Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 9th, 2012

Sau khi dành độc quyền mua bán tiền đô (ngoại hối) 2011, nay nhà nước thông báo sẽ chính thức độc quyền sản xuất mua bán vàng miếng từ 25/5/2012

Posted by hoangtran204 trên 09/04/2012

Sau khi ra nghị định độc quyền mua bán đô la (ngoại hối) -xem thông báo về một số quy định mới trong Nghị định 95/11/NĐ-CP ngày 20-10-2011 (nguồn)- giá đô la có vẻ ổn định, giá đô la biến động chung quanh  20 800 đồng/ 1 đô la.

Nhưng thật sự  thị trường mua bán đô la hiện nay là giả tạo. Hơn ai hết mọi  người biết rõ, lạm phát gia tăng hàng ngày, tiền đồng VN bị mất giá 30-40%; điển hình đi chợ mua đồ ăn mỗi ngày thấy vật giá càng gia tăng từ trước Tết tới nay, giá xăng tăng, giá điện tăng, giá thuốc tây và trả tiền bệnh viện tăng 26%…). 

Giá cả qui đổi tiền đô ra tiền đồng trong ngân hàng hiện nay chỉ nhằm mục đích ép người bán đô phải bán với giá ngân hàng quy định. Nếu họ bán chỗ khác, sẽ bị phạt tiền. Nhưng nếu có ai cần vài ngàn đô để chuyển ngân cho con em du sinh đang học ở nước ngoài, cứ thử đem tiền đồng ra ngân hàng mua đô, thì ngân hàng sẽ trả lời là không có đô la để bán ra.

Hối suất mua cưỡng ép này sẽ có giá trị trong một thời gian nào đó, một khi có can qua, có sự thay đổi, số tiền nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu ngày càng tăng, khi tiền đô do Việt kiều gởi về vào mua hè này và cuối năm càng nhiều, hay một lúc nào đó nhà đầu tư ngoại quốc bỏ tiền vào VN, thì nhà nước phải tung tiền đồng ra mua, lượng tiền đồng trên thị trường ngày càng nhiều, kết quả là làm gia tăng lạm phát, thì giá 1 đô sẽ lên 25 000 – 30 000 đồng trong thời gian ngắn trước mắt. 

“Nếu NHNN tiếp tục kìm giữ tỷ giá bằng sự thặng dư tạm thời của cán cân thanh toán trong khi lạm phát liên tục ở mức cao thì tiền đồng sẽ tiếp tục lên giá thực so với ngoại tệ, và do đó khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (việc bán hàng hóa ra nước ngoài sẽ không có lời, xuất khẩu các mặt hàng của VN sẽ giảm-TH). Điều này sớm hay muộn sẽ làm thâm hụt thương mại tăng cao trở lại (xuất ít, nhập nhiều), các dòng vốn nước ngoài cũng sẽ tháo chạy (thực tế FDI giảm từ 2011 chỉ còn chừng 1  tỷ rưỡi, so với 7-9 tỷ trong các năm trước; và 3 tháng vừa qua của năm 2012 thì, FDI chỉ có vài ba trăm triệu, các công ty  ngoại quốc đã và đang ngưng đầu tư vào VN- TH) và cán cân thanh toán sẽ thâm hụt, lúc đó tiền đồng sẽ nhanh chóng bị phá giá một cách mạnh mẽ.” (nguồn)  và tỷ giá tiền đô sẽ lên cao 25000- 30 000 đồng/ 1 đô là điều thấy rõ trong tương lai gần.

Ai hưởng lợi từ việc độc quyền mua bán tiền đô, và ngoài mục đích này còn có mục đích nào khác nữa? Nhưng các mục đích ấy có nguy cơ gì? Mời các bạn đọc tiếp: “

Tỷ giá ổn định, tất nhiên Ngân hàng Nhà nước được hưởng lợi đầu tiên. Theo cập nhật của nhóm nghiên cứu, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước mua vào một lượng lớn ngoại tệ. Có những ngày, nhà điều hành mua vào từ 60 – 70 triệu USD. Xu hướng này kéo dài cho tới nay, khi có những ngày nhà điều hành mua hơn 100 triệu USD. Và khi dự trữ ngoại hối tương đối rủng rỉnh, nhà điều hành còn “đỏng đảnh” trước những lời gạ bán của ngân hàng thương mại.

Một chuyên gia phân tích: tỷ giá ổn định như hiện nay thực ra được hưởng lợi khá nhiều từ chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát và giảm tổng cầu. Bởi thế, những người điều hành tỷ giá rất lo nếu phải nới lỏng tiền đồng.

Sự lo lắng này không phải không có lý khi giới phân tích đang hình thành những xu hướng trái ngược nhau.

Một bên cho rằng, Chính phủ nên tiếp tục kiên định thực hiện Nghị quyết 11: giảm tổng cầu để ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát; còn bên kia là sự la ó lãi suất cao, khó tiếp cận vốn, nhất là giữa lúc Tổng cục Thống kê công bố GDP quý 1/2012 chỉ đạt 4%, giảm 2% so với quý 4/2011 và giảm 1,6% so với cùng kỳ 2011.

Vị cán bộ chuyên kinh doanh ngoại tệ nói trên cho rằng, nền kinh tế đã đổi mới được 20 năm và đã đến lúc phải cơ cấu lại. Vấn đề không chỉ ở con số tăng trưởng 4% hay bao nhiêu mà chính là tăng trưởng thực chất.

“Đừng nhìn vào mấy chục nghìn doanh nghiệp phá sản mà loạn cả lên. Thà chấp nhận số lượng doanh nghiệp ít đi nhưng chất lượng tốt hơn”, ông này nói.

Mối lo thứ hai đến từ dòng tiền nóng. Theo giới phân tích, kinh tế vĩ mô hiện nay đang duy trì được đà ổn định: lạm phát được kiềm chế mức thấp, tỷ giá bình lặng, trong khi chênh lệch lãi suất “đô, đồng” gần 10% là những tiền đề cần thiết để dòng tiền nóng từ các nhà đầu tư nước ngoài dần trở lại Việt Nam thông qua các quỹ đầu tư, mặc dù lưu lượng của chúng hiện mới chỉ dăm triệu USD mỗi ngày.

Lý giải hiện tượng này, một số cán bộ kinh doanh ngoại tệ ở các ngân hàng phân tích: trong khi lãi suất USD chỉ 2%/năm, lãi suất trái phiếu Chính phủ khoảng trên 11%/năm, những nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng bỏ tiền mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp và rút nhanh sau vài ba tháng.

Điều nguy hiểm là khi dòng ngoại tệ nóng chảy vào, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải mua vào và cung tiền đồng ra thị trường. Và đến khi họ rút nhanh, tỷ giá lập tức chao đảo; đồng thời, thị trường trái phiếu sẽ sụt giảm theo, ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của nền kinh tế.

Giữ tiền đô và vàng là an toàn so với việc giữ tiền đồng, đừng bán và đừng cho ai vay, mà hãy cố gắng giữ trong các ngân hàng ngoại quốc ở SG hay HN, gởi ở các ngân hàng ngoại quốc tuy lời ít, nhưng các bạn sẽ không mất trắng tay vì trộm cướp và ngân hàng phá sản khi “can qua”.

Nay Khi Nhà nước Việt Nam thông báo độc quyền sản suất và buôn bán vàng

Nhu cầu phòng thân của người dân bị tước đoạt

Báo Người-Việt.com

SÀI GÒN – Sau cơn bão bất thường giữa mùa Hè, sự việc làm choáng váng dư luận Việt Nam là chuyện Ngân Hàng Nhà Nước chế độ cộng sản tuyên bố độc quyền sản xuất và kinh doanh vàng miếng.

 

Vàng miếng trên thị trường Việt Nam kể từ tháng 5, 2012 sẽ do nhà nước độc quyền sản xuất và kinh doanh. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Gettty Images)

Khác với chuyện thường xuyên dự báo bão trật lất, chuyện đại sự vàng miếng đã được các quan lớn ngân hàng dọn đường dư luận từ trước và không thay đổi chính sách.

Ở một quán cà phê thuộc quận 1, Sài Gòn. Nhà báo TC nói: “Ở đất nước này, chế độ cầm quyền không còn lắng nghe ý dân nữa. Họ khinh dân. Họ chỉ nghe đảng của họ và các băng nhóm lợi ích bu quanh đảng cộng sản.”

Bà V., một nhà báo kinh tế khác góp chuyện rằng, “Ðây là lần đầu tiên trong suốt lịch sử Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc quyền vàng miếng.”

Bây giờ chuyện khai thác khoáng sản vàng có giấy phép hoặc cấp giấy phép bằng miệng để nhận tiền lót tay đã không còn là món béo bở với các tầng lớp cán bộ tham nhũng.

Cái mỏ vàng được đánh giá có trữ lượng hàng ngàn tấn đang nằm trong tủ để phòng thân của hàng triệu người Việt mới là cái họ quyết chiếm đoạt và trục lợi cho bằng được.

Nhiều người nhớ lại rằng từ sau biến cố 1975 đến nay, chế độ này đã tìm cách thâu tóm nhiều lần cái mỏ vàng của lương dân. Ðánh tư sản 3 đợt. Những câu chuyện dân giấu vàng trong hũ chôn cạnh cầu tiêu cũng bị moi lên, sơn đen vàng làm khung thờ tổ tiên cũng bị tước đoạt… Ðau đớn nhất là hốt vàng của những lương dân mong cầu tự do quyết tìm đường vượt biển.

Ngày 5 tháng 4, Thống Ðốc Ngân Hàng Nguyễn Văn Bình nói trên tivi với phóng viên kinh tế của kênh truyền hình chính thống rằng: “Nhà nước chỉ độc quyền vàng miếng, như độc quyền phát hành tiền. Hiện nay, thị trường vàng miếng Việt Nam hơn 90% là vàng miếng nhãn hiệu SJC. Thế nên việc ngân hàng độc quyền vàng miếng nhãn hiệu SJC, những nhãn vàng khác không có thị phần đáng kể.”

Tuyên bố này của ông thống đốc lập tức gây ra cảnh hỗn loạn ở thị trường vàng Hà Nội. Người ta đổ xô đi bán rẻ vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc để mua mắc vàng miếng của SJC. Như vậy chỉ riêng ở Hà Nội những lương dân lâm cảnh bán rẻ mua mắc đã mất trắng số tiền khổng lồ từ mồ hôi nước mắt. Không giống như ở Hà Nội, lương dân có vàng miếng ở các tỉnh phía Nam và Sài Gòn bình tĩnh hơn. Họ chửi rủa chuyện độc quyền vàng nhưng ít cầm vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc đi bán rẻ.

Hỏi một ông chủ cho thuê nhà trọ ở quận Tân Bình. Ông nói: “Lo chi cho mệt, vài bữa là thị trường vàng chợ đen mọc lên như nấm. Cấm, tịch thu hả! Ðừng có mà mơ. Có việc cần, thà bán rẻ cho chợ đen còn hơn là làm giàu cho mấy thằng đó.”

So với thị trường chợ đen các loại thì Sài Gòn không tinh vi bằng Hà Nội, nhưng riêng cái chuyện chữ tín của thị trường chợ đen thì Hà Nội không thể sánh bằng Sài Gòn. Một bà bán quán nhậu nói: “Ông có vàng bán tôi kêu giùm cho. Tới tận nhà mua luôn nghe, bảo mật, uy tín, không ép giá.”

Với từng gia đình, việc chuẩn bị mọi phương cách để tự vệ trước bàn tay tham lam muốn khai thác vàng phòng thân đã bắt đầu. Nhiều người tin rằng bóng ma quản lý kinh tế thời bao cấp đã quay trở lại. Nhiều người còn nhìn thấu đáo hơn khi lướt qua một số chuyện cho thấy sự cùng quẫn của chính quyền tham nhũng hiện nay. Những bộ trưởng cộm cán của chính quyền Hà Nội đã bắt đầu “tham lam sinh đạo tặc.” Bộ trưởng Giao Thông thì thèm thuồng nguồn thu phí từ hàng chục triệu xe gắn máy. Bộ trưởng Y Tế thì ngớ ngẩn đòi tăng giá viện phí để giảm tải bệnh viện. Cục Thuế thì tha hồ hốt tiền lót tay khi gia hạn thuế cho các tổng công ty nhà nước và các đại gia máu mặt…

Trở lại chuyện thống đốc ngân hàng đang hăm hở độc quyền nguồn vàng phòng thân của hàng triệu gia đình. Một chuyên gia kinh tế muốn giấu tên nói, đây là một chính sách động chạm trực tiếp đến tầng lớp trung lưu Việt Nam. Nếu giới trung lưu trước đây an phận làm ăn, hưởng thụ thì chính sách độc quyền vàng sẽ làm họ hiểu là ngay cả của để dành cũng không an toàn. Ðe dọa đến nguồn vàng tư hữu phòng thân là đánh thức sự chống trả của tầng lớp công dân đông đảo.

Những ngày tới, chuyện gì sẽ xảy ra khi nhà nước tuyên bố độc quyền kinh doang vàng miếng. Người dân, nhất là giới trung lưu Việt Nam sau những thoáng mất bình tĩnh thì xuất hiện một bầu không khí im lắng bất thường và chính sự im lắng này là giai đoạn họ chuẩn bị sẵn sàng gây bão lớn.

************************************************

Nhà nước chính thức độc quyền sản xuất vàng miếng từ 25/5/2012

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Theo Nghị định 24, quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.

Các quy định trong Nghị định 24 không áp dụng đối với hoạt động khai thác và tinh luyện vàng của doanh nghiệp khai thác vàng.

Nghị định 24 nêu rõ: Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Nghị định cũng cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. Các hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 5 điều kiện:

1. Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

2.  Có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên;

3. Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 năm trở lên;

4. Có số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trở lên trong 2 năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế);

5. Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Ngày 3/4/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank, Dong A Bank và Công ty TNHH một thành viên Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) báo cáo về việc triển khai mạng lưới mua, bán vàng miếng. Báo cáo gửi về Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) trước ngày 9/4/2012.

Trong khi đó, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 3 điều kiện gồm có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên; Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng; Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Về xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ và cung – cầu vàng trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp theo quy định và cấp giấy phép xuất khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có Giấy phép khai thác vàng theo quy định.

Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ cho doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm. Việc xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm được thực hiện theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định này. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/5/2012.

—————–

Nghị Định 24 chấm hết với đầu cơ vàng

nguồn

“Tuy nhiên trên tất cả và quan trọng nhất vẫn là quy định “không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán”. Về tinh thần này, cùng với chủ trương Nhà nước độc quyền trong sản xuất vàng miếng và xuất khẩu vàng nguyên liệu cũng như nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, giới đầu tư của 12.000 cơ sở kinh doanh vàng và cả những người dân quen mua vàng tích trữ đã biết từ lâu. Vấn đề còn lại là bản nghị định này sẽ tác động ra sao đối với thị trường kinh doanh vàng.”

“Ngay sau khi nghị định 24 được ban hành, giám đốc một doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh vàng tiếp tục đặt vấn đề: Tại sao cùng vào ngày 3/4/2012, cùng thời điểm với nghị định 24 được ký, lại xuất hiện một công văn của NHNN gửi cho 5 ngân hàng và Công ty SJC liên quan đến mạng lưới phân phối vàng? Tại sao chỉ có nhóm “G5+1” mà không hiện ra thêm thành viên nào khác? Và tại sao tất cả những thương hiệu vàng “Phi SJC” lại bị loại thẳng thừng trong nghị định 24?”

“Trên thị trường, giá vàng niêm yết hàng ngày hầu hết được “tham chiếu” bởi Công ty SJC chứ chẳng phải ai khác. Mà những dấu hiệu từ SJC khi đặt giá niêm yết cao hơn hẳn giá thế giới lại đã luôn trở thành một nghi vấn lớn lao nhưng chưa bao giờ được giải thích cặn kẽ.

Từ đó, hiển nhiên các cơ sở kinh doanh vàng – những nơi bị chuyển từ kinh doanh vàng miếng sang vàng nữ trang, sẽ không thể không hoài nghi về ý nghĩa thực chất của nghị định 24 trong thực tế triển khai, nhất là khi thương hiệu vàng SJC vẫn đóng vài trò độc tôn và Công ty SJC vẫn được NHNN “bảo trợ”.

“Tương tự, Bảo Tín Minh Châu đã trở thành “nạn nhân” đầu tiên trong số các thương hiệu có tiếng lâu đời bị gạt ra rìa. Vào cuối năm 2011, khi lần đầu tiên giá vàng Bảo Tín Minh Châu thấp hơn giá vàng SJC đến 1,2 triệu đồng/lượng, cơn khủng hoảng  của vàng “phi quốc doanh” đã bắt đầu.”

“Trong khoảng thời gian gần đây nhất, bất chấp “barem” của thống đốc NHNN về “nếu giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 400.000 đồng là có dấu hiệu đầu cơ”, độ chênh cao của giá vàng trong nước so với giá quốc tế vẫn luôn duy trì ở mức 2-4 triệu đồng/lượng trong suốt 5 tháng cuối năm 2011, kể cả cho đến những ngày gần đây mức chênh đó vẫn duy trì ở mức trên 2 triệu đồng/lượng.”

“SJC công bố giá vàng hàng ngày hầu nhu độc quyền- Yêu cầu Ngân hàng Nhà nước giải thích tại sao giá của SJC bao giờ cũng cao hơn giá thế giới từ 01-3 triệu đồng.Ông thống đốc NHNN từng tuyên bố sẽ giữ giá vàng trong nước chỉ cao hớn giá vàng thế gioi 500.000,đồng mà sao bây giờ… “

Thực chất của nghị định 24 là nhà nước dành độc quyền kinh doanh vàng, vì món này rất có lời. Cứ bán 1 lượng vàng, thì nhà nước lời tối thiểu 2 triệu đồng.  SJ C và 5 công ty kinh doanh vàng là của nhà nước và các tập đoàn quốc doanh, và do con cái các cán bộ cao cấp nắm giữ.

Thực chất của độc quyền mua bán đô la là mua rẻ tiền đô của Việt kiều và công nhân lao động xuất khẩu (gởi tiền về trả nợ chi phí xin di XKLĐ và giúp đỡ gia đình.)

Mời các bạn đọc bài dưới đây để hiểu tải sao lạm phát gia tăng trước tết cho đến nay của việc tung tiền VN ra đổia ấy tiền đô:

“Bị thâm hụt 12 tỷ đô la, Chính phủ VN tung 300.000 tỷ đồng vừa giải cứu ngân hàng, vừa mua lại 9 tỷ đô la do Việt Kiều gởi về, nhưng tiền đồng trên thị trưởng quá nhiều đã và đang làm gia tăng lạm phát (dân lãnh đủ). Việc độc quyền mua rẻ đô la, không cho tỷ giá vượt mức 22.000 đồng, có mục đích là chính phủ hưởng lợi” (nguồn)

Advertisements

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 2 Comments »

Hoàn cảnh cụ thể của đại đa số người dân Trung Quốc ở thành thị và Nông Thôn như thế nào

Posted by hoangtran204 trên 09/04/2012

 

Sự thật về mô hình phát triển của Trung Quốc dưới góc nhìn từ hai ký giả người Âu

Văn Ngọc

Trong khi dư luận quần chúng, cùng các kênh thông tin và truyền thông ở phương Tây lại không ngớt lời ca ngợi những cái hay, cái giỏi của đất nước này về mọi mặt thì hai tác giả Pierre Cohen và Luc Richard xuất thân là nhà báo và nhà văn đã từng sống ở Trung Quốc và biết tiếng quan thoại, hiểu biết rộng về kinh tế, với cặp mắt quan sát sắc sảo của mình, họ đã đi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội Trung Quốc để tìm hiểu một thực tế vô cùng tế nhị và phức tạp để viết một cuốn “La Chine sera-t-elle notre cauchemar?” (Ed. Mille et Une Nuit – Paris 2005, tái bản 5-2008) đầy ắp thông tin và dày công phân tích nhằm chỉ ra những khuyết tật trong mô hình phát triển hiện nay của Trung Quốc.

Người ta có thể nghĩ rằng, trước hết hai tác giả này muốn nói lên một sự thật, một thực tế, mà trong nhiều năm ở phương Tây, báo chí, cùng các cơ quan truyền thông và một số người có chức quyền vẫn cố tình che giấu, hoặc tô hồng, vì dẫu sao, người ta cũng cần cái thị trường khổng lồ này trong một nền kinh tế toàn cầu hoá.

Cũng có thể, do một bản năng tự nhiên, hay một tinh thần dân tộc chủ nghĩa nào đó, các tác giả muốn vạch ra những yếu kém của mô hình phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc, để cảnh báo các xã hội phương Tây.

Cũng có thể, họ còn có một tầm nhìn rộng hơn nữa, một tầm nhìn có tính chất chiến lược, ở qui mô toàn cầu.

Nhưng cũng có thể, đó chỉ là do một sự thôi thúc nội tâm có tính chất đạo lý, vì sự thật, vì hạnh phúc của con người, và tương lai chung của cả loài người?

Tác phẩm được viết như một thiên phóng sự, một nhân chứng. Nó không chỉ nêu lên những hoàn cảnh cụ thể, có thật, nói lên những điều mà những con số thống kê không thể nói lên hết được, mà còn truyền được tới người đọc một dòng suy nghĩ, một nỗi lo âu, một lời cảnh báo.

1/ Nạn thất nghiệp ở thành thị

Từ những năm 90 của thế kỷ trước, với những bước đầu của quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh TQ bị dẹp bỏ, nhường chỗ cho các xí nghiệp tư nhân. Hàng triệu công nhân bị sa thải. Năm 1998, chỉ riêng trong khâu dệt may, có 660.000 người bị rơi vào hoàn cảnh này; trong lãnh vực dầu khí, 1 triệu người. Các nhà máy cũ nhường chỗ cho các nhà máy mới do nước ngoài đầu tư xây dựng. Công nhân quá 35 tuổi không được nhận vào xưởng làm việc nữa. Một ngày công không phải là 8, 9 giờ, mà là 11, 12 giờ. Công nhân bị sa thải được gọi là xiagang (hạ cương, từ được tạo ra để làm nhẹ bớt cái ý bị đuổi việc – cương đây là cương vị).

Chủ trương dẹp bỏ các xí nghiệp quốc doanh thực ra đã bắt đầu được thực hiện ngay từ những năm 80 và do chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý. Sự kiện này diễn ra cùng một lúc với việc Đặng Tiểu Bình cho thực hiện chính sách phân quyền về các địa phương. Cũng là một công đôi việc, tránh cho Trung ương khỏi mang tiếng! Nhưng cũng từ đó, nạn tham nhũng lan tràn về các địa phương.

Theo một cuộc điều tra gần đây của Nhà nước, thu nhập bình quân của những người giàu có nhất ở thành thị, lớn hơn gấp 12 lần thu nhập của những người nghèo; 10% nhà có của ở thành thị, chiếm 45% tổng số tài sản, trong khi 10% những người nghèo nhất chỉ chiếm có 1,4% số tài sản này.

Ở các thành phố lớn vùng đông-bắc, nạn thất nghiệp chiếm từ 20 % tới 30% dân số. Ở Phong Đô, một thành phố mới được xây dựng lại một cách rất hoành tráng ở bờ nam sông Dương Tử, gần đập thuỷ điện Tam Hiệp, tỷ lệ này lên tới 60, 70%, vì trên thực tế, đây là một thành phố chết, hoàn toàn thiếu vắng mọi hoạt động kinh tế.

50 năm sau “Bước nhảy vọt” (1958) – một sai lầm về đường lối công nghiệp hoá, đã khiến hàng mấy chục triệu nông dân bị chết oan (nạn đói những năm 1959-1961) – các nhà lãnh đạo địa phương Trung Quốc vẫn còn nghĩ rằng, chỉ cần hô hào, động viên bằng lời nói, là có ngay những người hăng hái đầu tư.

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương Tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6USD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

 

Vấn đề thất nghiệp được tóm gọn lại trong một phương trình đơn giản: năm 2004, số người thất nghiệp là 14 triệu, thêm vào đó là 10 triệu người từ nông thôn đổ ra thành thị kiếm sống hàng năm (Năm 2005, con số này lên đến 13 triệu người). Để đáp ứng nhu cầu, phải cung cấp 24 triệu công ăn việc làm cho những người này, điều mà cho đến nay các giới hữu trách mới chỉ bảo đảm được có một phần ba mà thôi.

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6U SD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

2/ Nạn thất nghiệp ở nông thôn (mingong = “dân công” , từ mới để chỉ những người thất nghiệp từ nông thôn đổ lên thành thị kiếm sống, và thường tụ tập ở các chợ lao động (“chợ người”), hay ngay trên hè phố – từ này khác với từ dân công trong tiếng Việt, được dùng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam) :

Hiện nay, Trung Quốc có dân số trên 1,3 tỷ người, mà hai phần ba là nông dân, tức là số nông dân có tới 900 triệu người, trong số đó 600 triệu sống bằng nghề trồng trọt, trên những mảnh ruộng nhỏ li ti.

Năm 1978, Trung Quốc phát động phong trào hiện đại hoá nông thôn, bãi bỏ chính sách tập thể hoá. Người nông dân được phát ruộng, phát đất để trồng trọt, được đem nông phẩm ra chợ bán tự do. Ngay từ năm 1980, đời sống của người nông dân có những bước biến chuyển. Nhưng đến khoảng năm 1990, không thấy người ta bàn bạc, đả động gì đến nông thôn nữa, mà chỉ chú trọng đến sự phát triển của các đô thị, của các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, và đương nhiên là đến quá trình toàn cầu hoá.

Năm 2004, người ta được thống kê cho biết rằng số dân nghèo đến mức tối đa (tính theo tiêu chuẩn: dưới 75USD/người/năm), lần đầu tiên đã tăng lên sau 25 năm, và đa số những người này là nông dân.

Một vài thí dụ cho thấy sự nghèo khổ tột cùng của họ. Một cậu học sinh trung học ở một huyện lị kia, vì không có tiền để trả tiền học, đã lao mình xuống gầm xe lửa tự tử. Trước đó một hôm, ông đốc trường đã không cho phép cậu thi lên lớp, và bảo rằng : “Không có tiền, không được học”.
Vào mùa xuân năm 2005, đã nổ ra những vụ tranh giành đất đai giữa nông dân và các quan chức địa phương, cũng như đã có những cuộc biểu tình của nông dân chống việc các nhà hữu trách đã để cho các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường của mình.

Như vậy, là sau một thời gian ngắn ngủi, làm ăn bắt đầu khấm khá trở lại vào những năm 80, tình hình nông thôn lại một lần nữa xuống cấp : thuế má ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng, học phí cho con cái tăng, các dịch vụ y tế thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, nạn thất nghiệp tràn lan.

Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

 

Hố sâu giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

Nếu tính theo tiêu chuẩn đầu người, mỗi nông dân phải có được 0,66 ha đất nông nghiệp mới có thể làm ăn sinh sống được ở nông thôn. Con tính đơn giản này cho thấy nông thôn Trung Quốc thừa 170 triệu người. Thừa người ở nông thôn, thì người ta chỉ còn cách kéo nhau lên thành thị làm dân công.

Dân công không phải là một người vừa là nông dân, vừa là công nhân. Họ không là gì cụ thể cả. Họ không phải là nông dân, mà cũng không phải là công nhân. Họ làm công nhật, không có hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội, hôm trước hôm sau có thể bị đuổi, mà không kêu ca được với ai. Họ bị cấm không được phép làm một số nghề (danh sách các nghề bị cấm năm 1996, tại Bắc Kinh, là 15 nghề, đến năm 2000 con số này lên tới hơn 100) . Một ngày lao động của họ có khi là 10, 12 tiếng , có khi là 15 tiếng. Họ không có quyền hưởng luật lao động. Một dân công muốn có được một chỗ làm việc, phải “mua” các giấy tờ, thủ tục hành chính, với giá 640 nhân dân tệ, bằng 2 tháng lương. Chế độ “hộ khẩu” được áp dụng chặt chẽ đối với họ.

Mặc dầu vậy, với giá nhân công rẻ mạt, họ đã “được” khai thác có hiệu quả trong các ngành công nghệ xuất khẩu, nơi mà TQ phá kỷ lục về giá thành sản phẩm.

Dân công là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800 nhân dân tệ (80Eu ro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

 

Dân công là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800nhân dân tệ (80Euro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

Nhà nước TQ dự kiến, trong vòng 20 năm, giảm số nông dân xuống chỉ còn 30% số người lao động của cả nước. Dự kiến này xem ra không thực tế lắm, vì nếu như vậy thì phải chấp nhận hàng năm sẽ có tới 26 triệu nông dân kéo nhau lên thành thị sinh sống, trong khi lúc này chỉ có từ 10 đến 13 triệu. Dẫu sao, dòng thác dân công – mà người ta ước lượng khoảng từ 150 đến 200 triệu – vẫn sẽ đổ vào các thành thị, và giá nhân công nhờ đó sẽ giữ được ngày một rẻ.

Không những nông thôn thiếu đất trồng trọt, mà diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại bởi những xí nghiệp, nhà máy, được di dời về đây. Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. 190 triệu nông dân sống trong một môi trường không lành mạnh, nước sông, nước hồ phần lớn đều bị ô nhiễm.

3/ Số phận của những người nữ dân công

Ở Trung Quốc, những nơi phải sắp xếp, tổ chức lại các xí nghiệp quốc doanh bị dẹp bỏ, phụ nữ là những người đầu tiên bị sa thải hoặc di chuyển. Trong các ngành kỹ nghệ, điều kiện làm việc của những người nữ dân công còn tồi tệ hơn là của nam dân công nhiều. Không lấy gì làm lạ, là sau một thời gian, một số không nhỏ các nữ dân công đã phải bỏ đi làm gái điếm.

Hiện tượng mãi dâm của các cô gái từ nông thôn lên thành thị , từ hơn 20 năm nay, đã trở nên một hiện tượng bình thường dưới mắt mọi người. Phần lớn các cô này đều đã trải qua một thời kỳ làm dân công. Quan hệ tình dục đã trở thành hàng hoá trao đổi, hoàn toàn phù hợp với tâm thức coi đồng tiền là quyền lực tối cao, coi cuộc đời là tiêu xài, hưởng thụ, con người là hoàn toàn vô trách nhiệm đối với xã hội.

Nhiều người – trong đó có những khách du lịch rất nhiệt tình và hồ hởi – khi được viếng thăm các thành phố Trung Quốc, theo các tuyến “tua”, cứ ngỡ rằng những biến đổi về mặt xã hội ở những nơi này cũng là những biến đổi chung cho cả đất nước Trung Hoa. Thật ra, không phải thế. Đó chỉ là cái mặt tiền.

Cuộc sống ở đô thị có thay đổi thật, người phụ nữ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn để học hành và làm việc, nhưng Trung Quốc chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp. Ở những vùng trung tâm, như Hồ Nam, An Huy, v.v., nông thôn vẫn không mấy thay đổi. Vẫn những cuộc hôn nhân sắp đặt sẵn, cô dâu về nhà chồng rồi, liền bị cắt đứt liên hệ với gia đình nhà mình. Vẫn những vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em giữa vùng này và vùng khác. Vẫn cái truyền thống “trọng con trai, khinh con gái”. Chính sách giới hạn “một con” của Nhà nước, khiến cho các cặp vợ chồng phải chọn lựa. Trên 7 triệu trường hợp phá thai mỗi năm, 70% là thai con gái. Vai trò của người mẹ, người vợ, trong nhiều gia đình nông dân đôi khi chỉ dừng lại ở vai trò của người hầu, người ở. Từ những năm 80, sau khi chế độ hợp tác xã bị dẹp bỏ, trở lại phương thức canh tác kiểu gia đình, vai trò của người phụ nữ lại càng bị chèn ép. Bắt đầu từ năm 1990, sự xuống cấp của các khâu giáo dục và y tế ở nông thôn càng làm cho họ bị thiệt thòi. Do sự phân biệt chọn lựa vì quyền lợi kinh tế giữa con trai và con gái, tỷ lệ thất học về phía nữ là 23% năm 1997 (49% năm 1982) ; về phía nam là 9% (21% năm 1982).

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.

4/ Giáo dục bị “ hy sinh ” cho kinh tế

Ở thời đại ngày nay, biết đọc, biết viết không đủ, còn phải biết đôi chút khái niệm khoa học kỹ thuật, phải biết sinh ngữ, để có thể tiếp thu được những công nghệ nhập từ nước ngoài, v.v. Trên thực tế, nhà nước Trung Quốc đã không thực sự quan tâm đến vấn đề này. Năm 2003, ngân quỹ dành cho giáo dục chỉ chiếm có 3,8% tổng sản lượng công nghiệp.

Ngay từ 1999, tại một Hội nghị của Bộ Giáo dục, một chủ trương đă được đề ra, là khuyến khích các gia đình tăng thêm ngân quỹ cho việc giáo dục con cái. Ý đồ là đi đến việc tư lập hoá các trường học. Ở các vùng nông thôn nghèo, các khoản chi phí cho việc học của con cái đối với các bậc cha mẹ lại càng lớn. Cũng bởi vì chỉ có 23% ngân sách giáo dục của nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

Chỉ có 23% ngân sách giáo dục của Nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

 

Trong một công trình nghiên cứu về gia đình người nông dân, Isabelle Attané, thuộc Trung tâm nghiên cứu dân số, viết : “Trong một hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nhiều hơn là nhu cầu xã hội, thì những người dân nghèo khổ nhất, những người không được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, phải trả giá đắt nhất ”.

Chính sách của Nhà nước về giáo dục như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cách về trình độ văn hoá ngày càng xa giữa thành thị và nông thôn (mức sống ở thành thị hiện nay cao gấp 6 lần mức sống ở nông thôn), cũng như giữa con trai và con gái (nạn thất học chiếm 6,6% giới trẻ ở nông thôn, trong đó có 3,6% là con trai, 10% là con gái).

Điều đáng lo ngại nhất, là giáo dục vốn được coi là một công cụ có khả năng đưa tầng lớp nông dân thoát khỏi nạn nghèo đói, thì nay lại không tới được với họ nữa. Theo Philippe Cohen và Luc Richard, họ vẫn chỉ là một kho dự trữ nhân công rẻ tiền- một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm mới, rẻ, dễ cạnh tranh, dễ kiếm lời trên thị trường toàn cầu hoá.

5/ Khó khăn trong việc áp dụng luật pháp

Điều mà các nhà lãnh đạo TQ phải lo thực hiện trước tiên, là làm sao áp dụng được luật pháp, nói chung, trên đất nước mình ! Trong mọi lãnh vực, từ kinh tế, lao động, đến môi trường, có luật pháp là một chuyện (mặc dầu đôi khi luật pháp cũng còn rất mù mờ), nhưng áp dụng nó lại là một chuyện khác.

Chỉ cần lấy một thí dụ : công nghệ làm hàng lậu quy mô quốc tế, chẳng hạn. Người ta cho rằng hiện tượng này chỉ có thể xảy ra với sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của những quan chức địa phương mà thôi.

Các luật lao động thông thường cũng không áp dụng được giữa chủ và thợ, vì luôn luôn có sự can thiệp của chính quyền địa phương bênh vực quyền lợi của ngườI chủ, kẻ có tiền. Lương lậu của thợ thuyền, đặc biệt là của những người dân công, luôn luôn bị trả chậm.

Nhìn chung, ít nhất một nửa số nhân công làm việc trong các xí nghiệp ở quy mô quốc gia, không được hưởng luật pháp. Tại sao lại có tình trạng như vậy ? Đơn giản chỉ vì, nếu tất cả các xí nghiệp áp dụng luật lao động, thì Trung Quốc sẽ mất đi con chủ bài (nhân công rẻ) để cạnh tranh trên thị trường.

Trong lãnh vực môi trường cũng vậy. Sự áp dụng khe khắt các luật lệ về môi trường sẽ động chạm đến các quyền lợi kinh tế. Do đó, luật pháp trong lãnh vực này cũng được để lỏng lẻo, và tuỳ ở các cơ quan hữu trách địa phương có muốn áp dụng hay không. Trường hợp ô nhiễm ở sông Hoài, vùng Hồ Nam, An Huy, là một thí dụ điển hình. Năm 1994, chính quyền Trung ương hạ lệnh làm sạch con sông này, vì cả một vùng dân cư gồm 160 triệu dân bị ô nhiễm. Trên giấy tờ, hàng nghìn xưởng máy bị đóng cửa, di chuyển, hoặc cải tạo theo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm. 60 tỉ nhân dân tệ đã được chi ra cho công việc này, nhưng cho đến nay con sông Hoài vẫn bị ô nhiễm hơn bao giờ hết. Đối với chính quyền, thì vấn đề như vậy là đã giải quyết xong rồi : sổ tiền 60 tỉ nhân dân tệ (6 tỉ Euro) đã được chi ra, và vấn đề đã được xoá sổ.

*

Tác phẩm của Philippe Cohen và Luc Richard còn đề cập đến nhiều vấn đề khác nữa, liên quan đến tác hại của mô hình phát triển của Trung Quốc lên nền kinh tế toàn cầu. Song vì giới hạn của bài viết, chúng tôi đã chỉ tập trung trình bày những nhân chứng và nhận xét của các tác giả trên những vấn đề mà chúng tôi cho là liên quan trực tiếp đến Việt Nam, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »