn và lạm quyền được đã được áp dụng chung ở Việt Nam cho những ai bị giam giữ chưa xét xử vì cáo buộc trước tội danh chính trị như thế này.

Chúng tôi cũng quan ngại công an ở Phú Yên có thể lạm dụng quyền lực để ép họ nhận tội và lạm dụng các biện pháp khác đối với những người bị tạm giam chưa xét xử.

Chúng tôi cho rằng cộng đồng quốc tế nên yêu cầu được tiếp cận ngay lập tức với những người này, và giới ngoại giao ở Hà Nội nên gây áp lực để yêu cầu công khai thông tin, danh tính cũng như nơi giam giữ họ hiện nay và đảm bảo rằng họ sẽ không phải chịu đựng bất cứ hình thức tra tấn nào.

BBC:Thưa ông, có ý kiến cho rằng những vụ bắt giữ như thế này là chỉ dấu cho thấy căng thẳng đang gia tăng tại Việt Nam. Là một người theo dõi thường xuyên tình hình nhân quyền tại quốc gia này, xin ông cho biết suy nghĩ về ý kiến này?

Hiện nay, chính phủ Việt Nam tập trung vào sự chống đối ở mọi dạng và mọi tổ chức. Chính quyền tăng cường sự theo dõi không chỉ trên mạng mà tất nhiên cả các hình thức khác.

Tôi nghĩ rằng chính phủ loại trừ bất cứ các tổ chức nào mà họ cho là có thể gây đe dọa. Họ buộc tội bằng các quy định luật pháp rất mơ hồ và quá chung chung giống như tuyên truyền chống nhà nước hay hoạt động muốn lật đổ chính quyền.

Những điều luật như thế này cho phép giới chức có thể có thêm thời gian thư thả điều tra, và tạm giam họ tại những nơi mà nghiên cứu của chúng tôi cho thấy họ thường bị tra tấn để lấy lời khai theo đúng những gì mà chính quyền cáo buộc họ.

BBC:Sự cứng rắn của chính phủ liệu có thể hiện một sự khủng hoảng chính trị bắt nguồn từ các vấn đề về nhân quyền ở Việt Nam?

Chúng tôi đánh giá trước bối cảnh thông tin tự do, việc sử dụng ngày càng tăng các mạng xã hội đã khiến chính quyền Việt Nam càng cảm thấy bị đe dọa nhiều hơn. Bởi vì những người bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động ngày càng trở nên có dũng khí hơn trong việc chia sẻ thông tin ra bên ngoài.

Sự kết nối của mạng internet cũng cho phép mọi người có thể trao đổi các thông điệp và các vấn đề khác nhau như những người chống tham nhũng có thể trao đổi với các nhà vận động quyền đất đai, hay với những nhà hoạt động dân chủ và tự do tôn giáo.

Hiện tượng giao thoa thông tin này đang xảy ra trên mạng internet vốn nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ và bây giờ chắc chắn khiến chính phủ cảm thấy lo ngại.

Họ sẽ quan tâm chú ý đến những mảng thông tin nằm ngoài tầm kiểm soát của họ. Nỗi sợ về ngọn đuốc cháy trên khắp khu vực Trung Đông và về Mùa Xuân Ả Rập. Thậm chí, một vài nhà hoạt động cũng đề cập đến cách mạng hoa nhài ở Việt Nam.

Và hiển nhiên rằng điều này đã tạo ra mối quan ngại lớn trong bộ máy an ninh rằng phải bảo đảm để không có gì nằm ngoài quyền kiểm soát của họ.

Họ đang áp dụng tối đa các biện pháp nhằm ngăn cản khả năng nổi dậy có thể xảy ra trong dân chúng.

Biểu tình chống Trung Quốc năm 2011 nhanh chóng bị chính quyền dập tắt

Ví dụ là các cuộc biểu tình chống Trung Quốc. Khi ở thời điểm bắt đầu, người xuống đường nói những điều đúng ý chính phủ, như việc chính phủ không hài lòng trước hành động của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Họ đã cho phép những cuộc biểu tình này diễn ra trong vòng một hay hai tuần. Tuy nhiên, không lâu sau đó chính phủ tiến hành ngay các biện pháp trấn áp mạnh tay, một phần bởi vì họ thấy những cuộc biểu tình tiềm ẩn khả năng vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

BBC:Kinh tế Việt Nam nói chung được dự đoán sẽ đi lên. Vậy, ông có nghĩ sẽ là không bình thường nếu cho rằng trong khi kinh tế đang cải thiện thì tình hình chính trị lại đi vào lối mòn?

Đảng cộng sản Việt Nam không đưa ra bất cứ giải pháp mở nào đối với những nhóm hay tổ chức khác mà có chính kiến chống lại nhà cầm quyền.

Quan điểm của chính phủ Việt Nam về thể chế chính trị đa nguyên là cuộc chơi không tồn tại vì nếu họ cho phép bất kỳ ai bày tỏ quan điểm chống lại chính quyền thì bằng cách này hay cách khác họ nghĩ điều này sẽ xóa bỏ chính thể.

Đây là cách nghĩ vô cùng hạn chế về những quan điểm phản kháng chính trị. Đồng thời, nó phản ánh rằng Việt Nam không hề thực thi hay tôn trọng nhân quyền bất chấp thực tế rằng Việt Nam đã thông qua một thỏa thuận quốc tế về các điều khoản cốt lõi của nhân quyền.

Đối với chính phủ Việt Nam, thỏa thuận này chỉ như là mảnh giấy mà họ ký với mục đích nhằm đánh lạc hướng cộng đồng quốc tế.

Chính quyền Việt Nam về nguyên tắc cho rằng nhân quyền có nghĩa là lạm dụng đến quyền cai trị của họ.

BBC:Nhìn sâu hơn, theo ông, những ảnh hưởng chính trong cấu trúc chính trị ở Việt Nam là gì?

Một điều rõ ràng là Bộ Công an đang ngày càng có thế lực ở Việt Nam, họ có mối quan hệ cộng sinh với đảng Cộng sản Việt Nam và với các nhà lãnh đạo như thủ tướng chính phủ.

Bằng việc tạo ra kẻ thù như tuyên bố rằng những người vừa bị bắt đang cố lật đổ chính quyền Việt Nam, điều này giúp họ có lý do để tăng cường quyền lực.

Một phần của điều này còn là việc vi phạm nhân quyền, vi phạm các quyền tự do ngôn luận, cấm tham gia vào các nhóm và tổ chức mà người dân mong muốn.

Những động thái này sẽ được bộ công an nhìn nhận là chống lại chính quyền. Và đó là lý do tại sao, họ dùng đến những tội an ninh như điều khoản tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích nhà nước,v.v.

Các luật lệ này quá chung chung và nhiều lỗ hổng trong việc định nghĩa để được sử dụng dưới bất cứ hình thức nào mà bộ công an muốn biện hộ cho việc xử tù của họ.

BBC:Ông nghĩ gì trước ý kiến một ngày nào đó Việt Nam sẽ nhìn thấy sự hình thành của một Mùa xuân Ả Rập?

Thực sự tôi không thể nói trước điều gì. Chắc chắn có lo sợ như vậy trong tâm khảm những người đứng đầu bộ công an và bộ chính trị, tin rằng đang tồn tại một nhóm hay một tổ chức nào đó muốn có một Mùa xuân Ả Rập ở Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào như vậy. Chúng tôi chỉ nhận thấy những công dân Việt Nam bình thường yêu cầu quyền lợi của mình như việc dân chúng muốn kiềm chế tệ nạn tham nhũng, yêu cầu được viết những gì họ muốn trên các trang blog cá nhân miễn là không có chủ trương gây bạo lực.

Như vậy, rõ ràng là chính phủ đã đánh đồng những người đã ôn hòa thể hiện sự bất đồng chính kiến với hiện tượng Mùa xuân Ả Rập.

Thay vì nên được ghi nhận như là một quốc gia tôn trọng nhân quyền, giới chức đã dùng các biện pháp độc đoán nhất nhằm chống lại các hình thức chống đối chính phủ. Họ đã coi đây là mối nguy hiểm đe dọa đến quyền lực của họ.

Lại nói về trường hợp bắt giữ gần đây ở Phú Yên, tôi nhắc lại, chính phủ nên cho phép những người này được tiếp xúc với gia đình luật sư và đảm bảo rằng họ không bị đối xử ngược đãi trong trại giam.

————————————————

*Việc sử dụng máy bộ đàm: Nhiều vùng không có cột thu-phát tín hiệu (antenna), không có sóng, thì không thể dùng điện thoại di động. Các vùng ít dân cư, đồi núi, làng mạc, xa các thị trấn thường không có phủ sóng điện thoại di động, nên không thể dùng điện thoại di động (cell phone). Tổ chức tôn giáo Hội đồng Công Luật Bia Sơn xây các nơi tụ tập nằm rải rác trên diện tích 48 mẫu đất thì phải dùng máy bộ đàm để liên lạc là chuyện hết sức hợp lý vì không phải trả tiền điện thoại hàng tháng, không cần mua sim-cạc (SIM card), không cần nạp tiền vào điện thoại.

2 máy bộ đàm giá rất rẻ, giá chừng 40-60 đô la, bán tự do trong các cửa hàng như Radio Shack, Best Buy, các cửa hàng đồ chơi trẻ em, các siêu thị. Máy bộ đàm liên lạc trong ngắn 5-7km. 10 hay 15 năm trước, khi điện thoại di động chưa phổ biến, các gia đình thường mua máy bộ đàm để cho con cái chơi, khi leo núi, khi đi các vùng du lịch giải trí, khi đi chợ trời…Đặc biệt các kho bãi, và các kho trong các cửa hàng như Walt-Mart, Costco, các kho chứa hàng…hiện nay vẫn dùng máy bộ đàm để liên lạc giữa các công nhân kho bãi. Thử tưởng tượng chỉ cần bỏ ra vài chục đô la để mua 1 cặp máy bộ đàm cho công nhân sử dụng khi làm việc, và không cần trả tiền phone trong 1 năm thì tiết kiệm được cả ngàn đô la.

Công an thu máy bộ đàm và coi đây là bằng chứng nhằm lật đổ chính quyền thì đúng là vu oan giá họa để cướp bất động sản 48 mẫu đất của Hội Đồng Công Luật Bia Sơn. Nghe đâu vùng này đã trở thành khu du lịch, thu hút nhiều du khách, và giá cả bất động sản ở đây trở nên có giá. 48000 mét vuông đất, cọng thêm 10 mấy tòa nhà, giá khống dưới vài triệu đô la. Chính quyền huyện và tỉnh cướp được đất đai này và chia nhau cũng là chuyện dễ hiểu.
————————————————

Dissident arrests highlight rising tension in Vietnam

Updated February 9, 2012

The arrest of nine dissidents in Vietnam this week has put the spotlight on rising tensions in the country.

Senior police say the nine belonged to an organisation which operated “non-violently”, but aimed to topple the current administration.

Professor Adam Fforde, from Victoria University in Melbourne, says the public announcement of the arrests spotlights a deep-rooted crisis in Vietnam which is marked by the inability of the regime to change the way it leads the country.

Presenter: Alexandra Wake
Speaker: Professor Adam Fforde, Professorial Fellow at the Centre for Strategic Economic Studies at Victoria University

FFORDE: Vietnam is transitioning to middle income status and a lot of experience suggests that as that happens countries have to improve the efficiencies of their economies and they have to have better public health and better public education and so on and so forth. All these areas are things the government has been trying to find solutions and has so far singularly failed to do so.

WAKE: It does seem a little strange to suggest that when prosperity is improving, that the political situation gets so much worse.

FFORDE: It comes down to the relationship between rulers and those who are governed. The Vietnamese and the Vietnamese Communist party. I visit the place very often, I speak Vietnamese, the change in national mood over the last couple of years is enormous and the degree of contempt for the top rulers and the system as a whole is extraordinary.

WAKE: What are the main issues with the politburo structure?

FFORDE: Well the political institutions in Vietnam are what was set up to stop Stalinism happening in the Soviet Union so within the politburo and within the party structure you have structural representation of various blocks like the state, state businesses, and so on and so forth and that was designed to spread power and to prevent their being a Stalin and that hasn’t change. So with a market economy and with the big changes in the underlying balance sin the system you find those don’t work anymore so you find very strong state businesses bribing their way into this that and the other and generally the system can’t maintain a coherence and so you have a crisis of authority and you find the security forces doing the kinds of things you are talking about but what is interesting about this is that Vietnamese politics is very theatrical. So the details of the rest of the dissidents show that there was a lot of weaponry, radios, and organisation and so on and so forth and the fact. That that should come out now suggests there is much more of this going on that is possibly well known. That there is a lot more organised opposition than we know of.

WAKE: So what do you suggest is going to go on in the next 12 months?

FFORDE: God knows. One of the elements of this is that it is all very strange. This is the Vietnamese communist party who lead the country against the French, who lead the country against the Americans and managed to cope with the collapse of the Soviet Union. So they are all in very uncharted waters so the nature of the beast, the nature of the political crisis, requires some way of the political leadership or a political leadership can restore some political authority which I means some form of democratisation which means allowing some effective politicians who can command that authority to spread their wings, which hasn’t happened yet. One of the things that are striking about the situation, which I said at the beginning, is that inertia, things aren’t changing.

WAKE: Do you think that Vietnam will see its own form of an Arab Spring?

FFORDE: I think we are probably seeing that, in a particularly peculiar Vietnamese way. It is now an open society, people are organised for themselves in all sorts of way, and they come to Australia to enjoy what we have here. People of Vietnamese origin go back to Vietnam and in that situation there really has to be a big opening up of Oxygen, of democratisation, whether the people in the particular bits of the security apparatus that have started to get a bit violent continue to be violent or not I think is unlikely not least because ordinary Vietnamese people will know where these people live so they are running a lot of risks. It is not the same kind of institutionalised violence against the population like you saw in Egypt where the security of people are protected and they have their houses in compounds and so on and so forth so I don’t think it can go too far.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Đảng CSVN | 4 Comments »

►Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 1)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Lời tựa:

Đây là một bài phỏng vấn rất thú vị, và đáng đọc. Các thành viên của diễn đàn X-cafevn đặt nhiều câu hỏi rất hay, và ông André Menras Hồ Cương Quyết trả lời các câu hỏi một cách thẳng thẳng, không vòng vo, và có nhiều chi tiết rất đáng chú ý.

Ông HCQ đã mô tả nhiều chi tiết về cuộc sống của người dân ở Quãng Ngải và ở miền Nam VN  trong thời gian 1960s, 1970s,  sau năm 1975 và mấy năm qua. Đặc biệt là ở Đà Nẵng và Quãng Nam “Ngày càng nhiều nhà đầu tư vào mua bãi biển. Các khu nghỉ mát khổng lồ hình thành trên bãi biển và khu vực xung quanh. Các cư dân và ngư dân bị cấm vào. Từ Sơn Trà đến Hội An là một chuỗi các bức tường, dây kẽm gai, tháp canh. Tôi đã thấy trên bức tường, dài hàng ki lô mét có ghi các ký tự Trung Quốc. Không gian để có thể thả neo cho các ngư dân càng ngày càng giảm. Họ bị đẩy ra xa bãi biển bởi những con “cá mập” bất động sản…Trong khi đó, tàu đánh cá Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều ngay gần bờ biển Việt Nam. Thời gian gần đây, những tàu này được nhìn thấy chỉ cách Lý Sơn khoảng 20 hải lý.”

“Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!””.  Mời các bạn thưởng thức. 

Phần Giới thiệu

Người giới thiệu: thành viên oldmovie13

Cách đây 40 năm, khi còn là một đoàn viên “Thanh niên Lao động Việt Nam”, tôi đã đuợc nghe về chuyện hai anh André Menras và Jean-Piere Debris bị chính quyền Miền Nam bắt giam về tội treo cờ Mặt trận Dân Tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam tại Sài Gòn. Khi đó tôi thấy rất tự hào là cuộc cách mạng Việt Nam đã lôi kéo đuợc các tầng lớp trí thức văn nghệ sỹ phương Tây cùng tham gia. Đối với chúng tôi khi đó, hai anh thanh niên Pháp này cũng như Norman Morrison, Jean Fonda, Joan Baez, đều đang hành động theo tiếng gọi của “Lương tâm thời đại”, một việc làm bình thường, không thấm gì so với xuơng máu của hàng triệu thanh niên Việt Nam đã ngã xuống vì sự nghiệp “Giải phóng Dân tộc” ,“Giải phóng Nhân loại”.

Gần 10 năm sau ngày thống nhât đất nuớc, tôi có tình cờ gặp Jean-Piere Debris (bạn anh André, tên Việt là Hồ Tất Thắng) tại một khu nhà tập thể nhỏ ở phố Quan Thánh, Hà Nội. Jean-Pierre yêu một cô gái Việt và trở thành chàng rể Hà Nội. Khi đó nhận thức của tôi về cuộc chiến đã thay đổi. Tôi có hỏi Jean-Pierre: Điều gì đã khiến các anh tự từ bỏ cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc ở xứ sở anh để sang đây, chấp nhận hy sinh, đấu tranh một cho dân tộc khác trong cuộc chiến của họ.

Đáp lại câu hỏi của tôi, anh cười và nhìn về phía cô vợ Việt để nói rằng: Vì anh yêu con người Việt Nam!

Vào thời điểm đó, nói chuyện với nguời ngoại quốc, nhất là nói về chính trị với nguời Tây Âu, là một trò chơi nguy hiểm hơn là đòi “Đa Đảng, Đa Nguyên” hôm nay. Do vậy tôi đành thôi và chỉ coi các anh cũng y như tôi, đã từng mơ về một xã hội vĩ đại, không có “nguời bóc lột người”.

25.7.1970 André Menras, khi đó 24 tuổi, giáo viên pháp ngữ tại Sài Gòn, đã cùng bạn là Jean-Piere Debris leo lên tựợng “Thủy quân lục chiến” truớc cửa Hạ Nghị Viện để treo lá cờ của MTDTGP Miền Nam Việt nam và rải 6.000 tờ truyền chống cuộc chiến tranh Việt Nam. Hai anh bị bắt đi tù đến năm 1973 thì đuợc thả  và trục xuất về Pháp.

Bẵng đi một thời gian dài, từ hai ba năm nay, tôi lại đuợc nghe về André Menras. Anh đã đuợc Chủ tich nước Nguyễn Minh Triết trao tặng quốc tịch Việt Nam, với một cái tên Việt là Hồ Cương Quyết, một cái tên rất cách mạng, đầy tính đảng.

Trong đầu tôi lại xuất hiện câu hỏi: Tại sao họ, những người như André lại đến với đất nuớc này theo kiểu đó, hơn nữa lại đúng vào lúc mà cái lý tưởng của Xã hội Chủ nghĩa đã bị thay thế bằng một Chủ nghĩa Tư bản rừng rú, vào lúc mà nguời nông dân Việt Nam đang bị cướp đi những thước đất cuối cùng, vào lúc tài nguyên của đất nuớc đang bị bòn rút để đầu tư vào các Resort, các sân Golf, trong khi bệnh viện và truờng học thì xuông cấp đến thảm hại, vào lúc mà những nguời con yêu nuớc như Lê Thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức… đang bị bức hại.

Nhiều người đã đặt ra câu hỏi sao anh lại lấy tên Cương Quyết với họ của cụ Hồ. Sau này André cho tôi biết, “Anh không bao giờ dám lấy họ Hồ, cái tên này là anh em tù chính trị tại khám Chí Hòa tặng cho anh, đặc biệt giáo sư Nguyễn Văn Quôi. Anh Quôi vượt ngục thành công trong chuyến đày ra Côn Đảo năm 1971, rồi năm 1972 anh Quôi hi sinh tại Củ Chi vì bom B52. Khi đuợc nhập quôc tịch Việt, anh đã quyết định giữ cái tên Hồ Cuơng Quyết để tưởng nhớ đến các đồng đội của anh đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vì độc lập tự do của dân tộc.”

Rồi những suy nghĩ của tôi về André cũng thay đổi, khi tôi thấy anh cũng đang đau nỗi đau, đang thổn thức nỗi buồn của của hàng triệu nguời Việt. Hồ Cuơng Quyết đã chủ động tham gia vào mọi phong trào vận động xã hội. Bằng một lối viết rất Việt và cũng rất Pháp, anh gửi gắm đến các đại biểu đại hội đảng CSVN khóa 11:

“Vài ba ngày nữa, các nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam sẽ chia nhau những vị trí cầm đầu mới của Đảng. Người ta thường nói rằng cái mới bao giờ cũng đến từ cái cũ. Nhưng Lịch sử lại cho thấy rằng cái cũ bao giờ cũng có xu hướng bóp nghẹt cái mới. Giời đất ạ, xét theo góc độ này, sự thay đổi sắp tới không hề là một ngoại lệ của quy tắc chung. “Ván đã đóng thuyền rồi”. [Nguyên văn: les carottes sont cuites, thành ngữ Pháp nghĩa đen là “Cà rốt ninh nhừ rồi” (còn đổi món sao được ?) – Người dịch]. ………Trước thềm đại hội XI ĐCSVN “người lãnh đạo” dân tộc và quốc gia, các nhà lãnh đạo cao nhất và những đại biểu của Đảng họp lại liệu có thấm nhuần những điều hiển nhiên kia và gánh nặng trên vai họ không? Liệu họ có cảm thấy họ là những người thừa kế thực sự và trung thực của quá khứ? Liệu họ có nhận rõ thực tại là thế nào không? Liệu họ có lường được mối hiểm nguy đè nặng lên tương lai đất nước không? Nếu câu trả lời là “Có”, thì liệu họ có dám công khai xem xét các vấn đề nằm ngoài các công thức đạo đức giả vẫn dùng? Liệu họ có quyết định không chần chừ nữa tạo ra những điều kiện mới mang tính hiến định và tạo ra những điều kiện cụ thể và dân chủ nhằm kết chặt họ với nhân dân, mà nếu thiếu điều đó thì không thể bảo vệ được quốc gia? Nếu câu trả lời là “Không”, họ sẽ chịu thua hay là trong cái bong bóng của mình và kệ cho những đòn vọt họ vẫn sẽ mơ tưởng đến “tình anh em cộng sản” đã từ lâu tan biến. Trong vài ngày nữa, ta sẽ bắt đầu nghe thấy câu trả lời. Mà chẳng quá mộng mơ.” (Nguồn Boxitvn)

Anh tham gia các phong trào: phản biện dự án Bô Xit Tây Nguyên, đòi tự do cho công dân Cù Huy Hà Vũ. Anh tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Truờng Sa. Bị ngăn cản, anh thẳng thắn trao đổi với những nguời lãnh đạo TP HCM:

“Trong bối cảnh ấy, tôi lại càng sửng sốt khi thấy chính quyền tìm cách giảm nhẹ trách nhiệm của Trung Quốc. Hãy nói chuyện “tàu lạ” với ngư dân Trung Bộ, họ sẽ sửa ngay “tàu Trung Quốc”. Họ chẳng “lạ” gì, sự thật rành rành đối với họ. Tại sao phải giấu cả tên bọn hung thủ mà không ai không biết? Tại sao còn bắt cả báo chí phải dùng chữ “lạ” ở đây? Cái gì hại đến khả năng tự vệ là có hại cho đất nước“ (Nguồn: Hãy lên tiếng dõng dạc và minh bạch.)

Anh bỏ tiền túi, lăn lộn đến vùng biển đảo để giúp đỡ bà con ngư dân. Anh đã tìm mọi cách vận động để làm ra bộ phim “Nỗi Đau Mất Mát” nhằm đánh động dư luận về tình cảnh khốn khó cũng như tinh thần kiên cuờng bảo vệ chủ quyền của bà con ngư dân miền Trung. Thật trớ trêu, bộ phim do chính Chủ tịch Nguyễn Minh Triết ủng hộ và đài truyền hình TPHCM giúp đỡ lại bị cấm lưu hành tại Việt Nam. Tôi biết André rất bị “sốc”, vì anh đến với Việt Nam, đến với bà con ngư dân vì một tình yêu chân thật, không hề mang một mục đich chính trị nào.

Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!”

Tôi đã hiểu anh hơn, cũng có thể vì anh và tôi gần như cùng thế hệ. Tuy nhiên không phải tất cả các câu hỏi đều đã đuợc giải đáp, nhất là với các bạn trẻ sinh ra sau chiến tranh. Do vậy tôi rất ủng hộ ý kiến của các bạn trong ban điều hành X-cafe, khi muốn mời anh André Menras Hồ Cuơng Quyết vào thảo luận với diễn đàn về những gì anh đã cảm nhận đuợc qua các chuyến đi ở Việt Nam, về đất nuớc, con nguời, về những nguy cơ và vận hội của dân tộc Việt. Là một trí thức phuơng Tây, đã lăn lộn ở Việt Nam qua cả hai chế độ, chắc chắn anh có cái nhìn rất thú vị.

Tôi thật không ngờ, mặc dù rất bận rộn về việc chuẩn bị mang bộ phim “Nỗi Đau Mất Mát“ về chiếu tại Pháp và châu Âu, anh vẫn vui vẻ nhận lời tham gia đối thoại với diễn đàn. Anh André có thể hiểu hết các câu hỏi bằng tiếng Việt, nhưng anh thuờng viết tiếng Việt không dấu. Do vậy ban biên tập X-Cafevn sẽ giúp anh trong việc chỉnh sửa các câu trả lời và cả phiên dịch ra tiếng Việt, trong truờng hợp anh André viết băng tiếng Pháp cho thoát hết ý. Anh André hoàn toàn có quyền sửa online các lỗi dịch, nếu anh phát hiện ra. Nỗi quan tâm lớn nhất của anh André hiện nay là giúp đỡ bà con ngư dân miền Trung đánh cá ở Hoàng Sa, là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia. Theo anh, thông qua tình yêu nuớc, những vấn đề về dân chủ, về hòa giải dân tộc, tiến bộ xã hội sẽ có những đáp số chung. Do vậy anh cũng rất mong chúng ta tập trung trao đổi về đề tài này.

Tôi cũng mong muốn các thành viên diễn đàn đón tiếp anh André với tinh thần mến khách và thật sự tôn trọng anh, một khách mời của tất cả chúng ta.

Anh André cũng sẵn sàng đem bộ phim “Nỗi đau mất mát” của mình đến các thành phố Châu Âu để chiếu và quyên góp ủng hộ ngư dân miền Trung. Bạn nào có khả năng tổ chức các buổi chiếu phim như vậy có thể liên hệ luôn với anh qua diễn đàn này hoăc qua http://www.facebook.com/hocuongquyet

Xin cảm ơn anh André và các bạn.

———————————

Thành viên và khách mời có thể tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây

****************************************************

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn.

Thành viên tim hiểu hỏi:

Chào ông André Menras HCQ, trước hết cám ơn ông đã nhận lời tham gia cuộc trò chuyện này cùng chúng tôi.

Xin được gởi đến ông vài câu hỏi.

1. Ông có biết hoặc có thu lượm hình ảnh, tư liệu nào về cuộc sống của người dân ở các đảo, trong bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam – Nỗi đau mất mát”, thời kỳ trước 75 không?

2. Trong phim tôi thấy ông có nhắc đến những lần thảm sát tại nơi ông ghé thăm, nhưng ngoài điều ấy ra tôi không thấy ông mô tả cuộc sống ngư dân với biển thời gian ấy. Vì sao?

3. Ông có thể mô tả nỗi đau/ cú shock của ông (nếu có) sau việc bộ phim của ông không được chiếu tại VN không? Vì sao ông cảm thấy đau/ hay shock ?

Cám ơn ông
Tim hiểu

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1) Je suis désolé, j’ignore comment vivaient ces pêcheurs avant 1975. Je suis simplement allé une fois en mer en 1969, de Da Nang où j’enseignais le Français à Saigon avec une chalutier de pêche. Cette expédition de 4 jours le long de la côte m’a montré que les patrouilleurs américains étaient bien présents dans l’espace maritime côtier, que les contrôles étaient fréquents et assez tendus. Par contre, fait étonnant, on ne m’a jamais demandé mon identité. Pour revenir aux pêcheurs , je peux dire qu’en ce temps là, leurs activités étaient sous haute surveillance.

2) Au sujet du massacre qui a eu lieu à Binh Chau , village de pêcheurs,( lang gang ca), huyen de Binh Son, province de Quang Ngai : j’en parle dans le film . Sur cette plage, en 1968, 40 habitants du village ont été massacrés collectivement par les soldats Sud-coréens alliés des américains. Il ne faut pas oublier que la même année , à 10 kms de là, les Gis américains ont massacré 504 civils , pour la plupart des femmes, vieillards et enfants , à My lai ( Son My). Car cette zone-là était une zone de résistance très déterminée. Le but de mon film n’était pas de parler de la guerre , de la résistance, mais je voulais au passage montrer que ces gens avaient déjà beaucoup souffert pour leur pays et avaient payé très cher leur patriotisme. Comme aujourd’hui ils paient cher ce patriotisme en allant pêcher à Hoang Sa. Ces hommes et ces femmes sont des gens fiers et courageux.

3) Oui, j’ai été profondément choqué et indigné par cette interdiction, par la forme violente qu’elle a prise, par l’absence d’explication claire de la part des responsables, par le fait qu’elle va totalement à l’encontre des intérêts des pêcheurs du Centre Vietnam et du peuple vietnamien, parce qu’elle fait finalement le jeu des dirigeants chinois et de leur politique expansionniste en mer du Sud Est asiatique, parce qu’elle traite des vietnamiens patriotes comme s’ils étaient des ennemis du Vietnam. C’est absolument inacceptable dans la mesure où c’est un acte délibéré, certainement décidé en haut lieu par des dirigeants qui restent masqués car ils savent bien que leur position est insoutenable, injustifiable. En effet, s’il s’était uniquement s’agit de démarches administratives, d’autorisation à demander pour projeter le film, pourquoi personne ne m’a convoqué pour en parler, pour me guider dans les démarches à effectuer selon la loi ? Personne, absolument personne, ni de la police , ni des autorités administratives , ni des autorités politiques n’a osé se montrer pour en parler avec moi. La décision d’interdire est donc essentiellement politique, unilatérale et violente. Elle traduit une coupure énorme entre les dirigeants politiques et leur peuple, en particulier les intellectuels. Comme je n’osais pas y croire, j’ai envoyé une lettre à ceux que je croyais être mes amis, notamment au Président du Comité populaire, en demandant des explications amicales et une réparation pour cette injuste agression : je n’ai jamais eu de réponse, ni d’invitation à venir en parler amicalement ! C’est désolant et honteux ! ( je joins à cette réponse la lettre que j’ai envoyée aux autorités du UBND TP HCM et un article plus sentimental où j’exprime ma peine)

Bản dịch của thành viên hdat: (đã được ông Hồ Cương Quyết xem qua, sửa chữa và đồng ý):

1) Tôi xin lỗi, tôi không biết các ngư dân sống trước năm 1975 như thế nào . Tôi chỉ đi biển một lần trên một tàu đánh cá vào năm 1969 , từ Đà Nẵng, nơi tôi giảng dạy tiếng Pháp vào Sài Gòn. Chuyến đi 4 ngày dọc theo bờ biển cho tôi thấy sự hiện diện liên tục của các tàu tuần tra Mỹ với tình trạng khá căng thẳng. Ngược lại, điều làm tôi ngạc nhiên là chẳng có ai hỏi giấy tờ tôi. Quay lại nói về các ngư dân. Tôi có thể nói rằng thời gian này, hoạt động của họ được canh chừng chặt chẽ.

2) Về vụ thảm sát đã diễn ra tại làng chài Bình Châu, Huyện Bình Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi: tôi là người nói trong phim. Trên bãi biển này vào năm 1968, 40 người dân bị tàn sát bởi những người lính Hàn Quốc, đồng minh của Hoa Kỳ. Chúng ta không được quên rằng cùng năm đó, ở Mỹ Lai chỉ cách nơi này 10 km, lính Mỹ đã tàn sát 504 thường dân, chủ yếu là phụ nữ, người già và trẻ em. Vì vùng này là vùng hai bên đánh nhau quyết liệt. Mục đích của bộ phim của tôi đã không nói về các cuộc chiến, mà tôi muốn chuyển đến người xem rằng người Việt tại vùng này đã chịu nhiều đau khổ cho đất nước và đã họ trả giá đắt cho lòng yêu nước. Cũng như bây giờ họ còn phải trả giá đắt cho lòng yêu nước khi đi đánh cá ở Hoàng Sa. Những người đàn ông và phụ nữ này là những người có lòng tự hào và lòng dũng cảm.

3) Đúng, tôi đã bị sốc mạnh và rất tức giận bởi lệnh cấm (phim) này, bởi các hình thức bạo lực đã được sử dụng, bởi thiếu những giải thích rõ ràng từ chính quyền, bởi vì nó hoàn toàn đi ngược lại với lợi ích của ngư dân miền Trung nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung và cuối cùng bởi vì nó chỉ là các trò chơi của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và chính sách bành trướng của họ tại Biển Đông Nam Á, một chính sách đối xử với những người Việt Nam yêu nước như là những người phản lại chính Tổ quốc họ. Điều này là hoàn toàn không thể chấp nhận được vì nó là một hành động cố ý, chắc chắn được quyết định từ lãnh đạo cấp cao. Họ không dám làm công khai bởi vì họ biết rằng họ không có lý.

Thực ra, nếu chỉ có vấn đề thủ tục hành chánh, xin phép để chiếu phim, tại sao không có ai nói với tôi và hướng dẫn cho tôi làm những gì theo quy định ? Chẳng có ai cả, công an không, các cơ quan hành chánh hoặc cơ quan chính trị cũng không, không người nào dám tiếp chuyện tôi. Quyết định cấm chắc chắc mang màu sắc chính trị, từ một phía và không có chút nhân nhượng nào. Nó phản ánh một hố sâu rất lớn giữa các nhà lãnh đạo chính trị và người dân của họ, đặc biệt là trí thức. Lúc đầu tôi đã không dám tin điều đó, nên tôi đã gửi một lá thư cho những người tôi nghĩ là bạn bè, bao gồm cả Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, ôn tồn yêu cầu một lời giải thích và hy vọng bãi bỏ lện cấm bất công này.Tôi chẳng nhận được câu trả lời mà ngay cả lời mời để đến nói chuyện như bạn bè cũng không! Thật là buồn và xấu hổ ! (Tôi đính kèm đây lá thư tôi đã gửi cho các cơ quan của UBND TP HCM và một bài viết trong đó tôi chỉ có thể nói nguyện vọng tình cảm của mình):


Thành viên Mai Trang hỏi:

Xin ông Andre cho biết nỗi đau của ngư dân tại Hoàng Sa , so sánh với nỗi đau của người Việt tại miền Nam trước 75 và sau 75 ?

Cái nỗi đau nào đau hơn thưa ông ?

Pardon moi, je ne parles pas francais .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Pas de problème de langue quand c’est le cœur qui parle vrai. Je ne peux parler que de ce que j’ai vu de ce que je pense de façon tout à fait personnelle. Ce que je peux dire de la situation des pêcheurs qui pratiquaient la pêche côtière dans la région de Da Nang où je me trouvais en 1968-1969 c’est que la pression sur eux était énorme. D’abord c’était celle de la guerre au quotidien. Et, ceux qui ont vécu la guerre dans cette zone du Vietnam, savent bien qu’elle était terrible. Je rappelle que Da Nang était une des bases militaires US les plus importantes du Vietnam que de cette base partaient les bombardiers, les avions mitrailleurs, les épandeurs de dioxyne…Chaque nuit les maquisards tiraient des salves de roquettes sur cette base, à partir des villages environnants, par-dessus les habitations de la ville qui de trouvaient entre les deux. Le matin au réveil , il m’arrivait de trouver du plâtre sur le haut de ma moustiquaire : il était tombé du plafond pendant la nuit, suite aux déflagrations des roquettes.

Les contrôles policiers et militaires, les perquisitions, les arrestations étaient chose ordinaires. Tout mouvement, déplacement de personne faisait l’objet de suspicion, de surveillance, surtout s’il s’agissait de paysans. Dans cette situation, les pêcheurs qui se déplaçaient le long de la côte en dehors des barrières de contrôle faisaient l’objet de la part des gardes-côtes de perquisitions régulières. Et c’est vrai que certains d’entre eux participaient à la résistance et transportaient d’autres choses que du poisson… Quelques fois, les patrouilles maritimes « confisquaient » une partie de leurs prises de pêche. Quelquefois les hélicoptères US « jouaient » à descendre très bas au-dessus des chalutiers pour les secouer jusqu’à la limite du chavirement. Les pêcheurs sont des hommes habitués à affronter la mer dans toute sa violence. Ils font face aux tempêtes, à la dureté d’un métier plein de dangers où l’on est souvent seul. Alors, ces hommes, souvent très pauvres, sont fiers. Ils n’ont pas peur. Et chaque mauvaise action ou agression de la part de la flotte côtière envers eux ne faisait qu’augmenter leur colère et leur envie de chasser hors de leur pays les militaires étrangers qui étaient venus y apporter le feu et la mort.

Juste pour illustrer leur psychologie, je vous raconte une anecdote personnelle qui m’est arrivée un matin de novembre 1968 à Da Nang, sur la plage de My Khe, où je me baignais, près de la colline Son Tra. Assez bon nageur, malgré les vagues assez fortes, j’ai nagé vers le large jusqu’à une centaine de mètres de la plage. Lorsque j’ai voulu revenir vers le rivage, j’ai senti un très fort courant qui m’entraînait au le large. J’avais beau forcer sur mes bras et accélérer les battements de jambes, je n’avançais que très peu. C’est alors qu’un petit chalutier est passé à quelques dizaines de mètres. Je me suis mis à l’appeler en criant très fort et agitant les bras. Le pêcheur qui me regardais a détourné son regard et a continué son chemin, comme s’il ne m’entendait pas, comme si je n’existais pas. Il ne pouvait pas ne pas avoir compris que j’étais en difficulté dans cette zone de forts courants qu’il connaissait bien. Mais pour lui, j’étais un soldat américain et m’abandonner à mon sort c’était sa façon à lui de faire la guerre. Je le comprends bien. Heureusement pour moi, il me restait juste l’énergie nécessaire pour reprendre pied sur le sable.

Aujourd’hui, je suis revenu à My Khe, tirer le filet avec les pêcheurs, plaisanter avec eux. Ils sont toujours aussi pauvres mais les bombes ne pleuvent plus sur leur tête et n’enlèvent plus leurs enfants. C’est un progrès essentiel.

Cependant il faut dire que leur sort n’est pas réjouissant, ni l’avenir de leurs enfants. La plage est de plus en plus privatisée, livrée aux capitaux étrangers pour la plupart. Des resorts géants s’emparent du sable et des terres alentour, interdisent l’accès aux habitants et aux pêcheurs. De Son Tra à Hoi An, c’est une succession de murs, de barbelés, de miradors. J’ai pu mesurer des kilomètres de murs avec, inscrits dessus, des caractères chinois. Les espaces dont disposent encore les pêcheurs pour jeter l’ancre sont de plus en plus réduits. Ils sont repoussés de la plage par les requins de l’immobilier. De mi-mai à fin août, les patrouilleurs chinois leur interdisent la haute mer. Chaque jour l’argent des resorts leur interdit toujours plus la plage. Ils vivent en paix mais pour quel avenir ? Cette année, des pêcheurs de Da Nang ont vendu leurs gros chalutiers à des pêcheurs de Binh Dinh. Ils cessent leur activité. Près d’un millier de jeunes de la province de Quang Ngai, fils de pêcheurs, ont abandonné la profession de leur père, trop dangereuse et trop pénible, sans protection, pour aller dans les hauts plateaux se louer pour la culture du Thé et du café. Petit à petit, dans cette zone qui fait face à Hoang Sa, terrain de pêche traditionnel des habitants du Centre Vietnam, la mer se vide des pêcheurs Vietnamiens alors que, dans le même temps, on rencontre de plus en plus souvent des chalutiers chinois près des côtes du Vietnam. Certains ont été vus il y a peu de temps à 20 lieues nautiques de Ly Son.

Si l’Etat , le pouvoir central n’adopte pas une politique cohérente , totale, de réel soutien et de protection à l’égard de ces hommes qui au mépris de leur vie vont affirmer la souveraineté du Vietnam sur cet espace insulaire et maritime , alors le Vietnam perdra sa mer. Et, sans la mer, il n’a pas d’avenir.

Je vous envoie deux photos pour illustrer ma réponse. Une trouvée sur google map et l’autre prise par moi sur la route qui longe la mer, de Da Nang à Hoi An.

Bản dịch của thành viên hdat (đã được ông Hồ Cương Quyết xem qua, sửa chữa và đồng ý):

Ngôn ngữ không quan trọng khi chúng ta nói thật từ trái tim. Tôi chỉ nói những gì tôi thấy, những gì tôi nghĩ và mang tính chất cá nhân. Những gì tôi có thể nói về tình hình ngư dân đánh bắt ở khu vực ven biển Đà Nẵng là họ bị áp lực rất lớn. Tôi đã ở đó trong hai năm 1968-1969. Thứ nhất, chiến tranh xảy ở đây mỗi ngày. Sau đến, những người sống ở đây cũng nhận thức rằng chiến tranh gắn liền với khủng khiếp. Đà Nẵng là một trong những căn cứ quân sự quan trọng nhất của quân đội Mỹ ở Việt Nam, từ đây các máy bay ném bom, máy bay tiêm kích, máy bay rải chất Dioxyn … đã cất cánh. Mỗi đêm du kích bắn rốc két từ các làng xung quanh vào căn cứ. Chúng bay ngay trên nhà dân trong thành phố. Có sáng, khi tỉnh dậy tôi thấy mảnh vỡ từ trần nhà rơi trên màn ngủ do chấn động của những quả rốc két gây ra.

Các vụ cảnh sát hay quân đội lục soát hay bắt bớ xảy ra thường lệ. Mọi cử động, mọi di chuyển của người dân đều là đối tượng giám sát, nghi ngờ, đặc biệt nếu đối tượng là nông dân. Trong tình huống này, các ngư dân xuất hiện ở dọc bờ biển bên ngoài hàng rào kiểm soát đều được coi là đối tượng của những người lính gác biển và họ thường xuyên bị lục soát. Thực ra, có những người trong số họ tham gia kháng chiến và mang theo người những thứ không phải là cá … Đôi khi tuần tra trên biển “tịch thu” một số lượng cá của họ. Đôi khi máy bay trực thăng Mỹ “chọc” các tàu đánh cá bằng cách bay xuống thật thấp làm chúng lắc lư đến như sắp bị lật. Ngư dân là những người quen đối phó với mọi nguy hiểm trên biển. Họ phải đối mặt với bão, nghề của họ thật cơ cực và đầy nguy hiểm. Và nhiều khi họ chỉ có một mình. Do vậy, họ thường rất nghèo, nhưng họ lại có đầy lòng tự hào. Họ không sợ nguy hiểm. Vì vậy mà những hành động này của lính gác bờ biển hay của hạm đội bên ngoài chỉ làm tăng lòng tức giận của họ và họ mong muốn đuổi những người lính nước ngoài đi. Họ cho rằng những người lính này đã mang khói lửa và chết chóc đến quốc gia của họ.

Để minh họa cho tâm lý của họ, tôi kể với bạn một câu chuyện xảy ra với bản thân khi đang bơi ở bãi biển Mỹ Khê, gần đồi Sơn Trà – Đà Nẵng, vào một buổi sáng tháng 11 năm 1968. Là một người bơi lội khá, bất chấp những con sóng khá mạnh, tôi đã ra xa bờ đến cả trăm mét. Khi muốn quay trở lại bờ, tôi cảm thấy một luồng nước đẩy tôi ra xa thêm. Mặc những đập tay, đạp chân mạnh và nhanh hơn nhưng tôi bơi đi được rất ít. Lúc đó, một tàu đánh cá nhỏ đi qua cách tôi mấy chục mét. Tôi la hét rất lớn và vẫy tay. Chủ thuyền nhìn tôi nhưng sau đó quay mặt đi và tiếp tục con đường của mình, như thể ông không nghe thấy tiếng kêu của tôi, như thể là tôi không tồn tại. Ông ta không thể không biết tôi gặp khó khăn. Ông ta chắc chắn biết rõ khu vực này với các luồng nước mạnh. Nhưng đối với ông ta, tôi là một người lính Mỹ, và việc ông ta bỏ mặc số phận của tôi được coi là một cuộc chiến chống lại tôi. Tôi hiểu điều đó. May mà, tôi vẫn còn chút sức để tới được nơi chân chạm đất.

Ngày nay, trở về Mỹ Khê, tôi kéo lưới với ngư dân, nói đùa với họ. Họ vẫn còn nghèo nhưng không còn bom rơi xuống đầu họ và con cái của họ không còn bị chết bởi chiến tranh. Đấy mới là điều quan trọng.

Tuy nhiên phải nói rằng số phận của họ cũng chẳng phải vui vẻ gì, tương lai con cái họ cũng vậy. Ngày càng nhiều nhà đầu tư vào mua bãi biển. Các khu nghỉ mát khổng lồ hình thành trên bãi biển và khu vực xung quanh. Các cư dân và ngư dân bị cấm vào. Từ Sơn Trà đến Hội An là một chuỗi các bức tường, dây kẽm gai, tháp canh. Tôi đã thấy trên bức tường, dài hàng ki lô mét có ghi các ký tự Trung Quốc. Không gian để có thể thả neo cho các ngư dân càng ngày càng giảm. Họ bị đẩy ra xa bãi biển bởi những con “cá mập” bất động sản. Từ giữa tháng Năm đến cuối tháng Tám, tuần tra Trung Quốc cấm họ ra biển. Ngày càng nhiều nhân viên của khu nghỉ mát không cho họ lai vãng đến gần. Họ sống trong hòa bình nhưng tương lai sẽ ra sao? Năm nay, ngư dân Đà Nẵng đã phải bán tàu đánh cá loại lớn cho ngư dân Bình Định. Họ không thể hành nghề được nữa. Cả ngàn thanh niên của tỉnh Quảng Ngãi, con của các ngư dân, đã rời bỏ nghề nghiệp của ông cha vì quá nguy hiểm và quá cơ cực mà lại không được bảo vệ. Họ phải đi lên các vùng cao làm thuê cho trong các vườn chè, vườn cà phê. Trong khu vực đối diện với Hoàng Sa, nơi đánh cá quen thuộc của người dân miền Trung Việt Nam, chúng ta thấy ngày càng ít ngư dân Việt Nam. Trong khi đó, tàu đánh cá Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều ngay gần bờ biển Việt Nam. Thời gian gần đây, những tàu này được nhìn thấy chỉ cách Lý Sơn khoảng 20 hải lý.

Nếu Nhà nước, chính quyền trung ương không có một chính sách hợp lý, toàn diện, minh bạch để giúp đỡ và bảo vệ các ngư dân, những người bất kể nguy hiểm thách thức tính mạng sẵn sàng khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các vùng hải đảo, thì Việt Nam sẽ mất biển. Không còn biển, Việt nam không có tương lai.

Tôi gửi cho bạn hai bức ảnh để minh họa cho câu trả lời của tôi. Một từ google-maps và một tôi chụp trên đường đi dọc bờ biển từ Đà Nẵng đến Hội An:

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 2)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Phần Giới thiệuPhần 1

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Thành viên Diên Vỹ hỏi:

Xin hỏi ông André HCQ:

Theo thông tin được biết thì cuốn phim của ông được sự ủng hộ của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết. Thế thì sau khi cuốn phim không được chiếu ở VN, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết có phản ứng hoặc nhận xét gì về việc này hay không?

Có những ai trong chính quyền âm thầm ủng hộ việc làm của ông nhưng vì vị trí tế nhị của họ nên không thể công khai? Họ có thái độ gì về sự kiện cấm chiếu phim không?

Cám ơn ông.

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Comme vous le comprenez, ce film ne touche pas que la situation tragique des pêcheurs même si c’est cela l’essentiel qu’il se propose de montrer. Ce film est clairement situé dans le cadre des relations très contradictoires entre le Vietnam et la Chine, entre le Parti Communiste chinois et le PCV. Parler des pêcheurs c’est aussi dénoncer l’agression chinoise, sa sauvagerie, son caractère illégitime. Aider les pêcheurs à coller à leur mer et à leurs îles c’est les aider à gagner leur vie mais aussi c’est la meilleure façon de résister à l’agression de Pékin. Montrer le triste sort des familles et la façon dont elles vivent c’est aussi montrer qu’elles ne sont pas assez aidées, protégées, que la stratégie de défense de la mer du Vietnam n’est pas suffisante pour prétendre faire face à la cohérence, la globalité, la puissance de la stratégie chinoise. C’est mettre le doigt sur un point faible de la politique vietnamienne actuelle.
Ce que je veux dire par là , c’est que les origines et les implications de la situation humaine des pêcheurs est éminemment politique et que c’est un débat et peut-être aussi un combat à l’intérieur du Vietnam, des organes dirigeants du PCV et de l’Etat. Si le Président m’a soutenu, c’est d’abord qu’il a de l’amitié pour moi, pour ce que j’ai fait dans le passé aux côtés de la majeure partie du peuple vietnamien. C’est aussi qu’il sait que je ne suis pas intéressé par l’argent, qu’on ne peut m’acheter, me manipuler, que je n’appartiens à aucun clan, à aucun parti, que je n’ai aucune ambition politique, que je suis sincèrement dévoué à l’indépendance du Vietnam et à l’amitié que j’ai nouée avec les pêcheurs. Que je ne trahirai jamais cela.

Alors, je pense que, dans la situation présente, son intervention pour m’aider a été courageuse et je le respecte pour cela. Je ne me permettrai pas de lui demander des détails sur ses relations qui ne concernent que lui.

Si vous suivez bien l’actualité vietnamienne vous pourrez déceler, même dans les informations filtrées que donnent les journaux officiels que la ligne politique avec la Chine n’est pas uniforme. Elle est très nuancée, selon qui déclare quoi. Et , surtout, elle est changeante. En particulier ces derniers temps avec les luttes patriotiques qui sont apparues à Saigon ,à Ha Noi et dans d’autres villes de province. Il y a aussi des points où l’influence économique et donc politique chinoise est très forte et des endroits où elle l’est moins…Où les dirigeants vietnamiens y sont plus ou moins sensibles … Après l’interdiction du film , j’ai fait l’objet de deux très beaux articles , très élogieux, de mon combat pour Hoang Sa, pour les pêcheurs, dans les numéros de printemps du magazine Thanh Nien et Nguoi Lao dong…Vous savez que les articles doivent avoir le feu vert des rédactions, elles mêmes contrôlées strictement par le très politique Bo Thong tin Van hoa…et donc, les dirigeants politiques…J’ai donc pris ces articles comme des messages indirects de soutien à ce que je faisais … D’autres signes montrent qu’il faut se garder d’être manichéens : tout n’est pas et n’a jamais été tout noir ou tout blanc. On ne doit jamais accuser, condamner des gens en bloc, définitivement. On doit toujours laisser des portes ouvertes car la réalité change et les gens aussi. Nous avons besoin d’unité pour gagner et nous devons tout faire, malgré les très grands obstacles pour en garantir un minimum. Dans la longue résistance à la pression chinoise où nous sommes engagés, il nous faut beaucoup de clairvoyance, d’intelligence et de tolérance pour toujours aller à l’essentiel : ici, dans le cas du film : la protection concrète des pêcheurs pour qu’ils continuent d’occuper notre mer et pour le Vietnam, l’affirmation toujours plus forte à l’intérieur du pays et sur la scène internationale des droits souverains du Vietnam sur Hoang Sa. En gardant toujours le cap d’une lutte basée sur le respect du droit international et avec des actions pacifiques. Sans quoi, la loi de la jungle prévaudra et sur ce terrain, les dirigeants chinois sont les plus forts.

Bản dịch của thành viên hdat:

Như các bạn biết, bộ phim này không chỉ nói về hoàn cảnh khốn khổ của ngư dân mặc dù đây là chủ đề khởi đầu của nó. Bộ phim này rõ ràng là nằm trong bối cảnh quan hệ đầy mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc, giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Phim nói về những ngư dân, nhưng nó cũng tố cáo dã tâm xâm lược của Trung Quốc, với tính hoang dã rừng rú bất hợp pháp của nó. Giúp đỡ ngư dân bám biển và các đảo chẳng những giúp họ kiếm sống mà còn là cách tốt nhất để chống lại sự xâm lược từ Bắc Kinh. Hoàn cảnh cuộc sống đáng buồn của các gia đình ngư dân cho thấy rằng họ không được hỗ trợ, bảo vệ đầy đủ, rằng chiến lược bảo vệ biển của Việt Nam là không đủ để đối phó với Trung Quốc khi họ tập trung toàn bộ sức mạnh cho vấn đề. Điều này là để xác định một trong các điểm yếu của chính sách Việt Nam hiện nay.

Qua bộ phim tôi muốn nói rằng nguồn gốc và tác động của tình hình hiện tại lên các ngư dân hoàn toàn mang tính chất chính trị, và sẽ sinh ra các cuộc tranh luận và có thể là một cuộc đấu tranh nội bộ ở Việt Nam, ở các cơ quan cao cấp của Đảng cộng sản và các cơ quan của chính quyền. Nếu Chủ tịch (Nguyễn Minh Triết) đã hỗ trợ tôi, thứ nhất là do tình bạn mà ông ta dành cho tôi, cho những gì tôi đã làm trong quá khứ sát cánh với hầu hết những người Việt Nam. Thứ đến là ông ta biết rằng tôi không quan tâm đến tiền bạc, không ai có thể mua hay điều khiển được tôi, tôi không thuộc bất cứ một băng đảng nào, tôi không có tham vọng chính trị, tôi thực sự chân thành đối sự độc lập của Việt Nam và tình bạn của tôi với các ngư dân. Tôi sẽ không bao giờ phản bội nó.

Do vậy, tôi nghĩ rằng trong tình hình hiện nay, sự can thiệp của ông ta đã khuyến khích tôi và tôi tôn trọng ông ta vì điều đó. Tôi không cho phép bản thân mình đòi hỏi các chi tiết về các mối quan hệ riêng của ông ta.

Nếu bạn đọc tin tức Việt Nam bạn có thể phát hiện ngay cả trong những thông tin được chọn lọc trên các tờ báo chính thức rằng đường lối, chính sách đối với Trung Quốc cũng không nhất quán. Nó rất mơ hồ, tùy thuộc vào người nói. Và, trên tất cả, nó có thể hiểu sao cũng được. Đặc biệt là gần đây với các cuộc biểu tình yêu nước đã diễn ra ở Sài Gòn, Hà Nội và thành phố khác. Có nơi mà Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng kinh tế và chính trị và cả có nơi mà họ có ít …, nên các nhà lãnh đạo Việt Nam có nhiều hay ít quan tâm …

Sau khi bộ phim bị cấm, có hai bài rất hay nói về cuộc đấu tranh của tôi cho Hoàng Sa, cho các ngư dân, được đăng trên số đầu Xuân của tạp trí Thanh Niên và Người Lao Động, … bạn biết, các bài viết phải có được sự đồng ý của ban biên tập dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan chính trị là Bộ Văn Hóa Thông Tin … tức là các nhà lãnh đạo chính trị … Tôi coi các bài này là thông điệp gián tiếp của chính quyền hỗ trợ cho những gì tôi đã làm … Còn có những dấu hiệu khác, nhưng cần phải cẩn thận không được chủ quan vì : không có gì hoàn toàn trắng cũng như không có gì hoàn toàn đen. Không bao giờ nên buộc tội ai một cách chắc chắn. Mọi cánh cửa nên mở rộng vì hoàn cảnh có thể thay đổi, con người cũng vậy. Chúng ta cần đoàn kết để giành chiến thắng và chúng ta phải làm tất cả mọi thứ để vượt qua những trở ngại dù rất lớn để có được kết quả ban đầu dù nhỏ. Trong cuộc kháng chiến dài chống áp lực Trung Quốc, mà chúng ta nguyện tham gia, chúng ta cần phải khôn khéo, có tầm nhìn xa và lòng bao dung để luôn luôn tập trung vào vấn đề chính, ví dụ như trong phim : bảo vệ một cách cụ thể các ngư dân, những người làm sống biển, là khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa chẳng những cho người dân trong nước mà cho cả Quốc tế thấy. Cuộc đấu tranh của chúng ta luôn luôn dựa trên cơ sở tôn trọng hòa bình và các hiệp ước quốc tế. Nếu không, luật rừng sẽ thắng thế và trong lĩnh vực này, các nhà lãnh đạo Trung Quốc mạnh hơn ai hết.


Thành viên Wasabi hỏi:

Tui vào đây chơi, nên làm biến đặt câu hỏi lung tung mấy nhân vật khách mời của cà. Nhưng hôm nay phá lệ cho dzui.

1/ Mr Ho, ông có cảm giác như thế nào khi nhiều người Việt Nam nói tiếng Tây như gió thì đó là một chuyện bình thường, còn một người Tây nói được tiếng Việt thì được nhiều người Việt hâm mộ? Mr Ho có nghĩ đó là bản tính của dân tộc nhược tiểu vui mừng khi có người của xứ văn minh hiểu được văn hóa của họ?

2/ Mr Ho, ông có cảm thấy ông đang bị đảng cộng sản Việt Nam lợi dụng ông để tuyên truyền không? Tuyên tryền về thứ gì, đó là tuyên truyền cho những người con đất Việt bỏ xứ đi hàng chục năm, nay tới tuổi về hưu thì nên quây về cố hương, vì người Tây còn yêu văn hóa và nước Việt thì người việt tại sao không.

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1/ Votre question est une bonne question. Sur le plan technique, je pense que tout d’abord la langue vietnamienne est plus difficile à parler pour un occidentale qu’une langue occidentale pour un Vietnamien. Pour de nombreuses raisons en particulier celle des accents qui, enchaînés sur des monosyllabes ne permettent pas l’erreur sur le ton employé , sous peine de véritables catastrophes qui, pour certaines font rire et pour d’autres font pleurer. Je me souviens de Mac Namara qui devant les troupes d’élite de l’armée du Sud à Saigon, a voulu conclure son discours par la formule que lui avait écrite ses conseillers : « Việt Nam Muôn Năm!“ et le malheureux avait déclaré le plus sérieusement du monde: Vịt Nam muốn nằm!, ce qui n’était pas franchement une invitation au combat.Il m’arrive moi aussi d’avoir des accidents de prononciation assez spectaculaires. Si vous ajoutez à cette difficulté celles dues aux prononciations régionnales ( allez donc parler aux pêcheurs du Quang Ngai si vous êtes de Saigon ou de Ha noi !) et aux termes particuliers à chaque terroirs, on comprend que des occidentaux à l’appareil phonatoire et auditif déjà bien formaté aient du mal à se faire comprendre quand ils tentent de courageuses phrases en Vietnamien!

Mais il y a un deuxième aspect culturel et psychologique, à votre question. Une langue est le reflet d’une culture. Pratiquer cette langue c’est pénétrer plus profondément dans cette culture et , inversément, si vous êtes déjà familiarisé avec la culture, vous comprendrez et pratiquerez plus aisément la langue. Pour parler, bien parler une langue, il fait aimer les gens du pays et vouloir aller vers eux, y être bien accueilli…Bien parler une langue étrangère c’est souvent un acte d’amour. C’est essentiel.

Enfin, selon moi , la langue est aussi le reflet d’une économie. Plus un pays est fort économiquement et plus sa langue a des chances de rayonner. Pourquoi le français, langue de référence il y a seulement quelques décades est en sérieuse perte de vitesse par rapport à l’anglais (américain) aujourd’hui? Parce que l’économie de la France est sérieusement sur le déclin et que l’économie américaine ( même si actuellement elle est en pleine régression) a carrément dominé le monde ces au cours des deux dernières décennies. Ainsi, si le Vietnam se développe au niveau économique et de façon indépendante, si le Vietnam produit, exporte, augmente ses échanges sur des bases nationales , alors le Vietnamien sera de plus en plus parlé par des étrangers. C’est une réalité objective. On constate déjà dans le vietnam actuel une progression sensible du nombre de jeunes étrangers qui se lancent sans complexe dans l’apprentissage et la pratique de la langue vietnamienne, alors que certains Viet Kieu qui avaient eu ttendance à la délaisser pour leurs enfants, reviennent vers elle, créent des cours de vietnamien dans le pays , la ville où ils vivent…

2/ Cher ami, jamais personne ne m’a dicté ce que je devais faire. A aucun moment de ma vie. Tout ce que je fais est volontaire , indépendant. Mon compte bancaire a toujours été pauvre et ma maison très modeste. Je me suis battu aux côtés de ceux que vous appelez les Viet Cong parce que c’était la seule façon de faire cesser cette sale guerre dont la principale cause était l’agression étrangère. Les bombes et les produits chimiques ont arrêté de pleuvoir sur le Vietnam, on n’enferme plus des centaines de milliers de pauvres gens derrière des barbelés, même s’il existe hélas actuellement des emprisonnés politiques ( ce qui est inacceptable) il n’y aucune comparaison avec les dizaines de milliers d’entre eux pendant l’ancien régime, les tortures , les cages à tigre… Non, je ne regrette pas une seule seconde le combat que j’ai mené, y compris mes années de jeunesse passées en prison, car je pense qu’il a fait avancer le Vietnam et qu’il a apporté un soulagement à son peuple. Actuellement, il qu’il s’agit d’aller plus loin vers une société civile et de droit, vers la défense de l’indépendance et de l’unité acquises, je ne me laisserai manipuler par aucun de ceux qui prennent pour prétexte la question des pêcheurs pour attaquer le régime. J’ai beaucoup de choses à reprocher au régime actuel, y compris des choses graves. Mais comme je l’ai dit à Dien Vy, il faut être positif pour aller à l’essentiel et faire avancer notre objectif commun. Je pourrais vous raconter bien des atrocités que j’ai vécues personnellement ainsi que mes amis sous l’ancien régime. Beaucoup de Vietnamiens , hélas, pourraient sans mentir parler des jours , des années terribles et humiliantes qu‘ils ont vécus dans des camps de rééducation , des errances en mer, des camps d’accueils à l’étranger, du déracinement déchirant avec le pays natal, la famille…les amis Je pense qu’il ne faut rien oublier mais je pense aussi que rester sur ces pages du passé ne règlera jamais les problèmes du présent qui eux sont là , devant nous. Alors, pour moi, il n’y a pas de propagande ( c’est un mot que je n’aime pas). Il y a seulement la réalité telle que je la vis et c’est cela qui me guide et c’est cela que je raconte. Je ne prétends pas détenir la vérité mais, malgré mes rides je peux dire que je n’ai jamais trahi mes vingt ans, que l’idéologie chez moi ne prendra jamais le pas sur l’humain et que je suis fier, chaque matin de me regarder dans la glace.

Bản dịch của thành viên hdat:

1/ Bạn đã đặt một câu hỏi hay. Thứ nhất, tôi nghĩ nói chung người phương Tây gặp khó khăn khi nói tiếng Việt hơn là người Việt nói một ngôn ngữ phương Tây. Có nhiều lý do, trong đó đặc biệt là cách nói, âm điệu lên xuống với các từ được nối thành câu, không cho phép có lỗi, nếu không sẽ là thảm họa, có khi làm cho bạn cười và lại làm cho người khác khóc. Tôi nhớ rằng khi MacNamara đứng trước những người lính hàng đầu của VNCH muốn kết thúc bài phát biểu của mình với câu tiếng Việt mà các cố vấn đưa cho ông ta : “Việt Nam muôn năm” và ông ta đã không may phát âm thành: Vịt Nam muốn nằm, hoàn toàn không có nghĩa cổ vũ cho các trận đánh. Ngay cả tôi cũng đã gặp nhiều “tai nạn” ngoạn mục khi phát âm. Thêm vào đó là sự khác nhau giữa các địa phương, chẳng hạn như bạn ở Sài Gòn hay Hà nội mà đi nói chuyện với các ngư dân ở Quảng Ngãi thì sẽ thấy. Vì vậy, mà chúng ta hiểu rằng tại sao mà những người phương Tây mặc dù được học với các dụng cụ âm thanh tân tiến mà còn phải dũng cảm lắm khi nói một câu tiếng Việt.

Thứ hai là vấn đề về văn hóa và tâm lý. Ngôn ngữ là một sự phản ánh của văn hóa. Thực hành ngôn ngữ là thâm nhập sâu hơn vào nền văn hóa và ngược lại, nếu bạn đã quen thuộc với nền văn hóa, bạn sẽ hiểu và sử dụng ngôn ngữ dễ dàng hơn. Muốn nói chuyện, nói chuyện tốt một ngôn ngữ, thì phải yêu người dân của đất nước đó và được họ chấp nhận … Khi nói một tiếng của một dân tộc nào tốt, bạn đã thể hiện tình yêu của mình với dân tộc đó. Điều này rất quan trọng.

Và cuối cùng, tôi nghĩ rằng ngôn ngữ cũng là một sự phản ánh của một nền kinh tế. Các quốc gia có nền kinh tế mạnh thì ngôn ngữ của họ cũng có nhiều cơ hội tỏa sáng. Tại sao tiếng Pháp, cách đây chỉ vài chục năm còn là thứ tiếng chuẩn mà nay đã bị tiếng Anh (Mỹ) bỏ xa ? Bởi vì nền kinh tế của Pháp suy giảm trầm trọng và nền kinh tế Mỹ (mặc dù hiện tại nó đang trong tình trạng trì trệ) đã ngự trị thế giới trong hai thập kỷ qua. Vì vậy, nếu Việt Nam phát triển kinh tế một cách độc lập, nếu Việt Nam tăng sản xuất, xuất khẩu, thương mại của mình, thì tiếng Việt sẽ được nhiều người nước ngoài sử dụng hơn. Nó là một thực tế khách quan. Hiện ở Việt Nam số thanh niên nước ngoài học và thực hành tiếng Việt đã gia tăng đáng kể. Trong khi đó, một số Việt Kiều một thời gian “lãng quên” tiếng Việt với con cái, nay mở lại những lớp học tiếng Việt ở quốc gia, thành phố nơi họ sinh sống.

2/ Bạn ạ, không ai có thể ra lệnh cho tôi phải làm gì. Bất kể khi nào trong cuộc đời tôi. Tất cả những gì tôi làm là tự nguyện không phụ thuộc vào ai. Tài khoản ngân hàng của tôi luôn luôn ít ỏi và ngôi nhà của tôi cũng khiêm tốn.

Tôi đã chiến đấu bên cạnh những người mà bạn gọi là Việt Cộng bởi vì nó là cách duy nhất để ngăn chặn một cuộc chiến tranh bẩn thỉu mà nguyên nhân chính là sự xâm lược của nước ngoài. Bom và hóa chất đã ngừng rãi trên Việt Nam, hàng trăm ngàn người không còn bị chặn sau những hàng rào dây thép gai. Mặc dù hiện nay tình trạng chính trị bị đầu độc (điều không thể chấp nhận) thì cũng không thể so sánh với hàng chục ngàn người dưới chế độ cũ (VNCH) bị tra tấn, nhốt trong chuồng cọp … Không, tôi không hối tiếc một giây nào về cuộc chiến mà tôi tham gia, với cả những năm thời trai trẻ của tôi trong nhà tù, bởi vì tôi nghĩ rằng nó đưa Việt Nam tiến về phía trước và giảm những nỗi đau của người dân.

Hiện nay, vấn đề là đưa Việt Nam tới một xã hội dân sự và pháp luật, để bảo vệ độc lập và sự thống nhất đã đạt được. Tôi sẽ không để bất cứ ai lợi dụng vấn đề ngư dân để chống lại chính quyền. Tôi cho rằng chế độ hiện hành có nhiều điều sai trái, bao gồm cả những điều nghiêm trọng. Nhưng, như tôi đã nói ở phần trả lời cho bạn Diên Vỹ, nên có cái nhìn tích cực đến những điều cơ bản và tập trung cho mục tiêu chung của chúng ta.

Tôi có thể kể cho bạn biết những tội ác của chế độ cũ (VNCH) mà cá nhân tôi và bạn bè đã có kinh nghiệm. Nhiều người Việt Nam, than ôi, không cần phóng đại cũng có thể nói ngày qua ngày, năm qua năm về những cái gì khủng khiếp và nhục nhã mà họ đã trải qua trong các trại cải tạo, lênh đênh trên biển, trong các trại tị nạn chuyển tiếp, tan nhà tan cửa, mất bạn bè gia đình …

Tôi nghĩ rằng không có gì nên quên, nhưng tôi cũng nghĩ rằng nếu ở lại trên các trang sử này của quá khứ, chúng ta sẽ không bao giờ giải quyết vấn đề của hiện tại và của tương lai. Vì vậy, đối với tôi, đây không phải là tuyên truyền (một từ tôi không thích). Chỉ có thực tế như tôi đã thấy và đó là những gì chỉ đường cho tôi và đó là những gì tôi nói. Tôi không nói là sự thật thuộc về tôi, nhưng với những nếp nhăn trên trán, tôi có thể nói rằng tôi không bao giờ phản bội thời trai trẻ 20 tuổi của tôi với một tư tưởng không bao giờ đứng trên quyền lợi của người khác và tôi tự hào về mình mỗi sáng khi tôi nhìn vào gương.


Thành viên Cafe001 hỏi:
Xin trân trọng và cảm phục kính chào bác Hồ Cương Quyết, một công dân Việt Nam thực sự yêu nước Việt Nam bằng hành động thiết thực và hữu ích.

Thưa bác, cho phép tôi được hỏi ba câu hỏi:

1- Trong quá trình bác làm phim về Hoàng Sa, bác có được sự hỗ trợ (hoặc sự cản trở) nào không từ phía chính quyền Việt Nam?

2- Về bản chất, sự tham gia vào “chiến cuộc” của bác ở miền Nam trước đây và đối với Hoàng Sa hiện nay có khác nhau gì không?

3- Bác nhận xét như thế nào về lòng yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam hiện nay .

Chân thành cám ơn bác trước.

Kính chúc bác cùng gia đình dồi dào sức khỏe và vạn sự như ý.

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

1. La télévision d’HCM ville m’a aidée à réaliser ce film, fourni une équipe (cameraman, preneur de son, interprète, chauffeur , voiture) pour aller tourner le film à Ly Son et Binh Chau ( Quang Ngai). Elle a mis à ma disposition ses studios et un monteur d’images et de son . Ce qui veut dire qu’elle a supporté l’essentiel des frais matériels sans lesquels je n’aurais pas pu réaliser ce film.
Par la suite, je n’ai reçu aucune aide pour m’aider à le projeter.

2. Il n’a aucune différence sur le fond entre mes combats passés et mes combats actuels pour Hoang Sa. Ils sont non violents. Se basent sur le respect des droits des peuples et des droits de l’homme. Tous sont animés de mon attachement particulier au Vietnam et à son peuple.

3. Beaucoup de gens parlent des jeunes vietnamiens d’aujourd’hui. Certains disent souvent qu’ils sont différents de la génération précédente. Naturellement et heureusement ! . Qu’ils ont grandi dans des univers complètement différents. D’autres disent qu’ils ne sont guidés que par la consommation, par l’argent, par l’apparence extérieure, qu’ils imitent docilement la (les) jeunesse (s) des pays occidentaux, que leurs racines culturelles sont fragilisées, qu’ils sont les produits d’une société où la loi du plus fort est celle du plus riche, d’une éducation qui ne favorise ni l’esprit critique ni la recherche personnelle libre, ni l’expression, ni la libre création. Certainement, il ya une part de vrai dans tout cela. Mais on ne peut pas parler des jeunes en général. Il ya ceux des villes, ceux des villages, ceux des hameaux, ceux de la mer , ceux des zones de montagnes reculées. Selon où on est né et où on vit, l’environnement humain et culturel est différent et les jeunes sont différents.

Mais ce qui les unit tous, c’est l’attachement au pays natal, à la famille. On voit bien le grand mouvement national qui secoue la période du Tet. Certains ont économisé toute l’année pour rentrer quelques jours au pays natal ! Non, quoique disent certains et malgré tous les défauts que l’on peut trouver aux jeunes d’aujourd’hui (dont ils ne sont pas toujours responsables) , l’attachement des jeunes à la terre natale et au pays natal reste encore très fort. Et je suis convaincu que s’ils le sentent en danger, ils seront prêt à le défendre.

Bản dịch của thành viên hdat:

1. Đài truyền hình TP Hồ Chí Minh đã giúp tôi để làm cho bộ phim này, cung cấp một đội ngũ (người quay phim, người thu âm thanh, phiên dịch viên, lái xe, ô tô) để quay bộ phim ở Lý Sơn và Bình Châu (Quảng Ngãi). Họ để tôi sử dụng các phòng làm phim và người sửa hình ảnh và âm thanh. Điều này có nghĩa rằng họ đã gánh chịu nhiều phí tổn nguyên vật liệu, mà không có chúng thì tôi không thể làm được bộ phim này.

Sau đó, tôi không nhận được bất cứ giúp đỡ nào để chiếu phim.

2. Không có sự khác biệt đáng kể giữa các trận đấu trong quá khứ và trận đấu hiện nay cho Hoàng Sa, tất cả đều là bất bạo động. Chúng dựa trên sự tôn trọng quyền của các dân tộc và nhân quyền. Tất cả đều từ sự gắn bó đặc biệt của tôi với đất nước và người dân Việt Nam.

3. Nhiều người nói về giới trẻ Việt Nam ngày nay. Một số người nói họ khác các thế hệ trước. Tự nhiên và vui vẻ! Bởi vì, họ lớn lên trong thế giới hoàn toàn khác.

Những người khác nói rằng họ bị lèo lái bởi ham muốn hưởng thụ, bởi tiền bạc, bởi bề ngoài, họ bắt chước thanh thiếu niên ở các nước phương Tây. Gốc rễ văn hóa của họ đang bị lung lay. Họ là các sản phẩm của một xã hội, nơi mà kẻ mạnh nhất là những kẻ giàu có. Họ chịu một nền giáo dục không khuyến khích tư duy phê phán, không tự do tìm tòi, không sáng tạo. Chắc chắn có những thanh niên như thế. Nhưng chúng ta không thể nói như vậy cho toàn bộ giới trẻ nói chung. Có những người ở thành phố, những làng mạc, những thôn, xóm, những người sống trên biển, những người ở các vùng núi xa xôi. Tùy thuộc vào nơi được sinh ra, nơi sống, môi trường con người xung quanh và văn hóa khác nhau mà những người trẻ cũng trở thành khác nhau.

Nhưng cái mà có thể qui tụ được tất cả là sự gắn bó quê hương, gia đình. Chẳng hạn chúng ta thấy số lượng người di chuyển nhiều như thế nào nhân dịp Tết. Nhiều người đã phải tiết kiệm cả năm để có được một vài ngày xum họp gia đình! Không, dù có những người chỉ trích và mặc dù tất cả các lỗi có thể được tìm thấy trong thanh thiếu niên ngày nay (họ không phải là người duy nhất chịu trách nhiệm), thì sự gắn bó của những người trẻ tuổi với nơi sinh ra, với quê hương vẫn còn rất mạnh. Và tôi tin rằng nếu cảm thấy bị đe dọa, họ sẽ sẵn sàng bảo vệ mảnh đất quê hương của họ.


Thành viên Neo hỏi:

Cách mạng thường hay ăn thịt chính con đẻ của mình, thưa bác HCQ, có khi nào bác đang nghĩ là bác đang bị “ăn thịt” ?

Neo

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Qui voudrait d’une peau aussi vieille et aussi épaisse que la mienne ?

Si vous prenez l’expression « bi an thit » dans le sens « être supprimé, dévoré », C’est vrai que l’expérience révolutionnaire a hélas témoigné de périodes de luttes cruelles pour le pouvoir. Car il ne s’agit plus là de révolution mais de pouvoir. Ce sont d’ailleurs souvent les plus sincères, quelquefois les plus populaires, qui ont été victimes de ces purges. Mais, si vous êtes honnêtes vous devez aussi remarquer que chez les antirévolutionnaires et même chez ceux qui se disent démocrates, les purges sont choses courantes quand on côtoie les sphères du pouvoir. Le danger commence quand le pouvoir est concentré dans les seules mains d’un individu où d’un petit groupe d’individus, quand il n’y a pas contrôle démocratique véritablement indépendant du pouvoir, avec des moyens politiques, juridiques, financiers et même militaires et de police. Ceci me semble vrai partout dans le Monde et ne concerne pas seulement que les révolutions.

Personnellement, comme je n’ai aucune ambition de pouvoir et que mon action n’est pas un problème d’Etat, je ne pense pas que cela me concerne. Et puis, je vous l’ai dit, je suis indigeste.

Bản dịch của thành viên hdat:

Ai muốn ăn bộ da dày của người vào tuổi tôi ?

Nếu bạn dùng “bị ăn thịt” cho “bị giết, bị ăn thịt,” thì đúng, vì kinh nghiệm cách mạng đáng tiếc được chứng minh qua các thời kỳ đấu tranh gay gắt tranh giành quyền lực. Bởi vì nó không phải là một cuộc cách mạng mà chỉ là tranh giành quyền lực. Chẳng những vậy, những người nhiệt huyết nhất, cả khi được nhiều người yêu mến nhất lại là những nạn nhân của những cuộc thanh trừng. Nhưng nếu bạn trung thực, thì bạn cũng thấy trong hàng ngũ những người phản cách mạng và thậm chí những người tự gọi mình là dân chủ, các cuộc thanh trừng cũng diễn ra phổ biến một khi có dính dáng đến quyền lực. Nguy hiểm bắt đầu khi quyền lực được tập trung trong tay của một cá nhân, hay một nhóm nhỏ, khi không có sự kiểm soát dân chủ thực sự độc lập với quyền lực bao gồm chính trị, pháp lý, tài chính và thậm chí cả quân sự và cảnh sát. Điều này có vẻ đúng trên toàn thế giới và không chỉ là với các cuộc cách mạng.

Cá nhân mà nói, vì tôi không có tham vọng quyền lực và hành động của tôi không phải là một vấn đề để chính quyền quan tâm, tôi không nghĩ nó liên quan gì đến tôi. Và sau cùng, tôi đã nói với bạn, tôi không thể bị tiêu hóa.


Thành viên GroundCrew hỏi:

Thưa ông André Menras ,

Sau khi ông vi phạm pháp luật ở nước VNCH bằng cách trưng cờ của kẻ thù trên một tượng đài chiến sĩ của chúng tôi . Ông bị chính phủ nước tôi xét xử , kết án, bị giam sau đó bị trục xuất về Pháp .

Sau đó ông đã viết một cuốn sách lên án chế độ lao tù của VNCH .

Chẳng bao lâu sau đó, quân đội Bắc Việt xâm chiếm VNCH gây ra làn sóng thuyền nhân trốn chạy khỏi chế độ tàn ác Cộng Sản và gần một triệu người bị giam cầm không có án, không có xét xử có người bị giam hơn mười năm, hoặc đã chết trong các trại tù cải tạo .

Ông có suy nghĩ gì về chế độ lao tù của Cộng Sản Việt Nam ? Cộng Sản Việt Nam có đáng bị lên án như ông đã từng lên án VNCH ?

Là một người cổ võ cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam một tổ chức của Cộng Sản Bắc Việt .

Ông có nghĩ là ông cũng có một phần trách nhiệm cho những tội ác mà Cộng Sản gây ra cho người dân miền Nam Việt Nam?

Kính ông .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Cher monsieur, j’aurais préféré que nous parlions des pêcheurs et de la façon de les aider. Mais je ne me déroberai pas à vos accusations. Je reconnais dans vos propos les termes de la propagande saïgonnaise que j’entendais dans ma jeunesse de la part du pouvoir militaire et policier que j’ai combattu pendant les deux ans que j’ai passés à Da Nang et à Saigon. Je reconnais aussi les mots de mes juges du tribunal militaire de la 3ème région devant lequel j’ai comparu en 1971… Cela me rajeunit. Et me donne aussi la cher de poule.

Si vous voulez parler d’un régime pénitentiaire cruel, de tortionnaires, de voyous, violeurs , assassins, maquereaux ,qui faisaient régner leur loi sur les prisonniers politiques en prison, Si vous voulez parler de tabassages quotidiens, d’enfants emprisonnés pour raisons politiques de femmes accouchant en prison etc.…etc.…je vous invite à lire le livre que j’ai écrit en 11 jours et nuits à ma sortie de Chi Hoa . Tout cela je l’ai vu, vécu et quelque fois enduré. Et je n’étais pas à Con Dao ni à Phu Quoc où ce fut pour beaucoup l’enfer sur terre. Vous connaissez le bon mot que certains utilisent aujourd’hui au sujet de Con Dao ? Con Dao : 23 mille citoyens et 3000 votants. La raison : 20000 sont couchés pour l’éternité dans le cimetière An Duong. Mon ami de Da Nang le vieux Phan Van Ba décédé en août dernier, a passé 17 ans de sa vie dans ce bagne dont 10 ans dans les cages à tigre ! J’ai côtoyé une seule fois en prison des soldats du nord en attente de déportation pour le bagne de Phu Quoc. Tous mes amis prisonniers politiques ou combattants, étudiants , professeurs avocats, guérilleros étaient du sud. Souvent de Saigon même.

Non monsieur, s’il vous plaît, ne comparez pas ce qui n’est pas comparable. Ne mélangez pas tout. Parmi mes gardiens, il y avait des bêtes fauves qui faisaient souffrir par plaisir. Beaucoup ne méritaient pas de vivre et ils ont pourtant survécu. Un des « gardiens » de Con Dao vit encore aujourd’hui sur cette île aux côtés de ses petits enfants. Il en est de même pour un des plus cruels tortionnaires de la prison « Cay Dua » à Phu Quoc. Il vit actuellement à Tien Giang, dans sa famille…

Je pense qu’il faut en tout point garder les proportions. Autant je ne peux pas accepter que des gens, fonctionnaires ou militaires aient été détenus après 1975, dans des camps de rééducation pendant des mois et des années et que certains y soient morts, autant je ne puis accepter que vous compariez leur situation avec celle des prisonniers politiques du régime de Saigon. Si vous le faite, c’est par ignorance ou par mauvaise foi.

Quand à votre autre accusation d’avoir violé les lois de VNCH, excusez-moi de le dire si brutalement : où est la loi quand, dans le village de Nam Co, vous passez en moto et voyez sur le bord de la route, au milieu d’une nuée de mouches, le ventre ouvert au couteau et les tripes à l’air, une cigarette placée en biais dans la bouche, le cadavre exposé d’un jeune paysan pour terroriser la population ? Où est la loi quand vous voyez les GIs libérateurs qui allument joyeusement les toits des paillottes d’un petit village devant les femmes qui pleurent, les vieux qui baissent la tête, les enfants qui hurlent ? Où est la loi lorsque les soldats Sud-Coréens ont pénétré dans le village où je bivais le thé offert par une famille de paysans et où ils ont violé une jeune fille pendant que deux d’entre eux montaient la garde, prêts à tirer , au seuil de la hutte ? Des scènes comme celles là je les ai photographiées, gravées dans mes yeux, dans ma mémoire de jeune enseignant républicain et civilisé. Pas de loi monsieur ! Sauf celle du M16, des B52, du Napalm, des rafles et de la torture.

J’ai vite compris que la seule loi qui était possible pour le jeune homme civilisé que j’étais ,c’était celle de la lutte pour arrêter tout ça. Mon acte, absolument indépendant, non violent et accusateur n’a été dicté que par une loi : celle de ma conscience. Car, si je n’avais rien fait, elle ne m’aurait jamais laissé en paix.

Et, si vous parlez de responsabilité permettez-moi de vous interroger. Vous sentez-vous vous-mêmes personnellement responsables des atrocités commises par les tortionnaires des prisons de VNCH, des Gis américains à My Lai ? Pensez-vous que continuer sur cette voie aurait pu arrêter la guerre, après cent ans de barbaries coloniales françaises, après les massacres de Ngo Dinh Diem, la destruction des forêts, la pollution chimique des fleuves ? Jamais ! la guerre aurait continué, indéfiniment car le peuple du Vietnam est un peuple fier qui n’aurait accepté de tutelle étrangère. Et les frères, les cousins, les beaux frères auraient continué à s’entretuer. Alors, si vous me posez la question de la responsabilité, je dis oui, je suis en partie responsable d’avoir mis fin à cela. J’espère avoir répondu à vos questions.

Bien à vous.

Bản dịch của thành viên hdat:

Thưa ông, tôi thực muốn chúng ta nói chuyện vê ngư dân và các biện pháp làm thế nào để giúp đỡ họ. Nhưng tôi không bỏ qua những lời cáo buộc của ông. Tôi nhận ra những lời nói tuyên truyền của chế độ Sài Gòn, mà tôi đã nghe trong thời thanh niên từ quân đội và cảnh sát, và tôi đã chiến đấu chống lại họ trong hai năm ở Đà Nẵng và Sài Gòn. Tôi cũng nhận ra những lời nói của các vị thẩm phán trong tòa án quân sự ở vùng 3 chiến thuật khi tuyên án tôi vào năm 1971 … Điều này làm tôi trẻ lại. Và nó cũng làm tôi nổi da gà.

Nếu ông muốn nói về một chế độ nhà tù tàn ác, nơi những kẻ tra tấn, côn đồ, kẻ hiếp dâm, giết người, ma cô áp dụng những luật riêng của chúng lên trên các tù nhân chính trị. Nếu ông muốn nói về sự đánh đập hàng ngày, trẻ em bị bỏ tù vì lý do chính trị, phụ nữ sinh con trong tù, vv … vv.. … tôi mời ông đọc cuốn sách tôi đã viết trong 11 ngày và đêm sau khi tôi rời khám Chí Hòa. Tất cả các điều này tôi đã thấy, đã sống và đôi khi phải chịu đựng. Đấy là tôi còn không trải qua Côn Đảo và Phú Quốc, nơi mà nhiều người nói là địa ngục trên trần gian. Ông có biết, ngày nay có người nói về Côn Đảo ra sao ? Côn Đảo: 23 000 dân và 3 000 cử tri. Lý do: 20000 mãi mãi nằm trong nghĩa trang An Dương. Một người bạn cũ của tôi ở Đà Nẵng Phan Văn Ba đã chết vào tháng Tám vừa qua. Ông ta đã mất 17 năm của cuộc đời trong nhà tù này, trong đó có 10 năm trong chuồng cọp! Tôi có gặp một lần duy nhất nhiều tù binh Bắc Việt trước khi họ được đưa ra Phú Quốc. Tất cả bạn bè của tôi, những tù nhân chính trị hoặc quân nhân, sinh viên, giáo viên, luật sư, du kích đều là người Nam. Phần lớn là người Sài Gòn.

Không thưa ông, xin vui lòng không so sánh những gì không thể so sánh. Không nên trộn lẫn tất cả. Một trong những ngườc gác tôi, ông ta như là một con thú hoang lấy đau khổ của người khác làm niềm vui. Có người không xứng đáng để sống mà họ vẫn sống sót. Một trong những người gác tù Côn Đảo vẫn sống hiện nay trên đảo cùng với con cháu. Ông ta là một trong những kẻ tra tấn tàn ác nhất trong nhà tù “Cây Dừa” tại Phú Quốc. Ông ta hiện đang sống tại Tiền Giang, cùng với gia đình của mình …

Tôi nghĩ rằng nên có cách nhìn hai chiều. Cũng như, khi tôi không thể chấp nhận rằng nhiều người, các viên chức, binh lính bị giam giữ sau năm 1975 ở các trại cải tạo trong nhiều tháng và năm và một số đã chết ở đó, thì tôi cũng không thể chấp nhận rằng ông so sánh tình hình của họ với các tù nhân chính trị của chế độ Sài Gòn. Nếu ông làm điều đó thì chứng tỏ ông không có thiện ý.

Khi ông buộc tội tôi vi phạm luật pháp của VNCH, xin lỗi tôi nói thẳng, đó là luật pháp gì ? ở làng Nam Co, khi đi xe máy qua người ta thấy bên lề đường một xác chết giữa một đám ruồi, bụng bị rạch bởi dao , ruột phơi ra và một điếu thuốc được gắn trên miệng. Xác người nông dân trẻ được trưng bày để khủng bố những người khác ? Pháp luật ở đâu khi ông nhìn thấy những lính giải phóng GI có bộ mặt rạng rỡ lúc châm lửa lên những mái nhà tranh trong một ngôi làng nhỏ trước phụ nữ đang khóc, người già cúi đầu, trẻ con la hét ? Pháp luật ở đâu khi các binh lính Hàn Quốc vào làng, nơi tôi được mời uống trà trong một gia đình nông dân và họ đã cưỡng hiếp một cô gái trong khi hai trong số đó đứng canh gác, sẵn sàng để bắn vào cửa những túp lều? Những cảnh như thế này tôi đã chụp ảnh, đã khắc sâu trong tâm trí của tôi, trong bộ nhớ của một giáo viên trẻ đến từ một đất nước có nền Cộng hòa và đã được xã hội hóa. Không có pháp luật thưa ông! Ngoại trừ luật của M16, B52, Napalm, của các cuộc tấn công và các cuộc tra tấn.

Tôi sớm nhận ra rằng luật duy nhất cho một người trẻ như tôi đã quen với một xã hội phát triển là theo đuổi cuộc chiến để ngăn chặn tất cả những điểu kể trên. Hành động của tôi, hoàn toàn độc lập, bất bạo động đã được quyết định bởi một luật, đó là lương tâm của tôi. Vì nếu tôi không làm gì, cái luật này sẽ chẳng để tôi yên.

Nhân ông nói về trách nhiệm pháp lý, xin cho tôi hỏi ông. Ông có cảm thấy bản thân cá nhân chịu trách nhiệm về tội ác của những kẻ tra tấn trong nhà tù của VNCH, của người lính Mỹ ở Mỹ Lai? Ông có nghĩ rằng tiếp tục con đường này sẽ dẫn đến kết thúc chiến tranh, sau một trăm năm nô lệ dã man với thực dân Pháp, sau các vụ thảm sát của Ngô Đình Diệm, phá rừng, làm ô nhiễm hóa học các con sông? Không bao giờ! Chiến tranh sẽ tiếp tục mãi mãi vì Việt Nam là một dân tộc tự hào và sẽ không chấp nhận bất cứ sự giám hộ nào của nước ngoài. Rồi anh em, họ hàng sẽ tiếp tục giết nhau. Vì vậy, nếu ông hỏi tôi câu hỏi về trách nhiệm, tôi nói có, tôi có một phần trách nhiệm chấm dứt những điều đó. Tôi hy vọng đã trả lời câu hỏi của ông.

Chúc ông tốt lành.

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 3)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Phần Giới thiệuPhần 1Phần 2

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

Kính chào ông Andre Menras ,

Đầu tiên xin gửi đến ông lời cám ơn về công khó của ông khi thực hiện cuốn phim Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát , vì nó giúp cho nhiều người trong đó có tôi hiểu rõ thêm về hoàn cảnh khó khăn và cuộc sống đau buồn của ngư dân biển VN bị Trung Cộng bắt bớ, giết hại . Thứ hai kính chúc ông và gia đình một Năm Mới an lành và hạnh phúc .

Tôi xin được hỏi ông 4 câu hỏi sau :

1- Nguyên do nào , động lực nào thúc đẩy ông thực hiện đoạn phim tài liệu này ? Ông mong rằng nó sẽ đem lại được hiệu quả nào nếu nó được trình chiếu rộng rãi tại VN ?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je vais essayer de répondre à ces deux questions dans une même réponse.

Il y de cela 7 ans environ, en lisant le journal Thanh Nien à Nha Trang, j’ai lu la nouvelle de pêcheurs du Quang Ngai arrêtés et capturés par les Chinois (« tau la ») dans les eaux proches de Hoang Sa. J’ai posé des questions à mes amis anciens prisonniers politiques sous l’ancien régime et j’ai vu qu’ils étaient gênés pour me répondre.

Certainement, ils ne voulaient pas me faire de peine ou me mettre en colère, car ils connaissent bien mon caractère. Ces silences embarrassés ont aiguisés ma curiosité et j’ai senti, comme un enfant auquel les adultes cachent des choses interdites, qu’il fallait que je les découvre. A cette époque, je ne lisais pas les pages d’internet. Je me suis donc mis à poser des questions autour de moi, aux gens de la rue : aux vendeurs de journaux, cyclos, vendeuses de soupe, collègues enseignants…partout, j’ai rencontré de la gêne à parler de cela, de la tristesse, et j’ai compris que la discussion sur ce sujet n’était pas encouragée par les autorités. Par contre, j’ai aussi constaté que les gens savaient, sans connaître les détails, que les pêcheurs du Centre Vietnam souffraient des agressions de la Marine de guerre chinoise. Alors, j’ai poussé mes recherches plus avant : lecture de documents historiques sur les questions de souveraineté, lecture de documents juridiques, observation plus attentive et plus suivie de l’actualité. Des nouvelles perçaient de temps en temps dans les journaux concernant les pêcheurs et les protestations du porte –parole du Ministère des affaires étrangères du Vietnam étaient publiées dans la presse. Mais on ne parlait pas du tout ou rarement de la situation concrète des pêcheurs et de leurs familles. Au cours des dernières années, la situation s’est aggravée. Les autorités chinoises ont multiplié les agressions, ont accru leur violence et leur présence illégale dans zone maritime sous souveraineté vietnamienne…La presse vietnamienne a pu donner certaines informations, mais a été généralement réduite au silence quant aux commentaires. Des journalistes honnêtes et patriotes ont payé cher leur courage. Des bloggers aussi. Je me suis mis à internet et à lire des pages « xau », des blogs, et j’ai fait le tri des informations, des commentaires. J’ai compris que ce problème qui était d’abord une question humaine concernant la protection des travailleurs de la mer exerçant paisiblement leur métier dans une zone sous la souveraineté de leur Etat, devenait une question de liberté d’information, de liberté d’expression, bref : de démocratie. D’un autre côté, j’ai aussi bien mesuré que la première protection des pêcheurs et de leurs familles devait venir de leur propre peuple, de la solidarité de tout le peuple vietnamien. Sans elle, pas question d’appeler avec succès la solidarité internationale pour mettre pacifiquement un coup d’arrêt aux agressions chinoises et à leur appétit expansionniste. Or, cette solidarité populaire au Vietnam était strictement, quelquefois violemment empêchée par la rétention des informations imposée par le pouvoir. C’était un peu comme si dans une famille le voisin pénètre chez vous, vient étrangler vos enfants et si vous, le père de famille, leur interdisez de crier de peur qu’il ne casse les vases et brise le mobilier. Tous les arguments que certains de mes amis proches du pouvoir pouvaient me donner sur cette question « nhay cam », sur les négociations en cours qu’il ne fallait pas gêner, sur la puissance de guerre de l’armée chinoise, sur ses représailles économiques certaines qu’elle pouvait exercer, sur le nécessaire « cong hien » à payer à Pékin pour avoir droit à la paix…Aucun de ces arguments ne m’a convaincu. Au contraire, même quand ils étaient avancés par des dirigeants vietnamiens honnêtes et sincèrement patriotes, j’ai toujours considéré ces arguments comme des jugements à courte vue. D’abord, car, ils ne tenaient jamais compte du fait que les dirigeants chinois avaient nécessairement besoin de la paix et d’une bonne image pour continuer leur essor économique, garant de calme et de stabilité politique à l’intérieur de leur propre pays. Ils ne pouvaient pas se payer le faux pas d’une guerre dangereuse pour eux, avec un pays dont le peuple a montré qu’il peut et sait se battre patriotiquement contre des forces étrangères apparemment de beaucoup supérieures aux siennes. Je ne serai jamais un va-t- en guerre : pour avoir connu la guerre et ses horreurs, sachant que ce sont toujours les plus pauvres qui en endurent les plus terribles conséquences, je suis un homme de paix. Et je pense que se mobiliser pour dénoncer le plus fort possible les actes d’agression de Pékin, loin d’être un acte de guerre qui selon certains « jette de l’huile sur le feu », est, au contraire un acte fondamentalement pacifique. A condition que cette mobilisation soit ferme et très large, en un mot : populaire. Et cela passe par l’information concrète, totale et sans censure de la réalité vécue par les pêcheurs.

Je n‘ai jamais non plus accepté une analyse dont la conclusion est : la négociation avec la Chine n’est pas l’affaire du peuple dans son ensemble, c’est celle du Parti (et quand je dis Parti ici, je veux dire un petit nombre de dirigeants qui « négocient » sans contrôle aucun avec un petit nombre de dirigeants chinois). La terre et la mer du Vietnam sont l’affaire de chaque Vietnamien et de tous les Vietnamiens ! Comme le sort de nos compatriotes pêcheurs est l’affaire de chaque citoyen du Vietnam. Tous doivent connaître dans le détail leur situation, les entendre raconter leur vie et leurs difficultés quotidiennes pour que tous soient mobilisés pour aider, pour protéger, pour faire face au danger commun. Interdire les informations à ce sujet, c’est affaiblir le Vietnam qui a toujours tiré l’essentiel de sa force de son propre peuple.

J’ai aussi découvert que d’un côté, la Chine, à partir d’un système politique, administratif, juridique et militaire solidement construit, employait des moyens de propagande énormes auprès de son peuple et à l’étranger pour tromper l’opinion et isoler le Vietnam alors que les dirigeants vietnamiens ne créaient même pas les conditions de faire connaître à l’intérieur de leur propre pays les arguments historiques et juridiques qui justifient ses revendications souveraines pour Hoang Sa et Truong Sa. Pas de programme réel et solide dans les écoles pour que les jeunes apprennent à connaître l’histoire, la géographie de ces archipels qui appartiennent à la patrie. La plupart des étudiants de Ly Son que j’ai rencontrés ne connaissent même pas la situation et le nom des îles de l’archipel Hoang Sa où leur père, leurs oncles et leurs grands frères vont pêcher ! Seuls des efforts sérieux sont faits dans ce sens à Da Nang, et , à un degré moindre, à Quang Ngai. Il faut en féliciter les dirigeants locaux. Il n’y a pas encore de loi sur la mer présentée et votée par l’assemblée nationale…Bref, plus je me passionnais pour cette question, plus je mesurais son importance et plus je découvrais qu’en procédant si timidement, le Vietnam ne pourrait jamais gagner la dure bataille qui l’oppose à l’expansionnisme de Pékin, que les îles avaient déjà été volées et que la mer allait aussi devenir celle des pêcheurs chinois. Alors j’ai écrit de nombreux articles, certains ironiques, d’autres amers et même accusateurs. Mais si écrire des articles, rechercher des documents est très important, cela ne suffit pas. Il faut agir concrètement. C’est ce qui m’a décidé à me rendre à Ly Son, à Binh Chau, principales bases de départ des chalutiers pour Hoang Sa, afin de rencontrer les pêcheurs, voir comment ils vivaient et dans quelles conditions ils devaient travailler. J’avais déjà à ce moment là ma nationalité vietnamienne et ma CMND. J’avais donc le droit de me rendre sur l’île, sans formalité particulière. Je l’ai fait, en bénéficiant partout où j’allais de la bienveillante attention des différents services de sécurité qui me suivaient attentivement, sans doute pour me « protéger » des méchants pêcheurs…J’ai tout de suite senti que, malgré le respect extérieur que les autorités me témoignaient, j’étais un personnage gênant, voire suspect. J’avais décidé d’aller pêcher dans la zone de Hoang Sa comme membre de l’équipage d’un chalutier pour réaliser un reportage sur les conditions de vie de ces pêcheurs en haute mer, près des îles. Ma santé physique et mon expérience de la mer me le permettaient. J’ai donc trouvé un patron pêcheur qui a accepté de m’emmener à condition que je paie les frais. Mais quand nous sommes tous les deux allés à Quang Ngai au centre provincial des « Bien Phong » pour m’inscrire sur le registre des pêches, personne n’a voulu me recevoir. Par la suite, mon ami pêcheur, très embarrassé, est venu me rendre mon argent disant que sa femme n’était pas d’accord. Pauvre homme ! J’ai bien compris qu’il s’était mis en danger. J’ai écrit un long article sur cette histoire qui a été publié par Bauxite Vietnam : « Hoang Sa : sep di vang ! ». Je suis revenu plusieurs fois (5 fois en tout) à Binh Chau et Ly Son. J’ai dormi et mangé chez les pêcheurs, posé et tiré les filets avec eux. Je n’ai jamais pu réaliser mon souhait parce que les « an ninh » ou « cong an » ou « bien phong », sans jamais m’interdire quoi que ce soit, ont fait pression dans mon dos sur les pêcheurs pour faire échouer mon projet. A partir de là, suite à une rencontre que j’ai sollicitée avec M. Nguyen Minh Triet, alors président de la République en exercice, est née l’idée du film « Hoang sa Vietnam : Noi Dau Mat mat ».

Bản dịch của thành viên hdat:

Tôi sẽ cố gắng trả lời hai câu hỏi cùng lúc.

Cách đây khoảng 7 năm, khi đọc tờ báo Thanh Niên tại Nha Trang, tôi thấy ngư dân Quảng Ngãi bị Trung Quốc (“tàu lạ”) bắt trong hải phận gần Hoàng Sa và đưa đi. Tôi hỏi một số bạn, các cựu tù nhân chính trị dưới chế độ cũ và thấy họ gặp khó khăn khi trả lời. Chắc chắn, họ không muốn làm tổn thương tôi hay làm cho tôi tức giận, vì họ biết tính cách của tôi. Nhưng, sự im lặng càng làm tôi tò mò và tôi cảm thấy họ coi mình như một đứa trẻ mà họ là người lớn muốn che giấu những điều cấm kỵ, và tôi muốn khám phá ra nó. Vào thời điểm đó, tôi không đọc các trang mạng Internet. Vì vậy, tôi bắt đầu đặt câu hỏi xung quanh tôi, những người gặp ngoài đường như : người bán báo, người đạp xích lô, người bán phở, đồng nghiệp dạy học, …. nghĩa là khắp nơi, họ tuy đều buồn nhưng đều không dám nói. Tôi hiểu rằng các cuộc nói chuyện về vấn đề không được chính quyền khuyến khích. Ngược lại, tôi phải công nhận rằng người dân đều biết tuy không chính xác rằng ngư dân ở miền Trung bị Hải quân Trung Quốc tấn công. Vì vậy, tôi tiếp tục tìm kiếm sâu hơn: đọc các tài liệu lịch sử về vấn đề chủ quyền, đọc các văn bản pháp lý, tập trung chú ý hơn và theo sát các tin tức. Thỉnh thoảng cũng có các tin tức trên báo mà phải để ý mới thấy nói về ngư dân và phản ứng của phát ngôn viên Bộ ngoại giao. Nhưng họ chẳng nói hay gần như không nói về tình hình thực tế của ngư dân và gia đình họ. Trong những năm cuối, tình trạng trở nên tồi tệ hơn. Chính quyền Trung Quốc tăng cường các cuộc tấn công, với bạo lực gia tăng lên cũng như sự hiện diện bất hợp pháp trong hải phận thuộc chủ quyền Việt Nam …

Báo chí Việt Nam chỉ cung cấp một vài thông tin nhất định và nhìn chung im lặng, đặc biệt về bình luận. Những nhà báo trung thực và yêu nước đã trả giá đắt cho sự can đảm của họ. Bloggers cũng vậy. Tôi bắt đầu đọc các trang mạng “xấu”, blog, và tôi đã sắp xếp thông tin, bình luận. Và tôi nhận ra rằng vấn đề này lúc đầu chỉ là một vấn đề đời sống liên quan đến việc bảo vệ những người dân hành nghề trên biển một cách hòa bình trong một khu vực thuộc chủ quyền của một đất nước, đã trở thành một vấn đề về tự do thông tin, tự do phát biểu, hay nói ngắn gọn : vấn đề dân chủ. Mặt khác, tôi đo lường được rằng bảo vệ ngư dân và gia đình họ là vấn đề của chính họ, và chỉ có nhờ vào sự đoàn kết của tất cả người dân Việt Nam. Nếu không có nó, thì cũng chẳng mong gì kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế để ngăn chặn một cách bất bạo động các cuộc tấn công của Trung Quốc, bọn bành trướng lòng tham không đáy. Nhưng tình đùm bọc vẫn có giữa những người Việt Nam lại bị hạn chế, đôi khi còn bị ngăn cản vì các tin tức không được phổ biến bởi ngay chính quyền. Nó cũng như một người hàng xóm xâm nhập vào nhà của mình rồi xiết cổ trẻ con, mà người cha cấm chúng không được kêu cứu vì sợ kẻ kia làm vỡ bình hoa hay làm bể đồ đạc. Nhiều bạn bè tôi làm việc cho chính quyền đã đưa ra những lý lẽ về vấn đề “nhạy cảm” rằng nó đang được đàm phán và không nên làm ảnh hưởng, về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, về khả năng trả thù về kinh tế, về sự cần thiết của “cống hiến” đối với Bắc Kinh để được bình yên, … Chẳng có cái nào có thể thuyết phục được tôi. Ngược lại, ngay cả những lý do đó được đưa ra bởi các lãnh đạo Việt Nam yêu nước một cách trung thực và chân thành, thì tôi cũng coi chúng là là những quyết định thiển cận. Thứ nhất, bởi vì, họ không muốn thấy rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc rất cần một sự yên tĩnh nhằm tạo ra hình ảnh tốt để tiếp tục tăng trưởng kinh tế của họ, đảm bảo tính ổn định chính trị ngay trong đất nước của họ . Họ không thể không tính đến giá phải trả cho một cuộc chiến tranh nguy hiểm đối với một quốc gia mà ai cũng biết rằng người dân nước đó có thể chiến đấu chống lại các quân đội nước ngoài rõ ràng mạnh hơn họ rất nhiều. Tôi sẽ chẳng bao giờ là người hiếu chiến vì tôi đã biết thế nào là chiến tranh và những hình ảnh kinh hoàng của nó. Tôi cũng biết rằng, những người nghèo nhất luôn là những người gánh chịu hậu quả khủng khiếp nhất. Tôi là một người của hòa bình. Và tôi nghĩ rằng biểu tình tố cáo hành vi xâm lược ở Bắc Kinh, dù mạnh nhất, chẳng những còn xa là một hành động chiến tranh theo một số người nói “đổ thêm dầu vào lửa”, mà thực ra là một hành động cơ bản cho hòa bình. Với điều kiện là những cuộc biểu dương như vậy phải kiên quyết và rộng rãi, hay nói cách khác là có tính quần chúng. Và điều này đòi hỏi thông tin cụ thể, đầy đủ và không bị cắt xén về sự thực của ngư dân.

Tôi cũng không bao giờ chấp nhận lập luận với kết luận: đàm phán với Trung Quốc không phải là vấn đề của người dân nói chung mà chỉ là của Đảng (khi tôi nói Đảng ở đây, thực ra chỉ là một số ít các nhà lãnh đạo những người đàm phán mà không có sự kiểm soát cũng như với một số ít nhà lãnh đạo Trung Quốc). Đất và biển của Việt Nam là vấn đề của mỗi cũng như của mọi người Việt Nam! Cũng như vậy, số phận của ngư dân, đồng bào chúng ta, thuộc về trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam. Tất cả đều phải biết mọi chi tiết về tình trạng của ngư dân, lắng nghe họ nói về cuộc sống vật lộn hàng ngày mà có thể huy động để chẳng những giúp đỡ, bảo vệ họ, mà còn chống lại mối nguy hiểm chung. Việc cấm thông tin về vấn đề này chỉ làm cho Việt Nam yếu đi, một đất nước vẫn có được sức mạnh nhờ tất cả đồng lòng.

Mặt khác qua đó, tôi cũng khám phá ra rằng, Trung Quốc, từ một hệ thống chính trị, hành chính, pháp lý và quân sự được xây dựng vững chắc, lại sử dụng các phương tiện tuyên truyền mạnh mẽ chẳng những trong nước mà còn cả với quốc tế để lừa dối dư luận và cô lập Việt Nam trong khi các nhà lãnh đạo Việt Nam lại không tạo ra các điều kiện để thông báo ngay trong đất nước của mình các tài liệu lịch sử và pháp lý để chứng tỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Không có chương trình nào vững chắn và thực tế trong nhà tường dạy giới trẻ tìm hiểu về địa lý, lịch sử của các quần đảo, một phần của Tổ quốc. Hầu hết các sinh viên mà tôi đã gặp tại Lý Sơn thậm chí không biết tình hình và tên của các hòn đảo của Hoàng Sa, nơi mà cha, chú bác và anh em họ đi đánh cá! Chỉ ở Đà Nẵng người ta mới cố gắng quan tâm đến vấn đề này, và ở Quảng Ngãi với một mức độ thấp hơn. Chúng ta phải chúc mừng các nhà lãnh đạo địa phương này. Hiện vẫn chưa có luật biển được đệ trình lên quốc hội … Tóm lại, tôi càng thích thú đến vấn đề này, tôi càng thấy tầm quan trọng của nó và tôi còn phát hiện ra rằng với những hiểu biết của mình còn ít ỏi thì Việt Nam không bao giờ có thể giành chiến thắng trong trận chiến cuối cùng chống bọn bành trướng Bắc Kinh, rằng các đảo đã bị đánh chiếm và hải phận cũng sẽ thuộc về sở hữu thực sự của ngư dân Trung Quốc. Vì vậy, tôi đã viết nhiều bài viết, một số với mỉa mai, với cay đắng và thậm chí cả với những lời buộc tội. Nhưng nếu chỉ viết bài, chỉ tìm tài liệu tuy là rất quan trọng, thì cũng không đủ. Chúng ta phải có hành động cụ thể. Đó là những gì thúc đẩy tôi quyết định đi đến Lý Sơn, đến Bình Châu, nơi các tàu thuyền đánh cá xuất phát đi ra Hoàng Sa, để gặp gỡ ngư dân, xem sống ra sao và làm việc trong điều kiện nào. Tôi đi vào thời điểm mà tôi đã có quốc tịch Việt Nam, có thẻ CMND (chứng minh nhân dân). Nhờ vậy, tôi có quyền đến các đảo mà không cần bất kỳ thủ tục đặc biệt. Tôi đã đi nhiều nơi như vậy, và chỗ nào cũng được hưởng sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan an ninh đi theo chắc để “bảo vệ” tôi trước những ngư dân xấu bụng … Ngay lập tức, tôi cảm thấy rằng, mặc dù chính quyền tỏ ra tôn trọng tôi bề ngoài, nhưng thực ra đối với họ tôi chỉ là kẻ gây phiền nhiễu , một kẻ đáng nghi ngờ. Tôi quyết định xuống một tàu đánh cá ra khu vực Hoàng Sa như một ngư dân để làm một phóng sự về cuộc sống của các ngư dân trên biển cạnh các hòn đảo. Sức khỏe và kinh nghiệm về biển cho phép tôi làm được điều đó. Tôi tìm được một chủ thuyền đồng ý cho tôi đi cùng với điều kiện phải trả lệ phí. Nhưng khi hai chúng tôi đã đến Quảng Ngãi, trạm “Biên phòng” của tỉnh để ghi danh vào sổ đăng ký ngư dân, không ai muốn tiếp tôi. Sau đó, chủ thuyền với bộ mặt ngượng nghịu đến trả lại tiền tôi và nói rằng vợ ông ta không đồng ý. Tội nghiệp ông ấy! Tôi hiểu rằng ông đã tự tạo ra nguy hiểm cho bản thân. Tôi đã viết một bài viết dài kể về câu chuyện này và nó đã được đăng trên Bauxite Việt Nam, “Hoàng Sa: sếp đi vắng! “. Tôi đã quay lại Bình Châu Lý Sơn nhiều lần (5 tất cả). Tôi ngủ và ăn ở các nhà ngư dân, kéo và xếp lưới với họ. Tôi không thể thực hiện những gì tôi muốn vì luôn có “an ninh”, “công an” hay “biên phòng” tuy không cấm tôi, nhưng sau lưng tôi họ làm sức ép lên các ngư dân để làm hỏng dự định của tôi. Từ những sự việc này, và sau một cuộc gặp gỡ theo đề nghị của tôi với ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước lúc đó, tôi có ý tưởng làm bộ phim “Hoàng Sa Việt Nam: Nỗi đau mất mát”.


Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

2- Ông có nghĩ là nhà nước VN sẽ cấm chiếu không , hay ông thực sự ngạc nhiên vì sự cấm đoán này ? Ông có dự định sẽ vận động hay đấu tranh như thế nào để nó được trình chiếu rộng rãi tại VN không ? Hay ông chấp nhận sự cấm đoán này và chỉ tìm cách phổ biến nó ở hải ngoại thôi ?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

J’ai été étonné de cette interdiction que je trouve violente, insultante pour moi et mes amis patriotes présents ce soir là, injuste pour les pêcheurs, très négative pour l’image du pouvoir et des forces de police au Vietnam et à l’étranger et enfin totalement contre- productive car elle a fait grimper en flèche le nombre de visiteurs du Film sur Youtube, provoqué la réaction de l’AFP et d’un bon nombre de journaux et revues étrangères. En un mot, je la qualifierai de brutalement imbécile. A moins que ce ne soit un stratagème pour faire au film une énorme publicité que nous n’aurions pas eu les moyens de lui offrir, car ce soir- là à Saigon, seulement une centaine d’amis devaient assister à sa projection privée. Si c’était là le but publicitaire visé, je dois remercier les cong an et ceux qui ont commandé leur intervention.
Mon but n’a jamais été de partir en guerre contre les autorités Saïgonnaises ni contre ceux qui ont donné cet ordre d’interdiction. Mon but aujourd’hui n’est pas de leur faire un procès. J’ai dit et écrit ce que j’en pensais. Je le maintiens et je laisse aux responsables toute la responsabilité de leur décision. Mais, ce que je puis affirmer, c’est qu’ils vont tout droit dans le mur car plus ont interdit et plus on pousse les gens à lutter contre l’interdit, surtout s’il est injuste. Si les censeurs avaient pu prouver que ce film est un film de propagande contre le régime, s’ils avaient pu montrer qu’il fait du mal aux pêcheurs, s’ils avaient pu trouver dans ce film des propos insultants pour la Chine ou le peuple chinois, s’ils avaient pu y trouver des informations fausses, alors , ils auraient eu des raisons d’interdire sa projection. Mais il n’y a rien de tout cela. Et, en admettant que je n’ai pas demandé l’autorisation de projection (privée) selon la loi vietnamienne, ils auraient pu me guider pour en faire les démarches s’ils avaient vraiment voulu que le film soit projeté. Visiblement ils ne le voulaient pas ! La question que je me pose est « ils » c’est qui ? A qui profite le fait que ce film soit interdit de projection au Vietnam ? J’ai un élément de réponse qui est : aux dirigeants de Pékin. Mais la réponse est-elle si simple ? L’interdiction ne profite-t-elle pas à d’autres qui sont, eux, Vietnamiens ? L’Histoire finira bien par nous le dire. Quoi qu’il en soit, pour un Vietnamien digne de ce nom l’interdiction et son procédé est inacceptable. Et je suis absolument sûr qu’un jour ce film documentaire sera projeté au Vietnam où il a déjà beaucoup été vu par internet. En attendant, je ferai tout pour qu’il soit le plus largement vu à l’Etranger.

Bản dịch của thành viên hdat:

Tôi ngạc nhiên với lệnh cấm và thấy nó thật quá đáng, nó xúc phạm đến tôi và cả những người bạn yêu nước đêm đó, nó không công bằng cho ngư dân, nó tạo hình ảnh tiêu cực cho chính quyền và công an chẳng những ở Việt Nam và ở cả nước ngoài và cuối cùng nó hoàn toàn phản tác dụng bởi vì nó làm tăng số lượng người truy cập trên YouTube, gây nên phản ứng của AFP, một số tờ báo và tạp chí nước ngoài. Hay nói gọn là ngu ngốc và tàn nhẫn. Trừ khi đây là một mưu đồ để quảng cáo cho bộ phim để nhiều người xem, vì chúng tôi không có khả năng thực hiện. Đêm đó ở Sài Gòn, chỉ khoảng trăm bạn bè đã đến tham dự buổi chiếu tư nhân. Nếu đây là mục đích quảng cáo, thì tôi phải cảm ơn công an và những người lên án lệnh cấm.

Mục tiêu của tôi là không bao giờ phát động một cuộc chiến chống lại chính quyền thành phố Sài Gòn hay chống lại những người ra lệnh cấm. Mục tiêu của tôi ngày nay không phải là kiện họ ra toà. Tôi nói và viết những gì tôi nghĩ. Tôi vẫn bảo vệ quan điểm của mình và để cho những người đó chịu trách nhiệm cho hành động của họ. Nhưng tôi có thể khẳng định rằng họ đang lao thẳng đầu vào tường . Họ càng cấm, họ càng đẩy con người chống lại các lệnh cấm, đặc biệt khi chúng phi nghĩa. Nếu người kiểm duyệt có thể chứng minh rằng bộ phim này là một bộ phim tuyên truyền chống chế độ, nếu họ có thể cho thấy rằng nó làm tổn thương các ngư dân, nếu họ có thể tìm thấy trong bộ phim này những gì xúc phạm đến Trung Quốc, đến người Trung Quốc, nếu họ có thể tìm thấy các thông tin sai lệch, thì họ mới có lý do để cấm chiếu nó. Nhưng họ chẳng tìm ra được bất cứ lý do gì. Và, giả sử tôi đã không có giấy phép chiếu (tư nhân) theo pháp luật Việt Nam, họ có thể hướng dẫn cho tôi làm các thủ tục nếu họ thực sự muốn bộ phim được chiếu. Có thể thấy rằng họ không muốn! Tôi tự hỏi mình “họ” là ai? Ai được lợi khi bộ phim bị cấm chiếu ở Việt Nam? Tôi có một câu trả lời đó là: các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh. Nhưng câu trả lời chẳng nhẽ đơn giản như vậy ư? Hay lệnh cấm lại làm lợi cho chẳng ai khác ngoài chính những người Việt Nam ? Lịch sử sẽ cho chúng ta biết câu trả lời cuối cùng. Dù sao, đối với một người xứng đáng với danh Việt Nam, thì lệnh cấm và những hành động lúc đó là không thể chấp nhận được. Và tôi hoàn toàn chắc chắn rằng một ngày nào đó bộ phim tài liệu này sẽ được trình chiếu chính thức tại Việt Nam, ngay cả khi nó đã được coi nhiều trên mạng. Trong khi chờ đợi, tôi sẽ làm mọi thứ để cho nó chiếu rộng rãi nhất ở nước ngoài.


Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

3- Tiền từ thiện thâu được từ việc trình chiêu cuốn phim này sẽ do ai bảo quản và sẽ được sử dụng như thế nào ? Nếu được dùng để giúp đỡ những ngư dân được phỏng vấn trong phim thì ông sẽ làm gì để bảo đảm tiền đến được tận tay họ mà không bị ăn chặn?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

L’association dont je suis président, l’ADEP France Vietnam ( Hoi huu nghi phat trien tra doi su pham Phap Viet) a déjà engagé depuis plus d’un an un programme d’aide aux veuves et aux orphelins des pêcheurs. Pour l’achat de produits de première nécessité, aliments , médicaments, pour des bourses d’études annuelles. En mai dernier j’ai pu aider 6 veuves de pêcheurs récemment disparus disparus et le Loup de mer Mai Phung Luu (22trieu VND). En novembre, j’ai pu encore leur transmettre 66 trieu VND). Nous avons déjà réuni une nouvelle somme s’élevant à 70 trieu dongs. Et j’espère bien que chaque projection du film s’accompagnera d’une collecte importante. Ainsi nous aiderons efficacement les familles qui en ont le plus besoin. Cette aide va être clairement consignée dans la page Web de l’association www.adepfrancevietnam.fr email : adep@adepfrancevietnam.fr . Les sommes données, les noms des récipiendaires (avec les reçus signés et datés), les noms des donateurs (pour ceux qui le désirent) y seront clairement consignés. Enfin et surtout je dois dire que les autorités ne nous ont jamais fait de difficulté pour transmettre directement, sans aucun intermédiaires, les sommes que nous avons toujours données sur place. Je dois dire aussi que, grâce au film et aux lettres des enfants de pêcheurs, le grand quotidien Thanh Nien a publié une série de cinq articles et a appelé ses lecteurs à participer à une campagne de solidarité matérielle. Les lecteurs ont été très généreux. J’espère que cela ne fait que commencer.

Bản dịch của thành viên hdat:

Hiệp hội mà tôi làm chủ tịch, ADEP Pháp Việt Nam (Hội Hữu Nghị phát triển trao đổi sư phạm Pháp Việt) đã tham gia từ hơn 1 năm vào chương trình giúp những góa phụ và trẻ mồ côi của ngư dân để mua nhu yếu phẩm thiết yếu, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, học bổng hàng năm. Tháng Năm năm ngoái tôi đã giúp được 6 quả phụ của những ngư dân vừa mất tích và con sói biển Mai Phụng Lưu (22 triệu đồng). Tháng mười một, tôi cũng chuyển đến cho họ 66 triệu đồng. Chúng tôi vừa quyên góp được thêm 70 triệu đồng. Và tôi hy vọng sau mỗi buổi chiếu phim sẽ quyên góp được một số tiền lớn. Như vậy, chúng tôi có thể giúp một cách hiệu quả các gia đình, những người thật sự cần nó. Sự trợ giúp này sẽ được ghi rõ trong trang web của hiệp hội www.adepfrancevietnam.fr email: adep@adepfrancevietnam.fr. Số tiền quyên đóng góp, người thu nhận (biên nhận có chữ ký và ngày), tên của người giúp đỡ (cho những ai muốn) đều được ghi rõ ràng. Cuối cùng, tôi phải nói rằng chính quyền chưa bao giờ gây bất kỳ khó khăn khi chúng tôi giao quà trực tiếp, không qua trung gian. Chúng tôi đưa tiền ngay tại chỗ. Tôi cũng muốn nói rằng thông qua phim ảnh và các thư của con em ngư dân, tờ báo hàng ngày Thanh Niên xuất bản một loạt năm bài báo và kêu gọi độc giả tham gia chiến dịch giúp đỡ về vật chất. Độc giả đã rất hào phóng. Tôi hy vọng đây chỉ là khởi đầu.


Thành viên Ganh Hang Hoa hỏi:

4- Trước kia ông tranh đấu chống lại chính phủ VNCH , cho rằng CS và Mặt trận giải phóng miền Nam sẽ đem lại độc lập tự do hạnh phúc thực sự cho người dân 2 miền Nam Bắc . Bây giờ sau 37 năm dưới sự cầm quyền của đảng CS , ông có suy nghĩ gì về đời sống của người dân VN ngày nay , so với trước năm 1975 ?

Thành thật cám ơn ông .

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Comme je l’ai déjà dit et expliqué dans mes précédentes réponses on ne peut comparer la vie de la très grande majorité des Vietnamiens pendant la guerre avec la vie aujourd’hui. (Je n’ai connu que celle du Sud mais je pense qu’au Nord cela devait aussi être très dur).

Ce que l’on peut dire si on est honnête c’est que Vietnam en paix est incomparablement plus facile à vivre que l’enfer qu’il était avant 1975 et même immédiatement après, pour la majorité du peuple. Ce que je puis dire aussi c’est que le Vietnam se développe rapidement selon les critères officiels utilisés pour mesurer ce développement. Cependant, ces critères économiques, très généraux et facilement faussés, traduisent quelquefois très mal la réalité. Pour que ce développement soit solide et durable, le Vietnam doit relever nécessairement certains défis : réduire vraiment le fossé encore très grands entre les pauvres et les riches,(or , il semble s’aggraver), rétablir la justice sociale en instaurant un droit concret à l’école gratuite, à la santé et au logement pour les plus pauvres. C’est à ces premiers critères selon moi qu’on doit juger la force et la modernité d’une société. Le Vietnam doit aussi vaincre « l’ennemi intérieur » qui est la corruption, véritable gangrène qui pourrit le système de haut en bas. Et il faut commencer par le haut ! En même temps, le Vietnam doit garantir son indépendance si chèrement acquise par les générations précédentes : en protégeant ses terres, aux frontières et dans le pays ; en protégeant sa mer et ses îles ; en protégeant ses matières premières et en évitant de les brader à l’Etranger (bauxite des hauts plateaux, charbon et autres minerais, bois, vendus en contrebande à travers des frontières très perméables…). C’est aussi de cela que dépend l’avenir du pays. Le Vietnam doit protéger son environnement des pollutions industrielles sauvages qui prennent souvent racine dans la corruption et le profit immédiat de quelques uns. Tous ces défis ne peuvent être relevés que si la majorité du peuple participe activement à ces nouveaux combats. Et c’est là le plus grand défi que le Vietnam doit maintenant relever : le défi démocratique. Le mieux vivre durable et le bonheur sont à ce prix.

Bien sûr, par ces appréciations personnelles, je ne veux donner aucune leçon. Si on analyse bien l’actualité et les « affaires » malodorantes et choquantes qui surgissent de temps à autres à la surface des sociétés occidentales comme celle de la France et des USA par exemple, on voit bien que ces pays ont eux-aussi, des défis démocratiques à relever. Ne parlons pas de la société chinoise qui est l’anti-démocratie d’où l’humain est exclu. Ce que je veux dire simplement, pour répondre à votre dernière question, c’est qu’après les immenses sacrifices consentis par des générations pour avoir droit à une société civile, libre, où il fait bon vivre de son travail, après ce que le Vietnam a représenté d’espoir pour les jeunesses du Monde entier, nombreux sont les gens comme moi qui pensent que le peuple du Vietnam mérite mieux que ce qu’il a .

Je vous remercie de vos questions.

Bản dịch của thành viên hdat:

Như tôi đã nói và giải thích trong các câu trả lời trước đây, chúng ta không thể so sánh cuộc sống của đại đa số người Việt Nam trong chiến tranh với cuộc sống hôm nay. (Tôi chỉ biết miền Nam, nhưng tôi nghĩ miền Bắc cũng khó khăn như vậy).

Nếu chúng ta nói một cách trung thực, đa số người dân cho rằng ở Việt Nam trong hòa bình cuộc sống chắc chắn dễ dàng hơn là cuộc sống dưới địa ngục trước năm 1975 và thậm chí ngay sau khi đó. Tôi cũng có thể nói là Việt Nam đang phát triển nhanh chóng theo các tiêu chí chính thức được sử dụng để đo lường sự phát triển. Tuy nhiên, các chỉ tiêu kinh tế, rất chung chung và dễ dàng bị bóp méo, đôi khi thể hiện sai thực tế. Để phát triển chắc chắn và vững bền, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức nhất định : giảm khoảng cách vẫn còn rất lớn giữa người nghèo và người giàu (mà, điều này đang có vẻ tồi tệ hơn), khôi phục lại công bằng xã hội như học miễn phí, y tế và nhà ở cho người quá nghèo. Đây là tiêu chí, mà tôi nghĩ để đánh giá sức mạnh và hiện đại của một xã hội. Việt Nam cũng phải vượt qua những “nội thù” đó là tham nhũng, nó làm hư thối cả hệ thống từ trên xuống dưới. Và nó phải bắt đầu từ cấp trên! Đồng thời, Việt Nam cần đảm bảo vệ nền độc lập mà các thế hệ trước đã trả giá đắt để đạt được : bảo vệ đất, bảo vệ biên giới, bảo vệ hải phận và hải đảo, bảo vệ tài nguyên, tránh bán tháo chúng cho nước ngoài (bauxite Tây Nguyên, than và khoáng sản khác, gỗ,) …, hàng giả được chuyển dễ dàng qua biên giới. Tương lai đất nước phụ thuộc vào những điều này. Việt Nam phải bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm công nghiệp hoang dã thường bắt nguồn từ tham nhũng và lợi ích trực tiếp của một vài cá nhân. Tất cả những thách thức chỉ có thể được vượt qua nếu đa số người dân cùng tham gia vào cuộc chiến mới này. Và đây là thách thức lớn nhất mà Việt Nam hiện nay phải đối mặt: thách thức của dân chủ. Đó là cái giá trả cho một cuộc sống ổn định và hạnh phúc.

Tất nhiên, đây chỉ là những đánh giá cá nhân, tôi không muốn đưa ra bất kỳ bài học nào. Nếu chúng ta phân tích kỹ những tin tức, những “vụ việc” bốc mùi và gây sốc đôi khi xuất hiện ngay trong xã hội ví dụ như Pháp hay Mỹ chẳng hạn, thì rõ ràng là bản thân các nước này cũng có những thách thức dân chủ. Tất nhiên chẳng cần nói đến xã hội Trung Quốc là một chế độ phản dân chủ, nơi mà con người bị không có giá trị gì. Tôi muốn nói một cách đơn giản, trả lời cho câu hỏi cuối cùng của bạn là sau những hy sinh to lớn của nhiều thế hệ để đạt được một xã hội văn minh, tự do, nơi mà con người có thể sống nhờ công sức của mình, từ những gì mà Việt Nam đã đại diện cho hy vọng của thanh niên của thế giới, nhiều người như tôi nghĩ rằng dân tộc Việt Nam xứng đáng hơn những gì hiện tại.

Cám ơn các câu hỏi của bạn.

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (Phần 4)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

Đây là một bài phỏng vấn rất đáng đọc.  Các thành viên của diễn đàn X-cafevn đặt nhiều câu hỏi rất hay, và ông André Menras Hồ Cương Quyết trả lời các câu hỏi cũng rất thú vị. Khi trả lời, ông HCQ đã mô tả nhiều chi tiết về cuộc sống của người dân ở Quãng Ngải trong thời gian ông sống ở VN, bắt đầu từ những năm 1960s, 1970s…và thời gian sau năm 1975 và mấy năm qua.

“Trên các blog, đã có nhiều nguời thốt lên: “Ông Tây này còn yêu Việt Nam, còn dám đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, còn dám đòi quyền sống, quyền đựoc nói cho nguời Việt hơn cả dân mình!””. 

Mời các bạn đọc thưởng thức.

André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe  (Phần 4)

Submitted by TongBienTap X-cafevn.org, on Tue, 02/07/2012 – 03:18

Phần Giới thiệuPhần 1Phần 2Phần 3

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Thành viên kiwinbanana hỏi:
Chào ông Hồ Cương Quyết,

Cám ơn ông đã bỏ thời gian trò chuyện với chúng tôi. Tôi xin được phép có vài câu hỏi:

1. Sau nhiều năm ủng hộ chính quyền đương thời của Việt Nam, ông có những thay đổi nào trong suy nghĩ, nhận thức, và niềm tin của mình về chính quyền nầy?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je pense avoir déjà répondu à cette question dans mes précédentes réponses. Dans la vie, en général, la déception répond souvent à l’espoir. En politique, c’est une règle générale, dans tous les pays et tous les systèmes. Le Vietnam n’échappe pas à cette triste règle.

Bản dịch của thành viên hdat:
Tôi nghĩ rằng tôi đã trả lời câu hỏi này trong câu trả lời trước đây của tôi. Trong cuộc sống, nói chung, thất vọng thường là kết quả của hy vọng. Trong chính trị, đây là một quy luật chung, trong tất cả các nước và tất cả các chế độ. Việt Nam cũng không là ngoại lệ trong quy luật đáng buồn này.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
2. Nếu có thể quay lại thời gian, ông vẫn sẽ ủng hộ CQVN qua những hành động từng làm? Hay ông sẽ suy nghĩ và hành động khác đi?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je l’ai déjà dit: je ne regrette rien de ce que j’ai fait par le passé aux côtés d’hommes et de femmes merveilleux qui m’ont appris la valeur de la modestie, de la dignité, du courage, de la solidarité. Je n’ai rien oublié de tout cela et essaie de me montrer digne de cette leçon d’humanité. Je n’ai rien à changer et suis fier d’avoir fait ce que j’ai fait, quand je l’ai fait où je l’ai fait et avec qui je l‘ai fait.

Bản dịch của thành viên hdat:
Tôi đã nói, tôi không hối tiếc những gì tôi đã làm trong quá khứ cùng với những người đàn ông và phụ nữ tuyệt vời, những người đã dạy tôi giá trị của sự khiêm tốn, lòng can đảm, nhân phẩm, tình đoàn kết. Tôi không quên gì và cố gắng chứng minh bản thân mình xứng đáng với những bài học tình người này. Tôi không thay đổi và tự hào với những gì tôi đã làm vào bất kỳ thời điểm nào với bất cứ ai.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
3. So sánh giữa tình yêu đất nước Việt Nam của ông và những người sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, ông nghĩ nó có khác nhau hay giống nhau? Và tình yêu nầy có liên can với lý tưởng chính trị của mình? Thí dụ: có hàng triệu người liều chết tìm đường đi khỏi Việt Nam trong thập niên 70s và 80s, vì để tìm tự do và vì lý do tư tưởng/chính trị. Họ có thể không chấp nhận hoặc ghét CQVN (cũng như nhiều người VN khác, kém may mắn hơn nên không ra đi được), nhưng họ vẫn yêu tổ quốc Việt Nam. Ở bình diện đó, nếu thay vào CQCS VN hiện nay là một chính quyền khác, thí dụ như VNCH ngày xưa, ông vẫn ủng hộ và yêu đất nước VN?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Un éminent “expert” de l’Asie du Sud-est, nommé De Trégloré, directeur à Bangkok d’un non moins “expert” Institut de Recherches sur l’histoire contemporaine du S-E asiatique” a déclaré à une journaliste de l’Agence France Presse que je faisais partie de ces étrangers qui se voulaient « plus vietnamiens que les Vietnamiens » et que mon film sur les pêcheurs était « ultranationaliste ». Avec de pareils chercheurs, la recherche est bien malade ! Bien que français tous les deux, nous n’avons ni la même culture, ni les mêmes valeurs. Il vit dans sa bulle de son milieu social et ne peut ni ne veux rien comprendre. Moi, je suis toujours tourné vers les plus pauvres et ces qui subissent. Lui, certainement pas. Moi, je n’ai pas de barrières de frontières ni de langue, ni de couleur de peau quand il s’agit des droits des peuples et des droits de l’homme. Mon nationalisme, mes nationalismes sont toujours fondés sur le respect mutuel, sur la défense de la justice et du droit. C’est pour toutes ces raisons que quand j’avais 20 ans j’ai pris fait et cause et risqué ma vie aux côtés du Vietnam agressé, tel que j’en ai été témoin. C’est pour les mêmes raisons que je me bats aujourd’hui aux côtés du peuple vietnamien. Seuls ce qui ont une vue étroite de l’Homme et du Monde ne peuvent pas comprendre. Je suis citoyen vietnamien avec mon long nez, mes poils aux bras et sur la poitrine, mes cheveux châtains et mes yeux bleus. Mon accent est approximatif et ma prononciation rencontre souvent des accidents. Et alors ? A quoi faut-il juger un bon citoyen d’un pays au 21 ème siècle ? Je ne pense pas que ce soit aux apparences mais aux actes. Mes actes sont clairs, actes passés, actes présents. Mes papiers administratifs le sont aussi. Donc, je suis vietnamien. Et, vu les bases sur lesquelles cette nationalité m’a été décernée, je dois dire que j’en suis fier.

Maintenant suis-je plus vietnamien ou moins vietnamien que d’autres parmi mes millions de compatriotes de souche 100% vietnamienne ? Je laisse à chacun son jugement selon ses propres valeurs d’évaluation. Ce que je sais, c’est que j’aime le Vietnam comme ma seconde patrie, que je la défendrai si elle est agressée et que je lutterai pour qu’elle avance vers plus de progrès. Sans attendre de cela aucune louange ni reconnaissance parce que, bien que très différent d’aspect de la vendeuse de soupe ou du marchand de journaux du coin de la rue, je me sens profondément vietnamien. Comprenez-le ou pas : pour moi, c’est naturel. Cela ne m’empêche pas de râler contre les incivilités dans la rue, les gens qui ne savent pas se ranger pour faire la queue, qui crachent de leur moto. Je peste contre la sono des Karaoké qui vous éclate les tympans, la violence de certains cong an quand ils arrêtent les motocyclistes, les motos qui prennent feu à cause de l’essence trafiquée, les trous qui s’ouvrent d’un coup dans la chaussée saïgonnaise ( tử thần), les empoisonnements à cause des traffics d’aliments avariés, les trafics de jeunes femmes vers l’étranger, les enveloppes qu’il faut donner à certains fonctionnaires ou cadres locaux pour que votre dossier administratif soit pris en compte, les grandes affaires de faillites frauduleuses des compagnies d’Etat qui touchent les hautes sphères du pouvoir et qui pompent l’argent des contribuables… etc. Je vis tout cela comme des atteintes personnelles, j’en souffre et je ne l’accepte pas.

De la même façon que je râle contre Sarkozy et l’image déplorable que ses amis et lui donnent de « ma » France, contre les connivences de la maffia et des policiers « de la République », contre les grandes affaires de corruption qui minent les cercles du pouvoir et qui émergent à l’approche des élections… Tous ces gens sont-ils plus français ou moins français que mon père qui a commencé à travaillé à l’âge de 7 ans dans une ferme, loué par ses parents à des propriétaires terriens, qui n’est allé à l’école que 6 mois dans sa vie, qui parlait mieux la langue occitane que le français de Paris, et qui s’est arrêté de retourner la terre de son jardin à l’âge de 90 ans ? « Ma » France ce sont des gens comme lui, droits, travailleurs, dignes, honnêtes, et accueillants avec les « Etrangers ». « Ma » France n’est pas celle de Sarkozy et de ses milliardaires d’amis. De ce point de vue-là et non pas parce que Sarkozy a des racines polonaises, je considère mon père plus français que Sarkozy. De même que certaines personnes, y compris haut placées qui vivent au Vietnam ne font pas partie de « mon » Vietnam. Je ne suis ni un mouton qui suivrait un troupeau en bêlant comme l’animal de tête, ni un désespéré qui, résigné attend les évènements en se lamentant. Je suis un modeste combattant citoyen et pacifique qui regarde dans le sens de la marche sans jamais oublier d’où il vient. Avec réalisme, mais aussi avec une part de rêve. Et, toujours avec mes amis. J’ai déjà parlé de cela dans mes réponses.

Bản dịch của thành viên hdat:
Một chuyên gia “hàng đầu” trong khu vực Đông Nam Á tên là De Trégloré, giám đốc Viện nghiên cứu về lịch sử hiện đại của Đông Nam Á ở Bangkok nói với cô nhà báo của Agence France Presse rằng tôi là một người nước ngoài muốn “Việt Nam” hơn cả những người Việt Nam, và bộ phim của tôi còn có cả tính dân tộc cực đoan. Với các nhà nghiên cứu như vậy, “nghiên cứu” là bệnh nặng! Mặc dù cả hai nói tiếng Pháp, nhưng chúng tôi không có cùng một văn hoá, cũng không cùng một giá trị. Ông ta sống khép kín trong xã hội lồng kiếng của mình, không thể và cũng không muốn hiểu điều đó. Tôi thì luôn luôn tìm đến những người nghèo nhất, những người chịu đau khổ. Ông ta chắc chắn là không. Tôi không bị hạn chế hay trở ngại về ngôn ngữ hay màu da khi nói đến các quyền của các dân tộc và nhân quyền. Nhưng chủ nghĩa dân tộc của luôn luôn dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau, bảo vệ công lý và pháp luật. Đó là những lý do mà khi mới 20 tuổi, tôi đã bât chấp nguy hiểm tính mạng mà sát cánh cùng một Việt Nam bị xâm lược, như tôi đã chứng kiến. Cũng với những lý do này mà ngày nay tôi cũng đang chiến đấu cùng với nhân dân Việt Nam. Chỉ những ai có một cái nhìn hẹp hòi đối với con người và thế giới mới không thể hiểu điều đó. Tôi là công dân Việt Nam với cái mũi lõ, lông trên cánh tay và ngực, tóc nâu và đôi mắt xanh. Cách đặt câu của tôi là gần đúng nhưng phát âm của tôi thường gặp trục trặc. Thì đã sao? Theo tiêu chuẩn nào để đánh giá một công dân tốt thế kỷ 21? Tôi không nghĩ rằng là bề ngoài mà là những hành động. Hành động của tôi luôn rõ ràng, trong quá khứ cũng như hiện tại. Tôi đã có đầy đủ giấy tờ. Vì vậy, tôi là người Việt Nam. Việc tôi có được quốc tịch đã nói lên tất cả, và tôi phải nói rằng tôi rất tự hào về điều đó.

Bây giờ tôi “Việt” nhiều hay ít hơn những người khác trong số các hàng triệu đồng bào gốc Việt 100% của tôi? Tôi để các bạn đánh giá theo cách nhìn riêng. Những gì tôi biết là tôi yêu Việt Nam như là tổ quốc thứ hai của tôi, và tôi sẽ bảo vệ nếu nó bị tấn công, tôi sẽ chiến đấu để thúc đẩy nó tiến bộ hơn. Không cần lời khen ngợi, không cần được vinh danh, bởi vì tuy bề ngoài tôi rất khác từ người bán phở, người bán báo trên vỉa hè, nhưng tôi cảm thấy rất là “Việt”. Ai hiểu nó hay không thì tùy, nhưng đối với tôi, đó là tự nhiên. Điều đó không ngăn cản tôi phản đối lối sống thiếu tư cách trên đường phố, những người chen ngang hàng, gầm rú xe gắn máy. Tôi cũng phản đối âm thanh Karaoke làm thủng màng nhĩ, sử dụng bạo lực của công an khi họ chặn xe máy, xe máy bốc cháy do xăng bị pha trộn, các ổ gà (hố tử thần) trên đường ở Sài Gòn, ngộ độc do thực phẩm hư thối nhập lậu, buôn bán phụ nữ trẻ ra nước ngoài, phong bì cho một số quan chức nhà nước cũng như địa phương để cho hồ sơ, đơn … được đảm bảo giải quyết, các vụ phá sản do gian lận của các công ty nhà nước, nhưng được nuôi bằng tiền thuế của dân, dính đến các quan chức cao cấp… vv. Tôi nhìn thấy tất cả và cảm thấy như chính bản thân bị chà đạp, tôi đau khổ và tôi không chấp nhận nó.

Cũng cùng phương thức như vậy, tôi phản đối Sarkozy và hình ảnh xấu mà ông ta và bạn bè mang lại cho nước Pháp “của tôi”, tôi chống lại sự thông đồng giữa mafia và cảnh sát “của nền Cộng hòa,” chống các vụ tham nhũng lớn đang làm yếu quốc gia nhất là trong giai đoạn bầu cử hiện nay … Tất cả những người này, họ nhiều hay ít “Pháp” hơn cha tôi? người bắt đầu làm việc từ khi 7 tuổi trong một trang trại mà ông bà tôi thuê từ các chủ đất, người chỉ đi học tất cả 6 tháng trong cuộc đời, nhưng nói ngôn ngữ Occitan(*) tốt hơn nhiều người Pháp ở Paris, và chỉ ngừng ra đồng làm việc vào tuổi 90? Nước Pháp “của tôi” là những người như cha tôi, thẳng thắn, chăm chỉ lao động, xứng đáng, trung thực và hiếu khách với những người nước ngoài. Nước Pháp “của tôi” không phải là của Sarkozy và bạn bè tỷ phú của ông ta. Từ cách nhìn này, chứ không phải vì Sarkozy có nguồn gốc Ba Lan, tôi thấy cha tôi hơn “Pháp” hơn cả Sarkozy. Cũng như một số người, bao gồm một số nhà lãnh đạo hàng đầu ở Việt Nam, không phải thuộc vào Việt Nam “của tôi”. Tôi không phải là một con cừu như những con khác làm theo con đầu đàn hay là một kẻ tuyệt vọng suốt ngày than khóc và đợi cái gì đó rơi vào tay. Tôi là một công dân khiêm tốn và hiền hoà luôn giữ vững con đường tiến về phía trước nhưng cũng không bao giờ quên mình đến từ đâu. Với tất cả thực tế nhưng cũng giữ một chút của những giấc mơ. Và, luôn luôn với bạn bè của tôi. Tôi đã đề cập điều này trong những câu trả lời trước đây của tôi.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
4. Bên cạnh cuốn phim về TS-HS, mà tôi nghĩ sẽ có nhiều người Việt Nam cảm kích, ông đã hoặc sẽ có những dự định gì để tranh đấu cho những bất công và vấn nạn – vốn là hệ quả của một chính quyền độc đảng – đang hiển nhiên trong xã hội Việt Nam, từ kinh tế, chính trị đến tôn giáo? Nếu nổ lực của ông được tập trung trong vấn đề hải đảo, ông có thấy những bất công và vấn nạn ấy?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Ma priorité présente est la défense des pêcheurs. Aider à créer un mouvement large, solide, déterminé, pour faire connaître leur sort nationalement et sur le plan international. Susciter un élan de solidarité matérielle envers eux car ils en ont terriblement besoin. En même temps et à travers ces drames humains, je souhaite faire prendre conscience à la communauté internationale des menaces qui pèsent sur le droit souverain du Vietnam en Mer du S-E asiatique, des violations de plus en plus flagrantes du droit international sur la mer par les dirigeants chinois, de la menace que cela implique pour la liberté de circulation et la paix dans cette zone du monde. Je ne me laisserai pas détourner de cette lourde tâche. Je n’ai ni crédits, ni secrétaire pour mener à bien ce combat qui demande toute la concentration de mon temps, de mes moyens financiers familiaux et de mon énergie. C’est déjà très difficile pour moi.

Pour le reste, je ne suis ni sourd ni aveugle, je vois bien des injustices, bien des violations du droit, de la Constitution, bien des abus de pouvoir à combattre mais je pense qu’il faut aller à ce qui unit le plus et cela, selon moi, c’est la défense du pays. Alors, agissons fermement, intelligemment, pacifiquement et solidairement dans ce sens, sans rien oublier du reste et en essayant de soulager ceux qui souffrent de leur combat.

Bản dịch của thành viên hdat:
Ưu tiên của tôi là bảo vệ của ngư dân. Tham gia một phong trào rộng lớn, mạnh mẽ, kiên định, công khai hoàn cảnh khó khăn của họ trong quốc gia và trước quốc tế. Gây dựng một cái đà giúp đỡ vật chất vì họ rất cần nó. Đồng thời qua các nạn mà ngư dân phải chịu đựng, tôi muốn cảnh báo thế giới nhận thức các mối đe dọa đến chủ quyền biển của Việt Nam ở Đông Nam Á, các vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về biển ngày càng nhiều của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, mối đe dọa là tự do đi lại và chung sống hòa bình trong khu vực này của thế giới. Tôi không chấp nhập bị bẻ sang hướng khác mà quay lưng lại với nhiệm vụ khó khăn này. Tôi không thể vay tiền cũng như không có người phục vụ riêng để thực hiện cuộc đấu tranh, một công cuộc đòi hỏi phải tập trung tất cả thời gian, sức lực của tôi, tài chính của gia đình. Vậy đã là rất khó khăn với tôi.

Đối với những gì còn lại, tôi không điếc cũng không mù, tôi nhìn thấy nhiều lý do để đấu tranh : bất công, các vi phạm pháp luật, Hiến pháp, lạm dụng quyền lực, .. nhưng tôi nghĩ chúng ta nên tìm đến cái mà có thể đoàn kết được tất cả chúng ta, theo ý kiến của tôi, là bảo vệ đất nước. Vì vậy, chúng ta hãy hành động một cách kiên quyết, chắc chắn, với sự thông minh, đoàn kết, không bạo lực theo hướng này, nhưng không quên cố gắng giảm sự tổn hại đến những nạn nhân của đấu tranh.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
5. Ông nghĩ thế nào về tương lai Việt Nam? Việt Nam, từ con người đến thể chế, cần phải làm gì để ngày nào đó được một xã hội như Pháp, nơi được xem là ngọn đuốc của tự do dân chủ? Và ngày ấy sẽ xảy ra trong bao lâu, 10, 20 hay 50 năm?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je ne suis pas devin et resterai très prudents sur le délai des changements sociaux. Il est certain qu’ils sont inévitables. Mais dans quel sens ? En faveur de qui ? de quelle classe sociale ? J’ai déjà répondu pour l’essentiel sur la société française. Dans la réalité, bien des acquis de la révolution ont été confisqués au peuple français … Bien des libertés restent choses formelles, sans réalité véritable. Depuis la libération du pays contre le fascisme d’Hitler en 1945, bien des acquis sociaux pour protéger les plus faibles ,jeunes, pauvres, vieux, ont été grignotés, sous prétexte de crise, par les différents gouvernements de droite (et aussi certains de gauche). La France a été donnée en pâture aux grandes sociétés et aux banques qui se sont copieusement servies sur le dos du peuple français et ont presque ruiné le pays. Heureusement, contrairement au Vietnam, les Français conservent une culture de combat social, de résistance aux agressions sociales. Mais, hélas, nous ne faisons que résister, que freiner la progression des forces énormes qui nous font retourner en arrière dans l’Histoire, qui ravivent la pauvreté, les manques de soins, qui ferment les écoles, les maternités, qui mettent à la rue même l’hiver, de plus en plus de sans-abris provenant quelque fois de classes moyennes… Non, la France actuelle, n’est pas un exemple à donner de société de progrès. Ne la rêvez pas s’il vous plaît.

Bien sûr cette situation n’est pas comparable à celle du Vietnam. Le Vietnam est parti de moins que rien, après des décades d’une guerre totale, destructrice des ressources naturelles, des talents humains de la force de travail efficace. Il est passé en quelques décades d’une société moyenâgeuse aux objectifs d’une société « développée » et moderne. Avec une frontière commune à un géant en pleine croissance et par nature expansionniste et annexionniste, le défi est colossal aussi bien au niveau matériel qu’au niveau du changement des mentalités. Le système politique que le pays s’est donné a été dicté par la guerre et les alliances nécessaires. Il est issu de cette situation et en est l’héritage. Or, la guerre, même si elle n’a été gagnée que grâce au concours de la majorité du peuple vietnamien, n’est pas un modèle de démocratie. Elle a toujours impliqué que les chefs soient aveuglément obéis, sans aucune discussion. C’était alors une question de vie ou de mort. Ce système de fonctionnement ne correspond pas à celui qui est nécessaire pour développer un pays en temps de paix. Il ne correspond pas non plus à la mentalité naturelle des Vietnamiens qui, bien que respectueux de la hiérarchie sont aussi très indépendants. La modernité a besoin de participation large, de liberté de création, d’esprit d’initiative, de débat, de critiques, de tolérance, d’une juste évaluation et récompense des compétences. Toutes ces choses font l’objet de petits et de grands combats entre le conservatisme craintif devant l’exigence pressante d’une société civile, la peur de perdre son siège et ses privilèges et les forces de progrès dont d’ailleurs, certains éléments se trouvent quelquefois engagés dans le camp des conservateurs. L’essentiel c’est de mener ce combat de façon vraiment patriotique, constructive et non destructrice et violente. Tranquillement. Car la violence et la destruction ne ferait qu’affaiblir le pays face aux appétits du puissant voisin.

Bản dịch của thành viên hdat:
Tôi không phải là tiên tri và vẫn còn phải rất thận trọng nói về thời điểm xã hội thay đổi. Chắc chắn rằng điều đó không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, theo nghĩa nào? Dành cho ai? từ tầng lớp xã hộ nào? Tôi đã trả lời chủ yếu dựa vào xã hội Pháp. Trong thực tế, thành quả cách mạng đã bị ăn cắp khi đến tay người Pháp … Trên danh nghĩa có tự do, nhưng thực chất thì không. Kể từ khi đất nước được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của chủ nghĩa phát xít của Hitler vào năm 1945, nhiều lợi ích xã hội để bảo vệ kẻ yếu, trẻ,(ajouter : người lao động) : người nghèo, người già, đã bị gặm nhấm bởi các chính phủ cánh hữu khác nhau cũng như một số của cánh tả) dưới lý do của cái gọi là “khủng hoảng”. Pháp được cho là thực phẩm cho các tập đoàn và các ngân hàng lớn, họ hưởng thụ trên lưng người dân, và họ đã gần như hủy hoại đất nước. May mắn thay, không giống như ở Việt Nam, người Pháp giữ lại một nền văn hóa phản kháng xã hội, đấu tranh chống sự phá hoại xã hội. Nhưng, than ôi, chúng tôi chỉ chống lại, làm chậm sự tiến triển của thế lực lớn, một thế lực làm cho chúng tôi đi ngược lại lịch sử, làm sống lại nghèo đói, thiếu y tế, đóng cửa trường học, nhà hộ sinh, ném nhiều người ra đường phố ngay cả trong mùa đông, nhiều khi có cả những người thuộc tầng lớp trung lưu … Không, Pháp không phải là ví dụ của xã hội tiến bộ để noi theo. Xin đừng mơ đến nó.

Tất nhiên tình hình ở Pháp không thể so sánh của Việt Nam. Việt Nam từ một nước gần như không có gì, sau nhiều thập kỷ chiến tranh, bị phá hủy về nguồn tài nguyên thiên nhiên, về tài năng con người và về lực lượng sản xuất. Vậy mà chỉ sau một vài thập kỷ, từ một xã hội thời trung cổ nay Việt Nam đang đến các mục tiêu của một xã hội “phát triển” và hiện đại. Có biên giới với một kẻ khổng lồ ngày càng tăng cường mở rộng và sáp nhập là một thách thức là rất lớn cả về vật chất lẫn những thay đổi trong thái độ. Hệ thống chính trị mà đất nước ngày nay được thiết lập bởi những quyết định từ thời chiến tranh dựa trên các liên minh cần thiết. Nó xuất phát từ tình huống này và còn đang thừa kế. Nhưng chiến tranh, ngay cả khi đã giành chiến thắng với tham gia của toàn dân Việt Nam, không phải là một mô hình dân chủ. Nó để lại hậu quả, một lớp lãnh đạo quen tuân thủ một cách mù quáng các mệnh lệnh, mà không có thảo luận nào. Lúc đó là vấn đề sống hay chết. Nhưng nay, hệ điều hành này không còn phù hợp để phát triển một đất nước trong thời bình. Nó không tương ứng với tính cách tự nhiên của người Việt Nam, mặc dù tôn trọng cấp trên nhưng cũng rất độc lập. Hiện đại hóa cần sự tham gia rộng rãi, tự do sáng tạo, ý kiến, tranh luận, phê bình, khoan dung, đánh giá công bằng tài năng. Tất cả là những trận đánh lớn nhỏ giữa bảo thủ sợ hãi và các nhu cầu cấp bách của một xã hội dân sự, giữa nỗi lo sợ mất chỗ ngồi của mình, mất đặc quyền và các lực lượng tiến bộ. Ngoài ra cũng có một số người khác đứng về phe bảo thủ. Điều chính trong các cuộc chiến này phải trên cơ sở: lòng yêu nước, tinh thần xây dựng, không phá hoại và không sử dụng bạo lực. Hãy bình tĩnh. Sử dụng bạo lực và hủy diệt chỉ làm suy yếu đất nước, và như vậy sẽ hợp với khẩu vị của người láng giềng lớn.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
6. Ông có muốn chia sẻ cuộc trò chuyện nầy với những phương tiện truyền thông trên thế giới, thí dụ như VOA, BBC, hay báo chí của người Việt Hải Ngoại lẫn báo chí quốc nội?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

J’ai suis déjà beaucoup intervenu sur la question des pêcheurs : article pour la BBC, talk- show en direct et en vietnamien avec RFI, très nombreux articles sur le net…Je n’ai jamais refusé une source d’information sur ce sujet. En souhaitant qu’elles aient l’honnêteté de transmettre ce qui a réellement été dit, sans manipulation. Jusqu’à présent, cela a toujours été le cas.

Quand à la presse du Vietnam, son encadrement politique est tel et les sanctions sont si sévères que même les journalistes qui voudraient laisser parler les gens ne le peuvent pas sous peine de perdre leur carte et leur emploi. Nombreux sont les cas de ce genre qui sont déjà arrivés. Alors, plutôt que de les mettre en danger ou en situation de me censure, je préfère écrire sur le net dans des pages comme bauxite Vietnam. Mais je ressens actuellement un resserrement de la poigne politique sur l’information, suite à la volonté clairement exprimée d’accroître le contrôle sur le net et sur les blogs individuels. Ceci n’est pas rassurant pour la liberté d’information et d’expression. Et c’est voué à l’échec.

Bản dịch của thành viên hdat :
Tôi đã dành nhiều tâm sức cho vấn đề của ngư dân: viết bài cho BBC, talk-show trực tiếp bằng tiếng Việt với RFI, nhiều bài viết trên mạng … Tôi không bao giờ từ chối một nguồn thông tin về chủ đề này. Hy vọng chúng trung thực để truyền đạt những gì thực sự, mà không bị bóp méo. Đến nay, chưa có trường hợp nào sai lệch.

Đối với báo chí tại Việt Nam, chẳng những hạn chế vì chế độ chính trị mà các hình phạt rất nặng sẵn sàng cho các nhà báo như rút thẻ, mất việc làm khi họ có ý đăng những gì mà người dân nói. Có nhiều trường hợp như thế đã xảy ra. Vì vậy, thay vì đặt họ vào nguy hiểm hoặc tôi có nguy cơ bị kiểm duyệt, tôi thích viết trên các trang web như bauxite Việt Nam. Nhưng bây giờ tôi cảm thấy một chính sách mới đối với truyên thông, với ý định rõ ràng để tăng kiểm soát trên mạng và trên các blog cá nhân. Điều này không bảo đảm cho tự do thông tin và phản biện. Và nó sẽ thất bại.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
7. Ông có khi nào cảm thấy lẻ loi vì những quyết định và hành động của ông trong mấy mươi năm qua?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Je ne me suis jamais senti seul dans tout ce que j’ai fait. Pendant la guerre c’est un peuple qui m’a poussé vers cette statue de Saigon , vers ce drapeau de résistance. Ce sont les gens que j’ai vu souffrir, y compris des soldats de VNCH, des jeunes soldats américains…Sur cette statue, dans ma tête et dans mon cœur, tous ces gens étaient avec moi et donnaient du sens à ma vie. En prison, même isolé au secret, même interné en hôpital psychiatrique, je ne me sui jamais senti seul car je ne l’ai jamais été. Un superbe réseau de résistance avec des étudiants prisonniers politiques, des gardiens, des prisonniers de droit commun américains et français, des amis à la Poste de Saigon qui faisaient partir les documents et lettres clandestines vers la France, les USA, des français et des américains ordinaires qui nous envoyaient de l’autre bout du monde, dans des boîtes de pâté, des paquets de biscuits , des documents et des livres interdits ! J’ai même pu transmettre à mes amis emprisonnés politiques une radio qu’ils ont très ingénieusement emporté dans leur déportation à Con Dao et par laquelle ils ont écouté « radio libération » pendant près de 3 ans, chaque nuit ! La radio est actuellement au musée de la révolution à Ha Noi. Dans l’Hôpital psychiatrique de Bien Hoa, une folle m’a pris en pitié (j’étais très amaigri car je faisais la grève de la faim depuis 20 jours) et m’a donné un morceau de pain… que j’ai accepté de manger pour lui faire plaisir ! A ma libération j’ai parcouru le Monde pour rester aux côtés de mes amis emprisonnés encore en danger dans les prisons. J’ai rencontré des milliers d’amis jeunes et vieux d’une vingtaine de pays. Sans jamais les revoir pour la plupart, ils sont restés dans mon coeur et ressurgissent dans les moments difficiles pour me donner des vitamines.

Aujourd’hui avec ce film et le tour de présentation que je commence, j’ai l’impression de rajeunir et mes amis, dont beaucoup sont d’une autre génération, se comptent par milliers…Non quand on se bat pour des causes justes et humaines, on n’est jamais seul. Bien sûr quelquefois on peut connaître des moments difficiles où les évènements immédiats vous attristent et font baisser votre moral. Mais, si on garde le cap, si on encaisse les coups en restant soi-même, la situation finit par changer, des portes s’ouvrent et on découvre que les amis, anciens et nouveaux sont la force qui vous fait avancer.

Bản dịch của thành viên hdat :
Tôi đã không bao giờ cảm thấy cô đơn trong tất cả mọi thứ tôi đã làm. Trong chiến tranh, đám đông đã đẩy tôi hướng tới bức tượng ở Sài Gòn, với lá cờ của kháng chiến. Đấy là những những người mà tôi thấy sự đau khổ của họ, bao gồm cả binh lính VNCH, những người lính trẻ Mỹ … Đứng trên bức tượng, trong tâm trí và trong trái tim tôi, tất cả những người này mang cho tôi ý nghĩa của cuộc sống. Trong tù, thậm chí bị cô lập trong phòng biệt giam, ngay cả trong một bệnh viện tâm thần, tôi không bao giờ cảm thấy cô đơn, bởi vì tôi đã không bao giờ cô đơn. Một mạng lưới kháng chiến tuyệt vời với các tù nhân chính trị, sinh viên, lính canh, thường phạm Mỹ và Pháp, các bạn bè ở Bưu điện Sài Gòn, những người đã gửi các tài liệu và thư bí mật sang Pháp, Hoa Kỳ, và những người dân Pháp, Mỹ từ khắp nơi trên thế giới cũng thường gửi cho chúng tôi tài liệu, sách cấm trong các hộp mì, hộp bánh bích-quy! Tôi thậm chí còn chuyển đến bạn bè tù chính trị một chiếc máy vô tuyến, họ đã khéo léo mang nó theo ra Côn Đảo và qua đó họ nghe “Đài phát thanh Giải phóng” trong gần ba năm, mỗi đêm! Chiếc máy này hiện đang trong viện bảo tàng cách mạng tại Hà Nội. Trong bệnh viện tâm thần Biên Hòa, một cô bị điên thương hại tôi (tôi rất ốm sau khi tuyệt thực 20 ngày) và đã cho tôi một miếng bánh mì … tôi chấp nhận ăn để làm cho cô ấy vừa lòng! Sau ngày được tự do, tôi đã đi khắp thế giới để có thể vẫn sát cánh cùng với những bạn bè còn bị mắc kẹt trong các nhà tù nguy hiểm. Tôi đã gặp hàng ngàn bạn trẻ và có tuổi ở hai mươi quốc gia. Tuy tôi không bao giờ gặp lại họ, nhưng họ vẫn luôn luôn trong trái tim tôi, và họ xuất hiện trở lại vào những thời điểm mà tôi gặp khó khăn để tiếp sức cho tôi.

Hôm nay với bộ phim này và tôi vừa bắt đầu một vòng đi trình diễn, tôi cảm thấy trẻ lại và bạn bè của tôi, trong đó có nhiều thế hệ khác nhau, đã kể đến hàng ngàn … Không, khi chúng ta đấu tranh cho chính nghĩa, cho nhân loại, thì chúng ta không bao giờ cô đơn. Tất nhiên, đôi khi bạn có thể gặp khó khăn, chẳng hạn như gặp sự phiền muộn làm suy giảm tinh thần của bạn. Nhưng nếu chúng ta kiên định giữ đường đi, thì ngay có lúc gặp vấp váp, cuối cùng tình hình cũng sẽ thay đổi, cánh cửa sẽ mở và chúng ta thấy bạn bè, cũ cũng như mới là lực lượng giúp chúng ta đi về phía trước.


Thành viên kiwinbanana hỏi:
8. Hỏi ông hoài, mất lịch sự quá. Xin ông đặt câu hỏi lại cho chúng tôi.Cám ơn ông rất nhiều.
K.
Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

Poser des questions, n’importe quelle question, n’a jamais été une impolitesse. Il n’y a pas de question idiote ni de question impolie. Il s’agit qu’elle soit sincère.

La mienne est simple : Amis, qu’allez-vous faire pour aider concrètement et efficacement nos compatriotes pêcheurs de Ly Son et de Binh Chau ? Pour aider le Vietnam à garder ses terres, ses îles, sa mer et à récupérer ce qui lui a été volé à Hoang Sa ?

Bản dịch của thành viên hdat :
Đặt câu hỏi, bất cứ câu hỏi nào, không bao giờ bất lịch sự. Không có câu hỏi nào là ngu ngốc hoặc bất lịch sự khi nó là câu hỏi chân thành.

Câu hỏi của tôi thật đơn giản: bạn, bạn sẽ làm gì để giúp đỡ một cách hiệu quả các ngư dân Lý Sơn và Bình Châu để giúp Việt Nam giữ đất đai, hải đảo, biển và thu lại những gì đã bị mất ở Hoàng Sa?

————————
(*) Occitan : Tieng occitan là một tiếng địa phương của miền nam nước Pháp, rất gần với tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý và tiếng Pháp cổ. Nó cũng bắt nguồn từ tiếng La Tinh và Hy Lạp cổ.


Khách ẩn danh hỏi:
Với thái độ của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay, ông có nghĩ là tương lai biển đảo của Việt Nam sẽ bị Trung Quốc thâu tóm, không về mặt quân sự, chủ quyền thì cũng về mặt kinh tế hay không?Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Nguyên văn:

J’avais accepté de participer à ce forum très sympathique pour parler de mon film et des pêcheurs du Centre Vietnam. Mais il est vrai que leur sort s’inscrit dans un cadre beaucoup plus général et sans être politologue ni devin, je vais en toute modestie, m’efforcer de répondre à votre question qui recouvre un vaste espace d’analyse et de réflexion.

D’abord, il me semble que l’attitude des autorités vietnamiennes à Ha Noi ou à Saigon n’est pas celle d’un bloc monolithique. Il y a, en interne, des différences d’appréciation, d’opinion selon les niveaux de responsabilité, selon les régions selon l’histoire de chacun… Je note par exemple des signes évidents qui traduisent en haut lieu ces différences d’appréciation. En effet, le 25 novembre 2011, le Premier Ministre M. Nguyen Tan Dung déclarait solennellement devant l’assemblée nationale où se trouvaient la plupart des membres du bureau politique du PCVN : «… đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa, đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này »… C’est parfait et je me demande qui, au Vietnam et dans le monde, n’est pas d’accord avec cette déclaration (mis à part les dirigeants chinois qui n’ont pas peur du ridicule). Mon film n’a rien dit d’autre que ce qu’à affirmé le Premier ministre. Les patriotes vietnamiens, dont j’étais, n’ont rien dit d’autre quand ils sont descendu dans la rueà Saigon où ont défilé autour du lac Hoan Kiem à Ha Noi. Pourquoi ont-ils été arrêtés, réprimés, menacés, insultés par des communiqués télévisés, et pourquoi certains sont-ils encore aujourd’hui, emprisonnés ?

Autre déclaration de monsieur le Premier ministre devant l’Assemblée nationale, le même jour :

« Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia. » Parfait ! Mais alors pourquoi le film qui donne la parole aux pêcheurs malmenés et à leurs veuves, donc qui est une action véritablement patriotique, est-il interdit de projection, de façon violente et sans explication, seulement 4 jours après, par la police de Saigon ? Visiblement, il n’y a pas unité de vue entre le Premier ministre et certains dirigeants du bo Cong an !

Autre détail qui traduit ce manque d’unité de vue au plus haut de la direction du pays : le journal Tuoi Tre du Tet a présenté une longue interview du général (thuong tuong) Ngyen Chi Vinh, fils du général ( Dai tuong) Nguyen Chi Thanh. Ce vice-ministre de la défense nationale qui négocie régulièrement avec ses homologues chinois à tel point qu’on peut se demander si ce n’est pas lui le véritable ministre des affaires étrangères concernant les relations avec la Chine, est docteur en droit, intellectuel d’une famille renommée. Quand il fait une déclaration aux journalistes, il n’oublie rien du message qu’il veut faire passer et, vu son haut rang, il doit certainement relire avec ses conseiller l’article du journaliste avant de donner le feu vert pour sa parution. Eh bien, dans ce long article, le général NCV a longuement parlé des îles, de la mer, de la souveraineté du Vietnam. Tout le discours a été exclusivement centré sur Truong Sa ! J’ai vainement cherché un seul mot sur Hoang Sa : absolument aucun ! Cela confirme mon inquiétude, que j’exprimais voilà plus d’un an dans un article à bauxite Vietnam (« Hoang Sa : Khong the giu « nguyen hien trang ! »). Lors du voyage en Chine du 21 au 28 04 2010 du supérieur hiérarchique de M. Nguyen Chi Vinh, le ministre de la Défense M. Phung Quang Thanh, celui-ci déclarait vouloir maintenir la situation « nguyen hien trang » en mer du S-E asiatique. Cela voulait dire en clair : le Vietnam abandonne toute revendication sur Hoang Sa et sur les îles occupées de force par la marine de guerre chinoise à Co Lin et Gac Ma en 1988. Inacceptable ! Le récent « oubli », très inquiétant du Général Nguyen Chi Vinh va dans le même sens. Il est en tout cas en parfaite contradiction avec la ferme déclaration du Premier ministre M. Nguyen Tan Dung, un mois auparavant qui est de récupérer Hoang Sa de façon légale et pacifique.

Ces différences et ,peut-être , ces divergences, se révèlent et s’accentuent avec les actes d’agression chinois qui se multiplient, avec leurs ingérences dans les affaires intérieures vietnamiennes, avec leur ton provocateur, insolent, menaçant, avec la réponse populaire qui se manifeste en réaction et en résistance au Vietnam même, avec les réactions de résistance de plus en plus affirmées dans la Région et dans l’ASEAN (Philippines notamment), avec l’implication de plus en plus nette des USA (même si l’Histoire nous incite à la prudence car elle nous montre que ,selon leur intérêt, ils peuvent abandonner leurs alliés pour pactiser avec ceux qu’ils déclaraient être leurs ennemis jurés). Les choses changent, les hommes aussi. Ne les mettons pas tous dans le même sac, une fois pour toutes. Disons fermement ce que nous pensons, agissons de façon pacifique et déterminée, selon le droit, le respect des hommes et des peuples, mais laissons les portes ouvertes. Beaucoup de ceux que nous croyons en face de nous finiront par y entrer et rejoindre l’inévitable progrès.

Le fait que la Chine, dans sa conquête violente des espaces maritimes et insulaires porte ses agressions contre le japon, ( « chalutiers de pêche chinois »- vrai ou faux- qui abordent les garde-côte japonais..) la Corée du Sud ( garde-côte sud coréen poignardé par « pêcheur chinois »- vrai ou faux-), les USA défiés ( en mars 2009 l’USNS « Impeccable », agressé par 5 « chalutiers chinois » –vrais ou faux – à 120km d’Hai Nan), l’Inde menacée ( INS Airavat menacé le 22/7/2011par bâtiment chinois à 45 milles nautique à peine des côtes de Nha Trang en pleine Zone économique exclusive du Vietnam)… Toutes ces actions bien concrètes sont symboliques des intentions de Pékin. Elles créent les conditions nouvelles d’alliances au sein des Etats et, surtout, dans les opinions publiques .Les dirigeants du Vietnam ne peuvent pas les ignorer et doivent les utiliser pour protéger leur pays et leurs pêcheurs.

Mais Pékin ne renoncera pas si facilement à sa langue de bœuf gourmande. Elle est annoncée, planifiée, financée, armée. Sa réalisation est commencée et il est certain que les annexionnistes Han vont trouver des moyens pour essayer de progresser. La DOC ( Declaration of Conduct) que la Chine a signé en 2002 n’a pas été respectée par elle. C’est une évidence. Il serait très étonnant que Pékin signe rapidement un COC (Code of Conduct) qui les contraindrait juridiquement à renoncer à leur projet, un projet hors la loi qui n’avance que par la violence et le mépris du droit international. Ainsi, sans être devin on peut dire que 2012 verra, certainement hélas, de nouvelles menaces, de nouveaux actes d’agression, de nouveaux pêcheurs vietnamiens sinistrés, de nouvelles familles dans le malheur. La volonté de domination et la soif de pétrole, sur fond d’ultranationalisme, ne s’arrêteront pas à l’issue de négociations bipartites Vietnam-Chine sur la mer et les îles. Il serait très naïf de le croire. La Chine fait semblant de négocier pour se donner une image pacifique mais gagne du temps pour attendre le moment favorable à de violents mauvais coups. Elle a toujours fait ainsi. Ses dirigeants sont experts en coups tordus. Qu’ils commencent par annoncer qu’ils regrettent le sort fait aux pêcheurs vietnamiens, aux disparus faute d’abris accordés en temps de tempête, aux disparus éperonnés de nuit par leurs bateaux « pas du tout étranges » à coque d’acier ; qu’ils commencent par reconnaître, regretter et rembourser les pillages pratiqués sur des centaines de chalutiers ( produits de la pêche, matériel volé ou détruit bateaux coulés , incendiés…) ; qu’ils commencent par dédommager les familles orphelines du mari ou du fils ( sachant que l’argent ne pourra jamais faire revenir l’être aimé) ; qu’ils commencent par cesser leur harcèlement quotidien sur les pêcheurs, par lever leurs interdits de pêche de mai à août où, en réalité la mer est libre pour les seuls chalutiers chinois …Alors , nous pourrons commencer à croire en leur volonté de négocier sincèrement. Sans cela, tout, absolument tout de leur part n’est que tromperie.

Cependant, sans parler de la menace militaire, qui, je l’ai dit, est difficile et dangereuse à employer par Pékin car elle peut se retourner contre celui qui l’a déclenchée, la menace économique que la Chine peut exercer est par contre bien réelle et considérable vu le poids que Pékin s’est taillé petit à petit dans l’économie du Vietnam. Par le business, notamment avec les familles vietnamiennes en réseaux avec les cercles dirigeants vietnamiens, la Chine peut étrangler notre pays trop dépendant d’elle. Là est un autre combat qui exige du temps et, de la part des industriels et des commerçants vietnamiens, une fibre patriotique et une vue intelligente de leurs intérêts à long terme. Indirectement, de cette situation dépend le sort de toute l’économie liée à la mer et aux îles…

Autrement dit, selon moi, le combat pour protéger les îles et la mer ainsi que pour retrouver Hoang Sa qui nous a été volée, et les îles occupées après le coup de force de 1988 , est un combat de longue durée où l’on doit avant tout protéger les pêcheurs et leur donner les moyens modernes et sûrs de vivre, car ce sont eux essentiellement qui affirment physiquement la souveraineté du pays dans ces espaces maritimes. Sans leur présence, la mer est vide et ce vide sera vite occupé par les chalutiers chinois (il commence à l’être de plus en plus) et les bâtiments de guerre chargés de les « protéger ». Faute d’une stratégie cohérente et totale, rapidement mise en place, après avoir perdu les îles, le Vietnam perdra sa mer. Et s’il perd sa mer, il aura vite perdu ses terres.

Si tout le peule se lève pour appuyer des dirigeants dignes de ce nom, la situation changera certainement et elle ne peut qu’évoluer en faveur du respect de l’Histoire et du droit international. Avec l’intervention de l’opinion publique internationale. N’ayons pas peur : sur ce terrain la position du Vietnam est difficilement attaquable.
Mais pendant ce temps- là, comme m’a dit un vieux pêcheur-plongeur dans le film, il faut « fixer le requin » car, selon lui, quand on fixe ce prédateur, il n’attaque pas. Cela signifie que, de façon pacifique et sans tomber dans les provocations ni dans les insultes, il faut faire preuve de fermeté envers chaque agression chinoise, y compris verbale. Et surtout, pour les dirigeants vietnamiens dignes de ce nom : ne pas conclure d’accord confidentiellement, dans le dos et à l’insu de leur peuple, ne pas le mettre, comme cela a souvent été fait, devant le fait accompli. Toute mesure proposée qui concerne les îles et la mer doit d’abord passer par l’assemblée nationale, faire l’objet d’un vrai débat et avoir une vraie approbation populaire. Ces temps viendront : j’ai confiance en l’avenir. Une confiance vigilante et… combative aux côtés de mes nombreux amis.

Bản dịch của thành viên hdat :
Tôi đồng ý tham gia diễn đàn thiệt dễ chịu này để nói về bộ phim và ngư dân miền Trung Việt Nam. Nhưng đúng là số phận của họ nằm trong một khuôn khổ tổng quát. Không phải là một chính trị học cũng không phải thầy bói, với tất cả sự khiêm tốn, tôi cố gắng trả lời câu hỏi của bạn với sự nới rộng của phân tích cùng suy luận.

Đầu tiên, tôi thấy có vẻ như là thái độ của chính quyền Việt Nam tại Hà Nội hay Sài Gòn không nhất quán. Trong nội bộ họ, cũng có sự khác biệt về quan điểm, phụ thuộc vào mức độ trách nhiệm cuả người phát ngôn, cách hay nơi truyền đạt tin tức … Tôi đưa ví dụ phản ánh dấu hiệu ý kiến khác nhau ngay cả ở cấp cao của chính quyền. Thật vậy, ngày 25 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng trước Quốc hội, nơi hiện diện hầu hết các thành viên của bộ chính trị ĐCSVN «… đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa, đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này »… Cho đến đây, tôi cho là hoàn hảo và tôi tự hỏi, ai ở Việt Nam hay trên thế giới không đồng ý với lời tuyên bố này (trừ các nhà lãnh đạo Trung Quốc, những người chẳng sợ bị chế giễu). Bộ phim của tôi không nói bất cứ điều gì khác với những gì mà Thủ tướng khẳng định. Những người Việt Nam yêu nước, trong đó có cả tôi, cũng chẳng nói bất cứ điều gì khác khi chúng tôi xuống đường ở Sài Gòn hay diễu hành xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Tại sao chúng tôi bị bắt, bị trừng phạt, bị đe dọa, bị xúc phạm bởi hệ thống truyền thông qua TV và lý do gì mà ngày nay còn một số người bị cầm tù?

Ngoài ra Thủ tướng cũng nói hôm đó trước Quốc hội: « Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia.» Hay lắm! Nhưng tại khi sao, chỉ 4 ngày sau đó, bộ phim tạo điều kiện cho các ngư dân cũng như các góa phụ bị đối xử nghiệt ngã được nói, tức là một hành động thực sự yêu nước, thì lại bị cấm chiếu bằng bạo lực bởi cảnh sát Sài Gòn mà không có lời giải thích? Rõ ràng, không có sự nhất quán giữa lời nói của Thủ tướng và một số nhà lãnh đạo của Bộ Công an!

Một chi tiết khác phản ánh sự thiếu thống nhất từ những lãnh đạo cao nhất của đất nước: báo Tuổi Trẻ số Tết đăng cuộc phỏng vấn dài với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông thứ trưởng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng này, người thường xuyên thương lượng với các đối tác Trung Quốc đến mức mà người ta tự hỏi ông ta có phải là Ngoại trưởng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, cũng là tiến sĩ luật, một trí thức xuất thân từ gia đình danh giá. Khi ông tuyên bố trước các nhà báo, ông ta chẳng quên những thông điệp nào muốn truyền đạt và nhìn chức vụ cao của ông ta, chắc chắn ông cùng với các cố vấn phải duyệt lại bài viết trước khi bật đèn xanh cho đăng nó. Vâng, trong bài viết dài này, Tướng NCV nói chuyện nhiều về các đảo, biển, chủ quyền của Việt Nam. Tất cả các cuộc nói chuyện chỉ nói về Trường Sa! Tôi đã tìm kiếm, nhưng vô vọng để thấy một từ duy nhất : Hoàng Sa! Điều này khẳng định mối lo lắng của tôi mà tôi đã thể hiện một bài viết cho bauxite Việt Nam cách đây hơn một năm, (Hoàng Sa: không thể giữ “nguyên hiện trạng”). Trong chuyến đi Trung Quốc từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 4, năm 2010, cấp trên của ông Nguyễn Chí Vịnh, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, tuyên bố muốn duy trì tình thế “nguyên hiện trạng” ở vùng biển Đông Nam Á. Điều này có nghĩa rõ ràng : Việt Nam từ bỏ những đòi hỏi về chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và các đảo bị chiếm đóng bởi lực lượng hải quân Trung Quốc ở Co Lin và Gac Ma năm 1988. Không thể chấp nhận được! Cái “quên” (không nói về HS) đáng lo ngại gần đây của Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng theo chiều hướng đó. Rõ ràng là chúng hoàn toàn mâu thuẫn các tuyên bố một cách chắc chắn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một tháng trước đó rằng sẽ thu hồi lại Hoàng Sa bằng con đường hoà bình và tôn trọng các quy ước quốc tế.

Những tuyên bố khác nhau này, hay có thể là những quan điểm khác nhau, càng rõ rệt theo những hành động hiếu chiến ngày càng nhiều của Trung Quốc can thiệp ngay cả vào những công việc nội bộ của Việt Nam, với tính chất xấc láo, khiêu khích, đe dọa, …, đối với các cuộc biểu tình phản đối ở Việt Nam, cũng như đối với phản ứng ngày càng quyết liệt trong khu vực và từ các nước ASEAN (đặc biệt là Philippines), đối với sự tham gia nhiều và rõ ràng hơn của Hoa Kỳ (mà theo Lịch sử thì chúng ta phải thận trọng bởi vì họ có thể vì lợi ích riêng mà bỏ rơi đồng minh khi họ bắt tay với những kẻ mà họ gọi là kẻ thù). Sự vật thay đổ, con người cũng vậy. Đừng đánh giá tất cả trước sau như nhau. Quan trọng là chúng ta hành động một cách bất bạo động, nhưng kiên quyết, theo luật pháp, tôn trọng người khác, dân tộc khác đối, không quên để các cánh cửa mở rộng. Tin tưởng rằng những người tưởng như là đối thủ trước đây cuối cùng sẽ tham gia cùng với chúng ta để đạt được những sự tiến bộ.

Thực tế, Trung Quốc trong công cuộc chinh phục hải phận và hải đảo đã sử dụng bạo lực đối với Nhật Bản (“tàu đánh cá của Trung Quốc” – đúng hay sai – xâm phạm bờ biển Nhật Bản …) hay đối với Hàn Quốc (lính biên phòng bị đâm bởi “những ngư dân Trung Quốc” – đúng hay sai), thách thức Hoa Kỳ (tháng 3 năm 2009 tàu USNS “Impeccable,” bị tấn công bởi năm “tàu đánh cá Trung Quốc” thực hay giả mạo – cách đảo Nam Hải 120 km), đe dọa Ấn Độ (tàu INS Airavat, ngày 22/7/2011, bởi tàu chiến Trung Quốc chỉ cách bờ biển Nha Trang 45 hải lý, trong vùng khai thác kinh tế của riêng Việt Nam) … Tất cả những hành động này thể hiện chính sách của Bắc Kinh. Chúng tạo ra những liên minh mới giữa các quốc gia, và đặc biệt là cách nhìn mới của công chúng. Lãnh đạo Việt Nam không thể bỏ qua mà phải sử dụng chúng để bảo vệ đất nước cũng như ngư dân của họ.

Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không từ bỏ dễ dàng tham vọng với cái lưỡi bò. Họ công bố nó với sự chuẩn bị đằng sau cả về tài chính lẫn sức mạnh của quân đội. Họ đã bắt đầu và chắc chắn các nhà lãnh đạo bành trướng Hán sẽ tìm mọi cách mở rộng nó. DOC (Declaration of Conduct) mà Trung Quốc tuy đã ký trong năm 2002 nhưng lại không tôn trọng. Đó là điều hiển nhiên. Sẽ là điều ngạc nhiên khi Bắc Kinh nhanh nhảu ký COC (Code of Conduct), vì đó là luật sẽ ngăn cản tham vọng của họ, một dự án bất chấp tất cả và chỉ có thể thực hiện bằng bạo lực với sự coi thường luật pháp quốc tế. Như vậy, chẳng cần đoán, có thể nói rằng năm 2012 chắc chắn chúng ta sẽ thấy những mối đe dọa mới, những hành vi xâm lược, mà nạn nhân là ngư dân Việt Nam và gia đình của họ. Tham vọng thống trị và sự khát dầu lửa, trên cơ sở một chủ nghĩa dân tộc cự đoan, đều sẽ không bị ngăn lại qua các cuộc đàm phán song phương về vấn đề biển và đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sẽ rất là ngây thơ khi đặt hy vọng vào các cuộc đàm phán đó. Trung Quốc giả vờ thương lượng làm như muốn đạt được một hòa bình, nhưng thực ra để có thêm thời gian chờ đợi thời điểm thích hợp để đưa ra những cú bạo lực. Họ đã luôn luôn làm như vậy. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc là những chuyên gia trong các thủ đoạn bẩn thỉu.

Rằng họ bắt đầu bằng cách thông báo, họ rất thương tiếc số phận của các ngư dân Việt Nam, những người bị mất tích, mà họ “không thể” cung cấp nơi trú ẩn do điều kiện mưa bão, những người bị mất tích do bị đâm ban đêm bởi những tàu của họ “không phải ngẫu nhiên” có vỏ bằng thép. Rằng họ bắt đầu bằng công nhận với sự thương tiếc và đến bù cho các vụ cướp bóc thực hiện đối với hàng trăm tàu thuyền đánh cá (hải sản đánh được và thiết bị tàu bị đánh cắp hoặc bị phá hủy, tàu bị chìm đắm, bị cháy …), rằng họ bắt đầu bằng cách bồi thường các gia đình có người chết hay mất tích (nhưng tiền không bao giờ có thể mang lại người thân yêu). Rằng họ phải ngăn chặn quấy rối hàng ngày các ngư dân, bãi bỏ lệnh cấm đánh cá từ tháng năm đến tháng tám, trong thực tế chỉ các tàu thuyền đánh cá Trung Quốc không bị cấm…

Chỉ sau đó, chúng ta mới có thể bắt đầu tin tưởng vào họ để đàm phán một cách chân thành. Nếu không, mọi điều, tất cả điều của họ chỉ là lừa dối.

Trong khi những mối đe dọa quân sự được sử dụng bởi Bắc Kinh, mà tôi đã nói, không phải là dễ dàng thực hiện và nguy hiểm, vì nó có thể quay ngược chống lại kẻ gây ra, thì mối đe dọa kinh tế Trung Quốc lại là thực tế với mức độ đáng kể khi chúng ta thấy họ xâm nhập dần dần vào nền kinh tế của Việt Nam. Qua các vụ làm ăn đặc biệt là với các gia đình Việt Nam có liên hệ với các nhà lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc có thể bóp chết đất nước chúng ta, bởi vì chúng ta quá phụ thuộc vào họ. Đây lại là một cuộc chiến khác đòi hỏi thời gian của các nhà công nghiệp và doanh nhân Việt Nam, đòi hỏi lòng yêu nước, sự thông minh của họ để nhìn thấy những lợi ích lâu dài. Một cách gián tiếp, những điều này sẽ dẫn đến lối thoát cho toàn bộ nền kinh tế liên quan đến biển và hải đảo …

Nói cách khác, theo ý kiến của tôi, cuộc chiến để bảo vệ các hải đảo và biển cũng như đòi lại Hoàng Sa với các đảo bị chiếm đóng sau cuộc xâm lược năm 1988, là một cuộc chiến lâu dài, trong đó trước hết phải bảo vệ ngư dân và tạo điều kiện giúp họ sống tốt và an toàn, bởi vì chính họ là những người, với sự có mặt của mình, khẳng định chủ quyền quốc gia về biển cả. Nếu không có sự hiện diện của họ, biển sẽ bị bỏ trống và các tàu đánh cá Trung Quốc sẽ nhanh chóng lấp các chỗ trống này (những chỗ như vậy ngày càng nhiều hơn) và các tàu chiến Trung Quốc đến để “bảo vệ” chúng. Thiếu một đường lối kiên quyết và toàn diện tức thời, thì sau khi mất các đảo, Việt Nam sẽ mất cả hải phận rồi tiếp đến là đất liền.

Toàn dân phải đứng lên để hỗ trợ các nhà lãnh đạo, những người xứng đáng với vị trí của họ, thì tình hình chắc chắn sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực trên cơ sở tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế. Với sự can thiệp của công luận quốc tế. Đừng sợ, đất nước Việt Nam ở vào một vị trí khó có thể bị tấn công.

Cho tới lúc đó, như một ngư dân, một thợ lặn trong bộ phim, có nói với tôi, chúng ta phải “nhìn trừng trừng vào mắt” con cá mập, bởi vì, khi đó loại động vật săn mồi ăn này sẽ không dám tấn công ta nữa. Điều này có nghĩa, ưu tiên cho đàm phán, không để rơi vào cái bẫy khiêu khích hay xúc phạm, nhưng chúng ta phải kiên quyết chống lại mọi sự xâm lược Trung Quốc, ngay cả bằng lời nói. Đặc biệt là cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, những người xứng đáng với vị trí của họ : không được ký kết các thỏa thuận ngầm sau lưng dân, không thể đặt dân trước sự đã rôi, như họ vẫn làm cho đến nay. Bất kỳ quyết định nào được đề xuất về biển và đảo đều phải được Quốc hội phê chuẩn sau các cuộc tranh luận thực sự và được dân ủng hộ. Thời điểm như vậy sẽ đến : tôi tin tưởng vào tương lai. Một lòng tin tưởng nhưng với cảnh giác … và không thiếu tính chiến đâu bên cạnh nhiều bạn bè của tôi.

(còn tiếp)

Thành viên và bạn đọc có thể theo dõi và tham gia đặt câu hỏi cho ông André Hồ Cương Quyết ở đây.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ông André Menras Hồ Cương Quyết trò chuyện cùng diễn đàn X-Cafe (phần 5)

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2012

 

Diễn đàn sẽ lần lượt đăng những trả lời của ông André Menras Hồ Cương Quyết đến các câu hỏi của những thành viên và khách viếng thăm diễn đàn X-Cafevn.org. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý.

Khách ẩn danh hỏi: Với thái độ của nhà cầm quyền Hà Nội hiện nay, ông có nghĩ là tương lai biển đảo của Việt Nam sẽ bị Trung Quốc thâu tóm, không về mặt quân sự, chủ quyền thì cũng về mặt kinh tế hay không?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời [*]:

Tôi đồng ý tham gia diễn đàn thiệt dễ chịu này để nói về bộ phim và ngư dân miền Trung Việt Nam. Nhưng đúng là số phận của họ nằm trong một khuôn khổ tổng quát. Không phải là một chính trị học cũng không phải thầy bói, với tất cả sự khiêm tốn, tôi cố gắng trả lời câu hỏi của bạn với sự nới rộng của phân tích cùng suy luận.

Đầu tiên, tôi thấy có vẻ như là thái độ của chính quyền Việt Nam tại Hà Nội hay Sài Gòn không nhất quán. Trong nội bộ họ, cũng có sự khác biệt về quan điểm, phụ thuộc vào mức độ trách nhiệm cuả người phát ngôn, cách hay nơi truyền đạt tin tức… Tôi đưa ví dụ phản ánh dấu hiệu ý kiến khác nhau ngay cả ở cấp cao của chính quyền. Thật vậy, ngày 25 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng trước Quốc hội, nơi hiện diện hầu hết các thành viên của bộ chính trị ĐCSVN «… đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa, đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này»… Cho đến đây, tôi cho là hoàn hảo và tôi tự hỏi, ai ở Việt Nam hay trên thế giới không đồng ý với lời tuyên bố này (trừ các nhà lãnh đạo Trung Quốc, những người chẳng sợ bị chế giễu). Bộ phim của tôi không nói bất cứ điều gì khác với những gì mà Thủ tướng khẳng định. Những người Việt Nam yêu nước, trong đó có cả tôi, cũng chẳng nói bất cứ điều gì khác khi chúng tôi xuống đường ở Sài Gòn hay diễu hành xung quanh hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội. Tại sao chúng tôi bị bắt, bị trừng phạt, bị đe dọa, bị xúc phạm bởi hệ thống truyền thông qua TV và lý do gì mà ngày nay còn một số người bị cầm tù?

Ngoài ra Thủ tướng cũng nói hôm đó trước Quốc hội: «Chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà Nước ta và Chính Phủ là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với các hoạt động, đối với tất cả những việc làm của tất cả mọi người dân của chúng ta thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia.» Hay lắm! Nhưng tại khi sao, chỉ 4 ngày sau đó, bộ phim tạo điều kiện cho các ngư dân cũng như các góa phụ bị đối xử nghiệt ngã được nói, tức là một hành động thực sự yêu nước, thì lại bị cấm chiếu bằng bạo lực bởi cảnh sát Sài Gòn mà không có lời giải thích? Rõ ràng, không có sự nhất quán giữa lời nói của Thủ tướng và một số nhà lãnh đạo của Bộ Công an!

Một chi tiết khác phản ánh sự thiếu thống nhất từ những lãnh đạo cao nhất của đất nước: báo Tuổi Trẻ số Tết đăng cuộc phỏng vấn dài với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, con trai của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Ông thứ trưởng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng này, người thường xuyên thương lượng với các đối tác Trung Quốc đến mức mà người ta tự hỏi ông ta có phải là Ngoại trưởng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc, cũng là tiến sĩ luật, một trí thức xuất thân từ gia đình danh giá. Khi ông tuyên bố trước các nhà báo, ông ta chẳng quên những thông điệp nào muốn truyền đạt và nhìn chức vụ cao của ông ta, chắc chắn ông cùng với các cố vấn phải duyệt lại bài viết trước khi bật đèn xanh cho đăng nó. Vâng, trong bài viết dài này, Tướng NCV nói chuyện nhiều về các đảo, biển, chủ quyền của Việt Nam. Tất cả các cuộc nói chuyện chỉ nói về Trường Sa! Tôi đã tìm kiếm, nhưng vô vọng để thấy một từ duy nhất: Hoàng Sa! Điều này khẳng định mối lo lắng của tôi mà tôi đã thể hiện một bài viết cho bauxite Việt Nam cách đây hơn một năm, (Hoàng Sa: không thể giữ “nguyên hiện trạng”). Trong chuyến đi Trung Quốc từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 4, năm 2010, cấp trên của ông Nguyễn Chí Vịnh, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, tuyên bố muốn duy trì tình thế “nguyên hiện trạng” ở vùng biển Đông Nam Á. Điều này có nghĩa rõ ràng: Việt Nam từ bỏ những đòi hỏi về chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa và các đảo bị chiếm đóng bởi lực lượng hải quân Trung Quốc ở Co Lin và Gac Ma năm 1988. Không thể chấp nhận được! Cái “quên” (không nói về HS) đáng lo ngại gần đây của Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng theo chiều hướng đó. Rõ ràng là chúng hoàn toàn mâu thuẫn các tuyên bố một cách chắc chắn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một tháng trước đó rằng sẽ thu hồi lại Hoàng Sa bằng con đường hoà bình và tôn trọng các quy ước quốc tế.

Những tuyên bố khác nhau này, hay có thể là những quan điểm khác nhau, càng rõ rệt theo những hành động hiếu chiến ngày càng nhiều của Trung Quốc can thiệp ngay cả vào những công việc nội bộ của Việt Nam, với tính chất xấc láo, khiêu khích, đe dọa…, đối với các cuộc biểu tình phản đối ở Việt Nam, cũng như đối với phản ứng ngày càng quyết liệt trong khu vực và từ các nước ASEAN (đặc biệt là Philippines), đối với sự tham gia nhiều và rõ ràng hơn của Hoa Kỳ (mà theo Lịch sử thì chúng ta phải thận trọng bởi vì họ có thể vì lợi ích riêng mà bỏ rơi đồng minh khi họ bắt tay với những kẻ mà họ gọi là kẻ thù). Sự vật thay đổ, con người cũng vậy. Đừng đánh giá tất cả trước sau như nhau. Quan trọng là chúng ta hành động một cách bất bạo động, nhưng kiên quyết, theo luật pháp, tôn trọng người khác, dân tộc khác đối, không quên để các cánh cửa mở rộng. Tin tưởng rằng những người tưởng như là đối thủ trước đây cuối cùng sẽ tham gia cùng với chúng ta để đạt được những sự tiến bộ.

Thực tế, Trung Quốc trong công cuộc chinh phục hải phận và hải đảo đã sử dụng bạo lực đối với Nhật Bản (“tàu đánh cá của Trung Quốc” – đúng hay sai – xâm phạm bờ biển Nhật Bản …) hay đối với Hàn Quốc (lính biên phòng bị đâm bởi “những ngư dân Trung Quốc” – đúng hay sai), thách thức Hoa Kỳ (tháng 3 năm 2009 tàu USNS “Impeccable,” bị tấn công bởi năm “tàu đánh cá Trung Quốc” thực hay giả mạo – cách đảo Nam Hải 120 km), đe dọa Ấn Độ (tàu INS Airavat, ngày 22/7/2011, bởi tàu chiến Trung Quốc chỉ cách bờ biển Nha Trang 45 hải lý, trong vùng khai thác kinh tế của riêng Việt Nam)… Tất cả những hành động này thể hiện chính sách của Bắc Kinh. Chúng tạo ra những liên minh mới giữa các quốc gia, và đặc biệt là cách nhìn mới của công chúng. Lãnh đạo Việt Nam không thể bỏ qua mà phải sử dụng chúng để bảo vệ đất nước cũng như ngư dân của họ.

Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không từ bỏ dễ dàng tham vọng với cái lưỡi bò. Họ công bố nó với sự chuẩn bị đằng sau cả về tài chính lẫn sức mạnh của quân đội. Họ đã bắt đầu và chắc chắn các nhà lãnh đạo bành trướng Hán sẽ tìm mọi cách mở rộng nó. DOC (Declaration of Conduct) mà Trung Quốc tuy đã ký trong năm 2002 nhưng lại không tôn trọng. Đó là điều hiển nhiên. Sẽ là điều ngạc nhiên khi Bắc Kinh nhanh nhảu ký COC (Code of Conduct), vì đó là luật sẽ ngăn cản tham vọng của họ, một dự án bất chấp tất cả và chỉ có thể thực hiện bằng bạo lực với sự coi thường luật pháp quốc tế. Như vậy, chẳng cần đoán, có thể nói rằng năm 2012 chắc chắn chúng ta sẽ thấy những mối đe dọa mới, những hành vi xâm lược, mà nạn nhân là ngư dân Việt Nam và gia đình của họ. Tham vọng thống trị và sự khát dầu lửa, trên cơ sở một chủ nghĩa dân tộc cự đoan, đều sẽ không bị ngăn lại qua các cuộc đàm phán song phương về vấn đề biển và đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Sẽ rất là ngây thơ khi đặt hy vọng vào các cuộc đàm phán đó. Trung Quốc giả vờ thương lượng làm như muốn đạt được một hòa bình, nhưng thực ra để có thêm thời gian chờ đợi thời điểm thích hợp để đưa ra những cú bạo lực. Họ đã luôn luôn làm như vậy. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc là những chuyên gia trong các thủ đoạn bẩn thỉu.

Rằng họ bắt đầu bằng cách thông báo, họ rất thương tiếc số phận của các ngư dân Việt Nam, những người bị mất tích, mà họ “không thể” cung cấp nơi trú ẩn do điều kiện mưa bão, những người bị mất tích do bị đâm ban đêm bởi những tàu của họ “không phải ngẫu nhiên” có vỏ bằng thép. Rằng họ bắt đầu bằng công nhận với sự thương tiếc và đến bù cho các vụ cướp bóc thực hiện đối với hàng trăm tàu thuyền đánh cá (hải sản đánh được và thiết bị tàu bị đánh cắp hoặc bị phá hủy, tàu bị chìm đắm, bị cháy …), rằng họ bắt đầu bằng cách bồi thường các gia đình có người chết hay mất tích (nhưng tiền không bao giờ có thể mang lại người thân yêu). Rằng họ phải ngăn chặn quấy rối hàng ngày các ngư dân, bãi bỏ lệnh cấm đánh cá từ tháng năm đến tháng tám, trong thực tế chỉ các tàu thuyền đánh cá Trung Quốc không bị cấm…

Chỉ sau đó, chúng ta mới có thể bắt đầu tin tưởng vào họ để đàm phán một cách chân thành. Nếu không, mọi điều, tất cả điều của họ chỉ là lừa dối.

Trong khi những mối đe dọa quân sự được sử dụng bởi Bắc Kinh, mà tôi đã nói, không phải là dễ dàng thực hiện và nguy hiểm, vì nó có thể quay ngược chống lại kẻ gây ra, thì mối đe dọa kinh tế Trung Quốc lại là thực tế với mức độ đáng kể khi chúng ta thấy họ xâm nhập dần dần vào nền kinh tế của Việt Nam. Qua các vụ làm ăn đặc biệt là với các gia đình Việt Nam có liên hệ với các nhà lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc có thể bóp chết đất nước chúng ta, bởi vì chúng ta quá phụ thuộc vào họ. Đây lại là một cuộc chiến khác đòi hỏi thời gian của các nhà công nghiệp và doanh nhân Việt Nam, đòi hỏi lòng yêu nước, sự thông minh của họ để nhìn thấy những lợi ích lâu dài. Một cách gián tiếp, những điều này sẽ dẫn đến lối thoát cho toàn bộ nền kinh tế liên quan đến biển và hải đảo …

Nói cách khác, theo ý kiến của tôi, cuộc chiến để bảo vệ các hải đảo và biển cũng như đòi lại Hoàng Sa với các đảo bị chiếm đóng sau cuộc xâm lược năm 1988, là một cuộc chiến lâu dài, trong đó trước hết phải bảo vệ ngư dân và tạo điều kiện giúp họ sống tốt và an toàn, bởi vì chính họ là những người, với sự có mặt của mình, khẳng định chủ quyền quốc gia về biển cả. Nếu không có sự hiện diện của họ, biển sẽ bị bỏ trống và các tàu đánh cá Trung Quốc sẽ nhanh chóng lấp các chỗ trống này (những chỗ như vậy ngày càng nhiều hơn) và các tàu chiến Trung Quốc đến để “bảo vệ” chúng. Thiếu một đường lối kiên quyết và toàn diện tức thời, thì sau khi mất các đảo, Việt Nam sẽ mất cả hải phận rồi tiếp đến là đất liền.

Toàn dân phải đứng lên để hỗ trợ các nhà lãnh đạo, những người xứng đáng với vị trí của họ, thì tình hình chắc chắn sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực trên cơ sở tôn trọng lịch sử và luật pháp quốc tế. Với sự can thiệp của công luận quốc tế. Đừng sợ, đất nước Việt Nam ở vào một vị trí khó có thể bị tấn công.

Cho tới lúc đó, như một ngư dân, một thợ lặn trong bộ phim, có nói với tôi, chúng ta phải “nhìn trừng trừng vào mắt” con cá mập, bởi vì, khi đó loại động vật săn mồi ăn này sẽ không dám tấn công ta nữa. Điều này có nghĩa, ưu tiên cho đàm phán, không để rơi vào cái bẫy khiêu khích hay xúc phạm, nhưng chúng ta phải kiên quyết chống lại mọi sự xâm lược Trung Quốc, ngay cả bằng lời nói. Đặc biệt là cho các nhà lãnh đạo Việt Nam, những người xứng đáng với vị trí của họ : không được ký kết các thỏa thuận ngầm sau lưng dân, không thể đặt dân trước sự đã rôi, như họ vẫn làm cho đến nay. Bất kỳ quyết định nào được đề xuất về biển và đảo đều phải được Quốc hội phê chuẩn sau các cuộc tranh luận thực sự và được dân ủng hộ. Thời điểm như vậy sẽ đến: tôi tin tưởng vào tương lai. Một lòng tin tưởng nhưng với cảnh giác… và không thiếu tính chiến đâu bên cạnh nhiều bạn bè của tôi.

Thành viên Mai Trang hỏi:

Kính thưa ông André Menras,

Xin được hỏi ông:

1/ Có phải vì nghĩ VN từng là thuộc địa của nước ông, nên khi miền Nam VN có sự hiện diện của quân đội Mỹ, ông bèn chống lại chính phủ miền Nam bằng cách treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi đã rất ngây thơ khi tôi 20 tuổi (người ta nói ngày nay tôi vẫn vậy vào tuổi 66) nhưng cũng không đến mức để nói rằng chính sách thuộc địa của Pháp ở Đông Dương cũng như ở Bắc Phi đã kết thúc tốt đẹp. Tôi và chẳng có ai trong gia đình đã tham gia trong đó. Chúng tôi cũng không tham gia những phong trào chống thuộc địa làm rung chuyển nước Pháp. Như tôi đã nói, những gì đã đẩy tôi lên bức tượng với lá cờ của MTDTGPMNVN, không phải là một ý thức hệ, không phải do tôi là người Pháp cũng không phải tôi đối lập với Mỹ. Tôi cũng có xu hướng, trước khi đi Việt Nam, thông qua quan điểm mỗi ngày trên truyền hình và các phương tiện truyền thông hình ảnh của chiến tranh, cho rằng quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam là để bảo vệ “thế giới tự do”… Tôi đã hoàn toàn thay đổi quan điểm của tôi khi tiếp xúc với thực tế mà tôi đã chứng kiến và tôi có nói nhiều lần trong diễn đàn này.

Có điều buồn cười là sau khi bị bắt, trong cuộc thẩm vấn, một đại tá an ninh chính trị Sài Gòn đã đặt câu hỏi cũng như bạn “ông có thuộc phòng nhì không? Ông có làm việc cho Bảo Đại không?”. Trong khi tờ báo lá cải của cộng đồng Pháp tại Sài Gòn, dưới sự điều khiển của Tổng Lãnh sự quán Pháp, coi tôi và các đồng nghiệp là “những người Maoism trẻ, tâm thần gần như của người chậm phát triển, những người không hiểu biết gì về chiến tranh Việt Nam…”. Đối với họ, rõ ràng, chúng tôi là những người Pháp xấu bởi vì đã quấy nhiễu các thương nhân trong các phi vụ nhiều hay ít có vấn đề, thậm chí phanh phui những kẻ đồng lõa của họ. Những người khác thì nói hay viết rằng chúng tôi có lẽ làm việc cho CIA vì tại thời điểm đó, Nixon qua mở rộng chiến tranh (cuộc xâm lược Cam-pu-chia và hạ Lào) đã bắt đầu chiến dịch “Việt Nam hóa chiến tranh”, “chuyển màu xác chết sang màu vàng” và đã tuyên bố sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam. Một số người Việt Nam, cay đắng vì điều này, có thể có nhận thức sẽ bị bỏ rơi, đã nhân cơ hội này coi lá cờ là biểu tượng cho phản bội của Mỹ. Tất cả những điều này làm cho tôi cười rất nhiều.

Những người khốn khổ này đã không thể hiểu được rằng sự hy sinh chỉ có thể đi từ trái tim và lương tâm, từ sự ghê tởm những tội ác, từ những tội nghiệp hay ngưỡng mộ, tóm lại một từ: tình con người. Và nhiều người cho đến ngày nay vẫn chưa hiểu điều đó khi tôi đấu tranh cho Hoàng Sa và các ngư dân của chúng ta.

Giáo dục mà tôi thừa hưởng từ cha mẹ, những người nông dân nghèo, trung thực, với niềm tự hào, cũng đóng rất nhiều trong quyết định của tôi vào công cuộc đấu tranh. Mặc dù trong cả cuộc đời, họ không “làm chính trị” (như họ nói) nhưng họ luôn đứng về phía những người nghèo, nhưng người yếu. Yếu tố cuối cùng đã đẩy tôi đến hành động cực đoan này, là ý thức trách nhiệm của bản thân là một giáo viên của nước Cộng hoà Pháp. Tôi tin, và tôi luôn tin tưởng vào các giá trị tự do, bình đẳng và bác ái. Tôi có nhiệm vụ dạy điều đó cho thế hệ trẻ. Và cách tốt nhất để dạy không phải là lời nói mà là hành động.

Làm thế nào để hiểu được điều này khi chúng ta không từng trải qua?

Thành viên Mai Trang hỏi:

2/ Có bao giờ ông hối tiếc về hành động này làm ông mất tự do vài năm trời?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi đã nói, tôi không hối tiếc với những gì tôi đã làm. Tất nhiên, bị đánh đập, bị tù đày, rồi bệnh viện tâm thần, phải xa gia đình, những trừng phạt khủng khiếp phải chịu, những năm dài không bạn nữ, lương thực thiếu thốn và bị căm ghét… tất cả điều này chẳng thú vị cho một thanh niên 20 tuổi đầy đủ sức sống, một người yêu thương cha mẹ, bạn bè, thích chơi thể thao và tiệc tùng. Nhưng tôi tự an ủi những khi xuống tinh thần rằng hàng chục ngàn thanh niên Việt Nam cùng độ tuổi cũng ở trong tình trạng như tôi, hay nhiều khi còn tệ hại hơn.

Cuối cùng, tôi phải nói rằng qua cuộc đấu tranh này mà tôi thực sự đã trưởng thành và tôi đã phát hiện ra “con người” có nghĩa gì. Bài học quí giá, không thể quên này, tôi có được là nhờ nhân dân Việt Nam. Nếu không hiểu nó, thì bạn cũng không thể hiểu được cuộc đấu tranh của tôi cho ngư dân ngày nay.

Thành viên Mai Trang hỏi:

3/ Ông nghĩ gì khi người dân Việt chống bọn bành trướng Trung Cộng bị nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay bỏ tù như ông Điếu Cày Nguyễn văn Hải, bà Bùi thị Minh Hằng?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi nghĩ rằng việc họ bị tù là không công bằng, chẳng những về nhân đạo mà còn về chính trị, nó làm suy yếu Việt Nam, làm suy yếu chế độ Việt Nam đối với sự xâm lăng của Trung Quốc. Tất cả điều này làm tổn hại đến hình ảnh của Việt Nam và làm giảm sự giúp đỡ của quốc tế. Tôi nghĩ rằng đại đa số người Việt Nam biểu tình một cách bất bạo động không để lật đổ chế độ, nhưng để bảo vệ đất nước. Qua đàn áp họ, chế độ đã làm giảm lực lượng ủng hộ họ và càng bị cô lập hơn. Cũng như là một người tự bắn vào chân mình.

Thành viên Mai Trang hỏi:

4/ Ông nghĩ gì khi các ông: André Menras, Huỳnh Tấn Mẫm khi xưa chống chế độ miền Nam nên bị bỏ tù, bây giờ khi xuống đường biểu tình chống bọn bành trướng Trung Cộng cũng bị nhà cầm quyền khuyến cáo?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Trong câu hỏi của bạn và các câu hỏi sau đây, tôi xin lỗi một chi tiết nhỏ, tôi không thích từ “Trung Cộng”. Đối với tôi, các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã không có thể được mô tả như là cộng sản: họ không xứng đáng.

Tóm lại, chúng tôi, những người bạn tù già mà bạn nói, đã quen và có kinh nghiệm trong các cuộc chiến chống xâm lược. Nó đã nuôi thời thanh niên của chúng tôi. Cùng nhau hay bên cạnh nhau, chúng tôi đã trải qua ngục tối, bị đánh đập, tuyệt thực, biết những kẻ rừng rú nhất “đầu trâu mặt ngựa”… Chúng tôi đã nhìn vào mắt chúng và hát những bài hát của quân giải phóng. Nhà tù là trận chiến của chúng tôi và chúng tôi chưa bao giờ chịu nhường bước. Vì vậy, ai có thể làm chúng tôi sợ hãi khi Việt Nam là nạn nhân của một sự xâm lược kiểu mới và ai có thể đặt các dấu hỏi lên những gì mà chúng tôi đã đạt được qua những hy sinh? Ai có thể ngăn cản chúng tôi chiến đấu một lần nữa? Không ai cả! Đặc biệt không phải là những người tự xưng là bạn bè của chúng tôi, mặc dù chúng tôi có để ý đến họ. Chính những người này và đồng lõa của họ đã đẩy chúng tôi đến đấu tranh mặc dù chúng tôi không muốn. Họ không chấp nhận đối thoại. Bởi vì họ sợ. Họ cho ảnh sát mặc thường phục theo dõi chúng tôi như chúng tôi là những tên khủng bố nguy hiểm. Họ chắc chắn xâm nhập vào hộp thư của chúng tôi… Họ đặt lén camera để theo dõi cuộc sống riêng tư của chúng tôi. Ví dụ, tấm băng ghi cho thấy họ hành động để bắt luật sư Cù Huy Hà Vũ! Nó thật là nhục nhã và bẩn thỉu! Họ làm cho chúng tôi sống bầu không khí dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn… Khi chịu đựng được tất cả những điều này từ một kẻ thù, thì chúng ta coi thường chúng. Nó lại còn có khi trở thành niềm tự hào. Nhưng khi họ là những người mà bạn coi là đồng chí, là những người luôn được bạn hỗ trợ, mà áp đặt lên bạn những điều này, bạn sẽ cảm thấy bị sỉ nhục, tổn thương sâu sắc, bị phản bội. Đối với tôi, nó làm tăng sự phẫn nộ và quyết tâm của tôi tiếp tục sát cánh cùng với các bạn trẻ, cùng với đồng bào ngư dân của chúng tôi, trên con đường mà chúng tôi đã lựa, đó là con đường trước và trên tất cả: độc lập của Việt Nam. Thực tế sẽ phán xét.

Nếu có thể còn nhớ một dấu hiệu của tuổi trẻ vui tươi trong tình huống đáng buồn như thế này, như tôi nói đùa với các bạn thân cựu sinh viên của tôi ở nhà tù Chí Hòa, bất cứ khi nào tôi ở Việt Nam là tôi có thêm một cái gì đó, “mình có cái đuôi!”

Thành viên Mai Trang hỏi:

5/ Ông có bao giờ hối tiếc vì nhập quốc tịch Việt Nam không?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Đây là một vinh dự rất lớn cho tôi khi có quốc tịch Việt Nam mà vẫn giữ quốc tịch gốc của tôi. Đó là một vinh dự khi nhận nó từ một lãnh đạo cấp cao nhất, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết một người kháng chiến của Tây Ninh. Đối với tôi, quốc tịch không chỉ là một giải thưởng cho quá khứ, mà một quốc tịch với trách nhiệm, một lời mời để đấu tranh cho công cuộc xây dựng ngày nay.

Nhiều bạn bè nói với tôi một cách chân thành, “Chúc mừng!”. Nhiều người khác, khá thất vọng với tình hình xã hội và chính trị đã nói với tôi: “Chia buồn!”. Những người cũng biết tôi đã giữ im lặng, và lo lắng tự hỏi: “anh ta sẽ làm gì?”. Còn tôi, ngày đó, tôi đã hạnh phúc bởi vì chính thức tham gia vào các chuyện quan trọng ở Việt Nam, tôi không còn ở bên ngoài mà đã vào trong nhà, trong gia đình. Bây giờ tôi hoàn toàn chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn, các cuộc chiến. Với nhiệm vụ và quyền lợi của mình. Tôi đã nhận cuốn Hiến pháp năm 1992. Tôi đọc nó một cách cẩn thận, rất cẩn thận. Và, mặc dù tôi tự hỏi về một số vấn đề khó hiểu, nhưng tôi tôn trọng nó và yêu cầu nó được tôn trọng. Tôi lấy tên Việt Nam được đặt khi còn ở trong tù làm tên chính thức. Nó có một giá trị thiêng liêng đối với tôi bởi vì các anh em bạn tù đã tặng nó cho tôi sau một quyết định được suy nghĩ kỹ dựa trên các hành động của tôi trong những điều kiện khắc nghiệt. Tôi không bao giờ phản bội nó. Sẽ có không có ông Hyda và Tiến sĩ Jekyll. Ở Việt Nam, tôi luôn luôn là Hồ Cương Quyết!

Thành viên Mai Trang hỏi:

6/ Ông có liên lạc các học trò của ông khi xưa tại Lê Quý Đôn để hỏi họ cảm nghĩ như thế nào về hành động của ông lúc trước tại miền Nam VN?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi chỉ gặp lại hai hoặc ba lần một cô học trò nhỏ cũ (cô được tám tuổi vào thời điểm đó) của một lớp mà dạy ở trường Lê Quý Đôn vào năm 1970, trước khi tôi bị bắt. Cô ta hiện đang làm trong ngành du lịch. Chúng tôi thực sự rất vui để tìm lại chính mình nhưng tôi không có thời gian cũng như không mong muốn nói chuyện chính trị với cô ấy. Một ngày, tôi nhận được qua Internet hình ảnh của lớp học của tôi ở trường Lê Quý Đôn. Thật cảm động, vì chiến tranh, vì cuộc sống mà chúng tôi đã phải sống rải rác trên khắp thế giới. Đó là một thảm kịch khủng khiếp, những gì đã xảy ra với người dân Việt Nam. Tôi thật sự muốn gặp lại những người bạn nhỏ (chú gà mới nở) nay đã thành người lớn …

Thành viên Mai Trang hỏi:

7/ Nhận định của ông như thế nào về sự hiện diện của Trung Cộng tại VN hiện nay: tại các công trình bauxite tại cao nguyên Trung Phần, tại Hoàng sa, Trường sa?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Thảm kịch lớn nhất của nhân dân Việt Nam là có biên giới chung với Trung Quốc. Bất cứ với chế độ nào, vào bất kỳ thời gian nào, những người đứng đầu của đất nước này đều coi Việt Nam là tài sản riêng, nơi tiêu khiển, lá chắn của họ ở biên giới phía nam… Và Việt Nam đã lớn mạnh, đoàn kết, tự giải phóng và phát triển trong quan hệ mâu thuẫn nhưng cần thiết với người khổng lồ ích kỷ này. Điều này vẫn còn đúng ngày nay, trong điều kiện đặc biệt khó khăn và nguy hiểm cho Việt Nam. Qua những gì xảy ra trong quá khứ, Trung Quốc luôn cớ sự thèm muốn đối với Việt Nam. Nó tăng lên mỗi khi Việt Nam suy yếu hay khi Trung Quốc cường thịnh. Hoàng Sa đã trải qua sự chiếm đóng quân sự đầu tiên của Trung Quốc trong năm 1946, khi Hiệp ước Chung King cho phép Tưởng Giới Thạch giải giáp quân đội Nhật. Vào thời điểm đó, quần đảo không còn dưới sự “bảo vệ” của hải quân thuộc địa Pháp. Người Trung Quốc đã đến định cư trên phần phía bắc (gọi là Amphitrite) và họ ở luôn đó đến nay. Họ gia tăng và củng cố sự chiếm đóng sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Cho đến ngày 19 tháng một năm 1974, lợi dụng sự thờ ơ của hạm đội 7 Hoa Kỳ, mặc dù có mặt ngay gần đó, họ đã sử dụng bạo lực tấn công một phần phía nam của quần đảo này (được gọi là Crossant nhóm Trăng Khuyết, Lưỡi Liềm), làm 64 quân nhân Việt Nam thiệt mạng, và chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Họ tấn công Trường Sa năm 1988, làm 74 quân nhân Việt Nam thiệt mạng, rồi sau đó gậm nhấm quần đảo, phù hợp với giai đoạn suy yếu kinh tế của Việt Nam và phát triển kinh tế của Trung Quốc. Kẻ ăn thịt Trung Quốc vẫn đang rình rập chờ đợi thời điểm yếu đuối của con mồi và yếu tố bất ngờ.

Điều đó nói lên, theo ý tôi, chiến lược để kiểm soát Việt Nam và đưa Việt Nam xuống thành một tỉnh của Trung Quốc là một chiến lược toàn diện. Nó chưa từng được tổ chức với những suy tính cẩn thận như ngày nay.

Trước hết, chiến lược này được tính trên sự phụ thuộc kinh tế có thể được đo lường bằng mức thâm hụt rất lớn và còn tăng nữa trong cán cân thương mại gây thiệt hại cho Việt Nam, họ thò bàn tay vào các dự án xây dựng lớn, vào các nhà máy nhiệt điện lớn ở Bắc Việt Nam với mục đích kiểm soát nền sản xuất năng lượng. Trung Quốc cũng luôn có những khát vọng đối với khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. Dự án Bô xít ở Trung Nguyên là ví dụ điển hình. Tất cả các chi phí chính, ô nhiễm môi trường và xã hội, nguy cơ của một thảm họa lũ “bùn đỏ”, đầu tư trong các cấu trúc, đường bộ, đường sắt, bến cảng, Việt Nam chịu hết. Trung Quốc sẽ thu thập nhôm giá rẻ và chỉ mất thêm chi phí vận chuyển tối thiểu từ các cảng Việt Nam vào lãnh thổ của mình. Việt Nam sẽ bán hết dự trữ quặng, một ngày cần lại, chúng ta sẽ phải mua với một giá đắt hơn. Sẽ mất nhiều thời gian để đề cập đến các thị trường song song của than đá, đồng và các kim loại khác, gỗ quý hiếm hoặc thường vượt biên giới, nơi mà sự giám sát lỏng lẽo với sự đồng lõa của các quan chức tham nhũng địa phương… Đó thực sự là cướp bóc có hệ thống.

Đồng thời, các công ty Trung Quốc thuê hàng ngàn ha đất cho 50 năm hay 100 năm, một số tại các điểm chiến lược. Họ tàn phá rừng hiện nay tạo gây xói mòn, họ chỉ trồng các loại cây cho thị trường của họ, và sau đó sẽ để lại những vùng hoang tàn. Đó là thảm họa Kinh tế và sinh thái cho Việt Nam! Thêm vào đó, các công ty này, như “Innogreen” chẳng hạn, sau khi thuê đất đã đuổi dân địa phương, đưa công nhân Trung Quốc sang để làm việc, duy trì, và chiếm đất dần dần, các gia đình sẽ sinh ra và phát triển hình thành trên thực tế những vùng lãnh thổ Trung Quốc ngay trong Việt Nam. Phương thức này được thực hiện trước đó tại Lào, Miến Điện… Đây gọi là sự chiếm đóng bằng “sinh sản”.

Vấn đề của người lao động Trung Quốc không có tay nghề chuyên môn hay bất hợp pháp (thực sự họ cũng bị bóc lột bởi các ông chủ Trung Quốc) xảy ra ở nhiều tỉnh của Việt Nam từ Bắc vào Nam. Nhiều nhà báo Việt Nam đã viết những phóng sự với chứng cứ chắc chắn về vấn đề này. Đó là kiểu chiếm đóng với “sự hiện diện”, đặc biệt là khi không có gì đảm bảo rằng những “công nhân” thực sự là công nhân, chứ không phải binh sĩ hay nhân viên tình báo cải trang.

Tiếp theo, như là một yếu tố rất quan trọng của chiến lược dẫn đến sự thống trị của Trung Quốc, mà chúng ta phải đề cập là khối lượng sản phẩm tiêu dùng Trung Quốc chảy liên tục ngày càng nhiều vào Việt Nam, tuy với chất lượng xấu nhưng lại hợp với túi tiền người nghèo. Sản xuất vừa và nhỏ Việt Nam không thể cạnh tranh một cách lành mạnh và đã bị bóp nghẹt. Điều này làm tăng sự phụ thuộc vào Bắc Kinh.

Có nhiều điều để nói về các cuộc tấn công của Trung Quốc về văn hóa, những bộ phim truyền hình, số lượng sách của các tác giả Trung Quốc được nhân lên gấp nhiều lần trong các hiệu sách lớn, học bổng cho sinh viên du học ở Trung Quốc … Ở Việt Nam, Trung Quốc có mặt ở khắp mọi nơi. Hiện hoặc ẩn. Tôi chắc rằng sự xuất phát của một tàu từ Lý Sơn đi đánh cá ở Hoàng Sa đã được báo cho tuần tra Trung Quốc! Tôi lặp lại: chưa bao giờ, mối nguy hiểm của sự thống trị của Việt Nam bởi Trung Quốc lại lớn như ngày nay.

Thành viên Mai Trang hỏi:

8/ Bây giờ ông có thật sự nghĩ Mỹ xâm chiếm miền Nam khi thấy hiện nay Mỹ đã rút quân tại Iraq và đang rút quân tại Afghanistan?

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Ở bất cứ nơi nào, Hoa Kỳ can thiệp thường vì lý do không thực như họ tuyên bố, họ châm lửa hay nhen nhóm, nhưng họ không bao giờ dập nó. Họ thường bỏ rơi “đồng minh” trong những tình huống bi thảm. Như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ chỉ hành động cho một mục đích duy nhất: lợi nhuận, thường là ngắn hạn cho các tập đoàn lớn (đặc biệt là vũ khí) và các ngân hàng của họ. Không may, đây là bài học lịch sử. Năm 1972, Nixon và Kissinger đã bán Việt Nam và các hòn đảo, khi họ không còn có thể bảo vệ chúng, để đổi lấy sự xâm nhập thị trường Trung Quốc. Không chút băn khoăn, họ để những người lính VNCH bị thảm sát tại Hoàng Sa Họ thậm chí không hỗ trợ các phản đối của Sài Gòn tại Liên hợp quốc. Với Biển Đông Nam Á ngày nay, sự tham gia ngày càng tăng của Hoa Kỳ là tốt cho cân bằng lực lượng chống lại lòng ham muốn của Trung Quốc. Nhưng đừng để bị lừa: cam kết của Mỹ không vì để bảo vệ công lý hay pháp luật (Mỹ không ký Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982). Sự tăng cường hiện diện của Mỹ chủ yếu là cho lợi ích riêng, như Hillary Clinton tuyên bố. Và những cam kết này cũng có thể sẽ bị « quên » sau một cuộc thương lượng mới các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Washington trên lưng của người dân ASEAN, những người bị ảnh hưởng trực tiếp.

Thành viên Mai Trang hỏi:

9/ Ông có nghĩ chính quyền VN hiện nay quá nhu nhược trước những vi phạm lãnh thổ của Trung Cộng, cũng như việc nhường một phần Bản Giốc cho bọn này?

Kính,

Mai Trang

Ông Hồ Cương Quyết trả lời:

Tôi không thích sử dụng từ “nhu nhược”. Nó ít khi tương xứng với sự thật. Thái độ của các nhà lãnh đạo Việt Nam chắc chắn đáng bị chỉ trích. Tuy nhiên, áp lực lên họ là rất lớn. Tôi muốn nói đến quyền lực hiện nay của Trung Quốc bên trong và ngoài Việt Nam. Nó phải được tính đến trong một trận chiến đối kháng lâu dài và khó khăn.

Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không đồng ý với sự độc tài, bạo lực, bất hợp pháp và nguy hiểm, để bịt miệng các tiếng nói yêu nước và những lời kêu gọi đoàn kết ngày càng tăng trên khắp Việt Nam. Tôi phàn nàn về việc thiếu dân chủ cho các quyết định về những vấn đề quan trọng cho đất nước, cũng như tôi phàn nàn về việc thiếu hỗ trợ thực sự cho các ngư dân miền Trung Việt Nam. Tất cả điều này không phục vụ lợi ích của đất nước mà chỉ làm lợi cho chính sách bành trướng của Trung Quốc.

(còn tiếp)

_______________________

[*] Ông Hồ Cương Quyết trả lời bằng tiếng Pháp, và thành viên HDat thuộc diễn đàn X-cafevn.org đã dịch sang tiếng Việt. Tất cả các bản dịch sang tiếng Việt đã được ông Hồ Cương Quyết xem trước, hiệu đính và đồng ý. Dân Luận xin không đăng phần tiếng Pháp, độc giả quan tâm có thể bấm vào đây để đọc bản tiếng Pháp.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

Bị cấm xuất cảnh và bị cho là tội phạm vì “đã biểu tình chống Trung Quốc chiếm đảo Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam”

Posted by hoangtran204 trên 08/02/2012

 

Blogger ‘Người buôn gió’ bị cấm xuất cảnh

Quỳnh Chi, phóng viên RFA, Bangkok
2012-02-06

Hôm Chủ nhật, ngày 5 tháng 2, blogger Người Buôn Gió, tên thật là Bùi Thanh Hiếu bị cấm xuất cảnh. 

blogger Người Buôn Gió  bị bắt với lý do “gây rối trật tự công cộng” khi đang đi dạo ở Hồ Gươm.
Ngày 27 tháng 11 năm ngoái, blogger Người Buôn Gió bị bắt với lý do “gây rối trật tự công cộng” khi đang đi dạo ở Hồ Gươm.

Vào lúc 2 giờ chiều hôm qua, tại sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội, blogger Người Buôn Gió bị dừng xuất cảnh. Biên bản dừng xuất cảnh do ông Nguyễn Bá Tuấn, trưởng  CACK Nội Bài ký, ghi rõ lệnh cấm xuất cảnh đối với anh Bùi Thanh Hiếu là do đề nghị của đội 2 – PA67 CA TP. Hà Nội.

Trao đổi với đài RFA, anh Hiếu cho biết anh trên đường đi Thái Lan để gặp một người bạn:

“Hôm qua, tôi muốn sang Thái Lan để gặp một người quen. Người này là giáo dân ở Cồn Dầu. Họ đang được cấp qui chế tị nạn tại một nước thứ ba nên cho tôi lại một số tài sản của họ. Bà con họ cũng chẳng còn ai mà lúc trước tôi lại hay thăm viếng họ. Tôi đến sân bay thì bị an ninh không cho xuất cảnh và hai tiếng sau khi máy bay cất cánh thì họ đưa tôi văn bản cấm xuất cảnh”.

Anh Hiếu cũng cho biết thêm, chuyến đi không được nhiều người biết và cũng không được anh báo trước. Anh nghĩ rằng lệnh cấm xuất cảnh đối với anh đã có từ trước.

Tôi đến sân bay thì bị an ninh không cho xuất cảnh và hai tiếng sau khi máy bay cất cánh thì họ đưa tôi văn bản cấm xuất cảnh

Người Buôn Gió

Biên bản không nói rõ lý do vì sao anh Bùi Thanh Hiếu bị đưa vào diện cấm xuất cảnh và anh Hiếu cũng không được thông báo chi tiết. Tuy nhiên, PA67 thuộc phòng bảo vệ chính trị, thuộc khối an ninh của bộ Công an.

Theo như thông tin ban đầu, blogger Người Buôn Gió đã được cán bộ sân bay yêu cầu kê khai những chuyến đi nước ngoài trước đây của anh cũng như yêu cầu kê khai chi tiết ngày 27 tháng 11 năm ngoái anh đã vi phạm điều gì. Tuy nhiên, blogger Người Buôn Gió đã từ chối với lý do đây không phải là trách nhiệm của công an cửa khẩu.

Đây là lần đầu tiên blogger Người Buôn Gió bị cấm xuất cảnh. Hồi năm ngoái, anh đã hai lần du lịch đến Châu Âu. Ngày 27 tháng 11 năm ngoái, blogger này bị bắt với lý do “gây rối trật tự công cộng” khi đang đi dạo ở Hồ Gươm. Tại thời điểm đó, một số người bị bắt khi biểu tình tại Hà Nội với nội dung “Ủng hộ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Quốc Hội ra luật biểu tình”.

Tập truyện “Đại vệ chí dị” của Người Buôn Gió. RFA file
Tập truyện “Đại vệ chí dị” của Người Buôn Gió. RFA file

Biên bản dừng xuất cảnh được đưa cho blogger Người Buôn Gió vào lúc khoảng 4 giờ chiều, tức 2 tiếng đồng hồ sau khi anh bị chặn ở cửa khẩu sân bay.

Theo như chia sẻ trên blog của mình, blogger Người Buôn Gió cho biết khi đứng ở sân bay, anh giơ cao biên bản cấm xuất cảnh và hô lớn:

“Bà con xem đây, tôi là người biểu tình chống Trung Quốc chiếm đảo Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam bị cho là tội phạm, cấm xuất cảnh. Một đất nước kỳ quặc”. Liền sau đó anh bị an ninh đẩy ra cửa và giải thích rằng họ chỉ làm việc theo đề nghị của PA67.

Đây là lần đầu tiên blogger Người Buôn Gió bị cấm xuất cảnh. Hồi năm ngoái, anh đã hai lần du lịch đến Châu Âu. Ngày 27 tháng 11 năm ngoái, blogger này bị bắt với lý do “gây rối trật tự công cộng” khi đang đi dạo ở Hồ Gươm. Tại thời điểm đó, một số người bị bắt khi biểu tình tại Hà Nội với nội dung “Ủng hộ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Quốc Hội ra luật biểu tình”.

Blogger Người Buôn Gió cho biết, anh đã báo tin cho người bạn của anh ở Thái Lan. Và đối với anh chuyện được đi hay không là không quan trọng. Tuy nhiên, anh đã yêu cầu phía an ninh sân bay chịu trách nhiệm hoàn lại tiền vé máy bay cho mình vì những nhân viên này đã không cho anh đến phòng vé tại sân bay để trả vé trước thời hạn máy bay cất cánh:

“Trong biên bản thì họ ghi là làm việc trong 25 phút nhưng thực tế từ khi tôi vào là 2 giờ chiều và đến 4 giờ kém 15 tôi mới được nhận biên bản. Đối với tôi việc đi hay không cũng không quan trọng. Tôi đang chuẩn bị đi đến phòng vé máy bay để đòi tiền vé”.

Được biết, theo nghị định 136/2007 NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, việc cấm xuất cảnh đối với bảy dạng đối tượng. Trong đó bao gồm những người đang chấp hành bản án, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bệnh nguy hiểm hay vì “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.
2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.
3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.
4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.
5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.
6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.

Bà con xem đây, tôi là người biểu tình chống Trung Quốc chiếm đảo Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam bị cho là tội phạm, cấm xuất cảnh. Một đất nước kỳ quặc

Người Buôn Gió

Theo điều 22 nghị định này, những người bị cấm xuất cảnh vì lý do “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” thì quyết định cấm xuất cảnh phải do Bộ trưởng Công an và Bộ Công an phải thông báo cho người bị cấm xuất cảnh biết.

Blogger Người Buôn Gió là một blogger được khá nhiều người biết đến với những bài viết sắc sảo và liên quan đến những sự kiện bức thiết của xã hội. Bút pháp giễu cợt nhưng chua chát của anh trong tập truyện “Đại vệ chí dị” đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng mạng trong và ngoài nước. Anh cũng nhiều lần tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam và nhiều lần bị bắt.

Hồi năm ngoái, một cư dân mạng có tên Tom Cat dự đoán blogger Người Buôn Gió sẽ bị bắt. Theo nhân vật ẩn danh có tên Tom Cat, blogger Người Buôn Gió

“có 3 hoạt động khiến những người làm an nình và bảo vệ tư tưởng văn hóa đặc biệt khó chịu: đó là cổ vũ cho các hoạt đống chống đối ở Thái Hà, tham gia tích cực biểu tình, viết tập truyện “Đại Vệ Chí Dị”.

Trước khi LS Cù Huy Hà Vũ bị bắt, Tom Cat cũng có lời cảnh báo tương tự.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Công an Phú Yên bắt 10 người trong “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”

Posted by hoangtran204 trên 07/02/2012

nguồn dcvonline

Theo tin cuả TTX Việt Nam, một viên chức công an cao cấp cho hay cuộc tấn công vào bộ chỉ huy bí mật ở vùng quê trong những ngày gần đây đã bắt được 10 thành viên kể cả thủ lĩnh của một tổ chức “chính trị phản động” là Phan Văn Thu bí danh Trần Công.

TT CA Phạm Văn Hoá
Nguồn ảnh: phununet.com


Trong cuộc họp báo ngày 6 tháng 2, Thiếu tướng Công an Phạm Văn Hóa, Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên, cho hay, nhóm người bị bắt đã “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” thuộc tổ chức Hội đồng công luật công án Bia Sơn.

Những người bị bắt là các ông:

1. Phan Văn Thu, hay Trần Công, sinh năm 1948, 64 tuổi, ở An Thạch, H.Tuy An, Phú Yên;
2. Võ Thành Lê sinh năm 1955, 57 tuổi, ở xã Hòa Thành, huyện Đông Hòa, Phú Yên, Trưởng ban Đối nội;
3. Tạ Khu sinh năm 1947, 63 tuổi, ở xã Sơn Thành Đông, huyện Tây Hòa, Phú Yên,- Trưởng ban Giám tra và ban hành luật;
4. Lê Duy Lộc sinh năm 1956, 56 tuổi, ở xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải, Ninh Thuận, Trưởng ban Khoa giáo;
5. Lê Phúc sinh năm 1951, 61 tuổi, ở P. Đài Sơn, Tp. Phan Rang, Ninh Thuận, Trưởng ban Tổ chức;
6. Lê Đức Động sinh năm 1983, 29 tuổi, ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên, Huế, Trưởng ban Hồng vệ pháp;
7. Đoàn Đình Nam sinh năm 1951, 61 tuổi, ở Tp.Tuy Hòa, Phú Yên, Tổng trưởng các ban kiêm Hội trưởng Pháp hội Thiên Phước (Tuy Hòa);
8. Võ Ngọc Cư sinh năm 1951, 61 tuổi, ở xã Hòa Phong, huyện Tây Hòa, Phú Yên, Phó trưởng ban Nghi lễ và
9. Lê Trọng Cư sinh năm 1966, 46 tuổi, ở xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa, Phú Yên, lái xe, kiêm vệ sĩ trực tiếp của ông Phan Văn Thu.
10. Nguyễn Kỳ Lạc, sinh năm 1951, 61 tuổi, xã Xuân Sơn Nam, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên) là Trưởng Ban hành pháp;

TT Phạm Văn Hóa cho hay nhóm Hội đồng công luật công án Bia Sơn hoạt động “bất bạo động” nhưng nhằm mục đích lật đổ chính phủ hiện tại.

“Cuộc tấn công vào căn cứ chỉ huy núi Đá Bia hôm Chủ nhật đã tiêu diệt cơ sở trung ương cuả tổ chức phản động,” Công an Phú Yên cho biết. Trong cuộc tấn công này, công an Phú Yên đã thu được hàng trăm tài liệu về nội dung cương lĩnh hoạt động của tổ chức Hội đồng công luật công án Bia Sơn, cùng với 19 kíp nổ, 10 “walkie talkie” (máy truyền tin tầm ngắn), 2 máy tính cầm tay, máy chụp hình, máy thu video, 12 ngàn đô-la và gần 190 triệu đồng Việt Nam, TT Công an Phạm Văn Hoá cho hay.

Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên cho biết thêm tổ chức tên Hội đồng công luật công án Bia Sơn do ông Phan Văn Thu thành lập từ 1975; ông Thu đã nhiều lần bị bắt giam và quản thúc tại nhà trong những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80.

Bản đồ Google Khu Du lịch sinh thái Núi Đá Bia
Nguồn: Google.com


Sau khi thoát khỏi lần quản thúc tại gia năm 1984, ông Thu đổi tên là Trần Công; từ 2004-2011, ông Công lập căn cứ bí mật trong khu du lịch sinh thái núi Đá Bia (còn có tên là khu du lịch Hoàng Long, huyện Đông Hoà, Phú Yên) làm trung tâm chỉ huy hoạt động để phát triển tổ chức ở một số tỉnh, thành phố trong cả nước với trên 300 thành viên tham gia, có cả Việt kiều.

© DCVOnline


                                                           ***********************************

*Mấy hôm nay có tin “Công an Phú Yên bắt 10 người trong “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”. Nhiều người Việt Nam sống ở nước ngoài và trong nước nghi ngờ về hành động bắt bớ này.  Họ nghi ngờ có sự khuất tất gì đây trong hành vi bắt bớ của công an. Có thể là không cho những người lập hội đạo giáo? Có thể là muốn tước đoạt đất đai của những người này để mở rộng khu du lịch sinh thái Hoàng Long?

Vì theo tin của bài báo, các chức vụ của những người bị bắt có tên tựa tựa như của một tổ chức đạo giáo, chẳng hạn như “Tổng trưởng các ban kiêm Hội trưởng Pháp hội Thiên Phước (Tuy Hòa); “Phó trưởng ban Nghi lễ”…Vì vậy có thể những người này thuộc một tổ chức đạo giáo nhỏ nào đó mới thành lập trong thời gian mấy năm qua, đang phát triển tìm thêm các tín hữu…đảng không muốn người VN tự do lập hội, nên sai công an bắt?

Trong bài báo có nói đến cáo buộc họ là tổ chức phản động mấy chục năm qua, vậy tại  sao không bắt họ nhốt vào tù mấy chục năm trước đây? và chỉ quản chế tại gia? Nhớ lại nhạc sĩ Việt Khang Võ Minh Trí đang bị giam giữ hơn 2 tháng qua chỉ vì anh này đưa lên mạng 2 bài hát mà đã bị công an bắt cho đi tù ngay lập tức, thì thử hỏi mấy người này đã là phản động từ cuối thập niên 1970 và đầu 1980 mà sao họ chỉ bị quản chế? không bị đưa đi tù cải tạo? Thêm vào đó, thử hỏi một tổ chức bí mật mà lại có căn cứ hoạt động gần khu du lịch sinh thái Hoàng Long, để mọi người đi qua đi lại nhìn thấy hoạt động của tổ chức “bí mật” đang hội họp, sinh hoạt…thì còn gì là bí mật nữa?
Còn chuyện súng ống đạn dược bị tịch thu tại hiện trường  sao công an không trưng hình ảnh đưa lên báo? Báo chí cũng không đăng hình ảnh biên bản xác nhận tang vật tại hiện trường, có ghi rõ ngày tháng lập biên bản, kèm theo chữ ký xác nhận của những người này, và chữ ký của công an tịch thu tang vật, sao không thấy trưng ra?
Còn chuyện 10 máy  “walkie talkie” (máy truyền tin tầm ngắn) thì tụi con nít ngoại quốc đã chơi thứ này mấy chục năm qua, máy walkie talkie có bán đầy nhóc trong các tiệm bán đồ điện, các siêu thị lớn, cửa hàng đồ chơi trẻ em, thời gian sau này bị các cell phone cạnh tranh và quá phổ biến nên khách hàng giảm bớt mua để xử dụng.
Máy bộ đàm walkie talkie rất thông dụng ở nước ngoài, đặc biệt là ở  các vùng quê hẻo lánh, các nông trại, trong các thị trấn dân chúng ở thưa thớt, hoặc các vùng gần miền rừng núi, thì dân chúng sử dụng walkie talkie rất là thông dụng và phổ biến. Lý do là các vùng này công ty điện thoại, vì lý do tiết kiệm,  không dựng các cột an-ten để phủ sóng. Vì thế, để tiện liên lạc, dân chúng sống trong các vùng xa đô thị, xa thị trấn thường sử dụng walkie talkie. Ở các thành phố nơi có các công ty xây dựng lớn hay nhỏ của Mỹ, hay các hãng hay doanh nghiệp lớn có đông công nhân viên, các nhà kho lớn chứa hàng cũng dùng walkie talkie để liên lạc với nhau. Lợi điểm là dùng walkie talkie thì người sử dụng  không cần phải trả tiền hàng tháng, không cần bảo trì, công ty không cần thuê bao điện thoại phát cho nhân viên dùng mà công nhân viên vẫn liên lạc được với nhau để hoàn thành công việc cho có hiệu quả.  Rất nhiều Việt kiều cũng mua walkie talkie để cho con cái chơi, khi đi du lịch các khu vực giải trí lớn, vì tầm liên lạc của walkie talkie trong thành phố giao động từ  2 km-20 km là thường. Tóm lại, walkie talkie không phải là tang vật vì không ở trong danh sách các vật liệu cấm tàng trử và sử dụng.

*Việt Nam không có tự do ngôn luận, không có báo chí tư nhân, nên rất đáng nghi ngờ các vụ bắt bớ của công an. Dân chúng đọc báo thì ít ai dám phản biện, không nghi ngờ  mà cứ cứ tin báo chí đang viết  sự thật.

Ý kiến phản hồi bài báo trên post dưới website của dcvonline.com
*Minh Đức
Tội danh của chính quyền CS đưa ra không quan trọng lắm và không nhất thiết là đúng sự thật. Tổ chức không làm hại ai như Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Pháp Luân Công cũng có thể bị vu là phản động, nếu cần thì gài vũ khí khi khám xét để vu tội dùng vũ khí để lật đổ chính quyền.Vấn đề chính là đảng CS không cho dân có quyền lập hội, lập tổ chức để đảng CS độc quyền lập hội, lập tổ chức. Nhưng thế đảng CS mới có sức mạnh mà khống chế toàn dân. Cũng giống như một nhúm người Mãn Thanh có thể khống chế toàn thể nước Trung Hoa rộng lớn bằng cách này mặc dù người Mãn Thanh là thiểu số so với người Hán. Nhưng như thế thì một đảng khống chế được toàn dân bằng cách này không chắc là một đảng có đường lối khôn ngoan, sáng suốt nhất trong việc phát triển đất nước.
* Tâm Việt Sao toàn những người vào tuổi về hưu vậy cà. Họ tụ họp nhau học hỏi sống về mặt tinh thần.
* Lê Văn  Bác TV thật sáng suốt!  Mới đọc tin tôi cũng thấy nhiều điểm đáng nghi ngờ khác về “vụ án tày trời” này, như:
– Tên một tổ chức chính trị, có “tham vọng cầm quyền” mà lại khai địa điểm “sào huyệt”, “Núi Bia”, ngay trong danh xưng
– Có võ khí để khơi khơi, không nghe nói được sử dụng khi bị “tấn công”… chắc chỉ dùng làm tang chứng cho CA nhà nước
– Tổ chức này, theo bản tin, có từ 1975, khi “đảng trưởng” mới 27 tuổi – đến nay sau 37 năm mới bị bắt… nhà nước ta quả là kiên nhẫn đặc biệt với tổ chức “phản động này”
– v.v.Rất có thể, theo tôi, chẳng qua nay nhóm người (bạn?) này đã tập hợp được một số vốn (cả từ bạn bè “Việt kiều”) để làm ăn kinh doanh lớn, nên đảng ta bèn “ra tay” hốt trọn ổ! Còn tội “phản động” (để 37 năm mới bắt) có thật hay không chẳng có gì đáng kể. Cũng chẳng khác gì vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, đảng khuyến khích làm ăn, đợi lớn rồi thì quăng lưới “thu hồi”.Thật ra người dân bình thường trong nước như cá nằm trong lưới… nằm yên cũng chết, dẫy dụa cũng chết… chẳng làm gì khác được. Chỉ đáng nói là những người mang danh “tị nạn CS” mà không hiểu nguyên tắc cơ bản của CS mà thôi. LV

*Tâm Việt  Với cái tên “công luật công án”, làm tôi nghĩ đến Nho giáo và Phật giáo. “Công án”, là một danh từ của Thiền gia Phật giáo. “Công luật”, thì hơi khó hiểu nhưng tôi nghĩ họ muốn nói đến ngũ thường, nhân lễ nghĩa trí tín của Nho giáo.

*Lê Văn  Cám ơn anh TV. Tôi cũng cùng cảm tưởng như anh. Tôi chỉ nghĩ thêm rằng lý do (motif) thật sự để “nhà nước”.. tấn công nhóm người này vì họ có tài sản, ruộng đất.  LV

*Minh Đức  “tổ chức đó hoạt động “bất bạo động” Đã bất bạo động mà lại chủ trương bất chiến tự nhiên thành thì nhóm này xem ra không nguy hiểm gì cho lắm. Cứ để cho nhóm này hoạt động theo lối bất chiến nếu không tự nhiên thành thì biết đâu họ chán mà rã đám.

*Những tên như Ân Đàn Đại Đạo, đây là tổ chức Pháp Hội, xem chừng ra đây là một tổ chức tôn giáo. Những tổ chức tôn giáo kiểu này thì tại các xứ tự do cũng có nhiều. Người Mỹ gọi các tổ chức này là cult chứ không gọi là religion. Chữ cult dịch ra tiếng Việt là Đạo thì không có ý xấu như chữ cult. Nhiều người Mỹ nghe nói đến cult thì họ xem như là thứ đạo mê tín có hại, trong khi religion là tôn giáo thì lại được xem là tốt. Nhưng chính quyền các nước này cứ để kệ cho họ hoạt động. Nếu ai vi phạm pháp luật như buôn lậu, cưỡng hiếp, buôn ma túy thì bắt. Nếu họ muốn ra cầm quyền thì cứ việc ra tranh cử.

Nhưng ở xứ tự do thì các tổ chức của đám đi mô tô như Hell Angels cũng được chính thức hoạt động vì đó là quyền tự do lập hội mặc dù các thành viên của nhóm này thường buôn ma túy, giết người. Chính quyền phải cho họ lập hội vì không thể đối xử phân biệt khi họ xin phép bởi vì lúc xin phép họ chưa có bằng chứng gì là phạm pháp. Không cho lập hội công khai thì họ cũng lập băng đảng trong bí mật. Cho lập hội thì còn biết họ ở đâu, rồi gài người vào mà theo dõi.

“Dân biểu Loretta Sanchez lên tiếng đòi Hà Nội trả tự do cho Nhạc Sĩ Việt Khang”


http://www.minhduc7.blogspot.com/
Minh ĐứcTội danh của chính quyền CS đưa ra không quan trọng lắm và không nhất thiết là đúng sự thật. Tổ chức không làm hại ai như Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Pháp Luân Công cũng có thể bị vu là phản động, nếu cần thì gài vũ khí khi khám xét để vu tội dùng vũ khí để lật đổ chính quyền.Vấn đề chính là đảng CS không cho dân có quyền lập hội, lập tổ chức để đảng CS độc quyền lập hội, lập tổ chức. Nhưng thế đảng CS mới có sức mạnh mà khống chế toàn dân. Cũng giống như một nhúm người Mãn Thanh có thể khống chế toàn thể nước Trung Hoa rộng lớn bằng cách này mặc dù người Mãn Thanh là thiểu số so với người Hán. Nhưng như thế thì một đảng khống chế được toàn dân bằng cách này không chắc là một đảng có đường lối khôn ngoan, sáng suốt nhất trong việc phát triển đất nước.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

Sức mạnh thông tin của các trang blog

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2012

RFA-Đài Á châu Tự do

Sức mạnh thông tin của các trang blog

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2012-02-05

Đã từ lâu chính quyền vẫn xem các trang blog là những nơi người viết dùng để chỉ trích hay ít ra cũng làm méo mó những thông tin mà dòng chính đưa ra. Tuy nhiên sau nhiều biến cố hồi gần đây từ việc tổ chức đại lễ Ngàn Năm Thăng Long tới biểu tình chống Trung Quốc và vụ mới nhất là cưỡng chế đất tại Tiên Lãng, nhiều trang blog đã chứng tỏ sức lan tỏa của nó vào người đọc trong và ngoài nước. Sức mạnh của blog được chính quyền đánh giá ra sao và liệu các trang blog đã thoát ra khỏi thành kiến của những cán bộ nhà nước hay chưa? Mặc Lâm tìm hiểu qua các chủ nhân những trang blog nổi tiếng sau đây.

Đường link của các trang blog hình thành như một loại mạng nhện, có khả năng liên thông tương tác và dẫn dắt những trang blog có chứa các thông tin khác nhau chia ra cho hàng ngàn người xem cùng lúc. Cuộc cách mạng blog đã như một tiếng chuông cảnh tỉnh rất nhiều người hoạt động trong ngành truyền thông và không ít người thấy rằng blog là nơi lý tưởng để chia sẻ những bài viết cho mọi người mà không qua bất kỳ một sự kiểm duyệt nào, nhất là dưới đôi mắt của người biên tập nơi nhà báo làm việc.

Boxit.vn và Basam.net

Boxit.vn và Ba Sàm là hai trang mạng xã hội đặc biệt nhất trong các trang blog. Trong khi Boxit.vn được hình thành để phản biện việc chính phủ cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên, thì Ba Sàm tập trung những bài viết hay, xuất sắc trong cũng như ngoài nước viết về nhiều chủ đề khác nhau với mục đích chuyển tải thông tin là chính.

Ba Sàm xuất hiện đều đặn với một thông điệp hết sức rõ ràng cho các cơ quan lãnh đạo truyền thông đại chúng trong nước rằng: Trang mạng này vượt mọi kiểm duyệt để mang tới cho người đọc, trong đó có cả viên chức nhà nước các thông tin mà họ cần, bất kể từ nguồn nào, miễn nó chính xác và hữu ích.

Osin, kỳ tích đầu tiên

Qua kinh nghiệm viết báo, nhiều trang blog mà chủ nhân là ký giả sau khi ra mắt đã nhanh chóng nổi lên ngang hàng với một tờ báo lớn. Trang Blog Osin là một hiện tượng viết blog đáng chú ý của Việt Nam. Ký giả Huy Đức đã post những bài viết ấn tượng mà từ trước cho tới thời điểm ấy không có tờ báo nào dám đăng tải với những nội dung như thế.

Huy Đức không phải là một ngoại lệ, sau anh là Quê Choa, Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Nguyễn Xuân Diện, Mai Thanh Hải, Nguyễn Tường Thụy, Cu Làng cát, Nguyễn Quang Vinh… và hàng trăm trang blog khác, mỗi trang một cách viết nhưng mục đích chung của những blogger này rất dễ thấy: Nói lên những gì mà xã hội quan tâm trong khi báo chí dòng chính không được phép nói.

Trong giai đoạn đầu khi chính quyền chưa quan tâm mấy đến hiệu ứng của một trang blog thì cư dân mạng tha hồ viết, tha hồ comment. Thế nhưng khi người truy cập trang blog Osin lên đến con số triệu thì nhà báo Huy Đức tuyên bố khai tử trang blog nổi tiếng này.

Không nói ra nhưng mọi người đều biết, càng nhiều người truy cập thì ảnh hưởng của chủ trang blog càng lớn. Nhà nước không muốn bất cứ sự ảnh hưởng của một cá nhân đối với cộng đồng, cho dù ảnh hưởng của nó là tích cực.

Không chịu botay.com

Có điều lý thú là sau khi blog Osin đóng cửa những trang blog khác không những không giảm các bài viết nhạy

cảm mà do tình hình căng thẳng nhiều mặt của xã hội đã xuất hiện ngày một nhiều hơn các bài viết đầy hình ảnh, mạnh mẽ và trực tiếp chỉ ra những sai lầm, bất cập, tha hóa hay cửa quyền của những khuôn mặt chức quyền trong bộ máy. Những tên tuổi bị chỉ ra đích danh với các bằng chứng không thể chối cãi trên các trang blog đã dần dà mang lại uy tín của các địa chỉ blog và kết quả là cư dân mạng thích vào xem các blogger nói gì trước khi xem các tờ báo của nhà nước.

Những bài viết giá trị trên các trang blog đã chứng minh được hiệu quả của nó nếu so với sự trì trệ, e dè và thậm chí sợ hãi của các trang báo dòng chính. Chính các trang blog đã đem lại những thông tin ban đầu cho báo chí bởi tính đa dạng và nhanh chóng từ các đường link không thể đếm hết của nó.

Ai đọc blog?

Bạn đọc của blog cũng da dạng như người viết blog. Ban đầu là cư dân mạng ở mọi lứa tuổi, sau đó là các nhà báo quốc doanh, rồi tới các cán bộ cao cấp và cuối cùng là nông dân và thị dân của các thành phố. Nhiều người trở thành độc giả dài hạn của các trang blog và quên bẵng những trang báo quốc doanh. Nhiều trang blog ảnh hưởng tới cả quan chức nhà nước một cách âm thầm là nhận xét của nhà báo Nguyễn Quang Lập chủ nhân trang blog Quê Choa:

“Các quan chức hiện nay đọc blog ngày càng nhiều căn cứ comment và email mà tôi nhận ra được điều này. Số lượng quan chức quan tâm nhiều vì thấy có ích và không còn coi blog là sự nhảm nhí nữa.

Các quan chức hiện nay đọc blog ngày càng nhiều căn cứ comment và email mà tôi nhận ra được điều này. Nhà báo Nguyễn Quang Lập

Ngay như vụ Tiên Lãng trước đây rất ít người tham gia, đặc biệt là người nông dân, nhà quê nhưng sau vụ này thì rất nhiều nông dân cũng đọc blog vì họ thấy blog nói đúng lòng của họ quá.

Tất nhiên bên cạnh sự nhảm nhí thì có những người cần tìm kiếm những thông tin sự thật vì họ không còn tin tưởng gì vào báo chí lề phải nữa. Có những người họ có tâm thật chứ không phải quan chức người nào cũng xấu đâu. Họ đọc blog vì họ thấy có ích cho họ.

Qua vụ Tiên Lãng không những nông dân Tiên Lãng đọc blog mà còn rất nhiều nông dân của những tỉnh khác. Những việc này qua email của tôi mà tôi biết thôi chứ không phải nghe từ đâu cả.”

Đóng góp bằng phản biện

Trang blog Trương Duy Nhất liên tiếp trong nhiều năm đã dẫn đầu số người truy cập bằng các bài viết vỗ mặt, không khoan nhượng với những thành phần bất hảo, bất kể trong hay ngoài chính quyền. Nói về mặt tích cực của trang blog đối với chính quyền và xã hội, nhà báo Trương Duy Nhất cho biết:

“Tôi nghĩ là sự đóng góp của những trang blog cá nhân đối với xã hội và đối với tình hình chung thì tôi cho là nó có nhiều đóng góp rất lớn. Có những điều nhờ đóng góp mà nó xoay chuyển rất rõ. Tôi nói ví dụ như cùng với các cuộc xuống đường biểu tình của trí thức, cộng với tác động của những trang blog, dĩ nhiên là có những ý kiến khác nhưng phải thừa nhận nó có tác động, để từ đó ngay cả Thủ tướng và quốc hội đã phải đưa dự luật biểu tình vào chương trình nghị sự cần phải sớm ban hành.

Tôi nghĩ là sự đóng góp của những trang blog cá nhân đối với xã hội và đối với tình hình chung thì tôi cho là nó có nhiều đóng góp rất lớn. Nhà báo Trương Duy Nhất

Hoặc là trong chuyện đại lễ Nghìn Năm. Ngày trước báo chí có nói gì đâu? Nếu không có những góp ý hay phê phán của các trang blog cá nhân thì liệu có xoay chuyển không? Chính nhờ những ý kiến ấy mà đại lễ Nghìn Năm Thăng Long đã lược bỏ rất nhiều những rườm rà tốn kém. Tôi cho đó là những tác động rất tốt.

Suốt nhiều năm trang blog của tôi có lẽ là trang viết nhiều nhất nói “không” với “nhiệt liệt chào mừng”! Nghi lễ nhiệt liệt chào mừng thuộc về ngoại giao nó không thể áp dụng khi anh về với dân làm việc. Sau những bài viết tôi thấy nó có tác động và bây giờ hình như người ta đã nghe đấy. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng là người đầu tiên loại bỏ cái “nhiệt liệt chào mừng” và nhiều vị tuy chưa bỏ được nhưng tôi thấy có sự xoay chuyển. Ví dụ như khi Thủ tướng về làm việc thì không còn “nhiệt liệt chào mừng Thủ tướng…” mà thay vào đó là “Thủ tướng làm việc với…”

Giá trị đóng góp của các trang blog cá nhân đã tác động đến sự xoay chuyển của chính quyền và người ta đã lắng nghe. Vì vậy thời gian qua những đóng góp của các trang blog là tích cực.”

Nguyễn Xuân Diện blog: CNN của Việt Nam

Trang blog Nguyễn Xuân Diện chính là nơi tập trung thông tin về các vụ biểu tình chống Trung Quốc khiến nhiều người chú ý và trở thành quen thuộc. Những bài viết chuyên biệt về biểu tình được trang blog này tung ra vừa nhanh chóng lại đầy đủ hình ảnh khiến người ngồi xa hàng vạn dặm trước máy vi tính cũng theo dõi được tất cả các diễn biến đầy kịch tính trong các cuộc biểu tình tại bờ hồ Hà Nội. Có thể nói trang blog Nguyễn Xuân Diện là một CNN của Việt Nam và uy tín của nó vượt xa các trang báo hoành tráng khác ngay tại thủ đô Hà Nội.

Quê Choa, Cu Vinh và Tiên Lãng

Trong thời gian gần đây khi sự việc Tiên Lãng xảy ra thì trang blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập và trang blog của nhà văn Nguyễn Quang Vinh trở thành nơi săn tin của báo chí.

Trong khi trang Quê Choa tập trung hàng trăm bài viết phân tích vụ Tiên Lãng của các tác giả tên tuổi hay quan chức cao cấp của chính quyền thì trang blog của nhà văn Nguyễn Quang Vinh lại chú tâm mang người đọc đến tận nhà của nạn nhân ngay tại xã Vinh Quang với hình ảnh trung thực và sống động từng ngày.

Là một nhà báo, nhà văn chống tiêu cực nổi tiếng và với cách viết của một blogger cộng với kinh nghiệm nhiều năm trong khi bôn ba điều tra tiêu cực, Nguyễn Quang Vinh đã tập trung được nhiều chi tiết bất ngờ trong vụ cưỡng chế tại Tiên Lãng. Chính trang blog này đã kịp thời lên tiếng báo động trước khi các cường hào tại Tiên Lãng phối hợp nhau tiếp tục manh động. Chủ nhân trang blog Nguyễn Quang Vinh cho biết:

Trong vụ Tiên Lãng mình viết như viết báo đầy tâm huyết và chính xác chứ không có dạng tạo tác chuyện này chuyện kia. Nhà văn Nguyễn Quang Vinh

“Các trang blog khác như thế nào thì tôi không biết nhưng trong các blog tại Việt Nam thì blog của các anh em văn nghệ sĩ, anh em làm báo rất nhiều và quan trọng là người ta đưa hẳn tên tuổi của họ ra, ví dụ như Nguyễn Quang Lập, Trương Duy Nhất, Nguyễn Xuân Diện, Mai Thanh Hải, Phạm Xuân Nguyên… người ta đưa thẳng tên tuổi tức là họ chịu trách nhiệm tất cả những điều họ nói.

Cụ thể như vụ Tiên Lãng thì các trang blog của các văn nghệ sĩ tên tuổi của báo chí thì nó có cấp cộng đồng, cái nhìn trung thực nhiều chiều và tất nhiên có những thông tin mà anh em báo chí chưa có điều kiện đưa lên trang báo thì đưa lên blog cho anh em cùng đọc.

Blog của mình thì ngay anh em phóng viên báo chí cũng lấy tài liệu từ đây, bởi vì sao? Vì toàn bộ tài liệu ở đây là tài liệu chuẩn. Trong vụ Tiên Lãng mình viết như viết báo đầy tâm huyết và chính xác chứ không có dạng tạo tác chuyện này chuyện kia. Thế cho nên mình nghĩ là có tác dụng lớn vì qua khảo sát thông tin thì có rất nhiều người đương chức ghé thăm blog mình rất nhiều.”

Cái tên: điều không thể đánh đổi

Trang blog tuy là thế giới ảo nhưng tên tuổi của người viết là thật vì vậy chính quyền có thể kiểm chứng, truy vấn hay tìm hiểu chủ nhân của chúng một cách dễ dàng. Tuy nhiên chính yếu tố công khai tên tuổi là điều kiện tiên quyết để các trang blog tạo niềm tin vào người đọc và gây tên tuổi cho chính tác giả.

Đóng góp của các trang blog qua hình thức phản biện là nét đặc sắc của blogger Việt Nam. Nó không những làm đầy thông tin bị thiếu do kiểm duyệt mà blog đã chứng minh cho chính quyền thấy rằng do độc lập trong cách đưa tin nhưng tự nguyện ràng buộc bởi uy tín đã có, các trang blog này sẽ là nơi mà nhà nước có thể yên tâm tham khảo hơn bất cứ các báo cáo nào từ nhân viên cấp dưới, đặc biệt trong trường hợp cực kỳ nghiêm trọng như vụ Tiên Lãng đang gây sốt cho xã hội và chính quyền hiện nay.

Nguồn: RFA-Đài Á châu Tự do

Mời xem thêm các bài dịch trên Ba Sàm: + 08. Các Blogger-Phiến quân Mới ở Việt Nam (SFC/Geoffrey Cain/14-12-2008); + 28. Các blogger Việt Nam Đối mặt Với những Biện pháp Thẳng tay của Chính quyền (TIME/Ann Binlot/30-12-2008); + 40. Nhà chức trách Việt Nam buộc giới blog đang sôi động của đất nước phải vào khuôn phép (WP/Tim Johnston/18-1-2009).

**************************

08. Các Blogger-Phiến quân Mới ở Việt Nam

Posted by basamnews on 14/12/2008

Một blogger Việt Nam, lo sợ những hành động trả thù, đã không cho biết tên của cô (Chitose Suzuki / AP)

San Francisco Chronicle

                          *********************************

Các Bloggers, “Phiến quân” Mới ở Việt Nam

Geoffrey Cain, Ban Đối ngoại của Chronicle

Chủ nhật, ngày 14-12-2008

Với hệ thống Internet không dây, đường truyền tốc độ cao, miễn phí hiện có sẵn tại những tiệm cà phê và các trường đại học trên khắp Việt Nam, các blogger đang ngày càng thách thức hệ thống kiểm duyệt và Đảng Cộng sản cầm quyền.

“Chúng tôi sẽ không xuống đường, chúng tôi sẽ không la to lên bất cứ câu nào. Chúng tôi đang ngồi trước màn hình, gõ bài và đưa lên mạng,” đó là lời của một sinh viên đại học, người có tên trên Web là Mr. Cold. “Đó là cách mà chúng tôi chống đối.”

Mr. Cold là một phần của một lũ chiến binh blogger, những người viết ra dưới những bí danh như Blacky và Viet+die. Họ nổi tiếng nhờ những quan điểm chống đối chính quyền và họ đưa lên mạng những sự kiện không hề xuất hiện trong hệ thống truyền thông nhà nước đã được gọt dũa cho sạch. Những trang web của nhà nước như VietnamNet và Vietnam News đưa tin tức tiêu biểu về kinh doanh, về bộ máy quan liêu của nhà nước và những dự án phát triển được nhà nước bảo trợ.

“Họ (truyền thông nhà nước) quyết định những gì chúng tôi sẽ được nghe, những gì chúng tôi sẽ phải đọc và những gì chúng tôi sẽ trông thấy,” Mr. Cold viết. “Họ là những tấm kẻ nô lệ của những người Cộng sản.”

Mặc dù Đảng Cộng sản đã và đang nới lỏng các hạn chế nhờ vào động lực thị trường trong những năm gần đây, song lại không nới lỏng sự kìm kẹp của mình đối với hầu hết báo chí, đài truyền hình và phát thanh, những cơ quan vẫn nằm dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ.

Vào tháng Sáu, một phiên tòa đã kết án nhà báo Nguyễn Việt Chiến hai năm tù giam vì đã đưa tin bài về một vụ bê bối tham những lớn trong chính phủ năm 2006. Bốn người khác đã bị thu thẻ nhà báo do đã phê phán việc bắt giữ ông Chiến, theo tin từ hãng thông tấn Associated Press [AP].

Cho tới năm 2007, bất đồng quan điểm chính trị hầu như không tồn tại ở Việt Nam, ngoại trừ cuộc phản kháng được chính quyền cho phép năm 2003 phản đối cuộc xâm chiếm của Hoa Kỳ ở Iraq. Thế nhưng các blogger và những trang Web tin tức chưa đăng ký đã làm cho các giới chức nhà nước tức giận bằng việc thảo luận về AIDS, ma túy và tình dục, và quan trọng nhất, khi họ lên tiếng chỉ trích chính quyền.

Như một hệ quả, Hà Nội vào tháng Mười đã thành lập một cơ quan mới – Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử – nhằm kiểm soát Internet. Cơ quan mới đã khuấy động những mối lo ngại rằng các nhà lãnh đạo Cộng sản ở đây sẽ thiết lập một phiên bản tiếng Việt của bức “Vạn lý Tường lửa” [Great Firewall] của Trung Quốc, một chương trình kiểm duyệt trực tuyến mạnh để chặn những trang Web phê phán chính phủ Trung Quốc. Khoảng 17,5 triệu trong 86 triệu dân chúng Việt Nam sử dụng Internet, theo các số liệu của chính phủ cho biết – một mức gia tăng mạnh mẽ chỉ từ 200.000 người dùng vào năm 2000.

Tín hiệu gửi tới các blogger

“Luật pháp còn cho các nhà chức trách công cụ pháp lý khác để đàn áp quyền tự do báo chí tại Việt Nam, một thực trạng đã nằm trong số tồi tệ nhất của khu vực liên quan tới sự quấy nhiễu của chính quyền đối với các nhà văn và nhà báo,” theo nhận xét của ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông nam Á của Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo có trụ sở tại New York. “Các xử lý tàn nhẫn đối với ông Nguyễn Văn Hải là muốn gửi đi một thông điệp đối với tất cả các blogger trong cả nước.”

Vào tháng Chín, ông Nguyễn Văn Hải, người đã lập blog dưới cái tên Điếu Cày, đã bị kết án 30 tháng tù giam cho hành động trốn thuế. Trước vụ bắt giữ, ông Hải đã kêu gọi những cuộc biểu tình chống lại chuyến rước đuốc Olympic khi nó được đưa qua Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng Tư và ông cũng đã chỉ trích Trung Quốc về hành động đàn áp dã man của họ tại Tây Tạng. Việt Nam vẫn thận trọng trước những sự việc làm mếch lòng nước láng giềng hùng mạnh của mình.

“Những quy chế kiểm duyệt mới này là không phù hợp với quyền tự do ngôn luận, một quyền đã được công nhận bởi hiến pháp và những công ước quốc tế được Việt Nam ký kết,” anh Lê Minh Phiếu, một sinh viên được học bổng ngành luật hiện đang theo học tại Pháp đã nhận xét.

Tuy nhiên, ông Đỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ thông tin và truyền thông, đã bảo vệ cho hành động đàn áp thẳng tay, bằng việc cho các nhà báo trong nước biết rằng Việt Nam “phải đối mặt với nhiều thông tin không chính xác” từ các blogger. Bộ này còn cho rằng có khoảng 1,1 triệu blog, hầu hết trong số đó là không được kiểm soát. Trong tương lai gần, ông Doãn nói, ông sẽ yêu cầu Google và Yahoo trợ giúp để “chỉnh đốn” giới blog. Cả hai gã khổng lồ ở Thung lũng Silicon đã bị chỉ trích nặng nề vì giúp chính phủ Trung Quốc trấn áp những nhà bất đồng chính kiến.

Một số blogger Việt Nam nghĩ rằng việc thách thức chính quyền là hại nhiều hơn lợi và họ đã chọn lựa cách thúc đẩy những sửa đổi theo một chiều hướng nhẹ nhàng hơn.

Blog E-Learner 2.0 của Nguyễn Anh Hùng, là một ví dụ, sẽ dạy những trẻ em nghèo cách sử dụng công nghệ chỉ một lần đưa lên và vận hành. “Tôi muốn giúp để mọi người biết về những gì đang diễn ra trong nền kỹ thuật công nghệ ở Việt Nam,” anh nói.

Trang blog Vàng Anh quảng bá cho quyền tự do ngôn luận song không phải là thúc đẩy cho một sự chấm dứt chính thể đang cai trị. Các nhà hoạt động phía sau blog được nhiều người ngưỡng mộ thường gặp gỡ nhau mỗi tuần trên các chat room, họ thảo luận về những đề tài nóng của đất nước.

Song nhiều blogger thích thách thức chính quyền Cộng sản và người láng giềng lớn nhất của nó.

Tháng Mười hai năm ngoái, các blogger có hoạt động tích cực đã cùng phối hợp tổ chức một cuộc phản kháng lớn ngay trước cửa Tòa Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nhắc lại chủ quyền tối cao của nước ông đối với quần đảo Trường Sa trên Biển Đông, nơi cũng được yêu sách chủ quyền bởi Việt Nam và Đài Loan. Những người biểu tình — hầu hết là sinh viên — đã hô to “Đả đảo Trung Quốc!” và “Việt Nam muôn năm!”

Trang tin tức bị đột nhập

Vào tháng Năm, các blogger đã đột nhập vào trang Dân Trí, một trang Web tin tức phổ biến được nhà nước chỉ đạo, rồi viết lên những khẩu hiệu ủng hộ dân chủ và tinh thần dân tộc ví như “Các công dân chúng ta, hãy đòi hỏi đa nguyên tư tưởng!” “Những người Cộng sản bịt miệng báo chí!”

Các blogger cũng đã chỉ trích cách xử lý có tính chất áp chế của công an đối với những người nông dân phản kháng, kêu ca việc chính quyền đã từ chối trả cho họ những khoản bồi thường thỏa đáng về những phần đất bị nhà nước cho chiếm hữu.

Trong lúc này, hầu hết các blogger đang theo dõi việc truy cập vào chương trình Yahoo 360 của mình, một diễn đàn blog hết sức phổ biến đối với những người Việt Nam trẻ tuổi.

“Chúng tôi gặp may là chính quyền đã không kiểm duyệt Yahoo 360, thế nhưng họ sẽ làm với những quy định mới,” Mr. Cold dự báo. “Chính quyền của chúng tôi đã chậm chạp trong việc phản ứng với các blog.”

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

*****************************

28. Các blogger Việt Nam Đối mặt Với những Biện pháp Thẳng tay của Chính quyền

Posted by basamnews on 01/01/2009

Những sinh viên đại học Việt Nam ngồi bên máy tính trong một quán Internet ở Hà Nội, Việt Nam hôm thứ Sáu, ngày 21-4-2006

TIME

Ann Binlot

Thứ Ba, ngày 30-12-2008

Những sợi dây cương kìm giữ quyền tự do ngôn luận đối với giới blogger chính trị ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam vừa được siết chặt. Hôm 18 tháng 12, Hà Nội đã thông qua một văn bản pháp luật mới ngăn cấm các blogger trong việc tạo nên những mục tin bài mà chính phủ gọi là kích động bạo lực hoặc hành động tội phạm, phá hoại an ninh quốc gia, bao gồm thông tin không đúng sự thật có thể gây tổn hại đến thanh danh của các cá nhân và tổ chức, hoặc để lộ bí mật nhà nước. Văn bản này cũng đòi hỏi các công ty internet toàn cầu với các cơ sở cung cấp tiện ích blog hoạt động tại Việt Nam phải báo cáo cho chính quyền Việt Nam sáu tháng một lần — và cung cấp thông tin về cá nhân blogger nếu được đòi hỏi.

Tại Việt Nam, một đất nước mà chính phủ cộng sản kiểm soát báo chí từ khi miền Bắc và miền Nam thống nhất năm 1975, hoạt động blog đã trở thành một diễn đàn mới ngày càng lớn mạnh và đầy táo bạo cho những người bất đồng chính kiến truyền bá thông tin về tình trạng tồi tệ ngoài xã hội và tham nhũng trong chính quyền. Thế hệ chưa từng có với những blog đưa tin tức về mọi chuyện từ chỉ trích các quan chức hàng đầu sử dụng chuyên cơ cho tới theo dõi những biểu hiện xúc phạm người lao động. Trước tháng này, không có sự hạn chế chính thức nào đối với hoạt động blog hoặc Internet được đặt ra, song một số nhà bất đồng chính kiến trên mạng – ví như các ông Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Bắc Truyền và Lê Nguyên Sang – đã bị bắt giữ do đã tung lên mạng trực tuyến những lời tuyên truyền chống lại chính quyền. Đặc biệt chính phủ đã ngăn chặn các blog có nội dung nhạy cảm về chính trị, và để tránh vị bắt giữ, một số blogger đã chọn cách viết dưới bí danh khác. “Họ phải sử dụng biệt hiệu [nickname], và máy tính khác để có thể đưa lên mạng các bài báo,” theo lời Nguyễn Thanh Trang, nhà bất đồng chính kiến thuộc Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam đóng tại California. Và thậm chí vì vậy, ông cho biết thêm, “họ đã biết mất.”

Vào tháng Mười hai năm 2007 và tháng Một năm 2008, nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Hoàng Hải – người đã lập blog dưới biệt danh “Điếu Cày” – đã tổ chức các cuộc biểu tình tại Thành phố Hồ Chí Minh để chống lại việc nhà nước cho phép ngọn đuốc Olympic đi qua Việt Nam. Các cuộc biểu tình đã đưa ra kháng nghị trước hành động chiếm đóng của Trung Quốc tại Quần đảo Hoàng Sa ngoài Biển Đông – nơi Việt Nam cũng yêu cách chủ quyền. Trong vòng mấy tháng sau đó, công an đã bắt ông Nguyễn [Hoàng Hải] với tội danh trốn thuế – một động thái được khắp nơi nhìn nhận như là sự trả thù. “Khá là rõ ràng rằng lý do ông ấy bị tống giam là vì đã chỉ trích những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa,” đó là lời của ông Bob Dietz, điều phối viên chương trình Á châu của Uỷ ban Bảo vệ các Nhà báo có trụ sở tại New York. Một phiên tòa phúc thẩm đã y án 30 năm tù giam đối với ông Nguyễn.

Vào tháng Mười, chính thể ở Hà Nội đã mở một cơ quan của chính phủ được gọi là Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử, với vẻ bên ngoài là để chỉnh đốn việc sử dụng Internet và giám sát người dùng trên mạng trực tuyến được dự đoán là sẽ tăng khoảng từ 20 triệu hiện nay lên 30 triệu vào năm 2010. “Việt Nam cũng giống như Trung Quốc đã nhận ra tầm quan trọng của Internet khi nền kinh tế của họ đang tăng trưởng và họ phải thừa nhận rằng càng có nhiều người dân được truy cập vào mạng băng thông rộng thì càng tốt hơn cho đất nước,” ông Dietz nói. Vậy mà quy định mới lại ngăn cấm các blogger thảo luận về những chủ đề chính trị nhạy cảm, nó còn nói rõ rằng chính quyền chính thức khuyến khích người dùng Internet “chia sẻ và trao đổi thông tin phù hợp với phong tục, tập quán, luật pháp của Việt Nam, theo đó, nâng cao được đời sống tinh thần và tăng cường mối gắn kết cộng đồng.” Đó là lời của ông Lưu Vũ Hải, cục trưởng Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông bảo vệ cho những quy định mới này. “Tất cả các nước đều có luật lệ riêng của họ và tất cả các hành động phải tuân theo những quy định của nước đó để đảm bảo cho các lợi ích xã hội,” ông Hải nói. Nó “không có nghĩa là kiểm duyệt các blog, mà là để giúp đỡ và giáo dục cho các blogger duy trì một phương pháp lành mạnh trong việc sử dụng Internet vì lợi ích của họ.”

Liệu chính quyền có khiến cho các công ty toàn cầu hoạt động bên trong biên giới nước họ trợ giúp duy trì “phương pháp lành mạnh” đó hay không thì vẫn còn phải được xem xét. Mặc dù tờ nhật báo Thanh Niên của nhà nước đã đưa tin rằng thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn sẽ liên hệ với Google và Yahoo! liên quan tới sự hợp tác của họ, song những người đại diện của cả hai công ty đã cho biết họ vẫn chưa được liên lạc. Google, Microsoft, Skype và Yahoo gần đây đều đã bị chỉ trích vì đã đồng ý với chính phủ Trung Quốc trong việc sàng lọc nội dung liên quan tới những chủ đề gây tranh cãi trong nước ví như Pháp Luân Công và việc chiếm đóng của Trung Quốc ở Tây Tạng.

Với tư cách đại diện cho những người viết trên blog, Lê Thị Phương, một trong những nguồn tài liệu của blogger Nguyễn Hoàng Hải hiện bị án tù, phải chạy trốn sang California vào tháng Bảy sau khi thấy lo ngại cho sự an toàn của riêng mình, và chị tin rằng họ sẽ vẫn tiếp tục bất chấp những quy định mới. “Nó sẽ là thứ lợi khí tuyệt vời để cho thế giới biết và truyền bá tin tức về những gì đang xảy ra bên trong Việt nam bởi vì hiện không có báo chí hay cơ quan thông tin độc lập tại Việt Nam,” cô nói. Và trong khi cô không thể trở về nước và người cựu đồng nghiệp của cô vẫn đang ở trong tù, những câu chuyện về hành động ngược đãi như những gì mà họ kể chỉ thổi bùng thêm ngọn lửa bất bình – chứ không thể dập tắt được chúng. “Ngay bây giờ, chính quyền rất sợ Internet,” đó là nhận xét của Nguyễn Thanh Trang. “Internet có thứ quyền lực rất lớn.”

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính:Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

———————

Vietnamese university students sit at a row of computers at an Internet shop in Hanoi, Vietnam on Friday April 21,2006

**************************************

40:Nhà chức trách Việt Nam buộc giới blog đang sôi động của đất nước phải vào khuôn phép

Posted by basamnews on 18/01/2009

The Washington Post

Tim Johnston

Ban đối ngoại Washington Post

Chủ nhật, ngày 18-1-2009; Trang A21[từ bản báo in]

BANGKOK – Chính quyền Việt Nam vừa ban bố vài quy định pháp lý trong mấy tháng gần đây nhằm hạn chế hoạt động blog, trong lúc số người dùng Internet đang tăng vọt ở đất nước cộng sản này.

Chiến dịch được bắt đầu vào tháng Tám, khi chính quyền cho công bố một chỉ dụ trao cho công an quyền hành rộng lớn liên quan đến hoạt động chống lại những chỉ trích trên mạng trực tuyến, bao gồm những người chống lại “Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” và ngấm ngầm phá hoạt an ninh quốc gia và trật tự xã hội.

Bản quy định cũng cấm “những hành vi khiêu dâm và truỵ lạc … và hủy hoại phong tục và truyền thống tốt đẹp của dân tộc,” theo như tờ công báo được xuất bản – trên mạng trực tuyến – bởi Bộ Thông tin và Truyền thông.

Việt Nam là nước đến với thời đại giao dịch trực tuyến khá muộn, song tăng trưởng kinh tế nhanh chóng lạ thường trong ít năm qua đã làm bùng nổ một con số ấn tượng tương đương ở những người dùng Internet. Các ước đoán cho biết rằng khoảng 24 triệu người ở đất nước 88 triệu dân này đều đặn sử dụng trang Web. Các quán cà phê Internet nhan nhản những người không có đủ điều kiện sắm một chiếc máy tính, và những cửa hiệu nhỏ bán những phần mềm sao chép bất hợp pháp cho họ.

Trong một môi trường mà ở đó thông tin bị định hướng nặng nề bởi hệ thống truyền thông nhà nước, các blogger đã nhanh chóng phát hiện ra những khả năng mà thế giới trực tuyến dâng tặng. Tin tức về đất nước, với nhiều tin trong đó là từ các phương tiện truyền thông nước ngoài, và những bình luận về chính trị thường là phê phán chính quyền đã trở thành những mặt hàng chủ yếu. Như một hệ quả, những thảo luận về tương lai chính trị của đất nước, tồn tại hoặc không tồn tại Đảng Cộng sản, đã nở rộ.

“Nó là một môi trường được trí thức hoá một cách kỳ dị,” Kim Ninh, người đứng đầu văn phòng của Quỹ Á châu tại Hà Nội, đã nhận xét về hoạt động blog. “Có nhiều lời vu khống, nhưng lại dưới cái vẻ bên ngoài rằng có một truyền thống của giới trí thức đã tồn tại từ thời Pháp thuộc trong những năm 20, 30 và 40 nay tiếp tục tuôn chảy. Họ lựa chọn đề tài tranh cãi về chính trị rất nghiêm túc.

“Dân chúng đang để ý đến các blog để có tin tức mà họ không thể nhận được trên hệ thống truyền thông chính thống,” bà nói.

Những động thái của chính quyền chống lại hoạt động blog đã kích động một phản ứng mạnh mẽ từ những người bênh vực cho quyền tự do ngôn luận. “Việt Nam là một trong vài quốc gia mà người dân có thể bị giam giữ với những tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ,” ông Brad Adams, giám đốc Á châu của tổ chức Giám sát Nhân quyền, đã nhận xét trong một bản tuyên bố hôm thứ Năm. “Các nước cấp viện cho Việt Nam cần phải tiếp tục nhấn mạnh rằng chính phủ hãy chấm dứt hình sự hóa việc phát biểu chính kiến một cách ôn hoà.”

Sau một thời kỳ có được những quyền tự do tương đối, khi mà mạng trực tuyến và các báo in đang kiểm chứng những giới hạn của những gì mà họ có thể đăng tải, các nhà chức trách mới đây đã bắt đầu đàn áp thẳng tay.

Cuối năm ngoái, các tòa án đã áp đặt một bản án hai năm đối với một nhà báo sau khi ông cho đăng tải một loạt bài báo phơi bày sự thật tham nhũng, và một blogger nổi bật được biết đến dưới cái tên Điếu Cày, người có tên thật là Nguyễn Văn Hải, đã bị kết án hai năm tù giam vì trốn thuế trong một vụ việc được khắp nơi nhìn nhận như một hành động trừng phạt hoạt động blog của ông.

Peter Leech, một người Úc từng lập một trang web tổng hợp tin tức phổ biến, có tên là Intellasia.net, tại Việt Nam, đã bắt đầu có những sự cố với các nhà chức trách vào tháng Sáu năm 2007. Ông cho biết là công an thường xuyên đột kích vào các văn phòng của Intellasia, rằng máy chủ đóng ở Hoa Kỳ thực hiện ký gửi trang web này đã bị tấn công và rốt cuộc ông đã buộc phải trốn khỏi đất nước này.

“Họ đang trở nên thô bạo hơn nhiều đối với mọi việc — các báo, Internet, mọi thứ,” Leech cho biết từ Perth, Australia.

Đại đa số các blogger sử dụng các diễn đàn được thiết lập bởi các nhà cung cấp dịch vụ Internet khổng lồ là Yahoo và Google, và chính phủ đã cho biết họ sẽ giành được sự trợ giúp của các công ty này để kiểm soát Internet.

“Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn sàng hợp tác với các cơ quan của Việt Nam,” ông Đỗ Quý Doãn, thứ trưởng bộ thông tin, đã nói tại một cuộc họp báo cuối tháng trước. “Tôi nghĩ là các nhà cung cấp dịch vụ cũng mong muốn có được một môi trường Internet lành mạnh. Tôi nghĩ nếu các cơ quan của nhà nước Việt Nam yêu cầu hợp tác, thì Google và Yahoo cũng sẽ sẵn sàng.”

Diễn đàn nổi tiếng nhất giành cho giới blogger Việt Nam là Yahoo 360. Yahoo cho biết vào tuần này là họ đã không được thăm dò ý kiến bởi chính quyền Việt Nam đối với bất cứ việc kiểm soát nào.

“Như là một chính sách chung, các công ty của Yahoo, giống như các công ty khác khắp nơi trên thế giới, được đòi hỏi tuân theo những yêu cầu hợp pháp từ các chính phủ khi công ty là chủ thể của luật pháp nước đó,” công ty đã cho biết trong một bản tuyên bố, và chỉ ra rằng diễn đàn Yahoo 360 của mình hoạt động ở Singapore.

Vấn đề ở đây vẫn được nhìn nhận là chính phủ có thể kiểm soát thành công tới đâu đối với Internet. Như Trung Quốc từng chứng tỏ, công nghệ tồn tại để ngăn chặn những nội dung không mong muốn, ít nhất là từ những người dùng không có chủ định. Thế nhưng không như những người dùng ở Trung Quốc, nơi mà chính phủ của họ kiểm duyệt Internet ngay từ ban đầu, người dùng ở Việt Nam đã được hưởng điều kiện truy cập không bị trói buộc trong hàng năm trời, làm cho họ trở nên coi nó như là một thứ quyền lợi của mình.

“Nếu họ làm điều gì đó một cách khắc nghiệt,” ông Leech nói về các giới chức chính quyền,” thì nó không phải chỉ là một bước lùi lớn, mà còn làm cho dân chúng trở nên hết sức tức giận.”

Người dịch: Ba Sàm

Hiệu đính: TBT Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

——————————————–

The Washington Post

————

Vietnamese Authorities Rein In the Country’s

Vigorous Blogosphere

By Tim Johnston

Washington Post Foreign Service
Sunday, January 18, 2009; Page A21

BANGKOK — Vietnam’s government has issued several decrees in recent months to curtail blogging, as the number of Internet users soars in the communist country.

The campaign started in August, when the government published an edict giving police broad authority to move against online critics, including those who oppose “the State of the Socialist Republic of Vietnam” and undermine national security and social order.

The law also bans “obscenity and debauchery . . . and destroying national fine customs and traditions,” according to the official gazette published — online — by the Ministry of Information and Communications.

Vietnam was a relative latecomer to the online age, but extraordinary economic growth in the past few years has triggered a similarly dramatic rise in Internet users. Estimates indicate that about 24 million people in the country of 88 million regularly use the Web. Internet cafes abound for those unable to afford a computer, and small shops sell pirated software to those who can.

In an environment in which information is heavily controlled by the state media, bloggers were quick to spot the possibilities that the online world offered. News about the country, much of it from foreign media outlets, and political commentary that is frequently critical of the government have become prime commodities. As a result, discussions about the country’s political future, with or without the Communist Party, have flourished.

“It is an oddly intellectualized environment,” Kim Ninh, the head of the Asia Foundation’s office in Hanoi, said of the blogmosphere. “There is a lot of mudslinging, but underneath that there is an intellectual tradition that dates back to the French colonial period in the ’20s, ’30s and ’40s that continues to flow. They take the subject of political debate very seriously.

“People are looking to blogs for news they can’t get in the mainstream media,” she said.

The government’s moves against blogging have provoked a sharp response from free-speech advocates. “Vietnam is one of the few countries where people can be locked up on charges of ‘abusing democratic freedoms,’ ” Brad Adams, the Asia director at Human Rights Watch, said in a statement Thursday. “Vietnam’s donors should continue to insist that the government stop its criminalization of peaceful expression.”

After a period of relative freedom, when online and print journalists were testing the bounds of what they could publish, the authorities have recently started to crack down.

Late last year, the courts imposed a two-year sentence on a newspaper journalist after he ran a series of articles exposing corruption, and a prominent blogger known as Dieu Cay, whose real name is Nguyen Van Hai, was sentenced to two years in jail for tax evasion in a case widely seen as a punishment for his blogging.

Peter Leech, an Australian who set up a popular news aggregation site, Intellasia.net, in Vietnam, started having problems with the authorities in June 2007. He said that police frequently raided the Intellasia offices, that the U.S.-based server that hosted the site was attacked and that he was eventually forced to flee the country.

“They are getting much tougher on everything — newspapers, the Internet, everything,” Leech said from Perth, Australia.

The vast majority of Vietnamese bloggers use platforms created by Internet giants Yahoo and Google, and the government said it would enlist the help of those companies in policing the Internet.

“Service providers are willing to cooperate with Vietnamese agencies,” Do Quy Doan, the deputy minister for information, said at a news conference late last month. “I think service providers also wish to have a clean Internet environment. I think if state agencies of Vietnam ask for cooperation, Google or Yahoo will be willing, too.”

The most popular platform for Vietnamese bloggers is Yahoo 360. Yahoo said this week it had not been approached by the Vietnamese government regarding any controls.

“As a general policy, Yahoo companies, like other companies around the world, are required to comply with lawful demands from governments when the company is subject to that country’s laws,” the company said in a statement, pointing out that its Yahoo 360 platform is run in Singapore.

It remains to be seen how successfully the government could control the Internet. As China has demonstrated, technology exists to block unwelcome content, at least from the casual user. But unlike users in China, whose government censored the Internet from the beginning, Vietnamese users have enjoyed years of unfettered access, which they have come to regard as a right.

“If they did do something draconian,” Leech said of government officials, “it would not only be a big step back, it would make the people very angry.”

Posted in Tự Do ngôn Luận | 1 Comment »

Dân biểu Loretta Sanchez lên tiếng đòi Hà Nội trả tự do cho Nhạc Sĩ Việt Khang

Posted by hoangtran204 trên 05/02/2012

Nhạc sĩ Việt Khang, tên thật là Võ Minh Trí, bị bắt ở  Mỹ Tho, tỉnhTiền Giang vào ngày 16/09/2011 sau khi hai bản nhạc do anh hát và đưa lên Internet và youtube.com; cùng bị bắt lúc đó có nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, và sinh viên Nguyễn Thiện Thành. Sau đó, anh được tạm tha. Nhưng rồi bị bắt lần nữa vào ngày 23-12-2012.  Hiện nay anh bị giam tại số 4 Phan Đăng Lưu, cạnh Lăng Ông Lê Văn Duyệt, ở Sài Gòn.

Hòa Ái, phóng viên RFA  2012-02-04

Võ Minh Trí, người được biết đến với tên gọi Việt Khang– (Source: danlambao)

Vào ngày 01/02/2012, Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ, bà Loretta Sanchez phát biểu trước Hạ Viện Quốc Hội Hoa Kỳ về tình trạng tiếp tục đàn áp và bắt bớ những tiếng nói lương tâm.

Bà Sanchez nêu lên trường hợp mới nhất của nhạc sĩ Việt Khang, tên thật là Võ Minh Trí, bị bắt về tội “chống phá nhà nước” vì đã sáng tác và trình bày hai bài hát: “Anh Là Ai” và “Việt Nam Tôi Đâu”. Hòa Ái tường trình sau đây.

Phải được tự do

Kính thưa quý thính giả, vào ngày 1/2, Dân Biểu Liên Bang, bà Loretta Sanchez, đã trình bày trước Hạ Viện Quốc Hội Hoa Kỳ về tình trạng Việt Nam tiếp tục đàn áp những tiếng nói lương tâm. Bà đã lên tiếng cho trường hợp Nhạc sĩ Việt Khang, blogger Paulus Lê Sơn cũng như các nhà dân chủ khác hiện đang bị chính quyền Hà Nội bắt giữ. Và bà cũng mong muốn những dân biểu Hoa Kỳ khác đồng bảo trợ Nghị Định H.Res. 484, yêu cầu Việt Nam phải tôn trọng các quyền căn bản con người cũng như phải chấm dứt lạm dụng các luật an ninh quốc gia như điều luật 79 và 88 của bộ luật hình sự Việt Nam để bắt giữ những công dân yêu chuộng tự do.

Tại Hạ Viện, Bà Sanchez nêu lên trường hợp của ông Võ Minh Trí tức là nhạc sĩ Việt Khang, hiện đang bị bắt giữ về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” do sáng tác và trình bày hai nhạc phẩm “Anh Là Ai” và “Việt Nam Tôi Đâu”.

Bên cạnh đó, Bà Sanchez có một cuộc gặp gỡ với Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ – Ron Kirk, là người chịu trách nhiệm về mối quan hệ thương mại song phương giữa hai nước. Bà đã nêu lên trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang với ông. Sau đây là buổi trò chuyện ngắn của Hòa Ái cùng bà Dân Biểu Loretta Sanchez.

Hòa Ái: Thưa bà Sanchez, trong buổi gặp gỡ với Đại Diện Thương Mại Ron Kirk, người có trách nhiệm về đàm phán thương mại với Việt Nam, bà đã nêu lên tình trạng nhân quyền ở Việt Nam đang trở nên tồi tệ một cách nghiêm trọng. Và bà đã đề cập đến trường hợp bị bắt giữ của nhạc sĩ Việt Khang, tức ông Võ Minh Trí. Vậy thưa bà, ông Ron Kirk có phát biểu cụ thể gì về trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang?

DB Loretta Sanchez: Tôi đã có cuộc gặp gỡ với Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ – Ron Kirk để thảo luận về những tác động thương mại đối với các đối tác thương mại Thái Bình Dương gồm 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và tôi nhấn mạnh với ông Kirk rằng tôi muốn ông mang vấn đề nhân quyền ra bàn thảo với chính phủ Việt Nam, cụ thể là trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang.

Anh Việt Khang bị bắt giữ chỉ đơn giản vì anh ta là một người yêu nước, bày tỏ ý kiến của mình với câu hỏi tại sao chính quyền Việt Nam dâng lãnh thổ cho Trung Quốc. Chúng ta cần thêm thông tin và phải giúp đỡ cho người nhạc sĩ này được thả ra. Và tôi mong muốn ông Kirk cần thảo luận với chính quyền Hà Nội phải thả tự do cho những tù nhân chính trị và tù nhân lương tâm trước khi có bất kỳ quyết định nào về hợp tác thương mại với Việt Nam. Ông Kirk cho tôi biết là đang liên hệ với Bộ Lao Động và Bộ Ngoại Giao để can thiệp vào vấn đề này và gây áp lực đối với chính phủ Việt Nam.

Anh Việt Khang bị bắt giữ chỉ đơn giản vì anh ta là một người yêu nước, bày tỏ ý kiến của mình với câu hỏi tại sao chính quyền Việt Nam dâng lãnh thổ cho Trung Quốc. Chúng ta cần thêm thông tin và phải giúp đỡ cho người nhạc sĩ này được thả ra.

Hòa Ái: Như bà cho biết, ông Ron Kirk khẳng định sẽ tiếp tục đối thoại nhấn mạnh vào việc cải thiện nhân quyền ở Việt Nam là rất quan trọng cho mối quan hệ hợp tác song phương giữa hai quốc gia. Và ông Ron Kirk cũng mong muốn là sẽ có cơ hội gặp gỡ nhạc sĩ Việt Khang để qua đó nhằm tăng cường bảo vệ nhân quyền cho người dân Việt Nam. Không biết là ông Ron Kirk có chia sẻ với bà khi nào thì ông Ron Kirk sẽ lên kế hoạch gặp gỡ và làm việc với nhạc sĩ Việt Khang, thưa bà?

DB Loretta Sanchez: Ông Kirk sẽ có thêm một cuộc họp nữa trong tháng này với 9 quốc gia ở Thái Bình Dương gồm cả Việt Nam trong đó. Tôi chỉ định một nhân viên của tôi và ông Kirk chỉ định một nhân viên từ văn phòng của Bộ Thương Mại làm việc chung với nhau để cố gắng thúc đẩy chính quyền Việt Nam phải thả những tù nhân này và phải cải thiện tình trạng nhân quyền ở quốc gia này. Việc ông Kirk chỉ định nhân viên trực tiếp chịu trách nhiệm về vấn đề này, tôi cho là một dấu hiệu tốt vì điều này thể hiện ông Kirk quyết tâm gây áp lực lên chính quyền Việt Nam.

Hòa Ái: Và câu hỏi sau cùng, bà có nghe ông Ron Kirk sẽ yêu cầu chính quyền Hà Nội thả tự do cho người nhạc sĩ này không?

DB Loretta Sanchez: Đây không phải là trách nhiệm của Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ. Đây là trách nhiệm của Bộ Ngoại Giao. Trong những thảo luận gần đây về trách nhiệm của Hoa Kỳ đối với một số trường hợp ở Việt Nam, đặc biệt là trường hợp của nhạc sĩ Việt Khang, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đang tìm cách để giúp cho nhạc sĩ này được thả tự do.

Hòa Ái: Chân thành cảm ơn bà Sanchez đã dành thời gian chia sẻ với khán thính giả đài RFA.

Nguồn: RFA

—————————————

danchimviet

Nghe Việt Khang hát tại đây

hoặc ở đây:  Việt Nam Tôi Đâu

Anh là Ai”  SBTN version

Anh là Ai – Giọng hát của Việt Khang

Posted in Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Những người Nga tổ chức các cuộc biểu tình -bênh và chống- Thủ tướng Putin

Posted by hoangtran204 trên 05/02/2012

Mạc Tư Khoa (Moscow) – Hằng mấy chục ngàn người Nga bất chấp sự lạnh lẽo, buốt giá tiếp tục xuống đường biểu tình hôm thứ Bảy ngày 4 tháng Hai ở Mạc Tư Khoa để đòi hỏi các cuộc bầu cử công bằng trong một trận đấu chống lại 12 năm cầm quyền  của Thủ tướng Vladimir Putin; vào lúc này, những người ủng hộ thủ tướng Putin cũng tổ chức một cuộc tụ tập với số lượng người tham dự cũng khá đông bằng đám biểu tình của những người phản đối.

Những cuộc biểu tình ở mức độ nhỏ hơn cũng xảy ra ở những thành phố khác trên toàn nước Nga nhằm duy trì sức ép lên Putin trước ngày bầu cử tổng thống sẽ xảy ra vào ngày 4 tháng Ba tới đây mà ông ta đang hy vọng là sẽ thắng. Hình ảnh về ông Putin trước công chúng bị xấu đi kể từ hôm tháng Mười Hai khi có những cáo buộc gian lận trong kỳ bầu cử quốc hội vừa qua, và những cuộc biểu tình chống ông Putin mà chỉ một năm trước đây, người ta không nghĩ đến.

Hơi thở của những người biểu tình trở thành những đám mây trắng trong bầu không khí băng giá của Mạc Tư Khoa, hằng chục ngàn người biểu tình tuần hành gần những bức tường và những ngôi tháp đỏ của điện Cẩm Linh, họ la lớn những khẩu hiệu “Nước Nga không có Putin!” và “Trả lại cuộc bầu cử cho chúng tôi!”

Ông Putin đã làm tổng thống từ năm 2000 đến năm 2008, khi vừa hết nhiệm kỳ, ông đưa ông Dmitry Medevedev lên ngôi TT ở điện Cẩm Linh vì hiến pháp Nga cấm bất cứ ai làm tổng thống ba nhiệm kỳ liên tiếp. Ông Putin đã trở thành thủ tướng kể từ năm 2008, nhưng ông Putin vẫn là nhà lãnh đạo hàng đầu và nắm quyền lực chính ở Nga.

A portrait of Russian Prime Minister Vladimir Putin with the word 'sacked' is seen taped on a protester's bag during a demonstration for fair elections in central Moscow February 4, 2012.   REUTERS-Anton Golubev

“Đuổi việc Putin” = “sacked” trong một cuộc biểu tình đòi hỏi bầu cử công bình ở Mát cơ va vào ngày 4-2-2012    : REUTERS/Anton Golubev

Protesters gather during a demonstration for fair elections in central Moscow February 4, 2012.    REUTERS-Anton Golubev
A portrait of Russian Prime Minister Vladimir Putin with the word 'sacked' is seen taped on a protester's bag during a demonstration for fair elections in central Moscow February 4, 2012.   REUTERS-Anton Golubev
Activists gather and hold placards in a show of support for Russia's Prime Minister Vladimir Putin in central Moscow February 4, 2012.  REUTERS-Sergei Karpukhin
Opposition activists march and wave flags during a demonstration for fair elections in central Vladivostok February 4, 2012. REUTERS-Yuri Maltsev
Protesters listen to speakers during a demonstration for fair elections in central Moscow February 4, 2012.  REUTERS-Anton Golubev
Những người phản đối tụ tập nhau tại một cuộc biểu tình đòi  hỏi các cuộc bầu cử công bình ở Mát-cơ-va, ngày 4-2-2012.

Credit: REUTERS/Anton Golubev


Ông Putin tự cho mình là con người của hành động làm việc cho điều tốt đẹp của người dân và ông gạt bỏ những đối thủ chính trị của ông, xem họ như những người chia rẽ và thiếu những chính sách thực tiển để đối đầu và vượt qua những vấn nạn của đất nước như sự phân rã và lạc hậu của nền kỹ nghệ, hệ thống đường sá giao thông và viễn thông còn nghèo nàn, yếu kém.

Vào hôm thứ Bảy, ông Putin đang ở cách xa Mat-cơ -va 1500 km, ông hứa hẹn với những cư dân đang tức giận thuộc thị trấn miền núi Ural Mounts thuộc tiểu bang Rosa, rằng ông sẽ cho di chuyển 3800 người dân ra khỏi vùng đất chuồi nằm bên cạnh sườn của một mỏ than lộ thiên lớn nhất ở vùng Eurasia. 

“Các bạn thấy những gì mà chúng tôi đang làm, chúng tôi đang đương đầu với những vấn nạn cụ thể  của những người dân đang sống ở đây”

Nhiệt độ hôm thứ Bảy rất lạnh, tụt xa dưới độ đông đá, đã thử thách sức mạnh và tính kiên trì của phong trào biểu tình trên đường phố đã bùng cháy lên vì những nghi ngờ có gian lận bầu cử quốc hội hôm tháng Mười Hai rồi, làm một số người dân Nga thấy mất tinh thần và hoang mang về kế hoạch để cầm quyền thêm sáu năm nữa của ông Putin.

Ở thủ đô Mát-cơ-va, những người biểu tình tụ lại thành từng nhóm để chống lại cái lạnh và tuần hành qua một đường phố trung tâm, nhiều người mang những băng màu trắng, biểu tượng cho những cuộc biểu tình với khẩu hiệu là: ” Ủng hộ cho các  cuộc Bầu cử trung thực”. Một đồng hồ có đèn sáng rực sáng chỉ nhiệt độ ngoài trời là -17 độ C.

“Không một lá phiếu nào dành cho Putin!” Vladimir Ryzhkov, một thủ lãnh khối đối lập, hô to trước một đám đông ủng hộ đang tụ họp nhau lại sau khi tuần hành. Những người biểu tình đã tụ nhau lại trong một khu phố đối diện qua bên kia sông là Điện Cẩm Linh, họ dậm chân và vỗ tay để giữ cho ấm. 

Một liên minh chấp vá giữa những nhà lãnh đạo phe đối lập đang cố gắng duy trì cái thế đang có sau khi có hằng mấy chục ngàn người biểu tình hôm 10 và 24 tháng Mười Hai dành cho những cuộc biểu tình phản đối lớn nhất kể từ khi ông Putin đã đắc cử tổng thống lần đầu tiên năm 2000.

Những cuộc thăm dò cho thấy Putin chắc chắn sẽ thắng cử kỳ này mặc dù uy tín ông có giảm sút so với trước đây.

Phe đối lập hy vọng tối thiểu là ông Putin sẽ bị đưa vào thế hòa (50/50), không có ai thắng hay bại, (bầu lại vòng hai) vì không đủ phiếu đa số ở vòng một trong ngày bầu cử ngày 4 tháng Ba tới đây,  và họ cũng hy vọng là những cuộc biểu tình liên tục nhu thế này sẽ làm suy yếu sức mạnh chính trị của ông ta, làm nới lỏng quyền lực của ông nắm trong tay trong sáu năm tới, và đẩy ông vào thế nhượng bộ, thỏa hiệp.

Chúng ta đã và đang đạt đi tới một điểm mà ta  không thể quay đầu trở lại được nữa. Dân chúng không còn sợ hải nữa và họ đã nhìn thấy sức mạnh đoàn kết của họ to lớn biết bao. “, Ivan Kositsky, 49 tuổi, nói. ” Putin muốn sự ổn định, nhưng chúng ta chỉ tìm thấy sự ổn định trong  nghĩa trang này”

Ivan Kositsky mang một giải băng màu cam, ám chí đến cuộc Cách Mạng Cam năm 2004 ở Ukraine, nôi đó các cuộc biểu tình không bạo động đã diễn ra sau các cáo buộc về cuộc bầu cử gian lận đã giúp việc thúc đẩy một ứngu ử viên đối lập lên làm tổng thống.

Các thủ lảnh phe đối lập cho hay là có khoảng 120.000 người biểu tình tham gia cuộc phản đối hôm thứ Bảy ở Mạc Tư Khoa, cuộc biểu tình này dường như nhỏ hơn số người có tham gia đó, nhưng ngang ngữa với những cuộc biểu tình hôm tháng Mười Hai rồi- điều này nói lên rằng sự lo ngại của họ (trước đó) về thời tiết lạnh lẻo làm cho người ta không đi biểu tình là không có căn cứ.

Nhiều người biểu tình mang những biểu ngữ nương nhẹ vào thời tiết lạnh thấu xương và kêu gọi Putin ra đi (khỏi chính trị), như “Đả đảo trời buốt giá, đả đảo Putin,” và “Nhà cầm quyền làm băng giá nền dân chủ của chúng ta,” một biểu ngữ khác viết.

(Còn tiếp)

Bản dịch của Trần Hoàng @2012

http://www.reuters.com/article/2012/02/04/us-russia-idUSTRE81309720120204

Russians stage rival protests over Putin

By Thomas Grove and Alissa de Carbonnel

MOSCOW | Sat Feb 4, 2012 6:18pm

(Reuters) – Tens of thousands of Russians defied bitter cold in Moscow on Saturday to demand fair elections in a march against Vladimir Putin’s 12-year rule, while supporters of the prime minister staged a rival rally drawing comparable numbers.

Smaller protests were held in other cities across the vast country maintaining pressure on Putin one month before a March 4 presidential election he is expected to win. Putin’s public image was shaken in December by allegations of fraud in parliamentary elections and protests unthinkable a year ago.

Their breath turning to white vapor clouds in the frigid Moscow air, tens of thousands of protesters marched within sight of the red-brick Kremlin walls and towers, chanting “Russia without Putin!” and “Give us back the elections!”

Putin was president from 2000 until 2008, when he ushered Dmitry Medevedev into the Kremlin because of a constitutional bar on three successive terms as head of state. Putin became prime minister but remained the dominant leader.

Putin presents himself as a man of action working for the good of the people and dismisses rivals as divided and lacking in any realistic policies to overcome the country’s problems of industrial decay and poor transport and communications.

On Saturday, he was 1,500 km (900 miles) from Moscow, promising angry residents of the Ural Mountains town of Roza the state would move 3,800 people from homes threatened by shifting ground on the edge of the biggest open-pit coal mine in Eurasia.

“You see what we are doing, we are dealing with concrete problems of the people who live here,” Putin said when asked about the demonstrations.

Saturday’s temperatures, far below freezing, tested the power and perseverance of a street protest movement fuelled by suspicions of fraud in a December parliamentary election and dismay among some Russians over Putin’s plan to rule at least six more years.

In the capital, demonstrators bundled up against the cold marched down a broad central street, many wearing white ribbons symbols of protests whose main motto is “For Honest Elections.” A digital clock flashed the temperature: minus 17 C (1 F).

“Not one vote for Putin!” Vladimir Ryzhkov, a liberal opposition leader, said to a roar of approval from the crowd at the rally that followed the march. Protesters packed a square across the river from the Kremlin, stamping and clapping to keep warm.

A patchwork alliance of disparate opposition leaders is trying to maintain momentum after tens of thousands turned out on December 10 and December 24 for the biggest opposition protests since Putin was first elected president in 2000.

Polls indicate Putin is all but certain to win the presidency despite a decline from previous popularity levels.

Opponents hope he will at least be forced into a runoff by falling short of a majority on March 4 and that persistent protests will undermine his authority, loosening his grip on power in a new six-year term and pushing him into concessions.

“We have already reached a point of no return. People have stopped being afraid and see how strong they are together,” said Ivan Kositsky, 49. He said Putin “wants stability, but you can only find stability in the graveyard.”

Kositsky wore an orange ribbon in a reference to the 2004 Orange Revolution in Ukraine, where peaceful protests following allegations of widespread election fraud helped usher an opposition candidate to the presidency.

Opposition leaders said up to 120,000 people joined their protest in Moscow, which appeared smaller than that but as large as the December rallies that drew tens of thousands – suggesting their fears a cold snap might keep people away were unfounded.

Many protesters had banners making light of the bone-chilling weather and calling for Putin to go. “Down with the cold, down with Putin,” one banner said. Others declared: “They froze our democracy” and “We are frozen in solidarity.”

FOR PUTIN

Police said 138,000 people attended the pro-Putin rally a few km (miles) away in Moscow, but reporters estimated the crowd was smaller than that by tens of thousands, and attendance at demonstrations in support of the former KGB spy has previously been swelled by the authorities ferrying in sympathizers by bus.

Teachers have said they came under pressure from trade unions to attend the pro-Putin rally.

“Trade union representatives called us together and said at least five to 10 people from each school had to go (to the Putin rally),” said Sergei Bebchuk, a 54-year-old headteacher who ignored the request and attended the opposition protest.

“I have something I believe in. We could not go there,” he said, his daughter at his side with white ribbons in her hair.

Putin said Moscow’s mayor had told him 190,000 attended the rally in his support there, and that while he did not rule out pressure had been applied, “to bring 134,000 or 190,000 people by applying pressure alone is impossible.”

“It is totally obvious that people came to express their position. Their position is to support what we are doing. For me it is very important,” Putin said. “I have said that I cannot work without it. I am really grateful.”

At that pro-Putin rally, demonstrators carried posters saying “For Putin” with a check mark in a box next to his face. Another read “Putin led Russia out of civil war” and one said, “My children will live in Russia – I need Putin.”

In keeping with Putin’s warnings against revolutionary change and the anti-Western rhetoric he has employed in his campaign, the rally was billed as “anti-orange” – another reference to Ukraine, where Moscow has said Western-funded activists helped bring a pro-Western leader to power.

“My aim is to support the movement against the ‘orange ones’ – those America sends us to topple those in power and rock society,” Kirill Domchenko, 25, a Moscow university student.

Putin in December accused the United States of encouraging opposition protests and said Western states were spending billions to influence Russian elections. He praised the ‘anti-orange’ demonstrators late on Friday and said “I share their views,” Interfax reported.

MAINTAINING MOMENTUM

The main opposition protests were suspended over the long New Year holiday, when Russia comes to a halt. Opposition activists had been concerned that the protests might lose momentum after Putin, 59, ignored all their main demands.

The protesters want a rerun of the parliamentary election, the release of prisoners jailed for political reasons, dismissal of the central election commission chief, the registration of more political parties and other political reforms.

The Kremlin has promised to let more parties contest elections but has rejected its main demands. Ryzhkov told the crowd protests must continue until Putin gives in, and another protest is planned for one week before the election.

Crowds of a few hundred turned out to protest against Putin in other cities across Russia, although the number protesting is still only a small part of the more than 140 million population.

In the Pacific port city of Vladivostok, demonstrators carried banners reading “Putin – out!” and “The crook is making for the throne again … send him to a prison bunk.”

The protesters are angered by allegations of fraud in a December 4 parliamentary election that was won by Putin’s ruling United Russia party, albeit with a reduced majority in the lower house.

The plan by Putin and Medvedev to swap jobs after the presidential election is viewed by opposition supporters as openly flouting democracy.

“We are not sheep or cattle. We deserve respect,” said Marat Yafyasov, 54, a lawyer who travelled from Yaroslavl, 250 km (155 miles) northeast of Moscow, to join the protest.

“We are out in the cold because we can’t let this moment go, we have to keep the protest going.”

(Additional reporting by Nastassia Astrasheuskaya in Moscow and Gleb Bryanski in Roza, Russia; Writing by Steve Gutterman; Editing by Timothy Heritage and Rosalind Russell)


Posted in Biểu Tình và Lập Hội | Leave a Comment »

►Trong cuộc phỏng vấn 1992, Gs Phan Đình Diệu đã nói về: Ứng dụng của Toán Học và Dân Chủ

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2012

* Gs Phan Đình Diệu, khoảng 1980, ” là đại biểu Quốc hội lúc hơn 40 tuổi, một trong đại biểu trẻ nhất thời đó. Trong một lần được hỏi về (Lê Duẫn) một vị quan cao nhất và ảnh hưởng của ông đối với đất nước, anh Diệu có nói đại ý, vị lãnh đạo ấy rất vĩ đại, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ tới thắng lợi, nhưng vĩ đại hơn, nếu ông từ chức ngay bây giờ.”

*”Ông hoạt động phong trào dân chủ, đòi đổi mới chính trị (đa nguyên, đa đảng) để phát triển đất nước, do đó bị gạt bỏ khỏi danh sách đại biểu Quốc hội. Tuy nhiên tiếng nói của ông có tính khoa học cao, nên có sức thuyết phục lớn, đặc biệt là đối với giới khoa học tại Hà Nội”

*Trong cuộc Phỏng vấn vào năm 1992 ở Hà Nội, ông trả lời “Là một người làm khoa học, đã từ khá lâu tôi phát hiện ra rằng chủ nghĩa Mác-Lê khó có thể mang lại điều gì hữu ích cho một nước muốn thoát ra khỏi nghèo nàn. Nghiên cứu khoa học điện toán, thuyết hệ thống và các vấn đề quản lý hiện đại, tôi nhận ra rằng mô hình xã hội chủ nghĩa như học thuyết Mác-Lê xác định không phù hợp với một nước muốn phát triển về xã hội, kinh tế và khoa học. Vì những lý do hiển nhiên, Marx và Lenin không có điều kiện tìm hiểu xã hội hiện đại. Song đảng cộng sản ở Việt Nam cũng như ở các nước khác đã ngây thơ tìm cách áp dụng học thuyết của họ vào xã hội hiện đại. Sự thất bại của họ đã được minh chứng rõ rệt nhất trong cuộc cách mạng điện toán, đặc trưng của thế giới trong thập niên 1980. Sự thất bại của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày nay hầu như mọi người đều thấy rõ. Vấn đề còn lại là biết rút ra kết luận một cách đầy đủ và từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê.”

*“Ở Việt Nam có hay không có một giới trí thức, một lực lượng trí thức độc lập về xã hội và chính trị? Đó là vấn đề quan trọng đặt ra cho mọi xã hội muốn thiết lập hay cải thiện chế độ dân chủ.

Trước tiên, tôi muốn nói tới lớp những nhà trí thức đã được đào tạo dưới thời Pháp thuộc. Trong lớp này, có những nhân vật dũng cảm và đáng kính. Một vài vị còn sống nhưng không còn mấy ảnh hưởng. Thật ra, chỉ còn lại một số rất nhỏ. Chúng tôi quý trọng công lao của họ đối với dân tộc. Lớp thứ hai là một số đông những chuyên gia được đào tạo trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Trái ngược với nền giáo dục thời Pháp, chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư… và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội. Đảng nghĩ hộ cho mọi người. Ý thức chính trị của các chuyên viên nói chung là yếu. “

                    ***********

Gs. Phan Đình Diệu bàn về Toán học và Dân chủ

Hiệu Minh giới thiệu
Giáo sư Phan Đình Diệu. Ảnh: internet

HM Blog xin đăng lại bài phỏng vấn Giáo sư Phan Đình Diệu được Diễn Đàn dịch từ Tạp chí Nordic Newsletter of Asian Studies (số 2, năm 1993, xuất bản tại Copenhagen, Đan Mạch). Xin cảm ơn Diễn Đàn và Còm sỹ Historian đã tìm ra bài này.

Người phỏng vấn là một nhà sử học Na Uy, ông Stein Tønnesson, tác giả luận án tiến sĩ có giá trị Sự bùng nổ chiến tranh Đông Dương 1946 bảo vệ năm 1982 tại Oslo (bản tiếng Pháp: “ 1946: Déclenchement de la guerre d’Indochine”, Nhà xuất bản L’Harmattan, Paris 1987).

Cuộc phỏng vấn được tiến hành vào tháng 9.1992 tại Viện Khoa học Việt Nam, khi đó Giáo sư Phan Đình Diệu là Viện phó.

Dù phỏng vấn đã có tử cách đây 2 thập kỷ, nhưng những gì Giáo sư Diệu nói, còn nhiều điều cho chúng ta suy ngẫm.

Giáo sư có nhắc đến trí thức Việt nam, một vấn đề nóng trên mạng mấy tuần qua. Ông cho rằng “Chế độ XHCN đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư… và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội“.

Gần đây Giáo sư Ngô Bảo Châu, khi luận về trí thức, nói theo một khía cạnh khác ”Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức”? Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.” Mặc dầu Ngô Bảo Châu có nói thêm:”Mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.”

So sánh hai cách tiếp cận khác nhau về trí thức của hai giáo sư cũng thấy thú vị, nhất là chúng ta cần học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội.

Phỏng vấn Phan Đình Diệu: Ứng dụng toán học và dân chủ

Bởi Stein TØNNESSON

Stein TØNNESSON: Năm 1982, ông công bố trên tạp chí Nghiên cứu Việt Nam một bài báo nhan đề “ ứng dụng toán học và máy tính điện tử”. Nay dường như ông muốn ứng dụng toán học vào cả vấn đề dân chủ. Vì sao một nhà toán học lại trở thành chính khách ?

Phan Đình Diệu: Tôi không phải là chính khách, mà tôi chỉ muốn tham gia vào việc nước như một công dân. Là một người yêu nước, thiết tha với nhân dân nghèo khó, tôi muốn đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước. Là một người làm khoa học, đã từ khá lâu tôi phát hiện ra rằng chủ nghĩa Mác-Lê khó có thể mang lại điều gì hữu ích cho một nước muốn thoát ra khỏi nghèo nàn. Nghiên cứu khoa học điện toán, thuyết hệ thống và các vấn đề quản lý hiện đại, tôi nhận ra rằng mô hình xã hội chủ nghĩa như học thuyết Mác-Lê xác định không phù hợp với một nước muốn phát triển về xã hội, kinh tế và khoa học.Vì những lý do hiển nhiên, Marx và Lenin không có điều kiện tìm hiểu xã hội hiện đại. Song đảng cộng sản ở Việt Nam cũng như ở các nước khác đã ngây thơ tìm cách áp dụng học thuyết của họ vào xã hội hiện đại. Sự thất bại của họ đã được minh chứng rõ rệt nhất trong cuộc cách mạng điện toán, đặc trưng của thế giới trong thập niên 1980. Sự thất bại của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày nay hầu như mọi người đều thấy rõ. Vấn đề còn lại là biết rút ra kết luận một cách đầy đủ và từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê.

ST: Tôi có cảm tưởng là trong lãnh vực kinh tế, thực ra Việt Nam đã từ bỏ mô hình xã hội chủ nghĩa rồi.

PĐD: Nét nổi bật trong tình hình hiện nay là sự mâu thuẫn giữa một mặt là ý muốn duy trì sự chuyên chế của đảng, và mặt khác, phát triển thị trường tự do. Đây là là một sự kết hợp mới. Chưa hề có một nhà lý luận cộng sản nào nghiên cứu tình thế này trên một cơ sở có thể coi là thường trực.

ST: Phải chăng hệ thống chính trị hiện nay phản ánh một quan niệm Á châu về dân chủ, khác với quan niệm dân chủ Tây phương?

PĐD: Có thể có sự khác biệt về thực tế chính trị giữa châu Á và phương Tây, chứ không có quan niệm khác nhau về dân chủ. Dân chủ thì ở đâu cũng là dân chủ. Một hệ thống dân chủ đòi hỏi trước hết phải tôn trọng các quyền con người và quyền công dân. Điều này đặt ra ở mọi nơi. Và quyền công dân phải được tôn trọng bằng cách tổ chức bầu cử tự do. Nhân tố then chốt của một chế độ dân chủ là cách bầu ra người lãnh đạo. Bầu cử dân chủ nghĩa là bầu cử tự do, bỏ phiếu kín, và mọi người đều có quyền ra ứng cử. Không có những điều đó, không thể gọi là dân chủ. Cũng cần nói thêm: tất nhiên có những mức độ khác nhau về dân chủ. Theo tôi nghĩ, không có nơi nào nền dân chủ có thể coi là hoàn thiện, kể cả ở nước ông [tức là Na Uy, chú thích của người dịch], hay ở Đức, Pháp hoặc Hoa Kỳ. Chất lượng một chế độ dân chủ có thể đo bằng hai tiêu chuẩn. Thứ nhất là cách vận hành của thể chế bầu cử: cử tri có thực sự được chọn lựa hay không, kết quả cuộc bầu cử phản ánh dân ý tới đâu? Thứ nhì là khả năng của nhân dân tác động vào quá trình quyết định thông qua thảo luận trên các media, trong các cuộc hội họp, gặp gỡ ở địa phương, cũng như ở cấp vùng, và cấp toàn quốc.

ST: Phải chăng ông chủ trương thiết lập một chế độ đa đảng ở Việt Nam?

PĐD: Điều cốt yếu không phải là có nhiều đảng, không phải là có một chế độ đa đảng, mà là có sự chọn lựa thật sự. Muốn chọn lựa thật sự, hai đảng có thể cũng đủ, với điều kiện là hai đảng ấy thực sự khác nhau.

ST: Ông có ngại rằng đặt ra những đảng đối lập có thể tác hại tới sự ổn định xã hội và sự tăng trưởng kinh tế hiện nay ở Việt Nam, thậm chí gây ra hỗn loạn chăng?

PĐD: Vâng, tôi nghĩ có nguy cơ đó; bởi vậy tôi mới nói hai đảng cũng đủ. Trong toán học có một định lý cơ bản: một biểu đồ định hướng là cân bằng nếu như và chỉ nếu như nó có hai nhánh (tiếng Anh bipartite còn có nghĩa là hai bên, hai đảng). Nhiều đảng quá có thể dẫn tới hỗn loạn – trừ phi các đảng liên kết chung quanh hai cực. Hệ thống lưỡng đảng ở Hoa Kỳ hay ở Vương quốc Anh xem ra ổn định hơn là hệ thống nhiều đảng như ở Pháp dưới thời đệ tứ cộng hoà. Còn ở Việt Nam hiện nay là hệ thống chính trị độc đảng. Ngày nào chế độ còn trấn áp được mọi sự đối lập thì hệ thống còn ổn định, nhưng đó chỉ là một sự ổn định tĩnh. Còn sự ổn định động, hàm ý phát triển tích cực, chỉ có thể thực hiện bằng cách lập ra một “đối cực”. Xin hiểu đối cực theo nghĩa xây dựng của nó, chứ không phải phá hoại.

ST: Các nhà lãnh đạo hiện nay của Việt Nam dường như đã tiến một bước khá dài trong việc thừa nhận quyền tự do ý kiến và tự do phát biểu.

PĐD: Sự chuyên chế của đảng không còn toàn diện như trước kia. Có một thời, ngay cả khẩu phần lương thực cũng được quyết định trên cơ sở lòng trung thành đối với đảng. Bây giờ đã tự do hơn, nhưng theo ý tôi, 1987 và 1988 là những năm tự do hơn là từ đó đến nay. Trong hai năm ấy, chúng tôi đã bước đầu thể nghiệm thảo luận về chính trị và lý luận, sau đó bị dẹp.

ST: Người ta vẫn khuyến khích báo chí tố cáo tham nhũng, lạm quyền.

PĐD: Đúng thế, nhưng với những hạn chế rất rõ ràng. Điều cấm kỵ chủ yếu liên quan tới sự chuyên chế của đảng. Không ai được quyền phê bình đảng, cho dù ở cấp huyện. Tham nhũng thì được phép phê phán, vì tham nhũng không phải là vấn đề hệ thống chính trị. Đó là một vấn đề chung. Tham nhũng chung quy có nghĩa là bán quyền lực. Có lẽ ở đâu cũng có sự bán quyền lực, khác nhau là ở quy mô. Tình hình làm ăn hiện nay ở Việt Nam đang làm cho tham nhũng phát triển. Trong một xã hội cộng sản tập trung, sự tham nhũng chừng nào bị lệch dòng (deflected) vì thiếu vắng thị trường. Các đặc lợi phát sinh từ các đặc quyền hơn là do buôn bán quyền thế. Trong những xã hội dân chủ, do không giữ được (hoặc ít giữ được) bí mật, nên ở chừng mực nào đó, sự tham nhũng bị ngăn chặn, hay hạn chế; người ta không (hoặc ít) dám buôn bán quyền lực vì sợ bị tố cáo hoặc truy tố. Còn ở Việt Nam hiện nay, chúng tôi gặp cả hai cái nạn ấy cộng lại: một thị trường mặc sức phát triển trong đó quyền lực là một thứ hàng hoá buôn đi bán lại, song song tồn tại với một giới cầm quyền giữ bí mật cao độ. Vừa qua có vụ hoá giá nhà ở thành phố Hồ Chí Minh, cán bộ cấp cao được mua nhà công với giá rẻ, và bán lại với giá thật cao, chúng tôi đòi công bố danh sách, song người ta lờ đi. Hệ thống chính trị này không cho phép công bố đầy đủ thông tin về tham nhũng trong những vụ việc có quy mô quá lớn như vậy.

ST: Tôi muốn trở lại vấn đề dân chủ: ông có cho rằng “ đối cực”, hay ít nhất, là cái cực kia, có thể phát triển ngay trong quốc hội hiện nay không?

PĐD: Tôi không mấy tin tưởng vào Quốc hội mới được bầu [tháng 7.1992]. Cuộc bầu cử quốc hội vừa rồi là chọn giữa vài ứng cử viên đã được đảng và Mặt trận Tổ quốc lựa ra từ trước. Khoảng 40 người ra ứng cử độc lập, nhưng người ta chỉ chấp nhận cho 2 người ứng cử, và cả hai đều thất cử. Trình độ học vấn của các đại biểu khoá này cao hơn khoá trước, nhưng tôi không thấy ai có thể đóng một vai trò độc lập. Các cuộc thảo luận ở Quốc hội vẫn diễn ra trong lằn ranh do đảng vạch ra.

ST: Thế thì ông đặt hy vọng vào đâu? Vào giới trí thức? Trong đại hội Đảng vừa qua, vai trò của trí thức đã được nâng cấp một cách đáng kể?

PĐD: Trước khi bàn về vai trò trí thức, thử hỏi: trí thức là ai? Ở Việt Nam có hay không có một giới trí thức, một lực lượng trí thức độc lập về xã hội và chính trị? Đó là vấn đề quan trọng đặt ra cho mọi xã hội muốn thiết lập hay cải thiện chế độ dân chủ. Trước tiên, tôi muốn nói tới lớp những nhà trí thức đã được đào tạo dưới thời Pháp thuộc. Trong lớp này, có những nhân vật dũng cảm và đáng kính. Một vài vị còn sống nhưng không còn mấy ảnh hưởng. Thật ra, chỉ còn lại một số rất nhỏ. Chúng tôi quý trọng công lao của họ đối với dân tộc. Lớp thứ hai là một số đông những chuyên gia được đào tạo trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa. Trái ngược với nền giáo dục thời Pháp, chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư… và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội. Đảng nghĩ hộ cho mọi người. Ý thức chính trị của các chuyên viên nói chung là yếu. Những người giỏi tham gia chính quyền, và tự nhiên là đảng viên. Rất có thể nhiều chuyên viên, trong cuộc sống riêng, cũng có tư tưởng dân chủ, nhưng không có cách gì kiểm nghiệm điều đó cả. Thành phần thứ ba là những trí thức được đào tạo trước đây ở miền Nam. Phần đông đã bỏ đi. Tất nhiên có thể họ sẽ trở về giúp nước bằng cách này hay cách khác, nhưng muốn đóng một vai trò chính trị có ý nghĩa, thì người trí thức phải gần gụi nhân dân. Cuộc sống kéo dài ở hải ngoại không phải là mảnh đất thuận lợi cho một lực lượng trí thức tích cực. Cuối cùng là thanh niên, những người vừa được hay còn đang được đào tạo trong những năm gọi là đổi mới. Những năm gần đây, quả đã có một nền văn nghệ độc lập khởi sắc. Nhưng còn phải có thời gian thì các xu hướng nói trên mới có thể hình thành một lực lượng xã hội chính trị thực sự. Nói tóm lại, kết luận của tôi là hiện nay Việt Nam chưa có một giai cấp trí thức.

ST: Nghĩa là nhìn về toàn cục thì ông bi quan? Hay ông còn thấy có hy vọng ở đâu đó?

PĐD: Tôi nói điều này chắc ông ngạc nhiên: mặc dầu tôi đã nói như ở trên về sự chuyên chế của đảng cộng sản, song tôi vẫn hy vọng là đảng cộng sản tự nó sẽ thay đổi. Những ai suy nghĩ một cách có trách nhiệm về tiền đồ dân tộc tất phải tán thành sự thay đổi trong ổn định. Cách tốt nhất để thực hiện việc này là thuyết phục đảng cộng sản phải biết nhìn nhận thực tế và từ bỏ con đường cũ. Tôi đã soạn những bản kiến nghị và nói với những nhà lãnh đạo đảng. Ít nhất họ đã nghe tôi nói. Theo tôi, đảng cộng sản Việt Nam có hai mặt, mặt cộng sản và mặt yêu nước. Nó nên giữ mặt thứ nhì và bỏ mặt thứ nhất, nó có thể tự biến đổi thành một lực lượng yêu nước chân chính. Theo chỗ tôi biết, có những nhà lãnh đạo cấp cao là những người rất chân thành.

ST: Nhưng làm thế nào đi tới cái thế lưỡng cực?

PĐD: Đây chính là sự thử thách lớn về tinh thần trách nhiệm và sự dũng cảm của giới lãnh đạo. Nếu họ thực sự yêu nước thương dân thì họ phải chấp nhận biến đảng trở thành một đảng dân tộc, tôn trọng đầy đủ các quyền tự do cơ bản và tổ chức bầu cử tự do. Trong điều kiện đó, những tổ chức chính trị khác sẽ xuất hiện, từng bước triển khai thành một lực lượng đối lập xây dựng. Nếu đảng cộng sản tự cải tạo trong quá trình đó, thì trong suốt một thời gian dài, nó có thể thắng cử.

ST: Ông có nghĩ rằng ông có thể đóng một vai trò trong tiến trình biến đổi đó hay không? Phan Đình Diệu phải chăng là Sakharov của Việt Nam?

PĐD: Như tôi đã nói ở trên, tôi không phải là một chính khách và tôi không có tham vọng (chính trị). Song, với tư cách một nhà khoa học và một công dân yêu nước, tôi muốn tham gia việc nước. Dân chủ là tham gia việc nước.

*Các bạn có thì giờ rãnh thì nhấp chuột vào đường link sau đây để đọc 3 hồi ký  “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên,  “Chuyện Kể Năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn,  và “Đường Đi Không Đến” của Xuân Vũ.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »