Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chinh Tri Viet Nam’ Category

►Đất nước sắp có thay đổi lớn? (Nguyễn Gia Kiểng)

Posted by hoangtran204 on 17/07/2015

Trần Quang Thành

16-07-2015

Sau 4 ngày hoạt động ở Washington DC, New York, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ từ ngày 4 đên 10/7/2015, theo lời mời của chính quyền Tổng thống Obama.

Trong dư luận có những đánh giá khác nhau về chuyến thăm này. Có người nhận định đây chỉ là một biểu tượng lớn, có người cho rằng đó là một sự xích lại gần Mỹ hơn đáng khích lệ ; cũng có người phân tích cái được và mất của ông Trọng qua chuyến đi này. Trong cuộc trò chuyện với nhà báo Trần Quang Thành, người đang giữ vai trò thường trực tổ chức Tập hợp đa nguyên là ông Nguyễn Gia Kiểng có điều suy tư Đất nước sắp có thay đổi lớn?

Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện. Mời quí vị cùng nghe:

Trần Quang Thành: Xin chào ông Nguyễn Gia Kiểng

Nguyễn Gia Kiểng: Xin chào ông Trần Quang Thành

TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng, như vậy là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chuyến đi thăm nước Mỹ. Cuộc đi thăm được chuẩn bị khá lâu và khá ầm ĩ. Dư luận tróng, ngoài nước cũng có sự quan tâm về chuyến đi này.

Riêng ông Nguyễn Gia Kiểng có đánh giá ra sao về chuyến đi thăm nước Mỹ của ông Tổng bí thư lần này ạ?

NGK: Theo tôi chuyến thăm viếng này nó đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong bối cảnh chính trị ở Việt Nam. Đây là lần thứ hai một vị lãnh đạo Đảng Cộng sản sang thăm nước Mỹ thay vì cho một vị lãnh đạo đại diện cho chính phủ. Trước đây ông Phạm Quang Nghị, môt ủy viên trong Bộ Chính trị cũng đã đột ngột, bất ngờ thay thế ông Phạm Bình Minh đi thăm nước Mỹ. Chúng ta có cảm tưởng Bộ Chính trị muốn giữ thế chủ động. Ông Nguyễn Phú Trọng đã tới nước Mỹ với một phái đoàn hùng hậu. Nếu tôi đếm không sai ông đên với phái đoàn 11 Ủy viên Trưng ương Đảng, trong đó có 2 vị ở trong Bộ Chính trị, 1 vị trong Ban bí thư là Chánh văn phòng Ban bí thư. Tôi nghĩ Đảng Cộng sản dành thế chủ động trong việc tăng cường mối bang giao với Hoa Kỳ. Trước đây trong việc tiếp xúc giữa chính phủ với chính phủ nó là chính thức. Nhưng mà chúng ta chú ý người ta đưa những người cấp cao có quyền lưc nhưng không chính thức. Nó có một cái gì đó thay đổi trong chiều sâu. Ho muốn có sự thây đổi thực trong quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ. Tôi nghĩ sự kiện diễn ra kỳ này nó không có hình thức. Hai bên muốn nói thực sự, muốn thảo luận để đến những thỏa thuận trong thực tế, chứ không còn trong xã giao.

TQT: Có người nói về hình thức cuộc đón tiếp kỳ này khá rầm rộ nó thể hiện sự trọng thị của ông Tổng thống Obama cũng như những người lãnh đạo nước Mỹ. Nhưng đi sâu và thực tiến nó có được thể hiện như vậy không hay là nó vẫn chỉ mang tính chất biểu tượng. Ông nghĩ sao?

NGK: Theo tôi đây là một sự việc Đảng Cộng sản Việt Nam muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ là họ có đồng thuận, có thỏa hiệp trong nội bộ của họ. Bằng cớ như tôi vừa nói họ mang theo một lưc lượng Đảng rất hùng hậu. Điều quan trọng là nhắm vào nội dung. Còn về hình thức có lẽ nó cũng không quan trọng lắm đâu. Tôi cũng không có lưu ý nhiều đến hình thức.

Về hình thức tôi muốn nói chúng ta đừng quên theo Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì ông Trọng chứ không phải ông Sang là người lãnh đạo Việt Nam. Bởi vì trong Hiến pháp, điều 4 nói rất rõ Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Ông Trọng là người lãnh đạo Đảng tức là người lãnh đạo đất nước Việt Nam. Đây là một điều rất chính thức, rất hợp pháp. Không có gì hợp pháp hơn là hiến pháp. Chúng ta phải hiểu theo Hiến pháp ông Trọng mới là người nguyên thủ quốc gia thực sự. Nếu chúng ta hiểu như vậy, kỳ này điều Đảng Cộng sản Việt Nam muốn không phải là hình thức, là trọng thị mà là đi đến sự thỏa thuận thực sự.

Riêng tôi thấy về phần hình thức nó rất là nhẹ. Trở lại 36 năm trước đây, vào năm 1979, ông Đặng Tiểu Bình tới thăm nước Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Cater. Lúc đó ông Đặng Tiểu Bình chỉ là một phó thủ tướng, ông cũng không phải là Tổng bí thư,nhưng ai cũng biết ông ấy là người lãnh đạo Đảng Cộng sẩn Trung Quốc nên đã được Tổng thống Jimmy Cater ra tận phi trường đón tiếp. Ông Đặng Tiểu Bình đã được đón tiếp linh đình với tất cả nghi thức như một nguyên thủ quốc gia thực sự với tất cả sự ân cần. Nhưng kỳ này ông Trọng đến mặc dâu ông là Tổng bí thư thực sự, mặc dầu ông mang theo một phái đoàn hùng hậu như tôi vừa nói nhưng mà theo danh sách báo chí tường thuật – có thiếu sót hay không thì tôi không biết – người ra đón chỉ là môt trợ lý ngoại trưởng, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, 1 giám đốc nghi lễ của Bộ Ngoại giao. Như vậy họ không đặt nặng vấn đề về hình thức. Như vậy nói kỳ này ông Trọng được đón một cách trọng thị là không đúng. Mặc đầu sau đó ông cũng có được một cuộc tiếp xúc tại Nhà Trắng, cũng được khoản đãi một bữa cơm trưa với Phó Tổng thống Joe Biden và ông Ngoại trưởng John Kery. Nhưng tôi nghĩ chúng ta nên chú ý đến nội dung các cuộc thảo luận hơn là vấn đề nghi thức. Tôi nghĩ kỳ này có những thỏa hiệp rất là quan trọng.

TQT: Theo ông kỳ này có thỏa hiệp nào là quan trọng mà ông quan tâm?

NGK: Tôi nghĩ trong tình thế hiện nay giả xử chế độ cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn sáp lại với Mỹ ; muốn tách xa ra môt chút đối với Trung Quốc – Họ không thể nói công khai điều này được – Cho nên chúng ta phải dựa vào những chỉ dấu khác.

Qua theo dõi phim ảnh về cuộc gặp gỡ này tôi thấy một điều có khác với lần gặp gỡ ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Tấn Sang trước đây. Phía Mỹ và Việt Nam có vẻ thoải mái,vui vẻ như họ vừa mới thỏa thuận vói nhau một cái gì. Chứ không phải nói để mà nói. Qua không khí, qua ngôn ngữ chúng ta cảm thấy đây là những người đã thỏa thuận với nhau và đã hài lòng với cuộc gặp gỡ của mình.

Bây giờ dựa vào những gì họ đã nói chúng ta cũng phải phân tích, cũng nên chú ý. Ông Obama nói hai bên đã thảo luận trên rất nhiều vấn đề. Cuộc thảo luận nửa giờ trên nhiều vẫn đề tôi nghĩ là chỉ lặp lại những điều gì đã thỏa thuận từ trước thôi. Họ nói họ đã thảo luận với nhau về nhiều vấn đề rồi. Vấn đề Việt Nam gia nhập TPP, về an ninh quốc phòng. Đó là những điều mới. Về nhân quyền và tự do tôn giáo cũng nói tới. Ông Obama và ông Nguyễn Phú Trọng đều nói vấn đề an ninh trên Biển Đông một cách khéo léo nhưng cũng khá rõ đó là coosmootj quốc gia (ý nói Trung Quốc) đâng hoạt động bất hợp pháp, bất chấp luât pháp trên Biển Đông. Chúng ta nên chú ý đến câu nói của Tổng thống Obama khi ông ấy nói là vẫn còn có những khác biệt giữa 2 nước về nhân quyền, về tự do tôn giáo. Ông Trọng và ông Obama đều nói đến vấn đề an ninh trên Biển Đông một cách khéo léo, nhưng tương đối khá rõ như đang có một quốc gia (ám chỉ Trung Quốc) đang có hành động bất chấp luật pháp trên Biển Đông. Chúng ta nên chú ý đến câu nói của Tổng thống Obama khi ông ấy nói là vẫn còn có những khác biệt quan điểm giữa hai nước về vấn đề nhân quyền và vấn đề tự do tôn giáo. Nhưng mà tôi tin tưởng rằng hai quốc gia sẽ sáp lại gần nhau, sẽ giải tỏa khác biệt đó. Cài khác biệt đó như thế nào thì chúng ta đêu biết không có việc Mỹ bắt chước Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Nếu đạt được đồng thuận về vấn đề đó thỉ chỉ có việc Việt Nam sáp gần lại Hoa Kỳ mà thôi.

Tôi nghĩ so với cách nói như vậy chúng ta phải hiểu rằng phía Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước nhượng bộ – cụ thể như thế nào thì chúng ta chưa biết – nhưng có bước nhượng bộ quan trọng về nhân quyền.

Nhân quyền là một cách nói khác của dân chủ. Nên tôi nói đây là mọt sự nhượng bộ rất quan trọng chúng ta phải chờ đợi. Trong buổi nói chuyện với ông Trọng, ông Joe Bidan còn nói rõ hơn nữa là qua cuộc thảo luận còn dài khác biệt, nhưng ông ấy tin tưởng là Việt Nam sẽ là một nước phát triển.

Dựa vào đó chúng ta có thể thấy ró Việt Nam đã có những cam kết. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những cam kết về tự do, về nhân quyền rất là lớn

Nhân quyền có nhiều quyền tự do, nhưng mà chúng ta nhấn mạnh 3 quyền tự do :

       – Tự do ngôn luận và báo chí

       – Tự do ứng cử và bàu cử

       – Tự do tham gia và thiết lập các tổ chức..

Ba quyền tự do đó nó định nghĩa chế độ dân chủ.

Tôi không rõ họ hứa hẹn thời hạn với Hoa Kỳ thực hiện 3 quyền tự do ấy là bao lâu.. Nhưng mà họ đã chấp nhận.Trên nguyên tắc đây là một điểm rất quan trọng. Chế độ cộng sản hiện nay nó không chấp nhận 3 quyền căn bản này.

Trong 3 quyền có quyền tự do ứng cử và bàu cử. Chấp nhận quyền này trên nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam đã công nhận đa nguyên, đa đảng. Họ chấp nhận vào thơi gian nào đó là một chuyện. Nhưng về chính trị đây là một dự đoán. Làm chính trị chúng ta bắt buộc phải dự đoán. Ngay cả dự đoán đó nó có sai, cũng phải dự đoán. Nhưng tôi có niềm tin chắc chắn qua cuộc gặp gỡ này với hình thức của nó, với nội dung chúng ta được biết thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhượng bộ – Nhượng bộ lịch sử – Trên nguyên tắc sẽ chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng.

Người dân Việt Nam ai cũng biết người cộng sản luôn lưỡng lự giữa 2 chọn lựa : Đi với Tàu thì mất nước ; Đi với Mỹ thì mất Đảng. Nhưng kỳ này họ chấp nhận đi với Mỹ nghĩa là có một cái gì đó.

Đảng Cộng sản từ trước đến nay vẫn chó rằng nếu sáp gần các nước dân chủ, sáp với Hoa Kỳ và hội nhập với.các nước dân chủ sẽ mất Đảng, mất chế độ độc tài.

Một khi có bầu cử tự do thì với thành tích trong quá khứ tôi không nghĩ Đảng Cộng sản có một cái may mắn, một cái hy vọng nào. Cho nên chấp nhận chế độ dân chủ cũng là chấp nhận sự tan vỡ. Trong tương lai có thể tiên liệu những gì thấy đươc của Đảng Cộng sản. Đây là một sự nhượng bộ của Đảng Cộng sản. Tôi nghĩ Đảng Cộng sản đẫ bị đẩy đến sự nhượng bộ này. Họ biết đây là sự nhượng bộ đau đớn mà không muốn làm. Như ông Nguyễn Minh Triết đã từng nói “Bỏ điều 4 là tự sát” . Thế nhưng họ phải làm bởi vì họ đang ở trong tình thế tuyệt vọng.

TQT: Thế nhưng chúng ta đang ở gần một nước khổng lồ là Trung Quốc, một ông láng giềng rất khổng lồ. Nước Mỹ thì ở xa nước ta. Thế thì sự đối phó của cộng sản Việt Nam như thế nào để không bị ảnh hưởng trong cuộc giao lưu gần gũi với Mỹ thị bị Trung Quốc tìm cách triệt hạ họ được thưa ông?

NGK : Theo tôi nghĩ sắp có thay đổi rất lớn khiến những quan tâm của chúng ta trong quá khứ nó không đúng nữa. Quan tâm cho đến hiện nay là làm thế nào để sống bình yên với Trung Quốc. Bời vì có một láng giềng quá lớn, qúa hung hang. Tôi nghĩ mối quan tâm ấy chúng ta cũng không cần đặt nặng ra nữa. Vì có một cái gì đó, vì có một sự thay đổi lớn đang xảy ra. Đó là sự suy sụp của Trung Quốc. Cách đây 2 tháng rưỡi tôi có viết một bài báo Khi chân trời sụp đổ và lịch sử sang trang. Trong đó với tất cả những dữ liệu không thể chối cãi được do chính quyền Trung Quốc cung cấp hoặc thừa nhận. Qua đó chúng ta thấy Trung Quốc đang đứng trên bờ một cuộc khủng hoảng lớn. Và ngay cả khẳ năng Trung Quốc tồn tại với một lãnh thổ này, dân số này cũng không có gì bảo đảm. Cho nên những ưu tư của Trung Quốc trong những ngày sắp tới sẽ tập trung lo giải quyết những khó khan nội bộ. Chứ không còn hơi sức đau mà đi khiêu khích bên ngoài nữa. Chúng ta không nên quá lo âu đối với Trung Quốc; đối với sự khiêu khích xâm lấn của Trung Quốc. Những điều sắp xảy ra ở Trung Quốc là một thảm kịch. Mà thảm kịch đối với ¼ nhân loại Trung Quốc là một thế giới nhỏ trong thế giới này. Tôi nghĩ trong những ngầy sắp tới Trung Quốc sẽ khốn đốn và sẽ không còn hung hăng trong chính sách đối ngoại nữa. Về điều này tôi cũng lưu ý là nếu chúng ta quan sát lịch sử của Trung Quốc, cũng như lịch sử đê quốc. Chúng ta nên nhìn Trung Quốc như một đế quốc. Một đế quốc nó hung hăng khi nó mạnh chứ nó không hung hăng khi nó có vấn đề nội bộ. Trái lại một chế độ hay một nước nó hay gây hấn với bên ngoài để làm quên đi những khó khăn nội bộ như chế độ Hit-le, chế độ quân phiệt Nhật, chế độ phát-xít Ý. Nhưng mà một đế quốc thì ngược lại. Nó hung hăng khi nó mạnh. Khi nó có vấn đề nội bộ nó lo giải quyết vấn đề nội bộ. Chúng ta thấy điều này cũng được kiểm chứng trong lịch sử Trung Quốc. Những lúc Trung Quốc hung hăng đối với bên ngoài là lúc Trung Quốc cực thịnh, không có vấn đề bên trong. Nhưng khi có vấn đề bên trong nó lại rất mềm đối với bên ngoài. Có lúc Trung Quốc đã phải cống các quí phi của mình cho các nươc chư hầu để cầu an như Chiêu quân cống Hồ.

Tôi nghĩ Trung Quốc đang khốn đốn họ sẽ ứng xử theo cách truyền thống của họ là.mềm yếu với bên ngoài.

Ông vừa hỏi Hòa Kỳ ở xa có bảo vệ được chúng ta hay không? Tôi nghĩ nhu cầu bảo vệ nó cũng không quan trọng. Thế nhưng mà nếu có thì chúng ta cũng đừng quên vai trò của Nhật Bản.

Một yếu tố mới ở châu Á là sự đổi mói của Nhật Bản. Sau thế chiến, Nhật Bản là nước tiến bộ nhanh chóng. Trong thế chiến thứ H.ai, Nhật đã qúa tự tin gáy chiến nhưng sau đó đã thảm bại. Sau thế chiến thứ Hai Nhật vươn lên. Nhưng cách vươn lên của Nhật là cách vươn của một nước châu Á, theo cách văn minh châu Á, nhưng sử dung khoa học và ký thuật hiện đại. Ba thập niên gần đây nước Nhật chuyển hóa về văn hóa để thật sự là một nước Nhật hiện đaị: Hiện đại trong nếp sống ; hiện đại trong quan hệ xã hội ; hiện đại trong quan hệ công nhân, trong cách thức sản xuất. Ngày nay nước Nhật đã làm xong một cuộc cách mạng văn hóa lớn. Nước Nhật rất tự tin. Nhật là một liên minh thiết yếu của Mỹ là người đại diện cho liên minh Mỹ – Nhật ở Thái Bình Dương.

Tôi nghĩ điều thứ nhất chúng ta không nên quá lo âu về Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không gấy hấn.

Điều thứ hai là khối dân chủ hiện diện rất là mạnh ở châu Á qua Mỹ và Nhật.

Ở đây tôi cũng muốn nhắc lại một điều là cũng nên tương đối hóa nguy cơ gây hấn của các nước độc tài. Vì hiện nay nếu chúng ta so sánh thì sẽ thấy khối dân chủ nó mạnh hơn hẳn khối độc tài về vũ khí cũng như ngân sách quốc phòng. Mạnh hơn hẳn khối Nga, Trung Quốc và một vài nước độc tài còn lại. Trọng lượng kinh tế các nước độc tại cộng lại cũng chỉ bằng 15% kinh tế thế giới thôi.

Điều căn bản ngày nay chúng ta không nên quên trong những suy nghĩ là các nước dân chủ không cần và cũng không sợ các nước độc tài

TQT: Lâu này người ta có quan niệm ở Việt Nam có 2 phe. Môt phe là phe bảo thủ – phe Đảng và một phe là phe cấp tiến – phe Chính phủ. Đứng đầu 2 pphe này là ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng. Qua chuyến đi Mỹ lần này người ta đánh giá uy tín của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được nâng lên.

Vậy thì trong gian sắp tới đây phe bảo thù và phe cấp tiến, tức là phe Đảng Và phe Chính phủ họ có nhích lại gần nhau không hay là đến một lúc nào đó uy tín của ông Trọng sẽ lấn át phe cấp tiến của ông Nguyễn Tấn Dũng thưa ông?

NGK: Tôi không tin có 2 phe là phe thủ cựu và phe cấp tiến. Nhất là khi người ta coi ông Nguyễn Tấn Dũng là cấp tiến thì tôi càng không tin.

Phải nói ông Nguyễn Tấn Dũng có thực quyền hơn 10 năm nay từ năm 2002 khi ông là phó Thủ tướng thường trực cho một ông Thủ tướng rất mờ nhạt là ông Phạn Văn Khải, rồi sau đó ông làm Thủ tướng. Dưới thời ông sự đàn áp nó gia tăng, quan hệ kinh tế nó khép lại chứ nó không mở ra. Có những tiến bộ bộ về internet, về mạng xã hội là do ông không chống cự được với sự bùng phát của các phương tiện truyền thông, của văn ninh mạng mà thôi.

Tôi không tin ó 2 phe đó và tôi càng không tin ông Nguyễn Tấn Dũng là phe cấp tiến. Đối với tôi ông ấy là người thủ cựu hung hăng nhất. Trong thâm tâm, những lãnh tụ cộng sản người ta đều nghĩ như nhau cả. Nhưng ông Dũng là người nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, nhắc lại một cách quả quyết, một cách hung hăng nhất là kiên quyết không để nhen nhóm các tổ chức đối lập. Tôi nghĩ bảo ông Nguyễn Tấn Dũng là cấp tiến thì hãy xét lại. Theo nhận xét của tôi trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản họ có sự đồng thuận về mặt lập trường, về mặt chính sách. Tức là họ đều đồng ý Trung Quốc là một nước bá quyền, một thế lực bá quyền xâm lược. Giao thiệp với Trung Quốc là có hại. Ngược lại họ cũng đều nghĩ rằng liên hệ, hợp tác với Hoa Kỳ là có lợi cho đất nước. Nhưng họ cũng đồng ý với nhau không nên quan hệ với Hoa Kỳ mà nên quan hệ với Trung Quốc để giữ nguyên chế độ. Về điểm này vẫn chưa có gì khác biệt cả.

Đến ngày hôm nay tôi nghĩ là họ cũng đồng thuận trên một vấn đề mới là sự nguy ngập của chế độ, của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay Thế giới đang xôn xao về đất nước Hy Lạp. Nhưng tình trạng kinh tế Hy Lạp nó chưa đến nỗi tuyệt vọng như ở Việt Nam. Hiện nay Việt Nam cần phải dựa vào Trung Quốc để mà sống. Số chi ngân sách của Việt Nam là trên 50 tỷ USD một năm. Số thu ngân sách của Việt Nam là dưới 30 tỷ USD một năm. Như vậy nó hụt hẫng 20 tỷ USD một năm. Trung Quốc cho Việt Nam vay 100 tỷ USD với lãi xuất thấp chia ra 5 năm. Nghĩa là số thâm thủng ngân sách đó do Trung Quốc bơm vào Nếu không có thì hầu như chế độ phá sản ngay lập tức. Nhưng hiện nay Trung Quốc không còn là chỗ dựa nữa. Vì Trung Quốc cũng đang rất khốn đốn. Trong những ngày qua các thị trường chứng khoán ở Thượng Hải, ở Thấm Quyến đều sụt giảm 30%. Theo số liệu người ta ước tính trong vòng 1 tháng qua sự mất mát trên thị trường chứng khoán là 2.000 tỷ USD. Khi chúng ta nhìn thấy Trung Quốc bơm tiền vô để cứu vãn thị trường chứng khoán gần 20 tỷ USD, tức là Trung Quốc cũng không còn tiền và lộ ra sự yếu kém đó. Cho nên họ mới bơm tiền vô để cứu thị trường chứng khoán thì hậu quả nó không phải là cứu được thị trường chứng khoán mà nó gây ra mất lòng tin. Thị trường chứng khoán trong ngày tụt 7% và đi đến chỗ họ phải ngưng yết bảng

Trung Quốc không thể giúp cho Việt Nam về mặt tài chính vì Việt Nam đang đứng bên bỏ vực thẳm có nguy cơ phá sản ngay lập tức.. Cho nên họ bắt buộc phải đổi chính sách kinh tế chính trị. Biết giao thiệp với Trung Quốc là có hại về Đảng, nhưng nó có lợi cho chính quyền. Nó như bầu sữa giúp cho chính quyền cộng sản Việt Nam. Bầu sữa ấy không còn nữa họ phải tìm cách khác, dựa vào đâu? Phải gia nhập TPP. Phải tìm một khả năng đầu tư mới tức là gia tăng hợp tác để nhận được một khối lượng đầu tư mới bù đắp vào sự thâm thủng, thiếu hụt ngân sách. Những điều ấy không thể tìm thấy nới nào khác hơn là Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Cho nên họ bắt buộc phải nhượng bộ. Họ ở trong thế tuyệt vọng nên họ phải nhượng bộ cái điều mà họ biết là sự sa sút của chế độ.

TQT: Quay lại phong trào dân chủ, nhân quyền, và các tổ chức xã hội dân sự. Nếu quan hệ giữa hai nhà nước ấm lên. Mỹ sẽ giúp cho nhà nước Việt Nam mạnh lên liệu nó có tác dụng tích cực hay tác dụng tiêu cực đến đấu tranh của những người dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam thưa ông?

NGK : Cái này không chỉ là tốt mà là rất tốt. Chúng ta đều biết đặc tính của các nước dân chủ là họ có thể bỏ tiền ra để đầu tư vào những thị trường mới tạo ra khả năng trao đổi hợp tác và có lợi. Nó phải trải qua một thời gian. Đằng nào chế độ cũng phải trải qua một giai đoạn lúng túng. Ngay cả nếu chế độ được giải thoát về mặt kinh tế thì cũng rất khó mà tồn tại.

Kinh nghiệm cho thấy ở các nước Đông Âu trừ Rumani nó cai trị trong bạo lực và chấm dứt trong bạo lực. Tất cả các chế độ ấy không mang nhiều ân oán, không mang nhiều thù hận, với dân chúng nước họ bằng chế độ cộng sản Việt Nam nào là cải cách ruộng đất, nào là đánh tư sản, nào là tập trung cải tạo. Trong những năm gần đây thì tham nhũng bành trướng chóng mặt, bắt người trái phép, cướp bóc, tước đoạt đất đai . Nếu so sánh với các nước Đông Âu vào đầu thập niên những năm 1990, mặc dầu những chế độ cộng sản ấy họ không có nhiều thù oán với nhân dân của họ, nhưng tất cả các chế độ cộng sản ấy đã bị quét sạch. Nếu có việc Việt Nam đi sáp lại với Hoa Kỳ, các nước dân chủ, chấp nhận luật chơi dân chủ chúng ta có thể đánh cuộc Đảng Cộng sản có thể bị xóa bỏ ngay trong cuộc bàu cử đầu tiên.

Có điều một số người lo ngai, tôi không lo ngại là một số lớn người cộng sản sẽ thành lập ra một lực lượng dưới một cái tên gọi khác và với khả năng tổ chức nhân sự cũng như tài chính của họ , họ có thể thăng lợi trong cuộc bàu cử. Nhưng khả năng này nó cũng khó xảy ra. Nếu nó có xảy ra gthif nó cũng không phải là một thảm kịch cho đất nước là bởi vì nó cũng là một chế độ khác. Khi dân chủ được thiết lập, có một cái gì đó đã kết thúc vĩnh viễn ở Việt Nam : Đó là chủ nghĩa cộng sản.

Đảng Cộng sản có thể tồn tại dưới một danh xưng khác cũng không đáng lo ngại. Tôi nghĩ có thể sẽ có 2 trường hợp xảy ra :

  • Nếu từ nay đến đó – Theo tôi là một tương lai gần chứ không có thể xa được – nếu các lực lượng dân chủ có thể kết hợp với nhau được, ngoài Đảng Cộng sản thành một lực lượng, xây dựng được một lực lượng tương đối có tầm vóc thì thắng lợi là chắc chắn. Đó là một dấu hỏi lớn. Có vẻ lúc này lực lượng dân chủ đi sau sự chin muồi của xã hội.
  • Xã hội Việt Nam mặc dầu đã có sự chín muồi cho một cuộc chuyển hóa về dân chủ, nhưng mà lực lượng đối lập còn kém. Số người nhập cuộc còn ít. Không những thế còn có sự phân tán.

Hy vọng trong những ngày tháng sắp tời tình hình sẽ sôi nổi. Những thay đổi sẽ dồn dập.

Những thay đổi đó có tác dụng thức tỉnh những người dân chủ Việt Nam, những người từ trước đến giờ chưa dấn thân cũng dấn thân. Những người đã dấn thân sẽ nhìn ra cách dấn thân hợp lý, có ích hơn. Tức là kết họp với nhau thành một tổ chức dân chủ, một lực lượng dân chủ.

Anh em trong Tập hợp đa nguyên chúng tôi sẽ cố gắng đóng góp.

Để chuẩn bị cho tình thế mới đó, chúng ôi vừa phổ biến dự án chính trị dân chủ đa nguyên 2015 lấy tên là Khai sáng kỷ nguyên thứ hai.

Đó là tài liệu tóm lược những vấn đề chính của đất nước. Những định hướng nêu rõ để xây dựng một nước Việt Nam tương lai. Những phương thức đấu tranh cần có để giành thắng lợi cho phe dân chủ. Những nét chính để quản lý giai đoạn chuyển tiếp.

Điều tất cả mọi người Việt Nam hôm nay đều phải đồng ý là chuyển hóa đất nước từ độc tài đang cộng sản trong trình tự dân tộc một cách hòa bình trong tinh thần hòa giải dân tộc.

Trong cuộc chuyển hóa này phải gắn bó mọi người Việt Nam với nhau không để gây ra những đổ vỡ mới

TQT: Xin cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng

Nguon anhbasam.wordpress.com


Clinton nói về ảnh hưởng của Hoa Kỳ sau 20 năm quan hệ Việt – Mỹ 

3-7-2015

HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt

Clinton nhận định như vậy trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ mừng Độc Lập Hoa Kỳ ở Hà Nội và cũng nhân dịp 20 năm  bình thường hóa bang giao Mỹ – Việt. 

 

Cựu Tổng Thống Bill Clinton, diễn giả danh dự trong buổi tiệc ở khách sạn JW Marriot Hà Nội, hôm Thứ Năm 2 tháng 7,  mừng 239 năm ngày Hoa Kỳ  độc lập và 20 năm Hoa Kỳ tái lập quan hệ bình thường với Việt Nam. (Hình: AP/Trần Văn Minh)

Tổng Thống Bill Clinton quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận Việt Nam năm 1994, bình thường hóa quan hệ ngoại giao ngày 11 tháng 7 năm 1995, và là nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến tranh vào năm 2000. Lần này là lần thứ năm ông trở lại Việt Nam, hầu hết cho hoạt động của tổ chức Clinton Foundation chống HIV/AIDS, bệnh lao và sốt rét.

Buổi tiếp tân do tòa đại sứ Hoa Kỳ tổ chức tối Thứ Năm tại Hà Nội có hơn 1,000 quan khách tham dự và giới chức cao cấp nhất bên phía Việt Nam là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Đại sứ Ted Osius và các cựu đại sứ Pete Peterson, Michael Michalak, đại biện Desaix Anderson, cùng ngoại giao đoàn các nước hiện diện trong buổi lễ.

Cựu Tổng Thống Clinton hồi tưởng lại tiến trình tái lập quan hệ bình thường giữa hai nước trải qua vô vàn trở lực, từ tâm lý ám ảnh bởi dĩ vãng ở cả hai phía, cho đến những nghi kỵ và những vấn đề khó khăn phức tạp còn tồn tại. Ông nói: “Bình thường hóa bang giao đối với tôi, về mặt cá nhân, chính trị và giá trị địa lý chiến lược là một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình. Nó giúp hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quan hệ hữu nghị và chứng tỏ cho thế giới ngày càng phân hóa rằng hợp tác vẫn là tốt đẹp hơn xung đột rất nhiều.”

Ông Bill Clinton vẫn nổi tiếng là người có tài nói năng khéo léo, không quên khen ngợi đại sứ Ted Osius. Ông nói: “Ông phó thủ tướng (Phạm Bình Minh) nói với tôi rằng đại sứ nói tiếng Việt rất giỏi khi giới thiệu tôi cho quan khách.” Cựu Tổng Thống cũng ca ngợi cựu đại sứ Pete Peterson là một biểu tượng để ông hành động đúng: “Quý vị đều biết đấy, ông ta đã hơn 6 năm là khách của chính quyền Việt Nam trong thời chiến tranh. Về Mỹ ông ứng cử thành Dân Biểu quốc hội, và trở thành đại sứ đầu tiên của chúng tôi ở Việt Nam. Tôi tin rằng bổ nhiệm ông là một trong những sự chỉ định tốt nhất mà tôi đã làm được. Rồi ông ta lập gia đình và qua sống ở Australia, mỗi tháng vẫn về thăm Việt Nam.” Pete Peterson là phi công máy bay chiến đấu F-4 Phantom, bị bắn rớt ở Bắc Việt tháng 10 năm 1966 và được phóng thích trong cuộc trao trả tù binh tháng 3 năm 1973. Bà vợ ông lấy năm 2002 khi đang làm đại sứ ở Hà Nội là một phụ nữ Úc gốc Việt, viên chức mậu dịch cao cấp của Australia.

Trong bài nói chuyện tại Hà Nội hôm Thứ Năm, ông Clinton ca ngợi 4 Thượng Nghị Sĩ Charles Robb, Max Cleland, John Kerry, John McCain – tất cả đều là cựu chiến binh Việt Nam –  trong số rất nhiều người đã góp phần vào tiến trình bình thường hóa bang giao Mỹ-Việt, mà ông chỉ là người quyết định sau cùng.

Đầu năm 1977, ngay khi trở thành Tổng Thống, Jimmy Carter đã chú trọng đến việc này. Tháng Ba năm ấy ông cử một phái đoàn đến Hà Nội, tuy nhiên hãy còn quá sớm để có thể đi tới một thỏa hiệp gì. Dù sao, tới tháng Năm, Hoa Kỳ đồng ý để Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Tiếp đó, cuộc đàm phán chính thức đầu tiên về tái lập quan hệ ngoại giao diễn ra tại Paris, cầm đầu phái đoàn Mỹ là thứ trưởng ngoại giao đặc trách Đông Á – Thái Bình Dương, Richard Holbrooke, và phái đoàn Việt Nam là thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền. Lúc đó Hoa Kỳ đề ra lộ trình ba bước, trong đó trước hết là được cung cấp thông tin về quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh và trao trả hài cốt những người đã chết. Phía Việt Nam đặt điều kiện bồi thường chiến tranh như thỏa thuận ở hòa đàm Paris.

Cuộc đàm phán ở Paris và những trao đổi giữa hai bên kéo dài không kết quả suốt thập niên 1990. Vấn đề bồi thường chiến tranh là vô nghĩa khi phía Việt Nam không tôn trọng hiệp định Paris năm 1973, và trong một thời gian rất lâu Hoa Kỳ vẫn nghi ngờ còn một số quân nhân Mỹ sống sót bị Việt Nam giam giữ ở nơi bí mật.

Năm 1990, thời Tổng Thống George H.W. Bush, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ngoại trưởng James Baker và chuyến thăm này được coi là đã tạo ra một vài bước định hướng cho việc thương thuyết. Ông Thạch nhìn nhận rằng điều kiện về bồi thường chiến tranh là giải pháp không khả thi nên từ bỏ, không đặt vấn đề này nữa. Trọng tâm của Việt Nam ở thời điểm ấy là Hoa Kỳ giải tỏa lệnh cấm vận. Một người góp phần thêm cho nỗ lực của Việt Nam và mở lối cho Hoa Kỳ là Thượng Nghị Sĩ John McCain, cựu tù binh chiến tranh nổi tiếng.

Cuối năm 1991, một bước tiến quan trọng đạt được khi phái đoàn Việt Nam do thứ trưởng ngoại giao Lê Mai cầm đầu tới New York và hai bên đồng ý thành lập nhóm chuyên viên giải quyết các bế tắc trong tiến tình đi đến bình thường hóa. Chương trình POW/MIA tìm kiếm hài cốt và lính Mỹ mất tích được thành hình sau đó.

Tháng Tư, 1992, Tổng Thống George H.W. Bush ký sắc lệnh nới lỏng cấm vận, cho phép các công ty Mỹ mở văn phòng đại diện ở Việt Nam và cho phép bán một số dược phẩm và nhu yếu phẩm.

Chiều hướng bãi bỏ cấm vận ngày càng được đẩy mạnh ở Hoa Kỳ, mặc dầu cũng có những chống đối mạnh mẽ từ một số tổ chức trong cộng đồng người Việt tị nạn. Thượng Nghị Sĩ John Kerry, cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, thuộc trong số những người tích cực vận động cho bước tiến này. Ông đã từng đề cao thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có đóng góp đặc biệt vào chương trình tìm kiếm tù binh và người mất tích trong nỗ lực tiến tới bình thường hóa bang giao.

Năm 1994, dự luật đề nghị gỡ bỏ cấm vận Việt Nam do hai Thượng Nghị Sĩ John Kerry và John McCain bảo trợ được Thượng Viện thông qua. Trước đó, Tổng Thống Bill Clinton đã tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối việc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tài trợ cho Việt Nam và khẳng định sẽ nới lỏng thêm lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Sau khi dự luật Kerry – McCain  thông qua Thượng Viện, Tổng Thống Bill Clinton chính thức chấm dứt cấm vận Việt Nam và cho mở văn phòng liên lạc ngoại giao giữa hai nước – đại diện ngoại giao Desaix Anderson là viên chức Mỹ đầu tiên  làm việc tại Hà Nội cho tới tháng 11 năm 1995 mở tòa đại sứ.

Cựu Tổng Thống Bill Clnton trong bài nói chuyện ở Hà Nội tất nhiên muốn đề cao những thành quả của 20 năm bình thường hóa quan hệ trên nhiều bình diện kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục và chiến lược.

Theo lời ông, quốc gia 20 năm trước chỉ có thu nhập mỗi người 1 dollar một ngày, bây giờ đang phát triển kinh tế vượt bực và dành  20% ngân sách cho giáo dục, tỷ lệ cao hàng thứ 12 trên thế giới. Hiện nay có 17,000 du học sinh Việt Nam ở các trường đại học Mỹ, con số cao hơn hai nước láng giềng Hoa Kỳ là Canada và Mexico.

20 năm trước quan hệ mậu dịch với Hoa Kỳ chỉ $500 triệu. Ngày nay Việt Nam vượt Thái Lan và Malaysia trở thành nước ASEAN đứng đầu về hàng hóa xuất cảng qua Hoa Kỳ, mỗi ngày 1,700 containers. Ông hy vọng sẽ còn thêm nhiều thành tựu khác nếu các cuộc thương lượng về thỏa hiệp mậu dịch TPP của Tổng Thống Obama có đủ sự ủng hộ lưỡng đảng, và nếu các tiêu chuẩn trong sáng, nhân quyền, quyền lao động, môi trường được giải quyết thỏa đáng.

Ông Clinton cho biết chương trình giáo dục kinh tế Fulbright sẽ được đưa vào Fulbright University of Vietnam, trường đại học tư nhân, bất vụ lợi đầu tiên ở Việt Nam. Theo lời ông, phó thủ tướng Phạm Bình Minh là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam thụ hưởng chương trình này, lấy bằng Master’s degree về luật quốc tế và ngoại giao tại Tufts University.

Nói đến Fulbright, cựu Tổng Thống Clinton cho rằng nhiều người không biết hay còn nhớ Thượng Nghị Sĩ Fulbright từng là nhân vật mạnh mẽ phê phán cuộc chiến tranh Việt Nam. Dẫn lời ông: “Có thể làm cho xã hội chúng ta là mẫu mực cho hạnh phúc con người, chúng ta là bạn của những chuyển biến xã hội và có đủ khoan nhượng để hòa giải với thế giới đối nghịch bên ngoài. Điều ấy do từ quyết định mở rộng vòng tay hay xiết chặt nắm đấm.” Ông Clinton kết luận rằng chân lý ấy đúng vào thời đại của Fulbright, đúng cho thời đại của chúng ta, và “20 năm là lúc để chúng ta nhìn lại mình đã đi xa quá khứ để tiến lên thế nào và tới đâu.”

Tới Hà Nội trong dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao, dù cố ý hay  tình cờ, cựu Tổng Thống Bill Clinton đã nêu bật lên ý nghĩa của một động thái tương đồng mà chính quyền Tổng Thống Obama đang tiến hành ở Cuba. Giá trị chiến lược của hai hành động cách nhau 20 năm này sẽ được chứng tỏ và hỗ trợ cho nhau trong tương lai. (HC)

Nguoi-viet.com

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► HÉ LỘ SỐ PHẬN CỦA ĐẠI TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH?

Posted by hoangtran204 on 11/07/2015

HÉ LỘ SỐ PHẬN CỦA ĐẠI TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH?

10-7-2015

Thời điểm biến mất của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh trước chuyến thăm Hoa kỳ của Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng cho thấy đó là một sự tính toán có chủ ý. Dường như trong những ngày này, đa phần dân chúng đã không còn quan tâm đến tình hình sức khỏe của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, mà thay vào đó là các tin tức liên quan đến chuyến thăm Hoa kỳ của Tổng Bí thư trọng.

Đánh giá về kết quả chuyến thăm Hoa kỳ của Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, cho thấy đây là một đòn ngoại giao phối hợp giữa Việt Nam với Mỹ nhằm chống lại Trung Quốc, đồng thời là một chiến thắng mới của Mỹ trong việc đối phó với Trung Quốc về mặt chiến lược. Đánh dấu đây là thời điểm xoay trục trong chính sách đối ngoại của Việt nam một cách rõ nét nhất.

Không phải ngẫu nhiên mà cách đây chưa lâu, Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Quân đội nguyên Giám đốc Viện bảo tàng Quân đội đã cho rằng (đại ý): nếu có chiến Tranh với Trung quốc thì dàn lãnh đạo Bộ quốc phòng hiện nay phải thay hết thì mới đánh Trung quốc được. Điều đó cho thấy, vào thời điểm trước tháng 6/2015 thì hầu hết lãnh đạo của Bộ Quốc phòng lúc đó có xu thế thân và giữ vai trò quan trọng trong phe thân Trung quốc của Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, người vốn được coi là cầm đầu một thế lực chính trị trong chính trường Việt nam, hòng đối chọi với phe cải cách có xu hường thân phương Tây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Cách đây ít ngày, việc báo Đời sống và Pháp luật đã bị Thanh tra báo chí xuất bản thuộc Bộ thông tin và Truyền thông phạt 30 triệu đồng, vì lý do dám đăng tải tiểu sử của Đại tướng Phùng Quang Thanh trong thời điểm hết sức nhạy cảm này, dù rằng sau đó ít phút đã vội gỡ bỏ. Sự việc trên được cho rằng, truyền thông nhà nước không muốn nhắc đến sự vắng mặt một cách đầy bí ẩn của Đại tướng Thanh.

Tuy vậy, ngày hôm qua (9/7/2015) trên website BBC tiếng Việt, một lần nữa dường như hãng truyền thông này cố tình xới lại vấn đề “nhạy cảm” trên, khi cho biết rằng: “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh “đã được cho ra viện” sau ca phẫu thuật u phổi. Tuy nhiên ông Thanh “vẫn tiếp tục ở lại Pháp để đợi được kiểm tra”. Thông tin trên được Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương nói với BBC ngày 9/7.”

Thông tin của Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương nói với BBC ngày 9/7 có nhiều điểm mập mờ, khi ông cho biết “Ngày giờ xuất viện cụ thể và nơi ở hiện nay của ông Thanh thì tôi không nắm rõ”. Vì Giáo sư Phạm Gia Khải, là một thành viên quan trọng của Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương; người đã nhiều lần cung cấp thông tin về tình hình sức khỏe của các cán bộ lãnh đạo cao cấp Việt nam.
Hơn nữa nếu thực sự Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đang chữa trị bệnh tại Pháp, thì chắc chắn trách nhiệm phải thuộc về Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, đồng thời họ phải cử người đi theo cùng để theo dõi và kịp thời báo cáo về nước hàng ngày diễn tiến sức khỏe của tướng Thanh cho Trung ương được biết. Hoặc cũng có thể là do Giáo sư Phạm Gia Khải không muốn tiết lộ với BBC (!?), nhưng khả năng này là rất ít, vì đã không muốn tiết lộ thông tin thì dễ dàng nhất là Giáo sư Khải đã phải từ chối trả lời phỏng vấn ngay từ đầu.

Điều đó cho thấy, người ta đang muốn úp úp, mở mở về thông tin này dường như để thực hiện thuyết âm mưu nhằm cho người dân nhớ lại chuyện đồn đoán về bệnh tình của Trưởng ban Nội chính TW, ông Nguyễn Bá Thanh. Nghĩa là cho dư luận quen với việc vắng mặt của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh, mà dẫu như còn sống nhưng cũng như chết rồi. Đây là mục đích của thế lực chính trị hiện đang nắm thế thượng phong trong chính trường Việt nam, tại thời điểm chỉ còn chưa đầy 06 tháng nữa sẽ diễn ra lễ khai mạc Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12.
Một thông tin rất đáng chú ý mà ít người không quan tâm, đó là, theo Cổng thông tin của Bộ Quốc phòng đưa tin cho biết “Sáng 3/7/2015, tại Hà Nội, thực hiện các Quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức Hội nghị Bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh và Chính ủy BTL Thủ đô Hà Nội. Đến dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Đảng ủy BTL Thủ đô Phạm Quang Nghị; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT) QĐND Việt Nam.

Tại hội nghị, Trung tướng Phí Quốc Tuấn đã tiến hành bàn giao chức vụ Tư lệnh BTL Thủ đô Hà Nội cho Thiếu tướng Nguyễn Doãn Anh, nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng BTL Thủ đô Hà Nội; Trung tướng Lê Hùng Mạnh bàn giao chức vụ Chính ủy BTL Thủ đô Hà Nội cho Thiếu tướng Nguyễn Thế Kết, nguyên Phó Chính ủy BTL Thủ đô Hà Nội.”

Tin này cũng được đưa trên một số phương tiện truyền thông khác với lý do cho rằng Tư lệnh Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội Trung tướng Phí Quốc Tuấn và Chính ủy Trung tướng Lê Hùng Mạnh đến tuổi nghỉ hưu. Điều đó đã khiến nhiều người đã đặt câu hỏi vì sao cả Tư lệnh và Chính ủy Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội lại nghỉ cùng một thời điểm? Song nếu chú ý sẽ thấy, thông tin từ Cổng thông tin Bộ Quốc phòng đã không giải thích rõ lý do, mà chỉ vắn tắt là “thực hiện các Quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng”.

Theo thông lệ của chính trường các nước, thì chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng hoặc Tư lệnh Lục quân (đối với các chế độ do dân bầu) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự ổn định của chế độ, khi mà quân đội trở thành lực lượng trung thành và bảo vệ Hiến pháp quốc gia. Đồng thời tư lệnh lực lượng quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ thủ đô – trung tâm đầu não chính trị, có ý nghĩa ví như một tấm áo giáp để bảo vệ chế độ đòi hỏi phải hết sức trung thành.

Được biết, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội được thành lập vào năm 2008 và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Cộng với việc Hà nội trong khoảng 20 năm trở lại đây vốn được coi là thành trì của phe bảo thủ, thì chắc chắn lớp chỉ huy như Tư lệnh Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội Trung tướng Phí Quốc Tuấn và Chính ủy Trung tướng Lê Hùng Mạnh giữ chức vụ từ đó đến nay chắc chắn phải là người tin cẩn của phe này.

Khi đã biết Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội có vai trò hết sức quan trọng, đó là chịu trách nhiệm bảo vệ khu vực Thủ đô Hà Nội, trung tâm đầu não của lãnh đạo đảng và nhà nước Việt nam. Thì chắc sẽ có không ít người đã đặt một loạt câu hỏi rằng:

• Có điều gì bất thường không?

• Tại sao lại có sự trùng hợp kỳ lạ như thế?

• Nếu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đau ốm đột xuất là chuyện bình thường, thì tại sao lại phải vội vã thay thế lãnh đạo của Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội?

Không chỉ thế, mà lại còn thay một lúc và ngay lập tức cả hai vị trí lãnh đạo là Tư lệnh và Chính ủy của Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội.
Chắc chắn đây sẽ là một diễn biến hết sức bất thường.

Điều đó cộng với các động thái không thiện chí từ phía Trung quốc đối với Việt Nam trong giai đoạn gần đây như việc Trung Quốc diễn tập bắn đạn thật trên Vịnh Bắc Bộ vào ngày 30/6/2015. Hay việc Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua một dự thảo đầu tiên của bộ luật mới về an ninh quốc gia, trong đó Bắc Kinh tự cho mình quyền dùng sức mạnh và mọi biện pháp cần thiết, kể cả quân sự để bảo vệ các lợi ích cốt lõi của họ. Và mới đây nhất, ngày 09/07/2015, 23 viên tướng Capuchia do ông Đại tướng Tea Banh dẫn đầu có mặt tại Bắc Kinh.

Phải chăng người ta sợ rằng nếu không thay đổi ngay chỉ huy của Bộ tư lệnh thủ đô Hà Nội, sẽ xảy ra việc tiến hành đảo chính dưới sự chỉ đạo của Trung quốc (!?)

Việc nội bộ lãnh đạo các quốc gia cộng sản thanh trừng lẫn nhau là việc hết sức phổ biến từ xưa đến nay, trong lúc ở Trung quốc trong lúc này cũng đang xảy ra những việc như vậy thì đối với chính trường Việt nam đây không phải là chuyện lạ. Qua đó cho thấy số phận của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh lúc này ra sao phần nào cũng đã hé ra một câu trả lời rõ hơn.

Đồng thời sự họat động ráo riết gần đây trong nội bộ quân đội của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã cho thấy, đến thời điểm này phe cải cách đã nắm chắc lực lượng quân đội trong tay. Điều mà trước kia là vấn đề trở ngại nhất đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc khống chế toàn bộ hệ thống chính trị của Việt nam

Cứ xem việc thay đổi lập trường 180 độ của Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, thể hiện qua các diễn văn phát biểu trong chuyến thăm Hoa kỳ mấy ngày vừa qua, chứ chưa kể đến thái độ và phong thái khá thỏa mái của ông Trọng thì cũng biết mọi việc liên quan đến tướng Thanh đã an bài.

Mà khả năng cao là rất có thể Đại tướng Phùng Quang Thanh đã bị phái cấp tiến bắt và giam giữ tại một địa điểm bí mật. Và sẽ chỉ được đưa ra xét xử sau khi Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 kết thúc, khi mọi vấn đề của bàn cờ chính trị Việt nam đã ngã ngũ.

10/7/2015
Việt Dũng – Dân Luận.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng

Posted by hoangtran204 on 09/07/2015

Báo chí “lề phải” bỏ qua chi tiết bất lợi cho chính quyền Việt Nam trong bản tuyên bố của TNS John McCain – 

Dân Luận tổng hợp

Sáng nay, 9/7/2015, báo Tuổi Trẻ đã đưa tin Thượng Nghị Sỹ John McCain ra tuyên bố về chuyến thăm Mỹ cố Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Thế nhưng, bài viết của tờ bào này đã lượt bỏ một số chi tiết quan trọng bất lợi cho chính quyền Việt Nam trong tuyên bố của TNS.

“Tuyên bố về chuyến thăm Mỹ cố Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng” đăng trên báo Tuổi Trẻ

Báo Tuổi Trẻ đưa tin về tuyên bố của thượng nghị sĩ John McCain về chuyến thăm của Tổng Bí Thư, trong đó có đoạn: “Ông McCain cũng ca ngợi Việt Nam gần đây đã tiến hành các bước đi đáng khích lệ nhằm cải thiện hồ sơ nhân quyền.”

Trên thực tế, ông John McCain nói đầy đủ thế này: “Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hỗ trợ xã hội dân sự ở Việt Nam, bao gồm việc ủng hộ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và quyền của người lao động, như một phần của mối quan hệ giữa hai nước. Chính quyền Việt Nam gần đây đã tiến một bước khiêm tốn nhưng đáng cổ vũ trong việc cải thiện tình hình nhân quyền, và Hoa Kỳ phải tiếp tục hỗ trợ tất cả các công dân Việt Nam – những người tìm cách xây dựng bằng những phương thức hòa bình một quốc gia giàu và mạnh, tôn trọng quyền con người và pháp trị…”

“Thêm vào đó, tôi tin rằng Hoa Kỳ cần phải tiếp tục nới

lỏng lệnh cấm vũ khí quân sự sát thương cho Việt Nam vào thời điểm này, bao gồm tất cả các hệ thống mà có thể giúp quân đội Việt Nam hoạt động hiệu quả trên, dưới và trong vùng lãnh hải của mình. Những bước để nới lỏng, và cuối cùng là gỡ bỏ, lệnh cấm vận này sẽ cần đến việc chính phủ Việt Nam thực thi những bước đi đáng kể và bền vững để bảo vệ quyền con người, bao gồm thả các tù nhân lương tâm và cải cách luật pháp. Đây sẽ là mục tiêu của cả hai bên, và hai bên sẽ làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu này càng sớm càng tốt vì lợi ích chung của hai quốc gia”.

Bản tin trên báo Tuổi Trẻ:
http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20150709/tns-john-mccain-ra-tuyen-bo-ve-chuyen-tham-cua-tong-bi-thu/774768.html

Bản tiếng Anh của tuyên bố:
https://www.mccain.senate.gov/public/index.cfm/press-releases?ID=e0d2f5d3-cb83-452e-b095-8c0c8ae6e292

-nguon: http://www.danluan.org

Bình luận của một người Mỹ: “Tôi ủng hộ Hoa Kỳ hỗ trợ người dân Việt Nam chiến đấu chống lại những phương thức xâm lược của Trung Quốc, nhưng đầu tiên, vấn đề nhân quyền phải được đặt lên hàng đầu vì nếu quyền con người được bảo vệ, và không có trí thức hay sinh viên nào phải ngồi tù, thì tôi tin rằng người Việt có thể tự bảo vệ đất nước của mình chống lại những kẻ đang bắt tay với Bắc Kinh. Anh không thể chiến thắng một cuộc chiến khi mà những kẻ phản bội đang ngồi trong chính hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam.

Nếu anh bàn giao súng ống và vũ khí cho những kẻ phản bội đang bắt tay với Bắc Kinh, những vũ khí đó sẽ không được sử dụng để bảo vệ đất đai Việt Nam chống lại Trung Quốc, thay vào đó, chúng sẽ được sử dụng để bắn vào những người dân thường để bịt miệng họ.

Nếu bạn mở cửa giao thương với các lãnh đạo chính quyền cộng sản mà không đặt vấn đề nhân quyền lên hàng đầu, Trung Quốc sẽ tiếp tục vào Việt Nam và mở các công ty bên trong Việt Nam để hưởng lợi từ các giao dịch thương mại này và phá hủy môi trường của Việt Nam. Cuối cùng, Trung Quốc sẽ thắng, không phải là người Việt.

Vì vậy, vấn đề quyền con người là ưu tiên hàng đầu. Nếu không có nó, tất cả các biện pháp để đưa ra một sự thay đổi sẽ thất bại.”

Chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng 

7-7-2015

Ngô Nhân Dụng

Trước khi ông Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, nhiều người nghi rằng ông sẽ không được tiếp đón tại phòng Bầu Dục. Bởi vì ông chỉ là tổng bí thư đảng, không là một nguyên thủ quốc gia hay người cầm đầu chính phủ. Nhưng cựu Tổng Thống Jimmy Carter đã tiếp ông Ðặng Tiểu Bình ngày 29 Tháng Giêng năm 1979 ở đó. Hai người đã ký nhiều thỏa ước quan trọng, mặc dù lúc đó Ðặng Tiểu Bình chỉ giữ chức phó thủ tướng chính phủ Trung Cộng, ngoài chức chủ tịch hội đánh bài Bridges. Họ còn biểu diễn đứng trên bao lơn Tòa Bạch Ốc vẫy tay chào dân chúng, cùng hai bà phu nhân.

Tuy vậy, Ðặng Tiểu Bình khác hẳn Nguyễn Phú Trọng. Tuy cả hai đều là chủ tịch Quân Ủy Trung Ương đảng, nhưng họ Ðặng nắm quyền sinh sát cho đến khi chết; còn Nguyễn Phú Trọng thì không có thực quyền suốt từ lúc lên chức tổng bí thư; tới bây giờ thì chỉ ngồi làm hư vị, chờ về hưu.

Cho nên chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng phải gọi là “Chuyến đi dối già.” Ðại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1998) giải nghĩa: “Dối già” là Trối già, thí dụ, “đi chơi trối già một chuyến.” Tự điển Anh Việt của Nguyễn Ðình Hòa (1966) dịch: “Dối già – to do as a joy in one’s old age,” hưởng thú vui lúc về già. Tân Ðại Tự Ðiển Việt-Anh của Nguyễn Văn Tạo (1986) cũng cho thí dụ: “Dối già – đi chơi dối già, to make a trip before one dies,” đi chơi một chuyến trước khi chết. Ông Nguyễn Phú Trọng đang đi một chuyến dối già; mặc dù mới 71 tuổi, ông có thể sẽ còn sống vài ba chục năm nữa. Khác với Nông Ðức Mạnh đã an phận đóng vai bù nhìn, ông Nguyễn Phú Trọng có cố gắng giành quyền hành về cho guồng máy Ðảng, không để Nguyễn Tấn Dũng thao túng hết. Ông lập ra một Ủy Ban Chống Tham Nhũng trong Trung Ương Ðảng, tổng bí thư làm trưởng ban. Nhưng ông là một tướng không có quân, một nhà buôn không có vốn; cái ủy ban của ông chẳng thấy đụng được tới lông chân thằng tham nhũng nào cả. Cuối cùng, giành được quyền rồi lại chỉ chứng tỏ mình vô tài hoặc bất lực, hoặc cả hai.

Nguyễn Phú Trọng cố gắng tấn công Nguyễn Tấn Dũng mấy lần, dùng guồng máy Trung Ương Ðảng mà trên nguyên tắc ông ta đứng trùm. Trọng ra quân lần thứ nhất năm 2013, trong hội nghị Trung Ương 6 nhân cơ hội Dũng làm kinh tế thất bại nặng nề với các vụ tham ô làm nhục quốc thể như Vinashin, Vinalines, vân vân. Nhưng Hội Nghị 6 lại kết luận: “Trung ương tiếp tục khẳng định… những kết quả quan trọng đã đạt được của doanh nghiệp nhà nước (tức là những Vinashin, Vinalines)!” Bản thông cáo chính thức viết, “Bộ Chính Trị đã thống nhất 100% đề nghị… một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị.” Nói đến “kỷ luật một đồng chí” mà không dám khai họ tên là gì cả. Thông cáo lại viết tiếp: “Ban Chấp Hành Trung Ương đã… đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính Trị và một đồng chí trong Bộ Chính Trị!” Cũng lại “một đồng chí” mà không dám nói tên; Trương Tấn Sang sau vẫn sợ, chỉ dám gọi là “đồng chí X.”

Trận tranh quyền giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng diễn màn kế tiếp trong Hội Nghị Trung Ương 7. Trọng và Dũng mỗi người đề nghị hai ứng viên vào Bộ Chính Trị, hai con gà của Dũng (Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân) đá bại gà của Trọng (Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ – ông Thanh sau đó đã qua đời). Trận đấu gần đây nhất là Hội Nghị Trung Ương 10 vào Tháng Giêng năm 2015, quyết định phe nào sẽ thắng trong Ðại Hội Ðảng lần thứ 12 năm tới. Họ bầy trò 197 Ủy viên và dự khuyết bỏ phiếu tín nhiệm 20 người trong Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư. Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, được 152 phiếu “tín nhiệm cao.” Nguyễn Phú Trọng đứng hàng thứ 8 với 135 phiếu; thua Trương Tấn Sang 149 phiếu, Nguyễn Thị Kim Ngân 145 và Phùng Quang Thanh 144. Ðồng minh của Nguyễn Phú Trọng là Tô Huy Rứa đứng hàng thứ 17, Phạm Quang Nghị hàng 19, và Hà Thị Khiết đứng chót. Hội Nghị 10 coi như chấm dứt cuộc đời chính trị của Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù Trọng là trưởng Tiểu Ban Nhân Sự đại hội sang năm nhưng sẽ đành để cho Dũng làm đạo diễn.

Tại sao nhiều ủy viên Trung Ương Ðảng nghiêng về ông thủ tướng như vậy? Bởi vì Dũng đã thu nắm hết quyền quyết định kinh tế; trong 10 năm qua họ đều được chia quyền, chia lợi. “Trong tay đã có đồng tiền,” Dũng có thể đem phân phát, còn Trọng thì tay trắng. Từ khi Ðảng Cộng Sản bắt chước làm kinh tế tư bản, các “luật lệ cuộc chơi” đã thay đổi. Danh phận và địa vị trong guồng máy đảng không có giá trị nào nữa. Ðồng tiền, nhất là đồng đô la, mới đóng vai quyết định. Sau cùng, ba phần tư các ủy viên Trung Ương Ðảng chạy theo Dũng vì cần bảo vệ cái hệ thống chia chác cho họ được hưởng phần xôi thịt béo bở!

Nhưng tại sao Nguyễn Phú Trọng vẫn muốn đi Mỹ và được đi Mỹ dối già? Ðối với phe cánh Dũng thì việc vận động cho Trọng đi Mỹ, xin bằng được cho vào ngồi trong phòng Bầu Dục, là một cách nhục mạ công khai. Cả cuộc đời chính trị của Trọng đã bị gán cho nhãn hiệu “thờ thiên triều!” Nay phải quay 180 độ để sang Mỹ, tức là đã chịu thua – không những thua trong nội bộ đảng mà còn thua cả trong chính sách ngoại giao.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng vui vẻ chịu nhục, vì chuyến đi này lại là một cách rửa mặt trước khi về vườn. Một người Việt biết mình sắp chấm dứt cuộc đời chính trị, không ai muốn để lại trong lịch sử cái tiếng “tay sai Tàu!” Trọng cần phải rửa sạch cái nhãn hiệu đó, trong khi còn giữ chức tổng bí thư. Nhìn thấy làn sóng phẫn nộ của 90 triệu người dân Việt Nam, Trọng biết rằng sớm muộn ngọn triều dâng sẽ thay đổi hết. Ðảng Cộng Sản Việt Nam sớm muộn sẽ phải quay sang nhờ vả Mỹ; chỉ mong quên mối nhục đem con voi Tàu về dày mả tổ tiên rồi bám theo ăn bã mía hơn nửa thế kỷ vừa qua. Trọng cần đi Mỹ một chuyến, chuyến đi dối già không phải để hưởng thú vui nào mà chỉ để rửa cái mặt đầy những vết chàm Trung Cộng.

Cho nên trước khi đi Trọng đã tuyên bố hoan nghênh vai trò của Mỹ trong vùng Biển Ðông Nam Á, và báo trước sẽ thảo luận việc hợp tác quân sự với Mỹ. Hoan nghênh Mỹ là đi ngược với đường lối thiên triều, vì Trung Cộng vừa mới nhắc lại lời phản đối Mỹ, một xứ ở tuốt bờ xa mà cứ xía vô chuyện biển, đảo bên trong Cửu Ðoạn Tuyến!

Như vậy có phải Nguyễn Phú Trọng đã bỏ chủ trương theo Tàu để theo Mỹ hay không? Thực ra các lãnh tụ Cộng Sản chỉ lo đến quyền hành và lợi lộc của chính họ, chẳng có anh nào theo nước lớn nào cả. Hồ Chí Minh đã từng xin ôm chân Mỹ nhưng bị gạt ra ngoài vì tình báo cả thế giới biết tay này là gián điệp của Stalin từ hơn 20 năm. Thế là Hồ phải bám chân Mao Chủ Tịch. Lê Duẩn đã ôm chân Mao để thanh toán các đối thủ “xét lại chống đảng;” nhưng sau lại bỏ Tàu để ôm chân Liên Xô; nhẫn tâm phản phúc đến mức ghi cả vào Hiến Pháp rằng nước Tàu là kẻ thù truyền kiếp.

Trong cuộc tranh chấp quyền hành giữa các thủ lãnh Cộng Sản Việt Nam, họ đóng trò thân nước này hay nước khác chỉ vì nhu cầu giai đoạn. Tất cả chỉ là bôi mặt vẽ hề trên sân khấu, khi tấn tuồng đổi màn thì các diễn viên cũng rửa mặt, bôi lại lớp son phấn mới, vẽ râu ria đội mũ màng mới. Vì vậy, ngày 30 Tháng Tư vừa qua, khi đã nắm chắc phần thắng trong Ðại Hội 12 sang năm, Nguyễn Tấn Dũng đã biểu diễn một bài diễn văn chống Mỹ. Bởi vì Dũng biết rằng mình chỉ đóng tuồng, nói cho các đảng viên ngớ ngẩn đứng nghe, chẳng có báo, đài nào ở nước Mỹ nó nhắc tới cả! Trước khi Dũng nắm toàn quyền và Ðảng Cộng Sản quay đầu xin nương tựa vào nước Mỹ, Dũng cần phải chứng tỏ mình không phải là tay sai Mỹ!

Chuyến đi dối già của ông Nguyễn Phú Trọng là một cảnh phụ trong tấn tuồng chính trị nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam, được đưa qua diễn ở nước Mỹ, nhưng nhắm cho người Việt Nam ở trong nước coi. Ông Trọng chính thức mời ông bà Obama sang thăm Việt Nam, không phải Sang, không phải Dũng. Ông còn dám khoe rằng mình đã chia sẻ quan điểm với tổng thống Mỹ về “những khai triển gần đây ở Biển Ðông và mối lo ngại về các hoạt động gần đây không theo đúng luật lệ quốc tế khiến tình hình thêm phức tạp.” Nghe câu này, nhiều người ở Hà Nội, Sài Gòn sẽ trầm trồ: Ðấy nhé, Ðồng chí Nguyễn Phú Trọng đâu phải là tay sai của Tàu! Ðó là điều ông Nguyễn Phú Trọng mong ước trước khi về vườn!

Rồi tới đầu năm 2016, Nguyễn Tấn Dũng lên ngồi ghế tổng bí thư, có thể kiêm luôn chức chủ tịch nước. Dưới áp lực của nhân dân cả nước đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phải dần dần quay lưng với các “đồng chí anh em” Trung Quốc, cách này hay cách khác. Chẳng phải vì họ yêu nước hay chán cái chủ nghĩa cộng sản; nhưng đó là cách duy nhất để chính họ vẫn nắm quyền nắm lợi trong tay trong một thời gian nữa. Cũng giống năm 1986 các lãnh tụ Cộng Sản thấy “không đổi mới thì chết;” bây giờ họ cũng thấy nếu không lánh xa Tàu thì dân sẽ giết! Mục đích chính vẫn là phải bám lấy quyền hành! Ðó là ý nghĩa thật tình đằng sau lời bình luận trên mấy tờ báo đảng về chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng: “Chuyến thăm sẽ… khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam.”

Nguon: nguoi-viet.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Việt Nam chỉ còn chọn một trong hai con đường

Posted by hoangtran204 on 01/07/2015

Thiện Tùng

29-06-2015

Để đến nước nầy mà thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói tỉnh bơ: “Càng căng thì phải càng độc lập tự chủ”. “Càng căng thì không bao giờ để bị kéo vào những liên minh với nước nầy để chống lại nước khác”. Một câu nói buông xuôi, xa rời thực tế, chỉ có giá trị an ủi.

Nhìn thực trạng, VN có “độc lập, tự chủ” đâu mà giữ?! Nếu đã độc lập tự chủ sao thời gian qua phải khổ công tính chuyện “thoát Trung”?

Hãy nhìn trên đất liền, biển, đảo Việt Nam, như tầm ăn dâu, Trung Quốc đang gậm nhấm cùng khắp. Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Họ luôn giở giọng kẻ cả, xem Việt Nam như thuộc địa hay chư hầu của họ – thật tủi hổ.

Nếu chỉ nói “không liên minh liên kết với nước nầy để chống nước khác” là sự khờ khiệu, Trung Quốc đang cười hiếp mắt về câu nói nầy. Không thể nói thế, phài nói “Không liên minh với nước nầy để chống nước khác với điều kiện nước khác đừng ỷ mạnh ăn hiếp tôi”. Trung Quốc đang ỷ mạnh ăn hiếp tôi thì tôi không chỉ liên minh với một nước – mà nhiều nước, để tự vệ, chớ chẳng lẽ ở đó chịu chết? phải phản ứng sinh tồn.

Xâm lược mềm trên đất liền !?

Xin lãnh đạo Việt Nam nói chung, thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói riêng, hãy nhìn trong đất liền và biển đảo xem, đất nước Việt Nam có độc lập được với Trung Quốc không, đừng nói để an ủi nữa ?!

Trung Quốc đang gây sự ở Biển Đông, Nga đang gậy sự ở Ukraine, cả hai đang bị thế giới cô lập, buộc họ phải liên minh liên kết với nhau. Cho dầu đó là sự liên minh ma quỷ, nhưng khi ma quỷ liên kết với nhau thì người đời cũng khó yên với chúng.

Ngoài cài cấm người trên đất liền, TQ tuyên bố: trừ hải phận của mỗi quốc gia, phần còn lại của Biển Đông thuộc TQ. Vì muốn đủ mạnh chống Mỹ, Nga mặc nhận với TQ về đường lưỡi bò ấy, ngược lại TQ mặc nhận với Nga về Ukraine. Trung Quốc và Nga chuẩn bị cùng tập trận ở biển Đông để thị uy với các nước Asean có nguồn lợi ở Biển Đông nói chung, với Mỹ nói riêng.

“Đơn thương độc mã” Trung quốc không dám làm liều, chớ có Nga hậu thuẫn thì TQ không còn ngán ai, kể cả Mỹ.

Về phía Mỹ và đồng minh của họ, dầu mạnh tới đâu, Mỹ cũng phải thận trọng hơn khi Nga và Trung Quốc liên kết với nhau. Hơn nữa, Mỹ cũng đã từng nói: họ không can dự vào việc tranh chấp hải đảo của các nước trong khu vực biển Đông mà họ chỉ quyết duy trì đường hàng hải quốc tế ở đây thôi. Vậy thì nếu TQ cưỡng chiếm thêm quần đảo Trường Sa của Việt Nam nữa thì chắc gì Mỹ can thiệp? Việt Nam bao giờ cũng coi TQ là bạn, là đồng chí thì Mỹ can thiệp làm gì cho thêm rắc rối.

Để đến nước nầy, Việt Nam không còn đu dây được nữa, chỉ phải chọn một trong hai phương án:

1/ Tiếp tục chơi thân với Trung quốc để mong họ “thương nhờ ghét chịu”, dầu mất luôn Trường Sa hay cả đất nước VN trở thành thuộc địa của Trung Quốc cũng đành cam phận.

2/ Liên minh hay liên kết với Mỹ và các nước để từng bước “thoát Trung”, ngăn chặn hành vi xâm lược mềm của Trung Quốc – “mềm nắn, rắn buông” là bản chất cố hữu của giới cầm quyền Trung Cộng. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay tương tợ như Việt Nam Cộng hòa trước kia, nếu không khéo về mặt ngoại giao, Việt Nam sẽ là “sân thi đấu” của các cường quốc – chết nữa ?!

Đất nước đang bị Trung Quốc xâm lấn, kinh tế lâm nguy, xã hội bất an…, lãnh đạo chia bè chia cánh tranh giành quyền lực, đang chúi mũi tính chuyện chia ghế ở đại hội 12 .v.v… Thử hỏi còn bất hạnh nào hơn đối với dân tộc Việt Nam ?!

Nguon:     anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4221-viẹt-nam-chi-con-chon-mot-trong-hai-con-duong/#more-148690

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

Posted by hoangtran204 on 18/06/2015

BBC

Đức Hồng – Gửi tới BBC từ Tp HCM

17-06-2015

Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

Bức ảnh 'Em bé Napalm' được báo chí dùng nhiều trong Cuộc chiến Việt Nam

Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải.

Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.

Nguồn gốc của bức ảnh

Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.

Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?

Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.

Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?

H1

Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế.

Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.

Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.

Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?

Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.

Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”.

Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn?

Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.

Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?

 Nhiếp ảnh gia Nick Út tại cuộc triễn lãm ảnh Chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội vào tuần trước

Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.

Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.

Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?

Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?

Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ.

Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.

Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.

Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì? Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại.

Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.

Nhà cầm quyền Việt Nam – phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.

Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Vì Sao Trung Quốc Thách Thức Cả Thế Giới Trong Cuộc Tranh Chấp Trên Biển Đông Hiện Nay

Posted by hoangtran204 on 03/06/2015

Nguyễn Trọng Bình

Quy mô xây dựng của Trung Quốc tại bãi đá Huy Gơ – Ảnh: Võ Xuân Hiệp

1. Câu chuyện biển Đông lại một lần nữa nóng lên kể từ khi Mỹ điều máy bay do thám và công bố những hình ảnh bồi đắp, cải tạo xây dựng các đảo mà trước đây họ đã dùng vũ lực cướp từ tay Việt Nam. Việc làm này của Trung Quốc hiện đang bị dư luận và cộng đồng thế giới lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ. Tuy vậy, có thể thấy không riêng gì lần này, mỗi khi bị cộng đồng thế giới chỉ trích thì gần như ngay lập tức Trung Quốc phản ứng lại với một thái độ và tâm thế không hề nao núng (nếu không muốn nói là rất tự tin và đầy kiêu hãnh). Tại sao như vậy? Tại sao Trung Quốc dù nghe hết, biết hết những gì dư luận thế giới nói về mình nhưng họ vẫn cứ làm với thái độ bất chấp tất cả?

Đặt ra vấn đề trên để thấy rằng, lâu nay, trong cuộc tranh chấp ở biển Đông với Trung Quốc, đa phần chúng ta chỉ xem xét vấn đề ở phương diện nào có lợi cho ta nhất mà thôi. Điều này là đương nhiên. Tuy vậy, nếu như thế có khi nào là chủ quan và duy ý chí vì như người xưa nói “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”?

Lịch sử và văn hóa Trung Quốc cho thấy họ là bậc thầy của chiêu thức “binh bất yếm trá”. Vì vậy một tinh thần cảnh giác thường trực và cao độ với Trung Quốc sẽ không bao giờ thừa. Đặc biệt, đừng bao giờ chủ quan cho rằng“không ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam” hay như có người phát biểu“tôi không bất ngờ về việc làm của Trung Quốc hiện nay”. Thực ra, nói như thế là ngụy biện vì nếu đã hiểu rõ bộ mặt thật họ vậy sao cứ chơi và xem họ là “bạn thân”, là “đồng chí tốt”? “Bạn” và “bạn thân” là hai vấn đề, hai quan điểm, hai lập trường rất khác nhau chứ? Ai đời đã biết cái đứa năm lần bảy lượt đâm sau lưng mình mà vẫn kết thân với nó? Nói ra điều này chỉ càng làm cho người bên ngoài họ cười vào mặt mình mà thôi.

Nói cách khác, trong bất cứ mọi thời điểm mọi hoàn cảnh, cần thiết chúng ta phải tự đặt ra thật nhiều giả thiết và tự phản biện lại tất cả các giả thiết ấy để thấy rõ hơn đâu là điểm mạnh đâu là điểm yếu của mình. Có như vậy mới không bị động và may ra mới tìm được giải pháp tối ưu nhằm đối phó với sự ranh ma của Trung Quốc

2. Vì sao Trung Quốc luôn tỏ thái độ xem thường và thách thức Việt Nam và cộng đồng thế giới trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông? Để trả lời câu hỏi này nhất định chúng ta phải tự đặt mình vào lập trường và quan điểm của họ để phân tích, xem xét. Ở đây tôi thử phân tích và lý giải một số căn nguyên như sau:

– Thứ nhất, về mặt chiến lược “đối nội”, trong khi Việt Nam đến giờ vẫn còn loay hoay không biết tuyên truyền; “giải thích” làm sao cho dân chúng trong nước hiểu và đồng thuận; thậm chí Nhà nước hiện này còn rất “kiên định” cấm dân chúng biểu lộ sự bất bình trước thái độ hung hăng của Trung Quốc (vì “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”) thì ngược lại, từ lâu Trung Quốc đã có một chiến lược dài hơi để tuyên truyền cho toàn dân họ rất bài bản và kỹ lưỡng. Nói cách khác, trong khi “lòng dân” và “ý Đảng” ở Việt Nam vẫn còn chưa gặp nhau thì ngược lại, dân chúng Trung Quốc riêng về vấn đề biển Đông từ trước tới nay vẫn luôn ủng hộ chính sách ngoại giao cứng rắn và không nhân nhượng Việt Nam của chính quyền ông Tập Cận Bình.

Về vấn đề này, mới đây tác giả Đoàn Công Lê Huy trong bài viết “Bàn cờ chín khúc biển Đông của Trung Quốc” trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 28/5/2015 đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể rằng như sau: “Như kỳ thủ đánh cờ nghĩ trước trăm nước, qua hàng thế kỷ họ luôn xuất kỳ có chủ ý. Họ chuẩn bị chu đáo và thực hiện từng nước đi. Toàn quân, toàn dân, toàn diện, được chỉ huy từ trên cao, bằng một cây gậy nhất quán. Họ luôn hát vang giai điệu chính và làm sao để gần 1,4 tỉ người không lạc điệu. Trên biển dẫu có lúc lộn xộn, có đến năm “lực lượng chấp pháp”, năm con rồng cùng quấy phá biển Đông – ngũ long nộ hải – thì cũng không bao giờ họ lạc giai điệu chính. Có nghĩa là chiến lược vẫn nhất quán dù chiến thuật có thể lúc thế này lúc thế kia. Mao Trạch Đông hay Tưởng Giới Thạch dù có khác nhau về phe phái thì bản đồ vu vơ đường lưỡi bò chín đoạn vẫn được đồng thuận xài chung. Họ vẫn cùng nhau hát đúng giai điệu chính trên căn bản này”.

– Thứ hai, về đối ngoại, thời gian qua chính quyền Trung Quốc hoàn toàn yên tâm vì họ biết quan điểm và lập trường của Việt Nam là không kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines; Việt Nam cũng không liên minh với nước nào để chống lại họ. Và điều quan trọng hơn cả là Mỹ, Nga (hai cường quốc trên thế giới) đều tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.

– Thứ ba, về mặt pháp lý nhất là việc nhìn nhận và giải thích luật quốc tế, nếu như Việt Nam đang có chút lợi thế là bộ sưu tập các bản đồ cổ (trong đó chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền của Trung Quốc) và các học giả quốc tế cũng không chấp nhận ranh giới “đường lưỡi bò” thì ngược lại Trung Quốc có ưu thế hơn thông qua một “bằng chứng lịch sử” khác. Đó là cái công hàm oan nghiệt do ông Phạm Văn Đồng thay mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký và “trân trọng” gửi cho họ vào năm 1958 (mà mọi người đã rất nhiều lần tranh luận trước đây). Dù muốn dù không chúng ta phải thừa nhận, Việt Nam rất khó ăn khó nói với bạn bè thế giới về nội dung ghi trong cái mảnh giấy (tuy chỉ có mấy chữ nhưng tác hại rất khủng khiếp) này.

Cho nên, thời gian qua nếu Việt Nam nói “chúng tôi có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì phía ngược họ cũng đường hoàng, dõng dạc tuyên bố giống hệt như vậy. Và khi chúng nói họ “hung hăng”, “ngang ngược” thì họ cũng đáp trả lại Việt Nam là kẻ “lật lộng”, “phản bội”…

– Thứ tư, nhiều chuyên gia luật hiện nay chỉ tập trung phân tích việc Trung Quốc cải tạo các đảo đá ngầm hiện nay thành đảo nhân tạo thì về mặt pháp lý căn cứ vào các điều khoản của “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) họ sẽ không được công nhận chủ quyền. Điều này là không có gì sai. Tuy nhiên, đáng tiếc là Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến vấn đề ấy. Điều họ quan tâm là phải làm sao bằng mọi cách nhanh chóng kiểm soát tất cả những đảo mà họ đang xây dựng để từng bước kiểm soát cả biển Đông. Trên cơ sở đó làm bàn đạp từng bước dùng sức mạnh “nước lớn” của mình để áp đặt “luật chơi” mới lên các “nước nhỏ” nhằm phân chia lại trật tự thế giới với Mỹ ở Thái Bình Dương. Tóm lại, mục tiêu của họ là kiểm soát trên thực địa chứ không phải chuyện công nhận hay không công nhận của UNCLOS. Đừng nghĩ rằng, họ không sợ “mất mặt”, “mất uy tín” với bạn bè quốc tế. Thực ra, họ biết hết những chuyện ấy nhưng điều quan trọng là họ tin rằng sau khi độc chiếm biển Đông; trở thành bá chủ họ sẽ tạo dựng và lấy lại uy tín còn mạnh mẽ hơn nữa. Nói cách khác đây là chiêu“tiên hạ thủ vi cường/ Hậu thủ vi tai ương” trong Binh pháp Tôn Tử mà họ đương nhiên sành sỏi hơn chúng ta rất nhiều.

– Cuối cùng, những ngày qua, kể từ khi Mỹ đưa máy bay vào do thám và công bố những hình ảnh Trung Quốc đang cải tạo đảo, dư luận lại bắt đầu làm sống lại giả thuyết “chiến tranh Trung – Mỹ” sắp nổ ra. Dĩ nhiên chúng ta nhất định cũng cần đặt ra tình huống giả định này để nhìn nhận vấn đề cho thật thấu đáo. Tuy vậy, như nhiều chuyên gia khác cũng nhận định, kịch bản Trung – Mỹ xảy ra chiến tranh trên biển Đông trong tương lai gần ít có khả năng xảy ra hơn kịch bản Trung Mỹ “bắt tay” và thương lượng với nhau. Câu nói của ông Tập Cận Bình khi gặp ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây:“Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Trung Quốc và Mỹ” ít nhiều đã ngầm nói lên điều này. Và nếu như kịch bản này xảy ra thì chắc chắn Việt Nam khi ấy chỉ là một quân cờ để hai cường quốc thế giới mang ra “cân, đo, đong, đếm” mà thôi.

3. Từ những phân tích trên có thể nói, hiện nay nhìn toàn cục Trung Quốc đang nắm thế chủ động hơn so với Việt Nam và các nước khác tuyên bố chủ quyền ở Biến Đông. Đó chính là lý do thời gian qua mặc cho Philipines kiện họ ra tòa quốc tế và mặc cho Bộ ngoại giao Việt Nam liên tiếp gửi các công hàm phản đối nhưng họ vẫn chẳng coi ra gì.

Từ đây, trên phương diện nhận thức chung, để đối phó và tạo ra ưu thế cho mình trong cuộc đối đầu này, Việt Nam, theo tôi nhất định phải tập trung vào các nhóm vấn đề quan trọng sau đây:

– Một, phải thay đổi tư duy trong cách tiếp cận vấn đề, tức là điều quan trọng bây giờ là phải hết sức cảnh giác đồng thời tập trung mọi nguồn lực nhằm giữ vững các đảo hiện tại đang nắm quyền kiểm soát. Nói cách khác vấn đề bây giờ là không để mất thêm đảo nào nữa vào tay Trung Quốc chứ không phải nói như ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam dạo nào:“Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ đòi lại”.[1] Thử hỏi tại sao bây giờ không quyết liệt đòi, không tự tin sẽ đòi lại được mà nhắn gửi, dặn dò con cháu như thế? Nói như thế khác nào đã công khai thừa nhận sự thất bại của mình hiện nay đồng thời đẩy quả bóng trách nhiệm cho thế hệ mai sau? Và phải chăng thế hệ lãnh đạo trước đây cũng từng suy nghĩ như vậy, cũng từng “trăn trối” và nhắn gửi thế hệ lãnh đạo của ông Phó Thủ tướng hôm nay nhưng các ông cũng làm được gì đâu!?

– Hai, cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ thay Việt Nam “bảo vệ nguyên tắc luật pháp quốc tế trên biển Đông”[2] và ngăn chặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà họ đang kiểm soát. Điều đó cũng có nghĩa trong hoàn cảnh hiện nay nếu còn chần chừ không thể hiện rõ ràng dứt khoát, lập trường quan điểm của mình chắc chắn Việt Nam mãi mãi chỉ là con tốt không hơn không kém trên bàn ngờ ngoại giao một khi Trung Quốc “bắt tay” với Mỹ bằng chiến thuật lùi một bước để tiến nhiều bước…

Và quan điểm và lập trường ở đây không phải là Việt Nam nên “theo ai” hay “ngã về bên nào” mà là cần nhanh chóng chấm dứt trò chơi “đu dây” đầy mạo hiểm với việc lấy cảng Cam Ranh ra để giữ thăng bằng. Hay tệ hơn nữa là tâm lý “tọa sơn quan hổ đấu”!

– Ba, về mặt đối nội Đảng, Quốc hội Việt Nam cần nhanh chóng ra Nghị quyết nhằm tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tình hình biển Đông hiện nay, đặc biệt nội dung bản Nghị quyết phải thể hiện rõ tinh thần hiệu triệu như lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây. Tức là “chúng ta càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới vì họ muốn cướp đảo của ta lần nữa…” Theo tôi, mọi chuyện đã đến nước này thì không còn gì mà giấu giếm, úp mở với nhân dân hay ngụy biện vì là chuyện “nhạy cảm”, “tế nhị” nên Quốc hội chỉ “họp kín”. Nếu ra được Nghị quyết lúc này về trước mắt sẽ ổn định được lòng dân còn về lâu thế hệ con cháu mai sau còn có cái để mà “ăn nói” với Trung Quốc (hay nếu như muốn tiếp tục “đòi lại” các đảo bị Trung Quốc cướp mất như lời dặn dò của ông Phó Thủ tướng mà tôi vừa đề cập ở trên). Và nhất là để lịch sử mai sau còn viết vào đó lại vài dòng ghi nhận công lao của thế hệ lãnh đạo hôm nay chứ không phải là không là những lời nguyền rủa nhu nhược, hèn kém.

– Cuối cùng, Việt Nam cần kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã làm. Cho dù Trung Quốc hiện nay không coi luật pháp quốc tế ra gì nhưng cần phải kiện họ vì chỉ có cách này cộng đồng quốc tế mới tin tưởng và ủng hộ Việt Nam nhiều hơn. Khi ấy Mỹ và các đồng minh Nhật, Úc… mới có “cơ hội” giúp Việt Nam ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc. Hiện nay, chính vì Việt Nam cứ ỡm ờ, không dám kiện nên cộng đồng quốc tế họ hoài nghi. Mình cứ nói “chính nghĩa” và “lẽ phải” thuộc về mình nhưng lại không cho thấy quyết tâm bảo vệ “chính nghĩa” và “lẽ phải” đến cùng thì làm sao người ta tin những gì mình nói.

Ngoài ra, khởi kiện bây giờ cũng là phòng tránh một sự lật lọng của Trung Quốc về sau. Tức là trong trường hợp sau khi hoàn thành việc cải tạo các đảo hiện nay, với sức mạnh và sự ảnh của một “nước lớn” có thể họ sẽ kiện ngược lại Việt Nam. Khi ấy với tư cách là “bị đơn” lại là “nước nhỏ”, Việt Nam rất khó thoát ra khỏi sự điều khiển của họ.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang (Nguyễn Gia Kiểng)

Posted by hoangtran204 on 28/04/2015

nguyengiakieng02“…Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết, Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn…”

Khi nhận định về Trung Quốc các chuyên gia thường quên hai điều rất cơ bản. Một là Trung Quốc là một thế giới hay một đế quốc – hay một thiên hạ theo cách nói của người Trung Quốc- chứ không phải là một nước, do đó không thể lý luận và dự đoán về nó như người ta thường làm với một quốc gia. Hai là Trung Quốc vốn sẵn có một văn hóa nghi lễ lấy hình thức để tạo ấn tượng về nội dung, có khi để che giấu nội dung. Văn hóa này đã được tăng lên nhiều lần dưới chủ nghĩa cộng sản mà một đặc tính nền tảng là che đậy sự thực.

Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.

Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa

Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.

Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này ; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không ? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào ? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao ?

Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.

Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp ?

Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.

Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.

Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trênWall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?

Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.

Nhưng kế hoạch nào ? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.

Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.

Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.

Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ ? Câu trả lời là : khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không ? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc “có sụp cũng còn lâu” chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.

Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt

Nhưng kinh tế suy thoái không phải mối nguy lớn nhất của Trung Quốc. Mối nguy lớn nhất là môi trường. Không khí tại các tỉnh phía Bắc ô nhiễm tới mức không còn thở được nữa ; nước vừa rất thiếu vừa nhiễm độc.

Một nghiên cứu phối hợp của bốn trường đại học MIT (Mỹ), Avraham Ebeinstein (Do Thái), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Thanh Hoa (Trung Quốc) công bố tháng 7-2013 tiết lộ một sự kiện kinh khủng : tuổi thọ trung bình của khối 500 triệu người dân các tỉnh phía Bắc đã giảm 5 năm rưỡi trong thập niên 1990 chủ yếu vì môi trường ô nhiễm. Mùa hè 2007 trên chuyến bay từ Tây An tới Côn Minh tôi đọc trên báo China Daily, tờ báo tiếng Anh của chính quyền Trung Quốc, một nghiên cứu theo đó gần một nửa số sông của Trung Quốc đã hết nước.

Tháng 3/2013, một nghiên cứu công phu -từ năm 2010 đến năm 2012- của Bộ Thủy Nguồn và Viện Quốc Gia Thống Kê của chính quyền Bắc Kinh đưa ra những con số chính xác một cách đáng sợ : Trung Quốc chỉ còn 22.909 con sông, trên 28.000 con sông đã biến mất. Mỗi con sông còn lại phải đem nước cho một diện tích khoảng 100 km vuông. Như vậy có nghĩa là từ 2007 đến 2012 tình trạng thiếu nước đã xấu đi nhiều thay vì được cải thiện. Nghiên cứu này cũng cho thấy có 400 thành phố hiện chỉ dùng nước bơm từ lòng đất lên. Kết luận của nghiên cứu này là thay vì gia tăng cung cấp nước từ nay chính sách quốc gia phải chuyển sang khuyến khích dân chúng tiết kiệm nước.

Tình trạng xuống cấp nguy ngập của môi trường chỉ một phần rất nhỏ do thiên nhiên, phần rất lớn là do chính sách tăng trưởng kinh tế hoang dại bất chấp môi trường. Cần lưu ý là bảo vệ thiên nhiên không phải là ưu tư của văn hóa Trung Hoa và Việt Nam truyền thống, trái lại người ta ca tụng những anh hùng có chí lớn “sẻ núi lấp sông”. Nó cũng hoàn toàn vắng mặt trong chủ nghĩa cộng sản.

Vài năm trước tôi đọc một bài phóng sự trên báo Le Monde nói về một con sông có cái tên ngộ nghĩnh là Nộ Giang, nghĩa là dòng sông giận dữ, chảy từ Trung Quốc sang Myanmar. Lý do khiến người ta đặt tên như vậy là vì nước sông chảy rất mạnh. Nhưng ngày nay con sông này còn có một lý do chính đáng khác để nổi giận : nó trở thành nơi đổ rác chính thức của các thị xã chung quanh. Chính quyền địa phương xây rất nhiều bệ bê tông để các xe rác của các thị xã có thể đổ rác xuống sông một cách an toàn. Mỗi ngày hàng trăm tấn rác đủ loại được dòng nước cuốn sang Myanmar và trở thành một vấn đề của Myanmar.

rac_tren_song_nogiang
Một xe đổ rác của sở rác thị xã đang đổ rác suống sông Nộ Giang

Năm 2007 tại Bắc Kinh tôi không nhìn thấy mặt trời dù biết nó ở ngay trên đầu mình vì đang giữa trưa và trời rất nóng. Không khí đục ngầu vì khói từ các nhà máy không xử lý khí thải. Tôi hỏi anh hướng dẫn viên từ bao lâu rồi anh không còn nhìn thấy mặt trời nữa. Anh ta không nhớ.

bautroi_hoabac
Bầu trời Hoa Bắc

Năm 2000 lượng nước trung bình của mỗi người Trung Quốc chỉ bằng 15% mức trung bình thế giới. Bây giờ tình trạng còn bi đát hơn nhiều. Tại các tỉnh phía Tây trước đây phải đào sâu xuống 30m mới tìm được nguồn nước, bây giờ phải đào xuống 100m, mặt đất cứng như bê tông. Đó là hậu quả của việc trồng bông để xuất khẩu quần jean. Một đất nước trước hết là đất và nước, khi đất đã cằn cỗi, không khí và nước đã ô nhiễm đến nỗi không thở được và uống được thì cũng chẳng còn gì để nói. Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt. Đó là lý do chính khiến rất nhiều người muốn rời Trung Quốc bằng mọi giá. Họ sợ chết.

Một chế độ tuyệt vọng

Mối nguy nghiêm trọng thứ hai, cũng nghiêm trọng hơn hẳn sự suy thoái của kinh tế, là bế tắc chính trị. Các quan sát viên theo dõi tình hình Trung Quốc đều đồng ý rằng đàng sau chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình là cố gắng tập trung quyền hành về trung ương và về tay ông.

Tham nhũng chỉ là lý cớ. Chính Tập Cận Bình cũng tham nhũng, nếu không làm sao ông có thể có một tài sản trị giá trên 200 triệu USD ? Không khác gì thủ tướng Ôn Gia Bảo trước đây tỏ ra rất quan tâm đến dân nghèo để rồi người ta phát giác ra rằng ông có hơn 2 tỷ USD. Các phe đảng của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang chắc chắn không khoanh tay chờ bị thanh toán. Chủ nghĩa Mác-Lenin đã bị lố bịch hóa và không thể là xi măng gắn bó 85 triệu đảng viên cộng sản với nhau nữa, chỉ còn lại sự tranh giành quyền lực và quyền lợi.

Các tỉnh cũng không thể chịu đựng mãi ách thống trị của trục Bắc Kinh – Thượng Hải và sự chênh lệch giữa các vùng. Chưa kể là với sự sút giảm bi thảm của nguồn nước một cuộc chiến tranh giành nước tương tự như ở Trung Đông có thể diễn ra ; trên thực tế đã có xung đột giữa các tỉnh, thậm chí giữa các huyện trong cùng một tỉnh, để tranh giành những con sông vừa cạn vừa ô nhiễm.

Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là một thiên hạ chứ không phải là một nước, lòng yêu nước đối với một người Trung Quốc chủ yếu là một tình cảm địa phương. Không cứ gì các sắc dân thiểu số, tuy cùng được gọi là người Hán nhưng một người Hán ở Côn Minh hoàn toàn không nhìn những người Hán ở Bắc Kinh hoặc Thượng Hải như những đồng bào. Quan hệ giữa các tỉnh Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn nhiều so với quan hệ giữa các nước Châu Âu, đôi khi còn mang những thù hận chưa được hóa giải của quá khứ.

Trong suốt dòng lịch sử dài của nó, sự thống nhất của Trung Quốc đã chỉ được duy trì bằng bạo lực và tàn sát. Thí dụ như giữa thế kỷ 19 để dẹp cuộc khởi nghĩa ly khai của Hồng Tú Toàn nhà Thanh đã tàn sát 70% dân chúng các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và 90% dân chúng tỉnh Quý Châu. Tinh thần dân tộc của người Trung Quốc hầu như không có. Chính vì thế mà các nước rất nhỏ bé và chậm tiến như Mông Cổ và Mãn Châu đã có thể thiết lập những ách thống trị lâu dài. Các triều đại Nguyên, Thanh sau cùng đã cáo chung vì tham nhũng và lỗi thời chứ không phải vì là những ách thống trị ngoại bang.

Bế tắc chính trị của chế độ cộng sản Trung Quốc cũng đã chứng tỏ không có lối thoát. Khi mới lên cầm quyền Hồ Cẩm Đào đã muốn nới lỏng dần dần những quyền con người cơ bản với hy vọng chuyển hóa dần dần về dân chủ trong trật tự nhưng trong những năm cuối, nhất là từ năm 2011 trở đi, ông đã phải đảo ngược chính sách và gia tăng đàn áp. Năm 2013 Tập Cận Bình lên cầm quyền với một chủ trương rõ rệt : từ chối cải tổ chính trị, tăng cường độc quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và thanh trừng mọi khuynh hướng ly tâm trong đảng. Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết nhưng ít ra cũng đã tránh cho Liên Xô một sự sụp đổ trong hỗn loạn. Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn.

Nhưng việc phải làm đó là gì ? Đó chính là sự chuyển hóa bắt buộc về dân chủ. Các tiến bộ về giao thông và truyền thông đã thay đổi hẳn thế giới, kể cả Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế trong ba thập niên qua cũng đã cho người Trung Quốc thêm sức mạnh. Họ đã hiểu rằng con người phải có những quyền căn bản, họ muốn và ngày càng có thêm khả năng để đòi hỏi những quyền đó.

Nhưng vấn đề là Trung Quốc không thể tồn tại với lãnh thổ và dân số hiện nay dưới một chế độ dân chủ vì các vùng của Trung Quốc quá khác nhau và cũng không muốn chia sẻ một tương lai chung. Vấn đề cũng là chủ nghĩa cộng sản, chất keo gắn bó các vùng với nhau, đã trở thành ghê tởm. Trên trang Webwww.ninecommentaries.com do phong trào Thoái Đảng thiết lập từ tháng 11/2014 hàng ngày trên 50.000 người tuyên bố ly khai với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người ly khai hiện đã lên quá 200 triệu.

Lịch sử Trung Quốc nói chung là sự lặp lại của cùng một kịch bản, một kịch bản chưa thay đổi vì thể chế chính trị vẫn còn là một thể chế tập trung chuyên chính. Kịch bản đó như sau : một chính quyền được dựng lên trong hoàn cảnh xã hội tan hoang và kiệt quệ ; chính quyền thành công trong những năm đầu và xã hội dần dần hồi sinh ; xã hội càng hồi sinh thì nhu cầu kiểm soát càng lớn và chính quyền càng cần tăng cường bộ máy cai trị ; bộ máy quan liêu vì thế tiếp tục phình ra và sau cùng trở thành mạnh hơn quyền lực chính trị ; kết quả là quyền lực chính trị suy yếu dần và tích lũy mâu thuẫn, cuối cùng bị một lực lượng khác đánh đổ sau một cuộc xung đột làm xã hội suy kiệt ; và kịch bản bắt đầu lại từ số không. Kịch bản này hiện đã tới màn cuối dưới chế độ cộng sản. Tập Cận Bình đang cố xiết lại để ngăn ngừa sự xuất hiện của một lực lượng mới.

Khi Nguyễn Tấn Dũng lặp đi lặp lại là “nhất quyết không để nhem nhúm những tổ chức đối lập”, ông ta chỉ nhắc lại một ám ảnh của quan thầy Bắc Kinh.

Phải lo ngại cái gì ?

Chế độ cộng sản Trung Quốc còn trụ được bao lâu nữa ?

Như đã nói ở đầu bài này, đừng nên quên rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là một thế giới, một thiên hạ hay một đế quốc tùy cách nhìn, do đó sự thay đổi chế độ sẽ không nhanh chóng như trong một quốc gia mà sẽ diễn ra một cách tương tự như sự tàn lụi của một đế quốc. Các giai đoạn cuối trào của các đế quốc nói chung và của Trung Quốc nói riêng thường kéo dài khá lâu. Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi dồn dập. Các diễn biến có thể nhanh hơn rất nhiều.

Càng nhanh hơn vì một lý do khác. Chế độ cộng sản Trung Quốc tồn tại từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn dựa trên hai hợp đồng bất thành văn miễn cưỡng.

Hợp đồng thứ nhất là nhân dân chịu đựng chế độ toàn trị, và cả sự tàn phá của môi trường, với điều kiện là Đảng Cộng Sản duy trì được một mức tăng trưởng kinh tế cao. Ôn Gia Bảo tỏ ra đã hiểu thỏa hiệp này khi ông nói rằng nếu mức tăng trưởng xuống dưới 8% thì sẽ có bạo loạn. Hợp đồng này ngày nay đã chấm dứt vì kinh tế suy thoái.

Hợp đồng thứ hai là quần chúng Trung Quốc chịu đựng bất công xã hội để cho một thiểu số làm giầu với thỏa hiệp ngầm là như thế họ sẽ có thêm vốn để gia tăng đầu tư thúc đẩy kinh tế. Hợp đồng này đã bị phản bội khi những người giầu có bỏ ra nước ngoài mang theo tài sản. Sự phẫn nộ có thể bùng nổ rất dữ dội.

Có cần lo sợ sự sụp đổ của chế độ cộng sản và sự tan vỡ gần như chắc chắn của Trung Quốc không ? Mối nguy thường được nói tới là chính quyền Bắc Kinh có thể gây hấn với bên ngoài để kêu gọi đoàn kết dân tộc và làm dịu những mâu thuẫn bên trong. Nhiều người đang lo âu trước việc Trung Quốc xây những phi trường trên những đảo nhân tạo tại Biển Đông. Nhưng sự lo ngại này không cần có. Nó là do cách nhìn Trung Quốc như một quốc gia thay vì một đế quốc.

Thực tế cho thấy các đế quốc chỉ gây hấn trong những giai đoạn cường thịnh, trái lại rất nhu nhược đối với bên ngoài trong những giai đoạn cuối trào, để dồn sức đương đầu với những khó khăn bên trong. Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Trong những lúc suy vi, các hoàng đế Trung Quốc không những không xâm chiếm các biên quốc mà còn phải cống hiến những quý phi, có khi cả những công chúa, cho các vua các nước nhỏ chung quanh để cầu an. Chuyện Chiêu Quân cống Hồ chỉ là một trong rất nhiều thí dụ. Việt Nam và thế giới sẽ không phải lo ngại một sự gây hấn nào.

Cũng không cần lo ngại cho người Trung Quốc. Trung Quốc có phân chia thành bốn hay năm nước thì đó cũng vẫn là những nước lớn bậc nhất thế giới, nhưng đồng điệu hơn và hợp lý hơn Trung Quốc hiện nay. Điều mà chúng ta có thể chúc cho người Trung Quốc là những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra trong hòa bình.

Thiên triều sụp đổ

Câu hỏi bao giờ chế độ cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ không đặt ra, hoặc đặt ra một cách rất khác, đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Đối với một chư hầu, một đế quốc coi như đã sụp đổ khi không còn là một chỗ dựa nữa.

Đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ cộng sản Trung Quốc coi như đã sụp đổ. Nó đang quá bối rối với những khó khăn nội bộ để có thể hỗ trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam. Bắc Kinh lo cho mình cũng chưa xong còn mong gì giúp được ai. Họ sẽ phải buông Việt Nam và Triều Tiên dù không muốn như Liên Xô đã từng phải buông Đông Âu trước đây. Nhưng chế độ cộng sản Việt Nam lại rất cần bám lấy Trung Quốc.

Trong cuộc tiếp xúc ngày 26/6/2014 tại Sài Gòn, ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã không cải chính lời phát biểu của chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, theo đó Trung Quốc thỏa thuận viện trợ cho Việt Nam 20 tỷ USD và cho vay 100 tỷ USD. Chế độ cộng sản Việt Nam rất cần yểm trợ tài chính này bởi vì do hậu quả của bất tài và tham nhũng kinh tế Việt Nam thực ra đang ở trong tình trạng phá sản.

Theo phát biểu của chính ông Trương Tấn Sang tháng 11/2014 tại quốc hội thì tình trạng kinh tế Việt Nam“rất không thoải mái”. Ba phần tư số thu ngân sách (khoảng 30 tỷ USD năm 2014, giảm nhiều so với năm 2013) được dùng để trả lương, phần còn lại không đủ để trả nợ. Nói gì tới những chi tiêu tối cần thiết khác.

Một điều cần được nhìn thật rõ là Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ là một đảng tự lập. Nó luôn luôn dựa vào một thế lực bên ngoài nào đó. Ra đời như một phân bộ của Đệ Tam Quốc Tế, nó đã tranh đấu, rồi cầm quyền, với sự bảo trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, hoặc cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Giữa thập niên 1980 khi Liên Xô suy yếu và không còn bảo trợ được nữa, nó đã vội vã bỏ ngay lập trường thù địch để xin được phục tùng Trung Quốc. Trái với một nhận định hời hợt không phải Bắc Kinh cố thu phục Hà Nội mà chính Hà Nội đã cầu khẩn và làm tất cả để được lệ thuộc Trung Quốc. Trong mấy năm gần đây khi Liên Bang Nga có vẻ mạnh lên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã cố gắng tranh thủ sự hỗ trợ từ Nga. Văn hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một văn hóa chư hầu.

Tất cả những tính toán và kỳ vọng của họ đều đã hoặc đang sụp đổ. Nước Nga của Putin đã bại sụi sau cuộc phiêu lưu Ukraine. Đến lượt Trung Quốc cũng chao đảo và sắp sụp đổ. Rất có thể là chính Bắc Kinh đã nói với Hà Nội là hãy tìm những nguồn hỗ trợ khác vì họ không còn khả năng giúp đỡ ai cả. Điều đó có thể giải thích những chuyến công du Hoa Kỳ dồn dập của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam gần đây, kể cả chuyến đi sắp tới của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những chuyến thăm viếng này đều do sáng kiến của Hà Nội.

Lịch sử không phải chỉ sắp sang trang mà đang sang trang. Mọi người Việt Nam đều phải sáng suốt để tránh những ngộ nhận tai hại. Những thành viên bộ chính trị và ban bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thù ghét nhau vì tranh giành quyền lực và quyền lợi, nhưng họ đều hoàn toàn đồng ý với nhau là phải dựa vào Trung Quốc để duy trì chế độ độc tài toàn trị. Tất cả đều chống dân chủ. Tất cả đều đồng ý rằng “đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng” và tất cả đều đồng ý chẳng thà mất nước chứ không mất đảng. Không có một ngoại lệ nào cả.

Nhưng bây giờ họ không còn chọn lựa nào khác là đi với Mỹ (“Mỹ” phải được hiểu là các nước dân chủ) vì họ không dựa vào Trung Quốc được nữa. Chiến lược của họ trong lúc này chỉ là cố kéo dài thời gian hấp hối của chế độ và làm mất thêm thời giờ của nước ta trong cuộc chạy đua về tương lai, dù chúng ta đã mất quá nhiều thời giờ và đã quá chậm trễ. Chúng ta không được quyền có một ngộ nhận nào cả.

Mọi ưu tư của chúng ta phải dồn vào cố gắng để đất nước bước vào kỷ nguyên dân chủ một cách nhanh chóng nhất trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc để chúng ta có thể lập tức cùng nắm tay nhau chinh phục tương lai.

Nguyễn Gia Kiểng

(04/2015

http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=16263&catid=44&Itemid=301

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Mỹ đề nghị: Việt Nam không cho Nga dùng quân cảng Cam Ranh để đe dọa Mỹ

Posted by hoangtran204 on 14/03/2015

Mỹ đề nghị: Việt Nam không cho Nga dùng quân cảng Cam Ranh để đe dọa Mỹ

Má»™t chiếc máy bay chiến lược TU-95 của NgaMỹ đề nghị Việt Nam không cho Nga sử dụng quân cảng Cam Ranh trở thành vị trí tiếp nhiên liệu cho những máy bay Nga mang vũ khí nguyên tử tầm xa bay qua vùng châu Á – Thái Bình Dương để tới Mỹ.

Quan chức Mỹ mô tả rằng máy bay ném bom của Nga đã tăng số lượng chuyến bay đáng kể trong vùng mà đang có căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ cùng với những đồng minh khác ở Đông Nam Á.

Tướng Vincent Brooks, tư lệnh Quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương nói có nhiều chuyến bay kiêu kích quanh Guam – căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ tại Thái Bình Dương.

Đây là lần đầu tiên Mỹ tái khẳng định vai trò của cảng Cam Ranh, một quân cảng nước sâu tự nhiên, nơi mà máy bay ném bom Nga đang tăng cường những hoạt động có tính chiến lược toàn cầu.

Tướng Brooks nói rằng những máy bay ném bom của Nga bay vòng quanh căn cứ Guam đã được tiếp nhiên liệu tại vịnh Cam Ranh, đây là địa điểm có tính chiến lược.

Việt Nam sẵn sàng cho phép Nga sử dụng vịnh Cam Ranh nói lên quan điểm của Hà Nội ở vào vị trí nào trong cuộc tranh giành ảnh hưởng địa chính trị trong vùng giữa một bên là Nga và Trung Quốc còn bên kia là Mỹ, Nhật, Úc và những đồng minh Đông Nam Á.

Washington đang tìm kiếm cơ hội trở lại vịnh Cam Ranh. Đây là một phần nằm trong chính sách xoay trục của Mỹ để ứng phó với sự lớn mạnh và hung hăng của Trung Quốc trong những năm gần đây.

Việt Nam cũng muốn có mối quan hệ gần gũi với Mỹ chống lại tham vọng về lãnh hải với Trung Quốc, nhưng vẫn giữa mối quan hệ hợp tác với Nga ở cả hai lĩnh vực năng lượng và quốc phòng.

Tướng Brooks trong một cuộc phỏng vấn có nói rằng Việt Nam “đồng minh của Nga trong thời chiến tranh lạnh, gây tiêu cực đến những lợi ích của chúng tôi và mang lại lợi ích cho người khác.”

Một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ, không tiết lộ danh tính phát biểu: “Washington tôn trọng quyền của Hà Nội chấp nhận những thỏa hiệp với những quốc gia khác. Nhưng chúng tôi kêu gọi Việt Nam không thể để Nga sử dụng Cam Ranh vào những hoạt động bất hảo gây thêm căng thẳng trong vùng.”

Tướng Brooks từ chối tiết lộ những chuyến bay của Nga được được tiếp nhiên liệu tại Cam Ranh tới căn cứ quân sự Guam vào khi nào và có bao nhiêu chiếc đã tham gia. Nhưng ông khẳng định rằng sự việc bắt đầu từ khi Nga cưỡng chiếm Crimea vào tháng Ba năm ngoái và tăng dần lên cùng với những khủng hoảng tại Ukraine.

Người đứng đầu của lực lượng không quân Mỹ tại Thái Bình Dương nói rằng tháng Năm năm ngoái khi Nga can thiệp vào Ukraine, đồng thời Nga bắt đầu tăng hàng loạt những hoạt động không lực trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương để phô diễn sức mạnh và thu thập tin tức tình báo.

Bộ Quốc phòng Nga nói vào ngày 4 tháng Giêng vừa qua, máy bay mang số hiệu Russian Il-78 đã sử dụng vịnh Cam Ranh để tiếp nhiên liệu cho máy bay ném bom tầm xa chiến lược mang vũ khí nguyên tử Tu-95 “Bear”, tin này cũng được loan tải trên những báo chí chính thức của nhà nước Việt Nam.

Thời gian gần đây, Nga đã gia tăng đáng kể những hoạt động gần vùng trời và biển của Mỹ, và đồng minh trong khối NATO. Máy bay ném bom khổng lồ Tu-95 Bear đã nhiều lần bay qua eo biển Anh.

Riêng năm ngoái, NATO đã phải hơn một trăm vụ gởi tiêm kích theo dõi những hoạt động của máy bay Nga, gấp ba lần so với năm 2013.

Những hoạt động của máy bay ném bom của Nga có từ thời Chiến tranh lạnh, đã bị loại bỏ khi Liên Xô sụp đổ, nhưng Putin đã khôi phục lại từ 2007.

Nga nói rằng họ đã từng đưa máy bay ném bom chiến lược tầm xa tới tận bầu trời Bắc Mỹ vào tháng Mười một năm ngoái. Nhưng Lầu Năm Góc phủ nhận nói rằng đó chỉ là những huấn luyện thông thường trên không phận quốc tế.

Trong nỗ lực xây dựng mối quan hệ với Việt Nam, Mỹ đã giúp đỡ nhiều trong lĩnh vực sức khỏe, giáo dục, học bổng, dọn dẹp bom mìn, và năng lượng nguyên tử.

Những hợp tác quốc phòng vẫn còn giới hạn, bởi lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng Washington đã bắt đầu nới lỏng từ tháng Mười năm ngoái, và cho phép Việt Nam tham dự vào những diễn tập quân sự gần đây.

Năm 2014, nhiều đoàn ngoại giao cấp cao Mỹ ồ ạt tới Việt Nam trong thời điểm tranh chấp lãnh hải giữa Hà Nội và Bắc Kinh lên cao độ. Thứ Sáu rồi, đại sứ Mỹ tại Hà Nội loan tin Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đến Mỹ vào cuối năm nay, đây là lần đầu tiên lãnh đạo đảng đặt chân tới Washington.

Cho đến giờ phút này, Việt Nam vẫn chưa chính thức đáp ứng những yêu cầu của Mỹ. Nhưng báo chí Nga đưa tin “Đề nghị của chính phủ Hoa Kỳ là thô lỗ và nói Việt Nam sẽ không đáp ứng yêu cầu của Washington vì hợp tác quân sự Nga – Việt, hợp tác kỹ thuật quân sự vẫn là ưu tiên của Hà Nội.

Không biết, Việt Nam sẽ giải thích thế nào vì chính sách “ba không” của mình. Việt Nam luôn tuyên bố không hợp tác quân sự, không cho phép sử dụng căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước thứ ba.”

Giờ đây chính vịnh Cam Ranh là nơi tiếp nhiên liệu cho máy bay ném bom tầm xa chiến lược mang vũ khí nguyên tử của Nga đang đe dọa đến an ninh lãnh thổ Hoa Kỳ.

Việt Nam lại một lần nữa kẹt giữa hai làn đạn nếu cứ tiếp tục chơi trò bắt cá hai tay.

© Trần Gia Hồng Tâm
© Đàn Chim Việt

 

*Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng chơi kiểu đu dây: cùng một lúc chơi với Trung Cộng, Nga, và Mỹ. Hiện nay, Mỹ và Nga vốn đang gầm gừ nhau. Mỹ rất lo ngại các vũ khí hạt nhân và phi đạn tầm xa của Nga.  Năm 2012, VN nhất quyết không cho Mỹ thuê Vịnh Cam Ranh vì sợ Trung Quốc trách mắng, nhưng nay lại cho chiến hạm Nga sử dụng vùng này để làm căn cứ tiếp liệu xăng dầu cho máy bay.  

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Thời Sự | Leave a Comment »

►VN chưa hồi đáp đề nghị của Mỹ ‘ngưng cho Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh’

Posted by hoangtran204 on 14/03/2015

VN chưa hồi đáp đề nghị của Mỹ ‘ngưng cho Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh’

nguồn: VOA tiếng Việt

12-3-2015

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội cho biết chưa thấy hồi đáp từ chính phủ Việt Nam đối với đề nghị của Hoa Kỳ yêu cầu Hà Nội ngưng cho phép Nga sử dụng một căn cứ để tiếp nhiên liệu cho các máy bay ném bom (của Nga) đang thực hiện những chuyến bay khiêu khích vòng quanh lãnh thổ của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Viên chức phụ trách báo chí của sứ quán, bà Lisa Wishman, hôm nay (12/3) cho VOA biết Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cuối tuần qua đã truyền đạt các quan ngại của mình với chính phủ Việt Nam trong vòng riêng tư.

Bà Wishman nhấn mạnh dù chính phủ Hoa Kỳ tôn trọng quyền của Việt Nam bước vào các thỏa thuận với những nước khác, nhưng Washington muốn Hà Nội đảm bảo rằng Vịnh Cam Ranh không bị quân đội Nga tận dụng để ‘tiến hành các hoạt động có thể làm leo thang căng thẳng trong khu vực.’

Trước đó, hai đối tác quốc phòng nhiều chục năm nay là Việt Nam và Nga đều thừa nhận rằng máy bay tiếp dầu II-78 dùng Cam Ranh để tiếp tế nhiên liệu cho các máy bay ném bom chiến lược ‘Gấu’ Tupolev Tu-95 có tầm bay xa 15 ngàn cây số không cần tiếp liệu.

Vịnh Cam Ranh, nơi từng là căn cứ của Hoa Kỳ và trong quá khứ cũng từng bị hải quân Pháp và Nhật kiểm soát, nằm cách Sài Gòn 290 km về hướng Đông Bắc là một cảng nước sâu tự nhiên.

Hôm qua, chỉ huy lục quân Mỹ tại Thái Bình Dương, Tướng Vincent Brooks, nói với hãng thông tấn Reuters rằng các máy bay của Nga đã thực hiện những chuyến bay ‘khiêu khích’ trong đó có các chuyến bay xung quanh Guam, lãnh thổ của Mỹ ở Thái Bình Dương, nơi đặt căn cứ không quân Andersen, cách Việt Nam 4.000 cây số về hướng Đông.

Tướng Vincent Brooks nói rằng các máy bay Nga đã thực hiện những chuyến bay ‘khiêu khích’ trong đó có các chuyến bay xung quanh Guam, lãnh thổ của Mỹ ở Thái Bình Dương, nơi đặt căn cứ không quân Andersen.

Các giới chức NATO cho hay những máy bay ném bom ‘Gấu’ gần đây cũng bị phát hiện trên khu vực English Channel trong khi quân đội Nga thực hiện nhiều cuộc tuần tiễu trên biển và trên không thường xuyên hơn và táo bạo hơn gần biên giới của các nước trong khối NATO.

Tháng 11 năm ngoái, Nga loan báo kế hoạch đưa các máy bay ném bom tầm xa ra tuần tra các vùng biển ở Bắc Mỹ, theo kiểu thời kỳ Chiến tranh lạnh.

Hãng thông tấn RIA hôm nay (12/3) dẫn nguồn tin từ Bộ Quốc phòng ở Moscow nói rằng quân đội Nga đã bắt đầu các cuộc diễn tập quân sự ở miền Nam nước Nga; ở các khu vực tách ra khỏi Georgia gồm Nam Ossetia và Abkhazia; và tại Crimea, bán đảo Nga sáp nhập từ Ukraine hồi năm ngoái.

Hoa Kỳ đã giao chiến với lực lượng Bắc Việt từ đầu thập niên 60 cho tới khi rút lui vào năm 1973 dẫn tới sự sụp đổ cũa chính phủ miền Nam Việt Nam ở Sài gòn hai năm sau đó.

Hà Nội và Washington thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1995. Bất chấp các mối quan hệ chặt chẽ giữa Hà Nội với Moscow từ thời Xô Viết, hai nước Việt-Mỹ trong những năm gần đây đang xích lại gần nhau giữa lúc Hà Nội ngày càng lo ngại trước hiểm họa từ Trung Quốc, nước láng giềng khổng lồ phương Bắc.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius nói ông hiểu rằng Hà Nội tìm kiếm ‘các đối tác lịch sử’ về an ninh và Mỹ cũng có ‘nhiều thứ để cung cấp…nhằm tăng cường an ninh của Việt Nam trong ngắn, trung, và dài hạn.’

Trong nhiều thế kỷ, nhiều phần của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Cuộc chiến tranh biên giới gần đây nhất giữa hai nước Việt-Trung nổ ra vào năm 1979. Cuộc chiến dù ngắn ngủi, nhưng ước tính đã cướp đi sinh mạng của 30.000 binh sĩ của cả hai phía. Hà Nội và Bắc Kinh cũng có các tuyên bố chủ quyền chồng chéo nhau ở Biển Đông.

Hoa Kỳ và Việt Nam tổ chức các cuộc thao dượt nhân đạo chung vào cuối năm ngoái và trong tháng này sẽ có thêm các hoạt động như vậy.

Mỹ cũng đồng ý cung cấp ít nhất 5 tàu tuần tra hiện đại cho Việt Nam, dự kiến các tàu này sẽ được bàn giao vào năm sau. Đây là một phần trong gói hỗ trợ trị giá 18 triệu đô la mà Ngoại trưởng John Kerry loan báo hồi năm 2013 nhằm giúp Việt Nam tăng cường khả năng an ninh hàng hải.

Trong bài diễn văn tại Đại học Hà Nội thứ sáu tuần trước, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius nói ông hiểu rằng Hà Nội tìm kiếm ‘các đối tác lịch sử’ về an ninh và Mỹ cũng có ‘nhiều thứ để cung cấp…nhằm tăng cường an ninh của Việt Nam trong ngắn, trung, và dài hạn.’

Theo VOA

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Thời Sự | Leave a Comment »

►Tháng hai buồn hiu và ông Nguyễn Phú Trọng

Posted by hoangtran204 on 21/02/2015

Phạm Trần

 

Tháng hai năm 2015 ở Việt Nam có 3 sự kiện khó quên nhưng day dứt thắc mắc: Trưởng Ban Nội Chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh qua đời được nhân dân mến thương hơn nhiều Lãnh đạo đảng, tại sao?

Cũng thắc mắc là chuyện Đảng và Nhà nước đã 36 lần cố tình lờ đi không hương khói cho trên 40,000 quân và dân 6 tỉnh biên giới Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh đã bỏ mình trong cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc từ ngày 17/02/1979 đến cuối năm 1987.

Sau cùng là chuyện chả ai hiểu nổi tại sao Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, vào ngày 11/02 (2015) đã phải gọi điện chúc Tết Ất Mùi Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình, để sau đó đến ngày 13/02 (2015) Chủ tịch Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh cũng phải điện đàm chúc Tết người đồng nhiệm của phía Trung Quốc là Quốc vụ viện Dương Khiết Trì. Họ Dương là người đã có những lời nói và cử chỉ khiếm nhã đối với các Lãnh đạo CSVN trong lần sang Hà Nội ngày 18/06/2014, sau vụ Trung Quốc đặt giàn khoan Hải dương 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ ngày 2/5/2014 đến 27/07/2014.

Kết qủa sau 2 cuộc điện đàm này là việc ông Trọng chuẩn bị thăm Trung Quốc trong năm nay (2015). Chuyến đi Bắc Kinh của ông Trọng rơi vào thời điểm đảng chuẩn bị cho Đại hội khoá XII vào đầu năm 2016 đã gây ngạc nhiên không ít cho những người theo dõi tình hình Việt-Trung. Câu hỏi được bàn tán bây giờ là : Tại sao ông Trọng phải thăm Trung Quốc trước ngày Đại hội đảng và với mục đích gì, nếu không phải là chuyện cốt tử liên quan đến chức vụ Tổng Bí thư đảng khoá XII và quan hệ giữa 2 đảng và 2 nhà nước trong nhiệm kỳ 2016-2021?

Ông Trọng sẽ 72 tuổi vào kỳ Đại hội đảng XII, qúa tuổi nghỉ hưu đến 7 tuổi và đã thất bại trong nhiệm vụ chống tham nhũng và xây dựng chỉnh đốn đảng nên nếu ông được ngồi lại thêm nhiệm kỳ 2 thì đó là theo ý muốn của Bắc Kinh vì ông Trọng là người được phiá Trung Quốc tin cậy nhất hiện nay.

Vây hai ông Trọng và Tập đã nói với nhau những gì trong cuộc điện đàm?

Phiá Nhà nước Viết Nam nói: “Trong cuộc điện đàm, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, 65 năm qua, quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống Việt-Trung là tài sản quý báu cần được kế thừa, gìn giữ và phát huy. Trải qua các giai đoạn, thời điểm khó khăn, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung cần tiếp tục được thúc đẩy vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Tổng bí thư cho rằng, hai bên cần tăng cường hơn nữa hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, củng cố hữu nghị; đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực; duy trì hòa bình, ổn định, đàm phán, trao đổi chân thành để giải quyết thỏa đáng các vấn đề trên biển Đông theo tinh thần các thỏa thuận đã đạt được và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế; đưa quan hệ Việt – Trung không ngừng phát triển lành mạnh, ổn định.”

Vế phần mình, ông Tập Cận Bình cũng nói: “Truyền thống hữu nghị, ủng hộ, tương trợ lẫn nhau là tài sản quý báu trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước trong 65 năm qua; Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, mong muốn cùng với phía Việt Nam tăng cường tin cậy và hữu nghị, đi sâu hợp tác cùng có lợi trên mọi lĩnh vực, giải quyết thỏa đáng bất đồng trên cơ sở các nhận thức chung giữa lãnh đạo hai nước, thúc đẩy quan hệ hữu nghị Trung – Việt phát triển lành mạnh theo phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt”.”

Nhưng trong thực tế, phiá Trung Quốc không giữ như đã nói theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Bằng chứng điển hình như vụ giàn khoan Hải Dương 981 và việc Trung Quốc tái tạo các đảo và đá ngầm chiếm được của Việt Nam năm 1988 tại quần đảo Trường Sa thành các căn cứ quân sự và xây dựng đường bay, bến cảng đã trực tiếp đe dọa an ninh đường biển và quốc phòng Việt Nam.

Vì vậy, việc ông Trọng phải sang Bắc Kinh trước ngày Đại hội đảng XII, nếu chỉ để tái xác nhận những sáo ngữ ghi trong cuộc điện đàm ngày 11/02 (2015) nhưng lại bỏ qua hành động của Trung Quốc ở Biển Đông thì ông Trọng chỉ chuốc lấy thất bại cho phiá Việt Nam.

Trong cuộc điện đàm giưa hai ông Minh và Dương thì bản tin của Bộ Ngọai giao Việt Nam cho biết: “ Hai bên nhất trí tích cực thúc đẩy và phối hợp chuẩn bị tốt cho các chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, trong đó có chuyến thăm Trung Quốc của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Hai bên cũng nhất trí tiếp tục phát huy vai trò của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc trong việc điều phối, thúc đẩy các mặt hợp tác giữa hai nước và tổ chức tốt phiên họp lần thứ 8 của Ủy ban trong 6 tháng đầu năm 2015 tại Trung Quốc; tăng cường các hoạt động giao lưu hữu nghị giữa nhân dân hai nước; kiểm soát và giữ vững ổn định trên biển, duy trì quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh, bền vững.”

Ngôn ngữ ngoại giao này chỉ phản ảnh làm theo yêu cầu của Trung Quốc trong khi phía Việt Nam không kiểm soát được tình hình trên biển. Ngư dân Việt Nam vẫn bị “các tầu lạ” và tầu của Trung Quốc tấn công, đánh đập và tịch thu tài sản quanh vùng biển Hòang Sa và Trường Sa. Phiá Việt Nam cũng không dám chống lại hành động bành trướng các khu vực bị chiếm ở Trường Sa, không ngăn chặn được các hành động xây dựng, khuếch trương ở quần đảo Hòang Sa nhưng vẫn phải bằng lòng với nhóm chữ “giữ vững ổn định trên biển” !

Hiện tượng ông Nguyễn Bá Thanh

Về ông Nguyễn Bá Thanh, qua đời ở tuổi 62, sau 2 năm 47 ngày giữ chức Trưởng ban Nội Chính Trung ương theo quyết định của Bộ Chính trị ngày 28 tháng 12 năm 2012 thì hiện tượng người dân thương tiếc ông có liên quan gì đến chuyện ông là một đảng viên Cộng sản ?

Ngược lại là khác. Ông Bá Thanh mà người dân Đà Nẵng thường quen gọi, đã làm được nhiều việc cho Thành phố và người dân hơn “hành dân” như nhiều lãnh đạo nào khác trên tòan cõi Việt Nam từ sau năm 1975.

Ông từng nắm các chức vụ Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng từ năm 1996 rồi Bí thư Thành ủy năm 2003 và Đại biểu Quốc hội 3 Khoá IX, XI và XII trước khi đượcđiều động ra Hà Nội giữ chức Trương ban Nội Chính Trung ương có nhiệm vụ chính là giúp Bộ Chính trị dẹp tham nhũng và xử 10 vụ án quan trọng đã tồn đọng trong nhiều năm.

Rất tiếc trong số 10 vụ án tham nhũng lớn và nghiêm trọng nhất đã kéo dài trên 10 năm không ai dám ra tay thì ông Bá Thanh mới giải quyết được 3 là : Vụ Huỳnh Thị Huyền Như (nguyên cán bộ Vietinbank chi nhánh TP HCM) lừa đảo chiếm đoạt của 9 công ty, 3 ngân hàng và 3 cá nhân khoảng 4.000 tỷ đồng bị án chung thân; Vụ tham nhũng tại Công ty Vinalines với nguyên cục trưởng Cục Hàng hải Dương Chí Dũng bị án tử hình; Và vụ lừa đảo,thao túng thị trường địa ốc và ngân hàng của Nguyễn Đức Kiện tự Bầu Kiên bị mức án tù 30 năm, phạt 75 tỷ đồng.

Các Bác sỷ điều trị cho biết ông Bá Thanh bị mắc bệnh rối loạn sinh tủy phải điều trị từ tháng 5/2014 từ Việt Nam qua Singapore rồi sang Mỹ với dự định ghép tủy. Tuy nhiên, vì sức khỏe bình phục kém nên chưa đủ điều kiện ghép tủy.

Sau đó ông được đưa về Đà Nẵng để tiếp tục điều trị từ ngày 9/1/2015 , nhưng chỉ sau một thời gian ngắn căn bệnh hiểm nghèo đã sinh ra nhiều biến chứng khiến ông kiệt quệ rồi qua đời ngày 13/02/2015.

Ngay trước vài ngày ông Thanh được máy bay đặc biệt đưa về Đà Nẵng, một số buổi lễ cầu an cho ông đã được người dân tổ chức tại Chùa và hàng trăm người dân Đà Nẵng đã đội mưa ra phi trường đón ông trong hai lần với hy vọng được nhìn mặt ông và cầu chúc ông mau bình phục.

Đến khi nghe tin ông Bá Thanh được đưa vào bệnh viện chuyên khoa Đà Nẵng thì hàng trăm người khác đã tự động kéo đến đứng đông nghẹt hai bên đường dẫn đến Bệnh viện để đón chào ông.

Rồi khi hay tin ông đã bỏ họ mà đi, hàng ngàn người dân Đà Nẵng và vùng phụ cận cũng đã kéo đến nhà riêng nối đuôi nhau xin được vào thăm viếng.

Đến ngày tiễn đưa 30 Tết (18/02/2015), nhiều ngàn người đã đứng hai bên đường trên suốt chiếu dài 10 cây số vẫy tay từ biệt.

Với tất cả mọi người miền Trung, không riêng gì dân Đà Nẵng đã hãnh diện với con người xứ Quảng vì ông Bá Thanh đã biến Đà Nẵng từ một thành phồ nghèo, chậm phát triển thành một nơi “đáng sống nhất của Việt Nam” với những tòa nhà cao ngất, những cây cầu khang trang bắc qua sông Hàn chưa bao giờ có, những con đường rộng mở sạch sẽ và những bãi biển an tòan.

Báo chí bên Việt Nam cũng chỉ nói đến bấy nhiêu đó khi viết về ông Nguyễn Bá Thanh, nhưng nhiều người dân đã lo lắng sau ông Thanh không biết có ai dám chống tham nhũng nữa không ?

Có người dân viết tự do trên Internet rằng “rất nhiều lãnh đạo chức vụ cao hơn ông Thanh chỉ biết nói chống tham nhũng bằng nước bọt nên tham nhũng mới tồn tại”.

Ông Vũ Mão – nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội nói về hiện tượng có nhiều người dân đến viếng ông Bá Thanh: “Đấy là hình ảnh đẹp, nói lên sự yêu mến của nhân dân với anh Thanh, và cũng sẽ làm thức tỉnh không ít người có trách nhiệm trong bộ máy công quyền. Mọi việc làm của lãnh đạo người dân biết cả đấy, làm tốt hay không tốt, làm thật tâm hay giả vờ, chỉ nói chứ không làm thì sớm hay muộn cũng lòi ra hết. Vậy là danh dự sụp đổ và bị nhân dân coi thường, dẫu biết thế nhưng nhiều lãnh đạo vẫn không giữ nổi mình.” (Phỏng vấn của báo Giáo dục Việt Nam ngày 15/02/2015)

Cũng rất dễ hiểu vì “một số không nhỏ” cán bộ, đảng viên đã nói mà không làm từ trong bản chất chứ không phải đến khi có chức trọng quyền cao thì họ mới lãng quên. Vì vậy Nghị quyết trung ương 4/XI đã chỉ rõ tình trạng suy thoái đạo đức và tham nhũng đang đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã thất bại với Nghị quyết 4 “về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” sau 2 năm thực hiện.

Có lẽ ông Nguyễn Bá Thanh là một trường hợp ngọai lệ nên mới được nhiều người dân yêu mến đến thế.

Nhưng người dân Đà Nẵng trả ơn ông Bá Thanh như thế đã nói lên điều gì nếu không phải vì ông là người đã làm được nhiều việc giúp dân nghèo khi còn sống?

Khi đến viếng và ký vào sổ Tang, có thể Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiều Lãnh đạo khác đã nhanh hẩu đỏang nghĩ rằng “nhờ ơn Đảng mà ông Bá Thanh mới được người dân mến thương như thế”, nhưng đâu biết rằng người dân đã đến chỉ để nhớ ơn ông Thanh đã giúp họ có đời sống tốt đẹp hơn và không có mục đích nào khác.

Nhưng ở Việt Nam có còn bao nhiêu Nguyễn Bá Thanh khác hay đâu đâu cũng chỉ thấy nhiều cán bộ, đảng viên chỉ biết “ăn và phá”, như ông Bá Thanh từng phát biểu ?

Tại sao lãng quên?

Sau cùng là chuyện buồn tháng Hai khi nhắc đến cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung từ ngày 17/02/1979 đến cuối năm 1987, trước khi có cuộc họp bí mật ở Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc năm 1990 giữa phái đòan đảng CSVN do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cầm đầu với Phái đòan Trung Quốc do Giang Trạch Dân lãnh đạo.

Nhiều dư luận rất xấu có hại cho Việt Nam đã được loan truyền vì phái đòan Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đã có những cam kết bí mật, trong đó có cả việc Việt Nam không được nhắc đến cuộc chiến biên giới Việt-Trung và vụ quân Trung Quốc xâm lược và chiếm quần đào Hoàng Sa từ tay quân lực Việt Nam Cộng hoà năm 1974.

Vì vậy mà trong suốt 36 năm qua, đảng CSVN từ thời các Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đến Đỗ Mười rồi qua Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng đã không dám cho dân và quân đội được tổ chức truy điệu những người đã hy sinh trong cuộc chiến tuy ngắn những đẫm máu và nhục nhã này.

Tuy nhiên trong vài năm gần đây, Ban Tuyên giáo Việt Nam đã làm ngơ để cho báo chí chính thống tự ý viết các bài về cuộc chiến cùng những phát biểu ghi ơn những người đã hy sinh, không riêng tại chiến trường biên giới Việt-Trung mà cả 74 chiến sỹ VNCH hy sinh tại Hòang Sa và 64 người lính của Quân đội Nhân dân đã hy sinh trong trận chiến chống quân Trung Quốc xâm lược ở Trường Sa.

Với tựa đế “Phía Bắc 1979: 30 ngày không thể nào quên”, báo điện tử Infonet.vn của Bộ Thông tin và Truyền Thông đã viết một loạt bài, mở đầu bằng lới giới thiệu :”Cuối năm 1978, để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược mà phía Trung Quốc gọi là “phản kích tự vệ chống Việt Nam”, giới cầm quyền Bắc Kinh đã tập trung một bộ phận lớn quân đội ở khu vực biên giới.”

Sau đó, báo này viết Lời Tòa soạn:” Đã 36 năm trôi qua nhưng ký ức của hàng triệu người dân Việt Nam về một trang sử hào hùng của Tổ quốc, ký ức về sự hy sinh của hàng ngàn đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất biên cương khởi đầu từ ngày 17/2/1979 … vẫn chưa hề phai mờ. Nhắc lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 với 30 ngày khốc liệt để hậu thế chúng ta thêm hiểu hơn về lịch sử của đất nước, để tôn vinh những người con ưu tú đã ngã xuống giống như chúng ta vẫn thường tôn vinh những anh hùng, liệt sỹ trong suốt thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc.

Với mong muốn giúp cho độc giả có một cái nhìn khái quát nhất nhưng toàn cảnh nhất về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979, Infonet xin giới thiệu loạt bài viết được chắt lọc, tham khảo và tổng hợp từ các tài liệu, sách báo đã từng được xuất bản như:

Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 1 và 2;

Lịch sử các quân đoàn 1, 2, Binh đoàn Pắc Bó;

Lịch sử các sư đoàn 3, 316, 337, 338, 346, 395;

Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng; Lịch sử Bộ đội Biên phòng

Lịch sử Dẫn đường Không quân

Lịch sử Pháo binh QĐNDVN

Báo Quân đội Nhân dân tháng 2 và 3-1979

China’s Aggression: How and Why It Failed – Nguyen Huu Thuy

Chinese Military Strategy In The Third Indochina War – Edward C. O’Dowd

China’s War With Vietnam 1979 – King C. Chen.”

Trong bài về “Những bài học tháng hai” của Tác gỉa Đào Tuấn, báo Lao Động của Tổng liên đòan Lao động Việt Nam viết lời giới thiệu ngày 17/02/2015: “Đến hẹn lại lên, mỗi năm cứ đến tháng 2 tây lịch, đất và người vùng biên giới phía Bắc lại dâng lên nhiều cảm xúc đan xen khó tả khi nhớ lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của tổ quốc nổ ra vào rạng sáng ngày 17.2.1979.

Phóng viên báo Lao Động đã có mặt ở những vùng đất nóng bỏng, trực tiếp gặp gỡ những nhân chứng sống trong những thời khắc ác liệt nhất của cuộc chiến năm nào. Đau thương, uất nghẹn, pha lẫn tự hào, tự tin trước những biến cố của chiến tranh, của thời cuộc. Nhưng dù là đau thương đến mấy, 36 năm đã qua đi, vết thương theo năm tháng cũng dần lành lặn và hồi sinh hướng về một tương lai mới. Chỉ còn duy nhất những bài học, bài học phải trả bằng xương máu là vẫn còn nguyên giá trị.”

Và ngay trong bài đầu tiên, tờ Lao Động đã đăng hình tấm bia tưởng nhớ về một vụ quân Trung Quốc đã dã man tàn sát dân lành người Tày : “Vụ thảm sát tại Tổng Chúp, Xã Hưng Đạo, Huyện Hòa An Quân Trung Quốc Xâm lược dùng cọc tre, búa bổ củi đập chết 43 phụ nữ và trẻ em quăng xuống giến nước”

Trong khi đó trên báo Dân Trí của Hội Khuyến học Việt Nam đã đăng bài viết của Phạm Ngọc Triển hô bào nhớ ơn những người dân Việt đã bỏ mình trong cuộc chiến năm 1979.

Bài báo đó đọan viết: “Ngày 17/2 hàng năm được coi là ngày giỗ trận của hàng ngàn liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc – ngày 17/2/1979.

Ở vùng biên giới tỉnh Lào Cai, các nghĩa trang liệt sĩ trong ngày 17/2 rất đông bà con các dân tộc địa phương và người thân của liệt sĩ tới tảo mộ và thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ đã dũng cảm ngã xuống vì lãnh thổ thiêng liêng của đất nước.

Ngày giỗ trận 17/2/2015 đúng vào ngày 29 Tết Ất Mùi, xin cùng tưởng nhớ một vài tấm gương liệt sĩ trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới đầu năm 1979 đã được ghi vào sử sách truyền thống Lào Cai.”

Sách sử viết gì?

Nhưng khi nói đến sử sách thì thật tủi nhục cho những Nhà viết sử của đảng và nhà nước CSVN. Không những chỉ thiếu sót mà họ còn bôi bác, cẩu thả không xứng danh viết sử.

Cuộc chiến đẫm màu và vô cùng hào hùng của những con dân nước Việt đã hy sinh trong các cuộc chiến chống quân Tầu xâm lược không hề được nói đến cặn kẽ để làm bài học cho mai sau.

Trong cuốn “Việt Nam Những sự kiện Lịch sử 1945-1975” của Viện Sử Học (Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia) do Nhà xuất Bản Giáo dục phát hành thì họ viết về trận chiến Hòang Sa như thế này:

“Ngày 19 tháng Một (1974): Trung Quốc cho hải quân tiến đánh quân ngụy Sài Gòn và chiếm đảo Hòang Sa.”

“Ngày 20 tháng Một (1974): Trung Quốc cho máy bay ném bom xuống ba đảo Hữu Nhật, Quang Anh và Hòang Sa, sau đó quân Trung Quốc đánh chiếm phần phía tây của quần đào Hòang Sa. Đồng thời, Bộ Ngọai giao Trung Quốc ra tuyên bố về tình hình quần đảo Hòang Sa để biện hộ hành động của họ.

Đại diện chính quyền Sài Gòn tại Liên hợp quốc gửi Công hàm thông báo hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc tại Hòang Sa cho Hội dồng Bảo an và Tổng thư ký Liên hợp quốc. Chính quyền Sài Gòn thông báo tình hình Trường Sa cho các bên ký Định ước Pari và các nước khác trên thế giới.”

Sự im lặng không phản ứng vào thời gian này của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc trước hành động xâm lược Hòang Sa của Trung Quốc được coi như một thái độ chính trị đang gây bất lợi cho Việt Nam trong cuộc tranh chấp chủ quyền Hòang Sa với Trung Quốc, tiếp theo sau Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khi ấy thuộc quyền sở hữu của Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam !

Về cuộc chiến đẫm máu biên giới từ 1979 đến hết năm 1987, họ càng viết mờ nhạt hơn: “Từ ngày 17 tháng Hai đến 18 tháng Ba (1979): Quân đội và nhân dân Việt Nam gìanh thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía bắc.

Ngày 17-2-1979, Trung Quốc huy động lực lượng với 32 sư đòan, mở cuộc tiến công dọc biên giới phía Bắc từ Quang Ninh đến Lai Châu.

Để bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, quân và dân ta, trực tiếp là quân dân sáu tỉnh biên giới phía Bắc, đã trực tiếp chiến đấu. Đến ngày 18-3-1979, quân Trung Quốc rút khỏi lãnh thổ nước ta.”

Tuyệt nhiên, những viên chức đảng viết sử “ngồi mát ăn bát vàng” đã quên hết những máu đổ, thịt rơi của trên 40,000 quân và dân 6 tỉnh biên giới đã hy sinh trong cuộc chiến này.

Đó là bài học mà thiết tưởng ông Nguyễn Phú Trọng phải nhớ khi giáp mặt với ông Tập Cận Bình trong cuộc họp sắp tới chứ không phải tương lai chính trị của ông. -/-

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.