Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 14th, 2012

►Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy

Posted by hoangtran204 trên 14/04/2012

Những chuyện rõ ràng còn nóng hổi như thế mà đảng còn che dấu, tung tin, và dối gạt được, thì các sự kiện khác mà đảng tuyên truyền từ xưa tới nay có đáng tin không? Một cách hay nhất để biết sự thật là nghĩ ngược lại những gì mà đảng nói.  Tung tích của số lượng vàng này kể từ sau khi rơi vào tay của đảng đã không hề được ghi chép lại một cách công khai. Vậy chúng ta suy ra rằng: đảng csvn và các đảng viên cao cấp đã cướp số vàng này và chia nhau bỏ túi. 


Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng

Chuyện này xảy ra đã gần 37 năm. Từ đầu năm nay tôi  nhận được 6 điện thư từ trong nước, từ Canada và Cộng hòa Liên bang Đức hỏi về chuyện này. Đây là chuyện rất cũ, nhưng do chế độ độc đảng luôn duy trì nhiều mảng tối, không công khai minh bạch, nên có nhiều vấn đề lịch sử cần làm rõ.

Trưa 30-4-1975, trong phòng lớn của Dinh Độc lập, sau khi tôi gặp và hỏi chuyện tướng Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu, không khí dần dần bình thản. Ông Nguyễn Văn Hảo ghé tới nói nhỏ với giọng miền Nam, «Thưa tôi là Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách về kinh tế – tài chính, có chuyện cần trình bày riêng với các ông». Tôi cùng ông Hảo đến ngồi bên chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ. Vừa ngồi xuống, ông Hảo nói ngay: «Chúng tôi vừa trao đổi với nhau, muốn nhờ ông báo ra ngoài đó là bọn này đã giữ lại hơn 16 tấn vàng không để họ mang đi, hiện để trong ngân khố, mong ngoài đó cho người vô nhận». Tôi hỏi lại: «Ông nói sao? 16 tấn vàng trong ngân khố? Có thiệt không?». Tôi ghi vội vài chữ trên sổ tay: Ng. v Hảo, 16 tấn, ngân khố…, và nghe ông Hảo trả lời: «Thiệt chớ, bọn này chịu hoàn toàn trách nhiệm mà». Ông còn nói thêm: «Nếu các ông gửi (ông dùng tiếng Pháp «placer») ở các ngân hàng quốc tế lớn thì sau sẽ có thể thành 18 tấn, 20 tấn. Nếu cần, bọn này sẽ giúp».

Tối hôm đó tôi đi trên chiếc xe jeep của đơn vị thông tin Quân đoàn II khi được biết họ sắp vào sân bay Tân Sơn Nhất để bắt liên lạc với phái đoàn ta trong Ban Liên hợp Quân sự bốn bên (về sau là Ban LHQS hai bên) lập ra từ sau Hiệp định Paris tháng 1-1973. Tôi đã từng ở đó 60 ngày trong một khu gọi là trại Davis. Thật là may mắn không ngờ. Tôi  hướng dẫn Thiếu úy Hà lái xe vì tôi đã hàng chục lần đi con đường này hồi 1973, và đã nghiên cứu rất kỹ bản đồ Sài Gòn mấy ngày đó. Tôi vào trại Davis như về nhà. Anh Võ Đông Giang, anh Hoàng Anh Tuấn vẫn ở đó. Chào hỏi xong tôi vội xuống trạm thông tin, thì vẫn là tổ thông tin hơn 2 năm trước. Dạo ấy anh em vẫn đánh bài viết của tôi cho báo Quân đội Nhân dân. Chiều nay sau khi viết bài báo xong, tôi rất băn khoăn vì các nhà báo Pháp, Ý, Đức đều cho tôi biết là bưu điện Sài Gòn đóng cửa 2 hôm nay rồi. Điện thoại viễn liên bị cắt đứt. Họ đang bế tắc không sao gửi bài đi được. Tôi cũng sốt ruột không kém. Vì gửi bài báo ngay đêm nay để sáng mai bài báo  được in trên báo QĐND là một yêu cầu cấp bách. Thượng sỹ thông tin trẻ măng người Thái Bình tên là Hải đánh bài báo của tôi bằng tín hiệu Morse, tè tè tích tích. Bài báo gửi cho Thiếu tướng Lê Quang Đạo, phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, để chuyển cho báo QĐND. Ngay sau bài báo là mấy dòng chữ «Gửi riêng Thủ trưởng Tổng Cục Chính trị – Tuyệt mật. Hôm nay 30-4-1975 Phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo đặc trách kinh tế – tài chính  báo tin cho tôi là đã giữ lại trong ngân khố hơn 16 tấn vàng, mong ta cho người vào nhận. Bùi Tín».

Sau đó tôi mới thong thả gặp gỡ các anh em ta trong trại Davis, cùng ăn một nồi chào gà tuyệt trần sau một ngày cực kỳ căng thẳng, mệt nhọc.

Bài báo đăng trên báo QĐND sáng ngày 1-5-1975 là bài báo duy nhất gửỉ được từ Sài Gòn vì hồi đó chưa có điện thoại cầm tay, chưa có máy điện toán xách tay như hiện nay. Máy fax rất nặng nề. Do bài báo được chuyển bằng tín hiệu Morse tè tè tích tích, nên có 2 chữ ghi sai. Đó là khi tôi nói về thực đơn của Tổng thống ngày 30-4 được in trên giấy đặt trên bàn làm việc của ông, có 2 món là «cá thu kho mía» và «gân bò hầm sâm», một món của cao lâu Tàu  được gọi là «ngầu pín», đã bị ghi sai thành cá thu kho giá và gan bò hầm sâm. Nhiều người thắc mắc cá thu kho giá và gan bò hầm sâm thì có gì ngon và bổ. Người đánh và nhận Morse đã nhầm chữ «g» (tè-tè-tích) thành chữ «m» (tè-tè) và chữ  «â» thành «a».

Ít lâu sau đó, tôi đọc trên cuốn  A Decent Interval (Khoảng cách vừa phải) của Frank Snepp, một cán bộ CIA ở Sài Gòn trước đó, nói rằng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu  đã mang đi hàng chục tấn tài sản quý sang Đài Loan, nơi có anh ông là đại sứ Nguyễn Văn Kiểu, để đưa sang Hoa Kỳ sau đó.

Tất cả các báo chính thức ở Hà Nội hồi đó đều trích đăng cuốn sách của Frank Snepp, đoạn nói về việc ông Thiệu chở tài sản quốc gia trong đó có hơn 10 tấn vàng trong ngân khố ra khỏi nước, và ai cũng đinh ninh là chuyện này là có thật.

Ở hải ngoại nhiều bài viết cho đến nay vẫn đinh ninh chuyện ông Thiệu mang đi 16 tấn vàng là có thật, lên án ông rất nặng nề là trong tình hình cực kỳ khẩn trương ông đã chỉ lo vun vén cho cá nhân, lo chiếm đoạt tài sản công thành của riêng một cách tồi tệ.

Về phía chính quyền độc đảng ở trong nước, họ vẫn cố tình duy trì một tình hình ỡm ờ úp úp mở mở, không rõ ràng minh bạch về hơn 16 tấn vàng trong ngân khố Sài Gòn hồi ấy, với ý định không sạch sẽ là để cho mọi người hiểu lầm về chuyện này.

Năm 1994, khi tôi đã ở Paris, một bạn người Việt làm việc cơ quan nghiên cứu và lưu trữ về chiến tranh Việt Nam ở Lubbock, Tiều bangTexas, Hoa Kỳ, cho tôi địa chỉ điện thoại của ông Nguyễn Văn Hảo. Tôi gọi ngay cho ông và từ đó có dịp nói chuyện về ngày 30-4-1975. Ông cho biết ông đang ở Port-au–Prince, thủ đô nước cộng hòa Haiti, trong vùng Antilles – Caribbean, làm cố vấn kinh tế cho chính phủ Haiti. Ông cũng được biết đầu tháng 5-1975 ngoài Hà Nội đã cho riêng 1 chuyến chuyên cơ vào tiếp nhận hơn 16 tấn vàng và chở ra Hà Nội.

Đầu tháng 5-1975 tôi cũng được tướng Đào Đình Luyện, chỉ huy không quân, cho biết nguyên một chuyến chuyên cơ IL 18 đã chở số vàng thu được từ Sài Gòn ra Hà Nội.

Ông Hảo kể lại chuyện này: «Hồi đó, ông Vũ Văn Mẫu đề xuất với tướng Dương Văn Minh rồi giao cho tôi (là ông Hảo) mật báo cho đại diện của các ông, sau khi được báo là một sỹ quan cao cấp vào gặp bọn này». Ông nói thêm: «Các ổng muốn các ông hiểu rõ là bọn này đã cố giữ lại không cho họ mang đi để giữ lại tài sản quốc gia đặng giao lại cho quý ông». Ông còn cười vui: «Lẽ ra quý ông có một lời tiếp nhận và đánh giá công khai chuyện này cho đồng bào cả nước biết thì bọn này mới thật hài lòng». Lần sau gặp ông trên điện thoại, ông cho tôi biết thêm là «công bằng mà nói, đã có nhiều dự án chuyển hết số vàng trong ngân khố ra nước ngoài, qua các ngân hàng quốc tế, nhưng các cuộc thương lượng chưa ngả ngũ thì quý ông đã vô rồi. Anh em phụ trách Ngân khố quốc gia cũng tỏ rõ thái độ không để cho họ mang đi. Lẽ ra các ông nên có lời khen cho anh em đó vui lòng».

Trong các phiên họp của chính phủ, của quốc hội sau 30-4-1975, không có một chi tiết nào về hơn 16 tấn vàng được chính quyền miền Nam chính thức giao lại. Nó có thật sự nhập kho Nhà Nước đầy đủ, và được dùng vào những việc gì? Không ai biết. Đại biểu Quốc hội không ai hỏi, vì  90 % đại biểu là đảng viên, số ngoài đảng còn bảo hoàng hơn nhà vua.

Tháng 4-2010, Bộ Quốc phòng Hà Nội có cuộc họp «viết lại một cách chính thức diễn biến ngày 30-4-1975 ở Dinh Độc lập», họ không nhắc đến tên tôi, coi như nhà báo Bùi Tín không hề có mặt ở Sài Gòn ngày hôm đó, cũng không hề nhắc đến chuyện hơn 16 tấn vàng, một chi tiết không nhỏ, nhưng họ không muốn nhắc đến nữa.

Năm 1987, khi có dịp gặp ông Trường Chinh ở  Đà Lạt, tôi kể lại chuyện này, ông cho biết: “Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi, trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay còn gì nữa đâu!”. Đây là câu duy nhất tôi nghe được về số phận của hơn 16 tấn vàng năm 1975, từ miệng một nhà lãnh đạo.

Các phiên họp Quốc hồi từ 1975 đến nay, không ai biết, cũng không ai hỏi , chiến lợi phẩm thu được ở miền Nam, số tiền hồi ấy bộ Công an có chủ trương bán bãi, bán tầu thuyền, thu vàng cho mỗi người lên tàu di tản – từ 3 lạng đến 6 lạng, có khi lên đến 12 lạng vàng mỗi đầu người –  tất cả là bao nhiêu?  Và tiền thu của người Hoa bị xua đuổi từ Cẩm Phả, Hon Gai, Hải Phòng vào đến Vũng Tàu, Chợ Lớn, Cần Thơ…là bao nhiêu? Lại còn tiền của thu được qua các chiến dịch tiêu diệt công thương nghiệp tư nhân, cái gọi là diệt gian thương  trên toàn miền Nam hồi đó, tiêu tan đi đâu cả rồi? Trong Quốc hội có Ban Kinh tế – Tài chính, nhưng có ai được biết gì đâu, có ai dám hỏi gì đâu, cả một khối mờ ám cỡ quốc gia, do đồng nhất đảng với nhà nước, đảng với quốc gia, đảng với nhân dân, tuy ba mà một.

Lại còn trong chiến dịch gọi là giải phóng Campuchia khỏi diệt chủng của Khơ-me Đỏ cuối năm 1978- đầu năm 1979, đơn vị đặc công và một sư đoàn của Quân đoàn IV được lệnh chiếm các cơ sở trong thủ đô Pnom Penh, đặc biệt là khu hoàng cung, tiền của, kho tàng, đồ cổ lớn nhỏ đã được thu về bao nhiêu? Mang về nước ta bao nhiêu? Ờ đâu, có biên bản, thống kê gì không? Tôi được biết phần lớn là giao cho Ban Tài chính – Quản trị trung ương đảng, một cơ quan kinh tế – tài chính – thương nghiệp xuất nhập khẩu – sản xuất kinh doanh riêng của đảng,  mà biên chế còn lớn hơn cả bộ Công thương và bộ Kế hoạch – Đầu tư cộng lại.

Chế độ hiện tại quan tâm đến tiền bạc, ngoại tệ, ngân khố, ngân hàng, hơn là cái gốc của nền kinh tế là sản xuất ra của cải với kỹ thuật cao, giá thấp . Họ quên chức năng cơ bản của nhà nước là phân phối, điều tiết phân phối lại thành quả phát triển cho toàn xã hội cùng hưởng.

Các bộ của chính phủ coi rất nhẹ việc quản lý về hành chính, chỉ chăm chú đến sân sau là các công ty kinh doanh để chia chác bổng lộc, mặc cho các chỉ thị thu rất hẹp lĩnh vực này.

Xin quan sát kỹ để thấy rằng ai dính đến tài chính, ngân hàng, ngân sách đều được thăng quan tiến chức nhanh nhất; thủ tướng hiện nay từng là Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; chủ tịch Quốc hội hiện nay trưởng thành từ Cục trưởng Cục Ngân sách, rồi thứ trưởng tài chính, rồi bộ trưởng tài chính, rồi phó thủ tướng thường trực. Một phó thủ tướng hiện nay cũng từng là thứ trưởng rồi bộ trưởng bộ tài chính. Nguyên thống đốc ngân hàng Trần Đức Thúy cùng cậu con trai Trần Đức Minh và cộng tác viên thân cận là đại tá công an Lương Ngọc Anh đều là những nhân vật con cưng của chế độ, những công thần hàng đầu trong việc ngang nhiên  phân phối lại tiền của của nhân dân đổ vào ngân sách riêng của đảng. (Các bạn có thể đọc thêm bài báo «Nạn chảy máu tài nguyên quốc gia» trên VOA ngày 17-8-2011).

Lúc này giới cầm quyền trong nước cần nhớ lại lời khuyên tâm huyết của ông Lý Quang Diệu mươi năm về trước là: «Khi sẽ có nhiều khoản tiền đầu tư lớn từ nước ngoài chảy vào, hãy  giữ gìn cẩn thận, không để cho đồng tiền chỉ huy, ngự trị, làm chủ lương tâm viên chức, hãy rất cảnh giác với đồng tiền bẩn, đồng tiền phi pháp, nó sẽ phá hoại công cuộc phát triển». Cũng chính Cụ Lý – như một số người trong nước thân mật gọi – căn dặn cách phòng chống tham nhũng có  hiệu quả là: luật pháp, ngành tư pháp, tòa án phải rất nghiêm (để không ai dám tham vì sợ tù ), lương viên chức tạm đủ sống (không cần tham nhũng),  tuyên truyền giáo dục nêu gương các viên chức trong sạch sống thanh bạch, chỉ ra kẻ tham là kẻ cắp, kẻ cướp xấu xa ô nhục tàn phá rường cột của quốc gia (không ai nỡ tham nhũng vì sợ  nhục).

Có thể nói tiền nong, vàng bạc, của cải trong chế độ độc đảng đã gây nên tham nhũng, bất công kinh khủng chưa từng có trong xã hội nước ta, tiền của vàng bạc phi pháp  đã tha hóa giới cầm quyền ở mọi cấp, tàn phá đảng cộng sản Việt Nam từ gốc lên ngọn.

Hiện là thời kỳ đảng viên quan chức lao lên trước đi tiên phong để trở thành đại gia, đại điền chủ, đại trọc phú, đại tư bản đỏ, bỏ mặc nhân dân của mình nghèo đói ở phía sau, đến nỗi nhà Mác-xít Lữ Phương phải la trời rằng đảng cộng sản đã đi đầu trong xây dựng chủ nghĩa tư bản man rợ. Đó là thời kỳ các quan chức vứt hàng ngàn tỷ này đến hàng nghìn tỷ khác qua cửa sổ, chìm nghỉm dưới đáy biển, để mặc cho  hệ thống y tế và giáo dục tàn tạ, bệ rạc.

Thời đại kim tiền của các nhà cầm quyền tỷ phú  Marcos,  Suharto,  Park Chung Hy, Ceausescu, Ben Ali, Ghadafi,  Mubarak…đã kết thúc bi thảm. Gương tày liếp cho những bầy sâu chói mắt vì ánh vàng.

Blog Bùi Tín (VOA)

Ghi chú: Trên sách báo còn ghi chép rằng,  chính tướng Văn Tiến Dũng khi trả lời phỏng vấn (một thời gian sau ngày 30-4-1975 khá lâu) cũng đã nhắc lại chuyện ông TT Thiệu lấy 16 tấn vàng đem ra nước ngoài.  Một tướng lãnh cao cấp và có công trạng lớn như thế mà cũng bị đảng gạt đến mức ấy thì người dân thường còn bị gạt nhiều hơn nữa.

Các phản hồi trên trang Đàn Chim Việt

1.

Đại Nghĩa says:

Trong bản tin của đài BBC ngày 30 tháng 5 -2006 có bài ” Trách nhiệm đối với quốc gia” của luật sư Tp Sài Gòn Lê Công Định viết về 16 tấn vàng như sau, xin lược trích:
“Loạt bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ những ngày gần kỳ nghĩ lể cuối tháng Tư năm nay về câu chuyện xung quanh 16 tấn vàng của VNCH trước ngày Sài Gòn thất thủ đã giải đáp nhiều nghi vấn về vấn đề này suốt 31 năm qua…
1- Công lao to lớn trong việc bảo tồn nguyên vẹn 16 tấn vàng có thể nói thuộc về tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo (cựu phó thủ tướng VNCH)…
2- Câu chuyện thêu dệt, bất kể vì dụng ý gì, về cựu tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu “đánh cắp” 16 tấn vàng đã kết thúc. Người trong cuộc đã được giải oan, ít nhất khía cạnh tham nhũng và ăn cắp của công.
Nếu biết được từ sau 1975 đến nay rất nhiều ấn phẩm trong nước đã thay nhau đổ tội và kết án ông Thiệu “vụ án” bịa đặt này với những “bằng chứng” chắc chắn như thể chính các tác giả đều tận mắt trông thấy, thì mới hiểu báo Tuổi Trẻ đã làm được một việc thiện như thế nào, xét từ góc độ lương tri”.
(BBC online ngày 30-5-2006)

2.

Trích: “Năm 1987, khi có dịp gặp ông Trường Chinh ở Đà Lạt, tôi kể lại chuyện này, ông cho biết: “Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi”

1987 là năm ở trong thời kỳ bi đát về kinh tế, 200 ngàn quân đóng ở Kampuchia, 30 ngàn quân đóng ở Lào, lại bị Liên Xô cắt viện trợ. 12 năm sau “giải phóng” không làm ra được tiền mà còn tiêu hết tiền để dành. Đã lao vào chiến tranh thì phải tiêu tiền. Đến Mỹ cũng phải cạn tiền. Chủ nghĩa Mác Lê chủ trương bành trướng bằng vũ lực cho đến khi chiếm toàn thế giới thì tất nhiên phải đưa đến sự kiệt quệ về kinh tế. Lúc Lênin đề ra chủ trương này chắc là Lênin nghĩ là Cộng Sản sẽ thắng tư bản dễ dàng, chỉ vài năm là tiêu diệt tư bản rồi tiến lên chủ nghĩa CS, không ngờ tư bản cũng biết kháng cự và thời gian tranh chấp cứ kéo dài.

3. Vũ duy Giang says:

“Ông(Hảo)còn nói thêm:Nếu các ông gửi(ông dùng tiếng Pháp”Placer”)ở các ngân hàng quốc tế lớn,thì sau sẽ có thề THÀNH 18 TẤN,20 tấn.Nếu cần BỌN NÀY sẽ GIÚP”.

Câu nói này chứng tỏ sự NGU DỐT của Nguyễn văn Hảo, vì:

1) Gửi vàng ở các ngân hàng quốc tế(hay không),thi KHÔNG bao giờ họ làm”sinh sôi,nẩy nở” thêm….bằng vàng(từ 16 tấn thành 18,20 tấn!).Nghĩa là đầu tư(placer!),vì KHÔNG được trả LÃI vàng bằng vàng!

2)Theo yêu cầu của khách,ngân hàng có thể BÁN(nếu lời,khi giá vàng tăng lên),rồi đợi nếu khi già vàng xuống,thì lại MUA giá thấp hơn,và có thể mua một trọng lượng(quantity)lớn hơn.Chỉ có vậy thôi!

3) Như vậy,vàng đã trở thành một HÀNG HÓA,từ khi TT.Nixon bải bỏ Gold Standard(=bảo đảm giá trị USD bằng dự trữ vàng Mỹ tại kho Fort Knox.Trước thời đó tỷ giá chính thức này là 35 USD=1 once vàng),và tỷ giá vàng cũng lên,xuống theo luật”cung,cầu”của thị trường,nhu các hàng hóa khác.

4)Câu kết luận”Nếu cần bọn này sẽ giúp” cho thấy rõ là Hảo(và chính phủ VNCH cuối cùng)đã mang 16 tấn vàng ra”lập công”,có lẽ để”bảo đảm” tính mạng!

Vì tác giả BT cũng ít am hiểu về tổ chức hoạt động ngân hàng,nên có lần ông BT cũng viết là lãnh đạo CSVN chuyển vàng ra ngân hàng nước ngoài để sinh lời bằng…vàng(đại cương như vậy)!

Trở lại với Nguyễn văn Hảo(thường muốn được gọi là Tiến Sĩ)để xem bản lĩnh của ông”Phó thủ tướng đặc trách…”này: thuở thiếu thời,NVH thi trượt Tú tài 2 ở Pháp,nên bỏ sang Genève(Thụy Sĩ) xin học khoa 2 năm cho cả những người không có TT.2, để sau đó,nếu đỗ(như Hảo),mà muốn tiếp tục học thêm để lấy Cử nhân,thì phải thi một loạt môn tương đương với chương trình TT.2.

Sau khi đổ bằng cử nhân,thì Hảo ghi tên học cao học kinh tế,để lấy bằng tiến sĩ.Rồi có thời Hảo tạm đi làm cho tổ chức FAO(Food and Agriculture Organisation của LHQ)tại Roma(Ý),vì không kiếm được việc(và giấy phép đi làm) ở TS.

Hết FAO thì Hảo về Saigon làm trong Ngân hàng Phát triển Nông thôn,và lấy bà Cao thị Nguyệt(vốn là vợ bé của Ba Cụt),và bắt đầu được giáo phái của bà đưa vào làm trong chính phủ VNCH,từ chức bộ trưởng kinh tế,rồi leo lên chức Phó Thủ tướng đặc nhiệm(trong mấy ngày?!)trong chính phủ VNCH cuối cùng của thủ tướng Vũ văn Mẫu,và TT.Dương văn Minh!

Ở lại VN sau 1975,ông Hảo được CSVN cho”xuất ngoại”,nhưng lúc đầu không được qua Mỹ(nơi bà Nguyệt ở) tiếp nhận,nên ông phải qua Pháp sống nhiều năm,và kiếm được việc làm Consultant(part-time với LHQ?)ở Haiti(Port-au-Prince),và Trung Đông (Saudi Arabia?),etc…cho đến khi Mỹ mở cửa cho ông vào đoàn tụ với bà Nguyệt.

Trong thời gian ở Mỹ,ông dính lứu(làm trung gian cho VC) vào vụ 1 Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ(ăn tiền của VC?)làm lobby với TT.Clinton,để Mỹ bỏ”cấm vận”,và tái lập quan hệ ngoại giao với VN.

Khi bị báo chí phanh phui ra,thì ông bộ trường(đen)này mất chức,còn ông Hảo thì”biến mất”về VN,để sống với một bà”vợ bé”(theo tin đồn),và bỏ bà”vợ lớn”(vốn là”bé”của Ba Cụt!) của ông ở Mỹl

Hình như trong thời gian tham chính,Tiến Sĩ Hảo thích mặc áo”4 túi”,rất bình dân,nên đã được cảm tình của người…bình dân,mặc dầu ông này có thủ đoạn và nhiều may mắn như…”Xuân tóc đỏ” trong tiểu thuyết của nhà văn Vũ trọng Phụng!

4. Lục Giáo Khà viết:

Đúng là thời kỳ đồ đểu do vẹm tạo dựng nên. Xin chúc mừng các đồng chí.

5. Trung Kiên  viết:

Cám ơn bác Bùi Tín

Như vậy là đã rõ năm tỏ mười rằng; “16 tấn vàng của miền Nam (VNCH) đã bị lãnh đạo csvn xẻ thịt chia chác…Chứ không phải ông Thiệu đã “ăn cắp” mang theo ra nước ngoài!

Ông Thiệu cũng đã khẳng định chuyện này rằng; muốn biết 16 tấn vàng thì hãy hỏi ông Nguyễn Văn Hảo!

Khổ nỗi, ông Thiệu khó mà tự bào chữa cho mình, dù tình có ngay thì lý “?”… đã mấy người chịu tin…Thế mới khổ!!!

Nay ông Thiệu đã ra người thiên cổ…bao oan khiên tủi nhục mà ông đã phải gánh chịu, hi vọng sẽ được tẩy rửa và minh oan cho ông…

Kính chúc ông (Thiệu) an giấc ngàn thu và thanh thản tâm hồn…

6.Đinh Lê viết:

Nguyễn Văn Hảo nhân cách không tốt. Ông ta là người trong cuộc, biết TT Nguyễn Văn Thiệu bị oan nhưng ông ta không chịu lên tiếng giải oan cho ông Thiệu. Hãy nghe cuộc trả lời phỏng vấn của ông Hảo với Đài RFI tại đây : http://www.youtube.com/watch?v=i-aZvHul70U

Về sự thật 16 tấn vàng này có thể xem hai nguồn tin :

1- Trên Wikipedia :

16 tấn vàng của Việt Nam Cộng hòa
Wikipedia tiếng Việt
http://vi.wikipedia.org/wiki/16_t%E1%BA%A5n_v%C3%A0ng_c%E1%BB%A7a_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

2. Trên báo Tuổi Trẻ :

Hồ sƠ : Câu chuyện 16 tấn vàng tháng 4-1975
Báo Tuổi Trẻ

Kỳ 1: Ông Thiệu đã chuyển 16 tấn vàng sang Mỹ?
Thứ Tư, 26/04/2006, 01:30 (GMT+7)
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134622/Ky-1-Ong-Thieu-da-chuyen-16-tan-vang-sang-My.html

Kỳ 2: Chuyến ra đi bí mật
Thứ Năm, 27/04/2006, 07:01 (GMT+7
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134801/Ky-2-Chuyen-ra-di-bi-mat.ht

Kỳ 3: Không có ánh sáng cuối đường hầm
Thứ Sáu, 28/04/2006, 06:11 (GMT+7)
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/134929/Ky-3-Khong-co-anh-sang-cuoi-duong-ham.html

Kỳ 4: Kế hoạch bí mật từ dinh tổng thống
Thứ Bảy, 29/04/2006, 01:04 (GMT+7)
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/135084/Ky-4-Ke-hoach-bi-mat-tu-dinh-tong-thong.html

Kỳ 5: Vàng đổi chủ
Chủ Nhật, 30/04/2006, 04:07 (GMT+7)
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/135236/Ky-5-Vang-doi-chu.html

Kỳ cuối: Người giữ chìa khóa kho vàng
Thứ Hai, 01/05/2006, 06:00 (GMT+7
http://tuoitre.vn/The-gioi/Ho-so/135370/Ky-cuoi-Nguoi-giu-chia-khoa-kho-vang.html

3. Bài viết của LS Lê Công Định đăng trên BBC tại đây :

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/05/060530_transparent_integrity.shtml

30 Tháng 5 2006 – Cập nhật 22h19 GMT

Trách nhiệm đối với Quốc gia

 Lê Công Định

Luật sư, TP. HCM

Loạt bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ những ngày gần kỳ nghỉ lễ cuối tháng Tư năm nay về câu chuyện xung quanh 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) trước ngày Sài Gòn thất thủ đã giải đáp nhiều nghi vấn về vấn đề này suốt 31 năm qua.

Sự thật câu chuyện đã đặt dấu chấm hết cho những tranh luận về số phận khối tài sản khổng lồ vẫn còn nguyên vẹn sau cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời cũng đặt ra những vấn đề cần được làm sáng tỏ khác.

1. Công lao to lớn trong việc bảo toàn nguyên vẹn 16 tấn vàng có thể nói thuộc về Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo (cựu Phó Thủ tướng VNCH).

Nếu không có lòng yêu nước thương nòi và tinh thần trách nhiệm cao đối với quốc gia, ông đã không hành động như vậy. Trong khi sự lựa chọn đương nhiên và hợp lý của nhiều người vào thời điểm ngặt nghèo đó là rời bỏ đất nước để lánh nạn, ông đã ở lại tìm cách đóng góp cho quốc gia một cách có ý nghĩa nhất.

Trong tầm nhìn của ông, khác với những quân nhân ôm súng lao mình vào cổng Dinh Độc Lập lúc đó, nhu cầu khôi phục nền kinh tế quốc gia thời hậu chiến là điều cần phải thực hiện ngay và 16 tấn vàng rõ ràng là khối tài sản đắc dụng cho mục đích này.

2. Câu chuyện thêu dệt, bất kể vì dụng ý gì, về việc cựu Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu “đánh cắp” 16 tấn vàng đã kết thúc. Người trong cuộc đã được giải oan, ít nhất ở khía cạnh tham nhũng và ăn cắp của công.

Nếu biết được từ sau 1975 đến nay rất nhiều ấn phẩm trong nước đã thay nhau đổ tội và kết án ông Thiệu trong “vụ án” bịa đặt này với những “bằng chứng” chắc chắn như thể chính các tác giả đều tận mắt trông thấy, thì mới hiểu báo Tuổi Trẻ đã làm được một việc thiện như thế nào, xét từ góc độ lương tri.

 Người ta cũng dễ dàng tự hỏi rằng: Sau 1975 toàn bộ 16 tấn vàng đó đã được sử dụng như thế nào?
 

Tôi đã từng đặt nhiều nghi vấn mà không biết làm sao giải đáp cho chính mình về câu chuyện 16 tấn vàng này, chẳng hạn làm sao người ta có thể mang 16 tấn kim loại ra khỏi Việt Nam một cách dễ dàng vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến như thể chỉ mang trong vali cầm tay 16 gram … giấy (?). Hoặc chẳng lẽ cả bộ máy chính quyền Sài Gòn, vẫn còn đó nhiều trí thức một lòng một dạ với non sông này, không còn một ai đủ lương tri đến nỗi sẵn sàng thỏa hiệp hoặc làm ngơ cho một ông tổng thống không còn quyền chức tha hồ vơ vét tiền quốc gia một cách công khai hơn cả các quan chức đương quyền trong vụ PMU 18 hay sao (?). Những câu hỏi đó giờ đây đã được báo Tuổi Trẻ giải đáp thỏa đáng.

3. Đương nhiên sau khi biết rằng khối tài sản quốc gia khổng lồ ấy đã được bảo toàn và chuyển giao nguyên vẹn từ chính quyền cũ sang chính quyền mới, người ta cũng dễ dàng tự hỏi rằng: Sau 1975 toàn bộ 16 tấn vàng đó đã được sử dụng như thế nào?

Lẽ nào số trữ kim to lớn ấy không giúp ích gì cho quốc gia để đến nỗi 10 năm sau 1975 nền kinh tế đất nước phải rơi vào khủng hoảng liên tục và đồng tiền mất giá không kìm hãm được? Liệu có vụ tham nhũng kinh khủng nào theo kiểu PMU 18 đối với 16 tấn vàng hay không?

Rất nhiều câu hỏi cần được giải đáp. Kẻ tham nhũng tất nhiên có thể đã xa chạy cao bay để tránh né sự trừng phạt của luật pháp, song như một định mệnh ở khắp nơi, nhân dân và lịch sử rồi cũng sẽ lôi tuột họ trở lại để đòi hỏi công lý dù sau 10, 20 hay 30 năm chăng nữa! Đời cha không trả thì đời con phải trả. Lưới trời lồng lộng.

…………………………………………………………

Hữu Đức, TP. HCM
Tôi thấy có nhiều ý kiến cho rằng “16 tấn vàng là của nhân dân”, hơi ngớ ngẩn khi nói rằng: ‘Trả về cho nhân dân’. Thì nó vẫn là tài sản quốc gia, là tài sản nhân dân. Và việc sử dụng vào mục đích nào đi chăng nữa thì cũng phục vụ cho lợi ích của đất nước, không tư lợi cho riêng ai là được. Đó không phải là điều đáng bàn cãi.

Thật ngớ ngẩn khi bàn cãi nó được sử dụng vào mục đích nào. Và một câu hỏi dành cho luật sư Lê Công Định: liệu 16 tấn vàng ấy có đủ để “đến nỗi 10 năm sau 1975 nền kinh tế đất nước phải rơi vào khủng hoảng liên tục và đồng tiền mất giá không kìm hãm được?” Hãy chứng minh bài toán mà mình đưa ra nhé.

Tony Nguyễn, Hoa Kỳ
Thưa bạn No Name, tôi không biết bạn căn cứ vào đâu để cho rằng không có cụ nào đụng tới số vàng đó. Nếu không ai đụng tới tất nhiên nó đang được cất giữ ở một nơi nào đó.

Con đường đi của 16 tấn vàng (tương đương hơn 300 triệu đô theo thời giá hiện nay) đã được giải đáp nhưng mới có phân nửa đường. Phân nửa còn lại là nó đang ở đâu trong nước VN? Còn hay đã được sử dụng hết rồi? Ai đã dùng? Nếu được dùng thì vào việc gì?

Nên nhớ đó là tài sản của toàn dân VN chứ không phải của bất cứ cá nhân hay đảng phái nào thì người dân có quyền được biết rõ về số phận của nó. Thời gian 31 năm qua đã quá đủ cho một sự im lặng mập mờ khó hiểu, nay đã đến lúc công khai nói ra cho dân tỏ tường. Trách nhiệm cũng như bổn phận phải nói ra không ai khác mà chính là của các quan chức cao cấp trong Đảng.

Lê Minh, Pháp
Ảo ảo thật thật, thật thật ảo ảo, có phải đó đã là một sự cố tình? Tuy nhiên, tôi tin là lịch sử sẽ phán xét tất cả các vấn đề. Nếu như ai đó đã dùng quyền lực để phỉ báng sự thật thì chắc chắn rằng lịch sử chính là người phán xét công minh nhất.

Dù tôi là người bi quan, nhưng tôi tin rằng, dân tộc Việt Nam trong tương lai sẽ dần đần thoát khỏi trong sự mê muội. Nếu ai đó dùng quyền lực, dùng sự độc tài, dùng chính sách ngu dân để bóp méo lịch sử thì chính kẻ đó phải trả giá đắt trước lịch sử.

No Name
16 tấn vàng làm sao đủ để trả nợ cho TQ và LX. Nên nhớ rằng VN mãi đến năm 1984 mới có hoà bình thực sự. Tôi tin rằng không cụ nào tham nhũng hết đâu.

AK
Câu hỏi “16 tấn vàng còn hay đã bị chuyển ra nước ngoài” nay đã được làm sáng tỏ. Còn câu hỏi cuối là “16 tấn vàng ấy đã được chính quyền cộng sản Việt Nam ” sử dụng như thế nào? Còn nằm trong khân khố quốc gia hay bị các cụ chia nhau hết rồi, hay là được dùng để trả nợ vũ khí cho Nga Xô? Đề nghị các cụ công khai trả lời. Tài sản 16 tấn vàng đó là tài sản của nước VN chứ không phải của riêng ông nào.

Nguyễn Duyên, Hoa Kỳ
Ai đã đọc Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung đều biết nhân vật Nhạc Bất Quần – bề ngoài luôn nói lời nhân nghĩa, nhưng bên trong đen tối. Muốn người dân không có ấn tượng này, Đảng Cộng sản hiện nay cần có thêm sự giải trình dứt khoát một lần cho xong vụ việc kéo dài liên miên mấy chục năm qua.

16 tấn vàng là tài sản quốc gia là của nhân dân Viêt Nam. Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm làm sáng tỏ và trả về cho nhân dân. Đảng CSVN cần phải học thế nào là đạo đức chân thật.

Kevin Đỗ, Westminster, Hoa Kỳ
Những chuyện khác của ông Thiệu, của bà Thiệu, như thế nào, rồi chúng ta cũng sẽ biết trong tương lai. Tuy nhiên, có lẽ giờ đây ông Thiệu cũng đã được “minh oan” trong chuyện 16 tấn vàng. Cầu mong Linh Hồn của ông được yên nghỉ an bình nơi thế giới “bên kia”.

Bùi Thông Thái, Roswell, Hoa Kỳ
Qua bài này, tôi rất sung sướng khi thấy lịch sử dù nhanh hay chậm, mọi sự rồi được phơi bày, luật công bình sẽ thưởng phạt công minh, như lời luật sư Lê Công Định nói. Rất ấm lòng khi thấy một luật sư – và cả báo Tuổi Trẻ – đã nói thay được tiếng nói của nhiều người yêu chuộng công lý.

 

Posted in Đảng CSVN | 6 Comments »

Trong khi BBC loan tin (Đảng) Lừa Dối Dư Luận về nền kinh tế XHCN, thì Kinh tế thị trường là sự yêu thích của người Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 14/04/2012

Kinh tế thị trường và “nghịch lý” thú vị của người Việt

Anh Minh
Người Việt Nam tuy “yêu” kinh tế thị trường, nhưng lại vẫn mong chờ nhà nước… bình ổn giá! – Ảnh: Daily Mail.
Báo cáo nghiên cứu về cảm nhận của người dân Việt Nam về vai trò của nhà nước và thị trường ở Việt Nam (CAMS 2011) được công bố sáng 13/4 tại Hà Nội đã cho thấy một “nghịch lý” thú vị trong quan điểm của người Việt đối với kinh tế thị trường.

“Yêu” kinh tế thị trường

Trong cuộc khảo sát để hình thành nên CAMS 2011, có đến 87% người trong tổng số hơn 1.000 người tham gia trả lời cho rằng mô hình kinh tế thị trường ưu việt hơn bất kỳ mô hình kinh tế nào khác.

Ngược lại, chỉ có gần 7% cho rằng mô hình kinh tế nhà nước ưu việt hơn mô hình kinh tế thị trường và hơn 6% cho rằng mô hình kinh tế nhà nước hay thị trường không quan trọng.

Điều này, theo nhận định của các chuyên gia thuộc nhóm nghiên cứu, là sự thể hiện “sự ủng hộ mạnh mẽ đối với mô hình kinh tế thị trường”.

Trong đó, nhóm cơ quan báo chí có tỷ lệ ủng hộ cao nhất với 97% cho rằng kinh tế thị trường là ưu việt, tiếp theo là nhóm cơ quan Chính phủ, các bộ, ngành và UBND và các sở ngành cấp tỉnh (92%), nhóm doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) và các cơ quan Đảng ở Trung ương là tương tự nhau (86-87%).

Tuy nhiên, chỉ có 75% số người trả lời của nhóm là đại biểu quốc hội và người làm việc tại các cơ quan của Quốc hội cho rằng mô hình kinh tế thị trường là ưu việt, trong khi cũng chỉ có 83% số người thuộc nhóm doanh nghiệp gồm tư nhân trong nước và tư nhân nước ngoài ở Việt Nam cho rằng kinh tế thị trường là ưu việt; thấp hơn mức trung bình và thấp hơn khá nhiều so với nhóm thuộc kinh tế nhà nước.

Mức độ ủng hộ mô hình kinh tế thị trường cũng có sự khác biệt theo chức vụ và độ tuổi của người trả lời điều tra.

Gần 90% những người nắm chức vụ cao cấp ủng hộ mô hình kinh tế thị trường so với tỷ lệ 85% của nhóm chức vụ trung cấp hay bình thường. Tỷ lệ ủng hộ mô hình kinh tế thị trường của nhóm người từ 30 tuổi đến 49 tuổi và nhóm 50 tuổi trở lên đều khoảng 90% so với tỷ lệ gần 83% của nhóm những người dưới 30 tuổi.

Khi đánh giá về chuyển đổi từ kinh tế nhà nước sang kinh tế thị trường của Việt Nam từ năm 1986 đến nay, cứ 1 trong 4 người được hỏi đã trả lời đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý với nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay cơ bản là nền kinh tế thị trường.

Nhóm nghề nghiệp đánh giá cao nhất về nỗ lực này của Việt Nam là cán bộ của UBND và sở ngành cấp tỉnh với tỷ lệ là 33% và thấp nhất là cơ quan báo chí với tỷ lệ là 3%. Gần 60% người trả lời chỉ đồng ý một phần về nhận định nói trên.

Ở thái cực ngược lại, chỉ có 22% số người trả lời đồng ý về nhận định nền kinh tế Việt Nam hiện nay về cơ bản là một nền kinh tế nhà nước. Tỷ lệ đồng ý cao nhất thuộc về nhóm có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

Đó là những người trả lời đến từ các đại sứ quán, tổ chức quốc tế (40%) và các doanh nghiệp FDI (39%). Không có một ai từ các cơ quan Đảng ở Trung ương và 8% từ UBND và các sở, ngành cấp tỉnh đồng ý với nhận định nói trên.

Như vậy, có thể nói, người nước ngoài, người Việt Nam làm việc tại các tổ chức quốc tế và người trong nước có đánh giá tương đối khác nhau về mức độ chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở Việt Nam. Cụ thể là, mức độ chuyển đổi sang kinh tế thị trường theo đánh giá của người từ các tổ chức quốc tế là thấp hơn so với đánh giá của những người trong nước.

Theo các chuyên gia, kết quả nói trên cũng có thể hiểu được; bởi vì, có lẽ người nước ngoài so sánh nền kinh tế Việt Nam hiện nay với nền kinh tế của quốc gia họ hoặc ở nước khác mà họ đã sống và làm việc; trong khi đó, người trong nước so sánh nền kinh tế Việt Nam hiện nay so với trước đây.

Nhưng vẫn thích nhà nước… định giá

Tuy nhiên, ngay cả khi đã bày tỏ “tình yêu” khá rõ ràng với kinh tế thị trường, nhiều người dường như vẫn mong muốn được nhà nước bảo hộ về vấn đề giá cả.

Điều này, theo ví von của ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế và Trọng tài thuộc VCCI, là dường như người Việt Nam vẫn “dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng”!

Điều đáng ngạc nhiên là kết quả khảo sát cho thấy rằng đa số người Việt Nam cho rằng Nhà nước nên can thiệp vào thị trường. 68% số người trả lời cuộc điều tra này cho rằng Nhà nước nên can thiệp vào thị trường để bình ổn giá của những hàng hóa thiết yếu tiêu thụ bởi các hộ gia đình. Tỷ lệ cho rằng giá cả nên được quyết định bởi thị trường chỉ đạt hơn 1/4 số người trả lời điều tra.

Chính vì điều này, nhóm nghiên cứu cho rằng CAMS 2011 đã cho thấy một bức tranh tương đối mâu thuẫn là đa số người Việt Nam ủng hộ cao mô hình kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân đối với doanh nghiệp, đòi hỏi mức độ minh bạch cao trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách của Nhà nước… nhưng lại ủng hộ việc Nhà nước nên can thiệp vào thị trường liên quan đến giá cả các hàng hóa thiết yếu.

Theo bà Phạm Chi Lan, một thành viên của nhóm nghiên cứu, có thể là phần lớn hàng hóa thiết yếu tiêu thụ bởi các hộ gia đình chủ yếu vẫn do các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh độc quyền, thống lĩnh thị trường (như điện, xăng dầu, ngoại tệ, vàng, đất đai, các nguyên liệu cơ bản, dịch vụ tài chính, hàng không, đường sắt…) nên người dân lo ngại về hệ quả xấu, nếu Nhà nước không có sự kiểm soát tốt.

Lý do thứ hai có thể xuất phát từ cách thức truyền thông và các thông điệp liên quan từ các phương tiện truyền thông.

Cụ thể là, mỗi khi có biến động giá cả trên thị trường, nhìn chung, các cơ quan truyền thông thường đổ lỗi cho đầu cơ, lợi dụng của những người kinh doanh để trục lợi; đồng thời, yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan phải can thiệp kịp thời.

Và thông điệp cho dân chúng thường là Nhà nước can thiệp thì tốt, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng hơn là để thị trường tự quyết định giá.

Nguyên nhân tiếp theo cũng có thể là trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tình trạng lạm phát, giá cả tăng cao trên nhiều lĩnh vực những năm gần đây, kỳ vọng của người Việt Nam về vai trò của Nhà nước trong can thiệp và bình ổn giá cả tăng lên…

Nhưng cũng có thể là do nhận thức và hiểu biết về kinh tế thị trường, sự vận hành của thị trường và tác dụng của nó trong giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế của tất cả các bên có liên quan còn hạn chế; sự do dự trong lựa chọn giữa thị trường và nhà nước, trong nỗ lực chuyển đổi sang kinh tế thị trường vẫn có đâu đó với mức độ khác nhau trong mỗi người Việt Nam.

Tuy vậy, một điểm đáng lo ngại là khi đánh giá mức độ gia tăng số lượng các quy định của Nhà nước trong năm năm qua (từ 2006 – đến 2011) để bình ổn giá các hàng hóa thiết yếu mà các gia đình tiêu thụ thì 59% người trả lời cho rằng tăng và chỉ 9% cho rằng giảm. Hầu hết các nhóm nghề nghiệp đều cho rằng số lượng các quy định của nhà nước can thiệp để bình ổn giá đã tăng lên trong 5 năm vừa qua.

Đối với chương trình bình ổn giá, trong những năm gần đây, chính quyền một số địa phương đã khởi xướng và thực hiện “chương trình bình ổn giá” nhằm ổn định giá cả của một số hàng hóa thiết yếu. Cách thức thực hiện thường là nhà nước chi tiền hỗ trợ một số doanh nghiệp được lựa chọn (như cung cấp vốn vay không lãi suất hoặc cho vay vốn với lãi suất thấp) để bán các loại hàng hóa thiết yếu ở mức giá thấp hơn giá thị trường.

Đáng lưu ý là tỷ lệ ủng hộ chương trình bình ổn giá cả có tương quan tỷ lệ thuận với trình độ học vấn. Chẳng hạn như đối với nhóm người trả lời có trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông trung học trở xuống thì đến 58% cho rằng chương trình bình ổn giá có hiệu quả so với tỷ lệ 21% của nhóm tốt nghiệp sau đại học.

Và ngược lại có 75% số người tốt nghiệp sau đại học cho rằng chương trình bình ổn giá không có hiệu quả so với tỷ lệ 31% của nhóm người trả lời tốt nghiệp phổ thông trung học trở xuống. Như vậy, có thể mức độ nhận thức và hiểu biết về kinh tế thị trường có tác động đến nhận thức về vai trò của Nhà nước và thị trường, cũng như yêu cầu và tốc độ cải cách chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Cảm nhận của người dân ở phần này của cuộc điều tra một lần nữa phản ánh bức tranh nửa sáng nửa tối của hệ thống kinh tế Việt Nam, trong đó vai trò của nhà nước và thị trường trong các hoạt động kinh doanh và trong việc quyết định giá cả không rạch ròi.

Chính do thực tế nhà nước còn trực tiếp tham gia hoặc can thiệp vào rất nhiều hoạt động kinh doanh, quyết định giá cả của nhiều mặt hàng lớn, nên người dân nhìn nhận không rõ vai trò của thị trường, và tin vào sức mạnh của nhà nước khi can thiệp vào giá cả có thể bảo vệ cho mình khỏi những bất lợi do biến động thị trường.

Mặt khác, với hệ thống thông tin còn kém minh bạch hiện nay, phần lớn người dân cũng không có nhiều thông tin để biết được nguyên nhân cốt lõi của những biến động thị trường gây bất lợi cho họ là từ đâu, trong khi số lớn các quan chức nhà nước và truyền thông thường che giấu những khiếm khuyết của nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong các hoạt động kinh doanh và đổ trách nhiệm cho thị trường về những biến động tiêu cực.

Mức độ gia tăng số lượng các quy định của Nhà nước trong 5 năm qua để bình ổn giá, như hầu hết các nhóm nghề nghiệp đánh giá, đã cho thấy sự can thiệp tăng lên của nhà nước vào giá cả thị trường là không phù hợp với yêu cầu cải cách và các cam kết quốc tế về tự do hóa thương mại.

Trong khi đó, thực tế diễn ra trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này lại là bất chấp sự can thiệp mạnh của nhà nước, lạm phát vẫn tăng cao, giá cả hàng hóa trên thị trường nội địa liên tục leo thang, tác động nặng nề tới ổn định kinh tế vĩ mô và thu nhập thực tế của người dân. Như vậy, theo nhóm nghiên cứu, rõ ràng sự can thiệp của nhà nước theo cách đã làm chưa hẳn đã là phương thuốc đúng và hiệu lực, hiệu quả để ổn định thị trường.

Nguồn danluan.org

**************************************************

Dân nói như thế, còn tổng bí thư đảng thì ba hoa bên Cuba, lên lớp dạy Cuba về kinh tế  thị trường theo định hướng XHCN. Sau khi nghe bài giảng của ông Trọng, Tổng thống Brazil đã hủy bỏ cuộc việc thăm của ông Nguyễn Phú Trọng cùng khoảng hơn 10 bộ trưởng và 10 ủy viên Trung Ương Đảng. Dù cuộc viếng thăm này đã được bố trí trước rất lâu. Và trên website của báo chí VN không có lời bình luận về sự hủy bỏ đột ngột này.

Tổng Bí thư VN giảng CNXH ở Cuba

Thứ ba, 10 tháng 4, 2012

Trong khuôn khổ chuyến thăm Cuba, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hôm 9/4 đã có bài thuyết giảng về mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam tại Trường đảng cao cấp Nico Lopez – nơi đào tạo cán bộ chủ chốt của Trung ương Đảng cộng sản Cuba.

Với chủ đề ‘Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nhìn từ thực tiễn Việt Nam’, ông Trọng đã giảng giải bốn vấn đề: chủ nghĩa xã hội là gì; làm thế nào để đi lên chủ nghĩa xã hội; con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; những vấn đề nảy sinh trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Sức sống mạnh mẽ

Dẫn văn kiện Đại hội Đảng hồi năm ngoái, ông Trọng khẳng định với những người đồng chí Cuba của ông là rằng đi lên chủ nghĩa xã hội là ‘khát vọng của nhân dân (Việt Nam)’, là ‘lựa chọn đúng đắn của Đảng’ và ‘phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử’.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, ông Trọng cho biết là đảng của ông đang ‘từng bước’ nhận thức ‘ngày càng đúng đắn hơn’ về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ông Trọng cũng đưa ra những dẫn chứng từ Việt Nam và thế giới để chứng tỏ sức sống của chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay.

“Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế,” ông nói với các cán bộ, giáo sư và học viên của trường.

“Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế.”

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

“Đó là sự ưu việt, là sức sống thực tiễn của chủ nghĩa xã hội!,” ông khẳng định.

Trên bình diện quốc tế, ông Trọng đưa ra các dẫn chứng Việt Nam ‘vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội’, Cuba ‘vẫn hiên ngang đứng vững’, ‘bước tiến cách mạng’ ở Venezuela, Bolivia và Eucador, ‘sự lớn mạnh’ của phong trào cánh tả Mỹ Latin, các nước xã hội chủ nghĩa khác ở châu Á ‘vẫn tiếp tục con đường tiến lên phía trước’ như là những ‘bằng chứng đầy khích lệ về sức sống của chủ nghĩa xã hội’.

Ông cũng đề cập đến cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay tại các nước tư bản để khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là ‘lựa chọn duy nhất đúng’ để vượt qua những bế tắc hiện nay mà các đảng cánh tả và ‘phong trào nhân dân tiến bộ các nước’ đang xác định ‘ngày càng rõ ràng’.

Ông Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh những cải cách kinh tế trong Đại hội vừa qua của Đảng cộng sản Cuba và bày tỏ mong muốn Việt Nam và Cuba ‘tiếp tục sát cánh bên nhau’ trên con đường chủ nghĩa xã hội.

Lừa dối dư luận

Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Raul Castro
Hà Nội từng khuyên Havana tiến hành các cải cách kinh tế để tránh sụp đổ

Ông Nguyễn Khắc Toàn, một nhà bất đồng chính kiến ở Hà Nội, đã bác bỏ hoàn toàn các luận điểm này của ông Trọng.

Ông Toàn đưa các dẫn chứng về dân oan mất đất, phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, lạm phát, thất nghiệp tăng cao, an sinh xã hội bị tác động nặng nề, tình trạng tham nhũng hối lộ hoành hành để phản bác ‘thành tích’ về mặt xã hội của Việt Nam mà ông Trọng đã ca ngợi.

“Tình trạng bất công ở Việt Nam lan tràn khủng khiếp,” ông nói, “Hàng năm có hàng nghìn các cuộc xuống đường ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn.”

Về ‘sức sống’ của chủ nghĩa xã hội, ông Toàn cho biết cả năm nước xã hội chủ nghĩa còn sót lại trên thế giới là Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam, Cuba và Lào đang ‘chịu những thách thức ghê gớm’ và ‘đang lung lay dữ dội’.

“Không có chủ nghĩa xã hội nào là có sức hấp dẫn đối với quần chúng cả,” ông nói.

Đối với trường hợp Venezuela mà ông Trọng đã nêu dẫn chứng như là sự hồi sinh của chủ nghĩa xã hội, ông Toàn đánh giá Tổng thống Hugo Chavez của nước này là ‘mị dân’ và là ‘kẻ đơn độc lẻ loi trơ trẽn ở Tây bán cầu cổ súy cho sự độc tài toàn trị.’

“Những nước tư bản và những nước có nền kinh tế thị trường luôn luôn phát triển và có những cuộc khủng hoảng nhất thời,” ông nói.

Tuy nhiên, nhờ vào ‘cơ chế dân chủ’ mà những nước này luôn tìm ra cách giải quyết khủng hoảng, ông Toàn lập luận.

“Ông ấy (Nguyễn Phú Trọng) chỉ tự nói dối bản thân mình, lừa dối dư luận, lừa dối nhân dân Cuba và nhân dân Việt Nam.”

Nguyễn Khắc Toàn, nhà bất đồng chính kiến

Về ‘con đường đi lên chủ nghĩa xã hội’ của Việt Nam và Cuba, ông Toàn cho biết là ‘không có chủ nghĩa xã hội nào ở đây cả’ và hai quốc gia này là ‘độc tài toàn trị mang danh chủ nghĩa xã hội’.

Ông giải thích với việc cả Trung Quốc và Việt Nam đều ‘du nhập những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường để cứu cánh cho nền kinh tế của họ đang suy tàn mà thôi’.

“Trung Quốc và Việt Nam đều phản bội chủ nghĩa xã hội,” ông khẳng định.

Ông lập luận rằng chủ nghĩa xã hội đích thực thì ‘phải có đấu tranh giai cấp, kinh tế kế hoạch và chống lại kinh tế thị trường’ trong khi hai nước này đang tích cực hội nhập vào kinh tế thế giới và mong muốn được thế giới công nhận là ‘kinh tế thị trường’.

“Ông ấy (Nguyễn Phú Trọng) chỉ tự nói dối bản thân mình, lừa dối dư luận, lừa dối nhân dân Cuba và nhân dân Việt Nam,” ông nói.

Ông Toàn cũng nhận định chuyến thăm Cuba lần này của ông Trọng là để lãnh đạo cộng sản hai nước ‘lên dây cót tinh thần cho nhau’ trong bối cảnh ‘hàng loạt đất nước độc tài ở Bắc Phi đã bị nhân dân bùng lên đánh đổ làm họ hoang mang lo sợ cho số phận của mình’.

Ông cho rằng ông Trọng sẽ ‘truyền kinh nghiệm’ của Việt Nam cho Cuba mà ông đánh giá là ‘tình hình hiện nay đang thảm hại về mọi mặt’ để nước này ‘kéo dài thêm sự sống’ và sẽ khuyên Cuba ‘có những bước đi mạnh bạo hơn nữa như Việt Nam về mặt kinh tế’.

“Họ (Đảng cộng sản Việt Nam) thấy rằng những cải cách của Cuba trong những năm gần đây theo lời khuyên của họ và của Trung Quốc chưa đủ mạnh để cứu cánh cho nền kinh tế của quốc gia này đang trên đà sụp đổ,” ông nói.

“Về chính trị chắc chắn họ sẽ kiên quyết cùng nhau chống lại khát vọng và đòi hỏi tự do dân chủ ở mỗi nước,” ông Toàn nhận xét.

“Sự cấu kết của hai nhà cầm quyền (Việt Nam và Cuba) là rất mạnh mẽ,” ông nói và dẫn chứng là mỗi nhiệm kỳ của các tổng bí thư Việt Nam đều đi thăm Cuba.

——————————————————————————————————————————————–

TBT Đảng CSVN hủy chuyến thăm Brazil

nguồn BBC

13-4-2012

Chuyến thăm Brazil theo lời mời của Tổng thống Dilma Rousseff của Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, dù đã được hai nước chuẩn bị từ trước, đã đột ng̣ột bị hủy vào giờ chót.

Theo kế hoạch, ông Trọng sẽ bay đến Brazil ngay sau chuyến thăm Cuba trong kéo dài đến ngày 15/4. Tuy nhiên, ông đã từ Havana bay thẳng về Việt Nam.

Thông tấn xã Việt Nam loan báo nguyên nhân hủy chuyến thăm là ‘do khó khăn đột xuất của phía Brazil’. Tuy nhiên hãng thông tấn nhà nước không nói rõ đây là khó khăn gì.

Một cán bộ ngoại giao Việt Nam giấu tên nói với BBC rằng đây là việc mà ôngchưa thấy trong mấy chục năm làm ngoại giao’.

Ông nói có một số nước xem ông Trọng như nguyên thủ quốc gia của Việt Nam nhưng cũng có những nước không mặn mà lắm với tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam…

——————————————————————————————————————————————–

Chủ đề liên quan

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »