Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2012

►Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc

Posted by hoangtran204 on 29/02/2012

Từ tiếng hát Việt Khang tới thỉnh nguyện thư

Cách đây hơn một tuần tôi đến trung tâm y tế Ne Ponset Health Center ở Boston để hỏi về những chương trình y tế. Ở đây tôi đã gặp một chuyện đặc biệt là một cô gái Việt làm ở phòng Dịch Vụ Tư Vấn đã nói với tôi về nhạc sĩ Việt Khang. Cô cho biết Việt Khang làm hai bản nhạc: Việt Nam Tôi Đâu? Và Anh là ai?. Nội dung hai bài hát nói lên lòng yêu nước và sợ mất nước và hỏi công an Việt Nam tại sao lại đàn áp, đánh đập những người Việt biểu tình biểu lộ lòng yêu nước. Và chỉ vì hai bài hát này mà Việt Khang đã bị nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam bắt ngày 23/12/11. Vì thế nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN và tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, giám đốc điều hành BPSOS đã phát động một chiến dịch kêu gọi người Việt ở Mỹ ký Thỉnh Nguyện Thư vào thẳng trang mạng của White House yêu cầu Tổng Thống Obama tạo áp lực, yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam trả tự do cho Việt Khang và những người tù lương tâm trong nhà tù hay tù tại gia.

Sau khi trình bày xong biến cố Việt Khang và thỉnh nguyện thư, cô nói:

– Cháu xin bác một chữ ký để cứu Việt Khang.

Tôi xúc động nhìn cô nói:

– Cám ơn cháu đã cho bác biết chuyện Việt Khang. Việc này bác đã biết qua trên net, cũng có ý định ký, nhưng vào trang mạng tòa Bạch Ốc khá phức tạp nên chưa ký được. Tiện đây cháu giúp bác thì tốt quá.

Cô nhìn tôi cười tươi, xoay chiếc laptop, rồi miệng hỏi cùng với những ngón tay di chuyển trên keyboard. Và chỉ khoảng 15 phút sau, cô dừng tay nói:

– Xong rồi bác.
– Cám ơn cháu, tôi nói rồi hỏi:

– Từ ngày khởi đầu chiến dịch đến nay, cháu đã kêu gọi được bao nhiêu người ký tên?

Cô ngẫm nghĩ một lát, rồi đáp:

– Dạ, trên 20 người. Cũng có người từ chối, nhưng đa số đã sốt sắng ký tên. Ngoài Boston, cháu đã gọi cho những người bạn ở mấy tiểu bang khác tham gia vào việc này – Cô ngừng lại, mở tấm bìa dày, lấy 5 tờ giấy đầy chữ đưa cho tôi

– Thưa bác đây là tiểu sử Việt Khang, 2 bài hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Và một bài viết về Việt Khang, cháu lấy từ trang mạng Tuổi Trẻ Yêu Nước… Xin bác vận động người thân và bạn bè cho Việt Khang một chữ ký. Nếu không có computer hay không thể vào trang mạng của White House, bác bảo họ đến Hội Người Việt bên Dorchester. Ở đó có người thường trực hướng dẫn bà con việc ký tên.

Giọng nói nhiệt thành với ánh mắt của cô gái đã theo tôi mấy ngày nay. Tôi đã sống ở Mỹ trên 25 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp một cô bằng tuổi cháu mình, nói với mình về một người yêu nước ở quê nhà, rồi lại còn khẩn khoản nhờ tôi đi vận động những người khác: Bác xin cho Việt Khang một chữ ký.

Qua việc theo dõi chiến dịch và làm theo lời cô gái, tôi có một số ý nghĩ, nên xin ghi lại:

1. Từ tiếng hát Việt Khang:

Sau khi nghe Việt Khang hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai?, tôi có nhận định là hai bài hát đã kết tinh được thảm kịch cách mạng vô sản của đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân, với nước.

Thảm kịch với dân: Khởi đi từ mục tiêu đấu tranh giải phóng dân nghèo, đảng Cộng Sản đã cướp được chính quyền và xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa 20 năm ở miền Bắc và 37 năm trên cả nước, nhưng Việt Khang đã nhận rõ: Chế độ của đảng Cộng Sản không giải phóng dân nghèo mà là chế độ dối trá, áp chế, bóc lột dân nghèo:

Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Thảm kịch với nước: Khởi từ mục tiêu đấu tranh giải phóng đất nước, đảng Cộng Sản đã phát động 2 cuộc chiến tranh, gọi là kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), rồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960-1975), hủy diệt trên 3 triệu sinh mạng, cướp cho được miền Nam. Nhưng Việt Khang cũng lại nhận rõ: Đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp cả nước để dâng cho Tàu:

Giờ đây, Việt Nam còn hay đã mất? Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta.

Hoàng, Trường Sa đã bao người dân vô tội,
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tàu.

Vì thế, trước nỗi nguy của nước và nỗi đau, nỗi nhục của dân, Việt Khang kêu gọi mọi người đứng lên:

Chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam.

Với những tiếng kêu thảng thốt: Việt Nam tôi đâu?, Việt Khang đã đứng dậy cùng đồng bào yêu nước đấu tranh cho sự sống còn của dân tộc:

Tôi không thể ngồi yên khi nước Việt Nam đang ngả nghiêng,
Dân tộc tôi phải đắm chìm một ngàn năm hay triền miên tăm tối.
Tôi không thể ngồi yên, để đời sau con cháu tôi làm người,
Cội nguồn ở đâu, khi thế giới này không còn Việt Nam?

Nhưng công an của đảng Cộng Sản đã đàn áp, đánh đập, bắt bỏ tù những người biểu tình yêu nước lên tiếng chống Tàu xâm lược. Trên nửa thế kỷ đảng Cộng Sản Việt Nam đã đồng hóa hai tiếng yêu nước với đảng Cộng Sản: Yêu nước chống Pháp, yêu nước chống Mỹ, yêu nước chống bá quyền Bắc Kinh. Nhưng nay thì đảng Cộng Sản lại từ bỏ hai tiếng yêu nước, về phe với bọn bá quyền Bắc Kinh để đàn áp dân Việt yêu nước. Vì thế Việt Khang đã hỏi: Anh Là Ai?

Câu hỏi Anh Là Ai, nhìn gần thì đó là hỏi những tên công an đánh đập, đạp vào mặt, quăng những người biểu tình lên xe như quăng súc vật, còn nhìn xa hơn thì Anh là Ai là hỏi đảng Cộng Sản. Anh là Ai? Là Việt hay Tàu mà lại làm tay sai cho Tàu để đưa Việt Nam vào vòng nô lệ Tàu?

Với 2 bài hát, Việt Khang đã tổng kết được lịch sử 67 năm của đảng Cộng Sản: Từ cách mạng giải phóng lao động thành áp chế, bóc lột lao động. Từ yêu nước thành tay sai bán nước. Ở đây xin nói thêm là đảng Cộng Sản đã làm nên lịch sử ấy bằng núi xương, sông máu, bằng hận thù dân tộc, bằng tàn phá đất nước nhân danh cách mạng vô sản.

Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai là hai câu hỏi đảng Cộng Sản không dám trả lời mà chỉ dùng công an và nhà tù để đáp lại những người dám lên tiếng hỏi thẳng đảng Cộng Sản như Nguyễn Xuân Nghĩa, Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), Phạm Thanh Nghiên, Cù Hà Huy Vũ, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng… và nay đến lượt Việt Khang.

2. Đến Thỉnh Nguyện Thư

Bao lâu nay, mỗi lần chính quyền Cộng Sản Việt Nam bắt một người đấu tranh cho dân chủ là mỗi lần cộng đồng người Việt ở Mỹ biểu tình lên án chế độ độc tài và kêu gọi quốc tế can thiệp. Lần này với Việt Khang cũng thế. Nhưng với sáng kiến làm Thỉnh Nguyện Thư gửi Toà Bạch Ốc của nhạc sĩ Trúc Hồ và Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã đưa cuộc vận động lên một bình diện cao, rộng, đơn giản mà cụ thể. Vì thế kết quả không ngờ là cùng với hai bài hát Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai?, chiến dịch đã lan tỏa nhanh chóng, dấy lên như những lớp sóng:

– Thành phố lớn nào có cộng đồng người Việt là có hội đoàn đứng ra cùng với những người trẻ thông thạo máy điện toán, vừa vận động vừa giúp đồng bào ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư.

– Chiến dịch dâng cao với những con số thay đổi từng giờ. Ngày khởi đầu là 8 tháng 2, chỉ 4 ngày sau, con số đã vượt 25.000, con số cần đạt được trong 30 ngày để Tòa Bạch Ốc trả lời trực tiếp.

– Đến ngày 19/2, con số lên tới 54.000 và Tòa Bạch Ốc đã phải lên tiếng xin được gặp cộng đồng người Việt để nghe tiếng nói của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ về những vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và về những tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong nước.

– Theo sự thông báo của tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng thì chiến dịch có thể đạt quá con số 100.000 vào ngày Cộng Đồng Người Việt vào Tòa Bạch Ốc, và hiện đã có một số tác dụng đáng kể:

Thứ nhất, Tòa Bạch Ốc cho biết một số tổ chức thuộc các cộng đồng bạn ngỏ ý muốn vào Tòa Bạch Ốc ngày 3/5 để yểm trợ tiếng nói của cộng đồng người Việt.

Thứ nhì, nữ dân biểu Zoe Lofgren (Dân chủ, CA) sẽ thảo một văn thư để các đồng viện cùng ký gởi Tổng Thống Obama, kêu gọi Hành Pháp đáp ứng thỉnh nguyện của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.

Thứ ba, Người Việt ở nhiểu nơi sẽ về Hoa Thịnh Đốn tham gia việc biểu dương ý chí và nguyện vọng trước Tòa Bạch Ốc.

Thứ tư, Cựu dân biểu Cao Quang Ánh lên tiếng kêu gọi người Việt ở mọi nơi đồng loạt tổ chức các cuộc biểu tình ngay tại địa phương của mình vào cùng ngày và cùng giờ với cuộc biểu tình trước Tòa Bạch Ốc.

Thứ năm, hưởng ứng chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư của người Việt ở Mỹ, ngày 24/2, Liên Hội Người Việt Canada phát động chiến dịch gửi Thỉnh Nguyện Thư lên chính phủ Canada với mục đích tương tự như Thỉnh Nguyện Thư của cộng đồng người Việt ở Mỹ.

Kết luận

Từ biến cố Việt Khang và chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư chúng tôi có mấy kết luận sau đây:

1. Từ đầu thập niên thế kỷ XXI đến nay, những người trẻ ở trong nước đã vượt qua sự sợ hãi bạo quyền, xuất hiện ngày càng nhiều với những bài viết cùng tiếng nói để đấu tranh cho dân chủ, dân quyền và hầu hết đã bị bắt với những bản án 3, 7 năm tù. Đến nay Việt Khang tiếp nối những người đi trước, và anh đã dùng thân mạng mình để hỏi đảng Cộng Sản: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Lời đau, cay đắng mà hùng của hai câu hỏi này đã vang xa, vì chỉ trong một tuần chúng tôi đã được nghe chục người hát từ nhiều nơi vọng lại. Nghe lời hát cùng những lời phát biểu của nhiều người ở trong nước cũng như ở Hoa Kỳ về hiện tượng Việt Khang, chúng tôi nghĩ rằng rồi đây dân Việt, người người sẽ hỏi đảng Cộng Sản: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai, hỡi người Cộng Sản Việt Nam?

2. Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ luôn luôn có những cuộc vận động đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, nhưng cuộc vận động ký Thỉnh Nguyện Thư trước biến cố Việt Khang có thể nói là cuộc vận động chính trị đầu tiên được giới trẻ tham dự đông đảo và nhiệt thành. Thật sự các bạn trẻ đã thúc đẩy lớp người có tuổi vào cuộc. Và chính người trẻ với chiếc laptop đã đưa cuộc vận động đi xa, đi vào từng ngõ ngách của cộng đồng người Việt ở khắp nơi.

Trong bài “Hiện Tượng Việt Khang”, trên trang mạng của đài RFA (2/27/12), thông tín viên Hiền Vy đã ghi lại nhiều lời ca ngợi Việt Khang của các bạn trẻ. Trong đó một bạn tên là Linh Trần ở Houston đã nói: “Cùng với một số ông bà và anh chị em, tôi đã thu ra 200 cái CD trong đó có 2 bài ca bất hủ của Việt Khang. Chúng tôi đã vận động được trên 1000 chữ ký để nỗ lực đấu tranh đòi hỏi lại cái dân quyền bình đảng cho người dân trong nước”. Và trong cuộc biểu tình do Ủy Ban Đấu Tranh Chính Trị Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Vùng Phụ Cận tổ chức trước Lãnh Sự Quán Việt Nam (2/27/12) để đòi Hà Nội trả tự do cho những người tù lương tâm, một bạn trẻ tên Thông đã nói: “Việt Khang là một người trẻ sinh ra sau 75. Anh dám viết nói lên cái nguyện vọng cuà anh đối với đất nước. Anh Việt Khang là một người rất can đảm, là cái gương sáng cho tất cả tuổi trẻ sống tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại. Tuổi trẻ ở hải ngoại có rất nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói của mình và tham gia các cuộc biểu tình cũng như những cuộc vận động cho dân chủ và tự do tại Việt Nam”. Anh Thông cho biết: “Em là một trong những người ký tên ngày đầu tiên. Em cũng giúp mẹ em ký tên và em cũng vận động chị, anh và bác của em ở San Francisco, thì họ đã gọi vào SBTN ký tên rồi”.

Trước hiện tượng giới trẻ đi vào cuộc vận động ký Thỉnh Nguyện Thư, chúng tôi phấn khởi với một niềm tin là thế hệ trẻ dù sanh Mỹ hay ở đâu, nhưng các bạn ấy vẫn quan tâm đến quê cha đất tổ, vẫn biết Việt Nam bây giờ ra sao.

3. Từ hai câu hỏi: Việt Nam Tôi Đâu và Anh Là Ai? Cùng những việc đàn áp, bắt bớ, coi những người biểu tình chống Tàu xâm lược như kẻ thù, chúng tôi có một nhận định là chế độ độc tài đảng trị đã đưa đất nước tới chỗ cùng. Và từ chỗ cùng này hồn nước đã bật dậy.

– Tại sao một đảng, một chế độ đã dùng mấy chữ yêu nước chống xâm lăng để có chính quyền và giữ chính quyền lại đưa dân tới một câu hãi hùng: Việt Nam Tôi Đâu?

Việt Dương gửi tới

© Đàn Chim Việt

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tu Do ngon Luan | 2 Comments »

►“Việt Nam tôi đâu?” câu hỏi của nhiều thế hệ

Posted by hoangtran204 on 27/02/2012

Tác giả: Trần Trung Đạo


Buổi trưa ở Chennai.

Làm việc xong trên đường trở về khách sạn, tôi nhờ người lái xe đưa đi thăm vịnh Bengal. Đứng bên bờ vịnh nhìn sang phía bên kia bờ là Đông Nam Á. Tôi tự hỏi Việt Nam đang nằm ở đâu sau dòng nước xanh xa thẳm kia. Và cùng lúc tôi chợt nghĩ đến bài hát “Việt Nam tôi đâu” của Việt Khang đang trở thành khẩu hiệu cho tuổi trẻ trong vào ngoài nước.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi của tôi vang lên theo từng đợt sóng dội vào bờ cát Chennai nhưng tuyệt nhiên không có tiếng trả lời. Một người đứng trên đất khách và một kẻ đang ở trong tù có cùng một câu hỏi.

Thì ra, không phải người đi xa mới thấm thía nỗi đau của kẻ thiếu quê hương mà cả những người đang sống trên đất nước vẫn đi tìm kiếm quê hương. Và quê hương chúng tôi đang tìm kiếm, không chỉ là núi đồi, sông biển, ruộng vườn, cây trái nhưng là một quê hương có khối óc tự do, có tâm hồn nhân bản, có trái tim dân chủ, có đôi chân tiến về phía trước và đôi tay kiến tạo một xã hội thanh bình thịnh vượng cho mãi mãi Việt Nam.

Thời gian tôi sống ở xứ người dài hơn so với thời gian sống ở Việt Nam và đã nhiều năm làm công dân Mỹ nhưng ngoại trừ việc phải điền vào những giấy tờ cần thiết, khi được hỏi tôi là ai, tôi luôn trả lời tôi là người Việt Nam. Một phần, tôi cảm thấy chút gì đó ngượng ngùng khi nhận mình là người Mỹ và một phần khác tôi không thể từ chối đất nước đã sinh ra tôi. Tôi cám ơn nước Mỹ đã cứu vớt tôi từ biển cả, cho tôi chiếc nệm ấm, giúp tôi có cơ hội học hành, dang rộng đôi tay chào đón khi tôi bước xuống phi trường lần đầu trong một đêm đông lạnh, nhưng suy nghĩ và phân tích cho cùng, tôi vẫn là người Việt Nam. Tôi nghĩ về nước Mỹ với một trách nhiệm công dân mang tính pháp lý hơn là một người con mang trên vai nghĩa vụ tinh thần. Tôi không biết kiếp sau, nếu có, tôi là gì nhưng kiếp này tôi là người Việt Nam. Tôi dặn lòng như thế.

Việt Nam tôi đâu?

Câu hỏi có vẻ ngô nghê nhưng không phải dễ trả lời. Nếu ai hỏi, thật khó cho tôi gỉải thích đủ và đúng trong một câu ngắn gọn. Việt Nam của tôi không phải là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và dĩ nhiên không phải là chế độ cai trị con người bằng nhà tù và sân bắn như hiện nay.

Nhìn chiếc ghe hư nằm trơ trọi trên bờ biển Chennai, tôi chợt nhớ đã có một thời, nhiều thuyền nhân Việt Nam từng hỏi “Việt Nam tôi đâu” và đã đồng ý với nhau rằng Việt Nam đã chết như trong bài hát Một lần miên viễn xót xa quen thuộc của nhạc sĩ Nguyễn Đức Thành:

Giờ đây, mỗi đứa con lạc loài mỗi nẻo
Đứa London, đứa Paris, đứa đèo heo gió hút
Gặp nhau từng hàng lệ xót xa, buông những câu chào
Đôi ba sinh ngữ, Bonjour, Au revoir, Hello, Good bye
Con gục đầu chua xót đắng cay.
Thưa me, thưa me, thưa me, quê hương mình
Đã chết rồi, mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ Việt Nam ơi …”

Vì “quê hương mình đã chết rồi” nên hàng triệu đứa con của mẹ phải bỏ ra đi khắp chân trời góc biển.

Có người không đồng ý và cho rằng quê hương vẫn còn đó, núi sông vẫn còn đó, chết chóc gì đâu mà than vãn. Việt Nam là quê hương của tất cả chúng ta. Không có quê hương của người quốc gia hay quê hương của người cộng sản. Không có quê hương tư sản hay quê hương vô sản. Quê hương vẫn còn có đó và sẽ mãi mãi còn đó cho ngàn đời sau.

Đúng hay sai, còn hay mất, sống hay chết tùy theo cách hiểu và cách nhìn về đất nước. Với tôi và có thể với nhiều đồng bào cùng cảnh ngộ, quê hương không chỉ là những vật vô tri, vô giác nhưng phải là một quê hương sống động và có tâm hồn. Sau 30 thágng Tư năm 1975, quê hương Việt Nam đã mất tâm hồn và thậm chí trở thành tù ngục. Việt Nam, nơi con người bị đối xử như con vật. Việt Nam, nơi con người không có quyền nói những điều họ muốn nói, hát những bài hát họ yêu thích, viết những dòng thơ họ muốn viết. Hàng triệu người Việt Nam đã không còn chọn lựa nào khác hơn là ra đi.

Hành trình của hơn hai triệu người Việt Nam từ sau tháng Tư năm 1975 không chỉ được ghi bằng những bước chân rỉ máu trên những chặng đường đầy đau thương thử thách nhưng còn qua những bài hát được viết như tiếng thét gào của đoàn lưu dân trên sa mạc trần gian.

Mai tôi đi, tôi đi vào sương đen
Sương rất độc tẩm vào ngươì nỗi chết
Quê hương ta sống chia dòng vĩnh biệt
Chảy về đâu những nước mắt đưa tin.
(Mai tôi đi, nhạc Nguyễn Đình Toàn)

Những ngày tháng lênh đênh đó, ai không dừng tay dù đang làm việc gì khi nghe Người di tản buồn của nhạc sĩ Nam Lộc, Sài Gòn niềm nhớ không tên của nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn hay Đêm nhớ về Sài Gòn của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cất lên từ giọng ca Khánh Ly? Có ai không chợt nghe lòng mình chùng xuống khi chị Nguyệt Ánh cất lên những lời não nùng trong Một chút quà cho quê hương của nhạc sĩ Việt Dũng? Có ai không nghe như có tiếng mưa rơi dù đang đứng giữa phố Bolsa nắng gắt khi nghe giọng Ngọc Lan kể lể trong Khóc một dòng sông của nhạc sĩ Đức Huy? Và nhiều nữa, Phạm Duy với 1954 Cha bỏ Quê 1975 Con bỏ Nước, Nhật Ngân với Anh giải phóng tôi hay tôi giải phóng anh, Châu Đình An với Đêm chôn dầu vượt biển, Phan Văn Hưng với Ai trở về xứ Việt, Phan Ni Tấn với Bài hát học trò, Tô Huyền Vân với Quê hương bỏ lại v.v…

Và tất cả đã đóng góp phần mình viết nên bài trường ca đầy bi tráng của một bộ phận dân tộc Việt Nam sau mùa bão lửa 1975. Từ Camp Pendleton đến Leamsing, Palawan, Pulau Bidong, Sungai Besi, Bataan, White Head, Panat Nikhom, Galang, những tên tuổi địa danh đi vào lịch sử Việt Nam qua  cái chết tủi buồn của mẹ, qua  giọt nước mắt của em, qua tiếng gào thống thiết của anh vọng lên giữa Thái Bình Dương bát ngát.

Thời gian cuốn đi bao vết tích, tạo ra bao đổi thay của thời thế và con người. Bây giờ, một số nhạc sĩ đã qua đời, một số đang qua đời trong cách khác và một số vẫn tiếp tục đi trên con đường lý tưởng dù tuổi tác đã già. Nhưng dù sống hay chết, bỏ đi hay ở lại, những bài hát của họ đánh dấu một giai đoạn lịch sử nhiều bi tráng của đất nước và góp phần xây lên tấm bia đá thuyền nhân bi thương ngàn đời trong lịch sử Việt Nam.

Và những người còn ở lại, phải chăng họ dễ dàng trả lời “Việt Nam tôi đâu?”

Không. Tôi không nghĩ thế. Nếu ai hỏi những người thuộc thế hệ đã trải qua giai đoạn cùng cực những năm sau 1975 còn sống hôm nay có thể họ cũng sẽ trả lời trái tim Việt Nam có một thời ngừng đập. Thời gian dừng lại. Không gian đóng kín bịt bùng. Việt Nam đã chết ngay cả trong lòng những người đang sống giữa lòng đất nước. Một triệu dân Sài Gòn dắt nhau sống lây lất trong các vùng kinh tế mới. Nhiều trăm ngàn sĩ quan viên chức miền nam bị đầy đọa khắp các trại tù. Con người Việt Nam sau 1975 vẫn phải sống, phải thở, phải tìm mọi cách để sinh tồn trong hoàn cảnh nghiệt ngã chứ không phải là những con người an vui hạnh phúc như phần lớn của sáu tỉ người còn lại trên thế giới. Chính ông Võ Văn Kiệt khi còn sống đã phải thừa nhận niềm vui của đảng Cộng Sản là nỗi buồn của nhiều triệu người dân Việt.

Dân tộc nào cũng có thể phải trải qua những chặng đường đau thương gian khổ nhưng Việt Nam có thể nói là một trong số rất ít quốc gia mà sự chịu đựng kéo dài qua nhiều thế hệ. Hơn nửa đời người trôi qua, tiếng thét vẫn còn vang vọng qua bài hát của nhạc sĩ Việt Khang:

Viêt Nam ơi
Thời gian quá nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói
Mẹ Việt Nam đau từng cơn xót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giàu sang dối gian.

Sau 36 năm, Việt Nam  chẳng những không bước thêm một bước nào; trái lại, về kinh tế, chính trị, so với đà tiến nhân loại, đã lùi xa hơn vào quá khứ, và văn hóa đạo đức đang trở về với thời sơ khai nô lệ, nghĩa là thời kỳ mọi của cải đều có thể mua bán, trao đổi, kể cả mua bán, trao đổi chính con người. Người mẹ đang từng cơn xót dạ nhìn đời mà Việt Khang gặp hôm nay không khác gì người mẹ mà tôi gặp đi bán máu ngoài nhà thương Chợ Rẫy mấy chục năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của mẹ ở đâu, chắc chắn mẹ sẽ chỉ ra những nấm mồ vô chủ. Những bầy em đói khổ nghèo nàn mà Việt Khang mô tả hôm nay cũng không khác gì đám trẻ tôi đã gặp ở vùng kinh tế mới Đồng Xoài ba mươi lăm năm trước. Nếu ai hỏi Việt Nam của các em đâu, các em sẽ chỉ ra những vỉa hè bụi bặm, những góc phố tối tăm. Nhưng hiểm họa đất nước đang phải đương đầu không chỉ là độc tài, tham nhũng mà còn là đại họa mất nước.

Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất
Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta
Hoàng Trường Sa, đã bao người dân vô tội
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu

Là một người con dân Việt Nam
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm
Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi

Từng đoàn người đi chẳng nệ chi
Già trẻ gái trai giơ cao tay
Chống quân xâm lược
Chống quân nhu nhược
Bán nước Việt Nam

Việt Nam tôi đâu
Việt Nam tôi đâu

Chúng ta đọc quá nhiều, nghe quá nhiều, hãnh diện quá nhiều về lịch sử hào hùng bốn ngàn năm giữ nước. Vâng, nhưng đó chỉ là những hào quang của quá khứ, là những thành tựu của tổ tiên, không phải của chính chúng ta. Những bài học thuộc lòng về một quá khứ hào hùng của dân tộc không thể giúp lau khô đi dòng nước mắt hôm nay:

Kính thưa thầy đây bài thuộc lòng của con
Tổ quốc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến
Một trăm năm Pháp thuộc
hai mươi năm đọa đày
Làm sao con thuộc được truyện Kiều Nguyễn Du.
Kính thưa thầy đây là quyển vở của con
suốt một năm không hề có chữ
con để dành ép khô những giòng nước mắt
của cha con, của mẹ con, của chị con, và của …chính con.
(Bài học của con, nhạc Phan Ni Tấn)

Lịch sử không phải là một ngôi miếu để thờ cúng nhưng là một đời sống luôn đổi mới. Truyền thống chỉ là một thói quen lỗi thời nếu truyền thống không được hiện đại hóa. Angkor Wat, Angkor Thom nguy nga, đồ sộ nhưng không cứu được một phần tư dân tộc Khờ Me khỏi bàn tay Pol Pot. Tương tự, Ấn Độ, một dân tộc có nền văn minh lâu đời nhất nhân loại và trải qua các thời đại hoàng kim từ Ashoka đến Gupta, cũng đã chịu đựng hàng loạt ngoại xâm từ Mông Cổ, Hồi Giáo và thực dân Anh kéo dài suốt 600 năm.

Việt Nam cũng thế. Nếu chỉ biết tôn vinh quá khứ và làm ngơ trước hiểm họa Trung Quốc hôm nay, rồi lịch sử dân tộc với những chiến công hiển hách của các thời Ngô, Đinh, Lý, Trần cũng sẽ chỉ là những tấm bia trong một ngôi đền cổ. Hãy tưởng tượng, nếu tất cả chúng ta đều im lặng, làm ngơ, chịu nhục trước hiểm họa mất nước, rồi bốn ngàn năm nữa, những đứa trẻ dòng Việt tộc, đi ngang qua di tích đền Hùng, sẽ căm hận biết bao khi nghĩ về tổ tiên nhu nhược của chúng vào bốn ngàn năm trước đó.

Đừng để lại cho các thế hệ Việt Nam tương lai một ngôi đền mà ngay hôm nay hãy xây cho họ một căn nhà Việt Nam Mới tự do, dân chủ, công bằng, bác ái.

Bài hát Việt Nam tôi đâu của Việt Khang là tiếng chuông đánh thức hồn thiêng sông núi đang ngủ quên trong lòng người. Ngọn đuốc Việt Khang thắp lên soi sáng con đường đi về phía trước. Các thế hệ Việt Nam từ lúc chào đời đã mang tinh hoa tinh huyết của dòng giống Lạc Long, nhưng tinh hoa tinh huyết  đó phải được mài dũa thành vũ khí để bảo vệ đất nước hôm nay. Cứu Việt Khang, do đó, không phải chỉ cứu một thanh niên, một nhạc sĩ đang bị tù đày nhưng hơn thế nữa, tự cứu chính mình và từ đó đứng lên cứu dân tộc mình.

© Trần Trung Đạo

© Đàn Chim Việt

* Châu Á Đứng Dậy đọc ở đây

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »

Độc thoại với anh Tư về bầy sâu

Posted by hoangtran204 on 26/02/2012

Huỳnh Ngọc Chênh

Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này“.

Từ hồi nghe anh Tư nói đến bầy sâu như trên, tôi tò mò dò tìm lại những vụ lùm xùm trong quá khứ để xem chân dung của bầy sâu ra sao và việc xử lý chúng như thế nào. Nhưng rồi tôi thất vọng.

Vụ PMU 18 ban đầu nổi đình nổi đám lên với một bầy sâu bị bắt. Nhưng dần về sau thế cờ bị lật ngược, những con sâu bự lên đến cấp thứ trưởng cũng được thả ra, chỉ còn vài con sâu ở cấp PMU trở xuống bị tù.
Rồi tiếp theo, tôi cứ tưởng vụ đại lộ đông tây TP HCM cũng sẽ lòi ra một bầy sâu nhung nhúc vì một mình con tốt Sỹ làm sao cả gan nuốt hết gần một triệu USD. Để ăn hết và ăn được chừng ấy tiền thì phải có đến cả một bầy sâu, phải có những con sâu lớn hơn Sỹ nữa kia. Thế nhưng kết thúc chỉ có một con sâu bé nhất bị diệt.

Gần đây nhất, ở chỗ tôi tưởng như đã thấy được cả một bầy sâu đó là tập đoàn Vinashin với khoản thất thoát lên đến 4 tỷ USD. Nhưng rồi qua một thời gian điều tra xem xét, quy trách nhiệm lại chỉ thấy có một con sâu Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT lộ ra. Vài đại biểu Quốc hội cố truy lần trách nhiệm lên trên lại chẳng thấy sâu nào, chỉ thấy kết luận của Bộ chính trị về vụ Vinashin là không có cá nhân nào trách nhiệm cả.

Rồi những chuyện xảy ra gần đây cũng chỉ thấy vài con sâu bé nhỏ và lẻ tẻ lòi ra. Cở như Lèo cờ đánh bạc tiền tỷ, cở viện trưởng VKS huyện dẫn gái đi chơi thuyền… Chưa thấy đâu có sâu lớn bị bắt hoặc thấy có cả bầy sâu làm “chết” đất nước nầy như anh Tư nói. Chẳng lẻ anh Tư vì quá bi quan mà nói sai? Bầy sâu ở đâu? Bầy sâu ở đâu nào?
Thế như là để trả lời những boăn khoăn của tôi, một bầy sâu to đùng xuất hiện. Chúng công khai trỗi dậy, bò lổn ngổn, kết bè với nhau tàn phá cả một vùng của đất nước.

Đó là bầy sâu mà đến hôm nay không cần nói ra nhưng ai cũng biết: Bầy sâu ở Hải Phòng.

Từ những con sâu rất bé là bọn đầu gấu xã hội đen cướp giật tôm cá trong đầm anh em Đoàn Văn Vươn, ngăn cản hành hung báo chí vào đầm tìm hiểu. Tiếp theo là các con sâu cấp xã như Hoan, Liêm, rồi đến những con sâu to hơn ở cấp huyện như Nghĩa, Hiền, Khanh, Mải… Mới chừng ấy đã thấy một bầy rồi.

Nhưng chưa hết, những con sâu cấp cao hơn vì muốn bao che, chống chế cho đàn em, dần dần lộ mặt. Ban đầu là sâu Thoại, sâu Ca và mới đây nhất con sâu to nhất ở Hải Phòng lộ diện: Bí Thư thành ủy Nguyễn Văn Thành.

Đến đây và đến hôm nay đã có một bầy sâu xuất hiện nguyên hình. Chúng cấu kết với nhau từ cấp xã hội đen lên cấp xã, cấp huyện rồi đến cấp thành… Lâu nay chúng đã ngang nhiên đục khoét, tàn phá địa phương này, gây hại người dân qua biết bao nhiêu vụ việc. Bây giờ bị phát hiện chúng tiêp tục cọ quậy, tìm cách chống trả. Không biết bên trên còn con sâu nào nữa chống lưng cho chúng mà chúng chẳng tỏ ra chút nào sợ sệt.

Cả một đàn sâu đấy anh Tư ạ! Còn chờ gì nữa mà anh không nhanh chóng ra tay như đã hứa với cử tri trước đây. Xịt liền cho chúng một bình thuốc rầy. Để càng lâu chúng sẽ lây lan ra khắp nơi và không khéo dự báo của anh “ tất cả thành sâu hết” trở thành hiện thực thì đúng là “chết cái đất nước nầy”. Anh Tư ới, anh Tư à!

*nguồn: danluan.org

* Châu Á Đứng Dậy đọc ở đây

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Đi thăm Cù Huy Hà Vũ đang ở tù ở Thanh Hóa

Posted by hoangtran204 on 25/02/2012

Nguyễn Huệ Chi

Phải trở dậy lúc 4 giờ sáng đối với tôi là cả một cực hình, nhất là mấy hôm nay lại trở chứng, rối loạn tiền đình làm chóng quay cả mặt, nhưng việc anh em mời đi thăm Cù Huy Hà Vũ khiến tôi không còn cách nào khác là vừa nghe chuông đổ đã phải vin thành giường đứng dậy. Dù cảm thấy trời xoay nghiêng ngả vẫn cứ phải bật cười nhớ đến Phùng Quán: “Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”. Đúng là mình không biết vịn vào thơ nên mới xoay tít mù như thế này đây.

Đúng 5 giờ kém 15, người bạn thân, Thượng tá C. quân phục oai nghiêm, đã có mặt trước cổng nhà. Tiếp ngay đó, bạn Lê Dũng bấm chuông: xe anh đã sẵn sàng đón tôi. Chúng tôi lên xe trong cái lạnh tinh mơ của Hà Nội nên nhà tôi cố nhét thêm cho anh C. một chiếc khăn quàng len vì thấy bộ quân phục của anh tuy trông rất oách nhưng lại quá mỏng. Đường Hà Nội lúc này mới thật là Hà Nội lý tưởng của 60 năm về trước, trên đường chỉ lác đác vài bóng người. Hình như đây cũng là giấc mơ không có thật của ông Bộ trưởng Đinh La Thăng, một Hà Nội sạch sẽ tinh tươm và không phải lèn nhau như nêm cối. Biết đâu ông ấy chẳng ra lệnh đổi ngày làm đêm để làm cho biện pháp điều chỉnh giao thông của mình đích thực có hiệu quả? – Hình như cả mấy chúng tôi nhìn lướt trên con đường chưa rõ mặt người đều có ý nghĩ vậy thì phải.

Khi đến chỗ hẹn thì chỉ mới lố nhố dăm bảy anh chị em, nhưng chỉ loáng cái cả năm chiếc xe và người đều đến đầy đủ. Đúng 20 người, toàn những mặt quen, trừ vài ông đầu bạc ra còn thì đều là Tiến sĩ trong một vài viện nghiên cứu, hoặc Kỹ sư đang thành đạt trong vai doanh nhân, lại có cả một “biểu tình viên” ba tuổi mẹ từng ẵm đi biểu tình tại Hồ Gươm chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải nay cũng có mặt, vừa nhìn thấy các cô chú đã nhoẻn cười như gặp lại bạn bè thân quen. Ai nấy vui như hội vì biết rằng mình đang thực hiện cái nghĩa vụ tình cảm lâu nay vẫn canh cánh là làm sao có một lần được tháp tùng Dương Hà vào thăm bạn Hà Vũ mà có người chỉ mới “văn kỳ thanh” chứ đã một lần xáp mặt nào đâu. Nhưng dầu gặp hay chưa thì kể từ khi chàng phải giã biệt Hà thành khoác chiếc áo phạm nhân, những lá đơn kiện nẩy lửa gửi lên các cấp cũng vắng bặt trên báo chí và các trang mạng khiến hình như ai cũng thấy thiêu thiếu một cái gì.

Tất cả lên xe sau khi đã trao đổi đường đi và các chú tài cứ thế theo ngả Xuân Mai phóng tít để đi vào con đường Hồ Chí Minh với đích đến đầu tiên là thị trấn Cẩm Thủy Thanh Hóa. Xe chạy ngon quá làm tôi tưởng mình thiếp đi và khi tỉnh dậy thì ô kìa đây rồi, đã đến thị trấn Cẩm Thủy, kỳ thực có ngủ được chút nào đâu, bởi có mấy chiếc áo vàng công an đứng đếm tốc độ bên đường tôi đều nhìn rõ. Vượt cầu Cẩm Thủy mươi km, đã nhìn thấy tấm biển chỉ Trại giam số 15 rẽ trái, và vượt một quãng đường 30 km nữa, hơi khó đi và mù mịt bụi, đến giữa một vùng núi đá vôi thuộc huyện Yên Định, rẽ phải, lại rẽ trái, đúng 10 giờ thì chúng tôi đã ở ngay trước mặt chiếc cổng K5: Cù Huy Hà Vũ ở trong khu trại này, gần chúng tôi lắm lắm rồi.


Khu Trại giam 15 nằm giữa một vùng núi đá vôi ở huyện Yên Định Thanh Hóa
Cả mấy chiếc xe đều lấm láp bụi đường
Và người cũng phải nhắm tịt mắt lại, nhưng thế là đã đến đíchĐương nhiên là như mọi người dự đoán, chỉ một mình Dương Hà được vào theo chế độ thăm nuôi cùng với một chiếc xe chở số lượng thực phẩm đúng quy định. Anh lái xe cho Dương Hà đang đứng nghỉ, nghe người lính gác cổng truyền rõ thế bèn chuẩn bị lên buồng lái chở Hà vào khi hai cánh cổng vừa mở, thì nhanh như cắt bạn J.B. Nguyễn Hữu Vinh đã nhảy tót lên lái thay. Anh kia ớ người ra trong khi anh em cười ồ. Thôi thì được người nào vào hay người ấy. Chúng tôi nhìn chiếc xe đi tít sâu vào phía trong và hai cánh cổng đóng lại mà lòng ngẩn ngơ buồn tiếc. Dù mục đích chuyến đi là để cho Vũ ở trong kia biết có anh chị em đông đảo đến thăm để anh phấn chấn hơn trong việc chống chọi với mọi khó khăn của kẻ “Một ngày tù nghìn thu ở ngoài”, yên tâm chờ ngày trở về với vợ con bầu bạn, nhưng đến đây rồi mà không được vào thì ai mà không cảm thấy hụt hẫng.


Sau khi xe Dương Hà đi vào, hai canh cửa sắt cổng K5 Trại giam 15 lại đóng lại làm ai nấy ngẩn ngơ buồn tiếcMọi người đành lấy bánh mỳ giò chả và mấy chai nước ra cùng nhấm nháp, bởi từ sáng dậy sớm chưa ai có trong bụng một tí gì. Đang ăn, tôi bỗng nghe điện thoại reo. Dương Hà gọi ra khuyến khích tôi lấy tư cách một người nhiều tuổi vào tán anh bộ đội gác cổng đề nghị cho gặp ông Giám thị để xin cho mọi người cùng vào. Tôi làm ngay tắp lự. Anh lính gác nói với tôi với giọng nhã nhặn, rằng việc đó rất khó vì vượt nguyên tắc, mà chúng tôi lại không có một giấy giới thiệu của tổ chức nào cả. Tôi ngẫm nghĩ một tí, trở ra ghé tai bảo Thượng tá C. vào tiếp sức. Quả nhiên, C. đã thành công. Bằng kinh nghiệm của một Thượng tá lâu năm, anh được anh lính gác rất nể đưa cho số điện thoại của cả Giám thị Tuyến và Phó giám thị Sáu. Lại bằng cái giọng thân mật của cánh lính với nhau, anh mời được anh Phó giám thị Sáu ra tiếp chúng tôi. Thế mới giỏi làm sao!

Một người còn khá trẻ gầy và cao, khuôn mặt điềm đạm từ xa đi lại. Trước những lời trình bày chân tình của chúng tôi anh ta cũng đáp lại bằng giọng nhẹ nhàng từ tốn và có vẻ cởi mở. Còn C. thì không úp mở, không cần xưng anh tôi, gọi thẳng tên ngay: “Sáu à…”. Nhưng anh Sáu này vẫn nghiêm trang nói cho biết, chúng tôi không được vào là luật định, vì không có ai ở trong danh sách thăm nuôi đăng ký định kỳ của trại cả. Thế thì vào sao được. Tuy nhiên, khi thấy giọng của C. đúng giọng “cánh lính mình” quá, lại thấy trên khuôn mặt mọi người đều thuỗn ra cùng một dấu hỏi của sự chờ đợi một “biệt lệ” nào đấy, anh ta bèn thong thả nói thêm: “Thôi thì các bác đã đến đây… chỉ có đồng chí Giám thị mới quyết định được việc này. Các bác cứ ghi rõ tên họ, trình chứng minh thư, để tôi cầm vào xem thế nào…” Được lời như mở cờ, người nào người ấy đến ghi tên lên một mảnh giấy thành một danh sách dài, riêng tôi ngồi yên không nhúc nhích, bởi đã có C. ghi thay cho mình. Khi bước ra, anh chị em tề tựu trước căn phòng xét giấy tờ của người canh cổng, bảo anh Sáu chụp chung một “bô” ảnh làm kỷ niệm, anh ta ngần ngừ một tí, cười nhưng rồi lắc đầu. Chỉ có người lính gác là hồn nhiên chơi với cháu nhỏ và đi vào khuôn ảnh của chúng tôi.

clip_image010_thumb1.jpg
Chỉ có người lính gác là hồn nhiên chơi với cháu bé và vào khuôn ảnh của chúng tôiclip_image012_thumb1.jpg
Có chữ “Trại giam số 5” trên đầu mình là một kỷ niệm quý giá đấyChỉ chừng mươi phút sau đã có điện gọi ra: ông Giám thị từ chối! Từ trong thâm tâm tôi đã nghĩ đến điều ấy. Danh sách kia hoặc vì anh Phó giám thị nể quá, hoặc cũng có thể là tương kế tựu kế để giúp ngành an ninh biết rõ ai đã dám đến đây “vuốt râu hùm”, biết đâu! Nhưng chúng tôi cười xòa với nhau: Thì mình cũng muốn cho họ biết kia mà, mình đăng hết lên mạng còn sợ quái gì nữa. Tôi chỉ hơi so sánh thoáng qua: Hồi còn mồ ma thực dân Pháp bà Tôn nữ Thị Cơ đã đến thăm nuôi GS Cao Xuân Huy tại Lao Bảo vào năm 1930 mà lúc ấy họ chỉ mới là quen sơ chứ đã có chuyện gì với nhau đâu, bà con cũng chẳng phải. Thế mà vẫn được thăm mới lạ chứ. Nhưng nghĩ thoáng qua thôi, bới đấy là thời Pháp. Thời bây giờ dân chủ gấp triệu lần, vì thế mà chỉ đi thăm cô Bùi Minh Hằng vẫn còn đủ quyền công dân còn không được gặp, huống nữa là thăm một anh chàng phản động đứt đuôi vì… hai bao cao su đã qua sử dụng như Cù Huy Hà Vũ! Vậy thì so sánh làm gì cho mệt người.

Một tiếng sau thì chiếc xe chở Dương Hà quay ra. Mọi người tíu tít quây lại. Người vừa được chồng ôm hôn có khác, nét mặt rạng rỡ hẳn làm ai nấy cũng vui lây, nhưng điều vui thích nhất là sự có mặt của chúng tôi đã truyền niềm vui và nghị lực cho chính Cù Huy Hà Vũ, theo lời Dương Hà. Vũ không ngờ lại có đông người ở ngoài cổng trại đến thế. Ai cũng biết rằng đấy là Hà hạn chế báo tin đấy, còn nếu báo rộng hơn, có thể đã có đến vài trăm người. Bởi vì ai mà không mong muốn được tiếp thêm một chút nội lực của mình cho Vũ có thêm vài đêm ngon giấc, và nhất là ai cũng đinh ninh trong bụng câu nói của Vũ: “Tôi là người trung thành với Tổ quốc. Nhân dân cả nước sẽ phá án cho tôi”.

Trên đường về, tôi có một băn khoăn thắc mắc cứ muốn đem hỏi Dương Hà mà thấy chưa tiện nên ngồi trên xe mặt cứ bần thần. Mãi đến chỗ ngã ba trước thị trấn Cẩm Thủy, cả 5 xe cùng dừng lại, mang xách bánh mỳ giò chả vào quán ăn trưa, nhân thể, Hà đứng yên một góc, giở túi lấy ra hai tấm ảnh Vũ vừa vẽ chân dung Hà và tự họa chân dung mình ấp lên ngực, mặt đăm đăm có vẻ đang tư lự, tôi mới đến gần hỏi nhỏ: “Thế chế độ thăm nuôi được có mỗi tháng một tiếng đồng hồ thôi ư?”

clip_image014_thumb3.jpg
Dương Hà với hai tấm ảnh quý chồng vừa tặngHà quay nhìn tôi lâu lâu một chút rồi mới nói: “Anh ạ, mọi tù nhân khác thì đều được hưởng chế độ thăm nuôi không quá 24 giờ mỗi lần, riêng Vũ nhà em có lệnh cấm, chỉ được thăm có một tiếng thôi, mà luôn luôn có giám thị chứng kiến”. “Ôi thế a?” – tiếng kêu cùng lúc bật ra của nhiều người, và tiếng bàn tán xôn xao. Riêng tôi, cứ đuổi theo cái ý nghĩ vốn đã hình thành trên suốt chặng đường về: Cái kẻ nào đưa ra “điều lệnh” này thật là quá giỏi, bởi vì đây mới đúng là để trị cái tội… hai bao cao su đã qua sử dụng. Rồi như một kẻ vô thức, vừa đi ra phòng toa lét tôi vừa buột thốt thành lời câu văn của Nam Cao: “Tài thật! Tài thật Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo!”

N.H.C

Posted in Tù Chính Trị, Trại Tù, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường

Posted by hoangtran204 on 24/02/2012

Trích:

    “Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, “đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và đề ra phương hướng để tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp. Sau đó, ông và gia đình bị cô lập với xã hội chung quanh, bản thân ông không được làm bất cứ nghề gì để kiếm tiền. Gia đình ông đã sống lây lất trong nghèo đói trong nhiều năm dài nhờ vào tiền bán dần mọi thứ trong nhà và nhờ sự giúp đỡ dấu diếm của bạn bè, thân hữu.” Ông bị vùi dập cho tới ngày ông qua đời 1997 tại Hà Nội.

Năm 2012, thầy giáo Đinh Đăng Định cũng đang bị bắt cầm tù và đang bị công an giam giữ và hỏi cung ở Tỉnh Dak Nông.  Lý do thầy Định bị bắt cũng không khác gì với trường hợp của luật sư Nguyễn Mạnh Tường.

Ai nói tới đảng, dù là lên tiếng một cách ôn hòa, cũng đều bị tù. Có người  vừa mới  trở về và đang bị quản chế như các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Huỳnh Nguyên Đạo, bác sĩ Lê Nguyên Sang, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, tiến sĩ Hà Sĩ Phu…Và có những người còn đang ở trong tù như các anh Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, luật sư Cù Huy Hà Vũ…

Vậy là 56 năm trôi qua, quyền tự do ngôn luận và các thứ quyền cơ bản khác vẫn còn tiếp tục bị đảng khống chế và không cho ai nói gì trái ý đảng.

 

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường

Trịnh Bình An

Nguyễn Mạnh Tường là một người nổi tiếng trong giới luật sư nói riêng, giới trí thức Việt Nam nói chung; nhưng vẫn có rất nhiều người không biết đến ông, trong đó có tôi. Và tôi đang có trong tay quyển sách “Kẻ bị khai trừ”(i) của Nguyễn Mạnh Tường do Tủ Sách Tiếng Quê Hương mới xuất bản, vậy mà tôi thấy mình rất ngần ngừ, rất ì ạch, không muốn giở ra đọc. Tôi không muốn mình phải đau lòng và bực tức thêm vì thấy một người học vị đầy mình lại đi theo cộng sản để rồi bị chính cộng sản đầy đọa.

Thế nhưng tay tôi vẫn lật qua mấy trang. Và một dòng chữ ập vào mắt tôi, đó là lời giới thiệu của chính Nguyễn Mạnh Tường, Bản thảo của cuốn sách này đã được soạn và đánh máy trong một tình thế lén lút và bị cô lập…

Một cuốn sách của một luật sư nổi tiếng bậc thầy, được viết trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, vậy mà tôi, tôi chỉ bỏ ra ít thì giờ nhàn nhã để đọc, thế mà đã nhăn nhó hay sao?

Vâng tôi sẽ đọc, và tôi sẽ hỏi ông Tường cho ra ngô ra khoai, rằng tại sao ông là người giỏi giang cỡ ấy lại cắm đầu chui vào cái rọ Cộng Sản để bị chúng lợi dụng chán chê mê mỏi rồi vứt vào xọt rác không thương tiếc. Mấy năm trước, Đảng còn bày đặt mừng sinh nhật 100 tuổi (!) của ông nhưng thực chất chỉ muốn ra cái điều Đảng cũng biết sửa sai (1).

Nguyễn Mạnh Tường
Nguồn ảnh: OntheNet


Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội. Ông theo học trường Albert Sarraut và đỗ tú tài năm 16 tuổi. Sau đó du học tại Đại Học Montpellier ở miền nam nước Pháp năm 1927. Khi mới 22 tuổi ông trở thành người Việt đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp: Ưu hạng Luật khoa và Tiến sĩ Quốc gia Văn chương (ii).

Trở về Việt Nam năm 1936, Nguyễn Mạnh Tường dạy văn học Pháp ở trường Trung học Bảo hộ. Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp, ông làm luật sư, dạy học tại Thanh Hóa. Ông tham gia phái đoàn chính phủ dự Hội nghị Trừ bị Đà Lạt năm 1946, dự các Hội Nghị Hòa Bình Thế Giới ở Bắc Kinh và Wien năm 1952. Sau năm 1954, ông từng giữ những chức vụ quan trọng như trưởng khoa Đại Học Luật Hà Nội, phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, chủ tịch Đoàn Luật Sư, phó trưởng khoa Đại Học Sư Phạm Hà Nội, thành viên Uỷ Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, và sáng lập viên Câu Lạc Bộ Đoàn Kết.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, đã đọc một bài diễn văn tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” và đề ra phương hướng để tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp. Sau đó, ông và gia đình bị cô lập với xã hội chung quanh, bản thân ông không được làm bất cứ nghề gì để kiếm tiền. Gia đình ông đã sống lây lất trong nghèo đói trong nhiều năm dài nhờ vào tiền bán dần mọi thứ trong nhà và nhờ sự giúp đỡ dấu diếm của bạn bè, thân hữu.

Nguyễn Mạnh Tường mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi.

Bìa Hồi Ký của Nguyễn Mạnh Tường
Nguồn ảnh: OntheNet


“Kẻ bị khai trừ” được viết bằng tiếng Pháp – Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel – do Nguyễn Quốc Vĩ dịch sang tiếng Việt, tựa là “Kẻ Bị Rút Phép Thông Công”. Thuật ngữ “rút phép thông công” hay “vạ tuyệt thông” nói tới một kỷ luật nặng nề nhất trong Giáo hội Thiên Chúa Giáo khi một người bị cho là đã phạm trọng tội nên sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Giáo hội. Hiểu như thế thì ta sẽ thấy Nguyễn Mạnh Tường tự ví mình là một kẻ mắc tội trọng với Đảng Cộng Sản vì thế mà bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội.

“Kẻ bị khai trừ” gồm có ba chương: 1– Đến đỉnh vinh quang. 2 – Mỏm đá Tarpeinne. 3 – Hành trình đi vào sa mạc. Ba chương này tương ứng với 3 đoạn đời của Nguyễn Mạnh Tường: 1 – Được cưng chiều (và bị lợi dụng). 2 – Phản kháng và bị “đấu tố”. 3 – Bị cô lập và đày đọa.

Một trong những điểm đặc biệt của “văn” Nguyễn Mạnh Tường là mang nhiều điển tích Tây phương. Nếu đọc truyện Kiều mà không biết các điển tích Trung Hoa, ta sẽ rất khó hiểu hết ý nghĩa gởi gắm trong câu thơ; với Kẻ Bị Khai Trừ cũng thế, nếu một người không biết các điển tích cổ của phương Tây thì sẽ khó hiểu được trọn vẹn ý tác giả.

Như chữ “Mỏm đá Tarpeinne”. Roche Tarpéienne – tiếng Pháp, hay, Tarpeian Rock – tiếng Anh, là một vực núi đá vách dựng đứng tại nước Ý. Thời cổ La Mã, những ai bị kết án giết người, phản bội, làm chứng dối, và những nô lệ phạm tội ăn cắp, sẽ bị xử tử bằng cách ném từ trên mỏm Tarpéienne xuống vực sâu. Đây là một hình phạt nặng nề hơn bị treo cổ hay đốt trên dàn lửa vì kẻ bị ném xuống vực – và gia đình họ – đã bị coi là những kẻ đồi bại, đáng nguyền rủa nhất trong xã hội.

Khi hiểu được ý nghĩa của “Mỏm đá Tarpeinne” ta mới phần nào hình dung được cái bản án Đảng dành cho luật sư Nguyễn Mạnh Tường – người dám nghi ngờ sự lãnh đạo “anh minh” của Đảng. Thật ra Đảng đã sai lầm ngay từ đầu khi tưởng rằng có thể mua chuộc được Nguyễn Mạnh Tường bằng những thủ đoạn mua chuộc vuốt ve từng tỏ ra rất thành công với nhiều người khác.

Bìa Kẻ bị khai trừ
Nguồn ảnh: TQH


Năm 1956, Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ triệu tập đại hội tại thủ đô Bruxelles của Bỉ, nhà cầm quyền Bắc Việt tổ chức một đoàn đại diện đi tuyên truyền cho chính nghĩa của mình. Trong cương vị phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, Nguyễn Mạnh Tường được giao làm trưởng đoàn với nhiệm vụ là làm sao được hội nghị đưa ra nghị quyết ủng hộ dân tôc, quyền đấu tranh thống nhất đất nước. Luật sư Tường đã đọc một bản tham luận sắc bén, cháy bỏng lòng yêu nước và đã thuyết phục được hội nghị, đạt được thành quả mỹ mãn.

Thế nhưng cố gắng của Nguyễn Mạnh Tường không hề để phục vụ cho Đảng, ông chỉ làm vì lòng yêu nước, vì muốn đất nước được thống nhất để tránh một cuộc chiến nồi da xáo thịt. Còn mỗi khi có dịp, ông sẵn sàng phân tích những sự thật rung rợn về chế độ Cộng Sản. Như khi ghé thủ đô Prague, gặp các luật gia Tiệp Khắc, ông mô tả bản chất của chế độ này trong một câu ngắn nhưng trọn vẹn:

“Đây là một chế độ chuyên chế ở ba chiều không gian, một chế độ chuyên quyền gần như tuyệt đối, gian xảo nhất, cứng rắn nhất trên thế giới và trong lịch sử nhân loại. Dưới một chế độ như thế, quyền tự do là một lầm lẫn, một loại bệnh hoạn cần phải loại bỏ trong dân chúng. Vì vậy, không có bất cứ ngành nghề nào là nghề tự do.”
Nguyễn Mạnh Tường còn cảnh báo các đồng nghiệp biết rằng, trong các ngành nghề, Đảng ghét nhất là giới luật gia:

“Nếu Đảng áp dụng biện pháp khắt khe trên giới luật gia, trước hết vì họ là người trí thức và là đối tượng ghét hận của những kẻ chuyên quyền, vì luật gia là người có cái đầu để suy nghĩ và có cái miệng để nói, hai thuộc tính gây ác cảm nơi kẻ cầm quyền, làm phức tạp cho công việc và gây xáo trộn cho kế hoạch của họ. Hơn nữa, trong hàng ngũ trí thức, giới luật gia càng nổi trội với kiến thức về Luật, thông thạo, thường nắm vững các hội nghị, các cuộc phê bình, và hơn nữa, họ còn có ý thức về tư cách, danh dự và trách nhiệm. Họ tự mình đặt vào thế tương phản với con người máy khúm núm nịnh bợ những kẻ chuyên quyền.”
Điều Nguyễn Mạnh Tường nói quả không sai. Gần đây, giới luật sư là những người lên tiếng phản kháng mạnh mẽ nhất để chống lại những hành vi sai trái của Đảng. Các luật sự này được đào tạo dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa và không hề dính dáng tới chế độ “ngụy”, vậy mà họ vẫn ương ngạnh làm “phức tạp và xáo trộn” những kế hoạch do Đảng đề ra; đó là những Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật, Huỳnh Văn Đông, Lê Công Định, Trần Quốc Hiền,…

Rồi tới khi ghé qua Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa Cộng Sản, Nguyễn Mạnh Tường cũng gặp gỡ và trò chuyện với các luật gia nước này. Ông bảo thẳng với bạn rằng Đảng CS sẽ tự chuốc lấy kết quả bi thảm:

“Bi thảm là ở chỗ chính Đảng đã tự lừa dối, nghĩ rằng mình có thể đưa ra nhừng đường lối chính trị trẻ con phát xuất từ bệnh ấu trĩ, duy ý chí, chủ quan, vi phạm những định luật của khoa học, quay lưng lại với thực tiễn, những chính sách này sớm hay muộn cũng sẽ đưa đất nước vào sự nghèo túng và đưa nhân dân vào sự đau khổ. Bên cạnh đó, với niềm tin cho rằng mình là vô địch, Đảng nghĩ rằng mình có thể áp chế nhân dân, chơi đùa trên sinh mạng của họ, buông lơi pháp luật, hành động với sự tàn ác vô nhân tính như đã xảy ra trong đợt Cải Cách Ruộng Đất, một kỷ niệm đau buồn không bao giờ quên được trong tâm khảm của người dân.”
Điều Nguyễn Mạnh Tường nói cũng đã thành sự thật, chế độ Cộng Sản đã đưa mọi quốc gia đến chỗ tận cùng lụn bại, để rồi Nga và các nước Đông Âu đã tìm mọi cách gỡ bỏ cái chủ nghĩa ma quái ấy để tự cứu lấy chính mình.

Nếu như Nguyễn Mạnh Tường không kể lại những điều trên thì tới ngày nay người ta vẫn tưởng rằng ông Tường đã bị mờ mắt, bùi tai vì những chức tước và lời ca tụng của “Bác và Đảng” đã dành cho ông. Đảng nhìn lầm ông Tường chỉ vì họ tưởng ông cũng là loại như họ. Sự thật, Nguyễn Mạnh Tường là một người khác hẳn với họ, ông là người có học, có trí tuệ, và nhất là, có trái tim; vì thế ông không thể im lặng khi thấy đồng bào ông quằn quại dưới những nhát chém đẫm máu của cái-gọi-là Cải Cách Ruộng Đất.

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, luật sư Nguyễn Mạnh Tường tại một cuộc họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội đã đọc bài diễn văn có tựa đề “Qua những sai lầm trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo”.

Trong đó, Nguyễn Mạnh Tường chỉ rõ mọi tầng lớp nông dân, công nhân, tiểu thương, kể cả các cán bộ, đều phải chịu đau đớn cơ cực vì các cuộc đấu tố, xử giảo man rợ trong Cải Cách Ruộng Đất. Ông tin rằng pháp luật chân chính là phải theo nguyên tắc: “Thà 10 địch sót còn hơn 1 người bị kết án oan”. Cuối cùng, ông đề nghị phải xây dựng một chế độ pháp trị chân chính, thực sự dân chủ trong đó các cán bộ Đảng phải chiu trách nhiệm với việc mình làm, và mọi người dân được quyền lên tiếng.

Hẳn không quá khó cho chúng ta biết Đảng đã làm gì với những đề nghị ấy. Cho tới tận ngày nay, Đảng vẫn ôm quan điểm “Thà chết 10 người oan còn hơn để sót 1 địch” vì đó là sức mạnh cốt lõi của chế độ. Kết quả, Đảng ném những đề nghị của ông Tường vào sọt rác và ném cái người dám nói những lời lẽ “phản động” ấy xuống vực Tarpéienne bằng cách đưa Nguyễn Mạnh Tường ra kiểm điểm công khai hòng bêu xấu ông, hạ gục ông trước mặt mọi người.

Nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược, đám đông đứng nghe như nuốt từng lời của vị lưỡng quốc luật sư tài giỏi và can trường. Đó là điều cực kỳ nguy hiểm cho sự tồn vong của chế độ. Cuối cùng, để trả thù nhưng không muốn đánh động dư luận, Đảng thi hành cái kế hèn hạ nhất, độc địa nhất mà chỉ có họ mới đủ ác để nghĩ ra: cho Nguyễn Mạnh Tường và gia đình được sống, nhưng đó là cái sống tệ hơn cái chết gấp trăm lần, cái sống mà không ai dám đến gần như thể họ là những kẻ cùi hủi, cái sống mà thân xác lúc nào cũng quằn quại đớn đau vì… đói.

Tới đây, hẳn có người sẽ bảo ông Tường biết Cộng Sản nó gian nó ác, nó ngu dốt, nó cứng đầu mà còn muốn sửa sai nó, thế thì tự chuốc họa vào thân là đúng rồi.

Tôi cũng đã từng nghĩ như thế, nhưng sau khi đọc những điều ông viết tôi chợt nhận ra rằng Nguyễn Mạnh Tường là một người có những khả năng kỳ lạ, một trong những khả năng ấy là ông có thể tự tách mình ra khỏi chính mình để quay lại nhìn mình. Trong ông là 2 con người: một người bình thường biết sợ, biết đau, biết đói, nhưng người kia lại rất bình thản, ung dung để có thể ngắm nghía và ghi nhận mọi sự kiện, ngay cả nỗi đau đớn của chính mình. Ta hãy xem thái độ của Nguyễn Mạnh Tường trước một buổi “kiểm điểm – xử án” mà ông gọi là màn “đấu bò” mà ông là chính con bò bị đẩy ra giữa đấu trường:

“Cho đến hôm nay tôi đã phải trải qua những thử thách không ai có thể nghĩ tới. Trong tình thế đó, tôi có thể lượng sức chịu đựng của mịnh và sự tò mò đã giúp tôi vượt qua nỗi ức chế. Bất chấp các “đồng sự” đang lay động tấm vải đỏ trước mắt, chính tôi là kẻ tấn công!”
Chính nhờ khả năng “tách mình làm đôi” ấy nên trong những lúc cùng quẫn nhất, ông vẫn tìm ra lối thoát cho mình; dù phải một mình đối đầu với kẻ địch to lớn nhất, ông vẫn giữ vẹn con người của mình.

“Và ngày nay, đối diện với người Cộng Sản, người ta phải sống với thái độ nào để giữ được con người thực và chân chính của mình?

Tôi, tôi tự thu mình vào cuộc sống nội tâm, bày biện và vui với nó. Phải tách góc nhà đó (nội tâm) khỏi cộng đồng vợ chồng, kể cả con cái, kể cả người dưng. Từ đài quan sát đó, nơi mà mình tự quan sát lấy mình, chúng ta có thể làm khán giả nhìn cuộc đời người khác để rồi tự đánh giá và điều chỉnh bản thân.”

Cái mà Nguyễn Mạnh Tường gọi là “sự tò mò” phải chăng là cái cốt lõi nhất của một người làm khoa học, đó là lòng muốn biết, biết tới cái tận cùng của sự việc. Sự hiểu biết của nhà khoa học còn phải được chứng thực bằng thử nghiệm, do đó, nếu Nguyễn Mạnh Tường không thử hết các cách có thể làm được thì hẳn ông sẽ không thể cam lòng. Vì thế dù biết Đảng ghét và sợ bị phê bình và sẵn sàng khủng bố kẻ nào dám phê bình thì Nguyễn Mạnh Tường cũng vẫn phải thử.

Nhiều người sống dưới chế độ Cộng Sản không dám thử kiểu ông Tường nên họ được sống yên tới già tới chết theo cái kiểu của Nguyễn Tuân “Tôi tồn tại được vì tôi biết sợ”. Nhưng, nghĩ lại mà coi, Nguyễn Mạnh Tường vẫn “tồn tại” tới cái tuổi cổ lai hy đó thôi. Cuối cùng, Đảng chẳng giết nổi ông. Nguyễn Mạnh Tường vẫn sống nhờ có sự giúp đỡ của những người chung quanh.

“Và khi chúng tôi cạn kiệt tiền bạc thì tấm lòng hào hiệp của các người bạn ở trong nước hay ở nước ngoài ném cho những chiếc phao cứu hộ giúp chúng tôi nổi trên mặt nước thay vì phải chìm đến tận đáy sâu của hư không (…) Họ là những kẻ không tên, không biết mặt nhưng không thiếu thận trọng đã sáng tạo ra nhiều phương cách tài tình chế nhạo những kẻ cầm quyền trên thế giới, bất kể cái hung tàn đần độn và cái cảnh giác gay gắt của chúng. Họ đã chung tay làm nên một mặt trận không chính thức nhưng năng động, mặt trận của lòng trắc ẩn và sự tử tế, đưa bàn tay cứu giúp đến các nạn nhân của độc tài khát máu.”
Hoặc nhờ những tấm lòng của người chung quanh, hoặc vì chính tấm lòng của Nguyễn Mạnh Tường quá lớn, hoặc vì cả hai, nên dù phải chịu sự tra tấn ác độc của kẻ thù, ông vẫn không hề đem lòng oán hận.

“Tất cả kẻ thù của chủ nghĩa Cộng Sản đang chờ tôi trút cơn giận điên người lên chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi là nạn nhân. Nhưng xin mọi người hãy tha thứ cho tôi: tôi chọn thái độ của một triết gia: chỉ tìm hiểu chứ không xử án. Hiểu biết đòi hỏi mình phải tìm hiểu dưới mọi khía cạnh và dưới hai phía: mặt ưu và mặt khuyết, mặt trái và mặt phải của trang giấy, sự tốt và sự xấu. Nó sẽ dẫn đến sự công bằng, và người trí thức chỉ muốn điều đúng đắn.”
Tất cả những điều Nguyễn Mạnh Tường viết về chủ nghĩa Cộng Sản, về Đảng Cộng Sản không là sự trả thù, đó chỉ là sự chiến đấu của một trí thức chống lại cái ngu, cái ác.

“Cuộc chiến đấu của trí thức chống lại thứ độc tài mù quáng và vô nhân đạo bởi kẻ độc tài đã ra tay đày đọa người trí thức. Một trí thức, với cái liêm chính của con người và cái minh mẫn của tinh thần, là người lính chống lại kẻ áp chế chuyên lặp đi lặp lại các lời hứa hão huyền và sự bất lực đã phải cầu cứu đến sức mạnh của công an để giữ vững ngai vàng.”
Cái đày đọa Nguyễn Mạnh Tường nhất, thật ra, không phải là cái khổ, cái đói, mà là ông không còn cơ hội truyền đạt kiến thức của mình cho các thế hệ đàn em. Đảng không chỉ tước đoạt quyền làm người, Đảng còn xé nát cả mơ ước được xây dựng đất nước của một người. Nhưng Đảng không toàn thắng như Đảng thường rêu rao, Đảng thua vì Nguyễn Mạnh Tường không chịu thua. Hơn 20 năm bị cô lập trong đói khổ, Nguyễn Mạnh Tường không ngừng viết. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm như một hiến dâng cho đất nước và dân tộc.(2)

Vậy là, qua từng trang giấy, lần lượt Nguyễn Mạnh Tường đã trả lời đầy đủ cho tôi mọi câu hỏi. Nguyễn Mạnh Tường không ngu, cũng không dại, ông biết kẻ thù là ai, ông cũng biết số phận của mình rồi sẽ như thế nào. Sở dĩ Nguyễn Mạnh Tường làm những điều ông đã làm vì Nguyễn Mạnh Tường thà chọn cái khổ, cái chết hơn cái nhục, và cái nhục ở đây không là do kẻ khác gán lên mình, cái nhục nhã nhất là làm trái với lương tâm và rồi mình sẽ phải tự khinh bỉ chính mình. Nguyễn Mạnh Tường thà làm kẻ bị Đảng khai trừ nhưng không thể làm kẻ bị lương tâm nguyền rủa.

Có thể xem “Kẻ bị khai trừ” là một tự truyện đau đớn và bi thảm của một con người yêu nước, tài hoa, nhưng bất hạnh; nhưng cũng có thể xem “Kẻ bị khai trừ” là một trường ca hào hùng của con người không khuất phục trước cái Ác, để rồi trong tận cùng đau khổ, người đó đã tìm ra chân lý đích thực cho chính mình.

“Từ 1958 tới nay, gần bốn mươi năm hiện hữu, tôi đã sống qua những thử thách tồi tệ nhất mà người ta có thể gán cho một trí thức, một con người. Đó lại là những năm tuyệt vời mà tôi biết được. Tôi như được thăng hoa, sung sướng là đã thắng mọi nghịch cảnh mà người ta đưa ra để chặn đường sống của tôi, đã thể hiện cách sinh hoạt của mình hướng theo sở thích, theo chọn lựa và cống hiến khả năng khiêm nhường cho dân tộc. Ý chí của tôi đã thắng tâm địa độc ác, đồi bại của những kẻ thề hạ gục tôi. Nhưng tôi vẫn tha thứ cho họ bằng cách lặp lại câu nói bất hủ: “Chúng không biết chúng đang làm gì!”. Người ta sẽ quên đi Cinna, và sẽ nhớ mãi August với lòng khoan dung quảng đại” (3)

DCVOnline

(i) Bản dịch sang tiếng Việt của Nguyễn Quốc Vĩ cuốn Un Excommunié. Hanoi: 1954-1991: Procès d’un intellectuel của Nguyễn Mạnh Tường đăng nhiều kỳ trên tạp chí Thông Luận với tựa đề Kẻ bị rút phép thông công. Hà Nội 1954-1991: Bản án cho một trí thức

Lời người dịch

Cuốn tự truyện Kẻ bị rút phép thông công được cụ Nguyễn Mạnh Tường hoàn tất năm 1991 viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Anh năm 2008(*).
[…]
Người dịch: Nguyễn Quốc Vĩ
Paris ngày 23 tháng 11 năm 2009

© Thông Luận 2009

(*) Bản dịch tiếng Anh của Gs. Phó Bá Long hoàn tất năm 2008, nhưng hiện chưa ấn hành và phổ biến rộng.

(ii) – Nguyen Manh Tuong, L’Annam dans la littérature française. Jules Boissière (1863-1897). Thèse complémentaire pour le doctorat ès lettres. Université de Montpellier. Faculté des lettres. Impr. de Mari Lavit, 1932 – 226 pages.
– Nguyen Manh Tuong, L’Individu dans la vieille cité Annamite. Thèse pour le doctorat en droit. Université de Montpellier. [The Individual in the Old Annamese Society. (Trad. RAF.)] Édition: Montpellier: Impr. de la Presse, 1932 – 411 pages.

(iii) Nguồn của tất cả các trích dẫn về/của Nguyễn Mạnh Tường (trong block quote) trong bài đều trong cuốn Kẻ bị khai trừ. (Tiếng Quê Hương, 2011).

Chú thích của tác giả
(1). Như trong bài “Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường” của Nguyễn Văn Hoàn (2009) nhân sinh nhật 100 năm (!?) của Nguyễn Mạnh Tường, đã cố tình lờ đi nhừng cuộc luân phiên đấu tố và những năm tháng bị bỏ đói mà ông đã phải chịu đựng, thay vào đó chỉ là câu trả lời phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Tường “Đi Hội nghị về, Nguyễn Hữu Đang đến phỏng vấn, rồi viết bài đăng lên báo Nhân văn. Tôi như thành một người “phạm pháp quả tang”, bị sa thải khỏi Đại học và không được hành nghề Luật sư nữa.”
(2). Nguyễn Mạnh Tường để lại khoảng hơn 20 tác phẩm như: Nền tảng Pháp, Kinh nghiệm Địa Trung Hải, Kinh nghiệm và nước mắt tuổi trẻ, Những chủ thuyết về Giáo Dục của Âu Châu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, Eschyle và bi kich của Hy Lạp, Bản dịch tiếng việt của tác phẩm Oresteia của Eschyle, với một chương nghiên cứu dùng như lời giới thiệu, Virgile và sử thi Hy Lạp, Tình yêu vợ chồng dưới chế độ cộng sản, Bi kịch di dân, Tiểu thuyết về Việt Nam 1950-1990, v.v. Một số viết bằng tiếng Pháp chưa được dịch và in ra tiếng Việt.
(3). – Câu “Chúng không biết chúng đang làm gì!” là viết tắt của câu “Lạy Cha, xin tha tội cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”, là lời khấn nguyện của Đức Jesus khi Người đang chịu nạn trên thập giá (Phúc âm Lu-ca 23: 34).
– Cinna và August là hai nhân vật trong vở kịch Cinna ou la Clémence d’Auguste (Cinna, hay sự ân xá của đại đế Augustus). Cinna nghe lời người yêu là Émilie nên rắp tâm mưu sát vua để trả thù cho cha của Émilie bị vua giết tội. Mặc dấu mưu đồ bị lộ, Cinna và Émilie không bị trị tội mà được vua August ân xá và ban chức tước.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

Cưỡng chế đất ở Campuchia: dân làng bắt giữ con tin

Posted by hoangtran204 on 24/02/2012

Nguồn: Tep Nilmol – The Phnom Penh Post

  Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

Lời người dịch: Qua bản tin ngắn này từ nước láng giềng, ta không khỏi so sánh với sự kiện Đoàn Văn Vươn tại Việt Nam, từ việc hành xử của chính quyền địa phương cho đến cách giải quyết vấn đề của hai bên. Nó cũng khiến ta lưu ý đến cách đưa tin khách quan, tìm hiểu hai mặt của vấn đề của phóng viên tờ Phnom Penh Post so với một số tờ báo trong nước khi vụ Tiên Lãng vừa xảy ra.

23.02.2012

Việc giải toả đất ở đồn điền cao su Ratanakkiri đã bị đình chỉ sau khi hơn 300 người dân tộc thiểu số làng Tumpoun bắt giữ bốn nhân viên bảo vệ và một viên chức của công ty, trói họ lại và giữ làm con tin vào hôm thứ Ba, các quan chức của công ty cho biết vào hôm qua.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Jing Zhong Ri Cambodia đã được huyện Lumphat cho phép hợp đồng sang nhượng 9 nghìn hecta “khu vực sử dụng lâu dài” Ratanakkiri trong vòng 70 năm vào tháng Năm và vừa qua đã bắt đầu khai quang khu vực này.

Những người dân làng Tumpoun nói rằng công ty này không có quyền san bằng ruộng đất của họ.

Sáng thứ Ba, họ đã phát động một cuộc tấn công vào khuôn viên công ty JZR, phá tan một máy ủi và một chiếc xe khác trước khi tiến vào văn phòng môi trường của công ty, cảnh sát trưởng huyện Lumphat là Suoy Phay nói với phóng viên tờ Post.

Đại diện dân làng là Tuy Nheb nói rằng khi người dân tiến tới, một nhân viên môi trường và các bảo vệ đã bắn chỉ thiên và dùng súng đe doạ họ.

Thay vì giải tán, những người dân làng trang bị gậy gộc, dao vào liềm, đã xáp vào nhân viên môi trường và các nhân viên bảo vệ, bắt giữ cả năm người vào 10 giờ sáng, các dân làng và chính quyền cho biết.

Souy Phay nói rằng dân làng đã bắt giữ năm nhân viên của công ty tại một ngôi nhà công cộng và trói tay họ lại, giữ làm con tin.

Những người dân tộc thiểu số trong làng sau đó đã phá tan văn phòng của nhân viên môi trường và yêu cầu công ty phải chấm dứt san bằng đất ruộng của họ ngay lập tức.

“Các nhân viên công ty cuối cùng đã được trả tự do khoảng vào giữa trưa hôm thứ Ba sau cuộc hoà giải thành công giữa dân làng và chính quyền địa phương,” Suoy Phay nói.

“Việc dân làng tự ý bắt giữ các viên chức công cộng là bất hợp pháp , vì không có phán quyết của toà, và hành động này được xem là bắt người bất hợp pháp,” ông nói.

Hai nhân viên bảo vệ bị bắt giữ cũng là nhân viên cảnh sát địa phương bán thời gian và hai người kia là lính bán thời gian của Quân đội Hoàng gia Cambodia.

Đến khi bài báo được đăng, toà án địa phương vẫn chưa đưa ra trát đòi bắt giữ bất kỳ người dân làng nào và không một người dân làng hoặc những nhân viên bị bắt làm con tin cũng như công ty đã chính thức đệ đơn kiến nghị với chính quyền.

Nhân viên quản lý của công ty là Chlay Em đã nói với tờ Post ngày hôm qua rằng việc đình chỉ quá trình san bằng khu đất được chuyển nhượng cho công ty sẽ được giữ nguyên cho đến khi chính quyền địa phương và dân làng đạt được một giải pháp nhằm tránh thêm bạo lực.

“Người dân làng quá dại dột, vì công ty này đầu tư nhằm tăng cường phát triển đất nước,” Chhay Em nói.

“Bất kỳ sự phá huỷ nào đối với tài sản công ty cũng là sự phá huỷ đất nước họ, và những gì chúng tôi làm đều theo đúng luật lệ.”

Đại diện làng Tumpoun là Tuy Nheb nói rằng việc bắt giữ là một hành động tuyệt vọng nhằm ngăn chặn công ty san bằng đất của họ và để trả đũa khi họ bị nổ súng đe doạ.

“Dân làng chỉ muốn bảo vệ đất của mình, việc này không phải là bất hợp pháp,” Tuy Nheb nói.

Pen Bunna, điều phối viên của tổ chức nhân quyền Adhoc nói rằng công ty chưa có giấy phép san bằng đất san nhượng và chỉ được chính quyền cho phép tiến hành một nghiên cứu đầu tư.

“Giải pháp chỉ có được sau khi dân làng bạo loạn, và nó tạo ra một tấm gương tốt cho tất cả các cộng đồng khác để phản đối sau khi ước nguyện của họ bị chính quyền địa phương cũng như cơ quan lập pháp phớt lờ,” Pen Bunna nói.

“Vì thế, tôi đề nghị chính quyền nên giải quyết vấn đề này càng sớm càng tốt.”

Thảo luận

Posted in Cướp Đất Đai, Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

“Đinh Đăng Định – kẻ phản quốc, hại dân” – hay báo Công An ĐN viết sai sự thật

Posted by hoangtran204 on 23/02/2012

Lời tựa:  Trong khi đọc bài báo có tựa đề: “Đinh Đăng Định – kẻ phản quốc, hại dân” đăng trên tờ Công An Đà Nẵng, tôi nhìn thấy hình ảnh thấy giáo Đinh Đăng Định.  Gương mặt thầy vui vẻ,  nét mặt đầy tự  tin, phong thái chửng chạc, đúng là người chính trực, tương phản với cái áo tù mà thầy đang mặc. Tò mò, tôi search trên google hai bài báo của thầy mà tờ công an có nhắc tới.  (“Dân Luận” +“Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập”; muốn tìm kiếm bất cứ bài báo hoặc tài liệu  nào trên google,  các bạn nhớ để trong ngoặc kép những chữ   chính hay key word, và search…)

Đọc xong các bài viết của thầy Đinh Đăng Định, tôi nhận ra  tờ Công an Đà Nẵng viết sai với sự thật. Đây là hành động không chính trực của phóng viên Thiên Triều và của tờ CA Đà Nẵng, hành vi của tờ báo là vi phạm pháp luật, đánh lừa đọc giả,  và vi phạm quyền tự do ngôn luận.

Admin (Nguyễn Công Huân) của trang Dân Luận cũng đã viết trả lời trong mục phản hồi như sau (trích): “Công an bắt thầy Đinh Đăng Định vì “viết bài gửi đăng Dân Luận chỉ là cái cớ hết sức ngớ ngẩn của bên an ninh, bởi lẽ những bài viết này ông Đinh Đăng Định hoặc (1) ghi lại trực tiếp từ buổi nói chuyện với cơ quan an ninh, hoặc (2) đã gửi trực tiếp tới các vị lãnh đạo Việt Nam, các báo công an nhân dân, quân đội nhân dân (chỉ có điều họ không cho đăng).”

(mời bạn đọc hai bài báo này đã được post dưới cùng của blog này– TH hoặc ở 2 link sau đây)

(1) http://danluan.org/node/6767

(2) http://danluan.org/node/7316

(Trích) “Bên an ninh đã biết ông Đinh Đăng Định là ai và đã quấy quả ông ấy cả năm trời trước khi ông đăng bài trên Dân Luận rồi. Quấy quả đến mức ông ấy chán không thèm lên gặp bên an ninh nữa, vậy mà báo Công an viết câu chuyện ngược ra thành thế này:

“Để thực hiện âm mưu của mình, Đinh Đăng Định đã sử dụng bí danh “Văn Nguyễn” và thông qua các hộp thư điện tử của cá nhân để tham gia soạn thảo một số tài liệu có nội dung xấu, phản động rồi tuyên truyền tán phát trên các trang mạng phản động. Tháng 8-2010, Định đã viết bài “Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước” với nội dung phản đối dự án khai thác boxit ở Nhân Cơ, đòi đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng CA, quân đội và đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và đưa lên các trang báo mạng Songthan.org, Danluan.org, Baotoquoccom… Tháng 11-2010, Định tham gia soạn thảo, chỉnh sửa một số bài viết như “Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập”, “Giải phóng”, “Nỗi kinh hoàng của người dân Việt Nam”… rồi đưa lên mạng và các trang web phản động của nước ngoài.

Qua kiểm tra máy tính của Đinh Đăng Định, Cơ quan ANĐT phát hiện 19 tập tài liệu với 195 trang có nội dung xuyên tạc thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng CSVN. Bên cạnh đó, Định còn thường xuyên liên lạc trao đổi, bàn bạc với Nguyễn Trung Lĩnh – một đối tượng cầm đầu tổ chức phản động nhằm thành lập “Đảng tự do dân chủ tại Việt Nam”; tham gia trả lời phỏng vấn tại các diễn đàn, các cơ quan báo, đài và một số trang web phản động với nội dung chống Đảng, chống chính quyền nhân dân nhằm mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam…

Trong quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT đã nhiều lần tiến hành gọi hỏi, triệu tập Đinh Đăng Định để làm việc nhưng Định chẳng những không chấp hành mà còn tỏ rõ thái độ ngoan cố, bất hợp tác và kiên quyết chống đối đến cùng.”

Nguyên văn bài báo đăng trên tờ Công An Đà Nẵng như sau:

Đinh Đăng Định – kẻ phản quốc, hại dân

Cadn.com.vn) – Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT) CA tỉnh Đắc Nông vừa tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Đinh Đăng Định (1963, trú khối 4, TT Kiến Đức, H. Đắc R’Lấp, Đắc Nông – nguyên cán bộ, giáo viên Trường THPT Lê Quý Đôn, H. Tuy Đức) về hoạt động “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” và lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà  nước…, theo Điều 88 – Bộ luật Hình sự.

SỰ THA HÓA CỦA MỘT THẦY GIÁO

Theo hồ sơ của Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông, năm 1985, sau khi tốt nghiệp Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội chuyên ngành Hóa học, Đinh Đăng Định về nhận công tác và giảng dạy tại Trường Sĩ quan Phòng hóa, thuộc Binh chủng Hóa học Sơn Tây – Hà Nội. Trong thời gian công tác tại đây, Đinh Đăng Định đã bộc lộ những quan điểm, tư tưởng phản động, nhưng đã bị các giáo viên trong trường phản đối kịch liệt. Tháng 10-1987, Định bị Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng hóa kỷ luật với hình thức cảnh cáo, điều chuyển công tác do vi phạm quy chế huấn luyện, lên lớp không có giáo án, không chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy và quan hệ nam nữ bất chính. Tháng 3-1988, Định xuất ngũ với quân hàm  trung úy, rồi xin chuyển công tác đến nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương khác nhau. Tuy nhiên, do ở môi trường công tác nào, Định cũng không chịu rèn luyện, phấn đấu, mà luôn có những hành vi gây mất đoàn kết nội bộ và tỏ thái độ chống đối nên đã 8 lần bị xử lý kỷ luật và điều chuyển công tác…

  Đinh Đăng Định đang khai báo sự việc với cơ quan An ninh.

TỰ TỔ CHỨC THI HỌC KỲ

Trong thời gian công tác tại Trường THPT Lê Quý Đôn (từ tháng 9-2007 đến nay), Đinh Đăng Định chẳng những không chấp hành các quy trình kiểm tra về công tác chuyên môn của Sở GD-ĐT tỉnh Đắc Nông mà còn có những phát ngôn trái với quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản quy định của ngành Giáo dục, có những lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của tổ chức và tập thể cán bộ giáo viên nhà trường. Tại cuộc họp triển khai nội dung Thông tư số 30 của Bộ GD-ĐT về đánh giá “chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS, THPT” do nhà trường tổ chức ngày 13-8-2011, Đinh Đăng Định đã có những phát biểu bày tỏ quan điểm tư tưởng phản động như: “Không thừa nhận Đảng CSVN, bác bỏ Đảng CSVN, phủ nhận đạo đức Hồ Chí Minh”… và tuyên bố không theo đạo đức Hồ Chí Minh…”, không thừa nhận Ban Giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường…”. Đặc biệt, sự việc diễn ra nghiêm trọng hơn khi Đinh Đăng Định đã tự ý tổ chức cho học sinh thi học kỳ II trước thời gian quy định (năm học 2010-2011) mà không thông qua Ban Giám hiệu nhà trường.

TUYÊN TRUYỀN TÁN PHÁT TÀI LIỆU PHẢN ĐỘNG

Quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông đã phát hiện trong thời gian giảng dạy tại Trường THPT Lê QUÝ Đôn, Đinh Đăng Định đã tham gia câu kết, móc nối với các phần tử, tổ chức phản động trong và ngoài nước để hoạt động chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ, xúc phạm uy tín, danh dự của các lãnh tụ.

Để thực hiện âm mưu của mình, Đinh Đăng Định đã sử dụng bí danh “Văn Nguyễn” và thông qua các hộp thư điện tử của cá nhân để tham gia soạn thảo một số tài liệu có nội dung xấu, phản động rồi tuyên truyền tán phát trên các trang mạng phản động. Tháng 8-2010, Định đã viết bài “Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước” với nội dung phản đối dự án khai thác boxit ở Nhân Cơ, đòi đa nguyên đa đảng, phi chính trị hóa lực lượng CA, quân đội và đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và đưa lên các  trang báo mạng Songthan.org, Danluan.org, Baotoquoccom… Tháng 11-2010, Định tham gia soạn thảo, chỉnh sửa một số bài viết như “Nhu cầu bức thiết hình thành phe đối lập”, “Giải phóng”, “Nỗi kinh hoàng của người dân Việt Nam”… rồi đưa lên mạng và các trang web phản động của nước ngoài.

Qua kiểm tra máy tính của Đinh Đăng Định, Cơ quan ANĐT phát hiện 19 tập tài liệu với 195 trang có nội dung xuyên tạc thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lịch sử của Đảng CSVN. Bên cạnh đó, Định còn thường xuyên liên lạc trao đổi, bàn bạc với Nguyễn Trung Lĩnh – một đối tượng cầm đầu tổ chức phản động nhằm thành lập “Đảng tự do dân chủ tại Việt Nam”; tham gia trả lời phỏng vấn tại các diễn đàn, các cơ quan báo, đài và một số trang web phản động với nội dung chống Đảng, chống chính quyền nhân dân nhằm mục đích xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam…

Trong quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT đã nhiều lần tiến hành gọi hỏi, triệu tập Đinh Đăng Định để làm việc nhưng Định chẳng những không chấp hành mà còn tỏ rõ thái độ ngoan cố, bất hợp tác và kiên quyết chống đối đến cùng.

Trước những hành vi ngông cuồng, bất chấp pháp luật của Đinh Đăng Định, ngày 21-10-2011, trước sự chứng kiến của chính quyền địa phương, các ngành chức năng và gia đình, Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông đã thi hành lệnh bắt tạm giam 4 tháng đối với Đinh Đăng Định. Tại CQĐT, trước những tài liệu không thể chối cãi, Định đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tỏ ra ăn năn hối cải, mong muốn được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Rồi đây, Định sẽ phải trả giá cho những hành động và việc làm sai trái của mình. Đáng tiếc thay, từ một trí thức được đào tạo, từng tham gia công tác trong ngành Quân đội và là một nhà giáo, đảng viên Đảng CộNG sản, được học tập dưới mái trường XHCN…, nhưng Đinh Đăng Định lại có bước trượt dài trên con đường tha hóa, ngày càng lún sâu vào những hành động, việc làm đáng bị lên án đến như vậy. Âu đó cũng là bài học đắt giá cho những kẻ nuôi ảo vọng chống phá, âm mưu lật đổ chính quyền, đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Vụ việc đang được Cơ quan ANĐT CA tỉnh Đắc Nông tiếp tục mở rộng điều tra làm rõ.

Thiên Triều

*************************************************************

Dưới đây là hai bài viết của thầy giáo dạy môn hóa học Đinh Đăng Định:

Những suy nghĩ cá nhân về tình hình đất nước (1)

Tác giả Đinh Đăng Định

Bản đánh máy từ bản viết tay đã giao cho cơ quan an ninh chính trị nội bộ Daknong ngày 25-10-2010.

Dakrlap – Daknong, ngày 25-10-2010.

SUY NGHĨ CÁ NHÂN (TÓM TẮT) THỂ THEO YÊU CẦU CỦA CƠ QUAN AN NINH CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TỈNH DAKNONGDo giới hạn hiểu biết về tình hình đất nước, khả năng bản thân, thời gian quá eo hẹp (khoảng 2 ngày) để trình bày những vấn đề lớn tầm quốc gia quả là không thể đối với một giáo viên hóa học THPT là tôi trong bối cảnh này. Với tinh thần hợp tác tôi cố gắng trình bày tóm lược những suy nghĩ của mình về các vấn đề sau đây, theo yêu cầu của Cơ quan An Ninh Chính Trị Nội Bộ Daknong.

  1. Bô xít Tây Nguyên,
  2. Hiện tình xã hội Việt Nam,
  3. Dân chủ – đa nguyên, đa đảng cho Việt Nam,
  4. Điều 4 – Hiến pháp (1992),
  5. Phi chính trị hóa quân đội, công an, giáo dục-đào tạo.

VÀI NÉT ĐẠI CƯƠNG

Việt Nam hiện nay có dân số khá đông, khoảng 86 triệu (chưa kể số người Việt hải ngoại), những con người cần mẫn, giàu lòng vị tha; đất nước ở địa lý thuận lợi; có tiềm năng của một nước lớn và giàu có, giữ địa vị quan trọng trên thế giới.

Dù vậy, chúng ta (VN) cho đến nay vẫn là một quốc gia gia nghèo nàn, lạc hậu tốp cuối của thế giới. Mâu thuẫn đau lòng đó là câu hỏi thường trực trong lòng mỗi con dân nước Việt trước một tương lai chưa hứa hẹn ở thế kỷ 21.

Những chênh lệch về mức sống và trình độ phát triển của các dân tộc là hậu quả của điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên và đặc biệt là cách thức tổ chức xã hội. Tổ chức xã hội tốt hay xấu có thể làm thay đổi hẳn số phận của một đất nước, một dân tộc. Thế giới đã chứng kiến nhiều quốc gia mặc dù đất đai ít, tài nguyên thiên nhiên nghèo, nhờ có tổ chức xã hội tốt đã vươn lên (Nhật Bản là ví dụ rất gần với Việt Nam); bên cạnh đó nhiều quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, sau nhiều chục năm xây dựng vẫn quằn quại trong nghèo đói, đồng hành với tài nguyên cạn kiệt…Chúng ta càng ý thức được việc tổ chức xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng như thế nào khi so sánh lợi tức của người Nhật gấp tới hơn 40 lần người Việt (đây mới chỉ là con số về GDP!). Sự thua kém, tủi hổ này buộc người VN phải tự suy xét về bản thân mình, tìm lối đi cho mình, cho phép ta tin rằng nếu tổ chức lại giang sơn đất nước một cách khoa học, hiệu quả thì người Việt Nam chúng ta chắc chắn sẽ thoát khỏi nghèo hèn (gồm cả đói ở một bộ phận mỗi khi có thiên tai giáng xuống vùng đó) hiện nay và đủ sức vươn lên.

Nhưng chúng ta đã bỏ lỡ quá nhiều cơ hội rồi.

Cơ hội lớn nhất là chế độ thực dân sụp đổ sau chiến tranh thế giới II, cơ hội giành độc lập và vươn lên đã bị bỏ lỡ! Nội bộ quốc gia – dân tộc bị chia rẽ sâu sắc, lên án nhau, mạt sát nhau và tiêu diệt nhau khi có cơ hội và tìm mọi cơ hội! Chính nó tạo ra sự rạn nứt trong lòng quốc gia – dân tộc, thật khó có thể hàn gắn. Kết quả cuối cùng là chúng ta thu được chế độ chính trị Cộng Sản Toàn Trị (độc tài, đảng trị) cho đến tận bây giờ! Trong khi đó, các dân tộc khác dù tốn rất ít xương máu, thậm chí không, cũng đã có độc lập và còn xây dựng xã hội dân chủ từ nhiều chục năm qua. Vì thế mà họ đã bỏ xa chúng ta!

Ngày nay, nhân dân cùng cực và chán ngán chế độ sinh ra chán nản với cả quê hương đất nước mình, đất nước đã kiệt quệ, tụt hậu và bế tắc. Nguy cơ thua kém vĩnh viễn là nguy cơ mất nước trở thành thách thức đang hiện hữu. Nhưng, quốc gia không mang lại hạnh phúc, niềm tự hào và hy vọng vươn lên không sớm thì muộn sẽ bị giải thể theo quy luật đào thải – chọn lọc và phát triển một lẽ tự nhiên.

Con đường thoát khỏi bế tắc để vươn lên là DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN VÀ NHÂN QUYỀN. Dân chủ là động lực phát triển; đa nguyên tự nó tôn trọng mọi khác biệt trong xã hội làm xã hội càng phong phú và thực hiện hòa giải dân tộc sau những xung đột đẫm máu; nhân quyền phát huy sinh lực, nguồn lực, sáng kiến và ý kiến mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc và đặc biệt là tôn vinh con người.

Nhìn lại, nguyên nhân dẫn đến những rạn nứt mà nước ta phải gánh chịu chính là vì chúng ta không đầu tư đủ tư duy để nhận diện những vấn đề trọng đại đặt ra cho mình và tìm hướng giải quyết. Chúng ta thiếu hẳn một DỰ ÁN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của đất nước. Cuối cùng người đồng bào, con lạc cháu hồng đã tàn sát lẫn nhau vì ý thức hệ không phải của mình mà sự tàn sát còn đẫm máu hơn, bảo vệ say sưa hơn ở các dân tộc khởi xướng ra nó, thảm bại thay!

Bài học đau đớn đó, dứt khoát chúng ta từ bỏ đầu óc độc quyền lẽ phải, tôn trọng sự khác biệt, đối thoại, thảo luận và thỏa hiệp trong tinh tần tương kính với thái độ lương thiện, xây dựng từ nhận thức rằng người VN rang buộc trong một than phận chung rằng, nếu đất nước giàu mạnh, cuộc sống khá hơn và tất cả chúng ta được kính trọng; ngược lại nếu đất nước ta nghèo nàn, lạc hậu, đói khổ tất cả chúng ta đều bị coi thường bất kể ta thuộc xuất xứ tôn giáo nào, đảng phái chính trị nào hay theo chủ nghĩa gì. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, điều tốt nhất cho một người cũng là điều tốt nhất cho mọi người và ngược lại.

I. VẤN ĐỀ BÔ-XÍT TÂY NGUYÊN

Tôi hoàn toàn ủng hộ bản kiến nghị được khởi thảo bởi các nhà trí thức yêu nước và tinh hoa của đất nước, gồm 10 chữ kỹ khởi thảo của các thành viên IDS (cũ) và nhóm BVN đã loan tải trên BVN, tuanvietnam.net… Trong bản văn này tôi không viết thêm nữa.

Tôi đã ký ở số thứ tự 629.

II. HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC

Nổi lên trên hết vấn đề hệ trọng nhất của xã hội VN hiện nay là SỰ BẤT CẬP, theo nhà giáo lão thành Phạm Toàn ở Hà Nội, một thành viên của BVN. Gồm:

  1. Bất cập về hiểu biết. Tầng lớp trí thức trong nước hiện nay hoàn toàn lạc hậu không biết làm gì cho Tổ Quốc sống lại dẫn đến bất cập về tổ chức đất nước nên có tổ chức mà KHÔNG hiệu quả mọi mặt.
  2. Bất cập về luật pháp. Luật gốc là hiến pháp đầy bất cập, đang đòi hỏi phải làm lại. Các bộ luật trong khi thực hành đều gặp mâu thuẫn hoặc sai hoặc không đầy đủ. Nếu có luật nào đúng thì cũng không thực thi đầy đủ do hệ thống quan chức tòa án, công chức hành chính đã bất cập sẵn…
  3. Bất cập về trình độ văn hóa tối thiểu của một dân tộc trong một thời đại văn minh dẫn tới bất cập về tâm lý sẵn sàng xây dựng Tổ Quốc rạng rỡ, thể hiện ở sự vô cảm của mọi người, thiếu trách nhiệm với chính mình, bản chất con người đang bị lưu manh hóa theo cách cynical của quan chức chỉ giỏi nói- mà nói cũng không giỏi – sểnh ra là hối lộ, chạy chọt, đút lót, luồn lách! Trách nhiệm công dân bị lột bỏ.

Với ba bất cập này, xã hội VN hiện tại rơi vào tình trạng mất dần kiểm soát, mạnh ai nấy giành từ quan tới dân đều hối hả vội vã vơ vét về như là ngày mai không còn sống để vơ vét nữa, rõ nhất là các tấm gương của hệ thống quan chức tham nhũng mà hàng ngày các báo “lề phải” cũng không thể che dấu!

Trước hiện tình xã hội VN đang rối ren, bất cập, hậu quả thật khôn lường thể hiện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc gia bị đe dọa từ nhiều phía; đạo đức xã hội, đạo lý băng hoại. Tôi hoàn toàn đồng ý với kiến nghị (nếu được) của nhà giáo Phạm Toàn để giải thoát tình hình đất nước hiện nay.

Nếu có một Hội Nghị Quốc Gia – Đồng Bào, như Hội Nghị Diên Hồng để hòa giải – hòa hợp dân tộc, sẽ trình kiến nghị:

  1. Thành lập hội đồng luật pháp viết lại Hiến Pháp cho 100 đến 1000 năm của nước Việt tương lai xây dựng Tổ Quốc mà không cần thay đổi hay sửa chữa nhiều, đủ sức trưng cầu ý dân cả nước.
  2. Thành lập ở các cấp, các ngành… mỗi hội đồng kiểm điểm công khai có trách nhiệm báo cáo công khai mọi ưu khuyết điểm của các tổ chức, mọi tầng lớp nhân dân đều biết, đều nghe trong khoảng thời gian chí ít là từ 30-4-1975 đến nay.
  3. Thành lập Hội Đồng Quốc Gia về kinh tế, nghiên cứu và đưa ra đường lối phát triển kinh tế đất nước, sao cho đảm bảo chắc chắn rằng: Người học ở bậc phổ thông(trước hết) không mất tiền; người bệnh đến bệnh viện không mất tiền ở hệ thống công lập, nhà nước quản trị.

III. DÂN CHỦ – ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG CHO VN

Trước hết xin trích phát biểu gần đây của ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Quốc:

Dân chủ và tự do là khát khao và ý chí của nhân dân không gì có thể ngăn cản. Kẻ đi theo thời đại sẽ phát triển; kẻ đi ngược thời đại bị đào thải” (hết trích).

Tự do dân chủ là giá trị căn bản mà loài người tranh đấu với thiên nhiên, với chính mình trải hàng ngàn năm mới có được. Dân chủ nhất quyết không thể do ai ban phát.

Tổng thống lập quốc của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ngài Thomas Jefferson nói: “Chính phủ lập ra không phải để ban phát tự do, mà để bảo vệ nó”. Tình trạng không có tự do dân chủ ở VN thể hiện: Luật báo chí không cho phép tư nhân ra báo. Rõ ràng vi hiến. Các-Mác ông tổ của học thuyết CNXH và CNCS nói: “Đối lập với báo chí tự do là báo chí bị kiểm duyệt”; ông còn nói báo chí bị kiểm duyệt là ”con quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tắm nước hoa”.

Điều 19 công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,(1966 của LHQ, VN ký công nhận 1982) viết rằng:

  1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm chính trị của mình mà không ai có quyền can thiệp vào.
  2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền như: truyền miệng, viết, in… hay các phương tiện truyền thông khác tùy theo sự lựa chọn.

Điều 69 – Hiến Pháp 1992 nước CHXHCNVN thừa nhận tự do ngôn luận,tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội,đoàn… theo quy định luật pháp.

Luật báo chí đã vi hiến và đi ngược với giá trị tự do dân chủ căn bản; luật biểu tình không có chứng tỏ nhà nước CHXHCNVN vi phạm chính hiến pháp mà mình làm ra.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn nói: ”Kiên quyết không tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và để cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng gây tổn hại cho đất nước”.

Thực tế, chế độ chính trị VN đã chống lại các giá trị nhân bản tự do dân chủ xét trên phương diện báo chí là sự thật không thể bác bỏ!

Thực tế không thể chứng minh được tự do báo chí, báo chí tư nhân gây tổn hại cho đất nước. Rằng, bất kỳ hành vi nào gây tổn hại cho đất nước đều không thể dung tha cho dù xuất phát từ cá nhân, tập thể, hay đảng phái chính trị nào kể cả là đảng cầm quyền. Người ta – những người cộng sản đang cầm quyền ở đất đất nước VN này đã quên rằng, chính lãnh tụ Hồ Chí Minh của đảng cộng sản VN của họ đã nói rằng: “dân chủ là để cho người dân được mở mồm nói”. Ông muốn nói tới con người dân cụ thể, chứ không phải đại từ nhân dân chung chung. Chỗ để nói có văn hóa chính là báo chí.

Nhà văn, triết gia Pháp Voltaire(1694-1778) từng nói (đại ý): Tôi không tin những điều anh nói, nhưng tôi sẵn sàng hy sinh bảo vệ quyền anh được nói. Vâng, thật sự là văn hóa của xã hội có tự do ngôn luận.

Cần phải nói thêm rằng, từ 1936 – 1938 tờ Dân Chúng (báo cộng sản) và 11 tờ báo tư nhân khác đều tán thành tự do dân chủ và đòi ân xá các chính trị phạm ở Đông Dương. Chẳng lẽ ngày nay, chế độ chính trị cộng sản lại kiểm soát đồng bào mình gay gắt hơn cả bọn thực dân Pháp hay sao? Nguy cho dân tộc quá!

Lịch sử sự sụp đổ các chế độ chính trị độc tài ở Đông Âu là bài học máu thịt cho ĐCS, thiết nghĩ các đảng viên cao cấp của ĐCS VN và ban lãnh đạo cần rút tỉa bài học là: vì đảng hay vì quốc gia – dân tộc. Cuộc sống đã và đang đặt ra một đòi hỏi chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên mà hệ quả hiển nhiên là đa đảng chính trị như một tất yếu của lịch sử để giải quyết các vấn đề có tính quyết định của đất nước hiện tại và mai sau.

Dân Chủ – Đa Nguyên với nền tảng là tư tưởng đa nguyên, chủ nghĩa đa nguyên. Nó tiếp nhận, chứa đựng mọi sự khác biệt về ý thức, ý thức hệ càng gia tăng tính phong phú cho xã hội, xã hội càng giàu có về văn hóa.

Trong môi trường xã hội dân chủ – đa nguyên, các đảng phái sẽ cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển thân thiện, thay vì cạnh tranh kiểu “địch ta”, tiêu diệt đẫm máu như từng xảy ra trong lịch sử hơn 60 năm qua; sẽ là thảo luận, đối thoại tiến tới đồng thuận quốc gia trên những nét chung nhất: hiến pháp, luật pháp, an ninh quốc gia, an sinh xã hội… Đặc biệt và đương nhiên là loại trừ các yếu tố bạo lực tận gốc rễ xã hội – đạo lý.

Các tầng lớp xã hội cùng nhau tham gia thảo luận tích cực và tự giác, đóng góp ý kiến cho một xã hội thăng tiến, chống tụt hậu. Nước ta hiện là một trong các nước nghèo nhất thế giới, lạc hậu cả về văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, kinh tế và quốc phòng…

Trong chế độ chính trị độc đảng hiện nay, các thành viên tham gia làm chính trị chủ lả tìm kiếm danh lợi cá nhân và phe nhóm (cronny) bằng cố gắng cá nhân và phe nhóm kể cả là luồn lách, các thủ đoạn chính trị hèn mạt (giăng bẫy, ngụy tạo nhân cách…). Lẽ ra, làm chính trị là bổn phận đạo lý của công dân. Chế độ chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên nhất định tháo bỏ văn hóa chính trị bệnh hoạn này; không thể xây dựng gì cho xã hội với những cá nhân, phe nhóm với đầy ắp tham vọng ích kỷ, bản vị này.

Nền chính trị Dân Chủ – Đa Nguyên là nơi hội tụ của Quốc Gia – Dân Tộc với quyết tâm đánh bại mọi sự tồi, dở, gian ác, tham lam, tàn bạo, lưu manh… để thay đổi phương thức tổ chức xã hội với mục tiêu tôn vinh con người và phẩm giá con người đem lại phúc lợi tối đa cho con người. Lương tri dân tộc thôi thúc không ngừng nghỉ cuộc đấu tranh về Dân Chủ – Đa Nguyên cho nước nhà, cho dù vô cùng khó khăn nhưng, sẽ gặp vô cùng thuận lợi nếu ban lãnh đạo ĐCS hiện thời nhận thức rằng Quốc Gia – Dân Tộc phải được hưởng phúc, chế độ Dân Chủ – Đa Nguyên là sản phẩm của xã hội văn minh được nhân loại đem tới. Với sự hợp tác của ĐCS VN đứng đầu là Ban chấp hành Trung Ương và Bộ Chính Trị, dân tộc ta sẽ hân hoan bắt tay nhau trong tình nhân ái cùng làm lại một nước VN đã tan hoang, tàn tệ sau nhiều chục năm bị tàn phá bởi chiến tranh và cả hòa bình làm cho đất nước tụt hậu toàn diện, để tránh cho đất nước ta một lần nữa rơi vào tình trạng vô chính phủ thậm chí thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng chế độ độc tài khác đều nguy khốn cho Quốc Gia – Dân Tộc.

Dân Chủ – Đa Nguyên không thuần thúy chỉ là ứng cử, bầu cử tự do hay tam quyền phân lập giản dị mà là thành quả của dòng tư tưởng mãnh liệt phát xuất từ quá khứ chảy tới tương lai. Cuộc đấu tranh thay thế chế độ độc tài đảng trị cộng sản hiện nay bằng chế độ dân chủ đa nguyên là cuộc cách mạng tư tưởng vĩ đại nhất kể từ xưa mà nó nhất định phải xuất hiện, có thật trên đất nước VN thân yêu của chúng ta. Đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta đã thật kém may mắn, bất hạnh vì đã thuộc quyền lãnh đạo, cai trị toàn trị của ĐCS VN.

Nhưng, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” (lời cổ nhân). Lịch sử dân rộc ta tuy đau thương vô cùng nhưng, dân tộc ta khoan dung độ lượng vô cùng, chấp nhập mọi quá khứ chính trị, văn hóa, tư tưởng và lịch sử. Tư tưởng Dân Chủ – Đa Nguyên và những con người Dân Chủ VN đã có, còn có ở ngay trong các đảng viên cao cấp của ĐCS VN. Tôi rất hy vọng cuộc hợp tác vĩ đại của Dân Chủ và Cộng Sản, của Dân Tộc VN và ĐCS VN sẽ thành công để cùng ngồi vào bàn ĐẠI HỘI QUỐC GIA – DÂN TỘC bàn thảo làm lại giang sơn xã tắc (mượn ý của ông Nguyễn Trung, một trí thức yêu nước).

Cá nhân tôi sẵn sàng đóng góp cho cuộc chuyển hóa về Dân Chủ cho nước Việt thân yêu với điều kiện tiên quyết loại trừ các yếu tố bạo lực, bạo động trong tất thảy các sinh hoạt chính trị, văn hóa xã hội để hạn chế tối đa những đổ vỡ đáng tiếc cho đất nước. Kiên quyết không để có KHOẢNG TRỐNG QUYỀN LỰC.

***********************************************************

Thư khẩn gửi quý ông lãnh đạo đất nước và hai bộ trưởng Công An và Quân Đội

 Đinh Đăng Định
ĐẮKNÔNG NGÀY 07–12-2010
KÍNH GỬI:
TÒA SOẠN BÁO NHÂN DÂN
TÒA SOẠN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
TÒA SOẠN BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN
BAN BIÊN TẬP TRANG MẠNG BÔ-XÍT VIỆT NAM: boxitvn.net/ boxitvn.blogspot.com

Tôi là Đinh Đăng Định, 47 tuổi,

Hiện đang làm giáo viên trường THPT Lê Quý Đôn-Tuy Đức-Daknong

Nhà ở: số 214-Nơ Trang Long thị trấn Kiến Đức-Dakrlap-Daknong.

Tôi long trọng gửi tới quý tòa soạn và BBT BVN lời chào trân trọng và lời chúc sức khỏe, hạnh phúc. Lần đầu có thư thư tòa soạn các báo nhân dân (ND), quân đội nhân dân (QĐND), công an nhân dân (CAND), tôi thành thật xin lỗi vì đã làm phiền. Thưa quý tòa soạn
Tôi biết rằng, báo ND là tiếng nói của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), báo QĐND là tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam, báo CAND là tiếng nói của bộ công an.

Còn tôi, người viết thư này, nguyên là trung úy QĐNDVN (ra quân 1988); tôi ý thức được ĐCSVN là lực lượng độc nhất lãnh đạo đất nước theo điều 4-hiến pháp hiện hành (1992) với cơ quan ngôn luận là báo ND; tôi còn là nạn nhân của lực lượng an ninh chính trị nội bộ(ANCTNB) tỉnh Daknong. Trong thời gian qua, từ 19–10–2010 và, hiện tại chưa thể khảng định cái KHỔ NẠN này đã kết thúc. Mà tôi cũng ý thức được lực lượng ANCTNB của bộ CA là BẢO KIẾM, là CÁNH TAY ĐẮC LỰC bảo vệ ĐCSVN với quyết tâm “còn Đảng còn mình”.

Vâng, còn trang mạng BVN- boxitvn.net / boxitvn.blogspot.com với tôi, là độc giả thân thiện từ ngày đầu trang Nhà ra đời.

Đôi lời tự giới thiệu, làm quen chỉ với mục đích là tôi thiết tha nhờ quý tòa soạn các báo và BBT trang BVN chuyển giúp tôi THƯ KHẨN, mà tôi muốn gửi tới quý ông lãnh đạo tối cao của đất nước và hai ông bộ trưởng quốc phòng và công an. Vì tôi không biết địa chỉ email hay nơi ở của họ, chỉ biết họ đang sống, làm việc ở Hà Nội thôi.

Một lần nữa tôi thành thật xin lỗi quý tòa soạn và BBT BVN vì đã làm phiền; tôi cũng rất biết ơn và tin rằng quý tòa soạn cùng BBT BVN giúp tôi thực hiện nguyện vọng chính đáng này. Tôi xin khảng định là tôi chỉ nhờ chuyển.

Xin nhận nơi tôi lòng thành kính và biết ơn.

Đinh Đăng Định
ĐT nhà riêng 05013 647 002
Emai danbicuop@gmail.com

Posted in Báo chí cách viết, Tu Do ngon Luan | 1 Comment »

Hãi hùng “sở hữu toàn dân”!

Posted by hoangtran204 on 22/02/2012

Hãi Hùng “Sở Hữu Toàn Dân”

Anh Vươn từng được báo chí ca ngợi như anh hùng mở đất, lấn biển 2005

Tác giả: Hà Sĩ Phu

Danchimviet.info

Đã có một thời ấu trĩ, nghèo khó, trông con đường “tám thước” đã thấy “rộng thênh thang” [1], thấy ánh điện sáng trên cầu Việt Trì đã sướng nhảy lên “Ơ này anh em ơi” [2], thế mà trong đầu còn mở ra những thứ thênh thang gấp bội thì lâng lâng cũng phải. Này là bài ca hữu nghị Việt – Trung – Xô, này là anh cả Liên xô chị hiền Trung Quốc, này là vô sản toàn thế giới, này là thế giới đại đồng…Trước những thứ hoành tráng, bát ngát như vậy cái gì là RIÊNG, là cá nhân chẳng những bị xem là nhỏ bé mà còn tội lỗi nữa, phải nép vào một xó, nhường chỗ cho những gì là CHUNG, là “tập thể”, là “toàn dân”…Đã là cá nhân, lại kèm thêm chữ “CỦA” (tức là sở hữu đấy), như của tôi, của anh, thì xấu xa lắm, phải từ bỏ ngay hoặc chôn kín trong lòng.

Đừng trách các nghệ sĩ cứ “tớn” lên mà tội, khi có cả một lý thuyết đang trùm lên xã hội. Ngọn nguồn từ mấy ông râu xồm bên Tây kia.

Số là, từ thế kỷ 18, xã hội loài người đến thời văn minh công nghiệp thì sự chênh lệch giữa con người với nhau đã rất khủng khiếp. Bằng cảm tính trực quan, rất dễ thấy sự bất công là do chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất mà ra. Bần cố nông không có ruộng nên phải làm thuê cho địa chủ phú nông chiếm nhiều ruộng đất. Công nhân không có nhà máy nên phải làm thuê cho nhà tư bản có công xưởng. Kết quả là người lao động làm ra của cải mười phần nhưng chỉ được hưởng dăm ba phần vì bị các “chủ tư liệu” chiếm mất thành quả.

Thế là, xuất phát từ cảm tính trực quan, không ít người nghĩ đến giải pháp: từ nay không cho ai chiếm hữu ruộng đất hay công xưởng nữa, tất cả tư liệu sản xuất lớn phải là của chung, sẽ chẳng ai phải làm thuê cho ai, thế là triệt tiêu “tận gốc” sự bóc lột và bất công, thế là cứu dân. Nhiệm vụ cách mạng là phải chống cái RIÊNG, đặc biệt là cái riêng trong sở hữu những cơ sở vật chất. Theo luận lý ấy, đất đai là loại hình tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn vốn lớn nhất, giá cả có thể vô hạn tất nhiên không ai được sở hữu riêng, nếu quy thành luật “đất đai thuộc Sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý” thì cũng phải thôi.

Công cuộc chống cái Riêng sẽ dẫn xã hội tới Thiên đường khiến Tố Hữu reo lên:

Ngày mai đây, tất cả sẽ là CHUNG
Tất cả là vui và ánh sáng! (Tố Hữu-Liên hiệp lại)

Mơ tiếp, con người sẽ làm việc theo khả năng nhưng tiêu dùng thì tất cả đều lấy từ cái kho chung của toàn dân, như múc nước trong bể, ai khát nhiều thì múc nhiều, ai khát ít thì “tự giác” múc ít (thật quá ư nhân đạo và hợp lý), bởi khi ấy con người đều cao thượng, tất cả đã là của chung thì còn “tham sân si” làm gì nữa, thanh bình đến thế là cùng!

Chẳng còn ai có sở hữu tư liệu sản xuất riêng, ai cũng là công nhân công nghiệp hay công nhân nông nghiệp như nhau, hết cả giàu nghèo, hết cả sang hèn, nên xã hội đặc trưng ở tính chất SAN BẰNG, CÔNG HỮU HÓA, TẬP THỂ HÓA…

Đến nay, nhiều điều phi lý trong “xã hội không tưởng” như trên đã được nhận ra và không nhắc đến nữa, nhưng tại sao chủ trương Công hữu hoá về đất đai vẫn được giữ nguyên mặc dù chủ trương này đã gây nên bao vụ tranh chấp đất đai nghiêm trọng, kéo dài, như một vấn nạn lớn, thách thức sự tồn vong của chế độ?

Để trả lời câu hỏi trên, và có thể sửa chữa tận gốc sai lầm về “sở hữu toàn dân” đối với đất đai, chứ không dừng ở việc điều chỉnh để đối phó, thiết nghĩ cũng nên phân tích ngắn gọn với nhau mấy nguồn gốc xuất phát của sai lầm này.

1/ Những sai lầm từ trong nhận thức của Ý thức hệ:

– Xã hội không thể san bằng: Chẳng riêng gì loài người, sinh vật một khi đã sống thành bầy đàn hay xã hội thì khó lòng tránh khỏi bất bình đẳng. Ngay trong một cơ thể thực vật, các tế bào nằm sát nhau thì vừa hiệp lực vói nhau để hoàn thành một chức phận trong cơ thể vừa giới hạn lẫn nhau, chèn ép lẫn nhau, mỗi tế bào không thể căng tròn hết cỡ như khi được nuôi tự do trong môi trường nuôi cấy nhân tạo. Vừa hiệp lực lại vừa cạnh tranh, đấu tranh với nhau trong một tổng thể vốn là quy luật tương sinh tương khắc muôn đời của Sinh giới.

– Hệ quả của quy luật nói trên là sự phân ly thành hai cực CHÍNH QUYỀN và DÂN CHÚNG, cùng với sự phân cách GIÀU NGHÈO. Những sự phân ly vừa tương sinh vửa tương khắc này là tất yếu, không thể dùng “cách mạng” để san bằng.

– Đã không thể xoá bỏ hay san bằng thì phải có Luật và có Dân chủ, gọi chung là nền Dân chủ Pháp trị, để cho những mặt đối lập cùng tồn tại, không diệt nhau mà còn nương tưa vào nhau, hiệp lực với nhau trong xã hội chung.

– Là xã hội đương nhiên có tính Tổ chức: từ cá nhân đến các tổ chức nhỏ, tiếp đến các tổ chức lớn hơn, rồi thành quốc gia, quốc tế. Do đó Dân chủ cũng có Dân chủ trực tiếp và Dân chủ đại diện. Một tổ chức cấp cao có đại diện được cho các thành viên hợp thành hay không là do Cơ chế tổ chức có Dân chủ hay không. Nếu xã hội không dân chủ thì sự đại diện chỉ là mạo danh, “sở hữu toàn dân” là một sự mạo danh.

– Sở hữu là cơ sở vật chất để con người có thể tồn tại như một thực thể riêng trong xã hội, nên việc đưa tất cả đất đai cho nhà nước thống nhất quản lý là vô lý, đặc biệt là khi Công hữu hoá lại đi kèm với những thiết chế phản dân chủ thì chủ trương xoá bỏ sở hữu tư nhân đối với đất đai chính là cột chặt sinh mệnh toàn dân vào trong bàn tay của một đảng cầm quyền, chẳng khác nào truất phế tư cách tồn tại của họ.

2/ Sai lầm trong thời buổi “Kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa”.

Những sai lầm vừa kể trên là sai lầm về nhận thức, về động cơ có thể là muốn xây dựng một xã hội “của chung”, tưởng rằng mọi thứ đều công hữu hoá, tập thể hoá thì nhân dân sẽ thoát vòng nô lệ và được hạnh phúc.

Song, khi phe XHCN thế giới đã sụp đổ, đảng Cộng sản đã chuyển sang chiến lược “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, ảo tưởng về nhận thức không còn nữa, tại sao vẫn chủ trương “toàn dân hoá” sở hữu đất đai?

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” ư? Toàn dân là một khái niệm chung chung, mơ hồ, chẳng là ai cụ thể, ai đang có quyền thì chiếm chỗ ấy. Sự thể ra sao thì vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng – Hải Phòng đủ nói lên tất cả.

Đất đai là miếng mồi ngon nhất, lớn nhất. Trong một cơ chế độc quyền lãnh đạo, kẻ nào nắm độc quyền lãnh đạo ắt thèm rỏ rãi, ắt dùng tổ chức công khai, dùng con dấu để “cướp ngày, cướp cạn” (chữ của bác Lê Hiền Đức). Dân bị cướp khắp nơi, kêu trời không thấu. Kiện chỉ là kiện củ khoai vì từ dưới lên trên đều cùng một duộc. Đó là một “lỗi hệ thống”.

Trong cơ chế “trên bảo dưới không nghe”, thủ tướng cũng chẳng cách chức nổi cấp dưới thì mạnh ai nấy làm, ai có quyền cũng là “anh hùng nhất khoảnh”, ấy là nạn phân ly, “cướp ngày” nổi lên khắp nơi. Nhưng bên cạnh nạn phân ly lại có nạn liên kết: liên kết giữa kẻ có quyền và kẻ có tiền, đôi khi liên kết cả với đám lưu manh anh-chị, liên kết trong lợi ích nhóm, liên kết trong nhiệm kỳ…thả sức cướp bóc, đầy ải nhân dân.

Trong đám mây mù tệ nạn, phải tìm ra cái trục gây ác. Trục gây ác cũng là trục quyền lực. Trục “hợp tung” của quyền lực từ trên xuống là: Chủ nghĩa – Đảng – Công an (công an là chủ lực thi hành). Trục “liên hoành” là các cấp uỷ, uỷ ban, công an, các đoàn thể trong Mặt trận, các đại doanh gia, các nhà cơ hội, các nhóm xã hội đen…

– Chính cái cơ chế “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” là nhân tố mở đường, là cái khiên che, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mọi đám “cướp ngày”, nó cần được huỷ bỏ.

– Việc duy trì điều luật này không còn là sai lầm về nhận thức mà là tội phạm có ý thức, nó cần được huỷ bỏ.

– Điều luật này là điều béo bở cho các quan, nhưng là nỗi hãi hùng cho Dân, nó biến cái CHUNG mạo danh Nhân dân thành cái RIÊNG của các quan, sở hữu “toàn dân” biến thành sở hữu “toàn quan”, nó cần được huỷ bỏ.

Xin trích đủ 4 câu trong bài thơ “Liên hiệp lại” của Tố Hữu:

Quyết chiến đấu! Nào, ta liên hiệp lại
Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng!
Ngày mai đây, tất cả sẽ là CHUNG
Tất cả là vui và ánh sáng!

(Tố Hữu-Liên hiệp lại)

Hai câu dưới là giấc mơ tương lai từ trong quá khứ, nên lưu lại trong một Bảo tàng Ý thức hệ.

Hai câu trên trải mấy chục năm vẫn như thời hiện tại, đọc lên cứ tưởng thơ tặng những gia đình khốn khổ như gia đình Đoàn Văn Vươn hôm nay.

Những tiếng nói yêu cầu huỷ bỏ điều luật này về Sở hữu đất đai, trao quyền Sở hữu ruộng đất về cho Dân (tất nhiên Công hữu xưa nay vẫn có phần dành cho Nhà nước) là những tiếng nói chân thành, nhìn thẳng sự thật, giúp đảng Cộng sản và Chính phủ vớt vát lại uy tín, vớt vát lại sự Chính danh.

Nếu tôi là những cấp lãnh đạo, tôi sẽ cảm ơn những liều thuốc đắng. Đoàn Văn Vươn cũng là một liều thuốc đắng như vậy.

Tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn là phát pháo hiệu báo nguy của anh bộ đội trên boong, báo cho người lái con tàu Titanic Việt Nam rằng: phía trước là một tảng băng ngầm.

19/2/2011

Hà Sĩ Phu

____________________

[1] Ta đi tới-Thơ Tố Hữu
[2] Bài ca Ánh đèn cầu Việt trì của nhạc sĩ Hoàng Hà, 1956

*hasiphu.com

 

you can fool some of the people all of the time,
and all of the people some of the time,
but you can not fool all of the people all of the
time.Bạn có thể lừa  một vài người trong tất cả mọi lần, vàbạn có thể lừa mọi người trong một vài lần,

nhưng bạn không thể lừa tất cả mọi người mãi  mãi

 

________________

Sở hữu của toàn dân

Alan Phan

3 December 2012

Theo luật quốc tế, người ta thường qui trách nhiệm pháp luật cho sở hữu chủ. Tôi còn nhớ một bài học đắt giá vào năm 1977 tại California. Một người bạn thân từ Pháp ghé thăm và vì tôi phải đi làm, nên giao chiếc xe Pontiac Bonneville của mình cho anh mượn, lái thăm quan tiểu bang mà anh yêu thích. Anh lái theo kiểu dân Paris chính cống , lượn lách ngay cả trên các xa lộ cao tốc. Qua khỏi Burbank, xe anh đâm vào một chiếc xe khác từ sau, gây tử vong cho một phụ nữ mới 28 tuổi.

Đương nhiên là anh có lỗi và phải chịu toàn trách nhiệm. May là xe tôi có bảo hiểm, nhưng lại bị giới hạn về tiền bồi thường (tối đa 1 triệu đô la). Tòa xử phía bị đơn phải bồi thường tổng cộng khoảng 1.25 triệu đô la cho phiá nạn nhân. Tôi lãnh đủ 250 ngàn tiền sai biệt sau khi hãng bảo hiểm trả phần họ; cộng với chiếc xe Pontiac hư hại hoàn toàn. Anh bạn thì sợ bỏ trốn về Pháp 2 ngày sau khi gây tai nạn và biệt tích giang hồ.

May mà gia đình nạn nhân cũng giàu có nên họ bớt cho tôi 100 ngàn và cho tôi trả 150 ngàn đô còn lại trong 3 năm. Sau đó các bạn tôi thường than phiền là tôi ích kỷ, không thích cho ai mượn xe.

toan dan so huu11

Tuần vừa qua, một quan chức Việt Nam, ông Tường, TGD Công Ty Đường Sắt Viêt Nam, nhắc nhở lại cho chúng ta quy tắc trên về luật sở hữu. Trách nhiệm sau cùng phải thuộc về sở hữu chủ, dù họ có can dự hay không vào “các tai nạn” hay bất cứ “sai phạm, thất thoát, lãng phí” ngay việc “sử dụng” các tài sản này có tạo ra tội ác hay không? Ông hoàn toàn đúng luật.

Về điểm này, tôi phải thành thực mà công nhận chủ nghĩa XH “ưu việt” hơn hẳn chủ nghĩa tư bản. Và các nhà lập pháp hay hành pháp (nôm na là các bác lãnh đạo) thuộc phe XHCN xứng đáng là đỉnh cao trí tuệ của loài người.

Khi để “toàn dân” sở hữu tất cả tài sản quốc gia từ đất đai đến khoáng sản đến các công ty sân sau của phe nhóm, thì ‘toàn dân” phải chịu trách nhiệm cho mọi sự cố từ tốt đến xấu. (Thực ra, theo lịch sử, thì 5 ngàn năm qua chưa bao giờ có sự cố tốt hay xấu cho các tài sản “tập thể”, chì có “tai nạn” và “ thảm họa” do hoàn cảnh khách quan). Ngoài ra, vì “toàn dân” là sở hữu chủ nên họ phải chịu trách nhiệm về mọi nợ nần, hư hỏng hay phá hoại. Tôi đang đợi một phiên tòa quốc tế có 90 triệu dân bị còng tay đưa ra xét xử về tội “xù nợ” hay “tàn phá môi trường”.

Đến ngày hôm nay, tôi mới thông hiểu hết cái thâm thúy tuyệt vời của chủ nghĩa Mác Lê. Một chủ thể gọi là “toàn dân” mới chính là tội đồ cho mọi đổ đốn nơi đây. Tên “toàn dân” này quả là một thế lực thù địch nguy hiểm nhất của xã hội.

Lời khuyên của ông già Alan: Bạn đừng làm “toàn dân”. Coi chừng có ngày phải đi tù vì trong sổ sách của tòa, tội trạng của tên “toàn dân” này sau 67 năm dài hơn 48 cuốn Thư Mục Tham Khảo (encyclopedia) của Britannica… và sắp sửa lấp đầy Thư Viện Quốc Gia.

Alan Phan

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tu Do ngon Luan | Tagged: | Leave a Comment »

Tòa Bạch Ốc hẹn gặp cộng đồng Việt nói chuyện nhân quyền

Posted by hoangtran204 on 21/02/2012

và xin được nghe và tìm hiểu nội dung cũng như ý nghĩa của hai bài hát ‘Anh Là Ai?’ và ‘Việt Nam Tôi Ðâu?’ của nhạc sĩ Việt Khang


Tòa Bạch Ốc đã chính thức xin được tiếp xúc và gặp gỡ cộng đồng người Việt về vấn đề nhân quyền cho Việt Nam, cũng như những quan tâm đến các nhà tranh đấu và tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong nước.

Cuộc tiếp xúc sẽ được diễn ra từ 12 giờ trưa đến 3 giờ chiều 5 Tháng Ba. Qua ngày hôm sau, phái đoàn Việt Nam sẽ gặp các vị dân cử ở Quốc Hội Hoa Kỳ. Tin này đến vào lúc có hơn 54,000 người ký thỉnh nguyện thư nhân quyền trên trang mạng Tòa Bạch Ốc.

Trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt, nhạc sĩ Trúc Hồ, tổng giám đốc đài truyền hình SBTN, cho biết: “Tối Thứ Bảy, một viên chức Tòa Bạch Ốc đã gọi cho Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng nói họ muốn gặp cộng đồng Việt Nam. Họ xin được nghe và tìm hiểu nội dung cũng như ý nghĩa của hai bài hát mà nhạc sĩ Việt Khang đã sáng tác. Ðó là hai nhạc phẩm ‘Anh Là Ai?’ và ‘Việt Nam Tôi Ðâu?’ cùng một số sáng tác khác ở hải ngoại thể hiện tinh thần yêu nước và tranh đấu cho nhân quyền của người Việt tự do.”

SBTN là nơi phát động chiến dịch ký thỉnh nguyện thư yêu cầu Tổng Thống Barack Obama đình chỉ việc mở rộng thương mại với Việt Nam khi nhân quyền không được tôn trọng. Những nhà tranh đấu được nêu tên trong thỉnh nguyện thư gồm có Linh Mục Nguyễn Văn Lý; hai vị được đề cử giải Nobel Hòa Bình là Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ và Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế; Blogger Ðiếu Cày (Nguyễn Văn Hải); và nhạc sĩ Việt Khang, người bày tỏ lòng yêu nước qua hai nhạc phẩm “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Ðâu?”

Chiến dịch này kéo dài trong một tháng, từ 8 Tháng Hai đến 8 Tháng Ba, kêu gọi mọi người ký thỉnh nguyện thư gởi Tòa Bạch Ốc. Theo quy định của trang mạng này, để được Tòa Bạch Ốc chính thức trả lời trực tiếp, một thỉnh nguyện thư phải đạt được 25,000 chữ ký trong vòng 30 ngày.

Ðến chiều Chủ Nhật, đã có hơn 54,000 người ký vào thỉnh nguyện thư trên trang mạng của Tòa Bạch Ốc.

Tòa Bạch Ốc đang quan sát mức độ ký thỉnh nguyện thư này rất kỹ. Khi chúng ta có 25,000 chữ ký họ đối xử với chúng ta khác. Khi có 50,000 chữ ký tình hình sẽ khác nữa. Và khi chúng ta có 100,000 hoặc 200,000 chữ ký, chắc chắn tiếng nói của cộng đồng chúng ta sẽ được các vị dân cử liên bang lắng nghe,” nhạc sĩ Trúc Hồ nhận xét.

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi giữa Tháng Giêng của bốn thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam có đưa ra một danh sách dài nhiều loại vũ khí, trang bị quốc phòng muốn mua của Mỹ, từ dàn radar cho đến hỏa tiễn phòng thủ, bộ phận máy bay. Tuy nhiên, TNS John McCain, một người đi trong đoàn, nói rằng “Việt Nam phải cải thiện nhân quyền” trước khi Hoa Kỳ có thể chuyển giao những hệ thống này.

Trong buổi nói chuyện với Ðại Sứ Ron Kirk, đại diện mậu dịch Hoa Kỳ, hôm 19 Tháng Giêng, Dân Biểu Loretta Sanchez cũng đưa vấn đề nhân quyền trong giao thương Mỹ-Việt.

Mỗi lần Việt Nam được một thành tựu trong mậu dịch, như PNTR trong thương mại song phương với Mỹ, WTO, hay vào Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, là một lần Việt Nam nuốt lời hứa về nhân quyền và đàn áp nhiều hơn thay vì tự do nhiều hơn,” bà Sanchez nói.

Bà nói thêm: “Việt Nam ngày càng bỏ tù nhiều người, không chỉ các vị lãnh đạo tôn giáo hay những người tranh đấu đòi dân chủ, mà cả những người trẻ lên Internet nói lên những vấn đề của đất nước, như nhạc sĩ Việt Khang.”

Tuy nhiên, vì Việt Nam cứ hứa cải thiện nhân quyền rồi sau đó không thực hiện, Dân Biểu Sanchez đặt vấn đề với Ðại Sứ Kirk là nên bắt Việt Nam thực hiện trước rồi mới ký. Tuy Ðại Sứ Kirk không trả lời rõ ràng về đề nghị này, nhưng theo bà Sanchez, “Chúng ta vẫn có thể đặt điều kiện vào các hiệp định mậu dịch để các nước sẽ gặp khó khăn nếu không thực hiện những điều họ hứa.”

Nhạc sĩ Trúc Hồ cho biết đài SBTN sẽ chọn ra 50 người từ 50 tiểu bang đã tham dự trong cuộc vận động ký thỉnh nguyện thư cùng với phái đoàn truyền thông và một số các tổ chức đã tiếp tay trong thời gian qua để vào Tòa Bạch Ốc ngày 5 Tháng Ba.

Ngoài ra, một số ca sĩ của Trung Tâm Asia từng hát hai tác phẩm của nhạc sĩ Việt Khang cũng sẽ đi cùng để trình bày hai nhạc phẩm này tại Tòa Bạch Ốc.

Nhạc sĩ Trúc Hồ cũng cho biết buổi tiếp xúc cộng đồng Việt Nam và trình diễn hai tác phẩm của nhạc sĩ Việt Khang sẽ được trang mạng của Tòa Bạch Ốc truyền tải trực tiếp để mọi người cùng xem.

Nhạc sĩ Trúc Hồ cho biết thêm: “Những người muốn đi, xin chuẩn bị gởi tên, ngày tháng năm sinh cùng địa chỉ về cho SBTN để xin giấy phép vào Tòa Bạch Ốc nội trong ngày Thứ Hai, 20 Tháng Hai và xin chú ý là Tòa Bạch Ốc chỉ hạn chế tiếp xúc khoảng 100 người mà thôi. Riêng Quốc Hội thì không giới hạn số người tham dự. Quý vị tham dự viên phải tự túc vé máy bay đến thủ đô Hoa Thịnh Ðốn.”

Khi được hỏi cảm tưởng về sự kiện cộng đồng Việt Nam được Tòa Bạch Ốc chú ý với hơn 54,000 chữ ký, nhạc sĩ Trúc Hồ nói: “Có thể nói, đây là một Hội Nghị Diên Hồng ở xứ Mỹ. Chúng ta đến Tòa Bạch Ốc lần này với tư cách những người gởi thỉnh nguyện thư trực tiếp, chứ không phải một đảng phái nào. Ðây là năm bầu cử, chúng ta phải tận dụng cơ hội này.”

Thỉnh nguyện thư vẫn còn trên trang mạng Tòa Bạch Ốc và vẫn còn nhận chữ ký, tại địa chỉ https://wwws.whitehouse.gov/petitions.

Đỗ DZũng (Người Việt)

nguoi-viet.com

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bị “trấn lột” ở sân bay

Posted by hoangtran204 on 21/02/2012

Paulo Thành Nguyễn

Sau vài ngày tham quan thị trường vật liệu xây dựng kết hợp du lịch ở Bangkok, tôi rất có cảm tình với phong cách tiếp đón chân tình và thân thiện của người Thái.

Mang theo niềm vui, kinh nghiệm đời sống của người dân Thái về Việt Nam để chia sẻ cùng bạn bè. Vừa bước xuống sân bay thì nhận được một sự “tiếp đón” khá bất ngờ: từ lúc làm thủ tục nhập cảnh cho đến lúc kiểm tra hành lý luôn có máy quay phim theo sát bước chân tôi, lúc lấy hành lý xong sáu nhân viên sân bay và một an ninh thường phục ập đến giữ hành lý của tôi lại.

Họ phấn khích cứ như cảnh thú săn được mồi, tất cả xúm lại lục tung đồ đạc trong ba lô lên, kéo ngăn lớn, ngăn nhỏ… Đang khi kiểm tra hành lý thì một cô tiến lại gần yêu cầu tôi bỏ hết đồ đạc trên người ra, tôi cũng hợp tác móc bóp, điện thoại để lên trên bàn. Tôi hỏi cô ấy có cần cởi luôn quần không thì cô ta nói không cần. Lại thêm một lần sục sạo nữa: quần sịp, quần đùi, bị lộn trái, lộn phải tứ tung cả lên.

Trong khi khám xét họ lại liên tục nhắc chừng nhau: “Xem có laptop không?”, “Xem có sách vở gì không?”, “Để ý xem có USB không?”… Ngay lúc đó một người trong nhóm kiểm tra kêu lên là tìm thấy cái USB thì cả nhóm im lặng tập trung vào cái USB với vẻ mặt rất căng thẳng… Sau 1 phút loay hoay bàn tính làm thế nào với cái USB thì anh an ninh yêu cầu mời tôi vào phòng làm việc để mở lên xem nội dung trong đó là gì.

– Xem có file văn bản nào không? Anh an ninh yêu cầu nhân viên sân bay.

– Không có gì hết! -Nhân viên sân bay nói.

Anh an ninh với vẻ mặt hơi thất vọng xem lại một lần nữa thì thấy tấm hình chụp chiếc nón “HS-TS-VN” của cô Bùi Hằng và hình Kim Tiến mặt áo NO-U thì nhếch mép nói: “Đồng bọn nó đó, tụi mặc áo lưỡi bò!”.

Xem lại thêm vài lần và gọi vài cuộc điện thoại thì anh an ninh yêu cầu tổ sân bay giữ USB và thẻ nhớ của tôi lại. Tôi phản đối hành động đó vì cảm thấy bị xâm phạm quyền tự do cá nhân, nhưng tổ sân bay nói rằng họ có quyền làm như vậy, bất cứ điều gì họ cảm thấy nghi ngờ đều có quyền thu giữ lại.

Đôi co một hồi tôi cũng đồng ý cho họ giữ với điều kiện phải soạn văn bản niêm phong cho đàng hoàng, đừng quăng cái gì vào đó rồi đổ tội cho tôi.

Sau 20 phút chờ soạn văn bản xong, tôi ký tên và ra về với nhiều câu hỏi lớn: “Từ bao giờ, ở đất nước này, người ta xem những hình ảnh liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa là văn hóa phẩm phải giám sát? Tại sao lực lượng an ninh lại cư xử với tôi như một tội phạm nguy hiểm như vậy? Phải chăng vì tôi đã xuống đường bày tỏ tình yêu của mình đối với Hoàng Sa – Trường Sa?? Tại sao những người yêu Tổ quốc khoác trên mình chiếc áo No-U kia lại là “đồng bọn” – là thành phần bị xem là đối lập với lực lượng an ninh, những người có trách nhiệm bảo vệ sự bình yên và toàn vẹn lãnh thổ??? 

Một cái USB và một thẻ nhớ – có thể giá trị của nó không lớn, nhưng cách hành xử bất tuân pháp luật và kém văn minh khiến góc nhìn của tôi đối với lực lượng an ninh khác đi khá nhiều.

Một câu nói: “Đồng bọn nó đó, tụi mặc áo lưỡi bò!” – có thể rất vô cảm xuất phát từ cửa miệng của một anh công an cấp thấp. Nhưng nó như một lưỡi dao lạnh lùng đâm suốt tim tôi.

Welcome back to Việt Nam.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »