Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Chinh Tri Viet Nam’ Category

►Việt Nam, Đảng, quân đội và nhân dân: Duy trì sự chi phối chính trị trong giờ mở cửa

Posted by hoangtran204 on 13/08/2015

 

5-8-2015

Benoit de Tréglodé

Phong Uyên chuyển ngữ

Dịch giả gửi tới Dân Luận

Vài lời giới thiệu: Benoit de Tréglodé là chủ nhiệm chương trình Á đông ở Học viện Khảo cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp (IRSEM), đồng thời cũng là nghiên cứu viên Trung tâm Đông Nam Á và là cựu giám đốc Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á hiện đại (IRASEC) ở Bangkok. Là một nhà Việt Nam học, De Tréglodé được Tạp chí Địa lý – Chính Herodote xuất bản ở Paris ủy nhiệm soạn thảo cùng với nhiều tác giả khác, một số đặc biệt về Địa lý – Chính Việt Nam: “Les Enjeux géopolitique du Việt Nam” ( Địa lý – Chính Việt Nam với những ăn thua). Số đăc biệt này mang số 157, dày 215 trang được xuất bản tháng Sáu năm 2015. Mỗi bài viết đều có phần thư mục kèm theo.

Từ 30 năm nay, chính sách Đổi mới vẫn được tiến hành song song với sự ngự trị của Đảng – Nhà nước trên xã hội Việt Nam. Mặc dầu có sự canh tân không thể chối cãi được, nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ có sự thay đổi trong giới tinh hoa cầm quyền. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chấm dứt nhiệm kỳ thứ Hai (2006-2012) trước ngày Đại Hội thứ XII của ĐCSVN khai mạc tháng 1-2016 này, đã là đối tương của những chỉ trích đến từ mọi phía. Và sự mất lòng tin của người dân Việt Nam đối với giới tinh hoa cầm quyền của mình vẫn tiếp tục mỗi ngày một tăng lên từ 10 năm nay. Chúng tôi sẽ chứng minh là, mặc dầu những sự chỉ trích đó, hai diễn viên chánh trong lịch sử chính trị Việt Nam hiện đại vẫn là ĐCSVN và QĐNDVN. Vì những hành động và sự kiểm sát toàn diện, hai thế lực này đang đứng giữa ngã ba của những căng thẳng giữa độc đoán chính trị và mở cửa kinh tế mà Đàng – Nhà nước và xã hội Việt Nam đang phải trải qua từ khi Liên Xô sụp đổ và sự hội nhập của đất nước trên sân khấu quốc tế. Đồng thời đất nước cũng đang chứng kiến sự tham nhũng lan tràn trong xã hội mà ĐCSVN, cũng như QĐNDVN, hoàn toàn bất lực, không ngăn cản được, trước sự ta thán của một xã hội dân sự đang trỗi dậy.

KHỦNG HOẢNG CHÍNH TRỊ VÀ SỰ KIỂM SÁT CỦA ĐẢNG – NHÀ NƯỚC

Ở Việt Nam, nhờ Internet, những bàn bạc về chính trị được đại chúng hóa. Blog chính trị “Chân dung quyền lực”, được coi là thân cận với Nguyễn Tấn Dũng, nếu căn cứ vào những bộc lộ về đời sống của các lãnh đạo bị coi là đối lập. Ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, những blogs, đồ đệ của trash news, đánh vào sự ưa thích của dân gian, rất được nhiều người đọc. Tâm trạng hiện giờ là mọi người chỉ thích nghe những tin đồn, những tố cáo, những chỉ trích đến từ mọi phía trong xã hội Việt Nam hiện đại, nhất là ở miền Nam : càng như tuồng chèo, càng nhiều chế nhạo, càng trào phúng, càng biếm họa, càng được nhiều người đọc. Mọi người thích sự nhả nhớt hơn là nói về hệ tư tưởng mà về lý thuyết, Đảng hoàn toàn bị tắt nghẽn. Các lãnh đạo cũng không thể cứ đem mãi những chiến công trong chiến tranh chống Mỹ và chống Tàu năm 1979, để làm tăng sự hợp pháp chính trị của mình.

Có người hỏi, thế thì làm sao chính quyền vẫn có người theo? Làm sao giảng nghĩa được tầng lớp trung lưu thành thị vẫn không biểu lộ sự mất kiên nhẫn đối với giới chính trị? Một trong những lý do là, để vẫn giữ được sự kết hợp trong xã hội, chính quyền luôn luôn sử dụng bạo lực, dù chỉ là tượng trưng. Năm 2014, nước CHXHCNVN không ngớt tuyên truyền là nhờ ơn Đảng, Việt Nam không bị rơi vào tình cảnh Ukrainia ( nội chiến giữa phe thân Nga và quân đội Ukrainia năm 2014-2015 ) và Thái Lan ( đụng độ giữa phái Đỏ và phái Vàng cho đến khi có cuộc đảo chính cuả tướng Prayuth tháng 5 năm 2014 ). Trong giới truyền thông, chính quyền không ngớt lời lặp đi lặp lại là ĐCSVN đã bảo đảm hòa bình và ổn định xã hội cho Việt Nam và “đa đảng bây giờ còn sớm quá, sẽ gây ra hỗn loạn trong một xã hội chưa chuẩn bị kịp”. Lập luận đó, tuy gặp nhiều chỉ trích nặng nề, trong thực tế cũng được đa số người Việt đồng ý, ngay cả trong giới trí thức. Ngoài ra đa số thế hệ trẻ cũng chả thích gì những chuyện chính trị, chỉ mơ mộng thành công trong đời sống vật chất của mình. Sau cùng, mầm mống của xã hội dân sự, vừa mới chớm nở, đã bị phá tan từ trong trứng. Vả lại, trong mọi trường hợp, cũng không có một đòi hỏi cải cách chính trị nào rõ ràng ngoại trừ trong một số nhỏ những người hoạt động sống ở miền Nam.

Khi mà “chính quyền bị coi là ở xa vời”, người dân Việt tự an phận với những luật lệ mà dù thế nào, cũng không thể áp dụng một cách cứng ngắc được. Bằng những mưu mẹo và cách tránh lé, đi xiên qua những tiêu chuẩn của chế độ, người dân Việt tự tạo cho mình một không gian tự do mỡi ngày một lớn. Trong lòng xã hội Việt Nam, tính cách quan liêu của chế độ luôn luôn được mềm dẻo hóa nhờ ở cái văn hóa dàn xếp tay đôi nằm ở mọi cấp bậc. Cái văn hóa đó làm dịu những căng thẳng nằm sẵn trong cái hệ thống cơ cấu và chính trị. Đảng – Nhà nước biết người dân không luôn luôn “theo” và có nhiều luật lệ, tuy chả đem đến kết quả nào, nhưng cũng giúp chế độ chính trị thích ứng được, không nhiều thì ít, với hoàn cảnh.

SỰ TĂNG CƯỜNG NHỮNG PHƯƠNG TIỆN KIỂM SÁT

Bộ máy chính trị Việt Nam, tuy vậy cũng lo ngại hậu quả của sự mỗi ngày một nhiều người dân không thèm đếm xỉa đến những người làm chính trị. Người ta có thể đưa chứng cớ là gần đến Đại hội XII của ĐCSVN (2016), CHXHCNVN tăng cường mọi công cụ kiểm sát của mình. Mặc dầu có những đổi mới từ năm 1986, Việt Nam vẫn không bao giờ đặt lại vấn đề sự ưu tiên của Trung Ương Tập quyền và của chế độ độc đảng. TƯTQ nằm ở mọi cấp bậc và những cơ cấu của Nhà nước bị ghép đôi với những cơ cấu của Đảng. Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN được khẳng định trong hiến pháp 2013. Đảng viên ĐCS là hiện thân của quyền hành đi từ làng xã đến mỗi quận trong thành phố. Tháng Giêng năm 2014, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lăng xê một thí nghiệm tập trung hơn nữa trong tay Đảng quyền quyết định, khi đề nghị hợp nhất chức vụ chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh với chức vụ bí thư Đảng; một cách để bắt chước Trung Quốc hợp nhất Bí thư Đảng và chủ tịch nước, nhằm sau ĐH 12 mình sẽ là người nắm chức vụ mới này.

Nếu không thể chối cãi được là chế độ độc đảng bị khủng hoảng hệ tư tưởng, ĐCSVN vẫn duy trì ảnh hưởng rất lớn trong xã hội với gần 4 triệu đảng viên và 45 ngàn tổ chức địa phương (tổ và phân bộ). Đối với đa số người dân, ĐCSVN không còn là nơi đạo đức được ký thác mà trái lại là nơi Tư bản ngự trị. Xã hội đã thay đổi : vào Đảng là cho mình có cơ hội mở rộng những mối quan hệ và cải thiện đời sống vật chất.

Sau Đảng, Quân đội Nhân dân Việt Nam là diễn viên chính thứ hai trong hệ thống chính trị. Quyền hành của bộ trưởng bộ Quốc phòng vượt ra ngoài khuôn khổ quân sự. QĐNDVN giữ vai trò trọng tài và người bảo vệ sự chính thống của Đảng trong những trò chơi quyền hành đang khuấy động giới chính trị. Những trò chơi này một phần bị chi phối bởi những phe phái miền Nam (Giới chính trị Việt Nam được tổ chức thành những nhóm tùy theo ở miền nào, thuộc gia đình nào, tập đoàn nào) và bởi những mối liên lạc với Trung Quốc. Quân ủy Trung ương quyết định mọi chuyện dính dáng đến quân sự, kể cả việc đầu tư vào những kỹ nghệ nằm trong tay bộ Quốc phòng. Ngân quỹ chính thức năm 2014 là 3,29 tỷ đô la, chỉ là một phần nhỏ ngân quỹ thật của Bộ nằm trong cái gọi là “dự trữ đặc biệt”. Quân đội (là người sở hữu đất đai lớn nhất nước), góp phần vào việc làm tăng giá trị lãnh thổ, trong những chương trình mở mang đường xá, trồng cây thông và nông nghiệp, cũng như giám sát những khu vực có hầm mỏ và kỹ nghệ. Quân đội cũng quản lý những vùng biên giới (nơi mà sự giao dịch xuyên biên giới là nguồn lợi tức rất lớn lao cho cán bộ địa phương) và những vùng hàng hải (bảo vệ ngư dân và bảo vệ những dàn khoan ngoài biển).

Đại hội XI ĐCSVN năm 2011 đã tăng cường vai trò của quân đội, biến nó thành bức tường thành cuối cùng chống với sự phản đối chính trị. QĐNDVN có riêng những cơ cấu chồng chất lên những thể chế dân sự : bộ tham mưu, quân khu, vùng quân sự phụ thuộc thẳng chính quyền trung ương. Những tổ, những ủy ban quân sự của Đảng có nhiều quyền hành hơn những tổ, những ủy ban dân sự; một kim tự tháp bắt đầu từ cấp đại đội lên đến ủy ban trung ương và bộ chính trị, đều thuần túy quân sự.

Để giới hạn mọi hình thức phản đối của dân chúng trên khắp lãnh thổ, ĐCSVN và QĐNDVN tăng cường phạm vi hoạt động của những cơ quan đàn áp : Bộ Công an, Công an nhân dân và tình báo nội địa. Bộ Quốc phòng và cơ quan tình báo quân sự (Tổng cục II). Những “ban” có nhiệm vụ kiểm sát của bộ Văn hóa và Thông tin.

Bộ Công an là cơ quan có ảnh hưởng nhiều nhất trong bộ máy chính trị và trên khắp lãnh thổ. Đứng đầu bộ từ năm 2011, tướng Trần Đại Quang, ủy viên bộ Chính trị và những người phụ tá của ông ta, đều có một ghế ngồi trong Ủy ban Trung ương. Bộ Công an gồm sáu tổng cục lớn, trong đó tổng cục Cảnh sát gồm 1,2 triệu người, được trải ra khắp lãnh thổ và đơn vị nổi tiếng của nó là Đơn vị A42 có nhiệm vụ giám sát những phương tiện truyền thông (cùng với TCII – bộ QP). Bộ CA có phòng sở ở 49 tỉnh và ở 5 thành phố (Hà Nội, TP. HCM, Cần thơ, Đà nẵng, Hải phòng). Ngay ở những quận trong những thành phố lớn cũng có nhân viên bộ CA. Bộ CA còn có một màng lưới rất rộng những dư luận viên được coi là rất đắc lực. Sau hết là bộ Văn hóa và thông tin, được coi là cơ cấu hiện hữu nhất của cái bộ máy giám sát quan liêu vì mọi báo chí, truyền thanh, truyền hình, mọi xuất bản, đều phải có giấy phép của Bộ này. Với Bộ, Internet là một sự thách thức lớn nhất.

Những cơ quan tình báo Việt Nam có đặc tính là luôn luôn dính dáng vào những sự việc chính trị, nhất là trước khi có Đại hội Đảng. Năm 2004, đại tướng Võ Nguyên Giáp tố cáo Tổng cục II đã giúp đỡ bộ trưởng bộ Quốc phòng Nguyễn Tấn Dũng tranh chức thủ tướng và Nguyễn Tấn Dũng đã đạt được quyền hành năm 2006. Ngay trước khi có ĐH XI , vào khoảng năm 2010, người ta đã trách TC II đứng đằng sau một chiến dịch đàn áp các bloggers và các nhà hoạt động chính trị dưới sự thúc đẩy của Bắc Kinh. Trong hoàn cảnh như vậy, rất nhiều người Việt bắt đầu tự hỏi, có thật hay tưởng tượng, bộ máy an ninh Trung Quốc có can thiệp vào xứ sở của mình. Có những rỏ rỉ, được tiết ra từ giới truyền thông, nói về sự cạnh tranh giữa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang qua sự trung gian của 2 cơ quan an ninh (Công an và Quốc phòng). Bởi vậy, không có gì là ngạc nhiên nếu trước viễn tượng ĐH XII, Nguyễn Tấn Dũng lại sài hai cơ quan này. Sự mới mẻ là cả hai cơ quan đều không còn cạnh tranh nhau để cùng chung sức phục vụ tham vọng của Dũng năm 2016 sắp tới.

GIỚI CẦM QUYỀN VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Từ khi sự giao thiệp với Trung Quốc được bình thường hóa năm 1992, không có gì xẩy ra ở Việt Nam mà không có dấu ấn chính trị Trung Quốc và nằm ngoài ảnh hưởng Trung Quốc. Bởi vậy, đừng có chờ đợi có sự chống đối TQ đến từ giới cầm quyền. Người Tàu cũng biết thừa những lãnh đạo Việt Nam phải công cụ hóa sự căng thẳng có tính cách dân tộc để tăng sự hợp pháp của mình đối với quần chúng khi người dân có thể đặt vấn đề sự trường tồn chính trị của ĐCSVN khi xã hội và kinh tế được mở cửa. Nhiều khi những cuộc trách móc lỗ miệng có vẻ gay cấn, nhưng rút cục những giải pháp mà Trung Quốc đề ra phần nhiều được chấp thuận, chẳng hạn như trường hợp giàn khoang HYSY 981 mùa Thu năm 2014.

Những lãnh đạo Việt Nam đều biết là những chức vụ chóp bu (Bí thư ĐCSVN, Thủ tướng, Chủ tịch nước và bộ trưởng bộ Quốc phòng) đều phải có sự ưng thuận ngầm của ĐCSTQ. Cái lobbying ấy cũng tốn rất nhiều tiền cho Tàu. Theo nhiều nhà quan sát, Bắc Kinh phải bỏ ra 15 tỷ đô la dưới nhiều hình thức : đầu tư, những chương trình hợp tác, viện trợ Việt Nam tham dự những hoạt động của Asean, và nhất là tiền hỗ trợ thẳng vào túi các lãnh đạo.

MỘT THĂNG BẰNG MỚI ĐƯỢC TẠO RA TỪ THAM NHŨNG

Sự liên quan giữa tăng trưởng Việt Nam và sự giầu sang có tính cách phô trương của một số người trong giới chính trị mỗi ngày một biểu lộ từ khoảng 10 năm nay. Ở Việt Nam, nắm quyền hành là một hoạt động làm giầu. Những sự lên xuống của kinh tế, nhất là từ cuộc khủng hoảng năm 2008, đã gây căn thẳng trong bộ máy nhà nước. Những mối liên lạc giữa những người lãnh đạo và giới làm áp phe, sự toa rập cần thiết giữa những người nắm quyền và những người làm kinh tế cũng làm tăng sự căng thẳng. Những sự cạnh tranh ở chóp bu Nhà nước cũng phản ánh sự đấu đá nhau về quyền lợi kinh tế giữa những cá nhân, những phe phái, những tập đoàn, nhưng tuyệt nhiên không chứng tỏ là có sự yếu kém trong lòng hệ thống. Từ 15 năm nay, sự canh tân của đất nước cũng phải trả giá bằng một sự tham nhũng tràn lan khắp mọi tầng lớp trong xã hội. Tuy lương lậu mọi người, (công chức cũng như tư chức) rất thấp, nhưng số người giầu vẫn tăng vòn vọt. Tham nhũng chỗ nào cũng có mặt, không có cách nào ngăn cản được, vì một lẽ dễ hiểu là trong bộ máy quan liêu, từ đỉnh cao tới đáy, ai cũng nợ ai một cái ơn nào. Chả ai dại gì mà đi tố cáo cái lô gíc của sự “tự phân chia lại nhau” như vậy. Những người lạc quan cho là phải 2 thế hệ cái tập quán đó mới thay đổi. Những người thực tế, lấy thí dụ Inđônêsia hay Thái Lan, cho là Việt Nam bắt buộc phải qua “kiểu phát triển” đó. Họ giải thích tham nhũng có những mặt tiêu cực nhưng cũng có những mặt tích cực. Tham nhũng đang tạo ra một thăng bằng mới trong xã hội khiến mọi phần tử trong cộng đồng đều phải phụ thuộc lẫn nhau. Đó cũng là lí do khiến đa số người Việt không chống lại cái hệ thống tham nhũng vì coi đó là cái thang máy xã hội mở ra cho tất cả mọi người : “Nếu mày giầu, mày chui vào bộ máy quyền hành, và mày sẽ giầu hơn nữa. Nếu mày nghèo, mày muốn giầu, mày dư biết làm sao có thể làm được.”

Sau hết, tham nhũng còn đem lại một hậu quả nữa trong sự tiếp súc với chính quyền. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, mọi công việc ( trong công vụ cũng như trong quân đội hay trong khu vực kinh tế) đều mua bằng tiền và cũng là một phương tiện để làm tăng sự kết hợp những người cầm quyền. Sự mua bán chức vụ ở Á đông là một vấn đề nhậy cảm, ít được biết đến hay bị nhận chìm trong im lặng. Về mục này, có thể nói, viện trợ Trung Quốc cho sự phát triển Việt Nam hầu như không bao giờ có. Thủ tục từ trước tới nay là những món tiền quan trọng được trao tận tay, tùy từng trường hợp, cho mỗi lãnh đạo để đổi lại một sự hỗ trợ nào đó. Trong 2 nhiệm kỳ đứng đầu hành pháp, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thường xuyên cần củng cố ảnh hưởng của mình để có được đa số trong Quốc hội. Theo vài nhà quan sát, giá một phiếu trong QH (498 đại biểu) phỏng chừng 100 ngàn đô. Giá còn cao rất nhiều hơn nữa nếu muốn có sự hỗ trợ của một ủy viên Trung ương (175 người) hay của một ủy viên bộ chính trị (16 người). Cái lo gíc này cứ tiếp tục tăng lên tùy theo thứ hạng trong bộ máy chính trị : để có được một ghế trong bộ Chính trị, vì phải có cuộc bỏ phiếu của Ủy ban Trung ương, phải bỏ ra chừng 1 triệu đô. Rõ ràng là Trung Quốc theo đường lối này, đã đã tìm thấy cách tăng cường ảnh hưởng của mình trong giới cầm quyền của nước CHXHCNVN và biến những kẻ nhận tiền thành những con nợ tinh thần của mình, phải chịu sự giám hộ của mình. Về phía Việt Nam, những tín hiệu, được lập đi lập lại về sự bảo vệ quyền lợi quốc gia đối với Bắc Kinh, lẽ tất nhiên chỉ hoàn toàn là giả tạo.

KẾT LUẬN

Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện thời không phải là không gặp hiểm nguy vì tăng trưởng và phát triển không đi đôi với nhau. Tuy Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng, sự tạo ra công ăn việc làm rất khó khăn : 1,6 triệu người trẻ đi vào thị trường kiếm việc làm mỗi năm, chỉ chừng 800 ngàn người có việc. Trước khi xẩy ra cuộc khủng hoảng năm 2008, những cơ nghiệp lớn đều được tạo ra từ những chỗ thân cận Nhà nước, trong bối cảnh mọi áp phe đều được điều hành từ những quan hệ. Nói một cách tổng quát, ở Việt Nam, cũng giống như ở nhiều quốc gia “hậu cộng sản”, nổi lên một nền kinh tế “mafia”, được điều hành bởi một nhóm nhỏ gồm gia đình, thân hữu của các vị lãnh đạo cao cấp và những người làm áp phe mới, đứng đầu một hệ thống có tôn ti thứ bậc như trong quân đội được tạo dựng từ tham nhũng và quyền lợi.

 

Vietnam, the Party, the Army and the People. Maintaining Political Influence at the Time of the Opening.

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

► Khi cây cổ thụ bị trốc rễ

Posted by hoangtran204 on 09/08/2015

VOA

Bùi Tín

09-08-2015

Cây cổ thụ lớn nhất thế giới, Trung Quốc, có số dân đông nhất thế giới, đang bước vào thời kỳ cáo chung, thời kỳ rẫy chết, không có gì có thể cứu vãn khỏi số Trời đã định vậy.

Số Trời đây là quy luật đào thải của mọi sự vật trên đời, quy luật sinh – lão – bệnh – tử của mỗi đời người; quy luật sinh – hưng – thịnh – suy – vong – phế – diệt của mỗi chế độ, mỗi triều đại ngự trị trong xã hội loài người, không một con người nào, một chế độ chính trị nào thoát khỏi cái định mệnh khắc nghiệt cay đắng ấy.

Đây là một loạt quan điểm, nhận định, bình luận chính trị gần đây nhất của nhiều mạng thông tin có cơ sở ở Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hoa Kỳ, của nhiều nhà bình luận chính trị Trung Quốc ở hải ngoại, của các mạng Minh HueiBo Xun (tiếng Hoa), cũng như của nhà báo – nhà bình luận Trung Quốc Gordan G. Chan, tác giả cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc), được tái bản nhiều lần.

Cũng mới đây mạng Đại Kỷ Nguyên, cơ quan ngôn luận của Pháp Luân Công Đạo Pháp do Đạo sư Lý Hồng Chí sáng lập, đã đi đầu trong phong trào Tam Thoát – Thoát Đảng, Thoát Đoàn, thoát Đội và Thoát mọi loại tổ chức khác của Đảng CS Trung Quốc mà Ông cho là tà giáo man rợ, là tội ác chống nhân loại.

Hiện con số người tuyên bố công khai Tam Thoát đã lên đến 221.000.000 người, làm biến đổi sâu sắc so sánh lực lượng giữa đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và đại khối nhận dân Trung Quốc lương thiện.Trên Đại Kỷ Nguyên hiện đang đăng bài “Đảng CS Trung Quốc vong » cho rằng ĐCSTQ không thể cưỡng lại số phận đã được định đoạt là giải thể, tiêu vong trong thời gian không xa. Chiến dịch “diệt hổ đập ruồi, săn cáo» đang ở hồi kết thúc, không thể nào xuống lưng hổ vì “kỵ hổ nan hạ» (cưỡi hổ thì khó xuống).

Màn chót ngay trước mắt là triệt con hổ Thượng tướng Quách Bá Hùng và con trai là tướng Quách Chính Cương, vì Quách từng là Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ, cánh tay phải của Giang Trạch Dân, bị tống giam khi đang cải trang làm phụ nữ để tìm cách thoát sang Hồng Kông.

Mạng Minh Huei còn nhận địng rằng sau cuộc họp Bộ Chính trị ở Bắc Đới Hà mùa hè này, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nước Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sẽ gạt Trương Cao Lệ, Lưu Vân Sơn và Trương Đức Giang, cả 3 hiện nằm trong Ủy ban Thường Vụ Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên ở chóp bu quyền lực, là thế lực cuối cùng phò Giang Trạch Dân, để ngay sau đó diệt chính Giang, coi là đòn ân huệ để giải thể luôn ĐCSTQ, chuyển sang mang một tên mới – “Đảng Xã hội Dân chủ” hoặc “Đảng Dân tộc Trung Hoa”, như trước đây Lý Thụy Hoàn, một ủy viên kỳ cựu của Bộ Chính trị đã gợi ý, sau khi đảng CS Liên Xô bị giải thể hồi cuối năm 1991. Hiện nay, Tập Cận Bình đang kết chặt với Vương Kỳ Sơn và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong Thường vụ Bộ Chính trị, và với 2 Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ là 2 Thượng tướng Phạm Tường Long và Hứa Kỳ Lương, thay thế Từ Tài Hậu đã chết và Quách Bá Hùng vừa sa lưới.

Một bản tiểu sử dài của Giang Trạch Dân được phổ biến rộng rãi trong 6 tháng qua, chỉ rõ Giang xuất thân từ một gia đình đại Hán gian từng phục vụ phát xít Nhật thời Uông Tinh Vệ, đã tự nhận là con nuôi liệt sỹ, gia đình cách mạng CS nòi để leo lên đỉnh cao quyền lực và phá nát Đảng CS không có cách gì cứu vãn nổi.

Đại Kỷ Nguyên còn cho biết trong tháng 7/2015 Tập Cận Bình quy định tất cả các cán bộ đảng viên CS phải làm lễ tuyên thệ “trung thành với Hiến pháp”, từ bỏ lệ tuyên thệ trung thành với Đảng CS và học thuyết CS, từ đó đưa đảng vào “lãnh cung», tử vong vĩnh viễn.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn một năm nay các Tòa án Trung Quốc tiếp nhận đơn của mọi công dân kiện cáo về việc người thân của họ trong Đạo Pháp Luân Công bị sát hại trong lao tù, các bộ phận cơ thể được rao bán khắp mọi nơi. Hiện nay đã có 80 vạn lá đơn kiện đích danh ông Giang Trạch Dân về tội ác này do chính Giang đề xướng và thực hiện qua bộ máy 610 – được thành lập ngày 10 tháng 6 năm 1999 – trên tinh thần Đảng CS theo Duy Vật chống mọi tà giáo Duy Tâm.

Tuy không phải từ những nguồn tin chính thức được tin cậy hoàn toàn, tôi vẫn thu thập, ghi chép, bình luận các thông tin trên đây với tất cả sự thận trọng dè dặt cần thiết, để các bạn đọc của VOA rộng đường tham khảo và theo dõi thêm.

Nếu như ĐCSTQ thật sự tiêu vong trong thời gian tới, khi cây cổ thụ Trung Quốc bị đổ trốc rễ, như số phận Đảng CS Liên Xô hồi cuối năm 1991, thì không ai có thể hình dung rõ sau đó hậu quả đối với tình hình Đông Nam Á và toàn thế giới sẽ ra sao.

Trung Quốc sẽ vẫn còn là một thực thể hay sẽ vỡ ra thành các mảnh lớn nhỏ khi nó có đến hàng trăm dân tộc với tiếng nói, nguồn gốc, tôn giáo khác nhau?

Chắc chắn sẽ là tin tốt lành cho nhân dân Việt Nam khi cái họa bành trướng tệ hại sẽ có cơ chấm dứt để nhân dân ta có thể sống hoàn toàn độc lập tự do, hòa hiếu, hợp tác và cùng phát triển với mọi nước xa gần.

Nước cờ Thoát Trung, gắn bó với các bạn bè dân chủ xa gần, bẻ lái chiến lược lúc này thật đúng lúc, đúng thời cơ, là cao kiến, hợp lòng dân, đúng theo vận nước vậy.

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Cả hai “đồng chí, anh em” đóng kịch với nhau

Posted by hoangtran204 on 08/08/2015

GS Nguyễn Văn Tuấn

07-08-2015

Thỉnh thoảng tôi tự hỏi chính giới Tàu nghĩ gì về đồng nghiệp họ ở Việt Nam. Dù biết rằng qua báo chí chúng ta có thể hiểu là họ không đánh giá cao, nhưng tôi vẫn muốn biết xem họ nghĩ gì. Tình cờ đọc được một đoạn văn được xem là “tối mật” của Mao Trạch Đông viết về Việt Nam làm tôi suy nghĩ về mối quan hệ Việt – Tàu hết sức thú vị. Tôi nghĩ bất cứ ai đang phấn đấu làm bạn với Tàu cộng có lẽ phải ngượng ngùng khi đọc câu của họ Mao.

Họ Mao nói “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ.Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta.” Đọan văn đó được trích từ văn kiện “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của Bộ Ngoại giao Việt Nam, và được công bố 4/10/1979 (1).

Có lẽ những ai từng theo dõi Tàu không ngạc nhiên về câu nói trên, vì trong cái nhìn của giới chính khách Tàu, Việt Nam là một kẻ phản bội, không thể tin tưởng. Trước khi phát động chiến tranh chống VN, Đặng Tiểu Bình tuyên bố với báo chí quốc tế rằng “Việt Nam là côn đồ, phải dạy cho Việt Nam bài học”. Thật hiếm thấy một nguyên thủ quốc gia nào mà ăn nói du côn như Đặng, nhưng rất có thể y quá giận nên không kiềm chế được ngôn ngữ trước phóng viên quốc tế. (Trớ trêu một điều là tên này vẫn còn được khá nhiều người VN hâm mộ và thần tượng.)

Ngay cả thường dân Tàu dường như cũng không có thiện cảm với VN. Báo chí Tàu (nhất là tờ Hoàn cầu Thời báo) ra rả chửi Việt Nam, và đòi gây chiến tranh chống Việt Nam. Trước đây, trong một cuộc thăm dò ý kiến người dân Tàu bên China, kết quả cho thấy phần lớn dân Tàu nghĩ người Việt là phản bội, xảo quyệt, không đáng tin cậy. Trong cái nhìn của họ, Tàu là đại ân nhân của VN, vì Tàu từng giúp Bắc VN đánh Tây, đánh Mĩ. Chưa nói giúp vì động cơ gì, nhưng đó là cái nhìn của họ. Họ cũng nghĩ rằng khi thành công thì VN trở mặt. Họ lấy thái độ của ông Lê Duẩn là một ca tiêu biểu. Trước kia, khi cần vũ khí và tiền bạc của Tàu, thì ông Duẩn tỏ ra thân Tàu; đến khi thấy Liên Xô khá hơn, thì lại chạy theo Liên Xô và quay sang chửi Tàu thậm tệ. Có tài liệu còn cho thấy ông chửi thẳng vào mặt Mao (mà nhiều người xem là dũng cảm, nhưng tôi thì nghĩ thái độ đó không khéo chút nào). Tài liệu trên (1) được công bố dưới thời ông Duẩn. Nhìn như thế thì rõ ràng người Tàu có lí do để ghét Việt Nam.

Ngày nay thì lịch sử có vẻ tái lập. Chỉ cách đây vài tháng, trước ngày kỉ niệm cuộc chiến 1979, một lãnh đạo của đảng CSVN đã tuyên bố rằng VN vẫn chung thủy với Tàu trong cái “truyền thống đoàn kết quốc tế thủy chung” (2). Rồi mới đây nhất là một phát ngôn trung thành khác từ một tướng lãnh VN: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng thân thiện và điều đó không bao giờ thay đổi. Nhiều thế hệ đã qua, nhân dân hai nước đã thiết lập và duy trì mối quan hệ, cùng tồn tại, hình thành rất nhiều điểm tương đồng về văn hóa” (3).

Đặt quan điểm chung thuỷ này với nhận định “Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ … Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta” trên đây, ai cũng có thể thấy có gì đó không “add up” (nói theo tiếng Anh), hay không ăn khớp. Câu nói của Mao còn sờ sờ ra đó, ngay trên báo chí “chính thống”. Câu nói của Đặng Tiểu Bình cũng còn đó trên giấy trắng mực đen. Những câu nói xách mé và xấc xược của các tướng lãnh Tàu cộng và bỉnh bút của Hoàn cầu Thời báo vẫn còn lưu lại đó. Trước những lời nói xấc xược và khinh bỉ của Tàu như thế mà những người ở vị trí lãnh đạo quốc gia lại thề thốt “thuỷ chung” với họ! Thật không thể nào hiểu nổi.

Chỉ có một cách giải thích là cả hai phía, Tàu và Việt Nam, đều đóng kịch. Chẳng ai tin ai cả, Tàu chẳng bao giờ tin Việt Nam, và Việt Nam lúc nào cũng nghi ngờ Tàu. Những ngôn từ hoa mĩ là chỉ nói cho có, chứ trong thâm tâm thì người nói nghĩ ngược lại. Thật ra, đó cũng chính là tình nghĩa đồng chí của những người cộng sản, ngay cả trong cùng một nước và cùng cộng đồng dân tộc. Bề ngoài thì cười cười, tay bắt, tay ôm, hôn hít (ghê ghê), nhưng trong bụng thì một bồ dao găm, muốn thanh trừng lúc nào cũng được. Đúng như Nguyễn Du từng tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười / Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

___

(1) Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay – Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao (MTG).

(2) Tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng, tính tiên phong của Ðảng, xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh(*) (ND).

(3) Tướng Vịnh: Quan hệ hữu nghị Việt-Trung không bao giờ thay đổi(VOA/ BS).

Posted in Chinh tri Trung Quoc, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Cái “Nguyên Trạng” Đâu Rồi? Lộ Trình Quan Hệ Quốc tế của VN – Cơ hội Thoát Hán?

Posted by hoangtran204 on 08/08/2015

Đinh Tấn Lực

Qua khỏi một điểm nhất định nào đó là sẽ không còn đường quay ngược lại. Đó chính là điểm cần phải đạt đến” – Franz Kafka.

Chuỗi thời sự hậu Mỹ Du của ngài tổng bí đã nối liền quá nhiều điều đáng ngẫm…

12/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius ghé thăm cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở Quận Cam, California. Đài BBC đi tựa bài tường thuật “Đại sứ Mỹ: ‘Việt Nam đang có những thay đổi’ ”. Bài viết còn dẫn thêm lời phát biểu của Ted: “Nếu không nắm lấy cơ hội này là không hoàn thành nhiệm vụ”.

19/7/2015 – Đệ nhị phu nhân Hoa Kỳ, Tiến sĩ Jill Biden, thăm viếng Việt Nam, gặp gỡ Phó CTN Nguyễn Thị Doan và phu nhân Mai Thị Hạnh của CTN Trương Tấn Sang. Nội dung mặt nổi trên truyền thông đại chúng giữa Jill với cánh nội tướng nhà nước VN là thuộc phạm trù… những tiến bộ trong quan hệ Việt Mỹ.

22/7/2015 – Hàng nghìn tăng ni phật tử tụ về chùa Vĩnh Nghiêm tham dự một buổi lễ cầu siêu bi hùng, công khai bày tỏ lòng tưởng nhớ ghi công 64 liệt sĩ hy sinh trong trận thảm sát Gạc Ma. BT/BQP/VN vắng mặt, thay vào đó là Thiếu tướng Lê Mã Lương phát biểu cảm tưởng. Hầu hết các báo đều được đi tin lẫn đăng video clip về trận Gạc Ma.

27/7/2015 – CTN Trương Tấn Sang, lần đầu tiên chính thức và mạnh dạn công khai có cuộc gặp gỡ thân mật các cựu chiến binh của hai sư đoàn 313 & 314, là những đơn vị từng anh dũng chiến đấu chống bọn giặc xâm lược bá quyền bành trướng dọc theo biên giới phía Bắc của Việt Nam, thuộc khu vực Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

27/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, trong buổi làm việc với Bộ QP VN, được Thứ trưởng QP Nguyễn Chí Vịnh, thay mặt BT/BQP/VN tiếp đón bên lề cuộc Hội thảo Quốc tế về Lực lượng Gìn giữ Hoà bình của LHQ. Trong dịp này, Ted tiết lộ rằng “Vào tháng 9/2015, nhiều khả năng hai bên sẽ thảo luận hợp tác sản xuất vũ khí”.

27/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, trong dịp này, tiết lộ thêm rằng cũng trong khoảng tháng 9 tới đây, Đô đốc Paul Zukunft, Tư lệnh lực lượng Duyên Phòng Hoa Kỳ, sẽ viếng thăm Việt Nam, theo đề nghị của BT/BQP Mỹ Ashton Carter trong chuyến viếng thăm một đơn vị cảnh sát biển VN tại Hải Phòng hồi đầu tháng 6 vừa qua.

28/7/2015 – Đài VOA đăng tin BT/BNG Hoa Kỳ John Kerry sẽ viếng thăm Hà Nội vào đầu tháng 8 tới đây, nhân chuyến công du các nước Ai Cập, Qatar, Singapore, Mã Lai. Tại Mã Lai, John sẽ họp với 10 thành viên của Hiệp hội ASEAN. Chủ đề chính là Biển Đông, và có nhiều xác suất là John sẽ lặp lại yêu cầu TQ chấm dứt nỗ lực xây đảo nhân tạo.

28/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, trong buổi họp báo công bố kết quả chuyến công du Mỹ Quốc của ngài tổng bí vừa qua, đã tiết lộ là rất thú vị khi nghe ngài tổng bí lặp lại 2 lần từ “bạn bè”, với hai vị nguyên thủ số 1 và số 2 của Mỹ, tức đã “Thể hiện sự tin cậy, tin tưởng lẫn nhau chứ không phải là một quan hệ đổi chác”.

28/7/2015 – Đại sứ Mỹ Ted Osius, cũng trong buổi họp báo này, tiết lộ thêm một tin tức rất đáng quan tâm khác nữa, ngoài việc thành hình trường đại học Fulbright tại VN, là, vị Chánh thẩm Toà Án Tối Cao Liên Bang Hoa Kỳ sẽ viếng thăm VN trong thời gian tới. Ted kết luận rằng “Quan hệ Việt-Mỹ chưa bao giờ tốt hơn hiện tại”.

29/7/2015 – Trong cuộc hội thảo tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington DC, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương Daniel Russel có một phát biểu được báo chí tranh nhau VN giật tít lớn: “Mỹ tuyên bố ‘không trung lập’ trong vấn đề biển Đông”.

29/7/2015 – David Cameron, là vị Thủ tướng đầu tiên của Vương quốc Anh viếng thăm VN, trong hai ngày 29 và 30 tháng 7, cốt yếu là nhằm các hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, điều ngạc nhiên khiến dư luận quốc tế xôn xao là nguyên nhân nào và nhắm vào ai mà trước khi đến VN, David tuyên bố không nhân nhượng với tệ nạn rửa tiền ở Anh.

30/7/2015 – BT NG VN Phạm Bình Minh công du Nhật Bản, tham dự phiên họp của Uỷ ban Hợp tác Việt Nhật lần thứ 7, đồng thời, chuẩn bị thủ tục cho chuyến viếng thăm của ngài tổng bí. Trước đó, trong chuyến công du Nhật Bản hồi đầu tháng 7, Thủ tướng VN cũng đã bày tỏ ý nguyện của ngài tổng bí là được thăm Nhật.

31/7/2015 – Lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ do Sứ quán VN tại Mỹ chủ trì đã diễn ra tại thủ đô Washington DC. Tường thuật buổi lễ long trọng này, các báo lại thi đua giật tít: “Mỹ luôn đứng cạnh VN để bảo vệ hoàn bình Biển Đông”.

*

Lộ Trình Quan Hệ Quốc tế của VN, với những dữ kiện vừa nêu nói lên điều gì?

Chí ít, người đọc sẽ ráp nối tin thời sự để tự rút tỉa một vài nhận định:

  1. CTN  Trương Tấn Sang  đã tỏ ra mạnh dạn tự ý từ bỏ thế trung tả để nghiêng về phía trung hữu, một khi thấy phía cực tả đã xảy ra lắm điều tơi tả. Chỉ không rõ ngài có dám mạnh dạn thả tù những người đã từng phản đối thái độ hung hãn của Tàu trước đây?
  2. Thủ tướng chính phủ vận động cho Tổng bí thư đảng công du là một điều xưa nay hiếm. Nhắm tới Nhật Bản ngay sau Hoa Kỳ, là hai nước cùng một trục đối đầu với Bắc Kinh trên vùng biển lưỡi bò, lại càng là một hiếm hoi gần trăm năm mới có một.
  3. Nếu điều đó xảy ra, liệu rằng Tổng bí thư Ba Đình có đến Đông Kinh với tư cách lãnh tụ của phe thân Bắc Kinh như trước giờ từng hành xử nữa không? Hay ngài tổng bí đã ngã lòng, chấp nhận suy thoái, sau khi bị cắt cánh trói chân?
  4. Phía Mỹ liên tục khai triển nhiều chiêu thức tiếp thị của các Cty bán bảo hiểm, lần này là bảo hiểm chính trị, đặc thù và cụ thể là không đụng chạm gì tới thể chế hiện hành của Hà Nội. Nếu thay đổi xảy ra là do tự thân nó thay đổi!
  5. Thủ tướng Anh Quốc lại vô tình hé lộ một khung sườn làm việc mà nhiều người cho rằng có liên quan đến công thức Miến Điện trước đây: Lời hăm doạ (cũng là điều kiện thuận thảo) về cách rửa tiền, tẩu tán tài sản… mà không chỉ ở Anh.
  6. Những lời mật ngọt vuốt ve đám con trời trong cơn cắn răng nghiến lợi tất nhiên không thể thiếu, nhưng tông điệu chiều chuộng sẽ thấp hơn, với nhịp độ thưa hơn. Cũng tất nhiên, nhân sự BQP/VN trách nhiệm khâu này vẫn là hợp lý hơn cả.
  7. Gút lại, giới quan tâm thời sự VN thấy ra một điều chắc nịch là cái “nguyên trạng” của VN đã biến dạng.Có khi là đã vỡ toang ở một điểm khó lòng quay lại đường xưa. Cuba có cách của Cuba. VN cũng có cách riêng của VN. Nhất định thế!
  8. Điều thay đổi ngoạn mục này tạo ra một tâm lý lạc quan cho nhiều người từng chờ đợi cơ hội Thoát Hán, nhưng ngược lại cũng gây ra nỗi lo lắng về một tương lai VN đắm chìm vào một chế độ độc tài không cộng sản chưa chắc tốt đẹp gì.
  9. Có phải rằng, nói theo giọng Ted, chưa bao giờ nhu cầu xây dựng một liên minh chính trị của người Việt Nam yêu tự do dân chủ để ngăn chận đường xoay của độc tài độc đảng là to lớn hơn và khẩn thiết hơn hiện tại?

01/8/2015
– Tròn 74 năm ngày sinh báo “Việt Nam Độc Lập”. Kỷ niệm 60 năm khánh thành đường sắt liên vận nối liền Bắc Việt với TQ và mong rằng không ai cần đếm thêm.

Blogger Đinh Tấn Lực

Nguon: http://www.danluan.org

Posted in Chinh Sach doi ngoai, Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Đất nước sắp có thay đổi lớn? (Nguyễn Gia Kiểng)

Posted by hoangtran204 on 17/07/2015

Trần Quang Thành

16-07-2015

Sau 4 ngày hoạt động ở Washington DC, New York, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ từ ngày 4 đên 10/7/2015, theo lời mời của chính quyền Tổng thống Obama.

Trong dư luận có những đánh giá khác nhau về chuyến thăm này. Có người nhận định đây chỉ là một biểu tượng lớn, có người cho rằng đó là một sự xích lại gần Mỹ hơn đáng khích lệ ; cũng có người phân tích cái được và mất của ông Trọng qua chuyến đi này. Trong cuộc trò chuyện với nhà báo Trần Quang Thành, người đang giữ vai trò thường trực tổ chức Tập hợp đa nguyên là ông Nguyễn Gia Kiểng có điều suy tư Đất nước sắp có thay đổi lớn?

Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện. Mời quí vị cùng nghe:

Trần Quang Thành: Xin chào ông Nguyễn Gia Kiểng

Nguyễn Gia Kiểng: Xin chào ông Trần Quang Thành

TQT: Thưa ông Nguyễn Gia Kiểng, như vậy là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chuyến đi thăm nước Mỹ. Cuộc đi thăm được chuẩn bị khá lâu và khá ầm ĩ. Dư luận tróng, ngoài nước cũng có sự quan tâm về chuyến đi này.

Riêng ông Nguyễn Gia Kiểng có đánh giá ra sao về chuyến đi thăm nước Mỹ của ông Tổng bí thư lần này ạ?

NGK: Theo tôi chuyến thăm viếng này nó đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong bối cảnh chính trị ở Việt Nam. Đây là lần thứ hai một vị lãnh đạo Đảng Cộng sản sang thăm nước Mỹ thay vì cho một vị lãnh đạo đại diện cho chính phủ. Trước đây ông Phạm Quang Nghị, môt ủy viên trong Bộ Chính trị cũng đã đột ngột, bất ngờ thay thế ông Phạm Bình Minh đi thăm nước Mỹ. Chúng ta có cảm tưởng Bộ Chính trị muốn giữ thế chủ động. Ông Nguyễn Phú Trọng đã tới nước Mỹ với một phái đoàn hùng hậu. Nếu tôi đếm không sai ông đên với phái đoàn 11 Ủy viên Trưng ương Đảng, trong đó có 2 vị ở trong Bộ Chính trị, 1 vị trong Ban bí thư là Chánh văn phòng Ban bí thư. Tôi nghĩ Đảng Cộng sản dành thế chủ động trong việc tăng cường mối bang giao với Hoa Kỳ. Trước đây trong việc tiếp xúc giữa chính phủ với chính phủ nó là chính thức. Nhưng mà chúng ta chú ý người ta đưa những người cấp cao có quyền lưc nhưng không chính thức. Nó có một cái gì đó thay đổi trong chiều sâu. Ho muốn có sự thây đổi thực trong quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ. Tôi nghĩ sự kiện diễn ra kỳ này nó không có hình thức. Hai bên muốn nói thực sự, muốn thảo luận để đến những thỏa thuận trong thực tế, chứ không còn trong xã giao.

TQT: Có người nói về hình thức cuộc đón tiếp kỳ này khá rầm rộ nó thể hiện sự trọng thị của ông Tổng thống Obama cũng như những người lãnh đạo nước Mỹ. Nhưng đi sâu và thực tiến nó có được thể hiện như vậy không hay là nó vẫn chỉ mang tính chất biểu tượng. Ông nghĩ sao?

NGK: Theo tôi đây là một sự việc Đảng Cộng sản Việt Nam muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ là họ có đồng thuận, có thỏa hiệp trong nội bộ của họ. Bằng cớ như tôi vừa nói họ mang theo một lưc lượng Đảng rất hùng hậu. Điều quan trọng là nhắm vào nội dung. Còn về hình thức có lẽ nó cũng không quan trọng lắm đâu. Tôi cũng không có lưu ý nhiều đến hình thức.

Về hình thức tôi muốn nói chúng ta đừng quên theo Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì ông Trọng chứ không phải ông Sang là người lãnh đạo Việt Nam. Bởi vì trong Hiến pháp, điều 4 nói rất rõ Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Ông Trọng là người lãnh đạo Đảng tức là người lãnh đạo đất nước Việt Nam. Đây là một điều rất chính thức, rất hợp pháp. Không có gì hợp pháp hơn là hiến pháp. Chúng ta phải hiểu theo Hiến pháp ông Trọng mới là người nguyên thủ quốc gia thực sự. Nếu chúng ta hiểu như vậy, kỳ này điều Đảng Cộng sản Việt Nam muốn không phải là hình thức, là trọng thị mà là đi đến sự thỏa thuận thực sự.

Riêng tôi thấy về phần hình thức nó rất là nhẹ. Trở lại 36 năm trước đây, vào năm 1979, ông Đặng Tiểu Bình tới thăm nước Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Cater. Lúc đó ông Đặng Tiểu Bình chỉ là một phó thủ tướng, ông cũng không phải là Tổng bí thư,nhưng ai cũng biết ông ấy là người lãnh đạo Đảng Cộng sẩn Trung Quốc nên đã được Tổng thống Jimmy Cater ra tận phi trường đón tiếp. Ông Đặng Tiểu Bình đã được đón tiếp linh đình với tất cả nghi thức như một nguyên thủ quốc gia thực sự với tất cả sự ân cần. Nhưng kỳ này ông Trọng đến mặc dâu ông là Tổng bí thư thực sự, mặc dầu ông mang theo một phái đoàn hùng hậu như tôi vừa nói nhưng mà theo danh sách báo chí tường thuật – có thiếu sót hay không thì tôi không biết – người ra đón chỉ là môt trợ lý ngoại trưởng, đại sứ Mỹ tại Việt Nam, 1 giám đốc nghi lễ của Bộ Ngoại giao. Như vậy họ không đặt nặng vấn đề về hình thức. Như vậy nói kỳ này ông Trọng được đón một cách trọng thị là không đúng. Mặc đầu sau đó ông cũng có được một cuộc tiếp xúc tại Nhà Trắng, cũng được khoản đãi một bữa cơm trưa với Phó Tổng thống Joe Biden và ông Ngoại trưởng John Kery. Nhưng tôi nghĩ chúng ta nên chú ý đến nội dung các cuộc thảo luận hơn là vấn đề nghi thức. Tôi nghĩ kỳ này có những thỏa hiệp rất là quan trọng.

TQT: Theo ông kỳ này có thỏa hiệp nào là quan trọng mà ông quan tâm?

NGK: Tôi nghĩ trong tình thế hiện nay giả xử chế độ cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn sáp lại với Mỹ ; muốn tách xa ra môt chút đối với Trung Quốc – Họ không thể nói công khai điều này được – Cho nên chúng ta phải dựa vào những chỉ dấu khác.

Qua theo dõi phim ảnh về cuộc gặp gỡ này tôi thấy một điều có khác với lần gặp gỡ ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Tấn Sang trước đây. Phía Mỹ và Việt Nam có vẻ thoải mái,vui vẻ như họ vừa mới thỏa thuận vói nhau một cái gì. Chứ không phải nói để mà nói. Qua không khí, qua ngôn ngữ chúng ta cảm thấy đây là những người đã thỏa thuận với nhau và đã hài lòng với cuộc gặp gỡ của mình.

Bây giờ dựa vào những gì họ đã nói chúng ta cũng phải phân tích, cũng nên chú ý. Ông Obama nói hai bên đã thảo luận trên rất nhiều vấn đề. Cuộc thảo luận nửa giờ trên nhiều vẫn đề tôi nghĩ là chỉ lặp lại những điều gì đã thỏa thuận từ trước thôi. Họ nói họ đã thảo luận với nhau về nhiều vấn đề rồi. Vấn đề Việt Nam gia nhập TPP, về an ninh quốc phòng. Đó là những điều mới. Về nhân quyền và tự do tôn giáo cũng nói tới. Ông Obama và ông Nguyễn Phú Trọng đều nói vấn đề an ninh trên Biển Đông một cách khéo léo nhưng cũng khá rõ đó là coosmootj quốc gia (ý nói Trung Quốc) đâng hoạt động bất hợp pháp, bất chấp luât pháp trên Biển Đông. Chúng ta nên chú ý đến câu nói của Tổng thống Obama khi ông ấy nói là vẫn còn có những khác biệt giữa 2 nước về nhân quyền, về tự do tôn giáo. Ông Trọng và ông Obama đều nói đến vấn đề an ninh trên Biển Đông một cách khéo léo, nhưng tương đối khá rõ như đang có một quốc gia (ám chỉ Trung Quốc) đang có hành động bất chấp luật pháp trên Biển Đông. Chúng ta nên chú ý đến câu nói của Tổng thống Obama khi ông ấy nói là vẫn còn có những khác biệt quan điểm giữa hai nước về vấn đề nhân quyền và vấn đề tự do tôn giáo. Nhưng mà tôi tin tưởng rằng hai quốc gia sẽ sáp lại gần nhau, sẽ giải tỏa khác biệt đó. Cài khác biệt đó như thế nào thì chúng ta đêu biết không có việc Mỹ bắt chước Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Nếu đạt được đồng thuận về vấn đề đó thỉ chỉ có việc Việt Nam sáp gần lại Hoa Kỳ mà thôi.

Tôi nghĩ so với cách nói như vậy chúng ta phải hiểu rằng phía Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bước nhượng bộ – cụ thể như thế nào thì chúng ta chưa biết – nhưng có bước nhượng bộ quan trọng về nhân quyền.

Nhân quyền là một cách nói khác của dân chủ. Nên tôi nói đây là mọt sự nhượng bộ rất quan trọng chúng ta phải chờ đợi. Trong buổi nói chuyện với ông Trọng, ông Joe Bidan còn nói rõ hơn nữa là qua cuộc thảo luận còn dài khác biệt, nhưng ông ấy tin tưởng là Việt Nam sẽ là một nước phát triển.

Dựa vào đó chúng ta có thể thấy ró Việt Nam đã có những cam kết. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những cam kết về tự do, về nhân quyền rất là lớn

Nhân quyền có nhiều quyền tự do, nhưng mà chúng ta nhấn mạnh 3 quyền tự do :

       – Tự do ngôn luận và báo chí

       – Tự do ứng cử và bàu cử

       – Tự do tham gia và thiết lập các tổ chức..

Ba quyền tự do đó nó định nghĩa chế độ dân chủ.

Tôi không rõ họ hứa hẹn thời hạn với Hoa Kỳ thực hiện 3 quyền tự do ấy là bao lâu.. Nhưng mà họ đã chấp nhận.Trên nguyên tắc đây là một điểm rất quan trọng. Chế độ cộng sản hiện nay nó không chấp nhận 3 quyền căn bản này.

Trong 3 quyền có quyền tự do ứng cử và bàu cử. Chấp nhận quyền này trên nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam đã công nhận đa nguyên, đa đảng. Họ chấp nhận vào thơi gian nào đó là một chuyện. Nhưng về chính trị đây là một dự đoán. Làm chính trị chúng ta bắt buộc phải dự đoán. Ngay cả dự đoán đó nó có sai, cũng phải dự đoán. Nhưng tôi có niềm tin chắc chắn qua cuộc gặp gỡ này với hình thức của nó, với nội dung chúng ta được biết thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhượng bộ – Nhượng bộ lịch sử – Trên nguyên tắc sẽ chấp nhận chế độ đa nguyên, đa đảng.

Người dân Việt Nam ai cũng biết người cộng sản luôn lưỡng lự giữa 2 chọn lựa : Đi với Tàu thì mất nước ; Đi với Mỹ thì mất Đảng. Nhưng kỳ này họ chấp nhận đi với Mỹ nghĩa là có một cái gì đó.

Đảng Cộng sản từ trước đến nay vẫn chó rằng nếu sáp gần các nước dân chủ, sáp với Hoa Kỳ và hội nhập với.các nước dân chủ sẽ mất Đảng, mất chế độ độc tài.

Một khi có bầu cử tự do thì với thành tích trong quá khứ tôi không nghĩ Đảng Cộng sản có một cái may mắn, một cái hy vọng nào. Cho nên chấp nhận chế độ dân chủ cũng là chấp nhận sự tan vỡ. Trong tương lai có thể tiên liệu những gì thấy đươc của Đảng Cộng sản. Đây là một sự nhượng bộ của Đảng Cộng sản. Tôi nghĩ Đảng Cộng sản đẫ bị đẩy đến sự nhượng bộ này. Họ biết đây là sự nhượng bộ đau đớn mà không muốn làm. Như ông Nguyễn Minh Triết đã từng nói “Bỏ điều 4 là tự sát” . Thế nhưng họ phải làm bởi vì họ đang ở trong tình thế tuyệt vọng.

TQT: Thế nhưng chúng ta đang ở gần một nước khổng lồ là Trung Quốc, một ông láng giềng rất khổng lồ. Nước Mỹ thì ở xa nước ta. Thế thì sự đối phó của cộng sản Việt Nam như thế nào để không bị ảnh hưởng trong cuộc giao lưu gần gũi với Mỹ thị bị Trung Quốc tìm cách triệt hạ họ được thưa ông?

NGK : Theo tôi nghĩ sắp có thay đổi rất lớn khiến những quan tâm của chúng ta trong quá khứ nó không đúng nữa. Quan tâm cho đến hiện nay là làm thế nào để sống bình yên với Trung Quốc. Bời vì có một láng giềng quá lớn, qúa hung hang. Tôi nghĩ mối quan tâm ấy chúng ta cũng không cần đặt nặng ra nữa. Vì có một cái gì đó, vì có một sự thay đổi lớn đang xảy ra. Đó là sự suy sụp của Trung Quốc. Cách đây 2 tháng rưỡi tôi có viết một bài báo Khi chân trời sụp đổ và lịch sử sang trang. Trong đó với tất cả những dữ liệu không thể chối cãi được do chính quyền Trung Quốc cung cấp hoặc thừa nhận. Qua đó chúng ta thấy Trung Quốc đang đứng trên bờ một cuộc khủng hoảng lớn. Và ngay cả khẳ năng Trung Quốc tồn tại với một lãnh thổ này, dân số này cũng không có gì bảo đảm. Cho nên những ưu tư của Trung Quốc trong những ngày sắp tới sẽ tập trung lo giải quyết những khó khan nội bộ. Chứ không còn hơi sức đau mà đi khiêu khích bên ngoài nữa. Chúng ta không nên quá lo âu đối với Trung Quốc; đối với sự khiêu khích xâm lấn của Trung Quốc. Những điều sắp xảy ra ở Trung Quốc là một thảm kịch. Mà thảm kịch đối với ¼ nhân loại Trung Quốc là một thế giới nhỏ trong thế giới này. Tôi nghĩ trong những ngầy sắp tới Trung Quốc sẽ khốn đốn và sẽ không còn hung hăng trong chính sách đối ngoại nữa. Về điều này tôi cũng lưu ý là nếu chúng ta quan sát lịch sử của Trung Quốc, cũng như lịch sử đê quốc. Chúng ta nên nhìn Trung Quốc như một đế quốc. Một đế quốc nó hung hăng khi nó mạnh chứ nó không hung hăng khi nó có vấn đề nội bộ. Trái lại một chế độ hay một nước nó hay gây hấn với bên ngoài để làm quên đi những khó khăn nội bộ như chế độ Hit-le, chế độ quân phiệt Nhật, chế độ phát-xít Ý. Nhưng mà một đế quốc thì ngược lại. Nó hung hăng khi nó mạnh. Khi nó có vấn đề nội bộ nó lo giải quyết vấn đề nội bộ. Chúng ta thấy điều này cũng được kiểm chứng trong lịch sử Trung Quốc. Những lúc Trung Quốc hung hăng đối với bên ngoài là lúc Trung Quốc cực thịnh, không có vấn đề bên trong. Nhưng khi có vấn đề bên trong nó lại rất mềm đối với bên ngoài. Có lúc Trung Quốc đã phải cống các quí phi của mình cho các nươc chư hầu để cầu an như Chiêu quân cống Hồ.

Tôi nghĩ Trung Quốc đang khốn đốn họ sẽ ứng xử theo cách truyền thống của họ là.mềm yếu với bên ngoài.

Ông vừa hỏi Hòa Kỳ ở xa có bảo vệ được chúng ta hay không? Tôi nghĩ nhu cầu bảo vệ nó cũng không quan trọng. Thế nhưng mà nếu có thì chúng ta cũng đừng quên vai trò của Nhật Bản.

Một yếu tố mới ở châu Á là sự đổi mói của Nhật Bản. Sau thế chiến, Nhật Bản là nước tiến bộ nhanh chóng. Trong thế chiến thứ H.ai, Nhật đã qúa tự tin gáy chiến nhưng sau đó đã thảm bại. Sau thế chiến thứ Hai Nhật vươn lên. Nhưng cách vươn lên của Nhật là cách vươn của một nước châu Á, theo cách văn minh châu Á, nhưng sử dung khoa học và ký thuật hiện đại. Ba thập niên gần đây nước Nhật chuyển hóa về văn hóa để thật sự là một nước Nhật hiện đaị: Hiện đại trong nếp sống ; hiện đại trong quan hệ xã hội ; hiện đại trong quan hệ công nhân, trong cách thức sản xuất. Ngày nay nước Nhật đã làm xong một cuộc cách mạng văn hóa lớn. Nước Nhật rất tự tin. Nhật là một liên minh thiết yếu của Mỹ là người đại diện cho liên minh Mỹ – Nhật ở Thái Bình Dương.

Tôi nghĩ điều thứ nhất chúng ta không nên quá lo âu về Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không gấy hấn.

Điều thứ hai là khối dân chủ hiện diện rất là mạnh ở châu Á qua Mỹ và Nhật.

Ở đây tôi cũng muốn nhắc lại một điều là cũng nên tương đối hóa nguy cơ gây hấn của các nước độc tài. Vì hiện nay nếu chúng ta so sánh thì sẽ thấy khối dân chủ nó mạnh hơn hẳn khối độc tài về vũ khí cũng như ngân sách quốc phòng. Mạnh hơn hẳn khối Nga, Trung Quốc và một vài nước độc tài còn lại. Trọng lượng kinh tế các nước độc tại cộng lại cũng chỉ bằng 15% kinh tế thế giới thôi.

Điều căn bản ngày nay chúng ta không nên quên trong những suy nghĩ là các nước dân chủ không cần và cũng không sợ các nước độc tài

TQT: Lâu này người ta có quan niệm ở Việt Nam có 2 phe. Môt phe là phe bảo thủ – phe Đảng và một phe là phe cấp tiến – phe Chính phủ. Đứng đầu 2 pphe này là ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Tấn Dũng. Qua chuyến đi Mỹ lần này người ta đánh giá uy tín của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được nâng lên.

Vậy thì trong gian sắp tới đây phe bảo thù và phe cấp tiến, tức là phe Đảng Và phe Chính phủ họ có nhích lại gần nhau không hay là đến một lúc nào đó uy tín của ông Trọng sẽ lấn át phe cấp tiến của ông Nguyễn Tấn Dũng thưa ông?

NGK: Tôi không tin có 2 phe là phe thủ cựu và phe cấp tiến. Nhất là khi người ta coi ông Nguyễn Tấn Dũng là cấp tiến thì tôi càng không tin.

Phải nói ông Nguyễn Tấn Dũng có thực quyền hơn 10 năm nay từ năm 2002 khi ông là phó Thủ tướng thường trực cho một ông Thủ tướng rất mờ nhạt là ông Phạn Văn Khải, rồi sau đó ông làm Thủ tướng. Dưới thời ông sự đàn áp nó gia tăng, quan hệ kinh tế nó khép lại chứ nó không mở ra. Có những tiến bộ bộ về internet, về mạng xã hội là do ông không chống cự được với sự bùng phát của các phương tiện truyền thông, của văn ninh mạng mà thôi.

Tôi không tin ó 2 phe đó và tôi càng không tin ông Nguyễn Tấn Dũng là phe cấp tiến. Đối với tôi ông ấy là người thủ cựu hung hăng nhất. Trong thâm tâm, những lãnh tụ cộng sản người ta đều nghĩ như nhau cả. Nhưng ông Dũng là người nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, nhắc lại một cách quả quyết, một cách hung hăng nhất là kiên quyết không để nhen nhóm các tổ chức đối lập. Tôi nghĩ bảo ông Nguyễn Tấn Dũng là cấp tiến thì hãy xét lại. Theo nhận xét của tôi trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản họ có sự đồng thuận về mặt lập trường, về mặt chính sách. Tức là họ đều đồng ý Trung Quốc là một nước bá quyền, một thế lực bá quyền xâm lược. Giao thiệp với Trung Quốc là có hại. Ngược lại họ cũng đều nghĩ rằng liên hệ, hợp tác với Hoa Kỳ là có lợi cho đất nước. Nhưng họ cũng đồng ý với nhau không nên quan hệ với Hoa Kỳ mà nên quan hệ với Trung Quốc để giữ nguyên chế độ. Về điểm này vẫn chưa có gì khác biệt cả.

Đến ngày hôm nay tôi nghĩ là họ cũng đồng thuận trên một vấn đề mới là sự nguy ngập của chế độ, của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay Thế giới đang xôn xao về đất nước Hy Lạp. Nhưng tình trạng kinh tế Hy Lạp nó chưa đến nỗi tuyệt vọng như ở Việt Nam. Hiện nay Việt Nam cần phải dựa vào Trung Quốc để mà sống. Số chi ngân sách của Việt Nam là trên 50 tỷ USD một năm. Số thu ngân sách của Việt Nam là dưới 30 tỷ USD một năm. Như vậy nó hụt hẫng 20 tỷ USD một năm. Trung Quốc cho Việt Nam vay 100 tỷ USD với lãi xuất thấp chia ra 5 năm. Nghĩa là số thâm thủng ngân sách đó do Trung Quốc bơm vào Nếu không có thì hầu như chế độ phá sản ngay lập tức. Nhưng hiện nay Trung Quốc không còn là chỗ dựa nữa. Vì Trung Quốc cũng đang rất khốn đốn. Trong những ngày qua các thị trường chứng khoán ở Thượng Hải, ở Thấm Quyến đều sụt giảm 30%. Theo số liệu người ta ước tính trong vòng 1 tháng qua sự mất mát trên thị trường chứng khoán là 2.000 tỷ USD. Khi chúng ta nhìn thấy Trung Quốc bơm tiền vô để cứu vãn thị trường chứng khoán gần 20 tỷ USD, tức là Trung Quốc cũng không còn tiền và lộ ra sự yếu kém đó. Cho nên họ mới bơm tiền vô để cứu thị trường chứng khoán thì hậu quả nó không phải là cứu được thị trường chứng khoán mà nó gây ra mất lòng tin. Thị trường chứng khoán trong ngày tụt 7% và đi đến chỗ họ phải ngưng yết bảng

Trung Quốc không thể giúp cho Việt Nam về mặt tài chính vì Việt Nam đang đứng bên bỏ vực thẳm có nguy cơ phá sản ngay lập tức.. Cho nên họ bắt buộc phải đổi chính sách kinh tế chính trị. Biết giao thiệp với Trung Quốc là có hại về Đảng, nhưng nó có lợi cho chính quyền. Nó như bầu sữa giúp cho chính quyền cộng sản Việt Nam. Bầu sữa ấy không còn nữa họ phải tìm cách khác, dựa vào đâu? Phải gia nhập TPP. Phải tìm một khả năng đầu tư mới tức là gia tăng hợp tác để nhận được một khối lượng đầu tư mới bù đắp vào sự thâm thủng, thiếu hụt ngân sách. Những điều ấy không thể tìm thấy nới nào khác hơn là Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Cho nên họ bắt buộc phải nhượng bộ. Họ ở trong thế tuyệt vọng nên họ phải nhượng bộ cái điều mà họ biết là sự sa sút của chế độ.

TQT: Quay lại phong trào dân chủ, nhân quyền, và các tổ chức xã hội dân sự. Nếu quan hệ giữa hai nhà nước ấm lên. Mỹ sẽ giúp cho nhà nước Việt Nam mạnh lên liệu nó có tác dụng tích cực hay tác dụng tiêu cực đến đấu tranh của những người dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam thưa ông?

NGK : Cái này không chỉ là tốt mà là rất tốt. Chúng ta đều biết đặc tính của các nước dân chủ là họ có thể bỏ tiền ra để đầu tư vào những thị trường mới tạo ra khả năng trao đổi hợp tác và có lợi. Nó phải trải qua một thời gian. Đằng nào chế độ cũng phải trải qua một giai đoạn lúng túng. Ngay cả nếu chế độ được giải thoát về mặt kinh tế thì cũng rất khó mà tồn tại.

Kinh nghiệm cho thấy ở các nước Đông Âu trừ Rumani nó cai trị trong bạo lực và chấm dứt trong bạo lực. Tất cả các chế độ ấy không mang nhiều ân oán, không mang nhiều thù hận, với dân chúng nước họ bằng chế độ cộng sản Việt Nam nào là cải cách ruộng đất, nào là đánh tư sản, nào là tập trung cải tạo. Trong những năm gần đây thì tham nhũng bành trướng chóng mặt, bắt người trái phép, cướp bóc, tước đoạt đất đai . Nếu so sánh với các nước Đông Âu vào đầu thập niên những năm 1990, mặc dầu những chế độ cộng sản ấy họ không có nhiều thù oán với nhân dân của họ, nhưng tất cả các chế độ cộng sản ấy đã bị quét sạch. Nếu có việc Việt Nam đi sáp lại với Hoa Kỳ, các nước dân chủ, chấp nhận luật chơi dân chủ chúng ta có thể đánh cuộc Đảng Cộng sản có thể bị xóa bỏ ngay trong cuộc bàu cử đầu tiên.

Có điều một số người lo ngai, tôi không lo ngại là một số lớn người cộng sản sẽ thành lập ra một lực lượng dưới một cái tên gọi khác và với khả năng tổ chức nhân sự cũng như tài chính của họ , họ có thể thăng lợi trong cuộc bàu cử. Nhưng khả năng này nó cũng khó xảy ra. Nếu nó có xảy ra gthif nó cũng không phải là một thảm kịch cho đất nước là bởi vì nó cũng là một chế độ khác. Khi dân chủ được thiết lập, có một cái gì đó đã kết thúc vĩnh viễn ở Việt Nam : Đó là chủ nghĩa cộng sản.

Đảng Cộng sản có thể tồn tại dưới một danh xưng khác cũng không đáng lo ngại. Tôi nghĩ có thể sẽ có 2 trường hợp xảy ra :

  • Nếu từ nay đến đó – Theo tôi là một tương lai gần chứ không có thể xa được – nếu các lực lượng dân chủ có thể kết hợp với nhau được, ngoài Đảng Cộng sản thành một lực lượng, xây dựng được một lực lượng tương đối có tầm vóc thì thắng lợi là chắc chắn. Đó là một dấu hỏi lớn. Có vẻ lúc này lực lượng dân chủ đi sau sự chin muồi của xã hội.
  • Xã hội Việt Nam mặc dầu đã có sự chín muồi cho một cuộc chuyển hóa về dân chủ, nhưng mà lực lượng đối lập còn kém. Số người nhập cuộc còn ít. Không những thế còn có sự phân tán.

Hy vọng trong những ngày tháng sắp tời tình hình sẽ sôi nổi. Những thay đổi sẽ dồn dập.

Những thay đổi đó có tác dụng thức tỉnh những người dân chủ Việt Nam, những người từ trước đến giờ chưa dấn thân cũng dấn thân. Những người đã dấn thân sẽ nhìn ra cách dấn thân hợp lý, có ích hơn. Tức là kết họp với nhau thành một tổ chức dân chủ, một lực lượng dân chủ.

Anh em trong Tập hợp đa nguyên chúng tôi sẽ cố gắng đóng góp.

Để chuẩn bị cho tình thế mới đó, chúng ôi vừa phổ biến dự án chính trị dân chủ đa nguyên 2015 lấy tên là Khai sáng kỷ nguyên thứ hai.

Đó là tài liệu tóm lược những vấn đề chính của đất nước. Những định hướng nêu rõ để xây dựng một nước Việt Nam tương lai. Những phương thức đấu tranh cần có để giành thắng lợi cho phe dân chủ. Những nét chính để quản lý giai đoạn chuyển tiếp.

Điều tất cả mọi người Việt Nam hôm nay đều phải đồng ý là chuyển hóa đất nước từ độc tài đang cộng sản trong trình tự dân tộc một cách hòa bình trong tinh thần hòa giải dân tộc.

Trong cuộc chuyển hóa này phải gắn bó mọi người Việt Nam với nhau không để gây ra những đổ vỡ mới

TQT: Xin cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng

Nguon anhbasam.wordpress.com


Clinton nói về ảnh hưởng của Hoa Kỳ sau 20 năm quan hệ Việt – Mỹ 

3-7-2015

HÀ TƯỜNG CÁT/Người Việt

Clinton nhận định như vậy trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ mừng Độc Lập Hoa Kỳ ở Hà Nội và cũng nhân dịp 20 năm  bình thường hóa bang giao Mỹ – Việt. 

 

Cựu Tổng Thống Bill Clinton, diễn giả danh dự trong buổi tiệc ở khách sạn JW Marriot Hà Nội, hôm Thứ Năm 2 tháng 7,  mừng 239 năm ngày Hoa Kỳ  độc lập và 20 năm Hoa Kỳ tái lập quan hệ bình thường với Việt Nam. (Hình: AP/Trần Văn Minh)

Tổng Thống Bill Clinton quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận Việt Nam năm 1994, bình thường hóa quan hệ ngoại giao ngày 11 tháng 7 năm 1995, và là nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến tranh vào năm 2000. Lần này là lần thứ năm ông trở lại Việt Nam, hầu hết cho hoạt động của tổ chức Clinton Foundation chống HIV/AIDS, bệnh lao và sốt rét.

Buổi tiếp tân do tòa đại sứ Hoa Kỳ tổ chức tối Thứ Năm tại Hà Nội có hơn 1,000 quan khách tham dự và giới chức cao cấp nhất bên phía Việt Nam là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Đại sứ Ted Osius và các cựu đại sứ Pete Peterson, Michael Michalak, đại biện Desaix Anderson, cùng ngoại giao đoàn các nước hiện diện trong buổi lễ.

Cựu Tổng Thống Clinton hồi tưởng lại tiến trình tái lập quan hệ bình thường giữa hai nước trải qua vô vàn trở lực, từ tâm lý ám ảnh bởi dĩ vãng ở cả hai phía, cho đến những nghi kỵ và những vấn đề khó khăn phức tạp còn tồn tại. Ông nói: “Bình thường hóa bang giao đối với tôi, về mặt cá nhân, chính trị và giá trị địa lý chiến lược là một trong những thành tựu quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình. Nó giúp hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quan hệ hữu nghị và chứng tỏ cho thế giới ngày càng phân hóa rằng hợp tác vẫn là tốt đẹp hơn xung đột rất nhiều.”

Ông Bill Clinton vẫn nổi tiếng là người có tài nói năng khéo léo, không quên khen ngợi đại sứ Ted Osius. Ông nói: “Ông phó thủ tướng (Phạm Bình Minh) nói với tôi rằng đại sứ nói tiếng Việt rất giỏi khi giới thiệu tôi cho quan khách.” Cựu Tổng Thống cũng ca ngợi cựu đại sứ Pete Peterson là một biểu tượng để ông hành động đúng: “Quý vị đều biết đấy, ông ta đã hơn 6 năm là khách của chính quyền Việt Nam trong thời chiến tranh. Về Mỹ ông ứng cử thành Dân Biểu quốc hội, và trở thành đại sứ đầu tiên của chúng tôi ở Việt Nam. Tôi tin rằng bổ nhiệm ông là một trong những sự chỉ định tốt nhất mà tôi đã làm được. Rồi ông ta lập gia đình và qua sống ở Australia, mỗi tháng vẫn về thăm Việt Nam.” Pete Peterson là phi công máy bay chiến đấu F-4 Phantom, bị bắn rớt ở Bắc Việt tháng 10 năm 1966 và được phóng thích trong cuộc trao trả tù binh tháng 3 năm 1973. Bà vợ ông lấy năm 2002 khi đang làm đại sứ ở Hà Nội là một phụ nữ Úc gốc Việt, viên chức mậu dịch cao cấp của Australia.

Trong bài nói chuyện tại Hà Nội hôm Thứ Năm, ông Clinton ca ngợi 4 Thượng Nghị Sĩ Charles Robb, Max Cleland, John Kerry, John McCain – tất cả đều là cựu chiến binh Việt Nam –  trong số rất nhiều người đã góp phần vào tiến trình bình thường hóa bang giao Mỹ-Việt, mà ông chỉ là người quyết định sau cùng.

Đầu năm 1977, ngay khi trở thành Tổng Thống, Jimmy Carter đã chú trọng đến việc này. Tháng Ba năm ấy ông cử một phái đoàn đến Hà Nội, tuy nhiên hãy còn quá sớm để có thể đi tới một thỏa hiệp gì. Dù sao, tới tháng Năm, Hoa Kỳ đồng ý để Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Tiếp đó, cuộc đàm phán chính thức đầu tiên về tái lập quan hệ ngoại giao diễn ra tại Paris, cầm đầu phái đoàn Mỹ là thứ trưởng ngoại giao đặc trách Đông Á – Thái Bình Dương, Richard Holbrooke, và phái đoàn Việt Nam là thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền. Lúc đó Hoa Kỳ đề ra lộ trình ba bước, trong đó trước hết là được cung cấp thông tin về quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh và trao trả hài cốt những người đã chết. Phía Việt Nam đặt điều kiện bồi thường chiến tranh như thỏa thuận ở hòa đàm Paris.

Cuộc đàm phán ở Paris và những trao đổi giữa hai bên kéo dài không kết quả suốt thập niên 1990. Vấn đề bồi thường chiến tranh là vô nghĩa khi phía Việt Nam không tôn trọng hiệp định Paris năm 1973, và trong một thời gian rất lâu Hoa Kỳ vẫn nghi ngờ còn một số quân nhân Mỹ sống sót bị Việt Nam giam giữ ở nơi bí mật.

Năm 1990, thời Tổng Thống George H.W. Bush, bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ngoại trưởng James Baker và chuyến thăm này được coi là đã tạo ra một vài bước định hướng cho việc thương thuyết. Ông Thạch nhìn nhận rằng điều kiện về bồi thường chiến tranh là giải pháp không khả thi nên từ bỏ, không đặt vấn đề này nữa. Trọng tâm của Việt Nam ở thời điểm ấy là Hoa Kỳ giải tỏa lệnh cấm vận. Một người góp phần thêm cho nỗ lực của Việt Nam và mở lối cho Hoa Kỳ là Thượng Nghị Sĩ John McCain, cựu tù binh chiến tranh nổi tiếng.

Cuối năm 1991, một bước tiến quan trọng đạt được khi phái đoàn Việt Nam do thứ trưởng ngoại giao Lê Mai cầm đầu tới New York và hai bên đồng ý thành lập nhóm chuyên viên giải quyết các bế tắc trong tiến tình đi đến bình thường hóa. Chương trình POW/MIA tìm kiếm hài cốt và lính Mỹ mất tích được thành hình sau đó.

Tháng Tư, 1992, Tổng Thống George H.W. Bush ký sắc lệnh nới lỏng cấm vận, cho phép các công ty Mỹ mở văn phòng đại diện ở Việt Nam và cho phép bán một số dược phẩm và nhu yếu phẩm.

Chiều hướng bãi bỏ cấm vận ngày càng được đẩy mạnh ở Hoa Kỳ, mặc dầu cũng có những chống đối mạnh mẽ từ một số tổ chức trong cộng đồng người Việt tị nạn. Thượng Nghị Sĩ John Kerry, cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam, thuộc trong số những người tích cực vận động cho bước tiến này. Ông đã từng đề cao thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có đóng góp đặc biệt vào chương trình tìm kiếm tù binh và người mất tích trong nỗ lực tiến tới bình thường hóa bang giao.

Năm 1994, dự luật đề nghị gỡ bỏ cấm vận Việt Nam do hai Thượng Nghị Sĩ John Kerry và John McCain bảo trợ được Thượng Viện thông qua. Trước đó, Tổng Thống Bill Clinton đã tuyên bố Hoa Kỳ không phản đối việc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) tài trợ cho Việt Nam và khẳng định sẽ nới lỏng thêm lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. Sau khi dự luật Kerry – McCain  thông qua Thượng Viện, Tổng Thống Bill Clinton chính thức chấm dứt cấm vận Việt Nam và cho mở văn phòng liên lạc ngoại giao giữa hai nước – đại diện ngoại giao Desaix Anderson là viên chức Mỹ đầu tiên  làm việc tại Hà Nội cho tới tháng 11 năm 1995 mở tòa đại sứ.

Cựu Tổng Thống Bill Clnton trong bài nói chuyện ở Hà Nội tất nhiên muốn đề cao những thành quả của 20 năm bình thường hóa quan hệ trên nhiều bình diện kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục và chiến lược.

Theo lời ông, quốc gia 20 năm trước chỉ có thu nhập mỗi người 1 dollar một ngày, bây giờ đang phát triển kinh tế vượt bực và dành  20% ngân sách cho giáo dục, tỷ lệ cao hàng thứ 12 trên thế giới. Hiện nay có 17,000 du học sinh Việt Nam ở các trường đại học Mỹ, con số cao hơn hai nước láng giềng Hoa Kỳ là Canada và Mexico.

20 năm trước quan hệ mậu dịch với Hoa Kỳ chỉ $500 triệu. Ngày nay Việt Nam vượt Thái Lan và Malaysia trở thành nước ASEAN đứng đầu về hàng hóa xuất cảng qua Hoa Kỳ, mỗi ngày 1,700 containers. Ông hy vọng sẽ còn thêm nhiều thành tựu khác nếu các cuộc thương lượng về thỏa hiệp mậu dịch TPP của Tổng Thống Obama có đủ sự ủng hộ lưỡng đảng, và nếu các tiêu chuẩn trong sáng, nhân quyền, quyền lao động, môi trường được giải quyết thỏa đáng.

Ông Clinton cho biết chương trình giáo dục kinh tế Fulbright sẽ được đưa vào Fulbright University of Vietnam, trường đại học tư nhân, bất vụ lợi đầu tiên ở Việt Nam. Theo lời ông, phó thủ tướng Phạm Bình Minh là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam thụ hưởng chương trình này, lấy bằng Master’s degree về luật quốc tế và ngoại giao tại Tufts University.

Nói đến Fulbright, cựu Tổng Thống Clinton cho rằng nhiều người không biết hay còn nhớ Thượng Nghị Sĩ Fulbright từng là nhân vật mạnh mẽ phê phán cuộc chiến tranh Việt Nam. Dẫn lời ông: “Có thể làm cho xã hội chúng ta là mẫu mực cho hạnh phúc con người, chúng ta là bạn của những chuyển biến xã hội và có đủ khoan nhượng để hòa giải với thế giới đối nghịch bên ngoài. Điều ấy do từ quyết định mở rộng vòng tay hay xiết chặt nắm đấm.” Ông Clinton kết luận rằng chân lý ấy đúng vào thời đại của Fulbright, đúng cho thời đại của chúng ta, và “20 năm là lúc để chúng ta nhìn lại mình đã đi xa quá khứ để tiến lên thế nào và tới đâu.”

Tới Hà Nội trong dịp kỷ niệm 20 năm bình thường hóa bang giao, dù cố ý hay  tình cờ, cựu Tổng Thống Bill Clinton đã nêu bật lên ý nghĩa của một động thái tương đồng mà chính quyền Tổng Thống Obama đang tiến hành ở Cuba. Giá trị chiến lược của hai hành động cách nhau 20 năm này sẽ được chứng tỏ và hỗ trợ cho nhau trong tương lai. (HC)

Nguoi-viet.com

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

► HÉ LỘ SỐ PHẬN CỦA ĐẠI TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH?

Posted by hoangtran204 on 11/07/2015

HÉ LỘ SỐ PHẬN CỦA ĐẠI TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH?

10-7-2015

Thời điểm biến mất của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh trước chuyến thăm Hoa kỳ của Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng cho thấy đó là một sự tính toán có chủ ý. Dường như trong những ngày này, đa phần dân chúng đã không còn quan tâm đến tình hình sức khỏe của ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, mà thay vào đó là các tin tức liên quan đến chuyến thăm Hoa kỳ của Tổng Bí thư trọng.

Đánh giá về kết quả chuyến thăm Hoa kỳ của Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, cho thấy đây là một đòn ngoại giao phối hợp giữa Việt Nam với Mỹ nhằm chống lại Trung Quốc, đồng thời là một chiến thắng mới của Mỹ trong việc đối phó với Trung Quốc về mặt chiến lược. Đánh dấu đây là thời điểm xoay trục trong chính sách đối ngoại của Việt nam một cách rõ nét nhất.

Không phải ngẫu nhiên mà cách đây chưa lâu, Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Quân đội nguyên Giám đốc Viện bảo tàng Quân đội đã cho rằng (đại ý): nếu có chiến Tranh với Trung quốc thì dàn lãnh đạo Bộ quốc phòng hiện nay phải thay hết thì mới đánh Trung quốc được. Điều đó cho thấy, vào thời điểm trước tháng 6/2015 thì hầu hết lãnh đạo của Bộ Quốc phòng lúc đó có xu thế thân và giữ vai trò quan trọng trong phe thân Trung quốc của Tổng Bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, người vốn được coi là cầm đầu một thế lực chính trị trong chính trường Việt nam, hòng đối chọi với phe cải cách có xu hường thân phương Tây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Cách đây ít ngày, việc báo Đời sống và Pháp luật đã bị Thanh tra báo chí xuất bản thuộc Bộ thông tin và Truyền thông phạt 30 triệu đồng, vì lý do dám đăng tải tiểu sử của Đại tướng Phùng Quang Thanh trong thời điểm hết sức nhạy cảm này, dù rằng sau đó ít phút đã vội gỡ bỏ. Sự việc trên được cho rằng, truyền thông nhà nước không muốn nhắc đến sự vắng mặt một cách đầy bí ẩn của Đại tướng Thanh.

Tuy vậy, ngày hôm qua (9/7/2015) trên website BBC tiếng Việt, một lần nữa dường như hãng truyền thông này cố tình xới lại vấn đề “nhạy cảm” trên, khi cho biết rằng: “Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh “đã được cho ra viện” sau ca phẫu thuật u phổi. Tuy nhiên ông Thanh “vẫn tiếp tục ở lại Pháp để đợi được kiểm tra”. Thông tin trên được Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương nói với BBC ngày 9/7.”

Thông tin của Giáo sư Phạm Gia Khải, thành viên Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương nói với BBC ngày 9/7 có nhiều điểm mập mờ, khi ông cho biết “Ngày giờ xuất viện cụ thể và nơi ở hiện nay của ông Thanh thì tôi không nắm rõ”. Vì Giáo sư Phạm Gia Khải, là một thành viên quan trọng của Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương; người đã nhiều lần cung cấp thông tin về tình hình sức khỏe của các cán bộ lãnh đạo cao cấp Việt nam.
Hơn nữa nếu thực sự Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đang chữa trị bệnh tại Pháp, thì chắc chắn trách nhiệm phải thuộc về Ban Bảo vệ, Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, đồng thời họ phải cử người đi theo cùng để theo dõi và kịp thời báo cáo về nước hàng ngày diễn tiến sức khỏe của tướng Thanh cho Trung ương được biết. Hoặc cũng có thể là do Giáo sư Phạm Gia Khải không muốn tiết lộ với BBC (!?), nhưng khả năng này là rất ít, vì đã không muốn tiết lộ thông tin thì dễ dàng nhất là Giáo sư Khải đã phải từ chối trả lời phỏng vấn ngay từ đầu.

Điều đó cho thấy, người ta đang muốn úp úp, mở mở về thông tin này dường như để thực hiện thuyết âm mưu nhằm cho người dân nhớ lại chuyện đồn đoán về bệnh tình của Trưởng ban Nội chính TW, ông Nguyễn Bá Thanh. Nghĩa là cho dư luận quen với việc vắng mặt của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh, mà dẫu như còn sống nhưng cũng như chết rồi. Đây là mục đích của thế lực chính trị hiện đang nắm thế thượng phong trong chính trường Việt nam, tại thời điểm chỉ còn chưa đầy 06 tháng nữa sẽ diễn ra lễ khai mạc Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12.
Một thông tin rất đáng chú ý mà ít người không quan tâm, đó là, theo Cổng thông tin của Bộ Quốc phòng đưa tin cho biết “Sáng 3/7/2015, tại Hà Nội, thực hiện các Quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức Hội nghị Bàn giao nhiệm vụ Tư lệnh và Chính ủy BTL Thủ đô Hà Nội. Đến dự có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Bí thư Đảng ủy BTL Thủ đô Phạm Quang Nghị; Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT) QĐND Việt Nam.

Tại hội nghị, Trung tướng Phí Quốc Tuấn đã tiến hành bàn giao chức vụ Tư lệnh BTL Thủ đô Hà Nội cho Thiếu tướng Nguyễn Doãn Anh, nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng BTL Thủ đô Hà Nội; Trung tướng Lê Hùng Mạnh bàn giao chức vụ Chính ủy BTL Thủ đô Hà Nội cho Thiếu tướng Nguyễn Thế Kết, nguyên Phó Chính ủy BTL Thủ đô Hà Nội.”

Tin này cũng được đưa trên một số phương tiện truyền thông khác với lý do cho rằng Tư lệnh Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội Trung tướng Phí Quốc Tuấn và Chính ủy Trung tướng Lê Hùng Mạnh đến tuổi nghỉ hưu. Điều đó đã khiến nhiều người đã đặt câu hỏi vì sao cả Tư lệnh và Chính ủy Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội lại nghỉ cùng một thời điểm? Song nếu chú ý sẽ thấy, thông tin từ Cổng thông tin Bộ Quốc phòng đã không giải thích rõ lý do, mà chỉ vắn tắt là “thực hiện các Quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng”.

Theo thông lệ của chính trường các nước, thì chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng hoặc Tư lệnh Lục quân (đối với các chế độ do dân bầu) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự ổn định của chế độ, khi mà quân đội trở thành lực lượng trung thành và bảo vệ Hiến pháp quốc gia. Đồng thời tư lệnh lực lượng quân đội làm nhiệm vụ bảo vệ thủ đô – trung tâm đầu não chính trị, có ý nghĩa ví như một tấm áo giáp để bảo vệ chế độ đòi hỏi phải hết sức trung thành.

Được biết, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội được thành lập vào năm 2008 và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam. Cộng với việc Hà nội trong khoảng 20 năm trở lại đây vốn được coi là thành trì của phe bảo thủ, thì chắc chắn lớp chỉ huy như Tư lệnh Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội Trung tướng Phí Quốc Tuấn và Chính ủy Trung tướng Lê Hùng Mạnh giữ chức vụ từ đó đến nay chắc chắn phải là người tin cẩn của phe này.

Khi đã biết Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội có vai trò hết sức quan trọng, đó là chịu trách nhiệm bảo vệ khu vực Thủ đô Hà Nội, trung tâm đầu não của lãnh đạo đảng và nhà nước Việt nam. Thì chắc sẽ có không ít người đã đặt một loạt câu hỏi rằng:

• Có điều gì bất thường không?

• Tại sao lại có sự trùng hợp kỳ lạ như thế?

• Nếu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh đau ốm đột xuất là chuyện bình thường, thì tại sao lại phải vội vã thay thế lãnh đạo của Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội?

Không chỉ thế, mà lại còn thay một lúc và ngay lập tức cả hai vị trí lãnh đạo là Tư lệnh và Chính ủy của Bộ tư lệnh thủ đô Hà nội.
Chắc chắn đây sẽ là một diễn biến hết sức bất thường.

Điều đó cộng với các động thái không thiện chí từ phía Trung quốc đối với Việt Nam trong giai đoạn gần đây như việc Trung Quốc diễn tập bắn đạn thật trên Vịnh Bắc Bộ vào ngày 30/6/2015. Hay việc Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua một dự thảo đầu tiên của bộ luật mới về an ninh quốc gia, trong đó Bắc Kinh tự cho mình quyền dùng sức mạnh và mọi biện pháp cần thiết, kể cả quân sự để bảo vệ các lợi ích cốt lõi của họ. Và mới đây nhất, ngày 09/07/2015, 23 viên tướng Capuchia do ông Đại tướng Tea Banh dẫn đầu có mặt tại Bắc Kinh.

Phải chăng người ta sợ rằng nếu không thay đổi ngay chỉ huy của Bộ tư lệnh thủ đô Hà Nội, sẽ xảy ra việc tiến hành đảo chính dưới sự chỉ đạo của Trung quốc (!?)

Việc nội bộ lãnh đạo các quốc gia cộng sản thanh trừng lẫn nhau là việc hết sức phổ biến từ xưa đến nay, trong lúc ở Trung quốc trong lúc này cũng đang xảy ra những việc như vậy thì đối với chính trường Việt nam đây không phải là chuyện lạ. Qua đó cho thấy số phận của Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh lúc này ra sao phần nào cũng đã hé ra một câu trả lời rõ hơn.

Đồng thời sự họat động ráo riết gần đây trong nội bộ quân đội của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên ban chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã cho thấy, đến thời điểm này phe cải cách đã nắm chắc lực lượng quân đội trong tay. Điều mà trước kia là vấn đề trở ngại nhất đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong việc khống chế toàn bộ hệ thống chính trị của Việt nam

Cứ xem việc thay đổi lập trường 180 độ của Tổng BT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, thể hiện qua các diễn văn phát biểu trong chuyến thăm Hoa kỳ mấy ngày vừa qua, chứ chưa kể đến thái độ và phong thái khá thỏa mái của ông Trọng thì cũng biết mọi việc liên quan đến tướng Thanh đã an bài.

Mà khả năng cao là rất có thể Đại tướng Phùng Quang Thanh đã bị phái cấp tiến bắt và giam giữ tại một địa điểm bí mật. Và sẽ chỉ được đưa ra xét xử sau khi Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 kết thúc, khi mọi vấn đề của bàn cờ chính trị Việt nam đã ngã ngũ.

10/7/2015
Việt Dũng – Dân Luận.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Chuyến đi Mỹ của Nguyễn Phú Trọng

Posted by hoangtran204 on 09/07/2015

Báo chí “lề phải” bỏ qua chi tiết bất lợi cho chính quyền Việt Nam trong bản tuyên bố của TNS John McCain – 

Dân Luận tổng hợp

Sáng nay, 9/7/2015, báo Tuổi Trẻ đã đưa tin Thượng Nghị Sỹ John McCain ra tuyên bố về chuyến thăm Mỹ cố Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. Thế nhưng, bài viết của tờ bào này đã lượt bỏ một số chi tiết quan trọng bất lợi cho chính quyền Việt Nam trong tuyên bố của TNS.

“Tuyên bố về chuyến thăm Mỹ cố Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng” đăng trên báo Tuổi Trẻ

Báo Tuổi Trẻ đưa tin về tuyên bố của thượng nghị sĩ John McCain về chuyến thăm của Tổng Bí Thư, trong đó có đoạn: “Ông McCain cũng ca ngợi Việt Nam gần đây đã tiến hành các bước đi đáng khích lệ nhằm cải thiện hồ sơ nhân quyền.”

Trên thực tế, ông John McCain nói đầy đủ thế này: “Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hỗ trợ xã hội dân sự ở Việt Nam, bao gồm việc ủng hộ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và quyền của người lao động, như một phần của mối quan hệ giữa hai nước. Chính quyền Việt Nam gần đây đã tiến một bước khiêm tốn nhưng đáng cổ vũ trong việc cải thiện tình hình nhân quyền, và Hoa Kỳ phải tiếp tục hỗ trợ tất cả các công dân Việt Nam – những người tìm cách xây dựng bằng những phương thức hòa bình một quốc gia giàu và mạnh, tôn trọng quyền con người và pháp trị…”

“Thêm vào đó, tôi tin rằng Hoa Kỳ cần phải tiếp tục nới

lỏng lệnh cấm vũ khí quân sự sát thương cho Việt Nam vào thời điểm này, bao gồm tất cả các hệ thống mà có thể giúp quân đội Việt Nam hoạt động hiệu quả trên, dưới và trong vùng lãnh hải của mình. Những bước để nới lỏng, và cuối cùng là gỡ bỏ, lệnh cấm vận này sẽ cần đến việc chính phủ Việt Nam thực thi những bước đi đáng kể và bền vững để bảo vệ quyền con người, bao gồm thả các tù nhân lương tâm và cải cách luật pháp. Đây sẽ là mục tiêu của cả hai bên, và hai bên sẽ làm việc cùng nhau để đạt được mục tiêu này càng sớm càng tốt vì lợi ích chung của hai quốc gia”.

Bản tin trên báo Tuổi Trẻ:
http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20150709/tns-john-mccain-ra-tuyen-bo-ve-chuyen-tham-cua-tong-bi-thu/774768.html

Bản tiếng Anh của tuyên bố:
https://www.mccain.senate.gov/public/index.cfm/press-releases?ID=e0d2f5d3-cb83-452e-b095-8c0c8ae6e292

-nguon: http://www.danluan.org

Bình luận của một người Mỹ: “Tôi ủng hộ Hoa Kỳ hỗ trợ người dân Việt Nam chiến đấu chống lại những phương thức xâm lược của Trung Quốc, nhưng đầu tiên, vấn đề nhân quyền phải được đặt lên hàng đầu vì nếu quyền con người được bảo vệ, và không có trí thức hay sinh viên nào phải ngồi tù, thì tôi tin rằng người Việt có thể tự bảo vệ đất nước của mình chống lại những kẻ đang bắt tay với Bắc Kinh. Anh không thể chiến thắng một cuộc chiến khi mà những kẻ phản bội đang ngồi trong chính hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam.

Nếu anh bàn giao súng ống và vũ khí cho những kẻ phản bội đang bắt tay với Bắc Kinh, những vũ khí đó sẽ không được sử dụng để bảo vệ đất đai Việt Nam chống lại Trung Quốc, thay vào đó, chúng sẽ được sử dụng để bắn vào những người dân thường để bịt miệng họ.

Nếu bạn mở cửa giao thương với các lãnh đạo chính quyền cộng sản mà không đặt vấn đề nhân quyền lên hàng đầu, Trung Quốc sẽ tiếp tục vào Việt Nam và mở các công ty bên trong Việt Nam để hưởng lợi từ các giao dịch thương mại này và phá hủy môi trường của Việt Nam. Cuối cùng, Trung Quốc sẽ thắng, không phải là người Việt.

Vì vậy, vấn đề quyền con người là ưu tiên hàng đầu. Nếu không có nó, tất cả các biện pháp để đưa ra một sự thay đổi sẽ thất bại.”

Chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng 

7-7-2015

Ngô Nhân Dụng

Trước khi ông Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ, nhiều người nghi rằng ông sẽ không được tiếp đón tại phòng Bầu Dục. Bởi vì ông chỉ là tổng bí thư đảng, không là một nguyên thủ quốc gia hay người cầm đầu chính phủ. Nhưng cựu Tổng Thống Jimmy Carter đã tiếp ông Ðặng Tiểu Bình ngày 29 Tháng Giêng năm 1979 ở đó. Hai người đã ký nhiều thỏa ước quan trọng, mặc dù lúc đó Ðặng Tiểu Bình chỉ giữ chức phó thủ tướng chính phủ Trung Cộng, ngoài chức chủ tịch hội đánh bài Bridges. Họ còn biểu diễn đứng trên bao lơn Tòa Bạch Ốc vẫy tay chào dân chúng, cùng hai bà phu nhân.

Tuy vậy, Ðặng Tiểu Bình khác hẳn Nguyễn Phú Trọng. Tuy cả hai đều là chủ tịch Quân Ủy Trung Ương đảng, nhưng họ Ðặng nắm quyền sinh sát cho đến khi chết; còn Nguyễn Phú Trọng thì không có thực quyền suốt từ lúc lên chức tổng bí thư; tới bây giờ thì chỉ ngồi làm hư vị, chờ về hưu.

Cho nên chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng phải gọi là “Chuyến đi dối già.” Ðại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý (1998) giải nghĩa: “Dối già” là Trối già, thí dụ, “đi chơi trối già một chuyến.” Tự điển Anh Việt của Nguyễn Ðình Hòa (1966) dịch: “Dối già – to do as a joy in one’s old age,” hưởng thú vui lúc về già. Tân Ðại Tự Ðiển Việt-Anh của Nguyễn Văn Tạo (1986) cũng cho thí dụ: “Dối già – đi chơi dối già, to make a trip before one dies,” đi chơi một chuyến trước khi chết. Ông Nguyễn Phú Trọng đang đi một chuyến dối già; mặc dù mới 71 tuổi, ông có thể sẽ còn sống vài ba chục năm nữa. Khác với Nông Ðức Mạnh đã an phận đóng vai bù nhìn, ông Nguyễn Phú Trọng có cố gắng giành quyền hành về cho guồng máy Ðảng, không để Nguyễn Tấn Dũng thao túng hết. Ông lập ra một Ủy Ban Chống Tham Nhũng trong Trung Ương Ðảng, tổng bí thư làm trưởng ban. Nhưng ông là một tướng không có quân, một nhà buôn không có vốn; cái ủy ban của ông chẳng thấy đụng được tới lông chân thằng tham nhũng nào cả. Cuối cùng, giành được quyền rồi lại chỉ chứng tỏ mình vô tài hoặc bất lực, hoặc cả hai.

Nguyễn Phú Trọng cố gắng tấn công Nguyễn Tấn Dũng mấy lần, dùng guồng máy Trung Ương Ðảng mà trên nguyên tắc ông ta đứng trùm. Trọng ra quân lần thứ nhất năm 2013, trong hội nghị Trung Ương 6 nhân cơ hội Dũng làm kinh tế thất bại nặng nề với các vụ tham ô làm nhục quốc thể như Vinashin, Vinalines, vân vân. Nhưng Hội Nghị 6 lại kết luận: “Trung ương tiếp tục khẳng định… những kết quả quan trọng đã đạt được của doanh nghiệp nhà nước (tức là những Vinashin, Vinalines)!” Bản thông cáo chính thức viết, “Bộ Chính Trị đã thống nhất 100% đề nghị… một hình thức kỷ luật và xem xét kỷ luật đối với một đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị.” Nói đến “kỷ luật một đồng chí” mà không dám khai họ tên là gì cả. Thông cáo lại viết tiếp: “Ban Chấp Hành Trung Ương đã… đi đến quyết định không thi hành kỷ luật đối với tập thể Bộ Chính Trị và một đồng chí trong Bộ Chính Trị!” Cũng lại “một đồng chí” mà không dám nói tên; Trương Tấn Sang sau vẫn sợ, chỉ dám gọi là “đồng chí X.”

Trận tranh quyền giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng diễn màn kế tiếp trong Hội Nghị Trung Ương 7. Trọng và Dũng mỗi người đề nghị hai ứng viên vào Bộ Chính Trị, hai con gà của Dũng (Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân) đá bại gà của Trọng (Nguyễn Bá Thanh và Vương Ðình Huệ – ông Thanh sau đó đã qua đời). Trận đấu gần đây nhất là Hội Nghị Trung Ương 10 vào Tháng Giêng năm 2015, quyết định phe nào sẽ thắng trong Ðại Hội Ðảng lần thứ 12 năm tới. Họ bầy trò 197 Ủy viên và dự khuyết bỏ phiếu tín nhiệm 20 người trong Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư. Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, được 152 phiếu “tín nhiệm cao.” Nguyễn Phú Trọng đứng hàng thứ 8 với 135 phiếu; thua Trương Tấn Sang 149 phiếu, Nguyễn Thị Kim Ngân 145 và Phùng Quang Thanh 144. Ðồng minh của Nguyễn Phú Trọng là Tô Huy Rứa đứng hàng thứ 17, Phạm Quang Nghị hàng 19, và Hà Thị Khiết đứng chót. Hội Nghị 10 coi như chấm dứt cuộc đời chính trị của Nguyễn Phú Trọng. Mặc dù Trọng là trưởng Tiểu Ban Nhân Sự đại hội sang năm nhưng sẽ đành để cho Dũng làm đạo diễn.

Tại sao nhiều ủy viên Trung Ương Ðảng nghiêng về ông thủ tướng như vậy? Bởi vì Dũng đã thu nắm hết quyền quyết định kinh tế; trong 10 năm qua họ đều được chia quyền, chia lợi. “Trong tay đã có đồng tiền,” Dũng có thể đem phân phát, còn Trọng thì tay trắng. Từ khi Ðảng Cộng Sản bắt chước làm kinh tế tư bản, các “luật lệ cuộc chơi” đã thay đổi. Danh phận và địa vị trong guồng máy đảng không có giá trị nào nữa. Ðồng tiền, nhất là đồng đô la, mới đóng vai quyết định. Sau cùng, ba phần tư các ủy viên Trung Ương Ðảng chạy theo Dũng vì cần bảo vệ cái hệ thống chia chác cho họ được hưởng phần xôi thịt béo bở!

Nhưng tại sao Nguyễn Phú Trọng vẫn muốn đi Mỹ và được đi Mỹ dối già? Ðối với phe cánh Dũng thì việc vận động cho Trọng đi Mỹ, xin bằng được cho vào ngồi trong phòng Bầu Dục, là một cách nhục mạ công khai. Cả cuộc đời chính trị của Trọng đã bị gán cho nhãn hiệu “thờ thiên triều!” Nay phải quay 180 độ để sang Mỹ, tức là đã chịu thua – không những thua trong nội bộ đảng mà còn thua cả trong chính sách ngoại giao.

Nhưng Nguyễn Phú Trọng vui vẻ chịu nhục, vì chuyến đi này lại là một cách rửa mặt trước khi về vườn. Một người Việt biết mình sắp chấm dứt cuộc đời chính trị, không ai muốn để lại trong lịch sử cái tiếng “tay sai Tàu!” Trọng cần phải rửa sạch cái nhãn hiệu đó, trong khi còn giữ chức tổng bí thư. Nhìn thấy làn sóng phẫn nộ của 90 triệu người dân Việt Nam, Trọng biết rằng sớm muộn ngọn triều dâng sẽ thay đổi hết. Ðảng Cộng Sản Việt Nam sớm muộn sẽ phải quay sang nhờ vả Mỹ; chỉ mong quên mối nhục đem con voi Tàu về dày mả tổ tiên rồi bám theo ăn bã mía hơn nửa thế kỷ vừa qua. Trọng cần đi Mỹ một chuyến, chuyến đi dối già không phải để hưởng thú vui nào mà chỉ để rửa cái mặt đầy những vết chàm Trung Cộng.

Cho nên trước khi đi Trọng đã tuyên bố hoan nghênh vai trò của Mỹ trong vùng Biển Ðông Nam Á, và báo trước sẽ thảo luận việc hợp tác quân sự với Mỹ. Hoan nghênh Mỹ là đi ngược với đường lối thiên triều, vì Trung Cộng vừa mới nhắc lại lời phản đối Mỹ, một xứ ở tuốt bờ xa mà cứ xía vô chuyện biển, đảo bên trong Cửu Ðoạn Tuyến!

Như vậy có phải Nguyễn Phú Trọng đã bỏ chủ trương theo Tàu để theo Mỹ hay không? Thực ra các lãnh tụ Cộng Sản chỉ lo đến quyền hành và lợi lộc của chính họ, chẳng có anh nào theo nước lớn nào cả. Hồ Chí Minh đã từng xin ôm chân Mỹ nhưng bị gạt ra ngoài vì tình báo cả thế giới biết tay này là gián điệp của Stalin từ hơn 20 năm. Thế là Hồ phải bám chân Mao Chủ Tịch. Lê Duẩn đã ôm chân Mao để thanh toán các đối thủ “xét lại chống đảng;” nhưng sau lại bỏ Tàu để ôm chân Liên Xô; nhẫn tâm phản phúc đến mức ghi cả vào Hiến Pháp rằng nước Tàu là kẻ thù truyền kiếp.

Trong cuộc tranh chấp quyền hành giữa các thủ lãnh Cộng Sản Việt Nam, họ đóng trò thân nước này hay nước khác chỉ vì nhu cầu giai đoạn. Tất cả chỉ là bôi mặt vẽ hề trên sân khấu, khi tấn tuồng đổi màn thì các diễn viên cũng rửa mặt, bôi lại lớp son phấn mới, vẽ râu ria đội mũ màng mới. Vì vậy, ngày 30 Tháng Tư vừa qua, khi đã nắm chắc phần thắng trong Ðại Hội 12 sang năm, Nguyễn Tấn Dũng đã biểu diễn một bài diễn văn chống Mỹ. Bởi vì Dũng biết rằng mình chỉ đóng tuồng, nói cho các đảng viên ngớ ngẩn đứng nghe, chẳng có báo, đài nào ở nước Mỹ nó nhắc tới cả! Trước khi Dũng nắm toàn quyền và Ðảng Cộng Sản quay đầu xin nương tựa vào nước Mỹ, Dũng cần phải chứng tỏ mình không phải là tay sai Mỹ!

Chuyến đi dối già của ông Nguyễn Phú Trọng là một cảnh phụ trong tấn tuồng chính trị nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam, được đưa qua diễn ở nước Mỹ, nhưng nhắm cho người Việt Nam ở trong nước coi. Ông Trọng chính thức mời ông bà Obama sang thăm Việt Nam, không phải Sang, không phải Dũng. Ông còn dám khoe rằng mình đã chia sẻ quan điểm với tổng thống Mỹ về “những khai triển gần đây ở Biển Ðông và mối lo ngại về các hoạt động gần đây không theo đúng luật lệ quốc tế khiến tình hình thêm phức tạp.” Nghe câu này, nhiều người ở Hà Nội, Sài Gòn sẽ trầm trồ: Ðấy nhé, Ðồng chí Nguyễn Phú Trọng đâu phải là tay sai của Tàu! Ðó là điều ông Nguyễn Phú Trọng mong ước trước khi về vườn!

Rồi tới đầu năm 2016, Nguyễn Tấn Dũng lên ngồi ghế tổng bí thư, có thể kiêm luôn chức chủ tịch nước. Dưới áp lực của nhân dân cả nước đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phải dần dần quay lưng với các “đồng chí anh em” Trung Quốc, cách này hay cách khác. Chẳng phải vì họ yêu nước hay chán cái chủ nghĩa cộng sản; nhưng đó là cách duy nhất để chính họ vẫn nắm quyền nắm lợi trong tay trong một thời gian nữa. Cũng giống năm 1986 các lãnh tụ Cộng Sản thấy “không đổi mới thì chết;” bây giờ họ cũng thấy nếu không lánh xa Tàu thì dân sẽ giết! Mục đích chính vẫn là phải bám lấy quyền hành! Ðó là ý nghĩa thật tình đằng sau lời bình luận trên mấy tờ báo đảng về chuyến đi dối già của Nguyễn Phú Trọng: “Chuyến thăm sẽ… khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam.”

Nguon: nguoi-viet.com

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

►Việt Nam chỉ còn chọn một trong hai con đường

Posted by hoangtran204 on 01/07/2015

Thiện Tùng

29-06-2015

Để đến nước nầy mà thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói tỉnh bơ: “Càng căng thì phải càng độc lập tự chủ”. “Càng căng thì không bao giờ để bị kéo vào những liên minh với nước nầy để chống lại nước khác”. Một câu nói buông xuôi, xa rời thực tế, chỉ có giá trị an ủi.

Nhìn thực trạng, VN có “độc lập, tự chủ” đâu mà giữ?! Nếu đã độc lập tự chủ sao thời gian qua phải khổ công tính chuyện “thoát Trung”?

Hãy nhìn trên đất liền, biển, đảo Việt Nam, như tầm ăn dâu, Trung Quốc đang gậm nhấm cùng khắp. Việt Nam đang lệ thuộc Trung Quốc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Họ luôn giở giọng kẻ cả, xem Việt Nam như thuộc địa hay chư hầu của họ – thật tủi hổ.

Nếu chỉ nói “không liên minh liên kết với nước nầy để chống nước khác” là sự khờ khiệu, Trung Quốc đang cười hiếp mắt về câu nói nầy. Không thể nói thế, phài nói “Không liên minh với nước nầy để chống nước khác với điều kiện nước khác đừng ỷ mạnh ăn hiếp tôi”. Trung Quốc đang ỷ mạnh ăn hiếp tôi thì tôi không chỉ liên minh với một nước – mà nhiều nước, để tự vệ, chớ chẳng lẽ ở đó chịu chết? phải phản ứng sinh tồn.

Xâm lược mềm trên đất liền !?

Xin lãnh đạo Việt Nam nói chung, thứ trưởng Bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh nói riêng, hãy nhìn trong đất liền và biển đảo xem, đất nước Việt Nam có độc lập được với Trung Quốc không, đừng nói để an ủi nữa ?!

Trung Quốc đang gây sự ở Biển Đông, Nga đang gậy sự ở Ukraine, cả hai đang bị thế giới cô lập, buộc họ phải liên minh liên kết với nhau. Cho dầu đó là sự liên minh ma quỷ, nhưng khi ma quỷ liên kết với nhau thì người đời cũng khó yên với chúng.

Ngoài cài cấm người trên đất liền, TQ tuyên bố: trừ hải phận của mỗi quốc gia, phần còn lại của Biển Đông thuộc TQ. Vì muốn đủ mạnh chống Mỹ, Nga mặc nhận với TQ về đường lưỡi bò ấy, ngược lại TQ mặc nhận với Nga về Ukraine. Trung Quốc và Nga chuẩn bị cùng tập trận ở biển Đông để thị uy với các nước Asean có nguồn lợi ở Biển Đông nói chung, với Mỹ nói riêng.

“Đơn thương độc mã” Trung quốc không dám làm liều, chớ có Nga hậu thuẫn thì TQ không còn ngán ai, kể cả Mỹ.

Về phía Mỹ và đồng minh của họ, dầu mạnh tới đâu, Mỹ cũng phải thận trọng hơn khi Nga và Trung Quốc liên kết với nhau. Hơn nữa, Mỹ cũng đã từng nói: họ không can dự vào việc tranh chấp hải đảo của các nước trong khu vực biển Đông mà họ chỉ quyết duy trì đường hàng hải quốc tế ở đây thôi. Vậy thì nếu TQ cưỡng chiếm thêm quần đảo Trường Sa của Việt Nam nữa thì chắc gì Mỹ can thiệp? Việt Nam bao giờ cũng coi TQ là bạn, là đồng chí thì Mỹ can thiệp làm gì cho thêm rắc rối.

Để đến nước nầy, Việt Nam không còn đu dây được nữa, chỉ phải chọn một trong hai phương án:

1/ Tiếp tục chơi thân với Trung quốc để mong họ “thương nhờ ghét chịu”, dầu mất luôn Trường Sa hay cả đất nước VN trở thành thuộc địa của Trung Quốc cũng đành cam phận.

2/ Liên minh hay liên kết với Mỹ và các nước để từng bước “thoát Trung”, ngăn chặn hành vi xâm lược mềm của Trung Quốc – “mềm nắn, rắn buông” là bản chất cố hữu của giới cầm quyền Trung Cộng. Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày nay tương tợ như Việt Nam Cộng hòa trước kia, nếu không khéo về mặt ngoại giao, Việt Nam sẽ là “sân thi đấu” của các cường quốc – chết nữa ?!

Đất nước đang bị Trung Quốc xâm lấn, kinh tế lâm nguy, xã hội bất an…, lãnh đạo chia bè chia cánh tranh giành quyền lực, đang chúi mũi tính chuyện chia ghế ở đại hội 12 .v.v… Thử hỏi còn bất hạnh nào hơn đối với dân tộc Việt Nam ?!

Nguon:     anhbasam.wordpress.com/2015/06/30/4221-viẹt-nam-chi-con-chon-mot-trong-hai-con-duong/#more-148690

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Có gì để tự hào về bức ảnh “Em bé Napalm”?

Posted by hoangtran204 on 18/06/2015

BBC

Đức Hồng – Gửi tới BBC từ Tp HCM

17-06-2015

Vài tháng trước, tôi có tình cờ biết được Phan Thị Kim Phúc – cô gái trong bức ảnh “Em bé Napalm” hiện đang sống tại Canada.

Bức ảnh 'Em bé Napalm' được báo chí dùng nhiều trong Cuộc chiến Việt Nam

Một chút thắc mắc hiện ra trong đầu: tại sao một người là nạn nhân của “Chủ nghĩa tư bản” lại sống dưới vòm trời của một trong những trùm tư bản quốc tế, lại đi sang đất nước mà Quốc hội thông qua luật 30/4 – tức coi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc lễ Canada để tưởng niệm những nạn nhân cộng sản Việt Nam đã liều chết vượt biên ra đi tìm tự do?

Không có lý gì như thế cả, cô ấy phải là một người yêu Chủ nghĩa Cộng sản, căm thù đế quốc Mỹ và những đồng lõa của nó vì đã gây ra vết thương không bao giờ có thể xóa mờ trên cơ thể và tâm trí mới phải.

Thế mà Kim Phúc không chỉ sống tại Canada một cách đơn thuần, cô đã phải bỏ trốn, xin tị nạn chính trị tại quốc gia láng giềng của “đế quốc Mỹ” này.

Nguồn gốc của bức ảnh

Youtube còn một đoạn video ghi lại gần như toàn bộ diễn biến sự việc từ lúc máy bay ném bom cho đến khi các em nhỏ trong đó có Kim Phúc chạy ra. Bức ảnh của Nick Út chỉ là một trong những khoảnh khắc ấy.

Cái lạ ở đây là các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?

Ngay từ đầu người dân đã biết lính Việt Nam Cộng hòa đến không phải để giết hại họ. Nếu muốn thế, lính Mỹ đã bắn hết những ai chạy ra và chẳng sơ cứu rồi mang Kim Phúc đi chữa trị làm gì.

Tại sao Kim Phúc phải chạy trốn khỏi Việt Nam?

H1

Năm 1982, một nhiếp ảnh gia người Đức đến Việt Nam muốn tìm lại cô bé trong bức hình và Kim Phúc trở thành công cụ hoàn hảo cho bộ máy tuyên truyền. Nếu những gì trong ảnh đúng theo những gì người ta tưởng tượng (về tội ác của đế quốc Mỹ) thì mọi việc chẳng có gì đáng nói và Kim Phúc chẳng bị nhà cầm quyền kiểm soát gắt gao như thế.

Cô bị bắt nói ra những điều chính quyền muốn. Sau đó, cô bỏ trốn, bị truy lùng, bắt lại, bị buộc thôi học, quản thúc tại gia nghiêm ngặt, giám sát 24/24h “chỉ trừ lúc đi vệ sinh”.

Và cuối cùng, khi có cơ hội Kim Phúc đã chạy trốn và xin tị nạn chính trị ở Canada.

Chiến tranh có phải thứ khủng khiếp nhất?

Chiến tranh luôn đại diện cho điều đáng sợ nhất. Đối với cá nhân Kim Phúc, đó là vết sẹo trên cơ thể và trong tâm chí cô, nhưng những nỗi đau ấy còn có thể xoa dịu bằng niềm tin ở Chúa (cô đã cải đạo sang Tin Lành), còn sự khủng bố tinh thần ngay trong thời bình mới chính là thứ làm cho cô không thể chịu đựng được.

Trong trường hợp này, chiến tranh liệu có còn là điều khủng khiếp nhất? Sẽ nhiều người phản đối, nhưng khoan đã, hãy nhớ lại có bao nhiêu người vô tội phải chết trong Cải cách ruộng đất khi chính quyền đã về tay nhân dân, đó chỉ là một trong rất nhiều tội ác của nhà cầm quyền mang danh nghĩa “do dân vì dân”.

Người ta không chết trong thời chiến mà lại chết trong thời bình, cái chết nào ít đáng sợ hơn, và tội ác nào đỡ ghê sợ hơn?

Nhưng một nhiếp ảnh gia như Nick Út không bao giờ có cơ hội ghi lại những khoảnh khắc ấy, vì chính quyền Cộng sản không bao giờ cho phép. Ông chỉ được hoạt động ở một nơi tôn trọng nhân quyền, tôn trọng báo chí mà thôi.

Ý nghĩa thực sự của “Em bé Napalm”?

 Nhiếp ảnh gia Nick Út tại cuộc triễn lãm ảnh Chiến tranh Việt Nam ở Hà Nội vào tuần trước

Nhìn vào bức ảnh ấy, người ta không biết rằng lỗi một phần không nhỏ là do lính Bắc Việt đã chạy vào nơi có dân đang trú ngụ không phải để bảo vệ mà gián tiếp đe dọa tính mạng của họ. Người dân nơi Kim Phúc đang sống lúc đó không hề “rên xiết dưới gót giày quân xâm lược” nên chẳng cần ai đến để cứu giúp họ. Nếu không có sự xuất hiện của người lính Cộng sản ở một nơi không đúng chỗ như thế, sự việc đáng tiếc đã không xảy ra với Kim Phúc.

Còn ai nghi ngờ về điều trên có thể tìm hiểu về cuộc tháo chạy của những người miền Nam khỏi thứ “độc lập, tự do” mà chính quyền Cộng sản đã trao cho họ. Trong số đó có rất nhiều người phải bỏ quê cha đất tổ, bất chấp tính mạng để lênh đênh trên biển tìm nơi ở khác.

Khi nhìn vào một bức ảnh mà người ta chỉ thấy một phần rất nhỏ sự thật, bức ảnh ấy có thực sự còn nguyên giá trị?

Bức hình ấy khiến nhân dân Mỹ có một cái nhìn khác về Cuộc chiến Việt Nam, góp phần đẩy mạnh phong trào phản chiến tại Mỹ và đòi Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Đến ngày hôm nay, có khi nào Nick Út nghĩ rằng việc tồn tại của Mỹ ở miền Nam hoặc thậm chí chiến thắng toàn diện ở Việt Nam lại là tốt cho người dân Việt?

Mỹ đã rời đi, nay được vời lại để chống lại người anh em Cộng sản lúc đó giúp cách mạng Việt Nam đánh Mỹ.

Jane Fonda – biểu tượng của phong trào phản chiến Mỹ, người từng đến miền Bắc Việt Nam năm 1972 (năm mà bức ảnh “Em bé Nepalm” ra đời) mới đây cũng đã phải thừa nhận sai lầm và xin lỗi các cựu chiến binh Mỹ.

Thử hình dung rằng tôi chớp được khoảnh khắc người cha phạt con mình. Thực tế ngoài đời đứa con đáng bị phạt nhưng bức ảnh lại trở thành biểu tượng của nạn bạo hành trẻ em, thì thà bức ảnh ấy đừng bao giờ xuất hiện. Bản thân bức ảnh ấy không có lỗi gì cả, khoảnh khắc ấy với người xem ảnh có thể đúng, nhưng bản chất của sự việc thì không.

Vậy bức ảnh “Em bé Napalm” có ý nghĩa gì? Nó làm người ta nghĩ đến sự độc ác của Mỹ trong khi họ không hoàn toàn có lỗi. Nó khiến Mỹ rút quân rồi giờ đây Việt Nam muốn Mỹ trở lại.

Nick Út được nhà cầm quyền phe “đế quốc” cho tác nghiệp, được đi cùng với lính Mỹ để chụp ảnh, nhưng sản phẩm của ông sau này chống lại chính những người tôn trọng, bảo vệ cho nghề nghiệp và tính mạng của ông.

Nhà cầm quyền Việt Nam – phía đáng lẽ ra được hưởng lợi nhiều nhất từ tấm ảnh này lại không hề chào đón nó. Người ta đã từng từ chối triển lãm ảnh của Nick Út năm 2007 và nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng không chuẩn bị thăm Mỹ thì chắc cũng khó có chuyện bức hình “Em bé Napalm” được xuất hiện chính thức ở Hà Nội. Cũng dễ hiểu vì không lãnh đạo nào muốn nhắc đến cái tên Phan Thị Kim Phúc – người lẽ ra cũng nên có mặt tại buổi triển lãm với tư cách chứng nhân lịch sử.

Không biết lòng thành của Việt Nam được bao nhiêu, vì họ vẫn còn sợ sự thật lắm. Nhưng nếu tôi có bức ảnh hay một bài báo không được mọi người hiểu đúng ý hoặc không thể toát ra những cái mà tôi muốn truyền đạt để rồi làm công cụ cho một sự tuyên truyền lệch lạc, tôi không thể tự hào và thà đừng nhắc đến nó còn hơn.

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

► Vì Sao Trung Quốc Thách Thức Cả Thế Giới Trong Cuộc Tranh Chấp Trên Biển Đông Hiện Nay

Posted by hoangtran204 on 03/06/2015

Nguyễn Trọng Bình

Quy mô xây dựng của Trung Quốc tại bãi đá Huy Gơ – Ảnh: Võ Xuân Hiệp

1. Câu chuyện biển Đông lại một lần nữa nóng lên kể từ khi Mỹ điều máy bay do thám và công bố những hình ảnh bồi đắp, cải tạo xây dựng các đảo mà trước đây họ đã dùng vũ lực cướp từ tay Việt Nam. Việc làm này của Trung Quốc hiện đang bị dư luận và cộng đồng thế giới lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ. Tuy vậy, có thể thấy không riêng gì lần này, mỗi khi bị cộng đồng thế giới chỉ trích thì gần như ngay lập tức Trung Quốc phản ứng lại với một thái độ và tâm thế không hề nao núng (nếu không muốn nói là rất tự tin và đầy kiêu hãnh). Tại sao như vậy? Tại sao Trung Quốc dù nghe hết, biết hết những gì dư luận thế giới nói về mình nhưng họ vẫn cứ làm với thái độ bất chấp tất cả?

Đặt ra vấn đề trên để thấy rằng, lâu nay, trong cuộc tranh chấp ở biển Đông với Trung Quốc, đa phần chúng ta chỉ xem xét vấn đề ở phương diện nào có lợi cho ta nhất mà thôi. Điều này là đương nhiên. Tuy vậy, nếu như thế có khi nào là chủ quan và duy ý chí vì như người xưa nói “biết người biết ta trăm trận trăm thắng”?

Lịch sử và văn hóa Trung Quốc cho thấy họ là bậc thầy của chiêu thức “binh bất yếm trá”. Vì vậy một tinh thần cảnh giác thường trực và cao độ với Trung Quốc sẽ không bao giờ thừa. Đặc biệt, đừng bao giờ chủ quan cho rằng“không ai hiểu Trung Quốc bằng Việt Nam” hay như có người phát biểu“tôi không bất ngờ về việc làm của Trung Quốc hiện nay”. Thực ra, nói như thế là ngụy biện vì nếu đã hiểu rõ bộ mặt thật họ vậy sao cứ chơi và xem họ là “bạn thân”, là “đồng chí tốt”? “Bạn” và “bạn thân” là hai vấn đề, hai quan điểm, hai lập trường rất khác nhau chứ? Ai đời đã biết cái đứa năm lần bảy lượt đâm sau lưng mình mà vẫn kết thân với nó? Nói ra điều này chỉ càng làm cho người bên ngoài họ cười vào mặt mình mà thôi.

Nói cách khác, trong bất cứ mọi thời điểm mọi hoàn cảnh, cần thiết chúng ta phải tự đặt ra thật nhiều giả thiết và tự phản biện lại tất cả các giả thiết ấy để thấy rõ hơn đâu là điểm mạnh đâu là điểm yếu của mình. Có như vậy mới không bị động và may ra mới tìm được giải pháp tối ưu nhằm đối phó với sự ranh ma của Trung Quốc

2. Vì sao Trung Quốc luôn tỏ thái độ xem thường và thách thức Việt Nam và cộng đồng thế giới trong vấn đề tranh chấp trên biển Đông? Để trả lời câu hỏi này nhất định chúng ta phải tự đặt mình vào lập trường và quan điểm của họ để phân tích, xem xét. Ở đây tôi thử phân tích và lý giải một số căn nguyên như sau:

– Thứ nhất, về mặt chiến lược “đối nội”, trong khi Việt Nam đến giờ vẫn còn loay hoay không biết tuyên truyền; “giải thích” làm sao cho dân chúng trong nước hiểu và đồng thuận; thậm chí Nhà nước hiện này còn rất “kiên định” cấm dân chúng biểu lộ sự bất bình trước thái độ hung hăng của Trung Quốc (vì “mọi chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo”) thì ngược lại, từ lâu Trung Quốc đã có một chiến lược dài hơi để tuyên truyền cho toàn dân họ rất bài bản và kỹ lưỡng. Nói cách khác, trong khi “lòng dân” và “ý Đảng” ở Việt Nam vẫn còn chưa gặp nhau thì ngược lại, dân chúng Trung Quốc riêng về vấn đề biển Đông từ trước tới nay vẫn luôn ủng hộ chính sách ngoại giao cứng rắn và không nhân nhượng Việt Nam của chính quyền ông Tập Cận Bình.

Về vấn đề này, mới đây tác giả Đoàn Công Lê Huy trong bài viết “Bàn cờ chín khúc biển Đông của Trung Quốc” trên báo Tuổi trẻ số ra ngày 28/5/2015 đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể rằng như sau: “Như kỳ thủ đánh cờ nghĩ trước trăm nước, qua hàng thế kỷ họ luôn xuất kỳ có chủ ý. Họ chuẩn bị chu đáo và thực hiện từng nước đi. Toàn quân, toàn dân, toàn diện, được chỉ huy từ trên cao, bằng một cây gậy nhất quán. Họ luôn hát vang giai điệu chính và làm sao để gần 1,4 tỉ người không lạc điệu. Trên biển dẫu có lúc lộn xộn, có đến năm “lực lượng chấp pháp”, năm con rồng cùng quấy phá biển Đông – ngũ long nộ hải – thì cũng không bao giờ họ lạc giai điệu chính. Có nghĩa là chiến lược vẫn nhất quán dù chiến thuật có thể lúc thế này lúc thế kia. Mao Trạch Đông hay Tưởng Giới Thạch dù có khác nhau về phe phái thì bản đồ vu vơ đường lưỡi bò chín đoạn vẫn được đồng thuận xài chung. Họ vẫn cùng nhau hát đúng giai điệu chính trên căn bản này”.

– Thứ hai, về đối ngoại, thời gian qua chính quyền Trung Quốc hoàn toàn yên tâm vì họ biết quan điểm và lập trường của Việt Nam là không kiện họ ra tòa án quốc tế như Philippines; Việt Nam cũng không liên minh với nước nào để chống lại họ. Và điều quan trọng hơn cả là Mỹ, Nga (hai cường quốc trên thế giới) đều tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.

– Thứ ba, về mặt pháp lý nhất là việc nhìn nhận và giải thích luật quốc tế, nếu như Việt Nam đang có chút lợi thế là bộ sưu tập các bản đồ cổ (trong đó chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thuộc chủ quyền của Trung Quốc) và các học giả quốc tế cũng không chấp nhận ranh giới “đường lưỡi bò” thì ngược lại Trung Quốc có ưu thế hơn thông qua một “bằng chứng lịch sử” khác. Đó là cái công hàm oan nghiệt do ông Phạm Văn Đồng thay mặt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký và “trân trọng” gửi cho họ vào năm 1958 (mà mọi người đã rất nhiều lần tranh luận trước đây). Dù muốn dù không chúng ta phải thừa nhận, Việt Nam rất khó ăn khó nói với bạn bè thế giới về nội dung ghi trong cái mảnh giấy (tuy chỉ có mấy chữ nhưng tác hại rất khủng khiếp) này.

Cho nên, thời gian qua nếu Việt Nam nói “chúng tôi có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” thì phía ngược họ cũng đường hoàng, dõng dạc tuyên bố giống hệt như vậy. Và khi chúng nói họ “hung hăng”, “ngang ngược” thì họ cũng đáp trả lại Việt Nam là kẻ “lật lộng”, “phản bội”…

– Thứ tư, nhiều chuyên gia luật hiện nay chỉ tập trung phân tích việc Trung Quốc cải tạo các đảo đá ngầm hiện nay thành đảo nhân tạo thì về mặt pháp lý căn cứ vào các điều khoản của “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) họ sẽ không được công nhận chủ quyền. Điều này là không có gì sai. Tuy nhiên, đáng tiếc là Trung Quốc hiện nay không quan tâm đến vấn đề ấy. Điều họ quan tâm là phải làm sao bằng mọi cách nhanh chóng kiểm soát tất cả những đảo mà họ đang xây dựng để từng bước kiểm soát cả biển Đông. Trên cơ sở đó làm bàn đạp từng bước dùng sức mạnh “nước lớn” của mình để áp đặt “luật chơi” mới lên các “nước nhỏ” nhằm phân chia lại trật tự thế giới với Mỹ ở Thái Bình Dương. Tóm lại, mục tiêu của họ là kiểm soát trên thực địa chứ không phải chuyện công nhận hay không công nhận của UNCLOS. Đừng nghĩ rằng, họ không sợ “mất mặt”, “mất uy tín” với bạn bè quốc tế. Thực ra, họ biết hết những chuyện ấy nhưng điều quan trọng là họ tin rằng sau khi độc chiếm biển Đông; trở thành bá chủ họ sẽ tạo dựng và lấy lại uy tín còn mạnh mẽ hơn nữa. Nói cách khác đây là chiêu“tiên hạ thủ vi cường/ Hậu thủ vi tai ương” trong Binh pháp Tôn Tử mà họ đương nhiên sành sỏi hơn chúng ta rất nhiều.

– Cuối cùng, những ngày qua, kể từ khi Mỹ đưa máy bay vào do thám và công bố những hình ảnh Trung Quốc đang cải tạo đảo, dư luận lại bắt đầu làm sống lại giả thuyết “chiến tranh Trung – Mỹ” sắp nổ ra. Dĩ nhiên chúng ta nhất định cũng cần đặt ra tình huống giả định này để nhìn nhận vấn đề cho thật thấu đáo. Tuy vậy, như nhiều chuyên gia khác cũng nhận định, kịch bản Trung – Mỹ xảy ra chiến tranh trên biển Đông trong tương lai gần ít có khả năng xảy ra hơn kịch bản Trung Mỹ “bắt tay” và thương lượng với nhau. Câu nói của ông Tập Cận Bình khi gặp ngoại trưởng Mỹ John Kerry mới đây:“Thái Bình Dương đủ rộng cho cả Trung Quốc và Mỹ” ít nhiều đã ngầm nói lên điều này. Và nếu như kịch bản này xảy ra thì chắc chắn Việt Nam khi ấy chỉ là một quân cờ để hai cường quốc thế giới mang ra “cân, đo, đong, đếm” mà thôi.

3. Từ những phân tích trên có thể nói, hiện nay nhìn toàn cục Trung Quốc đang nắm thế chủ động hơn so với Việt Nam và các nước khác tuyên bố chủ quyền ở Biến Đông. Đó chính là lý do thời gian qua mặc cho Philipines kiện họ ra tòa quốc tế và mặc cho Bộ ngoại giao Việt Nam liên tiếp gửi các công hàm phản đối nhưng họ vẫn chẳng coi ra gì.

Từ đây, trên phương diện nhận thức chung, để đối phó và tạo ra ưu thế cho mình trong cuộc đối đầu này, Việt Nam, theo tôi nhất định phải tập trung vào các nhóm vấn đề quan trọng sau đây:

– Một, phải thay đổi tư duy trong cách tiếp cận vấn đề, tức là điều quan trọng bây giờ là phải hết sức cảnh giác đồng thời tập trung mọi nguồn lực nhằm giữ vững các đảo hiện tại đang nắm quyền kiểm soát. Nói cách khác vấn đề bây giờ là không để mất thêm đảo nào nữa vào tay Trung Quốc chứ không phải nói như ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam dạo nào:“Đời tôi và các bạn chưa đòi được thì con cháu chúng ta sẽ đòi lại”.[1] Thử hỏi tại sao bây giờ không quyết liệt đòi, không tự tin sẽ đòi lại được mà nhắn gửi, dặn dò con cháu như thế? Nói như thế khác nào đã công khai thừa nhận sự thất bại của mình hiện nay đồng thời đẩy quả bóng trách nhiệm cho thế hệ mai sau? Và phải chăng thế hệ lãnh đạo trước đây cũng từng suy nghĩ như vậy, cũng từng “trăn trối” và nhắn gửi thế hệ lãnh đạo của ông Phó Thủ tướng hôm nay nhưng các ông cũng làm được gì đâu!?

– Hai, cần chủ động tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ và các đồng minh của Mỹ thay Việt Nam “bảo vệ nguyên tắc luật pháp quốc tế trên biển Đông”[2] và ngăn chặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo mà họ đang kiểm soát. Điều đó cũng có nghĩa trong hoàn cảnh hiện nay nếu còn chần chừ không thể hiện rõ ràng dứt khoát, lập trường quan điểm của mình chắc chắn Việt Nam mãi mãi chỉ là con tốt không hơn không kém trên bàn ngờ ngoại giao một khi Trung Quốc “bắt tay” với Mỹ bằng chiến thuật lùi một bước để tiến nhiều bước…

Và quan điểm và lập trường ở đây không phải là Việt Nam nên “theo ai” hay “ngã về bên nào” mà là cần nhanh chóng chấm dứt trò chơi “đu dây” đầy mạo hiểm với việc lấy cảng Cam Ranh ra để giữ thăng bằng. Hay tệ hơn nữa là tâm lý “tọa sơn quan hổ đấu”!

– Ba, về mặt đối nội Đảng, Quốc hội Việt Nam cần nhanh chóng ra Nghị quyết nhằm tuyên truyền sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân về tình hình biển Đông hiện nay, đặc biệt nội dung bản Nghị quyết phải thể hiện rõ tinh thần hiệu triệu như lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây. Tức là “chúng ta càng nhân nhượng thì Trung Quốc càng lấn tới vì họ muốn cướp đảo của ta lần nữa…” Theo tôi, mọi chuyện đã đến nước này thì không còn gì mà giấu giếm, úp mở với nhân dân hay ngụy biện vì là chuyện “nhạy cảm”, “tế nhị” nên Quốc hội chỉ “họp kín”. Nếu ra được Nghị quyết lúc này về trước mắt sẽ ổn định được lòng dân còn về lâu thế hệ con cháu mai sau còn có cái để mà “ăn nói” với Trung Quốc (hay nếu như muốn tiếp tục “đòi lại” các đảo bị Trung Quốc cướp mất như lời dặn dò của ông Phó Thủ tướng mà tôi vừa đề cập ở trên). Và nhất là để lịch sử mai sau còn viết vào đó lại vài dòng ghi nhận công lao của thế hệ lãnh đạo hôm nay chứ không phải là không là những lời nguyền rủa nhu nhược, hèn kém.

– Cuối cùng, Việt Nam cần kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines đã làm. Cho dù Trung Quốc hiện nay không coi luật pháp quốc tế ra gì nhưng cần phải kiện họ vì chỉ có cách này cộng đồng quốc tế mới tin tưởng và ủng hộ Việt Nam nhiều hơn. Khi ấy Mỹ và các đồng minh Nhật, Úc… mới có “cơ hội” giúp Việt Nam ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc. Hiện nay, chính vì Việt Nam cứ ỡm ờ, không dám kiện nên cộng đồng quốc tế họ hoài nghi. Mình cứ nói “chính nghĩa” và “lẽ phải” thuộc về mình nhưng lại không cho thấy quyết tâm bảo vệ “chính nghĩa” và “lẽ phải” đến cùng thì làm sao người ta tin những gì mình nói.

Ngoài ra, khởi kiện bây giờ cũng là phòng tránh một sự lật lọng của Trung Quốc về sau. Tức là trong trường hợp sau khi hoàn thành việc cải tạo các đảo hiện nay, với sức mạnh và sự ảnh của một “nước lớn” có thể họ sẽ kiện ngược lại Việt Nam. Khi ấy với tư cách là “bị đơn” lại là “nước nhỏ”, Việt Nam rất khó thoát ra khỏi sự điều khiển của họ.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.