Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín, 2015

►Người Sài Gòn bỏ xế hộp tiền tỷ, lội nước cống về nhà

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Cán bộ cộng sản bản thân ít học và dốt, nên sau khi chiếm được Sài Gòn, chúng chiếm đất đai, lấp đất, và làm nhà trên vùng đất mà trước đây chính quyền Pháp và VNCH để dành dùng để thoát nước khi có mưa lớn. Hậu quả của việc lấp đất và làm nhà trên các vùng trũng làm cho nước mưa không có lối thoát, dần đến tình trạng hiện nay là đường phố Sài Gòn bị ngập sau mỗi cơn mưa. 

Kết quả ” đánh thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn 10 ngày nay” là đây

Người Sài Gòn bỏ xế hộp tiền tỷ, lội nước cống về nhà

 

 – Mưa to ở TP.HCM không chỉ gây khổ cho những ai đi xe gắn máy. Một số người dân vì lý do nước ngập quá sâu, muốn về được nhà phải bỏ lại xe ô tô, xắn quần lội bộ trong nước cống.

Chiều tối qua, sau trận mưa to kéo dài, TP.HCM ngập lụt trên diện rộng. Người dân khốn khổ bởi vừa kẹt xe, vừa ướt sũng nước mưa và… nước cống.

Nhìn thấy trường con mà đi cả giờ không tới

Anh Trần Văn Hải, ngụ tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Q7 là một trong những nạn nhân của vụ ngập lụt, kẹt xe kỷ lục này.

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe

Mưa ngập làm nhiều xe ô tô bị “thủy kích” nằm chịu chết. Ảnh: Người dân cung cấp

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe
Đẩy xế hộp tiền tỷ trên phố Sài Gòn trong cơn mưa chiều tối 15/9. Ảnh: Bạn đọc cung cấp

Lúc 4h30 chiều, lo kẹt xe giờ tan tầm nên anh Hải định lấy xe máy đi đón con cho tiện. Tuy nhiên lúc này mưa to quá, sợ cháu ướt hết nên anh Hải đi bằng ô tô.

“Trường của con cách nhà có 2km mà mãi gần 7 giờ tối tôi mới đón được cháu về đến nhà. Xe hơi bị kẹt cứng không thể nhúc nhích, xe máy thì chết máy dắt bộ, giao thông hỗn loạn. Nhìn thấy trường con ngay bên tay phải mà cả tiếng vẫn không tới nơi, tôi chỉ muốn vứt xe lại, lội bộ cho rồi”, anh Hải kể.

Chị Thủy, ngụ tại khu đô thị Hoàng Anh Gia Lai, quận 7 cũng ngán ngẩm về cảnh mưa gió, ngập lụt không kém anh Hải.

“Đi xe 2 bánh cũng khổ mà 4 bánh càng khổ. Mưa thì còn mặc áo mưa, đi xe hơi, taxi để tránh, nhưng ngập thì chẳng cách nào tránh được. Mỗi lần sắp chết ngộp với khói bụi, kẹt xe và lụt lội trong trời mưa dơ bẩn tôi chán nản vô cùng”, chị Thủy nói.

Theo chị Thủy, ô tô khó thoát thân nhất khi kẹt xe. Xui xẻo bị “thủy kích” mà chết máy kiếm cứu hộ vô cùng nhiêu khê, cứ xác định tối mịt chưa mò về được nhà.

Bỏ xế hộp lội 1km về nhà

Chị Nguyễn Thị Lệ Thu, Giám đốc kinh doanh Bệnh viện FV tối qua lái ô tô từ chỗ làm ở quận 7 về nhà ở khu Thảo Điền quận 2.

Tối mịt vẫn chưa về tới nhà, đường ngập quá sâu, cuối cùng chị phải bỏ xe ô tô lại cùng các tư trang đồ đạc như máy tính xách tay, tài liệu, tháo giầy cao gót, tay xách đồ ăn, vai đeo túi, lội chân trần trong nước ngập 1km về nhà…

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe

Để về được nhà kịp chuẩn bị bữa tối, chị Thu đành bỏ xe hơi, lội nước 1km

Tôi lái xe lòng vòng mãi không thể tìm được đường về vì nước ngập sâu quá. Đành kiếm chỗ ít ngập nhất, tấp xe vào rồi bỏ luôn xe ô tô ở đó dù biết có khả năng xe sẽ bị bẻ kính, hoặc mất đồ. Khi ra khỏi xe, nước ngập tới đầu gối”, chị Thu chia sẻ.

Một số cư dân ở khu đô thị Sài Gòn Pearl (đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh) cũng dở khóc dở cười vì mưa gió.

Một cư dân chia sẻ: “Khu vực Sài Gòn Pearl ngập nặng quá, dưới chân cầu Thủ Thiêm cũng vậy, nội bất xuất, ngoại bất nhập”.

xế hộp, ô tô, TP.HCM, Sài Gòn, nước ngập, ngập lụt, kẹt xe
Tới 22h ngày 15/9, tình trạng ngập vẫn vô cùng nặng nề. Ảnh: Người dân cung cấp

Theo ghi nhận của phóng viên, tới 10 giờ đêm đường Nguyễn Hữu Cảnh, quận Bình Thạnh vẫn bị ngập rất nặng, thậm chí nước dâng cao tới tận cabin xe ô tô.

Các con đường bị nước ngập nặng ở quận Phú Nhuận, Bình Thạnh, Tân Phú, Bình Tân, quận 12. Tình trạng ngập từ khung giờ cao điểm 17- 18 giờ chiều và hơn 21h đêm nhưng nhiều nơi nước vẫn chưa rút.

Sáng nay, TP.HCM vẫn mưa rất to, dự đoán tình cảnh ngập lụt còn kéo dài.

Thanh Huyền

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Moi Truong bi O nhiem | 1 Comment »

►Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [1]

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [1]

pobrane

Các nhà lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam từ ngày đảng hình thành cho tới nay đã ảnh hưởng tới đất nước và dân tộc ta ra sao.
Trước hết nói về nhân vật

Hồ Chí Minh

Sinh ngày 19-5-1890, mất 2-9-1969, là người sáng lập đảng CS Việt Nam và đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại Hà Nội. Hồi nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, tự Tất Thành, đỗ bằng tiểu học năm 1909, năm thứ hai trung học bị đuổi, năm 1910 đến Phan Thiết dậy chữ Hán và chữ quốc ngữ, năm 1911 vào Sài Gòn học trường Bá nghệ ba tháng, trường này đào tạo nhân công hàng hải.
Ngày 5-6-1911 Thành sang Pháp, xin làm bồi trên tầu buôn Latouche-Tréville, tháng 7-1921 tới Pháp. Nguyễn Tất Thành xin học trường Thuộc địa nhưng bị từ chối. Từ năm 1912-1913, Thành sang Mỹ sau đó sang Anh làm nghề cào tuyết, phụ bếp, học tiếng Anh tại đây cho tới năm 1916, cuối năm 1917 về lại Pháp và ở đó cho tới 1923. Năm 1919 Thành gia nhập đảng Xã hội Pháp, lấy tên Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920 đọc luận cương của Lénine, tin tưởng chủ nghĩa Cộng Sản rồi làm báo Le Paria, Người Cùng Khổ tố cáo chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

Năm 1922 Nguyễn Ái Quốc đến Nga tham dự Đại hội quốc tế Cộng Sản, tháng 6-1923 ông theo học CS tại Nga, năm 1924 được bầu vào Ban chấp hành đoàn quốc tế nông dân và được cử làm Ủy viên ban phương đông. Năm 1924-1927 Nguyễn Ái Quốc sang Tầu lấy tên Lý Thụy, có nhiệm vụ tuyên truyền tư tưởng cách mạng ra vùng Đông phương. Năm 1925 ông tập hợp người Việt kiều tại Trung Hoa thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Chính phủ Tưởng Giới Thạch khủng bố các đảng viên CS Tầu, VN nên Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Hương Cảng rồi thoát sang Nga, tháng 11-1927 được cử đi Pháp.

Năm 1928-1929 Nguyễn Ái Quốc ở Thái Lan, năm 1928 ông cải trang thành nhà sư để tuyên truyền cho các Việt kiều tại đây, cuối năm 1929 ông lại sang Tầu. Ngày 3-2-1930 tại Cửu Long thuộc Hương Cảng, theo chỉ thị của Quốc tế CS, ông thống nhất ba tổ chức CS thành đảng CS Việt Nam, sau đổi thành Đảng CS Đông Dương rồi đổi thành Đảng Lao Động VN. Tháng 3-1930 ông sang Thái rồi lại sang Tầu. Năm 1931 lấy tên Tầu Tống Sơ Văn (Sung Man Cho), bị chính quyền Hương Cảng bắt giam, họ tính giao lại cho Pháp nhưng nhờ luật sư Frank Loseby bào chữa được thả ra ngày 28-12-1932, ông đi Thượng Hải rồi trở lại Nga.

Nguyễn Ái Quốc đến Nga lần thứ hai mùa xuân năm 1934 với bí danh Lin, theo học trường Quốc tế Lénine (1934-1935), tham dự Đại hội VII Đệ tam quốc tế với vai trò quan sát viên. Năm 1938 ông bị Nga giam lỏng, bị nghi ngờ vì được Hương Cảng trả tự do nhưng không có bằng cứ nên lại được thả ra. Trong giai đoạn này Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập lần lượt làm Tổng bí thư Đảng CS Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc giữ nhiệm vụ liên lạc viên giữa Quốc tế CS và đảng CS Đông Nam Á.

Năm 1938, ông trở lại Tầu vai Thiếu tá Hồ Quang thuộc Bát Lộ Quân (Lộ quân thứ 8) cho tới năm1939. Đầu tháng 1-1941 Ủy viên Trung ương đảng sang Tầu mời ông về nước lãnh đạo cách mạng, về VN ngày 28-1-1941 qua lối Cao Bằng, lấy bí danh Già Thu tới ở hang Bắc Bó Cao Bằng. Ngày 13-8-1942 ông lấy tên Hồ Chí Minh sang Tầu vận động Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, lần đầu tiên xử dụng tên HCM trong giấy tùy thân. Hai tuần sau bị chính quyền địa phương bắt giam một năm, ông viết Nhật ký trong tù, ngày 10-9-1943 HCM được thả nhờ người Mỹ vận động với Quốc dân đảng Trung Hoa, HCM tham gia Ban chấp hành trung ương VN cách mệnh đồng minh hội.

Cuối tháng 9-1944 Hồ Chí Minh về nước thành lập đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân 34 người. Cuối 1944 ông trở lại Côn Minh cho tới đầu 1945 và gặp Tướng Mỹ Chennault tại đây, ông này sẵn sàng giúp Việt Minh. Họ muốn dùng VM chống Nhật giải cứu cho các phi công Mỹ, cung cấp tin tức tình báo, đổi lại Mỹ giúp họ vũ khí, thuốc men, huấn luyện…

Tháng 7-1945 Hồ Chí Minh bị sốt rét rất nặng tưởng chết, toán OSS (US Office of Strategic Servieces) đã giúp chữa bệnh cho ông, bác sĩ quân y tên Paul Hogland đã ở đó 2 tháng và cứu sống họ Hồ.

Ngày 16-8-1945 Tổng bộ VM họp tại Tân Trào cử Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 15-8-1945 Nhật đầu hàng Đồng minh, Thủ Tướng Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 7-8 vì bất lực, chính phủ không có quân đội. Khi ấy tình hình trong nước rất lộn xộn. Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền 19-8, ngày 22-8 họ gửi điện văn vào Huế yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã cướp được chính quyền. Ngày 25-8-1945, nhà vua đọc bản tuyên ngôn thoái vị trước cửa Ngọ môn lâu.

Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Họ Hồ có cho viên chỉ huy OSS biết là ông theo chủ nghĩa Lénine, tham gia đảng CS Pháp, gia nhập Đệ tam Quốc tế vì họ có quan tâm vấn đề thuộc địa. Người Mỹ cho rằng HCM là CS bù nhìn của Moscow, tới cuối tháng 9-1946 họ rút hết cố vấn Mỹ về nước chấm dứt mọi liên lạc với Việt Minh.

Võ Nguyên Giáp thay mặt HCM giải tán các đảng phái rồi tàn sát họ đẫm máu, ngày 23-9-1945 Pháp tấn công Sài Gòn, ngày 6-1-1946 tổng tuyển cử bầu Quốc hội. QH khóa I cử ra chính phủ kháng chiến do HCM làm chủ tịch nước VN Dân chủ Cộng hòa vừa là Thủ tướng, về đối ngoại không được quốc gia nào công nhận. Vì bị các đảng phái tố cáo HCM, Việt Minh là CS nên tháng 11-1945 ông cho giải tán Đảng CS Đông Dương (giả vờ) và nhượng bộ đối lập Việt Cách, Việt Quốc 70 ghế tại Quốc hội mà không qua bầu cử.

Đầu năm 1946, Pháp bắt đầu thương thuyết với chính phủ Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh để được thay thế quân Tầu giải giới Nhật tại miền Bắc, sau đó thương thuyết với Việt Minh. Đầu tháng 3-1946 Tướng Leclerc cho đổ bộ lên Hải Phòng, VM ký với Pháp Hiệp định sơ bộ thuận cho Pháp vào BV. Họ mượn tay Pháp để đuổi Tầu về nước (1) và củng cố nội bộ, tiêu diệt các đảng phái quốc gia không CS. Theo tờ tường trình của Tướng Leclerc gửi chính phủ Pháp ngày 27-3-1946 thì tính tới cuối năm, VM đã thủ tiêu, giết hại tổng cộng khoảng 50,000 người (2). Đảng CS đã bắt đầu nhúng tay vào máu của dân tộc VN, Giáp được Pháp giúp đỡ cho tấn công các đảng phái QG, phái Troskist, Công giáo…

Cuối tháng 5-1946, HCM và Phạm Văn Đồng sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Hội nghị thất bại, HCM ở lại ký bản tạm ước với Bộ trưởng thuộc địa Pháp Moutet. Tại Hà Nội hai bên ngày càng căng thẳng, tối 19-12-1946 Việt Minh tấn công quân Pháp mở đầu cho cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Tháng 2-1947 VM rút lên Việt Bắc, sang năm 1948, Pháp mở rộng vùng chiếm đóng tại Quảng Yên, Kiến An, Hà Đông, Ninh Bình, Sơn Tây và Việt Trì. VM chỉ hoạt động du kích, quấy phá đồn bót, phục kích công voa.

Sang năm 1949, tháng 7 tới tháng 9 Pháp mở các cuộc hành quân chiếm Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phát Diệm và Bùi Chu. Từ giữa và cuối 1949, Trung Cộng thắng thế tại Hoa lục, tình hình biến chuyển. Bernard Fall nói khi Trung Cộng tiến sát biên giới Việt Hoa tháng 11-1949 thì chương I của chiến tranh Đông Dương đã được đóng lại, người Pháp không còn cơ hội chiến thắng (3). Năm 1950 gió đã đổi chiều khi Trung Cộng chiếm trọn vẹn nước Tầu. VM được họ tiếp tế vũ khí đạn dược ồ ạt và huấn luyện tại biên giới. Trung Cộng giúp VM thành lập hai sư đoàn đầu tiên 304, 308 bằng kết hợp các trung đoàn chủ lực tại BV và Trung Việt. VM đã đủ mạnh và bước sang giai đoạn cầm cự.

Tháng 10-1950 VM đánh thắng trận lớn đầu tiên mà họ gọi là chiến thắng Cao Bắc Lạng. Tại trận này quân Pháp rút bỏ Cao Bằng bị chận đánh tan nát, thiệt hại khoảng 7,000 người và nhiều kho vũ khí, trận đánh rung động cả nước Pháp, không ngờ VM có thể mạnh đến thế. Sự hình thành, bành trướng lớn mạnh cũng như sống còn của VM không phải vì họ cướp được chính quyền tháng 8-1945, không phải nhờ tài lãnh đạo siêu việt của họ Hồ… mà nhờ Mao đã chiếm được toàn cõi Hoa Lục. Sự kiện CS Tầu thắng thế họ Tưởng đã thay đổi khúc quành lịch sử tại Đông Dương, hơn thế nữa nó còn ảnh hưởng tới cả thế giới từ đó cho tới tận ngày hôm nay. Tháng 1-1951 Trung Cộng giúp VM thành lập được 5 sư đoàn bộ binh và một sư đoàn pháo binh.

Thời cơ đã tới cho họ Hồ, nếu Mao bị Tưởng đánh bại những năm 1946, 47…thì số phận của VM cũng sẽ tàn lụi theo vì không có sự giúp đỡ của CS Tầu

Tết Canh Dần 1950 HCM sang Tầu, sang Nga, tại Đại hội đảng II giữa tháng 2-1951, đổi tên đảng CS Đông Dương thành đảng Lao động VN, tại Đại hội này, đảng Lao Động khởi xướng cải cách ruộng đất, xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt bọn bóc lột, phản quốc, phản động, địa chủ, Việt gian, cường hào, đối lập…để nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ tháng 1-1952 họ Hồ gửi bản chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động VN cho Staline để “Đề nghị duyệt xét và chỉ dẫn”, HCM cho biết chương trình hành động do chính ông và được Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ. Cải cách ruộng đất được phát động cuối năm 1953 (tại hậu phương do VM kiểm soát) sau 1954 được tiếp tục lại năm 1956, 1957 tại miền Bắc giết hại trên một trăm nghìn người, đầu năm 1956 khởi sự sửa sai, HCM khóc lóc nhận sai lầm.

Tình hình quân sự do HCM lãnh đạo, Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã đạt nhiều thắng lợi nhờ viện trợ và huấn luyện của Trung Cộng. Sau trận Cao Bắc Lạng tháng 10-1950, mấy tháng sau Tướng De Lattre được Pháp cử sang làm Tư lệnh Đông Dương. Ông đã đánh thắng Võ Nguyên Giáp nhiều trận lớn, chuyển bại thành thắng, nhưng De Lattre chỉ chiến đấu được gần một năm thì bị bệnh nặng phải về Pháp. Từ đầu 1952, Tướng Salan lên thay khi VM ngày càng mạnh, nhờ viện trợ Trung Cộng. Giữa năm 1953 Tướng Navarre, Tư lệnh mới cho biết những năm 1953, 1954 quân lưu động VM rất mạnh khoảng 9 sư đoàn, gấp ba quân lưu động Pháp (4). Trận Điện Biên Phủ kéo dài từ ngày 13-3 tới ngày 7-5 thì thất thủ, 11 ngàn quân Liên Hiệp Pháp bị bắt làm tù binh, trên 2,000 bị giết chưa kể trên 2,000 mất tích, VM thiệt hại khoảng 10,000 người. Họ thắng trận nhờ viện trợ tiếp liệu ồ ạt từ Hoa Lục sang.

Cuộc chiến tám năm khói lửa (1946-1954) giành độc lập của họ Hồ đã gây lên cảnh núi xương sông máu: khoảng 300,000 thanh niên tử trận, 500,000 bị thương, 150,000 người thường dân thiệt mạng. Quân đội Liên hiệp Pháp có 75,500 người tử trận, Quân đội QGVN có 419,000 người gồm cả chết, bị thương và bị bắt (5). Miền Bắc đã trở thành bãi chiến trường, nhiều thành phố, tỉnh lỵ trung du, đồng bằng hoang tàn vì bom đạn.

Hai bên đều mệt mỏi, ngày 20-7-1954 Pháp và Việt Minh ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, quân Pháp và chính phủ Quốc gia Việt Nam rút về miền nam dưới vĩ tuyến 17, thời hạn vào nam ra Bắc được ấn định 300 ngày. Tại các thành phố lớn Hà Đông, Hà Nội, Hải Dương…nhiều nhà đã lên đường vào nam.

Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, tại các đình làng người ta tổ chức hội hè, ảnh Hồ chủ tịch treo ở giữa, hình Mao chủ tịch và đồng chí Ma Lăng Cốp treo ở hai bên, thanh niên, thiếu nữ nhảy múa hát sol đố mì….Khi cuộc di cư bắt đầu, tại các làng mạc người dân thường chọn ở lại trong khi dân tỉnh lên máy bay tại Hà Nội hoặc xuống Hải Phòng lên tầu vào nam. Mấy tháng sau khi Việt Minh về tiếp thu, Hà Đông Hà Nội đã y như thành phố chết, vắng tanh vắng ngắt. Tại miền quê chính sách thuế nông của VM đã làm người dân tuyệt vọng, thật là khủng khiếp, chính phủ đánh thuế cao gấp mười lần thời Quốc gia nên nhiều gia đình trung lưu không còn đường nào khác là ra đi. Rất nhiều người sống ở hậu phương muốn vào nam nhưng điều kiện khó khăn đã khiến họ phải ở lại. Muốn đi nam phải xuống Hải Phòng, muốn đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng phải có giấy thông hành, chỉ có một số ít người xin được giấy của bà con ở Hà Nội về cạo sửa làm giấy giả để lên tầu hỏa xuống Hải Phòng rồi vào Nam. Tổng cộng có khoảng gần một triệu người di cư vào nam, nếu thời hạn di cư kéo dài thêm thì số người ra đi còn tăng hơn nhiều.

Khoảng giữa năm 1955, khi cuộc di cư kết thúc, bác Hồ xuống Hải phòng khóc than đồng bào đã hiểu lầm và bỏ xứ ra đi. Thập niên 60, HCM giảm dần các hoạt động chính trị, ông hay sang Tầu tham quan, chữa bệnh nhất là những năm 1967, 1968, 1969 ông đau nặng sang Tầu nhiều lần. Từ năm 1963 HCM tuyên bố sẽ bàn giao cho Lê Duẫn chỉ còn giữ vai trò tượng trưng, quyền lực dần dần vào tay Duẫn. Nhờ người phụ tá đắc lực Lê Đức Thọ mà Duẫn tạo dựng uy quyền tối thượng tại BV.

Một số người Tây phương (Pierre Asselin) cũng như Nguyễn thị Liên Hằng (tác giả Hanoi’War) có nhận định cho rằng Duẫn đã cô lập Hồ, Giáp và các đồng minh của họ để chiếm quyền lực tuyệt đối. Tôi nghĩ chuyện này khó tin vì mọi người đều rõ Hồ chí Minh là tay lưu manh chúa cả thế giới đều biết, chẳng lẽ lại chịu để bọn em út Duẫn, Thọ soán ngôi dễ dàng như vậy. Nếu nói là HCM thiếu sức khỏe nhường địa vị cho Duẫn, Thọ như dư luận phía CS cho biết thì còn tin được.

Trên thực tế các quyết định, kế hoạch lớn vẫn cần HCM chỉ đạo, phê duyệt (thí dụ hòa đàm Paris) vì ông vẫn là Chủ tịch đảng (1951-1969), sau khi HCM chết, không ai được cử thay thế chức vụ này. Nhiều người Mỹ hiểu sai về tình hình chính trị đảng CSVN, cựu Tổng thống Nixon năm 1985 nói về sự sai lầm của TT Johnson những năm 1965, 1966,1967 :

“Chúng ta cần biết là không bao giờ dụ dỗ, mơn trớn Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến mà phải bắt buộc ông ta từ bỏ nó” (No More Vietnams trang 82).

Sự thực trong những năm này HCM đã giao quyền cho Lê Duẫn. HCM mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội. CSVN tạo nhiều huyền thoại ca tụng HCM, ông là nhà văn, nhà thơ, nhà cách mạng, biết nhiều thứ tiếng…Thời kỳ kháng chiến, Việt Minh lưu truyền một bài thơ Hán văn dưới đây mà họ nói là của bác (báo Sài Gòn thập niên 60 có cho đăng lại).

Thu dạ
Dạ bán canh thâm tiệm đắc nhàn
Thu phong thu vũ báo thu hàn
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng
Du kích qui lai tửu vị tàn.

(tôi xin dịch xuôi: 
Đêm Thu
Nửa đem canh khuya ta tạm được chút nhàn 
Gió thu, mưa thu báo cái lạnh của mùa thu tới
Bỗng nghe tiếng sáo thu từ sườn núi bên kia vọng lại
Quân du kích trở về khi chén rượu (tiễn) chưa tàn)

Chẳng biết bài thơ có phải do bác làm hay không nhưng nội dung thật là giả tạo, trận chiến tàn khốc máu chẩy thịt rơi được diễn tả thật thi vị y như cảnh phong, hoa, tuyết, nguyệt đời nhà Đường.

Có dư luận nói CSVN bắt chước như khỉ, thấy ngưới ta lấy tên lãnh tụ Lénine đặt tên thành phố Saint Petersburg là Leninegrad cũng đặt tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh. Thấy người ta ướp xác Lénine tại quảng trường đỏ cũng ướp xác họ Hồ tại quảng trường Ba Đình, thật là gớm ghiếc. Nay bên Nga họ đang nghiên cứu đưa xác Lénine đem chôn vì việc bảo quản tốn kém và dơ bẩn. Cái xác chết đúng lý phải đem chôn lại trưng bầy cho thiên hạ tới ngắm, rất phản văn minh phản tiến bộ. Thấy người ta dựng tượng cũng bắt chước dựng tượng khắp nơi, nay toàn quốc đang lên cơn sốt tượng đài. Dân còn nghèo, lợi tức đầu người đứng thứ 138 trên thế giới mà đã xây khoảng 140 tượng HCM, CSVN dự trù trong năm nay sẽ cho xây thêm nhiều tượng cho đủ con số 200. Sơn La đang lên kế hoạch xây tượng HCM với chi phí 65 triệu đô la, xây tượng, xây cầu.. chẳng qua chỉ là để kiếm chác đục khoét công quĩ nhà nước.

Ngày nay tại VN nhiều chùa quốc doanh thờ tượng Hồ Chí Minh bên tượng Phật, cái trò khỉ này bị coi là xúc phạm, Đức Phật là đấng từ bi không giết đến một con giun, con kiến phải ngồi chung với kẻ sát nhân. Nhiều người miền Bắc cho tới nay vẫn còn bị ảnh hưởng tuyên truyền nhồi sọ về HCM, ngay cả đảng viên phản tỉnh trốn ra nước ngoài vẫn còn khen ngợi, ca tụng HCM, thậm chí họ còn nói CSVN nay đi sai đường của bác.

Tư tưởng HCM thực ra chỉ là sự cóp nhặt tư tưởng Mác Lê, bác trình độ tiểu học lấy đâu ra tư tưởng. Nhiều nhà sử gia Mỹ khen ông HCM là nhà ái quốc, họ khen cho vui thôi thực ra họ thừa biết ông ta là tay sai Đệ Tam Quốc tế, vả lại lời nói chẳng mất tiền mua, họ có mất vốn mất lãi gì đâu?

Hồ Chí Minh là Chủ tịch đảng kiêm Chủ tịch nhà nước như Lénine của Sô Viết, ông ta là Chủ tịch đảng duy nhất của CSVN (18 năm 195 ngày), sau khi HCM chết, người đứng đầu đảng được mệnh danh là Tổng bí thư hay Bí thư thứ nhất, Chủ tịch đảng chỉ dành riêng cho HCM, một chức vị danh dự.

Lê Duẩn

Giữ chức vụ Bí thư thứ nhất đảng Lao động VN từ 1960-1976, Tổng bí thư đảng CSVN từ 1976-1986. Duẩn là người giữ chức Tổng bí thư lâu nhất 25 năm, người có uy quyền cao nhất của CSVN như Tập Cận Bình, Đặng Tiểu Bình bên Tầu. Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội người ta chỉ nghe nói tới bốn nhân vật chủ chốt Hồ, Giáp, Chinh, Đồng và một số sĩ quan cao cấp Thiếu tướng văn tiến Dũng, Đại tá Vương Thừa Vũ… khi ấy Lê Duẫn, Lê Đức Thọ hoàn toàn vô danh, không ai biết tới
Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại Quảng Trị trong một gia đình nông dân, mất ngày 10-7-1986. Năm 1920 học hết tiểu học, Duẫn học hết năm thứ nhất trung học (đệ thất) rồi nghỉ. Năm 1926 làm nhân viên sở hỏa xa, bẻ ghi đường rầy xe lửa Đà nẵng. Năm 1930 Duẫn gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1931 là ủy viên tuyên huấn Bắc kỳ, tháng 4-1931 bị Pháp bắt ở Hải Phòng kết án 20 năm tù.

Năm 1939 Lê Duẩn được bầu vào Ban thường vụ trung ương đảng, năm 1940 bị Pháp bắt đầy ra Côn đảo án tù 10 năm, đến 1945 được đón về, năm 1946 làm việc bên Hồ Chí Minh. Từ 1946-1954 ông được cử làm Bí thư xứ ủy Nam bộ, sau này là Trung ương cục miền nam, Chính ủy bộ tư lệnh nam bộ. Năm 1951 Lê Duẫn được vào Ban chấp hành trung ương (BCHTƯ) và Bộ chính trị trong kỳ Đại hội đảng lần 2. Năm 1952 ra Việt Bắc họp Trung ương đảng được Hồ Chí Minh giữ lại làm phụ tá tới đầu năm 1954, được cử làm quyền bí thư Trung ương cục miền nam.

Năm 1954-1957 ông được phân công ở lại miền nam lãnh đạo, HCM chọn Duẫn vì ông ta nắm vững đường lối trung ương am hiểu địa thế. Tới 1957 HCM gọi Lê Duẫn ra Hà Nội gấp để có thể điều hành công việc chung của đảng. Tháng 9-1960 tại Đại hội toàn quốc lần thứ III, Duẫn được bầu vào BCHTƯ và Bộ chính trị, giữ chức Bí thư thứ nhất BCHTƯ đảng. Từ 1960 theo một số nhận định HCM sức khỏe yếu, Lê Duẫn trở thành người có quyền hành cao nhất.

Đại hội toàn quốc lần thứ IV tháng 12-1976 và lần thứ V tháng 3-1982, Duẩn tiếp tục được bầu giữ chức Tổng bí thư cho tới chết, tại Đại hội V, Lê Duẩn sức khỏe yếu, Ban chấp hành giao một số việc cho Trường Chinh. Lê Duẫn lên nắm quyền và tiếp tục theo đuổi cuộc chiến mà HCM giao lại qui mô hơn, đẫm máu hơn. Tác giả Nguyễn thị Liên Hằng cách đây mấy năm xuất bản cuốn Hanoi’s war, ý nói cuộc chiến này do Hà Nội phát động. Tôi nghĩ nó không hoàn toàn đúng, nếu nói cuộc Thế chiến thứ II tại Châu Âu do Bá Linh phát động hay cuộc Thế chiến tại Á châu do Đông Kinh chủ trương thì hoàn toàn đúng vì họ tự làm được vũ khí, tự quyết định được. Hà Nội không tự làm được vũ khí, họ phải xin viện trợ quân sự của Nga, Trung Cộng, phải được CS quốc tế chấp thuận nên họ không tự ý phát động cuộc chiến được.

Sở dĩ CS quốc tế chấp thuận viện trợ cho BV một số hàng khổng lồ tổng cộng 2 triệu 362 ngàn tấn hàng hậu cần và vũ khí (6) vì BV là một quân tốt quá lợi hại, là mũi nhọn xung kích của CS quốc tế để làm suy yếu đế quốc. BV có lẽ là quân tốt của CS quốc tế hơn là một cường quốc quân sự.

Những năm cuối thập niên 50 VC bắt đầu đánh du kích và ám sát trưởng ấp, xã trưởng, thập niên 60 họ cho xâm nhập các cán bộ tập kết, năm 1961 Việt Cộng gia tăng lực lượng tới 25,000 cuối năm 1961. TT Kennedy cho tăng quân số VNCH lên 200,000 người, năm 1962 viện trợ cho VNCH ba đại đội trực thăng H-21, 16 phi cơ vận tải C-123, hai chi đoàn thiết giáp M-113 (7) …
Việt Cộng bị bao vây tiêu diệt dần dần, quân đội VNCH nhờ chiến thuật, vũ khí mới đã đạt thắng lợi năm 1962. Năm 1964, lợi dụng tình hình chính trị miền Nam xáo trộn, Lê Duẫn cho gia tăng xâm nhập cán binh, tiếp liệu. Giữa năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận và một tiểu đoàn, TT Johnson vội đưa quân sang ngăn chận CS, cho tới 1968 đã có tới nửa triệu quân Mỹ tại miền nam. BV gia tăng xâm nhập, cuộc chiến mở rộng. Vì sự sai lầm của Johnson đem áp dụng chiến tranh giới hạn (limited war) vào VN kéo dài cuộc chiến khiến phong trào chống đối ngày càng lên cao. Trận Mậu thân 1968 là thảm bại quân sự của BV nhưng lại là thảm bại chính trị cho Johnson. Người Mỹ thua tại mặt trận đất nhà mặc dù trong những năm 1965, 1966, 1967.. đã tiêu diệt được hàng mấy trăm ngàn tên địch.

Lê Duẩn áp dụng triệt để chiến lược cố đấm ăn xôi đẩy thanh niên vào chỗ chết khiến người dân và Quốc hội Mỹ quá chán chiến tranh Đông Dương. Họ đã áp lực tân Tổng thống Nixon rút quân ký Hiệp định Paris tháng 1-1973, để rồi Quốc hội Dân chủ cắt giảm dần viện trợ quân sự cho VNCH, tới tháng 2-1975 quân đội miền nam chỉ còn đủ đạn chiến đấu trong vòng một tháng (8). Sài Gòn thất thủ ngày 30-4-1975, cuộc chiến giải phóng miền nam của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thực ra chỉ là một cuộc ăn cướp vĩ đại như nhận xét của ông Bùi Tín.

Tiếp tục sự nghiệp binh đao máu lửa của sư phụ, Lê Duẩn lãnh đạo một cuộc chiến dài đằng đẵng bắt đầu từ cuối thập niên 50 cho tới cuối thập niên 80. Mấy năm sau cuộc chiến cốt nhục tương tàn 1975, cuối thập niên 70 khởi đầu cuộc chiến giữa các chế độc Cộng Sản. Dưới thời Lê Duẫn, chiến tranh loạn lạc liên tu bất tận khiến nhân dân khốn khổ trăm bề.

Rạn nứt giữa Bắc Kinh và Hà Nội khởi đầu từ 1968, Lê Duẩn có khuynh hướng thân Nga và đụng chạm với Trung Cộng. Hai bên bất đồng quan điểm, Bắc Kinh muốn CSVN dùng chiến tranh du kích có giới hạn nhưng Duẫn và tập đoàn của ông muốn đánh qui ước để sớm chiếm được vựa lúa miền nam. Hà Nội muốn nói chuyện trực tiếp với Mỹ tại Paris bắt đầu tháng 5-1968 mà Trung Cộng phản đối cuộc hòa đàm này. Tới năm 1972 khi Nixon sang Tầu bắt tay Mao Trạch Đông thì bị BV cho là phản bội cách mạng, từ năm 1973, giới lãnh đạo Bác Kinh cho biết CSVN là kẻ thù. Năm 1975 Lê Duẫn sang Tầu từ chối liên minh với Bắc Kinh chống lại Liên Xô. Hà Nội càng thân Nga, Tầu đỏ càng sợ bị cô lập, tháng 7-1978, Trung Cộng cắt hết viện trợ, rút cố vấn về nước.
Ngày 3-11-1978 Hà Nội ký Hiệp ước hữu nghị với Nga về thương mại văn hóa và cả quốc phòng, an ninh hai nước để phòng thủ chung khiến Bắc Kinh lo ngại thế gọng kìm Nga phương Bắc và CSVN phương nam. Tháng 4 và tháng 9- 1977 Khmer đỏ được Bắc Kinh giúp đỡ khuyến khích đã tấn công vào lãnh thổ VN bằng các sư đoàn chính qui, đốt phá làng mạc, giết hại dân lành. CSVN cũng cho quân đánh sâu vào đất Miên rồi rút lui, cuối 1978 Pol Pốt huy động hàng trăm ngàn ngưới tấn công toàn biên giới, CSVN sau cùng huy động 6 quân đoàn (khoảng 15 sư đoàn,180,000 quân) gồm cả pháo, xe tăng, máy bay… Từ đầu tháng 12-1978 cho tới cuối tháng 3-1979 CSVN đã chiếm đươc gần hết lãnh thổ Miên và thành lập chính quyền mới, cho tới tháng 12-1989 thì rút khỏi Khmer theo điều kiện của Mỹ để được bãi bỏ cấm vận và bang giao. Theo dữ kiện phía CS cho biết có khoảng 15,000 quân CSVN bị giết, 30,000 người bị thương phía Khmer đỏ có hàng trăm nghìn bị tử thương chưa kể thường dân.

Trung Cộng đã khiêu khích biên giới từ lâu nay yêu cầu Hà Nội phải rút khỏi Miên nếu không sẽ đánh thẳng vào VN. Ngày 17-2-1979 họ đưa khoảng từ 300 ngàn tới 500 ngàn quân tấn công trên toàn biên giới, chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng và một số thị trấn khác rồi rút quân một tháng sau vào ngày 16-3. Tổn thất nhân mạng mỗi bên khoảng 20,000 người. Cuộc chiến đã để lại nhiều ảnh hưởng lâu dài với kinh tế VN, cuộc xung đột còn kéo dài hơn 10 năm nữa.

Lê Duẩn người nắm quyền tuyệt đối của Hà Nội đã gây nên nhiều cuộc chiến trong mấy chục năm sau Hiệp định Genève, đồng thời tập đoàn của ông ta đưa ra đường lối sai lầm về kinh tế. Hậu quả của các cuộc chiến tranh liên miên đưa tới khủng hoảng về kinh tế, đời sống. Từ 1976 tới 1986 CSVN bị cô lập, ông Trần Văn Thọ (Giáo sư Đại học Waseda, Đông Kinh) nói về kinh tế thời Lê Duẩn: mười năm sau năm 1975 là một giai đoạn tối tăm nhất trong lịch sử VN. Là một nước nông vi bản, 80% là dân quê, thiếu ăn phải ăn độn bo bo, khoai sắn từ 1976 tới 1979. Lương thực theo đầu người giảm  liên tục từ 1976 tới 1979, sau đó có tăng trở lại nhưng cũng không bằng 1976. Sản xuất công nghiệp đình trệ, vật dụng thiếu, nhân dân vô cùng khốn khổ. Nguyên nhân chính do sai lầm trong chính sách phát triển nhất là vội vã áp dụng mô hình xã hội chủ nghĩa vào kinh tế miền nam. Nguy cơ thiếu ăn kéo dài cho tới thời kỳ đổi mới cuối năm 1986 mới biến chuyển. Tổng sản lượng trong 10 năm trước ngày đổi mới (1976-1986) chỉ thăng 35% (trung bình một năm 3,5%) trong khi dân số tăng 22%, lợi tức đầu người chỉ tăng khoảng 1%. Việt Nam trong khoảng thời gian này được xếp trong số 10 nước nghèo đói nhât thế giới.

Áp dụng mô hình Xã hội chủ nghĩa, một lý thuyết kinh tế mọi rợ từ một xã hội bán khai vào một đất nước tân tiến như miền nam VN thất bại không có gì khó hiểu. Nó cho thấy Lê Duẫn và tập đoàn ấu trĩ lạc hậu là nhường nào, Lê Duẩn một con người thất học và độc đoán, nắm mọi quyền lực trong tay đã tàn phá đất nước và đầy đọa dân tộc ta như thế nào.

Lê Duẫn nói
“Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta”

Xin hãy nghe nhà lãnh đạo học lực tiểu học phát biếu vào dịp Tết 1976 như sau:

“Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh”

Câu nói này của Duẫn chỉ khiến cho dân Sài Gòn cười bể bụng, những cái mà ông ta hứa hẹn họ đã có từ trên mười năm trước
Mồng một Tết 1976, Duẫn về thăm quê tại làng Hậu Kiên, Quảng Trị nói:

“Mồng 1 tết mà tôi đến thăm nhà nào cũng thấy luộc sắn. Bà con ta còn nghèo quá! Trong đời hoạt động cách mạng, tôi đã chịu nghèo khổ, nhưng bây giờ đất nước đã được thống nhất, phải lo làm sao để cho dân giàu lên. Phấn đấu để đồng bào ta, các ông bà già, trẻ con mỗi bữa có một quả trứng, một cốc sữa mà rất khó.”

Thật là ghê tởm cho cái phản văn minh, phản tiến bộ mà Duẩn đem lại cho đất nước.

Được Hồ Chí Minh gọi về Bắc và giúp cho lên giữ chức Bí thư thứ nhất thay thế Trường Chinh năm 1957, Lê Duẫn dần dần trở thành nhân vật số một của chế độ. Duẫn phạm nhiều tội ác với dân tộc VN gấp bội lần HCM, cuộc chiến mà ông ta ngoan cố tiến hành vĩ đại hơn và tàn phá đất nước gấp mười lần cuộc chiến tám năm khói lửa của họ Hồ. Duẫn đã biến VN trở thành quân tốt quá lợi hại của CS quốc tế, đã làm đổ quá nhiều xương máu của nhân dân ta qua ba cuộc chiến liên tục từ 1958 cho tới cuối 1989.
Theo tiết lộ mấy năm gần đây của ông Bùi Tín và một số cựu đảng viên, Lê Duẫn và đồng bọn đã chia chác nhau 18 tấn vàng lấy được từ Ngân hàng quốc gia VNCH năm 1975. Người ta cho biết nay không còn dấu tích gì của số vàng khổng lồ này.
May mà Duẫn chết bệnh để rồi chính sách đổi mới thay thế con đường mọi rợ độc đoán của một nhà lãnh đạo  vô học như ông ta đã kéo dài mấy chục năm đằng đẵng.

Trường Chinh

Tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9-2-1907 tại làng Hành Thiện, Nam Định, mất ngày 30-9-1988 tại Hà Nội. Trường Chinh đã hai lần giữ chức Tổng bí thư, ngoài ra ông giữ chức Chủ tịch nhà nước 1981-1987, Chủ tịch Quốc hội 1960-1981.

Năm 1954, khi Việt Minh về tiếp thu Hà Đông, Hà Nội, bốn nhân vật chính của đảng là Hồ Chí Minh Chủ tịch đảng kiêm chủ tịch nhà nước, Võ Nguyên Giáp Tổng tư lệnh quân đội nhân dân, Trường Chinh Tổng Bí Thư đảng, Phạm Văn Đồng Phó thủ tướng, trong đó Trường Chinh được coi là nhân vật số hai của chế độ. Trường Chinh viết sách báo tuyên truyền cho Việt Minh như một lý thuyết gia của chế độ nhưng thực ra tư tưởng của ông cũng không có gì mới lạ. Ông ta nổi tiếng ở chiến lược trường kỳ kháng chiến nhất định thành công.

Đặng Xuân Khu thuộc gia đình nho giáo, từ nhỏ đã học Tứ Thư, Ngũ Kinh, thơ Đường, lớn lên theo Tây học bậc thành chung (đệ nhất cấp sau này), vì tham gia chính trị nên bị đuổi học năm 1926. Năm 1927 Xuân Khu lên Hà Nội theo học trường Cao đẳng thương mại, năm 1929 Khu vận động thành lập Đông Dương CS đảng và là một trong những đảng viên đầu tiên. Cuối năm 1930 bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù, năm 1936 được trả tự do. Tại hội nghị Trung ương khóa 7 họp tại Bắc Ninh tháng 11-1940, Trường Chinh được bầu vào Ban CHTƯ cùng được cử làm quyền Tổng bí thư thay thế Nguyễn văn Cừ. Tháng 5-1941 tại Hội nghị trung ương lần thứ 8 họp tại Cao Bằng, Trường chinh được bầu Tổng bí thư kiêm trưởng ban tuyên huấn Trung ương, năm 1943 bị Pháp xử tử hình khiếm diện.

Tháng 3-1945, ông triệu tập Hội nghị thường vụ trung ương xác định thời cơ tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị cho Cách mạng tháng tám 1945, tại Hội nghị toàn quốc của đảng do Trường Chinh trụ trì, ông được giao phụ trách ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Cuối năm 1945, đảng CS Đông dương tự tuyên bố giải tán (giả vờ) và chuyển thành Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương do Trường Chinh làm hội trưởng.

Kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, ông viết một loạt bài nổi tiếng rất dài với tựa đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” trên báo Sự thật năm 1947. Võ Nguyên Giáp nhận định bác Hồ là linh hồn của kháng chiến, Trường Chinh là người đề ra đường lối cụ thể, chỉ đạo cụ thể về lý luận. Năm 1951 tại Đại hội đảng lần thứ 2, đổi tên đảng là Đảng Lao động VN, ông lại được bầu vào Ban CHTƯ và giữa chức Tổng bí thư cho tới tháng 10-1956. Báo Cứu quốc đăng bài giới thiệu đánh giá: Hồ chủ tịch là linh hồn của cách mạng thì ông Trường Chinh là bàn tay điều khiển chỉ huy.

Năm 1951 đường lối cải cách ruộng đất được đưa ra trong báo cáo chính trị của Trường Chinh tại Đại hội lần thứ 2, thừa nhận những địa chủ không phản quốc có quyền công dân, quyền tài sản. Năm 1953Việt Minh chiếm ưu thế chiến trường, Trường Chinh được cử làm trưởng ban cải cách ruộng đất Trung ương. Cuộc cải cách ban đầu có kết quả, tịch thu tài sản của bọn phản quốc chia cho bần cố nông.

Sau khi kiểm soát được miền bắc, cuối năm 1954 do áp lực của các cố vấn Tầu, chiến dịch Cải cách ruộng đất được đẩy mạnh tới chỗ tàn bạo, đổ máu, bắn giết..khiến hơn một trăm ngàn người bị thiệt mạng. Trường Chinh phải chịu trách nhiệm và từ chức Tổng bí thư, sau đó ông đứng đầu công tác sửa sai. Năm 1958 Trường Chinh được bổ nhiệm Phó thủ tướng kiêm chủ nhiệm ủy ban khoa học nhà nước. Năm 1960 được bầu vào Ban CHTƯ, Ủy viên Bộ chinh trị, Chủ tịch quốc hội cho tới năm 1976. Sau khi chiếm được miền nam ngày 30-4-1975, Trường Chinh tuyên bố trên đài phát thanh:

“Nay nhà nhà ai nấy đều đã có cơm ăn áo mặc, trẻ em đều được cắp sách đến trường, đó là những thành quả của đảng ta mà qua lịch sử VN từ xưa tới nay chưa ai thực hiện được”

Không hiểu người miền Bắc nghĩ sao về lời nói của ông Chủ tịch quốc hội, người miền nam, dân Sà goòng nghe xong thì họ cười bể bụng!

Năm 1981 ông được bầu vào chức Chủ tịch hội đồng nhà nước, Chủ tịch hội đồng quốc phòng, ngày 14-7-1986 Trường Chinh được bầu làm Tổng bí thư thay thế Lê Duẫn chết bệnh.

Tháng 12-1986 tại Đại hội đảng lần thứ 6 ông rút khỏi các chức vụ quan trọng của đảng và nhà nước, làm cố vấn cho BCHTƯ đảng. Trường Chinh mất ngày 30-9-1988 thọ 81 tuổi. Người ta cho rằng Trường Chinh là người bảo thủ, phụ trách tuyên truyền nhưng chính ông là người phát động đổi mới nhường chỗ cho Nguyễn Văn Linh tại Đại hội 6. Ông ta nói trên truyền hình tôi và đồng chí Lê Đức Thọ xin không ghi danh ứng cử…

Trường Chinh là người tán thành đổi mới nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng 10 năm sau ngày chiếm được miền nam, Võ Văn Kiệt nói Trường Chinh là Tổng bí thư đổi mới. Các cán bộ cao cấp đánh giá Trường Chinh là người đóng góp nhiều cho sự nghiệp cách mạng, tạp chí Cộng sản nói Trường Chinh là Tổng bí thư đặt nền móng cho công cuộc đổi mới, ông được coi là người bảo thủ nhưng cuối đời quan điểm của ông thay đổi thành cấp tiến.

Thực ra theo lời một cán bộ trung cấp, giám đốc hồi hưu (tôi được tiếp xúc năm 1989) cho biết Gorbachov, Tổng bí thư CS Liên xô đã cử người sang làm đảo chính không cho đổ máu. Tôi nghĩ nếu không có sự ép buộc của Liên Xô lớp người bảo thủ như Trường Chinh, Lê Đức Thọ sẽ còn nắm quyền dài dài, đến Tết họ mới chịu thoái vị. Một cố vấn của Trường Chinh phát biểu: Giữa năm 1986 đói khổ, các dự án lớn thất bại, nguyên liệu khan hiếm, lạm phát 300, 400, 500, 700%… Lòng dân hoang mang, trong khi khủng hoảng Trường Chinh quyết định táo bạo đưa đất nước phát triển theo đường lối mới sau khi đã trải qua những sai lầm.

Sự thực ngoài đổi mới ra họ không còn đường nào khác khi Nga bắt đầu từ bỏ CS, từ bỏ kinh tế chỉ huy sang kinh tế tự do. Trong bài “VN từ 1990”, William S. Turley nói về đổi mới của CSVN như sau: sự sụp đổ của Đông Âu khiến CSVN bị cô lập, từ 1985 bắt dầu rút khỏi Căm Phu Chia, tháng 9-1989 rút hết. VN cải thiện quan hệ các nước láng giềng, bang giao với Mỹ từ 1995, cùng năm được gia nhập khối ASEAN cho thấy VN được hội nhập với các nước khác, tái lập hòa bình. Họ tập trung cải cách kinh tế cuối thập niên 80, chính phủ tiến hành những bước thực tiễn, đáp ứng thực trạng trong nước. CSVN đổi mới vì họ không còn con đường nào khác. Những điểm chính đổi mới gồm: luật đầu tư có chút cấp tiến, bãi bỏ hợp tác xã nông nghiệp, chấm dứt bao cấp, giảm bỏ các công ty quốc doanh. Việc làm ở lãnh vực tư gia tăng, đầu tư ngoại quốc tăng, khai thác dầu, sản xuất hàng công nghiệp nhẹ, kỹ nghệ du lịch. Trong thời gian ngắn VN chuyển từ giao thương với các nước CS sang giao thương với Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, Nhật…

Đó là cái nhìn của Tây phương về đổi mới.

Từ ngày CSVN thành hình cho tới cuộc chiến chống Pháp, Trường Chinh luôn là cánh tay phải đắc lực của họ Hồ, của đảng. Gần cuối năm 1956 ông ta từ chức Tổng bí thư vì cải cách ruộng đất, Lê Duẩn lên thay.

Nếu không có Cải cách ruộng đất, Trường Chinh vẫn làm Tổng bí thư, ông ta không chống Tầu như Lê Duẫn, tôi nghĩ cuộc chiến sẽ nhỏ hơn trong những năm 1965, 1966, 1967… không đẫm máu như thời Lê Duẫn và chắc sẽ không có cuộc chiến Việt- Miên, Việt-Hoa cuối thập niên 70.

(còn tiếp)

© Đàn Chim Việt

———————————————————-

(1) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 15
(2) Quân sử 4, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đọan hình thành 1946-1955, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH năm 1972, trang 22
(3) Street Without Joy trang 32
(4) Henri Navarre, Agonie de l’Indochine trang 47
(5) Wikipedia, Yahoo.fr: Guerre d’Indochine
(6) BBC.Vietnamese.com ngày 10-5-2006: Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh. Đăng Phong, Năm Đường Mòn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí thức Hà nội 2008, trang 120, 121
(7) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 20, 21.

(8) Cao Văn Viên, Những ngày cuối VNCH trang 92

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

► Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [2]

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

Từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Tấn Dũng [2]

Tiếp theo phần I

 

Ảnh VietNamNet

Nguyễn Văn Linh

Sinh ngày 1-7-1915, mất 27-4-1998, là Tổng bí thư CSVN từ 1986 tới 1991, người mở đường có công với đổi mới của kinh tề VN, tên thật là Nguyễn Văn Cúc.

Sinh tại xã Giai Phạm, Hưng Yên BV xuất thân gia đình công chức. Ngày 1-5-1930 Nguyễn Văn Linh bị Pháp bắt vì tội tuyên truyền chống Pháp bị tù Côn đảo cho tới 1936 được thả, cùng năm được kết nạp vào đảng CS Đông Dương. Ông hoạt động ở Hải Phòng, sau chuyển lên hoạt động ở Hà Nội, vào Sài Gòn dưới quyền bí thư Sài Gòn Nguyễn Thị Minh Khai.
Năm 1939 ông được điều ra miền Trung, năm 1941 NVL bị bắt ở Vinh và bị đầy đi Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1945 ông hoạt động ở miền tây Nam bộ, sau đó ở Sài Gòn Chợ Lớn với cương vị bí thư thành ủy Sài Gòn. Năm 1947 Linh là thường vụ xứ ủy Nam bộ, năm 1955-1960 ông là Đặc khu uỷ Sài Gòn Gia Định. Năm 1957-1960 ông là quyền bí thư xứ ủy Nam bộ, năm 1960 tại Đại hội đảng lần thứ 3, được bầu vào BCHTƯ (1961-1964) làm Bí thư rồi Phó bí thư Trung ương cục miền nam.

Năm 1976 NVL làm Bí thư thành ủy TP Hồ chí Minh, tháng 12-1976 tại Đại hội 4 ông được vào BCHTƯ Bộ chính trị. Tại Đại hội 5 ông ta rút khỏi Bộ chính trị vào Sài Gòn làm Bí thư thành ủy năm 1981 thay Võ Văn Kiệt. Tháng 6-1986 khi Trường Chinh làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh được bầu vào Ban bí thư Trung ương đảng, sau vào Bộ chính trị. Tháng 12-1986, tại Đại hội 6 NVL được bầu vào BCHTƯ, Ủy viên bộ chính trị, giữ chức Tổng bí thư đảng kiêm đảng ủy quân sự trung ương (1987).

Từ đây bắt đầu giai đoạn đổi mới, cởi mở của CSVN, sau nhiệm kỳ Tổng bí thư (1986-1991) ông xin lui không ứng cử nhiệm kỳ tiếp theo, ông mất năm 1998, thọ 83 tuổi. Khi còn là Bí thư thành ủy TP HCM, NVL thực hiện xóa bỏ quản lý tập trung quan liêu bao cấp. Trong nhiệm kỳ làm TBT, NVL góp phần xoay chuyển tình thế mở đường cho đổi mới. Ông ta đưa ra quan niệm mới, ý tưởng mới cách làm mới, bỏ chế độ giai cấp lãnh đạo đi máy bay riêng, đi xe gắn máy lạnh, ông chống cái cũ, chống bảo thủ, giáo điều.

Trong một bài đăng tháng 6-1987, Nguyễn Văn Linh nói sau Đại hội 4 phát động nói thẳng nói thật, cho phê bình sửa chữa, chống trì trệ công khai đăng báo, phổ biến trên đài phát thanh nói về các sai lầm kể cả của cán bộ cao cấp. Về vấn đề đổi mới ông nói: chủ trương đổi mới toàn diện , đúng định hướng xã hội chủ nghĩa với cách làm thích hợp, phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chống tham nhũng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Có người đánh giá Nguyễn Văn Linh lội ngược dòng chính trị, lịch sử. Ông ta vực dậy kinh tế TP HCM, là người đóng góp to lớn cho cách mạng. Phó giáo sư tiến sĩ Đào Công Tiến giảng nghĩa “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tiến tới mục tiêu chống áp bức bóc lột bất công, tiến tới ấm no hạnh phúc…

Nhưng trên thực tế XHCN tại VN ngày nay đầy rẫy bất công áp bức, bóc lột, bọn thống trị ăn trên ngồi chốc, cha truyền con nối, chỉ có con ông cháu cha, con cái đảng viên được hưởng mọi ưu quyền đặc lợi ấm no hạnh phúc.

Đỗ Mười

Sinh ngày 2-2-1917 tên thật là Nguyễn Duy Cống, Tổng bí thư đảng CSVN từ tháng 6-1991 tới tháng 12-1997. Sinh trưởng trong một gia đình trung nông, lớn lên làm thợ sơn, năm 1936 tham gia Mặt trận dân chủ Đông Dương, năm 1939 gia nhập đảng CS Đông Dương, năm 1941 bị giam 10 năm tại Hỏa lò.

Năm 1945 Nguyễn Duy Cống vượt ngục tham gia khởi nghĩa tỉnh Hà Đông, sau cách mạng tháng tám, Cống giữ chức bí thư tỉnh ủy Hà Đông. Sau đó làm tỉnh ủy Hà Nam , bí thư tỉnh ủy Nam Định, bí thư Ninh Bình, Chính ủy kiêm tư lệnh liên khu 3. Năm 1955 Cống làm Bí thư thành ủy Hải Phòng, tháng 3-1955 Ủy viên dự khuyết trung ương đảng, năm 1956 Thứ trưởng Bộ nội thương. Năm 1960 Cống được bầu làm Ủy viên trung ương đảng khóa 3, đại biểu quốc hội khóa 2.

Năm 1961-1969 Cống làm Chủ nhiệm ủy ban vật giá nhà nước, năm 1969 làm Phó thủ tướng chủ nhiệm văn phòng kinh tế phủ Thủ tướng, năm 1971 Đại biểu quốc hội khóa 4, Phó thủ tướng. Năm1973 ông giữ chức Bộ trưởng bộ xây dựng, năm 1976 được bầu Ủy viên trung ương đảng, ủy viên dự khuyết Bộ chính trị. Năm 1977 ông giữ chức Phó thủ tướng, Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp XHCN, Phụ trách Cải tạo công thương nghiệp miền nam VN.

Năm 1981 Đỗ Mười làm đại biểu quốc hội khóa 7, Phó chủ tịch hội đồng bộ trưởng, năm 1982 ông được bầu vào Trung ương đảng, ủy viên Bộ chính trị. Năm 1988 ông làm Chủ tịch hội đồng bộ trưởng, năm 1991 được bầu làm Tổng bí thư trung ương đảng khóa 7, năm 1986 được bầu Tổng bí thư khóa 8, tháng 12-1997 ông từ nhiệm chức Tổng bí thư chuyển sang làm cố vấn trung ương đảng.

Đỗ Mười cổ võ đổi mới nhưng không thay cơ cấu chính trị, ông ta nói với báo chí: đảng ta vẫn theo xã hội chủ nghĩa, con đường duy nhất đúng. Đỗ Mười bị chỉ trích vì gây ra thảm kịch đánh tư sản ngày 23-3-1978 khi ông làm Phó thủ tướng Trưởng ban Cải tạo công thương nghiệp. Mười cho khoảng 60 ngàn đoàn viên Thanh niên CS đi khắp nơi (tại miền nam) đóng cửa kiểm kê các nhà tư sản rồi lấy nhà đuổi đi kinh tế mới, thời gian này có tới mấy chục ngàn cơ sở thương mại bị đóng cửa trong một ngày.
Chiến dịch thất nhân tâm này khiến nhiều người phải tự tử và đi vượt biên, một cuộc ăn cướp vĩ đại trắng trợn, trấn lột tài sản các thương gia để bỏ túi chia chác nhau, lấy nhà phân phối cho các đảng viên từ ngoài Bắc vào. ước lượng có hai triệu người đi vượt biên, mấy trăm nghìn người thiệt mạng ngoài biển khơi.

Sau này Đỗ Mười bị kết án là người đã gây ra thảm kịch kinh tế miền nam sau 1975, đây là một kế hoạch ngu xuẩn khi đem một chủ nghĩa kinh tế mọi rợ, lạc hậu áp dụng vào một xã hội tấn tiến tại miền nam VN. Thập niên 50 Mười là người xử lý chuyên môn địa hạt kinh tế nhưng chỉ đối với một nền kinh tế lạc hậu bán khai. Những năm 1976-1979 ông ta thất bại trong việc tổng hợp hai nền kinh tế Bắc-Nam. Với cương vị người phụ trách cải tạo công thương nghiệp miền nam, ông ta toàn quyền như vua đã dồn hai nền kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa làm một. Những người chống Đỗ Mười kết án ông này chịu trách nhiệm nhiều nhất cho sự thất bại thê thảm nền kinh tế hậu chiến 1976.

Lê Khả Phiêu

Ông giữ chức Tổng bí thư CSVN từ tháng 12-1997 tới tháng 4 -2001, là người kế nhiệm Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu cũng là một Tướng lãnh cấp bậc Thượng tướng, Chủ nhiệm cục chính trị.

Phiêu sinh ngày 27-12-1931 ở ở làng Thượng Phúc, Thanh Hóa, năm 1945 tham gia phong trào Việt Minh, gia nhập đảng CSĐông Dương năm 1949. Đầu tháng 5-1950 ông gia nhập quân đội đi từ binh nhì lên chính trị viên đại đội. Từ 1954 tới 1958 giữ chức chính trị viên tiểu đoàn rồi trung đoàn,1966 giữ chức Chính ủy kiêm trung đoàn trưởng TĐ 9 sư đoàn 304.

Năm 1967 ông được điều động vào chiến trường Trị Thiên làm Chính ủy trung đoàn 9, năm 1970 giữ chức Phó chủ nhiệm chính trị quân khu Trị Thiên. Tháng 5-1974, khi Quân đoàn hai được thành lập ông được cử giữ chức chủ nhiệm cục chính trị Quân đoàn, cấp bậc Thượng tá.

Năm 1978 ông giữ chức Phó tư lệnh Quân khu 9, cấp bậc Đại tá, tháng 4-1984 được thăng Thiếu tướng giữ chức Phó tư lệnh chính trị kiêm chủ nhiệm chính trị, Phó bí thư ban cán sự Bộ tư lệnh quân tình nguyện VN tại Campuchia. Tháng 8-1988 CSVN rút quân, Lê Khả Phiêu được thăng Trung tướng, về làm Phó chủ nhiệm tổng cục chính trị. Tháng 9-1991ông giữ chức Chủ nhiệm tổng cục chính trị Quân đội nhân dân, năm 1992 được phong Thượng tướng.

Tháng 6-1992 tại Hội nghi BCHTƯ lần thứ 13, ông được bầu vào Ban bí thư trung ương đảng. Tháng 1-1994 tại Hội nghị toàn quốc, LK Phiêu được bầu vào Bộ chính trị, tháng 6-1996 được bầu ủy viên thường vụ Bộ chính trị

Ngày 26-12-1997 tại Hội nghị trung ương lần thứ 4, BCHTƯ đảng (khóa 8) Lê Khả Phiêu được giữ chức Tổng bí thư BCHTƯđảng CSVN, cũng là đại biểu qốc hội khóa 9, 10.

Trong một bài đăng trên BBC.Vietnamese ngày 22-6-2006 (Sự ra đi của một Tổng bí thư) có nói: tại Đại hội đảng lần thứ 9 của CSVN (từ 19-4 đến 22-4-2001) Lê Khả Phiêu bị hạ bệ, Nông Đức Mạnh được cử lên thay. Đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu bị nội bộ đảng chỉ trích.

Bộ chính trị bỏ phiếu tỷ lệ 12/6 đồng ý để ông Lê Khả Phiêu ở lại tới năm 2003 nhưng ngày 17-4, tại cuộc họp các đại biểu (toàn quốc) trước khi chính thức khai mạc đại hội 9 đã đảo ngược quyết định của Bộ chính trị và bỏ phiếu hạ bệ Tổng bí thư.

Lê Khả Phiêu giữ chức TBT từ 1997 bị cáo buộc là người có nhiều tham vọng, muốn làm Tổng bí thư kiêm luôn Chủ tịch nước (y như bác Hồ). Phiêu bị tai tiếng là người bè phái, bổ nhiệm nhiều người xứ Thanh Hóa, ngoài ra bị cáo buộc đã dùng tình báo quân đội để theo dõi các Ủy viên bộ chính trị. Dưới thời Lê Khả Phiêu, kinh tế bị thoái trào, tham nhũng mạnh, đầu tư nước ngoài vào VN giảm từ 4 tỷ đô la năm 1998 xuống còn 1,48 tỷ năm 1999.

LKP không muốn cải tổ doanh nghiệp quốc doanh cùng những lời phát biểu ý thức hệ của ông khiến ông bị kết án là bảo thủ và ngả về Trung Quốc. Tại Hội nghị Bắc Kinh, Lê Khả Phiêu nhượng bộ Trung Cộng về sự phân định vịnh Bắc Bộ không có sự chấp thuận trước của Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương và cả Bộ ngoại giao. Phiêu không tôn trọng những người đã đưa ông lên làm lãnh đạo, năm 1997 ông lên giữ chức Tổng bí thư chủ yếu là do Lê Đức Anh bảo trợ.

Tháng 4-2001 ban cố vấn gồm Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh đã gây sức ép buộc Lê Khả Phiêu phải ra đi. Phiêu đã tính bãi bỏ chức cố vấn nhưng họ đã ra tay trước, ông ta không có quan hệ tốt với các ủy viên Bộ chính trị, xì căng đan nghe lén, và bị cáo buộc quá thân Tầu.

Hệ thống chính trị CSVN đã thay đổi, trước đây thế hệ lãnh đạo có các quan hệ bảo trợ (tức tay chân thân tín) và quan hệ rộng trong ba lãnh vực đảng, quân đội và nhà nước. Thế hệ lãnh đạo gần đây không sở hữu một hệ thống quyền lực như thế. Lê Khả Phiêu không mạnh như Lê Duẫn nên đã bị hạ bệ, ông ta không củng cố được một nền móng quyền lực mạnh.

Nông Đức Mạnh

Ông làm Chủ tịch quốc hội từ 1992-2001, sinh ngày 11-9-1940 tại xã Cường Lợi, Bắc Kạn, xuất thân nông dân, dân tộc Tày.
Mạnh tham gia cách mạng từ 1958, vào đảng CS ngày 5-7-1963, từ 1958-1961 học trường trung cấp Nông lâm Hà Nội. Hai năm sau ông làm công nhân lâm nghiệp ty lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 1967-1971 Mạnh du học về lâm nghiệp tại Leningrad Liên sô. Năm 1972-1973 ông về nước làm Phó ban thanh tra ty lâm nghiệp, năm 1973-1974 làm Giám đốc lâm trường Phú Lương, năm 1974-1976 theo học trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Năm 1976-1978 Mạnh làm Tỉnh ủy viên, trưởng ty lâm nghiệp Bắc Thái, năm 1980-1984 làm Tỉnh ủy viên, Phó chủ tịch ủy ban nhân dân Bắc Thái, từ 1984-tháng 10/1986 giữ chức Chủ tịch ủy ban nhân dân Bắc Thái.

Từ tháng 11-1986 tơi tháng 2-1989 Mạnh giữ chức Tỉnh ủy Bắc Thái, Ủy viên dự khuyết trung ương đảng, tháng 3 -1989 tại Hội nghị BCH trung ương khóa 6, Mạnh được vào Ủy viên chính thức trung ương đảng. Tháng 11-1989 được bầu bổ sung đại biểu quốc hội. Tháng 6-1991,tại Đại hội 7 Trung ương đảng, Mạnh được bầu vào Bộ chính trị. Tháng 9-1992 Nông Đức Mạnh được bầu làm Chù tịch quốc hội khóa 9, tháng 9-1997 Chủ tịch quốc hội khóa 10, tháng 1-1998 được phân công thường vụ Bộ chính trị.
Tháng 4-2001, tại Đại hội toàn quốc khóa 9 Nông Đức Mạnh được bầu vào BCHTƯ và Tổng bí thư Ban CHTƯ. Tháng 4-2006, tại Đại hội 10, Mạnh lại được bầu làm Tổng bí thư đảng.

Có tin đồn Nông Đức Mạnh là con không chính thức của Hồ Chí Minh và Nông Thị Trưng (1920-2003) đã là quản gia của “bác” những năm 1941, 1942, chuyện này có thể là lý do ông được đưa lên ngôi vị Tổng bí thư. Một tờ báo tóm lược thân thế Nông Đức Mạnh sau khi ông này được giữ chức Tổng bí thư, bà Trưng được coi là mẹ ông.

Ngày sinh trong tiểu sử chính thức của NĐM là 11-9-1940 khi ấy ông Hồ còn ở bên Tầu, về VN tháng 2-1941 và gặp bà Trưng tháng 7-1941. HCM có làm một bài thơ tặng cho Trưng năm 1944 và tặng bà này một cuốn sổ, ông đề một hàng chữ “Tặng cháu Nông Thị Trưng để chúc cháu học tập tốt”. Bài thơ ấy sau được dậy cho các học sinh tiểu học. Tháng 4-2001 một ký giả hỏi ông trong một cuộc họp báo xin ông xác nhận lời đồn thì ông đáp: “Mọi con dân VN đều là con cháu bác Hồ”. Tháng giêng năm 2002, một ký giả của báo Time Asia lại hỏi ông về tin đồn này, ông phủ nhận không phải là con của bác Hồ và cha ông tên là Nông Văn Lai, mẹ ông Hoàng Thị Nhị.

Trong bài VN từ 1990, William S. Turley có nói về Nông Đức Mạnh: (Lê Khả Phiêu) bất lực vì tham nhũng và tăng trưởng trì trệ khiến các nhà lãnh đạo quyết định thay Lê Khả Phiêu bằng Nông Đức Mạnh vào tháng 4-2001. Ông này bắt tay vào việc bài trừ tham nhũng, hội nhập nhiều hơn vào kinh tế toàn cấu. Tổng sản lượng (GDP) lại tăng mạnh, giao thương với Mỹ được tái lập. Cuối năm 2006, VN được chấp thuận trở thành hội viên thứ 150 của WTO, tổ chức thương mại quốc tế kể từ tháng giêng 2007.

Nguyễn Tấn Dũng

Thủ tướng đương nhiệm CSVN, ông là Thủ tướng nhiều quyền lực nhất của CSVN từ trước đến nay. Trước đây đảng chỉ huy nhà nước, nhưng dần dần trong cơ chế CSVN đảng nới bớt sự kiểm soát chính phủ, vai trò chỉ đạo của đảng đã mờ nhạt dần.

Dũng sinh ngày 17-11-1949 tại cà Mâu, còn gọi là Ba Dũng. Năm 1961 tham gia bộ đội, làm liên lạc viên, rồi cứu thương, y tá, y sĩ. Các chức vụ đã giữ: tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó, ngày 10-6-1967 gia nhập đảng lao Động VN. Năm 1969 Dũng cấp bực trung úy, đã thoát chết trong một trận càn quét của địch tại Cà Mâu. Ngày 30-4-1975, Ba Dũng cấp bậc trung úy, chính trị viên đại đội quân y Rạch Giá. Sau 1975, Ba Dũng giữ các cấp bậc chức vụ Thượng úy, chính trị viên tiểu đoàn, Đại úy, chủ nhiệm chính trị trung đoàn, Thiếu tá, trưởng ban cán bộ Kiên Giang.

Tháng 10-1981, Ba Dũng phục viên (giải ngũ) tham gia chính trị, giữ các chức vụ Tỉnh ủy Kiên Giang, Bí thư đảng ủy quân sự Kiên Giang. Tháng 1-1995 Ba Dũng giữ chức Thứ trưởng bộ nội vụ, được bầu Ủy viên trung ương đảng tại đại hội lần 6 (1986) và lần 7 (1991). Ngày 1-7-1996 ông được bầu làm Ủy viên bộ chính trị, Bí thư BCHTƯ, Trưởng ban kinh tế trung ương.

Tháng 9-1997 Đại biểu quốc hội khóa 10, Thủ tướng PhanVăn Khải cử NTDũng làm Phó thủ tướng, Chủ tịch hội đồng tài chính. Tháng 5-1998 Quốc hội thông qua cử Ba Dũng làm Tống đốc ngân hàng nhà nước và giữ chức vụ này cho tới 1999. Ngày 16-5-2006 Thủ tướng Phan Văn Khải đề cử Nguyễn Tân Dũng thay ông ta tại kỳ họp thứ 9 của Quốc hội ngày 27-6-2006 và ông được bầu làm tân Thủ tướng trẻ nhất trong 20 năm trước đó. Ngày 25-7-2007, kỳ họp Quốc hội khóa 12 Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục được ủng hộ bầu làm Thủ tướng với tỷ lệ 96,96%. Ngày 26-7-2011 Nguyễn Tấn Dũng tái đắc cử Thủ tướng nhiệm kỳ 2 tại kỳ họp Quốc hội thứ 13 với tỷ lệ 94%.

Về đối ngoại, Nguyễn Tân Dũng là một nhân vật cải cách, VN trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế Quốc tế WTO. Trong cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008-2009, lạm phát tại VN cao nhất khu vực 25%. Nguyễn Tấn Dũng đã thông qua gói kích cầu 8 tỷ đô la nhưng bị coi là thất bại không đạt mục đích, các khu vực không khởi sắc ngoại trừ thị trường chứng khoán. Thâm hụt ngân sách lên 8% so với 5% năm 2008. Tới 2010 ảnh hưởng tệ hại hơn: bội chi ngân sách báo động, dự trữ ngoại hối quá thấp, bất ổn kinh tế vĩ mô, lạm phát tăng cao, chính sách thắt chặt tiền tệ gây khó khăn kinh tế, Quĩ tiền tệ quốc tế IMF và Ngân hàng thế giới WB đề nghị VN thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô. Ngày 20-10-2012 Nguyễn Tấn Dũng xin lỗi trước Quốc hội về những yếu kém, khuyết điểm của chính phủ trong sự lãnh đạo, quản lý, điều hành.

Ngày 11-6-2009 lần đầu tiên một Thủ tướng của CSVN bị thưa kiện, Luật sư Cù Huy Hà Vũ kiện ông Dũng vi hiến về ký quyết định khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên VN vì có luật bảo vệ môi trường nhưng tòa án Hà Nội đã bác đơn kiện này.

Trong nhiệm kỳ đầu của Nguyễn Tấn Dũng kinh tế bị bất ổn nghiêm trọng gồm nhiều rủi ro suy thoái, kinh tế VN bất ổn nhiều so với các nước trong khu vực. Nguyễn Tấn Dũng bị đặt câu hỏi về khả năng quản lý kinh tế, trước khi ông ta làm Thủ tướng (năm 2006) tốc dộ tăng trưởng khả quan như sau:

7,08% năm 2002, 7,34% năm 2003, 7,79% năm 2004 và 8,44% năm 2005. Khi Nguyễn Tấn Dũng làm Thủ tướng Tổng sản lượng quốc gia giảm mạnh: năm 2007 đạt tỷ lệ 8,23%, năm sau 2008 tỷ lệ xuống 6,31%, năm 2009 xuống còn 5,32%, năm 2010 tăng chút đỉnh 6,78%, năm 2011 khoảng hơn 5% . Lạm phát tăng cao nhất châu Á, đời sống nhân dân khó khăn, mức thu nhập giai đoạn 2008-2010 tăng bình quân 9,3% nhưng lạm phát lên cao 40%. Nguyễn Tấn Dũng phá giá tiền tệ 4 lần trong vòng 14 tháng tính tới ngày 13-2-2011.

Trong kỳ họp Quốc hội khóa 13 Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận có sai lầm trong quản lý kinh tế. Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Đại sứ VN tại Trung Cộng (1974-1987) chỉ trích Dũng không không có năng lực quản lý xã hội, kinh tế, các tập đoàn kinh tế Vinashin, Vinalines … đã thất thoát hằng nghìn tỷ của nhân dân. Nguyễn Trọng Vĩnh cũng chỉ trích Nguyễn Tấn Dũng độc đoán, độc tài.

Từ một sĩ quan cấp úy năm 1975 Nguyễn Tấn Dũng đã leo lên đỉnh cao quyền lực, một phần vì cơ chế chinh trị đổi thay, đảng không còn chỉ huy nhà nước mạnh như xưa. Vai trò của đảng bị lu mờ, lịch sử sang trang, nay việc kết nạp đảng viên khó khăn, đảng đã phải tổ chức vũ sexy khêu gợi mà vẫn ế khách. Theo nhận xét của William S. Turley (trong bài VN từ 1990) thì hiến pháp mới (CSVN) năm 1992 như một bước tiến về việc đảng nới lỏng sự kiểm soát chính quyền (… a new constitution enacted in 1992 was seen as a step toward loosening party control of the government…) . Ngoài ra một phần do Ba Dũng khôn ngoan cài đặt tay chân thân tín vào trong bộ máy công an và quân đội mà danh từ CS gọi là người bảo trợ.

Giống như Đặng Tiểu Bình thập niên 70, 80, 90 trước đây dù chỉ là Phó thủ tướng, Phó chủ tịch đảng nhưng thực sự năm vận mệnh nước Tầu, Nguyễn Tấn Dũng là người lãnh đạo đất nước CSVN hiện nay mặc dù ông ta không phải là Chủ tịch nước hay Tổng bí thư đảng. Theo trang mạng Dân Làm Báo, ông Ba đang cài đặt thân tín bộ hạ tại các địa phương để đoạt nhiều phiếu trong kỳ Đại hội tới và sẽ nắm luôn chức Tổng bí thư cũng như Chủ tịch nước.

Nay Tổng Sản lượng quốc gia VN trong khoảng từ 180-187 tỷ, đứng vào khoảng từ thứ 55-57 (9) trên thế giới, tăng trưởng kinh tế khoảng 6% năm 2014, 2015. Lợi tức đầu người khoảng 2000 đô la một năm (10) (gần bằng 1/3 lợi tức Tầu), đứng thứ khoảng từ 130-138 trong số 180 nước trên thế giới. VNCS hiện là một nước nghèo đói lạc hậu, sản xuất cũng như xuất cảng còn yếu kém, trên thực tế chỉ làm gia công cho các nước đầu tư. Các nguồn lợi chính là tiền Việt kiều gửi về khoảng 13 tỷ đô la một năm (con số do nhà nước đưa ra) khai thác dầu khí, tài nguyên thiên nhiên, đầu tư nước ngoài, dịch vụ….Mặc dù được quốc tế trợ giúp nhiều nhưng giới lãnh đạo phí phạm tài nguyên, tham nhũng, quản lý tồi khiến cho nền kinh tế lụn bại không khá nổi.

So với các nước lân bang tại Đông nam Á về mặt kinh tế, người ta ước lượng nước VNCS sẽ phải mất khoảng từ 15 tới 20 năm để theo kịp Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông…và khoảng 10 năm để theo kịp Thái Lan, Mã lai.. cũng như khoảng 7 năm để theo kịp Phi luật Tân, Nam Dương…Hiện nay mức sống còn thua cả Miên, Lào.

Tài sản tập trung tay một số người mà hầu hết là các viên chức, đảng viên cao cấp, những người này sở hữu hằng tỷ đô la gồm tiền ký gửi tại ngoại quốc, đất đai, khách sạn, cơ sở dịch vụ, xí nghiệp…. Những người có mức sống cao đa số đảng viên hoặc có liên hệ họ hàng với cán bộ. Tại Đông Nam Á nay chưa có nước nào chênh lệch giầu nghèo ghê tởm như tại nước Xã hội chủ nghĩa (giả hiệu) VN. Nhà giầu không ai khác hơn là các nhà tư sản đỏ, đảng viên, họ kinh doanh làm ăn lớn rồi chuyển những số tiền khổng lồ ăn cắp của nhân dân ra nước ngoài.

Ví như khi ta gửi 100 đô la qua dịch vụ cho thân nhân ở VN, không phải rằng họ đưa số tiền đó về nước mà họ sẽ lấy số tiền tiền này tại VN đưa cho thân nhân ta và số tiền ta gửi sẽ được đưa vào trương mục của tư sản đỏ tại Mỹ. Nước mưa xuống suối lại xuôi về nguồn, người Mỹ vừa được tiếng nhân đạo, họ lại chẳng mất gì. Con cháu Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẫn, Nguyễn Tấn Dũng…đều được du học bên Nga, Âu Mỹ, họ toàn là phú gia địch quốc, con rể Ba Dũng mới mua đội banh hai trăm triệu đô tại Mỹ.

Phó GS Tiến sĩ Đào Công Tiến đã giảng “định hướng xã hội chủ nghĩa” là tiến tới mục tiêu con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, đạt được cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc; nhân dân lao động làm chủ.

Hoàn toàn láo khoét, chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ bóc lột, áp bức kinh tởm nhất trong lịch sử nhân loại, hồi xưa tại miền nam người ta hay nhắc câu ngạn ngữ:

“Bọn thực dân, phong kiến, tư bản làm thịt lợn chúng ăn thịt nạc, nhân dân còn có miếng xương mà gặm, thằng Cộng sản nó ăn cả cứt, nhân dân không có đến một miếng xương”

Cương lĩnh 1991 của Đảng khẳng định rõ xã hội XHCN là một xã hội có nền kinh tế phát triển cao; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhưng trên thực tế đạo đức xã hội VN nay hoàn toàn băng hoại, đĩ điếm trộm cướp, xì ke ma túy… tràn lan khắp nơi. Người ta ước lượng một khi chế độ CS sụp đổ, phải mất vài thế hệ mới xây dựng lại xã hội lành mạnh như trước.
Hình thành 1945, CSVN sống sót và lớn mạnh từ khi Mao chiếm được Hoa Lục 1949, 50. Họ đã làm đổ quá nhiều xương máu của nhân dân để theo tiến lên chủ nghĩa xã hội chết đói, nay quay đầu lại kinh tế tự do.

Nhiều người nói Việt Nam xấu hổ vì có đảng Cộng sản

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

—————————————————————-
(9) List of countries by GDP (nominal), Wikipedia
(10) List of countries by GDP (nominal) per capita Wikipedia

Posted in Hội Nghị Thành Đô 1990, Nhan Vat Chinh tri, Uncategorized, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?

Posted by hoangtran204 trên 17/09/2015

VOA

Lê Anh Hùng

14-9-2015

Công ty Hoa Tây Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn hai của dự án.

Tháng 6/2006, Bộ Kế hoạch – Đầu tư chính thức cấp giấy phép đầu tư cho dự án khu du lịch và giải trí quốc tế đặc biệt tại Đà Nẵng cho Công ty Silver Shores, một Cty Mỹ ở California, tổng vốn đầu tư 160 triệu USD.

Với hai giai đoạn đầu tư, Cty TNHH Đầu tư và Phát triển Silver Shores, pháp nhân thực hiện dự án, được giao ngót 1km dọc theo bờ biển Sơn Trà – Điện Ngọc, nay là đường Võ Nguyên Giáp. Nếu tính  khoảng cách trung bình từ đường Võ Nguyên Giáp đến bờ biển là 300m thì diện tích đất mà chủ đầu tư được giao phải lên tới 30ha.

30ha đất, chạy dọc theo 1km bờ biển, toạ lạc ở trung tâm một thành phố quan trọng bậc nhất như Đà Nẵng, đối diện với sân bay Nước Mặn… rõ ràng đây là một địa điểm hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng.

Ngay từ giai đoạn khởi công, dự án này đã có nhiều khuất tất, mờ ám, khiến dư luận rất lo ngại. Tất cả các khâu của dự án, từ thiết kế, thi công, giám sát đều do nhà thầu Trung Quốc đảm trách. Người Việt Nam không được phép bén mảng vào trong khu vực thi công; ô tô của người Việt Nam chở vật liệu xây dựng cho công trình cũng phải dừng lại và đổ hàng ở cổng. Các toà nhà được đúc bằng bê tông cực kỳ kiên cố, không phải xây bằng gạch thường.

'Tiểu quốc' Silver Shores của Đại Hán ở Đà Nẵng (ảnh: Lê Anh Hùng)

Hiện nay, “nhà đầu tư” Silver Shores đang thực hiện giai đoạn hai của dự án. Và, giống như giai đoạn 1, tất cả các khâu của dự án, từ thiết kế, thi công, giám sát cũng đều do người Trung Quốc đảm trách. Nhà thầu thi công là Cty TNHH Hoa Tây Tứ Xuyên, một Cty con của Cty Hoa Tây Trung Quốc.

Cty Hoa Tây Trung Quốc đang thực hiện giai đoạn hai của dự án

Người Trung Quốc đang làm gì bên trong bức tường rào và cánh cổng im lìm trên khu đất mặt biển dài 1km và rộng 30ha ngay trung tâm Đà Nẵng?

Không chỉ là chủ đầu tư của dự án hết sức nhạy cảm nói trên, Cty Silver Shores còn nhắm đến nhiều vị trí nhạy cảm khác mà báo chí đã nêu:

ham gia góp vốn vào dự án khu nghỉ dưỡng World Shine trên đèo Hải Vân (nay đã tạm dừng trước sự phản đối gay gắt của dư luận); xin thực hiện dự án tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu vực bán đảo Sơn Trà (1 trong 3 vị trí phòng thủ quan trọng nhất khu vực Đà Nẵng là Hải Vân – Sơn Trà – Phước Tường), dự án “Khu ký túc xá cho nhân viên Silver Shores” (nằm giữa hai trận địa pháo phòng không của thành phố), dự án “Khu phức hợp bến cảng du thuyền trên sông Hàn” tại khu vực cảng cá Thuận Phước (cũ) thuộc phường Thuận Phước (quận Hải Châu), dự án “Tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu bán đảo Sơn Trà và mở rộng phạm vi du thuyền 20 hải lý”, dự án “Chuyên canh rau sạch” tại thôn Cẩm Toại Tây (xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang; nằm trên đường rút lui chiến lược quốc phòng), v.v.

Một trong những khách sạn của người Trung Quốc nằm đối diện khu du lịch Silver Shores trên đường Võ Nguyên Giáp, Đà Nẵng

Hai bên con đường mang tên Võ Nguyên Giáp, ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, đang dần trở thành một “đặc khu Trung Quốc” Hai bên con đường mang tên Võ Nguyên Giáp, ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, đang dần trở thành một “đặc khu Trung Quốc”

Những người lái xe taxi trước sòng bài cho chúng tôi biết, các khu đất đối diện với khu du lịch và sòng bài Silver Shores bên kia đường Võ Nguyên Giáp đều đã được bán cho người Trung Quốc. Trong tương lai, nơi đây sẽ hình thành một khu phố Tàu, hay đúng hơn là một “đặc khu Trung Quốc” giữa lòng thành phố Đà Nẵng.

Đến đây thì có lẽ ngay cả những ai ngây thơ nhất cũng phải đặt câu hỏi: Vậy Silver Shores là Cty của Mỹ hay của Trung Quốc?

Theo trang Bizapedia và trang Businesses California thì Silver Shores Ltd. được thành lập ngày 22/11/2004 tại California; địa chỉ: 1440 142Nd Ave, San Leandro Ca 94578; hiện đã giải thể. Trụ sở chính của Cty: Unit D, 12/F., Seabright Plaza, 9-23 Shell Street, North Point, Hong Kong, China 94578.

Trang California Corporates cho biết Silver Shores Ltd. được đăng ký thành lập ngày 22/11/2004; địa chỉ: 1440 142Nd Ave, San Leandro Ca 94578; Cty mẹ là Silver Shores Ltd., tại địa chỉ Unit D, 12/F., Seabright Plaza, 9-23 Shell Street, North Point, Hong Kong, China 94578.

Theo trang AMFIBI thì Cty Silver Shores Ltd. ở California có doanh thu hàng năm từ 725.000 – 750.000USD, với số nhân sự dao động từ 1–4 người.

Trang Buzzfile cho biết nhân sự của Silver Shores Ltd. gồm… 2 người.

Như vậy, có thể khẳng định Silver Shores Ltd. ở California (Hoa Kỳ) là một Cty ma của Trung Quốc, không điện thoại, không email, không website, và đã biến mất sau khi hoàn thành “sứ mạng” của mình.

Việc các ông chủ Tàu cố che dấu lai lịch Trung Quốc của Silver Shores rõ ràng là để dễ bề nhắm đến những vị trí nhạy cảm về an ninh – quốc phòng ở Đà Nẵng nhiều năm qua.

Chưa hết, mặc dù từng thành lập chi nhánh ở Mỹ và là chủ đầu tư của những dự án hàng trăm triệu USD ở Việt Nam, song Cty Silver Shores Ltd. ở Hồng Kông lại không có website riêng cũng như bất cứ thông tin gì trên mạng. Thông tin duy nhất mà chúng tôi tìm thấy liên quan đến cái tên Silver Shores tại Hồng Kông nằm ở trang Hong Kong Company List và trang Hong Kong Company Directory; nhưng đây lại là Silver Shores International Limited., chứ không phải Silver Shores Ltd., và thời điểm đăng ký thành lập là ngày… 26/9/2013. Thông tin đó được hai trang mạng trên lấy từ chuyên trang Integrated Companies Registry Information System (Hệ thống Thông tin Đăng ký Doanh nghiệp Hợp nhất) nằm trong website của Companies Registry (Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp) thuộc Đặc khu Hành Chính Hồng Kông:

Ảnh chụp thông tin về Cty “Silver Shores International Limited” trên website của Cơ quan Đăng ký Doanh nghiệp Hồng Kông

Như vậy, Silver Shores Ltd. ở Hồng Kông (Trung Quốc), Cty mẹ của Silver Shores Ltd. ở California (Hoa Kỳ), cũng là Cty ma nốt. Đằng sau chúng rõ ràng là những bàn tay đạo diễn mờ ám.

Điều tra nguồn gốc một Cty không phải là điều gì đó quá khó khăn, nhất là với một bộ máy quản lý nhà nước khổng lồ, một lực lượng “an ninh nhân dân” hùng hậu mà năng lực điều tra thuộc loại “hàng đầu thế giới” như ở Việt Nam. Vậy nên việc nhà chức trách Việt Nam dễ dàng để lọt lưới một Cty ma, và dĩ nhiên chưa bao giờ hoạt động trong những ngành đòi hỏi nhiều kinh nghiệm và năng lực quản lý như khách sạn/khu nghỉ dưỡng cao cấp và đặc biệt sòng bài, là điều hết sức khó hiểu.

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Ai là đã “rước” một Cty Trung Quốc trá hình và mờ ám vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?[i]Quan trọng hơn, hiểm hoạ mang tên “Silver Shores” kia cần phải được ngăn chặn và loại trừ như thế nào?
_________

Ghi chú:

[i] Silver Shores nhận được sự ưu ái đặc biệt không chỉ của chính phủ mà cả lãnh đạo Tp Đà Nẵng.

Dự án này được giao đất sử dụng trong vòng 70 năm, vượt quá 20 năm so với quy định của Luật Đất đai 2003.

Ngày 14/4/2014, trong buổi làm việc với Đảng bộ, chính quyền Tp Đà Nẵng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét để Đà Nẵng mở rộng thêm bàn chia bài ở khu du lịch quốc tế Silver Shores.

Tháng 9/2012, trong một buổi làm việc với Cty Silver Shores, ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng đã “đề nghị UBND Tp Đà Nẵng tổ chức một cuộc họp liên ngành thuế, tài chính và UBND Thành phố, nhằm tìm ra hướng giải quyết tốt nhất” cho khoản nợ thuế lên tới 28 tỷ VNĐ của Silver Shores. Người đứng đầu Tp Đà Nẵng thậm chí còn phát biểu: “Các ngân hàng cứ yên tâm cho Silver Shores vay tiền để họ triển khai thật tốt giai đoạn II. Khi Dự án hoàn thành thêm 1.000 phòng, kết hợp với khu vui chơi có thưởng, khách du lịch sẽ ào ào kéo đến chơi, nghỉ dưỡng…thì sợ gì thiếu tiền để trả.”

Khách sạn/khu nghỉ dưỡng cao cấp và đặc biệt sòng bài là những ngành kinh doanh có tính đặc thù rất cao. Vì vậy, đằng sau các dự án đầu tư trong các lĩnh vực này thường là những thương hiệu lớn với bề dày kinh nghiệm lâu năm thì mới có thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

Xem ra, giống như dự án Formosa Hà Tĩnh, một doanh nghiệp Trung Quốc chưa từng sản xuất thép lại được giao một phần lãnh thổ bằng 1,2 lần diện tích Macao ở vị trí cực kỳ xung yếu trong 70 năm để… sản xuất thép, “vũ khí cạnh tranh” quan trọng nhất của Silver Shores ở Việt Nam cũng chính là những quan chức hoặc đã bán linh hồn cho quỷ, hoặc đã mờ mắt vì tiền.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cả họ tham gia bộ máy lãnh đạo huyện!

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2015

   Cả họ tham gia bộ máy lãnh đạo huyện

Vietnamnet

Bộ máy chính quyền tại huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội có 13 phòng, ban thì hơn 10 người là anh em, họ hàng với lãnh đạo huyện.

Mỹ Đức là huyện thuần nông ở Hà Nội với nhiều danh lam thắng cảnh có tiềm năng để phát triển du lịch, như khu danh thắng Hương Sơn, hồ Quan Sơn. Tại đây có nhiều cán bộ UBND huyện là người nhà của bí thư huyện ủy và lãnh đạo UBND huyện.

Nổi trội hơn mới chọn

Theo tìm hiểu, nhiều cán bộ công tác tại các vị trí quan trọng của UBND huyện có liên quan trực tiếp tới Bí thư Huyện ủy Mỹ Đức Lê Văn Sang (tái đắc cử nhiệm kỳ 2015-2020). Cụ thể, bà Lê Thị Vĩnh, Trưởng Phòng Tài chính – Kế hoạch, là cô ông Sang; bà Đỗ Thị Lê Hương, Phó chánh Văn phòng Huyện ủy, là con thông gia với ông Sang; ông Lê Văn Nhiệm, phó ban quản lý dự án, là em họ ông Sang; bà Lê Hải Hồng, Phó Phòng Kinh tế, là chị họ ông Sang; ông Lê Văn Sức, Trưởng Phòng Dân tộc học, gọi ông Sang bằng chú; bà Nguyễn Thị Hòa, Phó Ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, là em bên họ vợ ông Sang; Nguyễn Thị Duyên, kế toán Phòng Quản lý đô thị, con dâu ông Sang…

Còn ông Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch huyện Mỹ Đức, có 2 con trai là Nguyễn Văn Hùng, Phòng Tài chính – Kế hoạch và Nguyễn Văn Hưng, Phòng Nội vụ của huyện.

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Văn Sơn, Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy (chú ông Sang), xác nhận các mối quan hệ nói trên và cho biết cơ cấu UBND huyện có 13 phòng, ban quản lý về mặt nhà nước. Việc bổ nhiệm cán bộ trước tiên phải nằm trong quy hoạch, phẩm chất tốt, có năng lực… Các vị trí công tác đều cần thiết và trải qua quá trình tuyển chọn, cân nhắc theo đúng quy trình. Đơn cử, chị Nguyễn Thị Hương (có họ hàng với ông Sang), tốt nghiệp đại học kế toán chính quy, trước công tác ở Phòng Nội vụ, phải “dỗ” mãi mới sang làm phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra (UBKT) bởi lúc đó UBKT rất thiếu người. Tương tự, anh Lê Văn Trang (SN 1983), con ông Sang, hiện là Bí thư Đảng ủy xã An Phú, được quy hoạch là Phó Chủ tịch huyện Mỹ Đức, trước công tác ở Chi cục Thuế tỉnh Hà Tây cũ, đã có bằng thạc sĩ, thi vào công chức, sau về huyện làm Phòng Tài chính. Hiện đang đi cơ sở để đào tạo.

“Người trong nhà thì càng phải tính toán kỹ hơn. Trình độ phải nổi trội hơn người khác mới chọn” – ông Sơn nói.

Mỹ Đức, Hà Nội, nhân sự

Huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội nổi tiếng với lễ hội chùa Hương. Ảnh: Tuấn Vinh

“Trẻ hóa” cán bộ

Về vấn đề này, bà Nguyễn Lan Hương, Phó Bí thư Huyện ủy Mỹ Đức, thừa nhận trước, trong và sau Đại hội Đảng, một số vị trí chủ chốt không như dự định nên có đơn thư khiếu nại. “Còn toàn bộ quy trình về công tác cán bộ đều theo đúng quy định, quy trình” – bà Hương khẳng định.

Theo bà Hương, việc xâu chuỗi toàn bộ các mối quan hệ của lãnh đạo huyện Mỹ Đức trong thời điểm hiện tại là không hợp lý vì trong số hơn 10 cán bộ này có những người từng làm trưởng phòng, tham gia thường vụ, trưởng ban từ trước khi ông Sang làm Bí thư huyện Mỹ Đức, không phải sau khi ông Sang làm bí thư mới bổ nhiệm.

“Một trong những lý do là bối cảnh thực tiễn của huyện hiện nay thiếu cán bộ trẻ, cán bộ nữ đều rất ít, chưa bảo đảm đúng yêu cầu trẻ hóa cán bộ do TP đề ra. Huyện đã làm từng bước theo quy trình đầy đủ để có nhân sự cho các phòng ban, các cơ quan. Nếu sai thì UBKT Thành ủy Hà Nội đã về kiểm tra rồi” – bà Hương trình bày.

Trong khi đó, ông Nguyễn Học Đồng, Chánh Văn phòng Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội, lại cho biết Thành ủy chỉ quản lý một số cán bộ cấp cao của huyện, còn nhân sự cụ thể thì huyện mới trả lời được.

“Đường tắt” vào làm công chức?

Có một số thông tin cho rằng Ban Quản lý Di tích thắng cảnh Hương Sơn (chùa Hương) tuyển chọn nhiều nhân sự nhưng chỉ làm một thời gian rất ngắn thì được điều động về các cơ quan thuộc UBND huyện Mỹ Đức, sau 5 năm theo Luật Công chức, sẽ được đưa vào xét duyệt để trở thành công chức. Cụ thể: Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Hưng là con của ông Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ tịch huyện, được đưa lên Phòng Tài chính – Kế hoạch và Phòng Nội vụ; Nguyễn Thị Duyên, con dâu bí thư huyện, được điều làm kế toán Phòng Quản lý đô thị; Lê Quang Hưng, con ông Lê Văn Cành, Phó Chủ tịch UBND huyện, được điều động về Phòng Nội vụ; Lê Đức Anh, con ông Lê Văn Sơn, sang Ban Quản lý dự án huyện; Nguyễn Minh Hoành, con bà Lê Thị Vĩnh, Trưởng Phòng Tài chính – Kế hoạch, về công tác tại phòng này.

Về việc này, ông Sơn nói di tích thắng cảnh Hương Sơn là đơn vị sự nghiệp tự thu chi, hết mùa lễ không còn việc nên không có thu. “Ở chỗ này, con em cán bộ cũng được ưu tiên” – ông Sơn thừa nhận.

Theo Người lao động

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Mọi bàn luận của Quốc hội đều là động tác giả, chỉ có sự ác ôn và thủ đoạn của đảng là thật mà thôi.

Posted by hoangtran204 trên 16/09/2015

 

Ngày hôm nay 14 tháng 9 năm 2015, một số tờ báo lớn ở Việt Nam như tờ Thanh Niên có đưa bài báo với tiêu đề.

Có thể bỏ tù nếu xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

Bài báo tường thuật uỷ ban thường vụ của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam họp bàn về cải cách tư pháp.

Bài báo có đoạn uỷ ban tư pháp quốc hội Việt Nam cân nhắc bỏ điều 88 để thay thế bằng điều 117. 

Điều 88 là điều luật quy định về tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước CHXCN Việt Nam. Rất nhiều bloger, nhà báo tự do đã bị nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay dùng điều luật này để truy tố và bỏ tù họ. Điển hình là CLB nhà báo tự do với 3 thành viên là Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải đã bị khép vào điều 88.

Điều 88 trong bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam là điều luật bị quốc tế lên án và đòi hỏi gỡ bỏ. Trước sức ép của quốc tế trong việc đòi hỏi cải cách nhân quyền, pháp luật để hội nhập các khối thương mại chung rộng lớn. Quốc hội Việt Nam cân nhắc gỡ bỏ điều 88 này. Nhưng đó không phải là sự tiến bộ, nhân nhượng. Trái lại điều 117 còn vô nhân đạo hơn điều 88 cũ.

Điều 117 này còn tàn bạo hơn cả điều 88 vì bổ sung thêm cái mà điều 88 không có. Đó là nội dung ở điều 117 ghi rằng kể cả người chuẩn bị phạm tội làm ra, tàng trữ, tán phán tài liệu phỉ báng chính quyền, làm hoang mang trong nhân dân nhằm chống nhà nước ….cũng bị kết án tù từ 1 đến 5 năm. Đây là chi tiết mà điều 88 trước đó vốn bị lên án nặng nề không quy định.

Có nghĩa cộng sản Việt Nam thay một điều 88 mà thế giới cho là bất nhân, bằng một điều luật khác có tên 117 còn bất nhân hơn vì diện xét đối tượng vào điều luật này còn rộng hơn, mơ hồ hơn và khắc nghiệt hơn đến mức độ chỉ có ý ” chuẩn bị ” cũng phải vào tù.

Nếu điều 88 quy định hình phạt lớn nhất là 20 năm thì điều 117 cũng chẳng kém gì, vẫn y nguyên 20 năm cho tội gọi là đặc biệt nghiêm trong.

Sự ác ôn trong việc sửa luật là có thật, thế còn sự tử tế có không ?

Trong chương về quyền con người quốc hội Việt Nam bàn bạc lần này có một điều luật mới, đó là điều luật mang số 166. Điều luật này quy định.

Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân

Mặc dù nhiều tờ áo lớn của Việt Nam đưa điều luật này làm nội dung tiêu đề với chữ ” có thể ”. Nhưng toàn bộ các bài báo không hề nói đến chi tiết thảo luận, bàn bạc nào của các thành viên quốc hội Việt Nam đến điều luật này.

Chúng ta thử phân tích xem đây có phải là một điều luật tử tế, bảo vệ quyền tự do ngôn luân, tự do báo chí ở Việt Nam hay không.?

Báo chí Việt Nam là cánh tay của ĐCSVN, thuộc sự lãnh đạo của ĐCSVN và báo chí Việt Nam luôn luôn có quyền tự do lớn. Đó là tự do ca ngợi chế độ Việt Nam, ca ngợi lãnh đạo Việt Nam, ca ngợi Đảng CSVN theo chỉ đạo tuyên truyền của Ban tuyên giáo trung ương Đảng.

Có nghĩa rằng nếu ngôn luận, báo chí Việt Nam cứ ca tụng đảng ĐCSVN, chế độ VN sẽ được hoàn toàn tự do. Kẻ nào ngăn cản sự tự do ca ngợi chế độ ấy của báo chí, ngôn luận sẽ bị khép vào tội 166 và có thể bị bỏ tù.

Còn ngược lại báo chí, ngôn luận mà nói xấu Đảng đã có điều 117 chờ sẵn để khép tội.

Điều 166 này là sự tử tế dành cho các nhà báo phục vụ ĐCSVN. Nó chỉ có giá trị thực sự khi Việt Nam không có ban tuyên giáo trung ương và Việt Nam có báo chí tư nhân. Với hiện trạng như ngày nay chỉ có báo chí của ĐCSVN quản lý thì điều luật này chỉ là trò mập mờ, lừa đảo đánh lận con đen.

Sự giả tạo trong điều 166 này còn có điểm trơ tráo trắng trợn, là quy định việc xâm phạm quyền biểu tình của công dân.

Công dân Việt Nam có được phép biểu tình đâu mà bị xâm phạm, mọi hoạt động biểu tình của công dân như đình công, phản đối TQ xâm lược, phản đối chặt hạ cây xanh…đều bị quy là gây rối trật tự công cộng. Mặc dù hiến pháp Việt Nam quy định công dân có quyền biểu tình, nhưng đến nay quốc hội Việt Nam nhiều lần trì hoãn không thông qua luật biểu tình. Biểu tình không được công nhận thì lấy ai xâm phạm mà kết tội.?

Thực tế những công dân có hành động biểu tình đều bị bắt tù, điển hình như Bùi Thị Minh Hằng hai lần liên tiếp bị kết tội là gây rối trật tự công cộng, lần đầu 5 tháng tù giam, lần thứ hai là 36 tháng tù giam.

Quốc hội Việt Nam hôm nay bàn về bảo vệ tư do ngôn luận, báo chí trong khi nhà báo tự do Tạ Phong Tần vẫn còn đang trong nhà tù.

Quốc hội Việt Nam bàn về bảo vệ quyền biểu tình trong khi người biểu tình Bùi Thị Minh Hằng đang ở trong nhà tù.

Quốc hội Việt Nam bàn về quyền con người, phụ nữ, trẻ em này nọ trong khi có bao nhiêu phụ nữ đang bị cầm tù vì đòi hỏi quyền con người, quyền tự do báo chí, ngôn luân.

Trong phiên họp của uỷ ban thường vụ quốc hội ngày hôm nay 14 tháng 9 năm 2015, các báo chí giật tiêu đề nghe như tràn trề hy vọng chờ đón sự tử tế thật của chế độ cộng sản VN. Nhưng phân tích kỹ ra, chả có sự tử tế mới nào trong phiên họp này cả. Chỉ có sự ác ôn và thủ đoạn là vẫn có thật mà thôi.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Luật Pháp | Leave a Comment »

► Hà Nội, Cuộc sống trong những “CHIẾC HỘP”

Posted by hoangtran204 trên 15/09/2015

Cuộc sống trong những “CHIẾC HỘP”

Những người Hà Nội đi xa, kẻ nhớ mùa thu vàng, người vấn vương hương hoa sữa, kẻ lại thèm món bún chả, cốm vòng chỉ Hà Nội mới ngon… Nhưng với những ai đã sống ở Hà Nội từ những năm 60, 70 trở lại đây, hẳn không thể quên tuổi thơ gắn liền với những “chiếc hộp” – những khu nhà tập thể xây từ thời kỳ bao cấp – vẫn đương ẩn hiện trong thành phố ngập lối kiến trúc Tây phương hiện đại.

Có ai nhớ, mỗi buổi chiều, bọn trẻ lại tụ tập nô đùa với nhau dưới vỉa hè của khu tập thể cũ ấy, nơi đã gắn bó với chúng trong suốt thời ấu thơ…

Hà Nội trong mắt tôi, đâu đó trong những khu dân cư nằm gọn lỏn giữa những ngôi nhà hiện đại, vẫn còn xen kẽ một vài khu tập thể như thế này: tường vôi vàng cũ tróc long, những cánh cửa gỗ màu xanh, chiếc cầu thang với lối dắt xe lên xuống khu tập thể 4-5 tầng, chuồng chim-chuồng cọp, những quả “bom” nước di động đặt trên nóc mỗi tòa nhà… Chúng như hai “thế giới” khác nhau đang cùng tồn tại song song… Ngắm cảnh bình yên, cổ điển, gợi thời xưa cũ đấy nhưng đã mang tính nhem nhuốc, xuống cấp và hư hại quá rồi. Công trình thì “hết đát” sử dụng từ lâu, người dân thì thả sức “sáng tạo” trên căn hộ của mình với đủ hoạt động đục phá, cơi nới mở rộng không gian sống vốn eo hẹp.

 Ước tính, hiện nay tại Hà Nội có khoảng 23 khu tập thể cũ (4-5 tầng) và hơn 10 khu tập thể cổ thấp tầng (1-2 tầng) nằm rải rác ở các tuyến phố khác nhau. Các khu tập thể cũ này được xây dựng chủ yếu từ những năm 1960 đến 1980 của thế kỷ trước.

Đố bạn biết dãy nhà tập thể này ở Hà Nội theo trường phái kiến trúc nào? 

Lối dắt xe lên xuống chính giữa cầu thang đặc trưng của các khu tập thể cũ tại Hà Nội: tối, nhỏ và hẹp.

Với mong muốn mang tới cho người xem cái nhìn chân thực, rõ nét về cuộc sống tại những khu tập thể “rất Hà Nội” này, nhóm bạn trẻ MyHanoi đã thực hiện một dự án mang tên Cuộc sống trong những “CHIẾC HỘP”. Qua những bức ảnh chụp về không gian thường nhật diễn ra quanh những “đặc sản kiến trúc” chỉ có tại Hà Nội, chúng ta dường như được cùng sống cuộc sống của nhiều thế hệ nơi đây với đủ cung bậc cảm xúc. Trong những “cái hộp” tồi tàn chỉ tầm 15 – 20m2 tưởng chừng khó có thể ở được, vẫn tồn tại vô số hộ gia đình sinh sống, làm việc tại đây với đủ tâm trạng buồn vui xen lẫn tiếng cười, tiếng khóc và bao bi hài chuyện cuộc sống.

Ban công được các hộ gia đình tận dụng phơi quần áo và treo đủ mọi thứ lên trên đó,nom thiệt giống những chiếc hộp màu sặc sỡ.

 Từ những chiếc “lồng chim”…

 … đến những “chuồng cọp”, nhà đeo ba lô.

 Thiên đường của khu tập thể cũ dành cho trẻ con – sân chơi rộng rãi thênh thang tha hồ chạy nhảy – giờ ở Hà Nội hiếm biết bao…

 Nắng chiều

 Đặc sản đường ống dẫn nước và “mỳ ống” dây điện của Hà Nội.

 Môi trường sống tạm bợ tại các khu tập thể.

Thành lập năm 2006 bởi anh Ngô Quý Đức, MyHanoi là tổ chức phi lợi nhuận của những người có tình yêu dành cho Hà Nội. Nhóm là đơn vị phát động và thực hiện các phong trào liên quan đến việc nghiên cứu, bảo tồn và phát triển các giá trị, nét đẹp văn hóa của Hà Nội nhằm giúp cộng đồng hiểu rõ hơn về mảnh đất ngàn năm văn hiến này và đóng góp một phần công sức giúp Hà Nội phát triển hơn. 

Các dự án nổi bật do MyHanoi thực hiện: “Đề án nghiên cứu, khảo sát và tìm hiểu thông tin về Lễ hội truyền thống tại các làng thuộc khu vực Hồ Tây”; “Em tập làm nghệ nhân”; “Việt Nam: Ký ức qua những hình ảnh”…

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Ít nhất 4 tàu cá bị tàu cao tốc vũ trang nước ngoài bắn

Posted by hoangtran204 trên 15/09/2015

Đôi lời: Nhiều chi tiết về các vụ tấn công này cần được làm rõ. Những kẻ tấn công là nước nào, bài báo chỉ ghi “đây là loại tàu cao tốc vũ trang mang cờ hiệu nước ngoài” nhưng không nói rõ là cờ của nước nào. Những kẻ tấn công này không thể là cướp biển (vì cướp biển không mang cờ hiệu), có thể họ thuộc lực lượng hải quân hay cảnh sát biển của một nước nào đó, nên cần làm rõ tọa độ nơi xảy ra vụ tấn công thuộc lãnh hải VN hay nước khác. (anhbasam.wordpress.com)

Tuổi Trẻ

Khoa Nam

14-9-2015

Tài công Ngô Văn Sinh qua đời bỏ lại vợ và 2 con đang đi học chưa biết nương tựa vào đâu - Ảnh K.Nam

TT – Liên quan đến vụ tàu cá của ngư dân Kiên Giang bị một canô tấn công làm một người chết và một người bị thương, thông tin mới nhất cho biết có ít nhất bốn tàu bị canô này nổ súng tấn công.

Làm việc với Công an huyện Châu Thành ngày 13-9, ông Chao Văn Sáng (41 tuổi, ngụ huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang) nói ông là ngư dân đi trên con tàu có tài công bị bắn chết.

Nạn nhân tử vong tên Ngô Văn Sinh (38 tuổi, ngụ huyện Châu Thành, Kiên Giang), là cậu ruột của ông Sáng.

Bắn thẳng vào buồng lái

Ông Sáng cho hay khoảng 15g ngày 11-9, trong lúc đang bủa cào trên biển (chưa rõ tọa độ) thì phát hiện có một tàu nhỏ sơn màu xám xuất hiện. Ban đầu mọi người tưởng là tàu của dân làm ăn nên không chú ý.

Khi con tàu nhỏ tới gần, mọi người mới hốt hoảng nhận thấy đây là loại tàu cao tốc vũ trang mang cờ hiệu nước ngoài, lắp súng máy trước mũi, trên tàu có năm người mặc đồ rằn ri, một người mặc thường phục lăm lăm súng tiểu liên.

Khi cách tàu cá ông Sáng chừng 15m, tàu cao tốc bất thần nã đạn xối xả.

Lúc này, tài công Ngô Văn Sinh chỉ kịp gọi mọi người tháo bình gas sau đuôi tàu rồi trốn xuống hầm, còn mình ở lại cầm lái.

Hé cửa hầm nhìn ra bên ngoài, ông Sáng kinh hoàng nhìn thấy đạn tiểu liên, trung liên và cả mảnh đạn đại liên găm nát thân tàu.

“Lỗ tai tui ù đi không còn nghe được gì, chỉ nhìn thấy đạn rơi như mưa xuống boong. Khoảng 15 phút sau, khi vừa rời hầm lên buồng lái tui tá hỏa nhìn cậu Sinh gục chết cạnh vôlăng, mặt bị bắn nát, một tay bị đứt gần lìa…” – ông Sáng bàng hoàng kể lại.

Sau khi bắn chết tài công Ngô Văn Sinh, chiếc tàu cao tốc rời đi tiếp tục tấn công các tàu đánh cá gần đó.

Trong đó có tàu do nạn nhân Nguyễn Hùng Cường cầm lái, khiến ông Cường bị bắn gãy nát xương đùi phải.

Ông Sáng khẳng định với Công an huyện Châu Thành rằng cách đây gần hai tháng, chính mình cũng từng bị chiếc tàu cao tốc nói trên bắn dọa xuống nước, sau đó khống chế kéo đi lòng vòng ngoài biển để đòi tiền chuộc tàu lên tới 3,2 tỉ đồng.

“Trên tàu cao tốc có một người mặc thường phục nói tiếng Việt rất rành. Mấy lần trước họ chỉ bắn dọa đòi tiền chuộc, lần này không ngờ họ ra tay bắn thẳng vào buồng lái” 
- ông Sáng nói.

Hiểm nguy rình rập 
trên biển

Chị Nguyễn Thị Kim Phương, vợ của nạn nhân Ngô Văn Sinh, cho biết: “Hai tháng trước tàu của ảnh bị bắt, tui nói thôi thì anh khoan đi, ở lại lo sửa chữa nhà cửa, lo học hành đầu năm cho hai đứa nhỏ rồi hãy đi. Ảnh ở nhà hơn một tháng thì nói thôi để anh ráng đi chuyến nữa rồi về sửa nhà. Đâu ngờ ảnh đi chuyến này là chuyến 
đi cuối cùng…”.

Một sĩ quan biên phòng Kiên Giang cũng thừa nhận chuyện ngư dân bị tấn công trên biển không phải ít.

Mới tháng 8 vừa rồi, có một ngư dân bị bắn thủng bụng, trên đường chở vào tới đất liền người này tử vong do mất nhiều máu.

Ngư dân Chao Văn Sáng cho rằng các tàu đánh cá của Kiên Giang phải đi ra khơi xa là đồng nghĩa với việc chấp nhận nguy hiểm rình rập, có thể bị bắt giữ, phạt tiền, giờ đây là bị bắn chết bất cứ lúc nào. Nhưng nếu không đi biển thì không biết làm gì để nuôi sống gia đình.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Ngư dân | Leave a Comment »

►Phút nói thật của CTQH Nguyễn Sinh Hùng: “Không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được”

Posted by hoangtran204 trên 15/09/2015

Ngọc Quang

Nguồn

14-9-2015

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chỉ rõ: “Không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được”.

Tại phiên thảo luận về Bộ luật hình sự (sửa đổi) ngày 14/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp – ông Hà Hùng Cường và nhiều đại biểu nhận định, bộ luật này hết sức quan trọng, có ảnh hưởng tới sự sống của người dân, tức là ảnh hưởng tới quyền con người, do đó phải quy định thật chi tiết.

KHÔNG THỂ QUY ĐỊNH CHUNG CHUNG

Chủ tịch Quốc hội yêu cầu: “Tất cả các tội phải quy định vào trong này, những gì chưa quy định được về hành vi thế này thế khác, khung hình phạt phải làm rõ. Thế nào là cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng, thế nào là thiếu trách nhiệm… lâu nay các đồng chí vẫn xử án, phải tổng kết đưa vào đây. Các đồng chí không được để cơ quan xử án hoặc cơ quan kiểm tra tự ý cụ thể hóa bằng quan điểm cá nhân để buộc người ta vào tội cố ý, buộc người ta thiếu trách nhiệm”.

Đồng thời, Chủ tịch Quốc hội cũng nêu ra thí dụ về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” và yêu cầu phải nói rõ các hành vi thế nào là chống phá nhà nước?

“Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Muốn bắt ai thì bắt, đâu có được”.

bắt, đâu có được”, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Muốn bắt ai thì bắt, đâu có được.

ảnh: quochoi.vn

Để đảm bảo công bằng, đảm bảo quyền con người, quyền của công dân, Chủ tịch Quốc hội nhắc lại quan điểm: “Bất kỳ cuộc xét xử nào đều phải tôn trọng nguyên tắc tranh tụng. Các đồng chí mà chỉ để tranh tụng tới phúc thẩm thôi là không được, là vi phạm Hiến pháp. Tất cả các phiên toà đều phải tôn trọng nguyên tắc này, phải có tranh tụng”.

Chủ tịch Quốc hội yêu cầu Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu và ông Nguyễn Văn Hiện – Chủ nhiệm Ủy ban Tư Pháp cùng toàn bộ khối Tư pháp không đi nước ngoài kể từ nay tới kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, nhằm tập trung thời gian chuẩn bị tốt cho các dự án luật, chuẩn bị tốt cho kỳ họp.

Ủng hộ quan điểm của Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp – ông Hà Hùng Cường cũng đề nghị phải quy định chi tiết vào Bộ Luật hình sự (sửa đổi), tránh các quy định chung chung đang tồn tại như luật hiện hành.

“Các nước họ quy định rất cụ thể chứ không chung chung như luật của ta”, ông Cường nhấn mạnh.

THAM GIA TỔ CHỨC CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC BỊ XỬ THẾ NÀO?

Theo dự thảo Bộ Luật hình sự (sửa đổi): Tội phản bội Tổ quốc (sửa đổi); Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (sửa đổi); Tội gián điệp (sửa đổi); Tội bạo loạn (sửa đổi); Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (sửa đổi); Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi)… có mức hình phạt cao nhất là tử hình.

Với những trường hợp chuẩn bị phạm tội thì bị áp dụng hình phạt tù từ 1 – 5 năm.

Dự thảo luận cũng nói rõ, người đã tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, người nhận làm gián điệp, nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao, thành khẩn khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội này.

Người phạm tội làm, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi), trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù từ 10 – 20 năm.

Những trường hợp làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu có nội dung phỉ báng chính quyền nhân dân; Làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu gây hoang mang trong nhân dân bị phạt từ 3 – 12 năm.

Những người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 1 – 5 năm.

Ngoài ra, tại Điều 111 – Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ (sửa đổi) nói rõ: Người nào xâm nhập lãnh thổ, có hành động làm sai lệch đường biên giới quốc gia hoặc có hành động khác nhằm gây phương hại cho an ninh lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 12 – 20 năm (nếu gây hậu quả nghiêm trọng); đồng phạm bị phạt tù từ 5 – 15 năm. Người chuẩn bị phạm tội bị phạt tù từ 1 – 5 năm.

Đối với “Tội phá hoại chính sách đoàn kết” (sửa đổi) quy định phạt tù từ 5 – 15 năm:

Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;

Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;

Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội.

Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.

Những trường hợp phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 – 7 năm.

Ngọc Quang

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

► Hồ Chí Minh, con người muôn mặt

Posted by hoangtran204 trên 14/09/2015

Hồ Chí Minh, con người muôn mặt

13-9-2015

Đôi lời: Chẳng những ông Hồ Chí Minh là con người muôn mặt, mà qua bài viết đăng trên báo Nhân Dân: Bác Hồ ở Boston, thì ông Hồ cũng đã cũng đã từng “ôm chân đế quốc Mỹ” kiếm “bơ thừa, sữa cặn”, nói theo ngôn ngữ của các “cháu ngoan bác Hồ”. Các cháu này luôn miệng chửi những người VN “ôm chân đế quốc Mỹ” lâu nay, mà không biết rằng bác của chúng đã ôm chân đế quốc Mỹ hơn một thế kỷ trước.

___

Blog RFA

Song Chi

13-9-2015

Hồ Chí Minh. Nguồn ảnh: Thư viện Hoa Sen

Trong cuộc đời hoạt động “cách mạng” của mình, ông Hồ Chí Minh có rất nhiều tên gọi, bút danh khác nhau. Bài“Sưu tầm tên gọi, bí danh và bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua các thời kỳ” đăng trên trang báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, đã kê khai ông Hồ có khoảng 175 tên gọi, bí danh, bút danh, ngoài ra “Hiện vẫn còn khoảng 30 tên gọi, bí danh, bút danh được cho là của Hồ Chí Minh, nhưng chưa có cơ sở để khẳng định chắc chắn hoặc chứng minh cụ thể Bác đã dùng vào thời gian nào, trong trường hợp nào, nên vẫn chưa thể công bố chính thức”.

Từ lâu, cũng chính nhờ đảng và nhà nước này công bố, mà người dân mới biết Trần Dân Tiên, người viết cuốn tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” xuất bản lần đầu tiên tại Trung Hoa năm 1948 và tại Paris năm 1949 (theo Wikipedia) chính là Bác Hồ. Trong một cuốn tiểu sử khác, “Vừa đi đường vừa kể chuyện” xuất bản lần đầu năm 1950, Hồ Chí Minh lấy bút danh là T. Lan, đóng vai một chiến sĩ trong đoàn tùy tùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đi hành quân, vừa đi vừa hỏi chuyện Chủ tịch và ghi chép lại. Như vậy ông Hồ chỉ có 2 cuốn gọi là “tiểu sử” được phổ biến rộng rãi, in ra nhiều thứ tiếng, thì cả hai đều do chính ông Hồ viết ca tụng mình.

Việc ông Hồ từng làm việc cho đảng cộng sản Liên Xô và đảng cộng sản Trung Quốc, nhận tiền của Liên Xô và Trung Quốc là chuyện chả phải mới mẻ gì. Chỉ cần ngay trong bài này cũng thấy.

Chẳng hạn, làm việc cho đảng cộng sản Liên Xô:“Chen Vang, 1923. Ngày 13 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Paris đi Liên Sô, Tổ Quốc Cách Mạng. Ngày 16 tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến nước Đức. Tại đây, Nguyễn được cơ quan đặc mệnh toàn quyền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghiã Sô Viết Liên Bang tại Berlin cấp cho giấy đi đường số 1829. Trong giấy này Nguyễn Ái Quốc mang tên Chen Vang.”

Làm việc cho Trung Quốc: “Hồ Quang, 1938. Hoạt động ở Trung Quốc cuối năm 1938. Nhờ quan hệ Liên Sô và Trung Quốc nên Nguyễn Ái Quốc qua Trung Quốc dễ dàng. Tại Lan Châu thủ phủ tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc mang phù hiệu Bát lộ quân, quân hàm thiếu tá và giấy tờ mang tên Hồ Quang.”

Lý Thụy cũng là một bí danh của ông Hồ.“Lý Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc.”

Có một dạo trên nhiều trang blog, trang mạng xã hội xôn xao trước thông tin Lý Thụy, tức ông Hồ bán Phan Bội Châu cho Pháp. Và thông tin đó từ đâu ra, từ thế lực thù địch nào? Không, từ cuốn “Thành ngữ-Điển tích-Danh nhân Từ điển” của tác giả Trịnh Vân Thanh do NXB Văn học, Hà Nội phát hành năm 2008.

Ở trang 742, trong mục nói về Phan Bội Châu, các nhà soạn sách đã viết việc Phan Bội Châu bị bắt như sau: “Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn thể giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc”, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để:

  1. Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động.
  2. Gây một ảnh hưởng sâu rộng trong Việc tuyên truyền tinh thần ái quốc trong quốc dân.”

Tất cả những chuyện này nhiều người cũng đã biết. Tôi nhắc lại chỉ là vì gần đây được biết thêm cái bút danh Trần Lực của ông Hồ Chí Minh khi viết cái truyện ngắn “Giấc ngủ mười năm”. Trên trang báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam đăng toàn bộ truyện ngắn này, và cho biết: “Giấc ngủ mười năm” viết năm 1949, Tổng bộ Việt Minh xuất bản tại Việt Bắc năm 1949. In trong sách “Hồ Chí Minh, Truyện và ký” của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1985″.

Trong bài “Cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam” đăng trên website Viet-Studies, nhà văn, dịch giả Ngô Tự Lập tìm cách chứng minh ông Hồ Chí Minh là cha đẻ của thể loại văn học viễn tưởng VN qua hai truyện ngắn “Con người biết mùi hun khói”và “Giấc ngủ mười năm”.

Ở đây tôi không tranh cãi về văn phong, bút pháp của truyện “Giấc ngủ mười năm”, cũng không tranh cãi truyện này hay hay dở, nhưng điều làm tôi cảm thấy rờn rợn là những đọan mô tả tội ác của Pháp. Đoạn đó như sau:

“Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà.

Có khi bắt được đàn bà có thai, chúng nó trói lại như trói lợn, rồi đánh đố với nhau. Thằng thì đoán chửa con trai. Thằng thì đoán chửa con gái. Rồi chúng nó mổ bụng người đàn bà chửa, móc đứa con trong bụng ra coi. Thằng nào đoán trúng thì được tiền hoặc thuốc lá.

Có khi chúng nó bắt đàn bà, trói chân, trói tay lại, lột truồng hết áo quần rồi cho chó con bú cụt cả đầu vú. Người đàn bà vô phúc van khóc chừng nào, thì Tây reo cười chừng ấy.

Bắt được người già và thanh niên, chúng nó chọc tiết, chôn sống, chặt đầu, phanh thây, hoặc treo thòng lòng trên cành cây, chất củi thui. Có khi chúng nó bắt ăn thuốc viên, nói là thuốc chữa bệnh. Nuốt xong chừng mấy phút đồng hồ thì trợn mắt lăn ra chết, cả mình mẩy tím bầm.
Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt.”

Tôi cảm thấy rờn rợn, không phải vì tội ác của Pháp (một người có nhận thức, hiểu biết bình thường nào cũng chẳng tin nổi những điều này là có thực) mà chính vì cái cách mô tả, cái khả năng tưởng tượng ra những tội ác kiểu như vậy và việc tuyên truyền bất chấp sự thật của những người cộng sản, như họ cũng đã từng tuyên truyền Mỹ ngụy ăn thịt người.

Cho đến nay, Hồ Chí Minh đối với rất nhiều người dân VN vẫn là thánh sống, là tượng đài không dễ gì bị lật đổ. Không chỉ trong những người còn tin tưởng vào đảng, vào chế độ, ngay nhiều người có tư tưởng chán ghét chế độ này, vẫn luôn luôn nói rằng “Nếu còn ông cụ, mọi chuyện sẽ khác, nếu còn ông cụ đất nước không thể như thế này” và mọi sai lầm, đổ đốn của đảng và nhà nước này là chỉ từ khi ông cụ mất, thậm chí mãi về sau này, chứ còn giai đoạn đầu thì không thế v.v…Nắm được điều đó, đảng và nhà nước cộng sản vẫn tiếp tục bám vào cái bóng của ông Hồ, từ việc phát động phong trào học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cho tới những tượng đài Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục được xây lên ở khắp nơi…

Rồi đây lịch sử sẽ được viết lại, nhiều sự thật sẽ được đưa ra ánh sáng. Tôi vẫn luôn tin rằng cuộc đời thật, chân dung thật của nhân vật Hồ Chí Minh sẽ còn có nhiều, nhiều “bất ngờ” hơn nữa, ngoài vô số những “bất ngờ” đã hé lộ dần trong thời gian qua, bất chấp việc đảng và nhà nước cộng sản VN cố công bưng bít, tô vẽ thành huyền thoại. Chỉ có điều, cho đến giờ phút này hình như vẫn chưa có người Việt nào chịu khó bỏ công ra viết những cuốn sách công phu như cuốn “Mao Trạch Đông ngàn năm công tội” của tác giả Tân Tử Lăng, Trung Quốc hay cuốn “Những điều chưa biết về Mao” (“Mao-an unknown story”) của hai tác giả Jung Chang và Jon Halliday. Được biết, hai vợ chồng tác giả, cô Jung Chang và ông Jon Halliday đã bỏ ra gần 10 năm trời để viết, đã đi về Trung Quốc hàng mấy chục chuyến để thăm lại tất cả những vùng mà ông Mao Trạch Đông đã đi qua cũng như đã đi nhiểu nơi trên thế giới để gặp hàng trăm người từng biết, từng gặp Mao Trạch Đông khi còn sống hầu có được những tài liệu sinh động nhất, chân thực nhất, và cuối cùng họ đã hoàn tất tác phẩm đồ sộ này.

Tin rằng nếu ai đó bỏ công sức ra để viết về nhân vật Hồ Chí Minh cũng sẽ gặt hái được kết quả rất đáng công và chân dung của nhân vật Hồ Chí Minh có lẽ còn muôn mặt, muôn màu không kém, thậm chí hơn cả chân dung thật của Lenin hay Mao Trạch Đông.

  Nguồn  anhbasam

Bác Hồ ở Boston
Chủ nhật, 13/09/2015 – 02:10 PM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định    
Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói chuyện với TS Sử học Nathaniel Sheidley.
Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nói chuyện với TS Sử học Nathaniel Sheidley.

NDĐT – Những người bạn Mỹ ở TP New York và cả ở TP Boston nói rằng thật tuyệt vời khi mối quan hệ, bang giao hợp tác trên đà tốt đẹp, qua kênh giao lưu, trao đổi văn hóa ngoại giao nhân dân, người dân Hoa Kỳ càng biết thêm về mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Boston. Đặc biệt, với khách sạn Parker House – được những nghệ sĩ ví như một cánh cửa khám phá những năm đầu sôi động của người thanh niên Nguyễn Tất Thành – Văn Ba thời đó.

Bài 1: Cuộc gặp đặc biệt với họa sĩ Mỹ đầu tiên vẽ chân dung Bác Hồ

Tham dự buổi Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội gặp gỡ đại diện cộng đồng bà con, thanh niên, sinh viên học sinh trong khuôn viên khách sạn Ommi Parker hôm chúng tôi sang có vị khách Mỹ mái tóc trắng như cước, nói chuyện thân mật với những người Việt ta như người trong nhà! Các anh ở Sứ quán cho biết, đó là ông Kevin Bowen, nhà thơ Mỹ, nguyên Giám đốc Trung tâm William Joiner thuộc trường Đại học Massachusetts (nay là Viện William Joiner).

Trong không khí đầm ấm, Giáo sư Kevin Bowen, người cựu chiến binh có mặt trên mặt trận Tây Ninh Việt Nam năm xưa, đã trình bày công trình nghiên cứu hấp dẫn của mình. Quãng đời sinh sống và hoạt động của Bác Hồ ở Boston trong hành trình tìm đường cứu nước của Người dần sáng rõ, mạch lạc trong những hình ảnh, sự kiện lịch sử vừa cụ thể, vừa bao quát mang tính lô-gic, thuyết phục và rất nhân văn.

Những người nổi tiếng ở Parker House

Theo nội dung nghiên cứu được thuyết trình, Giáo sư Kevin Bowen cho biết: Cuối năm 1911 với tên gọi Văn Ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên tàu từ cảng Le Havre (Pháp) tới TP New York với tư cách là một thuyền viên. Sau một thời gian ngắn ở New York, làm việc tại Brookyn, Người chuyển tới Boston. Nơi đây người thanh niên Việt Nam sống và làm việc ở đây trong những năm tháng sôi nổi nhất của thành phố này.

Nhiều tài liệu cho thấy, Anh Văn Ba từng một thời gian ngắn làm người giúp việc cho gia đình một người giàu có ở Brooklyn. Anh bị thành phố Boston cuốn hút và chẳng bao lâu sau đã tìm được công việc là người phụ giúp người làm bán tại khách sạn Parker House, dần dần trở thành người làm bánh chuyên nghiệp của khách sạn.

Boston là một thành phố lịch sử và người dân ở đây tự hào về truyền thống văn chương nổi tiếng của thành phố. Parker House được xây dựng năm 1855 và trở thành nơi hội họp thường xuyên của các cây bút xuất sắc của nước Mỹ, trong số này có Emerson, Thoreau, Hawthorne và Longfellow. Thời kỳ này được xem là Thời đại Hoàng kim đối với nền văn học Mỹ.

Ngày nay, văn bản lịch sử còn lưu giữ ở khách sạn Parker House ghi lại, tại nơi này, các thế hệ chính trị gia quốc gia và địa phương, trong đó có Ulysses S. Grant, James Michael Curley, Franklin Delano Roosevelt, John F. Kennedy, Colin Powell, Thomas “Tip” O’Neill, William Jefferson Clinton, Deval Patrick… họp các cuộc thảo luận riêng hay họp báo. Do Parker House gần khu vực nhà hát của Boston, nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của thế kỷ thứ 19 đã coi đây như nhà của mình, gồm có những Charlotte Cushman, Sarah Bernhardt, Edwin Booth, và anh trai của ông là John Wilkes Booth…

“Năm ông đến, 1912, Boston đang trong thời kỳ chuyển đổi có tính bước ngoặt, do đó, chàng thanh niên trẻ Văn Ba, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tiếp xúc với những con người tạo nên những thay đổi đó khi ông đi trên những con phố hoặc khi họ đi ngang qua khách sạn Parker House nơi ông làm việc”. Giáo sư Kevin Bowen nói.

Văn Ba và Boston Cream Pies

Giáo sư Kevin Bowen trân trọng dùng cụm từ nhìn nhận Văn Ba là“người thợ làm bánh nổi tiếng nhất trong lịch sử”! Ông nói rõ hơn, Parker House từ lâu được biết đến như là một điểm đến quen thuộc của các nhà văn, nghệ sĩ, chính trị gia, cũng như các diễn viên nổi tiểng. Đây chính là nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tại một chiếc bàn đá nhỏ, làm công việc của một người thợ bánh, ông đã đóng góp cho danh tiếng của khách sạn, làm ra những chiếc bánh kem Boston Cream Pies và Lemon Meringue Pies. Chính món bánh kem Boston và bánh trứng đường với chanh tuyệt vời góp phần làm nên nổi tiếng của khách sạn này, nay được vào danh sách món tráng miệng đặc sắc chính thức tại các cuộc tiếp tân của bang Massachusetts thết đãi khách quý trong nước và nước ngoài.

Từ loạt cứ liệu lịch sử bằng hình ảnh chân thực của Giáo sư Kevin Bowen cho thấy, năm 1912, trong thời gian rảnh rỗi của mình và vào ngày nghỉ, Văn Ba cùng nhiều người dân thành phố và những người nhập cư mới tới phòng đọc của Thư viện công cộng Boston. “Với kiến thức của ông về Trung Quốc và vốn tiếng Pháp, tiếng Anh ngày càng hoàn thiện, ông liên tục cập nhật tin tức của thế giới và biết bài tại nhà, liên hệ với Phan Chu Trinh, gia đình và chính quyền ở Huế, nơi ông tìm cách xin gửi tiền về nhà như nhiều người nhập cư quanh ông vẫn làm…”.

Nhìn vào bối cảnh lúc đó, khi ở Boston, chàng thanh niên trẻ Văn Ba sống chủ yếu trong khu vực South Cove hoặc South End của thành phố, một khu vực không xa Boston Common, nơi có nhiều người nhập cư mới, bao gồm cả người dân Trung Quốc đầu tiên của thành phố và cũng là nơi có Nhà Văn hóa và trụ sở của các tổ chức xã hội tiến bộ đầu tiên của Boston.

“Năm 1912, đường tàu điện Green Line đi vào hoạt động. Văn Ba là một trong những hành khách đầu tiên. Nếu đi bộ qua khu vực Boston Common, ông hẳn đã thấy bia đá tưởng niệm Blackstone xây từ năm 1913, hay công trình mái vòm Parkman Bandstand…”. Giáo sư Kevin Bowen mô tả cuộc sống của người thanh niên Việt Nam, hòa mình như những người dân bình thường địa phương lúc đó.

Trong những tháng ngày lưu lại Boston, chàng thanh niên Văn Ba hẳn đã chứng kiến nhiều tòa nhà và khu phức hợp được hoàn thiện, nay là những công trình mang tính lịch sử, như: Vườn thú Franklin Park, Bảo tàng của trẻ em, Liberty Mutual Building, Công viên Fanway, Cảng cá Boston, Trụ sở của Hiệp hội thanh niên Cơ đốc giáo, Tháp Đồng hồ Boston – Customs House Clock Tower, Nhà ga Park Street… Sau hơn 100 năm, dịp đến thăm thành phố lần này, nhiều công trình văn hóa, lịch sử đó vẫn còn uy nghi nổi bật và được bảo tồn, khai thác du lịch giữa nhịp sống năng động của một trong những bang có nền kinh tế có nhiều thế mạnh về kinh doanh, dịch vụ du lịch, đặc biệt lĩnh vực giáo dục, y tế có hàng trăm cơ sở có chất lượng hàng đầu Hoa Kỳ.

Boston còn nổi tiếng khắp thế giới với những trường đại học danh tiếng như Harvard, M.I.T, Tuft, U-Mass… Thành phố này cũng là quê hương của cả hai trường học đầu tiên ở Mỹ: Trường Cao đẳng Boston, thành lập năm 1635, là nơi đầu tiên đào tạo sinh viên bậc đại học của nước Mỹ và Đại học Harvard (ra đời từ 1636) là trường đại học cổ nhất nước Mỹ.

Tháp tùng các hoạt động của Đoàn làm việc với các giáo sư, nhà quản lý giáo dục ở TP Boston, mùa này, chúng tôi được biết đang trong kỳ nghỉ hè nên hầu hết các giảng đường ở Harvard và M.I.T đều đóng cửa, nhưng sân trường thì rất đông du khách trong nước, quốc tế đến thăm. Ai cũng muốn được chạm vào chiếc giày của bức tượng nổi tiếng tại Harvard, với mong muốn đem lại may mắn trong việc học hành!

Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng và lãnh đạo QH bang Masachussetts.

“Bánh mì và hoa hồng”

Theo Giáo sư Kevin Bowen: Trong những năm 1912 – 1912, Văn Ba sống ở một thành phố, nơi các cuộc tuần hành, biểu tình đòi điều kiện sống và làm việc tốt hơn là chủ đề đối thoại hằng ngày.

Cụ thế, những năm tháng này, chàng thanh niên Văn Ba sống giữa các nhà hoạt động về quyền phụ nữ. Từ phong trào của các nhà nữ quyền Suffragettes đòi quyền bỏ phiếu cho đến cuộc đấu tranh của các tổ chức nghiệp đoàn vì điều kiện làm việc tốt hơn cho phụ nữ trong các nhà máy.

Khi bang Masachusetts thông qua đạo luật đầu tiên về chế độ tuần làm việc 54 giờ, các chủ nhà máy đối phó bằng cách cắt giảm lương của công nhân. Ở Lawrence bấy giờ, các nữ công nhân nhà máy, các tổ chức lao động đã khởi xướng phong trào mà sau này được biết đến trên toàn thế giới với tên gọi cuộc đình công của “bánh mì và hoa hồng”. “Chàng thanh niên Văn Ba có lẽ đã nghe những bài diễn thuyết của Big Bill Haywood và cùng tuần hành với những người ủng hộ phong trào”. Giáo sư Kevin Bowen nói.

Lịch sử thành phố còn ghi rõ, vào tháng 6-1912, hàng nghìn công nhân lái tàu của Công ty Đường sắt trên cao Boston xuống đường biểu tình phản đổi việc công ty này đối xử độc đoán với nhân viên và ngăn cản phong trào công đoàn. Khi các lái xe bắt đầu phá máy và toa tàu, công nhân từ địa phương khác được huy động về để ngăn cản đoàn biểu tình. Hơn 700 công nhân bị bắt giữ. Cuộc biểu tình kết thúc sau khi Thị trưởng John J.Fitzgerald, “Honey Fitz” vào cuộc, công đoàn được thừa nhận, và một Ủy ban Dịch vụ công được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân, công nhân và các chủ sở hữu.

Theo Giáo sư Kevin Bowen, người thanh niên Văn Ba chắc hẳn đã chứng kiến trao đổi giữa những người môi giới quyền lực với các chính trị gia trong các căn phòng của Parker House ngay phía nơi ông làm việc. “Ông hẳn đã từng chuẩn bị bánh sinh nhật cho Honey Fitz trong những năm tháng ấy. Khó có thể hình dung rằng con gái của Honey Fitz sau này trở thành mẹ của một người đàn ông mà cũng như anh Văn Ba, đóng vai trò một nguyên thủ quốc gia và một nhân vật tiêu biểu trong thế kỷ 20. Đó là Tổng thống John. F. Kennedy!”.

“Thật thú vị khi hình dung về chàng thanh niên trẻ Văn Ba, người đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử hấp dẫn của Boston ngày ấy”. Giáo sư Kevin Bowen cho biết thêm, nhiều người còn nhớ về lĩnh vực thể thao, đội Red Sox thắng trận đầu tiên trên sân nhà mới ở Fanway Park. Người nhặt bóng Francis Ouimet đánh bại tay gôn chuyên nghiệp để đoạt danh hiệu quán quân giải Goft Mỹ mở rộng tại Country Club ở Brookline. Còn trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dây chuyền sản xuất đầu tiên tại nhà máy Ford ở Highland Park Michigan bắt đầu hoạt động.

Cùng vào thời điểm đó, Hoa Kỳ mở căn cứ quân sự tại Vịnh Guantanamo tại Cuba, lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ vào Nicaragua. Điều thú vị nữa là lúc này, Tờ Thời báo New York phát hành câu đố chữ đầu tiên, từ “nhạc Jazz” được nhắc đến đầu tiên trong một ấn phẩm in!

Giáo sư Kevin Bowen còn viện dẫn bối cảnh trong lòng nước Mỹ và thời thế cuộc sống vận động ở khu vực và quốc tế diễn ra trong năm 1912 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt ở Boston. Giáo sư Kevin Bowen phân tích rõ hơn bối cảnh lịch sử đó: Xa hơn về phía nam, Pancho Villa dẫn đầu quân nổi dậy Mexico đứng lên khởi nghĩa, còn công trình kênh đào Panama được hoàn thành. Ngài Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Mỹ Woodrow Wilson trở thành Tổng thống. Và ở New York, Tòa nhà Woolworth cao nhất thế giới bấy giờ được khánh thành…

Giáo sư Kevin Bowen

Vị giáo sư, nhà thơ cựu chiến binh Mỹ ở Boston bằng tấm lòng của người nghệ sĩ trải nghiệm của cuộc chiến tranh, đã có nhiều dịp trở lại Việt Nam với mong mỏi làm cầu nối hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy nhanh tiến trình hòa giải. Với ông và những người bạn Việt Nam, trước hết để hai bên hiểu hơn về nhau, cần khởi đầu bước đi trong lĩnh vực văn hóa, văn học nghệ thuật, “từ trái tim đến trái tim”…

Ông Kevin Bowen trong 20 năm qua vẽ 34 bức tranh sơn dầu chân dung các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Việt Nam là những người bạn tâm giao, từng là những người lính, bộ đội từng đến nước Mỹ, đến thăm và ở lại nhà ông. Mỗi bức tranh là những cảm nhận, suy nghĩ của nhà thơ Kevin Bowen về người bạn của mình , những nhân vật trong tranh.

Câu chuyện quay lại năm 1969, Kevin đến Việt Nam và tham gia chiến tranh ở núi Bà Đen, Tây Ninh. Một năm sau, ông trở về Mỹ và tham gia phong trào phản chiến của các cựu binh Mỹ trở về từ chiến trường Việt Nam. Trong thời gian học đại học, Kevin tranh thủ đi bán trái cây và gom được một số tiền. Năm 1972, Kevin đã dùng số tiền đó đi Pháp để chờ đợi kết quả từ Hội nghị Paris về hòa bình ở Việt Nam!

Ông tập hợp nhiều nhà văn, nhà thơ danh giá của nước Mỹ như Charles Simic (Pulitzer về thơ 1990), Grace Paley (Thi bá New York), Jusef Koumuniakaa (Pulitzer về thơ 1994), Larry Heineman (National Award về tiểu thuyết 1987), Tim Obrien (National Award về tiểu thuyết 1982)… Và những người này cũng là những cựu binh Mỹ đã tham gia chiến tranh Việt Nam và trở thành những người phản chiến.

Tập thơ để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng bạn đọc Mỹ của Kevin có tên Chơi bóng rổ với Việt Cộng. Tên tập thơ chính là tên một bài thơ trong tập viết tặng nhà văn Nguyễn Quang Sáng khi nhà văn sang thăm Mỹ và đã chơi bóng rổ với Kevin trong sân nhà ông ở Boston…

Không chỉ dừng ở đó, Kevin Bowen là người Mỹ đầu tiên có sáng kiến lập ra chương trình đưa các nhà văn Việt Nam đến Mỹ để nói về đất nước của mình. Kevin cũng chính là người đầu tiên tìm cách giới thiệu văn học Việt Nam vào Mỹ. Ông là người đề xướng việc dịch tuyển thơ của các nhà thơ trong cuộc chiến tranh chống Mỹ.

Khi dịch xong tập thơ này, các dịch giả Việt Nam kể lại rằng, còn băn khoăn chưa biết nên đặt tên cuốn sách là gì, ông Kevin đã quyết định đặt tên cuốn sách là Sông Núi. Khi hỏi ông Kevin vì lý do gì ông đặt tên cuốn sách như vậy? Kevin nói ông nghĩ đến bài thơ của Lý Thường Kiệt. – Đấy là bản tuyên ngôn về quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam: Sông núi nước Nam vua Nam ở… Và chính ông, muốn nhắc lại về quyền độc lập tự do của người Việt Nam và ý chí của người Việt Nam để bảo vệ quyền độc lập tự do ấy!

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Kinh sợ cảnh hàng trăm người dân liều mình đu dây cáp vượt suối –trong khi đó, “Xây cầu vào… nhà chủ tịch xã?”

Posted by hoangtran204 trên 14/09/2015

11-9-2015

(NLDO) – Chứng kiến cảnh hàng trăm hộ dân ở xã La Dom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai phải liều mình đu cáp treo tự chế vượt suối Đôi mỗi ngày, ắt sẽ không ít người phải kinh sợ. Có lẽ quá nguy hiểm nên rất nhiều phụ huynh nơi đây không cho con đến trường

Hàng trăm hộ dân kể trên thuộc các làng Mook Trang, Mook Trê, Mook Đen và công nhân của các đội 15, 17, 18 thuộc Công ty 72 (Binh đoàn 15).

Sợi dây cáp dài khoảng 50 mét, buộc vào thân cây hai bên suối. Trên dây cáp có hai chiếc ròng rọc nối với khung sắt có chiều dài 1,2 mét, rộng 60 cm để làm chỗ ngồi. Mỗi lần đi, cáp treo có thể chở tối đa được 3 người lớn. Được người dân hùn lại 5 triệu đồng để “thi công”.

Bà Hồng Thị Anh (54 tuổi) một người dân địa phương cho biết, trước đây vẫn thường lội qua suối để đến trung tâm xã, nhưng mùa mưa nước lớn không dám lội, muốn mua thức ăn phải gọi điện nhờ người bên kia suối mua giúp sau đó cho vào túi ném sang.

Để rồi giờ đây có cáp treo bà Anh cũng… không dám đi. Bởi theo bà Anh, đã có không ít những vụ đi cáp treo qua suối gặp tai nạn. “Cách đây không lâu, cháu Trần Văn Sang (16 tuổi) khi đu cáp qua suối không may bị trượt chân ngã gãy chân” – bà Anh chia sẻ.

Ông Trần Văn Duy (67 tuổi, đội 15) có 5 ha rẫy bên kia suối nên ngày nào hai vợ chồng ông cũng phải đu cáp treo qua suối để đi làm. “Lắm hôm tôi bị ốm bà nhà tôi phải đi làm một mình, nghĩ đến việc bà ấy đu qua suối nên tôi không yên tâm nên gắng dậy đưa bà qua suối đến khi về rồi lại đi đón” – ông Duy than thở.

Hàng ngày hàng trăm lượt người, có cả trẻ em đu cáp treo qua suối

Hàng ngày hàng trăm lượt người, có cả trẻ em đu cáp treo tự chế qua suối – nhìn hết sức nguy hiểm.

Còn theo chia sẻ của anh Trần Phương Nam (29 tuổi, quê Cà Mau) giờ đây ngày nào anh cũng phải sống trong sợ hãi khi mỗi ngày anh phải đu cáp treo ít nhất 2 lần qua suối để đi làm thuê.

Tuy nhiên, anh Nam cũng cho rằng, đi cáp treo tự chế dẫu có sợ nhưng cũng không sợ bằng vượt suối đi làm, đi chợ.

“Cách đây khoảng 4 năm, chưa có dây cáp treo này nên vợ tôi lúc đó mới 23 tuổi phải lội qua suối để đi mua thức ăn. Khi về không may bị trượt chân ngã xuống suối phải 4 ngày sau mới tìm thấy xác. Nếu có cầu vợ tôi đâu có chết”, anh Nam, bức xúc kể lại.

Qua suối chỉ có các đu cáp treo hoặc lội nước

Qua suối chỉ có cách đu cáp treo hoặc lội nước

Người dân phải đu cáp treo qua suối để đi làm

Người dân phải đu cáp treo qua suối để đi làm, đi chợ

Cũng vì đi lại khó khăn nên hàng chục trẻ em đang độ tuổi đi học phải nghỉ học ở nhà.

Bà Hồng Thị Anh cho biết, cả xóm ngụ cư có khoảng 25 trẻ em đang ở độ tuổi đi học nhưng chỉ có 1 em học lớp 2 là được tới lớp. “Cả xóm này trẻ em nghỉ học hết vì từ quê Cà Mau lên trú ngụ không có giấy tờ, hơn nữa đi lại quá khó khăn, nguy hiểm nên đành để chúng ở nhà cho mù chữ. Chỉ có con bé học lớp 2 là gửi nhà người quen nên mới được tới trường”.

Đi lại khó khăn nên hàng chục trẻ em đang ở tuổi đi học nhưng phải nghỉ ở nhà

Đi lại khó khăn, nguy hiểm nên hàng chục trẻ em đang ở tuổi đi học không được cha mẹ cho đến trường

Ông Nguyễn Hữu Thiện, chủ tịch UBND xã La Dom cho biết có 16 hộ dân quê Cà Mau và Thanh Hóa sinh sống ở bên kia suối. Bên cạnh đó có hàng trăm hộ dân có đất canh tác bên kia suối nên hàng ngày có hàng trăm lượt người đu cáp treo qua suối Đôi để đi làm. UBND xã biết việc đu cáp treo qua sông là rất nguy hiểm nhưng hiện vẫn chưa có kinh phí để đầu tư xây dựng cầu cho bà con đi lại an toàn.

Bài, ảnh Hoàng Thanh

http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/kinh-so-canh-hang-tram-nguoi-dan-lieu-minh-du-day-cap-vuot-suoi-20150911135226063.htm

———————————–

Đảng viên đảng csvn chỉ biết vơ vét và làm giàu cho chính bản thân của họ.

Thứ Hai, 29-6-2015

Xây cầu vào… nhà chủ tịch xã?

(CATP) Thời gian gần đây, người dân xã Sơn Thọ (huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) xì xào bàn tán về cây cầu treo hoành tráng được xây dựng đi thẳng vào nhà ông Chủ tịch UBND xã Sơn Thọ.

Điều đáng nói, cây cầu này sau khi hoàn thành chỉ phục vụ gia đình ông chủ tịch xã và một vài hộ dân đi lại. Trong khi đó, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đang phải sử dụng đò để qua sông, hoặc đi lại trên những chiếc cầu gỗ chòng chành, tạm bợ.

Theo quan sát của chúng tôi, cây cầu treo dẫn vào nhà ông chủ tịch xã đang chuẩn bị công tác hoàn tất. Một cây cầu kiên cố được xây dựng khi mà cách khoảng 200m, một cây cầu lớn được xây dựng trước đó hiện vẫn đang phục vụ nhu cầu đi lại của bà con, khiến mọi người trong xã không khỏi thắc mắc, có hay không việc xây cầu riêng cho gia đình chủ tịch xã?

Chiếc cầu treo bắc qua khe Tây nối thẳng vào nhà Chủ tịch UBND xã Sơn Thọ

Theo tìm hiểu, khu vực cây cầu treo này bắc qua khe Tây của thôn 6 (xã Sơn Thọ) đi thẳng vào nhà vị chủ tịch xã và một hộ gia đình bên cạnh, trong khi đó ở đây chưa có dự án hay một mô hình kinh tế nào được hình thành.

Một người dân thắc mắc: “Chiếc cầu này vừa được khởi công xây dựng từ đầu năm nay. Là người dân nhưng chúng tôi cũng không biết vì sao cây cầu này lại được xây dựng khi nó chỉ phục vụ vài ba hộ dân đi lại, vì những hộ khác họ vẫn đi trên cây cầu Gãy cạnh đó. Trong khi rất nhiều nơi khác đang cần cầu, có lẽ là cầu xây vào lối nhà ông chủ tịch nên được ưu tiên”.

Ông Nguyễn Khắc Hội – Chủ tịch UBND xã Sơn Thọ cho rằng, địa phương đang có ý định phát triển kinh tế ở trong đó. Hơn nữa, cây cầu này sẽ phục vụ nhu cầu đi lại cho khoảng 40 – 50 hộ gia đình với 220 nhân khẩu.

Đây là cầu dân sinh do Bộ Giao thông làm chủ đầu tư, được khởi công xây dựng vào tháng 1-2015 đến tháng 6-2015 sẽ hoàn thành. Xã chỉ là đơn vị trực tiếp thụ hưởng, nên mọi kinh phí cũng như việc khảo sát xã không biết. Sau khi chiếc cầu treo này hoàn thành, xã sẽ cho mở một con đường lớn nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của bà con.

Ông Nguyễn Quý Trung, người trực tiếp phụ trách công trình này cho biết: Đây là cầu treo phục vụ dân sinh do Bộ Giao thông phê duyệt. Khi lập đề án triển khai, ở Hà Tĩnh đề xuất 5 cây cầu nhưng 4 cái đủ tiêu chí được phê duyệt. “Việc cầu treo Sơn Thọ được xây dựng ban đầu là do xã Sơn Thọ đề xuất, huyện xem xét gửi lên và đã được Bộ phê duyệt” – ông Trung cho biết thêm.

Chiếc cầu cũ nằm cách đó 200m vẫn còn kiên cố

Giải thích về việc xây dựng một cây cầu cạnh một cây cầu đã có sẵn như vậy, ông Trung cho biết chắc do xã đã có tính toán quy hoạch nhằm xây dựng khu kinh tế ở đó. Tuy biết rất nhiều nơi đang cần cầu, nhưng vì cầu treo kinh phí thấp, độ dài rộng có giới hạn nên khi khảo sát thực tế khó có thể thực hiện.

Việc xây dựng cây cầu này cũng đã có đoàn về kiểm tra khảo sát và đắn đo mãi mới quyết định làm. “Có thể xây dựng chiếc cầu này là để phục vụ bà con vào mùa lũ khi mà chiếc cầu cũ có thể bị ngập”, ông Trung nói.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, nếu lúc nước lũ dâng cao để có thể tràn qua chiếc cầu cũ bên cạnh thì người dân cũng không thể đi lại được bên chiếc cầu treo mới xây dựng này, bởi có một suối nhỏ ngăn cách đoạn đường đi lại, lúc đó nước sẽ ngập luôn con suối đi qua. Vậy liệu cây cầu này có giúp bà con đi qua được trong mùa lũ?

Posted in Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

► Lễ đài thắt rất nhiều nơ đỏ

Posted by hoangtran204 trên 14/09/2015

Một phụ nữ trong bộ áo dài màu vàng và đỏ cầm một vật dụng hình cây đuốc có tua rua vàng đến châm vào ngọn lửa không khói đặt tại gian đền thờ Hồ Chí Minh trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, nơi hai gam chủ đạo vàng và đỏ cũng tràn ngập như ở mọi không gian quyền lực khác của cách mạng Việt Nam.

Một vận động viên nam mặc áo thể thao đỏ ba sọc trắng và quần thể thao trắng ba sọc đỏ nhưng không có logo của Adidas nhận ngọn lửa truyền thống từ tay chị trước bức tượng Hồ Chí Minh đang vẫy tay chào đúng kiểu kinh điển của tất cả các lãnh tụ cộng sản (trừ Tito).

ledai nodo 01

TT Nguyễn Tấn Dũng trên lễ đài.

Ông Hồ, sau lưng có mặt trời và đám mây mọc trên một cây đa, trông như một món đồ lưu niệm quá cỡ.

Mọi thứ đều đẫm sắc thái phông màn và đạo cụ, sơn thếp và rẻ tiền. Chiếc đài lửa ở Quảng trường Ba Đình cũng đượm mầu hàng mã. Lễ đài thắt rất nhiều nơ đỏ. Hoa hồng môn cũng đỏ trên những mâm hoa muôn thuở. Chỉ thiếu trước mặt mỗi vị khách một chai nước La Vie, đều như phân phối theo đầu người, là đầy đủ một sự kiện long trọng kiểu Việt Nam. Những người cộng sản, khét tiếng bởi phong cách khổ hạnh và nghiêm trang nguyên thủy, đã say đắm thẩm mỹ vàng son từ lúc nào và vui vẻ pha trộn cả các thủ pháp sân khấu cải lương lẫn ngôn ngữ của thể thao đại chúng và Disneyland vào những biểu tượng quyền lực của mình. Chào mừng bạn đến với tiệc sinh nhật 70 năm, tuổi nay không hiếm, của chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam!

Màn kính thưa và trân trọng giới thiệu cố hữu, vốn dĩ đã tra tấn, từ lúc nào định hình quái gở như hiện tại, đó xứng đáng là câu hỏi số 15 của chương trình “Ai là triệu phú”. Đầu tiên là các vị Tổng Bí thư và nguyên Tổng Bí thư, rồi Chủ tịch nước và nguyên Chủ tịch nước, Thủ tướng và nguyên Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội và nguyên Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và nguyên Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc…, cứ thế từ cao nhất và nguyên cao nhất đến thấp nhất và nguyên thấp nhất trên lễ đài, lần lượt từng người được gọi đúng tên, chức vụ và nguyên chức vụ đứng dậy như trong giờ điểm danh. Riêng thao tác này đã phiền hà, vì trước hết họ phải trèo từ những chiếc ghế hay bệ ngồi xuống chỗ đứng thấp hơn một chút bên dưới, trông rất lích kích, trừ ông Lê Đức Anh được đặc cách, một cảnh binh khuất phía sau thò tay giữ để ông không đổ trong cả tư thế ngồi. Rồi từng người một, giống hệt nhau, họ rập khuôn một động tác khó tả, mới thịnh hành từ chưa đầy một thập niên đổ lại: Họ bặp hai bàn tay vào nhau. Không ra chắp. Không ra chụm. Không ra lồng. Không ra nắm. Không ra bắt. Không ra kiểu nhà Phật. Không ra kiểu nhà võ. Không ra hiện đại. Không ra truyền thống. Không ra chào. Không ra vái. Không ra lạy. Không ra cầu nguyện. Không ra trịnh trọng. Không ra xuề xòa. Một cái vỗ tay ngưng giữa chừng? Một cái bắt tay tượng trưng? Một biến thái của biểu tượng chiến thắng, như thỉnh thoảng có thể bắt gặp ở các chính khách phương Tây sau những chiến dịch tranh cử? Tôi đã tìm mãi mà không thấy kiểu bặp tay chào này nằm ở quy định nào trong nghi lễ của các nước cộng sản. Cũng như không ở đâu có quy định khiến họ phải nhuộm tóc đen nhánh và rẽ ngôi cùng một phía. Khiến họ mặc áo cộc tay trắng giắt trong quần mầu ghi, túi áo gài bút bi. Song muốn thế nào, khi giới lãnh đạo tối thượng đồng loạt bặp tay như vậy, trước quốc dân và quốc tế, thì ngôn ngữ giao tiếp mới mẻ này của các nhà cộng sản Việt Nam nên được nghiên cứu và phân tích. Họ bặp tay, giơ lên ngang mặt, đầu gật gật rung rung, mắt nhìn lung tung, một hình ảnh khá lạ lùng. Ngoài ông Lê Khả Phiêu giơ tay chào nửa kiểu nhà binh, nửa kiểu cháu ngoan Bác Hồ và ông Nguyễn Văn An đàng hoàng vỗ tay hoan hô mình, ngoại lệ thực sự là ông Nguyễn Tấn Dũng, người duy nhất giơ tay vẫy theo phong cách lãnh tụ như đã nói ở trên và thần thái toát lên một vẻ oai vệ nhất định giữa các vĩ nhân tỉnh lẻ, trông như những hình nhân tồn kho từ thế kỷ trước.

ledai nodo 01

Nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh trên lễ đài. Nguyên TBT Nông Đức Mạnh trên lễ đài. ẢNH CHỤP TỪ CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP CỦA VTV1

Thời gian quả là đóng băng từ thế kỷ trước. Từ Thức ngày nay có đi đâu trở về sẽ thấy chốn xưa nhiều thay đổi, nhưng cứ vào sự kiện lớn là tất cả đều nguyên nếp cũ, như bước ra từ bảo tàng. Vẫn là một bài diễn văn chán ngấy như để giết mọi cảm giác, dài dằng dặc như để rèn lòng kiên nhẫn không phải chỉ của nhân dân. Vẫn là kiểu cắm đầu vào giấy đọc chầm chậm, cốt tròn vành rõ chữ, không một mảy may cảm xúc: trong 22 phút 22 giây, ông Chủ tịch Trương Tấn Sang chỉ nhấc gương mặt bẩm sinh đã khá lạnh lẽo của mình lên khỏi mặt giấy dăm bảy lần khi hết một đoạn lớn, chấm xuống hàng. Trên lễ đài, một vị tướng ngủ gật. Bên dưới, các chàng cảnh binh mỗi người một vẻ, kẻ trừng mắt, người lim dim, mũ đội không nghiêm, đai cài trễ nải. Ở khu vực các khối xếp hình, vài ba người bỗng nhiên loanh quanh đi lại, như bao giờ cũng thế, bao giờ cũng có những nhân vật hành tung bí ẩn đi lại loanh quanh. Ở khu vực đại biểu các tầng lớp nhân dân, lố nhố kẻ đứng lên, người ngồi xuống.

ledai nodo 01

Cảnh binh trên Quảng trường Ba Đình

Vẫn là kịch bản vung tay đi đều bước, như trong mọi giờ thể dục mà thế hệ tôi học ở trường, như quan niệm đã tuyệt đối lỗi thời về sức mạnh của kỷ luật quân sự kiểu hàng lối tề chỉnh. Vẫn là gu văn công, môi đỏ má hồng, militarism hồn nhiên sánh vai sexism đại chúng. Vẫn là tinh thần văn nghệ phố huyện, lập lòe sặc sỡ, chỉ thiếu hát karaoke và nhảy cực xung là thành đám cưới tân thời. Vẫn là những biên đạo đại trà áo dài nón rồng hoa sen tre nứa, lần này xuất hiện thêm những người Việt cổ đóng khố, đầu cắm lông, trông không khác người da đỏ trong phim Hollywood và những con gà lông xanh, lông hồng, lông vàng, như hàng đặt thẳng từ Disneyland. Vẫn là những chiếc xe mô hình không thể Kitsch hơn; xe của khối Trí thức Việt Nam trương biểu tượng nguyên tử, trong khi khối nông dân hoan hỉ rước Hồ Chí Minh và rồng. Cuối cùng, rồng và Hồ Chí Minh cũng kết thúc lễ hội hóa trang thời thượng mà nhầm thời đại này.

ledai nodo 01

Khối nông dân Việt Nam

ledai nodo 01

Khối trí thức Việt Nam

ledai nodo 01

Cảnh kết thúc

Ngày hôm sau, tờ New York Times chạy bản tin ngắn nhan đề “Vietnam’s Alternative Parade, Celebrating Independence“. Chữ “alternative” ở đó thật hiểm. Một cuộc diễu binh khác, so với cuộc xưng hùng cực đại, oai phong, tối tân, hoàn hảo đến từng đường gân thớ thịt ở Trung Quốc. Xem họ, tôi bỗng thấy mừng. Mừng cho tất cả những luộm thuộm của cuộc phô trương lấy lệ của một quốc gia nhược tiểu. Mừng cho những chàng cảnh binh tranh thủ chợp mắt khi Chủ tịch đọc diễn văn. Mừng cho những cái chân giơ lên không đều. Mừng cho những chiếc ghế nhựa gãy thanh chắn. Mừng cho những cái mũ đội chệch, những chiếc đai không cài hết nấc. Và mừng nhất, nếu đó là cuộc diễu binh cuối cùng trên mảnh đất này.

ledai nodo 01

Lễ diễu binh Trung Quốc: Không được chệch một ly. ẢNH TRUYỀN HÌNH TRUNG QUỐC

ledai nodo 01

Lễ diễu binh Trung Quốc: Người hay robot? ẢNH: KEVIN FRAYER/GETTY IMAGES

ledai nodo 01

Lễ diễu binh Việt Nam: Giải lao một chút trên chiếc ghế nhựa xanh đã gãy một thanh chắn. ẢNH REUTERS

ledai nodo 01

Lễ diễu binh Việt Nam: Không nhất thiết phải đi đều lắm. ẢNH: INFONET

 ledai nodo 01

Lễ diễu binh Việt Nam: Không nhất thiết phải chỉnh tề giơ gậy. ẢNH: REUTERS

Nhưng bạn đừng đòi tôi xoay ra có cảm tình với cái lễ đài thắt nơ đỏ. Việc đó vượt quá sức người.

PTH

7/9/2015

http://baotreonline.com/Chuyen-muc-tre/Le-Cheo/le-dai-that-rat-nhieu-no-do.html#.VfHbJA5SggE.facebook

 

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nhà báo và sự nô lệ tự nguyện

Posted by hoangtran204 trên 11/09/2015

9-9-2015

nguyenthituhuy

Hôm nay tôi nhận được email từ một người bạn của nhà báo Đỗ Hùng. Câu chuyện phóng viên này bị tước thẻ nhà báo vì một status đùa nghịch trên facebook cá nhân vẫn đang còn là thời sự. Chưa có phản ứng gì từ đồng nghiệp của Đỗ Hùng trong giới báo chí chính thống.

Tôi viết bài này như một sự chia sẻ với phản ứng của người bạn của Đỗ Hùng. Và cũng để nói rằng tôi rất đồng tình với các nhận định của nhà báo độc lập Huỳnh Ngọc Chênh về vụ việc này.

Trước khi nói tiếp xin mời độc giả xem bức biếm họa dưới đây

tongthongphap.png

Nhân vật bị đả kích, xuất hiện trong bức tranh này với dương vật thòi ra, là đương kim tổng thống Pháp, François Hollande, và tờ báo đăng bức tranh này là Charlie Hebdo.

Chúng ta đều biết, mặc dù bị châm biếm đến mức như vậy, Hollande chẳng những không ra lệnh tịch thu thẻ nhà báo, không ra lệnh cách chức tổng biên tập hay phạt tiền hay đóng cửa tòa soạn, theo cách thức mà chính quyền Việt Nam sẽ làm (dĩ nhiên luật pháp cũng không cho phép ông ta làm điều đó), mà Hollande hẳn còn tự hào khi ở Pháp có một tờ báo như vậy. Bằng chứng là khi tờ báo bị tấn công, các nhà báo bị sát hại, Hollande còn kêu gọi toàn dân Pháp biểu tình để tượng niệm các nhà báo, và để bảo vệ tinh thần Pháp, tinh thần tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu đạt. Không những chỉ dân Pháp, rất nhiều lãnh đạo các quốc gia khác cũng tham dự.

Bây giờ, chúng ta hãy hình dung cảnh tưởng tượng này : các nhà báo của các tờ báo chính thống Việt Nam, khi đến tòa soạn đồng loạt giơ một tấm biểu ngữ « Tôi là Đỗ Hùng » (nghĩa là tương tự cảnh các nhà báo Pháp giơ tấm biển « Tôi là Charlie » sau vụ các nhà báo của tờ Charlie Hebdo bị ám sát). Thử hỏi Bộ 4T có thể tịch thu hết thẻ nhà báo của tất cả các nhà báo không ? Không thể, bởi nếu thế thì sẽ lấy ai làm công cụ tuyên truyền cho đảng ?

Đọc đến đây, độc giả sẽ bảo : « Chị này chỉ giỏi mơ tưởng hão huyền, phi thực tế ! ». Phản ứng ấy của độc giả hoàn toàn dễ hiểu và hoàn toàn hợp lý, dựa trên thực tế của chúng ta hiện nay : thay vì bảo vệ đồng nghiệp của mình, các nhà báo im lặng để cho bất công hoành hành.

Etienne de la Boétie, trong tiểu luận nổi tiếng, viết lúc ông chưa đến 20 tuổi,  « Luận về sự nô lệ tự nguyện » đưa ra một ý tưởng nổi tiếng : kẻ bạo chúa không thể tồn tại nếu không có sự cam chịu nô lệ của đa số dân chúng, chính là sự nô lệ đã tạo ra bạo chúa.

Bộ 4T có thể hoành hành như vậy bởi vì không gặp phản ứng nào. Chính là sự cam chịu của giới báo chí đã tạo ra sự chuyên chế và sự đàn áp của Bộ 4T.

Chẳng cần đi đâu xa xôi ở các nước văn minh hay nhìn đâu xa xôi trong lịch sử, chỉ cần nhìn ngay một sự kiện tương tự, vừa xảy ra tại Việt Nam, để thấy rằng, một phản ứng, dù rất lịch sự, cũng có thể ngăn ngừa bất công và tự bảo vệ quyền của mình. Độc giả có lẽ hiểu ngay rằng tôi đang nói về trường hợp Phạm Lê Vương Các. Sự phản ứng của Vương Các, cộng với sự phản ứng của cộng đồng mạng, đã khiến trường Đại học nơi Vương Các đang học thay đổi thái độ.

Phạm Lê Vương Các mới chỉ là một sinh viên.

Các nhà báo Việt Nam có lương tri:  quyền dân sự, quyền công dân, quyền con người chính là những gì tạo nên nhân phẩm của các anh chị, các anh chị sẽ chấp nhận hay từ chối việc người ta tước đoạt các quyền và nhân phẩm của mình ?

Paris, 9/9/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

http://www.rfavietnam.com/blog/4359

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Sách-Hồi Ký-Bài Báo..., Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Nhà cầm quyền Hà Nội cướp đất đai của nông dân ở Dương Nội

Posted by hoangtran204 trên 11/09/2015

Trịnh Bá Phương

10-9-2015

Đây chính là nguyên nhân mà chinh quyền, công an bất chấp luật pháp dùng mọi thủ đoạn, bạo lực, dùi cui, gậy gộc.. và nhà tù để cướp đoạt ruộng đất của nông dân Dương Nội.

Trong khi người dân không có đất để canh tác, rơi vào cảnh thất nghiệp và nghèo đói, và thì giám đốc trung tâm PT quỹ đất quận Hà Đông ông Nguyễn Đình Huệ đã đưa ra đấu giá các lô đất có diện tích lên đến 1.797,97 m2 và 1803,5 m2.

Đền bù cho dân Dương Nội với giá 201.600 VND/1m2( tương đương 3 tô phở Hà Nội) và đưa ra đấu giá, giá khởi điểm đã là 31.500.000 VND.
Bất kỳ ai cung có thể mua, trong đợt đấu giá này số diện tích 72 lô cộng lại là đã là 129.652,92 m2.

Tổng số tiền thu về theo giá khởi điểm là : 4.084.066.980.000 VND ( hơn bốn nghìn tỷ đồng tương đương với

Trừ đi giá đền bù trên số diện tích 129.652,92m2 là:
26.156.028.672 VND( hơn 26 tỷ đồng).

trừ các khoản hỗ trợ chuyển đổi nghề 30.000 VND/1m2, đường,trường, trạm, thuế.. Thì lợi nhuận mà chính quyền thu về được trên số diện tích đất này là hơn 4 nghìn tỷ đồng.

Chỉ riêng bản thông báo mời thầu và đấu giá do ông Nguyễn Đình Huệ đóng dấu đã cho thấy rõ hành vi cướp đoạt đất đai trắng trợn của chính quyền quận Hà Đông.
Và chỉ tính theo giá khởi điểm cho thấy lợi nhuận kinh tế khổng lồ thu lại từ việc cướp đoạt ruộng đất của nông dân Dương Nội.

Một vụ cướp đất đai đang diễn ra

Mai Thanh added 6 new photos

SOS: Chưa đền bù, tiến hành cưỡng chế, đàn áp, đánh đập dã man người già, phụ nữ đang mang thai ngay giữa Hà Nội.

Theo thông tin nhận được từ gia đình ông Hoàng Công Kiểm. Mặc dù chưa tiến hành đền bù, cũng như mức giá đền bù chưa thỏa thuận được với gia đình. Ngày hôm qua, lực lượng cưỡng chế quận Long Biên đã tiến hành xông vào cưỡng chế 4000m2 đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Kiểm. Đây vốn là đất do gia đình ông khai khẩn từ ngày còn hoang sơ, hoang vu, thùng vũng mà thành.

Lực lượng cưỡng chế gồm các lực lực tại địa phương như “hội phụ nữ”, tổ dân phố, “mặt trận tổ quốc”, CSTT, công an thường phục, quân phục kéo vào hơn 100 người. (Con số chưa chính xác vì có thể còn nhiều hơn).

Lực lương cương chế không đưa ra bất kỳ văn bản nào nhưng tiến hành phá rào, san lấp, quây tôn, cô lập gia đình với bên ngoài không cho di chuyển đi lại. Toàn bộ gia đình đa phần là người già và phụ nữ phản kháng yếu ớt bằng cách quay phim ghi lại bằng chứng phá dỡ, cưỡng chế gia đình liền bị đánh đập dã man trong đó có cả một phụ nữ đang mang thai cũng bị cái gọi là “hội phụ nữ”, “công an thường phục” đánh đập, tất cả điện thoại của gia đình hiện vẫn bị cướp nên toàn bộ hình ảnh không lan được ra bên ngoài. Vợ ông Kiểm, phụ nữ nhiều tuổi bị đánh gẫy xương sườn, hiện chiều qua phải đưa đi cấp cứu tại BV Việt Đức và hiện đang chuyển tới điều trị tại một BV khác…

Sáng nay, 10/9/2015. Lực lượng cưỡng chế tiếp tục trở lại cưỡng chế gia đình ông Kiểm cùng 2 hộ dân bên cạnh. Gia đình ông Kiểm và các con không còn cách nào khác để kháng cự sức mạnh chuyên chính của lực lượng cưỡng chế. Chỉ biết phản kháng yếu ớt bằng cách định quyên sinh ngay tại mảnh đất, ngôi nhà của gia đình mình. 
Sau khi người con ông Kiểm lấy chai đập đầu lấy mảnh chai định cắt ven thì lực lượng cưỡng chế tạm thời rút đi.

Được biết, lực lượng cưỡng chế còn tiếp tục quay lại vào ngày mai.

Kính mong tất cả mọi người, các hội nhóm, các nhà hoạt động XHDS, mọi người yêu công lý hãy vượt qua mọi khác biệt. Hãy lên tiếng bảo vệ những con người đang tuyệt vọng nơi đây.

Updating…

Mai Thanh's photo.
Mai Thanh's photo.
Mai Thanh's photo.
Mai Thanh's photo.
Mai Thanh's photo.

 

Hoàng Nga Sdt trên là cầu cứu của cả gia đình em . Xin nhận mọi cầu cứu của mọi tấm lòng . Mọi người đi đến ngã tư cầu chui Long biên , xuôi đường 5 500m bên tay phải nhìn thẳng vào là dự án sân golf Long biên của Tập đoàn Him lam . Và phải vượt qua đó mới vào được nhà em ở góc trong . Vì ngày hôm qua nhà em bị “cướp ” hành hung đưa lên phường . Để bọn chúng rào chắn , đào bới . Con đường vào nhà em hiện tại phải vượt qua đó .

Updating…

Hàng loạt sai phạm “động trời” tại sân golf Long Biên

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►”Chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết”

Posted by hoangtran204 trên 10/09/2015

LTSNhân Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu tổ chức ngày 27-8 tại Thanh Hóa bàn về chủ đề hội nhập và phát triển bền vững, nhà báo Tư Giang trao đổi với Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Đức Kiên về những vấn đề lao động khi tham gia các FTA.

Chúng ta, Tư Giang, Kinh tế Mùa Thu, hiệp định, công đoàn, người lao động, Việt Nam
Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Đức Kiên

Không còn cửa nào phát triển, nếu…

Việt Nam đã và sẽ ký 15-16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trở thành quốc gia “nhất thế giới” trong việc tham gia các thỏa thuận thương mại. Vì sao chúng ta lại tham gia quá nhiều các FTA thế, trong khi phần lớn các nước khác đâu dám làm vậy?

–Chúng ta không tham gia các FTA không được. Tình thế buộc chúng ta làm vậy. Các quốc gia khác họ tự cân đối được; còn nền kinh tế của Việt Nam có tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 1,8 GDP, chúng ta không còn cửa nào phát triển, nếu không mở ra bên ngoài. Sức mua của thị trường nội địa quá thấp. Ngay cả so với Lào thì sức mua của ta cũng rất kém. Chẳng hạn, một hộ gia đình của Lào ở thành phố có ít nhất 1 xe ô tô, nhà ở ít nhất 500 m2; còn Việt Nam chúng ta một hộ gia đình ít nhất có 1 xe máy, và 50 m2. Chỉ tính sơ bộ đã thấy sự khác biệt.

Tức là, tình thế hiện nay chỉ có hai lựa chọn, một là mở cửa, hai là chết.

Nhưng, các FTA, nhất là Hiệp định xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng mang lại những trò chơi khốc liệt, không chỉ trong kinh tế, thưa ông?

–Thực tế thì nó sẽ còn khốc liệt hơn chúng ta nghĩ vì các FTA sẽ còn tác động đến các tổ chức chính trị, xã hội mà lâu nay chúng ta nghĩ nó là duy nhất của Việt Nam. Ví dụ như như quyền tự do lập hội và quyền thương lượng thỏa ước lao động. Chúng ta nghĩ rằng, chỉ có Đảng là người chăm lo mọi lợi ích của người lao động.

Nhưng nếu Đảng và các tổ chức chính trị xã hội đi cùng không tự vươn lên, không trở thành thỏi nam châm để thu hút người lao động, thì người lao động họ sẽ tách ra và đi theo guồng máy của lực hút khác. Những thách thức đó còn khốc liệt hơn nhiều, thách thức toàn diện, không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà sang cả chính trị,…

Việt Nam tuyên bố là kết thúc đàm phán song phương với các quốc gia TPP. Theo ông, chúng ta có quá dễ dàng không, chẳng hạn như với các điều khoản về lao động?

–Các yêu cầu trong TPP đều là mục tiêu mà Việt Nam phấn đấu xây dựng. Ví dụ, điều kiện lao động yêu cầu người lao động không làm việc quá 48 tiếng trong tuần; hay chỗ làm việc cũng quy định điều kiện vệ sinh, ánh sáng thế này; hay không có lao động trẻ em. Những yêu cầu đấy hiện nay chúng ta đang phấn đấu. Đảng còn đấu tranh yêu cầu các chủ lao động cải thiều điều kiện làm việc cho người công nhân, cải thiện điều kiện ăn ở trong khu ở của người lao động. Đến mức nào đó, chúng ta thấy mục tiêu chúng ta đang phấn đấu trùng với tiêu chí, giới hạn kỹ thuật mà tổ chức chúng ta định gia nhập đặt ra. Đấy chính là quyền mưu cầu hạnh phúc của con người.

Thưa ông, những cam kết về lao động và công đoàn trong TPP cũng chỉ là lặp lại những cam kết của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam là thành viên. Ông có thể vắn tắt những cam kết này?

–Việt Nam trở thành thành viên của ILO năm 1998 sau khi đạt được thỏa thuận lùi thời gian thực hiện lại, tức có lộ trình. Có 13 công ước của ILO, trong đó, chúng ta đã và đang thực hiện 8, và 5 chưa thực hiện.

Có hai công ước quan trọng nhất. Thứ nhất là Công ước 87 về quyền tự do lập hội của người lao động ở cơ sở, hay nói nôm na là quyền lập công đoàn cơ sở. Một nhà máy có thể có nhiều công đoàn, như công đoàn công chức, công đoàn công nghiệp, công đoàn hóa chất, hay thậm chí là hội thợ may quê Nghệ An,… Người lao động được tự do gia nhập các tổ chức ấy, hoặc là họ tự lập ra một tổ chức và chính quyền phải chấp nhận. Họ có quy chế, có đăng ký, và các tổ chức ấy được đối xử bình đẳng.

Thứ hai là Công ước 107, khi công đoàn tập hợp được trên 50% người lao động thì họ có quyền liên kết lại để ký với chủ thỏa ước lao động; và nếu cần, họ có thể đình công, hay kêu gọi đình công hợp pháp. Công đoàn này có thể hỗ trợ công đoàn khác. Họ liên kết ngang, liên kết dọc.

Trong các công ước của ILO, thì hai công ước trên là đáng lưu tâm nhất…

Đọc tiếp »

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đòi tăng giá

Posted by hoangtran204 trên 10/09/2015

Các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đang đề nghị chính phủ cho phép họ phân bổ hàng chục ngàn tỉ đồng do những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính họ vào giá thành các sản phẩm, rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng!!!

Giá dầu thế giới hạ thấp chỉ còn 45 đô/ 1 thùng. Giá dầu đã và đang xuống thấp nhiều tháng qua, và sẽ tiếp tục xuống thấp trong khoảng 40-45 đô 1 thùng cho đến năm 2016.

Quá vô lý mà vẫn đề nghị tăng giá là sao?

Tuổi Trẻ-

8-9-2015

Thật vô lý khi DN có thể hạch toán thoải mái những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính mình vào giá thành rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng…

Ông Trần Ngọc Thơ - Ảnh: Đình Dân
Ông Trần Ngọc Thơ – Ảnh: Đình Dân

Việc các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đề nghị Chính phủ cho phép họ phân bổ hàng chục ngàn tỉ đồng vào giá bán có nhiều vấn đề ẩn sâu dưới đó cần phải được nhận diện đúng mức. 

Trên thế giới này không có doanh nghiệp nào có thể hạch toán thoải mái những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính mình vào giá thành rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng, ngoại trừ họ muốn phá sản vì bị các địch thủ khác cạnh tranh.

Ở Việt Nam, yếu tố ngoại trừ này đã được Nhà nước bảo hiểm cho các doanh nghiệp độc quyền rồi. Trong câu chuyện này vẫn còn nhiều điều cần được làm rõ.

Đầu tiên là vấn đề minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tập đoàn. Tại sao tỉ giá tăng thì đòi tăng giá, còn những lúc tỉ giá giảm và thậm chí giảm rất sâu như năm 2006-2007, sao không thấy Tập đoàn Điện lực đề xuất giảm giá bán?

Thậm chí lãi suất, lạm phát và giá cả nguyên liệu thế giới thời gian qua giảm rất sâu, tại sao giá điện lại không giảm mà ngày càng có xu hướng tăng thêm? Đây là điều không sòng phẳng với người tiêu dùng chút nào.

Các tập đoàn cho rằng vay ngoại tệ nên lỗ do tỉ giá là điều vô lý ngay từ cái nhìn đầu tiên. Do các tập đoàn được Chính phủ bảo lãnh vay nợ bằng USD nên lãi suất đi vay rất thấp, chỉ khoảng 4 – 5%.

Trong khi đó lãi suất vay bằng VND hiện tại khoảng 10%, chưa kể có những thời điểm trước đây mức lãi suất VND còn lên đến 20%, như vậy mức lãi suất trung bình năm năm qua khoảng 15%. Như vậy so lãi suất VND với USD, bình quân năm năm qua các tập đoàn đã có lợi nhuận tăng thêm mỗi năm khoảng 15% trên tổng số vốn vay bằng ngoại tệ. Nay chỉ mới có tháng 8 vừa qua tỉ giá USD/VND tăng khoảng 5% đã kêu lỗ là điều hết sức phi lý.

Đến đây, câu hỏi được đặt ra: liệu đề xuất tính cả chục ngàn tỉ đồng tỉ giá vào giá điện lần này có thật sự đến từ nguyên nhân tỉ giá? Hay các tập đoàn đã mất mát phần nào sức đề kháng trước các cú sốc xảy ra nên chỉ còn cách khả dĩ đưa những sai lầm trong quá khứ vào giá bán. Có khả năng đề xuất bù lỗ tỉ giá vừa qua chỉ là cái cớ, là giọt nước cuối cùng làm tràn ly lỗ lã triền miên tích tụ bấy lâu nay.

Đã đến lúc Chính phủ phải làm rõ các bí mật này và tiến tới thị trường hóa mạnh mẽ các lĩnh vực điện lực, xăng dầu, nếu không trong tương lai chẳng cần đến cú sốc gì cả, giá các mặt hàng độc quyền này muốn tăng thì sẽ cứ tăng mà không ai biết thực hư ra sao.

TRẦN NGỌC THƠ

Ba “ông lớn” điện, than, dầu khí đòi người tiêu dùng gánh lỗ

8-9-2015

TT – Ba tập đoàn lớn là Điện lực (EVN), Công nghiệp than – khoáng sản (TKV), Dầu khí (PVN) đồng loạt kêu lỗ hàng ngàn tỉ đồng do điều chỉnh tỉ giá, đề nghị… tính vào giá thành điện.

Trong khi đó, đại diện Bộ Tài chính, Bộ Công thương và chuyên gia cho rằng không thể đưa vào giá thành và tăng bao nhiêu cũng được, phải tính toán kỹ tránh kích hoạt làn sóng tăng giá.

Phải trông vào… tăng giá

Phân tích nguyên nhân khoản lỗ do chênh lệch tỉ giá, ông Hồ Công Kỳ, chủ tịch HĐQT Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power – thuộc PVN), giải thích hầu như tất cả các nhà máy điện khi đầu tư (vốn cần đến cả tỉ USD – PV) đều phải đi vay khoảng 70%, nhiều nhà máy phải vay cả tỉ USD.

Khi giá 1 USD là 21.000 VND thì vay 1 tỉ USD được quy đổi là 21.000 tỉ VND, nhưng khi tỉ giá tăng, 1 USD đổi được 22.000 VND thì nợ của doanh nghiệp tăng ngay lên thành 22.000 tỉ VND (tăng 1.000 tỉ VND). Nghĩa vụ trả nợ tăng, đồng nghĩa chi phí tăng, giá bán không tăng thì hiệu quả doanh nghiệp giảm, thậm chí lỗ.

Về khoản “lỗ” 1.200 tỉ đồng vừa được đề nghị tính vào giá điện của TKV, ông Nguyễn Anh Tuấn, phó tổng giám đốc tập đoàn này, cho biết thực chất ông không cho rằng đó là TKV “bị lỗ”.

TKV chỉ đề xuất Bộ Công thương cho phép điều chỉnh tỉ giá theo diễn biến thực tế theo đúng quy định mà thông tư của Bộ Công thương đã quy định.

Ông Tuấn cho rằng hiện các doanh nghiệp phát điện của TKV vẫn phải tính theo tỉ giá cũ, trong khi đó nếu căn cứ theo tỉ giá mới, mức chênh lệch tới 1.200 tỉ đồng (điều này đồng nghĩa 1.200 tỉ đồng chưa được tính vào chi phí phát điện của TKV – PV). Nên theo ông Tuấn, TKV đề nghị tính theo tỉ giá mới “cho đúng bản chất kinh tế”.

Ông Tuấn cũng cho rằng các nhà máy phát điện đầu tư để phát điện, nếu chênh lệch tỉ giá không tính vào giá điện thì… không phân bổ đi đâu được.

Ông nhấn mạnh hiện các doanh nghiệp tư nhân, nhiều nhà máy điện theo hình thức BOT (xây dựng, vận hành, chuyển giao) đều đã có cơ chế được tính vào giá thành ngay khi có phát sinh chênh lệch bởi điều chỉnh tỉ giá. Riêng một số doanh nghiệp nhà nước như TKV lại chưa được. “Điều này là không công bằng” – ông Tuấn nói.

Điều chỉnh tỉ giá không chỉ EVN, PVN, TKV bị ảnh hưởng, mà doanh nghiệp cả nước, người dân cũng bị 
ảnh hưởng

Ông TRẦN VIẾT NGÃI (chủ tịch Hiệp hội 
Năng lượng)

Các doanh nghiệp cần đánh giá tổng thể tác động từ việc điều chỉnh tỉ giá chứ không thể cứ nói nâng tỉ giá là báo cáo khó khăn và xin tăng giá bán, nhất là các mặt hàng thiết yếu như điện

Ông ĐẶNG QUYẾT TIẾN (cục phó Cục Tài chính doanh nghiệp)

“Không phù hợp”

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trương Văn Phước, phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cho rằng việc doanh nghiệp kêu lỗ hàng nghìn tỉ đồng do chênh lệch tỉ giá là phiến diện. Bởi doanh nghiệp có vay ngoại tệ với lãi suất thấp chỉ 5%/năm, trong khi đó lãi suất vay tiền đồng bình quân 10%/năm. Chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền này đã bị doanh nghiệp bỏ qua.

Phần chênh lệch lãi suất tiền đồng và USD đã được doanh nghiệp tính vào lợi nhuận các năm. Nay giá trị phải trả cho việc vay ngoại tệ tăng lên thì doanh nghiệp lại kêu lỗ. Do đó, cần phải phân bổ sao cho hợp lý chứ không thể kêu lỗ được.

Ở góc độ Bộ Tài chính, ông Đặng Quyết Tiến, cục phó Cục Tài chính doanh nghiệp, phân tích theo quy định, khoản lỗ do chênh lệch tỉ giá sẽ được đưa vào chi phí sản xuất, khoản lỗ này được phân bổ trong năm năm.

Từ những năm trước, EVN lỗ hàng chục ngàn tỉ đồng do điều chỉnh tỉ giá, và khoản lỗ này đang để phân bổ dần vào những năm sau. Được biết hiện nay EVN vẫn còn mấy nghìn tỉ đồng lỗ do chênh lệch tỉ giá.

Nhưng theo ông Tiến, bản thân việc các tập đoàn kêu lỗ do chênh lệch tỉ giá để hạch toán vào giá thành điện là chưa được hiểu đúng. Vì hạch toán lỗ do chênh lệch tỉ giá vào giá điện như thế nào thì phải được Bộ Công thương và Bộ Tài chính xem xét phê duyệt cụ thể.

Đơn cử như trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế – xã hội, mục tiêu tăng trưởng kinh tế… từ đó quyết định mức phân bổ lỗ do chênh lệch tỉ giá là bao nhiêu vì giá điện đang được Nhà nước kiểm soát. Do đó, doanh nghiệp không thể muốn đưa bao nhiêu thì đưa được.

Mặt khác, nói việc vay ngoại tệ để đầu tư công trình, dự án bị lỗ do nới tỉ giá là không phù hợp.

Ông Tiến khẳng định lỗ trong quá trình thi công công trình thì đã được vốn hóa vào trong giá trị công trình rồi. Chỉ có điều kinh doanh hằng ngày khi phát sinh các khoản mua bán vật tư, thiết bị mà thanh toán bằng USD thì có thể sẽ bị ảnh hưởng mà thôi.

Ông Tiến cho rằng các doanh nghiệp cần đánh giá tổng thể tác động từ việc điều chỉnh tỉ giá chứ không thể cứ nói nâng tỉ giá là báo cáo khó khăn và xin tăng giá bán, nhất là các mặt hàng thiết yếu như điện.

Cần xem xét kỹ khả năng tăng giá điện

Trả lời Tuổi Trẻ, một lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực, Bộ Công thương cho biết khoản lỗ phát sinh do tỉ giá là bất khả kháng, theo quy định hiện nay có thể được xem xét tính vào giá điện. Tuy nhiên, không có nghĩa nó sẽ được tính vào giá điện ngay mà sẽ được xem xét quyết định.

Điều này không phải bây giờ mới xảy ra vì theo vị lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực, EVN từng phát sinh khoản lỗ 26.000 tỉ đồng cũng do điều chỉnh tỉ giá và đã phải phân bổ trong nhiều năm, đến tận bây giờ cũng chưa hẳn đã hết.

Ông Trần Viết Ngãi, chủ tịch Hiệp hội Năng lượng, cũng đồng tình phải xem xét nhiều yếu tố chi phí của các nhà máy điện. “Điều chỉnh tỉ giá không chỉ EVN, PVN, TKV bị ảnh hưởng, mà doanh nghiệp cả nước, người dân cũng bị ảnh hưởng”, vì vậy theo ông Ngãi, EVN cần tính toán chính xác xem tỉ giá khiến tăng chi phí bao nhiêu.

Với kinh nghiệm hàng chục năm trong ngành điện, ông Ngãi cho biết tỉ giá tăng sẽ phải hạch toán vào giá điện, bởi quy định cho phép, thực tế cũng đã thực hiện rồi. Tuy nhiên, Bộ Công thương đã cho tăng giá điện vào ngày 16-3 vừa qua, giờ tăng giá điện nữa sẽ “không hay”, bởi dù lạm phát thấp nhưng theo ông Ngãi, “giá ở thị trường, cái gì cũng đắt chứ không rẻ đi bao nhiêu”.

Cùng kêu lỗ

Theo thông tin từ Bộ Công thương, trong cuộc họp giao ban trực tuyến tháng 8-2015 ngày 3-9, phó tổng giám đốc TKV Vũ Anh Tuấn cho biết chênh lệch tỉ giá đã làm các nhà máy nhiệt điện TKV đầu tư phát sinh khoản lỗ đến 1.200 tỉ đồng. Do vậy, TKV đã kiến nghị Bộ Công thương xem xét cho tính khoản chênh lệch tỉ giá này vào giá thành điện.

Lãnh đạo PVN cũng cho rằng chênh lệch tỉ giá ảnh hưởng rất nhiều đến PVN.

Ông Ngô Sơn Hải – phó tổng giám đốc EVN – cũng “kêu” chênh lệch tỉ giá ảnh hưởng đến lĩnh vực điện rất lớn, riêng TKV lỗ khoảng 1.200 tỉ đồng. “Nếu cộng tất cả các con số mà cả TKV và PVN lỗ do tỉ giá thì có thể gấp hơn 10 lần con số 1.200 tỉ đồng” – ông Hải nói.

Ông Hải nhấn mạnh EVN đang thống kê số liệu để báo cáo Bộ Công thương nhằm có hướng giải quyết và cảnh báo “nếu tất cả các đơn vị điện của TKV, PVN đưa hết lỗ tỉ giá vào giá điện sẽ tác động rất lớn tới bức tranh tài chính của EVN”.

Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải kết luận diễn biến tỉ giá trong thời gian qua đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp. Tuy nhiên, với những kiến nghị tính vào giá thành sản xuất điện, ông Hải cho biết bộ sẽ trình Chính phủ xem xét.

CẦM VĂN KÌNH – LÊ THANH (dangdv@tuoitre.com.vn;, lethanh@tuoitre.com.vn)

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Sự trì trệ của nền Kinh tế Trung Quốc đang gây ra những thiệt hại khắp mọi lãnh vực

Posted by hoangtran204 trên 10/09/2015

8-9-2015

Đó là một cảnh gần như những gì trong tác phẩm của nhà văn Charles Dickens. Các công nhân gập người trên các bàn trong xưởng máy, ánh sáng lóe lên từ những tia lửa của các máy cắt kim loại và máy tiện chiếu vào gương mặt yên bình của họ.

Đây không phải là nước Anh vào thế kỷ 19 thời Victoria. Đây là ngoại ô thành phố Đại Liên (Dalian), đông bắc Trung Quốc.

Những người công nhân này đã từng là động cơ của phép màu kinh tế trong hai thập niên của Trung Quốc. Nhưng tại các nhà máy trên toàn Trung Quốc vào những ngày này, người ta thấy có một nỗi lo lắng ngày càng tăng về tương lai.

Qiao Ao đã làm việc tại nhà máy này trong bốn năm qua và làm linh kiện nằm trong các máy móc lớn hơn được xuất khẩu sang châu Âu và Nhật Bản. Anh ta là một công nhân nhập cư, cũng như nhiều bạn bè của mình ở đây.

Chỉ cần một vài tháng trước, lúc nào anh cũng bận, nhưng bây giờ thì không như vậy nữa.

“Đơn đặt hàng của chúng tôi đã giảm từ đầu năm nay,” anh nói với tôi. “Hiện nay tôi không được làm thêm giờ phụ trội như tôi đã từng làm trước đây khi hoạt động kinh doanh còn tốt, vì vậy tôi không kiếm được nhiều tiền như trước đây.”

Đó là câu chuyện chúng ta nghe thấy trên toàn Trung Quốc ngày càng nhiều vào lúc này.

 

Image caption

Chủ nhà máy Zhang Wenhe nói ông chưa bào giờ thấy kinh doanh kém như vậy.

 

Chủ nhà máy Zhang Wenhe nói ông chưa bào giờ thấy kinh doanh kém như vậy.

Tồi tệ hơn so với năm 2008

Kinh tế chững lại ở Trung Quốc làm ảnh hưởng đặc biệt tới các nhà sản xuất nhỏ – sản lượng trong khu vực chế tạo giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2009 tính tới nay.

Xuất khẩu cũng giảm – số liệu vào tuần này cho tháng Tám cho thấy thực trạng yếu kém hơn nữa.

Zhang Wenhe, ông chủ nhà máy này, nói với tôi rằng ông thấy đơn đặt hàng giảm 30% -40% kể từ tháng Sáu, và nếu mọi thứ tiếp tục như thế này, ông sẽ bị buộc phải để cho một số nhân viên của mình nghỉ việc.

“Tôi đã kinh doanh trong mảng này trong tám hay chín năm, và tôi đã chưa bao giờ thấy tình hình xấu đi ở mức như thế này,”

“Rất nhiều nhà máy ở khu vực này đã phải đóng cửa, và sa thải nhân viên.

“Lúc này là thời điểm khó khăn nhất tôi từng chứng kiến. Thậm chí tồi tệ hơn so với năm 2008 là cuộc khủng hoảng cuối cùng.”

Thực trạng kinh tế bì trì trệ hiện nay ở Trung Quốc đang có tác động trên toàn thế giới – Rốt cùng thì đây là các nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, và những gì xảy ra ở đây khiến cũng tác động tới những nơi khác.

Vì vậy, khi các gương mặt nổi trội trong giới doanh nghiệp toàn cầu nhóm họp ở Đại Liên vào hôm thứ Tư tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới, ưu tiên của họ sẽ là Trung Quốc có kế hoạch gì để quản lý quá trình chuyển đổi kinh tế này.

Trung Quốc từng vay và chi tiêu để thoát khỏi cuộc khủng hoảng cuối cùng hồi 2008 qua việc xây dựng phát triển bất động sản lớn trên cả nước, đẩy người lao động từ các nhà máy vào các dự án xây dựng.

Nhưng nay thậm chí bất động sản, trụ cột của nền kinh tế Trung Quốc, cũng đang có vấn đề.

Thành phố ma

Image captionHàng chục ngàn căn hộ xây không có người ở.

Tôi lái xe vào thị trấn đảo Trường Hưng – chỉ cách Đại Liên (Dalian) 80km – một thành phố vệ tinh được xây dựng dựa vào kỳ vọng tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

Nhưng những gì tôi thấy là tôi lái xe qua hết km này tới km khác mà hai bên đường có hàng ngàn các tòa nhà mới mọc lên nhưng không có người ở.

Một cảm giác ớn lạnh ngập tràn khi tôi đi bộ xung quanh thị trấn.

Những vệt sơn còn mới dành cho người đi bộ qua đường và đèn giao thông mọc lên tua tủa nhưng hầu như không có bất cứ ai trên đường phố.

Hàng chục ngàn căn hộ ở đây không có người ở, và đó là một phần của khoảng 70 triệu căn nhà ở không bán được đã được xây cất trên toàn quốc.

Chính phủ Trung Quốc nói đây là một phần của kế hoạch chuyển từ một nền kinh tế dựa vào xuất khẩu sang một nền kinh tế hiện đại, dựa vào khu vực dịch vụ.*

Đó là kinh tế theo lý thuyết và một phần của chu kỳ đau đớn của nền kinh tế đang trưởng thành cần phải đi qua.

Tuy nhiên khi nền kinh tế của Trung Quốc thay đổi, nó có để tạo ra công ăn việc làm cho các thế hệ tiếp theo.

‘Ám ảnh bởi đồng tiền’

Zoey Ye là sinh viên, 21 tuổi. Cô đam mê nền văn học Anh và Mỹ, cô đang lo lắng về triển vọng việc làm của mình vì kinh tế đang suy thoái.

“Tôi nghĩ rằng nền kinh tế đã bị chậm lại, vì vậy các công ty không thuê những người mới. Nhưng tôi là người có học, và tôi muốn kiếm tiền để các con tôi (tương lai) có thể có tất cả mọi thứ mà chúng mong muốn.” Zoey đã trò chuyện với tôi khi chúng tôi đi dạo quanh hồ nước của trường đại học.

Bạn cần phải dạo quanh khu trường đại học của Zoey để thấy các thách thức mà Trung Quốc phải đối mặt với những thay đổi của nền kinh tế đang lâm cảnh trì trệ hiện nay.

Ước tính có khoảng 8 triệu sinh viên tốt nghiệp tại Trung Quốc gia nhập lực lượng lao động hàng năm và, giống như Zoey, tất cả họ đều có những kỳ vọng về tương lai cho mình.

Khi chúng tôi đi dạo quanh khuôn viên xanh, Zoey và tôi chia sẻ những câu chuyện về cuốn sách mà chúng tôi cùng yêu thích – The Great Gatsby của F Scott Fitzgerald.

“Tôi nghĩ rằng có rất nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc hiện đại và cuốn sách đó,” cô nói với tôi. “Mọi người ở đây cũng ám ảnh với đồng tiền.”

Đáp ứng  được những kỳ vọng của người dân Trung Quốc sẽ là một trong những thách thức quan trọng sắp tới đây của chính phủ Trung Quốc.

* Đây là kết quả những gì mà chính phủ TQ đã nghe theo lời cố vấn của cựu Bộ trưởng Tài chánh Mỹ Henry Paulson (2006-2009). Ông ta đã từng viếng thăm TQ hơn 100 lần trong suốt 20 năm qua. Ông đặc trách về phát triển kinh tế toàn cầu, nhưng tập trung vào sự phát triển kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông đã làm việc với 3 đời tổng bí thư đảng CSTQ, và khuyên họ phát triển kinh tế tiêu dùng trong nước, thay vì đặt trọng tâm vào kinh tế xuất khẩu. Chính nhờ vậy mà TQ thoát khỏi phần nào kiếp nạn cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế toàn cầu 2008-2013. Henry Paulson là một người rất có uy tín lớn với các nhà lãnh đạo cao cấp nhất của TQ. Cùng với 8 đời tổng thống Mỹ kể từ Richard Nixon, Henry Paulson đã và đang có công rất lớn trong việc đánh thức sự trổi dậy của con rồng TQ;  đây là một sự sai lầm về chính trị và quân sự. Trước đây 250 năm, Napoleon đã từng nói: Hãy để cho con rồng ngũ yên. (Trần Hoàng)

Posted in Kinh Te, Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs | Leave a Comment »

►Ba Sàm, Thông Tấn Xã Vĩa Hè lên 8 tuổi

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

Kính thưa quý độc giả,

Mới đó đã 8 năm kể từ khi trang Ba Sàm ra đời. Tám năm qua với nhiều đổi thay, nhưng Thông tấn xã Vỉa Hè chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ người dân.

Thông tấn xã Vỉa Hè của người dân, là nơi mà người dân có thể cất lên tiếng nói, nhưng nó chưa từng xài một đồng tiền thuế nào của dân, cũng như chưa hề nhận sự giúp đỡ tiền bạc của các tổ chức xã hội, hay của cá nhân nào.

Khác với báo Nhân Dân, người dân phải bỏ rất nhiều tiền để nuôi đội ngũ phóng viên, BTV, CTV… hùng hậu, nhưng người dân lại không đọc báo Nhân Dân, bởi tên báo là Nhân Dân, nhưng nó lại là “cơ quan ngôn luận của đảng và nhà nước”, tiếng nói của người dân không được cất lên ở đây. Và do vậy, nhiều người dân đã chọn cái vỉa hè này.

Để có được cái “vỉa hè” này chuyển tải thông tin đến độc giả, cũng như để người dân có thể cất lên tiếng nói, cái giá phải trả không hề nhỏ. Người sáng lập trang Ba Sàm là anh Nguyễn Hữu Vinh, cùng người phụ giúp là cô Minh Thúy, hiện vẫn còn đang trong vòng lao lý.

Chúng ta hãy cùng thổi nến, mừng sinh nhật 8 tuổi của trang Ba Sàm, cùng với anh Nguyễn Hữu Vinh và cô Minh Thúy trong tù!

Ngoài sự đóng góp của các độc giả và cộng tác viên, cũng xin tri ân một người đã từng đóng góp cho sự hình thành trang Ba Sàm. Đó là anh Trần Hoàng, là người đã giúp gầy dựng nên trang Ba Sàm từ những ngày đầu mới thành lập hồi tháng 9-2007, cho đến tháng 4-2009 (theo lời kể của anh Nguyễn Hữu Vinh). Và sau khi anh Trần Hoàng ngưng tham gia, một mình anh Nguyễn Hữu Vinh không thể làm hết những việc cần làm để phục vụ độc giả, nên đã xin đi nhà trẻ, và tôi đãbắt đầu tham gia trang Ba Sàm từ thời gian này. Mới đó mà đã 6 năm!

Nhân sinh nhật 8 tuổi, xin được tri ân quý độc giả, cùng tất cả những người đã từng đóng góp công sức để hình thành và phát triển trang Ba Sàm trong thời gian qua!

Ngọc Thu

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

► Trí thức Việt Nam có thể làm được gì cho đất nước?

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

Trí thức Việt Nam có thể làm được gì cho đất nước?

Việt Hoàng

8-9-2015

ethongluan

“…Ngày hôm nay họ đã có một thái độ giận dữ và bức xúc thật sự. Họ không còn ngọt nhạt, rào trước đón sau như mọi khi. Họ đã nói thẳng, nói thật và chỉ đích danh thủ phạm của sự tụt hậu mà Việt Nam đang gánh chịu ngày hôm nay chính là đảng cộng sản…”



Trí thức Việt Nam có thể làm được gì cho đất nước? (Việt Hoàng)

Chính quyền Việt Nam đang tưng bừng kỷ niệm 70 năm ngày quốc khánh 2/9 và Cách mạng Tháng 8 với những hoạt động vô cùng tốn kém và nhiều lời lẽ khuếch trương, tâng bốc đảng cộng sản lên tận mây xanh. Người yếu bóng vía nghe xong có thể cảm động khóc rưng rức vì tin rằng nếu không có đảng cộng sản quang vinh và bác Hồ vĩ đại thì sẽ không có họ ngày hôm nay…

Yêu-ghét, khen-chê, thích-không thích là cảm xúc của từng người và chúng ta nên tôn trọng các cung bậc cảm xúc đó. Có điều chắc chắn là không phải người dân nào cũng hồ hởi, phấn khởi chào đón ngày lễ mà đáng ra nó xứng đáng được ghi nhận và tự hào. Tại Sài Gòn, nhà văn Phạm Đình Trọng quyết định “ở nhà” trong ngày 2/9 để suy tư về thân phận của con người và đất nước Việt Nam để rồi “nhận ra trách nhiệm của một người Việt chân chính”.

Từ Pháp, tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy thao thức đặt câu hỏi “Hiện tại của Việt Nam đang là như vậy, còn tương lai, chúng ta sẽ để mặc nó cho một nhóm người quyết định hay chính chúng ta sẽ quyết định chọn một tương lai khác với cái hiện tại đầy nhức nhối này?

Từ Na-uy nữ đạo diễn Song Chi cay đắng thốt lên rằng, có lẽ người Việt chưa đủ đau đủ nhục chăng? Và bà tự đặt câu hỏi cho mình và cho cả lương tri người Việt “Bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động?

Tuy rằng ba vị trí thức nói trên không đại diện cho cả tầng lớp trí thức Việt Nam nhưng ít nhiều nó đã phản ánh được tâm tư và trăn trở của những người trí thức chân chính. Suy nghĩ của họ đã vượt lên một tầm cao mới. Từ trước tới giờ, trí thức Việt Nam chỉ quanh quẩn trong việc chỉ trích những cái sai của đảng cộng sản và sau đó là góp ý, đề nghị với hy vọng là chế độ sẽ thay đổi tốt hơn và sau cùng là…ngồi đợi. Chấm hết.

Ngày hôm nay họ đã có một thái độ giận dữ và bức xúc thật sự. Họ không còn ngọt nhạt, rào trước đón sau như mọi khi. Họ đã nói thẳng, nói thật và chỉ đích danh thủ phạm của sự tụt hậu mà Việt Nam đang gánh chịu ngày hôm nay chính là đảng cộng sản.

Không những thế họ còn đi xa hơn (vì đã mất hoàn toàn kiên nhẫn sau 70 năm năn nỉ và hy vọng) khi đặt những câu hỏi như: “đâu là trách nhiệm của một người Việt chân chính?”, “còn tương lai, chúng ta sẽ để mặc nó cho một nhóm người quyết định hay chính chúng ta sẽ quyết định chọn một tương lai khác với cái hiện tại đầy nhức nhối này?”, “Bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động?”…

Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ và đồng ý với các vị trí thức trên rằng đã đến lúc thôi đừng chỉ trích hay chửi bới đảng cộng sản nữa. Chửi thế chứ chửi nữa cũng không thể làm cho chế độ này sụp đổ được. Hãy để những người dân oan mất đất, những nạn nhân trực tiếp hàng ngày mà chế độ gây ra… làm việc đó. Trí thức Việt Nam phải đi nhanh hơn, đi trước để dẫn dắt và hướng dẫn cho người dân. Đừng làm cho người dân, vì chịu đựng quá lâu mà không có một tia hy vọng nào để rồi họ tuyệt vọng trong chán chường. Một người dân oan mất đất phải tự thiêu đó là lỗi của chúng ta, những người được xem là trí thức, ở trong đó.

Chúng tôi cũng cho rằng là đã đến lúc trí thức Việt Nam cần thay đổi tư duy và hành động. Chúng ta cần thay đổi tư duy cũ rằng người trí thức sinh ra là để làm quan và phục vụ chính quyền bằng tư duy mới là người trí thức phải luôn đi trước về tư tưởng lẫn hành động để dẫn dắt và hướng dẫn cho quần chúng. Suy cho cùng thì với bất cứ một quốc gia nào, trong bất cứ thời điểm nào hay hoàn cảnh nào thì sứ mệnh và vai trò của giới trí thức vẫn là tiên phong và đại diện cho dân tộc đó. Vinh hay nhục, phát triển hay tụt hậu, phồn vinh hay nghèo khổ đều do tầng lớp trí thức mà ra. Người dân không có lỗi vì người dân nơi nào cũng thế, đa số chỉ lo làm ăn và không mấy quan tâm đến chính trị. Đặc tính của quần chúng là không kiên nhẫn, không lãng mạn và rất thực dụng (luôn tìm các giải pháp cá nhân như luồn lách để tồn tại).

Tầng lớp trí thức Việt Nam đã có một bước nhảy vọt về tư duy đó là chuyển từ trạng thái thụ động, chờ đợi sang tâm thế bức xúc và sẵn sàng hành động. Vấn đề quan trọng bậc nhất mà giới trí thức Việt Nam cần mổ xẻ và tìm đồng thuận ngay bây giờ là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Chúng ta cần hành động những gì và hành động như thế nào? Rõ ràng là phong trào dân chủ và trí thức Việt Nam vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, đồng thuận chung trên vấn đề này. Đây cũng là lý do chính khiến đối lập dân chủ chưa thuyết phục được quần chúng Việt Nam.

Đã đến lúc trí thức Việt Nam cần đoạn tuyệt với tư duy xin xỏ, năn nỉ, khuyên nhủ chính quyền cộng sản Việt Nam thay đổi về hướng dân chủ. Họ sẽ không bao giờ làm điều đó nếu trước mặt họ không có một tập hợp dân chủ hùng mạnh và có tầm vóc được đa số người dân ủng hộ. Cộng sản chỉ thay đổi khi không thể không thay đổi. Vẫn có những trí thức không hiểu được điều này nên họ vẫn kêu gọi đảng cộng sản phải thay đổi, phải thế này, phải thế nọ… Thế nếu đảng cộng sản không thay đổi thì sao? Chúng tôi không thấy những trí thức đó đưa ra bất cứ giải pháp nào.

Trở lại với ba vị trí thức tiêu biểu mà chúng tôi đề cập ở trên thì có thể thấy rằng họ đã nhận ra một điều rất căn bản của sự tranh đấu đó là phải có tổ chức. Bà Từ Huy cổ vũ cho các tổ chức “xã hội dân sự”, ông Phạm Đình Trọng cũng đã tham gia vào một tổ chức thuộc xã hội dân sự là “Văn Đoàn Độc Lập”. Trong thời gian qua các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam có những bước tiến và đột phá rất ngoạn mục, gần 20 tổ chức như vậy đã ra đời và có các hoạt động rất bổ ích.

Nếu đa số trí thức Việt Nam hiểu ra được một điều rằng tranh đấu cần có tổ chức thì đó là một sự thay đổi lớn. Không có tổ chức thì sẽ không có sức mạnh và sự thu hút. Các nhân sĩ (hoạt động chính trị độc lập, không thuộc một tổ chức chính trị nào) chỉ là những chiếc đũa và chính quyền cộng sản dễ dàng bẻ gẫy họ.

Các tổ chức thuộc về xã hội dân sự dù phát triển mạnh mẽ đến đâu cũng không thể thay thế cho các tổ chức chính trị dân chủ đối lập. Vì sao thì chúng tôi đã giải thích nhiều lần, một tổ chức xã hội dân sự chỉ có một vài mục tiêu cụ thể và giới hạn. Các tổ chức xã hội dân sự không có tham vọng cầm quyền vì các tổ chức này độc lập với mọi chính quyền. Trong khi đó các tổ chức chính trị dân chủ đối lập là có tham vọng cầm quyền để thực thi những chương trình mà họ đã đề nghị trước đó.

Như vậy, chúng ta cần đi đến một kết luận quan trọng là muốn Việt Nam thay đổi và có dân chủ thì trí thức Việt Nam cần tiến thêm một bước quyết định nữa đó là hãy dấn thân chính trị bằng cách tham gia vào một tổ chức chính trị dân chủ đối lập, góp phần tạo ra một lực lượng chính trị khác ngoài đảng cộng sản nhằm tạo ra một đối trọng hùng mạnh và có tầm vóc, buộc đảng cộng sản phải ngồi vào bàn đàm phán để thay đổi Việt Nam về hướng dân chủ một cách dứt khoát và trong hòa bình.
Chúng tôi mạnh mẽ khẳng định rằng nếu không có một lực lượng chính trị đối lập hùng mạnh làm đối trọng thì đảng cộng sản Việt Nam sẽ không bao giờ thay đổi. Mọi cải cách mà đảng cộng sản đề nghị chỉ là để câu giờ và kéo dài sự cai trị của đảng cộng sản. Cuộc tranh đấu mà chúng ta đang theo đuổi là một cuộc cách mạng thật sự, rất cam go và quyết liệt chứ không hề đơn giản. Chúng ta cố gắng để cuộc cách mạng này diễn ra trong hòa bình và không có bạo lực. Chúng tôi rất đồng ý với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ với bài phân tích rất rõ ràng về chủ đề này trên BBC (Cách mạng bất bạo động cho Việt Nam)
Có nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan khiến cho tầng lớp trí thức Việt Nam, không phải ai cũng có thể tham gia vào một tổ chức chính trị. Tuy nhiên một việc mà mọi trí thức Việt Nam đều có thể làm được và nên làm đó là hãy xem việc mình không tham gia vào một tổ chức chính trị như là một ngoại lệ thay vì một thông lệ. Trí thức Việt Nam cần nhìn nhận sự hạn chế của bản thân thay vì xem đó là một lựa chọn “sáng suốt” khi không tham gia vào một tổ chức chính trị. Chúng tôi ghi nhận và biết ơn nhà văn Phạm Đình Trọng rất nhiều khi ông đã bỏ thời gian để đọc Dự Án Chính Trị 2015 (DACT 2015)-Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai và rồi có bài viết “Một luận cương khai sáng”.
Chúng tôi cho rằng tư tưởng và nhận thức chính trị của ông Phạm Đình Trọng đã đạt đến mức cao nhất khi ông cho rằng “sứ mệnh lịch sử đầu tiên của luận cương Khai Sáng chính là thức tỉnh những trí thức yêu nước và tập hợp họ lại thành đội ngũ trí thức chính trị và đội ngũ trí thức chính trị đó sẽ đưa luận cương Khai Sáng vào đời sống chính trị đất nước, đưa đất nước Việt Nam thân yêu từ bóng đêm nô lệ độc tài ra ánh sáng dân chủ, phát triển”.
Một câu hỏi rất thú vị liên quan đến DACT 2015 của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (THDCĐN) đó là liệu dự án chính trị này có đánh bại được chế độ độc tài hay không? Ông Nguyễn Gia Kiểng đã trả lời rất rõ ràng với tấ cả sự khiêm tốn rằng, nếu đối lập dân chủ Việt Nam làm đúng như lộ trình năm bước mà chúng tôi đề nghị thì cũng có thể chưa chắc đã thành công nhưng nếu không làm theo lộ trình năm bước đó thì chắc chắn là sẽ thất bại. Chúng tôi cho rằng một cuộc “vận động tư tưởng” phải đi trước một cuộc “vận động chính trị” hay một cuộc cách mạng. Chiến thắng về tư tưởng sẽ dẫn đến chiến thắng về chính trị. Không có một lộ trình, không có một giải pháp thay thế cho giải pháp cộng sản hiện nay, không có một tương lai đáng mơ ước cho mọi người Việt Nam thì cuộc tranh đấu này sẽ bế tắc vì không động viên được quần chúng.
Chúng tôi xin trả lời một thắc mắc nữa của một thân hữu là “Làm thế nào để DACT 2015 đến được với đa số người dân Việt Nam? Liệu có được bao nhiêu người Việt Nam biết đến dự án chính trị này?”. Đây là một câu hỏi rất thú vị và thật ra là chúng tôi đã trả lời rồi, tuy nhiên chúng tôi sẽ kiên nhẫn nhắc lại, hy vọng là mọi người sẽ hiểu và chia sẻ với chúng tôi. Sự thật là không có một tác phẩm tư tưởng nào viết trực tiếp cho quần chúng, kể cả những tác phẩm dành riêng cho quần chúng. Ví dụ giáo lý hay kinh thánh của các tôn giáo như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo… Các giáo sĩ của các tôn giáo này đã liên tục giảng giải giáo lý của mình trong suốt hơn hai nghìn năm qua và vẫn tiếp tục công việc đó hàng ngày hàng giờ. Chủ nghĩa Mác-Lênin rõ ràng là độc hại và ảo tưởng nhưng sỡ dĩ nó đến với quần chúng các nước kém phát triển là nhờ sự tuyên truyền của tầng lớp trí thức các nước đó.
DACT 2015 của THDCĐN cũng vậy. Tác phẩm tư tưởng này chỉ có thể đến được với đa số người dân Việt Nam qua sự trung gian và chuyên chở của tầng lớp trí thức Việt Nam nói chung và của các thành viên THDCĐN nói riêng. Suy cho cùng thì bất cứ một tư tưởng mới mẻ nào cũng cần đến sự kiểm tra và sàng lọc của tầng lớp trí thức tinh hoa. Nếu không thuyết phục được giới trí thức thì không thể nào thuyết phục được người dân và nếu chỉ nhắm vào thuyết phục người dân mà bỏ qua giới trí thức thì cũng không thể thành công và thành công nếu có, cũng rất mong manh và nguy hiểm.

Như vậy, nếu trí thức Việt Nam đã nhận ra rằng Việt Nam cần có một cuộc cách mạng triệt để và ôn hòa để thay đổi số phận cho dân tộc Việt Nam thì cần lên tiếng ủng hộ cho một tư tưởng chính trị lành mạnh và đúng đắn để tạo ra được một lực lượng chính trị lương thiện và có trách nhiệm với đất nước. Cuối cùng là tham gia vào lực lượng chính trị yêu nước đó để cùng mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên của dân chủ và tự do thật sự.

Việt Hoàng

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Có lẻ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục…nên chưa có hành động

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

Có lẽ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục

RFA

Song Chi

23-8-2015
Những người dân ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ cho tới các nước Bắc Phi đã phải xuống đường thay đổi chế độ độc tài, đòi lại quyền tự quyết vận mệnh của đất nước, của dân tộc. Còn người Việt… ?
 

Có lẽ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục (Song Chi)

Lại sắp đến ngày 2/9. Đúng 70 năm kể từ khi đảng cộng sản cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo tư tưởng, đường lối của chủ nghĩa Mác Lênin, và 40 năm kể từ ngày Việt Nam thống nhất thành một, nhà cầm quyền sẽ lại tổ chức kỷ niệm tưng bừng, nhằm nhắc nhở người dân về những chiến thắng, những công lao tô vẽ trong quá khứ và cố làm người dân quên đi hiện thực ngổn ngang của đất nước. Nhưng có vẻ như những lời tụng ca quá khứ, công ơn của đảng của chính phủ ấy cứ mỗi năm mỗi nhạt đi chả mấy ai buồn nghe. Người dân bình thường còn phải chạy đuổi theo cuộc mưu sinh, chạy theo vật giá leo thang mỗi ngày, chạy trường cho con, chạy kiếm thêm tiền dành thân phòng khi tai nạn ốm đau, tuổi già sức yếu… ; còn đám trẻ vô tư vô lo thì chỉ coi ngày 2/9 như thêm một ngày nghỉ lễ tha hồ ăn chơi.
 
Còn lại những ai có lòng với đất nước, cứ mỗi dịp 2/9, 30/4 và những ngày lễ khác của chế độ là chúng ta lại đối diện với những câu hỏi : độc lập thống nhất đã bao nhiêu năm rồi, nhưng tại sao Việt Nam vẫn cứ mãi đói nghèo lạc hậu, người dân chưa được hưởng tự do dân chủ, ấm no hạnh phúc thật sự, Việt Nam đang đứng ở đâu trên thế giới và sẽ đi về đâu, bao nhiêu năm nữa thì người Việt có thể bắt đầu xây dựng lại từ đầu một nước Việt Nam theo một thể chế tự do, dân chủ, tam quyền phân lập ?
 
Tôi không muốn nhắc đến câu hỏi ngớ ngẩn vừa sai từ cách đặt vấn đề vừa tỏ ra mỵ dân của ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam“Tại sao chúng ta tốt mà vẫn nghèo, bây giờ phải làm gì ?” Nhưng riêng phần tại sao Việt Nam vẫn cứ đói nghèo, có lẽ phần lớn trong chúng ta đều đã có câu trả lời từ thực tiễn đất nước, đó là đảng cộng sản Việt Nam đã đi sai đường, đã chọn sai mô hình thể chế chính trị, sau nhiều năm lại bị tha hóa biến tướng trở thành một đảng độc tài, tham nhũng nặng nề, và từ chối mọi cơ hội thay đổi theo hướng tự do dân chủ đa đảng. Khiến cho đất nước không những bị kềm hãm không thể phát triển mà còn tụt hậu hàng chục, hàng trăm năm về mọi mặt so với các nước láng giềng chỉ trong vòng vài thập niên, chứ chưa nói đến thế giới, đạo đức văn hóa xã hội sa sút, con người Việt Nam cũng bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, chưa kể một phần lãnh thổ lãnh hải bị mất vào tay Trung Cộng, đất nước không chỉ bị lệ thuộc nặng nề vào Trung Cộng mà còn phải thường xuyên đối mặt với nguy cơ mất nước…
 
Tất cả những điều đó chúng ta, những ai đã nhìn ra sự thật sau 70 năm cầm quyền của đảng cộng sản đều đã biết, đã nói quá đủ, quá nhiều trong suốt những năm qua. Nhưng có phải chỉ có mình đảng cộng sản phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi chuyện ?
 
Đúng là đảng cộng sản đã sai lầm. Lý thuyết cộng sản chủ nghĩa theo tư tưởng Mác Lênin cùng với mô hình thể chế chính trị độc đảng độc tài, bao cấp hoàn toàn về kinh tế theo kiểu Liên Xô cũ đã bị phá sản, bị vứt vào sọt rác ngay cả quốc gia sản sinh ra nó, sau đó đảng cộng sản Việt Nam học theo đảng cộng sản Trung Quốc, cố lắp ghép sửa đổi thành mô hình độc đảng độc tài kết hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một hệ thống kinh tế hoàn toàn mới, chưa hề có trong lịch sử, còn về mặt tư tưởng thì tư tưởng Mác Lên nin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh, mà cũng không ai biết tư tưởng Hồ Chí Minh là gì. Sau gần hai mươi năm gọi là đổi mới, vận hành đất nước theo mô hình này thì kết quả như thế nào chúng ta cũng đã nhìn thấy.
 
Đúng là đảng cộng sản không vì dân vì nước, bất tài, bất lực, tham nhũng và phá hoại. Nhưng cứ thử hỏi vì sao cái đảng ấy vẫn tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ dân ta cho đến nay, khi chỉ còn lại đôi ba nước trên thế giới là chấp nhận ?
 
Chúng ta có thể bị lừa lúc đầu, thậm chí khi đảng hô hào đổi mới vào thập niên 90 của thế kỷ XX chúng ta vẫn có thể tiếp tục bị lừa, nhưng đến bây giờ, ai bắt chúng ta tiếp tục tự lừa mình sau chừng đó năm, chừng đó thông tin cho phép chúng ta thừa sức so sánh giữa những lời nhà cầm quyền nói với những việc họ làm, so sánh tình hình thực tế nước ta và các nước khác ?

Cho dù chung quanh chúng ta không ít những tấm gương vươn lên nhanh chóng thần kỳ từ những nước bại trận sau chiến tranh thế giới thứ hai như Đức, Nhật Bản hoặc là nước nghèo, lạc hậu, thua cả miền Nam Việt Nam những năm 60-70 như Hàn Quốc, trở thành những cường quốc về nhiều mặt, được thế giới kính nể như hiện tại. Tất nhiên, do những quốc gia này không bị họa cộng sản, đã chọn lựa đúng mô hình thể chế chính trị để xây dựng và phát triển, nhưng không loại trừ một lý do : lòng kiêu hãnh dân tộc và cả tinh thần yêu nước khiến họ biết đau biết nhục từ sự thất bại, nghèo hèn, và quyết tâm xây dựng đất nước trở thành hùng cường.
 
Nói như vậy không có nghĩa người Việt không yêu nước, nhưng phải chăng lòng yêu nước ấy chưa đủ mạnh, cả cái đau cái nhục cũng chưa đủ ?
 
Nhà cầm quyền chưa thấy đủ đau đủ nhục khi Việt Nam dưới sự lãnh đạo của họ luôn luôn bị xếp hạng cao trên thế giới về tham nhũng, độc tài, kẻ thù của internet, nhưng lại luôn nằm trong số những quốc gia xếp hạng chót về phát triển kinh tế, GDP tính trên đầu người, chỉ số chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người, tự do báo chí, tự do ngôn luận…, và 40 năm sau khi thống nhất Việt Nam vẫn cứ phải vác mặt đi vay nợ thế giới, Việt Nam bây giờ không chỉ thua xa từ Indonesia, Singapore, Thái Lan mà ngay cả Campuchia có những khía cạnh cũng thua, ví dụ như chúng ta chỉ làm ra được con ốc vít trong khi Campuchia làm ra được xe hơi, Campuchia dù chính phủ cầm quyền vẫn độc tài nhưng dù sao cũng đã có đa nguyên đa đảng…
 
Họ cũng không thấy nhục khi người dân, thông qua mạng lưới báo chí bên ngoài, các trang blog, trang mạng xã hội… thường xuyên bày tỏ sự phẫn nộ, căm ghét, phê phán cái chế độ này, cái đảng và nhà nước này.
 
Họ cũng không thấy nhục trong mối quan hệ bất bình đẳng và luôn luôn thiệt hại với Trung Quốc, mối quan hệ đã khiến họ, dưới mắt người dân là một nhà cầm quyền hèn nhát, nhu nhược, thậm chí bị nhân dân chửi thẳng là bán nước, ghi thêm một vết nhơ muôn đời trong lịch sử.
 
Nhà cầm quyền thì như thế, còn người dân, dường như chúng ta cũng chưa đủ đau đủ nhục dù 40 năm sau khi thống nhất, quê hương vẫn lầm than, người Việt vẫn phải tha hương khắp nơi kiếm sống, đi làm thuê cho thiên hạ, đi làm dâu xứ người ; và vì cái nghèo, cái hèn nên nhiều người làm liều ăn cắp ở Nhật, đi buôn lậu, buôn cần sa ở Anh và các nước Đông Âu, đi làm gái ở Campuchia, Thái Lan, Singapore… Hình ảnh ngưởi Việt trên thế giới, do đó, cũng bị coi thường, rẻ khinh.
 
Người Việt chúng ta dường như chỉ biết lo vun quén cho bản thân, cho cái riêng mà ít khi nghĩ đến cái chung.
 
Vì chỉ nghĩ đến cái lợi riêng của đảng nên đảng cộng sản cương quyết không chia sẻ quyền lực cho bất cứ ai, bất chấp lợi ích của đất nước, của dân tộc.
 
Người dân thường thì chỉ lo cho cuộc sống của bản thân và gia đình, mũ ni che tai trước những bất công phi lý của xã hội và sự thối nát của chế độ, tự nhủ chuyện chính trị, chuyện nước đã có đảng, có nhà nước lo, mở miệng chỉ thiệt đến thân. Thói quen ít nghĩ đến cái chung bắt đầu từ những hành vi rất nhỏ trong cuộc sống, như nhà mình thì giữ thật sạch nhưng con hẻm chung có bẩn cũng mặc kệ, hoặc sẵn sàng vứt rác nơi công cộng, cái gì của mình thì tiết kiệm, dè sẻn nhưng của chung thì hoang phí. Chẳng hạn từ thời bao cấp, công nhân viên vì đồng lương không đủ sống đã tìm cách bớt xén, thủ lợi ở cơ quan từ việc xài điện chùa, nước chùa, điện thoại chùa cho tới dùng giờ công làm việc riêng…
 
Quan chức từ cấp thấp đến cấp cao khi đã ngồi vào chỗ chỉ biết nghĩ cách bám ghế càng lâu càng tốt, lo vơ vét càng nhiều càng tốt, bớt xén, rút ruột các công trình, đẻ ra những dự án khổng lồ, những tượng đài hoàng tránh, vung tiển cho những dịp lễ lạc, kỷ niệm hàng năm… để ăn, bất chấp chất lượng và hậu quả ra sao, bất chấp nước còn nghèo dân còn đói khổ. Rồi nào mải mê tranh giành ghế, đấu đá nhau, vét cho sạch xây nhà to, mả to, nhà thờ họ to, đưa con đi du học, chuyển tiền ra nước ngoài…
 
Trí thức còn đang phải mải kiếm thêm cái bằng thạc sĩ, tiến sĩ, nghệ sĩ còn đang phải chạy xin cái danh xưng nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân. Còn giới trẻ, một bộ phận còn đang than khóc cho một nhóm nhạc K-pop, cho một trận bóng đá thua của nước nhà, khóc thương theo những câu chuyện lâm li của những cuốn tiểu thuyết ngôn tình của Trung Quốc, say sưa theo dõi đời tư của ca sĩ này người mẫu kia, chạy theo mẫu điện thoại mới nhất, quần áo mốt nhất, hay xuống đường đánh nhau vì hai hot girl, thậm chí tệ hơn, ăn chơi đốt đời với ma túy thuốc lắc v.v. Chỉ một bộ phận giới trẻ chăm học, nghĩ tới tương lai nhưng cũng vẫn là tương lai của chính mình hơn là tương lai của đất nước.
 
Vì chưa đủ nhục đủ đau, vì làm việc gì cũng chỉ nghĩ tới mình nghĩ tới hai chữ Việt Nam sau, nên không thèm quan tâm đến cái nhìn của thế giới, từ chuyện hành xử thiếu văn minh, ăn cắp móc túi khi đi ra bên ngoài, cho tới những công trình thể hiện bộ mặt Việt Nam với thế giới mà cũng làm như mèo mửa, một ví dụ mới nhất là về sự nhếch nhác của Nhà Việt Nam tại Expo Milano 2015 (Ý), mà dư luận mới được biết sau khi chủ một Facebook đăng tải hình ảnh và bài viết phản ánh.
 
Chúng ta cũng thường chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến cái hại lâu dài, ví dụ như nạn chặt chém du khách nhất là khách nước ngoài, không nghĩ đến việc khách nước ngoài vì thế mà không muốn quay lại, gây hại chung cho đất nước trong đó có chính bản thân mình.

Nhiều người đã từng nhận xét Việt Nam không phải là nước đang phát triển hay chậm phát triển mà là khó phát triển. Còn chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan, trong bài nói chuyện trước các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước tại Đà Nẵng mới đây, đã nói : “Một số chuyên gia WB còn nói đùa Việt Nam có lẽ là mô hình kỳ lạ nhất thế giới. Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển ! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển !” – chuyên gia Phạm Chi Lan nói một cách khá chua chát” (“Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới : Nước… không chịu phát triển !” (Info.net).
 
Người Việt chúng ta cũng rất giỏi chịu đựng. Đường ống Sông Đà bị vỡ tới 13 lần, giữa thế kỷ XXI mà người dân thủ đô phải xếp hàng lấy nước như thời bao cấp nhưng chúng ta vẫn chịu được, bị Bộ giáo dục hành suốt bao nhiêu năm qua bao nhiêu lần cải cách, thay đổi xoành xoạch vẫn chịu được, tiền thuế của mỗi người dân chúng ta bị cái nhà nước này tiêu xài phung phí, ăn ngập họng, làm ăn thua lỗ, thất thoát, bắt dân phải gánh nợ, chúng ta vẫn chịu được v.v. và v.v.
 
Một chế độ tồi tệ đến thế chúng ta vẫn chịu được. Thì là lỗi của chúng ta hay lỗi của nhà cầm quyền ?

Có vẻ như lâu nay lối thoát duy nhất của chúng ta là… chửi. Chúng ta chửi chế độ, chửi bọn quan tham, bọn bán nước, bọn bất tài… Chưa bao giờ trước đây người dân Việt Nam từ ông tài xế taxi, bà bán bún ngoài chợ cho tới dân trí thức, các blogger, nhà báo tự do…có thể thoải mái chửi chế độ, chửi nhà cầm quyền đến thế. Nhà cầm quyền có biết không ? Thừa biết. Nhưng tại sao họ vẫn để lơ ? Thứ nhất là vì người ta chửi nhiều quá, nếu bất cứ ai chửi chế độ cũng bắt bớ, giam cầm thì có mà bắt mà giam hàng chục triệu người. Thứ hai, bởi vì chửi không làm cho chế độ này sụp được, thậm chí chửi nhiều khi còn là một cách xả xú páp, chẳng thà để dân chửi cho hả rồi dân lại lùi lũi lo kiếm ăn còn hơn dân ôm lấy nổi căm giận trong lòng và một ngày xuống đường, đấu tranh lật đổ chế độ.
 
Chúng ta chửi không làm cho chế độ này sụp đổ được, cũng như chúng ta chửi Trung Cộng không làm cho Trung Cộng sợ mà không dám tiếp tục gây hấn, cướp phá ngư dân Việt, hay xâm lấn dần lãnh hải lãnh thổ Việt Nam.
 
Những người dân ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ cho tới các nước Bắc Phi đã phải xuống đường thay đổi chế độ độc tài, đòi lại quyền tự quyết vận mệnh của đất nước, của dân tộc.
 
Còn người Việt. Bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động ?
 
Song Chi
Theo RFA, 23/08/2015 (songchi’s blog)
—-————————————————-

Rốt cuộc, những câu hỏi này (« phải làm gì ? », « phải sống như thế nào ? ») sẽ có giá trị chung và mang một ý nghĩa rộng lớn hoặc mang lại hiệu quả thiết thực chỉ khi nào mà mỗi người chúng ta tự đặt cho chính mình. Nghĩa là chỉ khi nào sự trăn trở về lối sống, sự khao khát hành động trở thành nhu cầu nội tâm của từng người thì lúc đó xã hội mới có đủ động lực để thay đổi.

Thực ra việc chúng ta đòi hỏi những người đang tranh đấu (hay bất kỳ ai) phải có câu trả lời cho các câu hỏi đang ám ảnh chúng ta là một đòi hỏi không thỏa đáng. Càng không thỏa đáng trong trường hợp chúng ta khoanh tay ngồi nhìn, đóng vai người quan sát và đòi hỏi những người đang tranh đấu phải chỉ ra cho chúng ta phải làm gì để có kết quả cuối cùng. Đòi hỏi đó không thỏa đáng, bởi vì những người tranh đấu đang đi tìm câu trả lời bằng chính hành động của họ, và họ hành động theo niềm tin của họ, tin rằng họ đang làm điều cần phải làm, dù có thể thất bại, dù phải trả giá và không biết kết quả sẽ như thế nào, nhưng họ vẫn làm theo sự thúc đẩy nội tâm của họ.

Để chứng minh cho điều này, tôi dẫn lại sự việc rằng, vào những năm 1970, dù Havel hành động theo sự dẫn dắt của đòi hỏi nội tâm và theo sự phân tích của lý trí, nhưng ở thời điểm ấy ông không có câu trả lời chắc chắn và không hình dung được kết quả của các hoạt động mà ông đang tiến hành, không hình dung được kết cục của Liên Xô và Đông Âu vào khoảng mười năm sau đó.

Vì không có câu trả lời chắc chắn cho tương lai, nên Havel lúc đó hình dung ra hai khả năng, tôi trích nguyên văn, và tách câu văn của Havel thành 2 đoạn cho độc giả dễ theo dõi :

  1. Hoặc là hệ thống hậu toàn trị sẽ tiếp tục phát triển (nghĩa là, sẽ có khả năng tiếp tục phát triển), và do đó, chắc chắn sẽ tiến gần hơn đến viễn cảnh đáng sợ mà Orwell nói về thế giới của sự thao túng toàn diện [Ý nói thế giới được mô tả trong tác phẩm 1984 của G. Orwell (Người dịch)], trong khi mọi biểu hiện của sống trong sự thật sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn;”

  2. hoặc là đời sống độc lập của xã hội(…), trong đó có các “phong trào bất đồng chính kiến”, sẽ từ từ nhưng chắc chắn trở thành một hiện tượng xã hội ngày càng quan trọng hơn, có vai trò thực sự trong đời sống xã hội, phản ánh ngày càng rõ ràng hơn và ảnh hưởng đối với tình hình chung cũng ngày càng tăng lên. Đương nhiên là đấy luôn luôn chỉ là một trong nhiều tác nhân có ảnh hưởng tới hoàn cảnh và nó chỉ vận hành trong khung cảnh và trong sự phối hợp với những tác nhân khác và phù hợp với khung cảnh đó.” (Trích “Quyền lực của kẻ không quyền lực”, viết năm 1978).

Dù Havel lúc đó không hình dung được một kết cục cụ thể, chỉ dám nói tới ảnh hưởng đối với tình hình chung khi các phong trào đấu tranh được nhân rộng và xã hội có được đời sống độc lập, nhưng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã chứng minh khả năng thứ hai trong phán đoán của Havel. Sự phát triển của các phong trào bất đồng chính kiến và sự lớn mạnh của xã hội dân sự rút cuộc đã tác động tới cấu trúc chính trị và làm thay đổi toàn bộ xã hội, đã làm chuyển động toàn bộ hệ thống toàn trị Đông Âu.

Tuy nhiên, nếu so với Đông Âu thì phải chăng tình hình của Việt Nam dường như lại đang chứng minh cho khả năng thứ nhất trong phán đoán của Havel? Liệu có phải Havel có lý khi nhìn thấy chủ nghĩa toàn trị tiếp tục phát triển, trong trường hợp các hoạt động bất đồng chính kiến và các hoạt động xã hội dân sự không đủ mạnh để trở thành phong trào rộng lớn, và thực tế Việt Nam đang ở trong trường hợp này? Liệu có phải sự tồn tại quá lâu trong cơ cấu toàn trị đã khiến cho hệ thống quyền lực ở nước ta hiện nay đã đạt tới sự thao túng toàn diện, còn người dân thì đã đánh mất thói quen sống trong sự thật? Liệu có phải chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi cái viễn cảnh đáng sợ mà Orwell đã tiên báo bằng tác phẩm văn học và Havel đã tiên báo trong tiểu luận chính trị của ông?

Câu trả lời không do nhóm đặc quyền lãnh đạo quyết định, không do nhóm thiểu số những người đang tranh đấu quyết định, câu trả lời do chính tất cả mọi người trong xã hội quyết định.

Vì sao?

Vì nhóm đặc quyền lãnh đạo hiện nay không đưa ra những dấu hiệu cho thấy rằng có người trong số họ hiểu được ý nghĩa thực sự của công việc lãnh đạo (thế nào là công việc lãnh đạo một quốc gia, cần phải trở lại với vấn đề này vào một dịp khác; có lẽ người lãnh đạo cuối cùng trong bộ máy chứng tỏ mình hiểu được ý nghĩa của công việc quản lý là ông Nguyễn Sự, nhưng ông đã chủ động từ bỏ hệ thống cách đây không lâu). Đối với họ làm lãnh đạo là để phục vụ cho lợi ích cá nhân và lợi ích gia đình. Và để phục vụ cho lợi ích cá nhân thì bằng mọi giá họ phải duy trì cơ chế chính trị hiện tại, cơ chế toàn trị. Vì thế, dĩ nhiên họ chỉ có một quyết định: dẫn chúng ta, và cả họ, thẳng tới thế giới của Orwell, thẳng tới trại súc vật. Đó là điều mà họ đã và đang làm, kể từ khi họ giành được quyền lực. Họ đang xây cái trại súc vật và nhốt cả họ lẫn chúng ta vào đó.

Những người đang tranh đấu hiện nay không quyết định được tình thế, bởi họ quá thiểu số, quá đơn độc, không có được sự ủng hộ của số đông, trong khi chính quyền nắm toàn bộ các bộ máy quyền lực: công an, quân đội, truyền thông, giáo dục, luật pháp… Ngoài ra, những câu hỏi “làm gì?”, “sống như thế nào?” những người đang đấu tranh đã đặt ra cho chính họ, và họ đang trả lời bằng chính hành động của họ: lập ra một blog, lập ra một tờ báo, lập ra một nhóm, tham gia vào một phong trào… Gần đây nhất Hội Cựu Tù nhân Lương tâm và Hội Anh em Dân chủ đã mở kênh truyền hình “Lương tâm TV”. Những người đó, họ đang làm và đang sống trong sự thật, và chấp nhận trả giá cho lối sống của họ.

Vậy, rốt cuộc, tình thế chỉ có thể xoay chuyển khi có một áp lực đủ lớn của toàn xã hội. Chính Havel cũng đã nói điều này trong tiểu luận chính trị mà tôi đã dẫn trên đây: “Cố gắng cải cách chính trị không phải là nguyên nhân làm cho xã hội bừng tỉnh, mà là kết quả chung cuộc của sự bừng tỉnh ấy.” Để có thể dẫn tới các cải cách chính trị thì cần có sự bừng tỉnh của toàn bộ xã hội. Kể cả khi cải cách chính trị được tiến hành từ bộ phận lãnh đạo cấp cao, thì hành động cải cách ấy cũng là kết quả của sự bừng tỉnh của đa số mọi người. Nghĩa là sự thức tỉnh của xã hội tạo áp lực lên bộ máy chính trị và dẫn tới thay đổi. Trường hợp Liên Xô và Đông Âu là minh chứng rõ rệt của điều này.

Và dĩ nhiên, sẽ không có sự thức tỉnh của toàn xã hội nếu không có sự bừng tỉnh của mỗi người.

Vậy, những câu hỏi “làm gì?”, “sống như thế nào?”, mỗi người phải tự đặt ra cho chính mình, và tìm câu trả lời cụ thể ở trong chính vị thế cụ thể của mình. Bất kỳ ai cũng có thể sống trong sự thật, theo cương vị của mình. Đó là điều mà một giáo viên như Đỗ Việt Khoa đã làm. Ta hãy hình dung một viễn cảnh: có khoảng 80% (hoặc 50% thôi) giáo viên sống và hành động như Đỗ Việt Khoa, lúc đó nền giáo dục có thể vận hành lành mạnh. Nhưng thực tế là chúng ta chỉ có một số rất ít giáo viên dám “sống trong sự thật”, vì vậy mà Đỗ Việt Khoa phải bật ra khỏi ngành giáo dục, và ngành này hiện đang rất thối nát, bằng chứng chúng ta đã có đủ, không cần phải nhắc lại. Nhưng không riêng gì giáo dục, mọi ngành đều thối nát như vậy. Bởi vì trong xã hội chúng ta, miền Bắc tính từ 1954 và miền Nam tính từ 1975, guồng máy chính trị đã đẩy rất xa hiện tượng mà Havel nhìn thấy rõ ở Đông Âu vào thập kỷ 70: hệ thống làm cho con người tha hóa, và đến lượt mình con người đã tha hóa lại bảo vệ hệ thống ấy như là bảo vệ chính họ, bởi vì họ là một phần của hệ thống, chính họ làm nên hệ thống.

Liệu chúng ta còn có khả năng sống trong sự thật? Liệu chúng ta còn có khả năng thoát khỏi sự dối trá?

Chính việc sống trong sự thật sẽ góp phần làm lung lay nền tảng của chế độ toàn trị, bởi cách sống đó chống lại sự dối trá vốn là nguyên lý của chế độ toàn trị.

Sống trong sự thật không hẳn là bất đồng chính kiến. Đỗ Việt Khoa không phải là một người bất đồng chính kiến, ông ấy chỉ muốn sống và làm việc một cách trung thực, ông chống lại sự gian lận trong thi cử. Nhưng chính những người như ông ấy, bằng cách sống trong sự thật, buộc phải chống lại sự dối trá của xã hội, và do đó sẽ đi tới chỗ tạo ra một đời sống độc lập. Havel cũng nói rõ rằng những người như thế sẽ đóng góp vào hoạt động xã hội dân sự mà không nhất thiết phải là bất đồng chính kiến. Havel viết: “những người, bằng cách này hay cách khác, tham gia vào đời sống độc lập của xã hội, những người hoàn toàn không nhất thiết phải là “người bất đồng chính kiến”. Đấy có thể là các nhà văn viết theo ý mình mà không quan tâm tới bộ máy kiểm duyệt hay đòi hỏi của chính quyền, những người truyền bá tác phẩm của họ, dưới dạng samizdat [tư liệu cấm], đấy là nói khi các nhà xuất bản của nhà nước không chịu in. Đấy cũng có thể là các nhà triết học, sử học, xã hội học, hay tất cả những nhà nghiên cứu độc lập – đấy là nói những người không thể làm việc với các kênh chính thức hoặc bán chính thức – truyền bá tác phẩm của mình dưới dạngsamizdat, hay những người tổ chức các cuộc thảo luận, giảng bài và hội thảo do tư nhân tổ chức. Đấy có thể là các giáo viên, những người kín đáo dạy thanh niên những điều vốn bị cấm kị trong các trường công, những linh mục đang tại vị, hoặc đã bị phế truất, nhưng vẫn cố gắng thực hành đời sống tôn giáo tự do; các họa sĩ, nhạc sĩ và ca sĩ, những người đang lao động nghệ thuật mặc dù bị các cơ quan của nhà nước theo dõi; và tất cả những người, bằng mọi phương tiện sẵn có, cố gắng thể hiện và bảo vệ các lợi ích xã hội thực sự của người lao động, trả lại ý nghĩa đích thực cho các công đoàn, hay sáng lập các công đoàn độc lập; những người không sợ hãi khi tìm cách buộc các quan chức phải lưu tâm tới những trường hợp bất công và những người đấu tranh để buộc người ta phải tuân thủ luật lệ; và những nhóm thanh niên đang thoát ra khỏi những hành động thao túng và sống theo ý của mình, sống theo những giá trị mà mình tôn trọng.”

Bao giờ có nhiều người trong chúng ta mong muốn sống trong sự thật và bao giờ mong muốn đó chuyển thành hành động khiến ta hành động, nghĩa là khiến ta chọn cách sống trong sự thật, như Đỗ Việt Khoa đã làm, thì lúc đó xã hội dân sự mới có thể lớn mạnh.

Tóm lại, những câu hỏi “làm gì?” và “sống như thế nào?” không thể là câu hỏi được đặt ra cho người khác. Đó là những câu hỏi mà mỗi người phải tự đặt cho chính mình, nếu chúng ta muốn xã hội thay đổi. Xã hội không thể thay đổi nếu chúng ta chỉ nhìn thấy lỗi của người khác, mà không thấy rằng nếu không có sự đồng lõa của mỗi người thì xã hội đã không thể vận hành theo cách thức hiện nay. Xã hội không thể thay đổi nếu mỗi người không tự thấy rằng chính mình sẽ phải đóng góp vào sự thay đổi đó, chứ không thể ngồi chờ người khác.

Hiện trạng của Việt Nam hiện nay đang là như vậy: chỉ có một số vô cùng ít những người tranh đấu cho sự thật và sống trong sự thật, còn lại gần như toàn bộ xã hội vẫn trong tình trạng mê ngủ. Nhiều người không phải là không biết, tức là đã tỉnh, nhưng chọn thái độ ngồi chờ và than thở mỗi khi có sự cố xảy ra. Than thở trong các quán cà phê, trên các bàn nhậu, trong các không gian riêng, nhưng không làm gì cả, ngay đến một chữ ký hoàn toàn không gây hậu quả gì họ cũng không ký. Nhưng nếu tất cả cùng chờ thì ai sẽ là người làm thay đổi xã hội và bao giờ có sự thay đổi xã hội? Câu trả lời quá dễ: chẳng có ai và chẳng bao giờ. Đấy là lý do khiến ở trên tôi nói rằng thiểu số quá ít ỏi những người đang tranh đấu ở Việt Nam sẽ không thể làm biến chuyển xã hội, nếu không có sự hỗ trợ của đa số dân chúng.

Và cũng sẽ khó có sự thay đổi nếu ta vẫn đổ lỗi cho một Lịch Sử chung chung và mơ hồ nào đó, nếu vẫn tự dối mình đằng sau cái công thức “sự lựa chọn của Lịch Sử” (cụ thể hơn, ví dụ như: “lịch sử đã chọn Hồ Chí Minh chứ không chọn Phan Châu Trinh”), bởi cái công thức đó ngăn không cho chúng ta thấy rằng chính chúng ta đã và đang lựa chọn số phận của chúng ta, rằng chính chúng ta đang làm nên Lịch Sử, sau khi mà lịch sử đã làm nên chúng ta. Nghĩa là, chúng ta không thể lựa chọn quá khứ, nhưng chính chúng ta là người quyết định hiện tại và tương lai của mình.

Người Đức đã không lảng tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho Hitler và cho Marx, họ nhận trách nhiệm về quá khứ và tự nhận lấy trách nhiệm quyết định hiện tại và tương lai cho chính họ. Người Đức không nói “Lịch sử đã chọn Hitler” hay “Lịch sử đã chọn Marx”. Họ phân tích để hiểu vì sao Hitler và Marx đã được lựa chọn trong những bối cảnh cụ thể của lịch sử (chẳng hạn Hannah Arendt đã viết ba tập sách để phân tích các nguồn gốc chính trị, xã hội, kinh tế, lịch sử, văn hóa… đã dẫn đến sự hình thành của chế độ Hitler và chế độ Staline). Người Đức vẫn nghiên cứu về Marx, vẫn dạy Marx trong các trường đại học, nhưng họ đã từ bỏ mô hình được xây dựng dựa trên các ý tưởng ban đầu của Marx, mô hình Đông Đức. Họ phân tích để hiểu, để tránh các sai lầm trong quá khứ và để lựa chọn cho họ một tương lai khác chứ không để cho các bóng ma của quá khứ định đoạt cuộc sống của họ. Họ tự quyết định tương lai của mình.

Hiện tại của Việt Nam đang là như vậy, còn tương lai, chúng ta sẽ để mặc nó cho một nhóm người quyết định hay chính chúng ta sẽ quyết định chọn một tương lai khác với cái hiện tại đầy nhức nhối này?

Nice, 1/9/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

——————————-
Ở Nhà
2-9-2015
Phạm Đình Trọng

“…Người Việt Nam chân chính làm sao có thể vui được trong ngày khởi đầu một kỉ nguyên nô lệ mới, ngày chấm dứt nô lệ nước ngoài và khởi đầu chế độ nô lệ trong nước, khởi đầu những nỗi đau…”

Ngày 2/9/2015, nhà nước cộng sản Việt Nam hoan hỉ diễu binh, diễu hành mừng 70 năm khuất phục được khí phách Việt Nam, tha hóa được Văn hiến Việt Nam trong vòng nô dịch cộng sản.

Những ngày này, người Việt Nam chân chính đều mang nặng những nỗi đau.

Nỗi đau 70 năm người Việt hận thù người Việt, người Việt giết hại, tù đày người Việt. 70 năm cả chục triệu người Việt chết thảm vì hận thù giai cấp, vì bạo lực chuyên chính. 70 năm gia đình li biệt, dân tộc thất tán, lang bạt khắp cùng trời cuối đất.

Nỗi đau đất đai hương hỏa của tổ tiên để lại không còn nguyên vẹn. Mất đất biên cương của lịch sử oai hùng. Mất đảo thiêng mang hồn cốt cha ông.

Nỗi đau đạo lí, văn hóa Việt Nam suy đồi. Lòng vị tha, đức nhường nhịn là nếp sống tự nhiên từ ngàn đời của người Việt đã thay bằng thói hiếu thắng chụp giật, tranh cướp. Đạo lí thương yêu, đùm bọc của người Việt “thương người như thể thương thân” đã thay bằng học thuyết bạo lực đấu tranh giai cấp vay mượn:

“Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu
Cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xit ta lin bất diệt!”

(Thơ Tố Hữu, một lãnh tụ, một nhà tư tưởng cộng sản)

Nỗi đau kẻ cướp đất cướp biển của tổ tiên, kẻ hàng ngày giết hại dân lành Việt Nam mà vẫn là đồng chí, vẫn là anh em của nhà nước cộng sản Việt Nam! Nỗi đau nhà nước của dân Việt lại đồng nhất với kẻ thù truyền kiếp của lịch sử Việt.

Người Việt Nam chân chính làm sao có thể vui được trong ngày khởi đầu một kỉ nguyên nô lệ mới, ngày chấm dứt nô lệ nước ngoài và khởi đầu chế độ nô lệ trong nước, khởi đầu những nỗi đau.

Hãy ở nhà soi vào nỗi đau để nhận ra thân phận người Việt hôm nay, nhận ra trách nhiệm người của một Việt chân chính.

Phạm Đình Trọng

anhbasam

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nguyên nhân làm nợ công tăng cao: Giật mình về đơn giá xây dựng cho đầu tư công

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

đơn giá áp dụng làm dự toán xây dựng tại các công trình do nhà nước đầu tư như: chung cư, trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính… do Bộ Xây Dựng ban hành cao hơn rất nhiều so với giá thực tế…

Giật mình về đơn giá xây dựng cho đầu tư công

4-9-2015

Báo Thanh Niên

Giá dự toán xây dựng của Bộ xây dựng ban hành đối với các dự án công cao hơn rất nhiều so với giá thực tế là một trong các nguyên nhân đẩy nợ công lên cao - Ảnh minh họa: Mai VọngGiá dự toán xây dựng của Bộ Xây dựng ban hành đối với các dự án công cao hơn rất nhiều so với giá thực tế là một trong các nguyên nhân đẩy nợ công lên cao
– Ảnh minh họa: Mai Vọng

Mới đây, một cuộc hội thảo có liên quan tới đầu tư công trong xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh lại một lần nữa làm tôi giật mình khi biết đơn giá áp dụng làm dự toán xây dựng tại các công trình do nhà nước đầu tư như: chung cư, trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính… do Bộ Xây dựng ban hành cao hơn rất nhiều so với giá thực tế

Tại hội thảo, các chuyên gia đưa ra hàng loạt con số, chỉ nghe thôi đã thấy “choáng toàn diện”.
Báo Thanh Niên ngày 1.9 đưa tin, theo dự toán đơn giá xây dựng hiện hành thì 1m2 tường 20 cm mà Bộ Xây dựng xây dựng đơn giá thì chi phí vật tư là 140.000 đồng, nhân công 139.000 đồng… Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn Đực, Giám đốc Công ty TNHH tư vấn xây dựng Tân, một công ty chuyên về tư vấn xây dựng tại TP.HCM, giá chủ đầu tư trả nhân công cho nhà thầu chỉ 60.000 đồng/m2. Như vậy đơn giá nhân công theo dự toán cao hơn 2,31 lần so với nhân công thực tế.
Hay đơn giá theo dự toán sơn 1m2 tường hết 11.000 đồng tiền vật tư và 59.000 đồng trả cho nhân công trong khi thực tế chủ đầu tư trả nhân công cho nhà thầu chỉ 34.000 đồng.

Trong thực tế, khi xây dựng một công trình, giá nhân công thường thấp hơn giá vật tư, chỉ bằng khoảng 40% giá vật tư. Nhưng trong quy định dự toán của nhà nước, tiền trả cho nhân công lại cao hơn tiền mua vật tư. Cụ thể, đơn giá theo dự toán 1m2 xây dựng hoàn chỉnh thì tiền vật tư là 2.941.000 đồng và tiền cho nhân công là 2.956.000 đồng. Nhưng thực tế trong xây dựng tiền trả cho nhân công chỉ 1.179.000 đồng.

“Với mức giá mà nhà nước trả cho nhà thầu và thực tế nhà thầu trả cho nhân công thì nhà thầu lãi 50% số tiền”, ông Đực tính toán.

Ông Đực còn chỉ ra rằng, trong thực tế, khi xây dựng một công trình, giá nhân công thường thấp hơn giá vật tư, tức giá nhân công chỉ bằng khoảng 40% giá vật tư thì trong quy định dự toán của nhà nước, tiền trả cho nhân công lại cao hơn tiền mua vật tư. Cụ thể, đơn giá theo dự toán 1m2 xây dựng hoàn chỉnh thì tiền vật tư là 2.941.000 đồng và tiền cho nhân công là 2.956.000 đồng. Nhưng thực tế trong xây dựng tiền trả cho nhân công chỉ 1.179.000 đồng. Ông nói : “Đơn giá nhân công theo dự toán sẽ hơn 2,51 lần so với nhân công thực tế. Không những vậy, giá nhân công cao hơn vật tư là vô lý…”
Thật khó hiểu!
Một kiến trúc sư tại TP.HCM đã nêu ví dụ về vụ chặt cây xanh mới đây ở Hà Nội cho thấy nhiều khoảng tối. Theo dự toán, nhà nước chi trả là gần 36 triệu đồng/cây khoán gọn tất cả, từ đốn, hạ và vận chuyển nếu đường kính cây từ 1,2 m trở lên. Trong khi thực tế, chỉ cần bỏ ra khoảng 3 triệu đồng là có thể thuê được nhân công chặt một cây, cộng thêm tiền vận chuyển nữa sẽ đủ kinh phí hạ tới cả chục cây xanh. Không những vậy, chỉ mỗi khâu đánh dấu cây chặt mà nhà nước trả 670.000 đồng/cây thì quả là một sự lãng phí và vô lý hết sức.
Tôi chưa tán thành ý kiến của vị KTS nọ vì ông cho rằng những định mức và đơn giá này “được soạn trong phòng làm việc đã vài ba chục năm rồi”.
Nhưng tôi lại phần nào đồng tình với cái cách mà vị KTS phân tích: Cách đây 10 năm, khi chặt một cành cây thợ phải leo lên cây cắt thủ công, nên mỗi công thợ một ngày chỉ cắt 2 cành cây, mỗi cành 100.000 đồng, như vậy, mỗi ngày công nhân được trả 200.000 đồng. Còn bây giờ có máy móc hiện đại, mỗi ngày một công nhân có thể cắt 20 cành cây. Vì vậy, khi nhân lên nhà nước phải trả 2 triệu đồng/nhân công/ngày. Nhưng thực tế công ty cũng chỉ trả cho họ 200.000 đồng/ngày chứ làm gì có vị tiều phu nào ở Hà Nội có mức thu nhập đến 2 triệu đồng/ ngày như vừa nêu. Còn nếu như tôi nói sai, xin các cơ quan có trách nhiệm mách dùm , sẽ có rất nhiều người mơ được trở thành tiều phu lại được sống ở Thủ đô lắm.
Tôi cũng rất băn khoăn và không lý giải nổi, khi trên địa bàn Thủ đô đã từng xảy ra chuyện đơn vị thi công rút ruột công trình theo kiểu bớt lõi thép trong khâu làm móng, đại thể như cột bê tông lẽ ra phải có 20 thanh thép mới đúng thiết kế thì nay chỉ còn 17-18 thanh. Hoặc còn cách khác, vẫn đủ số thanh thép nếu” đếm cây nghiệm thu” thì họ thay bằng thép có đường kính nhỏ hơn để ăn bớt . Nghe mà khiếp vía vì hoang mang nếu ai đó định mua căn hộ…
Tuy kẻ làm bậy pháp luật đã xét xử, song các nhà chuyên môn lại cho rằng dù có bị rút ruột nhưng công trình vẫn an toàn, không đáng ngại vì còn có ngưỡng đã được dự phòng… Nếu quả vậy thì đúng là đầu tư công được tính toán xông xênh quá đi rồi, làm sao họ không tìm cách rút ruột công trình? Và nay, qua chuyện từ hội thảo trên, tôi cũng đã hiểu ra vấn đề.
Lâu nay, các chuyên gia kinh tế của chúng ta  luôn băn khăn về sự tụt hậu của Việt Nam so với một số nước trong khu vực như Singapore, như Thái Lan về năng suất lao động , nó quá chênh lệch nhau, có khi vênh đến cả chục lần. Lại càng không thể so với các nước có nền công nghiệp hiện đại ở các châu lục khác.
Vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, những ai ở miền Bắc Việt Nam như chúng tôi đều đã từng một thời rất thán phục nước Cộng hhòa Dân chủ Đức ( Đông Đức) bởi trình độ, công nghệ và hạ tầng cơ sở của họ có một khoảng cách khá xa so với các nước XHCN còn lại. Những tưởng với cái đà đó, CHDC Đức sẽ ngày một vững mạnh và bứt phá nhanh nhất trong các nước thuộc cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Ấy vậy mà , khi phe XHCN sụp đổ, chúng ta mới vỡ lẽ CHDC Đức còn lạc hậu về nhiều mặt so với những người Đức ở bên kia bức tường Berlin, đó là CHLB Đức (Tây Đức).  Sau gần nửa thế kỷ theo đuổi XHCN, khi sáp nhập vào Tây Đức, GDP của Đông Đức chỉ góp được 7% của cả nước Đức mới so với 93% của Tây Đức dù cho họ chiếm khoảng 1/3 dân số so với Tây Đức.
Nếu cứ vẫn giữ cho mình một cung cách tư duy năm xưa như thế, cung cách làm việc như thế, tôi thật khó tin trong một vài chục năm nữa Việt Nam có thể có cuộc bứt phá ngoạn mục, đuổi kịp các nước trong khu vực cũng không hề dễ dàng. Việc để đơn giá nhân công quá cao đương nhiên sẽ là mầm mống của những lãng phí và tham nhũng, qua đó, nó sẽ  đẩy tiền đầu tư công lên rất cao, cao đến phi lý là không thể chấp nhận.

Hành

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Một sinh viên bị trường khuyên nghỉ học vì ‘khác lý tưởng’? … vì không có “lý tưởng cộng sản”

Posted by hoangtran204 trên 05/09/2015

“EM HÃY RÚT HỒ SƠ VÀ NGHỈ HỌC Ở TRƯỜNG NÀY ĐI”

2-9-2015

Phạm Lê Vương Các

Các bạn có tin đó là câu nói của một thầy Trưởng Khoa Đại học Liên thông – kiêm Phó Hiệu trưởng “khuyên” sinh viên của mình sau khi nhập học được 1 tuần không? 

Còn đối với tôi câu nói này đã trở nên rất đỗi quen thuộc vì tôi đã được nghe nó nhiều lần khi học ở Đại học Luật TP.HCM. Và lần này tôi lại được nghe ở Trường Đại học Kinh Doanh & Công Nghệ Hà Nội – nơi tôi đang theo học chuyên ngành Luật kinh tế. 

Nhưng khác với lần trước, lần này tôi nghe lại cụm từ “em hãy nghỉ học ở trường này đi” một cách hết sức thô thiển từ một người Thầy, buộc tôi phải viết lại những gì đã xảy ra vào buổi sáng ngày hôm qua.

Vào sáng ngày 1/9, tôi đến trường Đại học Kinh Doanh & Công Nghệ Hà Nội theo lời mời của một thầy mà tối qua bảo là “hướng dẫn tôi bổ túc hồ sơ”.

Khi đến nơi, người thầy này dẫn tôi đến phòng của thầy Trưởng khoa để làm việc. Khi vào phòng, Thầy đang ký giấy tờ cho một số người, tôi ngồi đợi một chút và quan sát trên bàn thấy một bản “Báo cáo” của Tổng Cục an ninh có đề tên Phạm Lê Vương Các được in đậm ngay trên tiêu đề.

Khi công việc ký tá đã xong, trong phòng chỉ còn lại tôi và 2 người Thầy (một Thầy dẫn tôi đến, với một Thầy Trưởng khoa), và câu chuyện giữa tôi và Thầy Trưởng Khoa bắt đầu.

Thầy hỏi: “Em có biết cô Y bên Cục An ninh không”? Tôi trả lời rằng biết vì tôi đã làm việc với cô Y mấy lần.

Rồi Thầy cho biết, bên Tổng Cục an ninh có báo cáo về trường hợp của tôi rồi Thầy nói thẳng thừng: “Em nên nghỉ học ở trường này đi, rút lại hồ sơ và kiếm trường khác mà học”. 

Tôi choáng váng mặt mày, tim đập thình thịch, 2 hàm răng bắt đầu run lên và va vào nhau, lỗ tai bắt đầu nóng lên… Tôi im lặng nhìn đăm chiêu ra ngoài cánh cửa, phải mất 2 đến 3 phút sau tôi mới lấy lại bình tĩnh và hỏi: “Thầy cho em biết lý do?”

Thầy nói: “Trường này đào tạo đa ngành, nên đào tạo ngành Luật không tốt bằng mấy trường khác đào tạo chuyên về Luật. Em nên kiếm những trường chuyên về Luật, học ở đó thì sẽ tốt cho em hơn”.

Tôi thở dài… sau một lúc im lặng suy nghĩ tôi đã trả lời rằng: “Em sẽ không rút hồ sơ và sẽ tiếp tục học ở trường này. Vì em đã nhập học được một tuần rồi, nên không thể thay đổi lựa chọn được nữa, vì đã quá muộn.”

Thầy trả lời lại là chưa muộn đâu, bây giờ vẫn còn có thể được, nhưng tôi vẫn giữ nguyên quyết định của mình.

Thầy bắt đầu hơi lớn tiếng và đi thẳng vào vấn đề: “Ai cũng có lý tưởng của riêng mình, em có lý tưởng tự do dân chủ, còn chúng tôi có lý tưởng Cộng sản. Trường này do những người Cộng sản lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị Cộng Sản này.”

Tôi cũng lớn tiếng trả lời: “Khi dự tuyển vào trường này em không thấy chỗ nào giới thiệu trường này là do những người Cộng Sản lập ra, mà trường này là trường Dân lập. Em cũng không quan tâm và không cần biết trường này do Cộng Sản hay Tư Bản lập ra.. Và em cũng nói cho thầy biết, chức năng cao cả của giáo dục không phải là để đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị. Mà là đào tạo ra những con người tự do trước chế độ chính trị.”

Thầy: “Nếu không đào tạo ra những con người của chế dộ chính trị thì cũng đào tạo ra những con người để phục vụ cho chế độ chính trị. Giáo dục của Anh, Pháp, Mỹ cũng đào tạo ra những con người để phục vụ cho chế độ chính trị của nó, và giáo dục cũng Việt Nam cũng vậy”.

Tôi: “Giáo dục của họ sinh viên được tự do lựa chọn tư tưởng. Còn các trường đại học ở Việt Nam thì không. Vì các trường đại học của họ được tự trị mà thế lực chính trị không thể can thiệp được, ít nhất về mặt tự do nghiên cứu, học thuật. Còn ở Việt Nam thì không. Thầy xem tất cả trường đại học nào ở Việt Nam mà không có chi bộ Đảng Cộng Sản trong đó không, cho dù đó là trường Dân lập? Và điều đó có cần thiết không?”

Thầy trả lời là cần thiết, và còn cho biết, không chỉ trong các trường đại học có chi bộ Đảng mà còn có cả An ninh để quản lý và theo dõi sinh viên nữa, nên không phù hợp cho tôi theo học trường này.

Một lúc sau Thầy nhẹ giọng: “Tôi biết em đi học Luật để làm gì. Dù An ninh không ép nhà trường phải cho em thôi học vì nhà trường cũng có sự độc lập riêng. Nhưng An ninh đã thông báo về trường, thì nhà trường phải…”. 

Tôi hỏi lại: “Giả sử an ninh gây sức ép để trường buộc em thôi học thì nhà trường căn cứ vào đâu để ra quyết định buộc em thôi học?”
Không đợi Thầy trả lời, tôi nói tiếp: “Em nói cho Thầy biết, nhà trường chỉ có thể buộc em thôi học khi em có những hành vi vi phạm phạm luật qua một bản án xét xử của Tòa án. Cơ quan An ninh không có chức năng xét xử mà họ chỉ là cơ quan điều tra. Họ điều tra và báo cáo như thế nào là việc của họ, nhà trường đừng để họ làm thay công việc của Tòa án và xem họ như là Tòa án”.
….
Cảm thấy thuyết phục tôi không được, Thầy có thổ lộ là trước khi làm việc với tôi, cô Y bên Cục an ninh cũng có nói với Thầy là không thể thuyết phục được tôi trong vấn đề này đâu, vì “nó là lý tưởng nên rất khó tác động để thay đổi”.

Không biết đây có phải là lý do để Thầy đánh phủ đầu tôi bằng những câu nói cứng rắn ngay trong lần gặp gỡ đầu tiên để tìm kiếm hy vọng?
Khi thuyết phục tôi nghỉ học không được, Thầy chuyển sang đề tài trong khâu tuyển sinh, không biết có phải nhằm mục đích để “dọa” tôi hay không, ngẫm lại thật buồn… cười. 

Thầy nói như vầy:
“Em học Cao đẳng ngành Quản Trị Nhân sự à. Như vậy là không đúng quy định (học trái ngành) để được học liên thông lên ngành Luật kinh tế ở trường này”

Tôi: “Khi nộp hồ sơ tuyển sinh vào trường này, em đã đọc kỹ thông báo là sinh viên học Cao đẳng không đúng chuyên ngành luật vẫn được phép thi liên thông học lên đại học ngành Luật Kinh tế. Và em đã nộp hồ sơ, trải qua kỳ thi do trường tổ chức, và khi trúng tuyển em đã làm thủ tục nhập học thì không có vấn đề gì.”

Thầy: “Thông báo đó em đọc ở đâu?”
Tôi: “Em đọc trên trang website của trường.”

Thầy: “Việc tuyển sinh ngành này là do tôi ký, không lẽ tôi không biết. Không có thông báo nào như thế cả.”
Tôi: “Có máy tính kia. Thầy hãy mở ra và lên đó đọc”.

Nhưng Thầy vẫn khăng khăng khẳng định là không có thông báo đó và nói bằng Cao đẳng của tôi học liên thông lên đại học ngành Luật kinh tế là không đúng.

Tôi tiếp lời: “Ở lớp em có hai mươi mấy bạn. Chỉ 1 hoặc 2 người là học cao đẳng luật. Còn lại tất cả đều không có bằng cấp gì liên quan tới luật.”
Thầy bảo: “Nếu vậy thì tôi sẽ xem xét lại tất cả hồ sơ, và nếu cần thiết thì tôi sẽ đề xuất lên trên giải tán luôn lớp đó.”

Thiệt tình. Lúc đó bỗng dưng tôi có suy nghĩ con người tôi nguy hiểm đến cỡ đó sao. Thật chẳng thể nào hiểu nổi.
Tôi nhận thức được nhà trường không hoan nghênh tôi là điều dễ nhận ra, nhưng bất chấp phải trái, đúng sai, lộng ngôn kiểu này thì tôi đành chào thua.
Tôi bảo: “Em sẽ không tranh cãi với Thầy ở điểm này nữa. Có vấn đề gì khúc mắc, muốn đuổi học, muốn giải tán lớp, đó là việc của Thầy thì Thầy cứ làm. Nhưng làm gì thì cũng phải Quyết định bằng văn bản đàng hoàng. Để tụi em còn có căn cứ để xem xét có nên đi khiếu kiện hay là sẽ chấp hành.”

 

Buổi làm việc chỉ diễn ra khoảng 20 phút, vì Thầy bận đi họp. Trước khi kết thúc tôi nói rõ thông điệp của mình: “Em đã trưởng thành, thì em hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật mà không để liên đới tới ai. Em trúng tuyển và đóng tiền vào đây là để học và tìm kiếm tri thức. Nhà trường có nội quy, khi tới trường thì em sẽ tôn trọng và chấp hành nó. Còn khi em bước chân ra khỏi cổng trường thì chúng ta không liên quan đến nhau. Tốt nhất là nhà trường không nên can thiệp vào những hoạt động bên ngoài của em, vì nhà trường có muốn can thiệp thì cũng không được đâu. Nếu ngoài kia em có hành vi vi phạm pháp luật thì pháp luật sẽ xử lý em chứ không phải đi xử lý nhà trường. 

Tốt nhất là chúng ta hãy nên giữ cho nhau thì sẽ tốt hơn cho cả 2 bên, cho nhà trường và cho cả phía em”, tôi nói.
Và thế là, câu chuyện thầy trò của chúng tôi khép lại với hình ảnh, mạnh ai xách cặp người đó bước ra khỏi cửa, mà không có cái bắt tay và lời chào tạm biệt.

Ra đến sân trường, chợt tôi nhớ lại lời Thầy nói, nào là ông Trọng đi gặp ông Obama, dù họ khác biệt về ý thức hệ và quan điểm chính trị nhưng họ vẫn có thể ngồi lại đối thoại với nhau và tôn trọng nhau. Thế thì tại sao chúng ta-là mối quan hệ thầy trò lại không thể đối thoại với nhau một cách tôn trọng nhau hơn, thưa Thầy?
Có phải chính vì Thầy có suy nghĩ “giáo dục là để đào tạo ra con người để phục vụ cho chế độ chính trị”, đã làm cho Thầy coi trọng “sinh mệnh chính trị” của mình hơn là nhân cách của nhà giáo phải không?
Tôi sẽ không phán xét về Thầy, tôi dành câu trả lời cho cộng đồng và dư luận phán xét, và cho cả chính Thầy.
Nhưng tôi bị tổn thương sâu sắc vì sự xúc phạm bởi chính người Thầy và nhà trường, nơi mà tôi sẽ phải gắn bó trong một thời gian dài.
Lòng khoan dung là tối cần thiết để tránh kéo dài xung đột, và để tạo ra một môi trường giáo dục và một xã hội nhân bản hơn, nên tôi sẽ “gìn giữ cho nhau” bằng cách không nêu tên của Thầy lên đây.

Nếu trong thời gian tới, Thầy Chủ nhiệm khoa và nhà trường còn tiếp tục những hành vi tương tự, tôi cam kết với Thầy và trường Đại học Kinh Doanh&Công Nghệ Hà Nội rằng: Tôi sẽ kiên quyết đấu tranh để bảo vệ cho Quyền được học tập và giáo dục của mình.

Bất kỳ lúc nào tôi cũng có thể đứng trước cổng trường căng băng rôn phản đối nhà trường bất chấp đạo đức và pháp lý ép buộc sinh viên nghỉ học vì lý do chính trị.
Bất kỳ lúc nào tôi cũng có thể đứng trước cổng trụ sở của Bộ Giáo Dục căng băng rôn đòi Quyền tự trị cho các trường đại học ở Việt Nam.
Và bất kỳ lúc nào, tôi cũng có thể gửi đơn khiếu tố sự việc này cho “Báo cáo viên Đặc biệt của Liên hợp quốc về Quyền Giáo dục”, để đưa vấn đề này ra trước cộng đồng quốc tế.
….
Dù khi ra về Thầy có nói rằng, tôi là đối tượng có khả năng tranh luận được với Thầy nên Thầy sẽ còn gặp lại để tranh luận tiếp. Nhưng tôi thấy, giữa tôi và Thầy không thể tiếp tục tranh luận hoặc đối thoại được nữa khi Thầy còn gặp tôi với mục đích để “khuyên” hoặc “ép” tôi ra khỏi cái trường này, chứ không nhằm mục đích kiến tạo ra các giá trị tri thức và tư tưởng mới trong tranh luận.
Ba của tôi khi biết chuyện này liền nhắn tin nói với tôi rằng: “Cá nhân con nên quên chuyện vào trường học XHCN đi. Bởi họ chỉ muốn những người như con cầm cuốc đào đất mà không được cầm bút. Đã biết chúng xài luật rừng mà đi học luật nữa làm gì. Hãy thu xếp về nhà sớm lúc nào đỡ tốn kém cho mình lúc ấy. Con nghe Ba một lần này đi, có nhiều con đường học tập khác dành cho con.”
Theo các bạn, tôi có nên nghe lời ba của tôi không? Trường này có còn xứng đáng để cho tôi tiếp tục theo đuổi việc học ở đây?
Câu trả lời của tôi là: tôi sẽ tiếp tục đi học tại ngôi trường này dù tôi không còn yêu nó.
Đi học tại ngôi trường này, giờ đây, đối với tôi chỉ nhằm một mục đích duy nhất là để chứng minh rằng: bất kỳ một lực lượng chính trị nào cũng không có khả năng xâm phạm và tước đoạt đến Quyền được học tập, được giáo dục của chính tôi.
Tôi sẽ kiên quyết đấu tranh để bảo vệ nó.
Chúng ta hãy nhớ rằng, giáo dục Đại học cũng chỉ là một nơi cung cấp dịch vụ. Tôi không đi xin, mà tôi đã phải trả một khoản tiền không hề nhỏ là 15 triệu/1 năm để được học ở trường này, và tôi có quyền đòi hỏi sự tôn trọng trong tư tưởng và chất lượng khoa học từ nhà trường.

Phạm Lê Vương Các

https://www.facebook.com/cui.cac?fref=ts&__nodl

—————-/———–

Bị trường khuyên nghỉ vì ‘khác lý tưởng’?

BBC  4-9-2015

Một blogger sinh viên tại Hà Nội nói ông bị trường “khuyên” nghỉ học vì không có “lý tưởng cộng sản”.

Nhưng phó hiệu trưởng trường đại học nói với BBC rằng không có việc ông khuyên người này nghỉ học vì “sức ép của an ninh”.

Hôm 2/9, blogger Phạm Lê Vương Các trình bày trên Facebook về việc ông bị Phó Hiệu Trưởng kiêm Trưởng Khoa Đại học Liên thông, Trường Đại học Kinh Doanh & Công Nghệ Hà Nội mời gặp ở văn phòng hôm 1/9 sau tuần đầu tiên nhập học.

Ông Các cho biết mình đã phải trả khoản tiền 15 triệu đồng/năm để được học ở trường này.

Ông Các dẫn lời ông Hà Đức Trụ nói: “Em nên nghỉ học ở trường này đi, rút lại hồ sơ và kiếm trường khác mà học!”.

“Ai cũng có lý tưởng của riêng mình, em có lý tưởng tự do dân chủ, còn chúng tôi có lý tưởng cộng sản. Trường này do những người cộng sản lập ra, và sẽ đào tạo ra những con người thuộc về chế độ chính trị cộng sản này”, ông Các tường thuật lời ông Trụ.

Dù bị áp lực, ông Các vẫn kiên định: “Nhà trường chỉ có thể buộc tôi thôi học khi tôi có những hành vi vi phạm phạm luật qua một bản án xét xử của tòa án.

Cơ quan An ninh không có chức năng xét xử mà họ chỉ là cơ quan điều tra. Họ điều tra và báo cáo như thế nào là việc của họ, nhà trường đừng để họ làm thay công việc của tòa án và xem họ như là tòa án”.

Nhà trường phủ nhận

Trả lời phỏng vấn của BBC Tiếng Việt hôm 4/9, phó hiệu trưởng Hà Đức Trụ, người gặp Vương Các, cho biết:

“Vấn đề trao đổi giữa tôi và sinh viên Các chỉ là việc sinh viên học trái ngành nên cần học chuyển đổi bổ sung. Tôi khẳng định không hề có chuyện khuyên sinh viên này nên nghỉ do sức ép của an ninh. An ninh không có quyền can thiệp vào trường của tôi, trong lúc việc kiếm được một sinh viên học liên thông là không dễ”.

Ông Trụ cho biết đã đọc bài viết của ông Các trên Facebook và nói ‘không quan tâm vì đó là tự do tư tưởng và quan điểm cá nhân, dù thông tin đó có thể ảnh hưởng không hay đến nhà trường’.

Ông còn nhận xét rằng ông Các “thẳng thắn, có chính kiến, tư chất để làm một người tốt”.

Cùng ngày, một luật sư ở Hà Nội, Trần Vũ Hải, cho biết ý kiến:

“Một trường đại học không có lý do gì để từ chối một sinh viên nếu không có căn cứ pháp lý rằng người ấy phạm pháp.

Đã có luật về đại học, sinh viên và tuyển sinh nên mọi thứ cần được xử lý căn cứ trên pháp luật.”

Ông Hải nói thêm rằng những trường hợp sinh viên nhận thấy mình bị nhà trường đối xử “không đúng mực” thì cần yêu cầu văn bản trả lời để khiếu nại theo luật.

“Vì trách nhiệm nghề nghiệp của mình, các luật sư chắc chắn sẽ đứng về phía những người bị hành xử không đúng luật”, ông Hải nói.

Image copyrightHUBTUniversity
Image captionÔng Hà Đức Trụ, phó hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội phủ nhận chuyện ‘khuyên nghỉ’ với ông Các

‘Tổn thương sâu sắc’

Trao đổi với BBC Tiếng Việt hôm 4/9, ông Các cho biết mình “tổn thương sâu sắc”.

Tuy vậy ông vẫn “đang đợi động thái tiếp theo từ nhà trường để có phản ứng thích hợp”.

“Đây là lần thứ hai tôi bị nhà trường đề nghị thôi học vì cùng một lý do. Lần trước, năm 2013, tôi đã học đến năm cuối trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thì bỏ học do sức ép khá nặng nề và chưa có bản lĩnh vững vàng như bây giờ”.

Ông nhấn mạnh: “Tôi quyết tâm không bỏ cuộc, đấu tranh để đòi hỏi quyền học tập của mình vì không muốn tạo ra một tiền lệ xấu sau này trong giáo dục.”

Năm 2013, tổ chức nhân quyền Human Rights Watch (HRW) nói ông Các cùng blogger Nguyễn Hoàng Vi bị hành hung.

HRW khi đó nói ông Các thuộc nhóm “phản ánh tiếng nói bất đồng của một thế hệ trẻ hơn, không có ràng buộc gì với bộ máy nhà nước”.

———————–

5-9-2015

NÓI VỚI THẦY CÔ

Để thụ hưởng quyền tự do học thuật, trong đó có việc tự do nghiên cứu và tự do giảng dạy luôn phải đòi hỏi quyền tự trị của các tổ chức giáo dục đại học.

Tự trị của các tổ chức giáo dục đại học, có thể ở nhiều mức độ khác nhau, nếu như không thể đuổi được các lực lượng chính trị ra khỏi học đường, thì chỗ đứng của nó phải là ở ngoài hành lang hoặc trong căn tin, chứ không thể là ở trong phòng học.

Gia nhập đảng phái chính trị là quyền của thầy cô, nhưng đừng dùng sự giảng dạy và nghiên cứu để lồng ghép tuyên truyền cho đường lối, chính sách của đảng phái mình và kêu gọi học trò tuân theo.


Chức năng của thầy cô không phải là đi tuyên truyền cho đảng phái chính trị mà là hướng dẫn học trò chạm tới mọi ngóc ngách của tri thức nhân loại và giải quyết các nan đề từ cuộc sống đang đặt ra.


Tuyên truyền, bản thân của nó cũng là một hình thức của nhồi sọ để mọi người nghe theo, điều này là phi khoa học và phi giáo dục.
Bỡi lẽ, khoa học chân chính và giáo dục ưu việt không bao giờ cần đến sự tuyên truyền, mà nó phải là phản tuyên truyền, biết phê phán và tranh luận.

Dẫn dắt học trò của mình với mục đích để mai này phục vụ cho một lực lượng chính trị là con đường ngắn nhất để biến học trò của mình thành một thứ công cụ quyền lực trong tay kẻ khác.

Một cậu bé lớp 8 đã diễn tả hiện trạng của nền giáo dục nước nhà bằng hai từ: “thối nát”. Có bao giờ thầy cô tự hỏi nguyên nhân của sự sự thối nát đó bắt nguồn từ đâu hay chưa?

————-

Yesterday at 10:57am 

9-9-2015

Vào 11h trưa ngày hôm qua 8/9, tôi đã có buổi làm việc với lãnh đạo nhà trường, bao gồm Thầy Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, và Chánh Văn Phòng.
Buổi làm việc kéo dài hơn 1 giờ, trong không khí cởi mở và thân thiện.
Chúng tôi trao đổi với nhau về sự việc xảy ra giữa tôi với Thầy Phó Hiệu Trưởng, và sau đó là Thầy Hiệu trưởng dành cho tôi những lời khuyên trong hoạt động đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền.
Nói chung, buổi làm việc này là để đảm bảo tinh thần cho tôi an tâm học tiếp ở trường, nhà trường sẽ tạo điều kiện cho tôi.

Qua sự việc này, tôi muốn gửi đi thông điệp rằng: hãy biết đấu tranh để đòi hỏi quyền của mình nếu bị vi phạm, và hãy đối xử với nhau trên tinh thần khoan dung thì cuộc sống này sẽ tốt đẹp hơn, không chỉ cho riêng bạn, mà cho cả những người xung quanh.

————————

Nguyễn Hoàng Vi with Phạm Lê Vương Các

10-9-2015

Tối nay, sau khi tan học, bạn Các nhà mình bị 5 an ninh theo dõi. Bạn soạn sẵn tin nhắn gửi mình đăng giúp phòng khi có chuyện. 
Trước khi tìm được khách sạn, những viên an ninh này đã cà khịa kiếm chuyện với bạn.
Khi tìm được chỗ trọ đêm nay, ngay lập tức, bạn gọi thông báo cho mình biết chỗ ở và tình hình hiện tại, nhờ mình đăng giúp tin nhắn này. Mong anh chị em chia sẻ
“Vào tối ngày hôm nay, sau khi tan học xuống thang máy thấy một số “sinh viên ngầu quá”, ra tới cổng thì mình đếm được có ít nhất là 5 an ninh theo mình. Anh nào anh nấy ăn mặc kiểu sinh viên không mới ghê chứ.
Mình đi xe bus, họ chia làm từng tốp đi theo. Chắc là muốn biết chỗ mình đang ở trọ. Muốn biết thì mình sẵn lòng cho biết, nhưng huy động đông kiểu này, hao tốn tiền của nhân dân cho việc nhỏ xíu này là mình không thích chút nào. Vì vậy, đêm nay mình sẽ không về nhà trọ, mà chui vào khách sạn trong khu phố cổ ở luôn. Hiện tại mình đang ở ks Princess 1, số 51 Lương Ngọc Quyến, Hà Nội.”

———————–

Lê Hiếu Đằng

Lúc tôi còn học đệ nhị, đệ nhất Quốc học Huế và đã từng bị bắt giam ở lao Thừa Phủ Huế gần một năm với Lý Thiện Sanh (nay là bác sĩ định cư ở Úc). Vì chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó nghĩ tôi là thành viên của Đoàn TN nhân dân Cách mạng Miền Nam. Nhắc đến đây tôi có một kỷ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin hai chúng tôi ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi.

Tôi theo ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Hoàng Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đồng Thi Hiền còn trai trẻ trước 1945 nên gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ. Những ngày ba tôi đến đón tôi ra thi ông đã đi qua cánh đồng An Cựu trong giá lạnh. Tôi không thể nào quên hình ảnh đó của ba tôi. Bây giờ Người đã mất nhưng tôi không bao giờ quên ông, biết ơn nuôi dạy tôi thành người trưởng thành pha một chút ân hận vì tôi mà ông phải khổ sở. Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?

Mời đọc tiếp tại   hoangtran204.wordpress.com

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền, Giao Duc | Leave a Comment »

► Chuyện trả nợ Liên Xô – Nguyễn Quang A

Posted by hoangtran204 trên 05/09/2015

CHUYỆN TRẢ NỢ CHO LIÊN XÔ

Tiến sĩ Nguyễn Quang A

4-9-2015

Việc một số người bắt đầu bôi nhọ mình, dùng vài hình ảnh và sự kiện để cố ý đánh lạc hướng dư luận và làm cho những người khác dựa vào đó để “phán” (nói toẹt ra là lên án, hay gây hồ nghi) về mình, là chuyện nhỏ. Nghề của họ vậy mình không để ý. Nhưng bạn Nguyễn Phan Huy Khôi bảo đã từng một vài lần gặp mình và cho rằng mình “khoe cái quá khứ lừng lẫy đã từng đủ tiền đề nghị đứng ra trả nợ cho Việt Nam nhưng Chính phủ Việt Nam từ chối.”

Tôi không nhớ đã gặp anh Khôi ở đâu và anh hiểu gì về tôi mà anh “phán” bạo thế.

Nhân đây nói chuyện trả nợ Liên Xô để các bạn có thêm thông tin. Mình chả bao giờ “khoe” vụ này cả vì nó thất bại hoàn toàn.

Các bạn khơi lại thì “khoe” chơi vậy:

1) Việt Nam nợ Liên Xô (cho đến trước khi LX tan rã) khoảng mười mấy tỷ rúp chuyển nhượng (RCN = đồng rúp ghi sổ giữa các nước khối SEV không phải đồng rúp xanh dùng mua đồ ngoài chợ, và tỷ giá chính thức lúc đó là 0,6 RCN = 1 USD). Tính ra Việt Nam nợ Liên Xô cỡ trên 20 tỷ USD (nếu đổi ra USD). Bọn mình lúc đó có cơ chế đổi USD ra RCN rất ngon ( 1 USD ~ 70 RCN) như thế chỉ cần khoảng 290 triệu USD là có thể xóa sạch nợ của Việt Nam với Liên Xô.

Liên Xô rất khoái máy tính lúc đó, mình buôn máy tính chính thức (chứ chưa bao giờ buôn lậu) và có quan hệ tốt với Gosplan. Liên Xô sẵn sàng ký mua số máy tính của bọn mình tổng số lên trên 20 tỷ RCN, trả tiền ngay và 6 tháng sau mình mới phải giao máy tính.

Cốt lõi là: mình ký hợp đồng, Liên Xô trả tiền, mình dùng chính tiền đó trả nợ cho VN và đòi Chính phủ Việt Nam trả mình tiền sau đó (VND hay USD càng tốt) mình mua và lắp máy tính giao cho Liên Xô. Điều kiện Chính phủ VN trả tiền cho mình chỉ sau khi Liên Xô chính thức xác nhận với Chính phủ VN rằng VN không còn nợ LX một Kopek nào. Việc trả tiền cho mình theo lộ trình 10 năm. Đấy thuần túy là một dự án kinh doanh, chứ mình chả có đồng xu dính túi nào, nói chi đến “đã từng đủ tiền đề nghị đứng ra trả nợ cho Việt Nam”.
Chính phủ Việt Nam có từ chối không?

Mình và Bùi Huy Hùng nhờ anh Trần Xuân Giá (lúc đó bên Hội đồng Bộ trưởng) dẫn vào gặp Thủ Tướng Đỗ Mười. Chiều rồi, ông ngồi ở gốc cây si đọc sách. Anh Giá bảo ông Mười có Gs Ts đến gặp (khoe thêm: mình chả bao giờ dùng danh hiệu Gs hay Ts cả, nhưng chúng là do nước ngoài cấp, tức là xịn chứ không phải rởm). Ông Mười cứ nghe thấy Gs.Ts. đến gặp ông là họ muốn xin cái gì đó và ông hỏi “các chú muốn xin gì?” Tôi bảo “tôi không xin gì cả mà chỉ muốn đề xuất với ông chuyện trả nợ LX”.

Nghe một chút ông còn bảo “thế các chú muốn lừa ông anh cả ư?”

Tôi bảo, chúng tôi là dân kinh doanh, chả lừa được ai, thuận mua vừa bán bác ạ. Chúng tôi còn đưa ra hợp đồng chứng minh cho ông rằng cái máy xúc đặc biệt mà VN mua của LX theo nghị định thư đang hoạt động ở Quảng Ninh với giá 0,5 triệu RCN thì chúng tôi có thể mua đúng máy đó với giá 5.000 RCN. Chẳng biết ai lừa ai. Và tất cả các khoản nợ mua máy móc, làm thủy điện sông Đà (không thuộc viện trợ quân sự), vân vân là món nợ mà chúng tôi muốn trả.

Đến đây ông thực sự được thuyết phục và ông Mười lệnh cho anh Giá tổ chức một cuộc họp tại Bộ Ngoại Thương (trên tầng 2 nhà ở phố Ngô Quyền). Có mặt nhiều thứ trưởng (Tài Chính, Ngoại Thương, UBKH Nhà nước) và cả chục vụ trưởng vụ phó. Tôi trình bày đề án như nêu ở trên (mấy gạch đầu dòng chưa đầy 1 trang A4). Ai cũng thấy hay nhưng rồi chẳng ai quyết cả, nên dự án hoàn toàn thất bại (nghe anh Doanh bảo lúc ấy ngân sách lấy đâu ra 300 triệu USD trả cho ông. Tôi bảo anh Doanh nếu họ bảo chưa có tiền tôi đã có thể dàn xếp tài chính cho hợp với ngân sách quốc gia, nhưng đấy là chuyện “bí mật quốc gia” ai dám nói).

Chuyện chỉ có thế. Lúc đó tôi chả có xu nào, chỉ có sơ đồ “lấy mỡ nó rán nó mà thôi”.

Rồi nhiều năm sau nghe tin Thủ tướng Phan Văn Khải ký được thỏa thuận giải quyết nợ với Nga (kế vị LX), họ giảm cho khá nhiều nhưng vẫn phải trả, có lẽ, cỡ 2 tỷ USD, nửa bằng tiền mặt nửa bằng hàng hóa và khối đại gia hiện nay nhờ vào đó mà giàu to. Đêm nghe tin đó tôi không ngủ được dù chỉ là một phút vì tức:
– Việt Nam phải trả nhiều tiền hơn
– Việt Nam phải xin xóa một phần nợ (xin chắc là nhục nhơn trả sạch sành sanh chứ [Nhất là 1 ông bạn tôi ở VP Chính phủ kể về nỗi nhục xin gặp lãnh đạo Nga: nó bảo trả nợ đi thì mới bàn đến chuyện gặp).
———
Về các câu hỏi của An Ninh khi câu lưu tôi ở Nội Bài tôi sẽ trả lời cho cả bàn dân thiên hạ biết, cứ đợi xem nhưng các bạn tử tế đừng “phán” hay lên án vội, còn những kẻ muốn bôi nhọ tôi thì là việc của chúng, tôi không quan tâm.

Nguồn Fb Nguyễn Quang A

Nguyễn Văn Đài

5-9-2015

NHỤC!

Lãnh đạo đảng CSVN sang Nga dự duyệt binh(9-5-2015) thì bị xếp ngồi cũng các cựu chiến binh già nua của Nga. Không được ngồi ngang hàng với các nguyên thủ các quốc gia khác.

Hôm nay sang TQ dự duyệt binh thì bị xếp ngồi xó nào không biết??? Nhân dân VN ngóng tìm lãnh đạo mỏi mắt mà không thấy đâu.

Đúng là: hèn, ngu, nên bị họ làm nhục.   

“Việt Nam cũng có xếp hạng gần kém nhất trong khảo sát lần này. Cụ thể, Việt Nam đứng thứ 124/125, thuộc nhóm 3 quốc gia có đóng góp kém nhất cho hành tinh và nhân loại, cùng với Iraq và Libya.
Hai lĩnh vực Việt Nam bị xếp hạng thấp nhất là những đóng góp cho Trật tự thế giới và Hành tinh & khí hậu (đều xếp thứ 123/125). Ngoài ra, Việt Nam cũng chỉ đứng thứ 111 về Sức khỏe & Hạnh phúc, thứ 103 về Hòa bình & An ninh Quốc tế và thứ 89 trong lĩnh vực Khoa học & Công nghệ.”

 
 
 
4-7-2014
 

Việt Nam chỉ đứng thứ 124/125 trong bảng xếp hạng các quốc gia đóng góp cho hành tinh và nhân loại được tính toán từ chỉ số Good Country Index.

Nhìn từ không gian, hành tinh xanh của chúng ta là một khối hình cầu không biên giới nằm giữa các ngôi sao. Nhưng con người trên trái đất đều biết rõ ràng rằng: những vùng đất trên thế giới đã được chia nhỏ thành nhiều quốc gia khác nhau.

Những đường biên giới chia cắt chúng ta và các quốc gia thường được khuyến khích tìm kiếm lợi ích cho riêng mình hơn là hướng tới một giá trị chung, mang tính đoàn kết toàn cầu.

Tuy nhiên, nhằm mục đích khắc phục hạn chế này, chỉ số Good Country Index (tạm dịch: Chỉ số quốc gia tốt) đã được phát hành vào ngày hôm qua 24/6 bởi Simon Anholt – một cố vấn chính sách độc lập.

 

Kết quả mới công bố cho thấy, Ailen và Phần Lan là hai quốc gia dẫn đầu trong đóng góp cho toàn thế giới, trong khi đó Libya được xếp hạng kém nhất trong tổng số 125 quốc gia được tính toán lần này.

Cường quốc số một thế giới – Mỹ chỉ đứng thứ 21 trong xếp hạng này, do điểm số thấp về Hòa bình và An ninh Quốc tế.

Kenya là quốc gia châu Phi có đóng góp lớn nhất cho hành tinh, với vị trí 26 và là quốc gia châu Phi duy nhất lọt vào Top 30.

Theo các nhà nghiên cứu, hai trường hợp của Mỹ và Kenya là “ví dụ đầy cảm hứng” để chứng minh rằng, không chỉ các quốc gia giàu có mới có thể có những đóng góp lớn cho toàn xã hội.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có xếp hạng gần kém nhất trong khảo sát lần này. Cụ thể, Việt Nam đứng thứ 124/125, thuộc nhóm 3 quốc gia có đóng góp kém nhất cho hành tinh và nhân loại, cùng hạng với Iraq và Libya.

Hai lĩnh vực Việt Nam bị xếp hạng thấp nhất là những đóng góp cho Trật tự thế giới và Hành tinh & khí hậu (đều xếp thứ 123/125). Ngoài ra, Việt Nam cũng chỉ đứng thứ 111 về Sức khỏe & Hạnh phúc, thứ 103 về Hòa bình & An ninh Quốc tế và thứ 89 trong lĩnh vực Khoa học & Công nghệ.

Chỉ số Good Country Index xếp hạng các quốc gia trên cơ sở những gì mà từng quốc gia đóng góp cho những quốc gia còn lại trên toàn cầu. Chỉ số được tính toán dựa trên 35 bộ dữ liệu (từ Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới), được chia thành 7 nhóm lĩnh vực bao gồm: Khoa học & Công nghệ, Văn hóa, Hòa bình & An ninh Quốc tế, Trật tự thế giới, Khí hậu, Thịnh vượng & Bình đẳng, Sức khỏe & Hạnh phúc).

theo Báo Đất Việt

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Nợ của Việt Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Thủ bút Trần Trọng Kim – Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 8-5- 1947

Posted by hoangtran204 trên 05/09/2015

Thủ bút Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

Nguyễn Đức Toàn
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
 
Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáoViệt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bảnNam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra.
Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện.
 
 

Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên. 

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt. 

Nội dung như sau :

 
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947 (1)
 
Ông Hãn (2),
 
Hôm ông Phan văn Giáo (3) đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài (4) xem.
 
Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.
Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy (5), hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau (6) do ông D’argenlieu (7) sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làmđược (8).
 
Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây (9), không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền (10) và Khiêm (11), họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1]cũng không hỏi nữa.
Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài (12).
 
Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.
Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau.
Tôi về đây chỉ gặp Thảo (13), Hoè (14) và Sâm (15). Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói: Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.
Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:


(Thân tại Nam phiên vô sở dự,
Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.
= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,
Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)
Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V. M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái tròng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.
Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh (18) bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:
Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ
Đất khách mơ – màng những thở – than,
Mảng tin bác bị lũ hung tàn.
Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,
Căm giận quân thù đã tím gan.
Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.
Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân (19) gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.
Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt (21) đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)(22)
Ông có biết tin ông Bùi Kỷ (23) bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.
Nhà tôi và Chương (24) đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?
Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.
Nay kính thư
Trần Trọng Kim [tr4]
Chú thích :

1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam. 

4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng. 

6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167… 

9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.” 

10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”. 

12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội. 

14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim,Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi. 

23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd). 

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bàTrần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà. 

_____________
Thư mục tham khảo
1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969
2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Phụ lục ảnh nguyên bản:
. 
==============
Nhận xét của bạn đọc:

 

  1. Nặc danh15:53 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Từ năm 1947. Một tư liệu quý. Sao mà vẫn thời sự quá!
    Trả lờiXóa
  2. BALY16:32 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Một tư liệu quá quý,nó sẽ làm sáng tỏ nhiều điều mà những “ai” muốn bưng bít,tô vẽ lại lịch sử theo ý có lợi cho mình bị phanh phui rõ ràng.
    Trả lờiXóa
  3. CD Saigon16:49 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Rất mong những sách của học giả Trần Trọng Kim được trân trọng và tái bản .
    Trả lờiXóa
  4. Bùi Công Tự17:27 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Tôi mới đọc cuốn VIỆT NAM SỬ LƯỢC của Trần Trọng Kim do Nhà xuất bản tổng hợp tp HCM xuất bản năm 2000 .Trước đây có tìm đọc tiểu sử của cụ Trần nhưng tác phẩm của cụ thì chưa được dù cũng rất yêu nueowcs và tài năngbiết .Nay đọc bài này ,thấy được tấm lòng ưu tư của cụ với Đất nước ,tôi thật sự cảm động.Đặc biệt tôi khâm phục sự sáng suốt ,tỉnh táo về chính trị của cụ ,hơn hẳn lớp đàn em ,dù cũng rất yêu nước và tài năng ,như các vị Nguyễn Văn Huyên ,Tạ Quang Bửu ,Nguyễn Mạnh Tường …TK20 nước ta đã có nhiều nhân tài ,trong đó về sử học là Trần Trọng Kim .
    Trả lờiXóa
  5. Nặc danh18:12 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Cu Tran Trong Kim la 1 dai hoc gia cua nuoc ta.
    Trả lờiXóa
  6. Nặc danh18:12 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    “Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.
    Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.”Rõ ràng ngay từ thời cộng sản còn đang buổi hừng đông, vậy mà ông Trần Trọng Kim đã nhìn thấy bản chất lừa dối, xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm. Ông Trần Trọng Kim quả là đức độ hơn người và đã có những nhận xét vô cùng chính xác cái chủ nghĩa CS- quái thai của thế kỷ 20.
    Trả lờiXóa
  7. Nặc danh19:53 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Dù chỉ là một lá thư , với những nhận xét mang tính chất cá nhân , nhưng những gì mà học giả Trần Trọng Kim đã nói , và với những nhận xét của ông rất đáng để chúng ta quan tâm .Tôi đặc biệt ngạc nhiên về những gì mà ông đã nhận xét và đánh giá về V M ở trong lá thư này , nó chứng tỏ một nhãn quan và kiến thức rất sâu rộng của ông .Sẽ có một ngày không xa , các nhân vật và những sự kiện lịch sử trong quá khứ sẽ được gọi đúng tên và giá trị đích thực như vốn có của nó .

    Để gió cuốn đi
    Trả lờiXóa

  8. Nặc danh22:09 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Tôi đã được đọc “Việt Nam sử lược” của học giả Trần Trọng Kim, có thể nói đây là cuốn lịch sử chính xác nhất, khách quan nhất của nước ta, nhưng đáng tiếc là nhà xuất bản TP HCM đã lược bỏ đi một số nội dung cho phù hợp với ý đảng.
    Vì vậy tôi mong những ai có tâm huyết với lịch sử nước nhà, tôn trọng sự thật, hiểu được tiêu chuẩn sơ đẳng và tối thượng của lịch sử, thì hãy cho tái bản bản gốc của ông Trần Trọng Kim để hậu thế được biết.
    Cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện đã cho đăng một tư liệu lịch sử quý giá của học giả Trần Trọng Kim.
    Trả lờiXóa
  9. Hoàng Long22:14 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Đúng là một bức thư quý giá!
    Trả lờiXóa
  10. Nặc danh23:59 Ngày 30 tháng 08 năm 2013
    Có thể gói gọn về Trần Trọng Kim như sau: một học giả uyên bác, một nhà yêu nước, nhưng không thể là một nhà chính trị thành công. Vì lẽ nhà chính trị đó phải là: bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo thì mới làm được. 🙂
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh05:51 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
      “Vì lẽ nhà chính trị đó phải là: bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo thì mới làm được. :-)” Nhận xét của bạn nặc danh 23:59 là chưa chính xác, bởi nó chỉ đúng đối với những nhà chính trị CS mà thôi, thử hỏi Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, tổng thống Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản v.v… có phải là những nhà chính trị thành công không và họ có bịp bợm, thủ đoạn và tàn bạo không thì bạn sẽ phải xem lại nhận xét của mình.
      XóaTrả lời
  11. Lộ bản chất xấu ngay từ đầu05:20 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Lịch sử rất công bằng, lịch sử sẽ đánh giá đúng và trả lại giá trị đích thực cho những cá nhân, từng sự kiện đã qua trong quá khứ.
    Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng, không thể tự nhiên, ngẫu nhiên mà lịch sử sẽ dễ dàng “trả lại cái này”, hay “đánh giá lại cái kia” … nếu không có những con người tuy thầm lặng, nhưng nặng lòng với lịch sử, với đất nước mà đã dày công lưu trữ, bảo vệ các tư liệu quý giá trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy hiểm. Nhờ có các nguồn tư liệu quý giá ấy mà tất thảy các sự việc dù vẫn đang u u minh minh, sẽ lần lượt được lôi ra ánh sáng.
    Cá nhân tôi xin chân thành biết ơn những bậc trí giả, ái quốc đã chung tay trong việc bảo vệ, gìn giữ cũng như công bố các tài liệu quan trọng như thế này ! Mong rằng các vị bảo trọng, an toàn trong một chế độ nguy hiểm bậc nhất thế giới này ! Xin cảm ơn Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, mong Tiến Sĩ bình an !
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Ba Cầu Muối, Saigon09:44 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
      Đọc cuốn ” Một cơn gió bụi ” còn nhiều chuyện hay hơn .
      Xóa
    2. Nặc danh02:37 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Đọc bức thư này mới hiểu được lịch sử Việt Nam, cảm ơn những người đã giữ lại được những tài liệu vô giá này. Thật tiếc, 1975 vì hoàn cảnh bị “đánh tư sản” nhiều gia đinh phải mà phải đốt hết sách vở quý giá.
      XóaTrả lời
  12. The Bell10:06 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Hay quá !
    Cụ Kim quả là một kẻ sĩ thông thái tinh lược nhưng còn thiếu mưu lược nên đã bị người ta cướp mất chức và đốt mất nhà. Cụ cũng vì quá đạo đức nên không thể ” bạo lực cách mạng” được . Đúng là chỉ có V.M ( dám) làm được điều này.
    Lịch sử sẽ vinh danh công trạng của cụ
    Trả lờiXóa
  13. Nặc danh10:48 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Trần Trọng Kim là một nhà trí thức chân chính,nhưng ai đã sát hại ông ta?
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh12:02 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
      Khi bạn đặt câu hỏi ra, bạn cũng đã biết rỏ là ai rồi.
      Xóa
    2. Nặc danh11:28 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Ông Trần Trọng Kim mất tại Sài Gòn, thọ 71 tuổi, ông mất do tuổi cao sức yếu chứ không phải bị sát hại.
      XóaTrả lời
  14. Nguyễn Hiếu12:25 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Người Nghệ Tĩnh gọi Cộng là Cọng thưa tác giả
    Trả lờiXóa
  15. Lê Tri Điền16:20 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Tôi đã đọc một cơn gió bụi của ông từ lâu, cái tâm của ông với quốc gia, dân tộc thật cảm động vô cùng. Một con người tài giỏi, tâm đức như ông đã không gặp thời…Xin thứ lỗi cho tôi đã có lúc nghĩ về ông như những gì mà người ta vẫn xuyên tạc lâu nay…Nhân dân sẽ luôn nhớ đến ông như một người con trung hiếu, một nhân tài của đất Việt…
    Trả lờiXóa
  16. HOANGGIAP TON16:49 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Lúc còn là học sinh tôi được rao giảng không tốt về chính phủ Trần Trọng Kim. Sau này lớn lên vô tình được đọc Việt Nam Sử Lược của cụ (thời đó cuốn này chưa cho in ở Bắc VN đâu) tôi có suy nghĩ khác hẳn vì thấy cụ đúng là một trí thức lớn, rất lớn. Cụ có những nhận xét đúng mực về dân tộc VN mình. Nay đọc lá thư này càng được hiểu cụ hơn. Đúng là một bậc trí tuệ sáng suốt, thấy rất sớm, nhìn rất đúng về hoàn cảnh và tương lai phiá trước của đất nước. Tiếc thay “Trời chẳng chiều người”, nên cũng là một mất mát chung mà đám hậu thế chúng ta gánh chịu.
    Lịch sử sau này sẽ đánh giá và ghi nhận lại. Việt Nam còn, tên tuổi cụ còn tồn tại với non sông.
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh02:59 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Nếu ngày xưa biết theo lời cụ Kim thì đất nước đâu đau thương hơn nữa thế kỷ qua ? ngày nay cũng thế, bỏ ngoài tai, làm càng, để rồi hậu thế 50 năm về sau gánh hậu quả đau thương như hôm nay thế hệ mình phải gánh.
      XóaTrả lời
  17. Nặc danh18:57 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Thực sự khâm phục Cụ TTK đã có cái nhìn rất sắc sảo và chính xác về bản chất của chủ nghĩa cọng sản:đó là sự dối lừa,nham hiểm,tàn bạo.Nó lý giải vì sao bao nhiêu người đã bị bắn giết,tù đày,bạc đãi mặc dầu đã có những đóng góp lớn lao về trí lực vật chất cho cách mạng.
    Trả lờiXóa
  18. Hà Tĩnh quê choa21:24 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Rôi đây lịch sử và Nhân dân sẽ minh oan cho Ông
    Trả lờiXóa
  19. Nặc danh21:25 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Môt tài liệu quý như thế này mà báo chí ko đăng thật đáng tiếc!
    Trả lờiXóa
  20. Yêu nước, thương dân trên hết23:17 Ngày 31 tháng 08 năm 2013
    Chỉ cần đến khi trên mảnh đất Việt khổ đau này không còn sự độc tài của Đảng cộng sản nữa, chỉ cần đến khi có nhiều chính đảng khác cùng tồn tại, đối trọng, cạnh tranh công bằng với những người cộng sản, thì khi đó các tiếng nói của tự do, dân chủ sẽ được thể hiện. Các bậc trí giả, vĩ nhân đất Việt, cho dù mang hệ tư tưởng nào, miễn là có lòng yêu nước, thương dân, khi đó nhất định sẽ được lịch sử ghi nhận công trạng, cụ Trần Trọng Kim nhất định sẽ có ngày được lịch sử Việt Nam vinh danh.
    Trả lờiXóa
  21. con rồng Việt Nam21:43 Ngày 01 tháng 09 năm 2013
    Hiện nay hàng triệu người Việt Nam nghe cái tên Trần Trọng Kim vẫn nghĩ đó là một tên phản động, bù nhìn, tay sai phát xít Nhật. Chính phủ Trần Trọng Kim luôn được sách báo gọi xách mé như thể đó là một chính phủ ác ôn có nợ máu với nhân dân.
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Dao Lam06:22 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Người miền Nam vẫn quí trọng và mang ơn cụ TTK. Sách vở của cụ vẫn được trân trọng và tái bản nhiều lần . Trong khi ở miền Bắc, guồng máy tuyên truyền của Đ muốn triệt tiêu tên tuổi của cụ, chụp cho cụ những cái mũ ác ôn , thân Nhật . Phải nói rằng những người VN thế hệ sau cụ đều phải biết ơn cụ . Những người đã từng học chữ Quốc Ngữ, ai lại biết bộ VN GKT từ lớp đồng ấu . Ai lại không biết những câu chuyện rất ý nhị , bổ ích và đấy tính giáo dục . Ở miền Nam , học sinh Trung học đều có trong tay cuốn VNSL. Từ khi có cuốn VNSL của cụ TTK, kiến thức về sử VN của học sinh miền Nam tăng lên rất nhiều . Các SGK sử miền Nam đều dựạ vào VNSL để soạn chương trình từ tiểu học đến hết lớp PT . Còn những sách về Nho giáo của cụ các SVĐH Văn Khoa ai cũng phải có . Đặc biệt cụ không làm chính trị, chỉ sau sau cuộc đảo chính của Nhật 9/3/1945, HĐ Bảo Đạo vì quí trọng và nghe danh cụ đã lâu nên mời cụ ra lập Chính Phủ . Một con người viết lịch sử, yêu tổ quốc như cụ TTK không lẽ lại đem thân làm tay sai cho quân phiệt Nhật ? Rồi sẽ tới lúc lịch sử phê phán lại con người và sự nghiệp của cụ TTK để trả lại cho cụ những gì thực là của cụ.
      XóaTrả lời
  22. Nặc danh10:26 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Tôi kính trọng tầm trí tuệ của cụ Trần khi Cụ đưa ra dự đoán “Cộng sản có công đầu và tội đầu”. Tại thời điểm ấy, những nhận xét của cụ Trần về CS chính xác đến khó tin và trường tồn. Cụ hơn hẳn và khác hẳn cánh Giáo sư ‘bảo vệ đảng’ đương thời.
    Trả lờiXóa
  23. Bôn Ba11:08 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Lịch sử rất Công bằng, Sự thật trước sau vẫn là sự thật!
    Trả lờiXóa
  24. Nặc danh12:58 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Một lá thư để quên gần 60 năm! Thật đúng là bút tích
    Trả lờiXóa
  25. abc13:00 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Tại sao Lịch sử Nhà Trường gọi cụ là chính quyền ‘bù nhìn’….?
    Trả lờiXóa
  26. Nặc danh16:32 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
    Chú thích 24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương.Tôi muốn biết có phải là thân phụ của bà Trần thị lệ Xuân, phu nhân của ông Ngô đình Nhu em ruột của cựu Tổng Thống miền Nam Ngô đình Diệm không ạ?
    Trả lờiXóa
    Trả lời

    1. Nặc danh16:41 Ngày 02 tháng 09 năm 2013
      Thưa đúng như vậy,bác ND.ạ !
      Xóa
    2. Nặc danh03:14 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Bây giờ mới biết bà Trần thị lệ Xuân,phu nhân của ông Ngô đình Nhu em ruột của cựu Tổng Thống miền Nam Ngô đình Diệm. Sàigòn năm xưa lấy ngày 1 tháng 11 (1963) làm ngày cách mạng, điều này thât bất công cho ông Diệm, Nhu và bà Xuân. Bà xuân là con cụ Kim, thì tôi không nghĩ bà Xuân là người “xấu”, lịch sử nên xét lại thời gian này.Tiện đây là bài vè, ai đó đã đặt ra trước khi lật đỗ ông Diệm:”nghe vẽ nghe ve
      nghe vè Nhu Diệm
      chín năm chấp chánh
      xây dựng họ Ngô
      học sinh nhàu vô
      phá tan nhà báo
      sài gòn nói láu,
      bợ đít bà Nhu

      lấm chuyện có bà Lệ Thu
      Tưng bừng có nàng Lệ Thủy
      Chừng nào cây trúc lộn đầu
      thì anh em Nhu Diệm đi chầu Diêm Dương”

      Ai đã ác tâm đặt ra bài này ?

      Xóa

    3. Nặc danh07:38 Ngày 04 tháng 09 năm 2013
      Sửa sai câu sau:lắm chuyện có nàng Lệ Xuân,
      tưng bừng có nàng lệ Thủy.Bài vè này được đặt ra để chuẩn bị lật ông Diệm. Trong câu “chừng nào cây trúc lộn đầu” , phe đảo chánh đã cố tình làm đồng tiền cắc VNCH thời bấy giờ in hình cây trúc ngược đầu với hình ông Diệm, như điềm báo trước.
      Xóa
    4. Nặc danh06:26 Ngày 05 tháng 09 năm 2013
      Bác ND.3:14 ơi ! Bác lầm rồi.Bà Lệ Xuân là con của
      cụ Trần Văn Chương (bộ trưởng chính phủ TTKim),chứ
      không phải con của cụ TTKim.
      Việc con của cụ Kim hay của ai đó là ‘người xấu’ hay
      không thì phải xét chính kẻ đó,chứ đừng xét lý lịch
      như CS.mà oan cho người ta,bác ạ !
      XóaTrả lời
  27. Nặc danh08:53 Ngày 20 tháng 08 năm 2014
    Dưới bức ảnh ghi ông Kim sinh 1883 – mất 1953 nhưng ở bài viết thì ghi 1887 – 1953. Vậy năm sinh nào là đúng ?
    Trả lờiXóa
  28. Nặc danh11:10 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Xin cảm ơn TS Nguyễn Xuân Diện đã cho đăng tải tài liệu quý giá nầy. Ông Trần Trọng Kim mới đích thực là người yêu nước và là một nhà viết sử chân chính , đáng kính phục.
    Trả lờiXóa
  29. Nặc danh11:38 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Trước đây, Tễu đã bài này rồi. Nhưng hôm nay có rất nhiều còm tâm huyết. Điều này chứng tỏ truyền thông ở VN ngày càng “lợi hại”…
    Sói sống lâu, sói đã già và sói rất tham ăn nên trong mình đã mang nhiều chứng bệnh nan y. Chỉ cần một thời gian nữa là sói tự chết thôi
    Trả lờiXóa
  30. Nặc danh11:54 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Việt Minh: “Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm”(TTK).
    Nhãn quan chính trị của cụ quá sáng suốt khi nhận định về CS. Cả dân tộc VN mấy nghìn năm văn hiến, có bề dầy lịch sử hào hùng về dựng nước và giữ nước đã bị mắc lừa một nhóm người. Cho đến bây giờ họ cũng không hề thay đổi bản chất. Nông dân và công nhân là lực lượng hy sinh xương máu giành chính quyền và giữ chính quyền cho họ giờ đây lại là đối tượng bị bóc lột thậm tệ nhất. 3 triệu đảng viên CSVN đang mạo danh Quốc gia, Dân tộc để nắm quyền sinh, quyền sát 87 triệu dân . Họ coi quyền lợi của họ trên hết cả Quốc gia, Dân tộc. Chỉ tiếc rằng những người bị phản bội nhất hiện nay là Nông dân và Công nhân vẫn chưa nhận ra chân tướng của CS.
    Nhờ bác Tễu mà hiểu cụ Trần Trọng Kim hơn qua trang này.
    Trả lờiXóa
  31. Nặc danh14:09 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Ông Trần Trọng Kim quả là một đại học giả trí tuệ hơn người , vì cho đến gần đây bản chất của CS mới được nhiều người biết đến. Có nhiều cách để dựng nước thành công , nhưng cs đã chọn bạo lực và lừa dối làm chủ yếu để giành CQ thì cũng dễ hiểu : nó tập hợp chủ yếu những tay vô học , vô lương tâm làm thủ lĩnh . Cũng có một số lãnh đạo là trí thức nhưng đã bị làm cho nhu nhược hoặc là mê muội đến mức không dám phê phán bản chất của cs (VNG, HCM… chẳng hạn-Trần Đĩnh đã bực mình thốt lên như thế trong hồi ký Đèn cù của ông). Tuy nhiên , như ai cũng biết (và việc gì cũng thế), lừa dối và bạo lực chỉ mau chóng giành được CQ thôi , nhưng để giữ được , xây dựng được, phát triển được CQ bền vững mãi mãi thì nhất quyết không thể được. Sở dĩ cs giữ được CQ từ 1945 đến nay là bởi liên miên có chiến tranh , nên dân ta không đủ điều kiện để hiểu biết về cs. Vì thế giờ họ vẫn giữ nguyên cách cai trị dân bằng bạo lực và lừa đảo nên việc phát triển xây dựng CQ sẽ rất khó khăn . Tất cả những cái mà ta nhìn thấy đang biểu thị hàng ngày (cầu đường , nhà cửa , xe cộ, TV điện thoại, mấy tính…) chỉ là tiền vay của thế giới . Rồi đến hạn cũng phải è lưng ra trả , mà ai phải è lưng ? Chính nhân dân lao động , chứ không phải các quan chức cs .
    Trả lờiXóa
  32. Nặc danh14:31 Ngày 20 tháng 08 năm 2015
    Nếu đọc ” Một cơn gió bụi” hồi ký của cụ Trần Trọng Kim sẽ biết được sự thực của năm 1945 thế nào, khác hẳn sách báo cộng sản, ông có tả: tại các hòm bỏ phiếu có du kích đứng canh, người đứng bỏ phiếu sợ chết khiêp. Theo Việt Minh thì không sao, không theo hôm sau mất tích, cộng sản giết người như ngóe. Chính phủ của cụ Trần Trọng Kim còn, thì đất nước sẽ theo một hướng khác, rất tiếc cụ là một người yêu nước, một trí thức lớn, có nhân cách, rất tiếc cụ không phải là một nhà chính trị, khi Nhật đề nghị với cụ là tiêu diệt cộng sản lúc đó chỉ có khoảng 5000 người, cần một đêm là dọn sạch cụ không đồng ý, nên con cháu bây giờ mới khổ. Qua bức thư này, lại thấy là cụ rất hiểu cộng sản, nhưng cụ không hợp tác với Nhật để diệt cộng sản, bởi cụ cho rằng người trong nước dù có như thế nào cũng hơn người nước khác; còn cộng sản lại coi nước ngoài là bạn vàng, và nhân dân nào không theo cộng sản là thế lực thù định.  Tiếc cho cụ, tiếc cho nhân dân

thegioinguoiviet.net

———————-

GS. Lê Xuân Khoa: HUẾ 1945 VÀ CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

Chính phủ Trần Trọng Kim và Chính phủ lâm thời 1945. (Tô Hải chú thích ảnh).

Lời dẫn của Basam: Nhân bài viết của cụ Tô Hải “mơ về một kiểu chính phủ Trần Trọng Kim”, xin chia sẻ bài viết của GS Lê Xuân Khoa “Huế 1945 và Chính phủ Trần Trọng Kim”, để thấy rằng một chính phủ còn non trẻ, chỉ trong vài tháng có thể thực hiện được nhiều điều mà những người dân hiện nay vẫn còn đang mơ tới.

Trích: “Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này.

Bài đăng trên Văn hóa Nghệ An: 
Huế năm 1945 và chính phủ Trần Trọng Kim* 
(Trích)

 Xuân Khoa (1)
…Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỉ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập (dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu.

Sau khi nước Pháp bị Đức chiếm đóng vào tháng 6 – 1940 và toàn quyền Decoux phải nhường cho Nhật quyền làm chủ về quân sự ở Đông Dương vào tháng 9, thì uy tín và quyền thế của Pháp bị sụp đổ mau chóng đối với các xứ thuộc địa ở Đông Dương. Các đảng phái chính trị Việt Nam bỗng thấy có động lực mới và thời cơ hoạt động để đòi lại độc lập cho đất nước. Trừ những lãnh tụ chính trị đã lưu vong ở Trung Hoa hoặc đang hợp tác với chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch để chống Nhật – kể cả Hồ Chí Minh – hầu hết các lãnh tụ chính trị và trí thức ở trong nước đều muốn dựa vào thế lực của Nhật để loại trừ Pháp ra khỏi Đông Dương. Tổ chức có triển vọng nhất lúc bấy giờ là Việt Nam phục quốc đồng minh hội do Hoàng thân Cường Để thành lập ở Nhật (thường gọi là nhóm Phục quốc) đã từng tổ chức lực lượng quân sự mang tên là Việt Nam kiến quốc quân đi theo quân đội Thiên hoàng về đánh Pháp ở trận Lạng Sơn ngày 23 – 9 – 1940. Một số lãnh tụ, trong đó có Ngô Đình Diệm, từ lâu đã liên lạc với nhóm Phục quốc để mưu đồ chống Pháp, có nhiều hi vọng sẽ được Nhật ủng hộ thành lập chính quyền trong trường hợp Pháp bị lật đổ.

Tuy nhiên, vì còn bận chiến đấu với quân đội đồng minh, mục đích trước mắt của Nhật là sử dụng Đông Dương vào mục tiêu quân sự nên Nhật đã bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về mặt hành chính. Năm 1944, Nhật bắt đầu nghĩ đến việc loại bỏ Pháp để phòng ngừa việc Pháp có thể làm hậu thuẫn cho liên quân Anh – Mỹ vì mặt trận đã được mở rộng sang vùng Đông Nam á. Mặt khác, giải phóng cho các nước Đông Dương khỏi bị lệ thuộc vào nước Pháp cũng sẽ giúp cho Nhật củng cố được ảnh hưởng và thế lực của “khối Đại Đông á” mà Nhật muốn lãnh đạo để chống lại khối Tây phương. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương (9 – 3 – 1945), Nhật duy trì hoàng đế Bảo Đại và hứa hẹn sẽ để cho Việt Nam được độc lập. Bảo Đại cũng không ngờ rằng Nhật lại để ông tiếp tục làm vua thay vì đưa Hoàng thân Cường Để về nước cầm quyền. Ông đã hỏi Đại sứ Marc Masayuki Yokohama về chuyện này và nói: “Tôi gắn bó với dân tộc tôi chứ không phải ngai vàng”. Nhưng Đại sứ Nhật đã trả lời: “Những người gieo mầm không phải là người gặt hái kết quả”. Điều đó cho thấy lý do Nhật không ủng hộ Cường Để vì không tiện lập một chính phủ Việt Nam tuy chống Pháp nhưng thân Nhật, trong khi Bảo Đại không phải là người của Nhật và có thể được dân chúng tin tưởng nếu ông chống lại mưu toan của Pháp trở lại Việt Nam. Người chuẩn bị cho Cường Để trở về thay thế Bảo Đại và cho Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng là Trung tá tình báo Hayashi Hidezumi. Vào giữa năm 1944, tin đồn về chuyện này được lan truyền trong giới chính trị khá lộ liễu đến nỗi, để tránh cho Ngô Đình Diệm khỏi bị mật thám Pháp lùng bắt, Nhật phải cải trang cho ông Diệm thành một sĩ quan Nhật và đưa ông từ Huế vào Sài Gòn ẩn náu trong một nhà thương quân đội Nhật. Đến tháng Giêng 1945, hai tháng trước ngày đảo chính, Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuichi quyết định không dùng lá bài Cường Để nữa.

Đến đây cũng cần nói đến trường hợp của Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương với chức Thủ tướng) của Bảo Đại. Chính phủ Nhật giữ Bảo Đại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hoà, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hoá Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ. Trong một bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp ở Huế sau ngày Nhật đầu hàng đồng minh, Đại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Đại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: “Để chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập”. Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà “Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của chính phủ ngài”. Tuy nhiên, Yokohama lại cho biết là vì muốn sớm vãn hồi an ninh và trật tự và “bảo vệ xứ này chống lại cuộc xâm lăng của quân địch trong tương lai,” Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nhật “mong muốn rằng hiện trạng chính trị và hành chính được duy trì nhiều chừng nào hay chừng nấy”(1).

Những lý do trên cho thấy tại sao Nhật không mời Phạm Quỳnh cũng như không mời Ngô Đình Diệm là những người có kinh nghiệm về chính quyền mà lại mời Trần Trọng Kim, một trí thức không đảng phái, tuy nhiệt tâm yêu nước nhưng không phải là một người làm cách mạng. (Xem thêm Chương 10 về lý do Ngô Đình Diệm không được mời, hay được mời nhưng không nhận). Đối với Trần Trọng Kim, đây là một chuyện rất bất ngờ mà chỉ sau khi gặp Bảo Đại lần thứ hai, sau mười ngày trì hoãn, ông mới nhận trách nhiệm thành lập chính phủ. Bảo Đại thúc giục ông:

“Trước kia, người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.(2)

Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn ngủi không có thành tích gì đáng kể. Việt Minh thì dứt khoát lên án chính phủ Kim là “bù nhìn” do Nhật tạo ra và chỉ đem lại cho Việt Nam một nền “độc lập bánh vẽ”. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngoại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Đến nay, hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của chính phủ ấy.

Trần Trọng Kim thành lập chính phủ trong tình trạng độc lập nửa vời vì chưa được trao trả trọn vẹn chủ quyền và lãnh thổ, nhưng như lời nhận định nêu trên của Bảo Đại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nếu không nắm lấy cơ hội này, Việt Nam không tránh khỏi tình trạng bị quân phiệt Nhật thay thế Pháp cai trị một cách khắt khe trong những điều kiện của chiến tranh chống quân đội đồng minh. Luật sư Trịnh Đình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình (LMDTDCHB) trong hệ thống Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) cho biết Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở” nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất”.(3)

Luật sư Thảo cũng cho biết một chuyện đáng lưu ý khác là Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” để có thể tồn tại của Thái Lan. Nhân vật này là Pridi Banomyong, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Thái Lan, vốn là bạn cùng lớp rất thân của luật sư Dương Văn Giáo tại Đại học Luật Paris và khi làm Bộ trưởng đã mời luật sư Giáo làm cố vấn chính trị. Khi đó chính phủ Thái Lan do Thống chế Phibul Songram cầm đầu, bắt buộc phải thân Nhật lúc đó đang có 50.000 quân trú đóng ở Thái Lan. Pridi Banomyong khi đó phải sang Sài Gòn để hoạt động cho vai trò trung lập của Thái Lan. Trong thời gian này ông được Dương Văn Giáo giới thiệu với Trịnh Đình Thảo. Pridi cho hay trong khi Phibul Songram đi với Nhật thì một số chính trị gia Thái ở Anh và Mỹ hợp tác với đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi chiến tranh chấm dứt. Những chính khách lưu vong này thành lập một chính phủ trù bị để khi cần thiết, sẵn sàng thay thế chính phủ Phibul Songram và được đồng minh thừa nhận. Lời khuyên của Pridi Banomyong cho Trần Trọng Kim là “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật”.(4)

Ngoài hoàn cảnh khó khăn về chính trị, đất nước lại đang gặp phải tình trạng nguy ngập về kinh tế: nạn đói đang hoành hành, các thành phố và trục lộ giao thông đường bộ, đường biển từ Nam ra Bắc bị phi cơ và hạm đội đồng minh oanh tạc hay thả mìn. Bộ trưởng Xã hội của chính phủ Kim, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bị thiệt mạng trong một vụ oanh tạc như thế. Các cơ sở chính quyền còn ở trong tình trạng giao thời, quân đội chưa thành lập, và guồng máy hành chính do Pháp để lại chỉ là những thuộc cấp mà hầu hết là “những tham quan ô lại chỉ quen sự thi hành mệnh lệnh của người Pháp, chứ không mấy người có đủ tư cách làm người công chức một nước tự chủ”.(5)

Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong những điều kiện khó khăn về chính trị, an ninh và kinh tế như vậy. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:

1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chính cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam Kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban tư vấn quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chính và giáo dục.

Chỉ trong thời gian bốn tháng (từ 17 – 4 đến 16 – 8), chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này. Kết quả có thể được tóm tắt như sau:

Cứu đói: Bộ Tiếp tế do bác sĩ Nguyễn Hữu Thi cầm đầu nỗ lực điều động việc vận tải thóc từ Nam ra Bắc. Lúc này, Pháp đã mất khả năng ngăn cấm việc tiếp tế gạo và, nhờ sự can thiệp của chính phủ Kim, giới quân phiệt Nhật cũng không còn thi hành chính sách độc đoán về sản xuất nông phẩm. Tuy nhiên, công việc chuyên chở gạo vô cùng khó khăn vì những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ nhằm cắt đứt trục giao thông và chuyển vận của Nhật. Không quân Mỹ oanh tạc thường xuyên đường xe lửa và đường bộ trong khi hải quân phong toả đường biển bằng thuỷ lôi. Nhiều đoàn thuyền buồm còn bị nạn hải tặc chặn cướp khiến cho gạo tiếp tế bị thiếu hụt trầm trọng. Nếu không nhờ sự thành lập Tổng hội Cứu tế nạn đói để phối hợp hoạt động với những hội chẩn tế và những đoàn thanh niên cứu đói trên toàn quốc thì số người chết vì nạn đói còn cao hơn nữa.

Chủ quyền: Để biểu hiệu cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ, quốc hiệu “Việt Nam” chính thức thay thế cho quốc hiệu “An Nam” đang được sử dụng. Mặc dù hứa hẹn cho Việt Nam độc lập, Nhật vẫn giữ lại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là nhượng địa dành cho Pháp, và toàn thể Nam Bộ là thuộc địa của Pháp. Ngày 3 – 7, chính phủ Kim thâu hồi được ba thành phố nhượng địa, nhưng cuộc điều đình về vấn đề Nam Bộ không có kết quả. Ngày 1 – 8, Thủ tướng Kim phải đích thân từ kinh đô Huế ra Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi Yuitsu, không những yêu cầu trả ngay phần còn lại của lãnh thổ mà còn đòi luôn các công sở thuộc về phủ toàn quyền Pháp khi trước. Tất cả những đòi hỏi này đều được Tsuchihashi chấp thuận, và hai bên ấn định ngày trao trả Nam Bộ là 8 – 8 và ngày trao trả các công sở là một tuần sau đó. Cũng trong dịp gặp Tsuchihashi, Trần Trọng Kim đã được Nhật đồng ý chuyển giao lại các binh sĩ Việt Nam, cung cấp 4.000 khẩu súng mới và đạn dược để tổ chức đội quân bảo an.

Cải tổ: Vốn là một nhà giáo dục, Trần Trọng Kim rất chú trọng đến việc cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, không những là một nhà khoa học mà còn là một học giả uyên bác, đã hoạch định xây dựng một nền quốc học trên cơ sở dân tộc và tiến bộ, nhưng chưa kịp thi hành trong một nhiệm kỳ quá ngắn ngủi. Hệ thống và chương trình Trung học do ông soạn thảo(6) đã được các chính phủ quốc gia tiếp tục áp dụng với đôi chút sửa đổi trong nhiều năm về sau.

Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” và ngày 8 – 5 thành lập Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp trên căn bản thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn(7). Ngoài ra, miễn hay giảm 13 hạng thuế được thi hành dưới thời Pháp và Nhật.

Chính trị: Với chủ trương “hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội,”(8) chính phủ Kim đã động viên được tinh thần yêu nước của toàn dân qua việc tổ chức lần đầu tiên sau thời Pháp thuộc những buổi lễ vinh danh các anh hùng dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược và những nhà cách mạng đã hi sinh cho Tổ quốc, thay đổi tên đường phố và phá hủy những tượng đài biểu thị nền đô hộ của Pháp. Sôi nổi nhất là phong trào Thanh niên Tiền tuyến do Bộ trưởng Phan Anh phát động và khuyến khích thanh niên sinh viên tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hoá, xã hội. Những đoàn thể thanh niên này cũng như Tổng hội Sinh viên là những nơi Việt Minh len lỏi vào và lôi cuốn được nhiều người yêu nước đi theo. Ngoài ra, chính phủ Kim cũng thực hiện tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, không chỉ bằng việc thả hết các chính trị phạm và kêu gọi họ hợp tác, mà còn can thiệp với Nhật để các thanh niên bị bắt về tội theo Việt Minh chống Nhật cũng được phóng thích.

Những kết quả trên đây cho thấy nội các Trần Trọng Kim, dù không phải là những chính trị gia có thành tích và kinh nghiệm, song đều là những nhà trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị. Trước tình thế rối ren của Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Kim được quân đội Nhật cho biết họ “còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội đồng minh đến thay,”(9) nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ chính phủ và muốn duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn. Trước đó, trong chuyến đi ra Hà Nội để điều đình với Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuitsu để lấy lại Nam Kỳ và các cơ sở chủ quyền còn lại, Trần Trọng Kim đã tìm hiểu kỹ lưỡng về Mặt trận Việt Minh đang gây thanh thế ở miền Bắc. Ông nhận định rằng “Đảng Việt Minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ, ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo. Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái có chung mục tiêu giành lại độc lập cho nước nhà, vậy nên từ Bắc chí Nam ở đâu cũng có người theo… Đảng viên cộng sản lại biết giữ kỉ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. Xem như hội truyền bá quốc ngữ khi mới lập thành ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi, và những người nhận việc đi dạy học rất chăm, không quản công lao gì cả. Một tổ chức có kỉ luật và chịu khó làm việc như thế, làm gì mà không mạnh”(10). Chính vị Khâm sai miền Bắc Phan Kế Toại và một số Bộ trưởng trong chính phủ Kim cũng bắt đầu có thiện cảm với Việt Minh.

So sánh một lực lượng cách mạng đã hoạt động lâu năm có ảnh hưởng trong quần chúng và đang có thời cơ với một chính phủ trí thức yêu nước nhưng mới ra đời được bốn tháng, chưa có đủ quyền hành, chưa kịp có quân đội, Trần Trọng Kim đã quyết định đúng khi ông không nhờ quân đội Nhật can thiệp, một quân đội lúc đó đã mất hết tinh thần đang chờ bị tước khí giới và giam giữ. Ông đã thực hiện phương châm “khả hành khả chỉ” trong chính trị học Khổng giáo để biết “lúc nào nên làm, lúc nào nên thôi”. Bởi vậy, sau khi giành được chính quyền, Mặt trận Việt Minh đã không những không bắt bớ hay trả thù một người nào trong chính phủ Kim mà còn lôi cuốn được một số Bộ trưởng gia nhập mặt trận kháng chiến chống Pháp, mặc dù trước đó đã lên án chính phủ này là “bù nhìn” và “Việt gian”. Chính phủ Kim mang tiếng là thân Nhật, nhưng thật ra chỉ là lợi dụng cơ hội Nhật đảo chính Pháp để nắm lấy quyền cai trị nhằm dần dần phục hồi độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Đó là phương cách thực tế và khôn ngoan nhất mà bất cứ một chính trị gia sáng suốt nào, kể cả Hồ Chí Minh, cũng sẽ chọn lựa vào lúc đó. Khoảng tháng 6 – 1945, khi Thủ tướng Kim gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi để yêu cầu Nhật dứt khoát trả lại ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn bộ đất Nam Kỳ cho Việt Nam, ông đã nói: “Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật… Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn lòng xin lui”(11). Chỉ tiếc rằng vài tháng sau, lúc gần đạt được mục tiêu thì Chính phủ Kim phải ra đi.

Nhiều người trách chính phủ Trần Trọng Kim là nhu nhược, không dám đối phó với Việt Minh sau ngày 19 – 8 – 1945 mặc dù nhà cầm quyền Nhật đã báo cho Thủ tướng Kim biết là “quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay”(12). Thật ra, quyết định của Bảo Đại và Trần Trọng Kim không nhờ Nhật can thiệp là đúng vì ba lý do chính:

1. Quân đội Nhật đã đầu hàng. Không có một lý do hay động lực nào khiến họ thấy cần phải chiến đấu để bảo vệ một chính phủ địa phương đang thất thế. Trách nhiệm “giữ trật tự” của quân đội Nhật sẽ chỉ có hiệu lực lúc đầu và họ sẽ phải nhượng bộ hoặc xung đột với cao trào đòi độc lập của những đoàn thể thanh niên, sinh viên và dân chúng do Việt Minh tổ chức. Thời gian “giữ trật tự” để chờ quân đội đồng minh lại rất ngắn (khoảng hai tuần lễ) và chính phủ Trần Trọng Kim sẽ không thể chối bỏ được trách nhiệm về những cuộc đổ máu của dân Việt Nam do quân Nhật gây ra.

2. Việt Minh đã thành công lớn trong chiến dịch tuyên truyền là được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Những lời tuyên bố của Tổng thống Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân của Pháp, sự thành lập “bộ đội Việt – Mỹ” từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan OSS, và tấm hình tướng “Cọp Bay” Chennault ký tặng Hồ Chí Minh ở Côn Minh đã được Việt Minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ. Luật sư Trịnh Đình Thảo, Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ Kim, còn được tin là “đại uý Landsdale, phụ tá của thiếu tá Archimedes Patti, trưởng đoàn OSS ở vùng Đông Nam á… thay vì tiếp tế cho những nhóm quân của Pháp còn đang chiến đấu (chống Nhật) trong rừng miền biên giới, lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt Minh để trang bị cho một tiểu đoàn đầu tiên, và phái Aaron Bank tới huấn luyện cho bộ đội của Hồ Chí Minh”.

3. Việt Minh đã chiếm được các cơ sở chính quyền, Hồ Chí Minh đã thành lập Chính phủ lâm thời, Khâm sai Bắc Bộ là Phan Kế Toại đã từ chức, đoàn Thanh niên Tiền tuyến và lính bảo an nhiều người đã đi theo Việt Minh. Thư của Bảo Đại gửi cho Truman và De Gaulle kêu gọi ủng hộ chính nghĩa quốc gia đều không được trả lời. Trong tình trạng thất thế và cô đơn trước khí thế sôi sục của “cách mạng”, Bảo Đại cùng Hoàng gia có thể bị lâm vào số phận của Louis XVI sau Cách mạng Pháp 1789 hay Nicholas II hồi Cách mạng Nga 1917. Quyết định thoái vị của Bảo Đại là một quyết định sáng suốt, thức thời, tránh được đổ máu vô ích của nhân dân nếu ông nhờ Nhật dẹp Việt Minh.

Trong thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành được việc thống nhất đất nước như đã nói trên. Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tưởng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định sơ bộ 6 – 3 năm 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao uỷ Bollaert.

Sai lầm chính trị, đúng ra là một nhược điểm, đáng nói đến là Trần Trọng Kim đã không thực hiện được sách lược “bắt cá hai tay” của Thái Lan mà Pridi Banomyong đã chia sẻ. Điều đó có nghĩa là trong khi chính phủ Kim giữ thái độ trung lập chính trị đối với Nhật thì đáng lẽ đã phải có những nhân vật chính trị khác đi với Anh, Mỹ để chống Nhật và để thay thế chính phủ Kim khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng khác với Thái Lan, Việt Nam còn phải đối phó với Pháp, khi đó cũng là một thành phần của Đồng minh, đang quyết tâm trở lại Đông Dương. Công việc vận động Đồng minh lại rất khó khăn vì Anh là một đế quốc tất nhiên ủng hộ Pháp chinh phục lại các thuộc địa cũ trong khi mối quan tâm chính của Hoa Kỳ lúc đó là ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô Âu châu. Dù sao, đó cũng chính là lầm lỗi của các đảng phái quốc gia nói chung, không có một tầm nhìn rộng rãi về chính trị thế giới sau Thế chiến thứ hai, không hợp tác được với nhau để có một sách lược chung…

(Vì không liên lạc được với Giáo sư Lê Xuân Khoa nên chúng tôi chưa được ý kiến của giáo sư về đoạn trích này. Xin chân thành cáo lỗi và cảm tạ giáo sư (T.G). 

(*) Trích Việt Nam 1945 -1995, NXB Tiên Rồng, Hoa Kỳ, 2004.
(1) Lê Xuân Khoa, quốc tịch Mỹ, gốc Việt, nguyên Phó viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, tiến sĩ triết học.
(2) CAOM, HCI – 101. Marc Masayuki Yokohama viết bản phúc trình 112 trang đánh máy cho nhà cầm quyền Pháp, nhan đề“Mémoires personnels écrits en réponse au questionnaire des autorités franỗaises de Hué sur les évènements survenus en Indochine en Mars 1945” (Hồi ký cá nhân viết ra để trả lời bản câu hỏi của nhà chức trách Pháp ở Huế về những sự việc xảy ra ởĐông Dương vào tháng 3 – 1945). Marc Yokohama có vợ Pháp tên là Jeanne A. Vicart và một con trai tên Jean-Marie Masayumi Yokohama sinh tại Paris năm 1926. Ngày 13 – 12 – 1946, vợ và con của Marc được chính phủ Pháp cho phép hồi hương vì có công giúp đỡ kiều dân Pháp ở Hà Nội sau vụđảo chính. Không thấy nói gì tới biện pháp đối với Marc Masayuki Yokohama.
(3) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi(Sài Gòn: Vĩnh Sơn, 1969), tr. 51.
(4) Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Tðmoigne (Công cuộc giải thực dân của Việt Nam – Một luật sư, hồi ký) (Paris: L’Harmattan, 1994), 62. Tác giả cuốn hồi ký bằng Pháp văn này là luật sư Trịnh Đình Thảo, viết sau năm 1975 và trước khi ông mất năm 1986 nhưng tới năm 1994 mới được xuất bản ở Pháp, do trưởng nam của ông là luật sư Trịnh Đình Khải đứng tên tác giả.
(5)Sách đã dẫn, tr. 62 – 63.
(6) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, tr. 56.
(7) Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền (sưu tầm), La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (Hà Nội: NXB Giáo dục, 1998), tập I, tr. 775 – 850. Với sựđóng góp bài vở của 59 người quen biết cố học giả họ Hoàng, các tác phẩm của Hoàng Xuân Hãn về Khoa học và Giáo dục được in lại trong tập I này, các tác phẩm về Lịch sửđược in trong tập II và về Văn học trong tập III.
(8)Đạo luật đầu tiên cho phép tổ chức nghiệp đoàn là do chính phủ Trần Trọng Kim soạn thảo và ban hành ngày 5 – 7 – 1945. Tổng Liên đoàn Lao động của Việt Minh tới tháng 7 – 1946 mới được thành lập. (Alice W. Shureliff, “Trade Union Movement in Vietnam” trong Monthly Labor Review, U.S. Departmen of Labor, Washington, D.C., January 1951, tr. 31).
(9) Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, trong “Lời tuyên cáo của nội các Trần Trọng Kim”, phần Phụ lục, tr. 193.
(10)Sách đã dẫn, tr. 93. 
(11)Sách đã dẫn, 73 – 74.
(12)Sách đã dẫn, tr. 78 – 79.
(13)Sách đã dẫn, tr. 93. 

Nguồn: Văn hóa Nghệ An.

Trích:

” Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 – 5 với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” :  Đây là một sai lầm chính trị. Vì nhờ dịp này mà hàng trăm ác quỹ cộng sản được sổ lồng ra khỏi nhà tù Sơn La, Côn Đảo…sau đó, chúng cướp chinh quyền, tổ chức ám sát thủ lĩnh các đảng phái quốc gia, giết chết hàng ngàn trí thức tinh hoa của VN như: cụ Phạm Quỳnh, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Bùi Quang Chiêu…Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo phải bỏ chạy qua Tàu…

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Hai bản tuyên ngôn độc lập cho Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 04/09/2015

Gs Phạm Cao Dương (02.09.2010) Trọng tâm, Xã hội

Trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.

flickr:4949047179

Ảnh OnTheNet Hoàng Đế Bảo Đại của Việt Nam

TUYÊN NGÔN CỦA BẢO ĐẠI :

Hoàn cảnh được công bố

Bản tuyên ngôn độc Lập của Bảo Đại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Đông Nam Á và gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Đói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời và chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của nó. Bảo Đại bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Đại tuyên bố chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Đại(1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Đại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Đại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói được Trần Trọng Kim kể lại như sau: -Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.(2)

Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Đại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Đồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Đông Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của nhà vua trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ…kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại. Đảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trọng Kim chịu khó lập chính phủ mới. Ông nói :

-Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.(3)

Hai tiếng cơ hội Bảo Đại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Đồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn. Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không để cho người Nhật lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mói biết được. Ngoài ra những tiếng rất có hại cho nước ta cũng cho người ta thấy đối tượng của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế tất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Đại Đông Á của họ. Nói cách khác Bảo Đại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Độc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.

Nội dung bản Tuyên ngôn :

Đây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ hòa ước Triều Đình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Đại Đông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.

Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để đạt được mục đích như trên.(4)

Bản Tuyên Bố được đề ngày 11 tháng Ba năm 1945 tức ngày 27 tháng Giêng năm Bảo Đại thứ 20 được Bảo Đại ký tên với sáu thượng thư phó thự.

Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập này của Bảo Đại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:

Thứ nhất: Điều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Đình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong…(5). Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính họ đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Đảo Chính 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Bảo Đại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Đình Nhà Nguyễn căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này. Điểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ các đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ s theo sau. Điều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Đó là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Bảo Đại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Đại Sứ nhật Yokoyama liên hệ tới việc tuyên cáo độc lập và của chính quyền Bảo Đại – Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính quyền này.

flickr:4949638292

Ảnh OnTheNet Hoàng Đế Bảo Đại mang lại độc lập cho Việt Nam tháng 3 năm 1945

Thứ hai: Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự phát triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập….giúp cho cuộc thịnh vượng chung. Câu này xác định phương thức hoạt động nhăm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Nên để tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời này, một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Đây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo để ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.

Thứ ba: Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc…Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành với những gì họ đã nói của họ, một truyền thống chung của các dân tộc Á Đông.

Thứ tư: quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để đạt được mục đích như trên. Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và giúp cho cuộc thịnh vượng chung như là một phần tử Đại Đông Á. Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trọng và ước tính kỹ càng.

Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?

Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Điều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết của ông trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, Ngự Tiền Văn Phòng Tổng Lý của Bảo Đại trong hồi ký của ông này xác nhận.(6)

BẢN TUYÊN NGÔN CỦA HỒ CHÍ MINH :

Hoàn cảnh được công bố

Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh đọc tại Quảng Trường Ba Đình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Đại chính thức thoái vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Đại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Đại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu thoái vị của Bảo Đại và đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp nhận. Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện pháp lý. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu.

Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Đại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa? Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắc chắn phải biết là Bảo Đại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì? Thứ nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đếu khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Đại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người dân Việt(7), cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào. Thứ hai là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của ông này rằng: Ba tiếng HỒ CHÍ MINH không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.(8) Ngay vua Bảo Đại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách mạng với chủ tịch là Cụ Hồ Chí Minh đã không biết Hồ Chí Minh là ai. Còn Phạm Khắc Hòe, người được Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, rồi Đào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Đào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu , sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc.(9) Tuyên bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chí Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Đảo Chính 9 tháng Ba năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật.

Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Độc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Đang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này gọi qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội(10) và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Độc Lập.(11) Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Đó là ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa, theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Đang, Chú phải nhớ…(12)Tại sao vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Đồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược được.. Sự kiện vua Bảo Đại thoái vị được nhắc tới và câu Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp là nhằm vào mục tiêu này.

Nội dung bản Tuyên Ngôn

Bản Tuyên Ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vì được phổ biến rộng rãi và hầu như duy nhất cùng với ngày 2 tháng 9 sau đó được coi như Ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và sau này là của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nên đã được nhiều người đọc, phân tích, tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được người ta nhắc hay để ý đến.

Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Đại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó căn cứ vào sự bất lực của người Pháp không giữ được cam kết đã được ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này mà không nhằm vào một đối tượng- quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước” nhưng ở những đoạn cuối lại nhắm vào các nước Đồng Minh. Điều này phải tinh ý người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Đại nhân danh Hoàng Đế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới. Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước cho dù là chỉ còn hư vị; một người là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Đại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng và nhất là xách động.

Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đã hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Được nguời Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Độc Lập của họ, đồng thời khi tiếp xúc với họ, Hồ Chí Minh cũng nhận thấy rằng nói về lịch sử nước Mỹ với họ là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những chứa đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn chỉ nhằm một mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một – quốc – gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.

Phần kế tiếp , Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công Việt Minh. Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật…sau đó đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ, và kết luận là Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt-nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. Điều như người viết đã nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Đại – Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Đại -Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó. Lý do là vì Việt Minh đã có đường riêng của họ rồi, nói theo Phan Anh, Bộ Trưởng Thanh Niên trong Chính Phủ Trần Trọng Kim và sau này là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh.Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay dân ta hay đất nước ta, nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.

Phần cuối cùng của bản văn, từ Bởi thế cho nên…cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt -nam để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Đồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt-nam…Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi – người – như – những – cá – nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai cũng có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của – cả – nước – Việt – Nam. Điều này hoàn toàn trái với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng, không thể hiểu sai được. Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, ông lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập! Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Đồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy Trần thanh Hiệp,khi được Đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền(13) dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo tinh thần của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp.

Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả (hay những tác giả) của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Điều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu rồi. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.

Phạm Cao Dương

Chú thích:

1 – Dương Trung Quốc. Việt Nam : Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). HàNội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.

2 – Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục). Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.

3 – nt – , tr. 51.

4 – Dương Trung Quốc, Việt Nam…, tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Đại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d’Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau ngôn từ những hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Viênam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiéng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.

5 – Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, tome II, Paris, Adfrien – Maisonneuve, 1956. tr. 809 – 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 – 1945. Saigon,, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 – 328.

6 – Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế Đến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16 -.

7 – Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, đã dẫn, tr. 103.

8 – Võ Nguyên Giáp, Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên, trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Đội Nhân Dân, 206, tr.. 255.

9 – Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Đình Huế…, tr. 76.

10 – Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 – 115.

11 – Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Độc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn va Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 – 823.

12 – nt

13 – Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền, trên Người Việt, số 7940, ngày Thừ hai, 3 tháng 9 năm 2007.


nguồn: Hoàng Đế Bảo Đại đã dành độc lập choViệt Nam

đọc thêm:
Tin tặc và trẻ thơ

http://wietnam-polska.wikidot.com/hai-ban-tuyen-ngon

Posted in Cách Mạng Mùa Thu 1945 không hề xảy ra, Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►Khi dối lừa là… sự thật! ( trong Lễ diễu binh 2015 ở Hà Nội)

Posted by hoangtran204 trên 04/09/2015

Khi dối lừa là… sự thật!

3-9-2015

Hà Văn Thịnh

Tác giả gửi tới Dân Luận

Đọc những bản tin về Lễ diễu binh nhân Kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh (tôi không xem TV), không thể tin ở mắt mình: Một sĩ quan Quân y,  đeo quân hàm trung tá (trên ve áo),  sinh năm 1993 (!),  ngực gắn đầy huân, huy chương các loại? Cái tức chỉ mới ở cấp độ… vừa vừa. Thế nhưng, đọc tiếp, thấy ông Trung tướng Võ Văn Tuấn, Phó Tổng tham mưu trưởng, trả lời báo chí rằng, tuy là thiếu úy, nhưng theo quy định, phải đeo hàm trung tá cho… thống nhất (Motthegioi.vn; 09:55, 3.9.2015) thì sự uất nghẹn lên đến tận cùng! Thì ra, để đảm bảo tính THỐNG NHẤT, DUY NHẤT, người ta có thể đạp đổ mọi giá trị?

Chưa bàn đến chuyện cộng đồng mạng đang xôn xao: Thiếu úy Quân y Phạm Trúc Sơn Quỳnh là… sinh viên trường Đại học Thương mại (vì chưa kiểm chứng được); chỉ xin luận về cái việc giả dối luôn được coi là sự thật, nó nguy hại và mang tính “truyền thống” khủng khiếp đến mức nào.

Thứ nhất, xin hỏi ông trung tướng rằng, từ cổ chí kim, ở bất kỳ quốc gia nào (không kể mấy nước XHCN), có chuyện quân hàm, huy chương, được đeo một cách tùy tiện để diễu qua diễu lại trước mắt hàng triệu con người như thế hay không? Ở đây, công khai trước mắt toàn dân tộc mà lại ủ mầm dối trá thì người dân biết tin vào ai? Không lẽ, dối trá, tùy tiện lại trở thành quy định của ta? Làm sao để có quân lệnh như sơn, làm sao việc tôi hay ai đó đeo quân hàm thì bị bắt ngay lập tức mà trong diễu binh lại coi là bình thường?

Những tấm huy chương đó do một cô gái trẻ đeo, chẳng lẽ cũng lại là quy định? Nếu đúng thế thì đó là sự sỉ nhục đối với những người vào sinh ra tử để có được chúng? Xét về tuổi, sinh năm 1993, đeo được quân hàm thì chỉ có thể tốt nghiệp trung cấp y-dược; tức là… y tá hay hộ lý, dược tá vì, chưa thể tốt nghiệp đại học y – dược 6-7 năm. Sự kệch cỡm và trơ tráo là không thể chối cãi. Có lẽ, đây là cách tốt nhất để vả vào mặt hàng loạt sĩ quan cấp tá khác, có phải vậy không?

Thứ hai, báo chí cho biết có 70% trong đội ngũ nữ “quân y” đã có gia đình; vậy, căn cứ vào đâu để đề nghị cấp bằng khen cho một cô gái còn son trẻ? “Động tác” chuẩn, đẹp, tập luyện cả đêm ngày…; chỉ là sự tư biện trắng trợn. Bốn tháng trời tập có mỗi đi đều, vung tay cho đúng thỉ chỉ có ai đó thiểu năng mới không làm được. Còn tập đêm, tập ngày chỉ là do kém mà thôi. Tại sao không đặt ngược câu hỏi rằng 70% của 200 người , tức là trên dưới cả trăm phụ nữ có con mọn không cần tập như thế vẫn đi đúng, đẹp chẳng kém gì? Nói rằng cô thiếu úy – trung tá đẹp hơn về vòng 1 hay gương mặt thì còn khả dĩ, chứ cho rằng đẹp hơn trong một khối 200 người thì quả là sự phỉ báng tư duy: Đẹp hơn có nghĩa là khối đó có hàng trăm người không đẹp bằng – tức là đi đều sai, chào không đúng, cũng đồng nghĩa là khối nữ quân y diễu binh thất bại. Nếu quả là vậy thì “khối trưởng” có gì đáng tặng bằng khen? Một đất nước mà cái gì cũng GIẢ, từ cấp bậc đến huân chương, danh hiệu anh hùng, đẹp, chuẩn…, là phải hiểu sao đây?

Thứ ba, riêng chuyện bố của cô thiếu úy – bà trung tá, là sĩ quan (cao cấp – vì ít khả năng có chuyện con dám đeo quân hàm cao hơn bố, trong khi quy định, thượng tá là cán bộ cao cấp) ở Tổng cục Hậu cần, đủ để biết cái “thị trường” sao – vạch là hình như có vẻ đúng? Biết bao nhiêu phụ nữ (trong số 140 người) trong khối quân y vừa là con dân đen, vừa nuôi con nhỏ xứng đáng hơn mà không được khen? Thì ra, khen hay chê không phải do tài năng, phẩm hạnh mà có phải là CCCC hay không mà thôi. Phải chăng chính ông trung tướng đang ngầm khẳng định cho cái ‘chân lý’ không có ai chịu nổi là vì mục tiêu thống nhất, duy nhất, các vị muốn làm gì thì làm, diễn ra sao thì diễn?

Thứ tư: tôi được biết các tàu bệnh viện, xe cứu thương trên thế giới đều in dấu chữ thập đỏ trên nóc, 4 phía để đối phương không bắn nhầm (quy định quốc tế, xem ảnh chụp tàu bệnh viện Mỹ vừa đến Đà Nẵng). Thế, tại sao bác sĩ, y tá quân đội ta, cô nào cũng cầm AK (trừ chỉ huy là súng ngắn), mặt đằng đằng sát khí? Họ ra trận để cứu người hay bắn người? Nếu họ bắn rồi bị bắn chết thì lấy ai cứu thương binh; hoặc giả, để thương binh… chết luôn?

Trên đây là 3 câu hỏi xin ông trung tướng trả lời. Nếu tôi sai (cầu mong là thế – vì, tôi sai thì đất nước được nhờ), là do kiến thức hạn hẹp, không hiểu hết cái ý thâm, nghĩ ngắn rõ ràng như của các ông. Tuy nhiên, bài này rất tình cờ được viết trong ngày kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh từ giã cõi đời (suốt mấy chục năm trời, thế hệ chúng tôi thắp hương vào ngày… 3.9!), nên có liên tưởng về “truyền thống” dối trá đắng cay. Xin kể ông nghe.

Thuở đó, tôi cũng như nhiều học sinh lớp 7, lớp 8 khác, đã khóc Bác rất chân thành – khóc dàn dụa đến hết nước mắt theo đúng nghĩa đen của từ này. Sau đó, chúng tôi lùng, tìm để học thuộc nhiều bài thơ viết về nỗi đau “tả” cái đau đớn thật sự của hàng triệu con người. Tất nhiên, cũng có bài thơ không hay (thậm chí là phản động) như bài Bác ơi của Tố Hữu. Tố Hữu kể rằng ngày Bác mất, ổng đang bỏ đi chơi đâu đó: Chiều nay con chạy về thăm Bác. Rồi, ổng miêu tả ổng đang lần mò, rình rập nhà bác; không thèm thắp cho người chết một đốm nến tàn: Con lại lần theo lối sỏi quen… Phòng lạnh, rèm buông, tắt ánh đèn…

Tạm không bàn đến những câu thơ dở mà hãy nói đến những câu thơ hay, trong đó có những câu này (tôi quên tên tác giả, nhờ bạn đọc tìm dùm):

Hôm nay, tháng Chín, ngày ba

Bác mất

Từ đó

Những bình minh khổ đau

Những hoàng hôn nước mắt

Lên đường cùng chúng ta…

Lại xin không bàn về cái tài tiên tri của nhà thơ; quả là từ khi đó đến giờ, có không ít khổ đau và nước mắt đã “lên đường”; mà chỉ xin nhấn mạnh rằng, mấy chục năm sau, tôi nghe đính chính rằng thực ra Bác mất ngày 2.9 chứ không phải ngày 3. Thật là đau đớn cho ông nhà thơ nọ vì nếu là ngày 2 thì không thể vần với chữ ta ở câu sau. Thành thử đành phải vất vào sọt rác cái chữ “hay”.

Rồi, tôi còn được biết rằng, Bác viết trong Di chúc là cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa; nhưng Đảng ta đã quyết định xóa bỏ “20 năm”(!)

Tất cả đều nhằm mục đích… thống nhất?

Đến đây thì hẳn là ông trung tướng đã buộc phải đồng ý với tôi rằng, khi người ta có thể sửa cả di chúc, tức là, hoàn toàn có thể dối lừa mọi chuyện?

Bước khởi đầu của dối trá (tạm tính là khởi đầu) tai họa đó, cứ nghĩ là do… chiến tranh, không làm rối loạn lòng dân, nên nghe đôi khi, cũng xuôi xuôi. Bây giờ, tra trốc, mốc trọ rồi tôi lại còn nghe thêm lý ‘trấu’ là do thống nhất, từ ông, thì quả là hết thuốc chữa.

Các ông cứ nghĩ dối trá ‘cho vui’, dân ngu khu đen chẳng biết, chẳng dám nói gì thì quả đúng là khủng khiếp…

Viết bài này, mong các ông đọc và bớt dối trá đi cho người dân đỡ khổ, đỡ đau. Đừng đưa “quy định” ra để lấp liếm: Tôi từng biết có người cấp bậc đại úy làm trưởng phòng CSGT trong khi cấp trung tá là phó phòng (nghe đâu bây giờ sắp thay đổi).

Xin lưu ý các ông là lần diễu binh sau (kỷ niệm 80 năm, nếu có) đừng cho bất kỳ cô bé mặt búng ra sữa nào đeo lon trung tá, bởi như thế là làm tái phát vết thương chiến tranh của hàng triệu cựu chiến binh đang buộc phải lặng im dù bị sỉ vả đắng cay!…

Huế, 3.9.2015

——————

Theo FB Vu Le Hoang

Dân mạng đang lan truyền hình ảnh cô Trung tá Quân y xinh đẹp dẫn đầu đoàn diễu binh khối Quân y nữ mừng ngày Khai sinh ra Nước VNDCCH sáng nay 2/9/2015; vốn đam mê cái đẹp nên làm sao em có thể ngó lơ, đang tính cách vô Quân y để kiếm chân lon ton thay bông băng cùng cô ý, nhưng ngó vô điểm trúng tuyển Quân y mà toát hết cả mồ hôi! nhưng mới may mắn làm sao khi dân mạng tìm ra cô ý là Phạm Nguyễn Trúc Quỳnh (sinh năm 1993, quê Sơn Tây, Hà Nội) sinh viên trường ĐH Thương mại, nghe chừng việc của em giờ dễ chịu hơn nhiều vì điểm trúng tuyển vô ĐH Thương mại có vẻ vừa miếng! 

nhưng buồn cái ở đời đôi khi niềm vui của người này lại đồng thời là thất vọng của người khác, có đôi bác thất vọng vì cô ấy không phải là Nữ Trung tá Quân y thực sự! rùi từ đó đặt ra câu hỏi “có bao nhiêu người là quân nhân thực sự trong lễ diễu binh hôm nay?” hay “có bao nhiêu huân chương, quân hàm họ đeo trên ngực là thực sự?” và “có bao nhiêu người dân tộc diễu hành qua lễ đài lại chỉ là bọn kinh bỏ mẹ đóng vai?” rồi từ đó mà thêm cả loạt câu hỏi khác “Đến một việc như tổ chức lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm ngày Độc lập mà cũng phải giả dối như thế thì có khác gì Bắc Hàn không? Và “diễn” như thế có phải là cũng nhạo báng những người lính thực sự và cả tình cảm của người dân đối với người lính không?”

rõ ràng các bác hỏi những câu hỏi như trên có vẻ là người quá đề cao sự thực: một thứ không có nhiều giá trị ở mảnh đất này! có thời người ta còn có cả Nxb Sự thật, nên nếu cần “Sự thật” người ta có thể in ra cả đống, thành ra Sự thật ở đây chả có giá trị gì! bác này còn thắc mắc “Rõ ràng không thể coi diễu binh như một vở diễn hay một chương trình ca nhạc trên sân khấu trong đó các cô chú văn công có thể mặc áo lính, đóng giả lính khi trình diễn các ca khúc nhạc đỏ.” sao không!? chả có gì là “không thể” ở cái thể chế này! bởi một điều rất đơn giản: thể chế này có khả năng “giả dối” ngay phút Khai sinh!

ngẫm lại thì bữa nay là ngày Khai sinh ra Nước VNDCCH đồng thời cũng là 46 năm ngày dứt của ông Cụ, thành ra các hoạt động có mang tính hình thức “cúng cụ” tí thì cũng không sao, vì dân mình vốn quen cúng hàng mã! nên chăng các bác đang thất vọng và thắc mắc với những câu hỏi trên thử hỏi lại mình và gia đình đã bao giờ đốt quần áo, giày mũ, xe hơi, ai-phôn… thiệt để cúng các cụ nhà mình chưa, hay chỉ đốt toàn hàng mã! vậy nên bữa nay chính quyền đem các binh chủng “hàng mã” diễu binh Khai sinh ra Nước VNDCCH đồng thời “cúng cụ” thì âu cũng là lẽ thường! nếu lúc nào đó đoàn diễu binh thực sự là những người dân tộc, thực sự là các quân nhân danh dự trên vai ngực lấp lánh quân hàm quân hiệu huân huy chương xịn, thì đó mới là chuyện khác lạ đáng nói: mà như thế thì có lẽ các bác đã đang sống ở một thể chế và thời đại khác… nhưng mà đó lại là một câu chuyện khác! 

link trang tin về cô Trung tá Quân y xinh đẹp đây ạ:
http://news.go.vn/chuyen-dong/tin-2174663/nu-si-quan-9x-xinh-dep-gay-chu-y-trong-le-dieu-binh.htm

..và nghe nói đây là fb của cô ý:
https://www.facebook.com/ruby.pham.5494

 

 

Posted in Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền | Leave a Comment »

► ‘Thật đáng xấu hổ…’ – Thư của Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal gởi chủ tịch Trương Tấn Sang

Posted by hoangtran204 trên 03/09/2015

DÂN BIỂU QUỐC HỘI LIÊN BANG HOA KỲ ALAN LOWENTHAL

Bản dịch thư gửi Chủ Tịch Nước CHXHCNVN Trương Tấn Sang

v/v Trả tự do cho Tù Nhân Lương Tâm nhân dịp “Quốc Khánh 2/9”

Ngày 2 tháng 9, 2015

Ngài Trương Tấn Sang

Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

c/o Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hoa Kỳ

1233 20th Street NW, Suite 400

Washington, DC 20036

Kính gửi Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang,

Trong lúc Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ân xá cho hơn 18,000 tù nhân để chào mừng “Kỷ Niệm 70 Năm Ngày Quốc Khánh”, tôi vô cùng thất vọng khi thấy không có một nhà hoạt động chính trị hoặc tù nhân lương tâm nào có tên trong số những tù nhân được nhận ân xá. Tôi xin kêu gọi Ngài hãy lập tức trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm, bao gồm Mục Sư Nguyễn Công Chính, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhạc sĩ Việt Khang, blogger Tạ Phong Tần và Trần Huỳnh Duy Thức, nhà đấu tranh dân oan Trần Thị Thúy, và những nhà hoạt động trẻ như Đinh Nguyên Kha, Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, và Nguyễn Đặng Minh Mẫn.

Thật là đáng xấu hổ khi những công dân Việt Nam đã chọn thực thi những quyền căn bản của họ như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do lập hội sẽ phải tiếp tục bị giam cầm bởi Chính phủ Việt Nam trong khi đó những người đã bị kết án tội phạm hình sự thì được nhận ân xá. Đây là một chính sách không công bằng và coi thường quyền con người của công dân Việt Nam. Nếu Việt Nam muốn xây dựng quan hệ với cộng đồng quốc tế và nhận được quy chế thương mại thuận lợi qua Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì chính quyền Việt Nam cần phải chứng tỏ sự nghiêm túc trong việc tôn trọng các định mức và giá trị con người của quốc tế.

Việt Nam không thể tiếp tục bắt giữ và giam cầm những công dân của mình chỉ vì họ thực thi những quyền căn bản của họ trong khi chính quyền tiếp tục tuyên bố tôn trọng nhân quyền. Một lần nữa, tôi trân trọng kêu gọi Ngài hãy lập tức trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm và cảm ơn sự quan tâm của Ngài đến vấn đề này.

Trân trọng,

(đã ký)

Alan Lowenthal

Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ

Nguồ

n Việt Nam Thời Báo

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Dân Chủ và Nhân Quyền, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Quan hệ Mỹ Việt có ngăn cản được Trung Cộng chiếm Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 03/09/2015

Trần Trung Đạo published a note.

Người dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, rất quan tâm đến vận nước nhưng đa số sống trong tâm trạng chờ đợi. Chờ đợi người yêu nước và nhiều khi cũng chờ đợi cả kẻ bán nước. Chờ đợi đồng minh và chờ đợi luôn kẻ thù. Mỗi tin tức chính trị là cơ hội để những người chờ đợi bàn thảo, suy diễn theo ước muốn và quan điểm chủ quan của mình. Chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng gây nhiều bàn thảo trước khi y đi,  phân tích khi y đến, dự đoán những gì sẽ xảy ra sau khi y về.

 

Nhưng rồi, cũng như bao nhiêu chuyến đi trước của các lãnh đạo CS, sẽ  không có gì thay đổi cả. Ngoài Biển Đông, máu của ngư dân Việt Nam đã đổ và sẽ tiếp tục đổ. Trong lòng biển, nguồn dầu khí Việt Nam ngày càng bị vét cạn. Trên đất liền, tài nguyên thiên nhiên bị Trung Cộng khai thác sẽ còn tiếp tục bị khai thác. Chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng không tạo ra nên một thay đổi cấp bách và tức khắc nào trong bang giao Việt Mỹ và Việt Trung bởi vì thay đổi mang tính cách mạng không phải là mục đích của y.

 

Mục đích chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng

 

Một số nhà phân tích cho rằng sự kiện Trung Cộng vào ngày 1 tháng 5, 2014 đã đưa giàn khoan HD-981 đến cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ 17 hải lý và cách đảo Lý Sơn, thuộc tỉnh Quảng Ngãi 120 hải lý trong khi cách đảo Hải Nam đến 180 hải lý, là điểm vượt giới hạn (tipping point) mà CSVN có thể chấp nhận. Hành động bành trướng một cách lộ liễu của Trung Cộng ít nhiều đã làm cho khuynh hướng chống Tàu gia tăng trong nội bộ lãnh đạo CSVN. Trung Cộng khôn ngoan tạm thời dời giàn khoan để làm dịu tình hình.  

 

Giả thiết Trung Cộng nhận ra và dừng lại tại điểm vượt giới hạn, rồi những gì xảy ra trước sự kiện HD-981, hàng trăm vi phạm trắng trợn luật quốc tế, nghiêm cấm đánh cá, húc đụng tàu bè và tàn sát ngư dân Việt Nam của CSTQ chẳng lẽ là trong giới hạn và được lãnh đạo CSVN chấp nhận hay sao?

 

Hôm 18 tháng 7 vừa qua, Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hà Nội “Về nước cũng nhận được nhiều đánh giá, gọi điện hỏi, chúc mừng, cho đây là thành công rất lớn, gọi đây là cuộc gặp gỡ lịch sử, xem ông cộng sản Việt Nam đi ra nước ngoài thế nào mà đến Phòng Bầu dục ở Nhà Trắng, đối thoại với Tổng thống Mỹ, là việc chưa từng có trong lịch sử, mà lại là hai ông cựu thù”.

 

Mục đích hàng đầu của Nguyễn Phú Trọng đúng là “đến Phòng Bầu dục Nhà Trắng, đối thoại với Tổng thống Mỹ”. Rất đơn giản, không có gì phức tạp như nhiều người bàn tán. Nguyễn Phú Trọng muốn chứng tỏ cho thế giới và nhất là nhân dân Việt Nam thấy Mỹ đã thừa nhận tính chính danh của đảng CS. Lần đầu tiên một Tổng Bí Thư đảng CSVN đặt chân vô Tòa Bạch Ốc. Không lạ gì trước ngày đi, mấy trăm tờ báo và các hệ thống truyền hình, truyền thanh của đảng đều nhấn mạnh đến chuyện “thảm đỏ” theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

 

Tập Cận Bình, tháng Tư năm nay, đã dành cho Nguyễn Phú Trọng một buổi tiếp đón trịnh trọng ngoài sức tưởng tượng của y mặc dù trước đó đã từ chối tiếp y. Hình thức tiếp đón dù màu sắc bao nhiêu cũng không gây tiếng vang quốc tế nào vì cả hai đều là lãnh đạo của hai đảng CS. Như người viết đã trình bày trong bài trước, cách Mỹ tiếp đón Nguyễn Phú Trọng cho thấy Mỹ chỉ thừa nhận yếu tố CSVN trong xung đột Biển Đông chứ không phải thừa nhận tính chính danh lãnh đạo Việt Nam của đảng CS.

 

Đối với các đảng CS cầm quyền, tính chính danh vô cùng quan trọng. Tấm bình phong “giải phóng dân tộc” đã giúp cho các đảng CS  ở châu Á tồn tại đến nay trong khi hầu hết các đảng CS châu Âu đều sụp đổ.

 

Sau biến cố Thiên An Môn, Đặng Tiểu Bình nhận ra rằng chỉ đề cao “tư tưởng Mác Lê” chẳng những không đủ mà còn là một đe dọa đối với chế độ. Để ngăn chặn các tư tưởng tự do dân chủ đang lan rộng trong giới trí thức trẻ, y chỉ thị phải chuyển hướng tuyên truyền từ chủ nghĩa Mác Lê sang chủ nghĩa dân tộc. Ngay cả đảng CSTQ cũng phải thay hình đổi dạng từ một đảng vô sản chuyên chính sang loại hình CS dân tộc. Các lãnh đạo CSVN đã và đang áp dụng gần như rập khuôn phương pháp tuyên truyền của CSTQ qua việc đưa vai trò của chính phủ nổi bật hơn vai trò của đảng và lừa gạt được khá nhiều người. 

 

Trước ngày đi Mỹ, Nguyễn Phú Trọng đã vội vã sang Bắc Kinh triều kiến Tập Cận Bình và trấn an y. Bản tuyên bố chung giữa Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình ký ngày 8 tháng Tư năm nay mang nội dung đầu hàng, thần phục. Người đọc có cảm tưởng văn bản này ký năm 1955 khi CSVN thở nhờ bình dưỡng khí Trung Cộng chứ không phải 2015.  

 

Đọc toàn văn bản tuyên bố giữa Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng, một người có chút ít kiến thức và nhận thức chính trị căn bản không khỏi ngỡ ngàng. Ngày nay, nhân loại đã bước đi một đoạn đường trên thiên niên kỷ thứ ba văn minh dân chủ mà Nguyễn Phú Trọng còn buông ra được những câu sặc mùi Diên An, Pác Bó như “tình hữu nghị truyền thống Việt – Trung do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các nhà lãnh đạo tiền bối hai nước đích thân vun đắp là tài sản quý báu của hai Đảng”. Y cũng không quên những lời nịnh bợ Trung Cộng một cách lạc lõng khi nhắc lại thời kỳ Mao còn mỗi đêm nã vài ngàn viên đại pháo sang các đảo Kim Môn và Mã Tổ như “ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ Đài Loan độc lập dưới mọi hình thức”.

 

Chuyến đi Mỹ và nội dụng những lời phát biểu Nguyễn Phú Trọng tại Mỹ nếu không phải toàn văn thì cũng đại ý đã được trình bày với Tập Cận Bình. Do đó, mặc dù rất nhạy cảm trước các biến cố ngoại giao gây bất lợi cho Trung Cộng, lãnh đạo Trung Cộng không bày tỏ  một thái độ bất bình chính thức nào trước chuyến viếng thăm Mỹ của Nguyễn Phú Trọng.

 

Biết thế nhưng tại sao Obama vẫn tiếp Nguyễn Phú Trọng?

 

Tại sao không? Các lãnh đạo Mỹ tiếp bất cứ chính trị gia, lãnh đạo đảng, nhà nước nào phục vụ cho chính sách đối ngoại, trong trường hợp này là bao vây Trung Cộng, của Mỹ. Augusto Pinochet của Chile, Manuel Noriega của Panama, Emílio G. Médici của Ba Tây, Mobutu Sese Seko của Congo, Hosni Mubarak của Ai Cập, Samuel Doe của Liberia và một danh sách dài của các lãnh đạo độc tài đã từng được các tổng thống Mỹ bắt tay hay chào đón tại Phòng Bầu Dục, tòa Bạch Ốc.  

 

Chưa đầy hai năm trước ngày Muammar Gaddafi và con trai của y Mutassim Gadahfi bị giết,  tháng Tư 2009, bà Hillary Clinton đã tiếp Mutassim Gadahfi tại Washington DC và ca  ngợi việc tái lập quan hệ ngoại giao với kẻ đã từng bị TT Ronald Reagan gọi là “chó điên” nhưng cũng chính Hillary Clinton đã đùa giỡn với các phụ tá “Chúng ta Đến, Chúng ta Thấy, Hắn Chết !” (“We Came, We Saw, He Died!”) khi được báo tin Muammar Gaddafi bị quân cách mạng giết.

 

Mobutu Sese Seko (1930-1997), một trong những tên độc tài tàn ác nhất Phi Châu, có tài sản ước lượng 5 tỉ đô do biển thủ suốt 32 năm cai trị Congo (1965-1997).  Sau khi thăm viếng lãnh tụ CS Bắc Hàn Kim Nhật Thành về, Mobutu đã rập khuôn theo cách cai trị tàn ác của họ Kim. Y ra lịnh thay đổi tên đường, tên phố, quốc kỳ, quốc ca, và tháng 10, 1971 thay cả tên nước (giống như Việt Cộng đã làm sau năm 1975). Mobutu Sese Seko là một trong những nhà độc tài đã được đón tiếp trịnh trọng đến bốn lần (ba lần dưới thời Ronald Reagan, một lần dưới thời George H. W. Bush) tại Phòng Bầu Dục Tòa Bạch Ốc. Tuy nhiên, cũng chính phủ Mỹ năm 1993 đã từ chối cấp thông hành cho Mobutu vào Mỹ khi con cờ chống Liên Xô tại Phi Châu đã không còn cần thiết.

 

Từ  “Xoay trục Thái Bình Dương” (Pacific Pivot)  đến “Tái cân bằng” (Rebalance) Á Châu của Mỹ

 

–          Thời TT Bill Clinton. Các nhà chiến lược Mỹ đã thấy nhu cầu xoay trục sang Á Châu rất sớm. Sau Chiến tranh Lạnh, quyền lợi kinh tế thương mại đã được nâng lên ngang tầm với quyền lợi về an ninh quốc gia. Bộ trưởng Thương Mại Ron Brown dưới thời Bill Clinton đã tuyên bố “Quyền lợi thương mại hiện nay ngang mức với an ninh thế giới trong chính sách đối ngoại”. Thượng Đỉnh của Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11, 1993 tại Seattle tất cả thành viên của ASEAN, ngoại trừ Mã Lai, đều tham dự. Quan hệ mậu dịch hai chiều giữa Mỹ và các nước ASEAN vào 1996 đã lên đến 109 tỉ đô la, 57% cao hơn so với Trung Cộng và cao hơn so với Nam Mỹ hay so với Phi Châu. Việc TT Clinton đồng ý tái lập quan hệ ngoại giao với CSVN vào tháng Bảy 1995 cũng là phần trong chiến lược xoay trục sang Á Châu của Mỹ. Tuy nhiên suốt thời kỳ của TT Bill Clinton, chính sách Mỹ đối với Trung Cộng đặt nặng trên các yếu tố kinh tế thương mại hơn là quân sự. Theo kết quả thăm dò của Gallup năm 1999, 47 phần trăm số người được hỏi cho rằng TT Clinton đã đi quá xa trong việc duy trì một quan hệ xây dựng với Trung Cộng.

 

–          Thời TT George W. Bush. TT George W. Bush thuộc đảng Cộng Hòa và bộ tham mưu của ông là những Cộng Hòa bảo thủ. Chính sách đối ngoại của TT George W. Bush được các tóm tắt bằng ba chữ ABC (Anything But Clinton) nghĩa là bất cứ chính sách nào ngoại trừ các chính sách đã được TT Bill Clinton theo đuổi. Suốt thời gian vận động ứng cử George W. Bush nhấn mạnh Trung Cộng là một đe dọa chiến lược đối với Mỹ chứ không phải là hợp tác chiến lược như TT Clinton biện hộ. Condoleezza Rice, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia và sau đó là Ngoại Trưởng thời TT Bush tố cáo “Trung Cộng đang thay đổi cán cân quyền lực theo ý họ”. Chỉ 100 ngày sau khi nhậm chức, TT George W. Bush tuyên bố “sẽ làm tối đa những gì để có thể làm để giúp Đài Loan bảo vệ chính họ” trong trường hợp bị Trung Cộng tấn công. Các tổng thống tiền nhiệm dù Cộng Hòa hay Dân Chủ đều tránh trả lời một cách dứt khoát như TT George W. Bush. 

 

–          Trung Cộng “đục nước béo cò” sau  biến cố 9/11. Biến cố  ngày 11 tháng 9, 2001 đã buộc chính phủ Mỹ đặt trọng tâm vào Trung Đông hơn là Á Châu Thái Bình Dương. Mỹ cũng cần hòa dịu với Trung Cộng vì muốn Trung Công nếu không ủng hộ Mỹ công khai tại Liên Hiệp Quốc và các diễn đàn quốc tế, ít ra cũng bằng lòng ngầm khi Mỹ phát động chiến tranh tại Iraq và Afghanistan. Chiến tranh Iraq là một cơ hội để Trung Cộng bành trướng Á Châu Thái Bình Dương. Yuan Peng, Giám đốc bộ phận Mỹ thuộc Viện Trung Quốc về Quan Hệ Quốc Tế Hiện Đại  thừa nhận “Chúng tôi nắm lấy cơ hội để cải thiện kinh tế, cải thiện các mối quan hệ với láng giềng và cải thiện quan hệ với Mỹ”.  Gọi là “cải thiện các mối quan hệ với láng giềng” nhưng thực chất là Trung Cộng gây sự với hầu hết các nước trong vùng như Nhật Bản qua vụ xung đột đảo Senkaku vào tháng Chín 2010, bắn vào tàu đánh cá Philippine và kiểm soát Việt Nam một cách chặc chẽ hơn. Chính phủ Mỹ nghĩ rằng dù sao Trung Cộng nên hành xử với tư cách một cường quốc có trách nhiệm và giữ đúng lời cam kết mà Hồ Cẩm Đào “không chủ trương độc quyền bá chủ” Á Châu Thái Bình Dương. Thực tế đã trái ngược. Từ năm 2006, Trung Cộng chi tiêu dành cho quốc phòng cao thứ năm trên thế giới và có mức gia tăng hàng năm cao hơn bất cứ quốc gia Tây Phương nào.

 

–          Thời TT Barack Obama. Các chính sách dưới thời TT Obama bao gồm thỏa hiệp tự do mậu dịch với Nam Hàn (FTA), tham gia đàm phán TTP là bước tiếp tục đã được thực hiện từ thời TT George W. Bush. Chủ trương hiện đại hóa quân sự một cách cấp bách của Trung Cộng đã  đặt ra cho các nhà làm chính sách Mỹ một chọn lựa phải cứng rắn và cụ thể hơn trước sự bành trướng quân sự của Trung Cộng.

 

Năm 2010 tại Hà Nội, Hillary Clinton, lúc đó là Ngoại Trưởng, tuyên bố mạnh mẽ Hoa Kỳ sẽ “chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào sử dụng vũ lực”. Cùng vào thời gian đó, để đánh dấu 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Mỹ gởi hàng loạt chiến hạm viếng thăm Đà Nẵng hay trong khu vực biển Đà Nẵng như Hàng Không Mẫu Hạm USS George Washington, khu trục hạm USS John S. McCain. Năm trước đó, khu trục hạm USS Blue Ridge USS Lassen, tàu bịnh viện USNS Mercy, hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis và cả soái hạm của Đệ thất Hạm đội USS Blue Ridge cũng thăm viếng Việt Nam.  Mùa thu 2011 đánh dấu thời điểm chính quyền Obama đặt ưu tiên sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Á Châu lên hàng đầu như đã khẳng định trong diễn văn trước Quốc Hội Úc tháng 11, 2011.

 

Mặc dù ngân sách quốc phòng Mỹ trong tài khóa 2011, 2012 bị cắt giảm nhưng ảnh hưởng Lục Quân và Thủy Quân Lục Chiến nhiều hơn là Hải Quân. Điều đó cho thấy Á Châu-Thái Bình Dương đã được đánh giá cao trong quan điểm của các nhà chiến lược quốc phòng Mỹ. Khái niệm Trận chiến Hải Không (Air-Sea Battle) gọi tắt là ASB là một khái niệm chiến tranh mới do các chiến lược gia quốc phòng Mỹ đặt ra. Khái niệm này được nhắc đến lần đầu vào năm 2010 và là một trong những điểm được các nghị sĩ và dân biểu Mỹ quan tâm nhất. Chiến lược ASB nhắm vào hai đối tượng thù địch là Trung Cộng và Iran.

 

Sự kiện đưa máy bay thám thính tối tân nhất của Mỹ US P8-A Poseidon bay trên khu vực Trung Cộng đang xây đảo nhân tạo trên Biển Đông và Khu trục hạm chiến đấu USS Forth Worth cũng tiến vào khu vực Trung Cộng cho rằng thuộc chủ quyền của họ là một thể hiện của phối hợp chiến lược ASB. Hôm 18 tháng Bảy vừa qua, đích thân Đô đốc Scott Swift, Tân Tư Lịnh Đệ Thất Hạm Đội Mỹ đã bay trên phi cơ thám tính U.S. P-8A Poseidon suốt bảy giờ trong Biển Đông. Phát ngôn viên Trung Cộng phản ứng nhẹ và xem đó là một sự kiện quân sự hơn là một biến cố ngoại giao và kêu gọi Mỹ không nên chọn phe trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa Trung Cộng và các quốc gia khác trong vùng.

 

Chính sách bao vây, ngăn chận (containment) của Mỹ đối với Trung Cộng

 

Liên Xô từng rất mạnh ở trung tâm nhưng yếu ở các vòng ngoài và đã dẫn đến tan vỡ khi các quốc gia vùng Baltic và Trung Á ly khai đòi độc lập. Các lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc luôn bị ám ảnh với các những cuộc nổi dậy như Thiên An Môn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ tại đâu trên lãnh thổ mênh mông và dị biệt sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Và cũng giống như Liên Xô, lãnh đạo Trung Cộng buộc phải đáp ứng nhu cầu chuyển hóa tự nhiên của xã hội qua các đổi mới nhưng các lãnh đạo đảng cũng không thể biết trước giọt nước đổi mới nào sẽ làm tràn ly cách mạng dân chủ.

 

Các nhà chiến lược Mỹ dĩ nhiên chuẩn bị cho mọi khả năng sụp đổ của Trung Cộng nhưng dù khả năng nào, chính sách bao vây ngăn chận tham vọng bành trướng của Trung Cộng vẫn là chính sách được hầu hết các tổng thống Mỹ đã và đang theo đuổi. Trong thời gian tới, Mỹ sẽ gia tăng áp lực, kể cả áp lực quân sự, từ bên ngoài để Trung Cộng một ngày sẽ tan vỡ từ bên trong, giống như các TT Mỹ từ Harry Truman đến Ronald Reagan đã thực hiện và thành công đối với Liên Xô. 

 

Mỹ, Trung Cộng và Việt Nam là tam giác?

 

Trong bài báo mới đây trên The Diplomat  “A Tipping Point in the US-China-Vietnam Triangle”, tác giả Alexander L. Vuving cho rằng quan hệ giữa Mỹ, Trung Cộng và Việt Nam đang thay đổi sâu sắc và ở trong thế tam giác.

 

Đánh giá Việt Nam dưới chế độ CS như là một quốc gia có tư thế độc  lập không phản ảnh thực tế kinh tế chính trị của Việt Nam trong bang giao quốc tế. CSVN không có được vị trí của một chân kiềng hay chân vạc gì cả. Trung Quốc và Mỹ đều muốn làm thầy, làm chủ để sai khiến giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam thuận theo chính sách của họ hơn là một đồng minh thân cận.

 

Trong buổi tiếp xúc với “cử tri Hà Nội” hôm 18 tháng 7, Nguyễn Phú Trọng tuyên bố một cách đắc chí “Rất hay là vừa đi Mỹ về, thì Phó thủ tướng Trung Quốc cũng sang đây”. Nói vậy mà không biết mắc cỡ. Chẳng có gì hay. Việc Barack Obama tiếp Nguyễn Phú Trọng, trong chiến lược chống Trung Cộng bành trướng Á Châu cũng không khác gì khi Richard Nixon tiếp Mobutu Sese Seko của Congo, hay Ronald Reagan tiếp Samuel Doe của Liberia trong chiến lược chống Liên Xô bành trướng sang Phi Châu. Tất cả chỉ là những con cờ ngắn hạn của Mỹ.

 

Kết luận

 

Việt Nam hiện trong vị trí của một quốc gia độn (buffer state). Bài học từ hai cuộc chiến Triều Tiên và Việt Nam cho thấy Trung Cộng bằng mọi cách sẽ giữ quốc gia độn Việt Nam trong vòng lệ thuộc hay ảnh hưởng.  Mỹ cũng biết Trung Cộng không dễ dàng thả lỏng Việt Nam nhưng với chính sách bao vây, Mỹ tiếp tục gây áp lực kể cả áp lực quân sự để Trung Cộng đến một thời điểm chín mùi cho sự tan rã sẽ xảy ra từ bên trong.

 

Đành rằng nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Cộng với 30% nhập cảng, 12% xuất cảng, 25% du khách viếng Việt Nam, nhưng Trung Cộng không phải là nước không phụ thuộc vào ai. Khoan nhắc đến các yếu tố tham nhũng có tính đảng, chủ nghĩa dân tộc tai họa, tình trạng nhân quyền tồi tệ, ô nhiễm hàng đầu thế giới, chỉ riêng nền kinh tế suy thoái do giảm đầu tư nước ngoài, mức xuất cảng các sản phẩm kỹ nghệ nặng xuống thấp, mất cân đối trong các ngành sản xuất là những vấn đề mà các lãnh đạo Trung Cộng phải điên đầu.

 

Giả thiết Việt Nam là một Nam Hàn, Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Trung Cộng có thể vẫn tìm cách gây hấn, ăn hiếp nhưng không thể sai khiến các “lãnh đạo” như sai đầy tớ, muốn cho gặp thì gặp, không muốn thì thôi như Tập Cận Bình đối xử với các lãnh đạo CSVN.

 

Ngoài Việt Nam, Trung Cộng có chung đường biên giới với 13 quốc gia khác (India, Pakistan, Afghanistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, Mongolia, Bhutan, Nepal, Miến Điện, Nga, Bắc Hàn, Lào). Phần lớn các quốc gia này nhỏ hơn Việt Nam nhiều, nhưng không có một lãnh đạo quốc gia nào phải chầu chực, hầu hạ các lãnh đạo Trung Cộng như cách các lãnh đạo CSVN đã và đang làm.

 

Lý do Trung Cộng sai khiến lãnh đạo CSVN dễ dàng vì chúng biết rõ gan ruột của tên đàn em một lần phản trắc này xem quyền lợi của đảng lớn hơn và quan trọng hơn sự quyền lợi của đất nước. Duy trì quyền cai trị của đảng CS là mục tiêu tối thượng, chi phối toàn bộ chính sách đối nội và đối ngoại, ngắn hạn cũng như dài hạn của đảng CSVN.

 

Khi phân tích về quan hệ giữa Việt – Mỹ và Việt – Trung, nhiều nhà phân tích Tây phương bỏ sót một yếu tố có tính quyết định, đó là cơ chế chính trị. Nếu đi ngược dòng lịch sử Việt Nam cận đại, các nhà phân tích đó sẽ thấy cốt tủy của mọi xung đột chính là cơ chế chính trị CS.

 

Muốn đứng thế chân vạc, một quốc gia trước hết phải có vị trí độc lập trong tương quan về chính trị, kinh tế và quân sự quốc tế.  CSVN không có được vị trí độc lập và sẽ không bao giờ có được vị trí độc lập khi nào đảng CS vẫn còn độc quyền cai trị Việt Nam. Để có một vị trí độc lập trong bang giao quốc tế và để tạo thế liên minh tin cậy chiến lược, Việt Nam trước hết phải là một quốc gia dân chủ. 

 

 

Trần Trung Đạo

 

 

Tham khảo:

–       YU Wanl, Breaking the Cycle?: Sino-US Relations under George W. Bush Administration. Chapter 3 and chapter 4. The National Institute for Defense Studies, 2009.

–       Congressional Research Sevice. Pivot to the Pacific? The Obama Administration’s “Rebalancing” Toward Asia. , March 2012.

–        Anna Rabin, US-China Relations in the Bush Era – Strategic Partners or Competitors?  February, 2012

http://inpecmagazine.com/2012/02/01/us-china-relations-in-george-w-bush-era-hu-jintao/

–       MARK MacKINNON, China’s chance: How 9/11 played into Beijing’s plans in Asia,  The Globe and Mail, Sep. 08, 2011

http://www.theglobeandmail.com/news/world/chinas-chance-how-911-played-into-beijings-plans-in-asia/article593666/

–       George W. Bush on China.  GeorgeWBush.com, May 25, 1999 http://www.ontheissues.org/Celeb/George_W__Bush_China.htm

–       Mark E. Manyin, Pivot to the Pacific? The Obama Administration’s “Rebalancing” Toward Asia, Congressional Research Service, March 28, 2012.

–       Henry Kissinger, On China, The Penguin Press, New York 2011

–       Robert Mcmahon. Limits Of Empire, The United States and Southeast Asia Since World War II Columbia University Press pp 210, 211, 213

–       Council on Forein Relations, China ‘s Maritime Disputs By the Number. http://www.cfr.org/asia-and-pacific/chinas-maritime-disputes/p31345#!/

–       Hillary Clinton Laughs About Killing Moammar

http://www.realclearpolitics.com/video/2015/06/19/flashback_2011_hillary_clinton_laughs_about_killing_moammar_gaddafi_we_came_we_saw_he_died.html

–         Tổng bí thư: Phía Mỹ tiếp đón “vượt mức yêu cầu”, VnEconomy, 18/7/2015.

http://vneconomy.vn/thoi-su/tong-bi-thu-phia-my-tiep-don-vuot-muc-yeu-cau-2015071801251242.htm

–         Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc 09/04/2015

http://nhandan.com.vn/chinhtri/tin-tuc-su-kien/item/26031902-thong-cao-chung-viet-nam-trung-quoc.html

–         Chinese State Media to Pacific Fleet: We Won’t Be Pushed Around in South China Sea

https://foreignpolicy.com/2015/07/20/chinese-state-media-to-pacific-fleet-we-wont-be-pushed-around-in-south-china sea/?utm_content=buffer07f9c&utm_medium=social&utm_source=facebook.com&utm_campaign=buffer

–          Alexander L. Vuving. A Tipping Point in the US-China-Vietnam Triangle. The Diplomat, July 06, 2015.

http://thediplomat.com/2015/07/a-tipping-point-in-the-u-s-china-vietnam-triangle/

–          Minxin Pei. 5 Ways China Could Become a Democracy. The Diplomat February 13, 2013.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Quan Hệ Mỹ và Trung Quốc- ở Châu Á | Leave a Comment »

►Mất Biển Đông Năm 2017?

Posted by hoangtran204 trên 03/09/2015

Mất Biển Đông Năm 2017?

Việt Báo

1-9-2015

Nỗi lo càng lúc càng rõ hơn: nhiều nhà phân tích nêu dự báo rằng Trung Quốc sẽ chiếm gọn Biển Đông năm 2017, vì lúc đó tân Tổng Thống Hoa Kỳ mới nhậm chức sẽ có nhiều lúng túng trong việc đối phó với một tân Quốc Hội Hoa Kỳ, và vì lúc đó Lào sẽ luân phiên lên nắm ASEAN, mà Lào đã bị Trung Quốc mua chuộc từ lâu.

Có đúng như thế chăng? Trong khi đó, Nhật Bản tăng ngân sách quôc phòng để sẽ đôi phó với TQ tại Biển Đông…


Cụ thể, Bộ quốc phòng Nhật Bản chuẩn bị tăng chi trong đề án ngân sách mới để giúp củng cố cuộc phòng thủ dãy đảo xa xôi gần vùng mà Trung Quốc đang xác quyết chủ quyền, tại Biển Đông.

Trong hồ sơ đệ nạp chính phủ, Bộ quốc phòng Nhật Bản đề nghị tăng ngân sách quốc phòng 2.2%, đạt mức 42.38 tỉ MK, lớn nhất từ 14 năm.

Cũng nên nhắc rằng ngân sách quốc phòng năm nay của Trung Quốc là 138.37 tỉ MK, tăng 10.1%, cao hạng nhì thế giới.

Hồ sơ cho hay: Bộ quốc phòng Nhật Bản định mua tàu đổ bộ của BEA, chiến đấu cơ F-35 và trực thăng Osprey của Hoa Kỳ. Các chiến cụ cần mua khác gồm phi cơ không người lái Global Hawk của Northrop Grumman, phi đạn di động, trực thăng và 1 số phương tiện cần thiết để bảo vệ các hải đảo xa từ Nhật trải rộng đến gần Taiwan.

Chi phí tăng cũng đuợc dùng vào việc xây dựng và mở rộng căn cứ dọc theo chuỗi đảo xa. Tokyo và Beijing đang tranh chấp chủ quyền về nhóm đảo Senkaku không người ở mà Trung Quốc gọi bằng tên Diaoyu (tiếng Việt là: Điếu Ngư).

Trong khi đó, bản tin RFI nêu câu hỏi ngay tựa đề: “Trung Quốc sẽ chiếm trọn Biển Đông vào năm 2017.”

Bản tin này nói, Bắc Kinh đã thực hiện xong giai đoạn một trong chiến lược biến Biển Đông thành ao nhà. Thái độ do dự của các nước liên can từ Hoa Kỳ, Úc cho đến các thành viên Đông Nam Á tạo cơ hội bằng vàng cho Tập Cận Bình tiến sang giai đoạn hai trong 2 năm tới. Trên đây là nhận định của nhiều chuyên gia quân sự được Fairfax Media tổng hợp và phân tích.

Với các đảo nhân tạo đã được thực hiện gần xong, Trung Quốc đã chiến thắng «trận thứ nhất» trong chiến lược khống chế Biển Đông. Ít ai có khả năng ngăn chận Trung Quốc chiến thắng luôn giai đoạn hai. Hoa Kỳ cũng như đồng minh Úc trong khu vực, tuy lên án Bắc Kinh có « hành động phi pháp » đe dọa an ninh hàng hải và hàng không, nhưng cho đến nay hai nước này vẫn do dự, ngập ngừng. Trên đây là hai nhận định của các nguồn tin quốc phòng cao cấp của Úc.

Giới chuyên gia quân sự cho rằng vào năm 2017, khi các đảo nhân tạo trong vùng Hoàng Sa và Trường Sa hoàn tất với quân cảng và phi trường thì Trung Quốc sẽ đưa ra-đa, đại bác, máy bay chiến đấu ra tận nơi để mở rộng vùng can thiệp đến tận những nơi xa xôi nhất của Biển Đông.

Tháng 5 năm nay, bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tuyên bố mạnh: một là kêu gọi Trung Quốc phải chấm dứt đắp đảo lấn biển và hai là Mỹ không công nhận «không phận, hải phận» của các đảo nhân tạo này.

Lập trường cứng rắn của bộ trưởng Mỹ đã được đồng nhiệm Úc Kevin Andrews ủng hộ mạnh mẽ. Hai chuyến bay được thực hiện sau đó bay ngang một số đảo đang được Trung Quốc bồi đắp. Một chuyến có phóng viên đài truyền hình CNN và một chuyến có tư lệnh hạm đội 7, đô đốc Scott Swift. Trên thực tế, theo kiểm chứng của Fairefax Media, hai chuyến bay này đều nằm ngoài khoảng cách 12 hải lý chứ không bay ngang như một số báo chí đưa tin.

Bản tin RFI viết:

“Trong khi Hoa Kỳ và đồng minh Úc «vật lộn» với những không ảnh và bản đồ cũ, tranh luận đâu là những nơi đe dọa an ninh hàng không hàng hải, thì hàng ngày hạm đội tàu công binh của Trung Quốc gia cố, nới rộng một phi đạo thứ hai dài 3 km trên bãi đá Subi Reef cho những phi cơ vận tải lớn nhất của «Giải phóng quân» hạ cánh.

Trong khi Mỹ và các đồng minh nói và làm không đi đôi với nhau thì Trung Quốc thừa sức và rộng thời gian để hoàn tất căn cứ quân sự tiền phương ở Biển Đông trước khi chủ tịch Tập Cận Bình sang gặp tổng thống Mỹ Barack Obama trong hai tuần tới đây (trung tuần tháng 9). Hình ảnh vệ tinh cho thấy 90% số tàu công binh hoạt động ở Trường Sa đã rút đi trong những tuần lễ gần đây.

Một nhân tố khác xuất phát từ quan điểm muốn giữ «nguyên trạng» của tây phương càng thuận lợi cho kế hoạch lấn chiếm của Trung Quốc. Các nhà chiến lược cho rằng thương thuyền và máy bay tây phương có thể chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc mặc dù những yêu sách đòi chủ quyền ở Biển Đông là không có cơ sở theo luật quốc tế…

Câu hỏi đặt ra là vì sao từ nay đến ít nhất là cho hết năm 2017 là thời gian rất thuận lợi cho Trung Quốc hoàn tất kế hoạch làm chủ Biển Đông.

Có hai lý do: Một là Hoa Kỳ bước vào mùa tranh cử bầu cử tổng thống và phải chờ đến đầu năm 2017 mới có một chính phủ mới ở Washington. Lý do thứ hai là tình hình nội bộ Đông Nam Á. Trong bối cảnh các thành viên không đoàn kết với nhau trước tham vọng của Trung Quốc, năm 2017 là năm nước Lào, mà chế độ đã bị Bắc Kinh mua chuộc, làm chủ tịch luân phiên Hiệp hội ASEAN.

Tuy nhiên, một số viên chức Mỹ và Úc lại đưa ra kết luận ngược lại là Trung Quốc chỉ thắng về chiến thuật nhưng sẽ thua to về chiến lược. Tức là các quốc gia trong vùng sẽ đoàn kết chặt chẽ với nhau và với Hoa Kỳ hơn.”(ngưng trích)

Có thật là ASEAN sẽ đoàn kết chống TQ? Không phải TQ mua Lào và Cam Bốt rồi hay sao?

Trong khi đó có tin từ Đài Loan: TQ sắp tuyên bố vùng nhận dạng phòng không ở Biển Đông…

Bản tin VOA ghi nhận như thế qua một tài liệu từ Bộ Quốc phòng Đài Loan, đó là một phúc trình nộp cho viện lập pháp Đài Loan về sức mạnh quân sự của Trung Quốc.

Quả nhiên, hung hiểm. Trăm đường hung hiểm.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Luật pháp: Tài điều tra của công an, buộc tội của VKS, và xử án của chánh án thời Sản mạc

Posted by hoangtran204 trên 03/09/2015

Bị oan, không thể đòi tài sản vì không đủ tiền nộp án phí

Người Việt

31-08-2015

Ông Phạm Văn Thành. (Hình: Tuổi Trẻ)

TIỀN GIANG (NV) – Suốt 11 năm qua, ông Phạm Văn Thành – người hai lần bị giam oan vì “giết người” và “vu khống,” vẫn không thể đòi lại tài sản bị tịch thu bởi không có tiền nộp… án phí.

Ông Thành ngụ ở ấp Ninh Hòa, xã Hòa Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, vốn là một nhân vật nổi tiếng tại Việt Nam vì sự tùy tiện và tàn bạo của hệ thống tư pháp Việt Nam.

Tháng 8 năm 1989, ông Thành bị công an xã Hòa Tịnh bắt khẩn cấp vì cáo buộc “giết người,” rồi đem giao cho công an huyện Chợ Gạo, công an huyện Chợ Gạo giao ông Thành cho công an tỉnh Tiền Giang.

Nạn nhân trong vụ giết người này được xác định là Phạm Thanh Tuyền – con trai ông Thành. Tuyền được cha giao cho trông coi một trại dê, cách nhà khoảng hai cây số và đột nhiên mất tích. Không chỉ có công an xã Hòa Tịnh mà hệ thống tư pháp ở Tiền Giang cùng cho rằng ông Thành đã giết Tuyền rồi phi tang xác.

Song song với việc bắt ông Thành, bí thư xã Hòa Tịnh còn ra lệnh “tạm thu” toàn bộ số tài sản của ông Thành bao gồm: 200 con dê nái – giống dê sữa trị giá năm chỉ vàng/con, 40 con dê cái con – dê sữa trị giá một chỉ vàng/con, một máy suốt lúa trị giá một lượng vàng, một máy Kohler trị giá năm chỉ vàng, một bình xịt trị giá một chỉ vàng. Tính theo thời giá năm 1989, tổng số tài sản mà ông Thành bị “tạm thu” là 105 lượng sáu chỉ vàng.

Do gia đình ông Thành vừa kêu oan, vừa phản đối việc “tạm thu” tài sản trái phép, chính quyền xã Hòa Tịnh lập một biên nhận, ghi rõ: Nếu ông Thành tìm được con trai, chính quyền xã sẽ hoàn trả toàn bộ số tài sản đã tạm thu.

Ông Thành bị tạm giam 13 tháng thì tháng 9 năm 1990, Phạm Thanh Tuyền – con trai ông Thành quay về. Tuyền cho biết, chăn dê buồn quá nên nghe lời người quen đến huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An chăn… bò. Bởi nghe tin cha bị tù vì cáo buộc giết mình, Tuyền quay về để minh oan cho cha.

Không còn lý do để tạm giam ông Thành, công an tỉnh Tiền Giang “tạm tha” ông.

Ra tù, ông Thành không dám đòi bồi thường việc bị bắt oan mà chỉ chạy tới, chạy lui xin lại những tài sản đã bị chính quyền “tạm thu.” Tuy nhiên ông Thành chỉ chạy tới, chạy lui được chừng năm năm thì tháng 4 năm 1995, ông bị bắt trở lại mà không rõ về tội gì. Năm tháng sau, khi được trả tự do, ông Thành mới biết, ông bị công an bắt vì phạm tội… “vu khống!”

Kể từ đó, ông Thành mới chính thức đi đòi công lý cho mình. Tháng 6 năm 2004, công an tỉnh Tiền Giang mới có văn bản, xác nhận, hai lần bắt ông Thành là gây hàm oan, “do nóng vội, yếu kém về nghiệp vụ chuyên môn, pháp luật!”

Dẫu ông Thành đòi bồi thường hơn hai tỷ đồng bao gồm cả thiệt hại tài sản lẫn tinh thần, tòa án tỉnh Tiền Giang chỉ buộc công an tỉnh Tiền Giang bồi thường 84.6 triệu đồng “thiệt hại về tinh thần” cho ông Thành. Còn thiệt hại về tài sản bị “tạm thu” thì tòa án tỉnh Tiền Giang bảo ông Thành phải… kiện chính quyền xã Hòa Tịnh ra tòa dân sự.

Muốn kiện ra tòa dân sự thì phải đóng… án phí. Do số tài sản bị “tạm thu” là 105 lượng và sáu chỉ vàng nên án phí phải đóng khi nộp đơn kiện lên tới hơn 40 triệu, ông Thành vốn đã sạt nghiệp từ khi bị bắt oan và “tạm thu tài sản” nên đến giờ, ông thúc thủ.

Đáng nói là việc “tạm thu” tài sản của ông Thành vi phạm luật pháp nhưng hệ thống tư pháp Việt Nam không hề điều tra về vi phạm này. Các viên chức có liên quan đến vụ vi phạm luật pháp đó vẫn vô sự.

Trả lời chất vấn của báo chí Việt Nam, ông Trần Văn Công, Phó Chánh án Tòa án huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nói rằng, nếu ông Thành được chính quyền xã Hòa Tịnh xác nhận có gia cảnh khó khăn thì chuyện ông Thành kiện chính quyền xã này để đòi bồi thường có thể được giảm 50% án phí và chỉ thế mà thôi! (G.Đ)

Posted in Công An, Luật Pháp | Leave a Comment »