Trần Hoàng Blog

►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý kiến của đọc giả về tác phẩm này…

Posted by hoangtran204 on 18/12/2012

Vì sao tôi viết?

Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.

Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “20 năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: Phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

Nhưng, hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.

Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; Cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; Con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh… được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày[1], Thép Đã Tôi Thế Đấy[2]… Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.

Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kinh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”. Chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam… Chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới.

Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong[3], một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc.

Cho dù, đã kiệt quệ sau 8 năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô, vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy…

Mùa Hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ như Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Huỳnh Thanh Diệu, Nguyễn Tuấn Khanh, Huy Đức… Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Cam Ly, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức Tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.

Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Gần như không mấy ai để ý đến câu nói đó của Tuấn Khanh nhưng tôi thì cứ bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.

Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975, cũng trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980s, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”[4], như “Z 30”[5] cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ chính trị cũng không được biết.

Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975. Ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc. Hãy để cho các nhà kinh tế chính trị học và các nhà xã hội học nghiên cứu kỹ hơn hiện tượng lịch sử này.

Cuốn sách của tôi, đơn giản chỉ bắt đầu kể những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo; đánh tư sản; đổi tiền…

Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970s, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc.

Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, nói về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Tư liệu cho cuốn sách được thu thập trong hơn hai mươi năm và trong vòng ba năm (từ tháng 8-2009 đến tháng 8-2012) tôi đã dành toàn bộ thời gian của mình để viết. Bản thảo cuốn sách đã được gửi tới một số thân hữu và một số nhà sử học, trong đó có 5 nhà sử học hàng đầu của Mỹ chuyên nghiên cứu về Việt Nam. Sau khi sửa chữa, bổ sung, tháng 11-2012, bản thảo hoàn chỉnh đã được gửi đến một số nhà xuất bản trong nước, tuy nhiên, nó đã bị từ chối. Cho dù một số nhà xuất bản tiếng Việt có uy tín tại Mỹ và Pháp đồng ý in, như để lãnh trách nhiệm cá nhân và giữ cho cuốn sách một vị trí khách quan, tác giả quyết định tự mình đưa cuốn sách này đến tay bạn đọc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật. Tuy tác giả có những cơ hội quý giá để tiếp cận với các nhân chứng và những thông tin quan trọng, cuốn sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chắc chắn sẽ còn được bổ sung khi một số tài liệu được Hà Nội công bố. Hy vọng, bạn đọc sẽ giúp tôi hoàn thiện nó trong những lần xuất bản sau. Lịch sử cần được biết như nó đã từng xảy ra và sự thật là một con đường đòi hỏi chúng ta không bao giờ bỏ cuộc.

Sài Gòn – Boston (2009-2012)

Theo Osin Facebook

danchimviet.info (repost)

———————————————————————————

Trong cuốn “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, có đoạn nói về phóng viên Huỳnh Ngọc Chênh, tức Hồ Ly Tiênphỏng vấn: 

” Tại kỳ họp thứ tư của Quốc hội khoá IX, tháng 7/1994, phóng viên Huỳnh Ngọc Chênh của báo Thanh Niên phỏng vấn:

_ Thưa Chủ tịch có phải con của Bác Hồ?”.

Ông Nông Đức Mạnh lúng túng mấy giây rồi trả lời:

_ Người Việt Nam ta ai cũng là con cháu Bác Hồ cả.

Cho dù sau đó ông Mạnh rất tức giận nhưng đấy là câu trả lời thông minh nhất trong suốt cuộc đời làm chính trị của ông..”

———————————————————————————

Nghĩ từ bìa sách “Bên Thắng Cuộc”

Nguyễn Ngọc Già

Tác giả gửi tới Dân Luận

Tôi chưa được đọc “Bên Thắng Cuộc” của nhà báo Huy Đức, nhưng bìa sách tạo cho tôi một cảm giác thật ấn tượng. Dù không biết đó là ý tưởng của Huy Đức hay của nhà thiết kế, phải công nhận đó là chi tiết đắt giá cho nội dung câu chuyện gồm 2 phần:Phần I: GIẢI PHÓNGPHẦN II: QUYỀN BÍNH.Hình ảnh bìa có vẻ khô khan nhưng đầy ý nhị của cái mà tôi cho rằng rất nhiều người đồng thuận: một trong những chiêu bài góp phần cho “Bên Thắng Cuộc” thành công đó là “tuyên truyền” như Paul Joseph Göbbels – Bộ trưởng Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền của Đức Quốc xã [1] đã thành công và được nhiều người đúc kết dành cho loại tuyên truyền được nâng lên đến tầm “nghệ thuật”: Sự thật là sự dối trá được lặp đi lặp lại nhiều lần.Bìa trước, nổi bật trên cái cột cũ kỹ cùng mấy sợi dây điện mắc ngang dọc là 2 cái loa chĩa về 2 hướng, cùng một chóa đèn…tối thui, không chút ánh sáng. Tất cả những công cụ đó đen đặc, tương phản với màu trắng sáng trang bìa. Sự tương phản, đối nghịch này làm tôi đặc biệt thích thú với ý tưởng trình bày, mà một số người đã đọc gọi là khá đầy đủ, trung thực về lịch sử Việt Nam kể từ 30/4/1975. Hình ảnh này gợi cho tôi về khái niệm “tuyên truyền mù lòa” như người có miệng, có tai nhưng bị bịt mắt không nhìn thấy bất kỳ sự việc lớn nhỏ nào, cùng các biến cố lịch sử của một thời điêu linh. Không những thế, nó làm cho tôi cảm nhận ngay cái dĩ vãng “trời tối đen như mực” đã ám ảnh hàng chục năm đối với người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung: “BÓNG TỐI VÀ NẠN ĐÓI”, phủ trùm trong thành phố “Hòn Ngọc Viễn Đông” của những năm đầu sau thành công của “Bên Thắng Cuộc”.Đối lại với bìa trước, bìa sau là gam màu đen thẫm với những dòng nhận xét, đánh giá bằng chữ trắng của những người nổi tiếng như: GS. Trần Hữu Dũng, Nhà văn Nguyên Ngọc, GS. Chu Hảo, Nhà báo Đinh Quang Anh Thái v.v… kéo người đọc về xem một bức tranh bằng 2 gam màu chủ đạo đại diện cho Thiện – Ác: TRẮNG – ĐEN.Bìa trước như tượng trưng cho hiện tại, bìa sau như tượng trưng cho quá khứ, đã tạo cho cuốn sách một mạch lịch sử trôi chảy, không đứt gãy, nhờ vào kinh nghiệm dày dạn cùng vị trí xã hội mà ít nhà báo nào có được, đã giúp tác giả trình bày, bóc tách và phơi ra những sự thật suốt gần 40 năm qua bị bẻ cong phần lớn.Gáy sách, tựa như chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, đã được chọn gam màu “Xanh Rêu” – một màu sắc đại diện cho những chủ đề thường được gọi là “phủ màu thời gian”, tạo cảm giác buồn hiu, ẩm ướt và trơn trợt. Tác giả như leo trên những vách đá gai góc với rêu phong phủ đầy bằng những sự kiện, những tư liệu hiếm để đưa người đọc tìm về lịch sử chân thật, nếu không cẩn thận có thể dẫn đến tai nạn bất ngờ được báo trước. Phải chăng là một ẩn ý chấp nhận những rủi ro, khi đứng ra tự chịu trách nhiệm đưa đến tay bạn đọc, sau khi nhà xuất bản trong nước từ chối???Điều thú vị không kém, tựa đề “Bên Thắng Cuộc” cũng được sử dụng gam màu “Xanh Rêu” ấy. Một “chiến thắng” dựa trên nền tảng ẩm ướt và trơn trợt như “bẫy rập”, liệu có là một thắng lợi bền vững trường tồn dựa trên một sự thật bị bưng bít và bóp méo lâu nay? Kỷ niệm như rêu, Huy Đức đang níu vào và cố tránh trượt ngã bằng tấm lòng của một nhà báo thuộc về nhân dân?Ngay đây, nảy ra trong óc tôi khẩu hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh muôn năm”, nó bỗng trở nên thật khôi hài trong tình hình nguy khốn Việt Nam hiện nay!Chỉ từ cái bìa trước, bìa sau, gáy sách và dòng chữ “BÊN THẮNG CUỘC” với sự chọn lọc màu sắc tinh tế cùng hình tượng 2 cái loa và chóa đèn tối thui, người thiết kế đã chạm đến chân lý “Chân – Thiện – Mỹ”. Bên cạnh đó, thông qua bìa sách, người đọc cảm được tính trách nhiệm rất cao và cả lòng trìu mến, chăm chút cho đứa con tinh thần đầu tay qua hàng ngàn trang viết.Với 3 gam màu: trắng, đen, xanh rêu, tác giả đã ngay lập tức tạo được dấu ấn cho người đọc về một giai đoạn lịch sử đầy tranh cãi, tao loạn thời hậu chiến với việc tranh đoạt quyền bính trong nội bộ người CSVN, trong khi người dân Việt trở thành “chuột thí nghiệm” liên miên hết từ chính sách này đến ý tưởng nọ, suốt gần 40 năm qua.Một bìa sách cho nội dung lịch sử & chính trị – xã hội vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ cao về nghệ thuật thiết kế!Nhiều người cũng thắc mắc, tại sao tác giả không đặt tựa là “Bên Thắng Trận”, “Bên Chiến Thắng”(?) Có lẽ mỗi người tự tìm trong tác phẩm thì… tốt hơn?! Bởi như Huy Đức trần tình, viết không chỉ cho “bên thắng cuộc” mà anh “mong mỏi đi tìm sự thật” [2].Chỉ từ tóm tắt qua trang anhbasam [3], những cụm từ: “đổi tiền”, “vượt biên”, “kinh tế mới”, “đánh tư sản”, “nạn kiều”, “xé rào”, “ngăn sông cấm chợ”, “tem phiếu”, “sổ gạo”, “chầu chực”, “xếp hàng cả ngày” v.v… ngỡ đã chìm vào quên lãng bỗng chốc ùa về tràn ngập lòng tôi như nó mới vừa diễn ra.Tôi rùng mình nhớ lại… ngày xưa!Ngoài “Bên Thắng Cuộc”, nhất định phải có “Bên Thua Cuộc”. “Cuộc” nào đây? “Cuộc cờ người” hay “cuộc đời”, “cuộc chiến”? Quả nhiều ý nghĩa miên man và lan man trong óc những ai quan tâm về lịch sử Việt Nam! Dù là “cuộc” nào đi nữa, khi chiến cuộc đi qua, trên những vùng đất khô cằn sỏi đá, lật xác quân thù, người ta chỉ thấy: NGƯỜI VIỆT NAM, dù dưới sắc áo “lính cải tạo” hay chiếc áo thường dân! Và…Máu!!! Và… Nước Mắt!!! Của đồng bào Việt Nam!Cần lắm, những tiếng nói khách quan, duy lý khác từ “Bên Thắng Cuộc” cho đến “Bên Thua Cuộc”, đặc biệt từ những người đã sống và chịu đọa đày như Nhà văn Phan Nhật Nam [4] – một trong những người thuộc “Bên Thua Cuộc” nổi tiếng với tác phẩm “Mùa Hè Đỏ Lửa”, không những thế, điều quan trọng hơn, ông đã “tồn tại” 18 năm (1975 – 1993) như nhân chứng sống, trước khi tị nạn tại Mỹ. Sự lên tiếng ở đây, không phải để khơi gợi hận thù mà cần làm rõ lịch sử như là trách nhiệm cá nhân ông, như Huy Đức viết:“Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm” [2]Hy vọng, “Bên Thắng Cuộc” sẽ trở thành “best seller” nhanh chóng trên thế giới.Chúc mừng nhà báo Huy Đức và cám ơn anh với tác phẩm đầu tay này.Nguyễn Ngọc Già
_______________

p/s: xin đừng hỏi tôi thuộc “bên nào”, bởi thật sự tôi cũng chẳng biết tôi là “bên nào”, ngoài định nghĩa của cá nhân tôi – bên Năm [5]

http://vi.wikipedia.org/wiki/Paul_Joseph_G%C3%B6bbels#V.C3.A0i_v.E1.BB.A5_vi.E1.BB.87c_tuy.C3.AAn_truy.E1.BB.81n_n.E1.BB.95i_b.E1.BA.ADt_kh.C3.A1c [1]

http://danluan.org/tin-tuc/20121206/osin-huy-duc-vi-sao-toi-viet [2]

https://anhbasam.wordpress.com/2012/12/10/tom-tat-noi-dung-sach-ben-thang-cuoc/#more-84960 [3]

http://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Nh%E1%BA%ADt_Nam [4]

http://danluan.org/tin-tuc/20100421/nguyen-ngoc-viet-ve-ngay-30-thang-4 [5]

“…Xin giới thiệu luôn người thiết kế bìa và trình bày quyển sách:Phùng Văn Vinh và Trần Minh Triết.”  (Đỗ Chí Việt)

nguon: danluan.org

—————————————————–

Bên Thắng Cuộc

Mặc Lâm/RFA

“Bên thắng cuộc” là cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nuớc. Quyển sách được viết bởi nhà báo Huy Đức, người nổi tiếng với trang blog Osin với những bài chính luận độc đáo có số người đọc rất cao.

Amazon phát hành chính thức

Sau ba năm mài miệt, “Bên thắng cuộc” chính thức ra đời vào ngày 12 tháng 12 vừa qua với hai cách: sách in do chính tác giả xuất bản và sách điện tử do Amazon phát hành dưới hình thức Kindle.

Có lẽ đây là lần đầu tiên một nhà văn Việt Nam có lượng sách bán trên hệ thống Amazon qua hình thức sách điện tử. Sự đột phá này có ý nghĩa quan trọng cho những ngòi viết đang bị cho là có vấn đề tại Việt Nam, từ nay họ có thể lập ra kế hoạch cho cuốn sách sắp tới phát hành một cách rộng khắp nhưng lại không hề bị lưỡi kéo kiểm duyệt gây rắc rối. Huy Đức là nguời đầu tiên và chắc chắn không phải là cuối cùng tận dụng lợi thế khoa học kỹ thuật này.

“Bên thắng cuộc” vừa ra đời một ngày đã tạo tiếng vang lớn khi nhiều tiếng nói uy tín giới thiệu nó một cách trân trọng, trong đó có bài viết của Giáo sư Trần Hữu Dũng, hiện giảng dạy tại đại học Wright thuộc tiểu bang Ohio Hoa Kỳ. GS Dũng cũng là chủ website Viet-Studies có luợng người vào xem rất lớn. Chia sẻ với chúng tôi về cuốn sách ông cho biết:

“Tôi thấy cuốn sách có rất nhiều chi tiết và thông tin nào cũng hay cả! Nhưng nếu đưa cho người khác đọc thì có thể họ lại cho rằng cuốn sách này không phân tích tổng quan nên những học giả hàn lâm họ sẽ chê cuốn sách chỗ đó. Đối với tôi thì chuyện ấy sau này Huy Đức có thể làm được, viết một cuốn sách riêng để phân tích những sự kiện nào đáng nhất.

Có nhiều anh em cũng cho rằng Huy Đức nên viết lại, chia các chi tiết ra thì cuốn sách sẽ hay hơn. Nhưng muốn làm như vậy thì phải nhiều năm nữa mà Huy Đức không có thời gian. Cuốn sách phải ra liền không thể trễ hơn nữa. Hãy xem cuốn sách này như một nguồn tài liệu vì vậy nó rất tốt chứ không phải một cuốn viết về sử theo như cách hàn lâm.

Có một điều rất hay, đó là tôi hỏi Huy Đức, khi Huy Đức phỏng vấn những người trong cuốn sách này thì họ có biết rằng Huy Đức viết sách hay không? Huy Đức nói là biết! Thành ra tôi không hiểu tại sao mà họ tin cẩn Huy Đức để mà nói những điều như vậy trong khi biết rằng Huy Đức dùng những lời nói của họ để viết sách? Huy Đức rất cẩn thận và đức tính này rất hay.”

Ba muơi tháng tư
“Bên thắng cuộc” có thể nói là một cẩm nang cho những ai muốn biết về các sự kiện xảy ra tại Việt Nam sau ngày 30 tháng 4 tới nay. Tác giả đã bỏ công hàng chục năm để phỏng vấn hàng trăm người trong cuộc. Tác giả cũng sử dụng tư liệu từ nhiều nguồn trong đó chủ yếu là các hồi ký của những người có dính đến cuộc chiến tranh Việt Nam hay tham gia vào guồng máy chính trị của chế độ hiện nay.

Điều quan trọng nhất mà Huy Đức có được nhưng nhiều nhà báo khác không có đó là vào năm 2005-2006 anh được sang Mỹ du học tại tiểu bang Maryland và phỏng vấn hàng trăm người khác để kết nối với những điều anh đã thu thập từ trong nước.

Lượng thông tin kếch xù này được Huy Đức xử lý một cách khôn ngoan qua bút pháp chừng mực, dẫn người đọc tới cánh cửa bí ẩn mà người ta tin rằng trong thế giới cộng sản khó có người thứ hai làm được như anh.

Huy Đức không phải là một nhà viết sử vì vậy “Bên thắng cuộc” không thể là một cuốn sách lịch sử theo lối hàn lâm. Mặc dù vậy nó vẫn có thể dùng vào việc tra cứu sự kiện lịch sử xảy ra trong nhiều năm nhất là giai đoạn sau ngày 30 tháng 4. Mức độ chính xác và khả tín của “Bên thắng cuộc” có thể làm người sử dụng nó yên tâm vì nhân chứng hầu hết đều còn sống và họ sẵn sàng chịu trách nhiệm những gì họ cung cấp.

Bắt đầu bằng chương 30 tháng 4, Huy Đức lần luợt mang ra ánh sáng những câu trả lời về trại cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền, rồi vượt biên, nạn kiều cũng như các cuộc chiến tranh khác sau năm 1975. Những góc cạnh Huy Đức đưa ra so với kinh nghiệm của hàng triệu người từng sống và chịu sự dày xéo, sai lầm của chế độ vẫn còn nguyên những yếu tố hấp dẫn bởi anh đào sâu chi tiết từng mảng đời, hoàn cảnh như một tác phẩm văn chương để từ đó người đọc cảm thấy như đọc lại chính mình.

Bên cạnh các vấn đề kinh tế chính trị, Huy Đức khéo léo lồng vào những mối tình có thật, bị chà đạp, ngăn trở do ý thức hệ hay lý lịch khiến “Bên thắng cuộc” trở nên đa dạng và sống động hơn rất nhiều so với loại sách khô khan chỉ viết và bình về các biến cố lịch sử.

Quen biết nhiều quan chức cao cấp của chính phủ qua những lần tác nghiệp cộng với mối xã giao rất rộng khiến Huy Đức có cái nhìn bao quát xã hội và anh mang hơi thở đậm đặc mồ hôi ấy vào tác phẩm khiến những biến cố lớn đều có chất người, chất thời sự báo chí qua từng trang viết của anh.

Tự sát hay Tuẫn tiết?

Huy Đức tập hợp dữ kiện và phân phối chúng một cách thông minh khiến người đọc không có thời gian bỏ cuốn sách xuống để làm việc gì khác. Bên cạnh đó, điểm Huy Đức thuyết phục người đọc nhất là tâm thức nhân bản của anh.

Người ta không lạ gì các bài viết mang tính “lịch sử” lại chỉ kể về những thất bại của đối phương và xem những người lính phía bên kia là kẻ thù, kể cả khi họ đã buông vũ khí để trở về với làng mạc, đồng lúa Việt Nam. Sự quen thuộc ấy không được lập lại trong “Bên thắng cuộc”, Huy Đức nhìn người lính cả hai bên trước nhất là những con người, mọi dị biệt về tính tình hay cách ứng xử đều thuộc về cá nhân để từ đó anh thật sự sống cùng và nghiền ngẫm từng trường hợp xảy ra để viết.

Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết.

Những người chấp nhận kết liễu đời mình như thế chỉ có thể dùng hai chữ “tuẫn tiết” chứ không thể có từ nào hay hơn.

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: “Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó”.

Trong “Bên thắng cuộc” người đọc tại Việt Nam, nhất là những bạn trẻ sẽ phát hiện ra nhiều nhân vật đang sống chung quanh mình đã và đang đi vào lịch sử, mặc dù không chắc hình ảnh của họ là sáng hay tối.

Ông Hồ Ngọc Nhuận là một trong những người như thế.

Những khuôn mặt lịch sử

Huy Đức kề lại cuộc trao đổi giữa dân biểu Hồ Ngọc Nhuận và Đại tướng Dương Văn Minh trước giờ Sài Gòn thất thủ. Câu chuyện có thể do chính ông Nhuận kể lại bởi ông thuộc thành phần thứ ba, vẫn sống và mới đây xuất hiện tại Sài gòn lên tiếng trong việc biểu tình chống Trung Quốc.

Hình ảnh ông Hồ Ngọc Nhuận sống động trên các trang mạng khiến câu chuyện của Huy Đức kể đậm đặc thêm tính thời sự. Nó rất khác với những trang sử cố vẽ lại sự kiện nhưng thiếu người ngồi mẫu. Câu chuyện của Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Đặng Đình Đầu, Huỳnh Bá Thành cùng hàng trăm người khác đã làm cho cuốn sách có lực hút của một hành tinh.
Một nhân vật khác nổi bật lên trong Đảng Cộng sản Việt Nam là Tổng bí thư Lê Duẩn. Huy Đức đã lặn lội không biết bao nhiêu cây số để theo dõi từng bước chân của ông từ Nam ra Bắc cũng như các nước cộng sản anh em. Mỗi một sự kiện, Huy Đức tìm đến một nguồn khả tín để mang ra công luận những gì chưa biết hay chưa trọn vẹn về nhân vật này.

Theo Huy Đức thì Lê Duẩn rất ghét Trung Quốc. Các vụ đi đêm với Mỹ đã khiến ông này nổi giận và trở nên gay gắt thẳng thừng với Chu Ân Lai, trách móc họ Chu đã phản bội Việt Nam. Lê Duẩn cũng là người có đôi tai tình báo thính như tai thợ săn trong đêm tối. Ông từng nói với vợ là Hoa Kỳ hứa với Trung Quốc sẽ không động tĩnh gì nếu Bắc Kinh tấn công Hoàng Sa, khi ấy còn trong sự kiểm soát của chính phủ Sài Gòn.

Vậy mà Lê Duẩn vẫn không thoát nỗi cái bẫy mềm mại của Trung Quốc, đó là những đồng tiền viện trợ đánh Mỹ nhiều đến nỗi sau khi chiến thắng vẫn còn lại 50 triệu Mỹ kim trong két của B29 và 51 triệu Mỹ kim khác của chiến trường B2 và Khu 5 vẫn chưa xài tới.

Nếu câu chuyện của Tổng bí thư Lê Duẩn là thâm cung bí sử thì Công hàm ngoại giao năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký phải thuộc trách nhiệm của nhiều người, trong đó có ông Hồ Chí Minh và Ban Bí thư Trung ương Đảng. Trách nhiệm này không thể quy cho một mình Thủ tướng Đồng khi bên cạnh ông còn quá nhiều người có khả năng lũng đoạn một người hay một nhóm.

Phương án II

Trong chương Nạn kiều, Huy Đức góp phần bạch hóa câu chuyện tổ chức cho Hoa kiều vượt biên để gom vàng của nhà nước. Dẫn lời ông Nguyễn Đăng Trừng, phó Phòng chống phản động bành trướng bá quyền, Phương án II là tên gọi của tổ chức cho Hoa Kiều Vượt biên nhằm đưa “đối tượng ra khỏi điểm nóng”. Đối tượng là người Hoa, điểm nóng là cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc gần kề. Biết bao nhiêu thảm cảnh đã xảy ra trong cái gọi là Phương án II này. Huy Đức ghi lại hoàn cảnh của các nạn nhân Hoa lẫn Việt qua các câu chuyện có thực của người kể.

“Bên thắng cuộc” ghi lại: “Người di tản được đóng vàng để công an mua thuyền hoặc đóng thuyền cho đi mà không sợ bị bắt hay gây khó khăn. Việc thực hiện Phương án II chỉ do ba người là bí thư, chủ tịch và giám đốc công an tỉnh quyết định. Công an được giao làm nhiệm vụ đứng ra thu vàng và tổ chức cho người di tản”.

Gấp cuốn sách lại là một chương khác mở ra trong lòng người đọc: một thời kỳ biến động của đất nước đã khuấy động sự trầm lắng mà nhiều người muốn quên sau hơn bốn muơi năm nhọc nhằn, thao thức cùng dân tộc. Huy Đức đã đốt lên ngọn lửa trong đêm dài để soi rọi những mất mát thực sự của đất nước, con người. Đọc “Bên thắng cuộc” để biết rằng từng có những mảnh đời như thế. Họ bị bạc đãi, bị vùi dập và tâm hồn họ rách rưới tả tơi ngay cả khi được sống và định cư ở nước ngoài.

Trong lời nói đầu, Huy Đức chia sẻ:

“Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Cuốn sách của tôi đơn giản chỉ kể lại những gì đã xảy ra ở Sài Gòn, ở Việt Nam sau ngày 30-4: cải tạo, đánh tư sản, đổi tiền… Cuốn sách của tôi cũng nói về hai cuộc chiến tranh cuối thập niên 1970, một với Khmer Đỏ và một với người Trung Quốc. Cuốn sách của tôi cũng nói về làn sóng vượt biên sau năm 1975, và về sự “đồng khởi” của nông dân, của các tiểu chủ, tiểu thương để dành lấy cái quyền được tự lo lấy cơm ăn áo mặc.

Đây là công trình của một nhà báo mong mỏi đi tìm sự thật.”

Vì khao khát tìm kiếm sự thật nên “Bên thắng cuộc” không thể xuất hiện công khai tại Việt Nam. Thực tế cho thấy nó đang lưu lạc trên khắp thế giới tới nơi nào có người anh em của nó. “Bên thắng cuộc” sẽ mãi mãi đứng ngoài mảnh đất mà nó yêu thương để mỗi đêm thủ thỉ bên tai người đọc những câu chuyện đắng lòng về một đất nuớc liên tục gặp bi kịch trong các cuộc chiến mà căn cước kẻ chiến thắng vẫn rất mù mờ.

Có một điều chắc chắn rằng mặc dù Việt Nam có rất nhiều giải thưởng được cho là cao quý để trao tặng những cuốn sách độc đáo, thế nhưng không giải thuởng nào đủ giá trị để trao cho “Bên thắng cuộc”.

Vì nó quá lớn.

Và chứa đầy máu cũng như nước mắt của toàn dân tộc.

Nguồn: RFA

_____________________________________________

Trich

    “Ở Sài Gòn, 443.360 người ra trình diện, trong đó có hai mươi tám viên tướng, 362 đại tá, 1.806 trung tá, 3.978 thiếu tá, 39.304 sỹ quan cấp uý, 35.564 cảnh sát, 1.932 nhân viên tình báo các loại, 1.469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9.306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4.162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sỹ quan cấp tá.”
—————————————————
“Cũng trong ngày hôm ấy, lệnh học tập cải tạo được thông báo đến các sỹ quan theo đó, “sỹ quan quân đội Nguỵ, cảnh sát, tình báo biệt phái từ thiếu uý đến đại uý” được hướng dẫn: “Phải mang giấy bút, quần áo, mùng màn, các vật dụng cá nhân, lương thực, thực phẩm [bằng tiền hoặc hiện vật] đủ dùng trong mười ngày kể từ ngày đến tập trung”. “Sỹ quan cấp tướng, tá”, được hướng dẫn mang theo “thực phẩm, lương thực đủ dùng trong một tháng”.”
—————————————————
“Không ai biết rằng, từ ngày 18-4-1975, Chỉ thị 218/CT-TW của Ban Bí thư đã quy định: “Đối với sỹ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau này tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sỹ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau này tuỳ theo yêu cầu của ta và tuỳ theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo an ninh quân đội, sỹ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sỹ quan hay sỹ quan đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toàn và quản lý chặt chẽ”51.”
—————————————————
“Việc đưa vào tù hàng trăm nghìn con người đã buông súng hoặc không hề cầm súng, không bằng một bản án của tòa, sau ngày 30-4-1975, và đặc biệt, câu chuyện đưa 1.652 con người trên tàu Việt Nam Thương Tín vào tù được kể lại sau đây, thật khó để nói là may mắn.”
—————————————————
“Tối 10-9-1975, “tin chiến thắng” liên tục được báo về “Đại bản doanh” của Trung ương Cục đóng tại Dinh Độc Lập. Con số bị bắt cho đến khi ấy vẫn tăng lên. Các đoàn đưa ra những con số chi tiết: hàng chục triệu tiền mặt, hàng chục ký vàng, cả “kho” kim cương, hàng vạn mét vải và cả một cơ sở chăn nuôi gồm “7.000 con gà, thu hoạch 4.000 trứng mỗi ngày”120 ở Thủ Đức. Một nhà tư sản đang nằm viện bị yêu cầu kiểm tra xem ốm thật hay cáo bệnh, trong khi đó con trai ông ta bị bắt để buộc phải khai ra nơi cất giấu tiền, vàng. Do tin tức bị lọt ra, một số nhà tư sản đã kịp cao chạy xa bay, có người bị bắt khi đang chuẩn bị trốn.”
“Ông Mai Chí Thọ tuyên bố: “Một tên tư sản Hoa có thể có từ 500 đến 1 ngàn lượng vàng. Qua chiếm lĩnh và khai thác ta mới hỏi sơ chứ chưa lục xét, chưa truy sâu nên có thu được vàng và ngoại tệ, nhưng so với số chúng đã có thì chưa bao nhiêu. Vì vậy, các đoàn cần đi sâu lục soát hơn nữa trong nhà chúng để truy vàng bạc và ngoại tệ. Phải dựa vào quần chúng, người làm công ở mướn phát động họ để phát hiện nơi giấu cất”. Một tuần trước khi Chiến dịch X-2 diễn ra, do vật giá tăng quá cao, chính quyền đã “đánh” một số đối tượng bị quy là lũng đoạn thị trường, nhất là thị trường bột ngọt121.”
—————————————————
“Trước Chiến dịch X-2, chính quyền đã “bắt chín mươi hai tên tư sản mại bản đầu sỏ, đã mời ra làm việc bốn mươi bảy người. Đã có ba bỏ trốn và một tự sát”140. Những gì mà Cách mạng lấy được của “nhà giàu” trên toàn miền Nam được liệt kê: “Về tiền mặt ta thu được 918,4 triệu đồng tiền miền Nam; 134.578 Mỹ Kim [trong đó có 55.370 USD gửi ở ngân hàng]; 61.121 đồng tiền miền Bắc; 1.200 đồng phrăng (tiền Pháp)…; vàng: 7.691 lượng; hạt xoàn: 4.040 hột; kim cương: 40 hột; cẩm thạch: 97 hột; nữ trang: 167 thứ; đồng hồ các loại: 701 cái. Trong các kho tàng ta thu được: 60 nghìn tấn phân; 8.000 tấn hoá chất; 3 triệu mét vải; 229 tấn nhôm; 2.500 tấn sắt vụn; 1.295 cặp vỏ ruột xe; 27.460 bao xi măng; 644 ô tô; 2 cao ốc; 96.604 chai rượu; 13.500 ký trà; 1000 máy cole; 20 tấn bánh qui; 24 tấn bơ; 2.000 kiếng đeo mắt; 457 căn nhà phố; 4 trại gà khoảng 30.000 con và một trại gà giá 800 triệu; 4.150 con heo; 10 con bò, 1.475.000 USD thiết bị tiêu dùng; 19 công ty; 6 kho; 65 xí nghiệp sản xuất; 4 rạp hát; 1 đồn điền cà phê, nho, táo rộng 170 hecta ở Đà Lạt”141.”
—————————————————
“Tại Sài Gòn, 28.787 hộ tư sản bị cải tạo, phần lớn bị “đánh” ngay trong bốn ngày đầu với 6.129 hộ “tư sản thương nghiệp”, 13.923 hộ “trung thương”. Những tháng sau đó có thêm 835 “con phe”, 3.300 “tiểu thương ba ngành hàng”, 4.600 “tiểu thương và trung thương chợ trời” bị truy quét tiếp. Theo ông Huỳnh Bửu Sơn, người trông coi kho vàng của Ngân hàng, trong đợt đánh tư sản này, Cách mạng thu thêm khoảng hơn năm tấn vàng, chưa kể hạt xoàn và các loại đá quý. Có những gia đình tư sản giấu vàng không kỹ, lực lượng cải tạo tìm được, khui ra, vàng chất đầy trên chiếu.”
—————————————————
Cải cách ruộng đất II xảy ra ở miền Nam:
Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Lúc đầu, tôi cũng cứ tưởng cải tạo tư sản sẽ khác với cải cách ruộng đất, một sai lầm mà những người ở miền Nam chúng tôi nhắc nhau phải tránh. Nhưng, tiến hành rồi mới thấy, cách cải tạo tư sản thương nghiệp mà anh Đỗ Mười làm, cũng không khác gì đánh tư sản mại bản nhưng tràn lan hơn. Anh Đỗ Mười làm cải tạo cũng thành thật lắm. Giữa thập niên 1980, khi tôi ra Hà Nội vẫn thấy anh Đỗ Mười kêu những người buôn bán là bọn con buôn”.  (danluan.org)

Trần Hoàng sưu tập và ghi chú ...

DMC Building  Tòa nhà có tên là ĐMC (Đỗ Mười Center) ở Hà Nội, nằm cạnh bờ sông, do con rễ của Đỗ Mười đứng tên giùm.  (Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn, Văn Tiến Dũng,… đã chiếm các nhà biệt thự đẹp nhất ở Hà Nội vào năm 1954. Các biệt thự này của tư nhân hoặc công thự).

Đỗ Mười  đã từng làm trưởng ban đánh tư sản khi “tiếp thu” Hà Nội năm 1954, nên khi chiếm được miền Nam, Đỗ Mười được đảng giao nhiệm vụ đánh tư sản vì ông này là người có kinh nghiệm.

 

DMC building

“Tọa lạc trên phố Kim Mã, tuyến phố thương mại lớn quận Ba Đình- trung tâm mới của thủ đô, DMC lake view building đứng duyên dáng soi mình bên công viên hồ Thủy Lệ và hồ Ngọc Khánh. Cách sân bay quốc tế Nội Bài 25 phút đi xe; 15 phút đến Hồ Gươm, quảng trường Ba Đình và sát kề chỉ với 3-5 phút đi bộ tới khách sạn Daewoo, trường học quốc tế, các đại sứ quán, DMC lake view building được đánh giá là nơi  “địa lợi” xét về cả yếu tố kinh tế, thương mại, chính trị lẫn yếu tố về phong thủy học.

Đến với tòa nhà tráng lệ 18 tầng DMC Lake View building, quý khách không những được hưởng không gian sống, không gian làm việc lý tưởng mà còn được hưởng dịch vụ hoàn hảo tiêu chuẩn quốc tế của một tòa nhà sang trọng nhất : khu văn phòng hiện đại và khu căn hộ cao cấp.

DMC Lake View building có 48 căn hộ các loại, bố trí bắt đầu từ tầng 9 đến tầng 16 mang lại nhiều sự lựa chọn cho một không gian sống hiện đại : từ căn hộ 1 phòng ngủ ( 66 m2); căn hộ 2 phòng ngủ (99-120 m2); căn hộ 3 phòng ngủ ( 134-240 m2) . Đứng duyên dáng bên công viên hồ Thủy Lệ và hồ Ngọc Khánh, tất cả các căn hộ của DMC Lake View building đếu có tầm nhìn ra hồ công viên và hưởng luồng sinh khí trong lành.

Khu văn phòng hiện đại với tổng diện tích 6200 m2 phân bổ trên năm tầng ( từ tầng 1 đến tầng 8) được trang hoàng với kiến trúc tinh tế tới từng chi tiết đi đôi cùng hạ tầng viễn thông hiện đại đảm bảo cho sự vận hành linh hoạt, hiệu quả và cơ hội tiếp cận toàn cầu cho các doanh nghiệp.

Sảnh tiếp đón và hành lang riêng biệt giữa khối căn hộ và khối văn phòng với hệ thống bảo vệ 24/24, đảm bảo  sự an toàn tối đa cho công việc và cuộc sống của quý khách. Hệ thống viễn thông, internet băng thông rộng, truyền hình cáp hoặc vệ tinh đảm bảo sự tiện dụng, sang trọng.

 

Hệ thống điều hòa Hệ thống điều hòa trung tâm sử dụng công nghệ biến tần (VRV) tối tân được thiết kế chi tiết tới từng văn phòng, căn hộ phù hợp với mật độ 8m2/người, được tính toán kỹ lưỡng tới khả năng làm lạnh và tính kinh tế sao cho tối đa hóa hiệu quả, tối thiểu hóa chi phí sử dụng điện.

Hệ thống thang máy 3 thang máy tốc độ cao 2m/s bao gồm 02 tháng máy Mitsubishi 800 kg với sức chứa 15 -20 người (cửa đôi) và 01 thang máy 1050 kg (có thể trở được băng ca) đáp ứng nhu cầu di chuyển nhanh và thuận tiện nhất cho cư dân.

Kỹ thuật

- Hệ thống cửa nhựa cao cấp 2 lớp kính Eurowindow có khả
năng  cách âm tuyệt đối.
- Hệ thống tường, trần chịu lửa đi đôi với hệ thống PCCC tối tân; lớp vật liệu cách âm, cách nhiệt  đảm bảo không gian làm việc và không gian sống hoàn toàn độc lập, yên tĩnh.
-Toàn bộ thiết bị vệ sinh được lắp đặt bằng với sản phẩm American Standard đem lại sự sang trọng và tiện dụng từ những nhu cầu nhỏ nhất.

Hệ thống điện

- Điện được cung cấp từ lưới điện quốc gia. Trạm biến áp công suất 1600 KVA.
- Điện dự phòng:

Trong trường hợp bị mất điện lưới quốc gia, hệ thống điện dự phòng (2 máy phát điện dự phòng công suất 1500 KVA) sẽ hoạt động ngay lập tức, đảm bảo hệ thống an ninh và các tiện ích thiết yếu không bị ảnh hưởng.

Hệ thống nước

Sử dụng hệ thống cấp, thoát nước của thành phố. Toà nhà luôn đảm bảo việc sử dụng nước được đầy đủ thông qua hệ thống bể nước ngầm 150 m3 và bể nước trên mái 100m3

Hệ thống bảo vệ

- Làm việc tại toà nhà, khách hàng sẽ hoàn toàn yên tâm bởi dịch vụ an ninh bảo vê 24/24. Bên cạnh đội ngũ nhân viên nghiệp vụ cao và nhiệt tình được quản lý bởi công ty bảo vệ chuyên nghiệp, toà nhà còn được tăng thêm khả năng an toàn bởi các thiết bị camera quan sát được lắp đặt tại mỗi hành lang, sảnh, thang máy …trên các tầng.
- Các thiết bị báo cháy, báo khói và chữa cháy được lắp đặt chi tiết tới từng văn phòng.

Bãi đậu xe

Bãi đậu xe rộng  có sức chứa 60 xe ôtô và 800 xe máy sẽ tạo sức hút đáng kể về dịch vụ hỗ trợ cao cấp cho các khách hàng, cư dân và nhân viên công sở tại tòa nhà

Hệ thống dịch vụ

Ngoài hệ thống dịch vụ tiêu chuẩn như: dịch vụ quản lý toà nhà được cung cấp bởi công ty quản lý chuyên nghiệp, bảo vệ, lễ tân … toà nhà còn cung cấp các dịch vụ gia tăng với chi phí hợp lý như sau:

- Fax/photocopying
- Dịch vụ đổi vé máy bay/tầu hoả/xe bus( nếu có yêu cầu)
- Dịch vụ đổi tiền
- Dịch vụ thư ký
- Dịch vụ thuê xe
- Dịch vụ phiên dịch
- Dịch vụ cung cấp tạp chí, báo
- Dịch vụ bưu điện
- Dịch vụ internet tốc độ cao

Đặc biệt đối với khách hàng thuê căn hộ cao cấp với thời hạn trên 12 thang thì sẽ được tặng

- Thể dục thẩm mỹ
- Tắm xông hơi
- Mát xa truyền thống
- Chơi quần vợt

**********

Công Ty Cổ Phần Bất Động Sản Quý Hạnh

Địa chỉ: 165 Bà Triệu – Hai Bà Trưng – Hà Nội

Điện thoại: 043.974.7165 – Fax: 043.974.7163

Email: info@quyhanh.vn

http://www.quyhanh.vn/du-an/cao-oc-van-phong/318-dmc-lake-view-building

—————————————————-

“Trong cuốn BTC , khúc đầu ( không rõ là trang mấy vì đọc trên Kindle không có số trang ) có kể về 1 vị Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lôi Hổ phụ trách phòng thủ Bộ Tổng tham mưu , điên, thoại cho Dương Văn Minh hỏi về lời kêu gọi buông súng đầu hàng . Tác giả không nêu tên nhưng đó là Thiếu tá Phạm Châu Tài.”

Bộ Tổng Tham Mưu QL.VNCH, những giờ cuối cùng

Trong khi các đơn vị VNCH đang nỗ lực đẩy lùi Cộng quân ra khỏi Bộ Tổng Tham mưu, thì vào 10 giờ 15 phút (theo ghi nhận của cựu đại tá Phạm Bá Hoa, nguyên Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp Vận, có mặt tại Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô sáng 30/4/1975 và nghe đài Sài Gòn vào giờ phút đó), Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngưng chiến. Trước đó vài phút, chiến đoàn Biệt Cách Nhảy Dù đang tung các đợt phản công để đánh bật địch quanh vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.

Khi nhận được lệnh ngưng bắn, Thiếu tá Phạm Châu Tài, chiến đoàn trưởng Biệt Cách Nhảy Dù đã lấy xe jeep vào Bộ Tổng Tham Mưu, ông được anh em binh sĩ gác cổng cho biết là Trung tướng Vĩnh Lộc, Tân Tổng Tham mưu trưởng, đã ra đi lúc 6 giờ sáng, tất cả tướng lãnh và các đại tá đã họp với Thiếu tá Tài về kế hoạch phòng thủ Tổng hành dinh Bộ Tổng Tham mưu trong đêm 29/4/1975, cũng không còn ai.

Trước tình hình đó, Thiếu tá Tài đã bốc điện thoại quay số gọi về văn phòng Tổng Tổng phủ, gặp Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh ở đầu giây. Ông Hạnh hỏi Thiếu tá Tài là ai? Vị chiến đoàn trưởng đã trả lời:
- “Tôi là chiến đoàn trưởng Biệt cách Nhảy Dù đang trách nhiệm bảo vệ bộ Tổng tham mưu, tôi xin được gặp Tổng thống”.

Vài giây sau, thiếu tá Tài nghe tiến ông Dương Văn Minh nói ở đầu máy:
- “Đại tướng Dương Văn Minh nghe đây, có chuyện gì đó?”

Thiếu tá Tài trình bày:
- “Tôi đang chỉ huy cánh quân tử chiến với Cộng quân ở Bộ Tổng Tham mưu thì có lệnh ngưng bắn, nhưng Cộng quân vẫn tiến vào, tôi đã liên lạc với bộ Tổng Tham mưu nhưng không có ai, nên muốn nói chuyện với Tổng thống là Tổng Tư lệnh Tối cao của Quân đội để xin quyết định.

Tướng Minh trả lời:
- “Các em chuẩn bị bàn giao đi!”,

Thiếu tá Tài ngạc nhiên hỏi lại:
- “Bàn giao là như thế nào thưa đại tướng, có phải là đầu hàng không?”

Tướng Minh đáp:
- “Đúng vậy, ngay bây giờ xe tăng Việt Cộng đang tiến vào Dinh Độc Lập”.

Nghe Tướng Minh cho biết như vậy, Thiếu tá Tài nói ngay:
- “Nếu xe tăng Việt Cộng tiến vào dinh Độc Lập, chúng tôi sẽ đến cứu Tổng thống”.

Tướng Minh suy nghĩ, Thiếu tá Tài nói tiếp:
- “Tổng thống phải chịu trách nhiệm trước 2 ngàn cảm tử quân đang tử chiến với Cộng quân ở Bộ Tổng Tham mưu.”

Tướng Minh trả lời:
- “Tùy các anh em”.

Theo lời Thiếu tài Tài, sau này, khi bị CQ giam trong trại tù, ông đã gặp Trung tá Võ Ngọc Lan, Liên đoàn trưởng Liên đoàn phòng vệ Tổng thống phủ. Trung tá Lan nói với Thiếu tá Tài:
- Lúc đó, moa đứng cạnh Tướng Minh, moa nghe toa nói vào cứu Tổng thống.

Thiếu tá Tài giải thích:
- Tổng thống là vị lãnh đạo tối cao của Quân lực, phải cứu ông ra để có người chỉ huy quân đội.

VƯƠNG HỒNG ANH

http://ongvove.wordpress.com/2010/04…ung/#more-3243

Trich

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=22200&page=2

————————————————————-

Lê Kiên Thành – Lê Duẫn -

http://nhavantphcm.com.vn/hoat-dong-hoi/tu-lieu-van-hoc/ts-le-kien-thanh-tran-tro-van-menh-dan-toc.html

Lê Kiên Thành nói về bố Lê Duẫn như một người chí công vô tư, không bòn rút tài sản tiền bạc và hưởng các chế độ của các lãnh tụ đảng…(nhưng Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn, Văn Tiến Dũng,… đã chiếm các nhà biệt thự đẹp nhất ở Hà Nội vào năm 1954. Các biệt thự này của tư nhân hoặc công thự hồi trước khi cộng sản chiếm được miền Bắc 1954 bằng các thủ đoạn của Trung Cộng trong Hiệp định Geneve 1954.). 

Hồi ký Làm Người Là Khó của nguyên Phó Thủ Tướng Đoàn Duy Thành cho biết: các lãnh đạo đảng CSVN được cấp phát các tiêu chuẩn lương thực cao  hơn dân thường, trong nhà có truyền hình để xem…

Lê Kiên Trung, em ruột của LKT, hiện nay là giám đốc Hải Quan Tp. HCM

———————————————-

TÁC GIẢ SÁCH ” BÊN THẮNG -CUỘC ” XIN LỖI MŨ XANH LÊ-QUANG-LIỄN

Thưa tác giả Huy Đức,

Được nghe,đọc nhiều quảng cáo trên internet về tác phẩm Bên Thắng Cuộc của ông . Cho nên tôi cũng tò mò tìm đọc cho biết.

Trong ChươngII,tiểu mục Ngụy Quân trang 52,tình cờ tôi đọc những điều người vợ cũ của tôi (theo sách là gia đình “Cách mạng”) và được Phan Xuân Huy phỏng vấn(?), viết về chuyến đi thăm tôi ở trại tù tháng 9 năm 1975 và được đăng tải trên báo Tia Sáng năm 1975.Tôi rất ngạc nhiên và ghê tởm,sau gần 40 năm mới hay, về những điều mà nhà báo PXHuy đã viết ra và gán ghép cho kẻ vắng mặt vì những lý lẽ sau đây:

***trại tù như một trại Hè

***ca tụng về cuộc sống lành mạnh ở Trại tù

***..” đã bị tên tướng ngụy Bùi Thế Lân bỏ kẹt tại cửa Thuận An và đã cùng toàn bộ binh lính trong Tiểu đoàn 7 đầu hàng quân đội giải phóng…”

Thật ra toàn bộ anh em TQLC đã bị bắt,nếu anh em chúng tôi ra hàng thì đã được hưởng qui chế đãi ngộ hàng binh như Phạm Văn Đính và một số đồng bọn thuộc Trung Đoàn 56 .Vả lại, đơn vị chúng tôi lúc đó thuộc quyền của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương Quân Đoàn I.Ở đây ,vị Tư lịnhTQLC không có trách nhiệm nào hết.Người chịu trách nhiệm là Trung Tướng Lâm Quang Thi mới đúng nghĩa hơn.Khi viết toàn bộ ra hàng làđiều cố tình hạ nhụcanh em chúng tôi khi thất thế!!

Nếu ông Huy Đức biết rõ thêm về tôi là người tù cuối cùng của Lữ Đoàn 147 TQLC ra khỏi trại tù ngày 12 tháng 2 năm 1988 sau gần 13 năm tù ngục với 4 năm 7 tháng 24 ngày bị “kiên giam” còng tay,chân,bị đánh gảy xương sườn vì những chống đối tập thể trong Trại tù Bình Điền ,Thừa Thiên.Thì phần trích dẫn từ bài viếtcủa tên nhà báo PXHuy là thiếu trách nhiệm.

Tôi biết PXHuy là thành phần đối lập cơ hội với chế độ VNCH trước năm 1975 mà tôi tận trung phục vụ.Có lẽ trong những ngày tháng đầu sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,Phan Xuân Huy-cũng như một số người nhẹ dạ – vì muốn tìm chỗ đứng an toàn trong lòng chế độ mới bằng những bài viết,những câu nói ,với những nhận thức “sâu sắc của mình” về cái hay ,cái đẹp của chế độ XHCN.

Một nhà báo chân chính phải viết cho sự thật,vì lương tâm thì đừng bao giờ gán ,chụp cho những người vắng mặt những gì vì lợi ích cho bản thân,phe nhóm. Tôi gửi đến tác giả Huy Đức những nhận xét của tôi về phần trích dẫn trong sách và mong được hoàn chỉnh sự chính xác cũng như trách nhiệm của người viết.

Trân trọng,

Lê Quang Liễn

——————————————-

Thieu Ta Le Quang Lien phan doi sach “Ben Thang Cuoc “

From: Tien Pham <traudienk20@yahoo.com>

Kính thưa quý diễn đàn.

Gần đây dư luận xôn xao về một quyển sách của tác giả Huy Đức, người từ chế độ cộng sản viết về tài liệu lịch sử của cuộc chiến vừa qua. Qua quyển sách có tên là ” Bên thắng cuộc”, nhìn toàn diện tác giả dường như muốn diễn đạt và dẫn chứng những điều thật sự xảy ra sau cuộc chiến, nhưng sự thật đó lại là những điều không thật. Kẻ bại trận bị đi tù nhưng với mỹ từ là học tập cải tạo. Những đoạn high light màu đỏ dưới đây để chúng ta có thể nhận định được giá trị của quyển sách nầy. Những dẫn chứng bịa đặt mặc dầu với những tên khác nhau, nhưng tác giả Huy Đức phải hoàn toàn trách nhiệm những điều không có thật trong quyển sách của mình. Phan Xuân Huy cựu dân biểu phản chiến QLVNCH, cùng các tên Ngô công Đức chủ báo Tin Sáng, đã tiếp tay cho cộng sản để làm suy yếu chế độ miền Nam.

Trường hợp cá nhân Lê quang Liễn là một điển hình. Là bạn cùng khóa, cùng trường, cùng chiến đấu và cùng ở tù chung trại tù Ái Tử, Bình Điền. Bạn Liễn không bao giờ nói lên câu nói như trong bài viết dù là với vợ con mình.

Chúng tôi, những đơn vị chiến đấu cuối cùng trong cuộc lui binh từ bỏ vùng địa đầu giới tuyến từ lệnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cả Lữ đoàn 147TQLC của chúng tôi đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Lâm Quang Thi Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1. Chúng tôi đã chiến đấu trong tình trạng bị cô thế, chúng tôi bị bắt làm tù binh vào ngày 27-3-1975.

Chúng tôi không đầu hàng như trong đoạn dẫn chứng của tác giả Huy Đức. Sư đoàn TQLC chúng tôi, cũng như bất cứ ai ở cùng trại tù với Lê Quang Liễn đều cảm mến và kính phục tinh thần chiến đấu cao độ và bất khuất của anh trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Vào những ngày cuối tháng Ba gãy súng, Liễn đã đích thân đưa xác người em ruột mình lên chuyến tàu đầu tiên và cũng là cuối cùng, duy nhất cùng với BCH Lữ Đoàn vào Đà Nẳng. Sau đó đã quay lại cùng chiến đấu thề sống chết với đơn vị mình.

Thiếu Tá Lê Quang Liễn TDP/ TD7 không bao giờ bỏ cuộc, thề sống chết với đơn vị mình. Chuyện bại trận của chúng tôi, không phải là trách nhiệm của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân mà là của Trung Tướng Lâm Quang Thi vị Tư Lệnh Tiền Phương , người chỉ huy chúng tôi

Liễn không bao giờ ca tụng chế độ cộng sản, như trong dẫn chứng những điều bịa đặt làm tổn thương đến danh dự của người lính QLVNCH. Liễn ra tù sau cùng trong số sĩ quan của Lữ Đoàn 147 bị bắt tại bãi biển Thuận An vào ngày 12-2-1988 . Trong giấy ra trại chỉ để là cải tạo trung bình, không giống bất cứ giấy ra trại nào của mọi người khác. Rất anh hùng trong chiến đấu, bất khuất trong trại tù,sống chết với thuộc cấp trong những giờ phút hiểm nguy nhất của cuộc chiến.

Một cuốn sách có giá trị lịch sử, phải là một cuốn sách được viết bởi những người không thuộc phe phía nào. Những dẫn chứng vu vơ hoặc của vài tên hèn hạ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản” như Phan Xuân Huy hay vài người nào đó đã phát biểu trong hoàn cảnh chẳng ai dám nói những gì khác hơn, ngoài những giáo điều cộng sản đều hoàn toàn không giá trị.

Xin tất cả chúng ta, những nhân chứng còn sống lại trong thế hệ hôm nay, không chấp nhận những điều sai sự thật dù bất cứ hình thức nào.

Qua quyển sách “Bên thắng cuộc” của tác giả Huy Đức là những viên thuốc đắng có bọc đường. Người đọc sẽ cảm nhận những tuyên truyền cho một chế độ gian ác, bên cạnh những quả bóng mù mờ, hư hư thực thực dễ dẫn dắt những người non nớt cả tin đi vào những điều không thật để rồi quên đi một quá khứ gian ác, đày đọa Quân, Dân, Cán, Chính QLVNCH qua mỹ từ “Học tập cải tạo”.

Ai thắng ai trong cuộc chiến vừa qua. Nay sự thật lịch sử đã được minh chứng rõ ràng!!

Hãy cẩn thận khi đọc quyển sách ” Bên Thắng Cuộc” của tác giả Huy Đức.

MX Phạm văn Tiền

ĐĐ F Khóa 20 Đà Lạt

( Nguyễn Đắc Song Phương )

————————————————-

Tôi cũng là một tù binh bị bắt tại Thuận An ,Huế ngày 25/03/1975 ,các anh Th/tá Lê quang Liễn cũng như Th/tá MX Phạm văn Tiền là những đàn anh rất hào hùng ,và tư cách ,vẫn giữ được sự kính trọng trong lòng của những anh em trong trại tù Lao Bảo ,Cồn Tiên ,Ái Tử ,Bình Điền.

Thật sự là chúng tôi đã bị bắt làm tù binh tại bãi biển Thuận An Huế ,chớ không phải là hàng binh như tác giả Huy Đức gán ghép ,chính nhà văn Cao xuân Huy trong tác phẩm ” Tháng ba gãy súng ” ,cũng có vài nhận xét phiến diện ,không đúng hoàn cảnh thực tế.

Cuộc lui binh nghiệt ngã tháng ba 75 đã đưa đến thãm cảnh thất trận của chúng tôi ,khi bị nhốt tù trên trại tù Lao Bảo-Tà Cơn ,đám cán bộ VC có phân loại rỏ ràng đại đa số anh em chúng tôi là TÙ BINH ,chỉ có 9 người là HÀNG BINH.!!! ,và khi trại di chuyễn về Cồn Tiên tháng 09/75 thì số này được thả về.

Như vậy đã rỏ ràng chứng minh anh L.Q.Liễn cũng như anh em chúng tôi bị bắt tù binh ,chính bản thân tôi khi phân loại cũng nói là : bắt được tôi thì bắt chớ tôi không có hàng ai hết. Kết quả là 6 năm tù !!! Cũng xin nói thêm là tôi thuộc Quân y Sư đoàn 1 Bộ binh chớ không phải TQLC

Hồ minh Đức

————————————-

From: Lien Le lienql@yahoo.com

Sent: Wednesday, December 19, 2012 7:25 PM

Subject: [diendanmuxanh] Tác giả Huy Đức xin lỗi

Kính gửi các NT, các bạn,

Sau khi gửi thư phản đối cho Huy Đức tác giả “Bên Thắng Cuộc” về những ngụy tạo có liên quan đến tôi. Do phần trích từ bài viết về Phan Xuân Huy, con rể của Dương Văn Minh, (cựu dân biểu PX Huy là thành phần đối lập VNCH thuộc Ấn Quang) được đăng tải trên báo Tin Sáng gần 40 năm trước về “ngụy quân”.
Nay tôi đọc được phần xin lỗi của tác giả Huy Đức gửi cho tôi trên facebook.

Lê Quang Liễn

————————————

https://www.facebook.com/BenThangCuocBook

http://www.facebook.com/Osinhuyduc?ref=ts&fref=ts

Osin HuyDuc

Wednesday

Ước chi tôi có thể gặp được ông Lê Quang Liễn trước khi viết cuốn sách này. Như tôi đã nói trong cuốn sách, phần lớn những bài báo viết về tù cải tạo hồi tháng 9-1975 đều là sản phẩm tuyên truyền. Việc Bên Thắng Cuộc trích đăng những bài viết mà báo chí lúc đó viết về quân đội Việt Nam Cộng hoà là để cho thấy họ không chỉ bị giam cầm mà còn bị tra tấn bởi cả công luận. Ông Lê Quang Liễn đúng là hiểu lầm, nhưng nhờ thế tôi mới có thể tìm thấy nhân vật của mình. Xin lỗi và xin cám ơn ông. Hy vọng việc xuất bản sách sẽ giúp tác giả gặp them những nhân chứng như ông Liễn để phỏng vấn thêm và để bổ sung tư liệu cho lần xuất bản tới.

—————

Osin HuyDuc Thực ra thì những thông tin mới này không làm thay đổi sự thật mà tôi nói: có một chiến dịch báo chí tuyên truyền tốt cho các trại cải tạo trong khi thực tế không như vậy. Nhưng chi tiết ông Liễn nói rất thú vị. Có lẽ người vợ chỉ vì muốn chồng được ra sớm đã nói những điều chính quyền cần chứ không phải nói sự thật.
—————
Nguyễn Lân Thắng

Mình vẫn chưa có sách Bên Thắng Cuộc và cũng không vội vã bấm vào những link có chứa bản copy đã bẻ khóa… vì biết rằng cuốn sách này chỉ cụ thể hóa những điều mình đã biết về bên thắng cuộc…

Chẳng cần Bên Thắng Cuộc người ta cũng có thể tìm hiểu sự thật về cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn… Nhưng phải nói rằng Bên Thắng Cuộc đã đập vỡ tan những ảo tưởng ngạo mạn cuối cùng của những “người chiến thắng”…

—————————–

Tác phẩm đã xuất bản

Những Người Thua Trận

Tác giả: Huy Phương

Kính thưa Các Bạn,

Câu chuyện do Huy Đức viết về ngày 30/4/75 tại Dinh Dộc Lập Saigon trong “Bên Thắng Cuộc” quá đơn giản, quá lịch sự cho những người thắng trận vào dinh Độc Lập.

Đây mới là sự thật do những nhân chứng có mặt hôm đó trong dinh trình bày, viết thành bản văn, (Đại tá Dương Hiếu Nghĩa, Cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Binh ) tỏ những người lính “tiếp thu” rất hung hản, mọi rợ, thiếu giáo dục, kể cả một ôngTrung Tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ Đoàn Xe Tăng 203.

Tác giả Huy Đức có biết chuyện này không, hay chỉ viết theo văn bản tường thuật của báo chí Hà Nội. Xin quý Vị bình tâm đọc kỹ. Nếu cần vào “Hồi Ký Dang Dở” của Dương Hiếu Nghĩa). Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi đọc xong tập I: “Giải Phóng” của ” Bên Thắng Cuộc”

Xin thành thật cám ơn.

Huy Phương

(TRÍCH)

“Trước hết chúng ta nhìn lại cuộc đầu hàng miền Nam ngày 30 tháng 4, 1975 tại Dinh Ðộc Lập, Sài Gòn. Theo David Butler, tác giả cuốn The Fall of Saigon (1984), ghi lại tường thuật của phóng viên Neil Davis, một người Úc biết tiếng Việt làm việc cho đài truyền hình NBC của Mỹ, có mặt trong dinh lúc bấy giờ, thì khi xe tăng đã vào sân cỏ, hai bộ đội trẻ là Pham Huy Do và Pham Huy Nghe (ghi tên không có dấu tiếng Việt theo như trong sách), tay ôm súng, chạy vào trong dinh, sau khi kéo cờ Mặt Trận trên nóc, Nghe đi tìm Tổng Thống Dương Văn Minh, vừa chạy vừa quát to: “Ai là Dương Văn Minh? Dương Văn Minh hãy bước ra và quì xuống.” Vừa lúc thì Do dẫn vào bốn chính ủy, một người tự giới thiệu là Trung Tá Bùi Văn Tùng, chỉ huy đoàn chiến xa vào Dinh Ðộc Lập.

Sau này tài liệu của Cộng Sản ghi chép thì Bùi Văn Tùng có nói với Tổng Thống Dương Văn Minh là: “Ông không còn gì để bàn giao…” Nhưng sự thật, theo “Hồi Ký Dang Dở..” của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa ghi lại lời kể của Cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Binh (nguyên Quận trưởng Gò Vấp) có mặt trong Dinh Ðộc Lập vào giờ ấy, thì:

“Thấy vị sĩ quan nầy đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội Miền Bắc, nên ông Minh tưởng rằng mình đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp:
“Thưa quan sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông.”

Sĩ quan nầy dùng danh từ “mầy tao” xẵng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
“Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có ‘quyền’ nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!”

Cũng với thái độ ấy, y nói với ông Nguyễn Văn Hảo, khi ông này ngỏ ý muốn trao “món quà” 16 tấn vàng cho Bắc Việt:
“Ðó không phải là quà mà là chiến lợi phẩm của chúng tao, tao phải tịch thu, mầy hãy trao ngay cho tao đi!”

Ðọc đến đây, thấy vừa buồn vừa nhục!

Ngày nay chúng ta đã rõ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa và thân phận của người lính miền Nam đã bị đối xử như thế nào. Về người chết thì ngay khi Cộng Sản vào Saigon, ngày 3 tháng 5, Nghĩa Trang Quân Ðội Hạnh Thông Tây, Gò Vấp đã bị bọn Cộng Sản Bắc Việt dùng xe ủi đất san bằng hết ngay chiều ngày hôm đó. Về người sống thua trận, thì cũng trong “Hồi Ký Dang Dở,” Ông Dương Hiếu Nghĩa cho biết: “Ngay tại tỉnh Vĩnh Long, các ông cai tổng Nguyễn Văn Dần, Nguyễn Văn Xôm, Nguyễn văn Thêm đều bị họ kết án là ‘có tội với nhân dân’ mà không thông qua một tòa án nào, và bị hành quyết ngay khi bị bắt, bằng vũ khí thô sơ như búa, mã tấu… Riêng ngôi mộ của Trung Úy Dù Nguyễn Văn Ngọc ở xã Long Hồ, dù đã chết từ hơn một năm trước, vẫn bị họ đào mả lên, đưa cả quan tài ra giữa chợ Ngã Tư Long Hồ để cho phá nát bằng cốt mìn.”

Ở Củ Chi, Hậu Nghĩa, chỉ trong ngày 30 tháng 4-1975, sau ngày Việt Cộng vào, để trả thù chúng bắt anh Nguyễn Văn Chấp, Cảnh sát Đặc biệt xã Phước Hiệp, đánh bằng cây tầm vong, xong nấu nước sôi dội từ trên đầu xuống cho đến chết. Vợ con xin xác đem về chôn nhưng không được. Đại úy Trần Thắng Toàn, Phân Chi khu Trung Lập, sau khi bị bắt, bị nhổ sống hết hàm râu, tùng xẻo từng miếng thịt và cuối cùng bị bắn chết. Anh Tạ Văn Phúc, quân nhân biệt phái cảnh sát tại Xã Tân An Hội, bị những kẻ thắng trận bắt tự đào hố chôn mình, sau đó chúng chặt anh ra làm ba khúc và lùa xuống hố.

Vài ngày sau khi ông Dương Văn Minh đầu hàng, một toán 81 Biệt Cách Dù ra đầu hàng tại Long Thành, bị bắn và chôn dưới một cái giếng cạn. Nhân chứng còn sống nhưng không dám lên tiếng.

Ở đây chúng ta không nói đến nguyên nhân của chiến tranh Việt Nam và cuộc nội chiến tại Mỹ, cũng không thể so sánh nếp sống và tư cách của tướng lãnh Mỹ với tác phong “rừng rú” của “bộ đội cụ Hồ” trong hai câu chuyện kể trên. Chỉ xin mượn lời nhà văn Dương Thu Hương để kết luận cho bài này:
“…Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ!”
Ðọc lịch sử, nhiều khi muốn khóc.

(Trích Những Người Thua Trận, tạp ghi của Huy Phương
đã xuất bản. )

Hồi Ký Dang Dở” của Dương Hiếu NghĩaOngvove.wordpress.com

———————–

Người VN có nhiều từ rất hay: thơ nô, văn nô, bút nô, ca nô,…để chỉ những người dùng biệt tài của mình bênh vực đảng CSVN để được vinh thân phì da, hưởng chút lợi lộc, tiền bạc, chức vụ…họ bất chấp tất cả chỉ cam tâm phục vụ để đổi lấy chữ nô. Thơ nô có Tố Hữu, văn nô có rất nhiều, nhà báo biến thành nô bộc thì gọi là báo nô, hay bút nô. 

Góp ý với nhà báo Nguyễn Đức Hiển

Trương Đình Trung

2-1-2013

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi

Theo tôi, quyển Bên Thắng Cuộc (BTC) không phải là môt quyển sách lịch sử. Huy Đức đã không có chủ ý tự biến mình thành một sử gia. Quyển sách, tuy nói về một giai đoạn lịch sử, được viết theo phong cách một phóng sự trường thiên của một nhà báo. Tác giả đã viết với tư cách đó về một giai đoạn lịch sử, nhưng theo góc độ nhận định của bản thân, không chịu gò bó trong lối nhìn chính thức của chế độ hiện thời.

Tôi không đồng ý với một số điểm của Nguyễn Đức Hiển nêu ra trong bài báo trên Pháp Luật TP Hồ Chí Minh:

 “Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử”.

1. Nỗ lực chống Pháp không chỉ là của riêng của đảng CSVN, mà là của chung của mọi người Việt Nam thuộc nhiều khuynh hướng chính trị. Trong cuộc đấu tranh ấy, đảng CSVN đã luôn cố giành độc quyền lãnh đạo, tìm cách thủ tiêu, loại trừ những chính đảng khác, những chính khách khác, không cùng chính kiến với mình. Vì lý do đó, những chính đảng và những người Việt Nam không chấp nhận chủ trương CS đã phải tìm cách củng cố một Miền Nam riêng cho những người-Việt-Nam-không-CS. Chính điều này, đến lượt nó, nêu rõ sự khác biệt giữa hai cuộc chiến tranh: Cuộc Kháng Chiến chống Pháp từ 1946-1954, và Cuộc Nội Chiến Nam-Bắc từ 1960-1975. Khi cố gắng xoá mờ sự khác biệt giữa hai cuộc chiến đó, Hiển đã chỉ lặp lại luận điệu xuyên tạc lịch sử đã có từ lâu của đảng CSVN mà thôi; luận điệu đó cố tình đồng nhất giữa đảng CSVN và toàn dân tộc VN, phủ nhận một sự thật lịch sử là đã từ lâu có hàng triệu triệu người VN, khi đã biết rõ bản chất của CS, đã không chấp nhận chủ nghĩa ấy và muốn xây dựng VN theo chế độ nhân bản và dân tộc hơn. Và sự sụp đổ của hệ thống các nước CS từ năm 1991 cho đến nay chứng tỏ hùng hồn rằng những người VN không CS, tức những người quốc gia, đã có lựa chọn đúng đắn về chế độ chính trị. Việc “Đổi Mới” và thực chất của nền kinh tế Việt Nam hiện nay lại càng là bằng chứng khác, hùng hồn hơn, về sự lưạ chọn đúng đắn đó.

2. Đề cập đến vấn đề tù cải tạo trong sách BTC, Nguyễn Đức Hiển đem sự ngược đãi của nhà tù VNCH đối với các tù chính trị VC ra bào chữa cho chính sách tập trung “cải tạo” vô nhân đạo của nhà cầm quyền CS,sau 1975. Làm như vậy, Hiển đã phạm hai sai lầm:

- Lấy cớ người kia làm điều xấu, rôi mình làm xấu theo là nguỵ biện. Cứ cho rằng chế độ tù của VNCH đối với VC là độc ác và tàn bạo đi. Nhưng không lẽ điều đó đủ biện minh cho sự hành xử vô nhân đạo của nhà cầm quyền CS, sau 1975, đối với sĩ quan và viên chức Miền Nam?

- Nhà tù của VNCH đối với các cán bộ VC nằm trong bối cảnh khi cuộc chiến đang diễn ra, hai bên đang đánh nhau chí tử. Trong lúc đó, các trại “cải tạo” của nhà cầm quyền CS đối với sĩ quan MN nằm trong khung cảnh khi chiến tranh đã kết thúc, quân đội miền Nam đã đầu hàng hoàn toàn, không còn kháng cự nữa. Như vậy việc đem hai điều đó ra so sánh là sai, không những về lý luận mà cả về đạo đức.

Đã gần 40 năm qua rồi kể từ khi kết thúc chiến tranh, người VN ở khắp nơi nên nỗ lực thoát ra khỏi các định kiến, tạo ra do sự tuyên truyền xuyên tạc, thành tâm nhìn vào những sai lầm đã qua, nỗ lực đến với nhau trong tinh thần hoà giải, đoàn kết toàn dân tộc, rủ bỏ những gì ngoại lai đã gây ra vô số tổn hại vật chất-tinh thần cho Đất Nước, đoàn kết nhau lại để đối đầu với hiểm hoạ ngàn đời phương Bắc đang sừng sững trước mắt.

Có thể không đồng ý với Huy Đức, nhưng nên để cho tiếng nói của Huy Đức được cất lên tự do, mà không nên cấm đoán. Nếu muốn những tiếng nói như của Huy Đức không rơi vào phiến diện, không chính xác thì hay nhất là những ai không đồng ý với anh ta, như Nguyễn Đức Hiển chẳng hạn, cũng cần phải tỏ ra khách quan và công minh trong nhận định về lịch sử của mình một cách tương xứng.

————————————————–

Lời bình của Linh Hoang Vũ:

Cái logic trong bài báo của NĐH trên Pháp luật TP HCM hơi bị funny. Ví dụ như sau:

Huy Đức: 1975 là kết thúc 20 năm “huynh đệ tương tàn”.
Đức Hiển: Thiên kiến vậy cha! Cuộc kháng chiến ấy bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước.

Huy Đức: Khi thất trận vào tháng 4/1975 đã có những tướng lĩnh Sài Gòn tuẫn tiết.
Đức Hiển: Thiên kiến quá! Sao không kể chuyện lính Cộng sản hy sinh trong chiến tranh???

Huy Đức: Sau khi thống nhất đất nước, hàng vạn sỹ quan, viên chức của VNCH đã bị lừa đưa đi cải tạo.
Đức Hiển: Ơ kìa, còn chuyện VNCH đối xử tệ hại với tù binh của miền Bắc trong khi chiến tranh thì sao không kể? Thiên kiến vậy sao cha?

Túm lại, mình vẫn chưa rõ ý của Đức Hiển có phải là muốn đề nghị Huy Đức viết 1 cuốn tổng tập lịch sử Việt Nam từ 1858 tới nay, ghi nhận quan điểm và các sự kiện xảy ra của tất cả các bên từ bên thắng cuộc, bên thua cuộc cho tới bên trùm chăn, bên tắt đèn… cho nó thực sự là khách quan, đa chiều?

Nếu tóm gọn lại thì cái thông điệp mà NĐH (tỏ ra) muốn chuyển tải trong bài viết của mình là câu này: “Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa”. Mình đang hình dung ra cảnh anh đang hùng hồn phát biểu câu này với cố GS. Trần Huy Liệu, với GS. Phan Huy Lê, những người viết SGK Lịch sử ở Việt Nam, với thầy giáo dạy Lịch sử cho con trai của anh ở trường, hay với Trưởng ban Tuyên giáo TW. Không biết các vị ấy có cười nửa miệng hay sẽ chột dạ, nghĩ thằng này phản động, định mỉa mai gì đối với lịch sử của “chúng ta”?

Dù sao đi nữa thì mình cũng mơ tới 1 ngày kia, những thứ lịch sử và không chỉ lịch sử mà cả chúng ta lẫn con cái chúng ta đang bị nhồi nhét hàng ngày đến mức phát nôn sẽ không phải là một thứ lịch sử “được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến”. Bên Thắng Cuộc chính là 1 cố gắng để đạt được điều đó, bằng cách đưa ra một góc nhìn khác, kể về những thân phận khác, những người bị vùi dập, bị làm ô nhục, đục tên và xé bỏ các câu chuyện trong SGK Lịch sử chính thống, báo chí chính thống, tác phẩm được xuất bản chính thống. Đó là gì, nếu không phải là một cố gắng làm giảm sự thiên kiến trong ghi chép lịch sử, và quan trọng hơn nữa, là làm giảm sự thiên kiến trong cách nhìn nhận, cách tư duy và sự thấu cảm của con người?

Theo FB

—————————————————–

Nguyễn quang Lập, một nhà văn ở trong nước, đã có nhận xét sau đây về bài báo của Đức Hiển:

http://quechoa.vn/2013/01/02/ve-mot-cai-nhin-thien-kien/#more-30348

Về một cái nhìn thiên kiến

NQL: Mình đã đọc bài của nhà báo Đức Hiển ( tại đây) và thấy rằng thực sự Đức Hiển đã có cái nhìn rất chi là thiên kiến về cuốn Bên thắng cuộc. Chỉ riêng việc Đức Hiển nói đoạn này: “Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, gí điện, bị đánh đến tàn phế… như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam.” … đủ cho thấy hoặc Đức Hiển không phân biệt được thế nào là đối xử với hàng binh sau chiến tranh và thế nào là đấu tranh để khai thác thông tin từ các tù binh trong cuộc chiến; hoặc đó là lối tư duy qui chụp mà Đức Hiển luôn luôn phản đối nhưng chính anh lại không sao thoát ra được. Rất buồn. Đáng lẽ phải viết một bài, nhưng thôi, vì mình biết chính Đức Hiển cũng thừa sức viết lại bài đập lại bài của Đức Hiển và chỉ ra được tính bút nô của bài báo này.

 

Cuốn sách “Bên thắng cuộc” của Huy Đức: Cái nhìn thiên kiến về lịch sử

phapluattp.vn

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

TP.HCM ngày 31-12-2012

(PL)- Chưa bàn đến những chi tiết cụ thể của cuốn sách này, góc tiếp cận của tác giả đã khó vươn tới điều mình muốn: Hiểu đúng về bản chất của cuộc chiến tranh.

Bên thắng cuộc là cuốn sách gồm hai tập của Huy Đức. Phần I với tựa đề Giải phóng đã phát hành trên mạng Internet từ trung tuần tháng 12-2012. Nội dung xoay quanh những diễn biến tại Việt Nam từ sau ngày thống nhất 30-4-1975. Lời đầu sách, tác giả viết “không ai có thể bước tới tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ. Nhất là một quá khứ chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm”.

Ngày thống nhất

30-4-1975 là ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam. Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc. Ngày chấm dứt hơn 20 năm “da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”.

Ngay những dòng đầu tiên của chương đầu tiên, tác giả đã gói cuộc chiến chống ngoại xâm vỏn vẹn vào 20 năm. Song cuộc kháng chiến ấy thật sự bắt đầu từ hơn một thế kỷ trước đó, khi người lính đầu tiên của quân xâm lược Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam. Từ đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, người Mỹ đã bộc lộ âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ trận Điện Biên Phủ. Cuộc kháng chiến giành độc lập vì vậy đã trải qua thêm một chương bi tráng và khốc liệt: chống Mỹ.

Sự thật không thể phủ nhận là người Pháp đã khởi đầu chiến tranh, người Mỹ thay vai chuyển nó sang một giai đoạn khác và cả dân tộc này đã đổ máu xương để kết thúc nó. Không phải chỉ có 20 năm và càng không thể là cuộc chiến“da thịt tàn nhau, vạ trong tường vách”như Huy Đức đã viết.

Lịch sử diễn ra liên tục nhưng trong Bên thắng cuộc, nó bị cắt khúc ra, nhìn nhận như là cuộc chiến ý thức hệ, cuộc nội chiến Nam-Bắc của nội bộ người Việt từ năm 1954 đến ngày 30-4-1975. Cách lập luận này, người Mỹ đã nói từ mấy chục năm trước đó khi muốn có cớ can thiệp vào đất nước ta. Dù vậy, người Mỹ không thể phủ nhận sự thật là người Việt đang chiến đấu vì Tổ quốc mình.

Cuộc chiến giành độc lập của người Việt Nam thực sự đã nổ ra từ trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào năm 1930 với rất nhiều cuộc khởi nghĩa và những phong trào đấu tranh, dù bị đàn áp, thất bại nhưng chưa bao giờ quy phục. Những người cộng sản chỉ nối tiếp sứ mệnh mà lịch sử giao phó. [Lịch sử giao phó? Đây là một cụm từ vô nghĩa. Chỉ có người này giao phó cho người kia làm chuyện gì, chứ không có lịch sử giao phó.  Giao phó cho ai? giao phó cái gì? Khi con người tham gia vào một biến cố nào đó, và người khác  ghi chép lại sự kiện ấy một cách khách quan,  theo phương pháp sử quan, mà hình thành nên lịch sử.  Vì thế không có chuyện lịch sử giao phó, chỉ có con người  cố tình tham gia vào chuyện này hay chuyện kia mà  gây ra  chuyện và người khác ghi chép lại   theo phương pháp sử quan mà viết ra lịch sử-chữ màu đen là của TH ]

Vì thế, nó là cuộc chiến không của một chính thể mà của cả dân tộc. [Đây là sự đánh đồng tầm bậy tầm bạ và nhằm lừa bịp những người mù chữ]  Càng không là cuộc chiến của miền Bắc XHCN với nửa nước còn lại. Vì thế, 30-4-1975 là ngày đất nước thống nhất sau hơn một thế kỷ bị xâm lược, đô hộ và chia cắt, không phải “Ngày mà những người anh em miền Nam buông súng đầu hàng miền Bắc”. Đó không phải là chiến thắng của một “bên thắng cuộc” hạn hẹp mà là chiến thắng của mọi người Việt Nam, trong đó cả những người từng ở phía bên kia.

Một nhân vật trong cuốn Bên thắng cuộc sau khi đọc sách đã nói rằng nếu không vì lòng yêu nước và tinh thần dân tộc mà chỉ là cuộc chiến Bắc-Nam thì sẽ không có những người ở Lạng Sơn, Thái Bình xung phong lên đường ra trận và chết ở Cà Mau. Và đâu phải chỉ có bộ đội miền Bắc vào Nam đánh Mỹ, chính nhân dân cả miền Nam đã làm nên Nam Bộ kháng chiến thời kháng Pháp rồi cùng nổi dậy Đồng khởi từ khi chính quyền Ngô Đình Diệm phá hủy hiệp định đình chiến và truy sát những người kháng chiến. Người Việt ở cả hai miền đã cùng cầm súng chống ngoại xâm.

Viết về chiến tranh không thể không nói đến mục đích, ý nghĩa, đối tượng, quy mô, thời gian và các bên tham chiến. Khi mục đích chống xâm lược giành độc lập và thống nhất nước nhà bị bỏ qua, sẽ không thể lý giải thỏa đáng nguyên nhân và ý nghĩa của chiến thắng, còn bóp méo sự thật lịch sử dù với bất cứ lý do gì thì đều là tệ hại.

Ngày cuối chiến tranh và “tù cải tạo”

Huy Đức viết: “Cuốn sách này bắt đầu từ những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé 13, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”.

Tác giả đòi hỏi “hiểu trung thực về quá khứ” nhưng lại nói về “bên thắng cuộc” bằng cách ghi nhận chỉ một phần những gì diễn ra với một số ít người ở phía bên kia. Nhiều trang sách đề cập những tướng lĩnh quân đội Sài Gòn tự sát trong ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh, mà tác giả gọi là “tuẫn tiết”. Sự tuyệt vọng dẫn đến cái chết ấy ở đây xin không bình luận. Nhưng tác giả từng là lính, không thể không biết những đồng đội thế hệ trước mình đã làm gì trong những ngày ấy. Hình ảnh ngày cuối chiến tranh không đơn giản chỉ là những chiến xa bánh xích hiền lành với những anh bộ đội miền Bắc lạ lẫm ở Dinh Độc lập sáng 30-4-1975.

Hơn 10 năm trước, một đoàn làm phim của hãng BBC qua Việt Nam, họ muốn làm một bộ phim về ngày cuối chiến tranh từ trận đánh cầu Rạch Chiếc. Nơi đó, trong ba ngày cuối cùng, một đơn vị bộ đội biệt động đã quần nhau với hai tiểu đoàn Trâu Điên giữ cầu và nhà máy điện Thủ Đức cùng với lực lượng chi viện hùng hậu. Nhiều người lính đã hy sinh trên cầu để chiếc cầu, nhà máy điện được giữ nguyên, cửa ngõ ấy mở ra cho những đoàn tăng T.54 vào giải phóng và góp phần giữ nguyên vẹn Sài Gòn cho hôm nay. Và trong những ngày ấy, có rất nhiều sự hy sinh như thế của những người lính giải phóng.

Bên thắng cuộc hướng suy nghĩ của người đọc rằng chế độ mới thiếu nhân văn khi nói về điều kiện sống của những sĩ quan chế độ Sài Gòn bị đưa đi học tập. Thật ra cái khó khăn mà những sĩ quan cao cấp đó gánh chịu chỉ bằng một phần rất nhỏ những gì mà quân và dân Việt Nam chịu đựng suốt trong hai cuộc kháng chiến, không lẽ tác giả không biết? Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước. Không nhắc đến một thực tế là đã không có người tù cải tạo nào bị tra tấn bằng vôi bột, bị đóng đinh, gí điện, bị đánh đến tàn phế… như những gì mà nhiều người trong số họ từng đối xử với đối phương của mình ở Phú Lợi, Côn Đảo, Phú Quốc, Chuồng cọp Sở thú và hàng trăm nhà tù khác khắp miền Nam. Cuốn sách cũng đã không nói rằng sau khi tiếp quản, không hề có việc lê máy chém đi khắp miền Nam như chế độ cũ đã làm với cán bộ cách mạng và thân nhân trong Luật 10-1959.

Cần phải đặt trong sự tương quan khi nhận định về sự nhân văn nhưng tác giả cuốn Bên thắng cuộc đã không làm hoặc không muốn làm điều đó.

Để có bản tin giải phóng trên loa phóng thanh mà cậu bé 13 tuổi nghe khi đang vật nhau với bạn ven đồi, phải trả giá bằng trăm ngàn mất mát, đau thương chứ không đơn giản chỉ là việc húc đổ cổng Dinh Độc lập và cắm cờ trên nóc.

Nếu lịch sử được mô tả chỉ từ một hướng với sự sắp đặt thiên kiến thì nó không còn là lịch sử nữa.

Trên đây chỉ là một số nhận xét về cuốn sách. Người viết không có ý định đi sâu vào tính chính xác của từng sự việc, từng chi tiết bởi nó không mới và không hẳn cần thiết. Tuy nhiên, đã có phản hồi bất bình của những nhân vật trong sách, từ cả hai phía, về tính chính xác của các sự kiện và cách trích dẫn cắt cúp, tách bối cảnh ra khỏi sự kiện để gián tiếp giải thích nguyên nhân theo chủ kiến của tác giả.

Công bằng mà nói, lao động và khả năng của Huy Đức đối với việc sưu tập tư liệu cho cuốn sách là điều cần được nhìn nhận. Với ưu thế là phóng viên của nhiều tờ báo lớn như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, anh có cơ hội tiếp cận với nhiều thông tin. Rất tiếc những thông tin ấy được cố ý sắp đặt để phục vụ chủ kiến của tác giả, vì vậy nó hoàn toàn không chân thật.

NGUYỄN ĐỨC HIỂN

TP.HCM ngày 31-12-2012

*Bài viết của Nguyễn Đức Hiển cho thấy tác giả không hiểu hết ý nghĩa của các chữ. Lập luận của một người nói ngang, lập lại lối lập luận của đảng, đảng nói sao thì phải nghe vậy nên thiếu tính hợp lý. Bởi vậy, các lý lẻ tác giả NGUYỄN ĐỨC HIỂN đưa ra không đứng vững khi có bạn đọc phê bình.
TH chỉ viết tóm gọn: bài của Nguyễn Đức Hiển có đầy lỗi. Hầu như câu nào cũng có vấn đề, nên sẽ mất rất nhiều thì giờ nếu phản biện bài báo của Nguyễn Đức HiểnChắc chắn có nhiều người viết phản hồi phê bình bài báo của Nguyễn Đức Hiển, nhưng tác giả  không cho đăng lên. (Nguyễn Đức Hiển viết nhiều blog lấy tên là Bố Cu Hưng(?)) 

blog của Nguyễn Đức Hiển đã từng có nhiều bạn đọc viết phê bình trong những năm 2007-2008, nhưng dần dần, sau khi được đảng cân nhắc lên chức tổng biên tập cho báo Pháp Luật TP, tác giả đã thay đổi cách viết và lập luận, và nay thì tác giả khóa hết phản hồi dưới các bài viết trên blog của tác giả. Tác giả Nguyễn Đức Hiển nhắc cho các blogger nhớ đến  BEO BLOG của HỒ THỊ THU HỒNG. Người vừa bị cách chức tổng biên tập, tờ báo Thể thao – Văn hóa,   11-2012.

*Hồi còn yahoo 360! khoảng 2006-2009, Bố Cu Hưng tức nhà báo Nguyễn Đức Hiển và Hồ Thu Hồng (Beo Blog) là một cặp “song kiếm hợp bích, bênh vực nhau kín đáo, tìm cách tố cáo Huy Đức như sau: 

Nhà báo Hồ Thu Hồng viết về Osin Huy Đức   (13-9-2009)

nguon: ttngbt.blogspot.com

Chủ nhân của blog Beo, nhà báo Hồ Thu Hồng, cựu phó Tổng biên tập báo Thể thao – Văn hóa, vừa có một bài viết về Osin Huy Đức, với những cáo buộc như “nói dối và nói nửa sự thật”, “dùng ngòi bút làm kinh tế cá thể”, “làm Osin cho triều đình”, “chơi trò hai mang”… Tác giả của bài viết này cũng thông báo rằng trong bài sau “sẽ chỉ rõ từng bài Osin phụng sự các ông chủ thay vì phụng sự xã hội ra sao” và thông báo sẽ “viết riêng một entry về minh chủ và các đầy tớ”, liên quan đến “một chủ nữa của Osin kiêm minh chủ của các bạn Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức…”

Trong mục giới thiệu bài viết và thông tin trên mạng này, chúng tôi cũng đã giới thiệu ý kiến của nhà báo Hồ Thu Hồng về trang Bauxite Việt Nam.

 Nhà báo Đức Hiển lên tiếng về vụ Hồ Thu Hồng – Osin Huy Đức   talawas blog

Về bàiOsin Huy Đứccủa nhà báo Hồ Thu Hồngngười “cầm trịch” tờ Thể thao TPHCM từ ngày 08/12/2008 thay thế Tổng Biên tập Thái Phong Sương đã nghỉ hưu, đồng thời là chủ nhân của blog Beonhà báo Đức Hiển, quyền Tổng Thư ký báo Pháp luật TPHCM, tức blogger Bố Cu Hưng, vừa cóđôi lời với chị Thu Hồng“, liên quan đến vụ gặp ông Đại sứ Hoa Kỳ Michalak:

Thứ nhất, Đại sứ Mỹ Michael W. Michalak có mời bốn nhà báo gồm Huy Đức, hai đồng nghiệp ở Tuổi Trẻ và Thời báo Kinh tế Sài Gòn và tôi đi uống cà phê. Ông Đại sứ không mời trực tiếp tôi mà thông qua Phòng Thông tin lãnh sự quán Hoa Kỳ, nơi này lại thông qua Tổng Biên Tập báo Pháp Luật TPHCM. Tôi xem đó là việc tiếp xúc bình thường của nhà báo và nhận lời . Vì thế, đây không phải là việc “t tp mt nhóm nhng người iêu nước M. Các đồng nghiệp Tuổi Trẻ, TBKTSG chắc cũng đồng ý điều đó.

Thứ hai, tại cuộc gặp, tôi chỉ nói chuyện và tìm hiểu về những điều bạn đọc của Báo quan tâm như thủ tục cấp visa cho du học sinh Việt Nam. Nếu Osin trình báo cho A.25 nội dung này, chắc cũng không sao. Hơn nữa, vì là công việc nên sau đó tôi báo cáo với Ban Biên Tập- bằng văn bản- nội dung cuộc tiếp xúc. Nếu A.25 hỏi, chắc chắn BBT của Báo cũng sẽ cung cấp.

Chị Hồng có thể có thông tin và xem tôi như nạn nhân bị Huy Đức chơi xấu. Tuy nhiên, về phía mình, tôi cũng muốn nói lại như trên.   (2009)

—————————

Phần II, Chương XI:

…”Hội nghị Thành Đô”…

…Ngày 7-10-1989, khi tiếp Tổng Bí thư Lào, ông Kayson Phomvihan, Đặng Tiểu Bình đã dùng sáu mươi phút trong toàn bộ bảy mươi phút nói chuyện để nói về Việt Nam. Trong khi phê phán nặng nề Lê Duẩn, Đặng đã ca ngợi Nguyễn Văn Linh là “người sáng suốt”. Một thông điệp bình thường hóa giữa Đặng Tiểu Bình và Nguyễn Văn Linh đã được truyền đi. Tuy nhiên, theo ông Trần Quang Cơ, Bắc Kinh vẫn tiếp tục lạnh lùng sau khi Nguyễn Văn Linh phản hồi tích cực.Con đường đến với Bắc Kinh còn qua một kênh khác mà cả Tướng Lê Đức Anh lẫn Bộ Ngoại giao đều hoàn toàn không biết. Tháng 9-1989, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Phan Văn Khải sang Nhật gặp chủ tịch Đảng Tự do Dân chủ, ông Michio Watanabe [594]. Cuộc gặp tại trụ sở đảng của ông Watanabe diễn ra thân mật,đôi bên bàn một số vấn đề chiến lược về hợp tác kinh tế, bàn những công việc có thể bắt đầu ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Theo ông Phan Văn Khải, cuối cuộc gặp, ông Watanabe gợi ý: “Tôi có nhiều bạn bè quốc tế, liệu tôi có thể giúp được gì không?”. Được lời, ông Khải nói: “Việt Nam muốn bình thường hóa với các nước, đặc biệt là với Trung Quốc và Mỹ”…

Tiếp theo, tại trang 404, Huy Đức viết:

…Ngày 29-8-1990, Đại sứ Trương Đức Duy xin gặp gấp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, chuyển thông điệp của Bắc Kinh mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô – thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc – vào ngày 3-9-1990 để “hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước”. Chuyến đi Thành Đô vào ngày 2-9-1990 gồm Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng, được tháp tùng bởi Hồng Hà, chánh Văn phòng Trung ương, Hoàng Bích Sơn, trưởng Ban Đối ngoại và Thứ trưởng Ngoại Giao Đinh Nho Liêm. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch không có trong thành phần cuộc gặp…

Nội bộ người CS lúc đó phân hóa và dấu diếm, lén lút nhau, được Huy Đức viết tiếp:

…Ngày 5-6-1990, trong cuộc gặp Đại sứ Trương Đức Duy, tổng bí thư Việt Nam đã sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Ông Nguyễn Văn Linh nói với Trương Đức Duy: “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”598. Thay vì bắt đầu một kỷ nguyên Việt Nam thiết lập quan hệ với Trung Quốc bằng tư thế độc lập của một quốc gia và chỉ vì quyền lợi quốc gia, Trung Quốc vẫn được coi là đàn anh trong mối tương quan của hai quốc gia cộng sản. Điều này còn ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Hà Nội và Phnom Penh…

Thật khó để không nghĩ, nhiều độc giả sẽ không sôi sục với phần in đậm (như trên), nhất là từ Nguyễn Văn Linh – một người những tưởng là… “đổi mới” trong mắt những “con cừu” của thập niên 90 (!!!)

Sau khi sốt sắng đến như thế, thì:

…Theo ông Trần Quang Cơ, trong bảy điểm về Campuchia thống nhất ở Hội nghị Thành Đô, có hai điểm có tính chất chung, năm điểm còn lại hoàn toàn là đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc, không có điểm nào theo yêu cầu của Việt Nam601…

Huy Đức đã không thể nói thêm chi tiết về “năm điểm” mà có vẻ vô cùng quan trọng???  [Nguyễn Ngọc Già Tác giả gửi đến Dân Luận  5-1-2013]

Để hiểu rõ rằng: bất cứ người VN nào sống trong nước mà nói động đến Trung Quốc, thì đảng CSVN và Nhà Nước sẽ xử đẹp đến cùng. Nguồn gốc từ

Phần II, Chương XI:…”Hội nghị Thành Đô”…  và bằng chứng vật chứng ở đây nè

“Trốn Thuế” – Quỳ gối – Đầu Hàng

———————————————

Ngay 5-1-2013

‘Bên thắng cuộc mới nói được 1/3 sự thực’

Quốc Phương
Trần Hoàng trích dẫn:

Phải là các bạn trẻ hơn nữa viết ra, có những người có quan điểm tiến bộ hơn nữa, tôn trọng lịch sử và có ý thức dân chủ thì mới có thể viết nổi,” ông Bùi Tín nói với BBC. 

Cựu đại tá nhà báo Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bùi Tín cho rằng cuốn sách chưa nói được hết những sự thực về đảng cộng sản Việt Nam, về cá nhân lãnh tụ Hồ Chí Minh, cùng nhiều sự thực khác.

Về mặt được cho là các sai sót hay hạn chế của cuốn sách, nhà báo Bùi Tín nhận xét:

“Tất nhiên, tôi đọc rải rác chỗ này chỗ khác thì nhiều cái sai lắm. Nhưng tôi cũng không trách gì, bởi vì hàng nghìn người, ghi chép hàng sáu trăm trang như thế thì chỗ nào cũng có chi tiết sai cả.”

cựu Tổng Biên Tập tờ Nhân Dân Chủ Nhật nói:

“Nhược điểm của anh Huy Đức là anh ấy là người đến sau, là người không chứng kiến được trực tiếp, nghe ngóng sau khi các sự kiện đó đã xảy ra… Anh ấy là người lượm lặt, thu góp, mà không phải là quan sát trực tiếp. Cho nên cái gián tiếp sai nhiều lắm.

“Tôi nói riêng ngày 30/4, anh ấy lấy được nhiều tài liệu hay, nhưng cũng có kha khá các điểm là dở, là không đúng. Nhưng cái này tôi không trách anh ấy, mà tôi trách là trách những người đã gặp anh ấy, có nhiều người nói không đúng sự thật.”

“… Nếu mà gọi là cán bộ cao cấp đầu tiên cũng như cán bộ cao cấp duy nhất mà gặp họ trong ngày 30/4 thì chính là tôi… Chứ ông Nam Long cũng không hề gặp và cũng không có ông tướng nào gặp họ trong những ngày đó cả.”

“Những thiếu sót gốc phải gia công hơn nữa, ví dụ như là ‘cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước’ nói như thế có đúng hay không, theo tôi là không đúng. Thế còn nói ‘ngày toàn thắng,’ ‘ngày giải phóng,’ thì ngay cái tít ‘giải phóng’ cũng đã là mỉa mai rồi.

“Mà tôi nói là cái chiếm đóng của Miền Bắc đối với Miền Nam, cái này không phải là cái công để phục vụ nhân dân, mà Đảng cộng sản lấy danh nghĩa là chiến tranh giải phóng để cướp quyền lãnh đạo và từ đó nhằm lợi ích riêng của Đảng, không có phục vụ lợi ích của toàn dân.

Những điều này, theo ông Bùi Tín,  cần được “đánh giá lại một cách sâu sắc.”

nguon:  Theo BBC Tiếng Việt

————————————–

Sức khỏe lãnh đạo Việt Nam qua “Bên Thắng Cuộc”

Nguyễn Văn Tuấn

Theo blog Nguyễn Văn Tuấn

Thứ Hai, 21/01/2013

Mấy hôm nay đọc cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức rất thú vị, nhất là tập II (Quyền bính). Đọc chưa xong, nhưng tôi chú ý đến đoạn tác giả viết về tình trạng sức khỏe của các lãnh đạo Đảng CSVN. Đọc đoạn này mới biết một thông tin quan trọng: người Tàu nắm giữ thông tin về sức khỏe của lãnh tụ cao cấp VN còn hơn cả các bác sĩ Việt Nam. Thật là khó hiểu!

Thông thường các thông tin về sức khỏe lãnh tụ thường được giữ kín, không tiết lộ ra ngoài. Ở Mĩ, mãi đến năm 1955, người ta mới cho giới báo chí tiếp cận vài thông tin về sức khỏe của các tổng thống và lãnh đạo. Sau này thì chúng ta biết rằng những thông tin đó không còn là bí mật nữa (hay bí mật mà chúng ta không biết). Nhưng trong thế giới xã hội chủ nghĩa thì những thông tin về bệnh tật của lãnh tụ được giữ kín. Tuy nhiên, Huy Đức đã tiết lộ qua Chương 19 (Đại hội VIII) trong cuốn Bên thắng cuộc vài thông tin rất thú vị.

Chương 19 có đoạn nói cái chết của ông Lê Mai và Nguyễn Đình Tứ (những chữ nghiêng là trích từ sách, và chữ thường là ghi chú của tôi):

Trước Đại hội VIII, ứng cử viên sáng giá cho chức Bộ trưởng Ngoại giao, ông Lê Mai, bị mất đột ngột; ngay sau bầu cử, một tân ủy viên Bộ Chính trị, ông Nguyễn Đình Tứ, cũng đột tử trước khi nhận chức [473]. Cái chết của ông Tứ đã làm thay đổi chút ít phương thức tiến hành đại hội. Cho dù quy trình nhân sự vẫn được làm kỹ trong thời gian trù bị, nhưng từ Đại hội IX, chỉ khi đại hội chính thức khai mạc việc bỏ phiếu mới được tiến hành. Ngoài hai trường hợp chết bất ngờ này, chuyện sức khỏe Trung ương trước và sau Đại hội VIII cũng diễn ra đầy kịch tính.

Còn tướng Lê Đức Anh thì bị đột quị:

Chỉ mấy tháng sau Đại hội, Tướng Lê Đức Anh bị đột quỵ. Ông bị xuất huyết não khá nặng. Thông tin về bệnh tình của Tướng Anh được giữ kín tuyệt đối. Hơn ba tháng sau, khi bắt đầu hồi phục, bằng một ý chí tại vị sắt đá, Tướng Lê Đức Anh quyết định vẫn xuất hiện trên truyền hình và đài phát thanh đọc lời chúc mừng năm mới.
Giám đốc Quân y viện 108, Bác sỹ Vũ Bằng Đình, nói: “Chúng tôi phải hộ tống ông từ bệnh viện ra phòng thu. Ống kính chỉ quay nửa người nên dân chúng không biết ông vẫn ngồi trên giường bệnh. Các bác sỹ nấp phía sau sẵn sàng cấp cứu”.

Đọc đoạn này làm tôi nhớ đến năm 1919, sau khi tổng thống Woodrow Wilson bị tai biến mạch máu não, ông được các quan chức Nhà trắng khuyên phải để râu để che lấp phía trái của mặt bị teo lại vì cơn bệnh. Chẳng những thế, văn phòng ông làm việc mỗi khi khách đến thăm được điều chỉnh ánh sáng sao cho mờ mờ để che dấu khuyết tật của ông. Tương tự, bệnh bại liệt (polio) của tổng thống Roosevelt và bệnh Addison của tổng thống Kennedy cũng được các quan chức Nhà trắng dấu kín, không tiết lộ cho công chúng biết.

Nhưng điều khó hiểu là bác sĩ VN không nắm được phác đồ điều trị của bác sĩ Tàu:
Theo Bác sỹ Vũ Bằng Đình, sau khi đọc xong lời chúc năm mới, ông Lê Đức Anh về nhà, từ đây, ông được một ê-kip bác sỹ người Trung Quốc trực tiếp chăm sóc trong giai đoạn hồi phục. Các bác sỹ Việt Nam hoàn toàn không biết phác đồ điều trị mà các bác sỹ Trung Quốc dùng cho Tướng Lê Đức Anh.

Ông Đỗ Mười thì có lúc mắc bệnh tâm thần và phải đi China đề điều trị:

Người Trung Quốc còn nắm giữ không ít bí mật về sức khỏe của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Giữa thập niên 1990, thỉnh thoảng, bị cánh nhà báo chặn lại khi vừa bước từ toilet ra, Tổng Bí thư Đỗ Mười, với quần quên kéo khóa, leo lên chiếc bàn nước nhỏ đặt phía sau Hội trường Ba Đình, ngồi xếp bằng vui vẻ chuyện trò với dân báo chí. Nhiều khi cao hứng, ông nói: “Tôi đã từng bị thần kinh đấy”. Không phải ông nói đùa, theo ông Nguyễn Văn Trân, Bí thư Trung ương Đảng khóa III, người từng hoạt động với ông, có thời gian ông Đỗ Mười bị bệnh thần kinh, gần như không thể làm việc, có lúc lên cơn, ông phải dùng một cây gậy múa cho hạ nhiệt, có lúc người ta thấy ông Đỗ Mười một mình leo lên cây… Năm 1963, ông đã phải đi Trung Quốc chữa bệnh tới mấy năm mới về Việt Nam làm việc [474].

Qua chương này tôi mới biết vài lãnh đạo VN thời đó giấu bệnh hoặc không chịu nhận mình mắc bệnh:

Từ trước Đại hội VIII, khi công việc cơ cấu nhân sự bắt đầu, theo ông Nguyễn Văn An, người có trách nhiệm nắm hồ sơ các nhà lãnh đạo, kể cả các hồ sơ về sức khỏe, trong Bộ Chính trị xuất hiện một số “ông giấu bệnh”. Ông Lê Xuân Tùng, sau khi bị tai biến, một chân gần như bị liệt vẫn khẳng định là đang rất khỏe. Ông Lê Minh Hương giấu bệnh tiểu đường nặng. Ông Đoàn Khuê giấu bị ung thư hạch. Ông Đào Duy Tùng bị ung thư nhưng vẫn bám giữ chức Trưởng Ban Văn kiện của Đại hội cho đến khi bị tế bào ung thư lan lên não.

Tổ trưởng Tổ Biên tập Văn kiện Hà Đăng kể: “Trong nhiều cuộc họp, cả trong một vài cuộc tiếp xúc, thấy anh (Đào Duy Tùng) có những lúc lim dim, chừng như lơ đãng… Sau Hội nghị Trung ương 10, Tổ Biên tập Văn kiện chúng tôi họp lại trên cơ sở tiếp thu những ý kiến của Trung ương, sửa chữa lần cuối bản Dự thảo Báo cáo chính trị. Tôi thay mặt Tổ trình bày nội dung và cách sửa. Anh vẫn lim dim. Và khi tôi trình bày xong, anh đặt một vài câu hỏi, lại chính là những điều tôi vừa nói” [475]. Tháng 5-1996, “ứng cử viên tổng bí thư” Đào Duy Tùng xuống Hải Phòng dự đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố, đang phát biểu thì bị đột quỵ rồi từ đó, như đã nói, ở trong tình trạng hôn mê sâu cho đến khi qua đời [476].

Tin vào thuốc Bắc:

Ông Nguyễn Văn An kể: “Khi chuẩn bị nhân sự chủ chốt, ông Lê Đức Anh vẫn giới thiệu Đoàn Khuê làm chủ tịch nước và Thường vụ không có ai phản đối. Tôi gặp anh Đỗ Mười nói Đoàn Khuê bị ung thư đấy, anh Mười nói: Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”.

Dứt khoát không chịu điều trị:

Theo Giáo sư Vũ Bằng Đình, viện trưởng Quân y 108 kiêm phó chủ tịch Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương: “Chúng tôi phát hiện Đoàn Khuê bị ung thư hạch rất sớm. Sau khi bí mật hội chẩn trên cơ sở các mẫu xét nghiệm mà không cho biết là của ai, tất cả các chuyên gia trong nước đều khẳng định đấy là ung thư hạch. Tôi đích thân trên dưới mười lần đến năn nỉ ông vào bệnh viện. Biết khi ấy ông Lê Đức Anh đang giới thiệu Đoàn Khuê kế vị, tôi trấn an ông: nếu anh đồng ý để chúng tôi chữa trị kịp thời thì anh không những có thể sống thêm một thời gian dài mà còn có sức khỏe để đảm đương những nhiệm vụ quan trọng hơn. Nhưng ông Đoàn Khuê vẫn phủ nhận kết quả hội chẩn và chỉ thị cho tôi phải báo cáo Hội đồng Bảo vệ sức khỏe Trung ương là ông chỉ bị viêm hạch”.

Nhưng bác sĩ nhất định báo cáo bệnh án:

Trước khi Quốc hội khóa IX nhóm họp để chuẩn bị nhân sự cao cấp, theo Đại tá Vũ Bằng Đình, Tướng Lê Khả Phiêu, với tư cách là ủy viên thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, cùng với Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Nguyễn Văn An yêu cầu Viện 108 báo cáo sức khỏe của cả hai vị tướng Lê Đức Anh và Đoàn Khuê. Ông Đình nói: “Tôi và bác sỹ Nguyễn Thế Khánh cùng ký vào bệnh án, bí mật báo cáo lên Bộ Chính trị”.

và bác sĩ bị mất chức chỉ vì dám báo cáo bệnh của lãnh đạo:

Theo ông Nguyễn Văn An: “Sau khi anh em đưa cho tôi bệnh án của Đoàn Khuê: ung thư gan giai đoạn ba, chỉ có thể kéo dài cuộc sống không quá một năm, họp Thường vụ Bộ Chính trị, tôi đưa vấn đề sức khỏe ra, ông Đoàn Khuê vẫn cãi. Tôi phải công bố bệnh án”. Đoàn Khuê đập bàn tuyên bố: “Tôi là người khỏe mạnh, chúng nó phá. Tôi sẽ cho hai thằng đó nghỉ”. Đại tá Vũ Bằng Đình nhớ lại: “Cả tôi và anh Lê Thi, bí thư Đảng ủy Viện 108, nhận được quyết định nghỉ ngay lập tức”. Không chỉ “lỡ cơ hội” trở thành nguyên thủ quốc gia, bệnh tình Đoàn Khuê tiến triển xấu từng ngày. Cuộc sống của ông chỉ còn sáu tháng thay vì một năm như dự đoán. Ngày 16-1-1998, Tướng Đoàn Khuê chết.

Đọc qua những trích dẫn trên đây, dễ dàng thấy Đảng CSVN rất coi trọng vấn đề sức khỏe của lãnh đạo. Điều này thì chắc chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì có sức khỏe tốt mới làm lãnh đạo được. Nhưng ngạc nhiên là Đảng có hẳn một ban bảo vệ sức khỏe cho lãnh đạo. Tôi không rõ các nước như Mĩ, Canada, và Âu châu có ban này hay không, nhưng ở Úc thì không có. Thủ tướng Úc khi mắc bệnh vẫn đi chữa bệnh ở các bệnh viện như mọi người, và họ cũng không giấu diếm bệnh trạng với công chúng. Tại sao để cho Tàu nắm thông tin về tình hình sức khỏe của lãnh đạo Việt Nam?

Đoạn trích dẫn trên còn cho thấy làm bác sĩ cho mấy lãnh đạo xem ra là một nguy cơ. Đến nỗi chỉ đơn giản báo cáo bệnh của các vị lãnh đạo mà bị mất chức. Ở các nước phương Tây, bác sĩ ra y lệnh và bệnh nhân, dù là thủ tướng, phải tuân thủ; còn ở VN, bệnh nhân lãnh đạo ra lệnh ngược lại cho bác sĩ! Chẳng biết các bệnh nhân này có hành xử như thế với các bác sĩ Tàu hay không?

Chú thích:
[473] Ngày 27-6-1996, trong phiên trù bị, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã bầu Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, một nhà vật lý tên tuổi, vào Trung ương và ngay sau đó, được Trung ương đưa vào Bộ Chính trị. Sẽ không có gì để thường dân xầm xì nếu như ông Nguyễn Đình Tứ không bị tai biến và đột ngột chết vào lúc 20 giờ ngày hôm sau, 28-6-1996, ngày mà về công khai, Đại hội VIII mới bắt đầu khai mạc. Và theo chương trình làm việc được công bố cho người dân thì mãi tới ngày 30-6-1996, đại hội mới bắt đầu bầu cử. Thế nhưng, Cáo phó do Ban Chấp hành Trung ương đưa ra vẫn phải công bố ông Nguyễn Đình Tứ là ủyy viên Bộ Chính trị. Những người trong hệ thống thì không có gì bất ngờ, nhưng thường dân ngay tình thì không hiểu tại sao một người chết vẫn được Đảng bầu vào hàng ngũ mười chín người quyền lực nhất.
[474] Ông Đặng Quốc Bảo xác nhận, ông đã từng đi Trung Quốc chữa bệnh cùng ông Đỗ Mười mấy năm trời. Trong tiểu sử tóm tắt của ông Đỗ Mười, có một khoảng trống từ năm 1961 đến 1967 không nêu chi tiết chức vụ và công việc.
[475] Tuyển tập Đào Duy Tùng II, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia 2008, trang 634.
[476] Đào Duy Tùng mất vào tháng 6-1998.

Nguyễn Văn Tuấn

NguồnTheo blog Nguyễn Văn Tuấn

repost : https://danluan.org/tin-tuc/20130121…ben-thang-cuoc

——————————————————————————————–

Huy Đức, một nhà báo dấn thân

24-1-2013
Lương Lão Kháu

Là một trong những người sống gần trọn đời trong chế độ cộng sản, tôi chỉ đọc, chỉ biết những gì báo chí của Đảng viết ra. Một thời tôi đã từng say mê những bài viết của Thép Mới, Nguyễn Thành Lê, Nguyễn Hữu Chỉnh, Hữu Thọ, Hoàng Tùng, và cả Bùi Tín nữa khi anh ta còn làm Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân phụ trách tờ Nhân dân chủ nhật. Có lúc chợt nghĩ nếu Olimpic có môn viết xã luận thì chắc chắn Việt Nam sẽ có huy chương vàng!

Sau năm 1975, một thế hệ các nhà báo trẻ xuất hiện. Họ trưởng thành ở một thành phố gặp muôn trùng khó khăn nhưng cũng mạnh mẽ trỗi dậy và đi đầu trong công cuộc đổi mới. Đó là Đỗ Trung Quân, Nguyễn Ngọc Châu, Lê Thọ Bình, Bùi Thanh, Thủy Cúc, Lưu Đình Triều, Tâm Chánh, Đà Trang… ở tờ Tuổi trẻ, Huỳnh Ngọc Chênh, Nguyễn Văn Thịnh, Danh Đức… ở tờ Thanh Niên; Trong số đó người nổi tiếng nhất là Huy Đức. Tôi đã có nhiều lần cộng tác với số nhà báo trẻ sớm thành danh nói trên nhưng với Huy Đức thì chưa một lần gặp mặt. Chỉ “gặp” anh trên các bài viết nóng hổi tính thời sự và nhân văn. Sau khi buộc phải rời các tờ báo khá mạnh bạo ở Sài Gòn, Huy Đức nổi tiếng với blog “lề trái” Osin, nhưng tôi cũng ít đọc cho tới khi Bên thắng cuộc ra đời thì nó như một quả bom nổ giữa sự nhàm chán của dư luận làm rúng động cả “quân ta” lẫn “quân địch”.

Huy Đức tung ra ánh sáng biết bao chuyện được gọi là “thâm cung bí sử” mà cả hai bên chiến tuyến, hai bên cựu thù đều dấu kín. Huy Đức viết những điều mà nhiều người đương thời còn “sống nhăn răng” ra đó nên người khen kẻ chê, người phản ứng gay gắt khi chạm nọc là điều không tránh khỏi.

Với một số bà con định cư ở Quận Cam và nhiều thành phố bên nước Mỹ xa xôi, những cay đắng họ phải gánh chịu từ chuyện cải tạo tư sản, cải tạo ngụy quân ngụy quyền, từ chuyện đổi tiền, chuyện vượt biên với biết bao rủi ro và mất mát… sẽ không bao giờ nguôi ngoai sự uất hận trong lòng họ cho dù hòa bình đã hơn ba chục năm rồi và nhiều người đã lần lượt trở về quê hương đoàn tụ gia đình tìm cơ hội làm ăn, thậm chí nhiều người già trong đó có những người nổi tiếng là tướng lĩnh là nhà chính trị trong quân đội Việt Nam cộng hòa, là văn nghệ sĩ nổi danh đã xin được về chết trên mảnh đất quê hương bởi vì như Đỗ Trung Quân đã viết khi còn là phóng viên Tuổi trẻ “Quê hương là chùm khế ngọt”. Ấy là lúc Trung Quân còn trai trẻ và tương lai của dân tộc cũng như tình yêu quê hương đất nước còn đang cháy bỏng trong trái tim anh chứ không phải của Đỗ Trung Quân chín chắn và trưởng thành như bây giờ.

Cho nên một số bà con Việt kiều dù chưa đọc một dòng Bên thắng cuộc nhưng nghe lời xúi dục của các phần tử quá khích đã đi biểu tình chống Bên thắng cuộc là một điều đáng tiếc. Nếu họ đọc, đọc thật kĩ và suy ngẫm về những điều Huy Đức nói về những “người thua cuộc” thì họ sẽ từ chối đi “biểu tình “ như vậy . Quả thật, nhờ những thông tin mà Huy Đức cung cấp trong kho sử thi đồ xộ của đất nước trong hơn ba chục năm qua, chúng ta bây giờ mới có thể biết được vì sao Cộng sản giải phóng được Sài Gòn và toàn Miền Nam. Không chỉ là chuyện hai miền “nội chiến”” nồi da xáo thịt” mà có sự can dự và hưởng lợi của các nước lớn mang danh đồng minh với cả hai phía của cuộc chiến dai dẳng ba chục năm

Tất cả các câu chuyện về thành phố Sài Gòn sau giải phóng đã được Huy Đức giải mã một cách đầy đủ và chân thực. Tại sao những người chịu đau thương và mất mát trong các sự kiện kể trên lại có thể phản đối tác giả khi anh đã giúp họ nói lên một phần sự thật để phần nào nguôi ngoai nỗi đau thương dấu kín bấy lâu. Có lẽ chỉ vì chuyện Huy Đức đã mô tả rất chi tiết việc quân đội Việt Nam cộng hòa tan rã nhanh chóng trước sức tấn công như vũ bão của quân đội miền Bắc chăng? Lúc đó ở Hà Nội, tôi thắc mắc tại sao Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là một vị tướng lại ra lệnh “tùy nghi di tản” dẫn đến cuộc tháo chạy ồ ạt từ Ban Mê Thuột, đến Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng… cho đến tận Sài Gòn. Nếu chỉ bằng những thông tin trên báo chí Miền Bắc thì ta có thể suy ra rằng quân đội cộng hòa Sài Gòn là đội quân bạc nhược sau khi bị Mỹ bỏ rơi. Nhưng Huy Đức đã chỉ ra rằng có rất nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã “tử vì đạo”. Có người đã bắn chết cả gia đình sau đó tự sát như các võ sĩ Nhật Bản. Đáng lẽ người Việt phải rời quê hương ra đi phải biết ơn Huy Đức đã cho tòan thế giới biết bên cạnh những tướng lĩnh bạc nhược vẫn có những người “anh hùng” như vậy chứ. Vậy thì cớ gì phản đối Bên thắng cuộc?

Năm 1995, trên tờ Tuổi trẻ chủ nhật nhân kỉ niệm 20 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước tôi đã viết bài “Sài Gòn 1975-1995 dưới con mắt một người Hà Nội”. Bài viết kể chuyện về ông chú vì đói thông tin đã bán hết hàng hóa ôm một đống tiền, khi chính quyền quân quản đổi tiền ông mất trắng. Trong khi người cháu là sĩ quan quân đội, là đảng viên cộng sản ngày 30-4 vào tiếp quản thành phố đã không dám đến gặp người chú vì sợ bị liên lụy. Chuyện của người anh trai của tôi với ông chú không chỉ là chuyện cá biệt trong trận chiến ba mươi năm giữa những người cùng dòng máu đỏ da vàng, cho nên chuyện cha con Lưu Quý Kỳ và Lưu Đình Triều cũng chẳng có gì là khó hiểu và anh Triều không nên có phản ứng với người đồng nghiệp một thời cùng chung lưng đấu cật làm nên thương hiệu của tờ Tuổi trẻ. Cuộc chiến Nam Bắc không chỉ hy sinh hàng triệu nhân mạng những người con ưu tú của dân tộc mà còn là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa một bên là cộng sản một bên là cộng hòa mà cuộc chiến về ý thức hệ này còn dai dẳng đến tận bây giờ. Nếu nó không chấm dứt với một bên thắng một bên thua hoàn toàn thì sẽ không bao giờ có hòa hợp dân tộc một cách đúng nghĩa.

Nếu như phần I của Bên thắng cuộc với tiêu đề “ Giải phóng” làm cho ai đó bên thua cuộc phản ứng là điều có thể hiểu được thì phần II có tiêu đề “ Quyền bính” đã và sẽ làm cho nhà cầm quyền Hà Nội, bên thắng cuộc phát điên. Bao nhiêu chuyện thâm cung bí sử dấu lẹm đã bị Huy Đức phơi bày. Huy Đức “khôn “ lắm, anh chỉ cung cấp thông tin có dẫn chứng người nói, dẫn chứng từ các văn bản “mật” chứ không bình luận. Tự thân các sự kiện nói lên tất cả tùy nhận thức của người đọc. Cũng không ai có thì giờ và tâm huyết đi kiểm chứng xem những thông tin Huy Đức tung ra là đúng hay sai, đúng bao nhiêu phần trăm, sai bao nhiêu phần trăm. Cho nên nói như Bùi Tín rằng Huy Đức mới chỉ nói 30% sự thật là nói đại. Còn 70% nữa Bùi Tín có giỏi thì nói nốt đi. Cần biết rằng để viết Bên thắng cuộc, Huy Đức không chỉ dành 3 năm để viết và chỉnh sửa, anh đã dành gần cả trọn cuộc đời làm báo của mình để tích lũy sử liệu, để thẩm tra các dữ kiện, để phỏng vấn các nhân vật và nhờ có internet, anh đã lưu trữ được nó trong một chiếc laptop nhỏ bé để mang theo nó sang nước Mỹ rồi tung nó ra toàn cầu bằng giải pháp kĩ thuật số, điều mà ở trong nước anh không thể làm được.

Sau một thời gian im ắng, các báo trong nước chủ yếu là các tờ báo công an bắt đầu phản công Bên thắng cuộc và tác giả Huy Đức. Đọc qua một vài bài tôi thấy hình như họ viết theo sự chỉ đạo của cấp trên nên gò ép và thiếu sự thuyết phục. Những “dư luận viên” mà ông Trưởng ban tuyên huấn thành ủy Hà Nội nói theo sự chỉ đạo của cấp trên không đủ tâm và đủ tài để chọi với các bài phản biện của các tay bút bên lề trái. Nó tương tự như bài của ông nghị Hoàng Hữu Phước viết trên blog của mình đại ý rằng một thằng nhóc mới 13 tuổi khi Sài gòn giải phóng thì biết gì mà viết nhăng viết cuội. Cái ông nghị rởm này như có bạn viết trên Facebook là đã bị ung thư dây thần kinh giai đọan cuối này làm sao có đủ trình độ và tư cách phê phán Bên thắng cuộc.

Chúng ta phải cám ơn Bên Thắng cuộc và tác giả Huy Đức đã dũng cảm giải mã biết bao sự thật ở Ba Đình. Ví dụ người có công tiến hành đổi mới đất nước là ông Trường Chinh về lí luận và ông Võ Văn Kiệt về hành động chứ không phải ông Nguyễn Văn Linh với mấy bài “Những việc cần làm ngay”. Ví dụ vì sao các lãnh đạo Việt nam từ thời ông Lê Duẩn, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười, ông Lê Khả Phiêu, ông Nông Đức Mạnh, đến ông Nguyễn Phú Trọng hôm nay đều “kiên trì” định hướng xã hôi chủ nghĩa cho dù mang tiếng là giáo điều. Bởi vì tuy Huy Đức không nói ra nhưng nếu không bám vào cái lí thuyết không tưởng đó thì không có lí do gì tồn tại Đảng Cộng sản mà nếu không còn Đảng thì còn đâu mảnh đất tham nhũng như ngày hôm nay. Cho nên nói chống tham nhũng mà vẫn khư khư theo đuổi định hướng XHCN một cái rất mơ hồ thì chỉ là nói chống cho vui vậy thôi. Bây giờ bên Đảng có Ban nội chính chống tham nhũng, bên chính quyền lại mới đẻ thêm Ban chỉ đạo gì đó tương tự thì chỉ là cuộc chiến giữa Đảng và Chính quyền chứ bè lũ tham nhũng vẫn phè phỡn ngoài vòng pháp luật vì các ông đang kềm chế nhau chứ có đánh gì tham nhũng đâu

Trong hai thứ những người cộng sản sợ nhất là chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều. Xét lại hiểu theo một cách nào đó là một sự đổi mới chủ nghĩa Marx đã lỗi thời còn giáo điều là cố níu kéo cái đã lỗi thời đó để thể hiện mình là người trung thành tuyệt đối với lí tưởng mà thời trai trẻ mình đã mù quáng tuyên thệ. Tất cả những gì làm trái quy luật dù cố níu kéo bằng lý thuyết ma giáo hay bằng chuyên chính vô sản tàn bạo, mà tàn bạo nhất là chiến tranh đều không thoát khỏi sự phán xét và trừng phạt của lịch sử mà lịch sử thì rất công bằng.

Nhiều thế hệ người Việt nam phải biết ơn “sử gia” Huy Đức bằng những thông tin mà anh cung cấp. Những đời tư của các nhân vật quyền thế từ Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Văn Tiến Dũng, Đoàn Khuê, Võ Nguyên Giáp, Đinh Đức Thiện, Mai Chí Thọ, Nguyễn Hà Phan, Trần Xuân Bách, Nông Đức Mạnh… Tất cả những sự kiện hư hư thực thực kể cả chuyện Hồ Chí Minh có vợ đăng trên tờ Tuổi trẻ – lí do mà Tổng biên tập Kim Hạnh mất chức và suốt đời không được làm báo, những chuyện Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng có bố có mẹ chứ không phải là con ông nọ bà kia đều đã được Huy Đức công khai danh tính và có thể đó là lí do mà các “dư luận viên” viết theo Lề Đảng sẽ vin vào đó để kết tội Huy Đức làm lộ bí mật quốc gia và bí mật đời tư chiểu theo nghị định này nghị định nọ để có thể bỏ tù khi Huy Đức về tới sân bay Tân Sơn Nhất.

Huy Đức đã không thể từ trong nước phát hành Bên Thắng cuộc, anh cũng chưa thể in thành sách. Anh lựa chọn phát hành trên mạng. Cách phát hành này có thể không mang lại cho anh nhiều tiền bạc tương xứng với công sức anh bỏ ra và giá trị của quyển sách mà anh mang đến cho độc giả nhưng bằng cách này sẽ có nhiều người trên thế giới tìm đọc quyển sách đang rất hot này. Càng có nhiều người khen kẻ chê càng có nhiều người tìm đọc. Đó là quy luật mà những người làm công tác tuyên giáo của Đảng Cộng sản rất biết nhưng họ vẫn cứ phải lên án nếu như không muốn bị cấp trên khiển trách, mắng mỏ. Và tôi nghĩ như ai đó đã từng viết rằng các lãnh đạo Việt nam, các Trung ương ủy viên, các ủy viên Bộ Chính trị càng nên đọc sách này để biết một phần sự thật mà họ chưa được biết. Biết để mà phòng thân và tránh các sai lầm khuyết điểm mà tư tưởng giáo điều đã ám ảnh họ, Trên hết ông Nguyễn Phú Trọng cần đọc quyển sách này. Và nếu là người thực sự cầu thị, thì ông phải khuyến khích các đảng viên của ông cùng đọc mới đúng. Và tôi tin lịch sử sẽ rất công bằng với Huy Đức, một nhà báo dấn thân.

Lương Kháu Lão

———————————————————————-

Mù quáng giả, mù quáng thật

Mù quáng được từ điển Tiếng Việt định nghiã như sau: “Thiếu trí sáng suốt tới mức không biết phân biệt phải trái, hay dở…”

Chính vì vậy tôi không tin, một ông nghị có ăn có học đàng hoàng từ thời VNCH như ông Hoàng Hữu Phước (TP Hồ Chí Minh) lại phê phán nặng nề cuốn sách Bên thắng cuộc (BTC) của Huy Đức khi “không thèm” đọc tác phẩm. Phải chăng đây là tuýp tiêu biểu của hạng người “mù quáng giả” chăng?

Ta thử coi ý kiến của ông Phước, viết trên blog cá nhân xem sao:

Ông Nghị Hoàng Hữu Phước

Tôi đã không thèm đọc bất kỳ trang nào của cái “tác phẩm” mà Huy Đức từ Mỹ mới tung ra trên mạng. Song, những âm thanh ồn ào của phía hồ hởi hân hoan tận dụng và bên nghiêm chỉnh phán phê đã khiến tôi, người học trò của bậc kỳ tài, đang tu theo cái thần và cái dũng của thánh nhân không thể không yêu cầu nhân viên kể tóm lược nội dung và tôi đã nhận ra ngay chân tướng sự việc khiến phải viết ra đây sự thật trụi trần” (*)

Cũng giống như y chang Nghị Phước, hàng trăm công dân cũ của VNCH đang tỵ nạn cộng sản ở Mỹ đã tụ họp biểu tình vào chiều ngày 19.01.2013 tại Westminster, California, trước cửa trụ sở Nhật báo Người Việt. Trong đó đa phần chưa coi (hay “không thèm đọc”) với lý do tác giả có xuất xứ Việt Cộng và Nhật báo Người Việt là thân cộng, là sản phẩm của Nghị quyết 36 của Việt Cộng…

Những lời của họ bày tỏ trước phóng viên Nhật báo Người Việt thế này:

- “không có nhu cầu đọc quyển sách đó nhưng biết cuốn sách đó viết cái gì”; “Ðối với tôi, khi mình đọc một quyển sách thì mình phải nhận định nó một cách rõ ràng. Nghĩa là nhìn tựa là thấy nó chỉ có một phía thôi, không thể nói lên toàn diện được. Nó có nói những chuyện nhiều người biết, nhưng có những chuyện nhiều người cần biết thì nó chưa bao giờ nói, vì nó không biết để nói. Vì vậy đối với tôi quyển sách đó không có giá trị gì hết”; “Tôi có mặt trong đoàn biểu tình là để làm bổn phận của một công dân, một người tị nạn sinh sống ở đây, để chứng minh rằng cuốn sách đó không cần thiết. Chỉ vậy thôi.” (ông Lê Ba, cư dân thành phố Garden Grove, có mặt trong số những người biểu tình)

- “chưa đọc Bên Thắng Cuộc”; “nghe trên đài nói thì tôi cũng hiểu một phần nào… Chỉ cần đọc mấy chữ ‘Bên Thắng Cuộc’ là đã biết những người viết trong cuốn sách không hiểu gì hết, không hiểu gì về VNCH, chứ không cần phải đọc hay đi sâu vào đọc”. (Bà Thương Trương, cư dân thành phố Garden Grove)

- “Cái đồ này tôi đọc làm cái gì! Nhưng mà tôi biết là nó xuyên tạc, nó bênh vực Việt Cộng mà thứ Việt Cộng là tôi không chơi, vậy thôi.” (một biểu tình viên không xưng danh)

- “Tôi không đọc quyển sách và tôi muốn nói rằng cuộc biểu tình hôm nay không phải là vì cuốn sách.” (Ông Phan Kỳ Nhơn, đại diện Ban Tổ Chức) (**)

Như vậy, cả những người chống cộng hăng hái ở Hải ngoại và các tờ báo VC thứ thiệt ở trong nước như: Pháp Luật Thành Phố (PLTP); Dân Việt (DV); Sài Gòn Giải Phóng (SGGP); Công An Thành Phố (CATP)… và những tác giả rất tiếng tăm như Nghị Phước; Nguyễn Đức Hiển; Đông La; Song Huy – Ngọc Điệp; Lưu Đình Triều… cùng có chung quan điểm lập trường nhằm chống lại sự xuất hiện của BTC? Có khác chăng những người ở bên này (phe Việt Cộng) thì nguỵ biện, chối bỏ lịch sử, tiếp tục bưng bít sự thật để ngu dân. Nhóm này là đám mù quáng giả?

Ông Ngô Kỷ, thành viên tích cực tại bất kỳ cuộc biểu tình chống cộng nào tại địa phương. (Hình: Dân Huỳnh/NV)Còn phía đối diện (phe chống cộng) thì do còn nặng lòng thù hận, định kiến đã không còn tỉnh táo và sáng suốt để phân biệt đâu chính đâu tà. Do không còn kiểm soát được hành vi của mình, họ trở thành đám người mù quáng thật?

Khi mình ở trong một xứ dân chủ thì phải đánh giá cuốn sách qua nội dung của nó chứ chưa đọc cuốn sách mà nói là cuốn sách này thân cộng, làm lợi cho cộng sản… trong khi báo Công An Thành phố đang chửi và đánh ông tác giả này thì tôi nghĩ đây là một chuyện không hay.
Bao giờ cũng vậy, dân chủ phải đi song song với trách nhiệm. Thành ra muốn chỉ trích hay muốn khen thì phải dựa trên những chứng cớ rõ ràng. Vì vậy chúng ta phải thoát khỏi cái cùm, khi nghe tới cộng sản thì thấy sợ rồi.

Nhiều người hiện nay cũng đã về Việt Nam lấy vợ rồi cộng sản hết hay sao? Đối với tôi bao giờ cũng vậy tự do phải đi song song với trách nhiệm và khi mình muốn khen hay chê, chỉ trích gì thì phải dựa trên nội dung mà mình làm”.

Đó là ý kiến rất công tâm của tiến sỹ Đinh Xuân Quân, một kinh tế gia về phát triển và tổ chức cơ chế. Ông từng bị tù cải tạo, vượt biển tìm tự do tại Hoa Kỳ để rồi sau đó có dịp về làm việc tại Việt Nam trong chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP). (***)

Còn ý kiến của một cư dân mạng trên Dân luận thì cho rằng:

đám biểu tình và Hoàng Hữu Phước có cùng điểm tương đồng: Không đọc nhưng mà cứ chống. Giống như chuyện 2 thằng mù cùng phê phán người đẹp, thằng nào cũng cóc thấy, thậm chí chưa sờ tới nhưng cứ lu loa!

“Người VN mình nó thế!”

Thật ấu trĩ nhảm nhí…” (**)

Cá nhân tôi, mới đọc xong quyển I (Giải Phóng), đã thấy cuốn sách rất có giá trị. Mặc dù nhiều sự kiện tôi đã biết qua các cuốn hồi ký của Đoàn Duy Thành; Trần Độ và Trần Quang Cơ. Nhưng qua sự tổng hợp rất khoa học và nghiêm cẩn của Huy Đức, độc giả đã được ngắm lại bức tranh toàn cảnh đa sắc màu. Dưới một cái nhìn điềm tĩnh, vô tư của một nhà báo đầy tâm huyết.

Có ý kiến chưa thật thoả mãn. Cho rằng cuốn sách mới khắc hoạ được 1/3 sự thật của lịch sử. Nhưng khắc hoạ lịch sử của một dân tộc, không chỉ bởi một cuốn sách, dù của bất kỳ ai mà thành được. Nó cần nhiều sự đóng góp (cả chính thống và phi chính thống) cùng bắt tay vào thực hiện. Với một tiêu chí bất di bất dịch: tôn trọng sự thật khách quan. Chứ không phải thứ lịch sử mang tính tuyên truyền cho mục tiêu chính trị của bất kỳ phe nhóm nào. Như sử quan xưa, trong khi đang chép sử, ngay cả đấng quân vương cũng không được phép can gián hay bóp méo theo chủ kiến riêng của mình. Từ đó ta có thể hiểu sản phẩm lịch sử mà các sử gia Mác-xít ở xứ ta làm ra trong hàng chục năm qua là như thế nào?!

Người không biết lịch sử dân tộc mình như con trâu đi cày ruộng, cày với ai cũng được mà cày ruộng nào cũng được (lời nhà văn Nguyễn Huy Tưởng)

Việc ru ngủ cả một thế hệ và lường gạt một dân tộc bằng những thứ lịch sử nguỵ tạo (theo định hướng của kẻ cai trị) thì có khác gì cái sự cày với ai cũng được và cày ruộng nào cũng được kia chứ?

Trở lại với những chống báng xung quanh Bên thắng cuộc của Huy Đức, tôi hoàn toàn không giận (chỉ trách) những người do nhận tức còn hạn chế mà trở thành mù quáng thứ thiệt. Nhưng tôi không thể chấp nhận được những kẻ có học trí trá dối trên lừa dưới, giả ngô giả ngọng… giả mù giả quáng nhằm bôi bác và hãm hại người ngay để vinh thân phì gia và bắt cả dân tộc khốn khổ này mãi lầm than trong kiếp trâu cày!

Gocomay

(*) Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đứchttp://hhphuoc.blog.com/?p=121

(**) Biểu tình chống sách Bên Thắng Cuộc và chống báo tại Người Việthttp://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=160682&zoneid=3#.UP04fidfCIk

(***) “Bên Thắng Cuộc” dưới cái nhìn của một nhà kinh tếhttp://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/benthangcuoc-dxquan-ml-01192013130421.html

————————————-

►Bình Dương: ĐÔNG ĐÔ ĐẠI PHỐ “CHINA TOWN” do Công Ty của Bộ Quốc Phòng Việt Nam xây dựng tại Thành Phố Mới BÌNH DƯƠNG
►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979
►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF
►Nhà cầm quyền VN đã từ chối nhận khoản viện trợ 1 triệu đô la từ Hoa Kỳ để tìm kiếm hài cốt các bộ đội Miền Bắc đã mất tích trong chiến tranh Việt Nam vì trong đó có điều khoản: tìm kiếm hài cốt của các quân nhân phía VNCH!
►Tranh chấp quyền lực trong nội bộ đảng CSVN
Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy
►Hèn nhát, nhưng vẫn đòi lãnh đạo…
►Những tiếng nói bị bưng bít tại Việt Nam
► Những người vượt biên từ miền Bắc cũng ra đi sau ngày 30-4-1975 để trốn thoát khỏi chế độ cộng sản
►Việt Hưng (Vihajico), chủ đầu tư Ecopark, là đối tác chiến lược của VietCapital Bank, do Nguyễn Thanh Phượng-con gái của Thủ tướng Ng T. Dũng- làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị
►Ngay cả lúc sắp chết, Các đảng viên đảng CSVN vẫn rất tham quyền lực vì giữ chức vụ càng cao thì càng có nhiều lợi lộc đi kèm
►”Đồng chí X” …
►Cái giá của Tự Do
►Đảng chỉ đạo: Kể từ năm 2007, chính TT Nguyễn Tấn Dũng, và phó TT Hoàng Trung Hải 2008, chỉ đạo Tập đoàn Điện lực VN (EVN) vác tiền đi mua điện của Trung Quốc với giá cao gấp 2 đến 3 lần so với giá điện của các công ty thủy điện VN trong nước bán cho EVN
Ngân Hàng đốt tài liệu vào ngày chủ nhật, dân phát hiện tri hô, Giám đốc Ngân Hàng tuyên bố tài liệu cũ 1999, Dân nói: Nhìn thấy nhiều bộ hồ sơ liên quan vay vốn trong những năm gần đây! Phóng Viên loan tin: chi nhánh Ngân Hàng mới được thành lập…2006!
Đàng sau công an và xã hội đen là…
►Hậu trường chính trị đầy bí hiểm
►Hai tù nhân kiên định sắp về – Trong khi thầy giáo Đinh Đăng Định vừa mới bước vào tù
Công an đã bắt Lê Anh Hùng và giam ở trại bệnh tâm thần vì blogger này đã tố cáo (lần thứ 67) với chứng cớ: Các lãnh đạo chính phủ chỉ đạo Điện Lực Việt Nam phải mua điện của Trung Quốc với giá cao gấp 2,3 lần so với giá thủy điện của các công ty tư nhân của VN đang bán ra…
►Bí mật quốc gia bị lộ tẩy ở Việt Nam
Việt Khang đang ở tù, nhưng anh không cô đơn vì đã có hơn 100 ngàn người Việt ở Mỹ ký thỉnh nguyện thư gởi tòa Bạch Ốc
►CHỊ RUỘT của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “CHÊ” TIỀN BỒI THƯỜNG HƠN 10 TRIỆU ĐÔ LA KHI BỊ

——————————————-

“Bên thắng cuộc” lột trần hậu trường chính trị VN

BS Ngọc

28-1-2013

Theo blog BS Ngọc

Phải nói cho rõ là “hậu trường chính trị của chế độ Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội, hay cộng sản”. Đã có nhiều người viết bài điểm sách, tôi không có gì để viết thêm. Tôi chỉ muốn rút ra vài điểm chính sau khi đã đọc xong bộ sách.

Theo tôi nghĩ những câu chuyện Huy Đức thuật lại trong sách có thể giải thích tại sao nước ta nghèo hèn như hiện nay. Tôi cũng nghĩ các lãnh đạo thuộc phe XHCN của miền Bắc phải chịu trách nhiệm lớn trước lịch sử về những sai lầm của họ.

Một nhà văn hoá Âu châu từng nói rằng lịch sử chỉ là một chuỗi câu chuyện về gia đình và thế giới. Bởi thế, kể chuyện là một phương tiện có hiệu lực cao để giải thích những gì đã và đang xảy ra. Có thể khẳng định ngay rằng bộ sách Bên thắng cuộc của Huy Đức không phải là sách lịch sử. Huy Đức cũng nói rằng anh không viết sử.

Tôi xem Bên thắng cuộc là một chuỗi câu chuyện hậu trường chính trị Việt Nam. Tất cả chúng ta cần phải biết những câu chuyện mà Huy Đức kể lại, bởi vì những câu chuyện đó sẽ thấp lên một que diêm trong cái lịch sử mờ ảo của Việt Nam vào những năm giữa thế kỷ 20 cho đến ngày hôm nay.

Đọc phần I của tập sách tôi như xem một cuốn phim quay chậm. Những kẻ một sớm chiều biến thành “Cách mạng 30/4”. Đốt sách. Cạo râu, cắt ống quần. Cải tạo. Kinh tế mới. Đánh “tư sản mại bản”. Đổi tiền. Vượt biên. Tất cả những biến cố đó là sự thật. Là người ở lại trong khi các đồng nghiệp tìm được vượt biên tôi có thể nói rằng tất cả những gì Huy Đức ghi chép đều đúng. Huy Đức không phải là người đầu tiên ghi lại những biến cố đau thương sau 1975. Trước Huy Đức đã có cụ Nguyễn Hiến Lê viết lại cẩn thận những sự kiện và biến cố làm cho miền Nam suy sụp sau ngày “giải phóng” trong tập Hồi Ký nổi tiếng nhưng bị nhà xuất bản cắt xén khá nhiều. Chúng ta thử đọc vài trích đoạn trong Hồi Ký của cụ Nguyễn Hiến Lê trước khi đọc sách của Huy Đức.

Kẻ “thắng trận” muốn biến miền Nam nghèo như miền Bắc:

“Sự thất bại hiển nhiên của chế độ là sự suy sụp của kinh tế như tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Nhưng một người Balan trong Ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quầ áo… về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi”.

Trong cùng lúc ra tay hành hạ dân miền Nam:

“Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá”.

Trong khi đó bản thân những kẻ “thắng cuộc” thì ăn hối lộ và tham nhũng:

“Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn thời trước”.

Họ tạo nên một xã hội trong đó con người mất nhân phẩm:

“Một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24. Trong một buổi hội họp của Hội trí thức thành phố Hồ Chí Minh, một kĩ sư già bực mình vì tình trạng cán bộ đa số dốt nát, bảo: “Tôi chấp nhận vô sản chuyên chính, mà không chấp nhận vô học chuyên chính”. Ngay chiều hôm đó ông ta bị bắt giam; sau cũng được thả ra”.

“Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó”.

Tình trạng phân chia Nam Bắc càng nặng:

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Ðào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc
”.

bởi vì một trong những nguyên nhân là:

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật -điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học- thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẫy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…”.

Trong khi cụ Nguyễn Hiến Lê ghi chép thời cuộc, tình hình chung, còn Huy Đức thì cung cấp cho chúng ta những câu chuyện hậu trường, những suy nghĩ cá nhân của những người nặn ra những chính sách ác ôn dẫn đến tình hình mà cụ Nguyễn Hiến Lê nhận xét. Có thể nói rằng cuốn sách của Huy Đức là một bổ sung quý báu cho hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ chúng ta thử đọc xem Huy Đức đã cho chúng ta chứng từ để giải thích cho những nhận xét của cụ Nguyễn Hiến Lê. Đọc xong bộ sách tôi thấy những thông điệp sau đây lắng đọng trong tôi:

1.- Đó là một chế độ độc tài và toàn trị. Người cộng sản nói rằng chế độ do họ dựng lên là dân chủ tập trung. Nhưng trong thực tế chúng ta thấy rằng chẳng có gì là dân chủ trong chế độ cộng sản. Tất cả các chính sách đều do một nhóm người trong Bộ chính trị quyết định. Nhưng qua Bên thắng cuộc, chúng ta còn biết rằng rất nhiều chính sách có ảnh hưởng đến hàng triệu người chỉ do một người quyết định, bất chấp những lời khuyên của người khác. Điển hình cho tính độc tài là quyết định mở cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Rõ ràng, đó là một chế độ độc tài, sao gọi là dân chủ tập trung được.

Điều mỉa mai nhất là họ cáo buộc rằng chế độ VNCH là do Mỹ dựng lên và tay sai của Mỹ, nhưng chính người lãnh đạo cao cấp nhất trong chế độ CS là Lê Duẩn khẳng định rằng họ đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng. Hình như chưa một lãnh đạo miền Nam chưa ai trơ tráo nói rằng họ là tay sai của Mỹ. Nói cách khác, chế độ CS ngoài Bắc thời đó là một chế độ toàn trị, tay sai của ngoại bang.

Tính toàn trị còn thể hiện qua việc Bộ chính trị kiểm soát cả hành vi xã giao của các đồng chí họ. Đọc đoạn Huy Đức tả cái bắt tay hờ hững của cựu thủ tướng Phan Văn Khải với ông Bill Clinton mà buồn cười về sự trẻ con và thiếu văn hoá của lãnh đạo CS. Ông Khải không mở miệng cười với Bill Clinton. Khi được hỏi tại sao lại có hành vi kém xã giao như vậy, ông Khải thú nhận: “Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười”. Đoạn viết về một ông tướng công an “làm việc” với ban giám hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội để chỉ đạo lúc nào nên cười, lúc nào nên vỗ tay, thậm chí những hành vi xem thường ông Bill Clinton như để cho sinh viên đọc báo trong lúc ông nói. Tất cả những hành động và sự giật dây đó là những minh chứng hùng hồn cho thấy chế độ toàn trị kiểm soát tất cả hành vi sống của người dân.

2.- Nội bộ thiếu đoàn kết. Thoạt đầu, ấn tượng của tôi về các vị lãnh đạo phe CSVN là họ rất đoàn kết với nhau. Nhưng đọc qua Bên thắng cuộc và kinh nghiệm cá nhân, tôi mới thấy ấn tượng đó rất sai lầm. Người CSVN, đặc biệt là trong giới lãnh đạo thượng tần, rất ganh ghét và đố kỵ lẫn nhau. Huy Đức qua những câu chuyện cá nhân phác hoạ một bức tranh rất xấu về Lê Đức Thọ và Lê Duẩn, hai người không ưa tướng Võ Nguyên Giáp. Từ một tướng vang danh thế giới bị hạ xuống người đi đặt vòng ngừa thai cho phụ nữ! Những ganh ghét và đố kỵ rất con người cũng giống như các lãnh đạo thuộc phe VNCH. Nhưng có cái khác biệt căn bản là các lãnh đạo VNCH hành xử có văn hoá hơn và có phần tế nhị hơn so với các lãnh đạo phe CS.

Họ sẵn sàng dựng nên những câu chuyện để bôi xấu lẫn nhau. Vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ” được Huy Đức mô tả khá rõ và cho thấy các đồng chí thượng tầng CS có thể lập mưu mô để hạ bệ những ai họ không ưa thích. Họ còn dám dùng cả những thủ đoạn thấp như photoshop để nguỵ tạo hình ảnh trai gái để tố cáo ông Lê Khả Phiêu lúc đó là tổng bí thư đảng.

3.- Tàn nhẫn. Sự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau:

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

4.- Lừa gạt và dối trá. Người dân đã bị bộ máy tuyên truyền của chế độ định hướng suy nghĩ và cảm nhận. Những trẻ em mới lớn lên đã bị bộ máy tuyên truyền nhồi nhét rằng các vị lãnh đạo đáng kính suốt đời hy sinh hạnh phúc cá nhân để đấu tranh cho bình đẳng xã hội. Họ còn bị nhồi nhét rằng chế độ VNCH là chế độ ác ôn, với những con người ăn trên ngồi trốc, trong khi phần lớn người lao động phải sống khổ cực. Nhưng Bên thắng cuộc lột trần “huyền thoại” cao cả của các lãnh đạo CS. Sự thật nói lên rằng họ chính là những người ăn trên ngồi trốc. Trong khi người dân không đủ cơm ăn thì họ phè phỡn với bơ sữa từ Đông Âu. Họ có những vườn rau riêng. Họ có một đội quân bác sĩ chăm sóc sức khoẻ dưới danh xưng “Ban bảo vệ sức khoẻ trung ương”. Người dân không có thuốc điều trị nhưng lãnh đạo CS thì có thừa. Nếu lấy cái nền lãnh đạo VNCH có đặc quyền đặc lợi là 1 thì những người lãnh đạo CS có đặc quyền đặc lợi phải lên đến 100. Do đó, tất cả những gì người CS phỉ báng giới lãnh đạo VNCH thì cũng chính là những gì họ phỉ báng chính họ với cường độ cao hơn 100 lần. Một cách ngửa mặt lên trời phun nước bọt.

5.- Đạo đức giả. Báo chí miền Bắc thường ra rả tuyên truyền rằng lãnh đạo VNCH là những kẻ ăn chơi, đa thê đa thiếp, chỉ biết suốt ngày nhảy đầm chứ chẳng có kiến thức chính trị gì cả. Họ còn viết hẳn một cuốn sách về các tướng lãnh VNCH. Đọc cuốn này cũng là một phương thức giải trí tốt vì các tác giả có khả năng tưởng tượng khá tốt. Nhưng còn các lãnh đạo CS thì sao? Họ là những kẻ nhiều vợ. Lê Duẩn. Nguyễn Văn Linh. Lê Đức Thọ. Võ Văn Kiệt. Có thể cả ông Hồ. Tất cả đều có hơn 1 vợ. Tất cả đều sẵn sàng bỏ vợ lại sau lưng để “theo đuổi sự nghiệp cách mạng”. Nhưng cũng có thể họ xem phụ nữ như là những người để họ giải quyết vấn đề tình cảm sinh lý. Không phải ai trong giới lãnh đạo CS đều sống vô đạo đức, nhưng nhìn qua những nhân vật cao cấp chúng ta thấy nói rằng thói đạo đức giả rất phổ biến trong giới thượng tầng của chế độ.

6.- Dốt nát. Chúng ta biết rằng những người cộng sản thế hệ thứ nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (không tính đến những người như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) là những người có trình độ học vấn khá và có bản lãnh. Nhưng Bên thắng cuộc tiết lộ rằng những người thuộc thế hệ đàn em của những người tiền phong toàn là một nhóm người ít học. Những lãnh đạo như ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh … đều xuất thân từ thành phần không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn. Sự dốt của lãnh tụ có khi đến mức hài hước. Trong phần viết về sức khoẻ lãnh đạo, chúng ta được biết ông Đỗ Mười nói về bệnh trạng của tướng Đoàn Khuê, qua lời thuật của ông Nguyễn Văn An, như sau: “Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”. Thật kinh hoàng khi những con người như thể được đặt ở vị trí chót vót lãnh đạo một đất nước 90 triệu dân!

Qua Bên thắng cuộc chúng ta biết rằng các lãnh đạo CS có tầm nhìn rất hạn hẹp. Có thể do bị nhào nặn bởi tuyên truyền cộng với kém học thức nên các lãnh đạo CS có kiến thức rất nghèo nàn về thế giới ngoài các nước XHCN và Trung Cộng. Từ đó dẫn đến những nhận định sai lầm và những lựa chọn bất lợi cho đất nước. Điển hình là câu chuyện đằng sau việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Câu chuyện cho thấy giới lãnh đạo CS thiển cận và làng xã trong những nhận xét của họ về một đối thủ rất quan trọng.

Chúng ta thử đọc một đoạn “Cứu chủ nghĩa xã hội” để thấy ông Nguyễn Văn Linh có tầm nhìn và hành xử đầy kịch tính ra sao. Đọc cũng để thấy Gorbachev chẳng những mỉa mai mà còn khinh Nguyễn Văn Linh như thế nào:

Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh:

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Quyết địng đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev. Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Bị đối xử như thương gia tầm thường:

Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hòa Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác – Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh – chỉ ngồi khoang hành khách thường.

Bị xem thường:

Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn. …. Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội.

Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. … Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòng. Ông Linh và tùy tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: “Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó”. Tôi bảo: “Tính thằng này nó hình thức thế”. Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: “Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó”. “Ông kia” đề cập ở đây là Gorbachev.

Dù ông Linh rất nhiệt tình cứu XHCN nhưng người ta làm ngơ:

Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”.

Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng Bí thư Mông Cổ, Phó Thủ Tướng Hernandez của Cuba, Tổng Bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng Bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặp. Chỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ.

Sau nhiều cuộc trì hoản thì ông Linh cũng được Gorbachev cho một cuộc gặp mặt. Nhưng đó là một cuộc gặp mặt để Gorbachev khinh miệt ông Linh. Chúng ta hãy đọc tiếp:

Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, “Gorby! Gorby!”. Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: “Tao lạnh quá”. Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: “Tổng Bí thư của tôi quên mang áo ấm”. Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta.

Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, mười giờ sẽ có duyệt binh, nhưng tám giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: “Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được”. Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với “bạn”. Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev.

Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được.

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: “Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”.

Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là “rất tốt” nhưng chỉ là những lời khen xã giao. Ông Linh nói: “Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế”. Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: “Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!”. Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: “Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước”.

Cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế Hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: “Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi”. Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Đọc những đoạn trích dẫn rất sống động này tôi phải nói là rất nhục. Là lãnh tụ một đất nước 90 triệu dân mà không nắm được tình hình thế giới để bị các lãnh đạo của chính thế giới XHCN xem thường như thế. Ông Nguyễn Mạnh Cầm có lẽ là người ngoại giao nên còn biết được tình hình thế giới. Ông đưa ra nhận xét rằng “Nhận thức của một số đồng chí trong Bộ chính trị lúc bấy giờ không theo kịp những thay đổi của tình hình thế giới”. Không theo kịp tình hình thế giới có nghĩa là sống trong cái ao làng. Chẳng biết ông Linh có hiểu những câu nói của Gorbachev hay không. Thật là nhục nhã. Tất cả cũng vì cái dốt.

Cái dốt của lãnh đạo CS còn thể hiện qua lần tiếp kiến giữa ông Lê Khả Phiêu và Bill Clinton. Trong buổi tiếp kiến, trong khi Bill Clinton nói về tương lai hợp tác, ông Lê Khả Phiêu lại tận dụng chuyện Bill Clinton “trốn lính” làm cho ông Bill Clinton rất giận và chắc chắc cũng rất khinh thường người đối diện mình:

Bill Clinton nhớ lại: “Lê Khả Phiêu cố gắng sử dụng hành động phản đối chiến tranh Việt Nam của tôi để cáo buộc những gì Mỹ đã làm là hành vi đế quốc. Tôi đã rất giận dữ nhất là khi ông ta nói vậy trước sự có mặt của Đại sứ Pete Peterson, một người đã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói với nhà lãnh đạo Việt Nam rằng khi tôi không tán thành các chính sách đối với Việt Nam, những người theo đuổi nó cũng không phải là đế quốc hay thực dân, mà là những người tốt chiến đấu chống cộng sản. Tôi chỉ Pete và nói, ông đại sứ không ngồi sáu năm rưỡi trong nhà tù ‘Hà Nội Hilton’ vì muốn thực dân hóa Việt Nam”.

Ông Phan Văn Khải nhớ lại: “Ông Phiêu nói như thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái độ của một chính quyền cộng sản. Nhưng, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe xã hội chủ nghĩa đã tan rã. Vấn đề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Nếu người Mỹ không vào thì những công ty lớn trên thế giới không có ai vào cả”. …

Clinton nhận xét, dường như những người mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hơn thì ngôn ngữ càng “sặc mùi” cộng sản theo kiểu cũ hơn”.

Sự dốt nát chính là một nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc bỏ lỡ cơ hội để phát triển đất nước. Câu chuyện xung quanh ký hiệp định thương mại song phương BTA cho thấy giới lãnh đạo thượng tầng CS rất sợ Trung Cộng. Ông Nguyễn Mạnh Cầm nói “Tôi tiếc đứt ruột. Năm 1999, Bill Clinton muốn ký trước mặt các nhà lãnh đạo đủ cả phương Tây lẫn phương Đông. Khi ấy các tập đoàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp định là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết định không ký, mất biết bao nhiêu cơ hội”. Không chỉ BTA, ngay cả những chần chừ để trở thành thành viên của ASEAN cũng phản ảnh sự kém hiểu biết của những người lãnh đạo CS chóp bu.

Sự dốt nát và kém hiểu biết của người CS không phải chỉ biểu hiện trong giới lãnh đạo mà còn ở những người trong giới học thuật và chuyên môn. Sau 1975 tôi đã có nhiều “tiếp cận” với những đồng nghiệp y khoa từ Bắc vào. Tôi có thể nói một cách không ngần ngại rằng trình độ của họ quá kém. Có lần một anh bác sĩ nghe nói là cấp cao ngoài đó mà viết tên thuốc trụ sinh còn sai. Không phải sai một lần mà nhiều lần. Chỉ nhìn nét chữ cũng có thể biết được anh chàng này thuộc thành phần bác sĩ gì. Ngay cả những người được “chi viện” để tiếp thu trường y Sài Gòn cũng là những người rất kém cỏi về kiến thức và kỹ năng lâm sàng. Họ bị các thầy trong Nam khinh ra mặt. Do đó tôi không hề ngạc nhiên khi đọc những dòng chữ viết về phản ứng của giới trí thức trong Nam trước những chính sách quái đản được áp dụng sau 1975. Họ vận hành theo tư duy rặt mùi cộng sản.

Cứ đến ngày kỷ niệm nào đó họ hỏi có thành tích khoa học gì để chào mừng và nhận được câu trả lời của thầy Phạm Biểu Tâm: “Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả”. Sau này trong một lần họp bàn về cách giải quyết hệ thống nước bị đục, giáo sư Phạm Biểu Tâm không phát biểu gì cả. Đến khi bị ông Võ Văn Kiệt gặn hỏi, giáo sư Tâm vốn rất quý ông Kiệt, chỉ nói đơn giản “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khoẻ, vì cái gì cũng đã có các anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.  [đảng vốn hay khoe khoang: cái gì đảng cũng biết tuốt, cũng chỉ đạo hết...Gs Phạm Biểu Tâm mỉa mai đảng qua câu trả lời này- TH] Đối với giới trí thức miền Nam ngày ra mắt đầu tiên của chính quyền không hề thuyết phục được họ. (Và) Cho đến bây giờ tình hình vẫn thế.

Bên thắng cuộc đã trở thành một tác phẩm bán chạy. Nếu được công bố ở trong nước tôi nghĩ chắc chắn bộ sách sẽ qua mặt bất cứ cuốn sách nào đang có trên thị trường. Đọc xong bộ sách tôi hiểu được tại sao nó nổi tiếng.

Theo tôi, Bên thắng cuộc được nhiều người quan tâm vì trong đó có rất nhiều những câu chuyện hậu trường chính trị. Đặc biệt hơn là tất cả những câu chuyện hậu trường đều nói lên những hình ảnh tiêu cực của giới lãnh đạo CSVN. Khó tìm một câu chuyện nào mang tính tích cực trong sách. Trong đó có những con người ít học nhưng ngạo mạn. Đó là những con người đạo đức giả. Đó là những con người sẵn sàng chấp nhận đớn hèn để sống trong môi trường tàn ác. Đó là những con người tàn nhẫn và xảo trá. Những cá tính lãnh đạo như thế là tác giả của những quyết sách đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Họ dẫn đất nước bỏ mất cơ hội hết năm này sang năm khác. Những câu chuyện như thế giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ hơn cái tâm kém và cái trí thấp của một số đông lãnh đạo chóp bu và giải thích tại sao đất nước và dân tộc chúng ta đã quá bất hạnh trong suốt 70 năm qua. Họ là nguyên nhân gần và tác nhân trực tiếp đã đưa đất nước nghèo hèn như hiện nay. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.

7 phản hồi to “►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý kiến của đọc giả về tác phẩm này…”

  1. [...] ►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc – Huy Đức [...]

  2. [...] « ►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc – Huy Đức [...]

  3. [...] « ►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc – Huy Đức [...]

  4. "tieu hoa" đã nói

    Chào mừng các bạn truy cập vào website:
    http://www.benhhoctieuhoa.com.

    “Ngành y là ngành của những người thiện. Khi chấp nhận dấn thân vào NGHIỆP này ta phải lường trước các khó khăn mà cần phải có sự hy sinh và một tấm lòng vì người bệnh, nhất là bệnh nhân nghèo…”

    Với mục đích ấy, các bài viết trong website được tiếp nhận và tập
    hợp từ các tài liệu liên quan tới sức khoẻ nhằm
    phổ biến kiến thức y học cho mọi người, vì lợi ích cộng
    đồng, không lợi nhuận.

    Với tinh thần ấy, chúng tôi mong muốn được ngày càng
    củng cố chút kiến thức y khoa nhỏ bé của mình từ biển cả
    y học bao la, mong được sự đóng góp của các thầy,
    các bậc tiền bối, các bạn đồng nghiệp, các tổ
    chức và đặc biệt là người bệnh – các
    bạn là người thầy, người bạn học, là tri ân của chúng
    tôi nữa.

    Trên tinh thần ấy, Thạc sỹ – Bác sỹ Nguyễn Bạch Đằng, với gần 10 năm làm việc, nghiên cứu trong lĩnh vực tiêu
    hóa đã xây dựng nên website này với
    mục đích cung cấp thêm một kênh thông tin
    nhằm chia sẻ, giải đáp phần nào các thắc mắc của bạn đọc về các vấn đề liên quan
    đến hệ tiêu hóa.

    Quý tác giả nào phát hiện tác phẩm của mình website BENHHOCTIEUHOA.
    COM ngoài ý muốn xin vui lòng thông báo cho webmaster biết để
    có thể được thì xóa bỏ đi.

    Ngoài ra, quý độc giả hoặc quý công ty nào có sản phẩm, nhất là các sản phẩm về sức khỏe,
    y tế muốn được thêm nhiều người biết
    tới có thể liên hệ với chúng tôi để đặt
    banner quảng cáo với giá cả hết sức phải chăng.

    Các bạn thân mến, mọi tin bài, hoặc những thắc mắc về sức khoẻ,
    đừng ngần ngại hãy chia sẻ với chúng tôi.
    Mỗi lời nhắn là một tri ân.

    Trân trọng!

    EMAIL: drdang@benhhoctieuhoa.com

    Điện thoại: 0904.830.601

    Lưu lại để bạn được hỗ trợ khi cần thiết, xin cảm ơn.

  5. [...]           X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu. …Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997. …Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn… Cướp đất của Hội Đồng Công luật Công Án Bia Sơn ở ngoài Nha Trang cũng chỉ là phiên bản mới của vụ cướp trong Chiến Dịch X-3: Đánh Tư sản Thương nghiệp 21-3-1978 va`Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954 do Đỗ Mười thực hiện. Vụ 1978 do đảng CSVN chỉ đạo  cướp tài sản của dân chúng miền Nam, Đỗ Mười thực hiện. Nhờ vụ này mà về sau ĐM trở thành Tổng Bí Thư của đảng CSVN 1991-1997.  DCM  building của Đỗ Mười,  DCM là viết tắt của chữ Đỗ Mười Center!  Hàng xóm ở chung quanh tòa nhà này cho biết  building này  do con rễ của Đỗ Mười đứng tên! (Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý …)) [...]

  6. [...]           X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu.   …Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.   …Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn…   Cướp đất của Hội Đồng Công luật Công Án Bia Sơn ở ngoài Nha Trang cũng chỉ là phiên bản mới của vụ cướp trong Chiến Dịch X-3: Đánh Tư sản Thương nghiệp 21-3-1978 va`Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954 do Đỗ Mười thực hiện.   Vụ 1978 do đảng CSVN chỉ đạo  cướp tài sản của dân chúng miền Nam, Đỗ Mười thực hiện. Nhờ vụ này mà về sau ĐM trở thành Tổng Bí Thư của đảng CSVN 1991-1997.    DCM  building của Đỗ Mười,  DCM là viết tắt của chữ Đỗ Mười Center!  Hàng xóm ở chung quanh tòa nhà này cho biết  building này  do con rễ của Đỗ Mười đứng tên! (Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý …) [...]

  7. […] ►”Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý kiến… […]

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: