Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm 1st, 2012

Trước khi thả Bùi Hằng, bắt Người Buôn Gió: mỗi người dân là một người tù dự khuyết

Posted by hoangtran204 trên 01/05/2012

Lời tựa: Có những khuôn mặt đen, luôn giấu mặt, chúng có quyền lực sai công an viết giấy triệu tập, bắt bớ và bỏ tù bất cứ ai mà chúng không thích.  Thế lực đen ấy nằm ngay tại thủ đô Hà Nội. Chúng đứng trên cả hiến pháp, xổ toẹt vào luật pháp, tước đoạt các quyền tự do cơ bản nhất của con người. Đối với chúng, mỗi người dân là một người tù dự khuyết

Một áo quan đóng vội, một chuyến cuối phiêu du..

Apr 26, 2012 1:52 PM

Dạo này hai bố con ở nhà, tối toàn nghe bài Bắc Đẩu của Trần Thiên Thanh do Nguyễn Hồng Nhung và Lâm Nhật Tiến hát.

Tí Hớn nói

– Bài này chắc của Trần Thiện Thanh.

Hỏi sao con biết, Tí Hớn bảo con nghe kiểu nhạc con đoán thế.

Hôm qua vợ mình bỗng hỏi

– Có sợ nó bắt không ?

Mình trả lời.

– Mình phải làm trọn lương tâm mình, để sau không phải day dứt.

Vợ mình gật đầu cười.

Hôm nay mình nhận giấy triệu tập, mình biết là sẽ có từ hai hôm nay. Điều đó không có gì bất ngờ cả.

Ngày mai mình đi lên đó, có thể  lâu lắm mới về. Ai mà biết được số phận con người dưới triều nhà Sản

Mình chỉ nhờ những ai yêu quý mình một điều, đó là đón Tí Hớn vào các buổi chiều nó đi học, và chơi với nó sáng thứ bảy. Và những ngày hè nó nghỉ học.

Những bạn nào không có điều kiện giúp, xin hãy cùng bố con mình nghe bài Bắc Đẩu để chia sẻ với mình và Tí Hớn nhé.

Không bao giờ mình làm gì để những người yêu quý mình phải xấu hổ, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa.

Mình đi đến đâu cũng không thấy đó là buồn, là đau đớn cả. Mình cũng không bao giờ để cho những đứa nào hả hê khi thấy mình bị sao. Đây chỉ là chia sẻ cho lỡ có gì các bạn mình khỏi bất ngờ thôi, không phải là lời than thở nào hết.

Nếu đã than thì đừng có làm rồi.

Mình chỉ đi để lấy tư liệu cho cuốn tiểu thuyết sau này thôi. Mọi người hãy nghĩ thế nhé.

Ông nội mình ở Hưng Yên, lên Hà Nội tử nhỏ. Lấy bà nội và sinh bố mình ở Hà Nội. Mình và cả Tí Hớn nữa đều khai nguyên quán Hưng Yên. Không như nhiều người khác khai là Hà Nội. Mình cám ơn anh Đỗ Trung Quân với câu Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Chắc cụ, ông, và bố mình đang nằm trong lòng đất Hưng Yên dù có buồn, nhưng không bao giờ trách việc mình đã làm…vì quê hương.

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=CPn6AMNnfI

“Người bỗng trở thành vì sao bắc đẩu, lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu.

Một tối chớm hẹn, đạn pháo chuyến mưa, cây cầu ga nhỏ, anh qua anh qua.

Vì sao bắc đẩu trôi dạt đêm mưa.

Người xa cách người nước mắt tiễn đưa

Đã thấy xót xa một lần anh đi, đã thấy xót xa từ ngày hôm qua

Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát, chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế.Kia vòng trời ngọc bích đã thênh thang, ôi lời mời gọi anh bước chân sang.

Xin muôn năm như vì sao sáng đó, hỡi người đệnh mệnh là vì sao lẻ, dậy đi bắc, dậy đi bắc đẩu, bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.

Người tên bắc đẩu, chết trận hôm nao, một áo quan đóng vội, một chuyến cuối phiêu du.Có thấy dấu chiến xa, của người của hôm qua,có thấy chiếc mũ đen của người lạc trong đêm.Vì sao bắc đẩu trôi dạt đêm mưa.Người xa cách người nước mắt tiễn đưa.Đã thấy xót xa một lần anh đi, đã thấy xót xa từ ngày hôm qua

Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát, chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế.Kia vòng trời ngọc bích đã thinh thang, ôi lời mời gọi anh bước chân sang.Xin muôn năm như vì sao sáng đó, hỡi người định mệnh là vì sao lẻ,

 Dậy đi Bắc đẩu, dậy đi Bắc đẩu, bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.Người tên Bắc đẩu,chết trận La Vang, liệm xác 3 lần, ngọc bích cũng tan, chỉ còn vì sao thôi, chỉ còn vì sao thôi, cuộc đời vài mươi  năm, người vội về xa xăm.”              

Nguồn: http://nguoibuongio1972.multiply.com

———————————————————————————————

Về dân quyền và dân tộc nhân 30/4

Luật sư Lê Quốc Quân

Gửi cho BBC từ Hà Nội

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 có 4 nước bị chia cắt: Việt Nam, Triều Tiên, Đức và Trung Quốc nhưng chỉ có Việt Nam quyết định dùng chiến tranh trong gần 20 năm để giải phóng phần còn lại.
 
Bố tôi thở phào khi những chiếc xe tăng của nước ngoài do đồng đội của ông lái từ Bắc Việt tràn vào húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập. Thống nhất đất nước làm ông vui vì chiến tranh qua đi, những người anh em không còn bắn nhau, đặc biệt ông trút được gánh nặng khủng khiếp của câu nói: “5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa…”.

Sự hy sinh và niềm tin chiến thắng:
 
Giống như hầu hết người dân Miền Bắc khi đó, ông nghĩ rằng việc chiến đấu giành độc lập là đương nhiên, có thể kéo dài mãi mãi. Chiến thắng đến sớm hơn ngày nào thì vui ngày đó nhưng nếu không đến sớm thì cả cuộc đời họ vẫn dấn thân. Sinh ra, lớn lên, trưởng thành rồi vào nam chiến đấu như một định mệnh.
 
Khi đó con người tập trung vào một điều duy nhất là “độc lập dân tộc”. Chỉ có độc lập dân tộc mới có các giá trị khác, chỉ khi bước qua được nấc thang quan trọng là “giải phóng” thì mới có tất cả. Khi đó chiến tranh đã mang màu sắc tôn giáo cực đoan, hành xác để được an lạc. Ai hy sinh nhiều hơn, đau khổ hơn thì thấy mình tốt hơn với mong ước khi giang sơn liền một mối sẽ tự do vui hưởng thái bình.
 
Nhờ xác tín điều đó mà chiến thắng đã đến sớm hơn dự định cho những người cộng sản. Cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975 ban đầu cũng chỉ là một vài trận đánh mang tính thăm dò nhưng không ngờ chiến thắng đã đến dễ dàng hơn, dẫn tới toàn thắng 30-4-1975.

Thực tiễn Việt Nam hôm nay
 
37 năm đã trôi qua, những người nông dân vẫn còng lưng đi cấy. Nhưng khi đang lam lũ, ngẩng mặt lên vuốt vội mồ hôi là lúc bà con thấy đất dưới chân mình trôi đi. Nó bị “cướp” đem bán cho những người khác với giá gấp hàng ngàn lần. Vì vậy, vẫn còn đó anh Vươn tạo “bom” và bà con Văn Giang đang đem cuốc, xẻng, gậy gộc ra đồng giữ đất.
 
Đất nước vẫn không ngừng động loạn, bất an. Hết cải tạo công thương là quá trình bỏ nước ra đi, sau đó là những năm bao cấp đói đến run người. Kể từ khi xa rời dần với CNXH, đất nước no bụng nhưng bỗng đói tâm hồn. Nhân phẩm nhiều người như bị xé ra làm đôi, chắp vá. Họ có thể hiền lành đạo đức rồi bỗng trở nên quay quắt bất ngờ.
 
37 năm trôi qua, các giám đốc kinh doanh ở độ tuổi này cũng bàng hoàng khi thấy loay hoay giữa dòng đời khi không thể giữ được mình trong sạch và sống đúng lương tâm. Đi đút lót thì mới có được hợp đồng, lâu rồi thành quen, phổ biến và được thừa nhận trong đầu nhưng không thể nói ra giữa cuộc họp. Nó được mổ xẻ ở bàn nhậu và biết là xấu nhưng vẫn phải làm.
 
Điểm khác biệt giữa giang hồ và quan chức là giang hồ không treo mặt nạ đạo đức giả. Trong khi đó hàng loạt quan chức lại sống hai mặt và đóng hai vai vừa vặn. Họ vừa là ông trùm-vừa là quan chức, tồn tại một cách giật cục, nhiêu khê giữa lòng xã hội. Khi thì họ đeo mặt nạ cộng sản giảng lời đạo đức và liêm chính. Khi thì họ cáu quá, điên tiết giật mặt nạ ra và để lộ bộ mặt tư bản béo ị, trắng trợn và công khai thách thức hàng triệu bần nông.
 
Nền chính trị lưỡng chuẩn (double standard) này đã tạo ra những giá trị ma quái của cuộc sống làm cho rất khó định vị con người. Nhiều người cao cả chức và tiền, vẫn ngu dốt một cách hồn nhiên. Họ pha lẫn giữa một tay chơi và một tuyên úy, rao giảng một cách lý thuyết và vô trách nhiệm trên trên sân khấu chính trị nhưng cực kỳ thực dụng và rất có trách nhiệm với những việc riêng ở nhà hoặc trong nhóm lợi ích của mình.  
 

Nhưng cũng đáng hy vọng và vui mừng vì 37 năm trôi qua, càng ngày càng nhiều người bất chấp những khó khăn, tù đày, cô đơn và kỳ thị vẫn âm thầm hay công khai tranh đấu cho một Việt Nam tốt hơn. Và bài học của những người đó cho chúng ta là gì ?

Đấu tranh cho nhân quyền

Bài học đầu tiên có lẽ cần phải xác quyết rằng việc đấu tranh là để giành lấy các quyền và giá trị phổ quát của con người là cuộc đấu tranh mãi mãi. Chúng ta phải luôn ý thức được rằng nhân phẩm con người là bình đẳng.

Nhân quyền là của mọi người và cho mọi người. Nhà nước sinh ra là để đảm bảo các quyền đó được thực thi chứ không phải ngăn cấm quyền đó, vì vậy khi nào và bất cứ ở đâu còn bị mất dân chủ, nhân quyền thì vẫn còn đấu tranh.

Đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền khác với việc đấu tranh “giải phóng” đã đến vào thời điểm năm 1975, nó đến từ khi con người được sinh ra và kể cả sau lúc chết đi. Cuộc đấu tranh này là quá trình đòi lại quyền tự nhiên cho tất cả mọi người, từ người nghèo khổ đến những vị giàu có, từ người vô học cho đến các tri thức lớn, từ nông thôn đến thành thị và vượt qua cả biên giới quốc gia.

Bởi vậy đấu tranh cho nhân quyền là cuộc đấu
tranh miên viễn. Có thể bước đầu tiên sẽ là đấu tranh cho một cơ chế đảm bảo tôn trọng và có khả năng thực thi nhân quyền.

Công cuộc đó có thể là “10 năm, 20 năm, 50 năm hoặc lâu hơn nữa” nhưng nhất định phải đến. Những giá trị mà cả thế giới đã thừa nhận và thực thi chắc chắn phải được triển khai trên quê hương Việt Nam. Chúng ta không thể sống khác khi đã là một bộ phận của xã hội văn minh, của tương quan quốc tế.

Bài học thứ hai đến từ một lẽ rất tự nhiên rằng “cướp chính quyền” là việc của Nhà nước “còn đòi lại chính quyền” luôn luôn là việc của nhân dân. Lịch sử đã chứng minh rằng quá trình phát triển của loài người là quá trình giằng co “cướp” và “đòi lại”.

Mỗi một lần như vậy, người dân lại được thêm nhiều quyền hơn.

Thomas Jeffereson đã từng nói là: “nếu trong vòng 20 năm mà không có ai đứng lên chống chính quyền đó là lúc đất nước suy thoái” . Dường như chính quyền Mỹ ngay từ khi lập quốc đã cổ súy cho việc chống lại chính quyền, vì họ hiểu rằng lạm dụng quyền lực là tất yếu. Đấu tranh cướp lại quyền của dân luôn luôn là tích cực cho sự phát triển xã hội.

Mặt khác, xu hướng dân chủ đang diễn ra một cách nhanh chóng ở khắp nơi trên thế giới, và những chế độ độc tài đang dần dần trở nên hiếm hoi. Có câu thành ngữ đã nói “Ta cần hy vọng những điều tốt nhất nhưng luôn chuẩn bị cho những điều tệ nhất”.

Chúng ta phải đấu tranh và tệ nhất có thể là hết đời, thậm chí đến đời con cháu chúng ta nhưng cũng hy vọng những điều tốt nhất sẽ đến trong tương lai không xa.

Miến Điện là một ví dụ về sự cải tổ khá ngoạn mục trong một thời gian ngắn. Khi xác định rõ về mục tiêu chắc chắn độc tài toàn trị phải nhường chỗ cho dân chủ, tự do, những nhà tranh đấu sẽ thanh thản và cảm thấy cuộc đời bình an.

Bởi vậy, bài học lớn nhất, quan trọng nhất, có tính quyết định nhất là sự ý thức triệt để và mạnh mẽ về sự tất thắng của quá trình đấu tranh vì con người, vì một Việt Nam tiến bộ.

Giống như Hồ Chí Minh xưa đã tuyên truyền để xác định về sự tất thắng cuộc chiến Việt Nam cho người dân Miền Bắc, hôm nay một niềm xác tín sâu xa về công lý, sự thật, dân chủ và nhân quyền sẽ giúp tất cả các nhà đấu tranh thêm sức mạnh.

Khi ý thức rõ rệt về con đường của dân tộc và của nhân loại, chúng ta có thể học tập cha ông để đi làm cách mạng. Khi xưa Hồ Chí Minh lập chiến khu và dùng súng ống để lật đổ chính quyền phong kiến dưới sự bảo hộ của Pháp bằng phương thức bạo động.

Hôm nay chúng ta nên lập chiến khu là lòng dân, dùng phương thức bất bạo động để lật đổ tất cả những gì là lạc hậu, chậm tiến, là độc tài, tham nhũng đang cản đường đi lên của đất nước Việt Nam.

Nếu đồng lòng học tập và quyết tâm làm theo như vậy, chắc chắn Việt Nam sẽ trở nên thịnh vượng như Nam Hàn hay Nhật Bản mà không cần đến 37 năm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một luật sư đấu tranh dân chủ hiện sống tại Hà Nội.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/foru…_30april.shtml

 

*Khóc Một Giòng Sông- Nhạc của Đức Huy-Ca sĩ Ngọc Lan

Khóc Một Giòng Sông

 

*Sài gòn Vĩnh Biệt – Nhạc Nam Lộc- Ca sĩ Ngọc Lan

http://www.youtube.com/watch?v=Nuarlg2FUqM&feature=related

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

Bùi Hằng trả lời phỏng vấn của BBC

Posted by hoangtran204 trên 01/05/2012

Bà Bùi Hằng tâm sự sau khi ra trại

Cập nhật: 11:26 GMT – thứ ba, 1 tháng 5, 2012

Mời các bân nghe phỏng vấn tại đây

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/05/120501_buihang_iv.shtml

nguồn BBC

Bà Bùi Thị Minh Hằng, người bị chính quyền Hà Nội đưa vào Trại giáo dục Thanh Hà vì tội gây rối trật tự công cộng, bác bỏ tin tức cho rằng bà được thả vì làm đơn xin nhà nước khoan hồng.

Bà đã được chính quyền Hà Nội thả tự do và về đến nhà chiều Chủ nhật ngày 29/4.Lý do bà được thả, theo báo An ninh Thủ đô một ngày trước khi bà được thả, là để thực hiện “chính sách khoan hồng của Nhà nước” nhân kỷ niệm ngày 30/4.

Trong phỏng vấn với BBC từ Vũng Tàu ngày hôm nay 1/5, bà cho hay năm tháng trong trại Thanh Hà là ‘khoảng thời gian hãi hùng’.

Bà Bùi Thị Minh Hằng
Bà Bùi Thị Minh Hằng được biết đến qua việc xuống đường chống
Trung Quốc (vào tháng 7 năm 2011)
Bà Bùi Hằng sau khi được thả (ảnh của blog Nguyễn Xuân Diện)
Chị Bùi Hằng được thả hôm 29-4-2012
Không thể nhận ra đây là Bùi Hằng
hình 29/4/2012

Bùi Thị Minh Hằng: Thực tế đó là một khoảng thời gian rất hãi hùng đối với tôi, kể ra thì nó dài vô cùng. Nhưng phải nói một điều rằng tôi xác định tôi không có tội.

Tôi vẫn tin vào pháp luật cần phải có trong một quốc gia, nhưng quả thật thời gian mà họ giam giữ tôi một cách trái phép cho đến lúc họ thả ra thì tôi mới thấy họ không làm theo luật pháp.

Việc họ thả tôi ra hôm vừa rồi thì ngay đến giờ phút cuối cùng họ vẫn đối xử với tôi hết sức nhẫn tâm.

BBC:Vậy bà được thả ra theo đơn xin khoan hồng của nhà nước?

Không đúng. Tôi nhận được Quyết định miễn thời gian chấp hành còn lại. Gần một tháng trước đó, họ vận động tôi viết đơn xin khoan hồng.

Tôi trả lời là tôi không có tội gì mà viết đơn xin khoan hồng cả. Trong những lá đơn tôi gửi chỉ có đơn khiếu nại và tố cáo thôi.

Tôi khiếu nại Quyết định của UBND thành phố Hà Nội và tôi tố cáo những hành xử sai trái pháp luật trong việc bắt cóc tôi từ Sài Gòn đưa ra và những cư xử đến mức độ tôi phải huỷ hoại thân thể tôi và phải nhịn ăn vài ngày trong trại.

Sau đó, họ tiếp tục vận động là do cơ thể tôi quá yếu, vì thời gian tôi tuyệt thực chính thức trong đó chiếm gần hết thời gian tôi ở lại cơ sở nên tôi sút cân nhiều quá.

Tôi cho rằng họ không coi trọng tính mạng của tôi. Mặc dù tôi tuyệt thực rất nhiều lần, nhưng họ không có động tĩnh gì.

Đến khi biết rằng từ bên ngoài, sức đấu tranh của quần chúng rất cao, cộng với không chịu được cách hành xử của họ, ở trong đó tôi đã một lần rạch chân rạch tay, do vậy họ bắt đầu có động thái.

Tuy nhiên, đây không phải là những động thái sửa sai mà là vận động tôi làm đơn xin khoan hồng.

Sau khi tôi không chấp nhận làm đơn xin khoan hồng, họ vận động tôi làm đơn xin đi chữa bệnh.

Rất nhiều đơn khiếu nại, đơn từ tố cáo tôi đã làm trong thời gian ở trong trại nhưng tôi cho rằng có lẽ họ không gửi những đơn từ đó của tôi đi đâu cả.

Vì biết tôi hay làm đơn từ, cho nên khi vào trong trại họ thu giữ hết giấy tờ, sách bút. Và cũng vì vấn đề này mà giữa tôi và cơ sở giam giữ tôi đã xảy ra rất nhiều lần đối đầu.

Tôi cũng làm đơn tố cáo việc quản giáo thu giữ giấy tờ không cho tôi viết vì đây không phải là những việc mà cấm đoán theo quy định.

BBC:Có nhiều bài viết trên báo chí chính thống về bà. Vậy bà có đọc được những bài viết đó không?

Có, tôi có đọc được những bài viết đó.

Trong chỗ chúng tôi ở thì có tivi và họ nói là cho đọc báo Pháp luật, nhưng thực tế họ không bao giờ cho chúng tôi đọc một loại báo gì.

Nhưng khi có những sự kiện như thế, cách họ thông tin là các cán bộ, quản giáo cho những trại viên gần gũi với cán bộ mang vào như một cách truyền tải đến tôi.

Họ gần như dàn xếp một lịch trình để cho tôi và trại viên trong trại được xem những sự kiện như thế.

Gia đình

BBC:Theo đó, những bài báo đã trích dẫn những lời nhận xét của người thân của bà, vậy xin bà cho biết nhận xét của mình?

Tôi chưa thể một lúc mà nói hết được. Nhưng tôi tin rằng bằng những hành xử không chính danh của chính quyền thì người dân sẽ tự phân tích điều đó.

Tôi rất tin tưởng vào chính nghĩa. Tôi đã viết ra thành những bài thơ rất đau xót trong những ngày tôi ở trong tù thông qua những lá thư gủi cho con tôi.

Từ những khổ đau như thế này, tôi biết rằng phải làm gì và làm gì nhiều hơn nữa để xã hội không còn những cảnh như gia đình tôi, không còn những nỗi đau như những gì mà con trai tôi trong những ngày tháng phải bỏ học đi nuôi tôi.

Tôi đã dặn con tôi là “một kẻ làm chó thì ta phải chịu khó để làm người”.

Cho phép tôi không nói sâu hơn về những gì thuộc về cá nhân tôi vì những điều đó tôi đã chịu đựng trong rất nhiều năm qua. Đó là điều mà tôi phải rời xa gia đình để đi tìm cuộc sống ở nơi khác trong cảnh mẹ góa con côi.

Đó là những nỗi đau mà tôi không bao giờ muốn một lần trong đời bởi vì chọn bạn bè thì chúng ta chọn được, người này không tốt ta chọn người khác ta chơi, nhưng không ai chọn được nơi mình sinh ra.

‘Không phải chính trị gia’

BBC:Nhưng xin bà cho biết ý kiến riêng của bà trước sự tin cậy đằng sau những bài báo đó?

Tôi chưa nói đến độ tin cậy mà tôi nói đến độ bỉ ổi bởi vì bản thân tôi không phải là một chính trị gia cũng không phải là nhân vật trong giới kinh tế chính trị ở Việt Nam để họ làm điều đó nhắm vào tôi.

Tôi chỉ là một người rất bình thường từ những áp bức bất công trong xã hội. Những nền tảng duy nhất để chúng tôi đấu tranh là quyền của một người dân trong xã hội có luật pháp, có tôn ti trật tự.

Nhưng họ đã dùng những điều đó để trả thù tôi một cách điên cuồng đến mức tôi cho rằng họ lú lẫn. Đến bây giờ tôi nghĩ rằng họ biết là đã bị phản tác dụng. Bởi vì, từ hai hôm nay trở về đây, rất nhiều người dân từ Sài Gòn, Biên Hoà, Bà Rịa và những người xung quanh đây đến với tôi bằng tình cảm.

Có những anh xe ôm chỉ có mấy trái dừa, những lẵng hoa. Tôi tin là người dân bây giờ đã rất trưởng thành và vững vàng.

‘Sẽ làm sáng tỏ’

BBC:Có nguồn tin cho biết bà có ý định tự vẫn?

Tôi từng có quyết định tự vẫn vì những bức xúc trước hành xử sai trái của chính quyền.

Nhưng trong những cuộc biểu tình tôi đi với bạn bè và chứng kiến cảnh họ đàn áp, bản thân tôi xuất phát là một dân oan, tôi từng nói rằng tôi sẽ tự thiêu nếu nhà nước này đối xử với dân như thế.

Cho đến giờ phút này, tôi đang dồn tâm huyết để viết lá thư cho chủ tịch nước và tổng bí thư rằng người dân trong chế độ hiện nay bị quá nhiều áp bức và chịu quá nhiều bất công đến mức không thể chịu đựng nổi.

Và nếu nhà nước không có được những động thái gần dân, vì dân, hoặc khắc phục những điều này thì tôi sẽ hiến tấm thân của tôi cho dân oan nhưng duy nhất tôi chỉ giữ ý định chọn cái chết là tự thiêu. Ngoài ra, nếu như có bất cứ sự kiện gì khác xảy đến với tôi thì đấy là sự tấn công từ bên ngoài.

BBC:Xin bà cho biết ý định của bà trong thời gian tới?

Bà Bùi Thị Minh Hằng: Tôi sẽ dành thời gian nghỉ ngơi trong vòng 10-15 ngày để lấy lại sức khoẻ vì bản thân tôi đã sút trên 15 kg từ lúc vào trại đến lúc về, cộng với rất nhiều vấn đề xảy đến gia đình và con cái tôi.

Hiện nay, tôi vẫn còn một cháu phải bỏ học giữa chừng để đi nuôi mẹ bị bắt. Trước mắt tôi khắc phục những việc cá nhân tôi.

Sau khi ổn định, việc đầu tiên là tôi sẽ cương quyết làm sáng tỏ về sự bắt giữ oan sai và những hành xử đối với tôi trong thời gian bị chính quyền giam giữ.

—————-

 Khoan hồng kiểu khốn nạn

T-Rang (Danlambao)

“Nữ tướng” Bùi Thị Minh Hằng được trả tự do là tin vui cho tất cả mọi người. Nhưng đối với Bùi Hằng thì chuyến trở về không mấy vui vẻ, mang nhiều phần cay đắng. Quá trình áp tải từ trại Thanh Hà (Vĩnh Phúc) về đến Vũng Tàu, Bùi Hằng gần như bị xích trên xe. Giống như trói một con gà, đám công an áp tải bẻ quặp hai tay chị ra sau trói chặt lại, hai chân bị còng cứng, rồi ném lên sàn xe. Cứ như thế, chuyến xe tù qua khỏi miền Bắc, chị vẫn nằm bẹp dí trên sàn, thân xác bị trói chặt lăn qua lăn lại trên những quãng đường nhấp nhô.

 
Dưới một mỹ từ rất đẹp là “khoan hồng”, đòn trả thù này là một “ân huệ” thường thấy của Đảng dành cho những người biểu tình yêu nước. Thế nên mới nói, trong vụ việc của Bùi Hằng, từ cách bắt người cho đến cách thả người đều thể hiện rõ sự khốn nạn.
Chiếc xe ô tô biển số xanh 80A (của Bộ CA) dùng để xích Bùi Hằng
lúc áp tải chị từ trại giam Thanh Hà (Vĩnh Phúc) về đến Vũng Tàu
 
Trước đó độ nửa tháng, một màn đấu tố sặc mùi phản động như thời cải cách ruộng đất diễn ra, cán bộ trại Thanh Hà mững rỡ phát tin ầm ĩ khắp trại. Rồi mấy ngày sau, an ninh, cán bộ, đủ các thành phần ô hợp khác kéo đến thuyết phục Bùi Hằng viết đơn nhận tội, khoan hồng… Thuyết phục, năn nỉ chán thì chuyển qua đe dọa, đe dọa không được lại bày mưu lừa Bùi Hằng viết “đơn xin chữa bệnh”. Dĩ nhiên thì tất cả đều thất bại, và đó cũng là nguyên nhân khiến chị bị trả thù bằng cách bị trói như con vật suốt chuyến đi.
 
Tổ chức Quan sát Nhân Quyền đã nhiều lần lên án về các trại lao động cưỡng bức tại Việt Nam, còn ông Lương Thanh Nghi vẫn to mồm tuyên bố các trại cải tạo là nhân đạo. Thì đây, hình ảnh một Bùi Hằng sau 6 tháng trong trại cải tạo là minh chứng rõ rệt nhất cho sự “nhân đạo” của Đảng
 
Không thể nhận ra đây là Bùi Hằng
Về đến gia đình tại Vũng Tàu trong một thân xác tiều tụy, ít ai có thể tin được đây chính là Bùi Hằng của ngày nào. Khuôn mặt gầy gò, tóc lơ phơ những sợi bạc, răng gãy, cân nặng giảm gần 15 ký so với lúc chưa bị bắt, trên người thì đầy những vết thương… Sự nhân đạo của Đảng nên hiểu là để người dân phải sống không bằng chết.
 
Vết rách còn rỉ máu trên tay Bùi Hằng là hậu quả của những cuộc đàn áp có hệ thống ở Thanh Hà. Đỉnh điểm là ngày 4/4, con trai chị Hằng là Bùi Nhân lên thăm nuôi và đưa đơn khiếu kiện cho mẹ ký. Cán bộ trại giam lập tức ngăn cản không cho chị ký đơn, ngang nhiên tước đoạt những quyền căn bản của con người. Quá uất ức, chị đã dùng một chiếc dao lam tự rạch một vết thương thật sâu trên tay để phản đối.
 
Hình ảnh này khiến chúng ta nhớ đến trường hợp bà Thụy An trong vụ án Nhân văn Giai Phẩm – người đã tự chọc mù một mắt để phản đối chế độ cộng sản.
 
Hơn nửa tháng trời, vết thương trên tay, trên người chị đến hôm nay vẫn còn chảy máu. Ơn Đảng, ơn Chính phủ đã khoan hồng cho Bùi Hằng, để chúng ta thấy được rằng trong nhà tù CS, sự chăm sóc y tế cho phạm nhân đã vượt qua trình độ thượng thừa vào thuở thiến heo huy hoàng của ngài Đỗ Mười. Có thể nói, thành quả y tế vượt bậc như hôm nay cũng nhờ nhờ sự lãnh đạo, dìu dắt của ngài cựu y tá, kiêm thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
 
Những vết thương trên người Bùi Hằng, những cay đắng mà chị đã trải qua cũng chính là nỗi đau chung mà dân tộc này đang gánh phải. 
 
Ống cống ở Việt Nam rất nhỏ và ít, đến xả nước thải còn không đủ thì lấy đâu ra chỗ trốn cho những tên độc tài ?

T-Rang

—————————

Bà Bùi Hằng bị buộc phải rời trại?

Cập nhật: 12:58 GMT – thứ hai, 30 tháng 4, 2012

Nguồn BBC

Bà Bùi Hằng sau khi được thả (ảnh của blog Nguyễn Xuân Diện)Bà Hằng là nhân vật được Hoa Kỳ và các tổ chức nhân quyền quan tâmBà Bùi Thị Minh Hằng, người bị chính quyền Hà Nội đưa vào Trại giáo dục Thanh Hà vì tội gây rối trật tự công cộng, cáo buộc bà bị công an ‘cưỡng bức rời khỏi trại’.Con trai bà, anh Bùi Nhân, đã dẫn lời mẹ đưa ra cáo buộc trên.Bà đã được chính quyền Hà Nội thả tự do và về đến nhà chiều Chủ nhật ngày 29/4.Lý do bà được thả, theo báo An ninh thủ đô một ngày trước khi bà được thả, là thực hiện ‘chính sách khoan hồng của Nhà nước’ nhân kỷ niệm ngày 30/4.Sau khi bà Hằng về đến nhà hôm 29/4, BBC đã tìm cách liên lạc với bà nhưng bà nói lý do vì rất mệt và không trả lời điện thoại.

‘Yếu hơn rất nhiều’

Bùi Nhân, con trai bà, cho biết mẹ anh đã bị các cán bộ trung tâm Thanh Hà cưỡng chế rời khỏi trại.

Nhân cho biết mẹ anh không chấp nhận quyết định phóng thích của chính quyền Hà Nội là vì quyết định này dựa trên việc bắt giữ sai pháp luật.

“Mẹ không chấp nhận rời khỏi trại nhưng họ (công an) đã cưỡng chế và còng mẹ em lại,” anh Nhân kể.

Anh cho biết biên bản khám sức khỏe sau khi bà Hằng về đến thành phố Vũng Tàu không ghi lại những vết bầm trên người bà mà anh cho là do bị công an dùng sức mạnh cưỡng chế.

Sau khi làm thủ tục ở Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, bà Hằng đã bị khoảng 20 công an trên ba ôtô áp giải từ Trại Thanh Hà ở Vĩnh Phúc về Vũng Tàu trong hơn một ngày, anh cho biết.

Khi về đến Vũng Tàu, những người áp giải bà Hằng đã đọc quyết định ngừng đưa bà vào cơ sở giáo dục và làm thủ tục bàn giao bà cho chính quyền địa phương.

“So với sáu tháng trước khi bị bắt, mẹ em đã yếu hơn rất nhiều,” anh nói và cho biết bà Hằng đã sụt đến 14 kg.

Anh Nhân mô tả là trước lúc bà Hằng về nhà khoảng ba tiếng thì trước nhà anh có những người ở bên cơ quan an ninh đến và đứng nhìn vào nhà rất dò xét.

Đơn bảo lãnh

Trước đó hai tuần, công an địa phương có đặt yêu cầu với anh Nhân viết đơn bảo lãnh cho mẹ được về, anh cho biết.

“Họ nói về vấn đề tình cảm là chính. Họ nói có nhớ mẹ không và nói cứ viết một lá đơn xin bảo lãnh cho mẹ còn việc ở ngoài đó người ta có đồng ý hay không thì tùy họ,” anh kể.

Em phải hỏi ý kiến của mẹ em nên chưa làm,” anh nói, “Hai tuần sau thì mẹ về đây.”

Tuy nhiên, báo An ninh thủ đô hôm 28/4 cho biết một trong những nguyên nhân thả bà Hằng là ‘xét đơn đề nghị của gia đình.”

Về lá đơn kiện Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Thế Thảo về quyết định bắt giữ bà Bùi Hằng, anh Nhân cho biết chính quyền ‘đang câu giờ’.

“Sau một thời gian dài khoảng 2-3 tháng, họ trả lời ngắn gọn việc gửi đơn phải có chữ ký của mẹ em,” anh nói, “Nhưng mẹ em đã có giấy ủy quyền hoàn toàn cho luật sư.”

“Họ cũng ngăn cản việc em và mẹ em tiếp xúc với nhau tại cơ sở Thanh Hà để em lấy chữ ký của mẹ.”

“Thái độ của họ là hoàn toàn gây cản trở,” anh nói thêm.

Bà Bùi Thị Minh Hằng là một trong những người nổi bật nhất trong các cuộc biểu tình chống tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông vào mùa hè năm ngoái.

Việc bắt giữ bà đưa vào trại giáo dục cải tạo vào cuối tháng 11 năm ngoái mà không qua quá trình xét xử nào đã gây ra quan ngại từ phía Hoa Kỳ cũng như các tổ chức bảo vệ nhân quyền.

———————

Posted in Tù Chính Trị | 1 Comment »

37 năm sau nhìn lại (Phần I)

Posted by hoangtran204 trên 01/05/2012

37 Năm Sau Nhìn Lại: “Ai Thắng Ai,” Ai Giải Phóng Ai?


Trần Việt Anh

Thấm thoát đã 37 năm kể từ cái ngày định mệnh 30 tháng Tư năm 1975 khi xe tăng quân cộng sản Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập tại Saigon, chấm dứt cuộc chiến để chiếm đóng Nam Việt Nam, thiết lập chế độ cộng sản toàn trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.

Những con số không chính thức trong cuộc chiến: về nhân mạng Việt Nam mất khoảng 4 triệu người trong đó Quân đội Nhân dân (VNDCCH) mất 1 triệu rưỡi, Quân đội Nam Việt Nam Cộng Hoà mất khoảng 250 ngàn, và quân đội Mỹ khoảng 58 ngàn người; còn lại là thường dân, phần lớn là tại Miền Nam vì các cuộc tấn công, khủng bố, pháo kích của Việt cộng vào các khu dân cư; số người ở Miền Bắc chết và bị thương do các cuộc thả bom của Mỹ ít hơn nhiều so với số thường dân chết ở Nam Việt Nam. Những số liệu này chỉ là ước tính vì nhà nước Cộng sản Việt Nam không bao giờ công khai bất cứ chi tiết nào không có lợi cho họ trong suốt 30 năm chiến tranh, trước là với Pháp, sau đó là với Mỹ trong cái họ gọi là “nhiệm vụ” quốc tế cộng sản nhưng được che đậy dưới ngọn cờ “giải phóng dân tộc” là bước đầu của chiến lược cướp chính quyền để quá độ (chuyển tiếp) lên “cách mạng xã hội chủ nghĩa” và sau cùng đạt đến chủ nghĩa cộng sản. Đó là chiến lược lâu dài để đạt mục đích tối hậu của chủ thuyết Mác-Lê Nin và được dùng làm kim chỉ nam cho mọi sách lược của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lời tuyên bố của Lê Duẩn, “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” đã để lộ rõ mặt thật của tập đoàn cộng sản Hà nội khi phóng tay phát động cuộc xâm lăng Miền Nam vì nghĩa vụ quốc tế vô sản và để chứng minh lòng trung thành của Việt cộng với hai nước đàn anh lớn nhất. Trong thời gian chiến tranh Việt cộng vẫn chơi trò hai mặt để được Liên Xô viện trợ vũ khí súng đạn và Trung cộng cung cấp từng bánh lương khô, từng chiếc bi đông đựng nước để tiếp tục chiến tranh giết hại đồng bào Miền Nam cùng giòng máu. (Ở đây không đề cập đến cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” như các báo cáo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng sau khi Liên Xô sụp đổ và khối Đông Âu giải thế vì việc gán ghép những câu vè, những lời khuyên bảo dân giã thành một hệ tư tưởng chỉ là việc “không có chó bắt mèo ăn cứt” như dân quê Việt Nam thường nói.) Vả lại, ngay cả Hồ Chí Minh cũng đã nói ông ta không có tư tưởng gì, Stalin và Mao đã lập thuyết cả rồi và hai ông đó thì không bao giờ sai!

37 năm là một quãng thời gian dài trong một đời người và có thể nói là giai đoạn sung mãn nhất của một thế hệ Người Việt. Vậy thì Việt Nam hiện nay đang ở đâu sau khi Việt cộng đã thực hiện được mục tiêu chiếm trọn Miền Nam bằng vũ lực để áp đặt chế độ cộng sản như họ đã có kế hoạch ngay từ khi hiệp định Geneva chưa ráo mực năm 1954. Trước hết xin trình bày sơ lược các biến chuyển chính trị, xã hội trong 37 năm qua, sau đó sẽ trình bày tổng quan tình trạng đất nước hiện nay.

Có thể nói Việt Nam đạt đến tình trạng hiện nay qua hai giai đoan:

Giai đoạn 1: Từ 1975-1990, có thể xem là giai đọan sắt máu sau chiến tranh, trong đó chính quyền cộng sản thực hiện những chính sách giáo khoa của các chế độ cộng sản, trước hết là những chính sách kiểm soát nghiệt ngã về xã hội, kinh tế, hiển nhiên là dựa trên mô thức chính trị độctài chuyên chính vô sản mà cộng sản Bắc Việt đã có kinh nghiệm toàn trị ở Miền Bắc trong 20 năm sau hiệp định Geneva, thường được ngụy biện là cần thiết trong khi tiến hành chiến tranh xâm lược Miền Nam nhưng núp dưới chiêu bài “chống Mỹ cứu nước.”

Phải nói rằng sự cuồng tín về ý thức hệ và cái kiêu căng tự phụ của người cộng sản đã làm họ say men chiến thắng sau 30/4/1975 để không còn nghĩ gì về hậu quả của những chính sách hà khắc đó dù rõ ràng những chính sách ấy đã mang lại bao tủi nhục, mất mát cho người dân Miền Nam. Những câu nói đãi bôi như của tướng Trần Văn Trà, “Giữa chúng ta không có kẻ thắng người thua, chỉ có nhân dân là người chiến thắng” chỉ là những lời tuyên truyền rẻ tiền cố hữu của cán bộ Việt cộng chỉ lừa dối được những kẻ ấu trĩ về cộng sản và ngây thơ về chính trị!

Có người nói, sau 30/4/1975 “Cái Ác Đã Lên Ngôi” hay như thượng nghị sỹ Mỹ John McCain nói tại Saigon trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 2000 rằng “The wrong side won the war” (Kẻ Ác Đã Thắng).

[Câu “The wrong side won the war” đã là tựa đề của bài viết ngày 9 tháng 6, 1977 của Jeffrey Hart trên tờ Kentucky New Era – DCVOnline. Nguồn: http://snipurl.com/23arx5j%5D
Nhưng do đâu Việt cộng không do dự, ngần ngừ làm điều ác? Chính là từ chủ thuyết, ý thức hệ cộng sản của họ. Trong những buổi họp tập chính trị cho sinh viên tại đại học Vạn Hạnh những ngày đầu sau 30/4/1975 có một bài học cơ bản là bài “Ai Thắng Ai” với nội dung chính là trong cuộc chiến Việt Nam, khối cộng sản đã thắng khối tư bản, trái ngược với những bài bản tuyên truyền với thế giới và dân Miền Nam trước đó là cuộc chiến chỉ vì độc lập, thống nhất đất nước và những người cộng sản Bắc Việt đã chối bai bải rằng không có Quân đội Nhân dân ở Miền Nam!
Một vài năm sau 1975, khi Ethiopia và Angola trở thành cộng sản, Việt cộng lại càng kiêu căng, phách lối, đến độ những cán bộ tuyên huấn ở Saigon còn dọa sẽ “đem cách mạng” sang Thái Lan trước rồi nếu cần sẽ mang cách mạng sang cả “đế quốc Mỹ.”
Chỉ đến khi chiến tranh với Campuchia năm 1978 và với Trung cộng 1979 thì Việt Nam đã rơi vào đồng lầy của nghèo nàn, khốn khổ! Nhưng ngoài miệng thì cán bộ vẫn tiếp tục tuyên truyền về sự vô địch của khối cộng sản và cho rằng khối tư bản “vẫn đang dẫy chết!”
Khi học tập chính trị các giảng viên từ Thành Đoàn đều viết lên bảng câu khẩu hiệu “Yêu Nước là Yêu Chủ Nghĩa Xã Hội” nhưng khi được hỏi CNHX là gì thì họ lại trả lời lòng vòng là “giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, khi đó làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, không có người bóc lột người, v.v.”
Họ cũng rao giảng rằng “đạo đức phải là đạo đức xã hội chủ nghĩa, không được đạo đức chung chung kiểu tư sản; rằng những gì có lợi cho đảng, cho cách mạng là đạo đức.” Được trang bị bằng hệ thống giáo điều cuồng tín đó nên những chính sách cầm tù dài hạn những quân nhân, viên chức của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà dưới chiêu bài “giáo dục cải tạo”; đuổi dân thành thị về vùng xa xôi, hiểm trở trong chính sách “kinh tế mới” mà chẳng có hổ trợ gì để dân tái định cư, rồi sau đó để cho dân miền Bắc vào chiếm những chổ ở cũ; hay chính sách tịch thu, nôm na là ăn cướp, tài sản những doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa của Miền Nam qua chính sách “cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh.”
Nghe đâu cán bộ cầm đầu thực hiện chính sách tàn ác này là Đỗ Mười, người đã nổi danh qua chính sách tương tự ở Hà nội và Hải phòng sau năm 1954 với hậu quả là nhiều người đã tiếc của mà tự tử chết. Nhưng đối với Việt cộng những việc đó có lợi cho Đảng, cách mạng nên họ không hề băn khoăn về hậu quả; vả lại người Cộng sản vốn là vô thần nên không có những băn khoăn về tâm linh và khi thấy rằng họ cũng tự nhiên đạt được nhiều lợi quyền sau khi cướp được chính quyền, đúng như phong trào cộng sản quốc tế hứa hẹn trong bài hát “International – Quốc Tế Ca: tất cả lợi quyền sẽ qua tay mình,” thì họ lại càng hăng hái hơn trong các chính sách “Vào, Vơ, Vét, Về.”
Trong thời gian từ 1976-1986, Việt Nam nằm trong sự toàn trị của Tổng Bí thư Lê Duẩn và tập đoàn Lê Đức Thọ. Lê Duẩn là một người cộng sản cuồng tín, thiển cận và độc ác. Với một vốn học vấn khiêm nhường của lớp năm tiểu học rồi làm công nhân đường xe lửa và chỉ được dạy dỗ những giáo điều cộng sản và cách sử dụng bạo lực cách mạng trong nhà tù nên Lê Duẩn rất sắt máu về chính trị.
Chính Lê Duẩn là tác giả của “Đề Cương Cách Mạng Miền Nam” năm 1957 tức là kế hoạch xâm lăng và chiếm đóng Miền Nam, sau đó được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện năm 1959 với việc thành lập đoàn 559 mở đường mòn Trường Sơn để xâm nhập người và súng đạn vào tấn công Miền Nam. Cá tính gian dối của Lê Duẩn cũng được thể hiện qua hành động lừa đảo ấu trĩ là giả vờ xuống tàu ra Bắc tập kết rồi đêm đến lẻn lên bờ trở lại nằm vùng ở Miền Nam vì thực ra lúc đó cũng chả ai quan tâm đến việc một người thay đổi thái độ đi hay ở!
Và trong thời gian nằm vùng, tính gian dâm của Lê Duẩn đã thở thành huyền thoại ở Nam Bô, trong khi nhiều cán bộ cấp thấp hơn bị khiển trách, trừng phạt về tội hủ hóa tức gian dâm, ngoại tình!

Chính sách mang dấu ấn đậm nhất của Lê Duẩn sau 1975 là “Làm Chủ Tập Thể” với tất cả những cái ấu trĩ, ngu dốt của nó. Nếu ai đã học xong bậc tiểu học ở Việt Nam tất biết những câu châm ngôn như, “Nhiều thầy thối ma, nhiều người ta thối cứt,” hay “Cha chung không ai khóc” để chỉ việc chung thường bị người ta đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, chẳng ai lo! Kết quả là những tổ hợp, hợp tác xã nông nghiệp hay công nghiệp đều thất bại, không hiệu quả, đến độ là kinh tế Việt Nam đến bờ vực thẳm vào năm 1986 khi Lê Duẩn mất!

Trong thập niên 1980s, kinh tế Việt Nam suy sụp thảm hại, một phần vì chi phí quốc phòng khi Cộng sản Việt Nam sa lầy tại Campuchia sau khi xâm lăng và chiếm đóng đất nước đó cuối năm 1978, dẫn đến cuộc chiến ở vùng biên giới phía Bắc với Trung cộng vào ngày 17 tháng 2 năm 1979. Đến nay chi tiết về các cuộc chiến này vẫn không được Việt cộng công bố; những bộ đội đã hy sinh cũng không được ghi công, tưởng niệm vì phật lòng Trung cộng, Thiên triều mà họ đã sang khấu đầu thần phục năm 1990 để được bảo đảm tiếp tục cầm quyền sau khi Liên Xô sụp đổ và khối Đông Âu giải thể cuối thập niên 1980.

Trong gần 15 năm sau chiến tranh, Việt Nam lún dần vào vai trò của một nước nghèo nàn và tụt hậu so với những quốc gia trong khu vuc Đông Nam Á. Nguyên nhân đơn giản là một chế độ độc tài toàn trị, với tham nhũng lan tràn vì vô trách nhiệm và thiếu giám sát trong khi dân chúng bị áp bức, các quyền tự do cơ bản bị chà đạp trắng trợn, không thể nào đạt được tiến bộ xã hội để nâng cao mức sống của người dân. Trong khi đó, nhũng kẻ cầm quyền lại thường khoe khoang rằng “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hơn vạn lần dân chủ tư sản!” Phải chăng khả năng hổ thẹn đã mất đi trong người cộng sản vì họ nói dối quá lâu đã thành quán tính?

Trước khi Saigon bị chiếm đóng, chỉ khoảng 140 ngàn người là những viên chức cao cấp trong chính phủ VNCH hay quân đội đã di tản cùng với vợ con, thân nhân họ, nhất là những người đã từng có kinh nghiệm với Việt cộng; còn rất nhiều thành phần trí thức, nhân viên trung cấp, sinh viên đều nghĩ rằng họ sẽ có cơ hội góp phần xây dựng lại đất nước sau một cuộc chiến tranh dài nên đã ở lại, không di tản, dù nhiều người có cơ hội. Không ai ngờ rằng chính quyền cộng sản lại có những chính sách trả thù, tàn ác, phân biệt như thê. Nhất là chính sách đối xử phân biệt qua lý lịch mà thực chất là thể hiện nguyên lý “đấu tranh giai cấp” của chủ thuyết cộng sản.

Khi người dân Miền Nam nhận ra bộ mặt thật của đám lãnh đạo Việt cộng dốt nát, cuồng tín, gian ác thì chỉ còn một cách là thoát ly khỏi cái địa ngục đỏ đó mà thôi. Kết quả là hiện tượng thuyền nhân từ cuối năm 1977! Lúc đó các lãnh tụ Việt cộng đã nguyền rủa, nhục mạ những kẻ trốn chạy, rằng “đó là bọn đĩ điếm, mê bơ thừa sữa cặn của đế quốc”; nói chung là dùng ngôn từ của những kẻ vô học, côn đồ, không thích hợp với quan chức cấp cao của một quốc gia.

Điều càng mỉa mai là sau một thời gian, những thuyền nhân này ổn định cuộc sống ở đất nước mới và bắt đầu gửi hàng, tiền về giúp thân nhân của họ vẫn còn ở Việt Nam thì giọng điệu của nhà nước Việt cộng lại thay đổi, nào là “khúc ruột nghìn dặm, là máu thịt của dân tộc” v.v. Nói chung thật là vô liêm sỉ.

Thuyền nhân
Nguồn ảnh: Carina Hoang


Có thể nói hiện tượng “thuyền nhân” xảy ra từ giữ năm 1977 cho đến nửa thập niên 1990, khi các quốc gia ở Đông Nam Á từ chối không cho những người trốn chạy Việt cộng vào các trại tỵ nạn vì đã quá đông.

Có nguồn cho rằng trong thời gian đó, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, là một trưởng công an ở tỉnh Kiên giang, chưa đầy 30 tuổi nhưng rất mưu mô, xảo quyệt, nên đã tổ chức các chuyến vượt biên bán chính thức, hay chính thức cho Hoa kiều hồi hương, để lấy vàng (trẻ em 6 lượng vàng mỗi em, người lớn từ 10 đến 12 lượng); ngoài ra còn có dịch vụ cho thuê tàu, bán bãi đáp.

Số vàng hàng chục nghìn lượng ông Dũng thu được đã được chia hậu hĩnh cho các thành viên bộ chính trị lúc đó nên ông Dũng được đặc cách lên chức nhanh chóng. Và lúc này chính ông Dũng là thủ tướng của một đất nước với thể chế chính trị man rợ, kinh tế khủng hoảng, đạo đức xuống cấp, văn hóa đồi trụy, và giáo dục tụt hậu!

Một số trí thức phản chiến, khuynh tả thường tìm cách biện hộ, chạy tội cho Việt cộng với lập luận rằng vì Mỹ cấm vận Việt Nam sau 1975 nên Việt cộng mới áp dụng những chính sách như thế! Họ quên rằng ngay sau khi trở thành tổng thống Mỹ năm 1976, tổng thống Jimmy Carter đã đề nghị bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt. Nhưng trong những cuộc đàm phán suốt năm 1977 tại Hà nội, Paris, và New York, tập đoàn cộng sản giáo điều ở Hà nội khăng khăng đòi 3 tỷ rưỡi đô la “tiền bồi thường chiến tranh” mà cựu tổng thống Richard Nixon hứa hen trong một bức thư riêng để Hà nội ký Hòa ước Paris năm 1973!

Người ta không thể hiểu cộng sản Hà nội có còn biết liêm sỉ hay không khi đã xé hiệp định Paris 27-1-1973, tấn công và chiếm đóng Miền Nam bằng vũ lực chỉ hai năm sau đó, rồi đòi Mỹ thi hành một điều khoản không chính thức trong hiệp ước!

Điểm thứ hai là họ không hiểu hệ thống chính quyền Hoa kỳ: Tất cả mọi chương trình dự án gì của chính phủ cũng phải do phía lập pháp tức Quốc hội, chuẩn chi (cấp ngân khoản) mới thực hiện được. Việc một tổng thống hứa hẹn điều gì với ai không có nghĩa gì với Quốc hội!

Có lẽ tập đoàn Hà nội lúc đó tưởng rằng ai cũng như họ muốn gì là làm, không ai giám sát, chuẩn chi! Đó chẳng qua la do ngu dốt nhưng không tìm hiểu, học hỏi vì cái bệnh kiêu căng, hãnh tiến cộng sản.

(Xem quyển “Brother Enemy” (Anh em Thù địch) của nhà báo Ấn độ khuynh tả Nayan Chanda để biết những chi tiết khá khôi hài như đầu năm 1977 Hà nội chắc mẫm phen này sẽ có 3 tỷ rưỡi đô la và Lê Duẩn cùng tập đoàn cầm quyền đã dự định dùng số tiền đó để làm gì!

Khi Richard Holbrooke là đối tác thương thuyết bình thường hóa quan hệ với Việt Nam được biết điều này, ông ta đã phải kêu lên, “They must be crazy!” (Chắc là họ điên!)

[Tổng tống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã trông chờ Mỹ tiếp tục viện trợ chiến tranh Việt Nam vì những lá thư riêng của Tổng thống Richard Nixon gời cho ông; thí dụ “ […] you have my assurance of continued assistance in the post-settlement period and that we will respond with full force should the settlement be violated by North Vietnam.”
Thư TT Richrad Nixon gởi TT Nguyễn Văn Thiệu ngày 5/5/1973 do ông Nguyễn Tiến Hưng, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, đưa ra trước báo giới Mỹ ngày 30/4/1975. Xem “Khi đồng minh tháo chạy” của Nguyễn Tiến Hưng – DCVOnline]
Sau khi Lê Duẩn mất (1986), Trường Chinh tạm thay thế trong chức vụ tổng bí thư chờ đại hội đảng VI. Trái với quan điểm của nhiều người cho rằng Trường Chinh là thủ phạm chính của các tội ác trong Chiến Dịch Cải Cách Ruộng Đất và bị chuyển sang làm chủ tịch quốc hội khi sửa sai, thực ra người phải chịu trách nhiệm lớn nhất và đầu tiên là Hồ Chí Minh, lúc đó là Chủ tịch Nước và Chủ tịch Đảng. Chính Hồ Chí Minh sang Nga năm 1950, cùng Mao Trạch Đông, và nhận lệnh của Stalin về tiến hành cải cách ruộng đất với sự cố vấn của cán bộ Trung cộng như Trần Canh, La Quí Ba, Vi Quốc Thanh, v.v.

[CCRD được Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện vào những năm 1953–1956. Trần Canh đã trở về Trung Quốc cuối năm 1950. Tháng 9, 1951 nhận nhiệm vụ mới ở Chiến tranh Triều Tiên. Xem Trần Giao Thuỷ, Truyền Thông Số 32 & 33, Hạ-Thu 2009. – DCVOnline]
Trường Chinh lúc đó cũng là một con dê tế thần như Hoàng Quốc Việt, dù chỉ vài năm sau họ đều được phục chức và Hồ Chí Minh vẫn tuyên bố cải cách ruộng đất đại thành công! Nói như thế không phải chạy tội cho Trường Chinh vì ông này tôn sùng Trung Cộng một cách mù quáng, đã giải thích cho cán bộ đảng viên về công hàm 14/9/1958 của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là, “Trung quốc là nước xã hội chủ nghĩa anh em; họ chỉ giữ dùm ta, khi nào ta đòi lại là bạn trả ngay.
Chính sự cuồng tín giáo điều của Việt cộng đã gieo mầm cho việc nhượng đất, dâng biển, cho thuê rừng của các thế hệ Việt cộng sau này. Trong những năm cuối thập niên 1980 Việt cộng lâm vào tình trạng khủng hoảng tư tưởng khi Liên Xô và khối Đông Âu bắt đầu tan vỡ. Tại đại hội đảng VI năm 1986 Nguyễn Văn Linh trở thành tổng bí thư và bắt chước một vài động thái cởi mở như “cởi trói văn nghệ sĩ” và giảm kiểm duyệt, cho phép xuất bản một số tác phẩm có nội dung phản kháng. Thế nhưng sau khi chế độ cộng sản ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung có vẻ sắp sụp đổ và với sự chống đối của phe bảo thủ, Nguyễn Văn Linh đã siết lại chính sách cai trị.
Thế rồi khi thấy Trung cộng thẳng tay đàn áp sinh viên biểu tình chống tham nhũng, đòi hỏi dân chủ ở Thiên An Môn 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định thần phục, theo đường lối cứng rắn của Trung cộng để đảm bảo tiếp tục cầm quyền toàn trị ở Việt Nam. Cùng lúc với thanh trừng những nhân vật “chệch hướng, có lập trường lung lay” như tướng Trần Độ và ủy viên Bộ Chính trị Trần Xuân Bách, bộ ba Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, và Đỗ Mười đã sang Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng xin bình thường hoá quan hệ với Trung cộng “để cùng tiếp tục” cứu vãn phong trào xã hội chủ nghĩa.
Thực ra Việt cộng không ngây thơ như cựu thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ trình bày trong hồi ký “Hồi ức và Suy nghĩ,” nhưng “Ba Người Đó” đã chỉ thực hiện phương châm bất biến của cộng sản là “cứu cánh biện minh phương tiện” nghĩa là cầm quyền bằng mọi giá, kể cả nhượng đất, dâng biển.
Nếu có ai hỏi thì sẽ tìm cách bịt miệng hay dùng độc quyền truyền thông để hướng dẫn, chỉ đạo dư luận sau. Hãy nhớ rằng chuyến đi thần phục Thiên triều Trung cộng năm 1990 xảy ra chỉ hai năm sau khi hải quân Trung cộng chiếm một số đảo của Việt Nam ở Trường Sa và giết chết 70 thủy thủ Việt Nam năm 1988. Hiện nay những hy sinh này bị chính quyền cố tình bỏ quên vì nhà nước cấm đoán mọi sinh hoạt tưởng niệm những người đã hy sinh trong các cuộc chiến giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ chống Trung cộng năm 1974, 1979 và 1988.
Đó phải chăng là thái độ trung thành của Việt cộng đối với quan điểm duy vật trong thế giới đại đồng với những người đồng chí của họ còn sót lại trên thế giới này?một giai đoạn thực dân nội địa của Việt Nam với mọi sự hiếp đáp, ép buộc từ phía Trung cộng bắt đầu.
Đầu tiên là Đỗ Mười được chọn trở thành tổng bí thư thay thế Nguyễn Văn Linh chính vì một vài động thái nới lỏng sự chuyên chế của đảng vào thời 1986-1988. Và một giai đoạn sắt máu trở lại ở Việt Nam vì Đỗ Mười nổi tiếng tàn ác từ hồi còn ở Miền Bắc. Vốn thất học, ông này chỉ có trình độ lớp Ba trường làng, sau đó làm cái nghề thất đức là đi “thiến heo” ở các làng quê ở Việt Nam rồi theo Việt cộng, rất hung hăng trong cải cách ruộng đất nên được giao nhiệm vụ đánh tư sản ở Hải phòng, Hà nội sau năm 1954.
Trong thời gian Đỗ Mười làm tổng bí thư vô số người bị thanh trừng, tù đày tùy tiện nhưng vì kinh tế cho tự do tranh quyền đoạt lợi nên chẳng ai phản kháng, chống đối. Phải nói Đỗ Mười là hung thần của Việt cộng thời thập niên 1990 trong khi các doanh nghiệp ngoại quốc thì chỉ lo tìm cách làm ăn buôn bán kiếm lời, không ai chú ý hay lên tiếng về tình trạng áp bức, vi phạm nhân quyền có hệ thống ở Việt Nam.
Cũng có nguồn cho rằng Đỗ Mười tham nhũng trắng trợn như khi đi thăm Hàn Quốc được một tập đoàn viễn thông tặng riêng 1 triệu đô la bỏ túi nhưng về Việt Nam không khai báo, chỉ khi ông ta bỏ ra mấy chục nghìn đô tặng làm nhà trẻ ở vùng ông ở người ta hỏi thì ông trả lời đó là món quà để ông làm việc từ thiện! Ngay tờ báo Nhân Dân cũng có bài đăng vụ này. Những người trẻ sẽ nghĩ gì khi thấy tấm gương tham nhũng của vị lãnh đạo tối cao mà báo đài lề đảng luôn ca tụng là “đỉnh cao trí tuệ”?

(Còn tiếp)

Nguồn dcvonline.net

——————————————————————————————-

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »