Trần Hoàng Blog

►Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản và đẩy giá bất động sản lên cao: là sai lầm

Nền kinh tế của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng chỉ có một vài nhiệm vụ nổi bật là:

-bán tài nguyên dầu hỏa, than đá, quặng titan, quặng đồng, quặng sắt, quạng bô xít, các loại đá quí… cho nước ngoài. Đã hơn 30 năm nay (và sẽ còn tiếp tục trong tương lai), đảng và chính phủ chỉ biết bán tài nguyên khoáng sản…ăn và tham nhũng. 

-174 Ủy viên Trung ương đảng CSVN và các ủy viên Bộ Chính Trị lợi dụng quyền hành để cướp đất đai và nâng giá bất động sản lên cao, và rồi dùng các giá trị này để đi vay mượn 120 tỷ đô la của nước ngoài dưới hình thức FDI và ODA, và sau khi có được số tiền ngoại quốc cho vay và đầu tư, thì các nhân viên cao cấp trong đảng CSVN và nhà nước chia nhau tiền hoa hồng 20% trong các khoảng vay mượn nợ, và tiền cấp giấy phép cho những hợp đồng xây dựng  cầu đường nhà máy điện… 

-Lập ra 100 tập đoàn và tổng công ty và cho các đảng viên cao cấp cùng gia đình của họ được độc quyền: buôn bán, xuất nhập khẩu các mặt hàng nông nghiệp, công nghiệp, khai thác các mỏ dầu, khí đốt, khoáng sản, điện thoại, internet, thuốc tây,…

Tất cả các nhiệm vụ này đều dẫn tới kết quả là nước VN bị mắc nợ (Nợ công và Nợ doanh nghiệp) khủng, hơn 104 tỷ US dollars, tính tới cuối tháng 12-2011.

Các đảng viên cao cấp: 175 ủy viên trung ương đảng và bộ chính trị trở nên rất giàu có, và con cái của họ cùng bạn bè đồng chí trong đảng CSVN dành độc quyền kinh doanh các ngành nghề dễ kiếm tiền nhất, chiếm hết tài nguyên khoáng sản của đất nước, trong khi đại bộ phận dân chúng hơn 90% quá nghèo.

Chỉ tính riêng việc bán dầu hỏa, mỗi năm Petrovietnam cũng thu được 675 000 tỷ đồng (34 tỷ đô la) (Bài 2, phía dưới). So với toàn bộ nền kinh tế VN có GDP là  90 tỷ, thì số dầu thô và khí đốt do Petrovietnam sản suất và bán ra chiếm khoảng 40% của GDP (tổng sản phẩm sản suất và dịch vụ  nội địa) như Petrovietnam đã từng báo cáo.

Các nước tây phương có tài nguyên khoáng sản nhiều như Canada đặt kế hoạch phát triển kinh tế dựa trên đủ thứ ngành. Khai thác tài nguyên khoáng sản chỉ là phụ. (nguồn).Dầu và khí của Mỹ ở vịnh Mexico và Alaska còn chưa khai thác hết công suất vì quốc hội, chính phủ Mỹ , và Ủy Ban Môi Trường không muốn khai thác vội, họ  đi mua 47-60% dầu của các quốc gia khác khai thác, và đem về lọc rồi tiêu dùng. Hiện nay, ở Mỹ, các hãng điện tư nhân đang tích cực khai thác điện mặt trời và phong điện dọc theo bờ biền phía Đông và Tây nước Mỹ  (California, North và South Carolina,  các vùng thung lũng…). Chính phủ khuyến khích bằng cách hổ trợ giảm thuế cho những nhà nào lắp đặt các bảng hấp thụ sức nóng mặt trời đặt trên nóc nhà điện.

Các nước tiên tiến  không tăng trưởng GDP bằng cách bán tài nguyên khoáng sản như Việt Nam, mà mục đích của họ là để dành tài nguyên khoáng sản cho các thế hệ con cháu mai sau.  (key word để tìm tài liệu trên internet cho đề tài này là GDP by sector of Canadian economy).

Trái lại, đảng CSVN vì chỉ biết bòn rút, không muốn cho ai biết các hư hỏng và thối nát của họ, nên chỉ dùng các đảng viên và gia đình con cái của họ để ăn chia. Hết thập niên này qua thập niên khác, họ đã không biết soạn thảo kế hoạch kinh tế, tài chánh… nên hơn 36 năm qua, đảng và nhà nước  chỉ biết cách bán tài nguyên khoáng sản, dầu hỏa, khí, than đá… để chi tiêu,   và dùng nguồn tài nguyên bán được hàng năm ấy (như một loại thu nhậ,  chứng tỏ khả năng sẽ trả được nợ), một loại tín dụng (credit) để đi vay nước ngoài. 

Suốt 20 năm qua, chính phủ đã đẩy giá nhà đất lên cao, mục đích để làm cho GDP gia tăng. Rồi dùng chỉ số GDP gia tăng này để đi mượn thêm tiền…để bòn rút 10-30% số tiền vay được (tham nhũng nguồn).

Kết quả là nợ của chính phủ và doanh nghiệp quốc doanh  nay đã lên trên 120 tỉ đô la Mỹ,  hay trên 125% GDP. (Mời các bạn đọc bài Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước 20 tỷ 750 triệu đô la, bằng 20% GDP của cả nước)

(và  bài “Sự thất thoát và lỗ lả của các tập đoàn quốc doanh tiếp tục diễn ra”)

Lấy mốc 1985 và năm 2010 và  so sánh South Korea, Thái Lan và Việt Nam để thấy đảng chỉ đạo nền kinh tế giỏi đến đâu.

GDP của South Korea vào năm 1985 là 99 tỷ đô la.  GDP của South Korea năm 2010 là 1015 tỷ đô la. (nguồn)

GDP của Thái Lan năm 1985 là gần 39 tỷ đô la. GDP của Thailand vào năm 2010 là 319 tỷ đô la. (Nguồn)

GDP của Việt Nam năm 1985 là 18 tỷ đô la.  GDP của VN vào năm 2010 là 100 tỷ (Nguồn)

Các con số ấy là một bằng chứng thảm hại của các đường lối chính sách kinh tế, tài chánh, kế hoạch phát triển do đảng CSVN đưa ra và  sáng suốt chỉ đạo việc thi hành.

Bài 1

Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản là sai lầm

TS. Nguyễn Thành Sơn (*)

Thứ Tư,  21/3/2012, 09:26 (GMT+7)

Nguồn

(TBKTSG) – Đối với một nền kinh tế được quản lý kém, tài nguyên khoáng sản là vật tế thần cho tăng trưởng nóng và “tăng trưởng hỏng”. Để cân bằng ngân sách, nguồn thu dễ nhất nhưng cũng kém bền vững nhất là từ tài nguyên khoáng sản.

Định hướng sai thị trường tiêu điểm

Trong khi các chủ trương, đường lối, chiến lược chính sách đều nhấn mạnh ngành khai khoáng trước hết phải “phục vụ cho nền kinh tế quốc dân”, thì tài nguyên khoáng sản (TNKS) của Việt Nam thời gian qua được khai thác chủ yếu để xuất khẩu sang Trung Quốc. Việc “nhất quán” từ khâu quy hoạch, cấp phép hoạt động, khuyến khích đầu tư, đơn giản thủ tục hành chính… trong lĩnh vực khoáng sản thời gian qua đã biến Việt Nam thành nguồn cung cấp thuận lợi các loại khoáng sản có ích, không tái sinh cho thị trường Trung Quốc. Việc cung cấp này tuy nhỏ, lẻ và chỉ do một số ít doanh nghiệp được thực hiện, nhưng vô tình đã làm cho thị trường khoáng sản kim loại của Việt Nam chỉ có một người mua là Trung Quốc.

Xác định sai cơ cấu sản phẩm

Trong khi các chủ trương, đường lối, chiến lược, chính sách đều nhấn mạnh yêu cầu “chế biến sâu” để nâng cao giá trị, thì TNKS của Việt Nam chỉ được chế biến đạt tiêu chuẩn là nguyên liệu rẻ tiền để xuất khẩu.

Ngành khai thác than, trước đây các sản phẩm than đạt tiêu chuẩn Việt Nam (chất lượng cao) chiếm 80-90%, chỉ có 10-20% là than tiêu chuẩn ngành (chất lượng thấp) và không có than tiêu chuẩn cơ sở (chất lượng xấu). Hiện nay than tiêu chuẩn Việt Nam chỉ đạt 40-50%, còn lại là than tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở. Cơ cấu sản phẩm này đi ngược mọi quan điểm và chính sách về TNKS, nhưng phù hợp với thị trường Trung Quốc.

Quy định của Nhà nước rất chặt chẽ là không cho phép xuất khẩu quặng thô, chỉ cho phép xuất khẩu quặng đã qua chế biến. Về mặt kỹ thuật, “chế biến” là công đoạn nâng cao hàm lượng có ích trong quặng. Nhưng chỉ cần một số động tác nhặt tay, hay sàng phân loại thủ công, hàm lượng có ích đã tăng lên và quặng cũng được coi là đã qua chế biến để được xuất khẩu.

Ngoài ra, khâu chế biến trong ngành khai khoáng Việt Nam đạt trình độ kỹ thuật rất thấp. Hiện nay công nghệ chế biến titan chỉ dừng lại ở “quặng tinh” để xuất khẩu. Nếu từ tinh quặng titan chế ra được xỉ titan giá trị tăng lên 2,5 lần, từ xỉ titan chế biến thành pigment giá trị tăng 10 lần, từ pigment sản xuất ra titan kim loại giá trị tăng hơn 80 lần. Đồng Sinh Quyền cũng là một ví dụ: bằng công nghệ luyện “hiện đại” của Trung Quốc, tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản (TKV) chỉ làm ra được đồng có độ tinh khiết tối đa 99,95-99,97%, trong khi để kéo thành dây dẫn điện, đòi hỏi đồng phải có độ tinh khiết đạt 99,99%. Chênh lệch giá bán giữa hai mức độ tinh khiết này có thể lên tới hàng ngàn đô la Mỹ mỗi tấn. Alumina cũng có triển vọng tương tự. Nếu độ tinh khiết không đạt trên 98% thì hiệu quả kinh tế cũng chỉ như xuất khẩu quặng thô.

Buông lỏng quản lý, cấp giấy phép tràn lan

Thị trường đầu ra rất “ngon ăn” đã biến lĩnh vực khai khoáng của Việt Nam, chủ yếu là đào mỏ, bung ra đến mức không thể quản lý nổi.

Trong quá trình thi hành Luật Khoáng sản 1996-2010, thông qua hai công cụ cấp phép và phân quyền, các cơ quan quản lý nhà nước về TNKS đã đóng vai trò rất quyết định trong việc chuyển đổi khối lượng lớn TNKS từ sở hữu toàn dân sang thành nguồn thu của những nhóm lợi ích.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam chỉ có vài chục loại khoáng sản nằm trong lòng đất, nhưng trong 12 năm (1996-2008) hai bộ Công nghiệp và Tài nguyên và Môi trường đã kịp cấp 928 giấy phép hoạt động khoáng sản, ngoài ra trong ba năm (2005-2008) còn phân cấp cho 60 tỉnh thành cấp 4.213 giấy phép.

Mặc dù vậy, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước TKV lại là trường hợp đặc biệt. Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, từ khi thành lập đến năm 2008, các đơn vị khai thác than của TKV hoạt động không có giấy phép và vi phạm nghiêm trọng Luật Khoáng sản.

Trong suốt 15 năm qua các cơ quan quản lý nhà nước về TNKS chỉ thực thi quyền cấp các giấy phép hoạt động khai thác những khoáng sản hiện có từ thời bao cấp, bỏ qua nhiệm vụ điều tra tìm kiếm và thăm dò các mỏ mới.

Tổn thất TNKS còn rất lớn

Từ việc chạy theo lợi nhuận trước mắt, cùng với việc buông lỏng quản lý nhà nước, đã dẫn đến việc TNKS bị khai thác rất lãng phí. Tổn thất TNKS trong các khâu khai thác, chế biến rất cao. Tổn thất than trong khai thác bằng công nghệ hầm lò đến 40-60%; tổn thất quặng trong khai thác bằng công nghệ lộ thiên cũng rất cao: apatit 26-43%; quặng kim loại 15-30%; đá xây dựng 15-20%; vàng 60-70%… Đặc biệt, tỷ lệ tổn thất TNKS trong các mỏ do tư nhân khai thác không thể kiểm soát được vì công nghệ lạc hậu và tư tưởng “dễ làm, khó bỏ” rất phổ biến. Các mỏ đá trắng ở Nghệ An là ví dụ điển hình với tổn thất lên tới trên 70%.

Làm gì để sử dụng bền vững TNKS?

Tiết kiệm là quốc sách: Việt Nam thuộc loại rất nghèo về TNKS nhưng sử dụng lại rất hoang phí. Trữ lượng than của thế giới đạt bình quân khoảng 120 tấn/người, còn Việt Nam chưa tới 25 tấn/người. Thế giới dùng 1 ký than để phát ra 3 kWh điện, trong khi Việt Nam chỉ phát được 2 kWh. Trong tương lai, chúng ta có thể nhập khẩu được lúa mì, nhưng không thể nhập được than, hay nước ngọt. Chính than và nước ngọt sẽ là rào cản sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù lượng mưa lớn, nhưng nước ngọt cho phát triển kinh tế đang ngày càng hiếm. Nhiều đối tác nước ngoài đề xuất các dự án đầu tư lớn như lọc dầu, hóa chất, phân bón, luyện thép ở Quảng Ninh, nơi có nhiều lợi thế về năng lượng và giao thông cảng biển, nhưng không thể triển khai chỉ vì thiếu nước ngọt. Các dự án nhiệt điện ở Quảng Ninh hiện nay cũng phải dùng nước mặn để làm mát.

Từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên TNKS: So sánh hai mô hình phát triển khác nhau của tỉnh Quảng Ninh (dựa vào TNKS) và tỉnh Vĩnh Phúc (hầu như không có TNKS) cho thấy dù Quảng Ninh đứng thứ 5 về thu ngân sách tuyệt đối, nhưng nếu so sánh mức thu ngân sách trên tổng mức đầu tư của xã hội, Vĩnh Phúc đã bỏ xa Quảng Ninh.

Đối với một nền kinh tế được quản lý kém, TNKS là vật tế thần cho tăng trưởng nóng và “tăng trưởng hỏng”. Để cân bằng ngân sách, nguồn thu dễ nhất nhưng cũng kém bền vững nhất là từ TNKS. Trong kết cấu giá thành sản phẩm của ngành khai khoáng không có khoản mục “nguyên liệu chính” (thường chiếm tỷ trọng 30-70% trong chi phí của các sản phẩm khác). Trong khi đó tỷ trọng các khoản tiền lương, khấu hao thường cao. Vì vậy, dựa vào ngành khai khoáng để đạt mức tăng trưởng về GDP rất dễ dàng.

Cấm xuất khẩu khoáng sản dưới mọi hình thức: Việt Nam là nước có diện tích nhỏ, có tuổi địa chất không lớn. Vì vậy, về mặt khoa học, không có đủ không gian và thời gian để hình thành những mỏ khoáng sản lớn. Hiệu quả mang lại từ xuất khẩu khoáng sản không đáng kể. Việc cho phép xuất khẩu là nguyên nhân chính của việc khai thác khoáng sản bừa bãi, dẫn đến tổn thất tài nguyên, tàn phá môi trường. Đối với doanh nghiệp, việc cho phép xuất khẩu sẽ làm cho doanh nghiệp ỷ lại. Hiệu quả xuất khẩu ngày càng giảm. Nếu như trước đây, giá xuất khẩu than cao hơn giá thành bình quân 2-5 lần, hiện nay giá than xuất khẩu chỉ bằng 1,32 lần.

Chỉ khai thác khoáng sản khi có nhu cầu tiêu dùng trong nước: Đối với nền kinh tế, mọi khoáng sản khi chưa khai thác đều là tích sản. Vì vậy, giá trị của TNKS chưa khai thác sẽ ngày một tăng. Khoáng sản của Việt Nam chỉ mang tính hàng xén, mỗi loại có một ít, phân tán, nhỏ lẻ. Trong lĩnh vực TNKS không nên áp dụng chính sách miễn, giảm thuế. Vì càng miễn giảm thuế, TNKS càng được khai thác kém hiệu quả, tổn thất càng cao, môi trường càng xấu hơn.

Nâng cao chất lượng quy hoạch TNKS: Quy hoạch về TNKS của Việt Nam tương đối nhiều (khoảng 15 quy hoạch khác nhau). Nhưng nhìn chung, các quy hoạch được soạn thảo theo ý chí của lãnh đạo nhiều hơn là trên cơ sở khoa học và thực tế. Chất lượng quy hoạch thấp, điển hình là các quy hoạch quan trọng như bauxite, titan và gần đây là quy hoạch than (vừa được Thủ tướng phê duyệt ngày 9-1-2012).

Các quy hoạch thường có tên gọi “thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng”… nên đã “vỡ” ngay trong tên gọi và khi còn trên giấy. Theo quy hoạch mới nhất của ngành than, riêng khâu thăm dò đến năm 2015 phải thực hiện 2,23 triệu mét khoan sâu, tương đương với khối lượng thực hiện từ năm 1955 đến nay trong ngành than. Chỉ cần mắt xích thăm dò này đổ, toàn bộ các khâu khai thác, chế biến, sử dụng than sẽ vỡ theo. Quy hoạch TNKS là đầu vào của các quy hoạch khác (như điện, thép, xi măng…) nên cần được tiếp cận một cách nghiêm túc.

______________________________________________

(*) Giám đốc Ban quản lý các dự án than ĐBSH-Vinacomin

———————-

Ông chủ của Mỏ dầu hỏa và khí đốt và tất cả các mỏ khác ở VN là đảng CSVN. Cụ thể là của 1 hay 2 đảng viên cao cấp trong số 14 người thuộc Bộ Chính Trị. Các đảng viên nghèo, cò con,  phải đổ xăng vào xe hàng ngày và mua bình ga 550.000 đồng/ 1 bình/ tháng để nấu ăn như bao nhiêu người khác. 

Các đảng viên cao cấp này cử các tay chân rất thân tín của họ, nắm tập đoàn Dầu Khí (Petrovietnam). Tập đoàn này khai thác dầu khí xong giữ lại 50% chia chắc nhau, và 50% nộp cho Bộ Chính Trị, nhưng trên mặt giấy tờ thì nói là nộp ngân sách. Cuộc làm ăn chia chác này kéo dài từ 1988 cho đến nay, tròn 24 năm.

Xăng trong nước dùng là xăng mua, nhập khẩu từ Singapore về bán lại cho dân chúng và các công ty xài. Petrolimex là công ty có thị phần 60% xăng tiêu thụ trên cả nước. Số còn lại là chia chác thị phần giữa Quân đội NDVN, và các ông chủ tư bản đỏ khác.  

Trích:

    Thay mặt lãnh đạo PetroVietNnam, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

Ghi chú:

*675 nghìn tỉ đồng = 38 tỷ đô la Mỹ. (tỷ giá tháng 1-2012)

*160,8 nghìn tỷ đồng = 8,4 tỉ đô la Mỹ.

*675 nghìn tỷ đồng là số tiền bán 375.000-425.000 thùng dầu thô mỗi ngày trong 365 ngày + với số lượng ga được bơm lên từ ngoài khơi phía đông nam của Vũng Tàu (vùng Nam Côn Sơn)

Bài 2

Petrovietnam phải khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia

Thứ sáu, 20 Tháng 1 2012 

Chiều 18/1, tại Viện Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2011 và triển khai kế hoạch năm 2012.

Đến dự buổi lễ có đồng chí Nguyễn Quang Dương, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương; đồng chí Lê Dương Quang, Thứ trưởng Bộ Công Thương; đồng chí Phạm Mạnh Thắng, Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương)…

Về phía Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) có đồng chí Phùng Đình Thực, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn; đồng chí Đỗ Văn Hậu, Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng giám đốc Tập đoàn; cùng các đồng chí trong Ban chấp hành Đảng bộ, Đảng ủy, Hội đồng Thành viên, Ban Tổng giám đốc, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh Tập đoàn…

Tổng giám đốc PVN Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh 2011 và kế hoạch 2012.

Thay mặt lãnh đạo PVN, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp NSNN đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.

Gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35,3 triệu tấn thu hồi, bằng 101,0% kế hoạch năm (ở trong nước đạt 35 triệu tấn và ở nước ngoài đạt 0,3 triệu tấn). Ký 7 hợp đồng/thoả thuận dầu khí mới, trong đó ở trong nước 6 hợp đồng và ở nước ngoài 1 thoả thuận. PVN đã có 3 phát hiện dầu khí mới, đưa 5 mỏ dầu khí mới vào khai thác, trong đó ở trong nước 3 mỏ và ở nước ngoài 2 mỏ.

Tổng sản lượng khai thác quy dầu năm 2011 đạt 23,91 triệu tấn. Sản lượng khai thác dầu đạt 15,21 triệu tấn. Tập đoàn đạt mốc khai thác tấn dầu thứ 280 triệu vào tháng 10/2011.

Sản lượng khai thác khí đạt 8,7 tỉ m3. Tập đoàn đạt mốc khai thác m3 khí thứ 70 tỉ vào tháng 9/2011. Sản xuất và cung cấp cho lưới điện quốc gia đạt 13,35 tỉ kWh. Tập đoàn đạt mốc sản xuất kWh điện thứ 35 tỉ vào tháng 10/2011.

Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất tấn phân đạm thứ 5 triệu vào tháng 8/2011.

Công tác bảo dưỡng tổng thể Nhà máy Lọc dầu Dung Quất lần thứ nhất vượt tiến độ 2 ngày. Sản phẩm sản xuất từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đạt 5,43 triệu tấn. Hoạt động dịch vụ dầu khí tiếp tục được đẩy mạnh, doanh thu dịch vụ dầu khí năm 2011 đạt trên 200 nghìn tỉ đồng.

Tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm nhà nước về dầu khí và các dự án trọng điểm của Tập đoàn được kiểm soát chặt chẽ đảm bảo theo kế hoạch đề ra. PVN rà soát và đình hoãn 12 dự án, giãn tiến độ 44 dự án đầu tư với tổng giá trị trên 7,25 nghìn tỉ đồng. Giá trị thực hiện đầu tư năm 2011 đạt trên 90 nghìn tỉ đồng.

Trong năm 2011, toàn Tập đoàn đã khởi công mới 16 công trình, hoàn thành đầu tư và đưa vào vận hành 47 công trình, trong đó có các công trình trọng điểm như: đưa vào khai thác mỏ Visovoi (lô số 2) thuộc Dự án Thăm dò khai thác dầu khí 04 lô tại Khu tự trị Nhenhetxky – Liên Bang Nga (ngày 29/7), mỏ Đại Hùng pha 2 (ngày 12/8), mỏ Tê Giác Trắng (ngày 22/8); hạ thuỷ khối chân đế giàn Mộc Tinh 1 thuộc dự án Biển Đông 1 (ngày 27/8); hạ thủy giàn khoan 90 nước (ngày 10/9), đưa chu trình hỗn hợp Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 vào vận hành (ngày 16/10/2011), kho nổi Bạch Hổ FSO5 (ngày 15/01)…

Công tác đổi mới, tái cấu trúc doanh nghiệp được triển khai theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Hoạt động khoa học công nghệ và đào tạo được triển khai tích cực, công tác an ninh, an toàn dầu khí, an toàn môi trường, an toàn lao động, phòng chống cháy nổ trên các công trình dầu khí được giám sát chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc. Công tác an sinh xã hội được triển khai thực hiện cao hơn so với cam kết, tổng số tiền thực hiện công tác an sinh xã hội toàn Tập đoàn năm 2011 đạt trên 613 tỉ đồng so với kế hoạch cam kết từ đầu năm là 600 tỉ đồng.

Kế hoạch năm 2012, PVN vẫn bám sát 5 lĩnh vực chính, đó là: Tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; Lọc hóa dầu; Công nghiệp Khí; công nghiệp Điện; dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao. Tiếp tục rà soát nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án; thu xếp đủ vốn và tổ chức thực hiện đúng tiến độ các dự án trọng điểm.

Trong đó, khai thác Dầu khí 24,81 triệu tấn, doanh thu 660 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách đạt 134,8 nghìn tỉ đồng.

Chung sức cùng tháo gỡ khó khăn

Cũng tại hội nghị, lãnh đạo các đơn vị thành viên của PVN đã phát biểu tham luận.

Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn, Tổng giám đốc Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) cho biết PVEP là đơn vị chủ lực của PVN, đã làm gia tăng trữ lượng dầu khí lên 37,8 triệu tấn dầu qui đổi. Sản lượng khai thác đạt 16,18 triệu tấn dầu qui đổi. Doanh thu của PVEP đạt hơn 50 nghìn tỉ đồng. PVEP đã đưa 4 mỏ mới vào khai thác gồm mỏ Đại Hùng giai đoạn 2, mỏ Tê Giác Trắng, mỏ Chim Sáo, mỏ Dana. PVEP cũng đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác các mỏ Junin 2 ở Venezuela và mỏ Bir Seba – Lô 433a&416b (Algeria).

Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro cũng là đơn vị chủ lực khai thác dầu khí của PVN. Năm qua, Vietsovpetro đã khai thác 6,4 triệu tấn dầu. Doanh thu bán dầu đạt 5,6 tỉ USD, nộp ngân sách Nhà nước và lợi nhuận phía Việt Nam đạt 3,55 tỉ USD, lợi nhuận phía Nga là 580 triệu USD. Vietsovpetro đưa ra mục tiêu hàng năm phải đưa ít nhất 2 giàn khai thác mới vào khai thác để đảm bảo khai thác an toàn 6,14 triệu tấn trong năm 2012.

Thay mặt Công ty TNHH 1TV Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang cho biết kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất năm qua đã đạt được những con số ấn tượng như tổng doanh thu đạt 116 nghìn tỉ đồng, nộp ngân sách 14 nghìn tỉ đồng. Giữa năm 2011, NMLD Dung Quất tạm ngừng hoạt động, bảo dưỡng lần đầu tiên một cách thành công sau khi hoàn thành từ tháng 2/2009. Tổng giám đốc Nguyễn Hoài Giang kỳ vọng các đơn vị thuộc PVN sẽ hỗ trợ NMLD Dung Quất hơn nữa để cùng nhà máy tháo gỡ khó khăn, hoạt động hiệu quả hơn.

Trong năm qua, một số đơn vị của PVN gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang nợ Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power) khoảng 14 nghìn tỉ đồng. Do đó, PV Power rất khó khăn trong việc huy động vốn cho các dự án điện. Nhà máy Thủy điện Hủa Na sẽ hoàn thành trong quý IV/2012 và PV Power đang nỗ lực thu xếp vốn còn lại cho dự án này.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang nhiệt liệt biểu dương những thành tích mà PVN đã đạt được trong năm 2011. “Đây là thành tích đáng tự hào của PVN trong bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Tôi tin tưởng rằng các giải pháp của PVN sẽ thực hiện thành công để tăng tốc phát triển trong năm 2012 và các năm tiếp theo” – Thứ trưởng Lê Dương Quang nhấn mạnh.

Bộ Công Thương đề nghị PVN đẩy mạnh các giải pháp đột phá, tăng tốc phát triển trong năm 2012. PVN hãy phát huy bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng bộ thực hiện 3 khâu đột phá là nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý. Đồng thời, PVN phải đi đầu trong việc tái cấu trúc doanh nghiệp theo tinh thần chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ III (10/2011). PVN phát huy cao nội lực, ưu tiên dùng hàng trong nước cho các hoạt động kinh doanh.

Phát biểu tiếp thu ý kiến, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu cám ơn lãnh đạo Bộ Công Thương, các Cục, Vụ, Viện của Bộ Công Thương đã có những giúp đỡ để PVN hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kinh doanh năm qua. Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu sẽ cùng tập thể người lao động Dầu khí phát huy truyền thống Anh hùng, lao động hết mình, sáng tạo, kiên quyết giữ vững vị thế là tập đoàn hàng đầu của nền kinh tế nước nhà.

Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Tập đoàn, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu phát động thi đua năm 2012, trong đó tập trung hoàn thành tốt 5 nhiệm vụ: Thực hành tiết kiệm; Tái cấu trúc doanh nghiệp trên cơ sở bền vững, hiệu quả; Triển khai mạnh mẽ 3 giải phát đột phá: nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và quản lý; Triển khai sâu rộng cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức chính trị vững mạnh; Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động Dầu khí.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang đã trao Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba của Chủ tịch nước cho các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc giai đoạn 2006 – 2010; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho đồng chí Hoàng Xuân Hùng – Phó chủ tịch HĐTV, đồng chí Vũ Quang Nam – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Nguyễn Tiến Dũng – Phó tổng giám đốc Tập đoàn; trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhì cho Tổng công ty Dung dịch và Hóa phẩm Dầu khí (DMC), đồng chí Nguyễn Xuân Sơn – Phó tổng giám đốc Tập đoàn, đồng chí Đỗ Văn Đạo – Trưởng văn phòng đại diện khu vực châu Mỹ, đồng chí Bùi Ngọc Quang – Trưởng ban dự án khí Đông Nam Bộ, đồng chí Trương Văn Ba – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Vật tư Tổng hợp Phú Yên (Tổng công ty Dầu Việt Nam).

Ban Xây dựng Tập đoàn, Ban Luật và Quan hệ quốc tế Tập đoàn, Đội công nghệ cao số 1 Xí nghiệp Địa vật lý giếng khoan (Liên doanh Việt – Nga), Văn phòng Tập đoàn nhận Huân chương Lao động hạng Ba.

Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng trao 22 Huân chương Lao động hạng Ba cho các cá nhân có thành tích xuất sắc.

Chủ tịch HĐTV Phùng Đình Thực trao tặng danh hiệu Chiến sĩ Thi đua toàn quốc cho 6 cá nhân.

Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu trao Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ cho 14 tập thể đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện các nhiệm vụ công tác năm 2011. 23 tập thể cũng nhận Cờ thi đua của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương trao cờ cho 10 tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu; 9 cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh; 4 tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ và 4 cơ sở Đảng hoàn thành nhiệm vụ.

Tại hội nghị, 31 đơn vị thuộc Tập đoàn được trao cờ thi đua và 20 cá nhân đạt danh hiệu doanh nhân, nhà quản lý tiêu biểu được trao cúp và chứng nhận của Tổng giám đốc Tập đoàn.

Tại Hội nghị Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã công bố ra mắt Bộ sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam. Nhằm gìn giữ những giá trị và kinh nghiệm quý báu mà các thế hệ ngành dầu khí đã dày công xây đắp, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ cũng như phát huy những thành tựu đã đạt được của ngành Dầu khí Việt Nam trong suốt 50 năm qua, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật xuất bản bộ sách Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam. Bộ sách có 3 tập, trình bày thành 5 phần gồm 13 chương và phần phụ lục, bao quát toàn bộ các hoạt động liên quan tới hoạt động nghiên cứu địa chất, tìm kiếm-thăm dò và khai thác dầu khí từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 tới hết năm 2010, ghi lại chi tiết toàn cảnh lịch sử của ngành Dầu khí Việt Nam, mô tả lại những khó khăn, gian khổ, đấu tranh, vật lộn, trăn trở, cùng những hoài bão, mong ước và cả những thăng trầm, đổi thay qua các thế hệ những người làm công tác dầu khí từ những ngày đặt nền móng đầu tiên cho tới năm 2010. Bộ sách không chỉ là một biên niên sự kiện, mà còn là một kho tàng kiến thức về địa chất, dầu khí và nhiều lĩnh vực chuyên môn khác liên quan tới Ngành, cho các bạn đọc muốn tìm hiểu và nghiên cứu về ngành Dầu khí Việt Nam.

(Theo Petrotimes)

                                                      ++++++++++++++++++++++++++++++++++

Bài 3

Chảy máu khoáng sản Titan về Trung Quốc

Võ thiện Thanh

Theo Khoahocnet.com

Theo thông tin vào ngày 14 tháng 07 năm 2012,  Công ty Bình Thuận chuyên khai thác titan tại mỏ Suối Nhum, Tiến Thành, Thành Phố Phan Thiết, Tỉnh Bình Thuận đã xảy ra tai nạn làm vỡ hồ nuớc, tràn các chất bùn dơ, bùn đất đỏ ra đường ven biển. Đây là lần thứ 2, lần truớc chỉ cách đó một tuần. Công Ty này đã huy động lực luợng công nhân, xe ủi phi tan hiện truờng nhằm tránhsự điều tra của cơ quan chức năng.Bao nhiêu chất thải độc hại đó đã đuợc ủi thẳng xuống biển gây ra nguồn nuớc bị ô nhiễm một vùng, uớc luợng lớp bùn đỏ đó này dày khỏang gần một mét.

Bài này xin trình bày về quốc nạn chảy máu khóang sản về Trung Quốc.

Năm 1794 nhà khoáng vật học William Gregor tìm ra Titan một kim loại nhẹ, cứng, bề mặt bóng láng, chống ăn mòn tốt. Nó là kim loại gồm 3 thành phần hóa học chính là Ilmenit, zircon, rutil. Titan được dùng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Khoảng 95% lượng titan được dùng ở dạng titanđiôxít (TiO2) là thuốc nhuộm làm trắng giấy, kem đánh răng, sơn và nhựa. Hợp kim titan được dùng chủ yếu trong hàng không, xe bọc thép, tàu hải quân, tàu vũ trụ và tên lửa, áo chống đạn… Các loại máy bay hiện đại nhất, Boeing 787 có thể dùng 91 tấn/chiếc và Airbus A380 dùng 77 tấn/chiếc.

Úc là nước dẫn đầu thế giới về sản lượng titan, kế đến là Nam Phi, Canada, Na Uy và Ukraine. Các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh, không khai thác mà tích cực mua titan dự trữ. Trung Quốc đang tăng cường mua dự trữ kim loại này từ Việt Nam.

Bình Thuận là một trong những tỉnh ven biển có phân bố sa khoáng titan và được đánh giá là tỉnh có tiềm năng sa khoáng titan lớn nhất cả nước, thậm chí lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

Vùng đất vốn được mệnh danh “sa mạc” cằn cỗi bỗng trở nên đắt giá bởi nguồn lợi to lớn này. Tuy nhiên, những hệ lụy từ quản lý khai thác titan, ô nhiễm môi trường cũng phát sinh từ đây…

Nguồn sa khoáng “khổng lồ”

Đầu năm 2011, Liên đoàn Địa chất Trung Trung bộ thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường đã báo cáo kết quả thực hiện việc điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan-zircon tại Bình Thuận. Theo báo cáo này, Bình Thuận có diện tích có chứa quặng titan – zircon là 774km2 với tài nguyên dự báo khoảng 558 triệu tấn (gấp 16 lần số tổng trữ lượng sa khoáng các tỉnh trong cả nước cộng lại – theo số liệu của Viện Mỏ và luyện kim, tổng trữ lượng tài nguyên dự báo quặng titan Việt Nam đến tháng 12/2004 là khoảng 34,5 triệu tấn).

Tình trạng không thực hiện đầy đủ các nội dung giấy phép, các biện pháp bảo vệ môi trưòng, khai thác không đúng thiết kế mỏ, sử dụng nước mặn trong khai thác titan diễn ra khá phổ biến dẫn đến sạt lở sông, suối, ô nhiễm môi trường, hủy hoạtđất và tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động. Bên cạnh đó việc vận chuyển, kinh doanh khoáng sản trái phép hoặc vượt quá tải trọng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây hư hỏng đường sá, cản trở giao thông, gây bụi bặmảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân.

Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên một phần do các tổ chức, cá nhân khai thác vì lợi nhuận và lợi ích kinh tế của bản thân mà làm liều, làm ẩu, bất chấp quy định pháp luật. Nhưng chủ yếu là công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản còn yếu kém thể hiện qua sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ, một số địa phương buông lỏng, làm ngơ, cho phép khai thác, tận thu khoáng sản khôngđúng thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm trong quản lý cũng như xử lý các vụ việc xảy ra.

Bộ máy nhà nuớc tham nhũng, doanh nghiệp vì quyền lợi cá nhân mà đua nhau bán khóang sản sang Trung Quốc. Vì Trung Quốc trả lợi nhuận quá cao không những các doanh nghiệp mà kéo theo đó hàng lọat nguời dân đua nhau khai thác để rồi đưa sang Trung Quốc. Đã đến lúc mỗi người dân cần phải lên tiếng.

Bình Thuận có công ty khóang sản quốc tế Hải Tinh liên doanh trực tiếp với Trung Quốc khai thác titan cả ngày lẫn đêm. Công ty này đưa rất nhiều nguời Trung Quốc sang trực tiếp khai thác và quản lý. Tòan bộ máy móc đều được nhập từ Trung Quốc.

Tính từ ngày 1/1/2010 đến 31/8/2011 đã có 50 chuyến tàu rời Cảng Cát Lở vận chuyển titan đi Hải Phòng, Quảng Ninh và sang Trung Quốc với số lượng hơn 60 ngàn tấn. Ngoài một số lượng rất ít được khai báo với hải quan là xuất đi nước ngoài, các ông chủ trong đường dây này đã phù phép một số lượng lớn thành hàng “xuất khẩu nội địa”. Thế nhưng thật trớ trêu điểm đến của titan là Hải Phòng và Quảng Ninh lại hoàn toàn không có bất cứ một nhà máy hay cơ sở nào chế biến titan đúng nghĩa!

Được biết nhiều lô hàng xuất sang Trung Quốc đã bị chặn lại nhưng sau đó không biết bằng thủ thuật gì mà các lô hàng đó vẫn đuợc đưa về Trung Quốc. Với kiểu mượn tư cách pháp nhân mua bán lòng vòng, hàng trăm ngàn tấn quặng titan thô đã và đang được “hô biến” xuất lậu ào ạt sang các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Trung Quốc.

“Núp bóng” resort, khai thác titan

Khi Bộ Tài nguyên Môi trường công bố diện tích 774km2 có quặng sa khoáng titan với trữ lượng 558 triệu tấn, tỉnh Bình Thuận không biết nên mừng hay nên lo. Còn những chủ dự án du lịch thì nhấp nhổm như ngồi trên lửa.

Theo quy định của Luật Khoáng sản, những khu vực có titan phải được khai thác trước khi tiến hành xây dựng công trình trên đó. Do quy định này nên hiện nay Bình Thuận có gần 200 dự án (du lịch, dịch vụ thương mại, điện gió, trồng rừng sinh thái, khu dân cư…) không thể triển khai được, phải chờ khai thác sa khoáng titan bên dưới.

Với lượng titan lớn như vậy nên không thể khai thác trong một thời gian ngắn. Vậy là các dự án du lịch có titan phải chờ để giải bài toán sa khoáng titan. Nhiều chủ đầu tư dự án du lịch, resort tại Bình Thuận bắt đầu tính chuyện đầu tư mua máy móc và khai thác titan ngay trên đất dự án của mình. Công ty LDKS QT Hải Tinh có một mỏ lớn tại Suối Nhum, Tiến Thành,Thành Phố Phan Thiết, trá hình là công ty cổ phần du lịch và phát triển Bình Thuận. Với diện tích gần 200ha công ty này hoạt động cả ngày lẫn đêm với những máy móc, thiết bị lớn gọi là “bè” để đãi Titan nằm giữa ao lớn (xin xem hình). Công ty này có khỏang 30-40 bè và đang chuẩn bị rắp ráp hàng trăm bè nhập từ Trung Quốc. Một ngày một đêm khai thác gần cả ngàn tấn titan thô.

Tại bãi biển thị xã La Gi, bên trong diện tích đất rộng chạy dọc bãi biển của dự án du lịch Sài Gòn-Hàm Tân. Không ai có thể nhận ra đây là khuôn viên của một dự án resort 200 ha với tổng vốn đầu tư lên đến 150 triệu USD do Công ty cổ phần du lịch Sài Gòn-Hàm Tân làm chủ đầu tư.

Ông Huỳnh Giác, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cho biết có hai dự án resort quy mô lớn là resort Sài Gòn-Hàm Tân (thị xã La Gi) và dự án resort Cảnh Viên (huyện Hàm Tân) đã khai thác titan trên diện tích đất dự án được hơn một năm nay.

Trong quá trình triển khai xây dựng resort, phát hiện thấy có titan nên tỉnh đã đồng ý cho phép chủ đầu tư khai thác tận thu titan bên trong đất dự án để sớm triển khai dự án du lịch.Ngoài ra, có một số dự án resort lớn nhỏ chậm triển khai nhiều năm do nhà đầu tư lấy cớ tận thu titan để kéo dài thêm thời gian, đào bới đất đai, gây ô nhiễm môi truờng. Dư luận không hề có một tiếng nói gì truớc thảm cảnh chảy máu khóang sản về Trung Quốc.

Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được và là tài sản quan trọng của quốc gia và từng địa phương. Nó là tài sản của các thế hệ Việt Nam mai sau, thử hỏi với tình trạng tận khai xuất đi Trung Quốc như hiện nay thì Việt Nam có còn Khoáng sản hay không? và môi trường sinh thái các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ ra sao?

VÕ THIỆN THANH

*********************

Bài 3

Ở BÌNH ĐỊNH

Các mỏ sa khoáng ở Bình Định bị ô nhiễm phóng xạ
Phát hiện phóng xạ trong nước

… qua phân tích cường độ gamma (phóng xạ) mặt đất tại 18.000 điểm, cũng như phân tích hàng ngàn mẫu vật cho thấy: quá trình khai thác, chế biến, sử dụng các sa khoáng … tăng khả năng xâm nhập của các nguyên tố phóng xạ vào môi trường xung quanh gây ô nhiễm phóng xạ.

Theo ông Anh, có hai khu vực chủ yếu bị ảnh hưởng phóng xạ là xưởng tuyển ướt và xưởng tuyển tinh. Tại xưởng tuyển tinh quặng, tập trung nhiều tinh quặng chứa chất phóng xạ, do đó, khu vực này bị ô nhiễm phóng xạ đối với môi trường dân cư, nhân viên làm việc trong xưởng. Ở xưởng tuyển ướt, vị trí gây ô nhiễm phóng xạ chủ yếu là đống quặng được làm giàu 85 – 92%. “Do đó, người dân sinh sống ở vùng có quặng sa khoáng titan, công nhân làm việc ở xưởng tuyển có nguy cơ nhiễm xạ cao hơn những vùng khác”, ông Anh nói.

Trong khi đó, báo cáo khoa học của GS Lê Khánh Phồn, trưởng khoa dầu khí trường đại học Mỏ – địa chất, chủ trì nghiên cứu cùng một nhóm các nhà khoa học – một trong những công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về ô nhiễm phóng xạ do khai thác titan, cho biết các cơ sở sàng tuyển cát lấy titan thải ra lượng lớn hỗn hợp khoáng chất, trong đó có monazit phát ra tia phóng xạ với cường độ rất nguy hiểm. Tiến hành đo mức phóng xạ tại hơn 1.000 điểm ở một khu khai thác quặng titan ven biển Nam Trung bộ (trong đó có Bình Định), các nhà khoa học kết luận vùng ô nhiễm phóng xạ (vượt quá tiêu chuẩn an toàn cho phép) bao quanh thân quặng có dạng kéo dài với bề rộng từ 200 – 500m, dài hơn 6km. Hầu hết, nước từ quá trình tuyển khoáng cho chảy trực tiếp ra biển, không qua giai đoạn xử lý nào.

Dân điêu đứng vì môi trường bị huỷ hoại

Sa khoáng titan có năm hợp chất cơ bản gồm ilmenite, zircon, rutin, monazit, manhetit. Báo cáo khoa học của GS Lê Khánh Phồn chỉ rõ trong quặng ilmenit, zircon có các khoáng vật chứa các chất phóng xạ, nhất là khoáng vật monazit, có hàm lượng phóng xạ cao, rất nguy hiểm đối với sức khoẻ con người. Từ lâu, các chuyên gia viện Nghiên cứu năng lượng nguyên tử quốc gia đã cảnh báo cần quản lý chất monazit thải ra trong quá trình khai thác, chế biến titan như một chất phóng xạ, phải chứa trong những hầm bêtông tại các bãi thải quy định.

Nhiều năm nay, người dân các địa phương bị các doanh nghiệp khai thác titan đua nhau huỷ hoại rừng phòng hộ ven biển, nguồn nước sinh hoạt ngày càng cạn kiệt.
Tại xã Mỹ Thành (huyện Phù Mỹ), một trong những địa phương có trữ lượng titan lớn nhất Bình Định, hiện có hơn mười doanh nghiệp đua nhau xới tung bờ biển với vài chục giàn hút titan. Theo người dân các xã Mỹ Thành, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ), gần đây các địa phương này hầu như không còn thuỷ sản nào sống nổi. Ông Lê Văn Ngân ở thôn Tân Thành, xã Mỹ Thọ cho biết: “Vùng biển này vốn có nhiều loài ngao, sò, ốc, ghẹ, cá, ruốc… sinh sống gần bờ, thế nhưng, bây giờ các loài thuỷ sản này đều biến mất”.

http://sgtt.vn/Thoi-su/162033/Cac-mo-sa-khoang-o-Binh-Dinh-bi-o-nhiem-phong-xa.html


Ám ảnh titan

10/06/2012 3:15

Người dân các xã Mỹ Thành, Mỹ Thọ, Mỹ An (H.Phù Mỹ, Bình Định) đang gánh chịu tình trạng ô nhiễm nặng nề từ hoạt động khai thác và chế biến ti tan của các doanh nghiệp.

Nước thải, khói bụi, mùi hôi thối từ các công ty, nhà máy đã khiến tôm cá gần bờ vắng bóng, hàng ngàn hộ dân phải sống cảnh ngột ngạt và đầy âu lo.


Người dân xã Mỹ Thọ ăn ngủ tại chỗ để giữ rừng dương – Ảnh: Trần Thị Duyên

Những cái chết tức tưởi

Chỉ trong vòng 2 năm, xã Mỹ Thọ đã có đến hơn chục giấy báo tử từ 2 căn bệnh: ung thư gan và phổi. Lão ngư Huỳnh Chiên (69 tuổi, ở thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ) cho biết: “Trước đây, dân làm biển chúng tôi khỏe lắm. Lâu lâu mới có người chết đi vì già yếu chứ ít có trường hợp bị ung thư. Nhưng từ khi có hoạt động khai thác khoáng sản, có nước thải, khí thải từ các nhà máy thì không hiểu sao số người bị ung thư rồi chết lại tăng hàng loạt”.

Hai anh em ngư dân Phạm Y (66 tuổi) và Phạm Sỹ (59 tuổi, cùng ở thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ) mắc một chứng bệnh giống nhau, lần lượt sau 2 buổi đi câu khoảng 2 tháng trước. “Tối đó, tui đang câu mực gần bờ ở sát một nhà máy chế biến ti tan thì thấy khói bụi túa ra. Lượng khói này có màu trắng đục, mùi khét lẹt rất khó chịu. Gió đưa số khói bụi này tạt vào mặt rồi từ đó đến nay hai bên má nổi sần, mụn xì bọt màu vàng đục liên tục”, ông Phạm Sỹ kể lại.

Đầu tháng 5.2012, ông Phạm Y đi câu mực ở khu vực trên cũng gặp phải luồng gió kia và về mắc bệnh y như em trai mình. Dù đã chạy chữa nhiều nơi nhưng phần da sần bọc mủ đau rát vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Thế nhưng vì miếng cơm manh áo, những ngư dân ấy vẫn phải tiếp tục công việc và hứng chịu ô nhiễm.

5 năm đã trôi qua nhưng chị Nguyễn Thị Vinh (40 tuổi, ở thôn Hòa Hội Bắc, xã Mỹ Thành) vẫn không thôi xót xa thương nhớ và tức giận trước cái chết oan uổng của đứa con trai đầu lòng. Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, con trai chị (lúc đó 18 tuổi) đi thăm thầy cô thì bị sụt chân xuống hố lầy do một công ty khai thác khoáng sản trong quá trình khảo sát để lại. Chị Vinh nén lòng kể: “Nó chết quá đột ngột trong hố ngập ngụa sình lầy. Không ai dám nhảy xuống mà cũng không thể xuống đó để vớt nó lên. Gia đình tôi phải nhờ đến xe cần cẩu. Người của công ty đó mang 15 triệu đồng tới cốt để chúng tôi không kiện tụng. Lúc ấy, tôi như phát điên, không còn biết gì nữa…”.

Một năm trở lại đây, người dân xã Mỹ Thành không còn thấy lạ trước chuyện khói bụi, xỉ ti tan ùn ùn ùa vào nhà, đóng lớp lớp cáu bẩn. Một ngày có đến vài bận họ phải đóng kín các cửa, chờ gió đi qua và nhà máy ngưng nhả bụi. Bà Phan Thị Tía (70 tuổi) mỉa mai: “Ông chủ tịch xã nói với chúng tôi là Mỹ Thành may mắn lắm vì có ti tan. Có lẽ chỉ mình ổng thấy may chứ tụi tôi không ham khói bụi, ô nhiễm… Lỡ có mưa bão, sóng to gió lớn gì thì cũng bà con gánh chứ ai gánh?”.

Không chỉ gây hại đến con người, cơn lốc ồ ạt khai thác ti tan của các doanh nghiệp còn “khai tử” hàng loạt cây dương – lá chắn của làng chài, biến từng khoảnh rừng bỗng chốc trọc lóc, trơ trụi và dẹp luôn cả nghề làm ruốc, hấp cá của phụ nữ xóm biển. Chị Nguyễn Thị Trang (46 tuổi, ở thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ), người có gần 8 năm theo nghề làm ruốc, bảo ruốc thường xuất hiện ở gần bờ nhưng 3 năm nay, từ khi xuất hiện nhà máy khai thác ti tan, thì lũ ruốc không còn nữa. “Khi nào dân phản ứng, la lên thì nhà máy bịt ống xả thải lại. Mấy ngày đó, ruốc, cá cơm săn quay trở về. Được vài bữa, họ xả ra thì mọi việc lại y như cũ, cá ruốc gì cũng chết hết. Tôi phải bỏ nghề hấp cá cơm mấy năm nay”, chị Lê Thị Loan (42 tuổi, ở thôn Tân Phụng, xã Mỹ Thọ) bùi ngùi nói…

http://vn.news.yahoo.com/%C3%A1m-%E1%BA%A3nh-titan-010103713.html

Nguy cơ nhiễm xạ tại các vùng khai thác titan



Xưởng tuyển tinh quặng thường là nơi tập trung nhiều tinh quặng chứa chất phóng xạ, do đó khu vực này bị ô nhiễm phóng xạ đối với môi trường dân cư, nhân viên làm việc trong xưởng. Còn ở xưởng tuyển ướt, vị trí gây ô nhiễm phóng xạ chủ yếu là đống quặng được làm giàu 85 – 92%, do đó người dân sinh sống ở vùng có quặng sa khoáng titan, công nhân làm việc ở xưởng tuyển có nguy cơ nhiễm xạ cao hơn những vùng khác.

Một nghiên cứu mới đây do GS. Lê Khánh Phồn – Trưởng khoa Dầu khí (Đại học Mỏ địa chất) chủ trì cũng chỉ ra rằng, các cơ sở sàng tuyển cát lấy titan thường thải ra một lượng lớn hỗn hợp khoáng chất, trong đó có monazit phát ra tia phóng xạ với cường độ rất nguy hiểm. Tiến hành đo mức phóng xạ tại hơn 1.000 điểm ở một khu khai thác quặng titan ven biển Nam Trung Bộ (trong đó có Bình Định), các nhà khoa học kết luận vùng ô nhiễm phóng xạ (vượt quá tiêu chuẩn an toàn cho phép) bao quanh thân quặng có dạng kéo dài với bề rộng từ 200 – 500m, dài hơn 6km. Hầu hết, nước từ quá trình tuyển khoáng cho chảy trực tiếp ra biển, không qua giai đoạn xử lý nào.

Điều đáng quan ngại là nhiều năm trở lại đây, thực trạng khai thác titan tại Bình Định diễn ra rầm rộ khiến không chỉ nguồn tài nguyên rừng phòng hộ ven biển bị hủy hoại mà cả nguồn nước sinh hoạt của bà con và nguồn lợi thủy sản đều bị ảnh hưởng. Nguy hiểm hơn, hầu hết nước thải từ quá trình tuyển quặng của các doanh nghiệp đều đổ trực tiếp ra biển mà không qua giai đoạn xử lý nào, khiến môi trường ngày càng bị ô nhiễm và sức khỏe người dân (đặc biệt là những công nhân lao động) ngày càng suy giảm…

http://www.thiennhien.net/2012/03/21/nguy-co-nhiem-xa-tai-vung-khai-thac-titan/

********

Bài 4

Biếu Không Nước Ngoài Mỏ Than, bằng cách ký hớp đồng ăn chia 9/1.

Indonesia khai thác than đá lộ thiên ở Việt Nam, và được hưởng 90%. Còn Việt Nam là nước có mỏ than, nhưng đảng CSVN và Nhà Nước khi ký hợp đồng chỉ xin nhận 10%!  Đó là sự vô lý không thể nào tin được, nhưng đó là sự thật. Mời các bạn đọc.

Đặc biệt, hợp đồng khai thác hàng năm là 500.000 tấn than, nhưng công ty của người Indonesia ngang nhiên chở về 800.000 tấn- 1 triệu tấn than hàng năm.  

Riêng mỏ than ở Quãng Ninh đã khai thác suốt hơn 30-40 năm qua, bán cho Trung Quốc với giá cực rẻ  (Trung Quốc mua than để chạy máy phát điện) Vì khai thác than quá độ để chở qua Trung Quốc bán, nên hiện nay, VN sẽ phải mua than của nước ngoài, giá than nhập khẩu hiện nay đắt gấp 2 – 5 lần giá than mà VN đã bán cho TQ trong các năm trước.

Trử lượng than đá của Miền Bắc rất nhiều, nhưng hơn 30 năm qua, đảng và nhà nước không chịu xây thêm nhà máy điện dùng than làm nhiên liệu đốt (sản suất điện bằng cách đốt than chạy máy được xem là có giá thành rẻ nhất sau thủy điện, và là rẻ nhất và an toàn nhất so với điện hạt nhân, phong điện, và điện mặt trời, điên lấy từ sức nóng trong lòng đất (địa nhiệt)}. Hiện nay, đảng và nhà nước đang mượn tiền của Nhật để xây nhà máy điện hạt nhân ở Bình Thuận, bất chấp sự phản đối của dân chúng người Chàm, và các nhân sĩ, các nhà khoa học hạt nhân trong và ngoài nước, cùng sự phản đối của Thái Lan…vì ai cũng sợ tai họa phóng xạ nguyên tử gây ra từ điện nguyên tử rò rĩ từ các nhà máy điện nguyên tử. Đảng và Nhà nước thích mượn tiền ngoại quốc xây nhà máy điện hạt nhân vì 30% của số tiền 10 tỷ đô la (Mỹ) mượn được từ Nhật sẽ chui vào túi của các đảng viên cao cấp và các công ty con.  Mời các bạn nhấp chuột vào đây để đọc những chuyện của các đỉnh cao trí tuệ của loai người điều hành nền kinh tế VN và cách ký hợp đồng ngoạn mục nhất chưa từng thấy.

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 1/9

Báo  THANH NIÊN

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất

Một mỏ than lộ thiên với chất lượng than tốt nhất ở Việt Nam đang là “lãnh địa riêng” của một công ty Indonesia. Mỗi năm, công ty này hưởng 90% lợi nhuận trong khi phía Việt Nam chỉ được hưởng 10%.

Nghịch lý

Ngày 19.4.1991, Công ty than Uông Bí (TUB), đơn vị thành viên của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty Pt.Vietmindo Energitama, 100% vốn Indonesia (VMD). Theo đó, VMD sẽ đầu tư toàn bộ máy móc, công nghệ để khai thác trong 30 năm mỏ than Uông Thượng, Đồng Vông. Lợi nhuận được chia theo tỷ lệ 90% cho VMD và 10% còn lại là của TUB. Đây là mỏ than lộ thiên có diện tích trên 1.000 ha, nằm trên địa bàn P.Vàng Danh, TP.Uông Bí và cũng là nơi có vỉa than tốt hạng nhất ở Quảng Ninh.

VMD chỉ việc khai thác trên mặt đất là đã dễ dàng thu được than cám 4, cám 5, là những loại than có chất lượng tốt nhất hiện nay.

Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) thành viên Vinacomin như Công ty than Mạo Khê, than Núi Béo, thậm chí cả TUB phải đầu tư hàng ngàn tỉ đồng vào công nghệ khai thác hầm lò và dùng sức người đào sâu vào lòng đất cả trăm mét mới lấy lên được than.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hợp đồng hợp tác và luận chứng kinh tế kỹ thuật quy định VMD chỉ được phép khai thác than nhằm mục đích duy nhất là xuất khẩu. Quy định của hợp đồng hợp tác khống chế mỗi năm VMD chỉ được phép khai thác 500.000 tấn than thương phẩm, tương đương khoảng 750.000 tấn than nguyên khai. Trên thực tế, nhiều năm qua VMD luôn khai thác vượt con số nói trên. Đơn cử năm 2010, VMD đã khai thác khoảng 750.000 tấn than thương phẩm, năm 2011 là trên 800.000 tấn.

 

Có thể Việt nam đang phải nhập khẩu than của chính mìnhTheo Vinacomin, ước tính vào năm 2014, 2015 Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 1-6 triệu tấn than. Lượng than nhập khẩu sẽ tăng lên hằng năm. Dự kiến đến năm 2025, lượng than nhập khẩu lên tới 40 triệu tấn. Than nhập khẩu chủ yếu sẽ được cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện. Giữa năm 2011, lần đầu tiên Việt Nam đã nhập khẩu thí điểm 9.500 tấn than từ chính Indonesia với giá 100,6 USD/tấn than (tính cả cước vận tải). Lãnh đạo Vinacomin khẳng định việc nhập khẩu là để thăm dò thị trường, làm quen với phương thức nhập khẩu, vận chuyển. Rất có thể, Việt Nam đang phải nhập khẩu than của chính mình. Vinacomin chọn Indonesia để “thí điểm” bởi đây là một trong những nguồn cung phù hợp nhất với Việt Nam hiện nay, cả về quãng đường vận chuyển, loại than lẫn giá thành. (Thái Uyên)

 

Cũng theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, toàn bộ các công đoạn sản xuất, khai thác và kinh doanh than được VMD thực hiện theo dây chuyền khép kín. Khai trường cũng như nơi sàng tuyển than của VMD luôn đặt trong tình trạng “nội bất xuất ngoại bất nhập”. VMD còn có cả một cảng riêng để xuất khẩu than mà muốn xuất hiện tại đây để kiểm tra hay thực hiện công tác về chuyên môn, các cơ quan chức năng Việt Nam cũng như đối tác TUB phải được sự cho phép của VMD (?!).

Còn chịu thiệt dài dài

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Phạm Văn Tứ, Phó tổng giám đốc TUB, thừa nhận tình trạng trên là có thật, nhưng “nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do lịch sử để lại” và “bản thân chúng tôi là những người đi sau, thừa kế”. Theo ông Tứ, bản hợp đồng liên doanh trên danh nghĩa là do TUB ký kết với VMD nhưng thực tế TUB không được quyết định mà do Bộ Công nghiệp thời đó trực tiếp phê duyệt.

“Có thể nói, VMD là DN nước ngoài đầu tiên và cũng là duy nhất hợp tác kinh doanh với ngành than cho đến nay. Trong quá trình hợp tác chúng tôi thấy rằng việc ký kết hợp đồng thời điểm đó chưa tính toán hết những vấn đề phát sinh hay nói đúng hơn là có nhiều kẽ hở khiến mình phải chịu thiệt thòi”, ông Tứ nói.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hợp đồng ký kết giữa hai bên không hề có một điều khoản nào tạm dừng hoạt động của VMD kể cả trong trường hợp DN này vi phạm hợp đồng. Mặt khác, toàn bộ hoạt động khai thác, sản xuất kinh doanh đều ghi rõ VMD là người điều hành. TUB không được phép kiểm tra, thậm chí việc rót than xuống cảng đưa lên tàu nước ngoài cũng do VMD trực tiếp thực hiện và TUB không được phép can thiệp.

Đối với việc kiểm soát số lượng than do VMD sản xuất hằng năm, ông Phạm Văn Tứ cũng cho rằng chỉ được biết qua khâu hậu kiểm, bởi than từ mỏ lấy lên, sàng tuyển cho đến khâu vận chuyển ra cảng bán đều do VMD thực hiện, TUB không được phép kiểm tra trực tiếp. Mặc dù pháp luật Việt Nam bắt buộc việc khai thác khoáng sản hiện nay phải có giấy phép quy định về sản lượng theo hằng năm nhưng tại các mỏ của VMD, giấy phép khai khoáng không có hiệu lực, bởi hợp đồng liên doanh được ký trước thời điểm quy định về giấy phép khai thác khoáng sản.

Đánh giá về vai trò đối tác của TUB, ông Tứ cay đắng: “Chúng tôi chỉ biết đi vào đi ra và nghiên cứu khoa học mà thôi. Trước tình trạng này, chúng tôi đã nhiều lần đề nghị VMD đàm phán lại hợp đồng với các điều khoản công bằng hơn cho đối tác nhưng đến nay họ chưa đồng ý. Điều này cũng đồng nghĩa với những thiệt thòi của chúng ta sẽ tiếp tục kéo dài cho đến khi hết hạn hợp đồng (tức năm 2021 – PV)”.

Trong khi đó, theo nhiều thông tin PV Thanh Niên có được, trong quá trình khai thác, VMD đã nhiều lần có văn bản đề nghị các cơ quan chức năng cho phép nâng sản lượng khai thác; đồng thời xin gia hạn kéo dài hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ông Phạm Văn Tứ cho biết thêm: “Than ở Uông Bí ngày càng cạn kiệt, chúng tôi cũng muốn giữ một phần tài nguyên để cho công ty mình khai thác nhưng bây giờ họ đang tiếp tục lập các dự án mới khai thác 1-2 triệu tấn. Việc này TUB không thể can thiệp được mà phải do các cơ quan khác cao hơn”.

**

Thất thoát, lãng phí rất lớn

Nhìn từ bên ngoài, khai trường mênh mông của VMD là một khu vực biệt lập được bảo vệ bởi hệ thống barie có gắn các thiết bị giám sát điện tử cực kỳ hiện đại. Thế nhưng, đi sâu vào bên trong là cảnh tượng hàng trăm người dân thường trực mót than rất lộn xộn, nguy hiểm. Tại khu vực chứa bãi thải của VMD rộng tương đương một sân bóng đá nằm trên một triền núi, mỗi khi một chiếc xe tải vừa nghiêng thùng đổ đất đá, xít (bã thải sau khi sàng tuyển than) xuống thì từng đoàn người xông vào tranh cướp mót than. Mỗi người cầm theo một bao tải dứa và cào sắt nhẫn nại nhặt từng cục than cho vào bao. Chị Lê, một người mót than cho biết: “Nếu chăm chỉ thì mỗi ngày cũng được vài ba tạ than, bán được cỡ dăm trăm ngàn đồng, hơn hẳn làm nông ở nhà”.

Thượng tá Nguyễn Quang Thành, Trưởng công an TX.Uông Bí, cho biết khai trường của VMD là khu vực cực kỳ phức tạp về tình hình an ninh trật tự. Tại đây luôn có khoảng 500 – 600 người dân túc trực mót than, không ít đối tượng lợi dụng vào việc này để ăn cắp than. Căn cứ theo các điều khoản hợp đồng ký với Công ty than Uông Bí, VMD đã thuê một số DN bên ngoài vào tham gia bóc tách lớp đất đá bên trên để họ lấy than phía bên dưới. Tuy nhiên, phía VMD lại không quản lý được mà để cho một số đơn vị này tự tung tự tác, múc cả đất đá lẫn than lên để ăn cắp, hoặc bật đèn xanh cho người dân vào lấy than còn họ thu tiền “tô”. Thượng tá Thành còn cho biết: “Theo hợp đồng, mỗi năm VMD chỉ được khai thác một số lượng than nhất định, do đó họ sẵn sàng bóc tách lớp than tạp để khai thác vỉa than đẹp nhất. Điều này gây lãng phí cực lớn về tài nguyên quốc gia, gây bất ổn về an ninh trật tự, an toàn lao động”.Đáng lưu ý, vào tháng 5.2010, khi kiểm tra tại khu vực các DN khai thác, cơ quan công an đã phát hiện, thu giữ 19 khẩu súng các loại, 6 áo giáp chống đạn, 109 viên đạn cùng nhiều dao kiếm. Đầu năm 2011, lực lượng chức năng qua kiểm tra tiếp tục phát hiện, thu giữ được 7 khẩu súng, 30 viên đạn, cùng nhiều dao kiếm các loại.

Thái Sơn – Káp Long

THANH NIÊN

—————————–

Việt Nam:

Nguy cơ công nghiệp hoá  “chết yểu” vì Trung Quốc

29-5-2013

(Dân trí) – Trong ASEAN, không phải quốc gia nào cũng bất lợi trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Nhưng một số nước, trong đó có Việt Nam, bên cạnh không kiểm soát nổi nhập khẩu thì còn có nguy cơ công nghiệp hoá sớm đổ bể do xuất khẩu tài nguyên sang Trung Quốc.

Theo đánh giá của TS Vũ Viết Ngoạn, với 7 chương, dày hơn 400 trang, Báo cáo thường niên Kinh tế Việt Nam năm nay do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) công bố đã đưa ra nhiều phân tích mang tính phát hiện về kinh tế Việt Nam.Trong báo cáo này, các chuyên gia kinh tế của VEPR đã chỉ ra sự bất lợi của Việt Nam sau khi gia nhập Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc và nguy cơ “giải công nghiệp hoá” đã trở nên hiện hữu.Phóng viên Dân trí đã có cuộc trao đổi riêng với TS Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình nghiên cứu kinh tế Trung Quốc (VCES) xung quanh vấn đề này:

Thưa TS, ông có thể nói rõ hơn về khái niệm “giải công nghiệp hóa”. Tình trạng này đã từng xảy ra ở những quốc gia nào trên thế giới?

Thật ra đây không phải là khái niệm mới mẻ. Ý nghĩa ban đầu xuất phát từ việc các quốc gia phát triển sau khi hoàn thành quá trình công nghiệp hóa bắt đầu chuyển sang phát triển nhằm nâng cao tỉ trọng ngành dịch vụ hiện đại trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, khái niệm giải công nghiệp hóa được chúng tôi sử dụng ở đây mang hàm ý khác. Nó chỉ việc một quốc gia chưa hoàn thành được quá trình công nghiệp hóa thì đã bị tác động, và cuối cùng, không hoàn thành được quá trình này. Nói cách khác, khái niệm giải công nghiệp hóa (de-industrialization) ở đây mang hàm nghĩa công nghiệp hóa “chết yểu”.

Nguồn gốc của quá trình giải công nghiệp hóa “kiểu mới” gắn liền với sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc. Nhưng cần phải nói ngay rằng, sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc bản thân nó không phải là sự đe dọa đối với các nền kinh tế. Chính sự phát triển tự thân của mỗi nền kinh tế mới quyết định xem sự trỗi dậy của Trung Quốc có phải là sự đe dọa đối với mình hay không.

Nội dung của khái niệm giải công nghiệp hóa “kiểu mới” hoặc “lời nguyền tài nguyên mới” chỉ việc một quốc gia giàu tài nguyên hoặc có trình độ công nghiệp hóa thấp hơn Trung Quốc bị hấp dẫn bởi việc xuất khẩu tài nguyên, hàng hóa thô-sơ chế sang Trung Quốc nên nguồn lực sản xuất trong nước có thể bị dịch chuyển khỏi các ngành công nghiệp hiện có.

Song song với quá trình đó, Trung Quốc lại xuất khẩu hàng công nghiệp thành phẩm có khả năng cạnh tranh rất tốt sang quốc gia xuất khẩu tài nguyên. Kết quả, sản xuất công nghiệp của quốc gia xuất khẩu tài nguyên bị thu hẹp, thậm chí không thể phát triển được, khiến quốc gia đó bị gắn chặt vào việc xuất khẩu tài nguyên và các hàng hóa có hàm lượng kĩ thuật thấp.

Hiện tượng giải công nghiệp hóa có lẽ đã diễn ra ở châu Phi. Trong giai đoạn 2000 – 2008, xuất khẩu dầu thô, khí đốt, nguyên vật liệu và quặng khoáng sản chiếm 86% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa từ châu Phi sang Trung Quốc.

Điều đáng nói là mặc dù cơ cấu thương mại giữa châu Âu và châu Phi cũng có đặc điểm này nhưng sự hạn chế của Trung Quốc đối với việc nhập khẩu các hàng gia công chế biến từ châu Phi ngặt nghèo hơn nhiều so với sự hạn chế của châu Âu lên hàng hóa châu Phi.

Cụ thể là, năm 2006, trong số hơn 400 hàng hóa xuất khẩu được hưởng ưu đãi nhập khẩu từ châu Phi thì đa phần là khoáng sản và tài nguyên, các khoản xuất khẩu này mỗi năm đem lại cho lục địa đen 10 tỉ USD. Điều này đã ngăn cản nỗ lực của các nước châu Phi trong việc xuất khẩu các hàng hóa có giá trị gia tăng lớn hơn.

Vậy theo ông, nguy cơ giải công nghiệp trong mối quan hệ thương mại với Trung Quốc của Việt Nam có thể sẽ xảy ra không? Vì sao?

Sau khi Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc hình thành, với việc các bên cùng thực hiện Chương trình thu hoạch sớm (EHP), nguy cơ giải công nghiệp hóa thông qua thương mại mà Trung Quốc tạo ra đối với ASEAN tương đối rõ nét.

Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar và phần nào là Indonesia là các nước chịu tác động này một cách rõ nét nhất. Nguyên nhân căn bản là các quốc gia này đều giàu có về tài nguyên hoặc nguyên liệu đầu vào, trong khi đó, trình độ công nghiệp hóa lại thấp hơn Trung Quốc và  ACFTA đã gỡ bỏ hầu hết rào cản thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc.

Quan sát chúng ta sẽ thấy sự phân hóa về thương mại giữa các nước ASEAN với Trung Quốc. Không phải quốc gia nào cũng bất lợi trong quan hệ với Trung Quốc. Điển hình là Malaysia, Thái Lan, Singapore, họ quan hệ thương mại bình đẳng và có lợi với Trung Quốc. Hàng xuất khẩu của các quốc gia này sang Trung Quốc đến 80% là hàng hóa có hàm lượng kĩ thuật cao. Và Trung Quốc càng phát triển, thương mại càng mở cửa thì họ càng được lợi, bởi lẽ các nước này ở một bậc cao hơn Trung Quốc trong chuỗi sản xuất khu vực Đông Á.

Trong khi đó, một số nước còn lại sẽ có mức thâm hụt ngày càng lớn với Trung Quốc khi 50-90% hàng xuất khẩu là hàng hóa sơ thế, tài nguyên thiên nhiên, và đáng buồn là Việt Nam nằm trong diện này.

Tất nhiên, phải nhìn nhận cho đúng là thâm hụt thương mại không phải là điều đáng lo ngại vì nó có thể được cải thiện khi cơ cấu hàng xuất khẩu được cải thiện. Điều đáng lo ngại là nguồn lợi thu được một cách dễ dãi từ xuất khẩu tài nguyên và hàng thô-sơ chế (như mủ cao su, thủy sản, nông sản sơ chế v.v.), các hàng hóa hàm lượng kĩ thuật thấp (như quần áo, giày dép v.v.) có thể triệt tiêu động lực nâng cấp ngành, tham gia vào các phân khúc cao hơn trong chuỗi sản xuất khu vực của quốc gia.

TS Phạm Sỹ Thành, Giám đốc VCES.

Nếu không bứt ra được khỏi sự hấp dẫn về xuất khẩu thô sang Trung Quốc, Việt Nam khó tránh khỏi “lời nguyền tài nguyên”.

Theo ông, trong thương mại với Trung Quốc, Việt Nam được lợi và bất lợi như thế nào? Ông có đánh giá như thế nào khi sự bành trướng của kinh tế Trung Quốc rất mạnh mẽ trong khi rào cản kỹ thuật của Việt Nam đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc lại rất lỏng lẻo?

Trong thương mại với Trung Quốc, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong nhóm hàng thô-sơ chế hoặc có hàm lượng kĩ thuật thấp. Từ năm 2004, Trung Quốc trở thành nước nhập siêu về nông sản. Đây là điều Việt Nam có thể tận dụng vì Việt Nam có ưu thế sản xuất trong lĩnh vực này.

Điều không “bình thường” duy nhất là hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc hiện nay đều là hàng sơ chế, với giá trị gia tăng rất thấp.

Bên cạnh việc bị áp đặt các hàng rào kĩ thuật, hàng hóa Việt Nam khi xuất khẩu sang Trung Quốc được tập trung ngay tại cửa khẩu, tại các khu thuế quan tổng hợp – Trung Quốc gọi đây là các “cảng cạn”. Sau khi chế biến mới tiếp tục xuất khẩu sâu vào trong nội địa. Phần giá trị gia tăng đó trên thực tế đã thuộc về các doanh nghiệp chế biến của Trung Quốc.

Bên cạnh đó, sự điều chỉnh cơ cấu ngành của chính Trung Quốc cũng tạo ra thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam. Chúng ta nhận thấy thị phần một số ngành của Việt Nam trên thế giới như quần áo (2,22% năm 2007 lên 3,47% năm 2011) và da giày (3,55% năm 2007 lên 6,05% năm 2011)  tăng trưởng đều đặn. Điều này bắt nguồn từ 2 nguyên do: Thứ nhất, Trung Quốc dần từ bỏ các ngành này. Thứ hai, Trung Quốc “thông qua” Việt Nam để xuất khẩu các hàng hóa này sang những thị trường mà hàng Trung Quốc vẫn bị áp thuế cao trong khi hàng Việt Nam được hưởng mức thuế ưu đãi hơn. Đây chính là hiệu ứng chệch hướng thương mại thường thấy.

Tuy nhiên, bất lợi lớn của Việt Nam là chủ yếu xuất khẩu hàng có hàm lượng kĩ thuật hoặc giá trị gia tăng thấp nhưng nhập khẩu hàng có hàm lượng kĩ thuật hoặc giá trị gia tăng cao, khiến thâm hụt thương mại ngày càng mở rộng.

Một điểm đáng ngạc nhiên là sự kiểm soát về các tiêu chuẩn kĩ thuật đối với hàng hóa Trung Quốc của Việt Nam vô cùng lỏng lẻo, thậm chí trong nhiều lĩnh vực không có hoặc không thể kiểm soát được.

Nguyên nhân của tình trạng này một mặt bắt nguồn từ “lịch sử thương mại” Việt – Trung, khi mà thương mại tiểu ngạch từ Trung Quốc vẫn chiếm một tỉ trọng lớn (nhưng không thống kê được) trong thương mại giữa hai nước. Điều này gây khó khăn lớn cho việc kiểm tra, giám sát của hải quan và các lực lượng kiểm tra thị trường của Việt Nam.

Việc thiết lập các hàng rào kĩ thuật đối với hàng hóa Trung Quốc không chỉ giúp nâng cao chất lượng hàng nhập khẩu, đảm bảo lợi ích chính đáng của người tiêu dùng Việt Nam mà còn hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước khi hạn chế sự cạnh tranh đến từ hàng Trung Quốc giá rẻ, chất lượng thấp. Điều này, về lâu dài, có tác động tích cực đến việc giảm nhập siêu và phát triển khu vực công nghiệp phụ trợ.

Các quy định trong Hiệp định thương mại hàng hóa của ACFTA rập khuôn hầu như toàn bộ các điều khoản qui định của Hiệp định WTO, do vậy, việc xây dựng hàng rào kĩ thuật theo “Hiệp định về hàng rào kĩ thuật trong thương mại” trong khuôn khổ WTO có thể giúp Việt Nam vừa thiết lập được hàng rào phi thuế quan cần thiết đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vừa tránh được các khiếu kiện và va chạm thương mại.

Các hàng rào kĩ thuật có thể xây dựng bao gồm: Quy định về biện pháp kiểm dịch động và thực vật; về vệ sinh an toàn thực phẩm; về truy xuất nguồn gốc sản phẩm; quy định về bảo vệ môi trường và nguồn lợi.

Nhìn chung, sự gia nhập của Việt Nam vào các định chế kinh tế – thương mại mang tính khu vực hay toàn cầu là cơ hội hay là nguy cơ đối với các ngành sản xuất trong nước hoàn toàn phụ thuộc vào chính Việt Nam. Chúng ta hãy nhìn vào Thái Lan, Singapore và Malaysia!

Bích Diệp thực hiện
ABC CHÍNH TRỊNgười ta dùng tiền thuế của bạn làm chính trị
Người ta giả danh bạn, tự ủy quyền làm chính trị
Người ta tự sắp xếp mọi ghế
Người ta tự vẽ ra các loại luật
Người ta bắt bạn, con cái, cháu chắt của bạn tuân theo, cúi đầu
Người ta cựa quậy thoải mái
Nhưng cấm bạn quậy cựa
Người ta bắc loa khắp nơi
Nhưng cấm bạn mở mồm
Người ta và con cháu người ta có đủ loại quyền
Còn bạn và con cháu bạn thì bị hạn chế
Người ta bốc tiền, chia tiền từ công quỹ
Tự động ăn chia từ bán tài nguyên
Khai thác tài nguyên, khoáng sản
Người ta tự ý rút tiền từ vay tài trợ ký nhân danh bạn
Và chén
Nhưng bạn chỉ được đứng ngoài
Người ta chiếm hết của cải, tài sản của đất nước trong tay
Nhân danh ông trời
Nhân danh và cười nhạo vào bạn
Đất đai tài sản ông bà tổ tiên để lại
Họ cho bạn tấm giấy lộn
Nói rằng bạn chỉ được dùng nó có thời hạn
Mà không có quyền làm chủ chi hết
Bạn có quyền sở hữu cái dạ dày của bạn không?
Bạn có quyền sơ hữu cái cần câu cơm của bạn không?
Dù bạn có tiền mua chúng đi nữa
Không, bạn chỉ được thuê nó có thời hạn
Và có quyền phải nộp đủ thứ thuế, lệ phí,
Kể cả quyền buộc phải a dua vào phạm luật, đút lót, chạy chọt giấy tờ
Và khi họ muốn lấy đất đai thậm chí tài sản khác của bạn,
Họ chỉ cần hô biến
Họ cũng vẽ ra đủ màu giấy tờ
Và bắt bạn mua các chứng chỉ đó
Họ cho bạn chạy đèn cù
Họ luôn thắng
Bạn luôn thua
Bạn đòi lại các quyền của bạn
Từ quyền sống tới quyền tự do ư?
Quyền sở hữu, tư hữu ư?
Coi chừng, chỉ nghĩ trong đầu, cửa nhà tù đã mở
Thậm chí là nắp săng quan tài đã hé
Họ dùng tiền của bạn
Mua súng ống, đạn dược
Sắm dùi cui, dao kiếm,
Dựng xà lim, lập phòng tra xét
Căng lưới kẽm gai và tường đá nhà tù
Cả thuê những đao phủ, chỉ điểm và lính kín
Dựng cả những quan tòa đểu, những thẩm phán được điều khiển
Tất cả là từ tiền của bạn và con cháu bạn
Để chơi chính bạn
Cho bạn đo ván
Không ngóc đầu lên
Và họ bảo bạn đừng nên quan tâm tới CHÍNH TRỊ
Họ làm cho bạn tin rắng không quan tâm cái đó là thời thượng
Là hành vi hợp lý
Cứ cúi đầu mà làm, mà ăn
Thế là khôn
Thành đổ vua xây,
Việc gì gái góa lo ngày lo đêm?
Và họ còn thành công, chừng nào còn làm cho bạn sợ
Và tin rằng im lặng, bị động thông đồng, a tòng là hợp lý
Nhưng bạn có biết con trâu không?
Bạn có biết con ngựa không?
Có bao giờ bạn thấy mình giống chúng không?
Giống ư, không giống ư, giống nhiều ư, giống ít ư, không bình luận gì ư?
Đó là quyền và nhận thức tùy bạn
Nhưng đấy
Chính đấy
Là thứ chính trị
Mả họ muốn bạn vờ như không biết
Như không thấy chính bạn tồn tại trên đờiNgô Quốc Phương, 27.5.2013
a của những ngọn gió trăm miền, tặng các bạn tôi

“Đảng, Nhà nước luôn đánh giá cao vai trò của PVN…”

Petrotimes.vn

9-2-2013

*Năm 2012, sản lượng điện thương phẩm đạt trên 105 tỉ kWh, tăng trên 11%, tổng công suất các nguồn điện đạt 27.000MW, ngoài đáp ứng đủ cho nhu cầu điện, hệ thống đã có dự phòng;

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam khai thác được khoảng 16,5 triệu tấn dầu, trong đó đã có 1 triệu tấn dầu khai thác từ nước ngoài, 9 tỉ m3 khí đốt, cả dầu và khí đều tăng hơn so với năm trước, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã sản xuất được gần 6 triệu tấn các sản phẩm dầu, cùng với nhập khẩu, đã cung cấp đủ nhu cầu sản phẩm dầu cho nền kinh tế quốc dân;

Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã khai thác khoảng 44 triệu tấn than (than sạch 39,6 triệu tấn), ngoài đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước từ 24,5 – 24,6 triệu tấn, còn xuất khẩu được 14,3 – 14,4 triệu tấn.

*Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là một trong các doanh nghiệp đã đi đầu trong việc phát triển nhiên liệu sinh học, với việc đã thực hiện 3 dự án sản xuất ethanol tại Dung Quất, Bình Phước và Phú Thọ, trong đó nhà máy tại Dung Quất đã đi vào vận hành. Khi đưa vào vận hành toàn bộ, các nhà máy có tổng công suất khoảng 300 triệu lít/năm, bằng khoảng 3-4% nhu cầu xăng của Việt Nam trong giai đoạn 2013-2015. 

Nhu cầu xăng của VN trong giai đoạn 2013-2015 là: 7500 triệu lít xăng/ 1 năm. 

http://petrotimes.vn/news/vn/petrovietnam/dang-nha-nuoc-luon-danh-gia-cao-vai-tro-cua-pvn.html

Advertisements

11 phản hồi to “►Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản và đẩy giá bất động sản lên cao: là sai lầm”

  1. […] Riêng việc bán dầu thô ngoài Biển Đông chắc sẽ không thu được 10 tỉ đô la như hồi năm 2008. (năm 2010-2011, Petrovietnam cho biết, số tiền bán dầu gia tăng lên 30 tỉ đô la mỗi năm, do giá 1 thùng dầu thô trên 90-100 đô. Và báo cáo tháng 1/2012  của Petrovietnam “Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010.” Số tiền bán dầu và ga của năm 2011 tương đương 34 tỷ đô la.  Mời đọc bài Tăng Trưởng bằng tài nguyên Khoáng sản là Sai Lầm) […]

  2. […] Chi phí xây dựng Dung Quấtlà 3 tỷ đô la, và mỗi tháng lỗ 120-150 triệu đô la kể từ khi vận hành vào năm 2009 cho đến nay, và sự thua lỗ kéo dài vô hạn định trong tương lai.Tiền lỗ hàng tháng được Petrovietnam che đậy nhờ  khai thác dầu thô mỗi ngày 370.000 thùng bán đem bán cho nước ngoài để chi trả. Tổng doanh thu cuối năm 2011 của Petrovietnam là 675000 tỷ đồng hay 34 tỷ đô la nhờ tiền bán dầu và ga (và các sản phẩm khác). (nguồn) […]

  3. […] Lâu lâu, báo đăng bản tin thế này “Thay mặt lãnh đạo Petrovietnam, Tổng giám đốc Đỗ Văn Hậu đọc bản báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 và nhiệm vụ năm 2012. Năm qua, PVN đã hoàn thành toàn diện và vượt mức tất cả các chỉ tiêu kế hoạch đề ra và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010. Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010. Nộp Ngân Sách Nhà Nước đạt 160,8 nghìn tỉ đồng, tăng 25% so với năm 2010.” (nguồn) […]

  4. […] Chúng ta biết rằng nền kinh tế VN rất nhỏ  (GDP chỉ có 100 tỷ đô la) so với kích thước dân số VN đứng vào hàng 13 của thế giới. Đặc điểm của nền kinh tế VN do đảng chỉ đạo là: khai thác và bán dầu khí tại Biển Đông. Mỗi năm, tập đoàn PetroVietnam cung ứng 40% GDP. và cung cấp 4 tỷ đô la cho ngân sách nhà nước (số liệu 2011, nguồn). […]

  5. Lực said

    Chảy máu khoáng sản Titan về Trung Quốc
    Võ Thiện Thanh

    http://khoahocnet.com/2012/07/18/vo%CC%83-thie%CC%A3n-thanh-cha%CC%89y-ma%CC%81u-kho%CC%81ang-sa%CC%89n-titan-ve%CC%80-trung-quo%CC%81c/

    Theo thông tin vào ngày 14 tháng 07 năm 2012 Công ty Bình Thuận chuyên khai thác titan tại mỏ Suối Nhum, Tiến Thành, Thành Phố Phan Thiết, Tỉnh Bình Thuận đã xảy ra tai nạn làm vỡ hồ nuớc, tràn các chất bùn dơ, bùn đất đỏ ra đường ven biển. Đây là lần thứ 2, lần truớc chỉ cách đó một tuần. Công Ty này đã huy động lực luợng công nhân, xe ủi phi tan hiện truờng nhằm tránh cơ quan chức năng. Bao nhiêu chất thải độc hại đó đã đuợc ủi thẳng xuống biển gây ra nguồn nuớc bị ô nhiễm một vùng, uớc luợng lớp bùn đỏ đó này dày khỏang gần một mét. Bài này xin trình bày về quốc nạn chảy máu khóang sản về Trung Quốc.

    Năm 1794 nhà khoáng vật học William Gregor tìm ra Titan một kim loại nhẹ, cứng, bề mặt bóng láng, chống ăn mòn tốt. Nó là kim loại gồm 3 thành phần hóa học chính là Ilmenit, zircon, rutil. Titan được dùng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Khoảng 95% lượng titan được dùng ở dạng titanđiôxít (TiO2) là thuốc nhuộm làm trắng giấy, kem đánh răng, sơn và nhựa. Hợp kim titan được dùng chủ yếu trong hàng không, xe bọc thép, tàu hải quân, tàu vũ trụ và tên lửa, áo chống đạn… Các loại máy bay hiện đại nhất, Boeing 787 có thể dùng 91 tấn/chiếc và Airbus A380 dùng 77 tấn/chiếc.

    Úc là nước dẫn đầu thế giới về sản lượng titan, kế đến là Nam Phi, Canada, Na Uy và Ukraine. Các nước có nền công nghiệp phát triển mạnh, không khai thác mà tích cực mua titan dự trữ. Trung Quốc đang tăng cường mua dự trữ kim loại này từ Việt Nam.

    Bình Thuận là một trong những tỉnh ven biển có phân bố sa khoáng titan và được đánh giá là tỉnh có tiềm năng sa khoáng titan lớn nhất cả nước, thậm chí lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

    Vùng đất vốn được mệnh danh “sa mạc” cằn cỗi bỗng trở nên đắt giá bởi nguồn lợi to lớn này. Tuy nhiên, những hệ lụy từ quản lý khai thác titan, ô nhiễm môi trường cũng phát sinh từ đây…
    Nguồn sa khoáng “khổng lồ”

    Đầu năm 2011, Liên đoàn Địa chất Trung Trung bộ thuộc Bộ Tài nguyên Môi trường đã báo cáo kết quả thực hiện việc điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan-zircon tại Bình Thuận. Theo báo cáo này, Bình Thuận có diện tích có chứa quặng titan – zircon là 774km2 với tài nguyên dự báo khoảng 558 triệu tấn (gấp 16 lần số tổng trữ lượng sa khoáng các tỉnh trong cả nước cộng lại – theo số liệu của Viện Mỏ và luyện kim, tổng trữ lượng tài nguyên dự báo quặng titan Việt Nam đến tháng 12/2004 là khoảng 34,5 triệu tấn).

    Tình trạng không thực hiện đầy đủ các nội dung giấy phép, các biện pháp bảo vệ môi trưòng, khai thác không đúng thiết kế mỏ, sử dụng nước mặn trong khai thác titan diễn ra khá phổ biến dẫn đến sạt lở sông, suối, ô nhiễm môi trường, hủy hoạtđất và tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn lao động. Bên cạnh đó việc vận chuyển, kinh doanh khoáng sản trái phép hoặc vượt quá tải trọng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây hư hỏng đường sá, cản trở giao thông, gây bụi bặmảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân.

    Nguyên nhân dẫn đến tình hình trên một phần do các tổ chức, cá nhân khai thác vì lợi nhuận và lợi ích kinh tế của bản thân mà làm liều, làm ẩu, bất chấp quy định pháp luật. Nhưng chủ yếu là công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản còn yếu kém thể hiện qua sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ, một số địa phương buông lỏng, làm ngơ, cho phép khai thác, tận thu khoáng sản khôngđúng thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm trong quản lý cũng như xử lý các vụ việc xảy ra.

    Bộ máy nhà nuớc tham nhũng, doanh nghiệp vì quyền lợi cá nhân mà đua nhau bán khóang sản sang Trung Quốc. Vì Trung Quốc trả lợi nhuận quá cao không những các doanh nghiệp mà kéo theo đó hàng lọat nguời dân đua nhau khai thác để rồi đưa sang Trung Quốc. Đã đến lúc mỗi người dân cần phải lên tiếng.

    Bình Thuận có công ty khóang sản quốc tế Hải Tinh liên doanh trực tiếp với Trung Quốc khai thác titan cả ngày lẫn đêm. Công ty này đưa rất nhiều nguời Trung Quốc sang trực tiếp khai thác và quản lý. Tòan bộ máy móc đều được nhập từ Trung Quốc.

    Tính từ ngày 1/1/2010 đến 31/8/2011 đã có 50 chuyến tàu rời Cảng Cát Lở vận chuyển titan đi Hải Phòng, Quảng Ninh và sang Trung Quốc với số lượng hơn 60 ngàn tấn. Ngoài một số lượng rất ít được khai báo với hải quan là xuất đi nước ngoài, các ông chủ trong đường dây này đã phù phép một số lượng lớn thành hàng “xuất khẩu nội địa”. Thế nhưng thật trớ trêu điểm đến của titan là Hải Phòng và Quảng Ninh lại hoàn toàn không có bất cứ một nhà máy hay cơ sở nào chế biến titan đúng nghĩa!

    Được biết nhiều lô hàng xuất sang Trung Quốc đã bị chặn lại nhưng sau đó không biết bằng thủ thuật gì mà các lô hàng đó vẫn đuợc đưa về Trung Quốc. Với kiểu mượn tư cách pháp nhân mua bán lòng vòng, hàng trăm ngàn tấn quặng titan thô đã và đang được “hô biến” xuất lậu ào ạt sang các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Trung Quốc.
    “Núp bóng” resort, khai thác titan

    Khi Bộ Tài nguyên Môi trường công bố diện tích 774km2 có quặng sa khoáng titan với trữ lượng 558 triệu tấn, tỉnh Bình Thuận không biết nên mừng hay nên lo. Còn những chủ dự án du lịch thì nhấp nhổm như ngồi trên lửa.

    Theo quy định của Luật Khoáng sản, những khu vực có titan phải được khai thác trước khi tiến hành xây dựng công trình trên đó. Do quy định này nên hiện nay Bình Thuận có gần 200 dự án (du lịch, dịch vụ thương mại, điện gió, trồng rừng sinh thái, khu dân cư…) không thể triển khai được, phải chờ khai thác sa khoáng titan bên dưới.

    Với lượng titan lớn như vậy nên không thể khai thác trong một thời gian ngắn. Vậy là các dự án du lịch có titan phải chờ để giải bài toán sa khoáng titan. Nhiều chủ đầu tư dự án du lịch, resort tại Bình Thuận bắt đầu tính chuyện đầu tư mua máy móc và khai thác titan ngay trên đất dự án của mình. Công ty LDKS QT Hải Tinh có một mỏ lớn tại Suối Nhum, Tiến Thành,Thành Phố Phan Thiết, trá hình là công ty cổ phần du lịch và phát triển Bình Thuận. Với diện tích gần 200ha công ty này hoạt động cả ngày lẫn đêm với những máy móc, thiết bị lớn gọi là “bè” để đãi Titan nằm giữa ao lớn (xin xem hình). Công ty này có khỏang 30-40 bè và đang chuẩn bị rắp ráp hàng trăm bè nhập từ Trung Quốc. Một ngày một đêm khai thác gần cả ngàn tấn titan thô.

    Tại bãi biển thị xã La Gi, bên trong diện tích đất rộng chạy dọc bãi biển của dự án du lịch Sài Gòn-Hàm Tân. Không ai có thể nhận ra đây là khuôn viên của một dự án resort 200 ha với tổng vốn đầu tư lên đến 150 triệu USD do Công ty cổ phần du lịch Sài Gòn-Hàm Tân làm chủ đầu tư.

    Ông Huỳnh Giác, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cho biết có hai dự án resort quy mô lớn là resort Sài Gòn-Hàm Tân (thị xã La Gi) và dự án resort Cảnh Viên (huyện Hàm Tân) đã khai thác titan trên diện tích đất dự án được hơn một năm nay.

    Trong quá trình triển khai xây dựng resort, phát hiện thấy có titan nên tỉnh đã đồng ý cho phép chủ đầu tư khai thác tận thu titan bên trong đất dự án để sớm triển khai dự án du lịch.Ngoài ra, có một số dự án resort lớn nhỏ chậm triển khai nhiều năm do nhà đầu tư lấy cớ tận thu titan để kéo dài thêm thời gian, đào bới đất đai, gây ô nhiễm môi truờng. Dư luận không hề có một tiếng nói gì truớc thảm cảnh chảy máu khóang sản về Trung Quốc.

    Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được và là tài sản quan trọng của quốc gia và từng địa phương. Nó là tài sản của các thế hệ Việt Nam mai sau, thử hỏi với tình trạng tận khai xuất đi Trung Quốc như hiện nay thì Việt Nam có còn Khoáng sản hay không? và môi trường sinh thái các thế hệ Việt Nam tương lai sẽ ra sao?

    VÕ THIỆN THANH

  6. […] ►Mục đích cầm quyền của đảng CSVN và Nhà Nước là ăn chia tài nguyên khoáng … […]

  7. […] So với toàn bộ nền kinh tế VN là 90 tỷ, thì số dầu thô do Petrovietnam sán suất và bán ra là chiếm khoảng 40% của GDP (tổng sản phẩm sản suất và dịch vụ  nội địa).  (nguồn ) […]

  8. […] Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản và đẩy giá bất động sản lên cao: là … […]

  9. […] Ủy viên Trung ương Đảng vẫn còn họp kín, vào đầu tháng 10-2012, để bàn bạc chia chác tiền thu được từ việc bán dầu thô 34 tỷ đô hàng năm, để bàn việc ăn chia đất đai cướp được của hàng triệu nông dân và […]

  10. […] Bài 4: Biếu Không Nước Ngoài Mỏ Than, bằng cách ký hớp đồng ăn chia 9/1. […]

  11. […] ►Tăng trưởng bằng tài nguyên khoáng sản và đẩy giá bất động sản lên cao: l… […]

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các ban đọc sẽ được hiện ra. Các bạn cứ bịa ra một email address nào cũng được.

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: