Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 19th, 2015

►Tính chính đáng của đảng Cộng sản…Sự thật thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2015

Tinh chính đáng của ĐCS

Nguyễn Hưng Quốc – VOA

07-9-2015

communist-300x199

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước; hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của đảng Cộng sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách mạng tháng Tám”, tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/ năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có đảng Cộng sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì đảng Cộng sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: những người dân bình thường rất chán ghét chế độ cộng sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như đảng Cộng sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do đảng Cộng sản thường nêu lên để biện minh cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

———-

Tính chính đáng của đảng cộng sản theo sinh viên Nguyễn Sơn phát biểu và đang được gần 1 triệu 500 ngàn người lắng nghe như sau

Advertisements

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Quốc Hội: Chưa thấy quyền tự do báo chí công dân

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2015

17-9-2015

Tuổi Trẻ Đó là ý kiến của Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý tại cuộc thảo luận ngày 17-9, khi Bộ Thông tin và truyền thông trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án Luật báo chí (sửa đổi).

Nghe đọc bài: Chưa thấy quyền tự do báo chí công dân
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý – Ảnh: Việt Dũng

Chúng ta dường như chỉ đang đề cập đến báo chí và nhà báo thôi, chứ không thấy đề cập quyền tự do báo chí của công dân

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật PHAN TRUNG LÝ

Trình bày quan điểm của thường trực Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Chủ nhiệm Đào Trọng Thi khẳng định: “Luật báo chí sau 16 năm thi hành bộc lộ nhiều bất cập và không còn phù hợp với thực tiễn.

Đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, cùng sự phổ biến của mạng xã hội làm cho hoạt động báo chí thay đổi cả về phương thức làm báo, hình thức chuyển tải nội dung thông tin và cách thức tiếp cận thông tin của người dân.

Nhiều quy định trong Luật báo chí hiện hành đã trở nên lạc hậu, thiếu tính khả thi, đòi hỏi phải đổi mới để đáp ứng tình hình mới”.

“Phức tạp, nhạy cảm”

Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Bắc Son nói: “Có thể nói rằng đây là một luật phức tạp, nhạy cảm. Ngay đến việc chúng tôi đang xây dựng cái quy hoạch báo chí đã thấy phức tạp rồi.

Đây là quy hoạch do Chính phủ phê duyệt nhưng cũng phải thông qua Bộ Chính trị, trình trung ương cho ý kiến hai lần rồi, nhưng đến giờ phút này cũng chưa phê duyệt được chính thức”.

Bộ trưởng cho biết: “Khi hội thảo, rất nhiều người, nhiều nhà khoa học nói bây giờ tự do báo chí thì dẫn đến phải có tư nhân hóa, tư nhân làm báo chí. Nhưng tại sao trong dự thảo luật không quy định tư nhân làm báo chí? Đây là câu hỏi rất lớn.

Chúng tôi phải dẫn các văn bản của Đảng, gần đây là văn bản truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị về quy hoạch báo chí. Trong đó nêu rõ báo chí của chúng ta là phương tiện thông tin, công cụ truyền thông, vũ khí tư tưởng quan trọng đặc biệt của Đảng và Nhà nước, Đảng và Nhà nước phải nắm chắc công cụ này.

Phải quán triệt báo chí của chúng ta là báo chí cách mạng, báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng, quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật”.

Trong khi đó, ông Đào Trọng Thi cho biết: “Qua giám sát, thường trực ủy ban nhận thấy hiện nay có quá nhiều cơ quan báo chí do các cơ quan nhà nước thành lập và cấp kinh phí hoạt động, làm tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

Nhưng dự thảo luật không có những quy định nhằm khắc phục tình trạng này mà lại duy trì cơ chế bao cấp.

Thường trực ủy ban cho rằng dự thảo luật cần có những quy định theo hướng sắp xếp, tổ chức lại hệ thống các cơ quan báo chí, đặc biệt là các cơ quan báo chí của cơ quan, tổ chức hưởng ngân sách nhà nước nhằm nâng cao chất lượng báo chí và giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước”.

“Tránh can thiệp 
quá sâu”

Liên quan đến trách nhiệm của cơ quan chủ quản báo chí, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho rằng quy định người đứng đầu cơ quan chủ quản phải chịu trách nhiệm về sai phạm của cơ quan báo chí là rất khó.

“Tôi có thời gian mười năm làm ở Trung ương Đoàn, đây là cơ quan có nhiều báo, cũng từng đi kiểm điểm sai phạm. Tôi thấy làm sao có thể đòi hỏi tổng biên tập phải báo cáo nội dung tin bài với bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn trước khi xuất bản?

Bây giờ người ta xuất bản tin bài trên báo điện tử từng phút, làm sao cơ quan chủ quản phải chịu trách nhiệm đến từng tin, bài khi mà cơ quan chủ quản không kiểm duyệt? Tôi thấy rằng tổng biên tập phải có trách nhiệm rất lớn trước các nội dung đưa lên báo” – bà Mai bày tỏ.

“Hiến pháp quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nhưng đọc dự thảo thì tôi thấy nội dung chỉ chú trọng đến nghề làm báo, rồi làm thế nào để quản lý báo chí, chứ không phải là để thể hiện quyền tự do báo chí của công dân.

Chúng ta dường như chỉ đang đề cập đến báo chí và nhà báo thôi, chứ không thấy đề cập quyền tự do báo chí của công dân” – Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý bình luận.

Trong khi đó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước đề nghị làm rõ thực trạng kinh tế thị trường ảnh hưởng thế nào đến tổ chức, hoạt động của cơ quan báo chí, ảnh hưởng đến mối quan hệ của cơ quan báo chí với các chủ thể khác thế nào.

Đồng thời phải chỉ rõ là làm luật này thì hoạt động báo chí của VN hội nhập với thế giới như thế nào, bởi vì nhiều lĩnh vực khác chúng ta đã hội nhập rồi.

Trưởng Ban Dân nguyện Nguyễn Đức Hiền lưu ý luật này là Luật báo chí chứ không phải là Luật quản lý báo chí. Do đó phải thể hiện quyền tự do báo chí của người dân thế nào để tạo điều kiện cho công dân tham gia hoạt động báo chí.

“Tôi đọc báo điện tử thấy các phản hồi của người dân rất có giá trị, tiếng nói lạc lõng thì ít thôi, còn lại đều là tiếng nói đóng góp thiết thực, chân tình” – ông nói.

Dự án luật sẽ được trình Quốc hội thảo luận vào kỳ họp 
tháng 10.

Chẳng lẽ cái gì khó thì không quản lý?

Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son cho biết: “Một số trang thông tin điện tử, mạng xã hội hiện nay không thuộc điều chỉnh của luật này. Nếu chúng ta thừa nhận thì vô hình trung chúng ta thừa nhận trang tin điện tử, blog cá nhân là báo chí.

Như vậy là chúng ta lại thừa nhận có báo chí tư nhân. Có một số trang thông tin điện tử, blog cá nhân hoạt động như báo chí nhưng không phải là báo chí, cái ranh giới rất là hẹp. Các loại hình này chúng tôi đề nghị sẽ điều chỉnh bằng một nghị định”.

Chưa hài lòng với cách giải thích này, ông Ksor Phước và Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Phan Xuân Dũng cho rằng đã là những loại hình liên quan đến báo chí, đến quyền tự do báo chí thì cần được điều chỉnh trong luật này.

“Tại sao các trang tin, mạng, blog lại không đưa vào đây, chẳng lẽ cái gì khó thì không quản lý à?” – ông Phan Xuân Dũng nêu câu hỏi.

LÊ KIÊN

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »