Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư, 2012

Trong khi BBC loan tin (Đảng) Lừa Dối Dư Luận về nền kinh tế XHCN, thì Kinh tế thị trường là sự yêu thích của người Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 14/04/2012

Kinh tế thị trường và “nghịch lý” thú vị của người Việt

Anh Minh
Người Việt Nam tuy “yêu” kinh tế thị trường, nhưng lại vẫn mong chờ nhà nước… bình ổn giá! – Ảnh: Daily Mail.
Báo cáo nghiên cứu về cảm nhận của người dân Việt Nam về vai trò của nhà nước và thị trường ở Việt Nam (CAMS 2011) được công bố sáng 13/4 tại Hà Nội đã cho thấy một “nghịch lý” thú vị trong quan điểm của người Việt đối với kinh tế thị trường.

“Yêu” kinh tế thị trường

Trong cuộc khảo sát để hình thành nên CAMS 2011, có đến 87% người trong tổng số hơn 1.000 người tham gia trả lời cho rằng mô hình kinh tế thị trường ưu việt hơn bất kỳ mô hình kinh tế nào khác.

Ngược lại, chỉ có gần 7% cho rằng mô hình kinh tế nhà nước ưu việt hơn mô hình kinh tế thị trường và hơn 6% cho rằng mô hình kinh tế nhà nước hay thị trường không quan trọng.

Điều này, theo nhận định của các chuyên gia thuộc nhóm nghiên cứu, là sự thể hiện “sự ủng hộ mạnh mẽ đối với mô hình kinh tế thị trường”.

Trong đó, nhóm cơ quan báo chí có tỷ lệ ủng hộ cao nhất với 97% cho rằng kinh tế thị trường là ưu việt, tiếp theo là nhóm cơ quan Chính phủ, các bộ, ngành và UBND và các sở ngành cấp tỉnh (92%), nhóm doanh nghiệp nhà nước (doanh nghiệp nhà nước) và các cơ quan Đảng ở Trung ương là tương tự nhau (86-87%).

Tuy nhiên, chỉ có 75% số người trả lời của nhóm là đại biểu quốc hội và người làm việc tại các cơ quan của Quốc hội cho rằng mô hình kinh tế thị trường là ưu việt, trong khi cũng chỉ có 83% số người thuộc nhóm doanh nghiệp gồm tư nhân trong nước và tư nhân nước ngoài ở Việt Nam cho rằng kinh tế thị trường là ưu việt; thấp hơn mức trung bình và thấp hơn khá nhiều so với nhóm thuộc kinh tế nhà nước.

Mức độ ủng hộ mô hình kinh tế thị trường cũng có sự khác biệt theo chức vụ và độ tuổi của người trả lời điều tra.

Gần 90% những người nắm chức vụ cao cấp ủng hộ mô hình kinh tế thị trường so với tỷ lệ 85% của nhóm chức vụ trung cấp hay bình thường. Tỷ lệ ủng hộ mô hình kinh tế thị trường của nhóm người từ 30 tuổi đến 49 tuổi và nhóm 50 tuổi trở lên đều khoảng 90% so với tỷ lệ gần 83% của nhóm những người dưới 30 tuổi.

Khi đánh giá về chuyển đổi từ kinh tế nhà nước sang kinh tế thị trường của Việt Nam từ năm 1986 đến nay, cứ 1 trong 4 người được hỏi đã trả lời đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý với nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam hiện nay cơ bản là nền kinh tế thị trường.

Nhóm nghề nghiệp đánh giá cao nhất về nỗ lực này của Việt Nam là cán bộ của UBND và sở ngành cấp tỉnh với tỷ lệ là 33% và thấp nhất là cơ quan báo chí với tỷ lệ là 3%. Gần 60% người trả lời chỉ đồng ý một phần về nhận định nói trên.

Ở thái cực ngược lại, chỉ có 22% số người trả lời đồng ý về nhận định nền kinh tế Việt Nam hiện nay về cơ bản là một nền kinh tế nhà nước. Tỷ lệ đồng ý cao nhất thuộc về nhóm có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

Đó là những người trả lời đến từ các đại sứ quán, tổ chức quốc tế (40%) và các doanh nghiệp FDI (39%). Không có một ai từ các cơ quan Đảng ở Trung ương và 8% từ UBND và các sở, ngành cấp tỉnh đồng ý với nhận định nói trên.

Như vậy, có thể nói, người nước ngoài, người Việt Nam làm việc tại các tổ chức quốc tế và người trong nước có đánh giá tương đối khác nhau về mức độ chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở Việt Nam. Cụ thể là, mức độ chuyển đổi sang kinh tế thị trường theo đánh giá của người từ các tổ chức quốc tế là thấp hơn so với đánh giá của những người trong nước.

Theo các chuyên gia, kết quả nói trên cũng có thể hiểu được; bởi vì, có lẽ người nước ngoài so sánh nền kinh tế Việt Nam hiện nay với nền kinh tế của quốc gia họ hoặc ở nước khác mà họ đã sống và làm việc; trong khi đó, người trong nước so sánh nền kinh tế Việt Nam hiện nay so với trước đây.

Nhưng vẫn thích nhà nước… định giá

Tuy nhiên, ngay cả khi đã bày tỏ “tình yêu” khá rõ ràng với kinh tế thị trường, nhiều người dường như vẫn mong muốn được nhà nước bảo hộ về vấn đề giá cả.

Điều này, theo ví von của ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế và Trọng tài thuộc VCCI, là dường như người Việt Nam vẫn “dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng”!

Điều đáng ngạc nhiên là kết quả khảo sát cho thấy rằng đa số người Việt Nam cho rằng Nhà nước nên can thiệp vào thị trường. 68% số người trả lời cuộc điều tra này cho rằng Nhà nước nên can thiệp vào thị trường để bình ổn giá của những hàng hóa thiết yếu tiêu thụ bởi các hộ gia đình. Tỷ lệ cho rằng giá cả nên được quyết định bởi thị trường chỉ đạt hơn 1/4 số người trả lời điều tra.

Chính vì điều này, nhóm nghiên cứu cho rằng CAMS 2011 đã cho thấy một bức tranh tương đối mâu thuẫn là đa số người Việt Nam ủng hộ cao mô hình kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân đối với doanh nghiệp, đòi hỏi mức độ minh bạch cao trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách của Nhà nước… nhưng lại ủng hộ việc Nhà nước nên can thiệp vào thị trường liên quan đến giá cả các hàng hóa thiết yếu.

Theo bà Phạm Chi Lan, một thành viên của nhóm nghiên cứu, có thể là phần lớn hàng hóa thiết yếu tiêu thụ bởi các hộ gia đình chủ yếu vẫn do các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh độc quyền, thống lĩnh thị trường (như điện, xăng dầu, ngoại tệ, vàng, đất đai, các nguyên liệu cơ bản, dịch vụ tài chính, hàng không, đường sắt…) nên người dân lo ngại về hệ quả xấu, nếu Nhà nước không có sự kiểm soát tốt.

Lý do thứ hai có thể xuất phát từ cách thức truyền thông và các thông điệp liên quan từ các phương tiện truyền thông.

Cụ thể là, mỗi khi có biến động giá cả trên thị trường, nhìn chung, các cơ quan truyền thông thường đổ lỗi cho đầu cơ, lợi dụng của những người kinh doanh để trục lợi; đồng thời, yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan phải can thiệp kịp thời.

Và thông điệp cho dân chúng thường là Nhà nước can thiệp thì tốt, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng hơn là để thị trường tự quyết định giá.

Nguyên nhân tiếp theo cũng có thể là trong bối cảnh kinh tế khó khăn, tình trạng lạm phát, giá cả tăng cao trên nhiều lĩnh vực những năm gần đây, kỳ vọng của người Việt Nam về vai trò của Nhà nước trong can thiệp và bình ổn giá cả tăng lên…

Nhưng cũng có thể là do nhận thức và hiểu biết về kinh tế thị trường, sự vận hành của thị trường và tác dụng của nó trong giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế của tất cả các bên có liên quan còn hạn chế; sự do dự trong lựa chọn giữa thị trường và nhà nước, trong nỗ lực chuyển đổi sang kinh tế thị trường vẫn có đâu đó với mức độ khác nhau trong mỗi người Việt Nam.

Tuy vậy, một điểm đáng lo ngại là khi đánh giá mức độ gia tăng số lượng các quy định của Nhà nước trong năm năm qua (từ 2006 – đến 2011) để bình ổn giá các hàng hóa thiết yếu mà các gia đình tiêu thụ thì 59% người trả lời cho rằng tăng và chỉ 9% cho rằng giảm. Hầu hết các nhóm nghề nghiệp đều cho rằng số lượng các quy định của nhà nước can thiệp để bình ổn giá đã tăng lên trong 5 năm vừa qua.

Đối với chương trình bình ổn giá, trong những năm gần đây, chính quyền một số địa phương đã khởi xướng và thực hiện “chương trình bình ổn giá” nhằm ổn định giá cả của một số hàng hóa thiết yếu. Cách thức thực hiện thường là nhà nước chi tiền hỗ trợ một số doanh nghiệp được lựa chọn (như cung cấp vốn vay không lãi suất hoặc cho vay vốn với lãi suất thấp) để bán các loại hàng hóa thiết yếu ở mức giá thấp hơn giá thị trường.

Đáng lưu ý là tỷ lệ ủng hộ chương trình bình ổn giá cả có tương quan tỷ lệ thuận với trình độ học vấn. Chẳng hạn như đối với nhóm người trả lời có trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông trung học trở xuống thì đến 58% cho rằng chương trình bình ổn giá có hiệu quả so với tỷ lệ 21% của nhóm tốt nghiệp sau đại học.

Và ngược lại có 75% số người tốt nghiệp sau đại học cho rằng chương trình bình ổn giá không có hiệu quả so với tỷ lệ 31% của nhóm người trả lời tốt nghiệp phổ thông trung học trở xuống. Như vậy, có thể mức độ nhận thức và hiểu biết về kinh tế thị trường có tác động đến nhận thức về vai trò của Nhà nước và thị trường, cũng như yêu cầu và tốc độ cải cách chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở Việt Nam.

Cảm nhận của người dân ở phần này của cuộc điều tra một lần nữa phản ánh bức tranh nửa sáng nửa tối của hệ thống kinh tế Việt Nam, trong đó vai trò của nhà nước và thị trường trong các hoạt động kinh doanh và trong việc quyết định giá cả không rạch ròi.

Chính do thực tế nhà nước còn trực tiếp tham gia hoặc can thiệp vào rất nhiều hoạt động kinh doanh, quyết định giá cả của nhiều mặt hàng lớn, nên người dân nhìn nhận không rõ vai trò của thị trường, và tin vào sức mạnh của nhà nước khi can thiệp vào giá cả có thể bảo vệ cho mình khỏi những bất lợi do biến động thị trường.

Mặt khác, với hệ thống thông tin còn kém minh bạch hiện nay, phần lớn người dân cũng không có nhiều thông tin để biết được nguyên nhân cốt lõi của những biến động thị trường gây bất lợi cho họ là từ đâu, trong khi số lớn các quan chức nhà nước và truyền thông thường che giấu những khiếm khuyết của nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong các hoạt động kinh doanh và đổ trách nhiệm cho thị trường về những biến động tiêu cực.

Mức độ gia tăng số lượng các quy định của Nhà nước trong 5 năm qua để bình ổn giá, như hầu hết các nhóm nghề nghiệp đánh giá, đã cho thấy sự can thiệp tăng lên của nhà nước vào giá cả thị trường là không phù hợp với yêu cầu cải cách và các cam kết quốc tế về tự do hóa thương mại.

Trong khi đó, thực tế diễn ra trong nền kinh tế Việt Nam thời kỳ này lại là bất chấp sự can thiệp mạnh của nhà nước, lạm phát vẫn tăng cao, giá cả hàng hóa trên thị trường nội địa liên tục leo thang, tác động nặng nề tới ổn định kinh tế vĩ mô và thu nhập thực tế của người dân. Như vậy, theo nhóm nghiên cứu, rõ ràng sự can thiệp của nhà nước theo cách đã làm chưa hẳn đã là phương thuốc đúng và hiệu lực, hiệu quả để ổn định thị trường.

Nguồn danluan.org

**************************************************

Dân nói như thế, còn tổng bí thư đảng thì ba hoa bên Cuba, lên lớp dạy Cuba về kinh tế  thị trường theo định hướng XHCN. Sau khi nghe bài giảng của ông Trọng, Tổng thống Brazil đã hủy bỏ cuộc việc thăm của ông Nguyễn Phú Trọng cùng khoảng hơn 10 bộ trưởng và 10 ủy viên Trung Ương Đảng. Dù cuộc viếng thăm này đã được bố trí trước rất lâu. Và trên website của báo chí VN không có lời bình luận về sự hủy bỏ đột ngột này.

Tổng Bí thư VN giảng CNXH ở Cuba

Thứ ba, 10 tháng 4, 2012

Trong khuôn khổ chuyến thăm Cuba, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hôm 9/4 đã có bài thuyết giảng về mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam tại Trường đảng cao cấp Nico Lopez – nơi đào tạo cán bộ chủ chốt của Trung ương Đảng cộng sản Cuba.

Với chủ đề ‘Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội nhìn từ thực tiễn Việt Nam’, ông Trọng đã giảng giải bốn vấn đề: chủ nghĩa xã hội là gì; làm thế nào để đi lên chủ nghĩa xã hội; con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; những vấn đề nảy sinh trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Sức sống mạnh mẽ

Dẫn văn kiện Đại hội Đảng hồi năm ngoái, ông Trọng khẳng định với những người đồng chí Cuba của ông là rằng đi lên chủ nghĩa xã hội là ‘khát vọng của nhân dân (Việt Nam)’, là ‘lựa chọn đúng đắn của Đảng’ và ‘phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử’.

Theo Thông tấn xã Việt Nam, ông Trọng cho biết là đảng của ông đang ‘từng bước’ nhận thức ‘ngày càng đúng đắn hơn’ về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

Ông Trọng cũng đưa ra những dẫn chứng từ Việt Nam và thế giới để chứng tỏ sức sống của chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay.

“Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế,” ông nói với các cán bộ, giáo sư và học viên của trường.

“Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế.”

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

“Đó là sự ưu việt, là sức sống thực tiễn của chủ nghĩa xã hội!,” ông khẳng định.

Trên bình diện quốc tế, ông Trọng đưa ra các dẫn chứng Việt Nam ‘vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội’, Cuba ‘vẫn hiên ngang đứng vững’, ‘bước tiến cách mạng’ ở Venezuela, Bolivia và Eucador, ‘sự lớn mạnh’ của phong trào cánh tả Mỹ Latin, các nước xã hội chủ nghĩa khác ở châu Á ‘vẫn tiếp tục con đường tiến lên phía trước’ như là những ‘bằng chứng đầy khích lệ về sức sống của chủ nghĩa xã hội’.

Ông cũng đề cập đến cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay tại các nước tư bản để khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là ‘lựa chọn duy nhất đúng’ để vượt qua những bế tắc hiện nay mà các đảng cánh tả và ‘phong trào nhân dân tiến bộ các nước’ đang xác định ‘ngày càng rõ ràng’.

Ông Nguyễn Phú Trọng hoan nghênh những cải cách kinh tế trong Đại hội vừa qua của Đảng cộng sản Cuba và bày tỏ mong muốn Việt Nam và Cuba ‘tiếp tục sát cánh bên nhau’ trên con đường chủ nghĩa xã hội.

Lừa dối dư luận

Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Raul Castro
Hà Nội từng khuyên Havana tiến hành các cải cách kinh tế để tránh sụp đổ

Ông Nguyễn Khắc Toàn, một nhà bất đồng chính kiến ở Hà Nội, đã bác bỏ hoàn toàn các luận điểm này của ông Trọng.

Ông Toàn đưa các dẫn chứng về dân oan mất đất, phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, lạm phát, thất nghiệp tăng cao, an sinh xã hội bị tác động nặng nề, tình trạng tham nhũng hối lộ hoành hành để phản bác ‘thành tích’ về mặt xã hội của Việt Nam mà ông Trọng đã ca ngợi.

“Tình trạng bất công ở Việt Nam lan tràn khủng khiếp,” ông nói, “Hàng năm có hàng nghìn các cuộc xuống đường ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn.”

Về ‘sức sống’ của chủ nghĩa xã hội, ông Toàn cho biết cả năm nước xã hội chủ nghĩa còn sót lại trên thế giới là Trung Quốc, Bắc Hàn, Việt Nam, Cuba và Lào đang ‘chịu những thách thức ghê gớm’ và ‘đang lung lay dữ dội’.

“Không có chủ nghĩa xã hội nào là có sức hấp dẫn đối với quần chúng cả,” ông nói.

Đối với trường hợp Venezuela mà ông Trọng đã nêu dẫn chứng như là sự hồi sinh của chủ nghĩa xã hội, ông Toàn đánh giá Tổng thống Hugo Chavez của nước này là ‘mị dân’ và là ‘kẻ đơn độc lẻ loi trơ trẽn ở Tây bán cầu cổ súy cho sự độc tài toàn trị.’

“Những nước tư bản và những nước có nền kinh tế thị trường luôn luôn phát triển và có những cuộc khủng hoảng nhất thời,” ông nói.

Tuy nhiên, nhờ vào ‘cơ chế dân chủ’ mà những nước này luôn tìm ra cách giải quyết khủng hoảng, ông Toàn lập luận.

“Ông ấy (Nguyễn Phú Trọng) chỉ tự nói dối bản thân mình, lừa dối dư luận, lừa dối nhân dân Cuba và nhân dân Việt Nam.”

Nguyễn Khắc Toàn, nhà bất đồng chính kiến

Về ‘con đường đi lên chủ nghĩa xã hội’ của Việt Nam và Cuba, ông Toàn cho biết là ‘không có chủ nghĩa xã hội nào ở đây cả’ và hai quốc gia này là ‘độc tài toàn trị mang danh chủ nghĩa xã hội’.

Ông giải thích với việc cả Trung Quốc và Việt Nam đều ‘du nhập những nguyên tắc của nền kinh tế thị trường để cứu cánh cho nền kinh tế của họ đang suy tàn mà thôi’.

“Trung Quốc và Việt Nam đều phản bội chủ nghĩa xã hội,” ông khẳng định.

Ông lập luận rằng chủ nghĩa xã hội đích thực thì ‘phải có đấu tranh giai cấp, kinh tế kế hoạch và chống lại kinh tế thị trường’ trong khi hai nước này đang tích cực hội nhập vào kinh tế thế giới và mong muốn được thế giới công nhận là ‘kinh tế thị trường’.

“Ông ấy (Nguyễn Phú Trọng) chỉ tự nói dối bản thân mình, lừa dối dư luận, lừa dối nhân dân Cuba và nhân dân Việt Nam,” ông nói.

Ông Toàn cũng nhận định chuyến thăm Cuba lần này của ông Trọng là để lãnh đạo cộng sản hai nước ‘lên dây cót tinh thần cho nhau’ trong bối cảnh ‘hàng loạt đất nước độc tài ở Bắc Phi đã bị nhân dân bùng lên đánh đổ làm họ hoang mang lo sợ cho số phận của mình’.

Ông cho rằng ông Trọng sẽ ‘truyền kinh nghiệm’ của Việt Nam cho Cuba mà ông đánh giá là ‘tình hình hiện nay đang thảm hại về mọi mặt’ để nước này ‘kéo dài thêm sự sống’ và sẽ khuyên Cuba ‘có những bước đi mạnh bạo hơn nữa như Việt Nam về mặt kinh tế’.

“Họ (Đảng cộng sản Việt Nam) thấy rằng những cải cách của Cuba trong những năm gần đây theo lời khuyên của họ và của Trung Quốc chưa đủ mạnh để cứu cánh cho nền kinh tế của quốc gia này đang trên đà sụp đổ,” ông nói.

“Về chính trị chắc chắn họ sẽ kiên quyết cùng nhau chống lại khát vọng và đòi hỏi tự do dân chủ ở mỗi nước,” ông Toàn nhận xét.

“Sự cấu kết của hai nhà cầm quyền (Việt Nam và Cuba) là rất mạnh mẽ,” ông nói và dẫn chứng là mỗi nhiệm kỳ của các tổng bí thư Việt Nam đều đi thăm Cuba.

——————————————————————————————————————————————–

TBT Đảng CSVN hủy chuyến thăm Brazil

nguồn BBC

13-4-2012

Chuyến thăm Brazil theo lời mời của Tổng thống Dilma Rousseff của Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, dù đã được hai nước chuẩn bị từ trước, đã đột ng̣ột bị hủy vào giờ chót.

Theo kế hoạch, ông Trọng sẽ bay đến Brazil ngay sau chuyến thăm Cuba trong kéo dài đến ngày 15/4. Tuy nhiên, ông đã từ Havana bay thẳng về Việt Nam.

Thông tấn xã Việt Nam loan báo nguyên nhân hủy chuyến thăm là ‘do khó khăn đột xuất của phía Brazil’. Tuy nhiên hãng thông tấn nhà nước không nói rõ đây là khó khăn gì.

Một cán bộ ngoại giao Việt Nam giấu tên nói với BBC rằng đây là việc mà ôngchưa thấy trong mấy chục năm làm ngoại giao’.

Ông nói có một số nước xem ông Trọng như nguyên thủ quốc gia của Việt Nam nhưng cũng có những nước không mặn mà lắm với tổng bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam…

——————————————————————————————————————————————–

Chủ đề liên quan

Posted in Kinh Te | Leave a Comment »

Thư ngỏ của một đảng viên đảng CSVN gởi cấp trên về vụ chị Bùi Thị Minh Hằng

Posted by hoangtran204 trên 13/04/2012

Bộ chính trị ĐCSVN nên nghiêm túc cân nhắc xử lý trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAMTHƯ NGỎ YÊU CẦU LƯU TÂM ĐẾN UY TÍN CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUẦN CHÚNGKính thưa các đồng chí trong Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) trừ Nguyễn Tấn Dũng!

Tên tôi là : Nguyễn Chí Đức
Năm sinh : 1976
Ngày vào ĐCSVN : 28-12-2000
Ngày chính thức : 28-12-2001
Hiện đang sinh hoạt tại : Chi bộ Phòng Điều Hành thuộc Trung Tâm Dịch Vụ Khách Hàng – Viễn Thông Hà Nội

Thông thường và cũng là qui định của ĐẢNG TA (*) chỉ có đảng viên cấp trên mới có thẩm quyền giáo huấn, chỉ đạo, chỉ tay năm ngón đối với đảng viên cấp dưới mặc dù chưa chắc trình độ, đạo đức, cống hiến của cấp trên đã bằng cấp dưới. Nay tôi xin phép phá lệ, không dám thay mặt ai ngoài cá nhân tôi có đôi lời với các đ/c cấp cao nhất của Đảng ta. Vì việc này có liên quan đến 1 người anh-em, 1 người “đồng chí” của tôi đó là chị Bùi Thị Minh Hằng, ít nhiều vấn đề này cũng liên quan góp phần nâng cao huặc hạ thấp uy tín của Đảng ta.

Tôi cũng xin nói rõ khái niệm “đồng chí” trong ngoặc kép mà tôi đề cập đến chị Hằng có khi tôi còn trân trọng hơn ý nghĩ đồng chí trong Đảng ta, vì thực tế tôi từng nghe/biết trong nội bộ của Đảng ta có lúc, có khi chỉ lợi dụng là “bem” nhau chết thôi. Bem theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!

Mới đây, tôi vừa nhận được cuốn sách nhỏ-mỏng “Qui định về những điều đảng viên không được làm“ mới được in trong tháng 3/2012 một cách rất nghiêm túc. Đây là một chủ trương có tính chất hệ trọng, kết quả của việc chỉnh đốn trong nội bộ còn phải hậu xét nhưng trước mắt nó sẽ siết chặt dây thòng lọng nhằm quản lý các đảng viên là các cựu chiến binh, lão thành cách mạng, trí thức, những người tốt còn lương tâm muốn gióng lên tiếng nói về sự bất công của xã hội, về sự tha hóa trong nội bộ ĐCSVN đã đến mức trầm trọng có khả năng “ung thư di căn giai đoạn cuối“.

Tôi nghĩ là các đ/c nói riêng và nhiều người trong Đảng ta nói chung và hầu hết nhân dân đều nhận thấy sự sụp đổ, mất quyền lãnh đạo đất nước của ĐCSVN là hiện thực khác quan nếu cừ đà xuống cấp để mất lòng tin của nhân dân cũng như sự chản nán, mất tinh thần chiến đấu của phần lớn đảng viên khi nhìn và so sánh vào sự xa hoa, khệnh khạng, ăn tục nói phét của những cán bộ cấp trên (dĩ nhiên cũng là đảng viên) không xứng với tài năng, sự cống hiến và đức độ đối lập với hoàn cảnh của đại bộ phận quần chúng nhân dân.

Hôm nay, xem bản tin thời sự của đài truyền hình Hà Nội đưa tin về trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng đang bị cưỡng bức giáo dục ở cơ sở giáo dục Thanh Hà tỉnh Vĩnh Phúc, trong lòng tôi không khỏi dấy lên sự ngán ngẩm và xin mạnh dạn, thẳng thắn trình bày với các đồng chí như sau :

DM9od8oxp_Y

Thiết tưởng về trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng, tôi nghĩ các đồng chí đã biết. Còn nếu thực sự các đ/c không biết xin các đồng chí nhờ trợ lý, thư ký lên Internet vào các trang web như youtube.com, google.com hay tham khảo ở các blog, website không do sự quản lý của chế độ để tìm hiểu tâm tư, tình cảm của các blogger đối với cái tên “Bùi Thị Minh Hằng” xem như thế nào?

Tôi nhớ không nhầm đã từng xem một phóng sự truyền hình nói về những người tù, tội phạm hình sự trong thời chiến (trước 1975) ở miền Bắc đã từng được kết nạp ĐCSVN, có người ra chiến trường lập công trạng cho chế độ, có người đã anh dũng hi sinh, có người làm những việc tốt hơn cả đảng viên. Còn trong ĐCSVN thì thế nào? Trong “triều đình” của ĐCSVN có những chuyện thâm cung bí sử được đồn đại còn khốn nạn hơn cả dân gian. Có những câu chuyện nhân dân đã lan truyền từ lâu rồi (do bản tính thích đàm tiếu của người Việt Nam) trước khi xuất hiện Internet ở Việt Nam những năm 1998-1999.

Các đ/c nghĩ sao về việc dùng cả hệ thống chính trị, các phương tiện truyền thông như truyền hình, báo đảng, báo an ninh để bêu rếu, moi móc đời tư của 1 người phụ nữ bình thường có xứng đáng không? Trong giang hồ, xã hội đen cũng khó chấp nhận chứ đừng nói chuyện người lương thiện. Không biết các đồng chí nghĩ thế nào chứ từ khi tôi đi học, đi làm, những ông/anh nào hay tỉa đểu, bêu rếu phụ nữ vì chuyện A, B, C nào đó khi người ta ngã ngựa, thì bản chất người tỉa đểu bêu rếu ấy cũng chẳng ra cái gì. Anh-em, nhất là những người có cá tính, đều coi thường và khinh bỉ ngầm loại này.

Chuyện tham nhũng, mua quan bán chức, Boxit Tây Nguyên, vấn nạn trong nghành giáo dục…thì không đi bêu rếu nhằm ngăn chặn những con sâu mọt làm hại dân tộc, làm hại uy tín của ĐCSVN, làm hại đến sự tồn vong/phát triển của đất nước đằng này đi làm việc cỏn con, tiểu tiết quả thực tôi nghi ngờ về tấm lòng rộng lượng, quang minh chính đại của một số người trong Đảng ta có thẩm quyền thao túng truyền thông. Nói thẳng tưng một cách bình dân là : Quá phọt phẹt !

Một cách thành thật và thẳng thắn, tôi biết cái chuyện bêu rếu chị Hằng không chỉ đơn thuần nhằm “đánh” chị Hằng mà sâu xa là có kẻ/nhóm muốn triệt tiêu mầm mống tụ tập của những người đã từng biểu tình yêu nước trong mùa hè 2011 đã gắn kết, đùm bọc lẫn nhau. Nhưng xin thưa với các đ/c, những người này ban đầu chẩng ai có suy nghĩ liên kết, liên lạc với nhau làm gì. Chỉ đến khi có sự bắt bớ, thẩm vấn, đánh-đạp, xô đẩy người biểu tình khiến dần dần họ đồng cảm mà xích lại gần nhau từ đó phát sinh ra những câu chuyện khác.

Nguyên nhân trực tiếp để xảy ra cơ sự này, không ai khác chính là tác động của lực lượng công an thành phố Hà Nội khi phải thực hiện công vụ, làm theo mệnh lệnh của Đảng ta. Nhưng nguyên nhân sâu xa và âm ỉ chính là thái độ úp úp – mở mở về cách đưa tin của Đảng ta về tình hình biển đảo Hoàng Sa – Trường Sa không những quần chúng nhân dân không được biết mà đến 99,99% đảng viên đều không được phổ biến cụ thể thực hư như thế nào.

Việc dồn nén, nghi ngờ từ năm này qua năm khác đến một thời điểm đã bùng nổ. Nếu điều này không diễn ra vào năm 2011 thì cũng sẽ diễn ra ở một thời điểm nào đó trong tương lai và chắc chắn còn xảy ra nếu như nhân dân tỏ sự nghi ngờ vào việc quyết tâm bảo vệ tổ quốc đến hơi thở cuối cùng của lãnh đạo ĐCSVN cùng các tổ chức khác như QĐNDVN, CAND, ĐTNCSHCM…

Câu chuyện về chị Hằng tôi nghĩ nhiều người trong lực lượng an ninh, lãnh đạo ĐCSVN phải mệt mỏi, trên Internet các blogger, truyền thông không do chế độ cũng bàn ra tán vào. Bản thân những người như tôi đã từng gắn bó với chị Hằng trong một giai đoạn trong công cuộc xuống đường, không khỏi lo lắng và bất an không những về trường hợp của chị Hằng mà còn những trường hợp khác bị rắc rối không hiểu lý do tại sao?

Về ngắn hạn và cụ thể, tôi nghĩ các đ/c nên tìm cách chỉ đạo, dàn xếp và hợp lý hóa để chị Bùi Thị Minh Hằng nhanh chóng ra khỏi trại giáo dục Thanh Hà càng sớm càng tốt. Vì tôi tin rằng tất cả mọi người đều hiểu việc giam giữ chị Hằng đến 2 năm là bất hợp lý, quá nặng tay. Cái này chỉ khiến những người muốn tìm hiểu bản chất sự việc càng ngày càng thêm sợ Công An, gián tiếp là sợ ĐCSVN mà thôi. Không lẽ ĐCSVN muốn làm nhân dân sợ hãi?

Nhưng đó chỉ là ngắn hạn, còn về dài hạn khi người ta vượt qua nỗi sợ hãi, vượt qua sự đau thương, vượt qua sự u mê-ngu tối thì người ta không còn sợ nữa khi đó một cuộc cách mạng về tư tưởng sẽ diễn ra. Ban đầu, tự thân mỗi người dân tự giác ngộ, trong ĐCSVN thì các đảng viên tự diễn biến đến một lúc chín muồi, đủ lượng thì cái gì đến nó sẽ phải đến.

Về lâu về dài, biện pháp an dân hiệu quả nhất là các đ/c tăng cường tuyên truyền và xác quyết mạnh mẽ cụ thể về chủ quyền của quốc gia đối với giặc Tàu (tương lai) cho nhân dân và cộng đồng quốc tế. Cần thiết phải có sự tuyên thệ trước quốc dân đồng bào của lãnh đạo ĐCSVN và thâm chí toàn bộ đảng viên phải xin thề khi có chiến tranh phải ra mặt trận, lên tuyến đầu, trừ trường hợp già cả/người tàn tật, phụ nữ và những trí thức lớn (để dành vào việc giáo dục). Nói gì thì nói Đảng ta hiện nay là đảng cầm quyền, gần như hầu hết các chức vụ từ xã tới trung ương đều có vị trí của Đảng ta.

Bên cạnh đó, với cương vị là cán bộ của các Bộ-Ban-Nghành trong chính phủ, các đ/c nên điều chỉnh lại chính sách, luật lệ/nghị định nhằm giảm thiểu bất công, nhũng nhiễu dân lành của các cơ quan công quyền. Các đ/c cố gắng tự chấn chỉnh nhằm ngăn chặn tham nhũng, thất thoát tài nguyên, tiền bạc mà đầu tư vào giáo dục, y tế và các hoạt động công cộng khác, chú trọng tới người nghèo, nông dân-công nhân. Những điều này chẳng có gì cao siêu và xa xôi, cứ suy luận ngay từ chính những dòng đầu tiên trong điều lệ của ĐCSVN!

Thay vào việc chúng ta tăng cường tuyển dụng quân số, đầu tư vào lực lượng an ninh nội địa, mục đích chăm chăm rình bắt những người tụ tập, ngăn chặn những người cất lên tiếng nói phản kháng chính quyền, bắt bỏ tù những người có tư tưởng khai phóng-tự do vạch ra một con đường nhằm phát triển đất nước dù không cùng quan điểm với ĐCSVN. Tôi nghĩ đại đa số những người này là người tốt trong xã hội, chí ít cũng chẳng ăn trên ngồi trốc, đè đầu/cưỡi cổ nhân dân như đảng viên. Thậm chí họ cũng chẳng nguy hiểm cho chế độ, cho sự tồn vong của ĐCSVN bằng sự suy thoái, tha hóa, tham nhũng của những đảng viên cao cấp trên hầu hết tỉnh thành, mọi mặt trận, các lĩnh vực ở Việt Nam. Nói một cách dân gian và hơi bậy đó là “tự tay bóp dá…i” chứ chẳng có thế lực thù địch nào phá hoại nhanh chóng bằng chính trong nội bộ tự đạp đổ, đi ngược lại lợi ích và nguyện vọng của nhân dân..

Rất mong các đ/c đại xá cho sự lộng ngôn của tôi vì quả thực tôi quá chán với báo đài chính thống là công cụ của Đảng ta, ai lại đi moi móc đời tư của một người phụ nữ làm gì. Nếu muốn tỏ rõ sự nghiêm minh của pháp luật thì cứ theo đúng qui định của pháp luật mà làm, cũng như chấp nhận những khiếu kiện (nếu có) của chị Hằng. Còn bằng không nếu đã xác định chơi “luật rừng” thì chúng ta cứ âm thầm mà làm thôi. Mong các đ/c rút kinh nghiệm cho những lần biểu tình yêu nước về sau của nhân dân nếu bất đắc dĩ xảy ra.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí trừ Nguyễn Tấn Dũng!

Hà Nội, ngày 13/4/2012
Người viết bài (không ký tên)

NGUYỄN CHÍ ĐỨC

(*) ĐẢNG TA : Lưu ý đối với người đọc ngoài ĐCSVN, ở đây tôi đề cập với các đ/c của tôi chứ không bao đồng Đảng ta tức là đảng của tất cả mọi người. Và đây là đảng đang cầm quyền và cũng là đảng duy nhất chính thức đang tồn tại ở Việt Nam.

Ghi chú : về nguyên tắc trong nội bộ của ĐCSVN đơn thư, phản ánh phải trình lên từ cấp cơ sở dần dần tới cấp cao hơn, nhưng với kiểu viết tùy hứng và chẳng ăn nhập gì đến chuyện cơ sở, nên tôi nghĩ không bao giờ đến tay các đồng chí trong Bộ Chính Trị, nên tôi viết thư ngỏ này để hi vọng ai đó copy & paste chuyển đến tay các đ/c này chăng ?

Nguồn: http://donghailongvuong.wordpress.com/2012/04/12/b%E1%BB%99-chinh-tr%E1%BB%8B-c%E1%BB%A7a-dcs-vn-nen-xem-xet-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-h%E1%BB%A3p-ch%E1%BB%8B-bui-th%E1%BB%8B-minh-h%E1%BA%B1ng/

Ghi chú của TH:

1. Em gái của chị Bùi Thị Hằng là một đảng viên của Đảng CSVN. Những gì cô em này nói có thể là do chi bộ đảng tại địa phương ép cô ta phải nói như vậy.  Cô em này đã từng từng làm những gì trong chuyến thăm nuôi của con trai chị Bùi Minh Hằng thì các bạn đọc ở blog Người Buôn Gió. Đại khái trong một lần nọ, cô em dẫn gia đình và bạn bè chị Hằng đến trại tù (Ai có tên trong sổ thăm nuôi mới được cho vào cổng trại tù. Vì cô em có tên trong sổ thăm nuôi nên cô phải đến trại), nhưng cô em để gia đình và bạn bè vào thăm gởi quà, còn cô ta thì đứng trước cổng trại tù chứ không vào thăm chị, vì cô em sợ liên luy, mất quan điểm…trước đảng.

Trong một lần thăm nuôi khác, khi con của chị Bùi Minh Hằng từ Vũng Tàu ra thăm nuôi mẹ, cô em và con chị Hằng đã hẹn sẽ gặp nhau ở trại tù Thanh Hóa, và cô em sẽ bàn giao sổ thăm nuôi cho người con chị Hằng. Nhưng khi cậu con đến trước cổng trại tù ngồi chờ, thì cô em chị Hằng đã không đến, và vì cô đang giữ cuốn sổ thăm nuôi từ đợt trước, nên con của chị Hằng không thể vào thăm nuôi mẹ, và đành phải trở về…

2. Nguyễn Chí Đức, là chủ của blog Đông Hải Long Vương, chính là người bị 4 công an khiêng lên xe buýt trong cuộc biểu tình năm ngoái, và anh ta đã bị một công an khác tên là đại úy Minh đạp vào mặt. Phim và  hình về vụ này rất phổ biến trên internet.  Hình và phim đang được  post ở blog của Nguyễn tường Thụy, một cựu bộ đội về hưu.

——————————————————————————————————————————————-

 

 

Thư gửi lại ông Phạm Quang Nghị, đại biểu quốc hội, bí thư thành ủy Hà Nội

 

Nguyễn Xuân Diện

 

 

Thưa chư vị,

 

Như chư vị đã biết, hôm nay (11.4.2012), bà Đặng Bích Phượng, đại diện liên lạc những người ký tên văn thư ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI VỚI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, BÍ THƯ THÀNH ỦY HÀ NỘI PHẠM QUANG NGHỊ VỀ VIỆC THỰC THI CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI đã nhận được văn thư trả lời của Văn phòng Thành ủy Hà Nội, do Phó Chánh văn phòng Nguyễn Ngọc Giao ký: “được sự ủy nhiệm của đồng chí Bí thư Thành ủy, xin thông báo để bà và những người ký tên trong đơn biết”.

 

Văn thư trả lời chỉ nói đến nội dung (2), liên quan đến cá nhân bà Bùi Thị Minh Hằng, trong khi đó nội dung (1) thì liên quan đến hàng trăm công dân khác với hàng trăm sự việc “liên quan đến việc thực thi các quyền cơ bản của công dân trên địa bàn thành phố Hà Nội” khác nhau.

 

Vì vậy, chúng tôi tiếp tục gửi tới Ông Phạm Quang Nghị, Đại biểu Quốc hội, Bí thư Thành ủy Hà Nội văn thư dưới đây:

 

Toàn văn văn thư gửi Ông Phạm Quang Nghị:

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_______________ 

THƯ CỬ TRI GỬI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI PHẠM QUANG NGHỊ 

Chúng tôi đã nhận được công văn số 587-CV/VPTU ngày 9/4/2012 do ông Nguyễn Ngọc Giao ký, liên quan đến thư ngày 3/4/2012 của một số cử tri tại Hà Nội đề nghị đối thoại với Ông Phạm Quang Nghị – Đại biểu Quốc hội, Bí thư Thành ủy Hà Nội.

 

Chúng tôi cảm ơn Ông đã có hồi âm kịp thời thông qua văn bản do ông Giao ký trên. Đáng tiếc, văn bản này không đi vào trọng tâm những nội dung chúng tôi (với tư cách cử tri) đã yêu cầu đối thoại với Ông (với tư cách Đại biểu Quốc hội), và là người đứng đầu hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội.

 

Vấn đề quan trọng nhất mà chúng tôi nêu lên là việc thực thi các quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp (trong đó có quyền biểu tình).

 

Chúng tôi muốn tìm hiểu quan điểm của Đảng (mà ông là một thành viên trong ban lãnh đạo Đảng) về việc thực thi các quyền cơ bản của công dân.

 

Chúng tôi nhận thấy những vi phạm quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp ngày càng xuất hiện nhiều, và không thấy có phương thức giải quyết thích hợp.

 

Vụ bà Bùi Thị Minh Hằng chỉ là một ví dụ điển hình cho việc vi phạm những quyền cơ bản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của lãnh đạo và chính quyền Hà Nội trong dư luận trong nước và Quốc tế.

 

Bằng thư này, một lần nữa chúng tôi đề nghị Ông với tư cách là Đại biểu Quốc hội và lãnh đạo Hà Nội (theo điều 51, 52 Luật tổ chức Quốc hội 2001, quy định Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân) tổ chức đối thoại với chúng tôi để làm rõ và trao đổi thông tin, ý kiến về những vấn đề sau:

 

a/ Những quyền cơ bản của công dân theo hiến pháp (thực trạng thực thi hiện nay và dự kiến trong Hiến pháp sắp tới)

 

b/ Giải quyết vụ bà Bùi Thị Minh Hằng, để đảm bảo Hiến pháp và quyền cơ bản của công dân được thực thi.

 

Chúng tôi hy vọng cá nhân Ông sớm có văn bản chính thức trả lời đề nghị của chúng tôi. Thời gian và địa điểm buổi tiếp xúc sẽ tùy thuộc vào Ông (chúng tôi đề nghị Ông tiếp xúc trước ngày 30/4/2012) và tin rằng Ông sẽ tôn trọng cử tri như một số cử tri đã tôn trọng lãnh đạo thành phố Hà Nội để đến dự cuộc gặp ngày 27/8/2011 theo lời mời của chính quyền thành phố.

 

Hà Nội ngày 11/4/2012,
Ký tên
Đặng Bích Phượng
Nguyễn Xuân Diện

 

————–

 

Bản copy

 

 

 

 

 

 

 

——————————————————————————————————————————————-


Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Nhạc, videobook và Phim

Posted by hoangtran204 trên 12/04/2012

Tối thứ 6, các bạn muốn xem phim, nghe nhạc, hay nghe đọc sách tiếng Anh? 

Phim:  Cuộc Cách Mạng Tư Bản của Trung Quốc (Thiên An Môn) dài 1 giờ 28 phút. Kể lại giai đoạn TQ từ bỏ nền kinh tế cộng sản  từ sau khi Mao Trạch Đông chết 1976. Cuộc tranh quyền giữa Hoa Quốc Phong và Đặng Tiểu Bình, và rồi Đặng lên ngôi lật đổ tất cả những gì thuộc về chính sách kinh tế cộng sản của Mao. Đặng để cho Mỹ và Âu Châu vào đầu tư tự do từ  1980- đến 20oo.

Cuộc viếng thăm Mỹ vào đầu năm1979 của Đặng Tiểu Bình.  Mỹ dụ Đặng bằng cách giới thiệu nền kỹ nghệ hiện đại của Mỹ, đời sống văn hóa ở Mỹ.  (Phim có đề cập chút ít về  Liên Xô.  Phim này không nhắc gì đến cuộc chiến Việt Trung. Trong thời gian 6 tháng đến  1 năm trước khi thăm viếng Mỹ, quân đội TQ đã chuẩn bị di chuyển tiến sát biên giới VN, và cuộc chiến Việt Trung đã xảy ra ngay sau khi Đặng trở lại TQ 17-2-1979.)

Cuộc cách mạng văn hóa của Mao cô lập Đặng và đàn áp gia đình Đặng;  đứa con trai của Đặng bị đánh liệt nửa người. Những người thân trong gia đình Đặng bị đàn áp và sát hại trong biến cố ấy.

Đặng dạy dân chúng yêu thích tư bản chủ nghĩa, người dân được ngân hàng cho mượn tiền mở  công ty tư 1982. Nạn lạm phát gia tăng, và công nhân mất việc làm. Những người biểu tình đã không đòi hỏi dân chủ vào lúc đầu. Tham nhũng, lạm phát, và các gian khổ trong cuộc sống gây ra bởi cuộc cải cách kinh tế đã làm cho sinh viên đại học Bắc Kinh và công nhân đoàn kết lại để đối diện với chính quyền và quân đội. 28 phút cuối cùng của phim này nói về các biến cố dẫn đến cuộc thảm sát ở Thiên An Môn 4-6-1989.  1991, Đặng tiếp tục cuộc cải cách kinh tế, cảnh cáo các đảng viên theo đường lối bảo thủ, thích Mao. Sau khi Đặng về hưu, Giang Trạch Dân lên và đảng CSTQ tiếp tục cải cách kinh tế nhưng kềm kẹp chính trị mạnh mẻ hơn.

Cuộc biểu tình đòi hỏi dân chủ  của sinh viên Trung Quốc tại quãng trường Thiên An Môn, 1989.  Phim này hiện đang bị chính quyền TQ cấm cho xem vì có nhiều đoạn phim (3 phút đầu và 20 phút cuối của phim)  về cuộc biểu tình của SV Trung Quốc tại Quãng- trường Thiên An Môn 4-6-1989. 

http://www.youtube.com/watch?v=Ku76TVslBGI&feature=related

Nhạc cổ điển:   Serenade- by  F. Schubert

Nhạc vàng:   Em Đi Rồi – Nhạc của Lam Phương- Ca sĩ Họa Mi

Serenade- by Schubert –   Dạ khúc, lời Việt của Phạm Duy – Ca sĩ Họa Mi

* Và sách

Dành cho các bạn muốn luyện tiếng MỹKhi nhấp chuột vào đây, (từ khóa để tìm kiếm truyện trên website này là videobook with synchronized text), các bạn  sẽ nhìn thấy  các truyện tiếng Anh. Khi nghe-đọc và xem truyện (videobook)  trên youtube, các bạn sẽ nhìn thấy  chữ và nghe người đọc.

(Cuốn Moby Dick của tác giả Herman melville, hoặc Call of the Wild của Jack London đều có bán trong nhà sách FAHASA và giá rất rẻ.  Hoặc, các bạn tìm cuốn truyện tiếng Anh nào đó nổi tiếng trên youtube, rồi ra nhà sách tìm mua cuốn ấy, về nằm nhìn sách, tai nghe giọng đọc của người bản xứ…)

Chú ý nghe thật kỹ, rồi luyện tập cách phát âm mẫu tự cuối của mỗi chữ. Thí dụ lắng nghe phát âm chữ sh ở cuối từ English.

Nếu các bạn muốn nghe đọc 1 chữ nhiều lần, viết chữ đó vào ô chữ nhật trong  website này: dictionary.reference.com

Và, nhấp chuột vào dấu hiệu speaker ( sau phần phiên âm quốc tế và dấu ?)

Luyện tiếng Mỹ 4-5 ngày mỗi tuần, trong vài ba năm, và chờ ngày xuống núi tự giúp mình, giúp đời.

Enjoy

Posted in Giải Trí | Leave a Comment »

Cùng bị xâm phạm chủ quyền vùng lãnh hải, trong khi Phi Luật Tân triệu đại sứ TQ đến cảnh cáo, còn Việt Nam thì im như thóc

Posted by hoangtran204 trên 12/04/2012

Lời tựa: Việc xảy ra cùng một thời gian, cả hai nước VN và Phi Luật Tân cùng bị tàu Trung Quốc xâm nhập hải phận và đánh bắt cá trộm, rồi bị phát hiện, nhưng phản ứng của hai nước thì khác nhau.

Một bên thì ra lệnh cho hải quân đến khám và lục soát tàu TQ, rồi dõng dạc tố cáo và triệu đại sứ Trung Quốc đến cảnh cáo. Còn bên kia thì đảng và chính phủ khép nép, hải quân thì im như thóc; ngay cả báo chí của đảng còn không dám nhắc đến tên, sợ phạm húy. Thế mới tài!

Soái hạm Philippines đụng độ hai tàu hải giám Trung Quốc tại Biển Đông

Phó đô đốc Alexander Pama trả lời báo chí về các hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Biển Đông (REUTERS)

Phó đô đốc Alexander Pama trả lời báo chí về các hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Biển Đông (REUTERS)
Thụy My
Cho đến hôm nay 11/04/2012 tình hình vẫn tiếp tục căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc tại Biển Đông, vì soái hạm Gregorio Del Pilar của Philippines bị hai tàu hải giám của Trung Quốc ngăn trở, khi kiểm tra tám chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đang thả neo ở ngoài khơi vùng biển Philippines. Manila triệu đại sứ Trung Quốc đến để cảnh báo, còn Bắc Kinh gởi kháng thư phản đối.

Hãng tin AP dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, hôm Chủ nhật 8/4 một phi cơ tuần tra của hải quân nước này đã phát hiện tám chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đang thả neo tại một đầm phá ở bãi Scarborough ở gần Luzon, đảo chính của Philippines.

Chiến hạm lớn nhất của Philippines là Gregorio Del Pilar được phái đến, và hôm thứ Ba khi kiểm tra các tàu cá này, hải quân Philippines đã tìm thấy một lượng lớn san hô, trai khổng lồ và cá mập sống, chứng tỏ ngư dân Trung Quốc đã « tiến hành đánh bắt và thu hoạch các loài hải sản đang bị đe dọa ».

Nhưng sau đó hai tàu hải giám Trung Quốc đã đến gần, chen vào giữa soái hạm Philippines và các tàu cá Trung Quốc để ngăn chận việc bắt giữ các ngư dân vi phạm. Đến hôm nay tình hình vẫn đang bế tắc, và lực lượng tuần duyên Philippines đã gởi thêm một tàu khác đến hỗ trợ cho soái hạm.

Tối qua Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario đã nói chuyện điện thoại với đại sứ Trung Quốc ở Manila, bà Mã Khắc Khanh, nhấn mạnh rằng khu vực trên đây là « một phần lãnh thổ của Philippines ». Sáng nay bà Mã Khắc Khanh được triệu đến Bộ Ngoại giao Philippines nhằm tìm ra một giải pháp ngoại giao. Tuy nhiên cả hai nước đều tỏ ra cứng rắn, và liên tục đưa ra lời cảnh báo phía bên kia.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân hôm nay tuyên bố : « Chúng tôi đã chính thức gởi cho Philippines kháng thư về việc chiến hạm và tàu tuần tra Philippines quấy rối tàu cá và ngư dân Trung Quốc (…) Các hành động tự cho là giữ gìn an ninh ở ngoài khơi đảo Hoàng Nham là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Chúng tôi kêu gọi Philippines không gây thêm các sự cố mới, và tạo điều kiện cho quan hệ thân hữu giữa hai nước ».

Bãi Scarborough nằm cách đảo lớn nhất của Philippines là Luzon chỉ có 124 hải lý. Manila khẳng định, vùng này thuộc chủ quyền của Philippines vì nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được luật lệ quốc tế quy định. Còn Bắc Kinh gọi đây là đảo Hoàng Nham, cho rằng đây « là một phần lãnh thổ của Trung Quốc, và vùng biển xung quanh là vùng đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc ».

Thông cáo của đại sứ quán Trung Quốc ở Manila chiều nay khẳng định: « Từ ngàn xưa, nhiều tài liệu lịch sử Trung Quốc đã chứng minh trên giấy trắng mực đen là đảo Hoàng Nham thuộc về Trung Quốc » và ra lệnh cho các chiến hạm Philippines phải lập tức rời địa điểm trên. Ngoại trưởng Philippines đã cực lực phản đối và cảnh báo « Nếu Philippines bị thách thức, chúng tôi sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của mình ».

Là con đường hàng hải chiến lược giữa vùng Á Đông, Trung Đông và châu Âu, Biển Đông còn có tiềm năng về tài nguyên dầu khí, và dồi dào hải sản. Các ngư dân đặc biệt là ngư dân Việt Nam và Philippines thường xuyên bị tàu hải giám của Trung Quốc quấy nhiễu.

Philippines tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với các nước láng giềng cũng đang phải đối đầu với tham vọng của Bắc Kinh. Tuy vậy trang bị quân sự Philippines thuộc loại yếu kém nhất châu Á, với các chiến hạm có từ thời Đệ nhị Thế chiến, còn các phi cơ thì từ thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Năm ngoái Washington đã cung cấp cho Manila một khu trục hạm, và có khả năng đề nghị thêm một chiến hạm nữa.

Hãng tin Pháp AFP nhận xét, Bắc Kinh luôn khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi trên toàn bộ Biển Đông, cho dù bờ biển Trung Quốc nằm rất xa so với nhiều nước láng giềng khác. Còn hãng tin Mỹ AP nhắc lại việc tranh chấp quần đảo Trường Sa với Trung Quốc đã làm cho trên 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng năm 1988.

Nguồn: viet.rfi.fr

                           ************

Tàu lạ 

Nguồn Báo Đại Đoàn Kết

(07/04/2012)

Lâu nay trên các phương tiện thông tin đại chúng thỉnh thoảng lại có tin tàu cá của ngư dân bị tàu lạ đâm chìm, hoặc tàu lạ gây tai nạn rồi bỏ chạy. Sự việc làm nhiều người dân hoang mang.

Hiện tượng tàu lạ gây rối, làm ảnh hưởng đến việc sản xuất của ngư dân đã không còn là một chuyện hiếm, là một vấn đề cấp thiết đặt ra. Tàu lạ- có nhiều giả thiết đặt ra: Tàu của cướp biển, tàu của ngư dân, tàu quân sự, an ninh của nước ngoài…tất cả đều xâm phạm lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Theo phản ánh của các ngư dân bờ biển Bắc bộ, hàng đêm, chỉ cần chạy tàu ra khỏi đất liền mấy km đã thấy hàng đoàn tàu Trung Quốc, trang bị hiện đại đánh bắt trên ngư trường của Việt Nam. Tàu nhỏ, người ít, nhiều khi các ngư dân Việt Nam đành phải tránh.

Thực ra nhiều năm nay, nhiều tàu lạ, tàu cá của nước ngoài, nhất là của Trung Quốc đã liên tục xâm lấn khai thác vùng biển của Việt Nam. Mặc dù họ khai thác trộm, nhưng nhiều khi gặp bão dông, tai nạn, các ngư dân Việt vẫn rộng lòng cưu mang, cứu giúp. Vậy nhưng, lạ thay, 2 tàu cá cùng 21 ngư dân Việt Nam khai thác trên ngư trường quen thuộc ở Hoàng Sa từ bao đời nay, bỗng lại bị Trung Quốc bắt giữ và đòi tiền chuộc nhiều ngày qua chưa thả.

Hành vi nói trên rõ là lạ, đi ngược lại hoàn toàn những tình cảm, phong tục của ngư dân Việt và những người đi biển quốc tế nói chung. Người Việt ta vốn bao dung, nhiều khi còn bỏ qua sự “trộm” của kẻ trộm- những tàu lạ. Trong khi đó, tàu lạ, phía Trung Quốc nào là vừa ăn trộm lại còn ăn cướp, bắt người, tống tiền…

Dù sao, cơ quan chức năng cũng cần có biện pháp bảo vệ ngư dân, bảo vệ vùng biển của ta, không cho phép các tàu lạ được thể làm càn.

Thiện Dân

——————————————————————————————————–

Mỗi khi tàu hải giám  hay tàu đánh cá của TQ xâm phạm vùng lãnh hải của Nhật hay Nam Hàn, lập tức hải quân của họ đuổi theo áp sát tàu Trung Quốc cảnh cáo và đuổi thẳng cánh, và sau đó, các quốc gia này còn triệu tên ĐẠI SỨ của TQ đến Bộ Ngoại giao của họ để nghe phản đối ví dụ“Thứ sáu tuần qua, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc để phản đối vụ “xâm nhập cực kỳ nghiêm trọng” của tàu hải giám Trung Quốc vào vùng nước Senkaku”. (http://vietnamnet.com.vn/vn/chinh-tr…–nat–my.html )

Trong khi đó thì với VN, TQ không những đã xâm chiếm chủ quyền biển đảo, lại còn bắt ngư dân ta, cướp dụng cụ, đòi tiền chuộc, thì  CSVN chẳng dám triệu tập tên đại sứ TQ đến bộ ngoại giao để trao công hàm phản đối bao giờ, vì chúng sợ làm TQ giận. Chúng chỉ cho người của bộ ngoại giao đến tòa đại sứ TQ “trình” kháng thư lên cho tên Đại sứ TQ mà thôi. Bằng chứng đây nè: “Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán TQ nêu rõ lập trường và đang tiếp tục đấu tranh để giải quyết vụ TQ giam giữ 21 ngư dân.”(http://vietnamnet.com.vn/vn/chinh-tr…vie-t-nam.html ) ”

Bọn chúng chỉ là loại người hèn với giặc và ác với dân.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Đảng CSVN | 1 Comment »

800 tới 1000 Nông dân biểu tình tại Cầu Giấy, Hà Nội

Posted by hoangtran204 trên 12/04/2012

Nông dân biểu tình tại Cầu Giấy, Hà Nội

Theo những thông tin khác nhau, sáng nay, 11/4/2012, con số bà con nông dân đang biểu tình trước cửa trụ sở Văn phòng Thanh tra Chính phủ tại quận Cầu Giấy, Hà Nội vào khoảng 800 tới 1000 người.

Đa số bà con đền từ Văn Giang, Hưng Yên và Dương Nội, Hà Đông. Ngoài ra có một số người từ miền Nam ra, ăn chực nằm chờ nhiều tháng để khiếu kiện.

Khiếu kiện của nông dân chủ yếu liên quan tới cưỡng chế và đền bù đất đai. Ngày hôm qua bà con đã tập trung trước cổng văn phòng ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt nam ở 46, Tràng Thi, Hà Nội để khiếu kiện và hôm nay tiếp tục trước Văn phòng Thanh tra chính phủ.

Những khiếu kiện này đã dai dẳng kéo dài tại địa phương, do không được giải quyết thấu tình đạt lý, nên việc kiện tụng tiếp tục qua cấp trung ương.

Nông dân Văn Giang mang theo nhiều khẩu hiệu và thậm chí cả băng rôn đến cuộc tập trung ngày hôm nay. Nội dung các khẩu hiệu và băng rôn ghi rõ phản đối quyết định cưỡng chế đất trái pháp luật ngày 4 và 5 tháng 4 năm 2012 của chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Hơn 1.800 hộ dân ở ba xã Xuân Quang, Cụng Công và Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang đang bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đất để làm dự án khu đô thị Ecopark có diện tích trên 500 ha. Dự án được bắt đầu từ năm 2004. Người dân được đề nghị giá đền bù là 43.000 đồng một mét vuông, một mức giá mà họ cho là quá bất công.

Còn bà con ở Dương Nội đang bị chính quyền cưỡng chế đất để làm dự án khu đô thị Lê Trọng Tấn. Những người dân Dương Nội đã bắt đầu khởi kiện chính quyền địa phương từ năm 2008 nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.

Đa số các cơ quan chức năng chỉ nhận đơn từ của bà con rồi bỏ đó, không giải quyết dứt điểm khiến vụ việc kéo dài nhiều năm.

Một lực lượng công an, dân phòng đông đảo đã được huy động để giải tán đám đông và thu gom bà con lên những xe buýt đỗ gần đó.

Phương pháp chở xe buýt đem bỏ ở đâu đó đã từng được sử dụng khi giải tán các cuộc biểu tình xung quanh bờ Hồ hồi mùa hè năm ngoái.

Sau vụ cưỡng chế Tiên Lãng dẫn tới 6 công an và bộ đội bị thương, nhiều quan chức địa phương mất chức hoặc bị kỷ luật cảnh cáo, việc khiếu kiện trở nên ngày càng căng thẳng.

Nguồn: Đàn Chim Việt tổng hợp theo Facebook, RFA.

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Nhân ngày 30-4: Một dấu chấm trên chữ “i”

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2012

Nhân ngày 30-4: Một dấu chấm trên chữ “i”

Ngày 30-4 lại sắp đến. Ba mươi bẩy năm đã trôi qua. Nhanh thật.

Ngày quốc hận, ngày mất nước, ngày gãy súng, ngày bị đồng minh phản bội, đối với không ít đồng bào ta.

Ngày đại thắng, ngày giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc, ngày hòa bình trở lại, ngày lịch sử, đối với những người lãnh đạo đảng cộng sản và bộ máy tuyên truyền của họ, cũng như những người còn nhẹ dạ quen nghe theo họ.

Tôi không có cảm giác hay nhận thức nào như trên. Tôi tự thấy trong hoàn cảnh đặc biệt. Xin đừng ai bắt tôi phải theo phía này hay phía kia. Tôi cũng không ba phải. Mỗi người có một hoàn cảnh riêng, một quá trình riêng, một số phận riêng, không ai giống ai.

Cái đẹp nhất của nhân loại là hàng tỷ, tỷ con người, cấu tạo cùng một kiểu “người” nhưng không có lấy 2 người giống hệt như nhau, nghĩ hệt như nhau. Giống hệt nhau thì chán chết!

Cứ đến ngày 30-4, suốt 37 năm nay, nhiều nhà báo Việt Nam trong và ngoài nước, một số nhà báo Pháp, Anh, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Phần Lan, Canada… lại hỏi tôi, phỏng vấn tôi về vấn đề này, năm nào tôi cũng trả lời rõ ràng, ngay thật.

Từ đó đến nay, đông đảo đồng bào quan tâm đến thời sự đất nước hiểu tôi rõ hơn, đầy đủ hơn, tôi rất mừng và biết ơn. Tuy vậy năm nay tôi thấy vẫn cần “đặt một dấu chấm trên chữ i”.

Đó là bởi vì ngày 30-4-1975, do đưa đẩy của hoàn cảnh lịch sử, do nghề nghiệp của mình, tôi được làm một chứng nhân tại chỗ của thời điểm kết thúc chiến tranh ở một địa điểm then chốt, Sài Gòn, thủ đô của chế đô Việt Nam Cộng hòa.

Đối với tôi, ngày 30-4-1975, không hẳn là ngày vui, cũng không hẳn là ngày buồn, mà là một ngày trộn lẫn vui và buồn, cảm nhận ngày càng sâu đậm nhất trong tôi là một niềm cay đắng dai dẳng cho thân phận của dân tộc mình, cho thân phận cá nhân mình.

Không thể không vui khi cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn chấm dứt, không thể không vui khi sự chia cắt độc ác do 2 ông anh nham hiểm một thời của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa áp đặt hồi 1954 cho đất nước đã được xóa bỏ, mở ra triển vọng hòa hợp dân tộc.

Cay đắng cứ gặm nhấm dần niềm vui chưa trọn, khi nhận ra rằng từ “giải phóng ” sao mà trớ trêu, phải nói thẳng đây là sự “chiếm đóng “, bỏ tù hàng trăm nghìn sỹ quan đồng bào mình, đày ải và hạ nhục trong hàng trăm nhà tù mang danh trại cải tạo, gây nên thảm cảnh “thuyền nhân” kinh hoàng trên biển cả, với hàng vạn người già trẻ lớn bé đồng bào ta chết chìm trong lòng đại dương…Trên đời, trong lịch sử, có bao giờ, ở đâu có cảnh ai oán trầm luân đến vậy?

Có bạn blogger trong nước hỏi tôi, vậy thì niềm cay đắng xuất hiện trong tôi từ thời điểm nào? Tôi cố nhớ lại, và nhận ra ngay từ dịp Tết Mậu Thân đầu năm 1968, khi duyệt các bản trình bày báo Quân đội Nhân dân hàng ngày, tôi đã cảm thấy bị “sốc”, khi thủ trưởng Tổng cục chính trị chỉ thị cho tôi là khi đăng tin chiến sự miền Nam, nếu có các trận thắng diệt gọn “1 cứ điểm do 2 tiểu đoàn, 1 chiến đoàn hay chiếm được 1 quận lỵ, hoặc là diệt trên 1 nghìn địch trở lên” thì phải in tít đậm màu đỏ, kèm theo bản đồ hay sơ đồ, có bài bình quân sự đi theo. Tôi từng được biết tuy còn lờ mờ là một số anh họ, em họ, cháu họ tôi ở Huế và Sài Gòn đang là sỹ quan của miền Nam. Tôi phân vân về chỉ thị trên đây, sao lại mừng, lại vui được, khi quân Việt hăng say diệt quân Việt cùng chung máu mủ họ hàng, không hề thù địch nhau, chỉ do hoàn cảnh mà phải ở tình trạng gay gắt trớ trêu. Cái cảm giác cay đắng này cứ lớn lên, lớn lên mãi thành chất men bất đồng, đối lập, đối kháng về sau. Khi lời hứa hòa giải bị quên.

Có bạn trong nước hỏi, gần như trách móc tôi, là sao chậm giác ngộ thế? đến tận năm 1990 mới rời bỏ chế độ và quyền lực. Tôi nghĩ sớm hay chậm chỉ là tương đối. Tôi ôm niềm cay đắng, không thuần phục cường quyền trong 15 năm, rồi điều gì phải đến đã đến, như một cuộc đổ vỡ, ly hôn không thể tránh khỏi, khi tôi có dịp chính thức sang Pháp, theo lời mời đích danh của Ban Chấp hành Trung ương đảng CS Pháp, do tôi từng hướng dẫn đoàn đảng CS Pháp đi thăm Điện Biên Phủ, vịnh Hạ Long và rừng Cúc Phương 2 năm trước. Tôi nghĩ kỹ, cho rằng đứng ngoài tìm cách nói về có khi hơn là nói từ trong nước, sẽ bị bịt mồm.

Điều tôi tự an ủi là dù sao so với những đảng viên bỏ đảng, trả lại thẻ đảng sau này, tôi vẫn còn là người sớm hơn. Anh Nguyễn Hộ, anh Trần Độ, anh Hoàng Minh Chính, anh Lê Hồng Hà, anh Bùi Minh Quốc, anh Phạm Đình Trọng, anh Đỗ Xuân Thọ… đã trước sau vĩnh biệt đảng. Nay phong trào “nhạt đảng”, “chán đảng”, bỏ sinh hoạt đảng, quay lưng lại với đảng, trả thẻ đảng, nhẹ nhàng, còn tự cho là từ bỏ một gánh nặng, một “của nợ”, đang lan rộng.

Một blogger trong nước phỏng đoán rằng nếu như sắp đến có Luật về lập hội, nếu phỏng như xuất hiện một Tập hợp dân chủ – xã hội, hay một Mặt trận Công dân Việt Nam, có nhóm lãnh đạo trong sạch, có tâm và có tầm, vượt xa Bộ Chính trị và Trung ương đảng CS thời suy thoái và đổ đốn hiện nay, thì lập tức sẽ có 60 % đảng viên CS hân hoan tự nguyện chuyển sang tổ chức mới. Đó sẽ là đảng của đa số, đảng của dân tộc, của tuổi trẻ, của thời đại mới.

Cũng cần nói rõ trong 15 năm, tôi đã nhiều lần cố góp ý, đề đạt chính kiến với lãnh đạo, như gửi hẳn một thư kiến nghị cho ông Trường Chinh, nhưng không có hồi âm.

Tôi còn nhớ một đoạn như sau: “Hiện ta có 1,3 triệu quân tại ngũ, trong khi Ấn Độ có dân số gấp 6 ta mà quân số chỉ bằng của ta, Inđônesia có dân số gấp 3 ta mà quân số chưa đến 1 triệu, cho thấy việc giảm quân là cấp bách ra sao, sau khi ta đã rút quân khỏi Campuchia.”

Lúc ấy là năm 1987, sau khi tôi là nhà báo đi trong đoàn ông Lê Duẩn thăm Ấn Độ và sau đó trong đoàn tướng Văn Tiến Dũng thăm Indonesia. Tôi được nghe chính bà Gandhi trao đổi với ông Lê Duẩn về xung đột biên giới Ấn – Pakistan cùng thực trạng quân đội Ấn, cũng như nghe tướng Suharto trao đổi rất cởi mở về tình hình quân đội Indonesia. Họ đều cho rằng vấn đề số lượng quân tại ngũ là rất quan trọng, theo một tỷ lệ hợp lý so với số dân và nền kinh tế, nếu không sẽ thành gánh nặng nguy hiểm cho xã hội. Các tỷ lệ trên làm tôi giật mình khi nghĩ đến tỷ lệ quá ư phi lý, nguy hiểm ở nước ta, không ai chú ý, nhưng cứ ám ảnh tôi mãi cho đến nay.

Cũng có bạn trẻ ở Bắc Cali, Hoa Kỳ, hỏi tôi chuyện tôi “huênh hoang đe dọa tướng Dương Văn Minh và đồng sự rồi đòi họ đầu hàng, được kể trên báo chí hải ngoại, thực tế là ra sao?”.

Xin trả lời bạn: Tôi đã đọc nhiều bài, tả lại cứ như thật. Nào là: Bùi Tín phách lác, xông vào phòng, rút súng ngắn bắn lên trần, rồi bắt tất cả dơ 2 tay đầu hàng không điều kiện. Thật ra sau khi Trung tá Hân, trưởng phòng bảo vệ Quân đoàn 4, báo trước: “Một sỹ quan cao cấp sắp gặp các ông “, tôi bước vào phòng, còn ngăn lại một chiến sỹ cầm AK dừng lại ở ngoài cửa.

Tướng Dương Văn Minh, ông Vũ Văn Mẫu, ông Nguyễn Văn Hảo, tất cả là 37 người, đứng dậy, tướng Minh nói: “Chúng tôi chờ quý ông từ sáng đặng chuyển giao chính quyền”, tôi liền đáp ngay: “Chính quyền các ông đã sụp đổ từ sáng nay rồi”, tôi biết ông Minh đã tuyên bố đầu hàng trước đó rồi, không ai giao cho tôi việc tiếp nhận chính quyền, tôi nói thêm: “Các ông không thể chuyển giao cái không còn ở trong tay”.

Thấy họ đều buồn, tôi liền nói, như một lời an ủi: “Từ nay chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã trở lại, toàn dân tộc ta đã thắng, chỉ có người Mỹ là thua”. Tôi thấy ông Mẫu mỉm cười. Sau đó tôi nói chuyện riêng, nhẹ nhàng, có thể gọi là thân mật tự nhiên với ông Minh, ông Mẫu, ông Hảo… Tôi hỏi ông Mẫu về phong trào Phật giáo, về chuyện vui ông từng cắt tóc ngắn, về chuyện giảng dạy ở trường Luật, tôi hỏi ông Minh về sưu tập hoa phong lan, về chuyện chơi tennis của ông. Cả cảnh này được tổ quay phim thời sự của quân Giải phóng do anh Sanh ghi lại, và sau đó mươi ngày chiếu lại cho các tướng Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy ban Quân quản, và tướng Văn Tiến Dũng xem.

Sau buổi chiếu, anh Trà bắt tay tổ quay phim và tôi, còn nói: Nhà báo nói hay quá! Sau này tướng Võ Nguyên Giáp cũng kể cho nhà báo Hoa Kỳ Stanley Karnow về chiến dịch cuối cùng, và giới thiệu về tôi: Bùi Tín là nhà báo, cũng là sỹ quan cao cấp có mặt ở Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975.

Có mấy điểm gây hiểu lầm tôi đã nhiều lần cải chính. Xin một lần nữa đặt dấu chấm trên chữ i cho sòng phẳng. Tôi từng kể là tôi đi cùng “đơn vị xe tăng đầu tiên” chứ không phải đi trên “chiếc xe tăng đầu tiên”. Hai điều này khác hẳn nhau. Do có nhà báo Pháp hiểu và ghi sai.

Tôi cũng không bao giờ nói rằng tôi là sỹ quan cao cấp đầu tiên và duy nhất đến Dinh Độc Lập. Tôi được biết trước tôi hơn 1 giờ, Thượng tá Nguyễn Công Trang, phó chính ủy Quân đoàn II, đã đến cùng đơn vị tiền trạm. Nhưng không hiểu sao, anh Trang không vào gặp tướng Minh và đồng sự.

Đến chiều gần tối tôi mới gặp tướng Nam Long, lúc ấy là phái viên Bộ Tổng tham mưu đi theo sát Quân đoàn II, anh Nam Long rủ tôi chụp chung một pô kỷ niệm. Tôi kể chuyện gặp tướng Dương Văn Minh và hỏi anh rằng anh có định gặp họ không. Anh nói trên không giao nhiệm vụ này.

Vậy, khi trên báo trong nước và nước ngoài có viết rằng Bùi Tín là sỹ quan cao cấp duy nhất gặp đại diện chính quyền Sài gòn ngày 30-4-1975 ở tại Dinh Độc Lập là một sự thật. Điều này tôi không bao giờ lấy đó làm một điều gì ghê gớm để khoe khoang. Khoác lác hay phách lác không phải lối sống, phong cách xử sự của tôi. Tôi chỉ là một nhân chứng may mắn.

Những sỹ quan khác gặp tướng Minh, nhận đầu hàng hay chứng kiến sự kiện này là Trung tá Bùi Văn Tùng, Trung tá Nguyễn Văn Hân, Đại úy Phạm Xuân Thệ… Theo điều lệnh quân đội, họ thuộc bậc trung cấp, ở dưới cấp thượng tá và đại tá một bậc, chứ không phải 1, 2 cấp mà thôi.

Cao cấp so với bậc trung cấp có mức lương khác hẳn, bếp ăn khác (gọi là tiểu táo), giường nằm khác, quân phục và lễ phục chất lượng khác, lớp học, trưòng học khác, tài liệu đọc khác.

Công bằng mà nói, người được ủy quyền hợp pháp của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là ông Sáu Hoàng, tên thật là Cao Đăng Chiếm, chức vụ là Thứ trưởng Bộ công an ở Hà Nội, vào Nam “phụ trách an ninh miền ” thay cho anh Nguyễn Tài, con nhà văn Nguyễn Công Hoan, bị bắt sau Tết Mậu Thân. Anh Sáu Hoàng đi từ Dầu Tiếng xuống, có giấy ủy nhiệm của Chủ tịch Mặt trận Nguyễn Hữu Thọ và Thủ tướng Chính phủ lâm thời Huỳnh Tấn Phát.

Tôi gặp anh Sáu Hoàng khi trời đã tối mịt. Trong sân Dinh Độc Lập một cảnh độc đáo thú vị diễn ra, các tổ trinh sát, thông tin, xe tăng…lần lượt nổi lửa bằng cành cây, đun nước, nấu cơm, làm mì ăn liền rải rác trên sân cỏ. Anh Sáu Hoàng hỏi chuyện tôi qua loa rồi vội vào gặp tướng Minh và đồng sự. Không có tổ quay phim theo anh, cũng không có ai chụp ảnh. Cũng chẳng cần.

Bản tin tôi làm về sự kiện này gửi tiếp ra Hà Nội không được đăng. Thì ra ý định xóa sổ cái bình phong Mặt Trận và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam VN đã được quyết định trước rồi. Họ thâm thật! Họ biết từ nay không cần đóng kịch nữa.

Còn một câu hỏi khác: “Có phải nhà báo Bùi Tín dự đoán tình hình Việt Nam sắp biến động như Đông Âu và Liên Xô, nên đã sớm tách ra khỏi chế độ độc đảng để hy vọng sẽ trở thành một Havel, một Walesa, hay là một Gorbachov?”. Không, tôi không bao giờ có cao vọng như thế. Tôi không hề có tham vọng hay ý định là một nhà chính trị, một chính khách.

Từ khi bước vào nghề làm báo (đầu năm 1965) tôi dần dần mê say nghề báo, càng về sau tôi càng xác định sẽ làm báo suốt đời. Tôi quen thân nhiều nhà báo quốc tế Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hoa Kỳ, Nga, Thái Lan…trong đó có nhiều nhà báo nổi tiếng. Tôi từng dự nhiều cuộc họp quốc tế ở Bangkok (Thái Lan), Tokyo (Nhật Bản), New York (Hoa Kỳ), Alger (Algeria), Ethiopia, Zimbabwe, thăm Viện báo chí Manila (Philippines)… nên tôi cho rằng viết báo là nghề có ích, thú vị, tự do nhất.

Tôi chỉ muốn là nhà báo tự do, không muốn có chức vụ gì, dù là phó tổng, là tổng biên tập. Gia đình tôi, bạn bè tôi đều biết tôi không có máu công danh, máu làm quan, máu hưởng danh lợi. Tôi chỉ có bè bạn thân ở cấp dưới, tôi rất ít tìm gặp cấp trên. Cái tính tôi xưa nay là vậy. Tôi tin là rồi ở ta sẽ có những Walesa, những Havel, những Gorbachov, rồi những Aung San Suu Kyi, nhưng trong đó không có tôi. Tôi tận lực ủng hộ họ. Thế cũng đủ.

Có một cô nhà báo người Việt muốn hỏi tôi về chuyện “16 tấn vàng”. Tôi xin hẹn sẽ nói rõ vào một bài sau. Vì bài này đã khá dài.

Cách đây vài năm, bộ tổng tham mưu Hà Nội đã đưa ra một bản văn kiện chính thức kết luận về diễn biến ngày 30-4-1975, có anh Bùi Văn Tùng, anh Nguyễn Văn Hân, anh Phạm Xuân Thệ… tham gia. Họ cố tình không nói gì đến tôi một cách ngay thật, cũng cố tình xuyên tạc để vu cáo tôi là dối trá, tranh công.

Họ cố tình xuyên tạc và vu cáo vì tôi vắng mặt, vì tiếng nói trung thực của tôi được đông đảo đồng bào chú ý lắng nghe, do đó gây hại cho chế độ đang lâm vào quá trình băng hoại không sao kìm hãm nổi.

Đó cũng còn vì họ không muốn nhắc đến chuyện hơn 16 tấn vàng do chính quyền Dương Văn Minh giao lại ngày 30-4-1975, qua lời ông phó thủ tướng đặc trách kinh tế – tài chính Nguyễn Văn Hảo chính thức báo cho tôi – và không hề báo cho một ai khác. Họ vẫn chơi trò mờ ảo, ngầm reo rắc hoài nghi, dựa vào bài viết của một nhân viên CIA Frank Snepp, rằng ông Thiệu đã mang cả 16 tấn vàng ròng của Ngân khố sang Đài Loan vào tối ngày 24-4 rồi. *

Vì muốn mọi sự được minh bạch, rõ ràng trong lịch sử dân tộc, tôi sẽ hầu chuyện các bạn xa gần trong một bài sau.


Tác giả Bùi Tín

Nguồn VOAnews.com

Nguồn danchimviet.info

—————–

Về chuyện 16 tấn vàng của VNCH

trích: nguồn ở  đây

Tiếp quản sau sự kiện 30 tháng 4

Theo phóng sự điều tra của báo Tuổi Trẻ [9], ngày 2 tháng 5, cựu Phó Thủ tướng VNCH Nguyễn Văn Hảo gặp lãnh đạo Ủy ban quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định, ông trình bày chi tiết về câu chuyện liên quan đến 16 tấn vàng và đề nghị Ủy ban quân quản tiến hành tiếp quản và kiểm kê ngay.[10]

Cũng theo báo Tuổi Trẻ [9], ông Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, nói về những nhân viên bảo vệ ngân hàng của chế độ cũ “đã không rời vị trí vì nhiệm vụ của họ là bảo vệ an toàn kho tiền và vàng dự trữ, không để nó bị xâm nhập, cướp phá giống như nhiều tòa nhà và trụ sở lân cận. Họ giữ vị trí cho đến khi những người lính giải phóng xuất hiện“.

Cũng theo báo Tuổi trẻ, các ông Huỳnh Bửu Sơn, Lê Minh Kiêm là các nhân chứng trực tiếp bàn giao vàng cho chính quyền mới. Đầu tháng 6 năm 1975, Huỳnh Bửu Sơn, người giữ chìa khóa kho vàng, và Lê Minh Kiêm, người giữ mã số của các hầm bạc được lệnh của Ban Quân quản Ngân hàng Quốc gia cùng đơn vị tiếp quản tiến hành kiểm kê các kho tiền và vàng của chế độ cũ. Số tiền và vàng nằm trong kho khớp đúng với sổ sách từng chi tiết nhỏ.

Ông Huỳnh Bửu Sơn kể về cuộc kiểm kê kho vàng lần cuối cùng khi bàn giao cho chính quyền mới:[11] Tất cả những thoi vàng đều là vàng nguyên chất, mỗi thoi nặng 12-14 kg, trên mỗi thoi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thoi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thoi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi.
Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19 bởi nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả số vàng thoi và tiền vàng cổ đều được theo dõi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng và hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập tồn kho

****************

Trích:

…Có nhà sử học nước ngòai đã tổng kết về Đảng CS VN như sau: Ra đời trong nghèo khó, trưởng thành trong đấu tranh, TỒN TẠI TRONG LỪA DỐI VÀ BẠO LỰC, chết đi trong ngu dốt và bất lực.

CNCS ở đâu cũng dối trá bịp bợm, giả dối, tàn ác dã man và ngu dốt. Bản thân những người CS cũng biết như vậy, nhưng họ không tự rèn luyện, không tự cải tạo mình, mà họ cho đó là sách lược, đường lối để tồn tại, khi họ nói dối thì họ lại KẾT TỘI NGƯỜI NÓI THẬT, vì NÓI RA SỰ THẬT TỨC LÀ TỐ CÁO TỘI ÁC VÀ XẤU XA CỦA CS.

Mặt khác nói lên nửa sự thật cùng là nói dối, có người đã viết ăn nửa cái bánh mì là ăn bánh mì, hút nửa điếu thuốc là hút thuốc, nhưng nói nửa sự thật là nói dối, ví dụ này thì dễ hiểu: Trên khán đài sân bóng đá, rất vắng người xem, chỉ có khỏang 100 người xem ngồi tụ tập một chỗ, nếu chĩa ống kính vào chỗ tập trung 100 người xem thì tưởng khán giả xem đông lắm.

NHiều trận đánh, quân ta chết như rạ, nhưng (trong sử ký viết cho học sinh cấp 1, cấp 2, cấp 3 học) không nói (số thương vong của bộ đội) mà chỉ nói địch chết.

CS còn có kiểu nói như vẹt, nói mà không hiểu nghĩa mình nói gì và nói quẩn, chứng minh ngay: “Ta độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo”, “Ta theo CN Mác Lê nin và tư tưởng HCM, tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, “Ta có nguy cơ chệch hướng”. Có người hỏi: biết ngu cơ chệch hướng, vậy thế nào là đúng hướng? Người nói chịu chết, không biết cách giải thích.

Có một nghịch lý trong cái xã hội CS này là người nói đúng , nói thật thì bị kết tội, có khi bị bỏ tù, còn những kẻ nói dối, nói ngu, nói như vẹt, nói không hiểu mình nói gì thì cứ lên chức, lên lương vù vù.

>>> Đọc tiếp

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

Nguyễn Gia Kiểng: Ăn năn vì Tổ Quốc

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2012

Nguyễn Gia Kiểng: Ăn năn vì Tổ Quốc

Nguyễn Thanh Giang

Tôi rất không bằng lòng, và nghĩ rằng có người đã phẫn nộ có lý khi đọc những dòng sau đây:

Nhân danh tổ quốc họ phát động cuộc chiến thôn tính miền Nam làm hàng triệu người chết và đất nước kiệt quệ. Tổ quốc đồng nghĩa với chiến tranh và chết chóc.

Toàn thắng rồi, tổ quốc xã hội chủ nghĩa quên phắt cam kết thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc. Tổ quốc bỏ tù và hạ nhục hàng triệu người. Tổ quốc đánh tư sản, tống cỗ con cái ngụy quân, ngụy quyền ra khỏi trường học và lùa đi vùng kinh tế mới. Tổ quốc khống chế và hăm dọa bằng công an thành, công an tỉnh, công an huyện, công an phường. Biết dân chúng không còn chịu đựng được nữa và muốn bỏ nước ra đi, tổ quốc đứng ra tổ chức vượt biên bán chính thức để lấy tiền chuộc mạng của những người muốn chạy trốn nanh vuốt của mình. Tổ quốc hành động như bọn giặc cướp. Đến khi bị dư luận thế giới lên án dữ dội vì hành động bỉ ổi này, tổ quốc dẹp luôn đợt vượt biên bán chính thức và dĩ nhiên không trả lại tiền. Tồ quốc đểu cáng và lật lọng.

Đối với những người ra đi, tổ quốc là sóng gió, hải tặc, là cái chết trong bụng cá, may mắn hơn là những ngày ê chề trong những trại tập trung trước khi tìm được một quê hương mới. Tổ quốc là một dĩ vãng cần quên đi. Đối với những người ở lại, tổ quốc đổi tiền mấy lần để cướp giật, tổ quốc sách nhiễu từng ngày. Tổ quốc nói trắng cũng được, nói đen cũng xong, cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại cấm, muốn bắt hay tha tùy ý, người dân phải chịu đựng hết. Vì tổ quốc có súng” (1).

Để biện minh cho bản cáo trạng nặng nề vô lối đó, Nguyễn Gia Kiểng giải thich:

Người dân có thể cảm nhận về tổ quốc thế nào tuỳ ý, nhưng họ chỉ tiếp xúc thực sự với tổ quốc qua các chính quyền” (1).

Làm gì có sự tách bạch hoàn toàn giữa tiếp xúc với cảm nhận trong khi cảm nhận chỉ là hệ quả tổng hòa của tiếp xúc.

Thế mà, cùng cảm nhận và tiếp xúc nhưng, Tổ Quốc khi hiện lên trong tâm khảm người ta với “Những cánh đồng quê chẩy máu/ Dây thép gai đâm nát trời chiều” thì vẫn nghe “Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất/ Những buổi ngày xưa vọng nói về” kia mà.

Tổ quốc, “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở (dẫu trong ngày ta ở có bao nhiêu điều phũ phàng, chua xót, thì)/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” kia mà.

Và, trong lòng ta, “Xưa yêu quê hương (đâu chỉ vì) có chim có bướm/ (mà còn vì) có những ngày trốn học bị đòn roi” kia mà.

Tổ quốc, ngay khi tưởng như: “Tuấn kiệt như sao buổi sớm/ Nhân tài như lá mùa thu” thì vẫn có những “Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông/ Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả” (2) kia mà.

Phải chăng chỉ NGK đã cả giận mất khôn!

Tuy nhiên, nỗi bất bình dường như tiêu tan khi ta nghe ông tâm sự:

Trước hết mỗi người Việt nam phải ăn năn và sám hồi. Ăn năn vì chúng ta, mỗi người chúng ta, đã ngây thơ coi tổ quốc như là vô tận, không thể hao mòn và đã không quan tâm làm cho tổ quốc ngày một vững mạnh hơn và đáng yêu hơn. Hay vì chúng ta đã khờ khạo nghĩ rằng mình có thể tự giải quyết các vấn đề cá nhân của mình bằng những giải pháp cá nhân như luồn lách, móc ngoặc, hối lộ, bỏ nước ra đi, v.v…” (1)

Đấy không chỉ là lời “hiệu triệu” mà còn là lời tự phê rất nghiêm khắc vì chính NGK “đã khờ khạo nghĩ rằng mình có thể tự giải quyết các vấn đề cá nhân của mình bằng những giải pháp cá nhân như… bỏ nước ra đi” (1).

Phải nói NGK là người dũng cảm và chân thành. Tuy nhiên, tai vạ thường đến với ông chỉ vì ông chủ trương:

Quan niệm của tôi là không nhắc lại những gì mình nghĩ là đa số đã đồng ý để chỉ tập trung thảo luận về những gì mà nhiều người chưa đồng ý và nhất là những gì mà đa số không chấp nhận. Tôi nghĩ nên cố gắng đề nói ra những điều mới, và nếu trong mười điều mới nói ra có tới chín điều sai và chỉ một điều đúng thì cũng còn có ích hơn là nói mười điều đúng cả mười nhưng đều là những điều đã biết. Khi không chấp nhận một ý kiến, người ta hay cho rằng ý kiến đó là sai, là dở. Nhiều độc giả sẽ thấy nhiều điều nói ra trong những trang sau là sai và đánh giá tác giả là dở. Tôi chấp nhận sự kiện đó. Tôi cho rằng nói ra những điều mình nghĩ là đúng dù biết rằng sẽ có nhiều người cho là sai và đánh giá thấp mình là một thái độ khiêm tốn. Đó là cách khiêm tốn của tôi” (1).

Có lẽ thần tượng của NGK là Socrates. Theo truyền thuyết, Socrates đã tuyên bố khi phiên tòa Athens kết thúc rằng: “Bây giờ chúng ta chia tay, quí vị để tiếp tục sống còn tôi để chết. Ai đúng chỉ có Trời biết, nhưng một cuộc đời không suy luận là một cuộc đời không đáng sống“.

Dường như NGK có ý thức phấn đấu làm một trí thức kiểu như thế, và thực tế ông đã là một trí thức tên tuổi, theo cái định nghĩa của chính ông:

Tóm lại nếu phải định nghĩa người trí thức thì ta có thể nói: trí thức là những người do được đào tạo hay tự học đã đạt tới một trình độ hiểu biết và lý luận trên trung bình, quan tâm tới những vấn đề chính trị và xã hội, suy nghĩ một cách lương thiện, biết tự đặt cho mình những câu hỏi và tìm câu trả lời của mình cho những câu hỏi đó và sẵn sàng thách thức mọi thế lực để bảo vệ quan điểm của mình. Người trí thức phải suy nghĩ một cách độc lập và do đó không thể chấp nhân một sự chỉ đạo tư tưởng nào cả” (6).

Cho nên tôi đồng ý với nhà văn Nhật Tuấn khi ông đánh giá:

Nhưng nhìn chung, tác phẩm Tổ Quốc Ăn Năn đã đưa ra nhiều cách nhìn táo bạo và đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ. Có những phát hiện của ông, có thể mang tác dụng uốn nắn được cách nhìn, cách suy nghĩ, cách hành xử của một số người. Nhưng cũng không thiếu những điều sẽ làm cho người đọc phẫn nộ. Bởi vì ông đã đi quá đà khi đưa ra nhiều kết luận liều lĩnh dựa trên những tiền đề chưa đủ tầm vóc để có sự thuyết phục” (3).

Tôi ngạc nhiên khi thấy NGK dám bác bỏ một nhận định đã thành chính thống rằng Nhật Bản đã vượt lên trên Phương Đông được là nhờ Minh Trị Thiên hoàng, và đã phải ngẫm nghĩ khi ông suy luận:

Xã hội Nhật do các lãnh chúa thống trị dựa trên giai cấp hiệp sĩ. Các lãnh chúa và các hiệp sĩ cực kỳ kiêu căng không thèm hòa trộn với dân chúng mà để mặc quần chúng tự tổ chức lấy cuộc sống của mình, miễn là nộp đủ thuế. Trong tình trạng ấy, quần chúng Nhật tuy ở sát nhưng thực ra lại sống rất xa giai cấp thống trị. Họ không thể tổ chức thành chính quyền nếu không muốn lãnh búa rìu và họ phải tìm cách sinh sống với nhau trong đồng thuận để tránh những can thiệp của bọn hiệp sĩ. Một cách tiệm tiến và thầm lặng, một sinh hoạt tự do đã hình thành giữa quần chúng với nhau, dưới sự giám sát từ xa của các lãnh chúa. Đó là lý do khiến xã hội Nhật đã phát triển, rồi chính sự phát triển này đã tạo ra áp lực buộc giới cầm quyền Nhật nhượng bộ dần dần” (4).

Tôi thường tâm niệm cái điều nhiều người đến nay vẫn tâm niệm rằng: Chủ nghĩa Marx ít ra cũng còn được cái lõi Biện chứng pháp, nhưng NGK thì xổ toẹt:

Tuy không định nghĩa một cách chính xác thế nào là một tiền đề, một phản đề và một tổng hợp nhưng Hegel còn ý thức được sự mơ hồ của mình và biết dừng lại ở chỗ chỉ sử dụng biện chứng để giải thích lịch sử. Marx đã liều lĩnh hơn, coi vai trò của biện chứng không phải chỉ là để giải thích mà còn là để thay đổi lịch sử, nghĩa là để hành động” (5).

Tôi không đủ trình độ phán định khi nghe ông lên án:

Điều thực sự mới của Marx so với Hegel là về mặt đạo đức, Hegel tuy không bàn tới đạo đức nhưng cũng không phủ nhận các giá trị đạo đức. Khi Hegel nói rằng kết quả của mỗi giai đoạn biện chứng đều là một tình trạng hoàn chỉnh hơn trước, khái niệm “hoàn chỉnh” còn có một ý nghĩa bởi vì các giá trị đạo đức vẫn còn đó để có thể được sử dụng như những tiêu chuẩn đánh giá, Marx trái lại phủ nhận hoàn toàn các giá trị đạo đức như là sản phẩm của giai cấp thống trị; như vậy khi Marx nói rằng mỗi kết thúc của một giai đoạn đấu tranh giai cấp – từ xã hội cộng sản nguyên thủy đến xã hội cộng sản qua các chế độ nô lệ, quân chủ, phong kiến, tư bản – đều là những tiến bộ, khái niệm “tiến bộ“ này hoàn toàn mơ hồ vì không có những tiêu chuẩn để định nghĩa.

Đó là một sự tùy tiện tuyệt đối, với hậu quả là kẻ có bạo lực có thể làm tất cả. Mọi đảng cộng sản vì thế đều có bản chất khủng bố, đó là lý do chính tạo ra sức mạnh của chúng. Cũng nên lưu ý là sự phủ nhận các giá trị đạo đức của Marx đã đạt tới mức độ lạnh lùng dễ sợ. Marx không coi việc giai cấp thống trị bóc lột giai cấp bị trị là một tội ác, trái lại ông coi nó là một lẽ tự nhiên, cũng tự nhiên như việc giai cấp bị trị phải vùng dậy tiêu diệt giai cấp thống trị (5).

Triết lý Mác-Lênin quan trọng ở chỗ nó tạo ra cả một văn hoá và một tâm lý cộng sản. Biện chứng duy vật là một lối lý luận rất sơ đẳng. Nó tạo ra ảo tưởng rằng ngay cả những người vô học cũng có thể lý luận trên tất cả mọi vấn đề, và do đó đảm nhiệm những vai trò lãnh đạo, nếu biết biện chứng duy vật. Từ đó hình thành một tâm lý võ biền coi thường kiến thức. Chính Lenin cũng đã có tâm lý này” (5)

Tôi ngỡ ngàng để thích thú trước những phát hiện nhờ sức tổng hợp khái quát cao:

Trong suốt lịch sử của phong trào cộng sản thế giới chưa hề có một đảng cộng sản nào thắng một cuộc bầu cử lương thiện nào. Cũng chưa hề có một đảng cộng sản nào đem lại phồn vinh cho một quốc gia nào. Không hề có một phát minh hay sáng tác thực sự đáng kể nào trong các chế độ cộng sản, một vài tác phẩm văn học lớn đều là của những người đối lập (7).

Ở mọi nơi mà nó đã được thử nghiệm chủ nghĩa cộng sản đã chỉ là nghèo khổ, khủng bố và tội ác… Chế độ cộng sản khác với mọi chế độ bạo ngược đã có trong lịch sử thế giới, nó là chế độ duy nhất bách hại và tàn sát nhân dân của chính mình. Tuyệt đại đa số nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản là những người dân của các chế độ cộng sản (7).

Và đây nữa:

Chế độ này chắc chắn sẽ bị đào thải. Không phải chỉ vì đàn áp và bóc lột tự nhiên làm nảy sinh ra chống đối. Có những chế độ bạo ngược kéo dài rất lâu. Nó sẽ sụp đổ nhanh chóng hơn vì một lý do khác. Đó là vì không một đoàn thể nào có thể tồn tại nếu không có một mục tiêu chung hoặc những giá trị đạo đức chung. Đảng cộng sản không có cả hai. Nó sẽ nhanh chóng trở thành một đấu trường hoang dại. Chính những đảng viên cộng sản sẽ xâu xé nhau” (5).

Và đây nữa:

Coi nhẹ các giá trị dân chủ và nhân quyền còn là một sai lầm lớn nếu hoà bình là điều cần được trân quý nhất. Trong lịch sử thế giới các cuộc chiến đã chỉ xảy ra hoặc giữa các nước độc tài với nhau hoặc giữa một nước độc tài và một nước dân chủ. Chưa có trường hợp hai nước dân chủ chiến tranh với nhau. Dân chủ và nhân quyền là nền tảng của hoà bình (8).

Song, đôi khi tôi cũng đã sửng sốt trước sự hồ đồ và tự mâu thuẫn của NGK:

Phải nhìn nhận rằng trên thế giới này khó tìm ra một dân tộc bạc nhược như vậy. Mà có phải con người Việt Nam bạc nhược đâu. Cũng những con người ấy khi được tổ chức và chỉ huy đã đánh bại quân Tống, quân Nguyên, quân Thanh, đã từng chiến thắng vẻ vang tại Điện Biên Phủ” (4).

Không thể không bảo NGK là thiếu chín chắn khi dám tuyên dương:

Tôi biết hai ký giả Pháp khá nổi tiếng. Họ không phải là những nhà văn nhà báo lớn nhất của nước Pháp, nhưng trình độ nhận thức của họ cao hơn hầu hết các chính trị gia Việt Nam. Đặc điểm chung của họ là rất tha thiết đối với đất nước và con người Việt Nam, do đó họ hiểu biết đất nước Việt Nam hơn hẳn các chuyên gia về Việt Nam khác” (4).

Một trong hai ký giả đó tên là Michel Tauriac, đã nói rất lếu láo:

Chế độ cộng sản Việt Nam chẳng mạnh gì, vấn đề là người Việt Nam không có ý chí tranh đấu gì cả, người ta có cảm tưởng đó là một đàn cừu” (4).

Gần đây NGK còn phóng tay mạc mặt cho chủ nghĩa cá nhân:

Chủ nghĩa cá nhân coi mục đích của tổ chức xã hội, trong đó quan trọng nhất là chính quyền, là tạo điều kiện để mỗi cá nhân xây dựng hạnh phúc của mình. Nói cách khác, cá nhân là cứu cánh, mọi tổ chức trong xã hội kể cả nhà nước chỉ là phương tiện … Bản tuyên ngôn Liên Hiệp Quốc 1948 chỉ qui định những bổn phận của nhà nước đối với cá nhân chứ không qui định một bổn phận nào của cá nhân đối với nhà nước. Tài liệu này mặc nhiên coi cá nhân là giá trị cao nhất; tổ chức xã hội, trong đó có nhà nước, có mục đích sau cùng là phục vụ cá nhân; nó có thể được coi như là bản tuyên cáo của chủ nghĩa cá nhân và đem lại cho chủ nghĩa cá nhân một nội dung cụ thể” (15)

Chủ nghĩa cá nhân biểu hiện tư tưởng triết học Max Stirner và Nietzche. Nó đã góp phần giải phóng con người khỏi những xiềng xích của chủ nghĩa phong kiến và của giáo hội cổ đại. Hết cái sứ mệnh giai đoạn lịch sử, cá nhân chủ nghĩa hoặc dẫn đến vô chính phủ, hoặc dẫn đến độc tài.

Ở đây, khi NGK nói: “Cá nhân phải được hiểu là con người được nhìn một cách độc lập với tư cách thành viên của một tập thể nào đó. Con người này vừa trừu tượng vừa phổ cập, vì không là riêng ai cả nhưng lại hiện diện trong mọi người, nó được coi là giá trị cao nhất. Mỗi cá nhân là một thể hiện cụ thể của con người này…” (15) thì đối tượng nói đến không phải là cá nhân cụ thể từng người mà là con người chỉ mang đặc tính bất biến của con người mà ta phải viết hoa: Con Người. Con Người này là sự trừu tượng hóa con người, siêu thoát khỏi mọi ràng buộc của kết cấu chính trị, xã hội như: mầu da, dân tộc, tôn giáo, quốc tịch…

Tuyên ngôn Nhân quyền đặt vấn đề đối với “Con Người” (chứ không phải cá nhân), nhà nước có trách nhiệm với “con người” trong quốc gia mình (chứ không phải với từng cá nhân)

Song, vì Tuyên ngôn Nhân quyền đặt vấn đề đối với “Con Người” nên các nhà nước đã ký vào Tuyên ngôn không thể ngụy biện rằng họ chỉ cần ban phát quyền “con người”.

(Năm 1999 khi thấy tôi công khai xiển dương “Nhân quyền cao hơn chủ quyền”, ông Đỗ Mười – tổng bí thư ĐCSVN lúc ấy – đã ra lệnh tống tù tôi!)

Như tất cả những ai vượt thoát được khỏi mụ mị lú lẫn do bị tuyên truyền nhồi sọ quá lâu, NGK chua xót ngẫm lại nguồn cơn những cuộc chiến tranh đã xẩy ra trên đất nước Việt Nam suốt thế kỷ qua:

Mọi người đều biết nó không cần thiết và hơn nữa còn là một thảm kịch cho đất nước nhưng nó đã diễn ra vì độc lập không phải là mục tiêu của đảng cộng sản, lực lượng áp đảo lúc đó. Độc lập chỉ là một biện minh, mục tiêu thực sự của đảng cộng sản là áp đặt chế độ cộng sản. Mục tiêu này không chấp nhận được cho nhiều người Việt Nam và cũng là một thách thức đối với khối dân chủ tư bản, do đó chiến tranh là điều không tránh khỏi. Ngày nay, khi chủ nghĩa cộng sản đã hiện nguyên hình như một sai lầm đẫm máu và hơn thế nữa một chủ nghĩa tội ác về bản chất, cuộc chiến này phải bị lên án, ít nhất như một sự cuồng dại… Họ đã hành động vì chủ nghĩa cộng sản, độc lập dân tộc và quyền lợi đất nước không phải là động cơ của họ (9).

Cuộc chiến 1954 – 1975, mà đảng cộng sản gọi là cuộc chiến tranh chống Mỹ lại càng vô lý hơn. Đứng trên quan điểm dân tộc, nó là một sự ngu xuẩn tuyệt đối. Mỹ hoàn toàn không phải là một đế quốc thực dân, trái lại còn là một cường quốc chống chủ nghĩa thực dân. Từ ngày lập quốc họ chưa hề đánh chiếm để sáp nhập hay thống trị một nước nào. Mỹ là một cường quốc không gian, hàng hải và thương mại cần thị trường chứ không cần thuộc địa. Cho tới nay họ vẫn từ chối sáp nhập Porto Rico dù không ai, kể cả người Porto Rico, chống lại; họ trả độc lập cho Philippines sau khi mua lại quần đảo này từ Espana. Sự hiện diện của Mỹ tại Việt Nam đáng lẽ đã phải được coi là một may mắn lớn, nó đem lại cho chúng ta sự hợp tác tận tình của cường quốc mạnh nhất, giầu nhất, tân tiến nhất và sáng tạo nhất thế giới mà không hề có nguy cơ mất nước. Cuộc chiến này đã chỉ xảy ra vì quyền lợi dân tộc không phải là ưu tư của đảng cộng sản. Ưu tư của họ là áp đặt chế độ cộng sản trên cả nước” (9).

Tuy nhiên, khác với những ai hận thù mù quáng, giận cá chém thớt, căm ghét tất cả những người từng ở bên kia chiến tuyến, dù là đồng bào mình, NGK thật thấu tình, thật bao dung:

Phải nói thật rõ: đại bộ phận những người đã chiến đấu dưới lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc chiến này đã chiến đấu vì lòng yêu nước, họ phải được tôn vinh; những người phải bị lên án là những người đã quyết định cuộc chiến này” (9)

Chúng ta vẫn không được quên là đã có hàng trăm nghìn người lương thiện, yêu nước và dũng cảm đã hy sinh dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ trong niềm tin rằng mình đang chiến đấu cho một tương lai Việt Nam tự do và dân chủ. Cờ vàng vì vậy phải được tôn trọng, không phải vì những người đã tạo ra nó, hay vì chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mà vì những người đã hy sinh cho đất nước. (Một lý luận tương tự cũng phải được áp dụng cho lá cờ đỏ sao vàng của chế độ cộng sản Việt Nam)” (10).

Hãy trả lại cho lá cờ vàng ba sọc đỏ chỗ đứng đúng đắn của nó. Nó có thể có chỗ đứng trong gia đình để ghi nhớ một quãng đời. Đối với nhiều người, trong đó có kẻ viết bài này, nó là kỷ vật của một ước vọng ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và xây dựng một nước Việt Nam có tự do và dân chủ, có chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người và được quản trị một cách hợp lý. Giấc mơ dù không thành nhưng vẫn đáng tự hào. Chỗ đứng của cờ vàng là chỗ đứng của một kỷ niệm của một giai đoạn lịch sử đau buồn vừa phải quên vừa phải nhớ. Nhớ đến những người đã hy sinh vì đất nước, nhớ đến những nạn nhân của cuộc chiến, nhớ để lịch sử đừng lặp lại. Và quên đi những thù hận đã tàn phá đất nước và còn có thể giam hãm chúng ta trong chia rẽ và bất lực” (10).

Ông cũng tỏ ra thật khách quan, thật công tâm, không chỉ thấu tình mà còn đạt lý:

Chúng ta có thể, và phải, tôn trọng cờ vàng vì những người đã hy sinh dưới lá cờ này, nhưng không phải vì thế mà gán cho nó một ý nghĩa mà trong suốt thời gian tồn tại nó chưa bao giờ có, nghĩa là dùng nó làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh vì dân chủ. Nếu coi cờ vàng là tiêu biểu cho dân chủ thì phải hài lòng với một thứ dân chủ giả dối và bệnh hoạn. Cờ vàng càng không thể dùng làm biểu tượng cho cuộc đấu tranh cho dân chủ vì một lý do khác: cuộc đấu tranh nào cũng đòi hỏi ý chí, quyết tâm, lòng tự hào và lòng tin vào thắng lợi, do đó không thể lấy lại lá cờ của một chế độ bạc nhược đã thất bại và đầu hàng” (10).

Vả lại, trên thực tế, cờ vàng cũng chưa bao giờ là một quốc kỳ Việt Nam mà chỉ là cờ của một trong hai phe trong một cuộc nội chiến, cũng tương tự như cờ đỏ sao vàng trước năm 1975, nhưng với một sự chính đáng kém hẳn (cờ đỏ sao vàng vào lúc ra đời đã được hầu hết mọi thành phần dân tộc nhìn nhận)” (10).

Không chỉ tỏ ra sáng suốt khi đứng nhìn hai đại khối dân tộc đã từng chia thành địch thủ mà ông còn rất thấu tình khi nhìn vào trong lòng đảng Cộng sản Việt Nam:

Mà đảng cộng sản cũng không phải là của hai triệu đảng viên cộng sản. Những đảng viên, ngay cả các đảng viên cao cấp, cũng không tự do hơn người khác, có khi còn bị trói buộc hơn, càng cao cấp lại càng phải phục tùng đảng hơn trong lời nói và hành động. Đảng là một cái gì đó rất vô hình vì không là ai cả, nhưng lại rất cụ thể như công an, tòa án và nhà tù” (4).

Đây chính là cơ sở hình thành tư tưởng Hòa Giải Hòa Hợp Dân tộc rất đáng trân trọng của Nguyễn Gia Kiểng.

Tôi tìm đến ông để khai sinh Tập san Tổ Quốc có phần hướng theo tư tưởng đó.

Trong đấu tranh vì sự nghiệp dân chủ hóa chúng tôi cùng có mối tâm giao ở chủ trương rằng kích động quần chúng nổi dậy phải hết sức thận trọng, để bảo vệ quần chúng, đặc biệt để tránh nguy cơ hy sinh oan uổng những phần tử tiên phong đầy nhiệt huyết:

Kêu gọi quần chúng đứng dậy khi chưa có tổ chức sẽ không được hưởng ứng, như một vài lời kêu gọi vừa chứng tỏ, mà còn có tác dụng ngược là làm mất lòng tin của quần chúng vào sự nghiêm chỉnh của phong trào dân chủ, chưa kể là còn có nguy cơ hy sinh oan uổng những phần tử nhiệt thành quí hiếm” (11).

Chủ trương “cao biền dậy non” khuyến khích anh em trẻ trống dong cờ mở, công khai xưng hùng xưng bá khi lực lượng quá mỏng, thậm chí chưa có gì, là sự dại dột tội lỗi.

Đấu tranh lý luận-tư tưởng dù hết sức khó khăn, phức tạp vẫn phải làm trước một bước dù vô cùng gian khó, dù phải kiên trì đến bao lâu. Dù bị hiềm khích dè bỉu là “chính trị sa lông” thì cũng phải quyết làm vì chính đấy là sứ mệnh thiêng liêng.

Để giành thắng lợi dứt khoát về mặt tư tưởng và lý luận Nguyễn Gia Kiểng chủ trương:

Chúng ta phải đập tan lập luận xuyên tạc cho rằng dân chủ sẽ đưa tới hỗn loạn. Chúng ta sẽ chứng minh rằng dân chủ là điều kiện căn bản để bảo đảm không có hỗn loạn, là phương thức sinh hoạt cho phép xã hội tiến hóa và đổi mới không ngừng trong trật tự.

Chúng ta phải đập tan lập luận cho rằng muốn phát triển cần có kỷ luật và muốn có kỷ luật cần hy sinh dân chủ, giới hạn tự do và nhân quyền.

Chúng ta phải đập tan lập luận cho rằng xã hội phương Đông khác với xã hội phương Tây, và do đó không thể chấp nhận những giá trị của phương Tây như tự do cá nhân, dân chủ và nhân quyền. Chúng ta cần phơi bày sự sai trái của lập luận cho rằng các giá trị văn hóa châu Á có lợi cho phát triển hơn các giá trị văn hóa phương Tây.

Chúng ta cũng cần phải cực lực bác bỏ một thứ “chủ nghĩa kinh tế” mà một số chính quyền muốn che dấu quyền lực độc tài, trong đó có Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, đang lấy làm lý cớ để phủ nhận hoặc giới hạn tự do, dân chủ và nhân quyền.

Một cố gắng khác, rất quan trọng, là chứng minh cho những đảng viên cộng sản và cán bộ của nhà nước còn đang phân vân và ngờ vực, rằng họ hoàn toàn không có lý do chính đáng nào để lo ngại sự cáo chung của chế độ độc tài đảng trị cả. Trái lại họ còn có mọi lý do để vui mừng trước những thắng lợi của dân chủ. Danh dự, nhân phẩm và những quyền lợi hợp pháp của họ sẽ được tôn trọng” (12).

Tôi gọi công cuộc này là đấu tranh cải tạo nhận thức xã hội. Đấu tranh tư tưởng-lý luận tốt để cải tạo nhận thức xã hội thật triệt để (trong quàn chúng, trong đảng viên, trong BCH TƯ, trong Bộ Chính trị…) thì sẽ có diễn biến hòa bình êm đẹp, chẳng những không cần đổ máu mà cũng không cần quần chúng nổi dậy.

Nếu vì nhà cầm quyền quá lì lợm ngoan cố, không thể không nổi dậy thì cũng phải bất thình lình tổng nổi dậy mới mong giành thắng lợi. Nổi dậy manh mún, lẻ tẻ chỉ tổ làm mồi cho chính quyền đàn áp, như đã thấy, dễ như trở bàn tay.

Hô hào chống tham nhũng nhưng chỉ hướng quần chúng trút căm phẫn lên đầu mấy ông cán bộ xã, cán bộ huyện hay đến cả trung ương… thì chỉ có biểu tình cỡ trăm, cỡ nghìn người là cùng, nhưng nếu làm cho quần chúng hiểu chính là đường lối sai lầm của Đảng đã và đang mở đường và bao che cho tham nhũng thì quần chúng sẽ hiểu: muốn chống tham nhũng phải chống Đảng.

Cho rằng đất nước tụt hậu, đời sống đói nghèo, xã hội đầy tệ đoan … vì đất nước trải qua quá nhiều chiến tranh do Đảng có công giành độc lập, thống nhất nên dẫu thế nào đi nữa cũng phải đời đời nhớ ơn Đảng. Nhưng, nếu làm cho quần chúng hiểu đúng bản chất phi lý, vô nghĩa của các cuộc chiến đó thì quần chúng ít ra cũng đồng lòng khẳng định phải có đảng khác có đường lối đúng đắn hơn.

V.v…

Công tác Tư tưởng-Văn hóa phải làm sao đủ tốt để đạt được mộng ước của Nguyễn Gia Kiểng, và cũng là của chúng tôi:

Mộng ước của mọi người Việt Nam hôm nay là đổi hướng đi của lịch sử và mở ra một kỷ nguyên của tiến bộ và hạnh phúc. Đó là một cuộc đổi đời rất lớn. Nhưng có cuộc đổi đời nào không đòi hỏi một thay đổi lớn về tâm lý? Nếu biết nhỏ lệ xót thương cho số phận của đất nước ta, biết dứt khoát tiêu diệt cái bản năng chiến tranh trong con người của mỗi chúng ta, biết lấy đối thoại, tương kính, tương nhượng làm căn bản dựng nước mới là chúng ta đã rút được bài học lịch sử quí giá nhất và đã vượt được trở ngại kinh khủng nhất” (13).

Và chúng ta tâm niệm rằng:

Hạnh phúc của một dân tộc không phải chỉ là lợi tức trung bình trên mỗi đầu người, càng không phải là tỷ lệ tăng trưởng 5 hay 10% mỗi năm. Còn những điều cao hơn, và cao hơn nhiều. Đó là phẩm giá, là quyền được nói và làm điều mình muốn, là quyền được sống mà không sợ bị bắt giam vô cớ, được phát triển khả năng của mình mà không cần đút lót, và được tham dự vào những quyết định quan trọng cho cộng đồng” (4).

Với tất cả những ưu, khuyết, nhược điểm có trong Nguyễn Gia Kiêng, tôi vẫn nghĩ như học giả Trương Nhân Tuấn:

Riêng tôi nhận thấy ông Kiểng là một người yêu nước nồng nàn. Ông đã cống hiến rất nhiều thời gian trong đời mình, cống hiến rất nhiều trí tuệ của mình cho đất nước. Tư tưởng của ông đã được rất nhiều thành phần người Việt đón nhận. Tổ chức do ông sáng lập (Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên) là một tổ chức có tầm vóc, kỳ cựu, có kinh nghiệm đấu tranh, tập hợp nhiều người có tư cách và tận tụy với đất nước. Tổ chức của ông Kiểng cũng là một tổ chức trong sáng, chưa hề gạt gẫm một ai, chưa hề quyên góp, lem nhem tiền bạc với người nào” (14).

Tiểu sử Nguyễn Gia Kiểng tìm được trên Google như sau:

Nguyễn Gia Kiểng sinh ngày 8 -11-1942 tại Thái Bình trong một gia đình nông dân, cha và các chú bác đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng chống Pháp giành độc lập đã thất bại trong cuộc tổng khởi nghĩa 1930 với hậu quả là các lãnh tụ chính bị chế độ thuộc địa Pháp hành quyết. Sau Cách Mạng tháng 8 đảng CSVN mở đợt khủng bố tiêu diệt VNQDĐ, hai người chú bị thủ tiêu, cha bỏ trốn…Trong thời gian tại Pháp Nguyễn Gia Kiểng làm chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris năm 1965 và chủ tịch Liên Minh Sinh Viên và Công Nhân Việt Nam tại Châu Âu năm 1968. Ông là người lãnh đạo sinh viên và công nhân Việt Nam có ảnh hưởng lớn nhất tại Pháp cho đến khi về nước. Về nước ông làm chuyên viên ngân hàng và dạy môn kinh tế chính trị tại đại học Minh Đức Sài Gòn rồi làm phụ tá bộ trưởng kinh tế với hàm thứ trưởng cho đến ngày 30-4-1975. … Nguyễn Gia Kiểng viết rất đều trên nguyệt san Thông Luận và trang Web Thông Luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên từ hơn hai mươi năm qua chung quanh các chủ đề triết lý chính trị, kinh tế, vận động dân chủ, và đôi khi lịch sử. Nguyễn Gia Kiểng đặc biệt chú trọng hô hào cho văn hóa tổ chức, coi xã hội dân sự với những tổ chức không thuộc chính quyền như một điều kiên bắt buộc cho tiến trình dân chủ hóa. Ông là tác giả cuốn sách chính trị bằng tiếng Việt được đọc nhiều nhất trong những thập niên gần đây: Tổ Quốc Ăn Năn (đã được Nguyễn Ngọc Phách dịch sang tiếng Anh: Whence… Whither… Viêtnam?). Dù luôn luôn tự khẳng định là một người hành động, Nguyễn Gia Kiểng là một trong những nhà lý luận chính trị có ảnh hưởng nhất Việt Nam hiện nay và đã đem lại cho tiếng Việt nhiều từ ngữ chính trị đã trở thành quen thuộc. Tổ chức mà ông lãnh đaọ, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, được coi là tiêu biểu cho khuynh hướng hoà giải dân tộc.

Rút trong cuốn “ĐÊM DÀY LẤP LÁNH”
Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6 – Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn – Từ Liêm – Hà Nội
Mobi: 0984 724 165

Ghi chú:

1- Nguyễn Gia Kiểng – Tổ Quốc ăn năn
2- Bình Ngô Đại cáo
3- Nhật Tuấn – Vài nhận xét về cuốn “Tổ Quốc ăn năn” của Nguyễn Gia Kiểng
4- Nguyễn Gia Kiểng – Đi tìm một mô thức phát triển đất nước
5- Nguyễn Gia Kiểng – Chúng ta đang ở giai đoạn hậu cộng sản?
6- Nguyễn Gia Kiểng – Trí thức là một khái niệm chính trị
7- Nguyễn Gia Kiểng – 1989, thế giới và Việt Nam
8- Nguyễn Gia Kiểng – Chủ nghĩa thực tiễn và trường hợp Obama
9- Nguyễn Gia Kiểng – 35 năm sau ngày 30-4-1975: Vài khẳng định cần thiết
10- Nguyễn Gia Kiểng – Tình cảm và chỗ đứng nào cho cờ vàng?
11- Nguyễn Gia Kiểng – Thân chào và cảm tạ
12- Dự án Chính trị Dân chủ Đa nguyên
13- Nguyễn Gia Kiểng – Mở mắt và nhỏ lệ
14- Trương Nhân Tuấn – Về những “Xét lại” của Nguyễn Gia Kiểng
15- Nguyễn Gia Kiểng – Vài ghi chú về chủ nghĩa cá nhân

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

TPP Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, hàng rào hữu hiệu nhất ngăn chặn bành trướng Trung Quốc và bảo vệ Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 11/04/2012

Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, hàng rào hữu hiệu nhất ngăn chặn bành trướng Trung Quốc và bảo vệ Việt Nam

Trước ngày bế mạc Hội nghị APEC 2010 họp ở Nhật Bản cách đây một năm, tổng thống Mỹ Obama đề nghị với lãnh đạo 4 nước: Brunei, Singapore, Chili, New-Zealand đã ký năm 2005 Hiệp ước Pacific four closer Economic Parneship (P4) là sau Hội nghị APEC năm 2011 họp ở Honolulu (Hawaii), Mỹ sẽ mời thêm 5 nước nữa là Malaysia,Việt Nam, Úc, Peru, Nhật Bản cùng Mỹ mở các cuộc đàm phán để thay thế P4 bằng một hiệp định thương mại tự do đa phương toàn diện gọi là Thước Đi tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Parnership Agrement), viết tắt là TPP. Đề nghị của Obama được lãnh đạo 9 nước tán thành.

Như ước định, Thỏa ước Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được Mỹ và 9 nước kể trên ký ngày 12-11-2011. Trong tương lai sẽ có thêm chữ ký của Canada và Mexique. Đại Hàn, Đài Loan, Philippin cũng ngỏ ý muốn tham gia. Hiện tại 9 nước thành viên và Mỹ vẫn tiếp  tục những cuộc đàm phán để hoàn tất TPP trong một thời gian càng sớm càng hay.

Trong những cuộc đàm phán trước khi ký TPP, các đối tác đều thỏa thuận mục tiêu của TPP là tập hợp kinh tế các quốc gia thành viên – phát triển cũng như đang phát triển – thành một cộng đồng thương mại tự do duy nhất không còn hàng rào quan thuế. Cộng đồng này sẽ gồm 800 triệu người, nắm 40% kinh tế thế giới với 2 nước chủ chốt là Mỹ và Nhật, siêu cường thứ nhất và thứ 3 trên thế giới.

Nhưng Mỹ cũng đặt điều kiện là các đối tác trong TPP phải tuân theo những quy định về mậu dịch, về xuất xứ hàng  hóa, về rào cản kỹ thuật và về trao đổi dịch vụ. Những đối tác nằm trong TPP phải tôn trọng những luật lệ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ các sáng kiến và phải minh bạch trong chính sách cạnh tranh.

Cũng trong khuôn khổ TPP, những khế ước ký với các chính phủ phải có những điều khoản bảo vệ công nhân, bảo vệ môi trường và công việc làm phải phù hợp với nhân phẩm. Dòng giao lưu tự do của công nghệ thông tin (báo chí, truyền thông) cũng phải được khuyến khích.

Khó mà không thấy là TPP, tuy được coi là hậu thân của P4, nhưng thật ra chỉ là sáng tác  của Mỹ. TPP còn có mục đích ngăn chặn bành trướng Trung Quốc về kinh tế và quân sự ở Tây Thái Bình Dương :

Ngăn chn bành trướng Trung Quc v kinh tế :

Cần nhắc lại là cho tới khi xẩy ra khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, giới tư bản tài phiệt Mỹ đã cấu kết với tư bản cộng sản Tàu để cùng thực hiện ý tưởng Mỹ – Trung Quốc đồng ngự trị (condominium) kinh tế thế giới mà Zoellick, chủ tịch Ngân hàng thế giới gọi là G2 (đối chọi với G20). Sự hợp tác và phân công giữa 2 tư bản – tư bản CSTQ cung ứng nhân công rẻ tiền, tư bản tài phiệt Mỹ  góp tiền tài, trí óc, kỹ thuật – đã biến cả Trung Quốc thành một công xưởng thế giới chế tạo hàng hóa với giá thành hạ lũng đoạn thị trường kinh tế toàn cầu. Nhờ sự cộng tác  “nước với lửa” này, tư bản Mỹ và Cộng sản Tàu đã thâu được rất nhiều lợi nhuận.

Khi xẩy ra khủng hoảng tài chính – kinh tế từ Mỹ lan tràn khắp thế giới, Tư bản Mỹ mới vỡ  lẽ ra rằng chỉ vì hám lợi đã tự đưa thòng lọng cho Tư bản cộng sản Tàu thắt cổ mình :  công kỹ nghệ Mỹ bị đình đốn, thất nghiệp tăng cao, chênh lệch xuất – nhập khẩu mỗi ngày một lớn tạo ra khủng hoảng tài chính. Để dân Mỹ – vốn dĩ là dân tiêu thụ bậc nhất thế giới (70% GDP) –  tiếp tục có tiền mua hàng Tàu, Trung Quốc lấy đô la thâu được từ xuất khẩu đưa lại cho Mỹ vay khiến Mỹ trở thành con nợ lớn nhất của Trung Quốc. Trái lại để hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu, CSTQ thẳng tay bóc lột sức lao động của 200 triệu min gông (dân công, di dân). Chính sách “định hướng kinh tế” của ĐCSTQ là : chỉ dành cho 1300 triệu dân Tàu 30% Tổng sản lượng nội địa (GDP) còn 70% GDP được phân chia cho các tập đoàn kinh tế quốc doanh (thật ra là Đảng doanh) và cho giới tư sản mại bản liên kết với Đảng để tiếp tục đầu tư kinh doanh xuất khẩu, mua công khố phiếu nước ngoài, cho nước ngoài vay hay giữ tiền mặt (đô la, euro) để các vai vế trong Đảng và giới đại gia mặc sức tiêu sài ở nước ngoài hay để mua chuộc, đút lót chính quyền những nước  độc tài thối nát có nhiều tài nguyên, nguyên liệu cần thiết cho công kỹ nghệ xuất khẩu của Trung Quốc. Tất nhiên là người dân Tàu bị bóc lột sức lao động phải trả một giá rất mắc cho cái chính sách định hướng kinh tế kiểu cộng sản Trung Quốc này. Nhưng cũng nhờ vậy mà kinh tế Trung quốc (nếu chỉ căn cứ vào GDP) giữ được sức tăng trưởng cao nhất thế giới.

Đã vậy Trung Quốc còn là một đối tác gian lận: Ăn cắp trí tuệ, bằng sáng chế và các phát minh để làm đồ nhái lại những sản phẩm cao cấp Mỹ rồi tung ra thị trường quốc tế bán phá giá khiến hàng cao cấp của Mỹ không xuất khẩu được. Dìm giá đồng yuan và gắn chặt yuan với USD để dân Mỹ có thể mua đồ Trung Quốc với giá rẻ mạt, trái lại người dân Trung Quốc không thể mua đồ nhập khẩu của Mỹ được vì giá quá mắc khi chỉ có đồng yuan để sài. Kết quả là trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, Mỹ nhập siêu Trung Quốc  gần 4 lần nhiều hơn xuất : Nội trong năm 2010 thâm thủng mậu dịch Mỹ với Trung Quốc đã lên đến 270 tỷ USD!

Muốn cắt đứt cái tròng gian lận này, Mỹ chỉ có cách đem những quy định của TPP về bảo vệ sở hữu trí tuệ, về môi trường, về an sinh xã hội, về chế độ lương bổng… làm hàng rào ngăn cản hàng rẻ tiền Trung Quốc tràn ngập vào thị trường các nước trong khối TPP, đồng thời di chuyển những công xưởng sản xuất của Mỹ và của các nước trong khối TPP ở Trung Quốc  qua những nước đang tiến triển đông nhân công cùng trong khối như Việt Nam, Mexique…  Không còn chỉ phụ thuộc  vào thị trường Trung Quốc, và nhờ có một thị trường TPP rộng lớn và đa dạng, cán cân xuất nhập khẩu của Mỹ sẽ cân bằng hơn.

Ngăn chn bành trướng quân s Trung Quc:

Trung Quốc luôn luôn nuôi tham vọng làm bá chủ 2 mặt biển Tây Thái Bình Dương tiếp giáp với Trung Quốc là Đông Hải mà Trung Quốc gọi là biển Đông Trung Hoa (Hoa Đông) và biển Đông mà Trung Quốc đặt tên là biển Nam Trung Hoa (Hoa Nam), để từ đó tiến xuống phía Nam Thái Bình Dương và xâm nhập Ấn Độ Dương.

Trong những thập niên đầu của hậu bán thế kỷ thứ 20, Trung Quốc tăng cường lực lượng hải không quân trên mặt biển Đông Hải với mục đích duy nhất là sử dụng cường lực quân sự thâu hồi Đài Loan. Lực lượng hùng hậu của quân đội Mỹ đóng ở Đại Hàn, Nhật Bản và nhất  là sự có mặt của hạm đội 7 Mỹ trấn giữ eo biển Đài Loan đã làm tiêu tan hi vọng hải lục không quân Trung Quốc có thể làm chủ  Đông Hải, qua mặt được hạm đội 7, vượt biển “giải phóng” Đài Loan.

Sau Giải phóng miền Nam 75, Trung Quốc thấy cơ hội làm bá chủ biển Đông đã đến: Mỹ rút khỏi Việt Nam, căn cứ Mỹ ở Philippines bị đòi lại, Mỹ không còn có mặt ở biển Đông. Người “anh em” Việt Nam, bắt buộc phải nhường mọi biển đảo Hoàng  Sa – Trường Sa cho Trung Quốc để trả ơn Trung Quốc đã viện trợ chống Mỹ, sẽ không ra mặt chống đối, chỉ phản kháng lấy lệ.

Quần đảo Hoàng Sa với thời gian đã trở thành một căn cứ tổng hợp của các binh chủng Trung Quốc không quân, bộ binh, thủy quân lục chiến, pháo binh, bộ đội  tên lửa.  Nhiều  hòn đảo được trang bị để trở thành sân bay cho máy bay chiến đấu và bến đậu cho tàu chiến, tàu ngầm. Những hòn đảo trong quần đảo Hoàng  Sa – Trường Sa mà Trung Quốc chiếm đóng sẽ trở thành những pháo đài, những tàu sân bay, bảo vệ đường Lưỡi Bò Trung Quốc vẽ và sẽ là những cứ điểm xuất phát những cuộc hành quân xâm chiếm Đông Nam Á, Ấn Độ Dương, để một ngày kia bành trướng Trung Quốc đi đến tận Úc châu.

Khống chế biển Đông, Trung Quốc có triển vọng nắm trong tay nguồn tài nguyên dầu khí vô cùng phong phú cần thiết cho công kỹ nghệ Trung Quốc đồng thời cũng chi phối được con đường  thương mại quan trọng nhất hoàn cầu: mỗi năm số lượng hàng hóa đi ngang qua  eo biển Malacca vào biển Đông trị giá 5000 tỷ USD (bằng GDP Trung Quốc) trong đó 1/4 là trị giá hàng hóa mậu dịch giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á.

Để ngăn chặn bành trướng Trung Quốc độc chiếm biển Đông, có những thỏa thuận song phương giữa Mỹ và những nước bị Trung Quốc đe dọa :

Malaysia và Singapore thỏa thuận cung cấp căn cứ cho tàu chiến duyên hải Mỹ bảo vệ eo Malacca và Sunda.

Với Philippin có ký hiệp ước phòng thủ lẫn nhau với Mỹ cách đây 60 năm, Mỹ cung cấp tàu khu trục thứ hai. Với Indonesia, Mỹ cung cấp máy bay F16C/D.

Thỏa thuận quan trọng hơn hết là giữa Mỹ và Úc: Úc để cho Mỹ đóng quân ở Darwin (cực Bắc Úc) với đợt đầu là 2500 lính thủy đánh bộ. Mỹ sẽ tăng cường máy bay chiến đấu, đem tàu sân bay tới Úc. Nhờ địa thế Darwin ngó ra vùng biển Đông Nam Á – Nam Thái Bình Dương bao gồm Indonesia, Brunei, 2 eo biển chiến lược Sunda, Malacca,  Singapore, quần đảo Trường Sa, Philippin, Darwin là căn cứ tốt nhất từ đó có thể xuất phát các cuộc hành quân trong trường hợp cần bảo vệ những nước này và những cứ điểm chiến lược trong vùng.

Nhưng Mỹ dự kiến Trung Quốc sẽ không trực tiếp đương đầu với Mỹ ở biển Đông mà sẽ xâm nhập Đông Nam Á qua ngả Lào – Việt :

Các chuyên gia quân sự Mỹ thấy sự có mặt của hàng ngàn người Trung Quốc trong dự án khai thác Bauxite tại Tây nguyên, một vị trí chiến lược chủ chốt nằm giữa 3 nước Lào, Campuchia, Việt Nam, rất đáng quan ngại. Những đơn vị “dân công” khai thác bauxite  có thể chỉ là những đơn vị xung phong của quân đội nhân dân Trung Quốc trá hình “nằm vùng”. Khi được lệnh xuất quân sẽ : Một mặt tiến xuống phía Đông cắt đôi Việt Nam, làm chủ  bờ biển chiến lược Việt Nam từ Đà Nẵng tới Cam Ranh. Một mặt tiến xuống phía Tây hợp với những binh chủng đã nằm sẵn ở những cơ sở “dân sự”, ở những công trường làm cầu cống đường xá nối liền với miền Nam Trung Quốc tại Lào, tràn qua Campuchia, băng qua Thái Lan, chiếm Malaysia, làm chủ eo Malacca. Những căn cứ của hải quân Mỹ ở Singapore, Malaysia sẽ bị vô hiệu hóa nhanh chóng.

Mun ngăn chn Trung Quc, phi bt kín l hng Tây Nguyên. Đó là lí do M cn Vit Nam tham gia TPP mc du Vit Nam là mt nước cng sn thân Trung Quc :

Một khi đã là thành viên TPP, Việt Nam lấy cớ phải tôn trọng những  quy định bảo vệ môi trường, đòi Trung Quốc phải hủy bỏ hợp đồng khai thác Bauxite. Trung Quốc sẽ không còn  lí do  ở lại Tây Nguyên.

Ngoài lí do quân s còn lí do kinh tế:

Sách lược Trung Quốc là tràn ngập Việt Nam sản phẩm tiêu thụ và nguyên liệu cần thiết  cho công nghệ xuất khẩu, gây nhập siêu khiến kinh tế Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc Trung  Quốc về nhập cũng như xuất : Riêng năm 2010, không kể hàng lậu, Việt Nam đã nhập khẩu từ Trung Quốc 20 tỷ USD trong đó nhập siêu lên đến gần 13 tỷ. Khó mà giảm được nhập siêu  vì:

– Các công ty Trung Quốc luôn luôn thắng các hợp đồng thiết kế, mua sắm và xây dựng vì có sự đồng lõa của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Thắng thầu họ nhập máy móc, thiết bị, vật liệu thậm chí cả nhân công và dịch vụ. Những công ty này không những phá hoại môi trường, giành công việc của công nhân Việt Nam mà còn cài gián điệp khắp cùng mọi chỗ có công trình của họ đồng thời cũng kéo theo thương nhân của họ đến mở quán mở tiệm.

– Trung Quốc xuất khẩu qua Việt Nam đủ mọi mặt hàng từ một cây đinh đến những vật thông dụng trong gia đình với giá cực rẻ khiến hàng nội địa không thể nào cạnh tranh nổi, công nghệ sản xuất hàng tiêu thụ trong nước đều bị phá sản. Thậm chí rau quả thịt thà và hàng ngàn loại thực phẩm khác cũng đến từ Trung Quốc ! Hệ quả là thị trường tiêu thụ, cuộc sống thường ngày của nhân dân Việt Nam, đều hoàn toàn dưới sự chi phối của Trung Quốc.

– Công nghệ xuất khẩu Việt Nam, chủ yếu là những ngành dệt may, giày dép…  phải  nhập  từ Trung Quốc  tới 60 – 85% vật liệu, nguyên liệu đã chế tác (vải, sợi, da giày…) rồi chỉ gia công chế biến, lắp ráp.  Trung Quốc nắm quyền sinh sát: chỉ cần Trung Quốc tăng giá nguyên liệu lên 10-15% là công nhân Việt Nam hết đường sống, các khu công nghiệp phải tự đóng cửa. Ngành sản xuất hàng xuất khẩu Việt Nam vì vậy có giá trị gia tăng rất thấp.

Trong chuyến thăm Việt Nam vừa rồi của Tập Cận Bình, chính quyền CSVN còn cam kết “n lc thc hin mc tiêu đt kim ngch thương mi Trung quc – Vit Nam 60 t USD vào năm 2015… ra sc đy mnh hp tác 2 hành lang 1 vành đai kinh tế xây dng khu hp tác xuyên biên gii“. 60 tỷ USD là hơn một nửa GDP Việt Nam hiện giờ. Nhập siêu Việt Nam sẽ nhân  gấp 3 lần ! Khó mà không thấy là trong tương lai rất gần, kinh tế Việt Nam sẽ hoàn toàn dưới sự thống trị của kinh tế Trung Quốc.

Đó cũng là nỗi lo ngại của Mỹ vì khi thực chất hàng xuất khẩu Việt Nam chỉ là hàng Tàu “made in Việt Nam” và xuất khẩu Việt Nam chỉ là xuất khẩu hộ Tàu thì thị trường tiêu thụ Mỹ sẽ lâm vào cảnh tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Việt Nam nằm trong TPP là phương cách hay nhất để ngăn ngừa kinh tế Việt Nam trở thành một chi nhánh của kinh tế Trung Quốc.

Một khi đã nằm trong TPP, Việt Nam phải tuân thủ những qui định về xuất xứ hàng hóa, về bảo vệ môi trường, về bảo vệ tai nạn lao động, về an sinh xã hội, chế độ lương bổng…  Tại Việt Nam, những công ty Trung Quốc không tôn trọng những điều kiện trên sẽ bị loại khỏi những cuộc đấu thầu và hàng hóa Trung Quốc không đủ tiêu chuẩn cũng bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam để Trung Quốc gian lận dán nhãn hiệu Made in Việt Nam rồi xuất khẩu lại qua các nước trong TPP. Các doanh nghiệp sản xuất hàng thường dùng trong nước hay hàng  xuất khẩu cũng  nhờ vậy lấy lại được thị trường tiêu thụ trong nước và sản phẩm xuất khẩu Việt Nam sẽ có một chất lượng tốt hơn và sẽ được yêu chuộng trong một thị trường vô  cùng rộng lớn là khối TPP.

Việt Nam là nước đang phát triển đông dân cư nhất trong những nước ĐNÁ thuộc khối TPP. Các tập đoàn hàng công nghệ cao, hàng điện tử chất lượng tốt, sẽ không sợ thiếu nhân công có trình độ khi bỏ Trung Quốc tới Việt Nam mở công xưởng, mở trung tâm kỹ thuật cao và cũng không lo sợ bị ăn cắp sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế. Việt Nam sẽ trở thành công xưởng kỹ thuật cao và Việt Nam với 9O triệu dân, cũng tạo một thị trường  tiêu thụ đáng  kể cho ngành xuất khẩu các nước trong TPP, nhất là Mỹ, Nhật …

M cũng mun thông qua TPP khc phc chính quyn CSVN ni rng nhân quyn, dân  ch và t do báo  chí:

Cho tới nay có những phần tử trong ĐCSVN lí luận là đi với Mỹ sẽ mất Đảng. Chấp nhận Việt Nam trong khối TPP,  Mỹ đã gián tiếp công nhận ĐCSVN là đảng cầm quyền duy nhất và chứng minh là đi với Mỹ sẽ không mất đảng, trái lại nếu tiếp tục bám vào Tàu sẽ mất hết. Vả lại giới kinh doanh tư bản Mỹ hay bất cứ nước nào đầu tư vào Việt Nam, cũng không đòi  hỏi gì hơn là có ổn định chính trị để dễ làm ăn. Những lobby quân sự và kỹ nghệ làm súng ống  Mỹ còn cho là dễ làm giầu với những chế độ độc tài hơn là với những nước dân chủ hiếu hòa. Tất nhiên là những tổ chức đòi hỏi dân chủ, đòi hỏi dân quyền Mỹ, Úc, Canada, Nhật… sẽ không chịu ngồi yên và sẽ làm áp lực với chính phủ nước mình để đòi hỏi chính quyền CSVN phải tôn trọng nhân quyền và tự do ngôn luận. Chính quyền CSVN cũng khó mà  từ chối quyền tư nhân được tự do xuất bản báo chí và tự do truyền thông vì những quyền này nằm trong quy chế  tự do kinh doanh mà các thành viên TPP đều đã chấp thuận. Quan trọng hơn hết là một khi kinh tế Việt Nam phải vận hành theo những quy định, những luật lệ rõ ràng và phải có  sự minh bạch trong sổ sách, trong kế toán, thì sẽ bớt được tham nhũng và nền tư pháp cũng sẽ độc lập hơn.

Kết lun

Có nhiều giải thích khác nhau về sự kiện Việt Nam gia nhập khối TPP:

Có nhiều người hoài nghi cho rằng quyết định gia nhập TPP chỉ là kết quả của một sự thỏa thuận giữa 2 phái cố hữu trong ĐCSVN là phái “Đảng Lãnh đạo”  mà người cầm đầu là Tổng bí thư Đảng và phái “Quản lí”  mà người cầm đầu là Thủ tướng chính phủ. Hai phái đều thỏa thuận với nhau đi nước đôi : lệ thuộc Tàu về đường lối chính trị, lợi dụng Mỹ về kinh tế. Nói chung, cả 2 phái đều cùng một chí hướng là bảo vệ sự độc tôn của Đảng và tình trạng giậm chân tại chỗ về chính trị cũng sẽ vẫn trường tồn.

Những người lạc quan hơn cho rằng phái Lãnh đạo đã bị cô lập, chỉ còn biểu lộ sự trung thành vì quyền lợi với Trung Quốc bằng một vài lời tuyên bố và bằng một vài phản ứng như huy động công an bắt cóc người này người kia. Những người này còn đưa ra nhận xét trong Đảng hiện nay có thêm một phái mới nổi là phái Trương Tấn Sang. Việt Nam gia nhập TPP phần lớn là công của Trương Tấn Sang. Xu hướng ngả về Mỹ có vẻ đang lên dù với Trương Tấn Sang hay với Nguyễn Tấn Dũng. Hai nhân vật này đang tranh đua nhau, sẽ làm thay đổi cơ chế chính  trị Việt Nam theo  chiều hướng  của ĐCSTQ với một lãnh đạo duy nhất như Hồ Cẩm Đào và ĐCSVN sẽ không còn là nơi tụ tập của một tập thể vô hình vô thể, vô trách nhiệm chia nhau quyền hành mà sẽ trở thành công cụ cầm quyền của một người lãnh đạo duy nhất.

Dù sao gia nhập khối TPP cũng tạo cho Việt Nam cơ hội tốt nhất để tạo dựng được một nền kinh tế vững bền, có nhiều triển vọng, thoát khỏi được sự khống chế của Trung Quốc. Những  người Marxistes chân chính còn dựa vào biện chứng pháp của Marx khẳng định  kinh tế  là hạ tầng cơ sở, chính trị chỉ là thượng tầng kiến trúc, để tin tưởng là một khi nền kinh tế Việt Nam đạt được trình độ tiến triển để hòa nhập với nền kinh tế chung của các nước trong khối TPP thì chính trị Việt Nam cũng sẽ thay đổi theo chiều hướng dân chủ của các nước này.

© Phong Uyên

© Đàn Chim Việt

Posted in Chiến Lược doi pho Trung Quoc | Leave a Comment »

Hàn Quốc xây xựng nhà máy điện hạt nhân cho Việt Nam – Nguồn gốc tấm bằng tiến sĩ danh dự về kinh tế

Posted by hoangtran204 trên 10/04/2012

Thủ tướng VN đã được trường Đại học Hàn Quốc (Korea University) trao tặng bằng tiến sĩ danh dự về kinh tế.

Thành tích kinh tế của ông Ng Tấn Dũng trong 6 năm cầm quyền là: Kinh tế VN đang trên đà phá sản, nợ công của chính phủ đi vay mượn nước ngoài lên 57 tỷ đô la, và nợ của 81 trong số 91 Tổng Công ty và tập đoàn quốc doanh vay nước ngoài là hơn 60 tỷ USD (nguồn) và (nguồn 2).  Năm 2010, vì Vinashin làm ăn lỗ lả, mất hết vốn, chính tàu hàng của Vinashin bị Hàn quốc bắt giữ xiết nợ.

Về lạm phát, VN đứng hàng đầu châu á, và đứng thứ nhì thế giới trong 6 năm liên tiếp. Tiền đồng Việt Nam được coi là kém giá trị hạng nhất, hoặc hạng nhì thế giới trong suốt thời gian ông Dũng làm thủ tướng.

Vậy mà Đại Học Korea còn khen đểu và  tặng bằng tiến sĩ kinh tế cho ông ta!

Bên cạnh ấy, thì Nam Hàn rất cáo già, vì lý do trao tặng là để cám ơn sự hậu hỷ như sau:

1.  “Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc khoảng 8,46 tỉ USD, chỉ sau đối tác Trung Quốc, tương đương 83% tổng giá trị nhập siêu năm 2011”. (nguồn  ở cuối bài này); và,

 2.  Hàn Quốc có được miếng bánh thơm trong hợp đồng trị giá hàng tỷ đô la dưới đây:

VN ‘ưu tiên Hàn Quốc’ trong dự án hạt nhân

Nguồn  BBC

Truyền thông Hàn Quốc hôm 29/3 cho biết Hàn Quốc được nêu danh là nhà thầu ưu tiên trong dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam.

Tờ Chosun Ilbo trích tuyên bố của Bộ Kinh tế Trí thức Hàn Quốc cho biết hai nước vừa ký kết “Thoả thuận tăng cường hợp tác phát triển năng lượng hạt nhân ở Việt Nam vì mục đích hoà bình”.

Chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng diễn ra ngay sau khi các lãnh đạo thế giới vừa khép lại Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân năm 2012 tại Seoul trong hai ngày 26 và 27/3.

Trên trang tin điện tử của chính phủ Việt Nam cho biết thêm thoả thuận này được ký giữa Bộ Công thương Việt Nam và Bộ Kinh tế Trí thức Hàn Quốc,

Trang tin này cho biết chuyến thăm chính thức Hàn Quốc của ông Dũng nhằm “thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển mạnh mẽ và sâu sắc hơn”.

Ngoài thỏa thuận hạt nhân, Việt Nam và Hàn Quốc đã ký văn kiện hợp tác phát triển trong lĩnh vực tài chính cũng như các thỏa thuận về mở rộng hợp tác trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam với Công ty Dầu khí quốc gia Hàn Quốc.

Các dự án khác còn bao gồm việc thu xếp vốn và cung cấp thiết bị cho dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2.

Hai nước cũng nói sẽ phối hợp chặt chẽ trong việc hỗ trợ và bảo vệ phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc.

Nghiên cứu khả thi

Về dự án hạt nhân, tờ Chosun Ilbo cho biết, Việt Nam và Hàn Quốc sẽ “bắt đầu tiến hành nghiên cứu tính khả thi trong thời hạn một năm ngay từ tháng sau”.

Theo tờ báo, sau khi công đoạn này kết thúc, hai bên sẽ ký kết một thoả thuận chính thức sau khi Quốc hội Việt Nam chuẩn thuận.

Việt Nam dự định đến năm 2030 xây dựng tám nhà máy điện hạt nhân.

Nga đã thắng thầu hai nhà máy đầu tiên và đang tiến gần tới giai đoạn khai móng cho nhà máy đầu, trong khi Nhật Bản đang tiến hành các nghiên cứu khảo sát tính khả thi cho hai nhà máy thứ ba và thứ tư.

Một nhà máy điện hạt nhân của Hàn Quốc
Chính phủ Hàn Quốc muốn xuất khẩu công nghệ hạt nhân

Hàn Quốc đang cạnh tranh để xây các nhà máy tiếp theo trong bối cảnh nước này bắt đầu muốn xuất khẩu công nghệ hạt nhân.

Tờ Chosun Ilbo nói Hàn Quốc “dường như có cơ hội tốt để thắng thầu bốn nhà máy còn lại”.

Cuối năm 2009, Hàn Quốc giành được hợp đồng xây bốn nhà máy điện hạt nhân ở Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).

Sự kiện này đánh dấu việc lần đầu tiên Hàn Quốc trở thành nước xuất khẩu công nghệ hạt nhân như Mỹ, Pháp, Nhật và một số nước khác.

Kể từ năm 2009, Hàn Quốc đã thương lượng cho các hợp đồng xây nhà máy điện hạt nhân ở Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam, nhưng chưa có thỏa thuận nào được ký.

iến sĩ danh dự

“Thủ tướng Dũng là một lãnh đạo đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển đất nước và nâng địa vị đất nước trên trường quốc tế.” Lời của Kim Byoung-chul, Chủ tịch Đại học Hàn Quốc

Trong khi đó, báo Korea Herald cho hay, trường Đại học Hàn Quốc (Korea University) đã trao tặng bằng tiến sĩ danh dự về kinh tế cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Dũng cũng có “buổi diễn thuyết đặc biệt” về chủ đề kinh tế Việt Nam và quan hệ với Hàn Quốc tại lễ trao bằng hôm 28/3.

Chủ tịch trường Đại học Hàn Quốc, ông Kim Byoung-chul được dẫn lời nói: “Thủ tướng Dũng là một lãnh đạo đã cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp phát triển đất nước và nâng địa vị đất nước trên trường quốc tế”.

Trong chương trình của chuyến thăm Hàn Quốc, ông Dũng cũng có buổi gặp mặt chủ bàn tròn với các tập đoàn, viện nghiên cứu, tổ chức kinh tế hàng đầu Hàn Quốc hôm 29/3.

Giới quan sát nhận định quan hệ Việt – Hàn ngày càng thắt chặt, với việc mới đây hai nước tiến hành đối thoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng lần thứ nhất.

http://www.koreaherald.com/national/…20120329000795

******************************************************

Nhiều nguồn tin trên internet cho biết, trước năm 1975, Miền Nam Việt Nam được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, các đô thị miền Nam rất được xem là văn minh và nền kinh tế của miền Nam Việt Nam có nhiều điểm vượt trội so với Nam Hàn. Ngành giáo dục, khoa học kỹ thuật, nông lâm súc, Y khoa…và số lượng các các nhà khoa học VN cũng vượt xa Nam Hàn. Nhưng rồi miền Bắc đem quân tấn công khắp các tỉnh thành ở miền Nam, làm cho công cuộc phát triển kinh tế có phần chậm lại, nhưng vẫn hề thua sút Nam Hàn. 

Sài gòn 1965 hay 1971?

Sau khi miền Bắc chiếm được miền Nam, đảng lãnh đạo cả nước VN tiến lên XHCN. Các đỉnh cao của trí tuệ loài người dẫn dắt toàn dân đi được một vòng mấy chục năm, thì bị lạc. Đến ngày nay, đảng vẫn chưa đưa cả nước đặt chân đến được chỗ ngày xưa miền Nam đã từng có nền văn minh như thế. Thôi, đành ôm chân Nam Hàn vậy.  

Nhập siêu từ Hàn Quốc và bài học cho Việt Nam

22-3-2012

Nếu Việt Nam không sớm thay đổi cơ cấu kinh tế thì càng tăng trưởng thương mại bao nhiêu, nguy cơ nhập siêu sẽ càng tăng lên bấy nhiêu.

Nguồn:Kinh tế và dự báo

Việt Nam nhập siêu từ Hàn Quốc khoảng 8,46 tỉ USD, chỉ sau đối tác Trung Quốc, tương đương 83% tổng giá trị nhập siêu năm 2011.

Điều đáng nói là nguy cơ nhập siêu đang gia tăng mà chưa có biện pháp rõ rệt nào để cải thiện. PV đã trao đổi với ông Đặng Xuân Thanh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, xung quanh vấn đề này.

Vì sao nhập siêu từ Hàn Quốc lại ngày càng tăng, thưa ông?

Nguyên nhân cơ bản nhất là sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế của Việt Nam và đây là điều không thể thay đổi một sớm một chiều. Mặc dù Việt Nam xuất siêu lớn sang Nhật và Mỹ, nhưng xét về tổng thể thì vẫn là nhập siêu. Điều này tác động đến cán cân vãng lai, lạm phát, tiêu dùng.

Yếu tố quan trọng thứ hai là sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam chậm được cải thiện, dẫn đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới cũng kém hơn nhiều nước, khiến khó xuất khẩu hơn. Điều đó cũng dẫn đến nhập siêu.

Cụ thể là cơ cấu thương mại của Việt Nam mất cân đối như thế nào?

Sự mất cân đối về cơ cấu thể hiện ở chỗ hàng xuất sang Hàn Quốc chủ yếu là sản phẩm thô như dầu, than, cao su, thủy hải sản, nhưng Việt Nam lại nhập các sản phẩm tinh chế từ dầu lửa, linh kiện để doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam lắp ráp, nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng cuối cùng từ chăn, tấm trải giường, gối, nệm đến sản phẩm xa xỉ như ôtô.

Hàn Quốc cũng có chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 2011, Hàn Quốc đã trở thành 1 trong 9 nước có giá trị thương mại vượt 1.000 tỉ USD. Quốc gia này hiện cũng là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam. Rõ ràng, nếu Việt Nam không sớm thay đổi cơ cấu thì càng tăng trưởng thương mại bao nhiêu, nguy cơ nhập siêu sẽ càng tăng lên bấy nhiêu.

Hiệp định thương mại tự do giữa Hàn Quốc và ASEAN (năm 2009) đã khiến nhập siêu của Việt Nam tăng mạnh. Có lẽ chúng ta đã tính toán chưa tốt về thời điểm, khiến bị lép vế về lợi ích so với những gì doanh nghiệp Hàn Quốc đạt được?

Tôi không nghĩ rằng chúng ta không tận dụng được cơ hội từ hiệp định này. Bằng chứng là năm 2011 xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc tăng rất mạnh, trên 50%, đạt 4,6 tỉ USD. Trong khi đó, nhập khẩu chỉ tăng 32%. Nghĩa là mặc dù nhập siêu lớn, nhưng Việt Nam cũng đã gia tăng được xuất khẩu vào Hàn Quốc.

Tuy nhiên, nếu vẫn chỉ là mức tăng như thế thì tình trạng nhập siêu sẽ khó được cải thiện. Đặc biệt trong bối cảnh hậu khủng hoảng, các nước đang đẩy mạnh tái cấu trúc thì Hàn Quốc cũng vậy. Sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998, Hàn Quốc đã rất thành công trong tái cấu trúc. Lần này, họ bị tác động ít và đã kịp thời khôi phục đà tăng trưởng.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc cũng đang lột xác và có sức cạnh tranh cao. Samsung, chẳng hạn, đang cạnh tranh rất mạnh trên thị trường điện tử thế giới. Ở Việt Nam, giá trị xuất khẩu của công ty này đã đạt gần 5 tỉ USD (năm 2011). Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nước này là rất lớn. Tuy nhiên, họ lại nhập khẩu một lượng linh kiện lớn từ nước họ để sản xuất, bán sản phẩm tại Việt Nam và xuất khẩu.

Rõ ràng, nếu chúng ta không tái cấu trúc nền kinh tế, không đẩy mạnh sản xuất linh kiện, công nghiệp hỗ trợ thì sẽ không cải thiện được tình hình.

Hàn Quốc là đối tác đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam. Nhưng doanh nghiệp Việt lại không thể cung cấp linh kiện cho họ. Theo ông, nên làm gì để cải thiện điều này?

Mặc dù chúng ta rất cần các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng nếu cứ thu hút vốn bằng những ưu đãi về đất đai, tài nguyên, giá nhân công rẻ thì sẽ không hiệu quả. Bởi vì như thế, chúng ta đã bán rẻ tiềm năng mà chỉ thu được giá trị gia tăng thấp. Đó là chưa nói đến chuyện chuyển giá để trốn thuế.

Chúng ta không thể thu hút đầu tư bằng mọi giá, mà nên lựa chọn để giúp Việt Nam tiến nhanh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nghĩa là không thể dừng lại ở việc lắp ráp như 10-15 năm vừa qua. Gần đây, Samsung đã mở rộng hoạt động lắp ráp ở Việt Nam nhưng doanh nghiệp trong nước chỉ cung cấp được bao bì, dịch vụ in ấn… Còn hàng loạt chi tiết, linh kiện đều được nhập khẩu từ Hàn Quốc hay lấy từ doanh nghiệp vệ tinh của họ tại Việt Nam.

Nếu dừng lại ở đây, chỉ vài năm nữa, các nước như Campuchia, Bangladesh sẽ tiến tới trình độ lắp ráp như Việt Nam. Khi ấy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển cơ sở sang các nước đó. Nếu chuyện này xảy ra, lao động Việt Nam sẽ như thế nào?

Dường như Hàn Quốc có chính sách tận dụng môi trường đầu tư ưu đãi ở Việt Nam và nhập khẩu linh kiện từ nước họ để sản xuất ra sản phẩm, bán cho người tiêu dùng Việt Nam và xuất khẩu? Như vậy, họ có lợi quá?

Khó trách các công ty Hàn Quốc, vì lợi nhuận luôn được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu. Chúng ta nên nhìn lại chính mình thì hơn. Chẳng hạn, trong lĩnh vực lắp ráp ôtô, Việt Nam có chiến lược ngành công nghiệp ôtô. Trong đó, quy định các doanh nghiệp phải nội địa hóa bao nhiêu phần trăm trong một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, chúng ta đã không đạt được điều đó khi các điều kiện vẫn cho phép họ khai thác lợi nhuận từ cung cách cũ.

Còn doanh nghiệp Việt Nam chỉ nhắm đến lợi ích thu được từ xuất khẩu, từ lao động giá rẻ, tài nguyên sẵn có. Các đơn vị sản xuất linh kiện lắp ráp thì vắng bóng. Nói nôm na, sân bóng để trống thì chuyện bị sút tung lưới là bình thường.

Người Hàn Quốc còn cho chúng ta bài học quý giá về cách làm thương hiệu và thúc đẩy xuất khẩu. Họ bao sân hết hàng hóa tiêu dùng, từ hàng hóa cấp thấp đến cấp cao như mỹ phẩm, sản phẩm điện tử và ôtô. Có thể nói doanh nghiệp của họ đang tiếp cận rất tốt thị trường Việt Nam.

Bên cạnh chính sách đầu tư hiệu quả, dường như Hàn Quốc có chính sách xuất khẩu sản phẩm văn hóa trước, sau đó là hàng hóa tiêu dùng gắn với văn hóa đó?

Đây là chiến lược rất rõ ràng của Hàn Quốc. Khi tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nước này đã xúc tiến mạnh hoạt động quảng bá thương hiệu quốc gia. Thành công của quốc gia này là do sự thống nhất ở mọi cấp nhà nước và sự phối hợp ăn ý giữa các nhà hoạch định chính sách với khối doanh nghiệp trong thúc đẩy xuất khẩu.

Bằng chiến lược trên, doanh nghiệp Hàn Quốc đã tiếp cận cả những thị trường xa xôi như Mỹ Latinh, Trung Đông, châu Phi. Thị phần họ giành được ngày một nhiều hơn. Nhờ đó, giá trị thương mại năm 2011 của Hàn Quốc đã vượt con số 1.000 tỉ USD và xuất siêu hơn 300 tỉ USD.

Có thể nói họ đã rất thành công trong công nghiệp văn hóa. Đây là khái niệm rộng lớn, không chỉ bao gồm giá trị vật chất, mà cả phi vật chất. Tức là đầu tiên họ làm cho người tiêu dùng cảm thấy hấp dẫn với nét văn hóa, con người Hàn Quốc, sau đó khiến người tiêu dùng muốn giống họ từ cách trang điểm, trang phục đến sử dụng các sản phẩm đắt tiền như ôtô. Nếu xem truyền hình, phim ảnh của Hàn Quốc phải chiếm đến 1/3 tổng số phim. Đó là sự quảng bá văn hóa, giúp bán hàng rất hiệu quả.

Việt Nam và Hàn Quốc đang chuẩn bị đàm phán Hiệp định thương mại tự do. Nếu nhìn từ Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc, có thể thấy có nhiều cơ hội chúng ta chưa tận dụng tốt. Như vậy, với hiệp định mới, liệu chúng ta có thể gia tăng xuất khẩu sang nước này?

Việc đàm phán Hiệp định thương mại tự do song phương với Hàn Quốc sẽ đặt Việt Nam đứng trước một thách thức mới, vì Hiệp định thương mại ASEAN – Hàn Quốc đã bước vào giai đoạn mới 2012-2014 với việc tiếp tục giảm một số dòng thuế. Trong bối cảnh chúng ta vẫn bị nhập siêu cao, câu hỏi đặt ra là liệu Hiệp định mới có thực sự cần thiết vào lúc này hay không.

Các nhà kinh tế học có thể cho rằng nên trì hoãn việc đàm phán thêm một thời gian nữa. Song theo tôi, chúng ta phải mạnh dạn hơn. Việt Nam không chỉ sẽ đàm phán với Hàn Quốc, mà còn với nhiều nước khác nữa như với Liên minh châu Âu và các nước liên quan đến Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương. Đó là cơ chế hợp tác thương mại ở cấp độ cao. Xu thế hội nhập này là tất yếu, buộc Việt Nam phải có những hợp tác thương mại sâu hơn nữa.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Kinh Te | Leave a Comment »

Nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận do Nga xây, một tai họa tiềm tàng trong những năm sắp tới

Posted by hoangtran204 trên 10/04/2012

Hãy bảo vệ Việt Nam hôm nay (và) cho mai sau (Phần 3)

Rosatom là gì?

Sáng ngày 31/10/2011 lễ ký hiệp định xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam đã diễn ra  với sự chứng kiến của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Tổng thống Nga Dmitry Medvedev.

Theo nguồn tin VOA/ Bloomberg từ tháng 6/2010,  ông Ngô Đặng Nhân, Cục trưởng Cục An toàn Bức xạ Hạt nhân, đã loan tin công ty nga Rosatom được chọn lựa để ” giúp Việt Nam xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên”Tại hội thảo quốc tế ĐHN lần thứ 4 diễn ra cuối năm 2010 tại Hà Nội, PGS-TS Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử (Bộ KH-CN) cũng loan báo tương tự. Ngoài ra VOA còn cho biết đồng thời Việt Nam cũng  đã ban hành qui định cấm việc xử dụng, tàng trữ hay mua bán các loại nguyên liệu và thiết bị hạt nhân và cấm đưa thông tin sai lệch về vấn đề này.

Theo nguồn tin chính thức của Rosatom, thỏa thuận ngày 31/10/2011  đã được ký kết bởi Tổng Giám đốc của Tập đoàn năng lượng nguyên tử quốc gia Nga ROSATOM, Sergey Kirienko, và Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Thương mại của nước CHXHCN Việt Nam Vũ Huy Hoàng.

Các công ty con của Rosatom là ATOMSTROYEXPORT sẽ phụ trách quá trình xây dựng nhà má, và ROSENERGOATOM  sẽ chịu trách nhiệm đào tạo nhân viên và hỗ trợ kỹ thuật khi nhà máy hoạt động. Trung tâm điện hạt nhân đầu tiên sẽ được xây tại thôn Vĩnh Trường, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận,với tên gọi NINH THUẬN 1, bắt đầu xây dựng vào năm 2014, đi vào hoạt động năm 2020, với một số vốn  ước tính vào khoảng 8 tỷ đôla.

Thỏa thuận  định rõ :

-chủ đầu tư  là EVN , Tập đoàn điện lực Việt Nam

-nhà thầu là công ty JSC Atomstroyexport trực thuộc Rosatom ,

-và đối tượng xây là 2 lò phản ứng hạt nhân (LPƯ), mỗi LPƯ có công suất 1200MW, sử dụng công nghệ  của Nga cho nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1, theo phương thức “chìa khóa trao tay”, sẵn sàng sử dụng.

Tập đòan điện lực VN (EVN) đã xác nhận tình hình triển khai dự án xây dựng nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 như sau:

31/10/2010: Ký Hiệp định Liên chính phủ Việt Nam – Liên bang Nga về hợp tác xây dựng NM ĐHN trên thổ Việt Nam.

21/11/2011: Ký Hiệp định tài trợ lập hồ sơ phê duyệt địa điểm và dự án đầu tư NM ĐHN Ninh Thuận 1 và vay tín dụng xuất khẩu của LB Nga để xây dựng NM ĐHN trên lãnh thổ VN, giữa Chính phủ VN và LB Nga.

21/11/2011: Ký Hợp đồng dịch vụ tư vấn lập hồ sơ phê duyệt địa điểm và dự án đầu tư NM ĐHN Ninh Thuận 1 ,thuộc dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận, giữa Tập đoàn Điện lực VN và Liên danh tư vấn gồm CTCP mở “E4 Group”- LB Nga, CTCP mở JSC KIEP và Công ty TNHH LLC EPT và …

…Không chỉ phối hợp truyền thông với các đối tác nước ngoài như Nhật Bản, Nga, EVN còn giao nhiệm vụ cụ thể cho Ban Quản lý dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận phối hợp với chính quyền sở tại, chủ động tuyên truyền đến người dân trong vùng, nhằm cung cấp cho công chúng những kiến thức cơ bản về điện hạt nhân,

…cũng như  EVN đã ký thỏa thuận hợp tác với Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chương trình điện hạt nhân.

Những ký kết cho thấy lòng cương quyết đẩy mạnh phát triển điện hạt nhân của chính phủ Việt nam trong thời điểm mà trên tòan thế giới, khi  nói tới “Năng lượng hạt nhân” là nghĩ và nhắc tới “Thảm họa Chernobyl” và”Thảm họa Fukushima”. Thêm vào đó,trong bối cảnh nguy cơ khủng bố hạt nhân và phóng xạ ,tăng cao kể từ sau vụ khủng bố 11/9/2011, thì vấn đề an toàn lẽ dĩ nhiên là mối lo hàng đầu về phía người dân Việt.

Tại Diễn đàn “Hướng tới Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân Seoul 2012”, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Đình Tiến ngày 27/12/2011 khẳng định VN luôn coi bảo đảm an toàn, an ninh là ưu tiên hàng đầu trong quá trình phát triển, ứng dụng năng lượng hạt nhân. Theo dõi tin tức báo chí VN thì sự bảo đảm an tòan hạt nhân này hòan tòan dựa trên những lời tuyên bố của chính phủ Nga và những người đại diện Tập đòan Rosatom, người bán món hàng “nhà máy điện hạt nhân” cho VN.  [Có Ai bán hàng mà nói hàng mình xấu, hàng mình không bền, hàng mình rất nguy hiểm?]

Trên nguyên tắc,trước khi quốc hội và chính phủ VN  lấy quyết định và ký kết vay  Nga 10Tỷ USD với “lãi xuất ưu đãi”như Sergey A. Boyarkin – Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom- tuyên bố hôm 9/2/2012 , để du nhập công nghệ năng lượng hạt nhân, một nguồn năng lượng chứa đựng nhiều tiềm năng nguy hiểm vào Việt Nam, một quốc gia chưa có hạ tầng và nhân lực thích hợp , thì theo đúng lương tâm và tinh thần trách nhiệm chính phủ đã phải tối thiểu điều tra kỹ lưỡng về công ty được giao trọng trách cung cấp món hàng này?

Nhưng nguyên tắc tối thiểu đó có thật tình được tuân thủ hay không?

Rosatom là gì ?

Kế thừa Bộ Kỹ thuật và Công nghiệp Hạt nhân trước đây của Liên Xô  (chịu trách nhiệm nhà máy ĐHN Chernobyl) Bộ Năng lượng Nguyên tử Liên bang Nga  hay MinAtom , được thành lập ngày 29/1/1992  sau khi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết tan rã (25/12/1991)

Sau này Bộ Năng lượng Nguyên tử Liên bang Nga được tái cơ cấu thành Cơ quan Năng lượng nguyên tử Liên bang vào ngày 9/3/2004.

Tháng 11 năm 2007,theo đạo luật của nghị viện Nga và được tổng thống Nga Putin ký vào đầu tháng 12, cơ quan này chuyển thành tập đòan nhà nước   “Tập đoàn năng lượng nguyên tử quốc gia Nga “ROSATOM

MinAtom/ Rosatom   được liên tiếp điều khiển bởi Jewgeni Olegowitsch Adamow từ  1998 tới  2001   bị  Putin cách chức vì tình nghi hối lộ.

Tiếp theo là  Alexander Jurjewitsch Rumjanzew (2001–2005).

Và từ 2005  Sergei Wladilenowitsch Kirijenko

Hòan tòan khác với tiêu chuẩn thế giới, Tập đòan năng lượng Rosatom là một cơ quan khổng lồ, có  thẩm quyền về cả sự ứng dụng dân sự cũng như quân sự của năng lượng nguyên tử tại Nga. Do đó Rosatom điều khiển tất cả những trung tâm nghiên cứu, học viện, và cả các công ty liên quan đến sản xuất, thiết kế và bảo trì vũ khí hạt nhân. Ngòai ra còn chịu trách nhiệm về an toàn hạt nhân và  việc xử lý chất thải. Rosatom là tổng hợp của tất cả những công ty lớn nhỏ liên quan đến nguyên tử tại Nga, trong đó có:

-Rosenergoatom, tổng hợp các nhà máy điện hạt nhân của Nga

-Techsnabexport,  xuất khẩu vật liệu và nhiên liệu hạt nhân cho  các nhà máy điện hạt nhân

-Atomstroiexport,  xây cất các nhà máy điện hạt nhân bên trong và bên ngoài nước Nga

-Atomergoprojekt  làm dự án thiết kế những nhà máy điện hạt nhân như AES-91 và AES-92

-Atomenergomash xây cất lò phản ứng hạt nhân

-TWEL sản xuất nhiên liệu hạt nhân. Công ty này sở hữu và khai thác các mỏ uranium.

Những công ty con của TWEL sản xuất nhiên liệu hạt nhân(thí dụ công ty chi nhánh  Maschsawod tại  Elektrostal ),hoặc xây và cung cấp dịch vụ bảo trì những cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp hạt nhân.    

Biết  rõ thế đứng độc quyền,cơ cấu, và trách nhiệm của Rosatom trong nền công nghệ hạt nhân nước Nga cho phép chúng ta tìm hiểu những gì đang xảy ra tại Nga và tình trạng nền công nghệ của nước này , để đánh giá đúng mức công ty được chính phủ VN chọn lựa đối tác kinh doanh với EVN tại Ninh Thuận 1, và lường trước tình trạng chủ động cũng như  chủ quyền thực sự tại đây.

Tổng thống Medvedev hãnh diện vì nền công nghệ hạt nhân Nga. Thật vậy sao?

Ngày 08/10/2010  dưới tựa đề “Tổng thống Medvedev hãnh diện vì nền công nghệ hạt nhân Nga. Thật vậy sao?”

Tác giả Andrei Ozharovsky bình phẩm bản tin của Rosatom về lời tuyên bố của Medvedev, nhân dịp ông này đến thăm gian hàng triển lãm Nga tại World Expo 2010 ở Thượng Hải, bằng một bài viết vạch trần những vấn đề trầm trọng tìm được trong những tài liệu của viện Rostekhnadzor (Dịch vụ giám sát sinh thái, công nghiệp, và nguyên tử Liên bang Nga/  Russian Federal Service for Ecological, Industrial, and Atomic Supervision).

Theo viện này, một danh sách rất dài những vấn đề liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp công nghiệp hạt nhân, những vấn đề chất thải phóng xạ, những  lò phản ứng hạt nhân ở độ tuổi đang” chờ ngừng hoạt động” , những sự cố không hiếm xảy ra tại các nhà máy điện hạt nhân (NMĐHN) Nga…cần được quan tâm đặc biệt.

Những lỗi lầm trong qúa trình hoạt động của những NMĐHN là do những nguyên nhân cơ bản như quản lý yếu kém, sai sót trong tổ chức bảo trì, các khuyết tật sản xuất, và lỗi thiết kế.

Các lò phản ứng mới lại đang được xây dựng với những vật liệu đã bị đánh giá là giả mạo hoặc không được kiểm nhận, cộng thêm “trình độ không đủ,  kiến thức yếu kém của nhân viên về các chỉ tiêu liên bang, các quy tắc, tài liệu thiết kế, và quy trình công nghệ sản xuất thiết bị”.

Theo báo cáo của viện Rostekhnadzor, năm 2009, trong số những sự cố xảy ra tại các NMĐHN có 30 lần là do lỗi điều hành, ít hơn 2008 được chín lần (39 lần).

Tác giả Ozharovsky mai mỉa, có thể vì vậy mà tổng thống Medvedev có quyền hãnh diện,nhưng theo lô gíc , khi biết được những thiếu sót về quản lý và trong việc tổ chức bảo trì thì phải đưa đến cố gắng khắc phục.Tuy nhiên, những báo cáo bởi Rostekhnadzor năm này qua năm khác cho tới nay không đưa tới một cải thiện nào. Còn về những khiếm khuyết  sản xuất và thiết kế thì vô phương cứu chữa. Một lò nguyên tử được thiết kế sai lầm, hoặc gồm những bộ phận kém chất lượng thì trước sau cũng gây ra trục trặc.

Từ những trục trặc nhỏ có thể ém nhẹm được cho đến một thảm họa vô lường chỉ là một vấn đề may rủi Cũng theo báo cáo của Rostekhnadzor,năm 2009  những trục trặc kỹ thuật xảy ra nhiều nhất tại các NMĐHN  :

– Lò số  3  Nhà máy  Novovoronezh NPP (VVER-440) / 3 lần trục trặc

– Lò số  3  Nhà máy Kola NPP (VVER-440)/ 3 lần trục trặc

– Lò số  3  Nhà máy Leningrad NPP (RBMK)/ 6 lần trục trặc

– Lò số  1  Nhà máy  Smolensk NPP (RBMK)/ 3 lần trục trặc

Năm 2009 cũng có tổng cộng 18 lần trục trặc tại các nhà máy trên tòan quốc vì lý do lỗi hệ thống

Chín (9) sự cố tại các nhà máy  Smolensk NPP (3), Kalinin NPP (2), Leningrad (1), Balakovo(1), Bilibino(1), và Novovoronezh (1) phải cần đến xử dụng hệ thống bảo vệ khẩn cấp (activation of the emergency protection system)

Ngòai ra ,bản báo cáo nhắc tới hai thành qủa khám phá kịp thời 959 đơn vị ” tăng cường bê tông” giả tại Nhà máy Rostov cũng như  những “đơn vị tăng cường bê tông”chưa được kiểm chứng được xử dụng tại nhà máy Leningrad NPP 2.

Trầm trọng hơn hết là Izhorskiye Zavody, nhà sản xuất hàng đầu các thiết bị kỹ thuật ĐHN  Nga, một trong những nhà cung cấp thiết bị chính cho các NMĐHN, đã bị bắt tại trận sản xuất chất lượng thấp , bị phạt vạ và có thể bị đóng cửa nếu còn tái phạm.

Theo tác giả Ozharovsky , bản báo cáo của viện Rostekhnadzor cho thấy rõ là những NMĐHN Nga an tòan đến mức độ nào, và đã giải đáp phần nào lý do tại sao Trung Hoa đã gởi trả nhiều tấn thiết bị thiếu chất lượng Rosatom định dùng để xây NMĐHN ở Tian-Wang.

Thiếu kiểm soát từ bên ngoài đưa đến nguy cơ tham nhũng cao tại  Rosatom

Bình luận về báo cáo chung ngày  26/11/2010  của Ecodefense và Transparency International Russia ( TIR Tổ chức minh bạch quốc tế Nga),Vladimir Slivyak viết:

Hiếm có ai còn  ngạc nhiên khi nghe tham nhũng rất phổ biến ở Nga ,nhưng khi nạn tham nhũng đã tràn tới nền công nghiệp hạt nhân với những tiêu chuẩn khắt khe phải có  để bảo đảm an toàn, thì tình trạng đòi hỏi một sự giám sát đặc biệt nghiêm chỉnh.Lẽ dĩ nhiên cuộc khảo sát của TIR và Ecodefense đã gặp nhiều khó khăn vì họ không được truy cập tài liệu nội bộ của Rosatom và cũng không có thông tin về sự tiến triển của các dự  án.

Tuy nhiên phân tích và so sánh luật pháp hiện hành với những quy định nội bô riêng của Rosatom  đủ cho thấy có những kẻ hở tạo nên những nguy cơ tham nhũng cao.

Với thế đứng đặc biệt của Rosatom, những hoạt động thương mại của tập đòan này không thuộc thẩm quyền của Luật Liên Bang Nga số 94 về những tiêu chuẩn đấu thầu.Tóm lại bản chất của Rosatom là “một nước trong một nước”, tự trị và không bị kiểm soát bởi bất cứ ai khác hơn chính mình. Giải pháp cấp bách là  phải thay đổi luật lệ hiện hành để đặt Tập đoàn Rosatom dưới sự kiểm sóat hữu hiệu của cả chính phủ  lẫn công chúng Nga.

Rosatom trong cơn lốc tham nhũng.

Theo cơ quan truyền tin Russian International News Agency (RIA Novosti), ngày 20/7/2011 tòa án quận Ostankino (Moscow) đã cho phép bắt giữ cựu Phó tổng giám đốc Tập đòan Rosatom cho tới ngày 27/8 để điều tra về vụ nghi ngờ biển thủ 50 triệu Rúp (1,7 triệu USD). Đây là kết quả của một cuộc điều tra dài hạn về tình trạng tham nhũng trong mọi ngành của Rosatom, với kết qủa là cách chức 35 quản lý hàng đầu và hơn 200 nhân viên bị xử lý kỷ luật trong năm qua. Yevgeny Yevstratov bị cáo buộc lợi dụng quyền thế trong Rosatom và Atomflot để dính liú tới hai trường hợp biển thủ quy mô ngân quỹ thiết kế và xây cất NMĐHN Murmansk cũng như ngân quỹ dành cho nghiên cứu khoa học.

Cơ quan RAPSI (Russian legal information agency) ngày 21/10/2011 loan tin Transparency International Russia TIR có chương trình kiểm sóat mức hiệu qủa của các biện pháp phòng chống tham nhũng các tập đòan nhà nước Nga đã đưa ra.Yulia Tkachyova, cho biết TIR đã chọn lựa ngẫu nhiên 600 vụ mua hàng hóa của Rosatom để phân tích . Căn cứ theo những vi phạm được xác định, TIR đã đưa ra một danh sách các khuyến nghị. Ivan Ninenko, phó giám đốc TIR và Yelena Panfilova nhấn mạnh về tình trạng các tập đòan công ty quốc gia như Rosatom không phải chịu sự giám sát bởi các dịch vụ chống độc quyền Liên bang.

“Theo quy định của pháp luật, những tập đòan quốc gia không bị kiểm soát từ ngoài, nên hệ thống phòng ngừa tham nhũng không hữu hiệu.”

Ngày 27/2/2012 theo tin của tờ Hetq-Online ( báo xuất bản trực tuyến tại Yerevan/Armenia của Tổ chức báo chí phi chính phủ), Cơ quan an ninh liên bang Nga (FSB Russias Federal Security Service, hậu thân của KGB )đã bắt giữ Sergei Shutov, giám đốc đấu thầu của công ty ZiO-Poldolsk sau cuộc điều tra kéo dài từ tháng 12 năm trước. ZiO-Poldolsk là công ty duy nhất sản xuất máy phát điện hơi nước cho Rosatom để xử dụng trong những NMĐHN tại Nga  từ  năm 1952 ,cũng như cho những NMĐHN do Atomstroiprojekt xây tại hải ngọai.

Sergei Shutov bị cáo buộc thông đồng  với nhà cung cấp  A??? Industriya để mua thép có chất lượng kém  từ Ukraine với gía cao để chia tiền lời.Tổng giám đốc hãng này ,Dmitry Golubyov,cũng đã cùng lúc bị ngưng chức vì tội biển thủ công quĩ.Theo nguồn tin của FSB,chỉ một trừơng hợp số lượng thép thiếu chất lượng dùng cho NMĐHN Kozloduy  ở Bulgaria, đã đem về một lợi nhuận bất hợp pháp là  39 Triệu Rubles(1Triệu USD) cho ATOM-Industriya.

Zio-Podolsk trực thuộc Atomenergoprom , một công ty con của Tập đòan Rosatom. Tin Zio-Podolsk đã cung cấp những máy phát điện  dưới tiêu chuẩn từ năm 2007 là một đòn cực mạnh giáng vào uy tín của tập đoàn này.

Tin từ Sofia ngày 28/03/2012 cho biết chính phủ Bulgaria đã hủy bỏ kế hoạch đặt Rosatom xây NMĐHN Belene trên bờ sông Danube.

Các nhà hoạt động môi trường đã lên tiếng cảnh báo rằng việc sử dụng vật liệu kém chất lượng có thể dẫn đến một thảm họa hạt nhân. Vladimir Slivyak, đồng chủ tịch của Ecodefence Nga đòi hỏi ” Phải tức khắc ngưng xây cất khắp nơi và tiến hành kiểm tra quy mô các lò phản ứng sử dụng thiết bị do Zio-Podolsk cung cấp !”

Theo Tổ chức Bellona,một  tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế NGO có trụ sở tại Na Uy, những thiết bị dưới tiêu chuẩn đã được sử dụng không chỉ ở Nga mà còn xuất cảng qua các nhà máy hạt nhân  Bulgaria, Trung Quốc, Ấn Độ và Iran, (do Rosatom xây cất).

Chủ tịch Frederic Hauge bày tỏ sự phẩn nộ vì theo ông một sự phạm pháp quy mô như vậy đòi hỏi  phải có ứng xử tức khắc để kiểm tra an tòan từng lò phản ứng một. Ông cũng tỏ ra rất thất vọng vì FSB và các công tố viên Nga không chịu công bố danh sách những NMĐHN trong và ngòai nước có thể bị ảnh hưởng. Số người bị bắt chỉ là những vật tế thần nhằm đánh bóng trở lại uy tín đã bị mất của Rosatom, trong khi những nguy hại vô lừơng lại không được thực sự cứu xét.

Một tuần lễ sau khi từ chối không bình luận, Rosatom và Atomenergomash cho ra một tuyên bố chung phủ nhận tin của FSB nhưng không dám phủ nhận tin công tố viện đã bắt giữ các quan chức của Zio-Podolsk và ATOM-Industriya. Trong khi đó, hai nhân viên khác của FSB vẫn xác nhận tin các đồng nghiệp của họ đưa ra lúc ban đầu cho Bellona.

Phát ngôn viên của Công tố viện Nga thì từ chối bình luận vì cuộc điều tra còn đang tiến hành.

“Nếu chính phủ Nga không điều tra sự phạm pháp này một cách nghiêm chỉnh, chúng tôi sẽ bắt buộc phải yêu cầu cộng đồng quốc tế nhận lãnh trách nhiệm đó”, Frederic Hauge nói “Bellona sẽ tiếp tục hành động để làm sáng tỏ vấn đề này”

Tình hình đáng báo động trong các nhà máy điện hạt nhân ngay tại nước Nga

Theo báo Le Monde ngày 22/6/2011, một báo cáo bí mật của Rosatom cho tổng thống Dmitry Medvedev ngày 9/6/2011 về tình trạng những NMĐHN đã bị tiết lộ ra ngòai.

Theo đó,chương trình kiểm sóat các NMĐHN  Nga sau thảm họa Fukushima xác định 31 trường hợp sai sót nghiêm trọng về an tòan,bảo trì ,sửa chữa và giám sát, thể hiện tình trạng cực kỳ dễ bị lâm nguy của 11 trung tâm trong trường hợp thiên tai.

Yếu điểm đầu tiên là rủi ro động đất đã không được xem xét trong việc chọn địa điểm nhà máy điện, thường được xây trong thời Xô Viết. Và hầu hết các lò phản ứng hạt nhân ( 32 lò đang hoạt động )- không được trang bị để tự động dừng lại trong trường hợp động đất. Trong thực tế, các nhà máy của Nga có thể không cần “sự giúp đỡ” từ mẹ thiên nhiên để sụp đổ,mà  vì tuổi cao, các tòa nhà ở các lò phản ứng cho thấy nhiều “dấu hiệu sụt lún và nghiêng từ từ”.

Hệ thống làm mát bị đánh giá là không hòan hảo do vật liệu suy thóai và các mối hàn có khuyết điểm , có khả năng gây ra những vụ nổ tương tự như tại Fukushima-Daiichi.

Cuối cùng, báo cáo nêu ra thiếu sót nghiêm trọng trong việc chuẩn bị đội ngũ nhân viên đối phó các tình huống tai nạn khác nhau, chẳng hạn như lũ lụt, hỏa hoạn, bão hoặc động đất.

Tệ hại hơn hết,  Rosatom không lưu giữ tài liệu  để theo rõi về các sự cố và tai nạn trước đây, do đó không cho phép thành hình bất cứ một nổ lực cải thiện an toàn nào, hoặc dự báo về các vấn đề mới.

Đáng quan ngại nhất là hai nhà máy Leningrad và Kola nằm sát biên giới Phần Lan và Na Uy. Trong các nhà máy này (cùng thời với Chernobyl) nguy cơ tai nạn do thiên tai không chỉ là lý thuyết.

Năm 1990 một cơn bão lớn đã ngừng hệ thống điện cấp cứu chính của NM Kola , buộc Na Uy  phải can thiệp cung cấp những máy phát điện khổng lồ để đảm bảo vấn đề làm nguội lò phản ứng.

Năm 2006, mất điện cũng đã đe dọa gây vấn đề tương tự tại trung tâm hạt nhân Mayak.

Ole Reistad, một kỹ sư tại Viện Công nghệ và Năng lượng Na Uy bình luận :”Báo cáo này cho thấy những sự cố không bao giờ được Nga đề cập công khai, cũng không báo cáo quốc tế”, Các nhà khoa học Na Uy mong rằng báo cáo bị tiết lộ này của Rosatom sẽ mở đầu cho sự thay đổi thái độ của Nga, thay vì chỉ chú trọng vào chương trình tuyên truyền về ” cái gọi là an toàn” của nền công nghệ hạt nhân của mình.

Một “Fukushima Nga”  đang thành hình?

Trong bài viết ngày 22/3/2012 tờ The NewYork Times đã tường thuật : lời chào hàng mới nhất với một dư vị cay đắng của nền công nghiệp Nga là ” Chúng tôi bán sự An Tòan rút kinh nghiệm từ Chernobyl”

Tại Minsk,thủ đô Belarus, thủ tướng Nga Vladimir Putin tuyên bố ” Tôi xin nhấn mạnh là chúng tôi có cả một kho kỹ thuật tân tiến để đảm bảo vững vàng và “vô tai nạn” cho sự vận hành các nhà máy hạt nhân”.

Và tổng thống Nga Dmitri Medvedev, nhân một cuộc viếng thăm của thủ tướng Erdogan, đã  lớn tiếng bảo đảm an tòan cho NMĐHN tập đòan Rosatom nhận xây ở một vùng địa chấn hoạt động mạnh ,miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ .

Tại Việt Nam Sergey A. Boyarkin, phó tổng giám đốc Rosatom cũng hứa hẹn tương tự là sẽ bảo đảm được an tòan cho NMĐHN Ninh Thuận 1.

Dmitri Medvedev,Vladimir Putin,Sergey Boyarkin lẽ dĩ nhiên không nhắc tới bức thơ của Ủy ban Chống tham nhũng Quốc gia (National Anti-Corruption Committee NAC ) đang đốc thúc chính phủ phải khẩn cấp điều tra về những tham nhũng tệ đoan trong ngành công nghiệp hạt nhân Nga (độc quyền Tập đòan Rosatom)với những hậu qủa của nó,và lại càng không  muốn nhắc tới những sự cố không dấu được đang liên tiếp xảy ra tại các NMĐHN Nga, kể cả những trung tâm mới đang trong thời kỳ xây cất .

Điển hình là sự tự xụp đổ của tòa nhà đang xây tại trung tâm hạt nhân mới Leningrad NPP-2. ngày 17/7/2011 . Tổn phí để đập vỡ những mảnh bê tông tách khỏi 1200 tấn cốt sắt (thiếu chất lượng)bên trong để có thể di chuyển đem vứt ,được Rosatom hòan tòan giữ bí mật.

Ngòai ra,chủ tịch nhóm Eco-Defense , Vladimir Slivyak,cho biết trong số 32 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động tại Nga có 11 lò loại dùng tại  Chernobyl (sản xuất năm 1970). Một trong những lò này, ngay tại ngọai ô St. Petersburg ,vừa được phép kéo dài xử dụng thêm 15 năm ,tuy thủ tướng  Putin đã  không đáp ứng được đề nghị của giám đốc Rosatom Kirienko, cần một ngân quỹ 534 Triệu USD để chỉnh đốn và tăng biện pháp phòng bị an tòan cho những NMDHN cao tuổi tại Nga.

Bước qua năm 2012,nỗi ưu tư của những nhà họat động môi trường càng tăng với những sự cố mới nhất dồn dập tại Nga:

29-30/12/2011 cháy tầu ngầm hạt nhân  Yekaterinburg

05/02/2012 cháy tại Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Moscow

23/02/2012 nổ tại trung tâm VNIIEF Sarov.

Mỗi lân như vậy, cách xử thế của Rosatom và chính phủ Nga luôn luôn là ém nhẹm tin tức, ngăn cấm dân và những ký gỉa không được đến gần địa điểm .Nhưng những tin được Rosatom hay cơ quan truyền thông chính phủ đưa ra thì không những chậm trễ, không chính xác,mà còn mâu thuẫn. Những tổ chức bảo vệ môi trường bị tuyệt đối nghiêm cấm mang máy đến đo rò rỉ phóng xạ.

Và lẽ dĩ nhiên không có người đo nên Rosatom có độc quyền khẳng định là không có rò rỉ và lớn tiếng bảo đảm an tòan.

Liệu nền công nghệ hạt nhân Nga với những NMĐHN qúa tuổi, cộng thêm căn bệnh tham nhũng trầm kha , có đang thành hình một Fukushima mới?  (Andrei Ozharovsky)

Với lương tâm và tinh thần trách nhiệm đối với những thế hệ con cháu , chúng ta ,tất cả những người Việt  ,dù sống trong nước hay tại hải ngọai, phải  quan tâm và lên tiếng cấp bách đặt vấn đề với nhà cầm quyền VN đương thời :

Họ không có quyền giao sinh mạng cả dân tộc cho Tập đòan Rosatom !

Nguồn: Vietbao.com

Thegioinguoiviet.net

Ecodefense Russia là một tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế thành lập năm 1990 in Kaliningrad (Koenigsberg) Russia.

http://de.wikipedia.org/wiki/F%C3%B6derale_Agentur_f%C3%BCr_Atomenergie_Russlands

http://ecologie.blog.lemonde.fr/2011/06/22/situation-alarmante-dans-les-centrales-nucleaires-russes/

http://www.bellona.org/articles/articles_2010/Rostekh_report

http://www.bellona.org/articles/articles_2011/corruption_rosatom

http://www.nytimes.com/2011/03/23/business/energy-environment/23chernobyl.html?pagewanted=all

http://www.51voa.com/VOA_Standard_English/Russian-Support-for-Nuclear-Power-Weakens-as-Chernobyl-Anniversary-Nears-41225.html

http://www.bellona.org/articles/articles_2012/Alikhanov_fire

http://www.bellona.org/articles/articles_2012/sarov_explosion

*****************************************

Hãy Bảo Vệ Việt Nam Hôm Nay (và) Cho Mai Sau

Tác giả: Thục Quyên

Tôi là một người mẹ. Và  giống như đối với tất cả những người cha người mẹ trên thế giới, điều quan trọng nhất với tôi là sức khỏe và tương lai của con tôi.

Tôi cũng là một người Việt sống tại Đức, nên trong khỏang 30 năm qua không những  tôi được đọc và nghe hàng ngày về sự tranh cãi giữa những khuynh hướng cổ võ cũng như chống điện hạt nhân, mà tôi còn được trực tiếp chứng kiến sự thay đổi , trưởng thành của nhận thức về sự nguy hiểm cũng như cái gía qúa đắt đỏ của điện hạt nhân ,trong xã hội Đức.

Thảm họa Chernobyl (Ukraine) đã xảy ra cách đây 25 năm nhưng cho tới ngày hôm nay số người trẻ của Chernobyl bị ung thư tuyến giáp và ung thư máu vẫn tăng và các bậc cha mẹ của họ đang thống thiết kêu gọi, xin các hội từ thiện Đức đưa họ qua Đức chữa trị.

Trong khi  đó, nước Nga hòan tòan dấu nhẹm tình trạng chất phóng xạ của nhà máy đổ nát vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng  (theo nghiên cứu mới nhất  của  NCRS, Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia của Pháp). Đồng thời theo báo cáo tháng 4/2011 vừa qua của Hiêp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân IPPNW, thì bên cạnh những hậu qủa tức thời ghi nhận năm 1986 ngay sau vụ nổ và những năm  kế tiếp , là những ảnh hưởng  lâu dài về y tế , bây giờ sau 25 năm đã hiện rõ.Nguyên do là những chất phóng xạ có chu kỳ bán rã chậm, đã ô nhiễm đất và nước,rồi thấm vào cây cỏ, sâu bọ, các giống nấm, và từ đó lẫn vào thực phẩm địa phương.

Các bào thai và trẻ em là những đối tượng bị bệnh nặng nhất khi nhiễm phóng xạ vì các tế bào đang trong thời kỳ tăng trưởng mạnh. Do đó con số người bị bệnh thuộc thế hệ  2 sau Chernobyl cao hơn thế hệ  1 và còn đang tiếp tục tăng thêm.

Thảm hoạ Chernobyl  đã  phát ra lượng phóng xạ lớn gấp 400 lần so với quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima. Đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy bị nổ, lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên Bang Xô Viết, Đông và Tây Âu, Scandinavia, Anh quốc và tới tận miền Đông Hoa Kỳ. Do đó, cũng theo báo cáo của IPPNW và Tổ chức Y tế Thế giới WHO, số tử vong trẻ sơ sinh, qúai thai, ung thư,  và bệnh tật bẩm sinh tăng cao, không những ngay tại Ukraine mà cả tại những nước Âu Châu lân cận.

Phóng xạ là một hiểm họa không màu, không mùi, không vị , không biên giới, cho mọi lòai và kéo dài cho nhiều thế hệ. Đối diện với nó, con người vì không thấy, không ngửi, không nếm, không sờ mó được nên bất lực, không đánh gía  được  chính xác tầm nguy hiểm của kẻ thù để biết nể sợ.

Tòan thế giới đã và đang sẵn sàng quên dần  Chernobyl thì thảm họa Fukushima ập đến ,kéo dài cho tới ngày hôm nay mà chưa có giải pháp thích đáng. Fukushima, với ảnh hưởng tàn phá chưa thể lường được, đã đánh thức lương tri thế giới đối với những thế hệ tương lai.

Tại Đức, số người phản đối kỹ nghệ điện hạt nhân tăng từ 73% trong năm 2005 lên 90%, đưa tới quyết định  của chính phủ Đức đã ngưng chương trình điện hạt nhân của họ.

Theo sau Đức là Ý, Thụy sĩ, Bỉ, Thụy Điển, Tây Ban Nha, và một cuộc thămdò ý kiến của GlobeScan cho thấy khuynh hướng chống điện hạt nhân trên thế giới càng ngày càng mạnh ,ngay  cả tại các nước từng ủng hộ điện hạt nhân như Pháp (số phản đối tăng từ 66% lên 83%) Nga (từ 61% lên 83%) và Nhật (từ 76% đến 84%.).

Đáng kể là Áo đã xây xong  nhà máy điện hạt nhân,  nhưng đã quyết định không xử dụng, và các nước Ái Nhĩ Lan, Cuba và Philippines (sau một cuộc trưng cầu dân ý) bỏ dở không xây tiếp.

Phân tích cho thấy những quốc gia hoặc có kế họach, hoặc đã từ bỏ điện hạt nhân, đều là những quốc gia tự do, dân chủ, với dân trí cao. Người dân của các nước này có môi trường thích hợp để tìm hiểu, suy nghĩ và lựa chọn, nhờ ở trình độ gíao dục học đường  cũng như trình độ văn hóa, tự do, và tinh thần trách nhiệm của ngành thông tin.

So sánh giữa Nga và Nhật là một bằng chứng rõ rệt: cùng là hai quốc gia trực tiếp bị thảm họa nguyên tử, với số lượng người dân chống điện nguyên tử gần như tương đương (83% và 84%), nhưng tinh thần dân chủ tại Nhật đã được thể hiện, và chính phủ Nhật đã phải tôn trọng ý muốn của dân để tuyên bố sẽ rời bỏ khỏi kỹ nghệ này.

Phát triển thường được hiểu qua nghĩa hẹp là “phát triển kinh tế”. Nhưng đối với những người làm cha mẹ,sức khoẻ và môi trường sống của con cái chúng ta phải là chính yếu. Để làm gì những phương pháp và công cụ kỹ thuật càng ngày càng tinh vi mong phục vụ cho sản xuất,  nếu thế hệ con cháu không tồn tại được vìnhững  phế  liệu, rác và chất độc đã phá họai môi trường sống của chúng?

Không có vàng bạc của cải  nào cho đủ để mang lại sức khoẻ cho một con người đã bị khuyết tật hay đã bị trọng bệnh.Nếu không khí thở và nước uống ngày mai vì ô nhiễm mà trở thành nguyên do gây bệnh tật thì sự sống không còn nữa! Ai trong chúng ta, những  ông bà ,cha mẹ, chú bác, cô dì , cũng  đều có chung tâm trạng mong muốn thế hệ con cháu mình được an tòan hạnh phúc ,do đó trách nhiệm của chúng ta ngày hôm nay là bảo vệ môi trường sống, để cho những thế hệ tiếp nối một tương lai.

Việt Nam  có những nhà khoa học hay chuyên viên có khả năng và có nhiệt tâm với tương lai dân tộc đã lên tiếng báo động về vấn đề xây nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận. Riêng GS  Nguyễn Khắc Nhẫn , ròng rã từ  năm 2003,với vài chục bài viết cũng như trả lời phỏng vấn về vấn đề điện nguyên tử , cũng đã chỉ rõ tình trạng đi vào ngõ cụt của nền kinh tế điện hạt nhân trên thế giới  ,và đồng thời nguồn năng lượng này còn là một hiểm họa vô lường cho những thế hệ mai sau của Việt Nam

Dù giàu nghèo,những ông bà cha mẹ chú bác cô dì của Việt Nam có trách nhiệm gìn giữ đất sống cho những thế hệ tiếp nối. Đã đến lúc mỗi người trong chúng ta phải tích cực đóng góp bằng cách chú trọng đến vấn đề và tìm đủ mọi cách truyền thanh, truyền hình,liên lạc, chuyện trò… để thông tin đến mọi người, mọi giới.Tất cả chúng ta có bổn phận  và có quyền lo lắng ,tìm hiểu và bảo vệ cho sự sống còn của con cháu mình.

Phóng xạ là một hiểm họa không màu, không mùi, không vị, không biên giới, cho mọi lòai và kéo dài ảnh hưởng lên nhiều thế hệ. Nhiễm độc phóng xạ từ Chernobyl đã bay qua tới Scandinavia, rác phóng xạ từ Fukushima đã tràn xuống Thái Bình Dương trước sự chứng kiến bất lực của con người. Mọi biến cố xảy ra tại Ninh Thuận sẽ bao trùm cả Việt Nam, đó là điều chúng ta phải nhận định rõ ràng.

Thục-Quyên, BSNK

****************************************

Hãy Bảo Vệ Việt Nam Hôm Nay Cho Mai Sau: Lời Thề Hippocrates Và Năng Lượng Hạt Nhân

Tác giả: Thục Quyên

Tôi là một người mẹ.

Một người mẹ tầm thường như bao ngàn triệu người mẹ trên thế giới,sốngvới mối quan tâm hàng đầu là thương  yêu con và bảo bọc cho con.

Trong tình trạng tranh cãi khốc liệt giữa những phe cổ võ và phe chống xử dụng năng lựơng nguyên tử, với những lý do phức tạp đôi bên đưa ra thì một người thừơng, khi muốn hiểu, sẽ có cảm tưởng rơi vào mê hồn trận, khó có hy vọng nhìn rõ vấn đề.

Nhưng đối với những người  làm cha mẹ chuyện trở nên rất đơn giản ,khi kim chỉ nam cho mọi lựa chọn  luôn luôn là sức khoẻ và sự an tòan của con cái.Mỗi khi một đứa bé có vấn đề sức khỏe hay gặp tai nạn  thì cha  mẹ làm gì? Chắc chắn chúng ta không mất thời giờ chần chờ mà tìm ngay đến sự giúp đỡ và những lời khuyên  của một người bác sĩ.

Ở Đức nơi tôi sinh sống , tổ chức với tên gọi Ärzte in sozialer Verantwortung (Bác sĩ trong trách nhiệm xã hội) với hơn 7000 hội viên, là một thành viên của hiệp hội quốc tế IPPNW International Physicians for the  Prevention of Nuclear War (Hiêp hội Y sĩ Quốc tế Phòng ngừa Chiến tranh hạt nhân).

IPPNW  gồm 63 tổ chức Y sĩ của 63 quốc gia trên thế giới, được trao Giải Giáo dục Hòa bình của UNESCO  năm 1984  và Giải Nobel Hòa bình năm 1985 vì đã thành công đáng kể trong sứ mạng phụng sự nhân lọai bằng  cách truyền bá thông tin có thẩm quyền,tạo nên một nhận thức về những hậu qủa thảm khốc của chiến tranh  nguyên tử.

Tôn chỉ họat động của IPPNW phản ảnh lời thề Hippocrates mà mọi y sĩ phải tuyên thệ trước khi ra nhận lãnh  sứ mạng của mình trong xã hội:

-Tôi sẽ nhớ rằng đối tượng của tôi không phải là một biểu đồ sốt, một sự phát   triển ung thư, mà đối tượng của tôi là một con người  bị bệnh, và tình trạng   bệnh tật của người đó có thể ảnh hưởng cả đến gia đình và tình trạng kinh tế   của họ. Muốn chăm sóc hòan hảo cho người bệnh thì trách nhiệm của tôi  phải  bao gồm cả các vấn đề liên quan này.

-Tôi sẽ làm mọi cách để ngăn ngừa bệnh ,vì phòng ngừa quan trọng hơn chữa trị.

 -Tôi sẽ nhớ rằng tôi mãi mãi  là một thành viên của xã hội, mang tránh nhiệm    đặc biệt đối với tất cả mọi người, khoẻ mạnh cũng như tật bệnh…

Hiệp hội IPPNW  được bác sĩ chuyên khoa tim Bernard Lown của Harvard School of  Public Health (Trường Y tế  công cộng Harvard) và bác sĩ  Evgueni Chazov của USSR Cardiological Institute (Viện bệnh tim của Liên Xô)  thành lập trong tháng 12 năm 1980.

Với nhận định là trong cuộc sống chung của mọi người và mọi lòai ,Y Khoa phải  đóng góp vào trọng trách  tạo  dựng một cuộc sống xã hội,công bằng  và có ý thức về môi trừơng, hiệp hội  IPPNW đã  xuất bản  sách và cung  cấp  bài viết cho các tạp chí chuyên môn và các phương tiện truyền thông phổ biến khác, để đẩy mạnh chiến dịch  vận động “cảnh báo y tế cho nhân lọai” về sự nguy hiểm của các cuộc chiến tranh hạt nhân.

Khi thảm hoạ nguyên tử Chernobyl xảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 tại Ukraine ,đối mặt với sự bất lực  gần như hòan tòan của Y khoa trước sự kêu cứu của các nạn nhân, IPPNW đã cương quyết mở rộng nhiệm vụ  ban đầu của mình (là phòng ngừa chiến tranh hạt nhân) để  bao gồm cả việc điều tra về những hiểm họa y tế  cũng như môi trừơng tại các vùng đã bị tai nạn hạt nhân, các vùng sống chung quanh các nhà máy điện hạt nhân, cùng đảm nhiệm vai trò thông tin, giáo dục, để tăng sự hiểu biết công cộng về mối nguy hiểm thường trực có thể  đưa đến hiểm họa.

Với kinh nghiệm rút tỉa từ 25 năm thảm họa chưa ngưng của Chernobyl, IPPNW Đức đã cộng tác với các hội  quốc tế  

-EUROSOLAR (European Association for Renewable Energy) Hiệp hội Năng lượng tái tạo châu Âu và

-WISE International (World Information Service on Nuclear Energy)  Dịch vụ thông tin thế giới về năng lượng hạt nhân để đẩy mạnh một chiến dịch thông tin có thẩm quyền về 8 dữ kiện xác thực liên quan đến năng lượng hạt nhân :

Deutsche Sektion der Internationalen Ärzte für die Verhütung des Atomkrieges                                           
Ärzte in sozialer Verantwortung e.V. (IPPNW)
International Physicians for the Prevention of Nuclear War (IPPNW) German Affiliate

1-   Năng lượng nguyên tử:

Tình trạng bế tắc Chất uranium chỉ còn đủ cho một vài thập kỷ nữa – vậy sau đó sẽ ra sao?

Năng lượng nguyên tử rồi cũng đi vào ngõ cụt giống như việc đốt các nhiên liệu hoá thạch còn lại rất hạn chế. Vì chất uranium cần thiết để vận hành các nhà máy điện nguyên tử là một loại nguyên liệu thô hiếm.

Giải pháp “Lò phản ứng tái sinh hạt nhân nhanh”, mà người ta kỳ vọng rằng có thể kéo dài thời gian sử dụng nguồn năng lượng dự trữ, đã bị thất bại bởi các lý do về kinh tế và kỹ thuật. Trong một vài thập kỷ nữa, ngành nguyên tử sẽ hết nhiên liệu. Do nguồn trữ lượng uranium cũng như các nguồn trữ lượng khác như than và khí đốt tự nhiên sẽ được tiêu thụ hết một cách nhanh chóng trong thời gian ngắn, cho nên về lâu dài con người chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu về năng lượng của mình bằng các nguồn năng lượng tái sinh và bằng việc sử dụng năng lượng một cách hiệu quả.

http://www.facts-on-nuclear-energy.info/1_dead_end.php?size=&l=vi&f=1145900314

2- Năng lượng nguyên tử: Kẻ mạo danh!

Có thể từ bỏ không sử dụng điện hạt nhân trong việc cung cấp năng lượng

Nhằm nhấn mạnh vai trò của năng lượng nguyên tử, giới nguyên tử luôn đưa ra các dẫn chứng về sự đóng góp của năng lượng nguyên tử trong việc tạo ra điện năng. Nhưng khi người ta xem xét xem năng lượng nguyên tử đóng góp gì vào việc tiêu thụ năng lượng chung trên toàn thế giới thì người ta thấy rằng năng lượng nguyên tử hầu như không có ý nghĩa gì đối với nhu cầu về năng lượng của con người.

Năm 2001, điện nguyên tử chỉ đáp ứng được 2,3% nhu cầu sử dụng năng lượng trên toàn thế giới.

Phần đóng góp của các nguồn năng lượng tái sinh trong việc cung cấp năng lượng trên toàn thế giới ngày nay còn cao hơn nhiều.

Con người có thể khước từ hoàn toàn năng lượng nguyên tử. Rủi ro từ các tai nạn hạt nhân, việc sản sinh ra chất thải hạt nhân có độ phóng xạ cao và các chi phí để xử lý chúng không tương xứng với nguồn năng lượng được tạo ra cho một khoảng thời gian ngắn ngủi. Năng lượng nguyên tử  rất nguy hiểm và không cần thiết.

http://www.facts-on-nuclear-energy.info/2_con_trick.php?size=&l=vi&f=1145900314

3- Năng lượng nguyên tử: Kỹ thuật có nhiều rủi ro

Mức rủi ro về thảm hoạ hạt nhân ở Châu Âu: 16%

Do những thiếu sót về mặt kỹ thuật và sự sai lầm của con người, ở mỗi nhà máy điện nguyên tử đều có thể xảy ra một tai nạn nghiêm trọng làm thải ra ngoài môi trường một khối lượng lớn chất phóng xạ.

“Công trình nghiên cứu chính thức rủi ro ở các nhà máy điện nguyên tử của Đức – Giai đoạn B” cho thấy, xác suất thảm họa hạt nhân ở một nhà máy điện nguyên tử của Đức vận hành trong khoảng thời gian 40 năm là 0,1%.

Trong khối liên minh Châu Âu hiện có trên 150 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động. Xác suất cho một thảm họa hạt nhân ở Châu Âu là 16%. Tỉ lệ này cũng bằng với xác suất người ta đạt được khi chơi xúc xắc: ngay lần đầu tiên đã đạt 1/6.

Trên toàn thế giới có khoảng 440 nhà máy điện nguyên tử đang hoạt động. Xác suất cho một thảm hoạ hạt nhân trên toàn thế giới trong 40 năm là 40%.

Thảm hoạ hạt nhân ở Chéc-nô-byl cho thấy một thảm hoạ hạt nhân có thể giết chết hàng vạn người.

http://www.facts-on-nuclear-energy.info/3_gamble.php?size=b&l=vi&f=1145900314

4- Năng lượng nguyên tử: Kẻ sản xuất chất thải Không nước nào muốn thừa hưởng (chứa chấp) di sản này.

Tất cả các nhà máy điện nguyên tử đều chuyển hoá quặng uranium thành chất thải hạt nhân có độ phóng xạ cao thông qua quá trình phân huỷ hạt nhận. Do phát ra phóng xạ, chất thải hạt nhân là một hiểm họa đối với cuộc sống con người. Do đó, nó cần phải được cất giữ chắc chắn, tách biệt khỏi con người và động thực vật hàng trăm nghìn năm.

Các nhà máy điện nguyên tử hoạt động từ khoảng 50 năm nay, nhưng cho đến nay vẫn không một ai biết cách cất giữ chắc chắn chất thải hạt nhân. Trên thế giới vẫn không tìm ra được cách thức chắc chắn để huỷ chất thải hạt nhân có độ phóng xạ cao từ các nhà máy điện nguyên tử. Chỉ một thời gian ngắn sử dụng năng lượng nguyên tử, đã để lại một gánh nặng chất thải hạt nhân trong một thời gian lâu dài gần bằng lịch sử của trái đất. Nếu như từ thời nguyên thuỷ con người đã có nhà máy điện nguyên tử, thì cho đến ngày nay chúng ta vẫn phải giám sát những chất thải hạt nhân từ thời đó.

http://www.facts-on-nuclear-energy.info/4_waste.php?size=b&l=vi&f=2031

5- Năng lượng nguyên tử: Hiểm hoạ bom nguyên tử
Năng lượng nguyên tử khuyến khích việc chạy đua vũ khí nguyên tử

Các quốc gia phát, minh chế tạo bom nguyên tử trong các thập kỷ qua ban đầu đều có một chương trình hạt nhân dân sự. Tuy nhiên, những chương trình hạt nhân dân sự này thường chỉ là một lớp ngụy trang cho mục tiêu quân sự. Các chương trình trên mở ra cho các quốc gia này cơ hội tiếp cận với các công nghệ và những hiểu biết cần thiết về việc chế tạo bom nguyên tử. Điều này cho thấy: Việc xuất khẩu và tiếp tục mở rộng công nghệ nguyên tử làm gia tăng đáng kể mối hiểm hoạ chạy đua sản xuất vũ khí nguyên tử.

http://www.facts-on-nuclear-energy.info/5_bomb_factory.php?size=b&l=vi&f=2031

6- Năng lượng nguyên tử: Thất bại về khí hậu

Năng lượng nguyên tử không thể cứu được bầu khí quyển
Giới nguyên tử thừa nhận rằng, người ta không thể thay thế than, dầu, khí đốt bằng các nhà máy điện nguyên tử. Để thay thế chỉ 10% năng lượng hoá thạch trong năm 2050 bằng điện nguyên tử, người ta sẽ phải xây dựng tới 1000 nhà máy điện nguyên tử mới (hiện nay trên thế giới có khoảng 440 nhà máy điện nguyên tử).

Việc xây dựng các công trình này – tính trong trường hợp hoàn toàn có thể xây dựng được – sẽ kéo dài nhiều thập kỷ. Nguồn trữ lượng uranium sẽ nhanh chóng cạn kiệt.

Ngay cả Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) cũng thừa nhận không thể nhanh chóng mở rộng năng lượng nguyên tử để hạn chế được sự thay đổi khí quyển. Chúng ta có một giải pháp khác cho vấn đề này: Toàn cảnh năng lượng khác nhau trên thế giới cho thấy rằng vấn đề khí quyển chỉ được giải quyết thông qua các nguồn năng lượng tái sinh kết hợp với những kỹ thuật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
http://www.facts-on-nuclear-energy.info/6_climate_race.php?size=b&l=vi&f=2031

7- Năng lượng nguyên tử: Không có tác dụng tạo công ăn việc làm cho nhiều người

Tạo ra việc làm ư? Ngành năng lượng nhờ sức gió đã vượt lên trên ngành công nghiệp nguyên tử!

Năng lượng nguyên tử là một ngành cần nhiều vốn – năng lượng tái sinh là một ngành cần nhiều lao động. Ví dụ ở Đức: Năm 2002, có khoảng 30000 người làm việc trong ngành công nghiệp nguyên tử. Trong khi đó, chỉ riêng trong lĩnh vực năng lượng nhờ sức gió đã có hơn 53000 người làm việc.

Ngành năng lượng tái sinh nói chung đã bảo đảm được việc làm cho 120000 người, mặc dù phần đóng góp của các ngành này vào việc cung cấp năng lượng còn thấp. Việc tiếp tục mở rộng, phát triển các ngành năng lượng tái sinh mỗi ngày sẽ tạo ra nhiều chỗ làm mới. Trong ít năm tới, việc mở rộng các ngành năng lượng tái sinh có thể sẽ tạo ra được hàng triệu chỗ làm mới trên phạm vi toàn thế giới.
http://www.facts-on-nuclear-energy.info/7_less_jobs.php?size=b&l=vi&f=2031

8- Những giải pháp thay thế năng lượng nguyên tử

100% năng lượng từ mặt trời, gió, nước và các chất hữu cơ

Quốc hội Đức năm 2002 đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về năng lượng cho nước Đức, theo đó đến năm 2050 việc cung cấp năng lượng cho toàn nước Đức sẽ được thực hiện bằng các nguồn năng lượng tái sinh. Điều có thể thực hiện được ở Đức, một đất nước có diện tích nhỏ bé, mật độ dân số và năng lượng cao và mức sống của người dân cũng cao, thì cũng có thể thực hiện được ở khắp mọi nơi. Trong lúc đó, chính ngành năng lượng cũng thừa nhận rằng: Cho đến năm 2050, trên toàn thế giới năng lượng được tạo ra từ các nguồn năng lượng tái sinh sẽ nhiều hơn lượng năng lượng tiêu thụ hiện nay của con người.

Nhu cầu về năng lượng trên thế giới sẽ được đáp ứng thông qua sự kết hợp của các nhà máy điện sử dụng năng lượng mặt trời, các nhà máy điện nhờ sức gió và các hình thức sử dụng năng lượng hữu cơ khác. Để hạn chế sự gia tăng nhu cầu năng lượng trên thế giới cần phải đưa vào vận hành các kỹ thuật sử dụng tiết kiệm năng lượng. Việc xây dựng nhanh chóng ngành năng lượng mặt trời trên thế giới là một bước đi quan trọng để tránh các cuộc chiến tranh giành giật các loại nguyên liệu hiếm như dầu mỏ, khí đốt và uran.
http://www.facts-on-nuclear-energy.info/8_alternatives.php?size=b&l=vi&f=2031

Cần đóng cửa các nhà máy điện nguyên tử !

Đó là lời khuyên nhất quyết của IPPNW cho chúng ta ,trong tinh thần bảo vệ sự sống và môi trường  sống của nhữngthế hệ sau.

Đó là lời khuyên của những  y sĩ nhiều kinh nghiệm và có tinh thần trách nhiệm, vì họ tự biết là Y Khoa  sẽ bó tay, không thể bảo vệ chúng ta trước những  căn bệnh hiểm nghèo do phóng xạ nguyên tử gây ra.

Và họ không thể không lên tiếng báo động ngày hôm nay biết rằng sẽ phải khoanh tay bất lực ngày mai, nếu chúng ta để tai biến xảy ra rồi  đưa con cháu tìm đến họ xin chữa trị.

Thục Quyên, BSNK
Network SaveVietnam’sNature

*Quyết định xây nhà máy lọc dầu Dung quất, sự phản biện lẫn phản đối quyết liệt hơn gấp bội vì kinh phí đắt gấp gần 2 lần so với đặt Nhà máy này ở Long Thành. Tất cả  các nhà thầu ngoại đều lắc đầu sau khi vào điều nghiên dù  nhận được  những lời hứa ưu đãi đầu tư đặc biệt. Một lần nữa ý chí cá nhân lại thắng khi đặt mục đích chính trị lớn hơn mục đích kinh tế: Miền Trung nghèo quá, phải  dùng nhà máy này làm đà cất cánh. Nhà máy tiếp tục được xây dựng với phương thức thuê chính những nhà thầu chính trước đây làm…nhà thầu phụ. Dĩ nhiên, giờ này hẳn ai cũng đã biết kinh phí nó là bao nhiêu và hiệu quả của việc cất cánh bay tới đâu.

*Kinh phí của Dung Quất lên hơn 3 tỷ đô la, và mỗi tháng đang bị thua lỗ từ 120- 155 triệu đô la. Nhà máy Dung Quất khi xây dựng thiết kế thì chỉ lọc được dầu ngọt, (dầu chứa ít lưu huỳnh) của giếng dầu Bạch Hổ. Nhưng sau hơn 20 năm khai thác, giếng này đã cạn, bây giờ ở VN chỉ còn dầu chua, có chứa nhiều lưu huỳnh (gọi là dầu chua vì chứa nhiều lưu huỳnh, nên dầu có tính acid cao, ăn mòn các bộ phận lọc dầu )

Posted in Khoa Học, Moi Truong bi O nhiem, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | 1 Comment »

Sau khi dành độc quyền mua bán tiền đô (ngoại hối) 2011, nay nhà nước thông báo sẽ chính thức độc quyền sản xuất mua bán vàng miếng từ 25/5/2012

Posted by hoangtran204 trên 09/04/2012

Sau khi ra nghị định độc quyền mua bán đô la (ngoại hối) -xem thông báo về một số quy định mới trong Nghị định 95/11/NĐ-CP ngày 20-10-2011 (nguồn)- giá đô la có vẻ ổn định, giá đô la biến động chung quanh  20 800 đồng/ 1 đô la.

Nhưng thật sự  thị trường mua bán đô la hiện nay là giả tạo. Hơn ai hết mọi  người biết rõ, lạm phát gia tăng hàng ngày, tiền đồng VN bị mất giá 30-40%; điển hình đi chợ mua đồ ăn mỗi ngày thấy vật giá càng gia tăng từ trước Tết tới nay, giá xăng tăng, giá điện tăng, giá thuốc tây và trả tiền bệnh viện tăng 26%…). 

Giá cả qui đổi tiền đô ra tiền đồng trong ngân hàng hiện nay chỉ nhằm mục đích ép người bán đô phải bán với giá ngân hàng quy định. Nếu họ bán chỗ khác, sẽ bị phạt tiền. Nhưng nếu có ai cần vài ngàn đô để chuyển ngân cho con em du sinh đang học ở nước ngoài, cứ thử đem tiền đồng ra ngân hàng mua đô, thì ngân hàng sẽ trả lời là không có đô la để bán ra.

Hối suất mua cưỡng ép này sẽ có giá trị trong một thời gian nào đó, một khi có can qua, có sự thay đổi, số tiền nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu ngày càng tăng, khi tiền đô do Việt kiều gởi về vào mua hè này và cuối năm càng nhiều, hay một lúc nào đó nhà đầu tư ngoại quốc bỏ tiền vào VN, thì nhà nước phải tung tiền đồng ra mua, lượng tiền đồng trên thị trường ngày càng nhiều, kết quả là làm gia tăng lạm phát, thì giá 1 đô sẽ lên 25 000 – 30 000 đồng trong thời gian ngắn trước mắt. 

“Nếu NHNN tiếp tục kìm giữ tỷ giá bằng sự thặng dư tạm thời của cán cân thanh toán trong khi lạm phát liên tục ở mức cao thì tiền đồng sẽ tiếp tục lên giá thực so với ngoại tệ, và do đó khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (việc bán hàng hóa ra nước ngoài sẽ không có lời, xuất khẩu các mặt hàng của VN sẽ giảm-TH). Điều này sớm hay muộn sẽ làm thâm hụt thương mại tăng cao trở lại (xuất ít, nhập nhiều), các dòng vốn nước ngoài cũng sẽ tháo chạy (thực tế FDI giảm từ 2011 chỉ còn chừng 1  tỷ rưỡi, so với 7-9 tỷ trong các năm trước; và 3 tháng vừa qua của năm 2012 thì, FDI chỉ có vài ba trăm triệu, các công ty  ngoại quốc đã và đang ngưng đầu tư vào VN- TH) và cán cân thanh toán sẽ thâm hụt, lúc đó tiền đồng sẽ nhanh chóng bị phá giá một cách mạnh mẽ.” (nguồn)  và tỷ giá tiền đô sẽ lên cao 25000- 30 000 đồng/ 1 đô là điều thấy rõ trong tương lai gần.

Ai hưởng lợi từ việc độc quyền mua bán tiền đô, và ngoài mục đích này còn có mục đích nào khác nữa? Nhưng các mục đích ấy có nguy cơ gì? Mời các bạn đọc tiếp: “

Tỷ giá ổn định, tất nhiên Ngân hàng Nhà nước được hưởng lợi đầu tiên. Theo cập nhật của nhóm nghiên cứu, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước mua vào một lượng lớn ngoại tệ. Có những ngày, nhà điều hành mua vào từ 60 – 70 triệu USD. Xu hướng này kéo dài cho tới nay, khi có những ngày nhà điều hành mua hơn 100 triệu USD. Và khi dự trữ ngoại hối tương đối rủng rỉnh, nhà điều hành còn “đỏng đảnh” trước những lời gạ bán của ngân hàng thương mại.

Một chuyên gia phân tích: tỷ giá ổn định như hiện nay thực ra được hưởng lợi khá nhiều từ chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát và giảm tổng cầu. Bởi thế, những người điều hành tỷ giá rất lo nếu phải nới lỏng tiền đồng.

Sự lo lắng này không phải không có lý khi giới phân tích đang hình thành những xu hướng trái ngược nhau.

Một bên cho rằng, Chính phủ nên tiếp tục kiên định thực hiện Nghị quyết 11: giảm tổng cầu để ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát; còn bên kia là sự la ó lãi suất cao, khó tiếp cận vốn, nhất là giữa lúc Tổng cục Thống kê công bố GDP quý 1/2012 chỉ đạt 4%, giảm 2% so với quý 4/2011 và giảm 1,6% so với cùng kỳ 2011.

Vị cán bộ chuyên kinh doanh ngoại tệ nói trên cho rằng, nền kinh tế đã đổi mới được 20 năm và đã đến lúc phải cơ cấu lại. Vấn đề không chỉ ở con số tăng trưởng 4% hay bao nhiêu mà chính là tăng trưởng thực chất.

“Đừng nhìn vào mấy chục nghìn doanh nghiệp phá sản mà loạn cả lên. Thà chấp nhận số lượng doanh nghiệp ít đi nhưng chất lượng tốt hơn”, ông này nói.

Mối lo thứ hai đến từ dòng tiền nóng. Theo giới phân tích, kinh tế vĩ mô hiện nay đang duy trì được đà ổn định: lạm phát được kiềm chế mức thấp, tỷ giá bình lặng, trong khi chênh lệch lãi suất “đô, đồng” gần 10% là những tiền đề cần thiết để dòng tiền nóng từ các nhà đầu tư nước ngoài dần trở lại Việt Nam thông qua các quỹ đầu tư, mặc dù lưu lượng của chúng hiện mới chỉ dăm triệu USD mỗi ngày.

Lý giải hiện tượng này, một số cán bộ kinh doanh ngoại tệ ở các ngân hàng phân tích: trong khi lãi suất USD chỉ 2%/năm, lãi suất trái phiếu Chính phủ khoảng trên 11%/năm, những nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng bỏ tiền mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp và rút nhanh sau vài ba tháng.

Điều nguy hiểm là khi dòng ngoại tệ nóng chảy vào, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải mua vào và cung tiền đồng ra thị trường. Và đến khi họ rút nhanh, tỷ giá lập tức chao đảo; đồng thời, thị trường trái phiếu sẽ sụt giảm theo, ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của nền kinh tế.

Giữ tiền đô và vàng là an toàn so với việc giữ tiền đồng, đừng bán và đừng cho ai vay, mà hãy cố gắng giữ trong các ngân hàng ngoại quốc ở SG hay HN, gởi ở các ngân hàng ngoại quốc tuy lời ít, nhưng các bạn sẽ không mất trắng tay vì trộm cướp và ngân hàng phá sản khi “can qua”.

Nay Khi Nhà nước Việt Nam thông báo độc quyền sản suất và buôn bán vàng

Nhu cầu phòng thân của người dân bị tước đoạt

Báo Người-Việt.com

SÀI GÒN – Sau cơn bão bất thường giữa mùa Hè, sự việc làm choáng váng dư luận Việt Nam là chuyện Ngân Hàng Nhà Nước chế độ cộng sản tuyên bố độc quyền sản xuất và kinh doanh vàng miếng.

 

Vàng miếng trên thị trường Việt Nam kể từ tháng 5, 2012 sẽ do nhà nước độc quyền sản xuất và kinh doanh. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Gettty Images)

Khác với chuyện thường xuyên dự báo bão trật lất, chuyện đại sự vàng miếng đã được các quan lớn ngân hàng dọn đường dư luận từ trước và không thay đổi chính sách.

Ở một quán cà phê thuộc quận 1, Sài Gòn. Nhà báo TC nói: “Ở đất nước này, chế độ cầm quyền không còn lắng nghe ý dân nữa. Họ khinh dân. Họ chỉ nghe đảng của họ và các băng nhóm lợi ích bu quanh đảng cộng sản.”

Bà V., một nhà báo kinh tế khác góp chuyện rằng, “Ðây là lần đầu tiên trong suốt lịch sử Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc quyền vàng miếng.”

Bây giờ chuyện khai thác khoáng sản vàng có giấy phép hoặc cấp giấy phép bằng miệng để nhận tiền lót tay đã không còn là món béo bở với các tầng lớp cán bộ tham nhũng.

Cái mỏ vàng được đánh giá có trữ lượng hàng ngàn tấn đang nằm trong tủ để phòng thân của hàng triệu người Việt mới là cái họ quyết chiếm đoạt và trục lợi cho bằng được.

Nhiều người nhớ lại rằng từ sau biến cố 1975 đến nay, chế độ này đã tìm cách thâu tóm nhiều lần cái mỏ vàng của lương dân. Ðánh tư sản 3 đợt. Những câu chuyện dân giấu vàng trong hũ chôn cạnh cầu tiêu cũng bị moi lên, sơn đen vàng làm khung thờ tổ tiên cũng bị tước đoạt… Ðau đớn nhất là hốt vàng của những lương dân mong cầu tự do quyết tìm đường vượt biển.

Ngày 5 tháng 4, Thống Ðốc Ngân Hàng Nguyễn Văn Bình nói trên tivi với phóng viên kinh tế của kênh truyền hình chính thống rằng: “Nhà nước chỉ độc quyền vàng miếng, như độc quyền phát hành tiền. Hiện nay, thị trường vàng miếng Việt Nam hơn 90% là vàng miếng nhãn hiệu SJC. Thế nên việc ngân hàng độc quyền vàng miếng nhãn hiệu SJC, những nhãn vàng khác không có thị phần đáng kể.”

Tuyên bố này của ông thống đốc lập tức gây ra cảnh hỗn loạn ở thị trường vàng Hà Nội. Người ta đổ xô đi bán rẻ vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc để mua mắc vàng miếng của SJC. Như vậy chỉ riêng ở Hà Nội những lương dân lâm cảnh bán rẻ mua mắc đã mất trắng số tiền khổng lồ từ mồ hôi nước mắt. Không giống như ở Hà Nội, lương dân có vàng miếng ở các tỉnh phía Nam và Sài Gòn bình tĩnh hơn. Họ chửi rủa chuyện độc quyền vàng nhưng ít cầm vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc đi bán rẻ.

Hỏi một ông chủ cho thuê nhà trọ ở quận Tân Bình. Ông nói: “Lo chi cho mệt, vài bữa là thị trường vàng chợ đen mọc lên như nấm. Cấm, tịch thu hả! Ðừng có mà mơ. Có việc cần, thà bán rẻ cho chợ đen còn hơn là làm giàu cho mấy thằng đó.”

So với thị trường chợ đen các loại thì Sài Gòn không tinh vi bằng Hà Nội, nhưng riêng cái chuyện chữ tín của thị trường chợ đen thì Hà Nội không thể sánh bằng Sài Gòn. Một bà bán quán nhậu nói: “Ông có vàng bán tôi kêu giùm cho. Tới tận nhà mua luôn nghe, bảo mật, uy tín, không ép giá.”

Với từng gia đình, việc chuẩn bị mọi phương cách để tự vệ trước bàn tay tham lam muốn khai thác vàng phòng thân đã bắt đầu. Nhiều người tin rằng bóng ma quản lý kinh tế thời bao cấp đã quay trở lại. Nhiều người còn nhìn thấu đáo hơn khi lướt qua một số chuyện cho thấy sự cùng quẫn của chính quyền tham nhũng hiện nay. Những bộ trưởng cộm cán của chính quyền Hà Nội đã bắt đầu “tham lam sinh đạo tặc.” Bộ trưởng Giao Thông thì thèm thuồng nguồn thu phí từ hàng chục triệu xe gắn máy. Bộ trưởng Y Tế thì ngớ ngẩn đòi tăng giá viện phí để giảm tải bệnh viện. Cục Thuế thì tha hồ hốt tiền lót tay khi gia hạn thuế cho các tổng công ty nhà nước và các đại gia máu mặt…

Trở lại chuyện thống đốc ngân hàng đang hăm hở độc quyền nguồn vàng phòng thân của hàng triệu gia đình. Một chuyên gia kinh tế muốn giấu tên nói, đây là một chính sách động chạm trực tiếp đến tầng lớp trung lưu Việt Nam. Nếu giới trung lưu trước đây an phận làm ăn, hưởng thụ thì chính sách độc quyền vàng sẽ làm họ hiểu là ngay cả của để dành cũng không an toàn. Ðe dọa đến nguồn vàng tư hữu phòng thân là đánh thức sự chống trả của tầng lớp công dân đông đảo.

Những ngày tới, chuyện gì sẽ xảy ra khi nhà nước tuyên bố độc quyền kinh doang vàng miếng. Người dân, nhất là giới trung lưu Việt Nam sau những thoáng mất bình tĩnh thì xuất hiện một bầu không khí im lắng bất thường và chính sự im lắng này là giai đoạn họ chuẩn bị sẵn sàng gây bão lớn.

************************************************

Nhà nước chính thức độc quyền sản xuất vàng miếng từ 25/5/2012

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Theo Nghị định 24, quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.

Các quy định trong Nghị định 24 không áp dụng đối với hoạt động khai thác và tinh luyện vàng của doanh nghiệp khai thác vàng.

Nghị định 24 nêu rõ: Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Nghị định cũng cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. Các hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 5 điều kiện:

1. Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

2.  Có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên;

3. Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 năm trở lên;

4. Có số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trở lên trong 2 năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế);

5. Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Ngày 3/4/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank, Dong A Bank và Công ty TNHH một thành viên Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) báo cáo về việc triển khai mạng lưới mua, bán vàng miếng. Báo cáo gửi về Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) trước ngày 9/4/2012.

Trong khi đó, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 3 điều kiện gồm có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên; Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng; Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Về xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ và cung – cầu vàng trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp theo quy định và cấp giấy phép xuất khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có Giấy phép khai thác vàng theo quy định.

Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ cho doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm. Việc xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm được thực hiện theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định này. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/5/2012.

—————–

Nghị Định 24 chấm hết với đầu cơ vàng

nguồn

“Tuy nhiên trên tất cả và quan trọng nhất vẫn là quy định “không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán”. Về tinh thần này, cùng với chủ trương Nhà nước độc quyền trong sản xuất vàng miếng và xuất khẩu vàng nguyên liệu cũng như nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, giới đầu tư của 12.000 cơ sở kinh doanh vàng và cả những người dân quen mua vàng tích trữ đã biết từ lâu. Vấn đề còn lại là bản nghị định này sẽ tác động ra sao đối với thị trường kinh doanh vàng.”

“Ngay sau khi nghị định 24 được ban hành, giám đốc một doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh vàng tiếp tục đặt vấn đề: Tại sao cùng vào ngày 3/4/2012, cùng thời điểm với nghị định 24 được ký, lại xuất hiện một công văn của NHNN gửi cho 5 ngân hàng và Công ty SJC liên quan đến mạng lưới phân phối vàng? Tại sao chỉ có nhóm “G5+1” mà không hiện ra thêm thành viên nào khác? Và tại sao tất cả những thương hiệu vàng “Phi SJC” lại bị loại thẳng thừng trong nghị định 24?”

“Trên thị trường, giá vàng niêm yết hàng ngày hầu hết được “tham chiếu” bởi Công ty SJC chứ chẳng phải ai khác. Mà những dấu hiệu từ SJC khi đặt giá niêm yết cao hơn hẳn giá thế giới lại đã luôn trở thành một nghi vấn lớn lao nhưng chưa bao giờ được giải thích cặn kẽ.

Từ đó, hiển nhiên các cơ sở kinh doanh vàng – những nơi bị chuyển từ kinh doanh vàng miếng sang vàng nữ trang, sẽ không thể không hoài nghi về ý nghĩa thực chất của nghị định 24 trong thực tế triển khai, nhất là khi thương hiệu vàng SJC vẫn đóng vài trò độc tôn và Công ty SJC vẫn được NHNN “bảo trợ”.

“Tương tự, Bảo Tín Minh Châu đã trở thành “nạn nhân” đầu tiên trong số các thương hiệu có tiếng lâu đời bị gạt ra rìa. Vào cuối năm 2011, khi lần đầu tiên giá vàng Bảo Tín Minh Châu thấp hơn giá vàng SJC đến 1,2 triệu đồng/lượng, cơn khủng hoảng  của vàng “phi quốc doanh” đã bắt đầu.”

“Trong khoảng thời gian gần đây nhất, bất chấp “barem” của thống đốc NHNN về “nếu giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 400.000 đồng là có dấu hiệu đầu cơ”, độ chênh cao của giá vàng trong nước so với giá quốc tế vẫn luôn duy trì ở mức 2-4 triệu đồng/lượng trong suốt 5 tháng cuối năm 2011, kể cả cho đến những ngày gần đây mức chênh đó vẫn duy trì ở mức trên 2 triệu đồng/lượng.”

“SJC công bố giá vàng hàng ngày hầu nhu độc quyền- Yêu cầu Ngân hàng Nhà nước giải thích tại sao giá của SJC bao giờ cũng cao hơn giá thế giới từ 01-3 triệu đồng.Ông thống đốc NHNN từng tuyên bố sẽ giữ giá vàng trong nước chỉ cao hớn giá vàng thế gioi 500.000,đồng mà sao bây giờ… “

Thực chất của nghị định 24 là nhà nước dành độc quyền kinh doanh vàng, vì món này rất có lời. Cứ bán 1 lượng vàng, thì nhà nước lời tối thiểu 2 triệu đồng.  SJ C và 5 công ty kinh doanh vàng là của nhà nước và các tập đoàn quốc doanh, và do con cái các cán bộ cao cấp nắm giữ.

Thực chất của độc quyền mua bán đô la là mua rẻ tiền đô của Việt kiều và công nhân lao động xuất khẩu (gởi tiền về trả nợ chi phí xin di XKLĐ và giúp đỡ gia đình.)

Mời các bạn đọc bài dưới đây để hiểu tải sao lạm phát gia tăng trước tết cho đến nay của việc tung tiền VN ra đổia ấy tiền đô:

“Bị thâm hụt 12 tỷ đô la, Chính phủ VN tung 300.000 tỷ đồng vừa giải cứu ngân hàng, vừa mua lại 9 tỷ đô la do Việt Kiều gởi về, nhưng tiền đồng trên thị trưởng quá nhiều đã và đang làm gia tăng lạm phát (dân lãnh đủ). Việc độc quyền mua rẻ đô la, không cho tỷ giá vượt mức 22.000 đồng, có mục đích là chính phủ hưởng lợi” (nguồn)

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 2 Comments »

Hoàn cảnh cụ thể của đại đa số người dân Trung Quốc ở thành thị và Nông Thôn như thế nào

Posted by hoangtran204 trên 09/04/2012

 

Sự thật về mô hình phát triển của Trung Quốc dưới góc nhìn từ hai ký giả người Âu

Văn Ngọc

Trong khi dư luận quần chúng, cùng các kênh thông tin và truyền thông ở phương Tây lại không ngớt lời ca ngợi những cái hay, cái giỏi của đất nước này về mọi mặt thì hai tác giả Pierre Cohen và Luc Richard xuất thân là nhà báo và nhà văn đã từng sống ở Trung Quốc và biết tiếng quan thoại, hiểu biết rộng về kinh tế, với cặp mắt quan sát sắc sảo của mình, họ đã đi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội Trung Quốc để tìm hiểu một thực tế vô cùng tế nhị và phức tạp để viết một cuốn “La Chine sera-t-elle notre cauchemar?” (Ed. Mille et Une Nuit – Paris 2005, tái bản 5-2008) đầy ắp thông tin và dày công phân tích nhằm chỉ ra những khuyết tật trong mô hình phát triển hiện nay của Trung Quốc.

Người ta có thể nghĩ rằng, trước hết hai tác giả này muốn nói lên một sự thật, một thực tế, mà trong nhiều năm ở phương Tây, báo chí, cùng các cơ quan truyền thông và một số người có chức quyền vẫn cố tình che giấu, hoặc tô hồng, vì dẫu sao, người ta cũng cần cái thị trường khổng lồ này trong một nền kinh tế toàn cầu hoá.

Cũng có thể, do một bản năng tự nhiên, hay một tinh thần dân tộc chủ nghĩa nào đó, các tác giả muốn vạch ra những yếu kém của mô hình phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc, để cảnh báo các xã hội phương Tây.

Cũng có thể, họ còn có một tầm nhìn rộng hơn nữa, một tầm nhìn có tính chất chiến lược, ở qui mô toàn cầu.

Nhưng cũng có thể, đó chỉ là do một sự thôi thúc nội tâm có tính chất đạo lý, vì sự thật, vì hạnh phúc của con người, và tương lai chung của cả loài người?

Tác phẩm được viết như một thiên phóng sự, một nhân chứng. Nó không chỉ nêu lên những hoàn cảnh cụ thể, có thật, nói lên những điều mà những con số thống kê không thể nói lên hết được, mà còn truyền được tới người đọc một dòng suy nghĩ, một nỗi lo âu, một lời cảnh báo.

1/ Nạn thất nghiệp ở thành thị

Từ những năm 90 của thế kỷ trước, với những bước đầu của quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh TQ bị dẹp bỏ, nhường chỗ cho các xí nghiệp tư nhân. Hàng triệu công nhân bị sa thải. Năm 1998, chỉ riêng trong khâu dệt may, có 660.000 người bị rơi vào hoàn cảnh này; trong lãnh vực dầu khí, 1 triệu người. Các nhà máy cũ nhường chỗ cho các nhà máy mới do nước ngoài đầu tư xây dựng. Công nhân quá 35 tuổi không được nhận vào xưởng làm việc nữa. Một ngày công không phải là 8, 9 giờ, mà là 11, 12 giờ. Công nhân bị sa thải được gọi là xiagang (hạ cương, từ được tạo ra để làm nhẹ bớt cái ý bị đuổi việc – cương đây là cương vị).

Chủ trương dẹp bỏ các xí nghiệp quốc doanh thực ra đã bắt đầu được thực hiện ngay từ những năm 80 và do chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý. Sự kiện này diễn ra cùng một lúc với việc Đặng Tiểu Bình cho thực hiện chính sách phân quyền về các địa phương. Cũng là một công đôi việc, tránh cho Trung ương khỏi mang tiếng! Nhưng cũng từ đó, nạn tham nhũng lan tràn về các địa phương.

Theo một cuộc điều tra gần đây của Nhà nước, thu nhập bình quân của những người giàu có nhất ở thành thị, lớn hơn gấp 12 lần thu nhập của những người nghèo; 10% nhà có của ở thành thị, chiếm 45% tổng số tài sản, trong khi 10% những người nghèo nhất chỉ chiếm có 1,4% số tài sản này.

Ở các thành phố lớn vùng đông-bắc, nạn thất nghiệp chiếm từ 20 % tới 30% dân số. Ở Phong Đô, một thành phố mới được xây dựng lại một cách rất hoành tráng ở bờ nam sông Dương Tử, gần đập thuỷ điện Tam Hiệp, tỷ lệ này lên tới 60, 70%, vì trên thực tế, đây là một thành phố chết, hoàn toàn thiếu vắng mọi hoạt động kinh tế.

50 năm sau “Bước nhảy vọt” (1958) – một sai lầm về đường lối công nghiệp hoá, đã khiến hàng mấy chục triệu nông dân bị chết oan (nạn đói những năm 1959-1961) – các nhà lãnh đạo địa phương Trung Quốc vẫn còn nghĩ rằng, chỉ cần hô hào, động viên bằng lời nói, là có ngay những người hăng hái đầu tư.

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương Tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6USD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

 

Vấn đề thất nghiệp được tóm gọn lại trong một phương trình đơn giản: năm 2004, số người thất nghiệp là 14 triệu, thêm vào đó là 10 triệu người từ nông thôn đổ ra thành thị kiếm sống hàng năm (Năm 2005, con số này lên đến 13 triệu người). Để đáp ứng nhu cầu, phải cung cấp 24 triệu công ăn việc làm cho những người này, điều mà cho đến nay các giới hữu trách mới chỉ bảo đảm được có một phần ba mà thôi.

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6U SD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

2/ Nạn thất nghiệp ở nông thôn (mingong = “dân công” , từ mới để chỉ những người thất nghiệp từ nông thôn đổ lên thành thị kiếm sống, và thường tụ tập ở các chợ lao động (“chợ người”), hay ngay trên hè phố – từ này khác với từ dân công trong tiếng Việt, được dùng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam) :

Hiện nay, Trung Quốc có dân số trên 1,3 tỷ người, mà hai phần ba là nông dân, tức là số nông dân có tới 900 triệu người, trong số đó 600 triệu sống bằng nghề trồng trọt, trên những mảnh ruộng nhỏ li ti.

Năm 1978, Trung Quốc phát động phong trào hiện đại hoá nông thôn, bãi bỏ chính sách tập thể hoá. Người nông dân được phát ruộng, phát đất để trồng trọt, được đem nông phẩm ra chợ bán tự do. Ngay từ năm 1980, đời sống của người nông dân có những bước biến chuyển. Nhưng đến khoảng năm 1990, không thấy người ta bàn bạc, đả động gì đến nông thôn nữa, mà chỉ chú trọng đến sự phát triển của các đô thị, của các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, và đương nhiên là đến quá trình toàn cầu hoá.

Năm 2004, người ta được thống kê cho biết rằng số dân nghèo đến mức tối đa (tính theo tiêu chuẩn: dưới 75USD/người/năm), lần đầu tiên đã tăng lên sau 25 năm, và đa số những người này là nông dân.

Một vài thí dụ cho thấy sự nghèo khổ tột cùng của họ. Một cậu học sinh trung học ở một huyện lị kia, vì không có tiền để trả tiền học, đã lao mình xuống gầm xe lửa tự tử. Trước đó một hôm, ông đốc trường đã không cho phép cậu thi lên lớp, và bảo rằng : “Không có tiền, không được học”.
Vào mùa xuân năm 2005, đã nổ ra những vụ tranh giành đất đai giữa nông dân và các quan chức địa phương, cũng như đã có những cuộc biểu tình của nông dân chống việc các nhà hữu trách đã để cho các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường của mình.

Như vậy, là sau một thời gian ngắn ngủi, làm ăn bắt đầu khấm khá trở lại vào những năm 80, tình hình nông thôn lại một lần nữa xuống cấp : thuế má ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng, học phí cho con cái tăng, các dịch vụ y tế thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, nạn thất nghiệp tràn lan.

Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

 

Hố sâu giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

Nếu tính theo tiêu chuẩn đầu người, mỗi nông dân phải có được 0,66 ha đất nông nghiệp mới có thể làm ăn sinh sống được ở nông thôn. Con tính đơn giản này cho thấy nông thôn Trung Quốc thừa 170 triệu người. Thừa người ở nông thôn, thì người ta chỉ còn cách kéo nhau lên thành thị làm dân công.

Dân công không phải là một người vừa là nông dân, vừa là công nhân. Họ không là gì cụ thể cả. Họ không phải là nông dân, mà cũng không phải là công nhân. Họ làm công nhật, không có hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội, hôm trước hôm sau có thể bị đuổi, mà không kêu ca được với ai. Họ bị cấm không được phép làm một số nghề (danh sách các nghề bị cấm năm 1996, tại Bắc Kinh, là 15 nghề, đến năm 2000 con số này lên tới hơn 100) . Một ngày lao động của họ có khi là 10, 12 tiếng , có khi là 15 tiếng. Họ không có quyền hưởng luật lao động. Một dân công muốn có được một chỗ làm việc, phải “mua” các giấy tờ, thủ tục hành chính, với giá 640 nhân dân tệ, bằng 2 tháng lương. Chế độ “hộ khẩu” được áp dụng chặt chẽ đối với họ.

Mặc dầu vậy, với giá nhân công rẻ mạt, họ đã “được” khai thác có hiệu quả trong các ngành công nghệ xuất khẩu, nơi mà TQ phá kỷ lục về giá thành sản phẩm.

Dân công là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800 nhân dân tệ (80Eu ro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

 

Dân công là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800nhân dân tệ (80Euro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

Nhà nước TQ dự kiến, trong vòng 20 năm, giảm số nông dân xuống chỉ còn 30% số người lao động của cả nước. Dự kiến này xem ra không thực tế lắm, vì nếu như vậy thì phải chấp nhận hàng năm sẽ có tới 26 triệu nông dân kéo nhau lên thành thị sinh sống, trong khi lúc này chỉ có từ 10 đến 13 triệu. Dẫu sao, dòng thác dân công – mà người ta ước lượng khoảng từ 150 đến 200 triệu – vẫn sẽ đổ vào các thành thị, và giá nhân công nhờ đó sẽ giữ được ngày một rẻ.

Không những nông thôn thiếu đất trồng trọt, mà diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại bởi những xí nghiệp, nhà máy, được di dời về đây. Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. 190 triệu nông dân sống trong một môi trường không lành mạnh, nước sông, nước hồ phần lớn đều bị ô nhiễm.

3/ Số phận của những người nữ dân công

Ở Trung Quốc, những nơi phải sắp xếp, tổ chức lại các xí nghiệp quốc doanh bị dẹp bỏ, phụ nữ là những người đầu tiên bị sa thải hoặc di chuyển. Trong các ngành kỹ nghệ, điều kiện làm việc của những người nữ dân công còn tồi tệ hơn là của nam dân công nhiều. Không lấy gì làm lạ, là sau một thời gian, một số không nhỏ các nữ dân công đã phải bỏ đi làm gái điếm.

Hiện tượng mãi dâm của các cô gái từ nông thôn lên thành thị , từ hơn 20 năm nay, đã trở nên một hiện tượng bình thường dưới mắt mọi người. Phần lớn các cô này đều đã trải qua một thời kỳ làm dân công. Quan hệ tình dục đã trở thành hàng hoá trao đổi, hoàn toàn phù hợp với tâm thức coi đồng tiền là quyền lực tối cao, coi cuộc đời là tiêu xài, hưởng thụ, con người là hoàn toàn vô trách nhiệm đối với xã hội.

Nhiều người – trong đó có những khách du lịch rất nhiệt tình và hồ hởi – khi được viếng thăm các thành phố Trung Quốc, theo các tuyến “tua”, cứ ngỡ rằng những biến đổi về mặt xã hội ở những nơi này cũng là những biến đổi chung cho cả đất nước Trung Hoa. Thật ra, không phải thế. Đó chỉ là cái mặt tiền.

Cuộc sống ở đô thị có thay đổi thật, người phụ nữ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn để học hành và làm việc, nhưng Trung Quốc chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp. Ở những vùng trung tâm, như Hồ Nam, An Huy, v.v., nông thôn vẫn không mấy thay đổi. Vẫn những cuộc hôn nhân sắp đặt sẵn, cô dâu về nhà chồng rồi, liền bị cắt đứt liên hệ với gia đình nhà mình. Vẫn những vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em giữa vùng này và vùng khác. Vẫn cái truyền thống “trọng con trai, khinh con gái”. Chính sách giới hạn “một con” của Nhà nước, khiến cho các cặp vợ chồng phải chọn lựa. Trên 7 triệu trường hợp phá thai mỗi năm, 70% là thai con gái. Vai trò của người mẹ, người vợ, trong nhiều gia đình nông dân đôi khi chỉ dừng lại ở vai trò của người hầu, người ở. Từ những năm 80, sau khi chế độ hợp tác xã bị dẹp bỏ, trở lại phương thức canh tác kiểu gia đình, vai trò của người phụ nữ lại càng bị chèn ép. Bắt đầu từ năm 1990, sự xuống cấp của các khâu giáo dục và y tế ở nông thôn càng làm cho họ bị thiệt thòi. Do sự phân biệt chọn lựa vì quyền lợi kinh tế giữa con trai và con gái, tỷ lệ thất học về phía nữ là 23% năm 1997 (49% năm 1982) ; về phía nam là 9% (21% năm 1982).

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.

4/ Giáo dục bị “ hy sinh ” cho kinh tế

Ở thời đại ngày nay, biết đọc, biết viết không đủ, còn phải biết đôi chút khái niệm khoa học kỹ thuật, phải biết sinh ngữ, để có thể tiếp thu được những công nghệ nhập từ nước ngoài, v.v. Trên thực tế, nhà nước Trung Quốc đã không thực sự quan tâm đến vấn đề này. Năm 2003, ngân quỹ dành cho giáo dục chỉ chiếm có 3,8% tổng sản lượng công nghiệp.

Ngay từ 1999, tại một Hội nghị của Bộ Giáo dục, một chủ trương đă được đề ra, là khuyến khích các gia đình tăng thêm ngân quỹ cho việc giáo dục con cái. Ý đồ là đi đến việc tư lập hoá các trường học. Ở các vùng nông thôn nghèo, các khoản chi phí cho việc học của con cái đối với các bậc cha mẹ lại càng lớn. Cũng bởi vì chỉ có 23% ngân sách giáo dục của nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

Chỉ có 23% ngân sách giáo dục của Nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

 

Trong một công trình nghiên cứu về gia đình người nông dân, Isabelle Attané, thuộc Trung tâm nghiên cứu dân số, viết : “Trong một hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nhiều hơn là nhu cầu xã hội, thì những người dân nghèo khổ nhất, những người không được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, phải trả giá đắt nhất ”.

Chính sách của Nhà nước về giáo dục như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cách về trình độ văn hoá ngày càng xa giữa thành thị và nông thôn (mức sống ở thành thị hiện nay cao gấp 6 lần mức sống ở nông thôn), cũng như giữa con trai và con gái (nạn thất học chiếm 6,6% giới trẻ ở nông thôn, trong đó có 3,6% là con trai, 10% là con gái).

Điều đáng lo ngại nhất, là giáo dục vốn được coi là một công cụ có khả năng đưa tầng lớp nông dân thoát khỏi nạn nghèo đói, thì nay lại không tới được với họ nữa. Theo Philippe Cohen và Luc Richard, họ vẫn chỉ là một kho dự trữ nhân công rẻ tiền- một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm mới, rẻ, dễ cạnh tranh, dễ kiếm lời trên thị trường toàn cầu hoá.

5/ Khó khăn trong việc áp dụng luật pháp

Điều mà các nhà lãnh đạo TQ phải lo thực hiện trước tiên, là làm sao áp dụng được luật pháp, nói chung, trên đất nước mình ! Trong mọi lãnh vực, từ kinh tế, lao động, đến môi trường, có luật pháp là một chuyện (mặc dầu đôi khi luật pháp cũng còn rất mù mờ), nhưng áp dụng nó lại là một chuyện khác.

Chỉ cần lấy một thí dụ : công nghệ làm hàng lậu quy mô quốc tế, chẳng hạn. Người ta cho rằng hiện tượng này chỉ có thể xảy ra với sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của những quan chức địa phương mà thôi.

Các luật lao động thông thường cũng không áp dụng được giữa chủ và thợ, vì luôn luôn có sự can thiệp của chính quyền địa phương bênh vực quyền lợi của ngườI chủ, kẻ có tiền. Lương lậu của thợ thuyền, đặc biệt là của những người dân công, luôn luôn bị trả chậm.

Nhìn chung, ít nhất một nửa số nhân công làm việc trong các xí nghiệp ở quy mô quốc gia, không được hưởng luật pháp. Tại sao lại có tình trạng như vậy ? Đơn giản chỉ vì, nếu tất cả các xí nghiệp áp dụng luật lao động, thì Trung Quốc sẽ mất đi con chủ bài (nhân công rẻ) để cạnh tranh trên thị trường.

Trong lãnh vực môi trường cũng vậy. Sự áp dụng khe khắt các luật lệ về môi trường sẽ động chạm đến các quyền lợi kinh tế. Do đó, luật pháp trong lãnh vực này cũng được để lỏng lẻo, và tuỳ ở các cơ quan hữu trách địa phương có muốn áp dụng hay không. Trường hợp ô nhiễm ở sông Hoài, vùng Hồ Nam, An Huy, là một thí dụ điển hình. Năm 1994, chính quyền Trung ương hạ lệnh làm sạch con sông này, vì cả một vùng dân cư gồm 160 triệu dân bị ô nhiễm. Trên giấy tờ, hàng nghìn xưởng máy bị đóng cửa, di chuyển, hoặc cải tạo theo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm. 60 tỉ nhân dân tệ đã được chi ra cho công việc này, nhưng cho đến nay con sông Hoài vẫn bị ô nhiễm hơn bao giờ hết. Đối với chính quyền, thì vấn đề như vậy là đã giải quyết xong rồi : sổ tiền 60 tỉ nhân dân tệ (6 tỉ Euro) đã được chi ra, và vấn đề đã được xoá sổ.

*

Tác phẩm của Philippe Cohen và Luc Richard còn đề cập đến nhiều vấn đề khác nữa, liên quan đến tác hại của mô hình phát triển của Trung Quốc lên nền kinh tế toàn cầu. Song vì giới hạn của bài viết, chúng tôi đã chỉ tập trung trình bày những nhân chứng và nhận xét của các tác giả trên những vấn đề mà chúng tôi cho là liên quan trực tiếp đến Việt Nam, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Những bài học từ Miến Điện

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Những bài học từ Miến Điện

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hillary Clinton và Tổng thống Miến Điện Thein Sein

Trong cuộc bầu cử ngày 1-4-2012 để bổ sung 45 ghế tại Quốc Hội Miến Điện, Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ do Bà San Suu Kyi lãnh đạo đã thắng 43 ghế. Đó là một thành công to lớn không riêng cho Bà San Suu Kyi và đảng của bà mà là của toàn thể 60 triệu dân Miến Điện.

Biến cố đó xảy ra như một phép lạ đã làm thế giới ngạc nhiên thán phục. Sau ngót 50 năm bị quân phiệt thống trị, Miến Điện đã lột xác để tiến lên dân chủ. Việt Nam cũng đang bị độc tài, tham nhũng và bất công như Miến Điện. Chín mươi triệu dân Việt cũng mong sớm thoát khỏi ách thống trị của CSVN để dân tộc để dân tộc có thể tiến nhanh trên con đường dân chủ, phú cường và không còn bị Trung Cộng khống chế như hiện nay.

Nhân dịp nầy, chúng ta thử tìm xem đâu là những bài học từ Miến Điện?

Muốn cho một cuộc đấu tranh đạt được thắng lợi, tối thiểu cần phải có đủ ba điều kiện, đó là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Trong trường hợp Miến Điện, chúng ta sẽ xét đến các yếu tố đó qua hai mặt khách quan và chủ quan.

Trước hết, về mặt khách quan, chúng ta thấy gì?

Trong khi thế giới ngày càng dân chủ, giàu mạnh, thì Miến Điện, sau 50 năm dưới chế độ quân phiệt độc tài, dân chúng ngày càng cơ cực và đất nước ngày càng suy yếu. Vì bị các nước Tây phương trừng phạt và cấm vận, Miến Điện phải sống nhờ viện trợ Trung Cộng, nhưng người Hoa ngày càng kiêu căng, ức hiếp Miến Điện, dân chúng hết sức lo âu và bất mãn . Các tướng lãnh yêu nước đã thuyết phục Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa ông Thein Sein, một tướng lãnh đã về hưu ra tranh cử Tổng Thống nhằm thực hiện cải cách, mở đường dân chủ hóa Miến Điện để cứu nguy tổ quốc.

Sau hơn 30 năm canh tân, kinh tế phát triển không ngừng, ngày nay Trung Cộng đã trở thành một cường quốc kinh tế, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trung Cộng ngày càng hống hách, tuyên bố chủ quyền trên biển Đông theo hình lưỡi bò, gồm hết các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thế giới rất quan ngại trước mộng bá quyền của Trung Cộng và quyền tự do lưu thông trên Biển Đông. Năm ngoái, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Clinton tuyên bố Hoa Kỳ đã trở lại Á Châu và duy trì vai trò siêu cường tại vùng nầy. Hoa Kỳ đã tăng cường thế liên minh với Nhật Bản, Phi Luật Tân, Ấn Độ và Châu và tăng cường hợp tác thương mãi và quân sự với Đài Loan và Việt Nam.

Các cuộc cách mạng thành công tại Tunisia, Ai Cập và Libya từ Bắc Phi và Trung Đông đã góp phần đẩy mạnh trào lưu dân chủ khắp nơi. Nhà cầm quyền Miến Điện thấy rõ chế độ độc tài  không thể kéo dài mãi, và các chế độ đó chỉ tồn tại nhờ sự trấn áp của lực lượng an ninh và sự sợ hãi của dân chúng. Khi bị áp bức quá đáng không thể chịu nỗi, dân chúng sẽ đứng lên đạp đổ vì không còn gì để sợ.

Miến Điện cũng đang vận động để được bầu vào chức vụ Chủ Tịch Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2014 và kêu gọi các nước Tây phương bãi bỏ cấm vận, vì thế họ phải chứng tỏ cho thế giới thấy thiện chí cải thiện nhân quyền và dân chủ của Miến Điện. Ngoài ra, các Tướng lãnh cũng thực tâm muốn thực hiện dân chủ từng bước trong ôn hòa và trật tự để giúp đất nước không bị bạo loạn và bảo toàn được tánh mạng cũng như tài sản của họ.

Về mặt chủ quan, chúng ta thấy những điểm sau đây.

Trước hết là sự hy sinh cao cả, tinh thần đấu tranh kiên cường, không khiếp sợ bạo lực và niềm tin sắt đá về sự tất thắng vào cuộc đấu tranh bất bạo động của bà San Suu Kyi và Liên Minh của bà.

Năm 1988, bà rời Anh quốc, về Miến Điện chăm sóc mẹ già đang điều trị tại bệnh viện. Nhưng chỉ vài tuần sau khi bà hồi hương, ngày 8-8-1988 đã xảy ra biến cố sinh viên biểu tình đòi dân chủ, quân đội Miến Điện đã thẳng tay đàn áp, bắn chết gần 5 ngàn người. Xúc đông và căm phẩn trước hành dộng dã man của quân phiệt, bà đã cùng với các đồng chí thành lập Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ để đấu tranh chống độc tài quân phiệt. Vì nhu cầu hoạt động, bà đã không về đoàn tụ với chồng con tại Anh. Dù bị cầm tù hơn 15 năm và được hứa sẽ trả tự do nếu chịu xuất ngoại, bà đã nhất quyết ở lại tiếp tục cuộc đấu tranh. Ngay cả lúc chồng bà bị bệnh sắp chết mà chính phủ không cho phép sang Miến Điện gặp bà nhưng họ lại khuyên bà nên sang Anh quốc thăm chồng. Bà đã từ chối vì tin rằng nếu ra đi, bà sẽ không được hồi hương. Do đó, chồng bà đã qua đời mà không được thấy mặt vợ trước khi nhắm mắt. Sư hy sinh của bà ít có ai theo kịp!

Không những thế, sự đàn áp và đe dọa của bạo lực không làm bà run sợ. Trái lại, bà đã xem đó là thử thách và cơ hội rèn luyện tinh thần can đảm. Bà không oán hận những người đã gây nên tội ác với đồng bào và cá nhân bà, vì bà nghĩ rằng họ cũng là nạn nhân của thời cuộc. Bà chủ trương lấy tâm từ bi làm trọng điểm cho cuộc đấu tranh và bà đã khuyên các đồng chí từng bị tù đày như bà: “Chúng ta không thể quên quá khứ, nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù”.

Chính vì vậy, khi bà tuyên bố không trả thù và sẽ tôn trọng tài sản của những viên chức chế độ cũ, các Tướng lãnh tin lời bà cũng như chính bà đã tin vào thực tâm đẩy mạnh dân chủ hóa của Tổng Thống Thein Sein. Hai bên tin tưởng lẫn nhau, đó là một yếu tố hết sức quan trọng.

Tổng Thống Thein Sein đã trả tự do cho bà San Suu Kyi và hàng ngàn tù nhân chính trị, đồng thời ban hành sắc lệnh cho phép công nhân được quyền tổ chức đình công, báo chí hết bị kiểm duyệt và Internet khỏi bị kiểm soát nên dân chúng hết sức vui mừng. Các tổ chức xã hội dân sự được tự do sinh hoạt trở lại, tạo nên không khí cởi mở và dân chủ trước ngày bầu cử.

Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ là một tổ chức có thực lực, hoạt động kiên trì và được dân chúng tin tưởng. Vì thế, dù đảng nầy đã bị chính quyền ngăn cấm và hàng ngàn đảng viên, trong đó có bà San Suu Kyi đã nhiều lần bị khủng bố và cầm tù trong nhiều năm, nhưng Liên Minh vẫn âm thầm hoạt động nên đến khi hoàn cảnh cho phép, dù chỉ trong vài tháng ngắn ngũi, với sự lãnh đạo khôn khéo và uy tín của bà San Suu Kyi, đảng đã có thể huy động quần chúng ủng hộ và đạt được thắng lợi vẻ vang trong cuộc bầu cử vửa qua.

Chắc chắn cuộc đấu tranh của nhân dân Miến Điện vẫn còn nhiều khó khăn trước mặt, nhưng đến nay, chúng ta vẫn có thể học được nhiều kinh nghiệm từ Miến Điện, và chúng ta phải quyết tâm kiên trì đẩy mạnh công cuộc đấu tranh cứu nguy dân tộc và tổ quốc trong tinh thần vô úy, bao dung và bất bạo động.

Nguồn: Chuyenhoa

danchimviet.info

Một số hình ảnh về cuộc hòa giải giữa chính quyền Miến Điện và bà Aung San Suu Kyi, người đã hoạt động chính trị và thành lập đảng đối lập để tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của Miến Điện. Bà đã bị bỏ tù và quản chế kể từ 1991 cho đến khi được trả lại tự do vào tháng 11/2011.

Aung San Suu Kyi talks with Border Affairs Minister, Major General Thein Htay on August 20, 2011.

Bà Aung San Suu Kyi vói Bộ Trưởng Biên Giới, Thiếu tướng Thein Htay, ngày 20-8-2011

https://i0.wp.com/lh3.ggpht.com/-6pXNjI3SjIE/Tnp8dQbvtxI/AAAAAAAAAsE/mxzSMumdAb4/Aung%252520San%252520Suu%252520Kyi%252520Thein%252520Sein%25255B2%25255D.jpg

Bà Aung San Suu Kyi và Cựu tướng lãnh Thein Sein, nay là Tổng Thống. Ông được nhóm tướng lãnh quân phiệt đưa ra tranh cử chức tổng thống trong 1 cuộc bầu cử được nhiều người Miến Điện cho là không công bằng.

…”Trước đây có ai dám nghĩ rằng tình hình Miến Điện thay đổi như ngày hôm nay. Lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi, 66 tuổi, vừa được dân chúng Myanmar bầu vào Quốc Hội Miến Điện vào ngày Chủ Nhật 1 tháng 4. Một người phụ nữ can trường, liên tục tranh đấu cho tự do và dân chủ cho người Miến, bị chính phủ quân nhân nhốt tù bao nhiêu năm trời và vẫn giữ vững kiên trì, không sợ chết, tiếp tục đương đầu với mọi trở ngại từ cái nhóm lãnh đạo độc tài quân phiệt đến độ nhóm lãnh đạo Miến đã phải trả tự do cho bà. Và nay kết quả là một tù nhân lương tâm của thế giới trở thành đại diện dân cử hơp pháp của Miến Điện, dọn đường cho vai trò tổng thống của bà trong tương lai gần vào năm 2015 sắp tới.

Có ai ngờ là cái nhóm quân phiệt Miến ngoan cố dường ấy chỉ mới trong khoảng một năm nay đã thay đổi ngoạn mục như thế. Họ thả hết tù nhân chính trị, ngưng chiến với phe đối lập, nới lỏng kiểm duyệt báo chí và đồng ý nói chuyện với bà Suu Kyi, người mà trước đây họ chỉ muốn giết cho xong. Và rồi chính các quân nhân này đã tham gia sinh hoạt chính trị bắng cách cởi bỏ bộ đồng phục, mặc quần áo dân sự, ra tranh cử vào Quốc Hội Miến giống như các công dân khác!”…(Ng Văn Huy)

***********************************

Dân biểu Aung San Suu Kyi & tương lai của Myanmar

Trong cuộc bầu cử bổ túc 45 ghế dân biểu (cho các đơn vị tân lập) ngày 1 tháng 4 vừa qua, Liên minh Quốc gia Vì Dân chủ – LMQG/DC (National League for Democracy –NLD) của bà Aung San Suu Kyi đã

đề cử 44 đại diện ra tranh cử tại 44 đơn vị toàn quốc, và đã thắng lớn tại 43 đơn vị. Bà Suu Kyi là một trong những dân biểu đắc cử. Có nhiều đơn vị đảng viên LMQG/DC thắng với 90% số phiếu đi bầu. Chính quyền của tổng thống Thein Sein đã công nhận kết quả bầu cử.

Không ai ngạc nhiên về kết quả của cuộc bầu cử. Nhưng nếu nhân dân toàn quốc phấn khởi, không phải thành phần nào cũng phấn khởi. Tại thủ đô Naypyidaw, các ký gỉa nước ngoài ghi nhận sự than phiền của một số quân nhân ngoài đường phố, bày tỏ sự lo ngại của họ trước thắng lợi quá to lớn này của LMQG/DC.

Tuy nhiên người ta không biết sự lo ngại của thành phần sĩ quan và quân nhân cấp thấp có phải là mối lo của các tướng lãnh đang thật sự cầm quyền không.

Theo dõi tiến trình dân chủ trong hai năm qua, nguời ta có lý do để yên tâm, vì những nhân vật liên hệ – các tướng lãnh cầm quyền và bà Aung San Suu Kyi – đều trải qua một qúa trình đấu tranh dai dẳng cho đến khi nhận ra rằng quốc gia đang bị một thế lực khổng lồ bên cạnh khống chế  (chứ không phải là các đế quốc Tây phương),  họ đã tìm cách làm hòa với nhau để cứu nước.

Quá trình tranh chấp quyền lực tại Myanmar  khởi đầu từ năm 1990 sau khi LMQG/DC thắng lớn chiếm 80% ghế quốc hội trong một cuộc bầu cử toàn quốc, nhưng không được các tướng lãnh trong Hội đồng Lãnh đạo công nhận. Bà Suu Kyi bị quản thúc tại gia nhiều lần – khi bắt khi thả – dai dẳng trong gần 20 năm. Cho đến cuối năm 2010 bà được tân tổng thống Thein Sein, một tướng lãnh hồi hưu trả tự do.  Bà dùng uy tín cá nhân vận động thế giới Tây phương giải tỏa dần sự bao vây kinh tế và chính trị đối với Myanmar. Đổi lại tổng thống Thein Sein thả tù nhân chính trị, nới lỏng sự tự do ngôn luận và cho phép các đảng chính trị, trong đó có LMQG/DC của bà Aung San Suu Kyi hoạt động. 

Đắc cử dân biểu, từ nay bà Aung San Suu Kyi và LMQG/DC có tiếng nói tại quốc hội. Và tiếng nói của bà là tiếng nói uy tín được chính quyền và nhân dân lắng nghe, và quốc tế theo dõi. Tuy nhiên sức mạnh nghị trường, nếu có, sẽ do ảnh hưởng cá nhân của bà hơn là sức mạnh của lá phiếu. Với 43 ghế dân biểu LMQG/DC chiếm 6.7% trong hơn 664 ghế trong cả hai viện quốc hội. Theo Hiến pháp Hội đồng Quân nhân Quốc Phòng (Commander-in-Chief of Burma’s Defence Services) đề cử 25% đại biểu (166 người) trong giới quân nhân tại chức hay đã nghỉ hưu. Số 68.3% còn lại  đều là đảng viên của đảng Đoàn kết Xây Dựng (ĐKXD – Union Solidarity and Development Party -USDP), đắc cử từ cuộc bầu cử do các tướng lãnh đạo diễn năm 2010.  LMQG/DC đã tẩy chay cuộc bầu cử này.

Tuy nhiên thế chính trị giữa các tướng lãnh và LMQG/DC có thể thay đổi một cách căn bản trong cuộc bầu cử toàn quốc năm 2015 tới. Với sự ủng hộ của dân chúng như trong cuộc bầu cử vừa qua, LMQG/DC sẽ thắng dễ dàng và có thể chiếm hầu hết trong số 75 % ghế trong hai viện quốc hội.

Với đa số đó LMQG/DC có thể kiểm soát nghị trình quốc hội và làm lu mờ thế của Hội đồng Quân nhân Quốc Phòng. Theo Hiến pháp 2008 bà Aung San Suu Kyi không đủ điều kiện để ứng cử tổng thống (Hiến pháp đòi hỏi chồng/vợ và con cái không được mang quốc tịch nước ngoài trong khi chồng và các con bà đều có quốc tịch Anh). Nhưng LMQG/DC  có đủ phiếu để bầu một ứng viên khác của Liên Minh làm tổng thống.

Các tướng lãnh và đảng ĐKXD có chịu nhường quyền hành một cách dễ dàng như vậy không? Câu hỏi là một vấn nạn lớn của Myanmar trong thời gian tới. Vấn đề ổn định chính trị của Myanmar sẽ tùy thuộc vào sự khéo léo và tế nhị của bà Aung San Suu Kyi và thái độ của các nước Tây Phương. Tại trụ sở của LMQG/DC trong đêm chiến thắng 1/4 bà nói với đảng viên và dân chúng nhu cầu của tự chế.

Âu châu và Hoa Kỳ cũng cần thận trọng vì nắm trong tay chìa khóa của cấm vận. Trong hai lĩnh vực kinh tế và quốc phòng cần ưu tiên giải tỏa kinh tế để đời sống của nhân dân Myanmar sau nhiều thập niên thiếu thốn được cải thiện nhanh chóng. Phần quân sự đi sau sẽ làm cho các tướng lãnh bị ràng buộc đôi chút đồng thời không làm cho Trung quốc lo ngại. Sự đóng góp ảnh hưởng của bà Aung San Suu Kyi đối với chương trình giải tỏa cấm vận cũng cần được bà Suu Kyi cân nhắc kỹ lưỡng.

Nhìn con đường tiến tới dân chủ trước mắt của Myanmar qua hai nhân vật: tướng Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi chúng ta có quyền hy vọng mặc dù vẫn chưa cất bỏ hoàn toàn được sự lo âu…(www.tranbinhnam.com)

Trần Bình Nam

Burma- perestroika or ploy?

Miến Điện đang Đổi Mới

Giữa một loạt các phát triển kỳ lạ có (còn tiếp)

Amongst a strange combination of developments there is one question on the minds of all Burma watchers and activists right now: what is the regime up to?

Aung San Suu Kyi Thein SeinOn the one hand is a seemingly historic shift: Aung San Suu Kyi, released last year, has held an unprecedented face-to-face meeting with President Thein Sein; she has stated that she is happy with the outcome and a senior official has reportedly surmised that “we see her as a potential partner, not an adversary.”  Meanwhile, bans have been lifted on websites such as BBC Burmese, Radio Free Asia and Democratic Voice of Burma; exiles have been promised leniency and invited to return home; and the military-controlled parliament has passed a motion calling for a mass release of political prisoners.

Yet at the same time journalists are being locked up and media outlets shut down, political prisoners are being denied adequate medical treatment; and brutal attacks against ethnic minority villages, most likely amounting to Crimes Against Humanity, are continuing unabated.

We could of course, be witnessing something a slow transformation from a low base.  Indeed, democracy campaigners would be unwise to write off the apparent progress in some areas because of a failure to move on on in others.  There are certainly changes to be welcomed and it should always be borne in mind that any transition will never occur overnight.  The regime, following revolution in 2007 and huge international pressure in the wake of Cyclone Nargis in 2008, recognising that Aung San Suu Kyi remains enormously popular and watching dictators across the Arab World topple, may have genuinely decided that the time has come for gradual liberalisation.

Equally, it would be naive to view developments without scepticism and appreciation that we could instead be witnessing a cynical government ploy rather than a Burmese perestroika.  There is just too much that does not add up: why would a liberalising government launch fresh attacks on ethnic minority groups?  Why would a government seeking to engage Aung San Suu Kyi, ruthlessly evict patients from an HIV/AIDS hospital in response to her visit there? Why would a political elite with their eyes on transition go to such pains to rig an election?  And why, if they were easing up on political prisoners, would they carry out a sham amnesty, branded a ‘sick joke’ by human rights organisations?

The regime certainly stands to gain from appearing to give ground: it has its sights set on the Chair of ASEAN in 2014 and holds out hope of weakening the international sanctions regime that it currently faces.  There is also the ominous possibility that the apparent relaxation is designed to ‘lure out’ opponents: Reporters Without Borders noted surveillance in internet cafes was upped just before opposition sites were unblocked, whilst the call for exiles to return would leave them vulnerable to re-arrest or worse.  It would not be the first time that a dictatorship has apparently relaxed its stance, only to crack down hard on those taking advantage of political breathing space.

The third possibility is that this is neither Naypyidawan opening up nor a calculated scheme but simply the latest in the regime’s long line of bizarre and irrational moves.  General Then Shwe, who held power since 1992 and still pulls the strings behind the nominally civilian government, constructed a new capital city in the jungle surrounded by stone statues of worrier gods, apparently at the advice of fortune tellers or out of a paranoid fear that the USA would invade.  His government transferred Suu Kyi from house arrest to Insein Jail-one of the most notorious in the world, just eighteen months before going on to release her from detention altogether.  And they recklessly jeopardised relations with China, their patron and one of their only allies, by launching a sudden attack on the Kokang region and driving ten thousand refugees across the Chinese border.

These are not the acts of rational men, but rather of eccentric and somewhat unstable tyrants.  It is perfectly conceivable therefore, that this latest round of apparent liberalisation may not fit into any kind of structured plan at all but simply be a continuation of the kind of political idiocy Burma has suffered under for decades.

Nevertheless, whatever the rationale (or lack of) behind these moves, Aung San Suu Kyi and the democracy movement will soon face a tough choice:

They could continue with dialogue and risk legitimising or easing the lot of a regime that may go on persecuting the Burmese people.

Or they could demand the release of all political prisoners and an end to attacks on ethnic minorities as a pre-requisite to talks continuing; but in doing so risk jeopardising, perhaps permanently, any chance of further conversation.

All the while, the duty of activists around the world should be to follow democracy campaigner Ben Roger’s advice of ‘work and see’ not ‘wait and see’.  With so little certainty and so much at stake we must do what we can for the Burmese people right now: by financially and practically supporting the democracy movement, protecting refugees and encouraging international pressure against the regime. 

This could be a historic time – it is up to campaigners inside and outside Burma to make it historic for all the right reasons.

Suu Kyi

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

Chỉ có chế độ dân chủ là ổn định

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Ngô Nhân Dụng

Miến Ðiện được dư luận người Việt chú ý vì ở gần nước Việt Nam. Vì vậy, chúng ta đang chia mừng với 60 triệu dân Miến Ðiện, khi thấy chính quyền quân phiệt có vẻ thành thật muốn nước họ được sống trong tự do dân chủ. Nếu tình trạng này tiếp tục, trong ba, bốn năm nữa, quyền hành sẽ được chuyển giao cho một chính phủ do dân Miến Ðiện bầu lên.

Nhưng có một quốc gia khác ở tận Phi Châu cũng rất đáng quan sát và đáng khen ngợi, không thua gì Miến Ðiện. Ðó là Sénégal, một cựu thuộc địa của Pháp với 13 triệu dân, nằm bên bờ Ðại Tây Dương. Ðiều đáng khen ngợi ở Sénégal là họ vừa thực hiện một cuộc chuyển giao quyền hành trong hòa bình, nhiều người ở bên ngoài phải kinh ngạc. Trước khi dân Sénégal bỏ phiếu ngày 25 Tháng Hai, nhiều tòa đại sứ Tây phương đã khuyên kiều dân của họ hãy tạm rời xứ này, đi đâu thì đi chớ không nên ở lại. Họ tiên đoán sẽ có hỗn loạn sau cuộc bỏ phiếu. Ông tổng thống cũ thế nào cũng đắc cử vì ông rất nhiều thủ đoạn. Ứng cử viên đối lập chắc chắn sẽ tố cáo gian lận. Hai phe sẽ đổ ra đường đánh nhau, giết nhau. Có hỗn loạn thì có cướp bóc. Dân Sénégal cũng lo. Họ đã được người Pháp trao trả độc lập từ 1960. Ông tổng thống đầu tiên Léopold Senghor nổi tiếng là một thi sĩ viết tiếng Pháp, đã tạo được truyền thống tương đối dân chủ khi sau 20 năm ông tự rút lui khỏi cái ghế tổng thống, về hưu thật sự để làm thơ!

Nhưng kết quả khiến nhiều người kinh ngạc. Cựu Tổng Thống Abdoulaye Wade quả nhiên có tham quyền cố vị thật. Ông đã làm hai nhiệm kỳ rồi, đáng lẽ theo Hiến Pháp không được ứng cử nữa. Năm ngoái Quốc Hội bù nhìn của ông tu chính Hiến Pháp, cho phép ông tranh cử thêm. Ông Putin sửa Hiến Pháp Nga để kéo dài nhiệm kỳ, ông Abdoulaye Wade đâu kém gì? Ðiều ông Abdoulaye Wade không ngờ là dân chúng Sénégal đã chán chế độ tham nhũng, bất lực của ông quá rồi. Ông chỉ được 34% số phiếu trong vòng đầu, đến vòng thứ hai thì thua đối thủ, Macky Sall, một cựu thủ tướng. Ông Wade sau cùng đã hành động một cách đáng khen ngợi, ông công nhận mình đã bị dân cách chức! Ông muốn đóng vai một chính khách về hưu còn đầy đủ tư cách, hơn là một bạo chúa tham lam ngu ngốc.

Chuyển giao quyền hành là một cuộc trắc nhiệm cho tính chất ổn định của một chế độ. Nó cũng là một thử thách cho sự trưởng thành của một quốc gia. Nước Sénégal mới vượt qua được thử thách quan trọng đó; ít nhất trong năm 2012 này. Nước Miến Ðiện cũng mới vừa đi qua cuộc thử thách khác. Người dân Miến Ðiện đã dám bỏ phiếu theo lựa chọn của họ, không sợ hãi. Những người cầm quyền ở Miến Ðiện cũng đáng khen, không khác gì cựu Tổng Thống Wade ở Senegal. Họ chấp nhận kết quả phản ảnh ý nguyện của người dân.

Năm nay, bên Trung Quốc cũng sẽ diễn ra một cuộc chuyển giao quyền hành. Không phải dân chúng chọn một lớp lãnh đạo mới, vì dân Trung Hoa chưa có quyền đó. Họ sẽ phải chờ Ðại hội thứ 18 của đảng Cộng Sản Trung Quốc chọn lựa, rồi toàn dân sẽ được vỗ tay hoan hô. Cộng Sản Trung Quốc muốn tập trung quyền hành trong tay đảng của họ, lấy lý do là làm như vậy để bảo đảm sự ổn định, không để xáo trộn chính trị làm cho kinh tế chậm phát triển. Nhiều người Trung Quốc đã lên tiếng bác bỏ lý luận đó, họ đều bị bịt miệng hết.

Nhưng thật sự nền chính trị ở Trung Quốc có ổn định hay không? Qua những tin tức được lọt ra ngoài, dù đảng Cộng Sản đã kiểm soát chặt chẽ, thì không thể nói là có ổn định. Mọi người đều biết trong kỳ đại hội tới, Cộng Sản Trung Quốc sẽ chọn ông Tập Cận Bình làm chủ tịch đảng, chủ tịch nước thế chỗ Hồ Cẩm Ðào; còn ông Lý Khắc Cường sẽ lên ghế thủ tướng thay Ôn Gia Bảo. Nhưng guồng máy quyền lực ở Trung Quốc còn rất nhiều ghế mà người ta đã và đang giành giật. Nhưng ai theo dõi tin tức đều biết, trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc đang diễn ra một cuộc đấu đá giữa hai phe, bên ngoài coi bộ êm đềm nhưng bên trong không biết những cơn sóng ngầm nào sẽ bất ngờ nổi lên từ nay cho đến cuối năm. Phe thứ nhất là những “vương tôn” vào hùa với nhau vì là con cháu của những lãnh tụ đảng thời trước; họ được cựu Chủ Tịch Giang Trạch Dân và nhóm lãnh tụ Thượng Hải hỗ trợ; họ chú trọng đến việc bảo vệ các quyền lợi với các khẩu hiệu tả phái mị dân. Phe thứ hai thường gọi là “Ðoàn Phái” vì từng tập trung trong Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản thời Hồ Cẩm Ðào cầm đầu, có khuynh hướng muốn cải cách nhanh hơn. Họ giành nhau ngồi vào những chiếc ghế trong Thường Vụ Bộ Chính Trị; trong Ban Bí Thư, trong Quân Ủy Trung Ương, vân vân.

Chúng ta đã chứng kiến cảnh một lãnh tụ phe Vương Tôn là Bạc Nhất Ba, bí thư Trùng Khánh bất ngờ mất chức. Sau đó, có tin đồn trên Internet là xe tăng kéo ra đường phố Bắc Kinh để ngăn đảo chính. Tin đảo chính bị bác bỏ, nhưng cuộc đấu lại diễn ra trên các mạng Internet. Ngay sau khi họ Bạc thất thế, một mạng tả khuynh ở Trung Quốc gọi là Utopia đã viết rất nhiều bài bênh vực ông ta (http://www.wyzxsxcom). Trên mạng này, họ tố cáo Ôn Gia Bảo vận động hạ bệ Bạc Nhất Ba theo chỉ thị của Mỹ quốc! Mạng này còn nhận định: Nếu cuộc tranh chấp quyền lực không khéo giải quyết thì “Ðảng Cộng Sản Trung Quốc có thể sẽ tách làm hai!”

Ngày hôm qua, mạng Utopia bị công an mạng ra lệnh đóng cửa trong một tháng. Lý do được đưa ra là Utopia đã nói xấu giới lãnh đạo, dèm pha đại hội đảng thứ 18 sắp tới. Người quản đốc mạng là Phạm Cảnh Cương (Fan Jinggang), hỏi bằng cớ thì công an mạng không đưa bằng cớ nào cả. Nhà nước muốn đóng là đóng, không được thắc mắc.

Nhưng cuộc tranh chấp giữa hai nhóm Ðoàn Phái và Vương Tôn không phải do vấn đề chủ trương, chính sách khác nhau. Thực chất là họ tranh giành quyền hành và lợi lộc do quyền hành đem lại. Bạc Nhất Ba tuy tự quảng cáo các chiến dịch chống băng đảng tham nhũng, và hô hào trở lại các khẩu hiệu và bài hát thời Mao Trạch Ðông làm một “Mô hình Trùng Khánh,” nhưng trong thực tế lại cầm đầu một mạng lưới tham nhũng khổng lồ. Những tin tức mới được tiết lộ sau khi Bạc mất chức cho thấy bà vợ của ông ta là Cốc Khai Lai (Gu Kailai). bị nghi ngờ liên can đến cái chết của Neil Heywood, một thương gia người Anh quốc; cái chết ở Trùng Khánh được giải thích là vì uống rượu quá chén, nhưng bị đem thiêu xác ngay.

Viên giám đốc công an Trùng Khánh Vương Lập Quân đã đặt câu hỏi về vụ này với Bạc Nhất Ba, nên bị cất chức. Quân sợ mất mạng, đã xin hẹn gặp lãnh sự Anh ở Trùng Khánh, rồi lại đổi ý, xin tị nạn với tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Thành Ðô, cho nó xa hơn. Hành động đó đưa tới những biến cố dây chuyền khiến Bạc Nhất Ba bị cách chức.

Nhưng phe Ðoàn Phái đã chặt chân tay của họ Bạc từ trước. Một người em vợ Bạc Nhất Ba là Thiếu Tướng Cốc Tuấn San (Gu Junshan) đã bị cất chức và bị bắt vì tội tham nhũng. Cốc Tuấn San từng đứng đầu Cục Hậu Cần, lo về tiếp liệu trong quân đội, một chức vụ tha hồ rút ruột các dự án. Người đã điều tra và truy tố San là Lưu Nguyên, một con trai của Lưu Thiếu Kỳ. Nguyên được Ðặng Tiểu Bình cứu, đưa về học ở Bắc Kinh, sau khi Lưu Thiếu Kỳ bị Mao Trạch Ðông làm nhục đến chết. Năm ngoái Lưu Nguyên (Liu Yuan) mới được Hồ Cẩm Ðào đích thân thăng lên hàng tướng, và đang hy vọng sẽ được vào Quân Ủy Trung Ương trong nhiệm kỳ tới. Việc bắt giam Cốc Tuấn San xẩy ra vài ngày trước khi Bạc Nhất Ba mất chức, là một “công trạng” giúp Lưu Nguyên lên cao hơn.

Khác với những vụ điều tra và truy tố tham nhũng ở các nước dân chủ tự do, các biến cố ở Trung Quốc diễn ra hoàn toàn thầm lặng, theo truyền thống “thâm cung bí sử.” Người dân Trung Quốc chỉ được biết tin tức sau khi một phe đã hoàn toàn chịu thua phe bên kia. Việc thay bậc đổi ngôi trong hàng ngũ lãnh đạo chỉ những lãnh tụ trong đảng biết với nhau mà thôi. Từ khi thành lập nhà nước Cộng Sản Trung Quốc, chỉ có hai lần việc chuyển quyền diễn ra một cách êm thấm, là khi Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào lên. Nhưng cả hai người này đều do một tay của Ðặng Tiểu Bình chỉ đích danh chọn lựa!

Dân Trung Hoa, với dân số đông gấp 100 lần nước Sénégal, vẫn chưa có quyền quyết định chọn người lãnh đạo đất nước họ, như những người dân ở nước Phi Châu nhỏ bé kia. Ðiều khiến những người như Ôn Gia Bảo lo lắng là nếu không dân chủ hóa sớm, thì xã hội Trung Quốc sẽ bất ổn, gây chướng ngại cho việc phát triển kinh tế. Ông Ôn Gia Bảo hô hào cải tổ chính trị, không chắc đã vì ông ta yêu dân chủ tự do. Các nhà độc tài muốn dân chủ hóa, lý do chính là họ cần bảo vệ ngay địa vị và quyền lợi của gia đình, của con cháu họ. Một chế độ với những tranh chấp quyền lực trong hậu trường như ở Bắc Kinh không bảo đảm tương lai, những những kẻ có tiền thấy đầy rủi ro. Bất cứ ai, sau bao năm lo tích lũy của cải, cũng có thể bị mất, như Lưu Thiếu Kỳ, như Giang Thanh, hay Bạc Nhất Ba, Cốc Tuấn San! Chỉ có một xã hội sống trong pháp luật và mọi người bình đẳng trước pháp luật mới bảo đảm được sinh mạng và tài sản cho mọi người.

Ðó cũng là lý do chính khiến chính quyền Miến Ðiện chịu trả tự do cho người dân, chấp nhận các luật chơi dân chủ. Vì chỉ chế độ Dân Chủ mới bảo đảm được đời sống ổn định, cho tất cả mọi người. Trong chế độ dân chủ, quyền hành của cả guồng máy nhà nước, của chính phủ, của công an hay quân đội, luôn luôn bị ràng buộc bởi những hạn chế ghi rõ trong Hiến Pháp, trong luật lệ. Bất cứ ai đóng vai trò lãnh đạo đều phải chịu trách nhiệm, có chức trách (accountability) do vai trò mà họ phụ trách. Nếu thiếu các yếu tố này, xã hội không thể nào ổn định.

Nguồn: báo nguoi-viet.com

nguồn: http://danluan.org/node/12256

Posted in Ở Miến Điện, Dân Chủ và Nhân Quyền, Đổi Mới | Leave a Comment »

NÓI DỐI, Che Dấu Sự Thật, dùng Bạo Lực đàn áp người Dân là… “ĐẠO LÝ” ĐỂ TỒN TẠI!

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Nhạc sĩ Tô Hải năm nay 86 tuổi. Ông là người có  nhận xét rất sắc bén, óc phân tích và tổng hợp còn hơn lứa tuổi 30. Ông vẫn viết blog hàng tuần để chia sẻ những gì mà ông đã và đang sống trong một xã hội ưu việt, “dân chủ gấp triệu lần các nước tư bản” và được “lãnh đạo bởi các đỉnh cao trí tuệ của loài người” (đảng và nhà nước vẫn tự khen ngợi hàng ngày như thế trên các loa phường, để ngất ngưỡng tiếp tục lãnh đạo.  Thế mới tài.)  

“Chống Mỹ cứu nước” là sự dối trá vĩ đại nhất. Hơn 40 năm trước, khi Mỹ đang có mặt ở miền Nam, (cũng giống như Mỹ có mặt và đóng quân ở Tây Đức và Nam Hàn), đảng tuyên truyền “Ta phải đánh quân xâm lược Mỹ và đuổi Mỹ về nước giải phóng Miền Nam khỏi tay Mỹ Ngụy”.

Kết quả, cuộc chiến kéo dài 20 năm, với tổn thất nhân mạng như sau: 5 triệu bộ đội miền Bắc đã chết, 500 000 ngàn lính miền Nam hy sinh trong cuộc chiến và trong các trại tù cải tạo, và 58 000 lính Mỹ chết tại VN. Tính theo tỷ lệ 100/10/1 . Nghĩa là  mỗi 100 bộ đội chết thì có 10 lính VNCH và 1 lính Mỹ chết.

Đánh đuổi Mỹ Ngụy để làm gì mà nay thì muốn: Đẩy Mạnh Hơn nữa Quan Hệ Việt Mỹ,  và  “đánh thắng giặc Mỹ để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa” làm cái gì mà năm 2012 Thủ tướng Ng Tấn Dũng đang cầu khẩn “Thủ tướng đề nghị các thượng nghị sỹ tác động để Chính phủ Mỹ sớm công nhận (VN là) nền kinh tế thị trường và trao đổi (xin được hưởng) quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho Việt Nam” (nguồn) và sợ nước Mỹ quên, nên qua  tận nước Mỹ để nhắc nhở và xin xỏ cho du học sinh qua học… quân xâm lược Mỹ, và xin được giặc Mỹ cho miễn thuế (nguồn)

Sự nói dối của đảng càng ngày càng được dân chúng nhìn thấy rõ hơn kể từ khi có sự phổ biến internet ở VN.  Nhiều blogger đã phân tích và trình bày ra các chứng cớ lịch sử, cho thấy sự tuyền truyền vu khống giả dối, chính sách bạo lực,  và vạch trần sự gian dối trong suốt hơn 80 năm lịch sử hình thành của đảng, và tố cáo các sự kiện gian lận mập mờ mà đảng và chính phủ  đã và đang cấu kết với Trung Quốc từ năm 1951,  làm mất đất đai, biển đảo, cướp đất của nông dân, và thêm vào đó là tổ chức và chỉ đạo cho cấp dưới đàn áp đánh đâp tù đày những ai dám lên tiếng. Khi còn sống, ông Tổng bí thư Trường Chinh có nói:

“Chúng ta đang ở trong tình trạng nói dối phổ biến, nhưng không ai tự nhận mình nói dối cả!”

Nhật ký mở về 1001 kiểu… nói dối!

Nhạc sĩ Tô Hải

Ngày 2 tháng 4/2012

NÓI DỐI! NÓI LÁO KHÔNG NGỪNG “HOÀN THIỆN”

Từ ngàn đời nay, có lẽ trên đất nước Việt Nam này, không có một một gia đình nào, một chế độ nào lại giáo dục cho con em, cho công dân mình đừng có sống trung thực và phải biết… nói dối! giỏi nói dối! nói dối tỉnh bơ! nói dối không biết ngượng! nói dối càng nhiều thành tích càng cao!

Là một chuyên gia… “nói dối có tổ chức, có chỉ đạo” suốt gần 30 năm trời, mình quá rành 1001 kiểu nói dối mà chính bản thân mình và bạn bè mình đã lấy nói dối lem lẻm (by Nguyễn Khải), nói dối “cứ như không” làm nhiệm vụ hàng ngày, ngay cả khi biết mình đang nói dối đồng bào nhưng vẫn cứ phải nói dối vì không nói dối mà nói thật thì… mất miếng cơm, mất chiếc ghế và có khi mất cái mạng như chơi!

Cũng vì thế, khi quyết tâm giã từ nói dối để nói lên sự thật và chỉ có sự thật thì cũng là lúc mình chấp nhận MẤT TẤT CẢ những gì mà do nói dối mà mình ĐƯỢC, chấp nhận tất cả những sự chụp mũ, lên án, vu cáo… kể cả chấp nhận việc đi tù vì TỘI VẠCH TRẦN SỰ NÓI DỐI BẰNG SỰ THẬT!

Mình cũng có nhiều thời giờ để suy nghĩ về cả nửa thế kỷ sống chung với nói dối, để “ngửi” thấy ngay sự nói dối dù chỉ ở một từ, một cụm từ thậm chí một tính từ, trạng từ “mới lạ”, nó báo hiệu cho một loạt sự nói dối mới sẽ ra đời mà các học viện báo chí còn phải bổ sung để giảng dạy cho sinh viên… mệt nghỉ!

Chính mình cũng có lúc nuôi hoài bão làm một cái “luận án về sự nói dối” để lại cho đời sau, một “hệ thống lý luận” về sự “nói dối có tổ chức” độc nhất vô nhị trên thế giới này! Nhưng… xét thấy khả năng hạn chế và nghĩ ra thì… muộn quá mất rồi! Quỹ thời gian và sức khỏe không cho phép nữa!…

Nói đùa cho vui ư? – Không!

Này nhé:

Chỉ riêng hai cái chữ NÓI DỐI ở xứ ta nó muôn hình muôn vẻ: Nói dối mới đầu được hiểu rất nhẹ nhàng. Mới đầu, đó chỉ là: “Không nói thật” hoặc “Biết sự thật mà không nói” hoặc nói “sai sự thật”!….

Đôi khi Nói Dối cũng có cái “đáng yêu” của nó! Ví dụ “Nói dối để người thân được yên lòng” như trường hợp bác sĩ đã cho biết chồng mình ung thư giai đoạn cuối nhưng bà vợ vẫn cắn răng nói với chồng: ”Không sao đâu! anh sẽ khỏe lại mà!”.

Nhưng cũng chính từ cái quan niệm “dễ thương” đầy tính nhân văn này mà nói dối đã phát triển tới mức trở thành “nghệ thuật”, thành “nguyên tắc”, thành “đường lối”, “chính sách”, “nghị quyết”… cần chấp hành để “tuyên truyền”, “giáo dục tư tưởng” cho toàn dân!

Nó xuất phát từ cái đường lối cơ bản: CÁI GÌ CÓ LỢI CHO CÁCH MẠNG THÌ LÀM, bất kể là nói dối, nói láo, nói phét, nói đại, nói lấy được… đến mức nào cũng không hề là sai trái!

– Mình cứ nghĩ đến cái thời phải chứng kiến thảm họa cải cách ruộng đất chấn chỉnh tổ chức mà… xấu hổ cho cái thân thằng văn nghệ sĩ gọi là “cách mạng” ở xứ Bắc Kỳ! Hàng ngày bao nhiêu đồng bào, đồng đội và cả gia đình vợ mình bị đấu tố láo, bị treo lên cây, bị đánh, bị chôn sống, bị bắn ngay tại chỗ ngay trước mắt mình! Ấy vậy mà, sau khi có chủ trương vận động sáng tác, anh nào anh ấy cũng cố “rặn” cho ra một bài thơ, một bản nhạc thậm chí cả một cuốn tiểu thuyết để ca ngợi cuộc “cách mạng long trời lở đất” đáng nguyền rủa đó! (để khỏi bị coi là không có lập trường giai cấp và có thể bị lôi ra đấu tố bất cứ lúc nào).

– Mình cũng nghĩ đến cái thời “xây dựng xã hội chủ nghĩa, chiếu cố miền Nam” hàng vạn bài báo, tác phẩm gọi là “văn học nghệ thuật” đã tham gia vào cuộc “đại nói dối” về tính ưu việt của những phong trào “Sóng duyên Hải”, ”Gió Đại Phong”, “Cờ ba nhất”! Ngợi ca về “tính hơn hẳn” khi “người cầy có ruộng”. Chẳng quá một năm thì việc tước đi quyền “Người cầy có ruộng” để mang luôn cả trâu bò vào Hợp Tác Xã, cùng với chủ làm ăn tập thể, ăn công chấm điểm cũng lại là một lần hơn hẳn nữa của việc tập thể hóa!

-Và Cuộc “Nói Dối Vĩ Đại” nhất là cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam khỏi tay Đế Quốc Mỹ Xâm Lược!

Sự Thật đã bị đánh tráo quá trắng trợn! Hàng triệu con người đã mất xác đến nay đa số vẫn chưa thể tìm ra, hàng vạn thương phế binh của cả hai miền, hàng triệu gia đình mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha chỉ vì… “ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” (lời Lê Duẩn)…

Cuộc nhuộm đỏ miền Nam đã được công khai tuyên bố khi người ta đổi tên nước là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và đàng hoàng đổi tên Đảng Lao Động thành Đảng Cộng Sản Việt Nam! Đó là Lần nói thật đầu tiên nhưng ngắn ngủi vì phải… tiếp tục nói dối, nói dối nữa, nói dối mãi vi… không có cách nào khác để tồn tại…

– Sau “Đổi Mới” (như cũ) mà ông Đỗ Mười kể công là “Nhờ có Đảng nên mới có Đổi Mới” thì cái chính sách “ăn có nói không” (một biến tướng của nói dối) càng ngày càng phát triển! Xuất phát từ cái đường lối đầy mâu thuẫn “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nói dối trở thành liều thuốc duy nhất xoa dầu, tô vẽ cho con quái vật kinh tế-chính trị chưa từng có trong lịch sử loài người này…

Ngày 3 tháng 4/2012

KHI NÓI DỐI TRỞ THÀNH… “ĐẠO LÝ” ĐỂ TỒN TẠI!

Ở cái xứ này, khi những đứa trẻ lên năm, bắt đầu biết suy nghĩ là chúng đã được tiếp xúc ngay với… nói dối! Người ta dạy cho nó ở ngay những bài hát mẫu giáo rằng thì là: “Nhân dân ta có Đảng cuộc đời nở hoa”, rằng “Bưng bát cơm đầy nhờ có công ơn Đảng ta”…

Lớn lên chút nữa thì: “Đảng đã cho ta một mùa xuân”, “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”.

Còn nếu chúng có thắc mắc tại sao cha, anh, chú cùng đi B cả mấy năm trời mà báo, đài vẫn tuyên bố “Không có chuyện quân đội miền Bắc xâm nhập miền Nam” và “đây là điều vu cáo trắng trợn” thì… thầy, cô, mẹ, chị chúng chỉ còn biết giải thích: “Đây là chủ trương của Đảng và Nhà Nước”… Còn về chuyện tại sao đánh nhau mà quân ta không thấy có ai chết, cứ đã đi là thắng, trăm trận trăm thắng”? thì… chẳng còn cách nào giải thích khác hơn là: “nói dối để chiến thắng kẻ thù, nói dối để có lợi cho cách mạng!”…

Và cứ thế, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, trẻ em, người lớn cứ sống chung với chuyện nói không thành có, nói có thành không…”Đói khổ, thiếu thốn là do Đế Quốc Mỹ”, “hạt bắp, củ mì bổ hơn gạo”, “con nhộng bổ hơn thịt bò”… dần dần đã trở thành nếp sống, nếp suy nghĩ, lẽ sống thậm chí phương tiện sống của không ít người. Điển hình nhất là những “kỹ sư tâm hồn”, càng sáng tác ra nhiều tác phẩm “nói dối như thật” càng mau tiến tới đỉnh vinh quang của địa vị và tiền bạc! Chẳng thế mà Nguyễn Khải đã để lại một tùy bút chính trị “Đi tìm cái tôi đã mất” vang dội khắp thế giới; mà Chế Lan Viên đã có bài thơ “Tôi? Ai?” thú thật về cái tội “luôn động viên xung phong” khi gặp anh chiến sĩ sống sót ngồi bán nước bên đường nuôi con nhỏ”… trong số năm mươi người còn sót lại trong 3.000 người xuống núi” năm nào?

Cũng thật là buồn, là nhục… khi tới hôm nay, một số kẻ vẫn ôm lấy cái số tác phẩm nói dối hoành tráng cực kỳ mà chăng ai còn thèm đọc, thèm dùng đó để kể công kiếm chút ân huệ cuối cùng, mặc dầu đã biết là giải thưởng này nọ chỉ là cái “bia mộ sang trọng cắm lên một cuộc đời văn học nghệ thuật đã kết thúc!” (Nguyễn Khải)

Còn những Lưu Hữu Phước phải đổi tên thành Huỳnh Minh Siêng, Hoàng Việt thành Lê Trực, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi, Bùi Đức Ái thành Anh Đức… những Đài Phát Thanh Giải Phóng, Xưởng Phim Giải Phóng, Nhà xuất bản Giải Phóng với những cái tên Nguyễn Thơ, Y Na, Hương Lan, Lưu Nguyễn-Long Hưng (và cả mình với cái tên Tô Sơn Hà khi viết phim “Đường 9 Nam Lào”)… và nhiều nhiều nữa những cơ quan, những tên tuổi “đội lốt” cứ sống với dối trá như hít thở không khí vậy!

Làm sao mà con em, mà nhân dân không bị lây nhiễm cái không khí dối trá, khắp nơi, nói dối, nói láo là lẽ sống, là phương tiện sống của mấy thế hệ con người…

Ngày 4/4/2012

Tối qua, ghi vào sổ tay những “biến tấu” của nói dối mấy chục năm qua để gõ nốt mấy trang nhật ký tiếp nối thì thấy: Quá phức tạp và quá sức tiếp tục nếu mỗi “biến tấu” chỉ cần giải thích độ một vài dòng.

Này nhé: NÓI DỐI khác NÓI LÁO ở chỗ nào? NÓI LÁO khác NÓI BẬY ở chỗ nào? Còn NÓI PHÉT? NÓI CỨNG? NÓI LĂNG NHĂNG? NÓI NƯỚC ĐÔI? NÓI TẦM PHÀO? NÓI LEO? NÓI LÈO, NÓI LƯƠN LẸO? NÓI ẤP ÚNG? NÓI LOANH QUANH? NÓI LẤP LỬNG, NÓI XA- NÓI GẦN, NÓI ÚP MỞ, NÓI LẤY ĐƯỢC, NÓI DỰNG ĐỨNG, NÓI TRẮNG TRỢN,… và càng đào sâu càng tìm thấy nhiều nhiều kiểu TRỐN TRÁNH SỰ THẬT bằng muôn vàn cách nói dối để cuối cùng đành tạm dừng ở cách nói dối cuối cùng khi muốn che giấu SỰ THẬT là:… CHẲNG NÓI GÌ! hoặc CẤM NÓI khi mạng thông tin toàn cầu Internet đang phát triển tới mức chỉ trong 1/10 giây một SỰ THẬT THẬT đã được thông báo đến tận từng nhà, từng người!

Vì vậy, những cơ quan chuyên sản xuất ra các “đường lối, phương pháp nói dối” càng ngày càng phải nghĩ ra nhiều thứ lý luận nói dối hiện đại hơn thức thời hơn…

Ngày 6 tháng 4 năm 2012

CHƠI TRÒ CHỮ NGHĨA ĐỂ GIẤU SỰ THẬT?

Nếu tinh ý, người đọc sẽ thấy: Sau Hội Nghị Chấn chỉnh ở Quảng Ninh, báo chí, Đài, Tivi bắt đầu chuyển giọng điệu khá nhanh chóng và rõ rệt. Một số từ, cụm từ mới, rõ ràng đã được mang ra sử dụng sau khi có chỉ thị của các “Anh trên” là “không được thông tin một chiều (?) là thiếu khách quan, là phải dựa vào nguồn tin chính thống”… thì ngay sau đó báo in và báo mạng lề Đảng có những cái tít “lạ” tỏ vẻ “khách quan” hơn trước mọi thông tin “không hay ho” lắm cho uy tín của các tổ chức, cá nhân do Đảng- Nhà Nước lập cơ cấu nên!

Ví dụ:

– “EVN chưa báo cáo nên chưa thể khẳng định”, trả lời có tính chất “nói lại cho rõ” về các bài báo vạch ra “EVN lỗ giả, lãi thật”

– Tập đoàn Sông Đà “sai phạm” hơn 10.000 tỉ đồng! Sai phạm? Sai phạm là cái quái gì??? Là Biển thủ? Ăn Cắp? Thất thoát? Lãng Phí?…. tất cả đang còn bỏ ngỏ chờ luồng thông tin chính thống!

– Lãnh đạo xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) tiếp tục công tác ở vị trí cũ!? Riêng quan huyện Hiền thì về Tỉnh làm… chuyên viên (?) (thông cáo báo chí của UBND TP Hải phòng). Về việc “thực hiện kết luận của Thủ Tướng” Về vụ án phá nhà anh Vươn thì… một từ “lạ” mới được sáng tạo: cái nhà của anh Vươn, từ lúc bị hạ bậc thành cái “chòi” bây giờ lại trở thành cái “nhà trông đầm” chứ không phải là nhà để ở, bằng chứng đưa ra là: anh Vươn không có hộ khẩu ở nơi anh khai thác! Đã thế lại còn khai thác quá diện tích, trốn thuế, phá rừng…! Mọi phản ứng lại với cuộc họp báo này không có một chữ như trước Hội Nghị Quảng Ninh!!!

– Về vụ rò rỉ đập Sông Tranh 2, ông Thứ trưởng bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng tuyên bố hùng hồn trước báo chí: “Khẳng định đập Sông Tranh 2 vẫn an toàn, ổn định” và…..” Chắc chắn không xảy ra sự cố nào làm nguy hại đến tài sản và tính mạng của nhân dân”… Và cứng cựa hơn: “Chúng tôi chịu trách nhiệm về lời tuyên bố này!!!” Luồng “thông tin chính thống” như thế thì sức mấy mà báo chí, sau chuyến chấn chỉnh ở Quảng Ninh, dám đăng những bài như bài của tiến sĩ Tô văn Trường, và một loạt bài của các chuyên gia trong và ngoài nước khác yêu cầu tháo nước để sửa chữa tận gốc!

– “Phong bì” – Vấn nạn của doanh nghiệp (thay cho chữ Hối Lộ”!)

– Nhiều “sai phạm” trong quản lý đất đai ở Sóc Trăng… nhưng chỉ có bốn cơ quan và 5 cá nhân không được phép nêu tên được…. đề nghị kiểm điểm!

– “Thanh tra tập đoàn dầu khí-Xử lý tài chính trên 18.200 tỉ đồng” (?!) Xử lý tài chính là cái trò gì? Thu hồi? Bắt đền? hay Phân phối lại? mười tám ngàn hai trăm tỷ (18.200.000.0000) VND của dân mà viết cứ ỡm ờ như xử lý qua quít vài cân thịt siêu nạc bắt quả tang ở Đồng Nai?!

– Và gần đây nhất: Tất cả mọi phương tiện truyền thông đều đồng loạt… IM LẶNG trước việc đồng chí Xăm-Béc thủ tướng Hun Xen, chủ tịch Hội Nghị cấp cao ASEAN đã cho VN ăn “quả đắng” hoặc bị trúng gió Tàu (mà báo chí thế giới đã nói thẳng (do áp lực của Hồ Cẩm Đào và món quà hơn 1 Tỷ Đô-la nhận được trong cuộc viếng thăm “có ý đồ” trước ngày khai mạc Hội Nghị Cấp Cao ASEAN đúng 3 ngày) bằng hành động GẠT PHẮT việc thảo luận về hành động ngang ngược ở Biển Đông của TQ ra khỏi chương trình nghị sự (!), thậm chí có báo nước ngoài còn cho là “Trung Quốc đã thành công trong việc tách bó đũa ra từng chiếc” hoặc “Khối ASEAN đã bị chia rẽ trong vấn đề Biển Đông”… v.v… thì “Tiếng Nói của Ta” là…” IM BẶT”! Hoặc đưa tin chung chung, trừ việc lần này không có câu “Hội Nghị đã thành công tốt đẹp” như thường lệ! (Đọc “Asia Bloc Slit on Disputers with China” trên Asia News của Wall Street Journal ngày 4/4/2012 ở đây)!

DOC vẫn là DOC, COC không thể ra đời do Kampuchia không tán thành nếu ASEAN thảo luận một mình COC không có Trung Quốc!

Thông tin “khách quan”, “không cảm tính”, “không một chiều” “theo hướng chủ đạo chính thống” là thế đấy!

Gọi tên cho đúng những hiện tượng trốn tránh Sự Thật mới lạ này là gì? Xin nhường cho mọi người! Mình quá mệt mỏi rồi!

Nguồn Danluan.org

*1. Tôn Thất Khanh (khách viếng thăm) gửi lúc 08:12, 08/04/2012 – mã số 55809

Có nhà sử học nước ngòai đã tổng kết về Đảng CS VN như sau: Ra đời trong nghèo khó, trưởng thành trong đấu tranh, TỒN TẠI TRONG LỪA DỐI VÀ BẠO LỰC, chết đi trong ngu dốt và bất lực.

CNCS ở đâu cũng dối trá bịp bợm, giả dối, tàn ác dã man và ngu dốt. Bản thân những người CS cũng biết như vậy, nhưng họ không tự rèn luyện, không tự cải tạo mình, mà họ cho đó là sách lược, đường lối để tồn tại, khi họ nói dối thì họ lại KẾT TỘI NGƯỜI NÓI THẬT, vì NÓI RA SỰ THẬT TỨC LÀ TỐ CÁO TỘI ÁC VÀ XẤU XA CỦA CS.

Mặt khác nói lên nửa sự thật cùng là nói dối, có người đã viết ăn nửa cái bánh mì là ăn bánh mì, hút nửa điếu thuốc là hút thuốc, nhưng nói nửa sự thật là nói dối, ví dụ này thì dễ hiểu: Trên khán đài sân bóng đá, rất vắng người xem, chỉ có khỏang 100 người xem ngồi tụ tập một chỗ, nếu chĩa ống kính vào chỗ tập trung 100 người xem thì tưởng khán giả xem đông lắm.

NHiều trận đánh, quân ta chết như rạ, nhưng (trong sử ký viết cho học sinh cấp 1, cấp 2, cấp 3 học) không nói (số thương vong của bộ đội) mà chỉ nói địch chết.

CS còn có kiểu nói như vẹt, nói mà không hiểu nghĩa mình nói gì và nói quẩn, chứng minh ngay: “Ta độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo”, “Ta theo CN Mác Lê nin và tư tưởng HCM, tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH”, “Ta có nguy cơ chệch hướng”. Có người hỏi: biết ngu cơ chệch hướng, vậy thế nào là đúng hướng? Người nói chịu chết, không biết cách giải thích.

Có một nghịch lý trong cái xã hội CS này là người nói đúng , nói thật thì bị kết tội, có khi bị bỏ tù, còn những kẻ nói dối, nói ngu, nói như vẹt, nói không hiểu mình nói gì thì cứ lên chức, lên lương vù vù.

2.*Thường Dân (khách viếng thăm) gửi lúc 16:29, 08/04/2012 – mã số 55823

Xin đính chính thông tin : “Lưu Hữu Phước phải đổi tên thành Huỳnh Minh Siêng, Hoàng Việt thành Lê Trực”.

1/Huỳnh Minh Siêng là tên ghép bí danh của 3 người: Huỳnh Văn Tiểng (Huỳnh), Mai Văn Bộ (Minh), Lưu Hữu Phước (Liên, sau là Siêng). Nếu bạn nào muốn biết tại sao, xin đăng vào mục trả lời, có thể xem hồi sau sẽ rõ. Nhiều bài trên internet đồng nhất Lưu Hữu Phước với Huỳnh Minh Siêng, chỉ đúng 1/3 thôi.

2/Lê Trực là tên khai sinh, Hoàng Việt là bút danh của nhạc sĩ tài ba này(tác phẩm Tình ca của ông được đánh giá là tình khúc hay nhất VN thế kỷ 20). Có một nhân chứng chắc hơn bắp, nếu cần cứ liên lạc với trường ĐH Sân Khấu – Điện ảnh TP. HCM khắc biết.

——————————————————————————————–

Tôi hoan nghênh một nửa TT Dũng và cực lực phản đối nửa kia !

Bùi Minh Quốc

Một nửa mà tôi hoan nghênh là hình ảnh thủ tướng khi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 07.05.2009 đã nói với đại tướng: “Chính phủ xin tiếp thu ý kiến của đại tướng về dự án bô-xít Tây Nguyên”.

Nửa kia mà tôi cực lực phản đối là hình ảnh thủ tướng trong cuộc tiếp xúc với cử tri Hải Phòng ngày 09.05.2009 lại khẳng định: “đưa ngành công nghiệp khai thác quặng bô-xít trở thành một ngành công nghiệp lớn của đất nước; góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây nguyên”, nghĩa là ngược hẳn với ý kiến đại tướng mà 2 ngày trước thủ tướng vừa trịnh trọng tuyên bố tiếp thu.

Ý kiến của đại tướng là rất rõ ràng và dứt khoát, đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần: không nên khai thác bô-xít Tây Nguyên. Đây là một ý kiến đúng; đúng với các kết luận khoa học, đúng với chủ trương của Đảng trước đại hội 9, đúng với chủ trương “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô” ghi trong báo cáo chính trị của đại hội 9, và bao trùm lên tất cả là đúng với lòng dân, ý dân, chí dân, bày tỏ bước đầu qua hàng ngàn chữ ký đã được gửi đến Quốc hội, chính phủ, và hàng nghìn người đang tiếp tục ký.

“Tiếp thu” nghĩa là chân thành tiếp nhận nhằm thực hiện theo điều đúng, sửa chữa điều sai.

Thấy hiện ra một tình hình ngược nhau giữa ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp – cũng là của đa số đảng viên và nhân dân – với chủ trương của Bộ chính trị.

Chủ trương của Bộ chính trị hiển nhiên là sai, sai từ gốc, rất nghiêm trọng, lại càng trở nên hết sức nghiêm trọng khi hợp tác với Trung Quốc.

Trước đại hội 9, không có chuyện bô-xít, vì, như đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu rõ, sau khi cân nhắc kỹ ý kiến tư vấn của chính phủ Liên Xô (lúc ấy là bạn chí thiết, luôn là nước giúp đỡ lớn nhất cho Việt Nam và đang rất cần nhôm), ta không chủ trương khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.
Tại đại hội 9, chữ “bô-xít” – mà nay đang vang lên nhức nhối hàng ngày hàng giờ trong lòng mỗi người dân Việt – chỉ xuất hiện, có vẻ như thoáng qua, trong báo cáo kinh tế. Còn trong báo cáo chính trị, một văn kiện quan trọng bao trùm, thì ghi rõ “hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Các đại biểu đại hội Đảng lần thứ 9 khi biểu quyết thông qua các văn kiện, liệu có mấy người hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của cái chữ “bô-xit” chìm lẫn giữa hàng loạt tên các tài nguyên khác trong báo cáo kinh tế ? Chắc là không có mấy người.Nhưng Bộ chính trị, ít nhất là các ủy viên chủ chốt trong bộ chính trị thì hiểu.Và 6 tháng sau thì cái ý nghĩa tiềm ẩn ấy bắt đầu bộc lộ khi chữ bô-xít xuất hiện trong thông cáo chung Nông Đức Mạnh – Giang Trạch Dân ngày 03 tháng 12.2001.

Tuy hai nước Việt – Trung đã có quan hệ ngoại giao bình thường, nhưng thế lực bành trướng Bắc kinh vẫn không ngừng xúc tiến chiến lược bao vây, xâm lấn, xâm nhập phá hoại nhiều mặt nhằm kiềm chế, khống chế đi tới thôn tính đất nước ta.Trung Quốc đại lục với Đài Loan tuy xung khắc nhau về chính trị nhưng lại đồng hành trong chủ nghĩa bành trướng (gần đây thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, thiếu tướng Lê Văn Cương, kỹ sư Doãn Mạnh Dũng lại nhấn mạnh và nêu thêm những cảnh báo cập nhật).Bộ chính trị biết rất rõ điều đó, thế thì tại sao tổng bí thư Nông Đức Mạnh lại tự tiện đem một nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng trên một địa bàn chiến lược hiểm yếu vào bậc nhất để hợp tác làm ăn với thế lực ấy ? Khi ký thông cáo chung này, tổng bí thư Nông Đức Mạnh đứng trên lập trường chính trị nào ? Lập trường Tổ Quốc trên hết, quyền dân trên hết, hay lập trường ý thức hệ giai cấp là thống soái, bộ chỉnh trị là cơ quan quyền lực trùm lên đất nước, Quốc hội trong thực chất cũng chỉ là cơ quan thừa hành của Bộ chính trị ?

Sau thông cáo chung nêu trên, việc hợp tác với Trung Quốc khai thác bô-xít Tây Nguyên đã được âm thầm xúc tiến theo qui trình lộn ngược một cách khuất tất, đến khi lộ ra thì mọi người mới giật mình trước tình trạng mà đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc gọi là “việc đã rồi”.Xin mời đọc lại những dòng tâm huyết gửi Bộ chính trị của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ nước ta tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1989: “… mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc – Trung – Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá !”.

Tôi (BMQ) xin nhắc lại: “Nguy hiểm quá!”
Chủ thể gây ra tình hình nguy hiểm ấy là ai ? Là Bộ chính trị.

Cùng với tiếng than sửng sốt của vị tướng lão thành cách mạng 70 tuổi đảng là tiếng cảnh báo gay gắt khẩn thiết của nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà quân sự : đây là thảm họa hủy diệt môi trường thiên nhiên và văn hóa, gây xáo động xã hội, là tạo chỗ đứng chân cho thế lực bành trướng tại mái nhà Việt Nam và Đông Dương.

Theo tôi, Bộ chính trị đã phạm mấy sai lầm hết sức nghiêm trọng như sau :

– Làm ngược lại chủ trương của Đảng trước đại hội 9 và trái với báo cáo chính trị của đại hội 9.
– Xa rời lập trường dân tộc, làm hại cho đất nước, làm lợi cho thế lực bành trướng, vi phạm Hiến pháp, luật pháp, tự cho mình vượt quyền cơ quan quyền lực cao nhất là quốc hội để đem tài nguyên quốc gia đi hợp tác với một đối tượng đang chiếm đóng một phần lãnh thổ nước ta.
– Không chấp hành chủ trương dân biết dân bàn của Đảng, đặt toàn Đảng toàn dân trước một việc đã rồi, giấu diếm nhân dân để làm việc sai trái.

Các việc làm sai trái nêu trên không diễn ra đơn lẻ, tình cờ, mà diễn ra một cách có hệ thống liên quan chặt chẽ với các việc sai trái khác như :

– Dung túng cho tổng cục 2 tiến hành hoạt động phá hoại có hệ thống kéo dài
– Phá hội trường Ba Đình, một di tích lịch sử liên quan đến chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều sự kiện trọng đại của Đảng và Nhà nước (tôi chắc rằng cái ngày mà mảng tường đầu tiên của hội trường Ba Đình vỡ toang dưới những nhát búa choòng trong tay các công nhân Việt Nam thì mấy ông trùm bành trướng ở Bắc kinh rung đùi nâng cốc bảo nhau : Hảo lớ ! Việt Nam lại vừa được ban cho một bài học nữa, nhưng lần này do chính Hà Nội thực hiện tại Ba Đình lịch sử !).
– Mở rộng Hà Nội một cách vô căn cứ.
– Đàn áp những người biểu tình chống giặc bành trướng xâm chiếm Hoàng Sa Trường Sa.Trong lịch sử dân tộc ta, lần đầu tiên có một triều đại tự nhận là yêu nước lại đàn áp người dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước !
– Cấm đoán việc tái bản và xuất bản các công trình nghiên cứu, các tác phẩm văn học nghệ thuật về đề tài chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, về cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát họa diệt chủng, về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, về cuộc chiến chống bành trướng Trung Quốc trên biển Đông…, trong khi đó thì vừa dung túng cho nhà xuất bản Văn Học in trên bìa 4 cuốn “Ma chiến hữu” những lời ca tụng cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lấn nước ta năm 1979 lại vừa đàn áp nhà xuất bản Đà Nẵng, báo Du lịch vì 2 cơ quan này đã mạnh dạn đề cập đến các đề tài nêu trên, đồng thời suốt nhiều năm dài kể cả trong dịp kỷ niệm 30 năm (1979 – 2009) lại không tổ chức tưởng niệm xứng đáng các liệt sĩ đã hy sinh tại các mặt trận ấy.Tất cả những việc làm đó gây hậu quả rõ rệt là làm suy yếu tinh thần chiến đấu của quân đội ta, nhân dân ta, suy yếu nội lực dân tộc.

Bảo rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, vậy mục tiêu dân chủ ghi trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cương lĩnh chính trị từ đại hội Đảng lần thứ 9 không phải là chủ trương lớn ư ? Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn công khai, đó không là chủ trương lớn ư ? Bộ chính trị hầu như không làm gì để thực hiện mà lại luôn hoạt động chống lại các chủ trương lớn ấy, trong khi ngấm ngầm và hối hả lao vào xúc tiến “chủ trương lớn” khai thác bô-xít Tây Nguyên bất chấp bao nhiêu cảnh báo và phản đối.

Còn nhiều vấn đề nghiêm trọng khác nữa, tôi chỉ nêu một số việc nổi cộm nhất.

Tóm lại, theo nhận xét của riêng tôi, các việc làm của Bộ chính trị mà tôi vừa kể chính là hành vi nội xâm, là hành động Lê Chiêu Thống hiện đại núp sau thẻ đỏ ngồi giữa nhà đỏ. Bộ chính trị cần “tự xem lại mình” (cụm từ của ủy viên Bộ chính trị Nguyễn Minh Triết) xem có đúng thế không ? Tôi thấy sự thật đúng là như thế, một sự thật đau lòng chưa từng có trong cuộc đời tôi, mà chắc chắn là cả trong cuộc đời đại đa số đảng viên và toàn thể những người dân Việt đã một lòng theo Đảng.

Trong Bộ chính trị có bao nhiêu phần trăm biểu quyết tán thành các quyết định sai lầm nêu trên ? Bao nhiêu phần trăm không tán thành ? Tôi chưa biết.Nhưng bây giờ thì thấy ít nhất có một nửa thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu thị thái độ muốn nhích chân tách khỏi trách nhiệm về các quyết định sai lầm đó để đến đứng gần hơn với đại tướng Võ Nguyên Giáp, với nhân dân.Nhiều anh em bảo tôi, cái nửa này là giả, cái nửa hiện ra ở Hải Phòng mới là thật, nhưng tôi cứ tạm tin lời phát biểu của thủ tướng với đại tướng Võ Nguyên Giáp hôm 07.05.2009 là thật lòng, vì thủ tướng từng tuyên bố rất hùng hồn: “Tôi ghét nhất sự dối trá” .

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, tác giả của lời phát biểu gây được nhiều chú ý/thiện cảm “tôi thấy cần phải tự xem lại mình” bây giờ đang nghĩ gì? Ông thuộc vào cái phần trăm đa số hay phần trăm thiểu số trong Bộ chính trị?

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thì tỏ rõ một thái độ công chức chỉn chu và lạnh lùng: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Người đứng đầu cơ quan đại diện cho dân được Hiến pháp qui định là cơ quan quyền lực tối cao lại dửng dưng đứng ngoài mối bức xúc nóng bỏng của nhân dân về an ninh quốc phòng mà ông thừa biết đã được nói giùm qua bức thư của lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh: “Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doạ Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”

Còn bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh ?

Không biết giờ đây đại tướng bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh nghĩ gi ? Liệu trong ông còn đập trái tim của người lính Việt Nam ? Trước tình hình nguy hiểm này, ông có thấy cần phải gọi hồn các đồng đội đã bỏ mình ở biên giới Tây Nam, ở Cam-pu-chia, ở biên giới phía Bắc, trên biển Đông, hãy bật mồ đứng dậy hỏi thẳng Bộ chính trị : tại sao mấy chục năm qua lại cấm không cho sách báo nhắc gì đến họ ? Ông ăn nói thế nào đây với các gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân, với các chiến sĩ, sĩ quan đang ngày đêm phơi mình sương gió giữ từng tấc đất tấc biển khi Bộ chính trị âm thầm để cho những binh đội trá hình của Trung Quốc luồn vào cắm ở Tây Nguyên ? Những người lính lấy đâu tinh thần để xông lên diệt giặc khi họ biết rằng nếu họ bỏ mình vì Tổ Quốc thì những người lãnh đạo tối cao cũng sẽ không cho nhắc nhở gì tới sự hy sinh của họ ? Họ làm sao còn đủ ý chí cầm nổi khẩu súng nhằm về phía giặc khi nhận ra thực chất họ đang phải sống thân phận của người canh giữ túi vàng két bạc cho những kẻ đứng trên đầu họ ngoài miệng luôn cao giọng hô to Tổ Quốc nhưng bàn tay ngấm ngầm đưa giặc vào ngự trên sống lưng Tổ Quốc ?

Tóm lại, Bộ chính trị đang tự đặt mình vào vị trí để nhân dân xem xét về tư cách yêu nước. Và Bộ chính trị đang đẩy toàn thể đảng viên vào tình thế nếu giữ tư cách đảng viên thì mất tư cách yêu nước.

Nay mai khi đưa ra thảo luận ở Quốc hội, nếu các đại biểu là đảng viên làm theo chỉ thị của Bộ chính trị phải biểu quyết cho thực hiện dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên (như đã từng làm với vụ phá hội trường Ba Đình và vụ mở rộng Hà Nội) thì nhân dân sẽ coi các đại biểu đó không còn tư cách yêu nước, không còn tư cách đại diện cho dân mà chỉ là cánh tay nối dài của Bộ chính trị.
Lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh nghiêm khắc cảnh tỉnh:

“Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. “Quan nhất thời, dân vạn đại”, “vua cũng nhất thời, dân vạn đại”.

Lâu nay Bộ chính trị luôn hành xử theo cung cách “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” thâu tóm quyền lực độc tôn vào tay mình, lấy quyền lực thay cho lẽ phải, coi thường ý kiến của các lão thành, của giới trí thức và nhân dân, coi thường sức mạnh của lẽ phải.

Nhưng nhân dân và đại đa số đảng viên tuy không còn tin ở Bộ chính trị nữa song không bao giờ mất niềm tin ở sức mạnh của lẽ phải, một sức mạnh muôn đời, muôn nơi, muôn người và nhất định sẽ chiến thắng bạo quyền.Ngay giữa lòng Bộ chính trị, nơi chóp đỉnh bộ máy quyền lực luôn ở thế độc tôn không có sự giám sát độc lập, không có cơ chế hãm, khiến con người từng ngày từng giờ bị cuốn theo mê lộ của những tham vọng vị kỷ, thì hạt mầm sức mạnh của lẽ phải vẫn luôn tồn tại, dù rất nhỏ nhoi và chỉ mới thoáng hiện ở một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong buổi đến thăm đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.Và tôi tin rằng không chỉ có một nửa con người thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và dẫu một nửa này chưa phải là sự thành tâm thì ít ra cũng là một sự thức thời.

Thức thời để nhận thấy rằng đã xuất hiện ngay trong Đảng một đòi hỏi phải tách Đảng ra làm hai, đại đa số đảng viên tử tế tất yếu sẽ tiến tới một sự lựa chọn xé rào mới bằng bản lĩnh và phương pháp Kim Ngọc và Võ Văn Kiệt, dứt khoát không tiếp tục cam chịu làm con rối, làm bình phong cho trò xiếc về tổ chức mà nguyên phó ban tổ chức trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn vạch rõ là thủ đoạn sắp đặt nhân sự trong tay một nhóm người.Cái con người tách đôi của thủ thướng Nguyễn Tấn Dũng chính là biểu hiện cái sự thật đau đớn và ghê tởm kinh niên không còn che giấu được nữa : trong lòng một đảng cầm quyền cùng chung danh xưng từ lâu đã chứa đựng hai đảng đối nghịch nhau về tiêu chí chính trị, về lẽ sống, lối sống, mức sống.

Tách Đảng ra làm hai chính là đáp ứng một yêu cầu cả khách quan lẫn chủ quan không gì cưỡng nổi, như thế vừa dễ xử cho mọi đảng viên vừa là thức thời trước sức ép của qui luật : một đảng của số ít các quan chức hoạt động để giữ ghế, một đảng của số đông các đảng viên tử tế nguyện dâng trọn đời vì dân vì nước, quyết giữ trọn tư cách yêu nước, tư cách người chiến sĩ cách mạng chiến đấu vì độc lập dân tộc và vì quyền tự do của mỗi con người.Hai đảng thi đua nhau, cạnh tranh nhau làm đầy tớ thật sự của nhân dân, dân thấy đảng nào đúng là đầy tớ thật của mình thì dân chọn và tự nguyện đóng góp gạo mắm để nuôi.Vậy thôi, đơn giản và rõ ràng vậy thôi, cần chi lý lẽ vòng vo tam quốc về chỉnh đốn với xây dựng, về phê với tự phê lặp đi lặp lại đến phát nhàm.

Đà lạt 17.05.2009

Posted in Chinh Tri, Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN | Tagged: , | 3 Comments »

CÔNG DÂN HÀ NỘI ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI VỚI BÍ THƯ THÀNH ỦY HÀ NỘI PHẠM QUANG NGHỊ

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Những người dân ở Hà Nội vẫn từng bước đấu tranh đòi chính quyền phải thể hiện: Nói và Làm phải đi đôi với nhau. Vì chính quyền Hà Nội vẫn luôn tự xưng là: “nước ta dân chủ gấp triệu lần các nước tư bản” và đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, hứa hẹn tôn trọng các quyền của con người.
Nhưng hiện nay, giữa nói và làm là một khoảng cách rất lớn. Đảng và chính quyền ở  Hà Nội vẫn tùy tiện bắt giữ những công dân thể hiện các quyền  mà luật pháp và hiến pháp cho phép làm. Việc bắt giữ những người này chẳng khác gì chính quyền Hà Nội vẫn còn ở trong giai đoạn “nói”, còn “làm” thì đảng và nhà nước vẫn còn đang họp bàn…lui, hoặc giữ im lặng không trả lời trước các đòi hỏi hợp pháp của các người dân Hà Nội.  Chúng ta hãy nhìn kỹ những gì chính quyền làm trong vụ việc dưới đây và các vụ việc khác ở đây
—————————————————————————————————————————————–

CÔNG DÂN HÀ NỘI ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI VỚI BÍ THƯ THÀNH ỦY HÀ NỘI PHẠM QUANG NGHỊ

Thưa chư vị,
Sáng nay, những người biểu tình và ủng hộ biểu tình yêu nước, phản đối Trung Quốc gây hấn, xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông đã gửi văn bản ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI VỚI ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, BÍ THƯ THÀNH ỦY HÀ NỘI PHẠM QUANG NGHỊ VỀ VIỆC THỰC THI CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN TẠI ĐỊA BÀN HÀ NỘI. 

Văn thư đã được gửi qua bưu điện phát chuyển nhanh, có chữ ký của các vị lão thành cách mạng, nhân sĩ trí thức như: Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (nguyên UV TƯ Đảng, nguyên Đại sứ VN tại TQ), Cụ bà chống tham nhũng Lê Hiền Đức, các Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Ngô Đức Thọ, Chu Hảo, các Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Xuân Diện, Nhà văn Nguyên Ngọc, Luật sư Trần Vũ Hải, ông Phan Tất Thành (cựu thiếu sinh quân), bà Đặng Bích Phượng (Phương Bích), …
Toàn văn văn bản:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
_________________________
Hà Nội, ngày  03   tháng  04  năm 2012
ĐỀ NGHỊ ĐỐI THOẠI VỚI BÍ THƯ THÀNH ỦY THÀNH PHỐ HÀ NỘI
V/v: Thực thi các quyền cơ bản của công dân tại địa bàn Hà Nội
Kính gửi: Đại biểu Quốc hội, Bí thư Thành ủy Phạm Quang Nghị

Chúng tôi những công dân, cử tri cư trú trên địa bàn thành phố Hà Nội (Danh sách họ, tên và chữ ký kèm theo) xin gửi tới Quý Bí thư Thành ủy, Đại biểu Quốc hội khóa XIII lời chào trân trọng và đề nghị sau đây.

Chúng tôi đánh giá cao trách nhiệm của ông tại buổi gặp ngày 27/08/2011, tại trụ sở UBND thành phố Hà Nội do ông đứng đầu đại diện cho lãnh đạo Đảng, Chính quyền thành phố Hà Nội chủ động tổ chức để đối thoại với các công dân, cử tri mà có một số người ký tên trong danh sách dưới đây đã tham gia. Cuộc đối thoại hôm đó xoay quanh chủ đề quyền biểu tình của công dân, tính pháp lý của Thông báo yêu cầu chấm dứt biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam của UBND thành phố Hà Nội, và ý kiến phản đối việc đàn áp người biểu tình yêu nước…

Cuộc gặp nói trên tuy chưa thỏa mãn được yêu cầu của hai bên, nhưng chúng tôi cho rằng nó được diễn ra với “tinh thần xây dựng và thẳng thắn”, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa chính quyền và người dân. Trong buổi gặp, ông còn nói (với ông Nguyễn Trọng Vĩnh): “Ngoài ra, có vấn đề gì cần trao đổi thêm, xin Bác cứ nói với anh em chúng tôi”.

Nhưng sau đó UBND thành phố Hà Nội lại có hành động đi ngược lại với tinh thần đối thoại ngày 27/08/2011 đối với công dân nói chung, và nói riêng là trường hợp bà Bùi Thị Minh Hằng, người tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đã bị bắt, đưa vào Trại giáo dục Thanh Hà ngày 27/11/2011 theo Quyết định số 5225/QĐ-UBND ngày 08/11/2011 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.

Ngày 18/12/2011, Bà Bùi Thị Minh Hằng đã ủy quyền cho luật sư gửi Đơn khiếu nại Quyết định số 5225/QĐ-UBND đến Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo. Đến nay đã quá thời hạn giải quyết theo Luật khiếu nại, tố cáo (khoản 1, Điều 36 là 30 ngày) nhưng không có kết quả giải quyết.

Chúng tôi ý thức rằng đây là vấn đề hệ trọng liên quan đến những quyền tự do cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, quy định, đó là:

– Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; quyền được thông tin; quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật – Điều 69;

– Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm – Điều 71;

– Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật – Điều 72;

– Quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước, hoặc bất cứ cá nhân nào – Điều 74;

– Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân – Điều 77.

Việc các cơ quan chức năng của Thành phố tiếp tục gây khó khăn, ngăn cản các quyền công dân nói trên và việc áp dụng biện pháp đưa bà Bùi Thị Minh Hằng vào cơ sở giáo dục của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội đã gây nên làn sóng phẫn nộ trong xã hội, xúc phạm tình cảm yêu nước thiêng liêng của người Việt Nam, gây bất lợi cho thế trận toàn dân bảo vệ Tổ quốc trong khi chủ quyền quốc gia ở Biển Đông, tài sản, tính mạng của ngư dân hàng ngày bị xâm phạm, đe dọa.

Căn cứ Điều 53, Hiến pháp quy định:

“Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.”

Căn cứ Điều 51, Luật Tổ chức Quốc hội 2001, sửa đổi, bổ sung 2007, trích:

“Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan.”

Nay chúng tôi đề nghị có buổi đối thoại với Quý ông trên cương vị là Bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội, người đứng đầu tổ chức Đảng, hệ thống chính trị, bộ máy Nhà nước của thành phố Hà Nội, và là Đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội.

Nội dung buổi đối thoại: Những vấn đề liên quan đến việc thực thi các quyền cơ bản của công dân trên địa bàn thành phố Hà Nội và yêu cầu trả tự do cho bà Bùi Thị Minh Hằng;

Thời gian dự kiến: Vào tuần  trung tuần  tháng 4 năm  2012;

(từ ngày 10 tháng 4 đến 20 tháng 4 năm 2012)

Địa điểm: Do ông hoặc chúng tôi thu xếp;

(Đề  nghị Ông gửi giấy mời đầy đủ cho 25 người trong danh sách ký tên)

Chúng tôi, hy vọng tiếp tục nhận được thiện chí và sự quan tâm của Quý Bí thư thành ủy Hà Nội đối với tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của người dân Thành phố./.

Đại diện liên hệ:

Bà Đặng Phương Bích (Đặng Bích Phượng)

Địa chỉ: P.1002, nhà No 6, đường Trần Đăng Ninh, Quận Cầu Giấy, Tp Hà Nội

Điện thoại:

Danh sách những người ký tên:

  1. Thiếu tướng Lão thành Cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh (97 tuổi)
  2. Công dân chống tham nhũng Lê Hiền Đức (82 tuổi)
  3. GS Nguyễn Huệ Chi
  4. GS. TS Chu Hảo
  5. Nhà văn Nguyên Ngọc
  6. GS. TS Ngô Đức Thọ
  7. TS. Nguyễn Quang A
  8. TS Nguyễn Văn Khải
  9. Cựu chiến binh Phan Tất Thành
  10. TS. Nguyễn Xuân Diện
  11. Đặng Bích Phượng (Phương Bích)
  12. Nguyễn Văn Phương
  13. Hồ Thanh Tâm
  14. Phạm Quỳnh Hương
  15. Cựu chiến binh, Thương binh Phan Trọng Khang
  16. Nguyễn Văn Viễn
  17. Luật sư Trần Vũ Hải
  18. Kỹ sư Lã Việt Dũng
  19. Kỹ sư xây dựng Nguyễn Hữu Vinh
  20. Họa sĩ Mai Xuân Dũng
  21. Kỹ sư điện Lê Dũng
  22. Kỹ sư Nguyễn Lân Thắng
  23. Nghiêm Ngọc Trai
  24. Trương Văn Dũng
  25. Kỹ sư Viễn thông Phạm Văn Chính

Nguồn: xuandienhanhannom.blogspot.com

———————————————————————————-

Nguồn: chimkiwi.blogspot.com

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

Cờ đỏ sao vàng không phải là biểu tượng của Tổ quốc Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 07/04/2012

Đọc lịch sử về lá cờ thì cờ này do đảng cộng sản VN chọn mình “ên”, không ai được tham gia vào việc chọn, hay vẽ kiểu.  Về màu sắc, cứ nhìn màu đỏ và ngôi sao thì thằng ngốc nào cũng nhận ra sự lựa chọn này cốt để hợp với màu cờ và ngôi sao của Trung Quốc; cờ TQ thì cũng do đảng cộng sản Trung Quốc chọn ra.

Quốc hội của nước CHXHCN VN từ 1946 cho đến nay là do đảng cử người vào làm đại biểu trong quốc hội, để hợp thức hóa lá cờ,  đồng ý các luật lệ và chính sách đường lối do đảng vạch ra. Bởi thế đảng mới nói: quốc hội ta là do đảng cử, dân bầu. Có người  viết: Chính phủ VN hiện không do dân bầu,  như một lời xác minh của một vị chủ tịch Quốc hội VN đã nói khi được phỏng vấn : ” Ở VN chúng tôi hiện không có TRANH CỬ như các nước dân chủ, mà chỉ có BẦU CỬ (trong số những người đươc đảng cử, vì vậy thắng hay thua không có người vui kẻ buồn.)

Điều cần biết: cờ này do đảng chọn lựa ra, tượng trưng cho chế độ nhà sản, nhưng đảng ra sức tuyên truyền và gọi là cờ tổ quốc. Đánh lận lập lờ như thế mà có đến 95% dân chúng miền Bắc tin. Thế mới biết, lời nói láo nào mà cứ nói mãi, nói hoài, thì sau cùng nó biến thành lời thật.

Cờ đỏ sao vàng không phải là biểu tượng của Tổ quốc Việt Nam

Tác giả Lê Diễn Đức

Nguồn: danchiviet.info

Cột cờ Hà Nội, ảnh được minh hoạ trong bài trên Quê choa Blog

Vào thời điểm hiện nay bàn chuyện cờ quạt có lẽ quá sớm và chẳng đi đến đâu, nhất là tháng Tư lại về với những ký ức máu lửa và tủi hận, “có triệu người vui nhưng cũng có cả triệu người buồn”, như ông Võ Văn Kiệt lúc còn sống đã nói trong một cuộc phỏng vấn của Xuân Hồng, phóng viên BBC Việt ngữ.

Thế nhưng nhìn thấy cờ đỏ sao vàng cắm trên chiếc lều ở tạm, bên cạnh đống đổ nát của ngôi nhà gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã bị chính quyền cho xe cơ giới ủi sập trước đó, và vẫn thấy nhiều – nếu không nói rất nhiều – người Việt trong nước nhìn nhận là cờ đỏ sao vàng là cờ của Tổ quốc Việt Nam, khiến tôi bứt rứt.

Gần đây tôi đọc bài “Những lá cờ” trên Blog Quê Choa của nhà văn trong nước Nguyễn Quang Lập. Bài viết mở đầu bằng câu “Treo cờ tổ quốc là cử chỉ thể hiện lòng yêu nước“, làm tôi khó chịu thật sự.

Tôi đã viết một comment (ý kiến) dưới bài nói trên nhưng không được chủ blog cho hiển thị. Do vậy, tôi đưa comment này lên trang Facebook của mình và gửi liên kết (tag) tới một số trang của những người cầm bút trong nước, cũng trên Facebook. Nội dung như sau:

Theo tôi, cờ đỏ sao vàng không phải là cờ của Tổ quốc Việt Nam (VN), của dân tộc Việt Nam, mặc dù tôi đã từng học tập, lớn lên dưới lá cờ này và nhiều lúc đã tự hào vì cha ông tôi đã chiến đấu dưới nó. Nhưng chính xác mà nói thì đó là cờ hiệu của nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền.

 Nước Việt Nam có mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao nhiêu triều đại và chế độ với những lá cờ khác nhau. Cờ đỏ sao vàng có từ năm 1945, chỉ là biểu tượng của một nhà nước với ý thức hệ cộng sản, không đại diện cho cả chiều dài lịch sử của dân tộc.

 Rất nhiều quốc gia qua bao nhiêu biến động và thay đổi trong lịch sử vẫn chỉ giữ một lá cờ. Ví dụ, cờ hai màu trằng, đỏ của Ba Lan có từ mấy trăm năm nay, từ thời phong kiến, đến cộng hoà, sau Đệ nhị Thế, cả trong thời cộng sản và hậu cộng sản từ năm 1989. Sau khi Liên Xô sụp đổ, nước Nga cũng đã bỏ lá cờ ý thức hệ cộng sản màu đỏ với búa liềm và ngôi sao, để thay thế bằng lá cờ có từ thời Sa Hoàng với ba màu trắng, xanh dương, đỏ.

 Sự nhầm lẫn giữa Tổ quốc, Đất nước, Dân tộc với hệ thống chính trị cầm quyền rất phổ biến trong suy nghĩ của người Việt trong nước.

 Tôi cho rằng comment của tôi là sự thật và được viết với thái độ chừng mực, như là một sự chia sẻ chuyển tới bạn đọc trong nước. Không hiểu vì sao anh Nguyễn Quang lập không cho hiển thị…”.

Không ngờ, comment trên đã gây ra một cuộc trao đổi sôi động trên trang Facebook của tôi.

Tôi nhấn mạnh thêm rằng, với chủ đề này tôi chỉ muốn bàn về khái niệm Tổ quốc mà người ta đã gắn cho lá cờ đỏ sao vàng.

Mặc dù không thích, có lúc như bị dị ứng, nhưng tôi hoàn toàn thông cảm, thậm chí chấp nhận một cách tỉnh táo, khi những người dân oan, những người tham gia biểu tình chống Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam, hay dân chúng trong các lễ hội sử dụng, mang theo cờ đỏ sao vàng, hình ảnh ông Hồ Chí Minh. Bởi vì nhiều khi có thể họ cảm thấy thế là đúng, cũng có thể do ngộ nhận, nhưng cũng có thể tình huống bắt buộc, hành động như là một cách che chắn, bảo vệ an toàn.

Khá nhiều ý kiến của người trong nước không đồng tình với cách nhìn của tôi.

Có người viết: “Đành rằng thể chế chính trị còn nhiều tồn tại nhưng phủ nhận toàn bộ như vậy có nên chăng, thời điểm đó nó phản ánh cho sự lựa chọn của dân tộc“.

Hoặc: “Dân họ không nghĩ sâu xa như thế, với họ lá cờ đó là lá cờ Tổ quốc“.

Hay: “Hiện tại ở VN thì nó vẫn là cờ Tổ quốc, vì chả có lá cờ nào thay được nó“…

Một bạn phân tích:

Cờ hiệu một quốc gia (“Cờ Tổ quốc” chẳng qua là cách nói quen miệng theo phiên từ “quốc kỳ” mà thôi!) nó phải gắn với thời đại và thể chế! Thời vua quan xưa và thể chế quân vương thì do Vua chúa được quyền chọn. Ở các nền cộng hòa nghị viện thì do quốc hội chọn. Những nước thuộc hệ thống cộng sản cũ, cờ hiệu thay đổi vì thể chế thay đổi. Ở các nước đó quyết định thay đổi là do quốc hội (cũng chưa phải thăm dò ý kiến của người dân). Lịch sử về cờ hiệu Việt Nam cũng không nằm ngoài cái lệ đó. Mỗi triều đại phong kiến trước đây có chung một cờ hiệu đâu?

Cờ ba sọc đỏ trên nền vàng của thể chế Việt Nam Cộng hoà (VNCH) trước đây cũng không phải là cờ hiệu của nhà Trần hay nhà Lý thời xưa! Lá cờ đỏ sao vàng bây giờ do quốc hội của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH – năm 1946) chọn ra. Quốc hội Việt Nam sau 1975 tiếp nối VNDCCH cũng đã nhất trí chọn lá cờ đó (1976). Thế thì có gì không đúng? Bao giờ VN thay đổi thể chế thì hãy đặt ra vấn đề thay đổi cờ hiệu quốc gia! Khi cộng đồng các quốc gia, dân tộc trên thế giới cộng nhận lá cờ đó là cờ hiệu của Việt Nam như Liên Hiệp Quốc thì cứ hãy coi đó là “cờ Tổ quốc” (của người) Việt Nam“.

Một bạn khác tâm tình:

Đáng buồn hơn là nhiều người còn không “dám” có ý nghĩ hoặc bàn luận về vấn đề có vẻ “phạm thượng” như vậy. Nó cao cả quá, xa vời quá, v.v… Cũng là một hệ quả của hàng chục năm trời tuyên truyền, lập lờ đánh lận đảng phái, chế độ với Dân tộc, Tổ quốc“.

Vân vân…

Tuy nhiên trong số người tham gia tranh luận, số người ủng hộ quan điểm của tôi chiếm ưu thế hơn hẳn.

Trong quá trình tranh luận tôi viết thêm một số ý kiến dưới đây.

Châu Âu là nơi sinh ra Karl Marx, cha đẻ của học thuyết cộng sản (CS). Lenin áp dụng học thuyết này “sáng tạo” ở Nga. Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh đã mang hình mẫu chủ nghĩa cộng sản từ Liên Xô về nước mình áp dụng “sáng tạo” tiếp và tồn tại cho tới nay ở ba quốc gia này.

Chúng ta đang trao đổi về một lá cờ tương xứng, khả dĩ (trong tương lai) đại diện cho cả dân tộc, cho mọi người Việt, chứ không ai phủ nhận xương máu của những người đã đổ dưới cờ đỏ sao vàng chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc.

Với cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Sài Gòn cũng vậy. 74 chiến sĩ VNCH đã anh dũng hy sinh bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 luôn luôn được lịch sử vinh danh. Ngay cả Thứ trưởng Ngoại giao CSVN Nguyễn Thanh Sơn cũng nói gần đây trong một buổi tiếp người Việt từ Mỹ về nước rằng, những chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì Hoàng Sa là những người con ưu tú của Việt Nam.

Khi có quốc hội dân chủ, tất nhiên lúc ấy dân chúng sẽ có ý tưởng, sẽ thông qua những cuộc thảo luận công khai trong xã hội, có thể phải sử dụng đến cả giải pháp trưng cầu dân ý, vân vân… để lựa chọn một cách dân chủ.

Bây giờ thì chẳng một cá nhân nào có thể tự chọn hay đề xuất cụ thể cả, vì thiếu thực tế, vô ích và bất khả thi. Nhất là vào lúc mà lòng người Việt ở hai miền Nam, Bắc vẫn còn chia rẽ, thù hận giữa nhà cầm quyền cộng sản với cộng đồng người Việt phải bỏ nước ra đi tìm tự do, gánh chịu bao nhiêu thương đau, tổn thất chưa được thanh toán, cảm thông và xoá bỏ. Bàn cụ thể sẽ chỉ xung khắc thêm mà thôi.

Ở trên có bạn nói “không có lá cờ nào thay thế lá cờ đỏ sao vàng hiện nay”. Nhưng tôi cho rằng, điều này không đồng nghĩa nó là lá cờ Tổ quốc. Có thể với hàng triệu người Việt là như thế, nhưng cũng với hàng triệu nguời Việt khác thì không. Không thay thế được vì hệ thống cầm quyền độc tài toàn trị hiện tại không muốn làm việc đó. Như tôi đã đưa ra ví dụ về nước Nga. Gần đây là Libya, sau khi chế độ độc tài Gaddafi sụp đổ, người Libya đã bỏ lá cờ xanh của chế độ Gaddafi, quay lại lá cờ có từ năm 1951 của Vương quốc Libya.

Quốc hội của nhà cầm quyền CSVN thực chất là công cụ của ĐCSVN chỉ để hành chính hoá các quyết định của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Quốc hội này không do dân bầu ra thông qua bầu cử tự do mà do lãnh đạo ĐSSVN áp đặt, cho nên nó không phải là đại diện của toàn thể nhân dân VN.

Cờ của một nhà nước/quốc gia được xem là biểu tượng của Tổ quốc khi nó được toàn dân thừa nhận, hoặc là đại diện được uỷ nhiệm hợp pháp của nhân dân – tức là quốc hội được dân bầu ra qua bầu cử tự do – phê chuẩn.

Cờ và quốc huy phải được đưa vào Hiến pháp. Nếu thay đổi thể chế mà ban hành Hiến pháp mới thì hiến pháp trước khi được quốc hội, tổng thống hay chủ tịch nước phê chuẩn, cần phải được trưng cầu dân ý.

Còn khi hiến pháp có hiệu lực, một đảng cầm quyền nào đó muốn thay đổi các điều khoản của hiến pháp thì ít nhất theo thông lệ phải có chuẩn thuận của 3/4 số đại biểu quốc hội, một tỷ lệ rất khó cho bất kỳ đảng cầm quyền nào ở các nước dân chủ.

Tại Việt Nam bây giờ, ĐCSVN muốn thay đổi hiến pháp lúc nào là tuỳ theo… sở thích và thấy có lợi cho sự duy trì độc quyền cai trị!

Hệ thống cộng sản ở châu Âu đã bị xoá sổ. Ngày 24/1/2006, Nghị viện Châu Âu thông qua Nghị quyết 1481 phán quyết chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại. Nếu Việt Nam có thể chế dân chủ, nhân dân Việt Nam và quốc hội Việt Nam dân chủ sẽ chọn một lá cờ nào đó tương xứng với chiều dài lịch sử của dân tộc, nhưng chắc chắn không phải là lá cờ biểu tượng cho một chủ nghĩa của tội ác.

Hiện nay, ngay cả với người Việt trong nước, không phải ai trong thâm tâm cũng nhìn nhận cờ đỏ sao vàng như là biểu tượng của đất nước, Tổ quốc.

Tổ quốc là khái niệm mang nghĩa kép, nói về một không gian liên quan đến một cá nhân hoặc cả một cộng đồng (dân tộc), đặc biệt được chỉ định trước hết là nơi sinh ra của cá nhân đó, nơi họ sống một phần quan trọng của cuộc đời, hoặc nơi xuất xứ của tổ tiên, hay gia đình.

Cá nhân kết nối với Tổ quốc bằng tình cảm gắn bó mật thiết thiêng liêng nên “Tổ quốc” được viết hoa chính là nhằm nhấn mạnh sự tôn trọng cội nguồn của mình hay gia đình, tổ tiên.

Lá cờ Tổ quốc phải bao hàm được ý nghĩa linh hồn và tình cảm gắn bó thiêng liêng đó với nơi chôn rau cắt rốn của tất cả con dân nước Việt sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và ở khắp mọi nơi khác trên thế giới.

 Ngày 5 tháng 4 năm 2012

 © 2012 Lê Diễn Đức – RFA Blog

——————————————————————————————————————————————–

 

 

——————————————————————————————————————————————–

Cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc?

Tác giả: Trần Trung Đạo

Bài viết nhân dịp 30-4-2012

Macy’s là một trong 20 công ty buôn bán sản phẩm tiêu dùng lớn nhất nước Mỹ. Đứng đầu danh sách là Walmart. Cách đây vài năm, trên diễn đàn Internet, một người hay một nhóm người Việt nào đó tố cáo công ty Macy’s “treo cờ Cộng Sản”, tức cờ nền đỏ sao vàng. Thế là hàng trăm người lên tiếng phản đối theo. Thậm chí có người viết thư gởi thẳng cho ban giám đốc Macy’s yêu cầu công ty này phải hạ ngay “lá cờ máu” đó xuống.

Thật ra, thương hiệu của Macy’s là nền trắng sao đỏ dù có lúc đổi ngược bằng nền đỏ sao trắng giống như các đội thể thao chuyên nghiệp thường đổi ngược màu áo tùy thuộc khi chơi ở sân nhà hay sân khách. Mà cho dù, công ty Macy’s có dùng nền đỏ sao vàng đi nữa cũng chỉ là thương hiệu của một công ty, giống như công ty buôn bán đồ cũ được thành lập vào sáng 2-9-1945 tại Việt Nam mà thôi.

Theo các tài liệu về công ty Macy’s, trong khi làm việc cho hãng Emily Morgan, Rowland Hussey Macy thấy một cô gái xâm một ngôi sao đỏ. Thấy đẹp, ông ta cũng tìm thợ xâm cho mình một hình sao đỏ. Ngày 28-10-1858, công ty Macy’s chính thức thành lập. Nhưng một công ty thì phải có thương hiệu, nghĩ đến hình xâm mình ưa chuộng, ông quyết định dùng cờ nền trắng sao đỏ là thương hiệu chính thức cho công ty. Công ty Macy’s làm ăn khấm khá, mở nhiều cơ sở vùng Đông Bắc, bao gồm Massachusetts và New York, nhưng tham vọng của ông Macy không chỉ quanh quẩn miền bắc đất hẹp người thưa nhưng nhắm vào thị trường đông dân trù phú ở miền nam. Macy’s thu phục các công ty nhỏ như O’Connor Moffat ở San Francisco, John Taylor Dry Goods Co. ở Kansas. Trong thời gian này, Macy’s dùng một số thương hiệu khác nhau, nhưng sau khi đã chế ngự thị trường, Rowland Macy chỉ dùng một hình sao đỏ như thương hiệu chính thức cho công ty từ đó đến ngay.

Theo tài liệu chính thức của đảng CSVN, tác giả lá cờ nền đỏ sao vàng là ông Nguyễn Hữu Tiến làm nghề thầy giáo, tham gia đảng Cộng Sản, bị tù và vượt ngục. Năm 1935, ông được Xứ Ủy Nam Kỳ giao trách nhiệm vẽ lá cờ để sử dụng trong các cuộc đấu tranh. Ông đã vẽ lá cờ nền đỏ sao vàng. Lá cờ này được Xứ Ủy Nam Kỳ chấp thuận và xuất hiện trong các cuộc đấu tranh do đảng Cộng Sản tổ chức và lãnh đạo, trong đó có cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 23-11-1940. Ngày 28-8-1941 ông Nguyễn Hữu Tiến bị xử bắn cùng các lãnh đạo trung ương khác của đảng Cộng Sản như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập. Ông Hồ Chí Minh rất thích lá cờ này và thường dùng trong các hoạt động của phong trào Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản. Cờ nền đỏ sao vàng xuất hiện không chính thức trong ngày 2-9-1945 vì đến ngày 5-9-1945, ông Hồ mới ký sắc lịnh dùng cờ của Xứ Ủy Cộng Sản Nam Kỳ làm cờ chính thức cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau đó lá cờ nền đỏ sao vàng được đưa sang quốc hội gồm khoảng 300 đại biểu bù nhìn của đảng Cộng Sản, không tính 70 đại biểu từ các đảng không Cộng Sản thêm vào sau không bầu, thông qua. Sau giai đoan khó khăn từ 1945 đến 1950, đảng Cộng Sản với sự yểm trợ bằng máu xương và súng đạn từ hai đàn anh Cộng Sản quốc tế, đã chiếm được một nửa nước Việt Nam. Nhưng mục tiêu của Đảng không dừng lại ở miền bắc đất hẹp người thưa nhưng nhắm vào khu vực đông dân trù phú ở miền nam. Ngày 20-12-1960,  trung ương đảng CSVN lập thêm chi nhánh miền nam và để che dấu dư luận quốc tế, Đảng dùng cờ nửa xanh nửa đỏ làm thương hiệu cho cơ sở miền nam. Nhưng sau khi chiếm trọn miền nam vào 30-4-1975, việc che đậy không còn cần thiết, Đảng dùng cờ nền đỏ sao vàng cho cả nước từ đó đến nay.

Dù có vài tình tiết trùng hợp lý thú, công ty Macy’s và đảng CSVN chẳng liên hệ gì nhau. Sự so sánh chỉ nhằm chứng minh rằng cờ nền đỏ sao vàng của đảng CSVN và cờ nền trắng sao đỏ của công ty Macy’s đều chỉ là thương hiệu của một hai tổ chức kinh doanh. Một công ty quốc tế ở Mỹ hay một tiệm bán đồ cũ ở Việt Nam cũng đều có thương hiệu và sự tồn tại của thương hiệu gắn liền với thời gian hoạt động của công ty. Giả thiết, một ngày nào đó công ty Macy’s bị công ty Target mua, ngôi sao đỏ sẽ bị thay bằng hai vòng tròn trắng đỏ, thương hiệu của công ty Target. Tương tự, một ngày, chắc chắn sẽ có ngày đó, chế độ CSVN sụp đổ, lá cờ nền đỏ sao vàng cũng sẽ tiêu tùng theo chế độ.

Trong quan điểm đó, tôi chia sẻ ý kiến của nhà báo Lê Diễn Đức viết trong Facebook góp ý bài báo “Những lá cờ” của tác giả Bá Tân đăng trên Blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Theo tôi, cờ đỏ sao vàng không phải là cờ của Tổ quốc VN, của dân tộc VN, mặc dù tôi đã từng học tập, lớn lên dưới lá cờ này và nhiều lúc đã tự hào vì cha ông tôi đã chiến đấu dưới lá cờ này. Nhưng chính xác mà nói thì đó là cờ hiệu của nhà nước CHXHCN VN do Đảng CSVN cầm quyền. Nước VN có mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao nhiêu triều đại và chế độ với những là cờ khác nhau. Cờ đỏ sao vàng có chính thức từ ngày 2/9/1945, chỉ là biểu tượng của một nhà nước với ý thức hệ cộng sản, không đại diện cho cả chiều dài lịch sử của dân tộc.”

Dưới đây là vài bằng chứng.

Tại châu Âu. Trước 1989, “cờ tổ quốc” của Hungary  gồm ba màu đỏ, trắng, xanh lá cây, ở giữa là huy hiệu sao đỏ và búa liềm của đảng Cộng Sản. Quốc kỳ của Hungary hiện nay, trong lúc vẫn duy trì ba màu truyền thống của dân tộc Hung, ở giữa là hai đường cung trống rỗng, đánh dấu sự cắt bỏ chủ nghĩa Cộng Sản khỏi đất nước Hungary. Khoảng trống được giữ lại giữa lá cờ còn để nhắc nhở sự hy sinh của các thế hệ Hungary trong cuộc nỗi dậy vào tháng Mười 1956. Ngày đó, đường phố Budapest ngập đầy những lá “cờ tổ quốc” bị xé nát như những xác lá cuối mùa thu. Tiến sĩ Nicholas Martin, giáo sư ngôn ngữ học tại Pasadena City College, vào thời điểm đó là một cầu thủ Water Polo và đang đại diện cho Hungary trong Thế Vận Hội 1956 tại Melbourne, nhắc lại kỷ niệm không thể nào quên trong đời ông: “Việc đầu tiên tôi làm là xé ngay lá cờ Cộng Sản Hungary trong làng Thế Vận và chúng tôi tuyên bố đại diện cho một quốc gia Hungary tự do”. Nhưng vào những ngày cuối của Thế Vận 1956 cũng là lúc đoàn xe tăng của Hồng Quân Liên Xô đang càn lên xác những người dân Hung yêu chuộng tự do được trang bị bằng gậy gộc, đội tuyển Hung gặp đội tuyển Liên Xô trong giải chung kết Water Polo. Trận đấu được báo chí tường thuật là trận đấu “máu hòa trong nước”. Kết quả đội tuyển Hungary đã thắng đội tuyển Liên Xô tỉ số 4-0. Thật ra, các cầu thủ Liên Xô cũng chỉ là những cầu thủ vô tội, chẳng may phải gánh chịu các trận tấn công liên tục của các tuyển thủ Hungary đang sôi máu căm thù.

Tại châu Á. Mông Cổ, sau thời đại huy hoàng của Thành Cát Tư Hãn và các con ông, vào thế kỷ 14, quê hương của đại đế bị chia cắt thành hai mảnh và phân hóa trầm trọng. Vào thế kỷ 17, Mông Cổ bị đặt trong vòng cai trị của nhà Thanh và phần lớn khu Nội Mông đã trở thành đất của nhà Thanh, hiện nay là Khu tự trị Nội Mông thuộc Trung Quốc. Lợi dụng cách mạng Tân Hợi Trung Hoa 1911, các phong trào yêu nước Mông Cổ tuyên bố độc lập nhưng chưa kịp làm gì đã bị quân Trung Hoa đánh bại và chiếm đóng. Trong lúc số phận Mông Cổ, một trong những đế quốc lừng danh trong lịch sử nhân loại sắp bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới, quân đội Bạch Nga dưới quyền Bá Tước Ungern, bị Cộng Sản Nga đánh đuổi, tràn sang biên giới và đánh bại quân Trung Hoa. Trong cái rũi có cái may, sự xâm lược của quân Nga vô tình cứu Mông Cổ thoát khỏi nạn đồng hóa. Khi Liên Xô thắng, nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ, trong vùng Ngoại Mông, được thành lập. Tuy bị đặt trong vòng kiểm soát của Liên Xô, về đối ngoại Mông Cổ là một quốc gia độc lập, thành viên của Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế. Khi Liên Xô sụp đổ, giống như các nước trong vòng ảnh hưởng của Liên Xô, Mông Cổ trở thành nước Cộng Hòa Mông Cổ. Hai chữ “nhân dân” trong tên nước bị xóa bỏ. Trong thời Cộng Sản, “cờ tổ quốc” của Mông Cổ gồm ba phần, hai bên màu đỏ, phần giữa mà xanh với dấu hiệu sao vàng của đảng Cộng Sản bên trái. Ngày 15 tháng Giêng 1992, quốc hội Cộng Hòa Mông Cổ biểu quyết xóa bỏ ngôi sao vàng Cộng Sản khỏi lá cờ và thay vào đó bằng ngọn lửa biểu tượng cho tinh thần Soyombo phát triển, thịnh vượng và thành công của dân tộc Mông Cổ.

Tại châu Phi. Ethiopia là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại nhưng trong thập niên 1980 của thế kỷ 20 quốc gia 82 triệu người này đã chịu đựng nạn nghèo đói tận cùng và ách Cộng Sản dã man. Chỉ trong vòng 5 năm, khoảng 10 phần trăm dân số bị chết trong đói khát hay chết dưới bàn tay của bạo chúa Mengistu. Kỷ nguyên Mengistu được báo chí gọi là “khủng bố đỏ” để so sánh với “khủng bố trắng” do thực dân Âu châu gây ra cho các nước Phi châu trước đây. Sau khi thiết lập chế độ độc đảng vào năm 1987, Mengistu Haile Mariam và đảng Lao Động Ethiopia do y thành lập tuy vẫn giữ ba màu đỏ, vàng và xanh lá cây truyền thống đoàn kết châu Phi nhưng ngay giữa lá cờ, Mengistu đã thêm huy hiệu nền đỏ sao vàng biểu tượng cho quyền lãnh đạo trung ương của đảng Cộng Sản. Nhiều đảng phái chống Mengistu ra đời và phối hợp hoạt động dưới danh nghĩa của Mặt Trận Dân Chủ Cách Mạng Ethiopia. Cuối cùng chế độ khát máu Mengistu bị lật đổ vào tháng 5 năm 1991. Ngày nay, Ethiopia vẫn còn là một nước nghèo với 40 phần trăm dân số sống bằng nông nghiệp và không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào lớn nhưng là một trong những quốc gia Phi châu có mức phát triển nhanh. Con đường dân chủ hóa của Ethiopia bắt đầu từ 1994, là con đường đầy gai góc nhưng đã tiến xa so với thời bạo chúa Cộng Sản Mengistu. Sau khi được tự do khỏi xích xiềng Cộng Sản và có hiến pháp dân chủ, quốc kỳ đại diện cho quốc gia Ethiopia gồm ba màu truyền thống đỏ, vàng, xanh lá cây và tia sáng có chiều dài bằng nhau kết thành hình ngôi sao trên vòng tròn màu xanh nước biển biểu tượng cho tinh thần bình đẳng, chính thức được phê chuẩn ngày 6-2-1996.

Tại Kamchuchea láng giềng. Trước ngày 17-4-1975, lá cờ Cộng Hòa Khemer gồm hai màu  xanh đỏ với hình Angkor Wat bên góc trái và ba ngôi sao trắng bên góc phải. Ngày 22-5-1975, lá cờ này bị thay đổi bằng cờ nền đỏ với Angkor Wat vàng của chế độ diệt chủng Pol Pot. Điều 16 trong hiến pháp “Dân chủ Kampuchea” công bố ngày 5 tháng Giêng 1976, giải thích “màu đỏ là màu cách mạng, biểu tượng cho quyết tâm của nhân dân Kampuchea để giải phóng, bảo vệ và xây dựng đất nước”. Cờ của chế độ Pol Pot không phải là cờ mới được vẽ nhưng có lịch sử gắn liền với sự ra đời của đảng Cộng Sản Kampuchea được thành lập vào 1951 sau khi đảng Cộng Sản Đông Dương “tự động giải tán” ngày 11-11-1945. “Cờ tổ quốc” của chế độ diệt chủng Pol Pot được phát họa khá giống với “cờ tổ quốc” của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ khác vị trí của sao vàng được thay bằng Angkor Wat vàng. Sử gia David P. Chandler trong bài phân tích về hiến pháp Cộng Sản Kampuchea (The Constitution of Democratic Kampuchea: The Semantics of Revolutionary Change) do ký giả Đức Siegfried Ehrmann trích lại trong bài báo Lá cờ với một quá khứ đầy cực hình (A flag with a tortured past), cũng thừa nhận cờ của chế độ Pol Pot “giống như cờ của phong trào được gọi là Việt Minh trong đầu thập niên 1950”.  Sau một thời gian dài đầy biến cố, quốc kỳ của Kampuchea Quân Chủ Lập Hiến hiện nay gồm hai màu xanh đỏ truyền thống như đã được dùng trong thời Cộng Hòa Khemer với biểu tượng Angkor Wat trắng được đặt ở trung tâm.

Tóm lại, từ 15 nước thuộc Liên Bang Xô Viết cho đến 8 nước Cộng Sản Đông Âu, 3 nước Cộng Sản vùng Baltics (Latvia, Lithuania, Estonia), Cộng Sản Phi châu (Ethiopia), Cộng Sản Á Châu (Kampuchea), có quốc gia thay đổi ít như Ba Lan hay quốc gia thay đổi hoàn toàn như Nga, nhưng không có một nước nào tiếp tục sử dụng lá cờ của chế độ Cộng Sản làm cờ đại diện cho quốc gia thời sau Cộng Sản.

Lịch sử diễn ra trước mắt như thế, rõ ràng và dễ hiểu. Tuy nhiên, từ hai phần ba thế kỷ từ 1945 đến nay, ban tư tưởng trung ương đảng CSVN đã nhồi sọ, tẩy não các thế hệ Việt Nam để họ tin một cách tự nhiên, tin một cách chân thành rằng lá cờ nền đỏ sao vàng của Xứ Ủy Cộng Sản Nam Kỳ, thương hiệu đối ngoại của đảng CSVN là cờ tổ quốc.

Thế nào là tổ quốc?

Hiểu một cách đơn giản và gần gũi, tổ quốc là đất nước, là cội nguồn và là căn nhà chung của một giống dân có cùng một lịch sử, văn hóa, truyền thống, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển.  Ngay trong Đại Tự Điển do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo và nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998 cũng định nghĩa tổ quốc là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.”  

Với định nghĩa đó, thương hiệu của đảng CSVN không thể gọi là cờ tổ quốc và càng không nên dùng, dù là dùng như một lá chắn, để biểu dương lòng yêu nước của mình.

Biểu tượng của tự do dân chủ không nhất thiết phải là một lá cờ mà có thể là một hình chữ V như Boris Yeltsin ra dấu khi đứng trên chiếc xe tăng, một ngón tay còn dính mực xanh chứng tỏ vừa làm xong nghĩa vụ công dân của người phụ nữ Iraq, một giọt nước mắt vui mừng của người mẹ Ai Cập hay trong nhiều năm tại Miến Điện là bức ảnh của bà Aung San Suu Kyi.

Mặc dù chỉ là biểu tượng nhưng cách dùng biểu tượng cũng thể hiện ý thức chính trị của người dân tại quốc gia đó. Nếu ai để ý sẽ thấy, trong số hàng triệu sinh viên Trung Quốc tham dự cuộc biểu tình suốt bảy tuần lễ tại Thiên An Môn tháng Tư 1989, rất ít người mang theo cờ đỏ năm sao vàng của đảng CS Trung Quốc. Lá cờ của phong trào dân chủ  là cờ trắng với hàng chữ đòi hỏi “Tranh luận dân chủ”. Họ đi tìm một biểu tượng. Những ngày cuối của cuộc biểu tình tuổi trẻ Trung Quốc đã can đảm chọn tượng Nữ Thần Tự Do làm biểu tượng chính thức cho cuộc đấu tranh vì về mặt tinh thần, nữ thần tự do không có quốc tịch và không đứng trên biên giới của một nước nào.

Bảy tháng sau biến cố Thiên An Môn, cuộc biểu tình chống chế độ Nicolae Ceausescu tại Timosoara, Rumani cũng diễn ra tương tự.  Hơn 100 ngàn dân, đa số là thanh niên sinh viên, xuống đường chống chế độ độc tài CS không mang theo “cờ tổ quốc” như họ vừa được dạy ngày hôm trước mặc dù lúc đó chế độ Ceausescu vẫn còn rất mạnh và các cuộc đàn áp đẫm máu sắp sửa diễn ra tại thành phố này.

Hầu hết tuổi trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên sau 1975. Tâm hồn của các em là những tờ giấy trắng, xã hội vẽ lên đó những con đường, những tín hiệu và các em đi trên con đường đó, nhận diện cuộc đời qua các tín hiệu đó. Xã hội trong trường hợp Việt Nam là bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản, một tổ chức chuyên nghiệp với trách nhiệm khống chế mọi lãnh vực, suy nghĩ và nhận thức của con người.

Dù sao, tuổi trẻ sinh ra và lớn lên khi lá cờ đỏ sao vàng đã có rồi, bị đầu độc để hiểu sai lịch sử, còn có thể thông cảm, những giáo sư, trí thức, nhà văn, nhà thơ học nhiều hiểu rộng, có dịp ra nước ngoài học tham khảo thêm nhiều tài liệu khách quan mà vẫn tin lá cờ nền đỏ sao vàng của đảng Cộng Sản là cờ tổ quốc mới là đáng trách. Họ thích khoe khoang bằng cấp, trình độ học vấn và luôn nhấn mạnh đến tinh thần khách quan khoa học nhưng lại sống và hành động như một thói quen, cảm tính, một phản xạ sinh tồn tự nhiên, chấp nhận những hiện tượng nghịch lý, phi lý một cách dễ dàng. Điều đó cho thấy không gian giữa kiến thức và nhận thức vẫn còn là một khoảng cách khá dài.

Cho đến nay, lý do được viện dẫn nhiều nhất để biện minh cho tính chính thống của cờ đỏ sao vàng là căn cứ vào quốc hội khóa 1 và hiến pháp 1946.

Cả thế giới đều biết trong chế độ Cộng Sản quốc hội chỉ là tấm bình phong dân chủ để che mắt dư luận. Đảng mới là trung tâm quyền lực tuyết đối điều khiển mọi hoạt động của đất nước. Ngày 6-1-1946,  ngoại trừ 70 đại biểu không bầu gọi là “đại biểu truy nhận” từ các đảng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội và Việt Nam Quốc Dân Đảng được thêm vào sau đó, hầu hết trong số 333 đại biểu là đảng viên đảng Cộng Sản hay các tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản và phải qua sự giới thiệu của Việt Minh, một tổ chức tương tự như Mặt Trận Tổ Quốc ngày nay.

Một vài quan điểm biện minh cho hiến pháp 1946 xem đó như là hiến pháp dân chủ, giá trị, thế nhưng giá trị của một hiến pháp không phải vì đó là một văn bản có nội dung súc tích, chứa đựng tầm nhìn xa nhưng ở chỗ thực hiện và áp dụng hiến pháp trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Hiến pháp 1946 mặc dù trên danh nghĩa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 nhưng chưa từng được chính thức công bố cho đến khi được thay bằng hiến pháp 1959.

Giống như trò hề bầu cử quốc hội khóa 13 năm ngoái, năm 1946 người dân cũng không có một chọn lựa nào khác ngoài những tên tuổi đã được Đảng đưa ra. Nhiều nơi như ở Quảng Nam, ban tuyên truyền của đảng ủy địa phương sợ đồng bào bỏ phiếu trắng vì không nhớ hết tên nên đã phổ danh sách đại biểu thành vè, thành thơ và bắt dân học thuộc lòng. Báo Quảng Nam năm ngoái còn hãnh diện khoe khoang thành tích tuyên truyền của Đảng khi đăng lại những bài thơ lục bát chuyển từ danh sách đại biểu như Trần Đình Tri, Lê Văn Hiến, Phan Bôi, Huỳnh Ngọc Huệ, Phan Thanh, Lâm Quang Thự, Phan Thao v.v..

Trung Bộ có Trần Đình Tri
Cùng Lê Văn Hiến vậy thì đồng song
Phan Bôi một dạ, một lòng
Cùng Huỳnh Ngọc Huệ vốn dòng đấu tranh
Cứu tế có chị Phan Thanh
Có Lâm Quang Thự cùng anh Phạm Bằng
Trần Tống tuổi trẻ tài năng
Phan Thao, Võ Sạ từng quen ta nhiều
Quế Sơn đồng chí Phan Diêu
Cùng Nguyễn Xuân Nhĩ đủ điều kinh luân
Trần Viện nhiều nỗi gian truân
Còn Nguyễn Thế Kỷ mười phần quyết tâm…

Và tác giả bài báo vui mừng kết luận “Mười bốn ứng cử viên ở các huyện đồng bằng và trung du do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử với số phiếu cao tuyệt đối.”

Đọc bài báo chỉ để thấy tội nghiệp cho các thế hệ ông bà chúng ta đã bị các tầng lớp phong kiến áp bức tận cùng, bị thực dân bóc lột và cuối cùng bị đảng Cộng Sản lừa gạt và dẫn dắt như lớp người nô lệ trong thời đại mới. Sau lần “bầu cử” 1946, đảng CSVN không thấy cần có quốc hội nên suốt 14 năm sau đó, Đảng chẳng màng nghĩ đến chuyện bầu bán “cơ quan quyền lực cao nhất” này làm gì cho tốn công tốn của. Sáu mươi lăm năm dài dằng dặc từ khóa 1 đến khóa 13, đừng nói chi văn minh nhân loại đã tiến quá xa mà cả hình dạng trái đất cũng đã đổi thay nhiều nhưng số phận làm nô lệ cho chủ nghĩa Cộng Sản của người dân Việt Nam vẫn không thay đổi.

Lý do thứ hai, lá cờ nền đỏ sao vàng là cờ tổ quốc vì đã thắm máu của nhiều người Việt Nam yêu nước trong cuộc “chiến tranh chống thực dân Pháp đầy chính nghĩa”. Từ những ngày gian truân trên núi rừng Việt Bắc cho đến khi lá cờ này được cắm trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries, và đó là một chiến thắng không thể phủ nhận.

Tạm gát qua bên vai trò then chốt của các tướng lãnh Trung Quốc trong trận Điện Biên Phủ và mục đích cuối cùng của đảng Cộng Sản, máu xương của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống không chỉ ở lòng chảo Điện Biên Phủ mà trong suốt gần một thế kỷ Pháp thuộc, phát xuất từ lòng yêu nước. Không ai chối cãi hay phủ nhận điều này. Như tôi đã viết nhiều lần trước đây, tình yêu dành cho quê hương của họ là một tình yêu thuần khiết và trong sáng. Họ ngã xuống cho thanh bình sớm được vãn hồi trên quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ là những công nhân đôi tay còn dính dầu máy, là những nông dân từ bỏ ruộng vườn, ra đi theo tiếng gọi của núi sông vang vọng từ Mê Linh, Lam Sơn, Bạch Đằng, từ bốn ngàn năm lịch sử.

Những người Việt Nam đó đã chết chỉ vì một mục đích duy nhất cho con cháu họ được sống trong thanh bình, tự do, độc lập chứ không phải sống trong xiềng xích độc tài nô lệ, và quan trọng nhất, họ không chết vì lá cờ của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tôi thật sự tin, trong một nước Việt Nam tự do dân chủ, sự hy sinh của đồng bào trong suốt gần một trăm năm dưới ách thực dân, dù chết ở đâu và chết như thế nào, chẳng những không bị lãng quên mà còn được vinh danh xứng đáng. Giống như trong các tổ chức khác, trong hàng ngũ đảng Cộng Sản có nhiều người yêu nước nhưng bản thân đảng Cộng Sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Dùng lá cờ của chế độ Cộng Sản độc tài để vinh danh những người đã chết vì nguyện vọng độc lập tự do cho dân tộc là một hình thức phỉ báng họ.

Lý do thứ ba, lá cờ nền đỏ sao vàng phải được gọi là cờ tổ quốc vì  đã thắm máu của nhiều người Việt Nam yêu nước trong cuộc chiến “chống Mỹ xâm lược anh hùng” và cuối cùng đã cắm lên “trên đỉnh cao nhất của dinh Độc lập Sài Gòn”.

Sau 37 năm với hàng ngàn tài liệu được công bố, hàng trăm tác phẩm được viết ra, đã chứng minh một cách tận tường và chi tiết lịch sử hình thành và mục tiêu của đảng CSVN từ 1930 cho đến nay. Hàng hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam bị xua vào cuộc chiến gọi là “chống Mỹ cứu nước” chỉ để thỏa mãn tham vọng Cộng Sản hóa toàn cõi Việt Nam, và ngoài ra, để làm những tên lính đánh thuê trung thành cho Liên Xô và Trung Quốc.

Trong các thập niên 1930, 1940, một mặt hô hào đoàn kết nhưng mặt khác Đảng thẳng tay tận diệt mọi thành phần yêu nước, từ các chính khách, lãnh tụ đảng phái tên tuổi như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn bị cắt cổ ở miền bắc, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi bị giết ở miền trung, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Hồ Vĩnh Ký bị giết ở miền Nam, cho đến các bậc lãnh đạo của hai tôn giáo được khai sinh ngay trong lòng dân tộc là Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, chỉ vì họ có quan điểm đấu tranh chống Pháp khác với mục tiêu xích hóa Việt Nam của đảng Cộng Sản. Không khác gì các chế độ phong kiến bất nhân, chẳng những cá nhân họ bị giết mà con cái họ dù còn trong tuổi vị thành niên cũng không được tha như trường hợp năm người con của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu.

Hôm nay, Liên Xô đã sụp đổ nhưng mối họa Trung Quốc do đảng CSVN rước về chẳng những chưa chịu ra đi mà đang tiếp tục gậm nhấm từng phần lãnh thổ Việt Nam, tàn sát và đe dọa đời sống của ngư dân vô tội. Trung Quốc là  lý do chính để Việt Nam từ một quốc gia bán đảo phì nhiêu nhìn ra biển Đông bao la bát ngát trở thành là một nước nghèo nàn, chậm tiến, bị cô lập trong một vũng ao tù nước đọng không lối thoát ra đại dương.

Tại sao Trung Quốc yểm trợ CSVN trước 1975 và đánh Việt Nam sau 1975?

Đảng Cộng Sản Trung Quốc được xem là cha mẹ đở đầu, dành từng hạt gạo để nuôi dưỡng đảng CSVN ngay cả trong lúc hàng triệu dân Trung Quốc chết đầy đường, không phải vì một nước “cộng sản anh em”, không phải vì “chủ nghĩa quốc tế vô sản”, không phải vì tình cảm “sắn liền sắn khoai liền khoai” (nhái theo âm Quan Thoại bài hát Tình Hữu Nghị Việt Nam – Trung Hoa của Đổ Nhuận) đậm đà tình nghĩa, nhưng chỉ vì Việt Nam là một sân sau, một vùng độn, một vòng đai, một lãnh thổ nối dài của Trung Quốc.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm mới nhất Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Quốc của họ Phạm vào năm 1968. Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp đúng ngay ý chủ: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nên nghĩ như thế ”.

Một lá cờ tắm máu bao thế hệ thanh niên Việt Nam đã chết chỉ vì phải đem thân làm tôi mọi, làm phên dậu châu Á cho chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc xứng đáng được gọi là cờ tổ quốc?

Khi sân sau Việt Nam rơi vào quỹ đạo Liên Xô, nỗi sợ hãi bị bao vây như Chu Ân Lai chia sẻ với Phạm Văn Đồng quay về ám ảnh giới lãnh đạo CS Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình đã quyết định chặt đứt vòng xích bằng cách dạy cho đàn em phản trắc CSVN “một bài học”.

Cuối 1978 đến đầu 1979, Đặng Tiểu Bình thực hiện chuyến đi nước ngoài dài nhất trong cuộc đời y, từ các cường quốc cựu thù Anh, Mỹ, Nhật, cho đến các nước nhỏ hay đang phát triển như Thái Lan, Mã Lai, Singapore và cả Nepal, Miến Điện chỉ với mục đích cô lập “Cu Ba phương Đông”. Họ Đặng đã lấy được lòng nguyên thủ các quốc gia y thăm viếng. ASEAN lên án Việt Nam xâm lăng Kampuchea. Nhật Bản lên án Việt Nam. Tổng thống Carter đồng ý cung cấp tin tức tình báo các hoạt động của 50 sư đoàn Liên Xô trong vùng biên giới phía bắc Trung Hoa. Chưa đầy hai tuần sau khi từ Mỹ về, họ Đặng xua quân đánh Việt Nam. Thân xác của hàng vạn tuổi trẻ Việt Nam ngã xuống dọc biên giới Việt Trung chỉ vì nợ máu xương giữa hai đảng Cộng Sản.

Từ đó đến nay, khi đánh khi đàm, khi vuốt ve khi đe dọa nhưng các mục tiêu của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn không thay đổi. Trung Quốc muốn Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Quốc về chế độ chính trị, là một phần không thể tách rời trong toàn bộ chiến lược an ninh châu Á của Trung Quốc và độc chiếm toàn bộ các quyền lợi kinh tế vùng biển Đông bao gồm cả các vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp. Những diễn biến chính trị kể từ sau lễ ký kết công hàm Thành Đô 1990 đến nay cho thấy, lãnh đạo Cộng Sản Trung Quốc đã nắm giữ cả phần xác lẫn phần hồn của giới lãnh đạo CSVN.

Một lá cờ được làm mục tiêu tác xạ của hải quân Trung Quốc trên biển Đông, đại diện cho một đảng chỉ biết khúm núm trước kẻ thù nhưng vô cùng tàn ác với đồng bào cùng máu mủ xứng đáng được gọi là cờ tổ quốc?

Không phải ngày nay Trung Quốc mới là một nước lớn mà đã lớn trong thời Nam Hán hơn một ngàn năm trước và không phải nước sông Hồng Việt Nam mới đỏ hôm nay mà đã đỏ từ máu của quân xâm lược khi Ngô Quyền đóng cọc trong lòng sông hơn một ngàn năm trước. Lịch sử đã chứng minh, Trung Quốc giàu mạnh nhưng không phải là một quốc gia đáng sợ. Nỗi sợ hãi lớn nhất của người Việt Nam là sợ chính mình không đủ can đảm vượt qua quá khứ bản thân, không đủ can đảm thừa nhận sự thật và sống vì sự thật.

Tôi biết, nhiều chú bác anh chị, nhất là từ miền bắc sống sót sau cuộc chiến Việt Nam, có thân nhân, đồng đội chết dưới lá cờ đỏ sao vàng. Thân xác họ được gói trong lá cờ đó và hôm nay trên mộ họ vẫn còn cắm lá cờ đó. Tuy biết cái sai của chế độ nhưng không phải dễ dàng dứt đi được vì không ai nhẫn tâm chặt đứt cánh tay mình, cắt bỏ đi một phần xương thịt của chính mình. Một chiếc áo cũ ném đi lòng còn vương vấn đừng nói chi một người thân, đồng đội, anh em, một phần đời trai trẻ. Không, tôi không nghĩ các chú bác anh chị nên quên quá khứ hay giết chết đi kỷ niệm. Đúng ra, không ai có thể hay có quyền ra lịnh đó. Vượt qua không có nghĩa là quên đi nhưng biết đặt kỷ niệm, đặt quá khứ vào đúng chỗ trong một ngăn tủ riêng tư và đóng góp phần đời còn lại cho một tương lai tốt đẹp chung của  con cháu mình, đất nước mình. Con người có tuổi thơ, tuổi trẻ, tuổi về chiều nhưng dân tộc thì không. Dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm nhưng vẫn còn rất trẻ. Và một ngày, các chú bác anh chị sẽ thấy mình, giống như dân tộc, trẻ lại vì khát vọng hồn nhiên của thưở tuổi hai mươi đang chảy cùng đất nước trong giai đoạn phục hưng đầy sức sống.

Lịch sử nhân loại cho thấy, không một chế độ độc tài nào tồn tại vĩnh viễn. Một ngày, dân tộc Việt Nam sẽ có một lá cờ tổ quốc, biểu tượng của ý chí vươn lên, tinh thần độc lập, khát vọng tự do đã được hun đúc, trui rèn trong lửa đỏ, vượt qua bao khốn khó gian lao trong suốt chiều dài lịch sử. Để sớm có ngày đó, người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, phải dứt khoát chọn lựa một con đường, một lối thoát cho chính mình và cho dân tộc mình. Không thể phó thác sinh mạng chín chục triệu người và tương lai giòng giống Việt cho thiểu số ăn trên ngồi trước, nắm giữ quyền lực theo kiểu cha truyền con nối và cong lưng làm tôi mọi ngoại bang. Và lối thoát duy nhất, chọn lựa duy nhất của thời đại là dân chủ.

 

©  Trần Trung Đạo

© Đàn Chim Việt

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ GIAO THÔNG BẰNG ĐẦU ĐẤT SÉT

Posted by hoangtran204 trên 07/04/2012

Lời tựa: Ha ha. Đảng ta, những đỉnh cao trí tuệ của loài người…(còn tiếp…đang bận đọc Dưới Ngọn Cờ  Vẻ Vang của Đảng)

Tác giả Huỳnh Ngọc Chênh

Theo blog huynhngocchenh

Đây là văn hóa giao thông của thành phố tự hào văn minh hiện đại nhất nước

Từ sau năm 1975, đô thị và giao thông đô thị ở Việt Nam đã phát triển một cách hoang dã. Đó là hệ quả của một thời đưa những người không có một chút am hiểu lên quản lý đô thị và giao thông đô thị.

Nhà cửa và các khu dân cư cho xây dựng bừa bãi không theo một tiêu chí quy hoạch hợp lý nào. Xe gắn máy cho nhập về thả cửa và không hề nghĩ gì đến việc phát triển hệ thống giao thông công cộng.

Quốc lộ 1 A là xương sống giao thông Bắc Nam, là huyết mạch vận hành và phát triển kinh tế của cả nước mà đến bây giờ nhiều đoạn vẫn còn như con đường làng. Trong khi đó thì cách đây hơn 10 năm, dồn hết tiền của vào xây dựng con đường Trường Sơn đầy tốn kém để rồi bỏ không và lại tốn tiền duy tu bảo dưỡng hàng năm lên đến hàng trăm tỷ đồng. Chưa nói là nhờ con đường nầy mà bọn lâm tặc, bọn kinh doanh gỗ lậu đã phá tan nát hết núi rừng Trường Sơn gây ra những trận lũ càng ngày càng dồn dập và khốc liệt cho vùng đồng bằng miền Trung.

Những tưởng sau hơn 35 năm, thế hệ những người quản lý sau nầy có học hành bài bản hơn. Nhưng những gì họ làm ra cho thấy phần lớn họ cũng chỉ là những cái đầu đất sét.

Trước hết là những con đường ven biển mà hầu như tỉnh nào có bờ biển cũng đua nhau làm để tăng quỹ đất. Những cái đầu đất sét ấy cứ đều đều cách mép biển chừng 100 mét là vẽ một con đường và cho như vậy là đẹp. Không có cái đầu nào hiểu rằng đường ven biển là con đường du lịch. Con đường đó phải có lúc ăn sát ra biển để có cảnh quan và có lúc đi sâu vào trong để tạo ra quỹ đất du lịch biển và để bảo tồn những làng ngư dân ven biển lâu đời.

Con đường từ Phan Thiết đến mũi Kê Gà là một minh chứng hùng hồn cho những cái đầu đất sét quy hoạch giao thông. Con đường ấy cứ đều đặn bò sát mép biển, chỗ nào mép đất nhô ra thì nhô ra theo, chỗ nào mép đất thụt vào thì thụt vào theo một cách ngây ngô. Con đường ấy làm cho đất phía bên biển quá hẹp không thể xây dựng công trình du lịch được, còn đất phía bên trong thì chỉ còn xây dựng nhà phố chứ không thể nào phát triển khách sạn lớn hoặc các khu resort, du lịch to đẹp đúng chuẫn được vì du khách muốn ra biển thì phải băng qua đường.(xem bản đồ đường từ Phan Thiết đi mũi Kê Gà)(hoặc xem đây)

Ông Nguyễn Bá Thanh ở Đà Nẵng được ca ngợi là có đầu óc lắm nhưng con đường ven biển từ Sơn Trà vào đến Ngũ Hành Sơn thì cũng được vạch ra ngây ngô không khác gì đường Kê Gà. Từ Sơn Trà vào đến Bắc Mỹ An dài gần chục cây số, con đường cứ đơn điệu chạy sát mép biển. Ở khu vực biển tuyệt đẹp nầy chỉ có thể xây dựng được các khách sạn cở 2, 3  sao như khách sạn Mỹ Khê là cùng.

Đoạn từ Bắc Mỹ An vào Non Nước, may mắn là trước khi vạch ra con đường, đã có khu resort Furama nằm sát biển, do vậy con đường chạy tránh vào trong tạo ra một quỹ đất du lịch ven biển rất đẹp nép theo khu Furama. Nhờ vậy mà thu hút được hàng loạt dự án đầu tư lớn vào du lịch ăn ttheo khu Furama.(xem bản đồ đường Hoàng Sa ven biển Đà Nẵng)(hoặc xem đây)

Nhưng cũng hết sức buồn cười, kể từ đó chạy vào đến cửa Đại (Hội An) dài gần 20km, con đường cứ thế đều đều chạy sâu trong đất liền không có một chỗ nào nhô ra sát biển để có được cảnh quan biển, thật là đáng tiếc.

Trong đô thị thì những cái đầu đất sét thể hiện rất rõ qua các biển báo giao thông và cách phân luồng. Lấy Sài Gòn là một đô thị tự hào là văn minh, hiện đại nhất nước ra đơn cử.

Đến tận bây giờ thì một số giao lộ phức tạp mới xây mới có biển chỉ đường. Vẫn còn rất nhiều giao lộ khác chưa có biển chỉ đường như giao lộ Nguyễn Hữu Cảnh- chân Cầu Thủ Thiêm, giao lộ Nguyễn Hữu Cảnh- chân cầu Sài Gòn, vòng xoay Dân Chủ, vòng xoay Phù Đổng, vòng xoay Quách Thị Trang…Và những biển chỉ đường đến những địa điểm quan trọng như sân bay, ga xe lửa, bưu điện trung tâm, chợ Bến Thành, bệnh viện lớn, tòa thị chính, dinh Thống Nhất, ngã tư Hàng Xanh, ngã tư Bãy Hiền…hầu như không có.

Người dân làm ăn cạnh những giao lộ đã quá bực mình vì bị khách đi đường hỏi đường nên phải tự vẽ những bảng chỉ đường như sau để bớt bị phiền hà. Thật không còn gì bôi bác chế độ hơn thế này!

Bị phiền vì bị hỏi đường quá nhiều, người dân tự chế bảng chỉ đường

Một thành phố hiện đại thì phải có hệ thống biển báo thật khoa học để cho bất cứ ai muốn tìm đường cũng không cần phải dừng xe hỏi đường. Điều nầy tôi thường viết báo nói đi nói lại rất nhiều lần từ 20 năm qua nhưng những cái đầu đất sét chỉ biết “kiếm chát” không hề nghĩ đến.
Còn việc phân luồng thì hết sức tùy tiện, không am hiểu một chút gì về vận trù học. Cứ hứng lên thì cho hàng loạt đường thành một chiều. Thấy rối tinh lên lại điều chỉnh về như cũ. Chuyện ấy cứ lặp đi lặp lại ở Sài Gòn khá nhiều lần.
Việc phân làn xe cũng rất bất nhất giữa các địa phương. Trên Quốc lộ 13, đoạn ở Sài Gòn thì cho xe tải và xe con đi chung làn, nhưng qua Bình Dường thì xe tải và xe con lại tách riêng ra. Tương tự như vậy với quốc lộ 1A giữa Sài Gòn và Đồng Nai. Kiểu cố tình bất nhất như vậy là nhằm mục đích gì nếu không phải là để tạo điều kiện cho cảnh sát giao thông kiếm ăn?

Những bất hợp lý trong giao thông nói chung và trong giao thông đô thị nói riêng thể hiện qua các chuyện nhỏ như: biển báo, cách phân làn, các quy định…kể ra không thể nào hết.

Biển báo dưới chân cầu Thủ Thiêm, hướng đi Đại lộ Đông Tây với rất nhiều chữ khiến người đi đường khó có thể đọc hết nếu không dừng lại. Ảnh: H.C. /nguồn VNE
Một biển báo thay thế biển báo “cấm” ở trên được thành viên của một diễn đàn trên Internet đưa ra để dạy quan chức giao thông đầu đất sét.

Gần 40 năm sau hòa bình, tôi tin là đã có một thế hệ quản lý mới được cho ăn học và có bằng cấp chuyên môn đàng hoàng. Tôi vốn tôn trọng nhà cầm quyền nên không tin rằng đám quan chức quản lý mới ấy chỉ toàn là phường giá áo túi cơm, toàn là bọn bằng cấp giả hoặc bằng thật học giả như dư luận khắp nơi luôn râm ran.

Nhưng những gì tôi thấy các vị ấy làm, chỉ trong lãnh vực quản lý đô thị và giao thông, thì không thể nào làm tôi không tin rằng đầu óc các vị ấy chỉ toàn là đất sét. Mà đỉnh cao đất sét ấy là ngài bộ trưởng Đinh La Thăng. Còn ai cao hơn nữa không, tôi không biết nên không dám nói.

Tại sao tôi phải tin rằng các vị là đầu đất sét? Vì tất cả những điều tôi nói ở trên là những kiến thức cơ bản mà một học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông một cách nghiêm túc đều phải biết, không cần đến trình độ chuyên ngành gì cao siêu ghê gớm như bằng cấp của các vị ghi.

Và thành thật xin lỗi những vị quan chức khác, số rất ít thôi, không phải là đầu đất sét.

 H.N.C.

                                                                             +++++++++++++++

Biển báo có như không

Qua đoạn đường tại góc ngã ba đường Phan Đình Giót (đi ra đường Trường Sơn, sân bay Tân Sơn Nhất) -Phan Thúc Duyện (hướng đường Cộng Hòa, Trường Chinh) – Phổ Quang (ra đường Hoàng Minh Giám, công viên Gia Định) hẳn người đi đường sẽ ngạc nhiên khi thấy một biển báo bằng gỗ đặt gần lòng đường bên phải với nội dung hướng dẫn các hướng đi, đồng thời kèm thêm câu “Đừng hỏi+ cảm ơn”!

Tại góc ngã ba đường Phan Đình Giót - Phan Thúc Duyện - Phổ Quang, dù đã có biển báo “xịn” nhưng người dân vẫn phải dòm tấm biển tự chế này
Tại góc ngã ba đường Phan Đình Giót – Phan Thúc Duyện – Phổ Quang, dù đã có biển báo “xịn” nhưng người dân vẫn phải dòm tấm biển tự chế này.

Chúng tôi càng ngạc nhiên khi thấy mấy bác xe ôm tại đây không ngồi trên xe để chờ khách mà rủ nhau ngồi… vệ cỏ. Hỏi ra mới biết mấy bác sợ… bị hỏi đường. Người sáng chế ra biển báo này là ông Nguyễn Văn Hiếu, làm nghề xe ôm 3 năm tại khu vực này.

Ông Hiếu cho biết: “Từ đầu năm 2011 đến nay, ngoài việc chạy xe ôm tôi phải kiêm thêm “nhiệm vụ” chỉ đường cho người dân không dưới 100 lần mỗi ngày. Gần 2 tháng nay tôi đã tự chế đến 5 cái biển hướng dẫn người đi đường. Chất liệu “biển” bằng bìa carton, hoặc bằng gỗ nên chữ bị mờ hết. Sắp tới tôi đành bỏ ra một ngày công để làm cái biển bằng sơn dầu, nắng mưa sẽ không bay chữ nữa, đồng thời sáng đi làm thì đem theo biển, tối mang về.

Theo nhóm xe ôm, mặc dù đã có biển báo nhưng người dân vẫn cứ hỏi đường vì biển báo đặt sát góc ngã rẽ đường Phan Đình Giót -Phan Thúc Duyện, chữ nhỏ và hơi cao trong khi khu vực ngã ba này rất rộng. Hơn nữa biển chỉ dẫn hướng Lăng Cha Cả nhưng hiếm ai hỏi đường này mà chỉ hỏi đường Trường Chinh, Cộng Hòa.

Tương tự, tại vòng xoay công trường Dân Chủ (hướng đi ga Sài Gòn), người dân cũng đã làm biển tự phát vì quá nhiều người hỏi hướng đi ga Sài Gòn. Hay ở khu vực ngã tư Cao Thắng -Nguyễn Thị Minh Khai, một người dân bán áo mưa ở vỉa hè cũng đã tự chế cái biển để hướng dẫn chị em đường đi đến Bệnh viện Từ Dũ. Ngoài ra, trên nhiều tuyến đường ở TP.HCM nhiều biển báo hiện nay bị che khuất bởi những tán cây. Đường Chu Văn An, giao với đường Đinh Bộ Lĩnh là một ví dụ. (nguồn: Giao thông vân tải)

Posted in Phát Triển Đô Thị và Kế Hoạch | Leave a Comment »

Vụ Cướp Đất Tiên Lãng: Sau khi bị lật tẩy, chính quyền vẫn tiếp tục gạt gẫm người dân và coi họ như con nít

Posted by hoangtran204 trên 07/04/2012

Giỡn mặt nhân dân

Tác giả: Huỳnh Ngọc Chênh

Ai phá nhà Vươn?Mờ mắt trước miếng đất béo bở của anh em Đoàn Văn Vươn mà họ phải bỏ tiền nong, công sức và nước mắt trong hơn chục năm qua để tạo dựng nên, đám cường hào mới ở Tiên Lãng đã nổi lòng tham, bày mưu tính kế ăn cướp trắng trợn.

Kế hoạch cưỡng đoạt được dựng lên, được đưa lên cấp cao hơn là UBND Hải Phòng dưới sự lãnh đạo của Bí thư thành ủy Nguyễn Văn Thành xét duyệt và chấp thuận.

Công an, quân đội được điều động đến phục vụ cho ý đồ đen tối của đám cường hào mới. Không còn con đường nào khác, sau khi đã chạy hết các cửa công quyền để khiếu kiện và cầu cứu nhưng đều thất bại, anh em Vươn đành vô vọng chống cự lại lực lượng trấn áp sai trái để bảo vệ thành quả lao động chính đáng của mình.

Kết quả là anh em Vươn – Quý bị bắt, đàn bà con cái trong gia đình bị đánh đập, ngôi nhà hai tầng bị giật sập tan tành, tôm cá trong đầm bị cướp sạch.

Trước sự lộng quyền và dã man của đám cường hào, trước nỗi oan khiên thấu trời xanh của anh em Vươn, người dân ở mọi thành phần, tầng lớp trong cả nước đã vào cuộc. Những tiếng nói phản đối vang lên khắp mọi nơi. Buộc chính phủ phải vào cuộc. Chính Thủ Tướng phải trực tiếp đứng ra chỉ đạo xử lý vụ việc.

Thành ủy Hải Phòng buộc lòng phải chấp hành. Một mặt xử lý vài tên cường hào để xoa dịu dư luận, một mặt quyết liệt bày mưu chống chế để hòng cứu vãn tình hình, tìm cách giải nguy cho cấp dưới, đồng thời qua đó cũng cứu nguy cho chính mình. Bởi lẽ đám cường hào ở huyện Tiên Lãng càng nhẹ tội thì cấp trên ở Hải Phòng càng nhẹ phần trách nhiệm liên đới.

Việc chống chế của Hải Phòng thể hiện qua các việc sau:

– Giao cho PCT Đỗ Trung Thoại là người đã có phát ngôn đổ vấy nhân dân là thủ phạm giật phá nhà Vươn làm tổ trưởng tổ công tác xử lý vụ Tiên Lãng (sau nầy bị dư luận phản ứng mới rút xuống làm tổ phó).

– Giao cho công an Hải Phòng dưới quyền Đỗ Hữu Ca – là người trực tiếp chỉ huy vụ tấn công vào khu đầm và triệt hạ nhà anh Vươn- điều tra về vụ án phá nhà anh Vươn.

– Đích thân ông Nguyễn Văn Thành công khai kể thêm tội anh em Vươn và làm nhẹ tội đám cường hào trong bài phát biểu sai lệch trước cán bộ hưu tại câu lạc bộ Bạch Đằng.

– Đưa Lê Văn Hiền là kẻ chủ mưu chính trong vụ cướp đất về làm chuyên viên Sở Nội Vụ sau khi bị mất chức chủ tịch huyện.

Chính vì muốn giải cứu cấp dưới và làm nhẹ trách nhiệm của mình nên sau hai tháng xử lý, thành ủy Hải Phòng mới đưa ra một bản kết luận mà dư luận hầu hết đều đánh giá rất không thỏa đáng và đầy dấu hiệu bao che cho đám cường hào tội phạm ở Tiên Lãng.

Nói rằng có đến 25 tổ chức và 50 cá nhân bị xử lý kỷ luật nhưng thật ra mới chỉ có 2 người bị cách chức, còn tất cả chỉ là khiển trách hoặc cảnh cáo sơ sài, mà khiển trách hoặc cảnh cáo trong đảng thì xem như chẳng bị gì.

Dấu hiệu bao che thấy rõ nhất là vụ án phá nhà anh Vươn cho đến nay qua hơn hai tháng điều tra vẫn chưa tìm ra ai là thủ phạm.

Việc tìm ra những tên chủ mưu trong vụ án phá nhà anh Vươn là quá sức đơn giản và chỉ cần mất chừng vài ngày. Ngôi nhà hai tầng nầy bị phá hủy, giật sập ngay sau khi lực lượng trấn áp của ông Đỗ Hữu Ca chỉ huy tiến vào. Hành động ấy diễn ra ngay trước sự chứng kiến của lực lượng trấn áp. Đã có tên tuổi những tên trực tiếp đập phá nhà anh Vươn. Từ những tên này tìm ra ai là kẻ ra lệnh hoặc xúi giục hoặc thuê mướn chúng làm việc phi pháp ấy có phải việc làm quá sức khó khăn đến nỗi qua hai tháng rồi mà lực lượng điều tra công an Hải Phòng vẫn chưa làm được?

Việc cưỡng đoạt đất đai, phá hoại nhà cửa và cướp đoạt tài sản của người dân lành ở trên đất nước nầy hay ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới và ở vào bất kỳ thời đại nào đều bị liệt vào loại tội ác nghiêm trọng. Kẻ gây ra tội ác ấy phải bị trừng trị đích đáng vì đích thị chúng là bọn cướp.

Vì phản ứng lại tội ác tày đình đó mà nạn nhân mới tìm cách chống trả tự vệ.

Đạo lý muôn đời và nền pháp luật công minh luôn đứng về phía nạn nhân trong trường hợp nầy. Thế nhưng thành ủy Hải Phòng đứng đầu là ông Nguyễn Văn Thành đang cố tình làm ngược lại. Trong bản kết luận vừa rồi, họ cố kể ra thật nhiều tội của nạn nhân với mong muốn làm vô hiệu hóa tình tiết giảm nhẹ để trả thù và để lấp liếm đi tội ác đích thực của bọn cường hào Tiên Lãng.

Họ đang đi ngược lại đạo lý, lươn lẹo với pháp luật và như vậy là đang giỡn mặt với nhân dân.

Một khi đi ngược lại đạo lý thì đến ông trời cũng bị lật đổ.

Nguồn: blog Huỳnh Ngọc Chênh

______________________________________________________________________________

Cách chức hay thăng chức?

Tờ báo Giáo Dục cho biết, UBND TP Hải Phòng cho biết sẽ điều chuyển ông Lê Văn Hiền, nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng về làm chuyên viên của Sở Nội vụ Hải Phòng.

Trước đó, liên quan đến sai phạm trong vụ cưỡng chế thu hồi đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn tại xã Vinh Quang, H.Tiên Lãng, ngày 11.2, UBND TP đã có quyết định đình chỉ công tác đối với ông Lê Văn Hiền để kiểm điểm làm rõ trách nhiệm trong vụ việc trên. Tiếp đến, ngày 23.2, Thành ủy, UBND TP đã có quyết định cách chức Phó bí thư, Chủ tịch UBND huyện đối với ông Hiền.

Xung quanh vụ việc nhiều bài báo đề cập tới những phát ngôn sai sự thật của ông Hiền như việc ông đổ cho “nhân dân bức xúc phá nhà ông Vươn” và sau đó chống chế rằng “không biết ai phá nhà ông Vươn”.

Em ông Hiền là chủ tịch xã Quang Vinh, nơi trực tiếp xảy ra vụ cưỡng chế .

Việc ông được về làm chuyên viên sở Ngoại Vụ Hải Phòng khiến một số người đặt câu hỏi, không biết ông bị cách chức hay được thăng chức?

Cũng cần nhắc lại rằng, việc xử lý những sai phạm ở Tiên Lãng cho tới nay vẫn chưa có hồi kết. Anh em ông Đoàn Văn Vươn vẫn đang bị giam giữ để điều tra tội “giết người” dù đã có nhiều luật sư lên tiếng đòi sửa đổi tội danh cho họ.

Vụ cưỡng chế khiến 6 công an và bộ đội bị thương từ đạn súng hoa cải tự chế.

 

nguồn Đàn Chim Việt

 

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Ở Việt Nam, khi kẻ ác lên ngôi, thì người hiền không có chỗ đứng trong chính quyền, gặp nạn, hoặc có khó khăn về tài chánh

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2012

Họ đang công khai tước đoạt quyền của công dân

Tôi đã dự liệu trước, rằng cái đơn kiện của Bùi Hằng lần trước vì phải chép tay nên không tránh khỏi sai sót, vì vậy chưa thể tiến hành khởi kiện được. Lần này, thằng Bùi Nhân lên Thanh Hà, cốt chỉ để đưa cái đơn kiện in sẵn cho Bùi Hằng ký. Kiểu gì lần này họ cũng không thể bắt Bùi Hằng chép tay lại lần nữa, không có cái lý nào bắt như vậy cả.

Như mọi lần, chúng tôi theo Bùi Nhân lên Thanh Hà. Dọc đường mới hay, cái sổ thăm nuôi hiện con gái Bùi Hằng ở Sơn Tây đang cầm. Mặc dù chị em nó đã hẹn sẽ gặp nhau ở Thanh Hà, nhưng sao tôi vẫn thấy lo lắng. Ngồi bên cạnh thằng Nhân, mọi người liên tục giục nó liên lạc với chị nó, nỗi lo lắng càng tăng khi nghe nói chị nó bị đau nên chờ bác sĩ khám xong sẽ đi.
Đến đường rẽ vào Trại Thanh Hà, cô con gái của Bùi Hằng chính thức báo tin không lên được. Chúng tôi dừng xe để thằng Nhân gọi điện hỏi tay phó giám đốc trại, nhưng tay này từ chối, bảo không có sổ thăm nuôi thì không được gặp mẹ!
Người khác nghe thấy chắc phẫn uất lắm. Một thằng bé dù to xác nhưng vẫn là một đứa trẻ, cứ phải bay ra bay vô từ nam ra bắc đi thăm mẹ mà họ lạnh lùng bảo, không có sổ thì không được gặp mẹ nó. Làm sao lại có cái thứ đạo luật nào vô lương tâm đến thế ở trên đời?
Không suy nghĩ gì nhiều, thời gian là vàng bạc, chúng tôi quay đầu xe quyết định đi Sơn Tây để lấy sổ thăm nuôi. Lúc đó đã gần trưa ngày 3 tháng 4.
Cái câu trên trang của bác Bọ Lập: đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh…cứ ám ảnh tôi bấy lâu nay. Giờ thì chẳng cần chờ đến lúc về sau. Nghĩ đến quãng đường đi và về gần trăm cây số chỉ để lấy một cái cuốn sổ vô tri vô giác, tôi thấy mình có lý để mà căm ghét những kẻ đang lợi dụng luật pháp để hành hạ người dân như thế này.
Do chưa biết đường nên chúng tôi phải vừa đi vừa hỏi. Thiết bị định vị (GPS) chẳng có tác dụng mấy vì dữ liệu không cập nhật. Khoảng cách 45 km không phải là xa, nhưng giao thông ở Việt Nam thì chẳng ai nói trước được điều gì. Tôi mệt mỏi và buồn bực ngồi trên xe, chẳng buồn quan sát xung quanh. Chỉ khi đến bến phà tôi mới nhỏm lên nhìn.
Những ký ức xa xưa từ hồi sơ tán ùa về, khi tôi nhìn thấy cái lối đi mới mở trên lòng sông cạn để dẫn xuống bến phà. Những chiếc ô tô nghiêng ngả ì ạch bò trên cát, con phà nhỏ với chiếc ca nô lai dắt đang nổ máy phành phạch nhả khói khét lẹt, nước sóng sánh bên mạn phà…Tất cả mọi người nhảy xuống xe ngắm nhìn quang cảnh. Tôi ngồi chết dí trên xe, gặm nhấm nỗi buồn không cắt nghĩa nổi. Chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm mà đất nước vẫn thế này ư? Nơi này đâu xa Hà Nội mấy, chỉ chừng sáu bẩy chục ki lô mét.
Xe đến Sơn Tây đã quá trưa. Suốt dọc đường, Bùi Nhân gọi hàng chục cú điện thoại cho cô chị, nhưng vô vọng.
Mọi người phán đoán có sự can thiệp của ai đó. Nhưng thật khó hiểu, họ là những người ruôt thịt, còn chúng tôi chỉ là người dưng, lại lặn lội đưa con em họ đi thăm người nhà họ kia mà?
Chúng tôi kiên nhẫn chờ Bùi Nhân gọi điện thêm dăm cuộc, đoán cô chị cố tình lánh mặt vì lúc sáng, khi thông báo không lên Thanh Hà được thì Bùi Nhân có nói sẽ lên Sơn Tây để lấy sổ.
Ở lại lâu không tiện vì chúng tôi lạ nước lạ cái, mà cái trò bẩn thì khó lường. Đoán chắc mỗi bước đi của chúng tôi đều được thông báo chặt chẽ. Thậm chí có kẻ công khai phóng xe máy (không đội mũ bảo hiểm thì chỉ có thành phần bất hảo hoặc công an) đuổi theo xe, vừa đi vừa giơ điện thoại chụp ảnh chúng tôi.
Chúng tôi đành quay về Hà Nội. Xe ra khỏi Sơn Tây gần 10 cây số thì cô em gái Bùi Hằng gọi điện cho thằng Nhân. Không biết họ nói với nhau những gì, chỉ thấy thằng Nhân đang cố ghìm cơn giận. Nó nhất định đòi xuống xe, một mình bắt xe ôm quay lại Sơn Tây để lấy sổ.
Một ngày trôi qua thật vô ích, tốn kém công sức và tiền bạc của những người đã có lòng đóng góp giúp đỡ hai mẹ con Bùi Hằng. Họ tưởng làm thế này là chúng tôi sẽ nản chí ư. Họ thật lầm to. Điều đó chỉ càng chứng tỏ sự ngu dốt và bất chấp luật pháp cũng như đạo lý của họ, và càng thôi thúc chúng tôi đấu tranh đến cùng mà thôi.
Tôi quên chưa nói một điều. Không phải quên mà là chưa có thì giờ để nói. Cách đây hơn nửa tháng, tôi nhận được lời nhắn nhe có ý cảnh cáo rằng công an đang lập hồ sơ để đưa tôi vào trại với Bùi Hằng. Tôi nói thẳng với tay công an khu vực về điều này và khẳng định – không dễ vu khống tôi để bắt tôi đi cải tạo giáo dục như Bùi Hằng.
Tôi biết hơn chục ngày trước, trên mạng lan truyền tin đồn sẽ có biểu tình lớn của dân oan bị mất đất. Khỏi phải nói, mọi người lên mạng phàn nàn rằng bị an ninh bám theo nhằng nhằng, quấy rầy dữ quá. Đến khi vợ chồng bác Trâm và Khánh bị an ninh dùng xe máy chặn trước cửa không cho ra ngoài suốt mấy ngày liền thì người ta không chịu được nữa, kêu giời lên: cái bọn phường này nó loạn thần kinh mất rồi.
Tôi lại nói với ông công an khu vực, tôi mà chủ tịch nước, tôi sẽ cho mấy cái ông cứ xua quân đi theo dõi những người dân lương thiện nghỉ việc hết. Họ không đi lo dẹp tệ nạn xã hội để yên dân, lại cứ đi lo canh mấy ông bà già trói gà không chặt như chúng tôi là sao?
Sáng ngày 4 tháng 4, mặc dù tôi bảo thuê taxi đi cho an toàn, nhưng Người Buôn Gió tiếc tiền nên lấy xe máy chở Bùi Nhân lên Thanh Hà. Gần trưa thì nhận được tin Trại Thanh Hà không cho Bùi Hằng ký đơn. Và trong cơn bức xúc, Bùi Hằng đã nói với con trai, nếu quyền con người của cô ấy không được tôn trọng, cô ấy sẽ tự sát để phản đối.
Như vậy, tất cả những việc làm để nhằm tố cáo việc bắt giữ Bùi Hằng trái phép đã bị ngăn chặn công khai và trắng trợn. Bị giam giữ suốt hơn 4 tháng nay, Bùi Hằng không được gặp luật sư, viết đơn khiếu nại thì không nhận được sự trả lời, không được ký đơn kiện. Tôi tự hỏi nếu mẹ con Bùi Hằng không có những người bạn, không được bà con trong và ngoài nước ủng hộ thì số phận họ sẽ ra sao?
Đương nhiên là chúng tôi sẽ đấu tranh đến cùng để yêu cầu thả Bùi Hằng. Điều này không phải cho cá nhân Bùi Hằng, mà còn cho tất cả những người biểu tình chống Trung Quốc đã bị o ép trong suốt thời gian qua.
Nguồn: Blog Phương Bích
—————————————————————————————————

18-3 trại Thanh Hà

Nguồn: nguoibuongio1972.multiply.com

Đi cùng Bùi Nhân đến thăm Bùi Minh Hằng hôm nay không nhiều người lắm, có bé Cải , anh Tường Thụy, Dũng Aduka,chị  Phương Bích, chị Hiền Giang, Lê Dũng và bác Lê Hiền Đức.

Hà Nội mịt mù sương, đi mãi đến đoạn rẽ vào Tây Thiên thì trời quang, nắng ấm. Con đường vào trại Thanh Hà mới được đổ bê tông, người dân nói vừa mới làm xong. Con đường này còn chạy xa nữa vào thôn xóm bên trong, nhưng đoạn đổ bê tông thì chỉ đổ từ đường nhựa vào đến cổng trại là dừng hẳn.

Dễ nhận ra trại Thanh Hà vì những tấm biển nền đỏ chữ vàng ghi dòng chữ

– khu vực cấm tụ tập
– khu vực cấm quay phim, chụp ảnh



Liên tiếp những biển cấm như thế dọc hàng rào, những tấm biển cấm này thậm chí khiến cái biển tên trại lọt thỏm, khiêm tốn vì nhỏ bé và cũ mờ. Sau dãy hàng rào sắt, người ta giăng lưới đen che kín không cho người bên ngoài nhìn vào bên trong. Sao thiết kế mà chả nghĩ gì cả, không xây luôn tường cao, có rào thép gai như nhà tù cho đỡ mất công, giờ lại phải rào lưới che mắt thiên hạ như vậy.

Mình và Bùi Nhân đến cửa phòng trực, hỏi về chuyện giấy ủy quyền của Nhân cho mình thăm nuôi chị Hằng trại giải quyết sao,trực ban trại tên Hiệu nói quy định của cục quản lý trại giam là mình không phải thân nhân ruột thịt nên không ủy quyền được.

Mình hỏi xin lại cái giấy ủy quyền thì anh ta kêu nộp ban giám đốc rồi. Mình nói theo nguyên tắc không chấp nhận đơn thì trả lại đơn và phê lý do. Anh Hiệu nói là công an phải thu thập tài liệu. Mình nói chả lẽ giờ tôi nộp sổ đỏ cho ông thì ông cũng bảo đó là tài liệu để ông thu à. Ông không chấp nhận đơn thì giả lại đơn cho tôi và ghi lý do vì sao vào đó, thế mới đúng luật. Sao lại tính chuyện thu luôn là thế nào. Hiệu bảo cái này giám đốc trại giữ, hôm nay chủ nhật nên không giải quyết được.



Mình Bùi Nhân xách đồ vào thăm mẹ, mọi người đang đứng bên ngoài thì một người mặc áo cảnh sát đứng bên trong hàng rào đứng sau cái biển cấm quay phim, chụp ảnh dùng máy quay phim chĩa vào mọi người, cũng trong hàng rào góc khác một người mặc đồ an ninh cũng dùng máy quay để ghi lại hình những người đến trại.



Mặc dù không hề tụ tập, mấy người đi thăm nuôi đã ít, lại chia thành mấy tốp hai hoặc ba người đứng các điểm khác nhau, nhưng vẫn bị quay phim. Lát sau công an xã đến rầm rập bằng xe máy và ô tô. Tổng cộng khoảng 17 người, trong đó có một nữ số này đứng hết bên ngoài, họ tự giới thiệu họ là công an xã.

Một công an xã hỏi mọi người đứng đây làm gì, trả lời đường thì đứng chứ sao, anh ta nói anh ta đến đây để bảo vệ đất và chìa thẻ công an xã ra. Mọi người nói ông cứ đứng đấy bảo vệ đất, chúng tôi bê đi miếng nào hẵng hay.

Một người trung niên dáng cấp trên nói đây là chủ quyền của chúng tôi. Mình mới hỏi chủ quyền là gì, là ông sở hữu đất này của ông à. Ông ý bảo ông ý là quản lý, mình hỏi thế ông tên gì, cấp gì quản lý đất gì, ranh giới đến đâu; ông hãy nói chức vụ và giới hạn đất chủ quyền của ông đến đâu thì tôi xin đứng ra ngay vạch đó. Mình lấy giấy bút ra thì ông ý đi thẳng



Mình quay qua nhìn qua trong trại lớp lưới, nhìn đoạn hở dưới chân lưới đếm được 16 cái gầu quần màu xanh tức là 8 đôi giày, 8 đôi tất xanh.

Có tốp nữa đi xe máy đến vào trại, họ mang theo máy quay phim, nâng tổng số máy quay lên 3 chiếc, tương đương với đúng 3 tấm biển cấm quay phim chụp ảnh treo ở hàng rào.

Một tốp người gồm em chị Hằng, con gái, con rể đi ta xi, họ trình chứng minh thư và được vào ngay. Tốp này gần trưa mới đến, lúc đi có vẻ vội vàng nên chỉ có đúng một túi quà nhỏ.

Họ là những người mà trại gọi là thân nhân của chị Hằng được phép gặp. Tốp này ở Sơn Tây đến vào thăm chị Hằng một lúc thì ra ngay. Thậm chí em gái vào qua cổng trại nhưng không đến phòng thăm chị mà đứng vật vờ gốc cây trong trại. Cô em này là đảng viên chắc chỉ qua cổng trại cho bọn bên ngoài nhìn thấy là cô ta đã hoàn thành nhiệm vụ chứ không cần vào trong gặp chị làm gì.


Cánh cổng trại khóa kín, ai vào trực ban mới ra mở cửa cho người lách vào rồi đóng lại. Lúc này bên trong khoảng gần 20 cảnh sát, bên ngoài cũng tầm 20 người gồm công an xã, một nhóm mặc thường phục chỉ đạo, một nhóm thì riêng rẽ mặc quần an ninh nhưng áo thường dân.

Bà Lê Hiền Đức xin vào trại tham quan trường giáo dục, nhưng người trực ban bảo đây là khu vực an ninh quốc phòng không có phận sự không vào được. Bà thở dài và than, tám mươi tuổi đầu rồi giờ mới biết trường giáo dục là cơ sở an ninh quốc phòng.

Bà Hiền Đức rời cổng trại đến chỗ nhà dân, nơi có tốp người đang ngồi trong. Bà hỏi mượn cái ghế, họ bảo chủ nhà đi vắng không lấy ghế cho bà được. Bà bảo sao chúng mày ác thế, tao già thế này mà chúng mày để tao đứng khi chúng mày con trẻ, nhà người ta đi vắng sao mày lại lấy ghế của nhà người ta ra cửa ngồi. Bọn kia bảo nếu là bà thì bà cũng thế thôi.Trong bọn đó có tay trung niên ban nãy kêu chủ quyền, quản lý đất cát gì đó.

Em bé Cải chạy ra quán mượn ghế cho bà ngồi. Bà Hiền Đức ngồi yên vị thì trong tốp đó có một tay mặc quần công an, áo sơ mi ra hỏi bà làm gì. Bà bảo tao chống tham nhũng, tay đó nói, bà chống tham nhũng mà bà không sợ pháp luật sao.

Mọi người ồ lên cười vì câu nói quá hay của hắn. Mọi người chất vấn sao hắn lại hỏi thế, làm hắn bối rối bỏ đi. Mình ngồi cách đó một đoạn chợt nghĩ, biết đâu hắn là cao nhân. Đúng là thời nay chống tham nhũng là phải biết sợ pháp luật. Tại vì sao thì cứ nhìn công cuộc chống tham nhũng là rõ.

Đến trưa Bùi Nhân ra, hình như việc đơn từ gì đó của chị Hằng chưa xong. Mang máng nghe thấy là trại không chấp nhận đơn đánh máy, mà phải viết bằng tay thì mới được. Mà viết tới tận 5 trang nên chắc chiều mới xong. Mọi người kéo ra quán ăn mỳ tôm, vừa ngồi xuống thì quán mất điện. Chạy đi các nhà hàng xóm xung quanh nhà nào cũng có điện.

Đến 2 giờ Nhân gọi điện hỏi cán bộ trại mẹ viết xong chưa, cán bộ bảo chưa biết bao giờ mới xong. Mọi người ra cổng trại chờ, nói với nhau là nếu khó dễ thời gian chuyện làm đơn thì chúng ta trong lúc chờ đợi vào hỏi chuyện hoa hôm 8-3.

Chị Phương Bích hỏi trực ban anh Trần Thái Hòa đâu, vì hôm mùng 8-3 chị gửi hoa cho Bùi Hằng nhờ anh Hòa đưa mà chị Hằng không nhận được. Trực ban nói là anh Hòa có lòng tốt muốn đưa hoa giúp cho chị Hằng, nhưng lãnh đạo trại không cho phép anh thực hiện điều đó.

Trực ban còn chạy đi vào trong lấy xấp ảnh ngày 8-3 ở trại có tổ chức cho chị em phụ nữ, và ảnh anh Hòa cầm bó hoa đứng cạnh chị Hằng dưới sân khấu có chữ 8-3. Ý trực ban nói là anh Hòa cũng đã tặng hoa của trại cho chị Hằng, thôi thì ngày 8-3 có hoa là được rồi. Có người nói là các anh làm thế cũng tốt, nhưng không phải các anh mang tình cảm của các anh ra thay thế tình cảm của người khác được.

Đang lằng nhằng chuyện bó hoa thì cán bộ cầm đơn chị Hằng viết ra đưa cho Nhân Bùi, kèm với mẩu giấy gửi cho Nhân Bùi mà chị Hằng phải hai lần lặp lại nội dung nhấn mạnh là mẹ viết đến 3 giờ chiều mới xong.

Chị Phương Bích lên xe thắc mắc, quái sao mình đưa chứng minh thư tên mình là Bích Phượng, cái tên Phương Bích là tên trên blog, thế mà công an trại cầm chứng minh thư xem mà cứ gọi mình là Phương Bích.

Xe đang đi trên đường be tông thì em bé Cải cất máy ảnh vào túi. Mình bảo em cất vội thế, biết đâu tí nữa ra kia có xe cảnh sát giao thông chặn xe mình thì sao. Lấy máy ảnh ra đi được ra đến đoạn đường nhựa chừng 10 phút y rằng có tốp cảnh sát giao thông chặn lại, mấy xe sau đi, đến xe nữa của đoàn thì lại bị chặn lại nốt để kiểm tra giấy tờ.

Bà Hiền Đức xuống xe hỏi tại sao bao nhiêu xe đi qua không chặn, lại chặn riêng hai xe này. Tốp công an nói kiểm tra không có gì thì đi, giấy tờ đầy đủ thì được phép đi. Tất nhiên hai xe giấy tờ đều đầy đủ, họ cho đi chóng vánh, thậm chí hối thúc đi, nhưng bà Hiền Đức bực chuyện bao nhiêu xe nườm nượp đi qua họ không kiểm tra cái nào mà chỉ kiểm tra hai xe này. Sau thì bà cũng lên xe đi, mình lại nói cái trạm cảnh sát giao thông cơ động ấy mình đi qua rồi thì họ cũng giải tán, vì đây là đường liên xã chứ đường huyện hay tỉnh gì đâu mà đến 5 cảnh sát giao thông lập trạm. Mình nói xong quay sang cửa kính nhìn thấy mấy xe máy người điều khiển không đội mũ bảo hiểm phi dưới qua vèo vèo, thế chắc là trạm giao thông ấy giải tán ngay sau đó thật rồi.


Mày thì buôn gió cái gì, giờ tao đặt tên mày là phải gió. Cụ Lê Hiền Đức bảo vậy.

Về đến nhà đã 5 giờ chiều, mất trọn 12 tiếng từ lúc đi đến lúc về.

——————————————————————————————————————————————–

Người Nguôn Gió

Thông báo tạm ngừng viết blog

Vì kinh tế suy thoái quá, vợ con cằn nhằn. Cho nên tạm rời xa việc viết blog để đi làm kiếm tiền. Nếu tối về nhà mà còn thời gian thì sẽ cố gắng viết chút ít cho bạn đọc xem chơi.

Cái này do phải tập trung kiếm chút ít, không liên quan đến an ninh hay TomCat nào hết. Nếu an ninh hay TomCat lằng nhằng thì có khi lại viết nhiều hơn trước luôn.

Vì đi làm từ sáng đến chiều tối,không còn thời gian gặp gỡ giao lưu với anh em. 

Hẹn với bà con lúc nào thư thả, sẽ cố gắng viết lúc có thể.

Thân ái.

Posted in Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

Tàu cá VN cùng 9 ngư dân bị “tàu lạ” đâm chìm

Posted by hoangtran204 trên 05/04/2012

Tàu cá cùng 9 ngư dân bị “tàu lạ” đâm chìm

Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam tối qua 3/4 tiếp nhận thông tin từ tàu BĐ 51349 TS (Bình Định) báo bị tàu lạ đâm chìm, trên tàu có 9 ngư dân.
Vị trí xảy ra vụ việc là tại tọa độ 09-49 N; 110-34 E, cách Bình Thuận 170 hải lý về hướng Đông Nam. Trước tình huống này, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam đã báo cáo Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn phát thông báo khẩn cấp, phối hợp với tàu thuyền hoạt động trong khu vực để tổ chức cứu nạn.

Đến 23h30, Trung tâm đã liên lạc được với tàu SOUTHERN FALCON mang quốc tịch Panama và tàu KH 96732 TS do ông Nguyễn Ngọc Tý làm Thuyền trưởng tổ chức cứu nạn thành công 9 ngư dân trên tàu Bình Định bị chìm.

Dự kiến 14h00 chiều nay (4/4), tàu KH 97632 sẽ đưa 9 ngư dân bị nạn về Nha Trang. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam đang tích cực phối hợp với thân nhân người bị nạn, chính quyền địa phương tổ chức đón tiếp, chăm sóc y tế, bàn giao 9 thuyền viên gặp nạn an toàn, thuận lợi nhất.

Hiện vẫn chưa rõ tung tích tàu lạ đâm chìm tàu cá BĐ 51349, cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra xác định.

Theo Dân Trí

Trên danchimviet.info, có các ý kiến như sau:

*Vậy là sao?
Nếu đã bán biển rồi thì cũng nên báo cho dân đánh cá biết để chuyển nghề chứ. Nếu chưa bán (tuy đã nhận tiền) thì cũng phải lên tiếng tỏ bày a b c d như thế nào để dân không còn vì miếng ăn mà chết oan vậy chứ.
Cứ im lặng, cứ ù lì, cứ để dân chết hoài vậy là sao?.
– Nếu hèn nhát không dám lên tiếng thì phải báo dân đánh cá biết…vùng biển nào họ được phép hành nghề (và quên mẹ đi cái gọi là vùng biển hành nghề của họ hàng trăm năm nay).
-Nếu không thi tại sao bọn Tàu chệch lại cứ giết dân mình hoài mà chính quyền Cọng sản cứ im re bà rè…
Càng nghe…càng điên…

*Đúng là lãnh đạo CSVN toàn là lũ Tàu cộng ẩn mình. Chúng nó giết dân mình một cách tàn ác thế mà chả có tiếng nói nào, bọn tàn ác vô nhân đạo, người ta thấy hoạn nạn còn cứu, đằng nầy chúng tàn nhẩn đâm tàu tiêu diệt tất cả mạng sống của những ngư dân không có vũ khí, và không chống chúng. Hãy tố cáo bọn Tàu cộng lên các tổ chức nhân quyền trên thế giới, bọn tàn ác diệt chủng nhân loại, tiếp tay bởi bọn tay sai Việt gian bán nước.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Các Công tố viên của Nam Hàn buộc tội tử hình một ngư dân người Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 05/04/2012

Robert Lee (robert@heraldm.com)

Người dịch: Trần Hoàng

Thứ 4 ngày 4-4-2012, các Công tố viên của Nam Hàn đã yêu cầu dành bản án tử hình cho một thuyền trưởng người Trung Quốc của một tàu đánh cá bất hợp pháp đã bị truy tố tội giết một hạ sĩ quan hải quân biên phòng Nam Hàn vào năm ngoái.

Thuyền trưởng họ Chung, 43 tuổi, đang bị buộc tội sát nhân trung sĩ Hải quân Biên phòng Nam Hàn Lee Cheong và làm bị thương nặng một binh sĩ khác bằng một con dao vào ngày 12-12-20111 trong một cuộc rượt bắt các thuyền Trung Quốc đang đánh cá bất hợp pháp trong vùng lãnh hải Incheong của Nam Hàn. 9 ngư dân khác, bao gồm một thuyền trưởng khác cũng đã ngăn chận các binh sĩ Nam Hàn khỏi cuộc vây bắt hai chiếc thuyền khác trong vụ việc này.

Văn phòng Công tố viện thuộc Quận Incheon dã dành những bản án 2 tới 3 năm tù cho 9 ngư phủ người Trung Quốc. Thêm vào đó, các công tố viên đã đòi tiền phạt cho mỗi ngư dân TQ là 17.700 đô la Mỹ (354 triệu đồng VN/ mỗi người).

” Điều không thể tránh khỏi  là ông Chung sẽ nhận được một bản án nghiêm khắc khi xét rằng vụ giết người này là có chủ tâm”

Bản án dành cho các bị cáo sẽ là sự phản ảnh tội trạng xét ra là rất nghiêm trọng, một thách thức tới quyền hành của Nam Hàn, và có một tác động lớn lên xã hội

Và theo lời của gia đình của viên trung sĩ 42 tuổi (bị giết chết), bị cáo Chung xứng đáng được dành cho một bản án nghiêm khắc xứng với các tội trạng của ông ấy.

Chúng tôi đã và đang cố gắng tha thứ cho thủ phạm, nhưng chúng tôi không thể làm được,” một thành viên của gia đình người bị hại phát biểu, tên của người này đã không được tiết lộ cho giới truyền thông biết.

Lee là người hạ sĩ quan Hải quân Biên phòng Nam Hàn thứ nhì đã hy sinh bởi hoạt động bất hợp pháp của người Trung Quốc trong vùng lãnh hải Nam Hàn. Người sĩ quan đầu tiên đã bị thảm sát vào tháng 9/2008 vào lúc một ngư phủ Trung Quốc dùng 1 cái xẻng đánh vào đầu của ông ta.

Bản án dành cho 10 ngư phủ này sẽ được loan báo vào ngày 19-4-2012.

Các thuyền Trung Quốc đã và đang gia tăng việc mở rộng các khu vực đánh cá của họ vào sâu trong các vùng lãnh hải của Nam Hàn

Vào đầu năm nay, Hán Thành và Bắc Kinh đã đồng ý tiếp tục theo đuổi các cuộc thương lượng về việc thành lập một đường biên giới rõ ràng trong các nổ lực để giải quyết vấn đề này. Hán Thành đã nhận được một lá thư của Bắc Kinh nói rằng TQ sẽ áp đặt việc giám sát nghiêm khắc hơn và phạt nặng nề hơn đối với các tàu đánh cá TQ bị bắt gặp đang hoạt động một cách bất hợp pháp trong các vùng lãnh hải của Nam Hàn. 

Bản Dịch@ Trần Hoàng

——————————————————————————————————————————————

Mẹ Việt nam ơi!

Một người con của mẹ có giá trị bằng 100 thằng Trung Quốc

Phan Tất Thành

Ngày 3-3 – Trung Quốc đã bắt và hiện giam giữ 21 ngư dân cùng hai tàu cá của Việt Nam, các tàu này lần lượt mang số hiệu QNg 66101TS và QNg 66074TS, do hai ông Trần Hiền và Lê Vinh làm thuyền trưởng khi các tàu này đang hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa. Những người này, chủ yếu là dân xã An Vĩnh, Lý Sơn, hiện đang bị giữ trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, trong khi phía Trung Quốc gọi điện cho gia đình của họ đòi tiền chuộc thì mạng Tin tức Trung Quốc, dẫn lời Phó Cục trưởng Cục Ngư chính Nam Hải Lưu Thiêm Vinh, đưa ra ngày hôm qua:
“Sẽ xử phạt mỗi ngư dân Việt Nam, bị Trung Quốc giữ khi đang đánh cá ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, 70.000 nhân dân tệ, tức là hơn 200 triệu đồng một người Việt Nam”. 

Trong khi đó, chiều thứ hai 26/3  Đại tá Nguyễn Đức Phúc, Phó Chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng Khánh Hòa, nói rằng bộ đội biên phòng Khánh Hòa tuần tra khu vực biển Đầm Bấy thuộc đảo Hòn Tre trên vịnh Nha Trang vào chiều ngày thứ Năm 23/3 phát hiện và bắt giữ 2 tàu Trung quốc. Trong lúc tạm giữ hai tàu cùng chín người Trung Quốc ở Nha Trang, lãnh đạo Biên phòng Khánh Hòa được dẫn lời nói sẽ tham mưu để xử phạt hành chính hai tàu này vì vi phạm. Hai lỗi này là “đi biển Việt Nam không mang theo giấy tờ tàu và vào vùng biển quân sự Việt Nam không xin phép Nhà nước Việt Nam’. Hiện cơ quan biên phòng vẫn chưa biết nguồn gốc hai tàu Cha Le 01 và Cha Le 58.

Đại tá Hồ Thanh Tùng, trưởng phòng trinh sát Bộ đội biên phòng Khánh Hòa, nói với báo trong nước rằng tất cả chín người Trung Quốc trên tàu đều có visa nhập cảnh và vào Việt Nam bằng đường bộ. Năm người vào Việt Nam từ Campuchia qua cửa khẩu Mộc Bài ở Tây Ninh và bốn người vào từ Trung Quốc.
Ngoài hoạt động của tàu chưa được chứng minh rõ ràng, cũng chưa xác định được tại sao những người trên vào Việt Nam bằng đường bộ sau lại được thu nạp lên tàu làm việc. Thuyền trưởng Trung Quốc chưa giải thích rõ mục đích của hai tàu này ở Việt Nam, nhưng về số tiền phạt thì “ Số tiền phạt đề xuất được biết vào khoảng trên mười triệu đồng Việt Nam mỗi tàu. Có 2 chiếc tàu và có 9 người. Nhưng không dám phạt người TQ mà chỉ dám phạt 2 tàu TQ. Mỗi chiếc bị phạt 10 triệu.  20 triệu: 9 người = 2,2 triệu đồng một người Trung Quốc.
Tính ra tiền đô thì tiền phạt mà phía đảng và nhà nước VN đòi hỏi là 100 đô la/1 người TQ.
(còn TQ phạt ngư dân VN là 200 triệu/ 1 ngư dân; tương đương với 10000 đô la/1 ngư dân VN)

Lúc phải tính bằng tiền mới biết dân mình cao giá phết.

—————————————————————

Prosecutors seek death penalty for Chinese fisherman

2012-04-04 20:52

Prosecutors demanded Wednesday the death penalty for the captain of an illegal Chinese fishing boat indicted on charges of killing a Korean Coast Guard officer last year.

The Incheon District Prosecutors’ Office also asked for two- to three-year prison sentences for nine other Chinese sailors. In addition, prosecutors demanded a 20 million won ($17,700) fine for each.

The captain surnamed Chung, 43, is accused of murdering Korean Coast Guard sergeant Lee Cheong-ho and seriously wounding another officer with a knife on Dec. 12 during a raid on Chinese boats illegally fishing in Korean waters off Incheon. The nine others, including another captain attempted to block officers from conducting the crackdown on their two boats during the same incident.

“It is inevitable that Chung will receive a harsh sentence considering that the murder was premeditated, the family of the deceased is asking for harsh punishment and that he is unwilling to offer any form of compensation to the family,” said a prosecutor of the office.

“The punishment of the defendants must be a reflection of the crime considering that it is very grave, a challenge to the country’s authority, and has a huge impact on society.“

And according to the family of the 42-year-old sergeant, the defendant deserves a punishment as severe as his crimes.

“We have tried to forgive the perpetrator but we just cannot,” said a member of the family, whose name was not disclosed to the media.

Lee was the second KCG officer killed by Chinese operating illegally in South Korean waters. The first was slain in September 2008 when a Chinese fisherman hit the officer on the head with a shovel.

The sentencing for the 10 will be announced April 19.

Chinese ships have become increasingly bold in expanding their fishing areas into the Korean waters.

Earlier this year Seoul and Beijing agreed to continue to seek negotiations on setting a clear maritime boundary in apparent efforts to address the issue. Seoul received a letter from Beijing that it would implement stricter supervision and stronger punishment for its fishing boats caught illegally operating in South Korean waters.

By Robert Lee (robert@heraldm.com)

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Miến Điện: Tự do không sợ hãi

Posted by hoangtran204 trên 05/04/2012

Tự do không sợ hãi

Tác giả Ngô Nhân Dụng

Nguồn: báo Người Việt

Tại cố đô Pagan xứ Miến Ðiện (Myanmar), giữa hàng chục ngàn bảo tháp, ngôi tháp Manuha có một sự tích đặc biệt. Vua Anawrahta trị vì vương quốc Pagan hùng mạnh nhất trong thời đó đã quy y đạo Phật theo truyền thống Bắc Tông.

Ông yêu cầu Manuha, một vị vua người Môn ở phía Nam phải thần phục và cống tiến tam tạng kinh điển Nam Tông; nhưng không toại nguyện. Anawrahta tấn công, bắt Manuha cầm tù, vẫn đối đãi như hàng vương giả. Mấy năm sau Manuha đã xin phép Anawrahta cho mình xây một bảo tháp mới làm nơi thiền định và được chấp thuận. Ngày nay du khách vào thăm di tích Bảo Tháp Manuha tại Pagan được chiêm ngưỡng một tượng Phật nằm rất đẹp. Nhưng ai cũng phải ngạc nhiên là gian phòng bên trong ngôi tháp quá nhỏ, pho tượng Phật như bị bó chặt giữa mấy bức tường kín bưng.

Năm 1059 Vua Anawrahta được mời tới khánh thành ngôi bảo tháp, ông bước vào, chắc cũng phát sinh cảm giác đó. Và ông hiểu ngụ ý của Manuha: Phật cũng như người ta, không thể sống trong tù ngục, không được tự do.

Tổng Thống Thein Sein chắc còn nhớ và muốn bắt chước bài học của vua Anawrahta, cho nên ông cũng bắt đầu thả các tù nhân của ông, 60 triệu dân Myanmar, cho họ được sống tự do hơn. Cuối tuần qua, dân Miến Ðiện đã bỏ phiếu bầu bổ túc 45 ghế đại biểu Quốc Hội. Họ thật sự được tự do chọn lá phiếu, cho nên đảng đối lập Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) thắng hầu hết các đơn vị; trong đó có bà Aung Sang Suu Kyi. Ðảng NLD thắng cả 4 ghế đại biểu ở thủ đô mới lập Naypyitaw, là nơi hầu hết dân cư là công chức lãnh lương chính phủ, và gia đình họ. Nếu chính quyền Thein Sein giả dối vì còn nuôi tham vọng kéo dài chế độ độc tài quân phiệt thì khó có kết quả như vậy.

Dân Myanmar như đã sống lại. Người ta reo hò mừng rỡ. Tại trụ sở đảng NLD, vào buổi tối Chủ Nhật nóng bức, các thanh niên nhẩy múa ngoài đường, đầu tóc họ cũng nhuộm mầu mè như giới trẻ khắp nơi. Các nhà sư đứng ngắm mỉm cười, tay phe phẩy cái quạt. Nhiều gia đình mang theo cả con nhỏ đến ăn mừng: Dân Chủ đã thắng Ðộc Tài!

Ðây là lần thứ ba dân dân Myanmar đi bầu trong nửa thế kỷ. Năm 1962 các tướng lãnh đã cướp chính quyền, dẫn cả nước đi theo một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội bế tắc, như các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1990 họ cho dân bỏ phiếu lần đầu, và đảng NLD đã thắng lớn, chiếm 59% số phiếu bầu và 392 trong số 485 ghế đại biểu; mặc dù bà Suu Kyi đã bị bắt giam từ năm trước. Bà từng sống ở ngoại quốc nhiều năm, chỉ về nước năm 1988 để trông nom mẹ già đang bệnh nặng. Ðứng trước cảnh nghèo đói và áp bức do chế độ độc tài gây ra cho dân, bà quyết định ở lại cùng đồng bào đứng lên đòi tự do dân chủ. Bà bị giam cầm hơn 15 năm; chính quyền mặc cả sẽ trả tự do nhưng bà phải đi ngoại quốc, bà từ chối. Cứ như thế, chính quyền quân phiệt tiếp tục cai trị Myanmar với một guồng máy tham nhũng và những chính sách ngu dốt, bất lực thêm 20 năm nữa, trong khi đảng NLD bị cấm hoạt động, các người lãnh đạo bị bắt giam. Dưới chế độ độc tài dân Myanmar không có tự do báo chí, không được tự do hội họp; bị cả thế giới văn minh tẩy chay, nhóm người cầm quyền chỉ trông cậy Trung Quốc ủng hộ. Năm 2010, Tướng Thein Sein cởi bỏ áo lính, trở thành vị tổng thống “dân sự” đầu tiên. Chính quyền tổ chức bầu cử lần thứ nhì, nhưng đảng NLD tẩy chay không dự vì bà Suu Kyi vẫn bị cấm tranh cử.

Thein Sein đã bày tỏ thiện chí dân chủ hóa bằng nhiều bước, để thuyết phục phe đối lập và thế giới là tiến trình dân chủ hóa là một sự thực, chứ không phải chỉ có bề ngoài để được các nước Tây phương bãi bỏ phong tỏa kinh tế. Ông đã trả tự do cho bà Suu Kyi và các lãnh tụ đối lập. Cho báo chí được tự do, ngưng kiểm soát cả Internet. Làm luật cho dân được phép biểu tình; công nhân được phép đình công, và được tự do thành lập công đoàn. Mỗi bước của chính quyền Thein Sein được bà Suu Kyi và các nước Tây phương đáp lại bằng hành động hợp tác tương ứng.

Từ năm ngoái, Myanmar bắt đầu sống trong một không khí chính trị mới, trong tinh thần tin cậy và hợp tác. Bà Suu Kyi xứng đáng là người lãnh đạo khi thẳng thắn và thành tâm cộng tác với những kẻ đã giam cầm mình. Bà nói với các đồng chí đã bị tù đầy: “Chúng ta không thể quên quá khứ. Nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù.” Bà công nhận trong chính quyền quân phiệt cũng “có những người muốn làm điều có ích lợi cho quốc gia.” Không phải ai trong bọn họ cũng muốn dân chủ hóa, “Nhưng trong phong trào dân chủ có phải ai cũng muốn cộng tác với họ đâu? Ðó là điều bình thường trong chính trị.”

Thái độ ngay thẳng, chân thành và đức độ của bà Suu Kyi là nền tảng giúp cho dân tộc Myanmar bắt đầu xây dựng dân chủ. Ðiều gì đã khiến bà sẵn lòng cộng tác với một chế độ đã bỏ tù mình và đàn áp dân như vậy? Vì bà không sợ hãi. Năm 1990, Suu Kyi đã viết một bài chính luận: Tự do không sợ hãi.

Suu Kyi nhìn lại các đồng bào của mình, bà nói: Người dân Miến Ðiện nào cũng biết có bốn con đường lầm lạc, a-gati. Thứ nhất là Chanda-gati, sai lầm do lòng Tham. Dosa-gati do Sân hận. Moga-gati do Ngu si. Nhưng tai hại nhất là sai lầm vì Sợ: Bhaya-gati. (Bốn đường tà này cũng tương tự “Bốn mũi tên độc” trong truyền thống Bắc Tông: Tham, Sân, Si và Mạn). Suu Kyi ca ngợi Thánh Gandhi: Cống hiến lớn lao nhất của Gandhi cho dân tộc ông là khơi dậy tấm lòng không sợ hãi. Gandhi đã tìm học lại truyền thống Ấn Ðộ, và nhận ra, “Thiên khiếu lớn nhất của một cá nhân hay một dân tộc là abhaya, tấm lòng không sợ hãi.”

Áp dụng vào hoàn cảnh dân tộc Miến Ðiện đang chịu cách áp bức, bất công, bà nói: “Chúng ta có thể đều có những hạt giống không sợ hãi, nhưng đáng quý hơn nữa là có được tấm lòng can đảm nhờ rèn tập, không để cho lòng sợ hãi chi phối các hành vi của mình… Trong một chế độ từ chối không công nhận các quyền căn bản của con người, sợ hãi dễ trở thành một thói quen bình thường. Tai hại nhất là người ta che đậy lòng sợ hãi của mình, biến thành một thái độ thường tình, có khi lại coi là khôn ngoan. Người ta sẽ chê bai những người dũng cảm là khờ dại, là liều lĩnh, khi họ biểu lộ những hành động can đảm, dù nhỏ nhặt, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tự trọng.”

Suu Kyi ca ngợi các sinh viên biểu tình trong những năm 1988, 89, vì họ muốn xã hội phải có luật pháp công bằng. “Pháp luật công bình không phải chỉ ngăn không cho người dân bị đối xử oan ức. Chúng còn giúp nuôi dưỡng một xã hội trong đó mọi người có thể được hưởng những điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ phẩm giá con người…” Cuộc cách mạng quan trọng nhất, Suu Kyi nói, là một cuộc cách mạng tinh thần; do “Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi các chính sách và định chế chính trị để cải thiện đời sống vật chất thì khó thành công đích thực.”

Cuộc cách mạng mà Suu Kyi theo đuổi đang bắt đầu. Ðảng cầm quyền của các vị tướng và tướng về hưu vẫn chiếm đa số trong Quốc Hội gồm 664 ghế; trong đó Hiến Pháp dành một phần tư số đại biểu cho các ông tướng chọn. Ðảng NLD sẽ đóng vai đối lập với một số ghế rất nhỏ. Nhưng đây vẫn là một thắng lợi. Không riêng gì cho bà Suu Kyi mà cho toàn thể 60 triệu dân. Bước đầu tiên trên tiến trình dân chủ hóa đã thành công. Ba năm nữa, Quốc Hội sẽ được bầu lại, và lúc đó hy vọng sẽ dân chủ hóa thực sự.

Một điểm đáng khen ngợi phe các tướng lãnh là họ đã ý thức được là không thể nào kéo dài chế độ độc tài mãi mãi. Khi ngay ở thế giới Á Rập cách mạng cũng bùng lên thì phong trào dân chủ sẽ còn lan rộng mãi. Họ nhận ra quyền lợi của chính họ và gia đình họ chỉ được bảo đảm lâu dài nếu mọi người Miến Ðiện được sống trong một xã hội với luật pháp công bằng. Mà muốn được như vậy, chỉ có một cách là mở con đường xây dựng một thể chế dân chủ tự do.

Giới quân phiệt cũng chỉ thay đổi thái độ dưới áp lực của dân chúng biểu tình chống Trung Quốc. Trung Quốc đã lôi kéo được chính quyền quân phiệt rơi vào quỹ đạo của họ. Các công ty Trung Quốc tha hồ khai thác mỏ, rừng, đá quý của Myanmar. Họ mở các hải cảng và quân cảng trong vùng vịnh trông qua Ấn Ðộ. Họ khai thác dầu, khí của Myanmar, lại đặt ống dẫn dầu kéo qua xứ này để chuyên chở dầu nhập cảng từ Trung Ðông và Phi Châu về thẳng Vân Nam, khỏi qua eo biển Malacca. Dân Myanmar bất mãn đã đặt bom phá đập thủy điện Myitsone vào tháng 10 năm 2010. Năm sau, chính quyền quân phiệt phải đình chỉ dự án trị giá 3.6 tỷ đô la này, để chứng tỏ họ biết chiều theo ý dân. Ðó cũng là một tín hiệu đưa ra để được bà Suu Kyi tin tưởng rằng họ cũng là những người yêu nước. Chế độ quân nhân ở Myanmar tuy cũng đàn áp dân nhưng họ không phá hủy nền văn hóa cổ truyền. Các lãnh tụ quân phiệt vẫn đi lễ chùa, cùng dường chư tăng, chứ họ không tôn thờ một chủ nghĩa duy vật ngoại lai nào. Vì vậy, người ta còn sẵn lòng tin nhau.

Nhưng điều đáng lo ngại là hiện nay cả diễn trình dân chủ hóa tùy thuộc vào hai cá nhân. Bà Suu Kyi đã 66 tuổi, mới bị xỉu ba lần trong thời gian đi vận động tranh cử. Ông Thein Sein cũng 67 tuổi, đang bị bệnh tim. Vì hai người này tin ở thiện chí và tình yêu nước của người kia, cho nên mọi việc tiến hành tốt đẹp. Nếu một trong hai người qua đời trong năm, ba năm sắp tới thì không biết con đường dân chủ hóa sẽ ra sao? Trong hàng ngũ tướng lãnh vẫn có những người bảo thủ, ngoan cố. Như Suu Kyi nói năm 1990: “Không phải quyền hành làm người ta thối nát, mà là lòng sợ hãi. Những người đang nắm quyền sợ mất quyền. Những người đang run sợ trước cường quyền cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Cho nên, bà công nhận: “Con đường trước mặt còn đầy khó khăn. Con đường dân chủ hóa sẽ rất dài.”

Xây dựng một đất nước là con đường rất dài. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Anawrahta đã hòa giải với Vua Manuha. Sau đó sắc dân dựng lên vương quốc Pagan, gốc Tầy Thái từ Vân Nam tới, đã chung sống hòa hợp với dân Môn, một sắc tộc Nam Á vốn chung gốc rễ với người Khmer, người Mã Lai (và một phần cả người Việt Nam thời cổ). Họ đã xây dựng một nền văn minh mới, tổng hợp các thành tựu của nhiều giống dân, tất cả cùng theo Phật Giáo Nam Tông, tạo thành dân tộc Miến Ðiện sau này. Tương lai dân tộc Miến Ðiện trong thế kỷ 21 sẽ là con đường dân chủ hóa. Ðường còn xa, nhưng chắc họ không sợ, vì đã có một nền tảng tinh thần vững chắc.

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Lột trần chế độ CS

Posted by hoangtran204 trên 05/04/2012

Những nhà văn sinh ra và lớn lên dưới chế độ XHCN ưu việt ở miền Bắc như Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương là những ngòi bút rất sắc bén khi nhận xét và viết về chế độ ưu việt ấy.   Vũ Thư Hiên với cuốn Đêm Giữa Ban Ngày thuật lại rất đầy đủ những gì về những năm tháng ông đã sống ở Miền Bắc cho đến năm 1991 thì ông được cơ hội đi khỏi nước. Còn nhà văn Dương Thu Hương khi vào Sài Gòn 1975

Lột trần chế độ CS

 

Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.

Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.

Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. ..

Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?

Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc.

Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng* thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em.

Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.

Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.

Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha.

Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.

Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam, nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam, khi tất cả các cuộc ký kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.

Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.  (xem bài nạn buôn người ở đây)  (và ở đây) (phim 53 phút, do nhiều nạn nhân tường thuật)

Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.

Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay:

Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . . ”

Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.

Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”?

Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.

Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợ hãi.

Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.

Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.

Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.

Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.

Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.

Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân nhưcác mợ Tầu.

Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nốitiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.

Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?

Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu đểcắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?

Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.

Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọnày đã bôi nhọ mặt chúng ta!”

Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?

Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộ chính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?

Nếu để cho 11 kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bịtiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.

Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.

1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.

2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.

Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.

Nếu như năm 1945, cha anh họlà các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.

Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họlà những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.

Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.

Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh.

Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà”

Dẫn hổ về thịt dê nhà

Tại sao lại là hổ và dê?

Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.

Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽ thấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phần sống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.

Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻ dựng lên công trình bauxite Tây nguyên?

Bauxite ư? Trò lừa đảo!

Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam, tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thếgiới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?

Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họlà trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều.

Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.

Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộbây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ. . . ”

Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà. Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.

Bác chúng em

Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”.

Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản.

Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.

Tôi chứng minh:

Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từphương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụ đã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.

Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợchẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.

Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao (!) Và cao thượng làm sao, những kẻngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏmặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn!

Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân.

Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trởthành kẻ thù của nhân dân.

Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệông chủ của nó?

Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”.

Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉ đã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”.

Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết.

Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?

Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họ không dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác?

Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trảlời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứhai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.

Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lênủng hộ gia đình nạn nhân, con sốlên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộchưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.

Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thếcăm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân.

Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa nhưông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họcũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờtương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ởNga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.

Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cảthì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ.

Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗicon người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản đểchủ nghĩa cuồng tín không thểđặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.

Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉđể làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (nhưông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộvà các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổdưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân. . .

Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.

Dân Việt :

Ai là dân Việt?

Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia?

Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều?

Ngoài các lý do về nhu cầu bờbiển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.

Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được.

Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.
Đó là một nhận định sáng suốt.

Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúngủng hộ xâm chiếm Việt Nam. Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.

Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉlàm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổhọng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.

Vì lý do nào mà bộ trưởng bộquốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định?

Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam, phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương?

Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tựnguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán?

Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời.

Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi đểchống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.

Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam. Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “Nam tiến”!

Nam tiến, nam tiến và nam tiến!

Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sựdưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.

Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta.

Bây giờ, chúng ta không còn cơhội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu?

Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.

Để giữ được non sông, để có thểlà người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, mộtchính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.

Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.

Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình.

Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉluỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộlông của chính nó mà thôi.

Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc.

Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại sốphận bi thảm của An Dương Vương.

Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội khôngđứng lên cùng với họ.
Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ?

DƯƠNG THU HƯƠNG
———————————————–

*Hồ Thu Hồng được các blogger internet cho biết bà là  người tình của tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, một cố vấn đắc lực của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.  Hồ Thu Hồng cũng viết blog, và có tên là BEO. Hồ Thu Hồng còn là tổng biên tập báo Thể Dục TP HCM, mới đây đã bị buộc từ chức. Bà đã từng xuất hiện trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc 2007.

“Chào mừng” đại hội đảng XI: Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng làng báo (phần 3)

Nguồn: dcvonline.net


Bài 3: Ảo vọng đàn bà

Bài số 3 của tác giả Trềnh A Sáng kể về những trò khá “lăng xăng” của nhân vật Hồ Thu Hồng, tức blogger Beo nhằm trèo lên một cái ghế béo bở nào đấy trong làng báo lề phải Việt Nam. Bên cạnh đó, tiếp tục là những thông tin chấn động trong làng báo VN – kẻ ở lại, người ra đi. Đứng sau những sự thật trần trụi này có bàn tay của phe cánh Nguyễn Tấn Dũng.
danlambao – Bài thứ 3 trong loạt bài “Chào mừng đại hội XI : Cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng làng báo” vừa được BBT DCVOnline công bố vài tiếng thì lập tức trang mạng này tiếp tục có những dấu hiệu “bất thường”. Đỉnh điểm là lúc 2 giờ chiều hôm nay, DCVOnline có hiện tượng không thể truy cập được.

Được sự đồng ý của BBT DCVOnline, danlambao tiếp tục đăng lại kỳ thứ 3 của loạt bài chấn động này, nhằm phục vụ nhu cầu được tiếp cận thông tin không bị ngăn chặn của bạn đọc .

Tháng 12/2007, những làn sống chống Trung Quốc liên quan tới vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa nổ ra. Sau đợt biểu tình ở Sài Gòn, người ta thấy nhiều hình ảnh được tung lên mạng, trong đó có một tấm hình khá đặc biệt: bà Hồ Thu Hồng – một lãnh đạo của báo Thể Thao & Văn Hóa thuộc TTXVN – đứng trong đám biểu tình cùng một số văn nghệ sĩ và blogger.

Với hình ảnh đó, bà Hồng trở thành “ngôi sao” của những người chống Trung Quốc và chống chính quyền Việt Nam.


Nhà báo Hồ Thu Hồng (áo đen) trong cuộc biểu tình chống TQ ngày 9/12/2007

Các sự kiện tiếp diễn sau đó càng làm cho vị thế “anh thư” của bà được củng cố: việc bà rời khỏi tờ Thể Thao & Văn Hóa mà nhiều “nhà đối lập” khăng khăng rằng đó là một đòn trừng phạt của chính quyền đối với bà về tội chống Trung Quốc, tiếp đó là việc bà hụt chân trong nỗ lực trở thành phó tổng biên tập ở báo Thanh Niên mà nhiều người cũng cố gắng giải thích rằng đó là do bà chống Trung Quốc.

Cuối cùng, bà kiếm được một chỗ khả dĩ: nắm báo Thể Thao TP.HCM – một tờ báo đang ngoắc ngoải bên bờ vực.

Là một người đàn bà giàu tham vọng tới mức ảo tưởng, Thu Hồng coi đây chỉ là chỗ ghé chân tạm thời như những cuộc tình qua đêm mà bà từng trải qua trong cuộc đời nửa thế kỷ của mình.

Thế rồi hình ảnh bà Hồ Thu Hồng dần dần thay đổi trong con mắt của những nhà dân chủ, nhà chống Trung Quốc, nhà chống chính quyền Việt Nam, vân vân, khi blogger Beo – tức hiện thân của bà Hồng trên mạng – xuất hiện. Từ ủng hộ bà, những “nhà” nói trên quay ra ghê tởm bà.

Câu chuyện của bà Hồng thực ra phức tạp hơn nhiều và được kể ra ở đây bởi nó có sự liên quan biện chứng tới cơn ớn lạnh trong làng báo Việt Nam, hoàn toàn không phải để dìm hàng bà Hồng.

***
Như bài trước chúng tôi đã đề cập, trong khi các tờ báo Việt Nam đang bị phe của ông Ba Dũng ruồng bố thì blogger Beo – tức bà Hồ Thu Hồng – lại vô cùng hoan hỉ.

Bà hoan hỉ trước cú quay ngoặt của Tuổi Trẻ, hoan hỉ trước việc các nhà báo bị an ninh mời lên mà bản chất của những cuộc mời này bà Hồng chỉ bóng gió được một góc nhỏ – đó là góc tiêu cực thực sự của các nhà báo, còn góc lớn hơn – đó là đòn đánh nhau đầy nhơ bẩn của các lãnh đạo cấp cao – thì bà tuyệt nhiên lờ đi. Bà lờ đi bởi một lẽ, cuộc ruồng bố báo chí này nếu thành công thì đó là một chiến thắng lớn cho phe của bà và chính bản thân bà.

Sau đợt thanh trừng báo chí hồi năm 2008 liên quan tới vụ PMU 18, nỗ lực cài cắm bà Hồng vào một tờ báo chính trị đã thất bại, vì lúc đó phe của bà chưa mạnh lắm.

Phe của bà, hay chủ của bà, hay là tình nhân của bà ở đây là tướng công an Nguyễn Văn Hưởng – một đàn em trung thành của Ba Dũng và được coi là “Beria của Việt Nam”.

Nhưng sau một thời gian, cơ hội đã đến và đã chín muồi. Người ta nói cơ hội không đến với ai hai lần, nhưng với bà Hồng, thì cơ hội có thể đến hai lần, ít nhất là trong suy nghĩ của bà.

Cơ hội đó chính là cuộc thanh trừng báo chí mà ông Ba Dũng đang chủ trương, dưới bàn tay đạo diễn của tướng Hưởng. Một khi cuộc thanh trừng này kết thúc, nhiều tổng biên tập sẽ lên tàu tốc hành về quê vui thú điền viên. Và những chiếc ghế trống do họ bỏ lại là cơ hội thực sự cho bà Hồng.

Nguồn: dcvonline.net (3 bài này đã bị hackers tấn công vào máy chủ (server) của trang dcvonline.net và xóa bỏ, nhưng đã được lưu lại dưới đây)  

http://www.viet-studies.info/kinhte/OnLanhLamBao.htm

—————-

Tổng Thống Nga Vladimir Putin:

Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu.
Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.

Tổng Thống Nga Boris Yeltsin :
Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.

Bí Thư Đảng Cộng Sản Nam Tư Milovan Djilas:
20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim,
40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu.

Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Liên xô Mr. Mikhail Gorbachev:
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản.
Ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá.

——————————————————————————————————————————————-

*Phim nạn buôn người. Kỹ nghệ buôn người làm ăn ra sao. Nạn nhân  là người dân tộc thiểu số hoặc ở quê nghèo  miền Bắc. Bị cán bộ dụ dỗ ra nước ngoài làm việc cứu đói giảm nghèo,  họ cầm cố nhà cửa ruộng vườn để trả cho công ty môi giới của các công ty xuất khẩu lao động do các cán bộ cộng sản ở Hà Nội làm chủ. Hợp đồng làm việc là 8 tiếng mỗi ngày, nhưng qua tới nước ngoài là phải làm 15-16 tiếng, không làm thì bị đánh, và bị bỏ đói.  (nguồn) phim dài 24 phút.

http://www.youtube.com/watch?v=djmfRrYJMSk&feature=related

* Nạn nhân của nạn buôn người nói chuyện điện thoại với nhân viên tòa Đại Sứ Việt Nam Nguyễn Xuân Việt, lời đối đáp và hăm dọa của người này làm hiện nguyên hình của cán bộ đảng cộng sản VN (link)

http://www.youtube.com/watch?v=AIAB_0N0daU&feature=related

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Đệ của Ba Dũng nhận án 20 năm, nhưng chắc ở tù chừng 2,3 năm cho dư luận quên đi là được thả

Posted by hoangtran204 trên 04/04/2012

Nền kinh tế của Việt Nam được Mỹ và Châu Âu gọi là Cronism Economy. Nghĩa là chính phủ chỉ bổ nhiệm các bà con, anh em, họ hàng, và các đảng viên thân thích trung thành với họ vào các chức vụ CÓ ĂN chặn được tiền bạc trong nền kinh tế, mà không cần biết người này có khả năng, năng lực, và có thích hợp để ngồi vào chức vụ ấy hay không. Sau đó, người được bổ nhiệm lại tiếp tục theo chiêu thức: đem anh em, con cái, bà con trong gia đình của họ vào nắm các chức vụ then chốt vừa có quyền lực vừa nắm tài chánh của công ty…

Là một tổng giám đốc của một tập đoàn, trong số 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh, nên quyền hành của PTB quá lớn. Ông đưa  người con ruột trong gia đình, mới học xong đại học, chưa quá tuổi 25 vào làm Phó tổng giám đốc Công ty TNHH, một thành viên Đầu tư và xây dựng Vinashin và rồi thành Chủ tịch HĐQT công ty kiêm giám đốc, và đưa em ruột làm

Đệ của anh Ba nhận án

1332989774.img_.jpg

Đồng chí Phạm Thanh Bình, cựu Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng GĐ Vinashin bị tòa kết án mức án tối đa 20 năm tù hôm 30/03/2012 trong phiên xử ở Hải Phòng về tội “cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Bằng việc tuyên án mức tối đa cho đồng chí Phạm Thanh Bình và những bị cáo khác, CP của anh Ba như muốn gửi đi thông điệp mạnh tới các tập đoàn DN nhà nước đã và đang được ưu đãi về nhiều mặt, rằng sự cưu mang của anh là có hạn, anh cũng không đỡ được hết nếu các chú cứ mần bậy.

Bằng cách đó, CP của anh Ba muốn trấn an giới đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài về nỗ lực tái cơ cấu nền KT, đặc biệt là cam kết cải cách DN nhà nước, khu vực tiếp tục đóng vai “chủ đạo” trong nền KT. Tuy nhiên mức độ nghiêm túc của nỗ lực này đến đâu lại là chuyện khác vì Tiệc ta vẫn có thói quen đùa dai.

Đường lối KT của Tiệc vẫn kiên trì đặt nền KT nhà nước làm chủ đạo, điều này có ý nghĩa rất lớn về chính trị. Tiệc ta vốn không ưa sự minh bạch, nếu không có sân sau, kiếm đâu ra tiền để chi tiêu, kiếm đâu ra tiền để to tiếng với dân chúng?

Chính vì chủ đạo nên những DN Nhà nước như Vinashin được ưu ãi hết cỡ về vốn liếng, đất đai, tài nguyên và các nghĩa vụ nộp ngân sách. Khi cần chi tiêu, các đệ của anh Ba ở các cơ quan công quyền phải lo xoay xở để đưa tiền vào đến tận nơi.

Trong lời cuối trước tòa, đồng chí Phạm Thanh Bình nói: có những lúc nóng vội, thậm chí có những lúc xé rào làm sai quy định của Chính phủ nhưng tất cả đều vì lợi ích chung của tập thể, không vì tính cá nhân nào. Câu này nghe quen quen!

Chúng ta chia sẻ với đồng chí Bình điểm này, bởi đồng chí Bình khi còn đương chức đã từng bổ nhiệm người thân trong gia đình đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong Tập đoàn. Trước hết, con trai đồng chí Bình là Phạm Bình Minh (sinh 1980), chỉ trong vòng 5 năm liên tiếp được thăng chức, từ một nhân viên tập sự trở thành Viện phó Viện KH công nghệ tàu thủy, kiêm GĐ Trung tâm Thử nghiệm và kiểm định tàu thủy.

Trong năm 2009, đồng chí Bình đã ký quyết định bổ nhiệm con trai đến ba lần: ngày 27/03, bổ nhiệm làm Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Tư vấn thiết kế công nghiệp; ngày 16/07, bổ nhiệm kiêm chức GĐ Phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Viện Khoa học công nghệ tàu thủy; ngày 22/12, bổ nhiệm kiêm Phó tổng GĐ Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Dung Quất.

Việc bổ nhiệm các chức vụ trên, vì lợi ích chung của tập thể nên đồng chí Bình không thông qua ý kiến Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn và Nghị quyết của Hội đồng quản trị. Em ruột đồng chí Bình là Phạm Thanh Phong, tốt nghiệp tại chức ĐH Xây dựng năm 2000, khi về công tác tại Vinashin, được đồng chí Bình cất nhắc dần lên giữ chức Phó tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và xây dựng Vinashin. Sau khi được cử làm đại diện góp vốn của Tập đoàn cho Công ty Cổ phần Vinashin – Tư vấn đầu tư, đ/c Bình bổ nhiệm em trai mình giữ chức Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc.

Vì lợi ích tập thể, đồng chí Bình còn ưu tiên san sẻ vốn nhà nước trong Tập đoàn để cho người trong gia đình mình đứng tên làm đại diện như con trai Phạm Bình Minh được cử làm đại diện 10% vốn của Tập đoàn Vinashin trong Công ty Cổ phần kỹ thuật đóng tàu Vinashin, hoặc em trai Phạm Thanh Phong được cử làm đại diện 51% vốn của Tập đoàn Vinashin và Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và xây dựng Vinashin tại Công ty cổ phần Vinashin – Tư vấn đầu tư.

Bị kết án 20 năm, nhưng đồng chí Bình vẫn có thể hy vọng ra tù sau vài năm, bởi điều này đã có tiền lệ. Năm 1993, đồng chí Ngô Đình Quý, Tổng GĐ Liên hiệp đóng tàu Việt Nam, bị bắt vì tội tham ô, gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản Nhà nước bị kết án 20 năm tù nhưng được tự do sau 5 năm.

Tháng 12/2011, anh Ba đã chân thành nhận trách nhiệm trên VTV, anh nói: “Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”. Việc đệ của anh phải nhận mức án cao cho thấy, anh Ba rất nghiêm khắc với các đệ.

(Tổng hợp từ các nguồn)

————————-

Cronyism is a form of corruption in which political officials and businessmen show preference to friends when appointing people to positions of power, awarding contacts, and delegating tasks related to their office. Friends who benefit from cronyism are usually awarded a position of privilege regardless of their skill level, ability, or suitability for the position, which means that better choices may be passed over. A related concept, nepotism, involves showing preference to relatives.

The history of the word “crony” dates back to the 1600s, when students at Cambridge first started using it in reference to old friends, making a pun on the Greek khronios, which means “long-lasting.” Initially, the word was meant in a positive way, but by the 1800s, it had acquired more sinister connotations, with a crony being more of a partner in crime than a true friend. In the 1900s, “cronyism” in the sense of political corruption entered the English lexicon.

People engage in cronyism for a variety of reasons. Some politicians simply want to be surrounded by friends and people they know because they believe that their administrations may run more smoothly. Others may feel pressured to reward old friends, particularly those who participated in the campaign for a political position, or people who assisted with a meteoric rise in business. People in weak positions of power may use cronyism to surround themselves with loyal supporters who will not undermine their positions, ensuring that they hold power even if they do not deserve it.

————————

Posted in Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

Xe Bay sẽ xuất hiện trong cuộc triển lãm xe hơi ở New York tuần tới và Máy bay tự chế ở Bình Dương

Posted by hoangtran204 trên 04/04/2012

Tuần trước báo Dân Trí đăng tin máy bay tự chế của K.S. Bùi Hiển ở Bình Dương, thì tuần này các báo Mỹ tường thuật về chiếc xe bay của hãng Terrafugia sắp triển lãm ở thành phố New York trong hội chợ xe 2012.

So sanh hai bài báo dưới đây ta thấy có sự khác biệt rất lớn về vai trò của chính quyền đối với xe bay ở Mỹ và máy bay tự chế ở VN. Trong khi chính quyền Mỹ tìm đủ cách để giúp đỡ công ty Mỹ:

“Chính phủ cũng đã tạm thời miễn đòi hỏi chiếc xe bay Transition khỏi cần phải trang bị hệ thống kiểm soát ổn định điện tử, vì  hệ thống này làm cho xe bay nặng thêm 3 kg. Chiếc xe bay Transition sẽ  trải qua một  xét nghiệm  va chạm ô tô (đụng vào tường) để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn của liên bang. Robert Mann cho biết Terrafugia được sự giúp đỡ của Cục Hàng không liên bang của 5 năm trước đây để tạo ra một loạt tiêu chuẩn của máy bay thể thao hạng nhẹ. Các tiêu chuẩn chỉnh kích thước và tốc độ của máy bay và các yêu cầu cấp giấy phép cho phi công, có ít hạn chế hơn so với yêu cầu cho các phi công của máy bay lớn hơn.”

Còn chiếc phi cơ tự chế bên VN thì không thấy báo tường thuật gì tới chuyện giúp đỡ của chính phủ VN, riêng  phía quân đội đến tham quan thì viên sĩ quan đại tá phán rằng: ““Đoàn ghi nhận sự đam mê và công sức nghiên cứu, lao động lắp ráp thành công phương tiện bay của kỹ sư ô tô Nguyễn Bùi Hiển. Tuy nhiên, việc bay trong khu nhà xưởng (như trong phòng thí nghiệm) thì được phép, chứ tuyệt đối không đưa phương tiện bay ra ngoài trời để bay, bởi còn vướng mắc nhiều yếu tố pháp lý, tác động của ngoại cảnh (về lực gió, về yếu tố tâm lý…) đối với một người chưa từng có kinh nghiệm lái và chưa nắm vững kỹ thuật học lái máy bay thì hết sức nguy hiểm”, Thượng tá Dũng khuyến cáo.

Theo đoàn khảo sát Sư đoàn không quân 370: Việc phát triển thành công “phương tiện bay” của ông Nguyễn Bùi Hiển còn phải thông qua hội đồng khoa học đánh giá và có kết luận.”

Ngoài ra, vẫn còn nhiều chuyện khác nữa mà các bạn có thể  suy luận thêm sau khi đọc 2 bài báo dưới đây.

Xe Bay tiến dần tới thực tế qua chuyến bay thử, giới thiệu với khách hàng tại cuộc triển lãm xe hơi ở New York

  • Tác giả: DEE-ANN DURBIN , Associated Press
  • Updated: April 2, 2012
  • Người dịch: Trần Hoàng

Xe ô tô bay không chỉ là khoa học viễn tưởng nữa.Công ty Terrafugia Inc, thành phố Woburn, tiểubang Massachusetts đã cho biết rằng mẫu thử nghiệm chiếc xe bay của công ty đã hoàn thành chuyến bay đầu tiên, đưa công ty gần gũi hơn với mục tiêu bán xe bay trong năm tới.

Chiếc xe – được đặt tên là Transition có 2 chỗ ngồi, 4 bánh xe, và đôi cánh xếp gọn để xe bay có thể được ngườita  lái như một chiếc xe hơi. Tháng trước, xe bay đã bay 426 mét (1.400 feet) trong 8 phút. Các máy bay thương mại (chở hành khách) bay tại độ cao 10.668 mét  (35.000 bộ.)

Khoảng 100 người đã đặt tiền đặt cọc $ 10.000 để mua một chiếc xe bay khi nào công ty Terrafugia Inc bán, và những con số người mua có thể sẽ tăng lên sau khi Terrafugia giới thiệu xe bay tới công chúng vào cuối tuần này tại Triển lãm ô tô New York. Nhưng tôi không mong xe bay sẽ xuất hiện trên đường quá nhiều (vì giá quá đắt). Dự kiến sẽ có giá 279.000 $. Và xe bay sẽ không đỡ đần gì nếu bạn đang bị kẹt xe.  (Vì ) Chiếc xe cần có một đường băng (để chạy lấy đà trước khi cất cánh).

Chiếc xe bay luôn luôn có một vị trí đặc biệt trong trí tưởng tượng của người Mỹ. Các nhà phát minh đã cố gắng để làm xe bay kể từ năm 1930, theo Robert Mann, một nhà phân tích ngành công nghiệp hàng không, hiện đang làm chủ  công ty  RW Mann & Co tại Port Washington, NYTuy nhiên, Robert Mann nghĩ Terrafugia đã đến gần hơn bất cứ ai để làm cho chiếc xe bay trở thành một thực tế (hữu dụng). Chính phủ đã cấp theo yêu cầu của công ty để sử dụng lốp xe và kính đặc biệt, nhẹ hơn so với lốp xe và kính của xe  ô tô, để làm cho xe bay cất cánh dễ dàng hơn.

Chính phủ cũng đã tạm thời miễn đòi hỏi chiếc xe bay Transition khỏi cần phải trang bị hệ thống kiểm soát ổn định điện tử, vì  hệ thống này làm cho xe bay nặng thêm 3 kg. Chiếc xe bay Transition sẽ  trải qua một  xét nghiệm  va chạm ô tô (đụng vào tường) để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn của liên bang. Robert Mann cho biết Terrafugia được sự giúp đỡ của Cục Hàng không liên bang của 5 năm trước đây để tạo ra một loạt tiêu chuẩn của máy bay thể thao hạng nhẹ. Các tiêu chuẩn chỉnh kích thước và tốc độ của máy bay và các yêu cầu cấp giấy phép cho phi công, có ít hạn chế hơn so với yêu cầu cho các phi công của máy bay lớn hơn.

HãngTerrafugia cho biết một chủ sở hữu chiếc Transition sẽ cần phải vượt qua một bài kiểm tra và hoàn thành 20 giờ thời gian bay để có thể bay chiếc Transition, đây là một trở ngại tương đối dễ vượt qua so với các phi công.Transition có thể đạt khoảng 112 km/một giờ trên đường cao tốc và 180 km/ giờ  trên không, phát ngôn viên Steven Moscaritolo của hảng cho biết. Nó bay bằng cách sử dụng một thùng chứa  92 lít (23 gallon) nhiên liệu ô tô và đốt cháy 20 lít (5 gallon) cho mỗi giờ khi bay trong không khí.

Trên mặt đất, nó tiêu thụ nhiên liệu 53 km /4 lít xăng (35 dặm cho mỗi gallon).Robert Mann thắc mắc về số lượng khách mua xe bay Transition. Thị trường hàng không công cộng đã bị giảm xuống trong hai mươi năm qua, ông nói, chủ yếu là do chi phí nhiên liệu và chi phí cao về trách nhiệm đối với các nhà sản xuất máy bay. Ngoài ra, ít người  học lái máy bay.“Đây không phải là một chiếc máy bay rẻ tiền để sản xuất hoặc chào hàng trên thị trường”, ông nói. “Xe bay có một số tính độc đáo, và sẽ nhận được một số đơn bán hàng, nhưng câu hỏi là, liệu công ty chế tạo xe-bay có khả năng kiếm được lợi nhuận không?”

Robert Mann nhìn thấy miền tây Hoa Kỳ là thị trường có khả năng nhất, nơi mọi người có thể bay thay vì lái xe đường dài.Hãng Terrafugia đã và đang làm xe bay từ năm 2006, và đã đẩy lùi sự ra mắt một lần. Mùa hè năm 2011, công ty cho biết họ đã phải trì hoãn dự kiến giao hàng 2011 vì những thách thức trong thiết kế và các vấn đề với các nhà cung cấp các bộ phận.

Với sự xuất hiện ở New York, công ty hy vọng sẽ thu hút mắt của khách hàng cũng như các nhà đầu tư.

“Chúng tôi đang tự giới thiệu mình là một công ty hữu dụng đối với thế giới ô tô,.” Moscaritolo.

In this undated photo provided by Terrafugia Inc., the company's prototype flying car, dubbed the Transition, travels down a street with its wings folded.  The vehicle has two seats, four wheels and w

This March 23, 2012 photo provided by Terrafugia Inc. shows the company's prototype flying car, dubbed the Transition, during its first flight. The vehicle has two seats, four wheels and wings that fo

Nhiều hình khác ở đây

——————————————————————————————————————————————

Bình Dương:

Sư đoàn không quân 370 thị sát “máy bay tự chế” của một thương binh

Nguồn: dantri.com.vn

(Dân trí) – Ngày 30/3, đoàn cán bộ kỹ thuật thuộc Sư đoàn không quân 370 quản lý sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương do Thượng tá Nguyễn Văn Dũng dẫn đầu đã đến thị sát “máy bay trực thăng tự chế” của ông Nguyễn Bùi Hiển.

 
Kỹ sư Bùi Hiển thử nghiệm máy bay bên trong garage (Ảnh: Tương Bình – Năng lượng mới)
Toàn cảnh chiếc máy bay tự chế (Ảnh: Tương Bình – Năng lượng mới)

Tại đây, sau khi kiểm tra từng chi tiết chiếc “trực thăng” của ông Hiển (58 tuổi, kỹ sư ngành ô tô ở phường An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương), đoàn thị sát Sư đoàn không quân 370 đưa ra nhận định bước đầu “máy bay trực thăng” của ông Nguyễn Bùi Hiển gồm một bộ khung sườn có gắn động cơ, hai cánh quạt khi điều khiển nâng lên được khỏi mặt đất cao hơn 1 mét thì được gọi “phương tiện bay”, chứ chưa thể gọi là chế tạo thành một chiếc máy bay như một số phương tiện thông tin đại chúng đã đưa tin.

Đoàn khảo sát đánh giá: ông Nguyễn Bùi Hiển có nghiên cứu tài liệu các nguyên lý, thông số kỹ thuật và các mẫu máy bay trên mạng internet, có am hiểu về hàng không, về độ nâng của cánh quạt và dùng một số trang thiết bị tự chế để lắp ráp thành công một phương tiện bay. “Tuy nhiên để phương tiện bay của ông Hiển phát triển thành một chiếc máy bay còn cần một quá trình nghiên cứu, chế tạo để đạt các điều kiện thông số kỹ thuật vô cùng ngặt nghèo”, Thượng tá Dũng cho biết.

Theo Thượng tá Dũng: Chế tạo thì không thể dùng một loại máy của một loại phương tiện khác để lắp ghép thành chiếc máy bay. Tất cả máy móc của máy bay cũng phải chế tạo riêng, sử dụng loại xăng riêng và có nhiều yếu tố, thông số kỹ thuật.
Kỹ sư Bùi Hiển thử nghiệm máy bay bên trong garage (Ảnh: Tương Bình – Năng lượng mới)

“Đoàn ghi nhận sự đam mê và công sức nghiên cứu, lao động lắp ráp thành công phương tiện bay của kỹ sư ô tô Nguyễn Bùi Hiển. Tuy nhiên, việc bay trong khu nhà xưởng (như trong phòng thí nghiệm) thì được phép, chứ tuyệt đối không đưa phương tiện bay ra ngoài trời để bay, bởi còn vướng mắc nhiều yếu tố pháp lý, tác động của ngoại cảnh (về lực gió, về yếu tố tâm lý…) đối với một người chưa từng có kinh nghiệm lái và chưa nắm vững kỹ thuật học lái máy bay thì hết sức nguy hiểm”, Thượng tá Dũng khuyến cáo.

Theo đoàn khảo sát Sư đoàn không quân 370: Việc phát triển thành công “phương tiện bay” của ông Nguyễn Bùi Hiển còn phải thông qua hội đồng khoa học đánh giá và có kết luận.

Chiều cùng ngày, ông Thượng Văn Hiếu, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương cũng đến kiểm tra “phương tiện bay” và đã ghi nhận sự đam mê nghiên cứu sáng tạo của ông Nguyễn Bùi Hiển. Tuy nhiên, Sở chưa có ý kiến kết luận về “phương tiện bay” do ông Hiển tự chế.

Để làm được “phương tiện bay” trên, ông Nguyễn Bùi Hiển, kỹ sư chuyên ngành cơ khí ô tô đã mất gần 3 năm nghiên cứu, mày mò tự chế, lắp ráp và thử nghiệm bay nhiều lần thành công bên trong khu xưởng của mình.

Kỹ sư Nguyễn Bùi Hiển bên cạnh động cơ máy bay do anh dày công mày mò chế tạo (Ảnh: Tương Bình – Năng lượng mới)

Một vài thông số kỹ thuật do ông Hiển cung cấp:
Trọng lượng của “phương tiện bay” là 250 kg, dài 2,95 m, rộng 1,2 m, cao 2,4 m.
Công suất máy 106 mã lực, 2 tầng cánh, đường kính cánh quạt 4,52 m (quay ngược chiều nhau).
Trọng lượng của phương tiện bay khi có người lái cất cánh có thể lên đến 375 kg. Tiêu tốn nhiên liệu khi bay khoảng 15 lít xăng/giờ.

 ——————————————————————————————————————————————-

*Bài báo này không hề nhắc đến chiếc máy bay của Ks Nguyễn Bùi Hiển bay cao bao nhiêu mét, bay trong thời gian bao lâu, và bay với vận tốc bao nhiêu km/ giờ? Ta có cảm tưởng như báo chỉ có sự dấu giếm tin tức khi tường thuật. 

Các bạn còn nhớ năm ngoái hay năm kia, có một bà cụ 70 tuổi, lái máy bay trên không phận Chicago vào đúng lúc TT Obama đang ghé thăm thành phố này. Vì bà cụ lái phi cơ xâm nhập bầu trời gần khu vực có TT Obama đang viếng thăm, và phi cơ của cụ không có hệ thống liên lạc bằng vô tuyến, nên cụ không nghe được lời nhắc nhở của không lực Mỹ cảnh cáo cụ phải rời ngay khu vực ấy. Kết quả, cụ bị 2 chiếc phản lực bay lên, ra hiệu và hướng dẫn cụ  hạ cánh.  Đó là loại máy bay mà người dân có thể  mua về và tự lắp ráp. Dĩ nhiên muốn mua máy bay đem về nhà tự lắp ráp, thì người mua phải có bằng lái máy bay và phải mua bảo hiểm thì mới có thể lái được.

Còn các cụ về hưu có lắm tiền không biết làm gì thì các cụ mua các loại máy báy viễn khiển để chơi. Hằng tuần, các cụ tụ tập nhau  cùng các thanh niên đủ mọi lứa tuổi khác (thường thường họ là các công nhân viên làm đủ mọi ngành nghề trong xã hội, nhưng cùng có chung thú đam mê về máy bay viễn khiển) trong các khu vực rộng lớn và xa thành phố, và chơi máy bay viễn khiến. Giá một chiếc vài trăm đến vài ngàn, hoặc trên chục ngàn. Lần nọ, TH ghé nhà một cựu chiến binh TQLC gần nhà. Ông ta mới vào nhà và chỉ chiếc máy bay viễn khiển dài chừng 1,5 mét, và mô tả thú vui một cách say mê. TH hỏi giá chiếc này chừng bao nhiêu tiền? Ông ta vừa cười vừa nói nhỏ vào tai TH: tôi mà nói giá thật sự của chiếc máy bay này, chắc vợ tui sẽ cằn nhằn dữ lắm.

Flying car gets closer to reality with test flight, introduction to customers at New York show

  • Article by: DEE-ANN DURBIN , Associated Press
  • Updated: April 2, 2012

Flying cars aren’t just science fiction anymore.

Woburn, Mass.-based Terrafugia Inc. said Monday that its prototype flying car has completed its first flight, bringing the company closer to its goal of selling the flying car within the next year. The vehicle — dubbed the Transition — has two seats, four wheels and wings that fold up so it can be driven like a car. Last month, it flew at 1,400 feet for eight minutes. Commercial jets fly at 35,000 feet.

Around 100 people have already put down a $10,000 deposit to get a Transition when they go on sale, and those numbers will likely rise after Terrafugia introduces the Transition to the public later this week at the New York Auto Show. But don’t expect it to show up in too many driveways. It’s expected to cost $279,000.

And it won’t help if you’re stuck in traffic. The car needs a runway.

The flying car has always had a special place in the American imagination. Inventors have been trying to make them since the 1930s, according to Robert Mann, an airline industry analyst who owns R.W. Mann & Co. in Port Washington, N.Y.

But Mann thinks Terrafugia has come closer than anyone to making the flying car a reality. The government has already granted the company’s request to use special tires and glass that are lighter than normal automotive ones, to make it easier for the vehicle to fly. The government has also temporarily exempted the Transition from the requirement to equip vehicles with electronic stability control, which would add about six pounds to the vehicle. The Transition is currently going through a battery of automotive crash tests to make sure it meets federal safety standards.

Mann said Terrafugia was helped by the Federal Aviation Administration’s decision five years ago to create a separate set of standards for light sport aircraft. The standards govern the size and speed of the plane and licensing requirements for pilots, which are less restrictive than requirements for pilots of larger planes. Terrafugia says an owner would need to pass a test and complete 20 hours of flying time to be able to fly the Transition, a relatively low hurdle for pilots.

The Transition can reach around 70 miles per hour on the road and 115 in the air, spokesman Steven Moscaritolo said. It flies using a 23-gallon tank of automotive fuel and burns 5 gallons per hour in the air. On the ground, it gets 35 miles per gallon.

Mann questions the size of the market for the Transition. The general aviation market has been in decline for two decades, he said, largely because of fuel costs and the high cost of liability for manufacturers. Also, fewer people are learning how to fly.

“This is not going to be an inexpensive aircraft to produce or market,” he said. “It has some uniqueness, and will get some sales, but the question is, could it ever be a profitable enterprise?”

Mann sees the western U.S. as the most likely market, where people could fly instead of driving long distances.

Terrafugia has been working on flying cars since 2006, and has already pushed back the launch once. Last summer the company said it would have to delay expected 2011 deliveries due to design challenges and problems with parts suppliers.

With the appearance in New York, the company hopes to attract the eye of customers as well as investors.

“We are introducing ourselves as a viable company to the automotive world,” Moscaritolo said.

Posted in Giải Trí, Khoa Học | Leave a Comment »

Bà Aung San Suu Kyi thắng cử ở Miến Điện

Posted by hoangtran204 trên 03/04/2012

Chính trị gia từng đoạt giải Nobel về hòa bình của Miến Điện, Aung San Suu Kyi, đã “thắng lớn” trong cuộc bầu cử bổ sung tranh 45 ghế ở Quốc hội vào hôm Chủ

Chính trị gia từng đoạt giải Nobel về hòa bình của Miến Điện, Aung San Suu Kyi, đã “thắng lớn” trong cuộc bầu cử bổ sung giành 45 ghế ở Quốc hội vào hôm Chủ Nhật, theo đảng của bà cho biết.

Liên đoàn Dân tộc vì Dân chủ (NLD) cho biết lãnh tụ của họ, bà Suu Kyi, đã thắng dễ dàng ở Kawhmu, mặc dù kiểm phiếu chính thức chưa hoàn tất.

Đây là lần đầu tiên đảng đối lập NLD tham gia bầu cử kể từ năm 1990.

Cuộc bầu cử hôm Chủ Nhật là một thử nghiệm quan trọng về hứa hẹn cải cách chính trị của Chính phủ Miến Điện, mặc dù đảng cầm quyền được quân đội hậu thuẫn vẫn còn chiếm ưu thế.

Trong quá trình vận động bầu cử, báo chí nước ngoài và quan sát viên quốc tế được phép tác nghiệp tại Miến Điện với một số lượng khá lớn trong nhiều năm qua.

Liên minh châu Âu gợi ý rằng khối này có thể giảm bớt một số biện pháp trừng phạt nếu cuộc bầu cử diễn ra trôi chảy.

“Chúng tôi hy vọng ngày bầu cử diễn ra một cách hòa bình và chúng tôi sẽ có đánh giá dựa trên tất cả các cuộc bỏ phiếu mà chúng tôi chứng kiến,” quan sát viên EU Ivo Belet nói.

Phóng viên BBC Rachel Harvey từ trong Miến Điện nói rằng đảng NLD đã cáo buộc một số hiện tượng “bất thường” trong bầu cử tại thủ đô, Naypyidaw.

Một phát ngôn viên của NLD nói với hãng tin AFP rằng ông đã gửi một thư khiếu nại đến Ủy ban bầu cử cáo buộc về một số hiện tượng gian lận trong cuộc bỏ phiếu.

‘Vẫn còn chi phối

Chính phủ hiện nay của Miến Điện vẫn còn chịu sự chi phối của giới quân sự và nhiều thành viên từ chế quân sự cũ vốn cai trị nước này trong nhiều thập niên và đồng thời đang chịu nhiều cáo buộc về lạm dụng quyền lực tràn lan.

Từ năm 2010, khi xuất hiện cuộc chuyển đổi thế hệ các nhà lãnh đạo mới, chính phủ Miến Điện đã gây ấn tượng với giới quan sát về tốc độ thay đổi trong cải cách nhiều mặt.

Hầu hết các tù nhân chính trị đã được trả tự do, các hạn chế với báo chí, truyền thông đã được nới lỏng và, đặc biệt bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD đã được thuyết phục để tái tham gia tiến trình chính trị.

Họ đã không được thừa nhận vai trò trong tiến trình chính trị Miến Điện từ năm 1990, khi đảng đối lập NLD giành chiến thắng vang dội trong cuộc tổng tuyển cử nhưng lại bị quân đội từ chối không chấp nhận kết quả.

Bà Aung San Suu Kyi trong phần lớn giai đoạn 20 năm sau đó đã bị quản thúc và bà đã từ chối tham gia cuộc bầu cử năm 2010, một động thái mở ra những cải cách hiện nay.

NLD là một trong 17 đảng đối lập tham gia cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung hôm Chủ nhật.

Chỉ một phần nhỏ số ghế tại Quốc hội sẽ được chia sẻ qua cuộc bỏ phiếu hôm Chủ Nhật và đảng cầm quyền được quân đội hậu thuẫn sẽ vẫn áp đảo đa số.

Bà Aung San Suu Kyi, 66 tuổi, đã tranh cử ở một hạt cử tri cấp thấp hơn tại Kawhmu, bên ngoài Rangoon.

Vào ngày Chủ Nhật, bà đã đến thăm khu vực bỏ phiếu tại Kawhmu trước khi trở lại Rangoon.

‘Quyết tâm đi tới’

Bà Aung San Suu KyiĐảng của bà Suu Kyi là một trong 17 đảng phái đối lập tham gia tranh 45 ghế tại cuộc bầu cử bổ sung Quốc hội kỳ này

Trước đó, bà Suu Kyi mô tả chiến dịch tranh cử năm nay là không “thật sự tự do và công bằng” và cảnh báo rằng những cải cách là “không thể đảo ngược”.

Nhưng bà cũng nói rằng bà và đảng NLD “không hối tiếc” khi tham gia cuộc bầu cử.

“Chúng tôi quyết tâm đi tới bởi vì đây là những gì mà mọi người mong muốn,” bà nói.

Phóng viên BBC, Rachel Harvey, nói bất luận kết quả của cuộc bầu cử ra sao, cán cân quyền lực của Miến Điện sẽ không thay đổi qua đêm và dân chủ đầy đủ vẫn còn là một chặng đường dài với quốc gia Nam Á này.

Phóng viên của chúng tôi nói tất cả các nhóm dân tộc thiểu số của Miến Điện phải được thể hiện để cảm thấy họ có tiếng nói trong hệ thống chính trị.

Một số ít đại diện từ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cùng với EU và Hoa Kỳ, đã được mời đến quan sát cuộc bỏ phiếu.

Hơn 100 nhà báo nước ngoài cũng được cho là đã nhận được giấy phép đưa tin bài tại chỗ về cuộc bầu cử.

nguồn BBC

Posted in Ở Miến Điện, Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân hay sở hữu toàn quan

Posted by hoangtran204 trên 02/04/2012

Có 3 loại quyền sở hữu: sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, và sở hữu toàn dân.

Khi nói về đất đai, đảng nói rất rõ ràng: Đất đai thuôc quyền sở hữu toàn dân. Dân chúng hí hửng vì suy diễn ra là đất đai thuộc về họ! Nhưng, không phải, đảng là lực lượng tiền phong của giai cấp công nông, là đỉnh cao trí tuệ của loài người, vốn có suy nghĩ cao hơn. 

Đảng nói rằng: sở hữu toàn dân chính là  quyền sở hữu quốc doanh, mà sở hữu quốc doanh là sở hữu nhà nước. Tóm lại, chỉ có 2 loại quyền sở hữu: sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể.

Đó là sự lươn lẹo của đảng và nhà nước CH XHCN VN.

Hiến Pháp của đảng 1980 và 1992 NÓI: Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân = sở hữu nhà nước 

Nhưng thực tế khi LÀM

Luật đất đai là sở hữu của toàn quan


Từ ngày đảng cộng sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh thành lập cho đến nay với chủ trương đấu tranh giai cấp, gây mâu thuẫn trong mọi tầng lớp nhân dân, vô sản chuyên chuyên chính, xóa bỏ tài sản cá nhân để trở thành của chung, trở thành cộng sản. Ước mơ cuộc sống thần tiên trên thiên đường Xã hội chủ nghĩa đã tan tành theo mây khói, một chế độ xã hội tư bản hoang đã đang hình thành tại cái đất

Nước Việt nam khốn khổ này tệ hại gấp mấy lần trước đây. Ngày nay tài sản của nhân dân cộng lại cho một nhóm lợi ích tư bản đỏ phun phí, xa hoa, ngược lại người dân đen sống cuộc đời kham khổ, ngay cả những người nông dân chân lắm tay bùn đã từng tham gia “cách mạng” trước đây mong có cuộc đổi đời ngày nay cũng cùng chung số phận. Giáo sư Tương Lai đã cay đắng than rằng:

“Nguy hại nhất là đất đai, nguồn sống bao đời và cũng là khát vọng bao đời của họ đang dần dà bị teo lại và có khi mất sạch. Mà đất đai, “quốc gia công thổ”, lại nằm trong tay nhà cầm quyền. Nhân danh  nhà nước, nhân danh sở hữu toàn dân, họ tha hồ thao túng, mà nông dân thì chỉ còn ngậm đắng nuốt cay để trở lại với câu than thở cho thân phận người thấp cổ bé họng: “Trời sao trời ở không cân. Kẻ ăn không hết, người lần không ra”. (Đối Thoại online ngày 17-3-2012)

Ông Hoàng Kim ở tỉnh Đồng Tháp cũng chua xót viết bài “ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân: xưởng sản xuất dân oan” để nói lên nỗi bức xúc của mình:

“Nói đất đai thuộc sở hữu toàn dân là nói tránh, nói đúng thì đất đai thuộc sở hữu nhà nước…Nhà nước Trung ương ở xa quá, nên đất đai thuộc sở hữu của nhà nước địa phương. Đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước địa phương, có nghĩa là đất đai thuộc sở hữu của ông chủ tịch tỉnh, ông chủ tịch huyện (gọi chung là sứ quân địa phương).

“Với quyền lập dự án tùy ý, không ai kiểm tra được; quyền ra quyết định thu hồi, nông dân không có quyền cưỡng lại; quyền bồi thường tùy thích hoặc không bồi thường, nông dân không có quyền mặc cả; quyền thành lập đoàn cưỡng chế gồm công an bộ đội để khống chế mọi ngăn trở bằng vũ lực…, mỗi ông lãnh đạo địa phương trở thành hung thần đối với đất đai của nông dân, trở thành sứ quân với Trung ương…

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân là một qui định sản sinh ra dân oan, khiến cho khiếu nại về đất đai chiếm 70-80 khiếu kiện cả nước…

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân sẽ iến nông dân chất phác thành Đoàn Văn Vươn bạo động”. (Bauxite Việt Nam online ngày 26-2-2012)

Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên phó chủ nhiệm thường trực văn phòng Quốc hộilên tiếng trên đài BBC nói rõ về hậu quả nghiêm trọng của luật đất đai đã gây nên tình trạng tham nhũng tràn lan nay cần phải nhanh chóng sửa đổi Hiến pháp.

“Theo luật sư, Việt Nam “lẽ ra phải chuyễn đổi” chế độ sở hữu và sở hữu đất đai từ năm 1986, khi nước này bắt đầu tiến hành đổi mới.

“Nay theo ông là lúc Việt Nam phải sửa lại Hiến Pháp, cải tổ chế độ một cách triệt để, chứ không nên “cải cách nửa vời”, đồng thời tiến hành “sửa sai toàn bộ” đối với tất cả oan sai, sai lầm về đất đai từ trước đến nay, cũng như cải tổ “thực lòng” công tác xử lý khiếu nại, khiếu kiện của người dân…

“Luật sư nói: “Lại có một quyền phủ lên bên trên làm cho năm quyền đó không có quyền nào cả. Đó là sở hữu nhà nước thuộc về toàn dân. Mà toàn dân là một thuật ngữ tù mù, không là gì cả. Nhưng sở hữu toàn dân này bây giờ lại thuộc về sở hữu của một nhóm người có chức, có quyền ở trong chế độ này, từ địa phương tới Trung ương. Mà cái đó cũng là nguyên nhân sâu xa của một chế độ tham nhũng tràn lan…” (BBC 12-2-2012)

Phóng viên Thanh Quang qua bài “Sở hữu toàn dân làm khổ toàn dân” thuật lại lời của một nông dân ở vùng đồng bằng Cữu Long và hai vị giáo sư khả kính bức xúc lên tiếng:

“Có những mảnh đất  từ đời ông cố tới đời ông nội lưu truyền cho người ta làm, tại sao lại cứ gọi là sở hữu toàn dân?

“Theo giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên thứ  trưởng bộ Tài nguyên-Môi trường thì sự không rõ ràng như vậy về quyền sở hữu đất đai trong nước hiện giờ là nguyên nhân dẫn đến nhiều tranh chấp đất đai; chính vì quy định “sở hữu toàn dân” nên nhà nước mới cho là có quyền thu hồi.

“Qua bài tựa đề “Đã đến lúc nhìn thẳng sự thật”, giáo sư Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông học hàng đầu của Việt Nam, lưu ý rằng “Lý do mấu chốt nhất là khái niệm ‘đất đai thuộc sở hữu toàn dân’, mà mỗi người dân thoạt nghe đều rất khoái, nhưng suy ra thì không có mình trong cái ‘toàn dân’ ấy”. (RFA online ngày 3-3-2012)

Do ảnh hưởng tiêu cực của luật đất đai mà “kẻ xấu” đã lợi dụng nên thao túng mấy chục năm nay. Tình trạng quan tham tranh nhau cướp đất của nhân dân nay đã ra ngoài tầm kiểm soát và gần như vô phương giải quyết. Biết bao dân oan mang đơn khiếu kiện từ năm nầy đến tháng nọ, từ nơi nầy đến nơi khác vẫn không có nơi nào giải quyết. Những con sâu to trong bộ máy cầm quyền chưa ăn đạn của

Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng hay chưa ăn dao của chàng thanh niên Nguyễn Văn Tưởng ở huyện Thăng Bình, Quảng Nam vừa mới đây nên chưa biết sợ. Người sống gần dân đã thấy được điều đó, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh kêu gọi “Sửa luật đất đai là cần gấp”.

“Hiến pháp và luật đất đai ghi: “đất đai là sở hữu toàn dân…”. Thực tế là không một người dân nào được sở hữu dù 1m2 đất, kể cả người có ruộng đất do tổ tiên, ông cha để lại cũng bị tước mất quyền sở hữu. Rốt cục là quyền về đất đai chỉ do các cấp chính quyền “nhân danh Nhà nước” nắm và thao túng. Vì thế đã phát sinh biết bao nhiêu tệ hại và tiêu cực…

“Có những quan có nhiều nhà đất nơi này, nơi kia, chỗ thì đứng tên anh vợ,chỗ thì đứng tên em, chỗ lại đứng tên bà chị họ, v.v…Nếu cứ theo lương thì người có chức quyền cao hất cũng không mua được nhà, đất…

“Do chính quyền nhân danh Nhà nước được quyền thao túng đất đai, gây bất công, uất ức cho người ddân, bất công, uất ức tích lũy đến một ngày nào đó bùng nổ khắp nơi, hậu quả sẽ khôn lường. Đất đai cũng là môi trường cho những người nắm quyền tham nhũng, làm mất lòng tin của dân đối với đảng và chính phủ…

“Sửa điều “đất đai là sở hữu toàn dân” trong Hiến pháp và luật đất đai để công dân được quyền tư hữu ruộng đất và hạn chế bớt tham nhũng, tiêu cực, là một việc làm nên sớm được thực hiện”. (Bauxite Việt Nam online ngày 8-3-2012)

Tiến sĩ Hà Sĩ Phu là người ưu tư nhất, ông đã cảm thấy “Hãi hùng ‘sở hữu toàn dân” và ông đã mạnh dạn lên tiến phê phán cái luật đất đai quái ác này do đảng CSVN độc quyền đẻ ra qua sự hợp thức hóa của quốc hội tay sai trong vì đó có 90% đại biểu là đảng viên cộng sản.

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” ư? Toàn dân là một khái niệm chung chung, mơ hồ, chẳng ai là cụ thể, ai đang có quyền thì chiếm chỗ ấy. Sự thể ra sao thì vụ Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng –Hải Phòng đủ nói lên tất cả.

“Đất đai là miếng mồi ngon nhất, lớn nhất. Trong một cơ chế độc quyền lãnh đạo, kẻ nào độc quyền lãnh đạo ắt thèm rỏ dãi, ắt dung tổ chức công khai, dùng con dấu để “cướp ngày, cướp cạn” (chữ của bác Lê Hiền Đức). Dân bị cướp khắp nơi, kêu trời không thấu. Kiện chỉ là kiện củ khoai vì từ dưới lên trên cùng một duộc. Đó là một “lỗi hệ thống”…

“Chính cái cơ chế “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” là nhân tố mở đường, là cái khiên che, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mọi đám “cướp ngày”, nó cần được hủy bỏ. Việc duy trì điều luật này không còn là sai lầm về nhận thức mà là một tội phạm có ý thức, nó cần được hủy bỏ.

“Điều luật này là điều béo bở cho các quan, nhưng là nỗi hãi hùng cho Dân, nó biến cái CHUNG mạo danh Nhân dân thành cái RIÊNG của các quan, sở hữu “toàn dân” biến thành sở hữu “toàn quan”, nó cần được hủy bỏ”. (Bauxite Việt Nam online ngày 20-2-2012)

Nhiều nhà cách mạng lão thành đã biết được hậu quả tiêu cực của luật đất đai nên đã đề nghị sửa đổi từ lâu nhưng nó đã thành bệnh ung thư khó chửa nên kéo dài cho đến ngày nay và mỗi ngày càng trầm trọng thêm. Đất đai của nông dân thì lấy chia tứ tán hết rồi, giờ đây có muốn trả lại cũng chẵng còn bao nhiêu, do đó mà cứ nhùng nhằn mãi, địa phương đổ thừa trung ương, trung ương đổ thừa địa phương. Ngày nay thì đất đai một số lớn đang nằm trong tay bọn cướp ngày, nếu không giải quyết cho ổn thỏa trước khi sửa thì vô hình trung hợp thức hóa chủ quyền (cấp sổ đỏ) cho bọn địa chủ đỏ được làm chủ họp pháp, vĩnh viễn và người nông dân cũng sẽ mất đất một cách oan ức, “hợp pháp” và vĩnh viễn.

© Đại Nghĩa

nguồn © Đàn Chim Việt

——————————————————————————————————————————————

Những người  sinh ra trong thập niên 1980’s như: Đoàn Huy Chương (1985), Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (1981), Đỗ Thị Minh Hạnh (1985) đã nhìn thấy sự cướp đất của nông dân khi họ tròn 20 tuổi, và họ đã giúp các nông dân viết đơn khiếu kiện lên chính quyền cấp cao hơn, nhưng một khi đất đai bị mất vào tay chính quyền, thì sự đòil ại là vô vọng.  Họ quay sang giúp đỡ những người công nhân trong nước, và đã thành lập công đoàn độc lập giúp công nhân VN đang làm trong các hãng của Đài Loan, Mã Lai, Nam Hàn, giúp những người nay đòi hỏi thêm các quyền lợi như lương công nhân phải được chủ gia tăng hàng năm cao hơn, công nhân phải được nghĩ phép hàng năm, đòi có chế độ bảo hiểm y tế, hưởng phúc lợi thất nghiệp…đảng thấy có người xía vô công chuyện “làm ăn” của đảng nên kết quả các bạn có thể đọc tiếp trên Dân Luận>>>link ở đây

Việt kiều muốn về VN làm việc thiện nguyện tặng quà và tiền bạc  giúp trẻ mồ côi, trẻ tật nguyền, giúp người già yếu và tàn tật, giúp các đồng bào dân tộc thiểu số…phải thông qua (trung gian) của Mặt Trận Tổ Quốc và Đoàn Thanh Niên Cộng Sản...Hàng năm ở VN có thiên tai bão lụt, báo chí trong nước còn không dám thông qua hai tổ chức ộng kẹ này, họ phải trực tiếp giao quà và tiền cho người gặp nạn cho chắc đến tay nhận.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

►Chủ tịch tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh ra quyết định cưỡng chế 3 cha con nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn

Posted by hoangtran204 trên 01/04/2012

Thông báo phản đối việc cưỡng chế

Tôi là Huỳnh Ngọc Tuấn, đại diện cho cá nhân và hai con tôi là Huỳnh Thục Vy và Huỳnh Trọng Hiếu, trân trọng thông báo cho công luận biết:

Ngày 29/3/2012, ông chủ tịch tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh chuyển đến cho chúng tôi ba quyết định cưỡng chế, sẽ thực hiện sau 10 ngày nữa (kể từ ngày 29/3/2012).

Đây là một việc làm vi phạm điều 69 Hiến Pháp nước CHXHCN Việt Nam và nghiêm trọng hơn là vi phạm công ước quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị (điều 19 khoảng 1 và 2), vi phạm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền mà nước CHXHCN Việt Nam đã cam kết thực hiện.

Việc làm này gây tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe và tinh thần của chúng tôi. Vi phạm quyền sở hữu của chúng tôi cũng như vi phạm quyền bất khả xâm phạm nơi cư trú của em tôi và mẹ tôi.

Rất mong sự quan tâm của dư luận trong và ngoài nước, kịp thời lên án hành vi vi phạm nhân quyền và luật pháp của ông chủ tịch tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh và những cơ quan có liên quan.

Chân thành cảm ơn mọi người đã quan tâm.

Trân trọng

Huỳnh Ngọc Tuấn

Nguồn danchimviet

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »