Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Chín 23rd, 2015

►Vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn ‘quyết liệt’ ủng hộ Formosa Hà Tĩnh?

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2015

VOA

Lê Anh Hùng

22-9-2015

Thủ tướng Việt Nam dự lễ cắt băng khánh thành một tổ máy đốt than của nhà máy nhiệt điện Formosa ngày 17/9

Formosa Hà Tĩnh, do tập đoàn Formosa đầu tư tại Hà Tĩnh, một tỉnh nghèo nằm ở phía bắc miền Trung, là một dự án đầy tai tiếng và mờ ám, khiến dư luận hết sức bức xúc và bất an suốt mấy năm qua:

Một doanh nghiệp Trung Quốc[i] được giao một phần lãnh thổ lên tới 3.300ha (bằng 1,2 lần diện tích Macao), bao gồm cả cảng nước sâu Sơn Dương, ở dưới chân Đèo Ngang, một vị trí cực kỳ xung yếu về an ninh – quốc phòng; [ii]

Hai văn bản quyết định đưa đến sự ra đời của dự án này đều do Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải thay mặt Thủ tướng ký: Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”;

Formosa Plastic Group, chủ đầu tư dự án Formosa Hà Tĩnh, là một tập đoàn Đài Loan – Trung Quốc chưa hề có kinh nghiệm gì về sản xuất gang thép.

Formosa Hà Tĩnh là dự án đầu tư nước ngoài được cả chính phủ trung ương lẫn chính quyền địa phương dành cho sự ưu đãi “vô tiền khoáng hậu”:  thời hạn thuê đất là 70 năm, vượt quá 20 năm so với quy định của Luật Đất đai năm 2003; miễn tiền thuê đất trong thời hạn 15 năm và chỉ thu tiền thuê đất trong thời hạn 55 năm với giá rẻ mạt (80 đồng/m2/năm, giá thuê mặt nước là 10 triệu đồng/km2/năm); miễn thuế đối với các mặt hàng tạm nhập tái xuất; miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng tạo tài sản cố định; được Thủ tướng Chính phủcho phép hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãi cao nhất: chỉ 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án (thuế suất thuế TNDN năm 2008 là 28%), miễn bốn năm đầu và giảm 50% trong chín năm tiếp theo; được nâng giới hạn cấp tín dụnglên 4 lần vốn tự có (coi như là được kinh doanh bằng vốn của Việt Nam); (…);

Formosa Hà Tĩnh đã cho xây dựng những công trình đáng ngờ như hầm ngầm hay cả toà nhà đúc bằng bê tông cực kỳ kiên cố, không có lấy một viên gạch nào;

PTT Hoàng Trung Hải đã cho phépFormosa Hà Tĩnh hoàn tất các thủ tục theo quy định để thực hiện đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân và hộ gia đình công nhân thuê hoặc mua; còn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đồng ý cấp cho Hà Tĩnh gần 300 tỷ đồng từ ngân sách trung ương để hỗ trợ dự án xây nhà ở cho công nhân, đặc biệt là hàng nghìn công nhân Trung Quốc, của BQL Khu kinh tế Vũng Áng.

Nhiều chuyên gia kinh tế đã lên tiếng cảnh báo về sự biệt đãi mà chính phủ Việt Nam dành cho Formosa Hà Tĩnh, một dự án như bao nhà máy khác của ngành công nghiệp thép vốn đang dư thừa công suất ở Việt Nam, tức là chỉ cán thép chứ không phải là luyện kim, khâu khó nhất trong ngành thép mà VN đang thiếu. Một khi Formosa Hà Tĩnh đi vào hoạt động thì hàng loạt doanh nghiệp thép trong nước đứng trước nguy cơ bị khai tử vì phải cạnh tranh trên một sân chơi không bình đẳng.

Bất chấp phản ứng gay gắt của dư luận trên cả báo chí “lề đảng” lẫn “lề dân”, cả PTT Hoàng Trung Hải lẫn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều tiếp tục thể hiện sự ủng hộ trước sau như một của họ đối với dự án Formosa Hà Tĩnh.

Mặc dù Thanh tra Chính phủ đã kết luận rằng việc chính quyền Hà Tĩnh cho Formosa Hà Tĩnh thuê đất trong thời hạn 70 năm là trái quy định của pháp luật, song Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đồng ý bảo lưu, không xét lại việc chính quyền địa phương nâng thời hạn giấy phép từ 50 năm lên 70 năm một cách trái pháp luật.

Theo VTV, trong chuyến thăm Formosa Hà Tĩnh ngày 17/9 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã “khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ đối với việc Tập đoàn này xây dựng một nhà máy lọc hóa dầu có công suất tới 16 triệu tấn, với vốn đầu tư trên 12 tỷ USD tại Khu kinh tế Vũng Áng, cũng nhưtiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa thành công”.

Chưa hết, cho dù bận trăm công ngàn việc “quốc gia đại sự” trên cương vị đứng đầu bộ máy hành pháp của một quốc gia 90 triệu dân, song dường như để thể hiện sự ủng hộ quyết liệt của mình, ngài Thủ tướng Việt Nam vẫn dành thời gian thân chinh tới dự lễ… khánh thành một tổ máy đốt than của Nhà máy Nhiệt điện Formosa, một “biểu tượng” cho tinh thần “độc lập – tự chủ” của “đặc khu Trung Quốc” mang tên Formosa Hà Tĩnh.

Với những gì nêu trên và đặc biệt là trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng tỏ rõ tham vọng bành trướng vốn đã kìm nén bấy lâu (như việc đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không ngừng bồi đắp các đảo đá mà họ xâm chiếm của VN ở Trường Sa, biến chúng thành những căn cứ quân sự liên hoàn, v.v.), dư luận hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi: Vì sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn “quyết liệt” ủng hộ một dự án đầy tai tiếng và mờ ám như Formosa Hà Tĩnh?

______

Ghi chú:

[i] Chính phủ Việt Nam vẫn coi Đài Loan là một vùng lãnh thổ thuộc Trung Quốc. Ngoài ra, theo chuyên trang Steel First ngày 4/10/2013 thì cả 4 công ty con của Formsa Plastic Group tham gia góp vốn vào dự án Formosa Hà Tĩnh – Formosa Plastics Corp, Nan Ya Plastics Corp, Formosa Chemicals & Fibre Corp và Formosa Petrochemical Corp – đều đã quyết định giảm cổ phần tại Formsa Hà Tĩnh từ 21.25% mỗi công ty xuống còn 14.75%. Trang mạng này còn đưa tin là một quan chức của Formosa Hà Tĩnh đã cho họ biết: “Mọi cán bộ công nhân viên của Formosa Hà Tĩnh đều bị cấm đưa ra bất kỳ bình luận nào với công chúng về việc chuyển nhượng cổ phần”. Họ đã và sẽ tiếp tục chuyển nhượng cho ai thì có Trời mới biết.

[ii] Vũng Áng nằm ngay dưới chân Đèo Ngang, nơi có địa hình vừa hiểm trở vừa gần như hẹp nhất Việt Nam, chỉ cần một lực lượng quân sự nhỏ là đủ sức chia cắt đất nước thành hai phần. Đặc biệt, cảng nước sâu Sơn Dương được coi là một trong4 yếu huyệt của Việt Nam trên Biển Đông, cùng với Cam Ranh, Nam Du và Côn Đảo. Một khi có biến, với căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc ở Vũng Áng và căn cứ quân sự Tam Á trên đảo Hải Nam cách đấy không xa, Việt Nam dễ dàng bị chia cắt cả về đường bộ lẫn đường biển tại vị trí yết hầu này.

*Bài liên quan:

  1. Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng? (VOA)
  2. Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm họa mất nước (VOA)

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Advertisements

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Cựu tù nhân chính trị Trần Anh Kim bất ngờ bị bắt

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2015

RFA

22-9-2015

Ông Trần Anh Kim tại phiên xử kín ở tòa án Thái Bình ngày 28-12-2009

Cựu tù nhân chính trị Trần Anh Kim, ngụ tại thành phố Thái Bình, bị bắt đi từ sáng ngày 21 tháng 9 cho đến hôm nay 22 tháng 9 vẫn chưa có tin tức gì.

Bà Nguyễn thị Thơm, vợ ông Trần Anh Kim vào lúc 3:30 chiều ngày 22 tháng 9, cho biết như sau:

“Hôm qua họ vào đông lắm bắt anh ấy; khi bắt xong họ mới đưa tôi về. Hôm qua khoảng 9:30 đến 10 giờ họ ra cơ quan tôi nói có giấy triệu tập và đưa tôi về Công an Thành phố. Họ cứ bắt ngồi đó và coi cho đến tận khoảng 4:30 họ mới đưa tôi về nhà khi đã bắt anh Kim và thu tất cả mọi thứ rồi. Họ nói trong máy vi tính của anh Kim có bài về tuyên ngôn gì đó. Đó là bằng chứng không thể chối cãi và có lệnh khám nhà nên họ cho người khám nhà.

Họ thu điện thoại của tôi từ ngoài ( công an thành phố); không có liên quan gì đến anh Kim mà họ cũng thu. Họ thu hết và bắt anh Kim. Giờ tôi đang trên đường ra công an thành phố để hỏi họ giam anh Kim ở chỗ nào.”

Ông Trần Anh Kim là một cựu trung tá quân đội nhân dân Việt Nam. Ông bị bắt và bị đưa ra xét xử vào ngày 28 tháng 12 năm 2009 với cáo buộc âm mưu lật đổ chính quyền. Tòa tuyên ông 5 năm rưỡi tù giam và 3 năm quản chế.

Ông mãn án vào ngày 7 tháng giêng năm nay.

____

Dân Luận tổng hợp

Cựu tù nhân lương tâm Trần Anh Kim bị bắt đi đâu không rõ

22-9-2015

H1Theo tin từ Facebook Ngô Duy Quyền, ông Trần Anh Kim sáng nay đã bị cơ quan công an bắt giữ và đưa đi đâu không rõ. Ông Kim là cựu trung tá quân đội nhân dân Việt Nam, là một nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng vừa ra tù vào đầu năm 2015 sau khi bị giam giữ 5 năm 6 tháng với tội danh “Lật đổ chính quyền nhân dân”.

Vợ ông là bà Nguyễn Thị Thơm từ Thái Bình gọi ra cho biết, vào khoảng 10h sáng hôm nay khi bà đang làm việc ở cơ quan thì bị lực lượng công an tới cưỡng bức bà về đồn công an thành phố Thái Bình và giam giữ bà ở đó tới 5 giờ chiều mới thả về nhà.

Khi bà về đến nhà, công an đã có sẵn chìa khóa để mở cửa cho bà vào. Đồ đạc trong nhà hoàn toàn bị xáo trộn, chắc là sau một cuộc lục soát vào ban ngày, trong đó máy tính và một số đồ đạc khác đã bị lấy mất.

Bà Thơm cố gắng gọi điện thoại cho ông Trần Anh Kim nhưng công an đã giật và thu điện thoại của bà, bất chấp sự phản đối.

Theo bà Thơm nhận định, công an đã khám và bắt giữ ông Trần Anh Kim từ buổi sáng, và trong thời gian đó họ đã tìm cách giữ chân bà trong đồn công an Thái Bình để không thể đưa tin hoặc kêu cứu.

Số điện thoại mới của bà Thơm: 0169.562.2739, độc giả quan tâm có thể gọi điện thăm hỏi và chia sẻ tinh thần với vợ chồng ông Kim trong tình trạng bị khủng bố này.

Tháng 12 năm 2009 ông Trần Anh Kim bị kết án 5 năm 6 tháng tù giam theo điều 79 Bộ Luật Hình Sự. Cáo trạng cho biết ông đã tham gia Đảng Dân Chủ Việt Nam và khối 8406, một phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt Nam. Ông cũng viết nhiều bài viết cổ vũ cho tự do dân chủ và đăng tải công khai trên mạng internet.

Trước tòa ông Kim không chấp nhận tội danh: “Tôi tham gia Đảng Dân chủ Việt Nam và Khối 8406 để đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền thông qua đối thoại hòa bình và hình thức bất bạo động.” Ông cũng nói rằng mình muốn chống tham nhũng ở Việt Nam.

Theo linh mục Phạm Văn Lợi, vụ bắt bớ “có thể vì hôm nay (21-09) có lễ công bố LỰC LƯỢNG QUỐC DÂN DỰNG CỜ DÂN CHỦ mà trong thành phần ban chấp hành thì: Chủ Tịch Ông Trần Anh Kim Trung Tá QĐDN Việt Nam. Phó Chủ Tịch Nội Vụ Ông Trịnh Khả Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân. Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Ông Trần Quốc Huy Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phát Nhân Ông Lê Ái Quốc Sĩ Quan Quân Đội Nhân Dân.”

Dân Luận sẽ tiếp tục theo dõi sự việc để đưa tin tới độc giả.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biểu Tình và Lập Hội, Tù Chính Trị, Thời Sự | Leave a Comment »

► Quyền lập hội, sao phải e dè?

Posted by hoangtran204 trên 23/09/2015

VietNamNet

22-9-2015

“Ngày hôm nay, chúng ta đang e ngại khi bàn về luật hội và tự do lập hội y như cách đây 25 năm các cụ e dè khi bàn về doanh nghiệp tư nhân. Nhưng rồi DN tư nhân vẫn phát triển, thậm chí trở thành nền tảng của nền sản xuất. Kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi sự phát triển tương thích của một không gian xã hội cởi mở hơn” – TS Nguyễn Đức Thành nhận định.

LTS: Mới đây, bản dự thảo luật về hội đã được công khai để lấy ý kiến đóng góp của công chúng. Theo kế hoạch, dự thảo luật này sẽ được thảo luận và thông qua tại Quốc hội khóa tới, cùng với một loạt các luật khác nhằm cụ thể hóa các quyền con người được ghi trong chương đầu của Hiến pháp 2013 như quyền tiếp cận thông tin, quyền biểu tình,…Các dự luật này cũng nằm trong lộ trình thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như Công ước về quyền tự do lập hội của người lao động ở cơ sở…

Nhằm cung cấp thêm thông tin và các góc nhìn để các nhà làm chính sách tham khảo trong quá trình hoàn thiện dự luật, VietNamNet tổ chức bàn tròn thảo luận về dự luật hội với TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội và Luật sư Lã Khánh Tùng – thành viên của Đoàn luật sư Hà Nội.

Trì hoãn chục năm

Nhà báo Việt Lâm: Dự thảo luật về hội này đã được đưa ra lấy ý kiến lần đầu tiên cách đây gần chục năm vào năm 2006. Tại sao đến giờ chúng ta lại phải đặt ra vấn đề này?

LS Lã Khánh Tùng: Thực ra từ Hiến pháp 1946 VN cũng đã có quy định quyền lập hội của công dân rồi. Còn luật hiện hành liên quan đến lĩnh vực hội là luật về Hội ban hành năm 1957. Hiếm có lĩnh vực nào mà chúng ta vẫn áp dụng luật cũ như vậy. Nhà nước quản lí các hội này dựa vào nghị định 45 năm 2010.

Tuy nhiên, qua hoạt động thực tiễn các bộ ngành đều nhận thấy có nhiều vấn đề, vướng mắc phát sinh liên quan đến các hội, hiệp hội, hội đoàn. Chẳng hạn, gần đây nhất có các tổ chức, hội đoàn thành lập mới khiến các cơ quan nhà nước rất lúng túng, không có câu trả lời dứt khoát là các hội đoàn này có bất hợp pháp hay không.

Cùng với tinh thần Hiến pháp mới 2013 rất quan tâm đến quyền con người thì VN đã có kế hoạch ban hành rất nhiều đạo luật mới liên quan đến quyền con người trong đó có quyền lập hội, quyền biểu tình, quyền tiếp cận thông tin, luật tạm giữ tạm giam,…

TS Nguyễn Đức Thành: Nhìn từ góc độ của một nhà kinh tế, tôi thấy sự thành lập và tồn tại của các hội như các tổ chức tự nguyện vì cùng chung mục đích, cùng một lợi ích hay thậm chí như một câu lạc bộ theo đuổi một thú vui nào đó là rất cần cho xã hội. Bởi vì trong một xã hội hiện đại vận hành theo cơ chế thị trường như hiện nay, những tổ chức như vậy vừa xây dựng, vừa bảo vệ được các lợi ích rất đa dạng cho công dân.

Chúng ta cố gắng quản lý nhưng hội thì rất đa dạng, từ những hội rất nhỏ đến những hội mang tính chất chính trị hay những nghiệp đoàn lớn. Nếu chúng ta không có một luật đầy đủ để có thể bao quát được sẽ dẫn đến những trường hợp như anh Tùng vừa đề cập, có những đơn vị chúng ta không biết nên điều chỉnh như thế nào.

Về khía cạnh kinh tế, ở đây tôi nhìn thấy có vấn đề về tài chính công. Một số hội, hiệp hội quan trọng nhận được tài trợ từ ngân sách. Thậm chí, nhân sự gần như nằm trong hệ thống chính trị, trong khi những hội khác không có. Vậy đâu là tiêu chí để nhà nước can dự, hay tài trợ cho hội, và tài chính công được sử dụng cho hội như thế nào? Đó là vấn đề lớn mà tôi cho rằng luật phải đưa ra một cách rõ ràng. Không thể chỉ dựa trên cơ sở là nhà nước thấy hội nào cần thì tham dự vào chuyện nhân sự, hay tài chính, còn hội khác thì không cần.

Việt Lâm: Nguyên thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc cho biết là ông đã tham gia xây dựng và chỉnh sửa dự thảo luật về hội đến 10 lần. Còn dự thảo luật về hội được đưa ra lấy ý kiến công chúng lần này là lần thứ 14. Tại sao dự luật này lại mất đến cả chục năm, qua nhiều lần sửa đổi đến vậy?

LS Lã Khánh Tùng: Rõ ràng là lĩnh vực hội đoàn có phạm vi ảnh hưởng rất lớn về mặt chính trị – xã hội. Các hội rất đa dạng, không chỉ là các câu lạc bộ, hội nhóm mà nó còn là các liên đoàn, thậm chí các công đoàn. Ở nhiều quốc gia, người ta còn coi vấn đề đảng phái cũng thuộc lĩnh vực hội đoàn.

Do tính chất đa dạng của các hội nên người ta rất khó tạo một khuôn khổ chung, một sân chơi chung.

Ngoài ra, phải nhìn nhận thực tế là ngay trong các cơ quan nhà nước cũng chưa có được một sự thống nhất về quan điểm, chứ chưa nói đến sự khác biệt với các tổ chức xã hội dân sự. Cách đây 10 năm, Liên hiệp các tổ chức khoa học kỹ thuật VN đã đưa ra một dự thảo độc lập có cách tiếp cận rất khác với dự thảo của Bộ Nội vụ là cơ quan soạn thảo lúc đó đưa ra. Trong khi dự thảo của Bộ Nội vụ vẫn quy định rất nhiều thủ tục xin phép, những 4- 5 lần xin phép thì dự thảo của VUSTA đưa ra rất thoáng, chỉ cần đăng ký và thông báo thôi. Cùng với sự e dè của các cơ quan nhà nước, dự thảo luật về hội do vậy bị trì hoãn đến giờ.

Đã đến lúc phải thừa nhận không gian dân sự

Việt Lâm: Đành rằng, bối cảnh kinh tế – xã hội thời bấy giờ khiến cho những dự luật như vậy chưa thể được thông qua. Nhưng liệu sự trì hoãn đó có gây ra hệ luỵ gì về mặt phát triển kinh tế hay không, theo ông Thành?

TS Nguyễn Đức Thành: Lâu nay, chúng ta thường tư duy theo hướng mọi thành phần, mọi nhóm trong xã hội đều cần có sự kiểm soát. Câu hỏi quan trọng đặt ra ở đây là: Chúng ta có cần kiểm soát như vậy hay không? Thậm chí chúng ta có khả năng kiểm soát như vậy hay không, đặc biệt trong một xã hội hiện đại và kinh tế thị trường như hiện nay?

Trong một nền kinh tế thị trường, tính tự do của doanh nghiệp tạo ra cơ sở cho nền kinh tế đó và các hoạt động của nền kinh tế đó buộc phải tự do mới có sáng tạo, mới thúc đẩy phát triển. Đi liền với nó là không gian về mặt xã hội. Bên này là không gian kinh doanh, bên kia là không gian xã hội đều phải có sự tương thích. Chữ tương thích này không phải chỉ là sự tự do cho có tính chất tự do mà nó phải có sự tự do theo nghĩa là để nó phản ánh được toàn bộ nhu cầu xã hội của các nhóm người khác nhau trong một xã hội ngày càng đa dạng.

Những tổ chức đó được tổ chức dưới dạng hội. Họ không phải các tổ chức kinh doanh, cũng không phải các tổ chức nhà nước mà họ chỉ là những tổ chức dân sự. Đơn thuần là họ liên kết với nhau, hoặc có mối quan hệ nào đó để bộc lộ được nhu cầu mang tính xã hội thật sự của họ.

Nếu chúng ta không có được tư duy để họ tự nảy nở, từ đó họ sẽ phản ánh được những nhu cầu rất đa dạng của đời sống thì hội sẽ mọc lên một cách không tự nhiên. Khi nó ra đời không tự nhiên như vậy, nó sẽ phản ánh lệch lạc nhu cầu thực sự của công dân trong xã hội. Thông tin lệch lạc sẽ đi đến khu vực kinh doanh một cách lệch lạc và như thế thì xã hội cũng sẽ bắt đầu chệch choạch. Nền sản xuất sẽ không tương thích được với nhu cầu thực sự của người dân.

Lấy một ví dụ đơn giản về các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Bên sản xuất có thể xâm phạm vào quyền lợi người tiêu dùng vì mục tiêu lợi nhuận mà thị trường theo đuổi điều đó. Như vậy, phải hình thành những nhóm lợi ích, ví dụ người tiêu dùng sữa, sầu riêng, …có thể thành lập những nhóm hội để bảo vệ quyền lợi khi phát hiện ra bên sản xuất làm không đúng, buộc bên sản xuất phải điều chỉnh hành vi. Chúng ta không thể dự báo trước hội nào sẽ được thành lập, bởi nó tự phát theo hiện tượng xã hội. Do vậy, chúng ta phải để cho nó có một không gian tự do hình thành.

Cơ quan nhà nước không thể nào theo kịp được thị trường, không thể theo kịp được nhu cầu của người dân mà phải tự người dân bộc phát ra. Cho nên vai trò hội rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là tính chất tự nguyện: tự nguyện thành lập một thời gian sau đó giải tán hoặc phát triển lên, theo quy luật tự nhiên.

Tôi cho rằng, chúng ta đã thiết lập cơ chế thị trường trong vòng 20 năm qua thì đã đến lúc phải thừa nhận một không gian khác tương thích. Khi đó, đời sống của người dân, cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế mới cân đối, đầy đặn và bền vững được.

Độc lập hay là cánh tay nối dài của nhà nước?

Việt Lâm: Thực ra cũng đang có hàng nghìn hội tồn tại và phát triển ở VN hiện nay đấy thôi. Liệu họ đã làm tròn vai mà ông Thành vừa nói hay chưa?

TS Nguyễn Đức Thành: Về nguyên lý thì để hoạt động của những hội đó có ý nghĩa thì phải dựa trên tính tự nguyện cao: tự nguyện thành lập hoặc tự nguyện giải tán. Nó cũng giống như thị trường thì có nguyên tắc theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, bên nhà nước phải có pháp luật quản lý và bình đẳng.

Trong những xã hội mà nhà nước muốn kiểm soát hội thì tính tự nguyện sẽ suy giảm và theo thời gian nó trở nên hình thức.

LS Lã Khánh Tùng:Phải thừa nhận thực tế là tính độc lập của các hội đoàn ở ta chưa mạnh. Chẳng hạn như gần đây người ta tranh cãi khá nhiều về vai trò của những hội rất lớn như Hội nông dân VN với 10 triệu thành viên, hay Hiệp hội lương thực VN trong việc bảo vệ quyền lợi nông dân trong xuất khẩu gạo.

tự do lập hội, luật hội, Hiến pháp
Luật sư Lã Khánh Tùng, thành viên Đoàn Luật sư Hà Nội. Ảnh: Lê Anh Dũng

TS Nguyễn Đức Thành: Nhân nói về Hiệp hội Lương thực, vấn đề đặt ra ở đây là những hiệp hội đó được hình thành trên cơ sở nào: tự nguyện hay có sự dàn xếp, áp đặt từ các cơ quan chủ quản? Nhân sự hay thành viên có phản ánh đúng tính chất của hội không? Hay quá trình ra quyết định có đúng là nghị quyết chung của những thành viên thực sự? Chỉ khi đó, hội mới có tính đại diện thực chất.

Nếu hai bước đó đã không đạt được ngay từ đầu thì thông tin mà hiệp hội đó mang lại không phản ánh đúng cái được giả định là hội đang đại diện. Thông tin đã không chính xác rồi thì giá trị của nó không còn nhiều nữa.

Như vậy, ngay từ một hội nhỏ như hội chơi xe máy chẳng hạn, thì chính hội ấy phải quyết định hội ấy làm cái gì. Nôm na như năm nay đi du lịch ở đâu, sưu tập loại xe máy gì, đó là việc của người ta.

Còn nếu việc quyết định năm nay sưu tập xe gì hay đưa hình ảnh xe nào lên lại do một người bên ngoài quyết định thì hội đó không còn ý nghĩa nữa. Đầu tiên là các thành viên sẽ rời bỏ. Chỉ còn lại những thành viên chấp nhận trò chơi đó nhưng nó không còn ý nghĩa đúng là người đại diện.

Phải nói rằng các hiệp hội khác của chúng ta đều chưa phản ánh được hoàn toàn tính đại diện trong việc hình thành thành viên, đồng thời quá trình ra quyết định của các thành viên chưa phản ánh hết nguyện vọng của họ.

LS Lã Khánh Tùng:Độc lập có nhiều khía cạnh, trong đó độc lập về mặt tài chính có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Ở VN do nền kinh tế còn ở mức thấp nên việc huy động tài chính cho các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn độc lập gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn đến một thực trạng là rất nhiều hội đoàn muốn nhà nước dành thêm ngân sách, thêm ưu tiên cho mình.

Tôi quan sát thấy trong nhiều diễn đàn thảo luận về luật hội, không ít tổ chức đứng lên đòi hỏi điều này, thậm chí có một hội còn đặt vấn đề tại sao các hội khác lập cơ quan đảng, đoàn trong hội được mà chỗ chúng tôi lập cơ quan đảng trong hội khó khăn đến thế.

TS Nguyễn Đức Thành:Thực ra đây là vấn đề thay đổi tư duy. Chúng ta vẫn còn coi hội như một bóng mờ, một cánh tay nối dài của cơ quan quản lý nhà nước.

Để hội độc lập thực sự thì nó phải độc lập về tài chính, tức là tài chính được đóng góp từ các thành viên hoặc các thành viên tự đi tìm các nguồn tài trợ trên cơ sở thuyết phục người khác tài trợ cho mình, chứ không phải từ ngân sách nhà nước.

Ngân sách là nguồn đến từ thuế của người dân và theo một nghĩa nào đó tất cả mọi người đều phải đóng cho hoạt động của hội đó dù cho không lớn. Vì sao tất cả người dân phải đóng tiền cho hội này mà không phải cho hội khác? Ai quyết định hội này được nhận nhiều hơn, hội kia ít hơn? Nếu tất cả cùng nhận thì hội có khác gì cơ quan nhà nước?

Khi các thành viên không đóng tiền hay hội không huy động được tài trợ, tức là nó không có giá trị nữa. Như thế thì nó nên giải tán, tương tự như một DN thua lỗ thì nên phá sản. Đấy là cách thức phát triển rất tự nhiên. Không thể nào để những hội tồn tại hàng chục năm không hiệu qủa mà nhà nước vẫn cung cấp tiền cho họ. Khi nhà nước đã cấp tiền thì chúng ta không thể biết họ có đáng tồn tại hay không bởi không còn sự tự nguyện nữa.

Các hội hoạt động cũng tương tự như vậy thôi chứ không thể nào để những hội hoạt động hàng chục năm tồn tại như vậy, nhà nước vẫn cung cấp tiền cho họ. Khi nhà nước vẫn bao cấp cho hội thì chúng ta không biết là liệu họ có đáng tồn tại hay không, có còn giá trị với xã hội hay không.

tự do lập hội, luật hội, Hiến pháp

Sự tiến hoá của tư duy

Việt Lâm:Nhận thức luôn là một quá trình. Nói gì thì nói, nếu chúng ta quan sát đều có thể thấy rằng từ chỗ còn e ngại thì gần đây ngày càng có nhiều người, trong đó có các nhà quản lý, hoạch định chính sách đề cập đến sự cần thiết phải thực thi quyền tự do lập hội như đã được khẳng định trong Hiến pháp 2013. Liệu đây có phải là bước chuyển thực sự về tư duy?

LS Lã Khánh Tùng:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những chuyển biến tích cực này. Dường như rõ nét nhất là do tiến trình hội nhập quốc tế của VN. Gần đây, VN đã gia nhập thêm nhiều công ước quốc tế về quyền con người, tham gia nhiều diễn đàn của LHQ, trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền của LHQ…

Nói chung, các vấn đề về các quyền cụ thể được quan tâm nhiều hơn. Những khái niệm về tự do, những chuẩn mực quốc tế, những giá trị phổ quát được thảo luận nhiều hơn. Tuy nhiên, để tinh thần đó thực sự đi được vào những dự thảo cụ thể thì vẫn phải đợi thêm thời gian. Bởi lẽ, nhà nước bao gồm nhiều cơ quan quản lí khác nhau và chưa hẳn đã thực sự thống nhất với nhau về quan điểm. Có những bộ có vẻ khá cởi mở, như Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp. Dường như họ tiếp xúc nhiều với chuẩn mực quốc tế nên trong tiến trình soạn thảo các dự thảo luật cụ thể thì họ thường cởi mở hơn và thậm chí tiếp xúc, lắng nghe công chúng nhiều hơn.

TS Nguyễn Đức Thành: Tôi cũng thừa nhận như vậy, rõ ràng là có những tiếng nói cởi mở hơn so với trước đây. Trước đây nói về hội, tự do hội gần như là sự cấm kỵ. Giờ đây có nhiều người đã nói lên. Dù chưa nhiều, nhưng rõ ràng đó là một sự chuyển biến.

Chúng ta cũng phải hiểu rằng đây là một quá trình mang tính lịch sử. Sự thay đổi tư duy của con người cũng mang tính lịch sử, tức là đòi hỏi phải có thời gian. Tất cả những tiến triển trong thảo luận về hội của chúng ta hiện nay cũng giống hệt bối cảnh cách đây 20 -25 năm khi chúng ta thảo luận về luật doanh nghiệp.

Cách đây 30 năm chúng ta không có không gian cho doanh nghiệp tư nhân, cho kinh tế thị trường. Nói về doanh nghiệp tư nhân là điều gì cấm kỵ, khủng khiếp, lại càng không thể tưởng tượng nổi doanh nghiệp tư nhân có thể đem ra so sánh hay cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước cũng không buồn bàn những chuyện lặt vặt như vậy.

Nhưng rõ ràng là quá trình tiến bộ của xã hội đòi hỏi phải có một khu vực tư nhân năng động, linh hoạt và hiệu quả. Mục đích của nó là tạo ra của cải sản xuất tốt hơn doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại cho đến thời điểm đó. Lúc đó, chúng ta thấy luật về doanh nghiệp tư nhân rất e dè xuất hiện và tách riêng ra với luật doanh nghiệp nhà nước, tức là họ không muốn chung, coi như đây là một phần bên lề. Nhưng về sau kết hợp lại thành luật doanh nghiệp nói chung của cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, trong đó khu vực tư nhân là chính, khu vực nhà nước chỉ là phần phụ trong nội dung luật.

Tôi tin rằng tư duy về hội cũng sẽ tiến hóa như vậy. Bây giờ chúng ta còn đang e dè, e ngại nhưng đó chỉ là thời kì lịch sử. Bởi vai trò của các hội, hiệp hội bây giờ cũng khác gì so với vai trò của các doanh nghiệp trong việc sản xuất ra của cải vật chất. Ở bên này, các hội là những đơn vị phản ánh tinh thần thời đại, nhu cầu của người dân, xây dựng nên văn hóa dân chủ mà khu vực doanh nghiệp không thể giải quyết được, khu vực nhà nước không giải quyết được hoặc giải quyết không hiệu quả, với chi phí tốn kém. Nhưng một khi xã hội có nhu cầu thực sự thì nó sẽ lớn lên.

tự do lập hội, luật hội, Hiến pháp

Ngày hôm nay, chúng ta cũng đang e dè khi bàn về luật hội y như các cụ ngày xưa e ngại khi bàn về doanh nghiệp tư nhân: không có nó thì sao, nó có thay đổi toàn bộ xã hội này không, có chệch hướng hay không? Nhưng rõ ràng doanh nghiệp tư nhân đã tồn tại và thậm chí trở thành nền tảng của nền sản xuất VN hiện nay.

Điều này chúng ta có thể chứng kiến theo thời gian. Dần dần những hội chính thức sẽ phải thay đổi về mặt chính sách, nhân sự. Họ không muốn các tổ chức phi chính phủ ngang hàng với họ, họ muốn một luật riêng, các điều khoản riêng. Nhưng cũng như luật doanh nghiệp khi xưa, sớm muộn sẽ hội tụ lại với nhau. Và trong tương lai các nội dung để điều chỉnh hiệp hội tự do mang tính dân sự sẽ chiếm chi phối. Tất nhiên những hiệp hội mang tính tự do, độc lập cao đó ở trong xã hội hiện đại như vậy thì phải tuân thủ luật pháp một cách chặt chẽ.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »