Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 15th, 2012

Blogger Điếu Cày sắp ra tòa vì chống phá Nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 15/04/2012

Blogger Điếu Cày sắp ra tòa vì chống phá Nhà nước

(Người Lao Động Online)- Ngày 14-4, VKSND TPHCM cho biết đã chuyển cáo trạng và toàn bộ hồ sơ vụ án “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sang TAND TPHCM để xét xử trong thời gian tới đối với 3 bị can Nguyễn Văn Hải (SN 1952, ngụ quận 3, còn gọi là Hoàng Hải, Hải Điếu Cày), Tạ Phong Tần (SN 1968, quê Bạc Liêu) và Phan Thanh Hải (SN 1969, ngụ quận Thủ Đức – TPHCM).

Các bị can nói trên bị truy tố tội “Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 2, điều 88 , Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Theo cáo trạng, năm 2001, Lê Xuân Lập (SN 1958), công tác tại một tờ báo có văn phòng đại diện tại TPHCM đã có đơn gởi Hội Nhà báo Việt Nam xin thành lập “Hội nhà báo tự do” với mục đích giúp đỡ, tương trợ những cộng tác viên không có thẻ nhà báo. Đề nghị này không được chấp nhận.

Cáo trạng

 

Đến năm 2007, sau khi nghỉ làm ở tờ báo này, ông Lập đệ đơn lên Thủ tướng Chính phủ xin thành lập “Hội nhà báo tự do” cũng không được chấp nhận.

Sau đó, qua trao đổi trên mạng internet, qua điện thoại, Lập đã gặp gỡ Nguyễn Văn Hải cùng một số đối tượng khác thành lập “Câu lạc bộ nhà báo tự do” (CLBNBTD), Lập được bầu làm chủ nhiệm. Sau đó, Nguyễn Văn Hải và 2 đối tượng khác được giao nhiệm vụ thiết kế blog CLBNBTD rồi thông báo rộng rãi cho các thành viên sử dụng.

Tuy nhiên, sau đó Nguyễn Văn Hải đã tự động thay đổi mật khẩu blog để nắm giữ, quản lý điều hành. Hải đã tập hợp thêm Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải là những người có đồng quan điểm, tham gia CLBNBTD. Sau đó, Hải được bầu làm chủ nhiệm blog, còn Lê Xuân Lập bị loại khỏi CLBNBTD.

Ngay sau khi lên nắm quyền quản lý blog CLBNBTD, Nguyễn Văn Hải cùng với Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đã viết nhiều bài với nội dung tuyên truyền, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngoài ra, các bị can còn đăng trên blog riêng của mình: Tạ Phong Tần lập blog “Công lý và Sự thật”, sau đổi thành “Sự thật và Công lý”, Phan Thanh Hải là blog “Anhbasaigon”.
Chỉ trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010, đã có 421 bài đăng trên CLBNBTD, trong đó có 94 bài do thành viên CLBNBTD viết và 327 bài lấy lại từ các blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam.

Trong số này, 26 bài được Giám định viên Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch TPHCM kết luận “…hầu hết những bài viết đều chứa nội dung, giá trị của sự phê phán trong tinh thần không phải để xây dựng, hoặc cao hơn là lên án, kết án nhằm hướng tới sự cổ động, kích động công luận tham gia đấu tranh thay đổi sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thay đổi chế độ chính trị, Nhà nước hiện tại nhằm xây dựng một chế độ khác, nhà nước khác…

Xác lập và công bố hệ thống quan điểm về thông tin báo chí, ngôn luận của một nhóm nhà báo mệnh danh tự do cố thể hiện mình như là thế lực mới đang được hình thành và từng bước trưởng thành trong lòng Chế độ Cộng sản ở Việt Nam hiện tại nhằm mục đích xây dựng, tập hợp lực lượng chính trị chống đối phục vụ cho âm mưu diễn biến, lật đổ trước mắt và lâu dài” (Kết luận giám định số 10/KLGĐ, ngày 15-4-2011)

Ngoài ra, 3 bị can còn lợi dụng các sự kiện chính trị, tổ chức và tham gia các cuộc biểu tình với danh nghĩa chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa-Trường Sa và tẩy chay Olympic Bắc Kinh khi rước đuốc qua TPHCM.

Theo kết luận của VKSND TPHCM, Nguyễn Văn Hải là đối tượng cầm đầu CLBNBTD, chịu trách nhiệm về những bài viết được đăng trên CLBNBTD từ khi thành lập CLB đến ngày 20-4-2008 (bị bắt vì tội trốn thuế, đã chấp hành hình phạt 2 năm 6 tháng tù). Nguyễn Văn Hải còn tham gia móc nối các đối tượng phản động bên ngoài để được hỗ trợ về tinh thần và vật chất nhằm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Tạ Phong Tần là thành viên phụ trách mục Khoa học và Pháp lý của CLBNBTD, hoạt động rất đắc lực, thông qua hai blog cá nhân đã phát tán 101 tài liệu nội dung chống phá. Phan Thanh Hải phát tán 20 bài có nội dung chống phá Nhà nước.

Riêng Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải còn tham gia đợt huấn luyện do tổ chức phản động “Đảng Việt Tân” tổ chức tại Thái Lan.

Tại Cơ quan An ninh Điều tra – Công an TPHCM, các bị can Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần với bản chất ngoan cố, chống đối quyết liệt, không khai báo, không thừa nhận hành vi của mình. Tuy nhiên căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định các bị can phạm tội.

Phan Thanh Hải lúc đầu không thừa nhận hành vi chống phá nhưng sau đó đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đối với Lê Xuân Lập và một số đối tượng khác mặc dù có giúp sức, viết bài, phát tán tài liệu chống phá nhưng đã có thái độ thành khẩn, hợp tác với cơ quan điều tra nên không bị xử lý hình sự mà thông báo về địa phương để theo dõi, quản lý.

Tin-ảnh: Phạm Dũng (Báo Người Lao Động)

Advertisements

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Trí thức và vai trò của trí thức châu Âu

Posted by hoangtran204 trên 15/04/2012

Trên Viet-Studies (đọc ở đây ) có bài nghiên cứu rất hay về vai trò của trí thức châu âu; đặc biệt là ở phần 2, nói về vai trò của trí thức Đông âu trong 3 thập niên qua của tác giả Trần Thị Phương Hoa.

Đọc bài này xong, các bạn hãy so sánh với giới được gọi là trí thức hiện nay ở VN hiện nay đang ở  đâu? làm gì? cuộc  sống của họ ra sao? đã và đang làm được những cho các phong trào trong xã hội? Có làm được phần nào  giống như trí thức Đông Âu không? Mao Trạch Đông đã từng khinh bỉ khi nói về giới trí thức Trung Quốc như sau: “Trí thức là cục phân“.

Trí thức và vai trò của trí thức châu Âu

Trần Thị Phương Hoa

Viện Nghiên cứu châu Âu
Viện K
hoa học Xã hội Việt Nam

1.  Trí thức Anh, Pháp – sự khác biệt

          Một trong những gương mặt tiêu biểu của trí thức châu Âu hiện đại là Pierre Bourdieu, người kế tục truyền thống của các thế hệ trí thức Pháp từ Voltaire tới Foucault. Vào khoảng giữa những năm 1990, Bourdieu đã xuống đường biểu tình bảo vệ quyền lợi cho  công nhân thất nghiệp và lên án  học thuyết kinh tế tự do mới ngày càng đào sâu hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa quốc gia phát triển và quốc gia chậm phát triển.

          Bourdieu đã rời bỏ các thư viện, giảng đường, viện nghiên cứu để xuống đường, từ một nhà nghiên cứu xã hội học (được đánh giá là nhà xã hội học hàng đầu tại Pháp) thành một nhà hoạt động xã hội tích cực. Niilo Kauppi viết ‘Lý thuyết cần có nền tảng luân lý để biến thành thực tiễn, khoa học cần  đạo đức để nắm quyền lực’[1], khi đánh giá cao giá trị con người Đạo đức, bên cạnh con người Khoa học của Bourdieu, người luôn đứng về phía quần chúng để bảo vệ cho lợi ích của họ.

         Ở Pháp và châu Âu, hình ảnh của ông được ví với ‘người trí thức anh hùng của nước Pháp, một điển hình của trường phái Lãng mạn một mình chống lại những thiên kiến tập thể, người dũng cảm nói lên sự việc như nó đang xảy ra trên thực tế’[2].

Nếu trí thức Pháp, cũng như trí thức Nga, luôn tự nhận về mình những trách nhiệm cao cả đối với xã hội, quyền lực của họ được đánh giá tương ứng, trong nhiều trường hợp, ngang với quyền lực chính trị, thì ở Anh, “trí thức không mấy được để ý đến”, bất chấp những tên tuổi như Isaac Newton, John Locke, Adam Smith, Jeremy Bentham, William Wordsworth, Charles Dickens, Charles Darwin…

Thậm chí ở Anh “không ai muốn được gọi là trí thức, vì họ hoàn toàn không có chút quyền lực và ảnh hưởng nào”[3]. Thái độ của người Anh đối với khái niệm “trí thức” không hề giống với những gì mà ngừơi Pháp tôn trọng “ ở hầu hết các nước nói tiếng Anh, tên gọi ‘trí thức’ không hàm ý khen ngợi, ngược lại nó có nghĩa dè bỉu hoặc bị lạm dụng”[4], bởi vì, người Anh được giáo dục  rằng “tính cách quan trọng hơn trí tuệ”.

Trên thực tế, trong khi trí thức Pháp và Nga luôn cảm thấy trách nhiệm xã hội nặng nề của mình thì trí thức Anh, với bản tính “phớt Ang-lê”, “không bao giờ thích được ưu tiên và trao quyền lực”. Đối với người Anh, nước Pháp tiêu biểu cho “chủ nghĩa thế giới, nhân tạo, lệ thuộc vào mốt, khôn khéo  và láu cá”[5].

Trong khi người Anh tự cho mình là thẳng thắn, tự nhiên, “mang chất đàn ông”. Trí thức Anh tìm cách lánh xa các hiện tượng bề nổi, các danh hiệu, tước phong và định hướng tới “thực tại, kinh nghiệm”. Cũng chính vì thế mà trí thức Anh bị chỉ trích là “đại diện cho tầng lớp trung lưu “Philistanh”- những người ham làm hơn là ham nghĩ ngợi, những nhà đạo đức mà thiếu “sự ngọt ngào và ánh sáng tư tưởng”, đặc điểm khiến cho trí thức Anh khác với trí thức Pháp và Đức vốn là những người khởi xướng ra chủ nghĩa lãng mạn.

          Tuy nhiên, nếu như trí thức Anh không hướng tới quyền lực thì giới quyền lực và tinh hoa của Anh lại có xuất thân từ  các gia đình có truyền thống học thức lâu đời, nhiều trong số họ là các nhà chuyên môn, các chuyên gia đỉnh cao. Họ tạo nên một giới “quý tộc có học thức”, liên kết với nhau bởi các mối quan hệ gia tộc và hôn nhân như những Macaulay, Trevelyan, Wedgwood, Darwin, Stephen, Strachey... Vào thế kỷ 18, 19, và những thập kỷ đầu thế kỷ 20, tầng lớp quý tộc này được đào tạo ở những trường học nổi tiếng, có bề dày thành tích hàn lâm. Họ đổ nhiều tiền của đầu tư cho nhà trường, phát triển các kho sách, thư viện, và tới lượt con cái họ được thừa hưởng những di sản học thức được vun đắp qua nhiều thế hệ.

            Vậy thì ở nước Anh, khái niệm “trí thức” (intellectual trong tiếng Anh,  intellectuele trong tiếng Pháp) mang hàm ý gì? Trước hết, người Anh dùng khái niệm “intellectual” để nói về văn hóa của họ, một nền văn hóa được đúc kết từ trí tuệ của con người. Sau sự kiện Dreyfus ở Pháp[6], nước Anh mới tập trung vào “intellectual” như là một giai tầng đặc biệt và vấn đề trách nhiệm của họ đối với xã hội.

         Trước thế kỷ 19, khái niệm “intellectual” hoặc “intelligentsia” không được sử dụng để chỉ một “giai tầng”. Những người làm việc trí óc được mô tả qua các từ “clerisy” (trí thức), “man of letter”, “literary men” (kẻ sĩ), hoặc “cultivators of science” (người vun trồng khoa học). Sau những năm 1870, 1880 mới dùng các từ “intellectual”, “intellectual life” (trí thức, đời sống trí thức)[7], trong đó “đời sống trí thức” bao gồm thơ ca, nghệ thuật, triết học, và tôn giáo.

          Đến cuối thời Victoria (cuối thế kỷ 19), “đời sống tri thức” bao hàm hoạt động trong các trường đại học. “Trường đại học là một tổ chức của đời sống trí thức của đất nước; đó là nơi học tập, nơi nuôi dưỡng khát vọng khoa học, là viện hàn lâm, là tổ ấm của học thức, là nơi trú ẩn của kẻ sĩ và những kẻ thích trầm tư”[8].

          Năm 1910, Từ điển bách khoa Encyclopaedia Britannica định nghĩa “trí thức” là “người làm việc với lý thuyết và nguyên tắc hơn là với thực hành, lý thuyết của họ thường liên quan đến những vấn đề trừu tượng: họ xa rời thế giới, và họ chủ yếu thuộc giới dạy học và văn hóa, những người ít chú ý đến những thú vui tầm thường”[9].

          Hayek phân biệt năm ý nghĩa khác nhau của khái niệm “trí thức”. Ý nghĩa thứ nhất như đã nói đến ở trên, trí thức là “học giả”. Ý nghĩa thứ hai, “trí thức” được dùng như tính từ có nghĩa là “trí tuệ”: trí thức là người có trí tuệ, thường có nghĩa bổ sung là người có học thức cao, phân biệt với những ngừơi làm việc tay chân. Ý nghĩa thứ ba, trí thức là người có tư duy độc lập và có đầu óc phê phán. Họ phải luôn nuôi dưỡng trong mình thái độ khách quan, đứng ngòai chính trị. Ý nghĩa này được khởi xướng  bởi triết gia và nhà văn Pháp Julien Benda, người chống lại những thiên kiến chính trị, chủng tộc và dân tộc của các trí thức cánh tả. Ý nghĩa thứ tư: trí thức là người thực hiện các chức năng xã hội hoặc vì xã hội. Xung quanh vấn đề này có nhiều bàn cãi, chẳng hạn chức năng này bao gồm những nhiệm vụ cụ thể nào hoặc cần phải thực hiện ở mức độ nào. Nhìn chung, đối với trí thức Anh thì chức năng này được hiểu là những định hướng văn hóa cho xã hội, trong khi đối với trí thức Pháp và Nga thì trí thức phải tiên phong trong các phong trào cách mạng và xả thân cùng những biến động xã hội. Ý nghĩa thứ năm, người trí thức, ngòai chức năng định hướng văn hóa còn có vai trò định hướng chính trị và xã hội- điều mà các trí thức Nga và Pháp coi là trách nhiệm hàng đầu. Họ phải có vai trò can thiệp vào đời sống chính trị và có tiếng nói đối với nhà cầm quyền dựa trên quan điểm khoa học.

.

2. Trí thức Đông Âu

Năm 1986, khi bức tường Berlin còn chưa sụp đổ, sau khi Đại hội 27 ĐCS Liên Xô tuyên bố về Perestroika và Glasnost, Vaclav Havel viết ‘Người trí thức phải thường xuyên can thiệp, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của nhân dân, đồng cảm với nỗi khổ ấy và nổi dậy chống lại những áp bức vô hình hay hữu hình, là những người luôn đặt mối nghi ngờ đối với hệ thống, với quyền lực và những bùa chú, xuyên tạc mà những quyền lực đó đặt ra’[10].

Có thể thấy,  trách nhiệm ‘dám nói lên sự thật’, tự nhận là ‘người nô bộc khiêm tốn và dũng cảm của sự thật’[11] đã được nhiều trí thức Đông Âu đảm nhiệm. Đông Âu, cũng như Nga, có một đội ngũ trí thức được hình thành như một giai tầng trong xã hội -“inteligentsia”, đội ngũ được xây dựng sau chiến tranh Thế giới thứ hai, gồm nhiều trí thức tiến bộ tập hợp như một lực lượng chống Phát xít.

Giới trí thức đóng một vai trò quan trọng trong các quốc gia XHCN, như hai trí thức mác xit người Hungary, George Konrad và Ivan Szelenyi nhận định[12]. Theo hai học giả này, quyền phân phối thặng dư trong xã hội tư bản thuộc về chủ tư bản, còn trong xã hội XHCN, do không có tư bản, quyền này thuộc về giới cầm quyền- trí thức.

“ Ngay khi thị trường được thay thế bằng kế hoạch hóa, những người nắm tri thức sẽ lên nắm quyền, thay cho những người sở hữu tư bản”. Quá trình phân phối sản phẩm “duy ý chí” được hình thành, thay cho việc phân phối sản phẩm dựa vào thị trường. Ngòai ra Konrad và  Szelenyi còn nhận định rằng trong xã hội XHCN vai trò của giới trí thức sẽ được coi trọng hơn trong xã hội TBCN, bởi vì giới trí thức ở các nước XHCN, khi bị đẩy ra ngòai rìa, sẽ có xu hướng cầm đầu phong trào “nổi loạn” chống lại quyền lực chính trị.

Do đó,  bộ máy cần o bế họ để phục vụ các mục tiêu chính trị, cũng như dùng họ để nuôi dưỡng lý luận và tuyên truyền. So với giai cấp công nhân thì trí thức có vẻ được ưu đãi hơn rất nhiều. Họ kiếm được “căn hộ” dễ dàng hơn, có nhiều thời giờ rảnh rỗi, nhiều cơ hội giải trí hơn, tạo nhiều mối quan hệ và gây được nhiều ảnh hưởng hơn, cũng như được giới lãnh đạo “dè chừng”, “vị nể” hơn[13]. Tuy nhiên nếu đi chệch hướng thì họ có thể phải gánh chịu những hậu quả thảm khốc.

Một trong những đóng góp quan trọng của trí thức Đông Âu là nỗ lực hình thành nên “xã hội dân sự” ở những nước này.

Ngay trong thời kỳ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Liên Xô, ở các nước Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc và Hungary, dưới lớp vỏ ngoài của xã hội tập trung bao cấp đã có những mầm mống của xã hội dân sự với “những giai tầng đa dạng, những nền văn hóa, truyền thống lịch sử, các thiết chế chính trị-kinh tế khác biệt”[14].

Cho đến thập niên đầu của thế kỷ XX khu vực này vẫn chịu ảnh hưởng của các đế chế xung quanh: Nga ở phía Đông, Thổ ở phía Tây và Áo ở phía Nam.

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ I kết thúc, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary và Nam Tư mới giành lại độc lập. Như một phản xạ nhằm đối phó lại với phạm vi ảnh hưởng của những đế chế nói trên, những quốc gia-dân tộc này tìm mọi cách để duy trì và lưu giữ những nét đặc sắc văn hóa xã hội riêng của mình, trong đó các trí thức đóng một vai trò to lớn.

Một trong những phong trào nổi bật trong sự hình thành các nhóm, các tổ chức mang tính quần chúng, góp phần xây dựng xã hội dân sự ở Đông Âu là các hoạt động bảo vệ môi trường.

Quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước Đông Âu đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, trong khi chính quyền đã không đưa ra những giải pháp kịp thời cho vấn đề ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm, các nhóm trí thức đã sớm nhận thức được hiểm họa tàn phá môi trường và tác động tiêu cực của nó tới dân sinh.

Tuyên ngôn đầu tiên của hội những người bảo vệ môi trường được đưa ra ở Ba Lan, khi Câu lạc bộ sinh thái Ba Lan được thành lập ở Cracow vào tháng 9 năm 1980. Nhiều nhà khoa học môi trường đã tập trung ở đây để khai mạc cho Câu lạc bộ này bằng một bức thu ngỏ gửi lên chính phủ yêu cầu có những điều luật nghiêm khắc hơn nữa nhằm bảo vệ môi trường sống. 

Nhiều hội thảo đã được tổ chức, nhiều kết luận về tình trạng ô nhiễm cũng như tác hại đối với sức khỏe người lao động, các khuyến nghị tới chính phủ đã được đệ trình.

Sau sự kiện Chernobyl ở Ukraina, nhóm vì Hòa bình và Tự do đã tổ chức các cuộc biểu tình phản đối việc bưng bít thông tin về vụ nổ, khoảng 2000 người đã tham gia tuần hành ở Cracow. Tại Bialystok, khu vực gần Chernobyl, khoảng 3000 người đã ký lời kêu gọi ngừng xây dựng một nhà máy điện hạt nhân ở Ba Lan có tên là Zarnowiec.

Phối hợp với các nhà khoa học và nhà báo, tổ chức này đã gây sức ép buộc chính quyền đóng cửa nhà máy thép Siechnice gần Wroslaw do làm ô nhiễm nguồn nước trong khu vực. Chính quyền khu vực này cam kết sẽ chấm dứt hoạt động của nhà máy trước năm 1992. Ngoài ra, danh sách 500 nhà máy cũng được liệt kê vì đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

            Kể từ năm 1978, phong trào Hiến chương 77 ở Tiệp Khắc đã coi môi trường là một trong những vấn đề quan trọng trong chương trình hành động. Tháng 7 năm 1983 nhóm giám sát nhân quyền đã soạn thảo một văn bản chi tiết cảnh báo chính quyền về tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở miền bắc Bohemia. Tháng 2 năm 1984, Hiến chương 77 đã phát hiện và in lại một báo cáo  mật của chính phủ do Viện Hàn lâm Tiệp Khắc soạn thảo năm 1983 về vấn đề môi trường, trong đó thông báo tình trạng môi trường đang bên bờ thảm họa và những hậu quả sức khỏe nghiêm trọng đối với dân chúng.

            Báo cáo nêu rõ, kể từ năm 1960, số người bị mất khả năng lao động tăng 50% do các lý do về sức khỏe. Ở các khu công nghiệp, tỉ lệ người người mắc bệnh phổi, tử vong ở trẻ em tăng mạnh. Tương tự, cây cối và động vật cũng bị ảnh hưởng do mưa axit, ô nhiễm nguồn nước và không khí cũng như sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp.

           Năm 1986, Hiến chương 77 đã ra văn bản trình lên Quốc hội phàn nàn việc chính phủ Tiệp Khắc chậm trễ phản ứng với khủng hoảng Chernobyl, trong đó đề nghị phải ngay lập tức đưa đầy đủ thông tin về mức tăng phóng xạ ở Tiệp Khắc và ý kiến của chuyên gia về các biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe con người.

           Năm 1987, tổ chức này ra hai văn bản về tình trạng môi trường ở Tiệp Khắc, trong đó đề nghị vấn đề môi trường phải được đưa ra bàn luận rộng rãi trong công chúng. Các văn bản này được gửi tới nhiều cơ quan của chính phủ, đòi hỏi các nhà máy xí nghiệp dùng than có hàm lượng thấp phải lắp đặt các máy lọc không khí, sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng và cảnh báo nguy cơ cao đối với các nhà máy hạt nhân.. Tuy nhiên những yêu cầu này đều không được giải đáp.

           Ở Hungary, phong trào bảo vệ môi trường cũng được dấy lên bởi các tổ chức phi chính phủ. Nhóm Danube Circle (do nhà báo và nhà sinh vật học Janos Vargha thành lập năm 1984) kết hợp với Hiến chương 77 thành lập ra một Dự án liên kết Tiệp-Hung về những nguy hiểm đối với môi trường do đập thủy điện Gabciko-Nagymaros đang xây dựng có thể gây ra.

            Dự án này tiến hành nghiên cứu và soạn thảo các văn bản đệ trình lên chính phủ hai nước về những nguy cơ hủy diệt môi trường của khu vực sông Đa nuyp. Cũng chính nhóm Danube Circle đã gửi một bức thư lên Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng Hungary về những tác hại của ô nhiễm môi trường và kêu gọi nhận thức  đúng đắn về vấn đề này với chữ ký của khoảng 5000 người trong đó có 50 đại diện hoạt động trong lĩnh vực khoa học và văn hóa.

            Nhóm Danube Circle tuyên bố không liên quan đến các phong trào chống đối hay các mục tiêu chính trị, mà chỉ là một tổ chức quan tâm đến các vấn đề sinh thái môi trường. Tuy nhiên chính quyền không công nhận nhóm này là một tổ chức chính thức và đã bác bỏ đề nghị của họ.

           Vào năm 1985, nhóm này mới được phục hồi trở lại sau khi họ được nhận giải thưởng “Sinh kế đúng đắn” với số tiền 95.000 đôla, và được nêu tên tại lễ trao giải tại Nghị viện Thụy Điển.

           Hai năm sau họ mới được chính phủ Hungary đồng ý cho nhận giải bằng tiền Hungary với lý do không được nhận giải bằng ngoại tệ. Nhóm này đã dùng số tiền thành lập ra Quỹ Danube với cam kết “hỗ trợ cho các cá nhân và phong trào tư nhân có các hoạt động gìn giữ môi trường và thiên nhiên có liên quan đến vùng sông Đanuyp”. Nhiều dự án đã được đệ trình để xin Quỹ hỗ trợ.

           Nhóm Danube Circle còn huy động nhân dân yêu cầu chính phủ thay đổi chính sách. Cuộc trưng cầu ý kiến về đập thủy lợi đã thu được 2655 chữ ký nhưng không thu được đánh giá tích cực từ phía chính quyền (dẫn theo Janusz Bugajski và Maxine Pollack, 1989:214)[15].

          Tháng 4 năm 1986, 30 trí thức Hungary đã gửi in một quảng cáo trên một trang của tờ báo ở Viên, thủ đô nước Áo, có tên là Die Presse, với ý định kích động dân chúng Áo phản đối việc xây đập trên dòng Đanuyp trên đất Hung, do phần lớn tín dụng để xây đập là từ Viên và 70% gói thầu xây dựng đập sẽ trao cho các hãng của Áo.

          Quảng cáo tuyên bố “Một xã hội dân chủ- và chúng tôi tin xã hội Áo là như vậy- không cho phép nó khai thác sự thiếu dân chủ ở một nước khác vì những lợi ích vật chất của nó”. Một số các nhà môi trường và chính trị gia của Áo đã tỏ thái độ thông cảm .

          Tháng 7 năm 1986, 19 thành viên của Danube Circle đã gửi đơn thỉnh cầu lên Nghị viện Viên, thúc dục họ xem xét lại lần cuối hiệp định Áo-Hung về việc xây đập.

          Ngoài Danube Circle ở Hungary còn một số nhóm các nhà môi trường khác, trong đó thành công hơn cả phải kể đến nhóm “Blues” (Nhóm Xanh, chỉ màu xanh của nước biển và làm nhắc lại các nhóm Xanh vì môi trường của Tây Âu).

          Thành lập năm 1985, nhóm Xanh trẻ hơn và hăng hái hơn nhóm Danube Circle. Họ tham gia vào các phong trào giáo dục công cộng, chủ yếu với các tuyên truyền bảo vệ sông Đa nuyp. Mặc dù họ không ra ấn phẩm thường kỳ, nhưng lại sử dụng các tờ rơi để đến với dân chúng.

          Tháng 9 năm 1985, họ lần đầu tiên phân phát 10 ngàn tờ rơi trên khắp Hungary để phản đối việc xây đập thủy điện Gabciko-Nagymaros. Ngoài ra nhóm này cũng gửi thư lên Quốc hội và các nhà trí thức trong khu vực sông Đa nuyp, trong đó trình bày những nguy hại của đập đối với môi trường.

          Trong một bài phỏng vấn với tạp chí samizdat, các thành viên của nhóm Xanh đã tuyên bố các mục tiêu của mình “trên thực tế là vượt quá định hướng bảo vệ môi trường, và mong muốn khuyến khích  tư duy độc lập trong mọi lĩnh vực đời sống và chủ trương tự quản hơn nữa trong cách mọi người sống và làm việc. Chúng tôi muốn mọi người kết hợp lại và chấm dứt sự phân chia trong xã hội” (dẫn theo Janusz Bugajski và Maxine Pollack, 1989:215)[16].

          Tháng 3 năm 1988 đại diện của 13 nhóm môi trường độc lập đã nhóm họp ở Budapest, thành lập ra một ủy ban phối hợp chung gọi là Mạng lưới thông in của các nhóm bảo vệ môi trường và có một tờ tạp chí riêng là Tuleles (Sống sót) ra hai tháng một số. Trong số các đại diện của Mạng lưới này có nhóm Danube Circle, nhóm Quỹ Danube, nhóm Câu lạc bộ sinh thái của trường Đại học Eotvos Lorand  nhóm Kal Basin Friendsship Circle, nhóm liên minh Petofi và nhóm hòa bình 4-6-0 . Những nhóm này có quan hệ với một số tổ chức chính thức như KISZ (Đoàn Thanh niên) và Bộ Môi trường.

            Nhìn lại lịch sử tư tưởng châu Âu, chúng ta thấy thái độ và quan điểm đối với trí thức khác nhau ở từng khu vực và từng giai đoạn phát triển. Dù cho thuật ngữ “intellectual” mới được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ 19, chúng ta hiểu rằng, trí thức, dưới những hình ảnh khác nhau của các triết gia, nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ…đã xây dựng nên một châu Âu vô cùng đa dạng và giàu bản sắc, họ là những thành tố quan trọng trong việc định hướng tư tưởng, dẫn dắt dư luận, diện mạo văn hóa của xã hội châu Âu.

 

Trần Thị Phương Hoa

Viện Nghiên cứu châu Âu
Viện K
hoa học Xã hội Việt Nam

http://wp.me/po94e-1TY



[1] Kauppi Niilo. The Sociologist as Moraliste: Pierre Bourdieu’s Practice of Theory and the French Intellectual Tradition/ SubStance, Vol 29. No 3, Issue 93: Special Issue: Pierre Bourdieu (2000), tr. 7-21, Published: University of Wisconsin Press.

[2] Kauppi Niilo, sđd, tr. 15

[3] Thomas William Hayek. Myths and Meanings of Intellectuals in Twentieth-Century British National Identity. The Journal of British Studies. Vol 37, No 2 (tháng 4/1998), tr. 195

[4] Dẫn theo Hayek. Sđd, tr. 195

[5] Hayek, sđd, tr. 196

[6] Sự kiện Dreyfus (Dreyfus affair)- diễn ra vào những năm 1890 tại Paris. Năm 1894, sĩ quan Dreyfus (gốc Do Thái) bị buộc tội lộ bí mật quân sự cho sứ quán Đức tại Paris và bị kết án chung thân dù tòa không có chứng cớ. Hai năm sau, người ta đã tìm ra chứng cớ minh oan cho Dreyfus, tuy nhiên quân đội Pháp đã cố tình bưng bít và tìm cách tiếp tục kết tội Dreyfus. Vụ án Dreyfus đã chia rẽ dư luận Pháp ra làm hai phe, một phe ủng hộ Dreyfus, trong đó có bức thư của Emile Zola (1898) gửi Tổng thống Pháp tố cáo sự bất công của phiên tòa xử Dreyfus , phe kia tiếp tục luận tội Dreyfus, trong đó chủ yếu gồm những ngừoi theo chủ nghĩa bài Do Thái. Sự kiện Dreyfus đã khiến giới trí thức Pháp nhận thấy rằng, trong nhiều trường hợp, họ phải đứng về một phía nào đó để bảo vệ cho lẽ phải.

[7] Hayek, sđd, tr. 203

[8] Mark Pattison. “A Chapter of University History”, Macmillan’s Magazine (8/1875), tr. 308. 

[9] Encyclopaedia Britannica, tái bản lần thứ 11 (New York, 1910), mục “Intellect”

[10] Vaclav Havel (1991). Disturbing the Peace: A Conversation with Karel Hvizdala. New York: Vintage Books, 1991, p. 167, dẫn theo Jerome Karabel “Towards a Theory of Intellectuals and Politics”/ Theory and Society Vol.25, No2 (April 1996), tr. 205

[11] Về sự ra đời của “trí thức hiện đại”, đặc biệt trong Cách mạng Pháp (với vai trò nổi trội của Zola) xem Lewis A. Coser “Men of Ideas A Sociologist’s Views (New York: The Free Pres, 1970), 215-255, Christophe Charle trong “ Naissance des “intellectuels”, 1880-1890 (Paris: Editions de Minuit, 1990). Xem thêm về những tranh cãi xung quanh đóng góp của trí thức, xem Julien Benda “The Treason of the Intellectuals (New York: W.W Norton and Company, 1969); George Orwell “Writers and Leviathan”, George B de Huszar, (cb) “The Intellectuals: A Controversial Poitrait (Glencoe, The Free Pres, 1960); Leszek Kolakowsk “Marxism and Beyond: On Historical Undestanding and Individual Responsibility” (London: Paladin, 1971), “Intellectuals against Intellect” Daedalus (Winter 1972); Alan Montefiore “The Political Responsibility of Intellectuals” trong Ian Maclean, Alan Montefiore và Peter Winch (cb) “The Political Responsibility of Intellectuals (New York: Cambridge University Press, 1990)

[12] George Kondrad và Ivan Szelenyi. The Intellectuals on the Road to Class Power: A Sociological Study of the Role of the Intelligentsia in Socialism. New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1979. Dẫn theo Ivan Kuvaic. Intellectuals and Power Structure/ State, Culture and Society. Vol.1, No 2 (Winter, 1985), tr. 154

[13] Ivan Kuvaic. Sđd, tr. 157

[14] Sokolowski, S.Wojciech (2001). Civil Society and Professions in Eastern Europe- Social Changes and Organizational Innovation in Poland. N.Y.: Springer, tr.1

[15] Bugajski Janusz và Pollack Maxine (1989). East European Fault Lines. Dissent, Opposition, and Social Activism. Boulder, San Fransisco, London: Westview Press, tr.

[16] Sđd

 

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 4-2-12

Viện Nghiên cứu châu Âu
Viện K
hoa học Xã hội Việt Nam

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

LM Nguyễn Văn Bình bị đánh đến hôn mê

Posted by hoangtran204 trên 15/04/2012

Chính quyền xã phá sập nhà dành cho trẻ mồ côi do cha Bình mới xây xong

Sáng hôm nay, ngày 14 tháng 4 năm 2012, linh mục chính xứ Yên Kiện, thuộc tổng giáo phận Hà Nội, bị một nhóm người đánh đến hôn mê phải đưa đi bệnh viện.

Nguyên nhân vì sao?

Gia Minh trình bày trong phần sau.

Trái phép?

Người bị đánh là linh mục Nguyễn Văn Bình, hiện đang phụ trách xứ Yên Kiện. Tin cho biết, ông là người trong thời gian qua đã trực tiếp giúp đỡ cho các cháu mồ côi. Để lo chỗ ăn ở cho các cháu này, vừa qua ông đã mua một ngôi nhà cấp 4 tại xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Ngôi nhà được xây sửa lại cũng như các ngôi nhà khác trong khu vực. Ngài muốn làm bữa cơm nhỏ để mời những người giúp cho các cháu đến gặp mặt, thì ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân Tiên gửi một thông báo không cho tiến hành cuộc gặp.

Tuy nhiên, vào ngày hôm qua, ủy ban Nhân dân xã Thủy Xuân Tiên có thông báo,  cấm tổ chức tụ tập đông người khi chưa được phép của chính quyền. Thông báo này do ông chủ tịch Lê Quý Long ký,

Theo thông báo này thì chính quyền xã có nói đến cuộc gặp mặt sẽ được tổ chức vào lúc 10 giờ sáng ngày 14 tháng 4 năm 2012 tại địa điểm nhà Agape. Và theo ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân Tiên thì đây là ngôi nhà xây dựng trái phép tại thôn Xuân Sen, xã Thủy Xuân Tiên.

LM Nguyễn Văn Bình

Hiệp lực với côn đồ

Một người chứng kiến sự việc xảy ra vào sáng ngày 14 tháng 4 năm 2012 tường thuật lại những diễn tiến như sau:

Theo chương trình, Cha sắp chuyển xứ nên muốn mời một bữa cơm thân mật tại nhà tình thương Agape này. Cha mời một số ân nhân đến để ăn cơm, trước khi chuẩn bị chuyển xứ mới chứ không phải tụ tập đông người.

Đêm qua vào lúc 4 giờ sáng, có một nhóm đến phá cửa nhà khoảng một lúc họ rút. Đến 7 giờ sáng nay, chính quyền thuê một nhóm côn đồ.

Công an chặn tất cả các ngả vào, an ninh bao quanh khu nhà để cho nhóm côn đồ vào đập phá. Khi nghe tin Cha đến, và họ biết Cha là chủ ngôi nhà cô nhi, họ túm lại dùng các loại vũ khí đặc trưng của họ tấn công Cha. Họ đông khoảng 20 người.

Cách chỗ xảy ra sự việc, công an tổ chức chốt chặn mà trước đây chưa hề có chuyện đó. Một số bảo vệ quanh đó được trang bị quân dụng của quân đội, những người bên chính quyền mặc đồng phục.

Khi xảy ra sự việc một số giáo dân đi cùng chạy vào ôm đầu Cha để tránh đòn và đỡ đòn cho Cha. Khi Cha ngã xuống họ đưa Cha đi bệnh viện.

Sau đó họ làm ngặt hơn và sau đó phá sạch không còn một viên gạch nào…”

Chúng tôi đã gọi điện thoại đến ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân Tiên để tìm hiểu thêm sự việc theo như tường thuật của người chứng kiến; nhưng máy reo mà không ai bắt máy.

Đến 12 giờ trưa, một người đưa linh mục Nguyễn Văn Bình đến Bệnh viện Việt- Đức để chữa trị sau khi bị đánh hôn mê, cho biết:

“Tôi đang ở bệnh viện Việt- Đức, đưa Cha đi chiếu chụp. Hiện giờ Ngài tỉnh rồi.”

Một giáo dân tại Hà Nội và cũng theo dõi diễn biến sự việc linh mục Nguyễn Văn Bình bị đánh cho biết:

“Linh mục Bình trước là quản xứ chỗ tôi. Khi chuyển xứ vào Yên Kiện, ngài có nuôi một số trẻ mồ côi. Trước đây thì thuê nhà cho các cháu ở. Gần đây mua một ngôi nhà trên một mảnh đất mà quanh đó người ta làm nhà hai ba tầng để ở. Nhưng khi đang sửa người ta vào làm khó khăn nói là đất trồng cây lưu niên 50 năm… nên không được xây nhà. Ngài nói sao người ta làm được, trong khi các cháu không có nhà ở nên làm tạm nhà cấp 4 cho các cháu ở. Sau đó họ chặn không cho đưa các cháu đến ở.

Hôm qua có tin ngài muốn làm bữa cơm nhỏ để mời những người giúp cho các cháu, thì ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân Tiên gửi một thông báo không cho tiến hành cuộc gặp.”

Linh mục không có quyền công dân

Trong khi đó người chứng kiến việc phá ngôi nhà cô nhi mà linh mục Nguyễn Văn Bình và các thân nhân góp phần tạo lập nên bày tỏ ý kiến trước biện pháp mà chính quyền địa phương tiến hành hồi sáng ngày 14 tháng 4 như sau:

“Đất ở nông thôn thường làm nhà cấp 4 không cần phải xin phép. Dân quanh đây không phải chỉ xây nhà cấp 4 mà còn làm nhà cao tầng không phép mà vẫn làm bình thường và ‘ngang nhiên’ ở không có chuyện gì xảy ra. Khi nhà của Cha Xứ xây dựng cả tháng trước đó bên chính quyền không có ý kiến gì. Nhưng khi biết do linh mục đứng tên và làm nhà cô nhi, họ bắt đầu có biện pháp ngăn chặn. Đó là sự bất công giữa một linh mục và một dân bình thường; hình như một linh mục ở đây không có quyền công dân.

Tôi không biết làm sao để bên vực lẽ phải. Trong công trình này tôi cũng chung tay góp sức từ đầu, và ở đây giúp. Nay tôi chỉ biết cầu nguyện.”

Đây không phải là lần đầu tiên một linh mục Công giáo bị hành hung. Gần nhất, mới hồi ngày 23 tháng 2 vừa qua, linh mục Lui Nguyễn Quang Hoa, thuộc giáo phận Kontum bị đánh trọng thương sau khi đi làm lễ an táng cho một giáo dân người dân tộc thiểu số tại xã Dak Hring, huyện Dak Hà về.

Hồi tháng 7 năm 2009, hai linh mục thuộc giáo phận Vinh khi đến giáo xứ Tam Tòa nơi giáo dân đang yêu cầu trả lại nhà thờ là linh mục Nguyễn Đình Phú, hạt Kỳ Anh và linh mục Ngô Thế Bính, hạt Đồng Tróoc cũng bị đánh trước sự chứng kiến của nhân viên công lực.

Nguồn: Mặc Lâm (RFA)

Posted in Tôn Giáo | Leave a Comment »

Hình ảnh trong tuần

Posted by hoangtran204 trên 15/04/2012

https://i2.wp.com/l.yimg.com/bt/api/res/1.2/lMxUqn100Tpfz8mzJSl7.g--/YXBwaWQ9eW5ld3M7Zmk9aW5zZXQ7aD00MTc7cT04NTt3PTYzMA--/http://l.yimg.com/os/152/2012/04/10/AP12041004293-jpg_165054.jpg

Exhibition staff members display the most well-preserved baby mammoth, named Lyuba, at a press preview in Hong Kong Tuesday, April 10, 2012. The one-month old baby mammoth of the Ice Age, died 42,000 years ago. (AP Photo/Kin Cheung)

Các nhân viên của cuộc triển lảm bày ra cho mọi người thấy con voi nhỏ được bảo tồn nguyên vẹn, tên nó là Lyuba, trong 1 buổi ra mắt báo chí trước khi cuộc triển lãm bắt đầu ở Hồng Kong vào ngày thứ 3, 10-4-2012. Con voi nhỏ này thuộc thời (kỳ địa cầu vẫn còn bị phủ) băng tuyết, nó đã chết cách đây 42 ngàn năm.

——————–

  1. Snapshots 041212

Phó tổng thống Joe Biden và TT Obama (hình phải) đang chơi bắn súng nước.

——————————————————————————————————————————————-

 

Barack Obama

  1. It’s not every day you see one of the most powerful people in the world doing this. President Obama proved he takes wife Michelle Obama’s message on how important fitness is seriously when he knocked out a bunch of pushups in front of the Harlem Globe Trotters on Monday. The team was there to participate in the White House’s Easter Egg Roll. (4/9/2012)

 

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »