Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 9th, 2015

►Ba Sàm, Thông Tấn Xã Vĩa Hè lên 8 tuổi

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

Kính thưa quý độc giả,

Mới đó đã 8 năm kể từ khi trang Ba Sàm ra đời. Tám năm qua với nhiều đổi thay, nhưng Thông tấn xã Vỉa Hè chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ người dân.

Thông tấn xã Vỉa Hè của người dân, là nơi mà người dân có thể cất lên tiếng nói, nhưng nó chưa từng xài một đồng tiền thuế nào của dân, cũng như chưa hề nhận sự giúp đỡ tiền bạc của các tổ chức xã hội, hay của cá nhân nào.

Khác với báo Nhân Dân, người dân phải bỏ rất nhiều tiền để nuôi đội ngũ phóng viên, BTV, CTV… hùng hậu, nhưng người dân lại không đọc báo Nhân Dân, bởi tên báo là Nhân Dân, nhưng nó lại là “cơ quan ngôn luận của đảng và nhà nước”, tiếng nói của người dân không được cất lên ở đây. Và do vậy, nhiều người dân đã chọn cái vỉa hè này.

Để có được cái “vỉa hè” này chuyển tải thông tin đến độc giả, cũng như để người dân có thể cất lên tiếng nói, cái giá phải trả không hề nhỏ. Người sáng lập trang Ba Sàm là anh Nguyễn Hữu Vinh, cùng người phụ giúp là cô Minh Thúy, hiện vẫn còn đang trong vòng lao lý.

Chúng ta hãy cùng thổi nến, mừng sinh nhật 8 tuổi của trang Ba Sàm, cùng với anh Nguyễn Hữu Vinh và cô Minh Thúy trong tù!

Ngoài sự đóng góp của các độc giả và cộng tác viên, cũng xin tri ân một người đã từng đóng góp cho sự hình thành trang Ba Sàm. Đó là anh Trần Hoàng, là người đã giúp gầy dựng nên trang Ba Sàm từ những ngày đầu mới thành lập hồi tháng 9-2007, cho đến tháng 4-2009 (theo lời kể của anh Nguyễn Hữu Vinh). Và sau khi anh Trần Hoàng ngưng tham gia, một mình anh Nguyễn Hữu Vinh không thể làm hết những việc cần làm để phục vụ độc giả, nên đã xin đi nhà trẻ, và tôi đãbắt đầu tham gia trang Ba Sàm từ thời gian này. Mới đó mà đã 6 năm!

Nhân sinh nhật 8 tuổi, xin được tri ân quý độc giả, cùng tất cả những người đã từng đóng góp công sức để hình thành và phát triển trang Ba Sàm trong thời gian qua!

Ngọc Thu

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

► Trí thức Việt Nam có thể làm được gì cho đất nước?

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

Trí thức Việt Nam có thể làm được gì cho đất nước?

Việt Hoàng

8-9-2015

ethongluan

“…Ngày hôm nay họ đã có một thái độ giận dữ và bức xúc thật sự. Họ không còn ngọt nhạt, rào trước đón sau như mọi khi. Họ đã nói thẳng, nói thật và chỉ đích danh thủ phạm của sự tụt hậu mà Việt Nam đang gánh chịu ngày hôm nay chính là đảng cộng sản…”



Trí thức Việt Nam có thể làm được gì cho đất nước? (Việt Hoàng)

Chính quyền Việt Nam đang tưng bừng kỷ niệm 70 năm ngày quốc khánh 2/9 và Cách mạng Tháng 8 với những hoạt động vô cùng tốn kém và nhiều lời lẽ khuếch trương, tâng bốc đảng cộng sản lên tận mây xanh. Người yếu bóng vía nghe xong có thể cảm động khóc rưng rức vì tin rằng nếu không có đảng cộng sản quang vinh và bác Hồ vĩ đại thì sẽ không có họ ngày hôm nay…

Yêu-ghét, khen-chê, thích-không thích là cảm xúc của từng người và chúng ta nên tôn trọng các cung bậc cảm xúc đó. Có điều chắc chắn là không phải người dân nào cũng hồ hởi, phấn khởi chào đón ngày lễ mà đáng ra nó xứng đáng được ghi nhận và tự hào. Tại Sài Gòn, nhà văn Phạm Đình Trọng quyết định “ở nhà” trong ngày 2/9 để suy tư về thân phận của con người và đất nước Việt Nam để rồi “nhận ra trách nhiệm của một người Việt chân chính”.

Từ Pháp, tiến sĩ Nguyễn Thị Từ Huy thao thức đặt câu hỏi “Hiện tại của Việt Nam đang là như vậy, còn tương lai, chúng ta sẽ để mặc nó cho một nhóm người quyết định hay chính chúng ta sẽ quyết định chọn một tương lai khác với cái hiện tại đầy nhức nhối này?

Từ Na-uy nữ đạo diễn Song Chi cay đắng thốt lên rằng, có lẽ người Việt chưa đủ đau đủ nhục chăng? Và bà tự đặt câu hỏi cho mình và cho cả lương tri người Việt “Bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động?

Tuy rằng ba vị trí thức nói trên không đại diện cho cả tầng lớp trí thức Việt Nam nhưng ít nhiều nó đã phản ánh được tâm tư và trăn trở của những người trí thức chân chính. Suy nghĩ của họ đã vượt lên một tầm cao mới. Từ trước tới giờ, trí thức Việt Nam chỉ quanh quẩn trong việc chỉ trích những cái sai của đảng cộng sản và sau đó là góp ý, đề nghị với hy vọng là chế độ sẽ thay đổi tốt hơn và sau cùng là…ngồi đợi. Chấm hết.

Ngày hôm nay họ đã có một thái độ giận dữ và bức xúc thật sự. Họ không còn ngọt nhạt, rào trước đón sau như mọi khi. Họ đã nói thẳng, nói thật và chỉ đích danh thủ phạm của sự tụt hậu mà Việt Nam đang gánh chịu ngày hôm nay chính là đảng cộng sản.

Không những thế họ còn đi xa hơn (vì đã mất hoàn toàn kiên nhẫn sau 70 năm năn nỉ và hy vọng) khi đặt những câu hỏi như: “đâu là trách nhiệm của một người Việt chân chính?”, “còn tương lai, chúng ta sẽ để mặc nó cho một nhóm người quyết định hay chính chúng ta sẽ quyết định chọn một tương lai khác với cái hiện tại đầy nhức nhối này?”, “Bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động?”…

Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ và đồng ý với các vị trí thức trên rằng đã đến lúc thôi đừng chỉ trích hay chửi bới đảng cộng sản nữa. Chửi thế chứ chửi nữa cũng không thể làm cho chế độ này sụp đổ được. Hãy để những người dân oan mất đất, những nạn nhân trực tiếp hàng ngày mà chế độ gây ra… làm việc đó. Trí thức Việt Nam phải đi nhanh hơn, đi trước để dẫn dắt và hướng dẫn cho người dân. Đừng làm cho người dân, vì chịu đựng quá lâu mà không có một tia hy vọng nào để rồi họ tuyệt vọng trong chán chường. Một người dân oan mất đất phải tự thiêu đó là lỗi của chúng ta, những người được xem là trí thức, ở trong đó.

Chúng tôi cũng cho rằng là đã đến lúc trí thức Việt Nam cần thay đổi tư duy và hành động. Chúng ta cần thay đổi tư duy cũ rằng người trí thức sinh ra là để làm quan và phục vụ chính quyền bằng tư duy mới là người trí thức phải luôn đi trước về tư tưởng lẫn hành động để dẫn dắt và hướng dẫn cho quần chúng. Suy cho cùng thì với bất cứ một quốc gia nào, trong bất cứ thời điểm nào hay hoàn cảnh nào thì sứ mệnh và vai trò của giới trí thức vẫn là tiên phong và đại diện cho dân tộc đó. Vinh hay nhục, phát triển hay tụt hậu, phồn vinh hay nghèo khổ đều do tầng lớp trí thức mà ra. Người dân không có lỗi vì người dân nơi nào cũng thế, đa số chỉ lo làm ăn và không mấy quan tâm đến chính trị. Đặc tính của quần chúng là không kiên nhẫn, không lãng mạn và rất thực dụng (luôn tìm các giải pháp cá nhân như luồn lách để tồn tại).

Tầng lớp trí thức Việt Nam đã có một bước nhảy vọt về tư duy đó là chuyển từ trạng thái thụ động, chờ đợi sang tâm thế bức xúc và sẵn sàng hành động. Vấn đề quan trọng bậc nhất mà giới trí thức Việt Nam cần mổ xẻ và tìm đồng thuận ngay bây giờ là đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Chúng ta cần hành động những gì và hành động như thế nào? Rõ ràng là phong trào dân chủ và trí thức Việt Nam vẫn chưa tìm được tiếng nói chung, đồng thuận chung trên vấn đề này. Đây cũng là lý do chính khiến đối lập dân chủ chưa thuyết phục được quần chúng Việt Nam.

Đã đến lúc trí thức Việt Nam cần đoạn tuyệt với tư duy xin xỏ, năn nỉ, khuyên nhủ chính quyền cộng sản Việt Nam thay đổi về hướng dân chủ. Họ sẽ không bao giờ làm điều đó nếu trước mặt họ không có một tập hợp dân chủ hùng mạnh và có tầm vóc được đa số người dân ủng hộ. Cộng sản chỉ thay đổi khi không thể không thay đổi. Vẫn có những trí thức không hiểu được điều này nên họ vẫn kêu gọi đảng cộng sản phải thay đổi, phải thế này, phải thế nọ… Thế nếu đảng cộng sản không thay đổi thì sao? Chúng tôi không thấy những trí thức đó đưa ra bất cứ giải pháp nào.

Trở lại với ba vị trí thức tiêu biểu mà chúng tôi đề cập ở trên thì có thể thấy rằng họ đã nhận ra một điều rất căn bản của sự tranh đấu đó là phải có tổ chức. Bà Từ Huy cổ vũ cho các tổ chức “xã hội dân sự”, ông Phạm Đình Trọng cũng đã tham gia vào một tổ chức thuộc xã hội dân sự là “Văn Đoàn Độc Lập”. Trong thời gian qua các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam có những bước tiến và đột phá rất ngoạn mục, gần 20 tổ chức như vậy đã ra đời và có các hoạt động rất bổ ích.

Nếu đa số trí thức Việt Nam hiểu ra được một điều rằng tranh đấu cần có tổ chức thì đó là một sự thay đổi lớn. Không có tổ chức thì sẽ không có sức mạnh và sự thu hút. Các nhân sĩ (hoạt động chính trị độc lập, không thuộc một tổ chức chính trị nào) chỉ là những chiếc đũa và chính quyền cộng sản dễ dàng bẻ gẫy họ.

Các tổ chức thuộc về xã hội dân sự dù phát triển mạnh mẽ đến đâu cũng không thể thay thế cho các tổ chức chính trị dân chủ đối lập. Vì sao thì chúng tôi đã giải thích nhiều lần, một tổ chức xã hội dân sự chỉ có một vài mục tiêu cụ thể và giới hạn. Các tổ chức xã hội dân sự không có tham vọng cầm quyền vì các tổ chức này độc lập với mọi chính quyền. Trong khi đó các tổ chức chính trị dân chủ đối lập là có tham vọng cầm quyền để thực thi những chương trình mà họ đã đề nghị trước đó.

Như vậy, chúng ta cần đi đến một kết luận quan trọng là muốn Việt Nam thay đổi và có dân chủ thì trí thức Việt Nam cần tiến thêm một bước quyết định nữa đó là hãy dấn thân chính trị bằng cách tham gia vào một tổ chức chính trị dân chủ đối lập, góp phần tạo ra một lực lượng chính trị khác ngoài đảng cộng sản nhằm tạo ra một đối trọng hùng mạnh và có tầm vóc, buộc đảng cộng sản phải ngồi vào bàn đàm phán để thay đổi Việt Nam về hướng dân chủ một cách dứt khoát và trong hòa bình.
Chúng tôi mạnh mẽ khẳng định rằng nếu không có một lực lượng chính trị đối lập hùng mạnh làm đối trọng thì đảng cộng sản Việt Nam sẽ không bao giờ thay đổi. Mọi cải cách mà đảng cộng sản đề nghị chỉ là để câu giờ và kéo dài sự cai trị của đảng cộng sản. Cuộc tranh đấu mà chúng ta đang theo đuổi là một cuộc cách mạng thật sự, rất cam go và quyết liệt chứ không hề đơn giản. Chúng ta cố gắng để cuộc cách mạng này diễn ra trong hòa bình và không có bạo lực. Chúng tôi rất đồng ý với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ với bài phân tích rất rõ ràng về chủ đề này trên BBC (Cách mạng bất bạo động cho Việt Nam)
Có nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan khiến cho tầng lớp trí thức Việt Nam, không phải ai cũng có thể tham gia vào một tổ chức chính trị. Tuy nhiên một việc mà mọi trí thức Việt Nam đều có thể làm được và nên làm đó là hãy xem việc mình không tham gia vào một tổ chức chính trị như là một ngoại lệ thay vì một thông lệ. Trí thức Việt Nam cần nhìn nhận sự hạn chế của bản thân thay vì xem đó là một lựa chọn “sáng suốt” khi không tham gia vào một tổ chức chính trị. Chúng tôi ghi nhận và biết ơn nhà văn Phạm Đình Trọng rất nhiều khi ông đã bỏ thời gian để đọc Dự Án Chính Trị 2015 (DACT 2015)-Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai và rồi có bài viết “Một luận cương khai sáng”.
Chúng tôi cho rằng tư tưởng và nhận thức chính trị của ông Phạm Đình Trọng đã đạt đến mức cao nhất khi ông cho rằng “sứ mệnh lịch sử đầu tiên của luận cương Khai Sáng chính là thức tỉnh những trí thức yêu nước và tập hợp họ lại thành đội ngũ trí thức chính trị và đội ngũ trí thức chính trị đó sẽ đưa luận cương Khai Sáng vào đời sống chính trị đất nước, đưa đất nước Việt Nam thân yêu từ bóng đêm nô lệ độc tài ra ánh sáng dân chủ, phát triển”.
Một câu hỏi rất thú vị liên quan đến DACT 2015 của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (THDCĐN) đó là liệu dự án chính trị này có đánh bại được chế độ độc tài hay không? Ông Nguyễn Gia Kiểng đã trả lời rất rõ ràng với tấ cả sự khiêm tốn rằng, nếu đối lập dân chủ Việt Nam làm đúng như lộ trình năm bước mà chúng tôi đề nghị thì cũng có thể chưa chắc đã thành công nhưng nếu không làm theo lộ trình năm bước đó thì chắc chắn là sẽ thất bại. Chúng tôi cho rằng một cuộc “vận động tư tưởng” phải đi trước một cuộc “vận động chính trị” hay một cuộc cách mạng. Chiến thắng về tư tưởng sẽ dẫn đến chiến thắng về chính trị. Không có một lộ trình, không có một giải pháp thay thế cho giải pháp cộng sản hiện nay, không có một tương lai đáng mơ ước cho mọi người Việt Nam thì cuộc tranh đấu này sẽ bế tắc vì không động viên được quần chúng.
Chúng tôi xin trả lời một thắc mắc nữa của một thân hữu là “Làm thế nào để DACT 2015 đến được với đa số người dân Việt Nam? Liệu có được bao nhiêu người Việt Nam biết đến dự án chính trị này?”. Đây là một câu hỏi rất thú vị và thật ra là chúng tôi đã trả lời rồi, tuy nhiên chúng tôi sẽ kiên nhẫn nhắc lại, hy vọng là mọi người sẽ hiểu và chia sẻ với chúng tôi. Sự thật là không có một tác phẩm tư tưởng nào viết trực tiếp cho quần chúng, kể cả những tác phẩm dành riêng cho quần chúng. Ví dụ giáo lý hay kinh thánh của các tôn giáo như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo… Các giáo sĩ của các tôn giáo này đã liên tục giảng giải giáo lý của mình trong suốt hơn hai nghìn năm qua và vẫn tiếp tục công việc đó hàng ngày hàng giờ. Chủ nghĩa Mác-Lênin rõ ràng là độc hại và ảo tưởng nhưng sỡ dĩ nó đến với quần chúng các nước kém phát triển là nhờ sự tuyên truyền của tầng lớp trí thức các nước đó.
DACT 2015 của THDCĐN cũng vậy. Tác phẩm tư tưởng này chỉ có thể đến được với đa số người dân Việt Nam qua sự trung gian và chuyên chở của tầng lớp trí thức Việt Nam nói chung và của các thành viên THDCĐN nói riêng. Suy cho cùng thì bất cứ một tư tưởng mới mẻ nào cũng cần đến sự kiểm tra và sàng lọc của tầng lớp trí thức tinh hoa. Nếu không thuyết phục được giới trí thức thì không thể nào thuyết phục được người dân và nếu chỉ nhắm vào thuyết phục người dân mà bỏ qua giới trí thức thì cũng không thể thành công và thành công nếu có, cũng rất mong manh và nguy hiểm.

Như vậy, nếu trí thức Việt Nam đã nhận ra rằng Việt Nam cần có một cuộc cách mạng triệt để và ôn hòa để thay đổi số phận cho dân tộc Việt Nam thì cần lên tiếng ủng hộ cho một tư tưởng chính trị lành mạnh và đúng đắn để tạo ra được một lực lượng chính trị lương thiện và có trách nhiệm với đất nước. Cuối cùng là tham gia vào lực lượng chính trị yêu nước đó để cùng mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên của dân chủ và tự do thật sự.

Việt Hoàng

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Có lẻ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục…nên chưa có hành động

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

Có lẽ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục

RFA

Song Chi

23-8-2015
Những người dân ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ cho tới các nước Bắc Phi đã phải xuống đường thay đổi chế độ độc tài, đòi lại quyền tự quyết vận mệnh của đất nước, của dân tộc. Còn người Việt… ?
 

Có lẽ vì chúng ta chưa đủ đau, đủ nhục (Song Chi)

Lại sắp đến ngày 2/9. Đúng 70 năm kể từ khi đảng cộng sản cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo tư tưởng, đường lối của chủ nghĩa Mác Lênin, và 40 năm kể từ ngày Việt Nam thống nhất thành một, nhà cầm quyền sẽ lại tổ chức kỷ niệm tưng bừng, nhằm nhắc nhở người dân về những chiến thắng, những công lao tô vẽ trong quá khứ và cố làm người dân quên đi hiện thực ngổn ngang của đất nước. Nhưng có vẻ như những lời tụng ca quá khứ, công ơn của đảng của chính phủ ấy cứ mỗi năm mỗi nhạt đi chả mấy ai buồn nghe. Người dân bình thường còn phải chạy đuổi theo cuộc mưu sinh, chạy theo vật giá leo thang mỗi ngày, chạy trường cho con, chạy kiếm thêm tiền dành thân phòng khi tai nạn ốm đau, tuổi già sức yếu… ; còn đám trẻ vô tư vô lo thì chỉ coi ngày 2/9 như thêm một ngày nghỉ lễ tha hồ ăn chơi.
 
Còn lại những ai có lòng với đất nước, cứ mỗi dịp 2/9, 30/4 và những ngày lễ khác của chế độ là chúng ta lại đối diện với những câu hỏi : độc lập thống nhất đã bao nhiêu năm rồi, nhưng tại sao Việt Nam vẫn cứ mãi đói nghèo lạc hậu, người dân chưa được hưởng tự do dân chủ, ấm no hạnh phúc thật sự, Việt Nam đang đứng ở đâu trên thế giới và sẽ đi về đâu, bao nhiêu năm nữa thì người Việt có thể bắt đầu xây dựng lại từ đầu một nước Việt Nam theo một thể chế tự do, dân chủ, tam quyền phân lập ?
 
Tôi không muốn nhắc đến câu hỏi ngớ ngẩn vừa sai từ cách đặt vấn đề vừa tỏ ra mỵ dân của ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam“Tại sao chúng ta tốt mà vẫn nghèo, bây giờ phải làm gì ?” Nhưng riêng phần tại sao Việt Nam vẫn cứ đói nghèo, có lẽ phần lớn trong chúng ta đều đã có câu trả lời từ thực tiễn đất nước, đó là đảng cộng sản Việt Nam đã đi sai đường, đã chọn sai mô hình thể chế chính trị, sau nhiều năm lại bị tha hóa biến tướng trở thành một đảng độc tài, tham nhũng nặng nề, và từ chối mọi cơ hội thay đổi theo hướng tự do dân chủ đa đảng. Khiến cho đất nước không những bị kềm hãm không thể phát triển mà còn tụt hậu hàng chục, hàng trăm năm về mọi mặt so với các nước láng giềng chỉ trong vòng vài thập niên, chứ chưa nói đến thế giới, đạo đức văn hóa xã hội sa sút, con người Việt Nam cũng bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, chưa kể một phần lãnh thổ lãnh hải bị mất vào tay Trung Cộng, đất nước không chỉ bị lệ thuộc nặng nề vào Trung Cộng mà còn phải thường xuyên đối mặt với nguy cơ mất nước…
 
Tất cả những điều đó chúng ta, những ai đã nhìn ra sự thật sau 70 năm cầm quyền của đảng cộng sản đều đã biết, đã nói quá đủ, quá nhiều trong suốt những năm qua. Nhưng có phải chỉ có mình đảng cộng sản phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi chuyện ?
 
Đúng là đảng cộng sản đã sai lầm. Lý thuyết cộng sản chủ nghĩa theo tư tưởng Mác Lênin cùng với mô hình thể chế chính trị độc đảng độc tài, bao cấp hoàn toàn về kinh tế theo kiểu Liên Xô cũ đã bị phá sản, bị vứt vào sọt rác ngay cả quốc gia sản sinh ra nó, sau đó đảng cộng sản Việt Nam học theo đảng cộng sản Trung Quốc, cố lắp ghép sửa đổi thành mô hình độc đảng độc tài kết hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một hệ thống kinh tế hoàn toàn mới, chưa hề có trong lịch sử, còn về mặt tư tưởng thì tư tưởng Mác Lên nin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh, mà cũng không ai biết tư tưởng Hồ Chí Minh là gì. Sau gần hai mươi năm gọi là đổi mới, vận hành đất nước theo mô hình này thì kết quả như thế nào chúng ta cũng đã nhìn thấy.
 
Đúng là đảng cộng sản không vì dân vì nước, bất tài, bất lực, tham nhũng và phá hoại. Nhưng cứ thử hỏi vì sao cái đảng ấy vẫn tiếp tục ngồi trên đầu trên cổ dân ta cho đến nay, khi chỉ còn lại đôi ba nước trên thế giới là chấp nhận ?
 
Chúng ta có thể bị lừa lúc đầu, thậm chí khi đảng hô hào đổi mới vào thập niên 90 của thế kỷ XX chúng ta vẫn có thể tiếp tục bị lừa, nhưng đến bây giờ, ai bắt chúng ta tiếp tục tự lừa mình sau chừng đó năm, chừng đó thông tin cho phép chúng ta thừa sức so sánh giữa những lời nhà cầm quyền nói với những việc họ làm, so sánh tình hình thực tế nước ta và các nước khác ?

Cho dù chung quanh chúng ta không ít những tấm gương vươn lên nhanh chóng thần kỳ từ những nước bại trận sau chiến tranh thế giới thứ hai như Đức, Nhật Bản hoặc là nước nghèo, lạc hậu, thua cả miền Nam Việt Nam những năm 60-70 như Hàn Quốc, trở thành những cường quốc về nhiều mặt, được thế giới kính nể như hiện tại. Tất nhiên, do những quốc gia này không bị họa cộng sản, đã chọn lựa đúng mô hình thể chế chính trị để xây dựng và phát triển, nhưng không loại trừ một lý do : lòng kiêu hãnh dân tộc và cả tinh thần yêu nước khiến họ biết đau biết nhục từ sự thất bại, nghèo hèn, và quyết tâm xây dựng đất nước trở thành hùng cường.
 
Nói như vậy không có nghĩa người Việt không yêu nước, nhưng phải chăng lòng yêu nước ấy chưa đủ mạnh, cả cái đau cái nhục cũng chưa đủ ?
 
Nhà cầm quyền chưa thấy đủ đau đủ nhục khi Việt Nam dưới sự lãnh đạo của họ luôn luôn bị xếp hạng cao trên thế giới về tham nhũng, độc tài, kẻ thù của internet, nhưng lại luôn nằm trong số những quốc gia xếp hạng chót về phát triển kinh tế, GDP tính trên đầu người, chỉ số chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người, tự do báo chí, tự do ngôn luận…, và 40 năm sau khi thống nhất Việt Nam vẫn cứ phải vác mặt đi vay nợ thế giới, Việt Nam bây giờ không chỉ thua xa từ Indonesia, Singapore, Thái Lan mà ngay cả Campuchia có những khía cạnh cũng thua, ví dụ như chúng ta chỉ làm ra được con ốc vít trong khi Campuchia làm ra được xe hơi, Campuchia dù chính phủ cầm quyền vẫn độc tài nhưng dù sao cũng đã có đa nguyên đa đảng…
 
Họ cũng không thấy nhục khi người dân, thông qua mạng lưới báo chí bên ngoài, các trang blog, trang mạng xã hội… thường xuyên bày tỏ sự phẫn nộ, căm ghét, phê phán cái chế độ này, cái đảng và nhà nước này.
 
Họ cũng không thấy nhục trong mối quan hệ bất bình đẳng và luôn luôn thiệt hại với Trung Quốc, mối quan hệ đã khiến họ, dưới mắt người dân là một nhà cầm quyền hèn nhát, nhu nhược, thậm chí bị nhân dân chửi thẳng là bán nước, ghi thêm một vết nhơ muôn đời trong lịch sử.
 
Nhà cầm quyền thì như thế, còn người dân, dường như chúng ta cũng chưa đủ đau đủ nhục dù 40 năm sau khi thống nhất, quê hương vẫn lầm than, người Việt vẫn phải tha hương khắp nơi kiếm sống, đi làm thuê cho thiên hạ, đi làm dâu xứ người ; và vì cái nghèo, cái hèn nên nhiều người làm liều ăn cắp ở Nhật, đi buôn lậu, buôn cần sa ở Anh và các nước Đông Âu, đi làm gái ở Campuchia, Thái Lan, Singapore… Hình ảnh ngưởi Việt trên thế giới, do đó, cũng bị coi thường, rẻ khinh.
 
Người Việt chúng ta dường như chỉ biết lo vun quén cho bản thân, cho cái riêng mà ít khi nghĩ đến cái chung.
 
Vì chỉ nghĩ đến cái lợi riêng của đảng nên đảng cộng sản cương quyết không chia sẻ quyền lực cho bất cứ ai, bất chấp lợi ích của đất nước, của dân tộc.
 
Người dân thường thì chỉ lo cho cuộc sống của bản thân và gia đình, mũ ni che tai trước những bất công phi lý của xã hội và sự thối nát của chế độ, tự nhủ chuyện chính trị, chuyện nước đã có đảng, có nhà nước lo, mở miệng chỉ thiệt đến thân. Thói quen ít nghĩ đến cái chung bắt đầu từ những hành vi rất nhỏ trong cuộc sống, như nhà mình thì giữ thật sạch nhưng con hẻm chung có bẩn cũng mặc kệ, hoặc sẵn sàng vứt rác nơi công cộng, cái gì của mình thì tiết kiệm, dè sẻn nhưng của chung thì hoang phí. Chẳng hạn từ thời bao cấp, công nhân viên vì đồng lương không đủ sống đã tìm cách bớt xén, thủ lợi ở cơ quan từ việc xài điện chùa, nước chùa, điện thoại chùa cho tới dùng giờ công làm việc riêng…
 
Quan chức từ cấp thấp đến cấp cao khi đã ngồi vào chỗ chỉ biết nghĩ cách bám ghế càng lâu càng tốt, lo vơ vét càng nhiều càng tốt, bớt xén, rút ruột các công trình, đẻ ra những dự án khổng lồ, những tượng đài hoàng tránh, vung tiển cho những dịp lễ lạc, kỷ niệm hàng năm… để ăn, bất chấp chất lượng và hậu quả ra sao, bất chấp nước còn nghèo dân còn đói khổ. Rồi nào mải mê tranh giành ghế, đấu đá nhau, vét cho sạch xây nhà to, mả to, nhà thờ họ to, đưa con đi du học, chuyển tiền ra nước ngoài…
 
Trí thức còn đang phải mải kiếm thêm cái bằng thạc sĩ, tiến sĩ, nghệ sĩ còn đang phải chạy xin cái danh xưng nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân. Còn giới trẻ, một bộ phận còn đang than khóc cho một nhóm nhạc K-pop, cho một trận bóng đá thua của nước nhà, khóc thương theo những câu chuyện lâm li của những cuốn tiểu thuyết ngôn tình của Trung Quốc, say sưa theo dõi đời tư của ca sĩ này người mẫu kia, chạy theo mẫu điện thoại mới nhất, quần áo mốt nhất, hay xuống đường đánh nhau vì hai hot girl, thậm chí tệ hơn, ăn chơi đốt đời với ma túy thuốc lắc v.v. Chỉ một bộ phận giới trẻ chăm học, nghĩ tới tương lai nhưng cũng vẫn là tương lai của chính mình hơn là tương lai của đất nước.
 
Vì chưa đủ nhục đủ đau, vì làm việc gì cũng chỉ nghĩ tới mình nghĩ tới hai chữ Việt Nam sau, nên không thèm quan tâm đến cái nhìn của thế giới, từ chuyện hành xử thiếu văn minh, ăn cắp móc túi khi đi ra bên ngoài, cho tới những công trình thể hiện bộ mặt Việt Nam với thế giới mà cũng làm như mèo mửa, một ví dụ mới nhất là về sự nhếch nhác của Nhà Việt Nam tại Expo Milano 2015 (Ý), mà dư luận mới được biết sau khi chủ một Facebook đăng tải hình ảnh và bài viết phản ánh.
 
Chúng ta cũng thường chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến cái hại lâu dài, ví dụ như nạn chặt chém du khách nhất là khách nước ngoài, không nghĩ đến việc khách nước ngoài vì thế mà không muốn quay lại, gây hại chung cho đất nước trong đó có chính bản thân mình.

Nhiều người đã từng nhận xét Việt Nam không phải là nước đang phát triển hay chậm phát triển mà là khó phát triển. Còn chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan, trong bài nói chuyện trước các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong cả nước tại Đà Nẵng mới đây, đã nói : “Một số chuyên gia WB còn nói đùa Việt Nam có lẽ là mô hình kỳ lạ nhất thế giới. Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển ! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển !” – chuyên gia Phạm Chi Lan nói một cách khá chua chát” (“Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới : Nước… không chịu phát triển !” (Info.net).
 
Người Việt chúng ta cũng rất giỏi chịu đựng. Đường ống Sông Đà bị vỡ tới 13 lần, giữa thế kỷ XXI mà người dân thủ đô phải xếp hàng lấy nước như thời bao cấp nhưng chúng ta vẫn chịu được, bị Bộ giáo dục hành suốt bao nhiêu năm qua bao nhiêu lần cải cách, thay đổi xoành xoạch vẫn chịu được, tiền thuế của mỗi người dân chúng ta bị cái nhà nước này tiêu xài phung phí, ăn ngập họng, làm ăn thua lỗ, thất thoát, bắt dân phải gánh nợ, chúng ta vẫn chịu được v.v. và v.v.
 
Một chế độ tồi tệ đến thế chúng ta vẫn chịu được. Thì là lỗi của chúng ta hay lỗi của nhà cầm quyền ?

Có vẻ như lâu nay lối thoát duy nhất của chúng ta là… chửi. Chúng ta chửi chế độ, chửi bọn quan tham, bọn bán nước, bọn bất tài… Chưa bao giờ trước đây người dân Việt Nam từ ông tài xế taxi, bà bán bún ngoài chợ cho tới dân trí thức, các blogger, nhà báo tự do…có thể thoải mái chửi chế độ, chửi nhà cầm quyền đến thế. Nhà cầm quyền có biết không ? Thừa biết. Nhưng tại sao họ vẫn để lơ ? Thứ nhất là vì người ta chửi nhiều quá, nếu bất cứ ai chửi chế độ cũng bắt bớ, giam cầm thì có mà bắt mà giam hàng chục triệu người. Thứ hai, bởi vì chửi không làm cho chế độ này sụp được, thậm chí chửi nhiều khi còn là một cách xả xú páp, chẳng thà để dân chửi cho hả rồi dân lại lùi lũi lo kiếm ăn còn hơn dân ôm lấy nổi căm giận trong lòng và một ngày xuống đường, đấu tranh lật đổ chế độ.
 
Chúng ta chửi không làm cho chế độ này sụp đổ được, cũng như chúng ta chửi Trung Cộng không làm cho Trung Cộng sợ mà không dám tiếp tục gây hấn, cướp phá ngư dân Việt, hay xâm lấn dần lãnh hải lãnh thổ Việt Nam.
 
Những người dân ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ cho tới các nước Bắc Phi đã phải xuống đường thay đổi chế độ độc tài, đòi lại quyền tự quyết vận mệnh của đất nước, của dân tộc.
 
Còn người Việt. Bao giờ thì nỗi đau, nỗi nhục, nỗi giận dữ của chúng ta đủ mạnh để biến thành hành động ?
 
Song Chi
Theo RFA, 23/08/2015 (songchi’s blog)
—-————————————————-

Rốt cuộc, những câu hỏi này (« phải làm gì ? », « phải sống như thế nào ? ») sẽ có giá trị chung và mang một ý nghĩa rộng lớn hoặc mang lại hiệu quả thiết thực chỉ khi nào mà mỗi người chúng ta tự đặt cho chính mình. Nghĩa là chỉ khi nào sự trăn trở về lối sống, sự khao khát hành động trở thành nhu cầu nội tâm của từng người thì lúc đó xã hội mới có đủ động lực để thay đổi.

Thực ra việc chúng ta đòi hỏi những người đang tranh đấu (hay bất kỳ ai) phải có câu trả lời cho các câu hỏi đang ám ảnh chúng ta là một đòi hỏi không thỏa đáng. Càng không thỏa đáng trong trường hợp chúng ta khoanh tay ngồi nhìn, đóng vai người quan sát và đòi hỏi những người đang tranh đấu phải chỉ ra cho chúng ta phải làm gì để có kết quả cuối cùng. Đòi hỏi đó không thỏa đáng, bởi vì những người tranh đấu đang đi tìm câu trả lời bằng chính hành động của họ, và họ hành động theo niềm tin của họ, tin rằng họ đang làm điều cần phải làm, dù có thể thất bại, dù phải trả giá và không biết kết quả sẽ như thế nào, nhưng họ vẫn làm theo sự thúc đẩy nội tâm của họ.

Để chứng minh cho điều này, tôi dẫn lại sự việc rằng, vào những năm 1970, dù Havel hành động theo sự dẫn dắt của đòi hỏi nội tâm và theo sự phân tích của lý trí, nhưng ở thời điểm ấy ông không có câu trả lời chắc chắn và không hình dung được kết quả của các hoạt động mà ông đang tiến hành, không hình dung được kết cục của Liên Xô và Đông Âu vào khoảng mười năm sau đó.

Vì không có câu trả lời chắc chắn cho tương lai, nên Havel lúc đó hình dung ra hai khả năng, tôi trích nguyên văn, và tách câu văn của Havel thành 2 đoạn cho độc giả dễ theo dõi :

  1. Hoặc là hệ thống hậu toàn trị sẽ tiếp tục phát triển (nghĩa là, sẽ có khả năng tiếp tục phát triển), và do đó, chắc chắn sẽ tiến gần hơn đến viễn cảnh đáng sợ mà Orwell nói về thế giới của sự thao túng toàn diện [Ý nói thế giới được mô tả trong tác phẩm 1984 của G. Orwell (Người dịch)], trong khi mọi biểu hiện của sống trong sự thật sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn;”

  2. hoặc là đời sống độc lập của xã hội(…), trong đó có các “phong trào bất đồng chính kiến”, sẽ từ từ nhưng chắc chắn trở thành một hiện tượng xã hội ngày càng quan trọng hơn, có vai trò thực sự trong đời sống xã hội, phản ánh ngày càng rõ ràng hơn và ảnh hưởng đối với tình hình chung cũng ngày càng tăng lên. Đương nhiên là đấy luôn luôn chỉ là một trong nhiều tác nhân có ảnh hưởng tới hoàn cảnh và nó chỉ vận hành trong khung cảnh và trong sự phối hợp với những tác nhân khác và phù hợp với khung cảnh đó.” (Trích “Quyền lực của kẻ không quyền lực”, viết năm 1978).

Dù Havel lúc đó không hình dung được một kết cục cụ thể, chỉ dám nói tới ảnh hưởng đối với tình hình chung khi các phong trào đấu tranh được nhân rộng và xã hội có được đời sống độc lập, nhưng sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã chứng minh khả năng thứ hai trong phán đoán của Havel. Sự phát triển của các phong trào bất đồng chính kiến và sự lớn mạnh của xã hội dân sự rút cuộc đã tác động tới cấu trúc chính trị và làm thay đổi toàn bộ xã hội, đã làm chuyển động toàn bộ hệ thống toàn trị Đông Âu.

Tuy nhiên, nếu so với Đông Âu thì phải chăng tình hình của Việt Nam dường như lại đang chứng minh cho khả năng thứ nhất trong phán đoán của Havel? Liệu có phải Havel có lý khi nhìn thấy chủ nghĩa toàn trị tiếp tục phát triển, trong trường hợp các hoạt động bất đồng chính kiến và các hoạt động xã hội dân sự không đủ mạnh để trở thành phong trào rộng lớn, và thực tế Việt Nam đang ở trong trường hợp này? Liệu có phải sự tồn tại quá lâu trong cơ cấu toàn trị đã khiến cho hệ thống quyền lực ở nước ta hiện nay đã đạt tới sự thao túng toàn diện, còn người dân thì đã đánh mất thói quen sống trong sự thật? Liệu có phải chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi cái viễn cảnh đáng sợ mà Orwell đã tiên báo bằng tác phẩm văn học và Havel đã tiên báo trong tiểu luận chính trị của ông?

Câu trả lời không do nhóm đặc quyền lãnh đạo quyết định, không do nhóm thiểu số những người đang tranh đấu quyết định, câu trả lời do chính tất cả mọi người trong xã hội quyết định.

Vì sao?

Vì nhóm đặc quyền lãnh đạo hiện nay không đưa ra những dấu hiệu cho thấy rằng có người trong số họ hiểu được ý nghĩa thực sự của công việc lãnh đạo (thế nào là công việc lãnh đạo một quốc gia, cần phải trở lại với vấn đề này vào một dịp khác; có lẽ người lãnh đạo cuối cùng trong bộ máy chứng tỏ mình hiểu được ý nghĩa của công việc quản lý là ông Nguyễn Sự, nhưng ông đã chủ động từ bỏ hệ thống cách đây không lâu). Đối với họ làm lãnh đạo là để phục vụ cho lợi ích cá nhân và lợi ích gia đình. Và để phục vụ cho lợi ích cá nhân thì bằng mọi giá họ phải duy trì cơ chế chính trị hiện tại, cơ chế toàn trị. Vì thế, dĩ nhiên họ chỉ có một quyết định: dẫn chúng ta, và cả họ, thẳng tới thế giới của Orwell, thẳng tới trại súc vật. Đó là điều mà họ đã và đang làm, kể từ khi họ giành được quyền lực. Họ đang xây cái trại súc vật và nhốt cả họ lẫn chúng ta vào đó.

Những người đang tranh đấu hiện nay không quyết định được tình thế, bởi họ quá thiểu số, quá đơn độc, không có được sự ủng hộ của số đông, trong khi chính quyền nắm toàn bộ các bộ máy quyền lực: công an, quân đội, truyền thông, giáo dục, luật pháp… Ngoài ra, những câu hỏi “làm gì?”, “sống như thế nào?” những người đang đấu tranh đã đặt ra cho chính họ, và họ đang trả lời bằng chính hành động của họ: lập ra một blog, lập ra một tờ báo, lập ra một nhóm, tham gia vào một phong trào… Gần đây nhất Hội Cựu Tù nhân Lương tâm và Hội Anh em Dân chủ đã mở kênh truyền hình “Lương tâm TV”. Những người đó, họ đang làm và đang sống trong sự thật, và chấp nhận trả giá cho lối sống của họ.

Vậy, rốt cuộc, tình thế chỉ có thể xoay chuyển khi có một áp lực đủ lớn của toàn xã hội. Chính Havel cũng đã nói điều này trong tiểu luận chính trị mà tôi đã dẫn trên đây: “Cố gắng cải cách chính trị không phải là nguyên nhân làm cho xã hội bừng tỉnh, mà là kết quả chung cuộc của sự bừng tỉnh ấy.” Để có thể dẫn tới các cải cách chính trị thì cần có sự bừng tỉnh của toàn bộ xã hội. Kể cả khi cải cách chính trị được tiến hành từ bộ phận lãnh đạo cấp cao, thì hành động cải cách ấy cũng là kết quả của sự bừng tỉnh của đa số mọi người. Nghĩa là sự thức tỉnh của xã hội tạo áp lực lên bộ máy chính trị và dẫn tới thay đổi. Trường hợp Liên Xô và Đông Âu là minh chứng rõ rệt của điều này.

Và dĩ nhiên, sẽ không có sự thức tỉnh của toàn xã hội nếu không có sự bừng tỉnh của mỗi người.

Vậy, những câu hỏi “làm gì?”, “sống như thế nào?”, mỗi người phải tự đặt ra cho chính mình, và tìm câu trả lời cụ thể ở trong chính vị thế cụ thể của mình. Bất kỳ ai cũng có thể sống trong sự thật, theo cương vị của mình. Đó là điều mà một giáo viên như Đỗ Việt Khoa đã làm. Ta hãy hình dung một viễn cảnh: có khoảng 80% (hoặc 50% thôi) giáo viên sống và hành động như Đỗ Việt Khoa, lúc đó nền giáo dục có thể vận hành lành mạnh. Nhưng thực tế là chúng ta chỉ có một số rất ít giáo viên dám “sống trong sự thật”, vì vậy mà Đỗ Việt Khoa phải bật ra khỏi ngành giáo dục, và ngành này hiện đang rất thối nát, bằng chứng chúng ta đã có đủ, không cần phải nhắc lại. Nhưng không riêng gì giáo dục, mọi ngành đều thối nát như vậy. Bởi vì trong xã hội chúng ta, miền Bắc tính từ 1954 và miền Nam tính từ 1975, guồng máy chính trị đã đẩy rất xa hiện tượng mà Havel nhìn thấy rõ ở Đông Âu vào thập kỷ 70: hệ thống làm cho con người tha hóa, và đến lượt mình con người đã tha hóa lại bảo vệ hệ thống ấy như là bảo vệ chính họ, bởi vì họ là một phần của hệ thống, chính họ làm nên hệ thống.

Liệu chúng ta còn có khả năng sống trong sự thật? Liệu chúng ta còn có khả năng thoát khỏi sự dối trá?

Chính việc sống trong sự thật sẽ góp phần làm lung lay nền tảng của chế độ toàn trị, bởi cách sống đó chống lại sự dối trá vốn là nguyên lý của chế độ toàn trị.

Sống trong sự thật không hẳn là bất đồng chính kiến. Đỗ Việt Khoa không phải là một người bất đồng chính kiến, ông ấy chỉ muốn sống và làm việc một cách trung thực, ông chống lại sự gian lận trong thi cử. Nhưng chính những người như ông ấy, bằng cách sống trong sự thật, buộc phải chống lại sự dối trá của xã hội, và do đó sẽ đi tới chỗ tạo ra một đời sống độc lập. Havel cũng nói rõ rằng những người như thế sẽ đóng góp vào hoạt động xã hội dân sự mà không nhất thiết phải là bất đồng chính kiến. Havel viết: “những người, bằng cách này hay cách khác, tham gia vào đời sống độc lập của xã hội, những người hoàn toàn không nhất thiết phải là “người bất đồng chính kiến”. Đấy có thể là các nhà văn viết theo ý mình mà không quan tâm tới bộ máy kiểm duyệt hay đòi hỏi của chính quyền, những người truyền bá tác phẩm của họ, dưới dạng samizdat [tư liệu cấm], đấy là nói khi các nhà xuất bản của nhà nước không chịu in. Đấy cũng có thể là các nhà triết học, sử học, xã hội học, hay tất cả những nhà nghiên cứu độc lập – đấy là nói những người không thể làm việc với các kênh chính thức hoặc bán chính thức – truyền bá tác phẩm của mình dưới dạngsamizdat, hay những người tổ chức các cuộc thảo luận, giảng bài và hội thảo do tư nhân tổ chức. Đấy có thể là các giáo viên, những người kín đáo dạy thanh niên những điều vốn bị cấm kị trong các trường công, những linh mục đang tại vị, hoặc đã bị phế truất, nhưng vẫn cố gắng thực hành đời sống tôn giáo tự do; các họa sĩ, nhạc sĩ và ca sĩ, những người đang lao động nghệ thuật mặc dù bị các cơ quan của nhà nước theo dõi; và tất cả những người, bằng mọi phương tiện sẵn có, cố gắng thể hiện và bảo vệ các lợi ích xã hội thực sự của người lao động, trả lại ý nghĩa đích thực cho các công đoàn, hay sáng lập các công đoàn độc lập; những người không sợ hãi khi tìm cách buộc các quan chức phải lưu tâm tới những trường hợp bất công và những người đấu tranh để buộc người ta phải tuân thủ luật lệ; và những nhóm thanh niên đang thoát ra khỏi những hành động thao túng và sống theo ý của mình, sống theo những giá trị mà mình tôn trọng.”

Bao giờ có nhiều người trong chúng ta mong muốn sống trong sự thật và bao giờ mong muốn đó chuyển thành hành động khiến ta hành động, nghĩa là khiến ta chọn cách sống trong sự thật, như Đỗ Việt Khoa đã làm, thì lúc đó xã hội dân sự mới có thể lớn mạnh.

Tóm lại, những câu hỏi “làm gì?” và “sống như thế nào?” không thể là câu hỏi được đặt ra cho người khác. Đó là những câu hỏi mà mỗi người phải tự đặt cho chính mình, nếu chúng ta muốn xã hội thay đổi. Xã hội không thể thay đổi nếu chúng ta chỉ nhìn thấy lỗi của người khác, mà không thấy rằng nếu không có sự đồng lõa của mỗi người thì xã hội đã không thể vận hành theo cách thức hiện nay. Xã hội không thể thay đổi nếu mỗi người không tự thấy rằng chính mình sẽ phải đóng góp vào sự thay đổi đó, chứ không thể ngồi chờ người khác.

Hiện trạng của Việt Nam hiện nay đang là như vậy: chỉ có một số vô cùng ít những người tranh đấu cho sự thật và sống trong sự thật, còn lại gần như toàn bộ xã hội vẫn trong tình trạng mê ngủ. Nhiều người không phải là không biết, tức là đã tỉnh, nhưng chọn thái độ ngồi chờ và than thở mỗi khi có sự cố xảy ra. Than thở trong các quán cà phê, trên các bàn nhậu, trong các không gian riêng, nhưng không làm gì cả, ngay đến một chữ ký hoàn toàn không gây hậu quả gì họ cũng không ký. Nhưng nếu tất cả cùng chờ thì ai sẽ là người làm thay đổi xã hội và bao giờ có sự thay đổi xã hội? Câu trả lời quá dễ: chẳng có ai và chẳng bao giờ. Đấy là lý do khiến ở trên tôi nói rằng thiểu số quá ít ỏi những người đang tranh đấu ở Việt Nam sẽ không thể làm biến chuyển xã hội, nếu không có sự hỗ trợ của đa số dân chúng.

Và cũng sẽ khó có sự thay đổi nếu ta vẫn đổ lỗi cho một Lịch Sử chung chung và mơ hồ nào đó, nếu vẫn tự dối mình đằng sau cái công thức “sự lựa chọn của Lịch Sử” (cụ thể hơn, ví dụ như: “lịch sử đã chọn Hồ Chí Minh chứ không chọn Phan Châu Trinh”), bởi cái công thức đó ngăn không cho chúng ta thấy rằng chính chúng ta đã và đang lựa chọn số phận của chúng ta, rằng chính chúng ta đang làm nên Lịch Sử, sau khi mà lịch sử đã làm nên chúng ta. Nghĩa là, chúng ta không thể lựa chọn quá khứ, nhưng chính chúng ta là người quyết định hiện tại và tương lai của mình.

Người Đức đã không lảng tránh trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho Hitler và cho Marx, họ nhận trách nhiệm về quá khứ và tự nhận lấy trách nhiệm quyết định hiện tại và tương lai cho chính họ. Người Đức không nói “Lịch sử đã chọn Hitler” hay “Lịch sử đã chọn Marx”. Họ phân tích để hiểu vì sao Hitler và Marx đã được lựa chọn trong những bối cảnh cụ thể của lịch sử (chẳng hạn Hannah Arendt đã viết ba tập sách để phân tích các nguồn gốc chính trị, xã hội, kinh tế, lịch sử, văn hóa… đã dẫn đến sự hình thành của chế độ Hitler và chế độ Staline). Người Đức vẫn nghiên cứu về Marx, vẫn dạy Marx trong các trường đại học, nhưng họ đã từ bỏ mô hình được xây dựng dựa trên các ý tưởng ban đầu của Marx, mô hình Đông Đức. Họ phân tích để hiểu, để tránh các sai lầm trong quá khứ và để lựa chọn cho họ một tương lai khác chứ không để cho các bóng ma của quá khứ định đoạt cuộc sống của họ. Họ tự quyết định tương lai của mình.

Hiện tại của Việt Nam đang là như vậy, còn tương lai, chúng ta sẽ để mặc nó cho một nhóm người quyết định hay chính chúng ta sẽ quyết định chọn một tương lai khác với cái hiện tại đầy nhức nhối này?

Nice, 1/9/2015

Nguyễn Thị Từ Huy

——————————-
Ở Nhà
2-9-2015
Phạm Đình Trọng

“…Người Việt Nam chân chính làm sao có thể vui được trong ngày khởi đầu một kỉ nguyên nô lệ mới, ngày chấm dứt nô lệ nước ngoài và khởi đầu chế độ nô lệ trong nước, khởi đầu những nỗi đau…”

Ngày 2/9/2015, nhà nước cộng sản Việt Nam hoan hỉ diễu binh, diễu hành mừng 70 năm khuất phục được khí phách Việt Nam, tha hóa được Văn hiến Việt Nam trong vòng nô dịch cộng sản.

Những ngày này, người Việt Nam chân chính đều mang nặng những nỗi đau.

Nỗi đau 70 năm người Việt hận thù người Việt, người Việt giết hại, tù đày người Việt. 70 năm cả chục triệu người Việt chết thảm vì hận thù giai cấp, vì bạo lực chuyên chính. 70 năm gia đình li biệt, dân tộc thất tán, lang bạt khắp cùng trời cuối đất.

Nỗi đau đất đai hương hỏa của tổ tiên để lại không còn nguyên vẹn. Mất đất biên cương của lịch sử oai hùng. Mất đảo thiêng mang hồn cốt cha ông.

Nỗi đau đạo lí, văn hóa Việt Nam suy đồi. Lòng vị tha, đức nhường nhịn là nếp sống tự nhiên từ ngàn đời của người Việt đã thay bằng thói hiếu thắng chụp giật, tranh cướp. Đạo lí thương yêu, đùm bọc của người Việt “thương người như thể thương thân” đã thay bằng học thuyết bạo lực đấu tranh giai cấp vay mượn:

“Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu
Cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xit ta lin bất diệt!”

(Thơ Tố Hữu, một lãnh tụ, một nhà tư tưởng cộng sản)

Nỗi đau kẻ cướp đất cướp biển của tổ tiên, kẻ hàng ngày giết hại dân lành Việt Nam mà vẫn là đồng chí, vẫn là anh em của nhà nước cộng sản Việt Nam! Nỗi đau nhà nước của dân Việt lại đồng nhất với kẻ thù truyền kiếp của lịch sử Việt.

Người Việt Nam chân chính làm sao có thể vui được trong ngày khởi đầu một kỉ nguyên nô lệ mới, ngày chấm dứt nô lệ nước ngoài và khởi đầu chế độ nô lệ trong nước, khởi đầu những nỗi đau.

Hãy ở nhà soi vào nỗi đau để nhận ra thân phận người Việt hôm nay, nhận ra trách nhiệm người của một Việt chân chính.

Phạm Đình Trọng

anhbasam

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Nguyên nhân làm nợ công tăng cao: Giật mình về đơn giá xây dựng cho đầu tư công

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

đơn giá áp dụng làm dự toán xây dựng tại các công trình do nhà nước đầu tư như: chung cư, trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính… do Bộ Xây Dựng ban hành cao hơn rất nhiều so với giá thực tế…

Giật mình về đơn giá xây dựng cho đầu tư công

4-9-2015

Báo Thanh Niên

Giá dự toán xây dựng của Bộ xây dựng ban hành đối với các dự án công cao hơn rất nhiều so với giá thực tế là một trong các nguyên nhân đẩy nợ công lên cao - Ảnh minh họa: Mai VọngGiá dự toán xây dựng của Bộ Xây dựng ban hành đối với các dự án công cao hơn rất nhiều so với giá thực tế là một trong các nguyên nhân đẩy nợ công lên cao
– Ảnh minh họa: Mai Vọng

Mới đây, một cuộc hội thảo có liên quan tới đầu tư công trong xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh lại một lần nữa làm tôi giật mình khi biết đơn giá áp dụng làm dự toán xây dựng tại các công trình do nhà nước đầu tư như: chung cư, trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính… do Bộ Xây dựng ban hành cao hơn rất nhiều so với giá thực tế

Tại hội thảo, các chuyên gia đưa ra hàng loạt con số, chỉ nghe thôi đã thấy “choáng toàn diện”.
Báo Thanh Niên ngày 1.9 đưa tin, theo dự toán đơn giá xây dựng hiện hành thì 1m2 tường 20 cm mà Bộ Xây dựng xây dựng đơn giá thì chi phí vật tư là 140.000 đồng, nhân công 139.000 đồng… Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn Đực, Giám đốc Công ty TNHH tư vấn xây dựng Tân, một công ty chuyên về tư vấn xây dựng tại TP.HCM, giá chủ đầu tư trả nhân công cho nhà thầu chỉ 60.000 đồng/m2. Như vậy đơn giá nhân công theo dự toán cao hơn 2,31 lần so với nhân công thực tế.
Hay đơn giá theo dự toán sơn 1m2 tường hết 11.000 đồng tiền vật tư và 59.000 đồng trả cho nhân công trong khi thực tế chủ đầu tư trả nhân công cho nhà thầu chỉ 34.000 đồng.

Trong thực tế, khi xây dựng một công trình, giá nhân công thường thấp hơn giá vật tư, chỉ bằng khoảng 40% giá vật tư. Nhưng trong quy định dự toán của nhà nước, tiền trả cho nhân công lại cao hơn tiền mua vật tư. Cụ thể, đơn giá theo dự toán 1m2 xây dựng hoàn chỉnh thì tiền vật tư là 2.941.000 đồng và tiền cho nhân công là 2.956.000 đồng. Nhưng thực tế trong xây dựng tiền trả cho nhân công chỉ 1.179.000 đồng.

“Với mức giá mà nhà nước trả cho nhà thầu và thực tế nhà thầu trả cho nhân công thì nhà thầu lãi 50% số tiền”, ông Đực tính toán.

Ông Đực còn chỉ ra rằng, trong thực tế, khi xây dựng một công trình, giá nhân công thường thấp hơn giá vật tư, tức giá nhân công chỉ bằng khoảng 40% giá vật tư thì trong quy định dự toán của nhà nước, tiền trả cho nhân công lại cao hơn tiền mua vật tư. Cụ thể, đơn giá theo dự toán 1m2 xây dựng hoàn chỉnh thì tiền vật tư là 2.941.000 đồng và tiền cho nhân công là 2.956.000 đồng. Nhưng thực tế trong xây dựng tiền trả cho nhân công chỉ 1.179.000 đồng. Ông nói : “Đơn giá nhân công theo dự toán sẽ hơn 2,51 lần so với nhân công thực tế. Không những vậy, giá nhân công cao hơn vật tư là vô lý…”
Thật khó hiểu!
Một kiến trúc sư tại TP.HCM đã nêu ví dụ về vụ chặt cây xanh mới đây ở Hà Nội cho thấy nhiều khoảng tối. Theo dự toán, nhà nước chi trả là gần 36 triệu đồng/cây khoán gọn tất cả, từ đốn, hạ và vận chuyển nếu đường kính cây từ 1,2 m trở lên. Trong khi thực tế, chỉ cần bỏ ra khoảng 3 triệu đồng là có thể thuê được nhân công chặt một cây, cộng thêm tiền vận chuyển nữa sẽ đủ kinh phí hạ tới cả chục cây xanh. Không những vậy, chỉ mỗi khâu đánh dấu cây chặt mà nhà nước trả 670.000 đồng/cây thì quả là một sự lãng phí và vô lý hết sức.
Tôi chưa tán thành ý kiến của vị KTS nọ vì ông cho rằng những định mức và đơn giá này “được soạn trong phòng làm việc đã vài ba chục năm rồi”.
Nhưng tôi lại phần nào đồng tình với cái cách mà vị KTS phân tích: Cách đây 10 năm, khi chặt một cành cây thợ phải leo lên cây cắt thủ công, nên mỗi công thợ một ngày chỉ cắt 2 cành cây, mỗi cành 100.000 đồng, như vậy, mỗi ngày công nhân được trả 200.000 đồng. Còn bây giờ có máy móc hiện đại, mỗi ngày một công nhân có thể cắt 20 cành cây. Vì vậy, khi nhân lên nhà nước phải trả 2 triệu đồng/nhân công/ngày. Nhưng thực tế công ty cũng chỉ trả cho họ 200.000 đồng/ngày chứ làm gì có vị tiều phu nào ở Hà Nội có mức thu nhập đến 2 triệu đồng/ ngày như vừa nêu. Còn nếu như tôi nói sai, xin các cơ quan có trách nhiệm mách dùm , sẽ có rất nhiều người mơ được trở thành tiều phu lại được sống ở Thủ đô lắm.
Tôi cũng rất băn khoăn và không lý giải nổi, khi trên địa bàn Thủ đô đã từng xảy ra chuyện đơn vị thi công rút ruột công trình theo kiểu bớt lõi thép trong khâu làm móng, đại thể như cột bê tông lẽ ra phải có 20 thanh thép mới đúng thiết kế thì nay chỉ còn 17-18 thanh. Hoặc còn cách khác, vẫn đủ số thanh thép nếu” đếm cây nghiệm thu” thì họ thay bằng thép có đường kính nhỏ hơn để ăn bớt . Nghe mà khiếp vía vì hoang mang nếu ai đó định mua căn hộ…
Tuy kẻ làm bậy pháp luật đã xét xử, song các nhà chuyên môn lại cho rằng dù có bị rút ruột nhưng công trình vẫn an toàn, không đáng ngại vì còn có ngưỡng đã được dự phòng… Nếu quả vậy thì đúng là đầu tư công được tính toán xông xênh quá đi rồi, làm sao họ không tìm cách rút ruột công trình? Và nay, qua chuyện từ hội thảo trên, tôi cũng đã hiểu ra vấn đề.
Lâu nay, các chuyên gia kinh tế của chúng ta  luôn băn khăn về sự tụt hậu của Việt Nam so với một số nước trong khu vực như Singapore, như Thái Lan về năng suất lao động , nó quá chênh lệch nhau, có khi vênh đến cả chục lần. Lại càng không thể so với các nước có nền công nghiệp hiện đại ở các châu lục khác.
Vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, những ai ở miền Bắc Việt Nam như chúng tôi đều đã từng một thời rất thán phục nước Cộng hhòa Dân chủ Đức ( Đông Đức) bởi trình độ, công nghệ và hạ tầng cơ sở của họ có một khoảng cách khá xa so với các nước XHCN còn lại. Những tưởng với cái đà đó, CHDC Đức sẽ ngày một vững mạnh và bứt phá nhanh nhất trong các nước thuộc cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Ấy vậy mà , khi phe XHCN sụp đổ, chúng ta mới vỡ lẽ CHDC Đức còn lạc hậu về nhiều mặt so với những người Đức ở bên kia bức tường Berlin, đó là CHLB Đức (Tây Đức).  Sau gần nửa thế kỷ theo đuổi XHCN, khi sáp nhập vào Tây Đức, GDP của Đông Đức chỉ góp được 7% của cả nước Đức mới so với 93% của Tây Đức dù cho họ chiếm khoảng 1/3 dân số so với Tây Đức.
Nếu cứ vẫn giữ cho mình một cung cách tư duy năm xưa như thế, cung cách làm việc như thế, tôi thật khó tin trong một vài chục năm nữa Việt Nam có thể có cuộc bứt phá ngoạn mục, đuổi kịp các nước trong khu vực cũng không hề dễ dàng. Việc để đơn giá nhân công quá cao đương nhiên sẽ là mầm mống của những lãng phí và tham nhũng, qua đó, nó sẽ  đẩy tiền đầu tư công lên rất cao, cao đến phi lý là không thể chấp nhận.

Hành

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »