Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 16th, 2012

►DÂN TỘC TA SẼ CÒN TRẦM LUÂN!

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2012

Lời tựa: Đảng vốn có quen thói hiếp đáp dân chúng trong nước, thường bắt buộc những người dân sống dưới chế độ phải làm theo, phải nghe theo những gì đảng muốn áp đặt và nhồi nhét. dân chúng đành nhịn nhục nghe theo   vì trong tay không tất sắt. Sinh viên học sinh vì muốn được yên thân nên phải ngồi học chính trị nói về một thứ  chủ nghĩa xã hội không tưởng, một mục đích “ảo”… đi không bao giờ tới.

Từ lâu lắm rồi, các đảng viên cao cấp thừa biết rằng: 3 cái thứ triết học Mác Lê và kinh tế XHCN đều là các thứ tầm phào, vô tích sự. Các thứ ấy chỉ là dụ dỗ những người có đầu óc chật hẹp và thiếu suy nghĩ đi theo họ để cướp chính quyền. Sau khi đã cướp được chính quyền rồi thì các thứ nầy chỉ là món hàng trang sức. Lịch sử cho thấy từ hồi còn Lê Nin, 1917, cho đến khi chủ nghĩa CS sụp đổ, 1991, đã từng có nước cộng sản nào giàu có đâu, có người dân nào sống dưới ách cộng sản mà ca tụng XHCN là sung sướng đâu? Bởi vậy, các ủy viên bộ chính trị, ủy viên trung ương đảng CSVN lúc nào, thời nào cũng nói: Do hậu quả của chiến tranh lâu dài, nên nước ta còn nghèo, nhân dân ta còn khổ, còn thiếu thốn, một mai, khi tiến lên XHCN, nhân dân sẽ tha hồ mà sung sướng…Họ nói thế đã gần 40 năm qua, và sẽ còn tiếp tục nói như thế vài chục năm sắp tới nếu như đảng CSVN còn nắm quyền.

Theo quán tính, mỗi lần có đại hội đảng là mỗi lần đảng lại vạch kế hoạch chính trị và kinh tế để chỉ đạo cả nước học tập và làm theo các nghị quyết của họ. Nhưng 11 đại hội đảng đã trôi qua, 37 năm ở miền Nam, và  56 năm ở miền Bắc, mà kế hoạch kinh tế nào cũng đều  thảm bại te tua. Vì lẻ các kế hoạch kinh tế là do những cán bộ quá dốt về kinh tế vạch ra và vì quá vô lý nên không thể thi hành được, nên kết quả là không có một tiêu nào đạt được. Đến nổi, như ở VN, thì đảng chỉ còn biết: bán tài nguyên khoáng sản từ 1988 cho đến nay (bán dầu và khí đốt thu được 675 ngàn tỷ đồng năm 2011) để giúp chính quyền tồn tại, xuất khẩu 500 000 công nhân lao động ở các nước quanh vùng để thu thêm ngoại tệ của họ gởi về, và sống nhờ 10 tỷ của Việt kiều gởi về để  sống còn, 22 tỷ đô la thu được từ công nhân ngành dệt may, cho các công ty tư bản vào mở hảng xưởng và mượn tay các công ty này để trả lương cho công nhân VN với tiền công lao động rẻ nhất thế  giới, 4 tỷ đô la thu được  từ việc ép nông dân để giá mua lúa cho thật rẻ để xuất khẩu 7 triệu tấn gạo hàng năm, 6 tỷ đô la thu được nhờ mua rẻ hải sản của ngư dân đánh bắt cá…Đảng làm được cái gì trong các thứ đó? Nếu không muốn nói là ăn bám, sống trên lưng của những người dân nghèo khổ. Chưa hết, đảng tồn tại được là nhờ mấy chục năm qua đi vay mượn của các nước tư bản giãy chết, mà tính đến 2011 thì là số nợ công này đã lên tới 57 tỷ đô la; thêm vào đó, 91  tập đoàn và tổng công ty quốc doanh đang vay của nước ngoài và trong nước là 54 tỷ đô la. Các thành tích tài chánh nói trên và các kế hoạch kinh tế của đảng đều thất bại thấy rõ. (nguồn) và (nguồn)

ngay 16-1-2013, BBC dang tin

Trich: ”

Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.

Báo trong nước cho hay ông thủ tướng dự hội nghị để “lắng nghe tiếng nói từ phía các doanh nghiệp, cùng các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất trong năm tới”.

Người đứng đầu chính phủ đã phải nghe báo cáo của ông Phạm Viết Muôn, Phó Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, về tổng quan hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2012, trong đó ông Muôn đưa ra các thống kê giật mình.

Theo báo cáo, tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, hệ số nợ phải trả / vốn chủ sở hữu bình quân là 1,82 lần (lớn hơn tỷ lệ 1,77 lần của năm 2011). Tổng tài sản/ tổng nợ phải trả là 1,6 lần.

Báo cáo cũng cho hay nợ nước ngoài của các công ty mẹ tập đoàn, tổng công ty là 158.865 tỷ đồng; tương đương 21,5% tổng nợ phải trả, tăng 11% so với năm 2011.

Các công ty mẹ của nhà nước có số nợ nước ngoài lớn là Điện lực Việt Nam (EVN), Hàng không Việt Nam (VNA)… (BBC)

 

Bỏ món chính trị ra, và không dùng bạo lực của công an để đi ăn hiếp những người trong tay không có tất sắc, thì còn gì để gọi là đảng CSVN nửa, vậy mà cứ tiếp tục giảng giải chính trị kinh tế thì toàn là nói ra các điều dối trá.

Mời các bạn thử đọc mớ hổ lốn này xem có quen thuộc không:

Cách mạng XHCN bao gồm 3 nội dung. Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là chủ đạo.

” Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa đều nhằm vào mục tiêu lớn nhất là giải phóng con người, giúp con người hoàn thiện mình, hoàn thiện các khả năng xây dựng một xã hội tốt đẹp nhất cho mình và đồng loại. Lê Duẩn cũng luôn nhấn mạnh, cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng, một trong ba cuộc cách mạng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, muốn thành công phải là một cuộc cách mạng tự nguyện, không thể áp đặt, phải xem trọng các yếu tố lịch sử cụ thể để đề ra các giải pháp phù hợp thuyết phục… Đó là tư tưởng chính trị đầy chất nhân văn, đậm chất văn hóa”… (nguồn)

Các đại hội đảng vạch ra những kế hoạch tương lai để dẫn dắt cả nước tiến lên CNXH.  Như vậy, sau 5-20 năm thực hiện, thành tích mà xã hội đạt được hôm nay phải phản ảnh đúng phần nào theo các kế hoạch ấy.  Vậy, các bạn nhìn thực tế VN hiện nay, rồi đánh giá xem 3 cuộc: cách mạng quan hệ sản suất, con người mới XHCN mới, và khoa học kỹ thuật  hiện nay mà ta đạt được có phù hợp với những gì mà đảng vạch ra không?  

Các kỳ đại hội đảng và kế hoạch (nguồn)

Quen nói các điều làm xàm này trong nước mà không ai dám phản đối, đảng đem đi múa gậy ở Cuba. Tuần trước, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng một đoàn đại biểu cao cấp 10 bộ trưởng và 12 ủy viên trung ương đảng ghé qua Cuba giảng chính trị cho trường đào tạo cán bộ cáo cấp ở vào ngày 9-4.

Nhưng sau khi nghe xong bài giảng này, Tổng thống nước Brazil đã hủy bỏ chuyến viếng thăm của ông Ng Phú Trọng và 22 bộ trưởng và ủy viên trung ương đảng, chuyến viếng thăm này đã lên kế hoạch  trước và dự kiến là vào ngày 12 đến ngày 14-5. Một nhân vật ngoại giao cao cấp của VN  (xin dấu tên) trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC rằng: Trong mấy chục năm làm ngoại giao, ông chưa từng được biết đến tình trạng bị từ chối viếng thăm này.

Bị nước Brazil từ chối tiếp, đoàn đại biểu cao cấp của VN đã khăn gói rời khỏi Cuba ngày 14-4- và về lại Hà Nội ngày 15-4. Khi ra đi thì tung hô vang trời, nhưng ngày trở về thì  700 tờ báo, dăm đài truyền hình của đảng…im thin thít. 

Sau khi đọc xong bài dưới đây của tiến sĩ Tô Văn Trường, các bạn nhớ đọc thêm bài bình luận nói về chuyến viếng thăm Brazil  bị hủy bỏ trên blog của Lý Toét:

DÂN TỘC TA SẼ CÒN TRẦM LUÂN! 

TS Tô Văn Trường

Nói những điều không biết, viết những điều không hiểu, sợ mất những điều không có.

 

Nhiều người dân quan tâm bài diễn văn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (như bài giảng) ở Trường Đảng Cao cấp Nico Lopez – một trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ rất quan trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba. Ngày hôm qua, trong bài viết bình luận: ”Bộ máy biến lãnh đạo thành cái máy” của đại tá, nhà báo Bùi Văn Bồng, tôi nhắc đến lời than của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi khi phải chứng kiến cảnh đất nước khó khăn mà lòng người không thuận:

“Nhân tài như lá mùa thu

 Hào kiệt như sao buổi sớm”

Lịch sử cũng cho thấy nhân tài, tuấn kiệt nước ta thời nào cũng có và mỗi khi đất nước gặp khó khăn, họ lại xuất hiện rất nhiều để trổ tài kinh bang tế thế! Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại Nguyễn Trãi đã để lại lời răn và đặt ra yêu cầu lớn cho chúng ta trong công tác đào tạo và sử dụng con người đặc biệt là đội ngũ cán bộ được gọi là “công bộc, đầy tớ của nhân dân”.

Tổng bí thư là người đứng đầu, có thể hiểu là nhân tài trong Đảng nhưng phải nói thật lòng, đọc kỹ bài diễn văn để đời của ông ở Cuba, nhiều người dân phải thốt lên rằng: ”Dân tộc ta sẽ còn trầm luân!”  Bài diễn văn của Tổng bí thư có thể nói mượn danh chủ nghĩa Mác nhưng nội dung chính là tô vẽ cho chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa trái với tình hình thực tế, quy kết những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản trong khi những khuyết tật ấy ở những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với chế độ toàn trị còn trầm trọng hơn.

Điều quan trọng hơn là cuộc đi thăm Cuba và bài nói ở trường Đảng nhằm mục đích gì? Có lợi gì cho đất nước? Giúp gì cho việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của thế giới đối với nước ta? Việc Brazil từ chối tiếp là một chuyện chưa từng xẩy ra trong lịch sử ngoại giao của nước ta, có ý kiến cho là một vết nhục! Vì sao có chuyện này?

Có ý kiến cho là do bài diễn văn nói vỗ mặt Mỹ và các nước phương Tây, khiến cho dư luận xã hội, nhất là các đảng đối lập với chính quyền Brazil không đồng tình, còn Chính phủ và đảng cầm quyền ở Brazil khó xử nên hủy bỏ chuyến đi thăm để tránh hệ lụy rắc rối.

Công bằng mà nói, ở khía cạnh nào đó cần chia sẻ và đồng cảm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi tôn thờ lý luận của Các Mác [Karl Heinrich Marx], vì thực tế chưa có học thuyết nào có tác dụng sâu, rộng như lý luận của Mác. Các quan điểm phớt lạnh, bác bỏ dẫn đến quyết liệt chống đối hay huyền thoại hóa, tôn sùng lý luận của Mác như tôn giáo của tín đồ hoặc lợi dụng kiếm chác tung hô cho mục đích riêng của mình thì sớm hay muộn cũng bị thực tế cuộc sống đào thải.  

Tôi làm công tác khoa học kỹ thuật, cho nên để hiểu về khoa học chính trị xã hội phải đọc rất nhiều các nguồn tư liệu, thảo luận, lĩnh hội ý kiến của một số vị trưởng thượng đối chiếu với thực tế để suy ngẫm. Theo tôi hiểu về tác phẩm, hiện nay loài người chưa có toàn tập của Mác. Giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX Liên Xô và Đông Đức dự kiến xuất bản toàn tập của Mác gồm 100 tập (MEGA mới) nhưng không thành vì Liên Xô sụp đổ.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khẳng định ở Cuba: Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân Việt Nam”. Không cần bắt bẻ ý kiến nói trên vì chưa có trưng cầu dân ý nhưng để tránh tù mù cho cả người nghe và người nói, cần phân tích tìm hiểu chủ nghĩa  xã hội là gì?

Khái niệm “chủ nghĩa xã hội” xuất hiện đầu tiên ở Tây Âu vào năm 1827 (không phải của Mác) để phê phán trường phái Xanh Ximông [Henri de Saint-Simon].

Đến năm 1832 chính Xanh Ximông dùng lại khái niệm CNXH nhưng bỏ đi sắc thái phê phán, và các biểu cảm xấu.

Từ năm 1837 từ “CNXH” phổ biến sang Đức trong phái Hêghen [Georg Wilhelm Friedrich Hegel] trẻ. Lúc bấy giờ Mác ở trong phái Hêghen trẻ, tiếp nhận từ “CNXH” để chỉ cái xã hội mới, sau khi chủ nghĩa tư bản bị loại bỏ, bị vượt qua và dùng từ “CNXH” trong các bản thảo của Mác năm 1844. Nhưng từ năm 1848 trở đi, từ Tuyên ngôn Đảng cộng sản thì Mác không dùng từ “CNXH” nữa mà dùng từ “chủ nghĩa cộng đồng”. Xã hội mới, chế độ mới, thay thế cho xã hội tư bản.

Các nhà nghiên cứu cũng vạch ra một chỗ mù mờ, không rõ ràng trong tác phẩm “Chống Duyrinh” của Anghen [Friedrich Engels] về khái niệm CNXH. Bernstein người bạn gần gũi với Mác ở Luân Đôn cũng chỉ gọi CNXH với cái nghĩa là cuộc vận động tự lập trong đó có phần thúc đẩy bởi cuộc đấu tranh có ý thức của giai cấp công nhân, nó không gắn liền hữu cơ với chủ nghĩa cộng đồng, là mục đích còn rất xa vời, trừu tượng!

Bản thân Lê Nin [Vladimir Ilyich Lenin] tiếp nhận từ “CNXH” nhưng trong việc thực hành cách mạng, Lê Nin vừa coi CNXH là bước thấp của chủ nghĩa cộng sản nhưng nhiều khi lại vừa coi đó là một hình thái kinh tế xã hội và một phương thức sản xuất riêng biệt, được xuyên tạc thành lý luận hóa.

Lê Nin quan niệm xây dựng CNXH phải đa dạng luôn thay đổi vì phải  mò mẫm, và vòng vèo dích dắc. Lê Nin vận dụng thành quả của cả loài người, kể cả của chủ nghĩa tư bản. Cuối đời Lê Nin có nhận định quan trọng là chúng ta phải thay đổi cơ bản quan niệm về CNXH nhưng lại không chỉ ra được quan niệm CNXH phải thay đổi là cái gì, thay đổi như thế nào, khi nào?  

Trong hình thái kinh tế xã hội và phương thức sản xuất Mác gọi cái xã hội sau chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa cộng đồng chứ không phải chủ nghĩa xã hội. Mác không bao giờ quan niệm chủ nghĩa xã hội là một phương thức sản xuất xã hội v.v.. 

Muốn hiểu đánh giá khách quan về Mác cần phải xem xét lý luận và thực tế cuộc sống thời Mác và thực tiễn hoạt động của con người. Thực tiễn là hoạt động của con người, còn thực tế bao hàm nghĩa rộng hơn về cuộc sống xã hội, cuộc sống có môi trường thiên nhiên và vũ trụ. Hayek cũng là một nhà lý luận và tư tưởng, năm 1974 ông được tôn sùng là chủ tướng của tư tưởng của trào lưu lý luận kinh tế, chính trị xã hội tân tự do, được tặng giải thưởng Nôben. Cuối đời Hayek bị nặng tai và điếc tai trái còn Mác bị điếc tai phải nên người ta nói nửa đùa, nửa thật là Mác chỉ nghe được những gì từ phía tả còn Hayek thì chỉ nghe được những gì từ phía hữu.

Bản chất của lý luận Mác là dở dang, không hoàn chỉnh bởi vì con người của Mác mà sự sửa chữa đến nhanh hơn sự hình thành, chưa kịp hoàn thành luận điểm đã chữa rồi. Mác sống được 65 năm, thấy rõ lỗ hổng của mình mới chỉ chiếm lĩnh cuộc sống (vài nước ở Tây Âu), chưa hiểu gì về Mỹ, phương Đông và tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt không đề cập đến sở hữu trí tuệ. 

Nói tóm lại:  

Bài diễn văn của Tổng bí thư chỉ có 2 điểm sáng: Thứ nhất là thể hiện tình đoàn kết gắn bó thủy chung giữa 2 dân tộc anh em Việt Nam-Cuba. Thứ hai là khi kể tên vài nước XHCN, may mà ông không đề cập đến người anh em Triều Tiên (“gia đình trị” điển hình)!. Còn nếu “mổ xẻ” tòan bộ nội dung thì đầy rẫy các điều bất cập, mù mờ!

Là người dân, dù bức xúc, nhưng tôi không thể viết tiếp về những điều mà bản thân mình cũng còn thấy “mù mờ”, huống chi là những người được tự gán cho cái mác là “nhân tài” lãnh đạo quốc gia:

“Nói những điều không biết

Viết những điều không hiểu

Sợ mất những điều không có”.

T.V.T.

4/2012

Nguồn: Người lót gạch

*Mời các bạn đọc thêm bài bình luận sau đây nói về chuyến viếng thăm Brazil  bị hủy bỏ trên blog của Lý Toét:

Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

Khi đi cưỡng chế đất của nông dân, chính quyền rất hung hãn- Nhưng khi có chuyện liên quan tới Trung Quốc, chính phủ và đảng khép nép thưa trình và mềm như bún

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2012

Chính quyền huyện Văn Giang mua đất của dân giá chỉ có 43 000 đồng VN/ 1 mét vuông, rồi sang tay, bán lại cho các đại gia làm dự án Ecopark, giá lên tới 65 triệu đồng một mét vuông (tiền lời nộp cho chính quyền tỉnh, và trung ương). Đó là cướp đất chứ không phải là mua bán sòng phẳng.

Dự án Ecopark (Hưng Yên) ngày càng nóng, có thể nổ lớn!

Trần Đức Việt, nhà báo tự do

Vừa về đến nhà, vợ tôi thông báo: Điện thoại của anh reo chuông liên tục, có cả tin nhắn nữa. Cầm máy lên xem, hóa ra những ngày tôi vắng nhà xẩy ra quá nhiều chuyện. Tại phố Tràng Thi (trụ sở Mặt trận Tổ quốc), Ngô Quyền (trụ sở Quốc hội), rồi trụ sở Thanh tra Chính phủ ở Mỹ Đình liên tục xẩy ra khiếu nại đông người.

Điểm mới là những cuộc tập trung này diễn ra cùng lúc của nhiều đoàn khác nhau. Có thể nhận ra dấu hiệu các đoàn bắt đầu liên kết lại, tạo ra áp lực mạnh hơn trước. Tất nhiên, sự liên kết này là chưa đủ mạnh, chưa bền chặt và thống nhất. Nhưng được như hiện nay cũng là quý lắm rồi, không nên vội vàng, vì “dục tốc bất đạt”.

Ngày 12/2/2012 có một sự kiện đặc biệt không thể bỏ qua. Đoàn thanh tra Chính phủ do một Phó Tổng thanh tra Chính phủ dẫn đầu đến UBND huyện Văn Giang (Hưng Yên) đối thoại trực tiếp với nhân dân. Nhưng rồi cuộc đối thoại này đổ vỡ vì mục tiêu của 2 bên quá khác nhau.

Về phía đoàn nhà nước, UBND huyện Văn Giang chỉ mời 166 hộ gia đình ở xã Xuân Quan đến họp. Theo chủ tịch huyện, đây là các hộ có đất liên quan trực tiếp đến việc giải phóng mặt bằng 72 ha sắp tới để bàn giao cho chủ đầu tư. Huyện chỉ nghe tâm tư, nguyện vọng của các hộ này trước khi giải phóng mặt bằng, thực chất là cho dân nói “xả hơi” rồi… cưỡng chế!

Về phía nhân dân, các đại biểu đòi hỏi phải đối thoại về toàn bộ dự án liên quan đến gần 2000 hộ dân, phải có đại biểu của cả 3 xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao dự họp.

Chủ tịch huyện không đáp ứng yêu cầu này, tuyên bố sẽ thực hiện lệnh cưỡng chế vào ngày 20/4/2012.

Đáp lại, nhiều người dân bày tỏ quyết tâm giữ đất, dù có phải “đổ máu” cũng không chịu mất đất. Cuộc đối thoại chưa thành đã phải giải tán, chưa biết được rồi ngày 20/4 sắp tới sẽ xẩy ra điều gì?

Nhìn sắc thái của tôi, bà xã hỏi: Trông anh khác lắm, có chuyện gì vậy? Quả thật là sau khi biết thông tin tôi bứt rứt không yên. Có hiện tượng mới đang diễn ra: Một vài nhóm trí thức yêu nước bắt đầu đến với các hộ dân khiếu nại, động viên, tư vấn người dân về mặt pháp luật.

Được động viên đúng lúc, nhiều người dân trở nên tự tin hơn, quyết tâm cũng tăng lên. Một số nhóm yêu nước ở xa đã đến Hà Nội, lẳng lặng quan sát sự kiện diễn ra ở Văn Giang. Trong đội hình các hộ dân mất đất ở Văn Giang đang nổi lên câu hỏi: Đến 20/4 liệu chính quyền có cưỡng chế không? Nếu có thì đối sách sẽ thế nào?

Kinh nghiệm cho thấy trước đây chính quyền đã dùng côn đồ “xã hội đen” cưỡng chế rất tàn bạo, nhiều người bị thương, có bà mẹ 80 tuổi bị đánh ngất. Bây giờ chính quyền xem ra còn hung hãn hơn. Tuy nhiên, thời điểm này tình hình cũng khác trước. Sự kiện Tiên Lãng, Hải Phòng đã động viên nhân dân rất nhiều. Bộ mặt của chính quyền cấp huyện lộ rõ không che dấu được ai.

Chính quyền huyện cưỡng chế, thực chất là cướp đất, cướp trắng từ tay nhân dân. Có lý nào người dân đang cầm sổ đỏ trong tay mà chính quyền bán đất cho công ty, không hề hỏi người chủ là nhân dân một tiếng?

Tôi nghĩ những người đứng ở tuyến đầu trong đội hình các hộ dân Văn Giang đang phải đắn đo, cân nhắc kỹ. Nên phản đối thế nào? Mức nào là vừa? Họ không muốn để nhân dân tổn thất, nhưng cũng không muốn đầu hàng bọn cướp ngày! Bây giờ đất là sự sống.

Sau sự kiện Tiên Lãng, những người dân mất đất trong cả nước đang cần đến một “sự kiện” khác mạnh mẽ hơn, có tiếng vang hơn nữa để thúc đẩy cuộc đấu tranh giành quyền sống. Thì đây, “sự kiện Văn Giang” đang đến.

Khác với Tiên Lãng, Văn Giang là cả nghìn con người, trong đó có nhiều người muốn cầm lấy vũ khí. Trận đấu này có thể dẫn đến cái chết cho một số người thuộc cả 2 phía. Đó là hậu quả đau lòng nhất có thể thấy trước. Cũng có vài người hi vọng sự kiện Văn Giang sẽ mở màn một loạt sự kiện lớn lao hơn cho đất nước. Tôi không nghĩ thế.

Dù biết rằng có một số nhóm yêu nước đã và đang đến theo dõi sát sự kiện Văn Giang nhưng cũng phải thấy rằng các nhóm chưa tạo ra mối liên kết đủ mạnh, có thể hỗ trợ lẫn nhau. Điều kiện khách quan và chủ quan chưa chín muồi cho những sự kiện lớn và đặc biệt lớn.

Có thể có người sẽ hỏi: Lúc nào mới chín muồi? (Ai cũng bảo nó đổ này, nó đổ này… mà mãi không thấy nó đổ? Sốt ruột ơi là sốt ruột!). Tôi thì nghĩ phải đến năm 2013, khi hết hạn giao đất trên toàn quốc, chính quyền cấp cao phải phạm sai lầm tạm gọi là cực kỳ ngu xuẩn trước nhân dân (điều này tất yếu sẽ xẩy ra, những cái đầu đất của lãnh đạo không nhận thức được đâu), các đầu mối của nhiều phong trào (trong đó có phong trào giữ đất, đòi đất) liên lạc được để hỗ trợ lẫn nhau, lúc đấy mới có thể nói đến chuyện đã chín muồi hay chưa? Để đến được lúc ấy, về mặt chủ quan các nhóm yêu nước cần tích cực xây dựng niềm tin, liên lạc với nhau từ bây giờ.

Sự kiện Văn Giang sắp đến chính là cơ hội để các nhóm yêu nước nhận ra nhau, tạo ra mối liên kết ngày mai. Tôi nghĩ bây giờ là lúc cần xúc tiến các hoạt động theo hướng này. Thế liệu Văn Giang có thể trở thành đốm lửa đốt cháy cả cánh đồng được không? Cũng có khả năng, dù chỉ là một phần nghìn tia hi vọng. Vì thế mới cần theo dõi tình hình thật sát sao và kỹ lưỡng. Cho dù thế nào thì các nhóm yêu nước cũng được thắp sáng niềm tin vào nhân dân. Nếu Tổ quốc và nhân dân kêu gọi, chúng con sẽ đến với Người.

——————-

Lời tựa: Các vụ việc xảy ra cùng một thời gian, cả hai nước VN và Phi Luật Tân cùng bị tàu Trung Quốc xâm nhập hải phận và đánh bắt cá trộm, rồi bị phát hiện, nhưng phản ứng của hai nước thì khác nhau.

Trong khi chính phủ và quân đội Phi Luật Tân ra lệnh cho hải quân đến khám và lục soát tàu TQ, rồi dõng dạc tố cáo và triệu đại sứ Trung Quốc đến cảnh cáo. Còn ở Việt Nam, thì đảng và chính phủ khép nép, hải quân thì im như thóc; ngay cả báo chí của đảng còn không dám nhắc đến tên, chỉ dám nói “tàu lạ”, “nước lạ”,  vì sợ phạm húy. Thế mới tài!

Soái hạm Philippines đụng độ hai tàu hải giám Trung Quốc tại Biển Đông

Phó đô đốc Alexander Pama trả lời báo chí về các hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Biển Đông (REUTERS)

Phó đô đốc Alexander Pama trả lời báo chí về các hành vi của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Biển Đông (REUTERS)
Cho đến hôm nay 11/04/2012 tình hình vẫn tiếp tục căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc tại Biển Đông, vì soái hạm Gregorio Del Pilar của Philippines bị hai tàu hải giám của Trung Quốc ngăn trở, khi kiểm tra tám chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đang thả neo ở ngoài khơi vùng biển Philippines. Manila triệu đại sứ Trung Quốc đến để cảnh báo, còn Bắc Kinh gởi kháng thư phản đối.

Hãng tin AP dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, hôm Chủ nhật 8/4 một phi cơ tuần tra của hải quân nước này đã phát hiện tám chiếc tàu đánh cá Trung Quốc đang thả neo tại một đầm phá ở bãi Scarborough ở gần Luzon, đảo chính của Philippines.

Chiến hạm lớn nhất của Philippines là Gregorio Del Pilar được phái đến, và hôm thứ Ba khi kiểm tra các tàu cá này, hải quân Philippines đã tìm thấy một lượng lớn san hô, trai khổng lồ và cá mập sống, chứng tỏ ngư dân Trung Quốc đã « tiến hành đánh bắt và thu hoạch các loài hải sản đang bị đe dọa ».

Nhưng sau đó hai tàu hải giám Trung Quốc đã đến gần, chen vào giữa soái hạm Philippines và các tàu cá Trung Quốc để ngăn chận việc bắt giữ các ngư dân vi phạm. Đến hôm nay tình hình vẫn đang bế tắc, và lực lượng tuần duyên Philippines đã gởi thêm một tàu khác đến hỗ trợ cho soái hạm.

Tối qua Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario đã nói chuyện điện thoại với đại sứ Trung Quốc ở Manila, bà Mã Khắc Khanh, nhấn mạnh rằng khu vực trên đây là « một phần lãnh thổ của Philippines ». Sáng nay bà Mã Khắc Khanh được triệu đến Bộ Ngoại giao Philippines nhằm tìm ra một giải pháp ngoại giao. Tuy nhiên cả hai nước đều tỏ ra cứng rắn, và liên tục đưa ra lời cảnh báo phía bên kia.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân hôm nay tuyên bố : « Chúng tôi đã chính thức gởi cho Philippines kháng thư về việc chiến hạm và tàu tuần tra Philippines quấy rối tàu cá và ngư dân Trung Quốc (…) Các hành động tự cho là giữ gìn an ninh ở ngoài khơi đảo Hoàng Nham là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Chúng tôi kêu gọi Philippines không gây thêm các sự cố mới, và tạo điều kiện cho quan hệ thân hữu giữa hai nước ».

Bãi Scarborough nằm cách đảo lớn nhất của Philippines là Luzon chỉ có 124 hải lý. Manila khẳng định, vùng này thuộc chủ quyền của Philippines vì nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, được luật lệ quốc tế quy định. Còn Bắc Kinh gọi đây là đảo Hoàng Nham, cho rằng đây « là một phần lãnh thổ của Trung Quốc, và vùng biển xung quanh là vùng đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc ».

Thông cáo của đại sứ quán Trung Quốc ở Manila chiều nay khẳng định: « Từ ngàn xưa, nhiều tài liệu lịch sử Trung Quốc đã chứng minh trên giấy trắng mực đen là đảo Hoàng Nham thuộc về Trung Quốc » và ra lệnh cho các chiến hạm Philippines phải lập tức rời địa điểm trên. Ngoại trưởng Philippines đã cực lực phản đối và cảnh báo « Nếu Philippines bị thách thức, chúng tôi sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của mình ».

Là con đường hàng hải chiến lược giữa vùng Á Đông, Trung Đông và châu Âu, Biển Đông còn có tiềm năng về tài nguyên dầu khí, và dồi dào hải sản. Các ngư dân đặc biệt là ngư dân Việt Nam và Philippines thường xuyên bị tàu hải giám của Trung Quốc quấy nhiễu.

Philippines tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với các nước láng giềng cũng đang phải đối đầu với tham vọng của Bắc Kinh. Tuy vậy trang bị quân sự Philippines thuộc loại yếu kém nhất châu Á, với các chiến hạm có từ thời Đệ nhị Thế chiến, còn các phi cơ thì từ thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Năm ngoái Washington đã cung cấp cho Manila một khu trục hạm, và có khả năng đề nghị thêm một chiến hạm nữa.

Hãng tin Pháp AFP nhận xét, Bắc Kinh luôn khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi trên toàn bộ Biển Đông, cho dù bờ biển Trung Quốc nằm rất xa so với nhiều nước láng giềng khác. Còn hãng tin Mỹ AP nhắc lại việc tranh chấp quần đảo Trường Sa với Trung Quốc đã làm cho trên 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng năm 1988.

Nguồn: viet.rfi.fr

                           ************

Tàu lạ 

Nguồn Báo Đại Đoàn Kết

(07/04/2012)

Lâu nay trên các phương tiện thông tin đại chúng thỉnh thoảng lại có tin tàu cá của ngư dân bị tàu lạ đâm chìm, hoặc tàu lạ gây tai nạn rồi bỏ chạy. Sự việc làm nhiều người dân hoang mang.

Hiện tượng tàu lạ gây rối, làm ảnh hưởng đến việc sản xuất của ngư dân đã không còn là một chuyện hiếm, là một vấn đề cấp thiết đặt ra. Tàu lạ- có nhiều giả thiết đặt ra: Tàu của cướp biển, tàu của ngư dân, tàu quân sự, an ninh của nước ngoài…tất cả đều xâm phạm lãnh hải, thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Theo phản ánh của các ngư dân bờ biển Bắc bộ, hàng đêm, chỉ cần chạy tàu ra khỏi đất liền mấy km đã thấy hàng đoàn tàu Trung Quốc, trang bị hiện đại đánh bắt trên ngư trường của Việt Nam. Tàu nhỏ, người ít, nhiều khi các ngư dân Việt Nam đành phải tránh.

Thực ra nhiều năm nay, nhiều tàu lạ, tàu cá của nước ngoài, nhất là của Trung Quốc đã liên tục xâm lấn khai thác vùng biển của Việt Nam. Mặc dù họ khai thác trộm, nhưng nhiều khi gặp bão dông, tai nạn, các ngư dân Việt vẫn rộng lòng cưu mang, cứu giúp. Vậy nhưng, lạ thay, 2 tàu cá cùng 21 ngư dân Việt Nam khai thác trên ngư trường quen thuộc ở Hoàng Sa từ bao đời nay, bỗng lại bị Trung Quốc bắt giữ và đòi tiền chuộc nhiều ngày qua chưa thả.

Hành vi nói trên rõ là lạ, đi ngược lại hoàn toàn những tình cảm, phong tục của ngư dân Việt và những người đi biển quốc tế nói chung. Người Việt ta vốn bao dung, nhiều khi còn bỏ qua sự “trộm” của kẻ trộm- những tàu lạ. Trong khi đó, tàu lạ, phía Trung Quốc nào là vừa ăn trộm lại còn ăn cướp, bắt người, tống tiền…

Dù sao, cơ quan chức năng cũng cần có biện pháp bảo vệ ngư dân, bảo vệ vùng biển của ta, không cho phép các tàu lạ được thể làm càn.

Thiện Dân

——————————————————————————————————–

‘Trong khi với NHẬT hay ĐẠI HÀN, mỗi lần tàu hải giám của TQ đụng độ hay xâm phạm quốc gia của họ thì tên ĐẠI SỨ của TQ bị gọi đến Bộ Ngoại giao của họ để nghe phản đối ví dụ: “Thứ sáu tuần qua, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc để phản đối vụ “xâm nhập cực kỳ nghiêm trọng” của tàu hải giám Trung Quốc vào vùng nước Senkaku”. (http://vietnamnet.com.vn/vn/chinh-tr…–nat–my.html )

“Trong khi đó thì với VN, TQ không những đã xâm chiếm chủ quyền biển đảo, lại còn bắt ngư dân ta, cướp dụng cụ, đòi tiền chuộc, 2 tàu Trung Quốc vô tận Nha Trang thả neo, thì  đảng và nhà nước chẳng dám triệu tập tên đại sứ TQ đến bộ ngoại giao để trao công hàm phản đối bao giờ, vì lo sợ làm TQ giận. Chỉ khép nép cho người của bộ ngoại giao VN đến tòa đại sứ TQ “trình” kháng thư lên cho tên Đại sứ TQ mà thôi. Bằng chứng đây nè“Đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán TQ nêu rõ lập trường và đang tiếp tục đấu tranh để giải quyết vụ TQ giam giữ 21 ngư dân.”(http://vietnamnet.com.vn/vn/chinh-tr…vie-t-nam.html ) ”  Vietlandnews.net

 

—————————

 

Đối thoại giữa chính phủ và người dân Văn Giang bất thành

Việt Hà, phóng viên RFA Bangkok
2012-04-12

Sáng ngày hôm nay đại diện chính phủ vừa có cuộc đối thoại trực tiếp với bà con nông dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.

Courtesy Blog Nguyenxuandien

Tham gia cuộc đối thoại ngày hôm nay 12/04,2012 còn có bà Lê Hiền Đức (đứng giữa áo trắng)

Nội dung cuộc đối thoại liên quan đến việc thực hiện cưỡng chế đất của người dân huyện Văn Giang để làm dự án đô thị EcoPark.

Vào 8 giờ 30 phút sáng ngày hôm nay, 12 tháng 4, gần 2000 người dân thuộc ba xã Xuân Quang, Phụng Công, và Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã tập trung về văn phòng ủy ban nhân dân huyện để theo dõi cuộc đối thoại giữa đại diện chính quyền trung ương và địa phương với đại diện người dân xã Xuân Quang.

Những người dân đến dự cuộc đối thoại theo giấy mời ký ngày 9 tháng 4 của ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên gửi cho 166 hộ dân thuộc xã Xuân Quang. Đây là những hộ nằm trong diện sẽ bị chính quyền cưỡng chế thu hồi đất để nhường mặt bằng cho dự án khu đô thị Ecopark.

Theo quyết định được chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Văn Giang là bà Đặng Thị Bích Thủy, ký vào ngày 5 tháng 4 vừa qua, ngày 20 tháng 4 tới là thời hạn mà chính quyền địa phương đưa ra để bắt các hộ dân này phải di dời nếu không sẽ bị cưỡng chế.

” Cuộc gặp hôm nay nói chung không đối thoại được, vì thành phần người dân không đúng thành phần. Dự án là của 3 xã mà họ chỉ mời có 166 hộ tới đây cưỡng chế. Khi bước vào thì họ tuyên bố chương trình làm việc, dân chúng tôi phản đối vì thành phần không đúng” – Chị Kiệm.


Ngày 12/04/2012. UBND tỉnh Hưng Yên chỉ gởi giấy mời cho 166 hộ nông dân lên tham dự đối thoại. Một nông dân đang phát biểu. RFA screen capture/congbangphapluat

Đại diện chính quyền đến dự cuộc đối thoại với bà con nông dân Văng Giang hôm nay bao gồm đại diện thanh tra chính phủ, bộ tài nguyên môi trường, bộ công an, mặt trận tổ quốc tỉnh, lãnh đạo ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Giang.

Cho đến trưa cùng ngày, chúng tôi liên hệ với người dân địa phương, những người đã tham dự cuộc đối thoại và được biết cuộc đối thoại đã thất bại. Chị Kiệm, người dân xã Xuân Quang, chứng kiến cuộc đối thoại cho Đài Á Châu Tự Do biết:

“Cuộc gặp hôm nay nói chung không đối thoại được, vì thành phần người dân không đúng thành phần. Dự án là của 3 xã mà họ chỉ mời có 166 hộ tới đây cưỡng chế. Khi bước vào thì họ tuyên bố chương trình làm việc, dân chúng tôi phản đối vì thành phần không đúng.”

Chị Thỉnh, ở xã Phụng Công cho biết người dân cho rằng việc chính quyền chọn đối thoại với 166 hộ dân của xã Xuân Quang riêng lẻ là nhằm mục đích chia nhỏ để dễ xử lý:

“Dự án này là của 3 xã nó tập trung vào một xã, nó muốn bóc tách ra. Một bó đũa nó tách ra để nắn cho nó dễ, dân không đồng ý. Cuộc đàm thoại hôm nay coi như là không thể đàm thoại được.”

“Dự án này là của 3 xã nó tập trung vào một xã, nó muốn bóc tách ra. Một bó đũa nó tách ra để nắn cho nó dễ, dân không đồng ý. Cuộc đàm thoại hôm nay coi như là không thể đàm thoại được “. – Chị Thỉnh

Một lý do khác nữa khiến cuộc đối thoại không thành, theo chị Thỉnh là vì nhiều đơn thư khiếu kiện của bà con đến nay vẫn chưa được giải quyết:

“Bây giờ chúng tôi đang khiếu kiện bà chủ tịch huyện phá, cưỡng chế mấy mẫu ruộng của tôi và còn của hơn 150 hộ dân mấy năm nay, không có ruộng đất làm ăn, không có công ăn việc làm. Chúng tôi khiếu kiện tỉnh, tỉnh chưa giải quyết, chúng tôi vượt cấp lên trung ương, mà chưa giải quyết đơn thư của chúng tôi thì làm sao có cuộc đàm thoại thỏa thuận được, chúng tôi không đàm thoại.”


Ngày 11/04, hàng ngàn nông dân Văn Giang, Dương Nội tập trung tại trụ sở làm việc mới của Thanh tra Chính phủ ở Yên Hòa- Cầu Giấy để phản đối việc cưỡng chế đất. RFA screen capture/CongbangPhapluat

Tham gia cuộc đối thoại ngày hôm nay còn có bà Lê Hiền Đức, người đã nhiều năm sát cánh cùng dân oan khắp nơi chống tham nhũng. Đại diện chính quyền địa phương tìm cách ngăn cản bà Đức dự cuộc đối thoại nhưng đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dân.

Bà Lê Hiền Đức cho biết cuộc đối thoại diễn ra trong sự bức xúc cao độ của người dân, đã khiến đại diện chính phủ và địa phương phải bỏ cuộc giữa chừng:

“Chả giải quyết được gì hết, cán bộ thanh tra chính phủ trốn hết rồi, sau khi dân ầm ầm lên bảo vệ bà Đức thì cán bộ thanh tra biến hết, chủ tịch đòan vắng tanh, bàn chủ tịch đoàn không một bóng người.”

Chúng tôi đã gọi điện đến văn phòng chủ tịch và phó chủ tịch huyện Văn Giang nhưng không có người trả lời.

“Chả giải quyết được gì hết, cán bộ thanh tra chính phủ trốn hết rồi, sau khi dân ầm ầm lên bảo vệ bà Đức thì cán bộ thanh tra biến hết, chủ tịch đòan vắng tanh, bàn chủ tịch đoàn không một bóng người “. Bà Lê Hiền Đức

Trước khi cuộc đối thoại này diễn ra, vào hai ngày 10 và 11 tháng 4, người dân huyện Văn Giang đã tập trung về văn phòng ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và thanh tra chính phủ ở Hà Nội để đề nghị can thiệp chấm dứt việc cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật của địa phương.

Dự án Ecopark ở huyện Văn Giang được bắt đầu từ năm 2004 sau quyết định 742 ký ngày 30 tháng 6 năm 2004 của phó thủ tướng Nguyễn Tẫn Dũng cho phép tiến hành xây dựng dự án Ecopark trên vùng đất của ba xã.

Để lấy 500 ha đất cho dự án này, chính quyền địa phương đã tiến hành thu hồi, cưỡng chế đất của khoảng 4,000 hộ dân bất chấp sự phản đối của người dân.

Trong số 4,000 hộ dân này, có hơn 1800 hộ dân kiên quyết không chịu nhận mức đền bù 36 triệu đồng một sào ruộng, mà họ cho là quá rẻ mạt.

Từ năm 2006, các hộ dân ba xã Xuân Quang, Phụng Công, và Cửu Cao, đã bắt đầu nộp đơn khiếu kiện lên các cấp tỉnh và trung ương về việc cưỡng chế thu hồi đất bất hợp pháp của chính quyền địa phương. Người dân địa phương cho biết, cho đến nay, các đơn thư khiếu kiện này vẫn chưa được giải quyết.

——————————————————————————————————

Trích:

2. Trí thức Đông Âu

Năm 1986, khi bức tường Berlin còn chưa sụp đổ, sau khi Đại hội 27 ĐCS Liên Xô tuyên bố về Perestroika và Glasnost, Vaclav Havel viết ‘Người trí thức phải thường xuyên can thiệp, tận mắt chứng kiến nỗi khổ của nhân dân, đồng cảm với nỗi khổ ấy và nổi dậy chống lại những áp bức vô hình hay hữu hình, là những người luôn đặt mối nghi ngờ đối với hệ thống, với quyền lực và những bùa chú, xuyên tạc mà những quyền lực đó đặt ra’[10].

Có thể thấy,  trách nhiệm ‘dám nói lên sự thật’, tự nhận là ‘người nô bộc khiêm tốn và dũng cảm của sự thật’[11] đã được nhiều trí thức Đông Âu đảm nhiệm. Đông Âu, cũng như Nga, có một đội ngũ trí thức được hình thành như một giai tầng trong xã hội -“inteligentsia”, đội ngũ được xây dựng sau chiến tranh Thế giới thứ hai, gồm nhiều trí thức tiến bộ tập hợp như một lực lượng chống Phát xít.

Giới trí thức đóng một vai trò quan trọng trong các quốc gia XHCN, như hai trí thức mác xit người Hungary, George Konrad và Ivan Szelenyi nhận định[12]. Theo hai học giả này, quyền phân phối thặng dư trong xã hội tư bản thuộc về chủ tư bản, còn trong xã hội XHCN, do không có tư bản, quyền này thuộc về giới cầm quyền- trí thức.

“ Ngay khi thị trường được thay thế bằng kế hoạch hóa, những người nắm tri thức sẽ lên nắm quyền, thay cho những người sở hữu tư bản”. Quá trình phân phối sản phẩm “duy ý chí” được hình thành, thay cho việc phân phối sản phẩm dựa vào thị trường. Ngòai ra Konrad và  Szelenyi còn nhận định rằng trong xã hội XHCN vai trò của giới trí thức sẽ được coi trọng hơn trong xã hội TBCN, bởi vì giới trí thức ở các nước XHCN, khi bị đẩy ra ngòai rìa, sẽ có xu hướng cầm đầu phong trào “nổi loạn” chống lại quyền lực chính trị.

Do đó,  bộ máy cần o bế họ để phục vụ các mục tiêu chính trị, cũng như dùng họ để nuôi dưỡng lý luận và tuyên truyền. So với giai cấp công nhân thì trí thức có vẻ được ưu đãi hơn rất nhiều. Họ kiếm được “căn hộ” dễ dàng hơn, có nhiều thời giờ rảnh rỗi, nhiều cơ hội giải trí hơn, tạo nhiều mối quan hệ và gây được nhiều ảnh hưởng hơn, cũng như được giới lãnh đạo “dè chừng”, “vị nể” hơn[13]. Tuy nhiên nếu đi chệch hướng thì họ có thể phải gánh chịu những hậu quả thảm khốc.

Một trong những đóng góp quan trọng của trí thức Đông Âu là nỗ lực hình thành nên “xã hội dân sự” ở những nước này.

Ngay trong thời kỳ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Liên Xô, ở các nước Đông Âu Ba Lan, Tiệp Khắc và Hungary, dưới lớp vỏ ngoài của xã hội tập trung bao cấp đã có những mầm mống của xã hội dân sự với “những giai tầng đa dạng, những nền văn hóa, truyền thống lịch sử, các thiết chế chính trị-kinh tế khác biệt”[14].

Cho đến thập niên đầu của thế kỷ XX khu vực này vẫn chịu ảnh hưởng của các đế chế xung quanh: Nga ở phía Đông, Thổ ở phía Tây và Áo ở phía Nam.

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ I kết thúc, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary và Nam Tư mới giành lại độc lập. Như một phản xạ nhằm đối phó lại với phạm vi ảnh hưởng của những đế chế nói trên, những quốc gia-dân tộc này tìm mọi cách để duy trì và lưu giữ những nét đặc sắc văn hóa xã hội riêng của mình, trong đó các trí thức đóng một vai trò to lớn.

Một trong những phong trào nổi bật trong sự hình thành các nhóm, các tổ chức mang tính quần chúng, góp phần xây dựng xã hội dân sự ở Đông Âu là các hoạt động bảo vệ môi trường.

Quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước Đông Âu đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, trong khi chính quyền đã không đưa ra những giải pháp kịp thời cho vấn đề ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm, các nhóm trí thức đã sớm nhận thức được hiểm họa tàn phá môi trường và tác động tiêu cực của nó tới dân sinh.

Tuyên ngôn đầu tiên của hội những người bảo vệ môi trường được đưa ra ở Ba Lan, khi Câu lạc bộ sinh thái Ba Lan được thành lập ở Cracow vào tháng 9 năm 1980. Nhiều nhà khoa học môi trường đã tập trung ở đây để khai mạc cho Câu lạc bộ này bằng một bức thu ngỏ gửi lên chính phủ yêu cầu có những điều luật nghiêm khắc hơn nữa nhằm bảo vệ môi trường sống. 

Nhiều hội thảo đã được tổ chức, nhiều kết luận về tình trạng ô nhiễm cũng như tác hại đối với sức khỏe người lao động, các khuyến nghị tới chính phủ đã được đệ trình.

Sau sự kiện Chernobyl ở Ukraina, nhóm vì Hòa bình và Tự do đã tổ chức các cuộc biểu tình phản đối việc bưng bít thông tin về vụ nổ, khoảng 2000 người đã tham gia tuần hành ở Cracow. Tại Bialystok, khu vực gần Chernobyl, khoảng 3000 người đã ký lời kêu gọi ngừng xây dựng một nhà máy điện hạt nhân ở Ba Lan có tên là Zarnowiec.

Phối hợp với các nhà khoa học và nhà báo, tổ chức này đã gây sức ép buộc chính quyền đóng cửa nhà máy thép Siechnice gần Wroslaw do làm ô nhiễm nguồn nước trong khu vực. Chính quyền khu vực này cam kết sẽ chấm dứt hoạt động của nhà máy trước năm 1992. Ngoài ra, danh sách 500 nhà máy cũng được liệt kê vì đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

            Kể từ năm 1978, phong trào Hiến chương 77 ở Tiệp Khắc đã coi môi trường là một trong những vấn đề quan trọng trong chương trình hành động. Tháng 7 năm 1983 nhóm giám sát nhân quyền đã soạn thảo một văn bản chi tiết cảnh báo chính quyền về tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở miền bắc Bohemia. Tháng 2 năm 1984, Hiến chương 77 đã phát hiện và in lại một báo cáo  mật của chính phủ do Viện Hàn lâm Tiệp Khắc soạn thảo năm 1983 về vấn đề môi trường, trong đó thông báo tình trạng môi trường đang bên bờ thảm họa và những hậu quả sức khỏe nghiêm trọng đối với dân chúng.

            Báo cáo nêu rõ, kể từ năm 1960, số người bị mất khả năng lao động tăng 50% do các lý do về sức khỏe. Ở các khu công nghiệp, tỉ lệ người người mắc bệnh phổi, tử vong ở trẻ em tăng mạnh. Tương tự, cây cối và động vật cũng bị ảnh hưởng do mưa axit, ô nhiễm nguồn nước và không khí cũng như sử dụng hóa chất tràn lan trong nông nghiệp.

           Năm 1986, Hiến chương 77 đã ra văn bản trình lên Quốc hội phàn nàn việc chính phủ Tiệp Khắc chậm trễ phản ứng với khủng hoảng Chernobyl, trong đó đề nghị phải ngay lập tức đưa đầy đủ thông tin về mức tăng phóng xạ ở Tiệp Khắc và ý kiến của chuyên gia về các biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe con người.

           Năm 1987, tổ chức này ra hai văn bản về tình trạng môi trường ở Tiệp Khắc, trong đó đề nghị vấn đề môi trường phải được đưa ra bàn luận rộng rãi trong công chúng. Các văn bản này được gửi tới nhiều cơ quan của chính phủ, đòi hỏi các nhà máy xí nghiệp dùng than có hàm lượng thấp phải lắp đặt các máy lọc không khí, sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng và cảnh báo nguy cơ cao đối với các nhà máy hạt nhân.. Tuy nhiên những yêu cầu này đều không được giải đáp.

           Ở Hungary, phong trào bảo vệ môi trường cũng được dấy lên bởi các tổ chức phi chính phủ. Nhóm Danube Circle (do nhà báo và nhà sinh vật học Janos Vargha thành lập năm 1984) kết hợp với Hiến chương 77 thành lập ra một Dự án liên kết Tiệp-Hung về những nguy hiểm đối với môi trường do đập thủy điện Gabciko-Nagymaros đang xây dựng có thể gây ra.

            Dự án này tiến hành nghiên cứu và soạn thảo các văn bản đệ trình lên chính phủ hai nước về những nguy cơ hủy diệt môi trường của khu vực sông Đa nuyp. Cũng chính nhóm Danube Circle đã gửi một bức thư lên Quốc hội và Hội đồng Bộ trưởng Hungary về những tác hại của ô nhiễm môi trường và kêu gọi nhận thức  đúng đắn về vấn đề này với chữ ký của khoảng 5000 người trong đó có 50 đại diện hoạt động trong lĩnh vực khoa học và văn hóa.

            Nhóm Danube Circle tuyên bố không liên quan đến các phong trào chống đối hay các mục tiêu chính trị, mà chỉ là một tổ chức quan tâm đến các vấn đề sinh thái môi trường. Tuy nhiên chính quyền không công nhận nhóm này là một tổ chức chính thức và đã bác bỏ đề nghị của họ.

           Vào năm 1985, nhóm này mới được phục hồi trở lại sau khi họ được nhận giải thưởng “Sinh kế đúng đắn” với số tiền 95.000 đôla, và được nêu tên tại lễ trao giải tại Nghị viện Thụy Điển.

           Hai năm sau họ mới được chính phủ Hungary đồng ý cho nhận giải bằng tiền Hungary với lý do không được nhận giải bằng ngoại tệ. Nhóm này đã dùng số tiền thành lập ra Quỹ Danube với cam kết “hỗ trợ cho các cá nhân và phong trào tư nhân có các hoạt động gìn giữ môi trường và thiên nhiên có liên quan đến vùng sông Đanuyp”. Nhiều dự án đã được đệ trình để xin Quỹ hỗ trợ.

           Nhóm Danube Circle còn huy động nhân dân yêu cầu chính phủ thay đổi chính sách. Cuộc trưng cầu ý kiến về đập thủy lợi đã thu được 2655 chữ ký nhưng không thu được đánh giá tích cực từ phía chính quyền (dẫn theo Janusz Bugajski và Maxine Pollack, 1989:214)[15].

          Tháng 4 năm 1986, 30 trí thức Hungary đã gửi in một quảng cáo trên một trang của tờ báo ở Viên, thủ đô nước Áo, có tên là Die Presse, với ý định kích động dân chúng Áo phản đối việc xây đập trên dòng Đanuyp trên đất Hung, do phần lớn tín dụng để xây đập là từ Viên và 70% gói thầu xây dựng đập sẽ trao cho các hãng của Áo.

          Quảng cáo tuyên bố “Một xã hội dân chủ- và chúng tôi tin xã hội Áo là như vậy- không cho phép nó khai thác sự thiếu dân chủ ở một nước khác vì những lợi ích vật chất của nó”. Một số các nhà môi trường và chính trị gia của Áo đã tỏ thái độ thông cảm .

          Tháng 7 năm 1986, 19 thành viên của Danube Circle đã gửi đơn thỉnh cầu lên Nghị viện Viên, thúc dục họ xem xét lại lần cuối hiệp định Áo-Hung về việc xây đập.

          Ngoài Danube Circle ở Hungary còn một số nhóm các nhà môi trường khác, trong đó thành công hơn cả phải kể đến nhóm “Blues” (Nhóm Xanh, chỉ màu xanh của nước biển và làm nhắc lại các nhóm Xanh vì môi trường của Tây Âu).

          Thành lập năm 1985, nhóm Xanh trẻ hơn và hăng hái hơn nhóm Danube Circle. Họ tham gia vào các phong trào giáo dục công cộng, chủ yếu với các tuyên truyền bảo vệ sông Đa nuyp. Mặc dù họ không ra ấn phẩm thường kỳ, nhưng lại sử dụng các tờ rơi để đến với dân chúng.

          Tháng 9 năm 1985, họ lần đầu tiên phân phát 10 ngàn tờ rơi trên khắp Hungary để phản đối việc xây đập thủy điện Gabciko-Nagymaros. Ngoài ra nhóm này cũng gửi thư lên Quốc hội và các nhà trí thức trong khu vực sông Đa nuyp, trong đó trình bày những nguy hại của đập đối với môi trường.

          Trong một bài phỏng vấn với tạp chí samizdat, các thành viên của nhóm Xanh đã tuyên bố các mục tiêu của mình “trên thực tế là vượt quá định hướng bảo vệ môi trường, và mong muốn khuyến khích  tư duy độc lập trong mọi lĩnh vực đời sống và chủ trương tự quản hơn nữa trong cách mọi người sống và làm việc. Chúng tôi muốn mọi người kết hợp lại và chấm dứt sự phân chia trong xã hội” (dẫn theo Janusz Bugajski và Maxine Pollack, 1989:215)[16].

          Tháng 3 năm 1988 đại diện của 13 nhóm môi trường độc lập đã nhóm họp ở Budapest, thành lập ra một ủy ban phối hợp chung gọi là Mạng lưới thông in của các nhóm bảo vệ môi trường và có một tờ tạp chí riêng là Tuleles (Sống sót) ra hai tháng một số. Trong số các đại diện của Mạng lưới này có nhóm Danube Circle, nhóm Quỹ Danube, nhóm Câu lạc bộ sinh thái của trường Đại học Eotvos Lorand  nhóm Kal Basin Friendsship Circle, nhóm liên minh Petofi và nhóm hòa bình 4-6-0 . Những nhóm này có quan hệ với một số tổ chức chính thức như KISZ (Đoàn Thanh niên) và Bộ Môi trường.

            Nhìn lại lịch sử tư tưởng châu Âu, chúng ta thấy thái độ và quan điểm đối với trí thức khác nhau ở từng khu vực và từng giai đoạn phát triển. Dù cho thuật ngữ “intellectual” mới được sử dụng rộng rãi vào cuối thế kỷ 19, chúng ta hiểu rằng, trí thức, dưới những hình ảnh khác nhau của các triết gia, nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ…đã xây dựng nên một châu Âu vô cùng đa dạng và giàu bản sắc, họ là những thành tố quan trọng trong việc định hướng tư tưởng, dẫn dắt dư luận, diện mạo văn hóa của xã hội châu Âu.

 Trần Thị Phương Hoa

Viện Nghiên cứu châu Âu
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

Nguồn: http://wp.me/po94e-1TY

——————————————————————————————————————————————–

Nhật ký ngày 9/5/2011

Nguyễn Thị Từ Huy

Chiều nay tôi gặp một vị cán bộ quản lý của trường nơi tôi làm việc, do trước đó ông có gọi điện và hẹn gặp tôi. Ông rất nhã nhặn và tỏ ra lúng túng khi bắt đầu câu chuyện. Rút cục thì ông cũng nói rằng chuyện liên quan đến việc ký vào bản kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ, rằng công an đã gọi điện đến và yêu cầu ông kiểm tra xem tôi có ký hay không.

Tôi nói rằng tên tôi có trong bản danh sách, chuyện đó kiểm tra rất dễ, sao còn làm phiền ông. Và tôi xin lỗi ông vì lẽ ra họ phải gọi trực tiếp cho tôi, vì việc ký kiến nghị là một lựa chọn cá nhân, là quyết định của cá nhân tôi, không liên quan gì đến trường. Trường chỉ quản lý tôi về phương diện công việc. Còn mọi hoạt động khác của tôi ngoài phạm vi cơ quan, tôi phải chịu trách nhiệm, vì tôi là một công dân có đủ quyền công dân, và có đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ của một công dân. Họ đã làm phiền ông, đã làm mất thời gian của ông, tôi thực sự áy náy vì điều đó. Tôi còn áy náy với ông hơn vì việc làm của tôi không vi phạm pháp luật, không vi phạm đạo đức cá nhân, cũng không vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thế mà lại khiến ông phải mất thời gian quý báu của ông cho tôi. Thời gian đó đáng lẽ phải được dành cho các hoạt động chuyên môn của ông, đáng lẽ phải được dành cho các công việc vốn rất bận rộn của trường.

Sau đó, chúng tôi nói chuyện với nhau về những nỗi khổ tâm của các trí thức. Trí thức, từ xưa đến nay, muôn đời đều có những khổ tâm đặc thù của họ. Chúng tôi nói chuyện về Marx, về các lý tưởng và mơ ước của Marx. Rút cục thì có vẻ như thời gian của cuộc gặp gỡ cũng không đến nỗi vô ích.

Một vài người xung quanh nói rằng vì việc ký bản kiến nghị mà có thể tôi bị theo dõi. Tại sao lại theo dõi một người như tôi? Một người không bao giờ làm hại ai (mà cũng không đủ khả năng làm hại ai, một phụ nữ đơn độc, chân yếu tay mềm). Một người đang cố gắng thực hiện truyền thống của một gia đình công dân bình thường nhưng không tầm thường. Cụ nội tôi là chánh tổng Lai Thạch, nhưng vì ủng hộ cách mạng nên bị cách chức; và cụ đã tự vẫn, tự quyết định số phận theo ý mình, không chịu rơi vào tay thực dân Pháp. Một người con của cụ là ông Nguyễn Huy Lung, một nhân vật có ảnh hưởng quan trọng trong phong trào 30-31 ở Nghệ Tĩnh, bị bắt giam tháng 12/1930. Do các ảnh hưởng và hoạt động của ông ở trong tù, nên Pháp đã liên tục thuyên chuyển ông từ nhà lao Hà Tĩnh vào nhà lao Đồng Hới rồi vào Kon Tum. Ở đó, tháng 12/1931, ông bị bắn chết khi cùng anh em tù phản đối bị chuyển đi Dak Pek. Một người con khác của cụ là ông nội tôi, cũng là đảng viên 30-31, khi nhận được công văn của tổ chức, không một phút chần chừ, đã đem các con nhỏ gửi cho anh em (bà nội tôi, vốn cũng bị tù đày trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, lúc đó đã mất), gửi lại nhà cửa, vườn ruộng, đi sang hoạt động ở vùng khác theo sự điều động của cách mạng. Ba tôi, vì lý tưởng, đã bỏ công việc ở ngân hàng, vốn rất ổn định và đảm bảo, lên Điện Biên tìm hiểu thực tế, tham gia vào đời sống và tìm cảm hứng sáng tạo. Và sau này, khi đất đai trở thành đối tượng của sự tham nhũng hoặc là bằng chứng của một kiểu ân huệ, ông đã từ chối không nhận mảnh đất do cơ quan cấp.

Gia đình tôi không có gì đặc biệt hơn những gia đình Việt Nam khác. Và chúng tôi cũng có một truyền thống như bao gia đình Việt Nam khác. Truyền thống đó cần phải được tiếp nối, dưới hình thức này hay hình thức khác. Cuộc sống luôn có những lựa chọn khác nhau. Tôi tin rằng tổ tiên của tôi sẽ ủng hộ lựa chọn của tôi hiện nay. Tôi đã lựa chọn ba triệu đồng một tháng (đấy là số tiền công lao động hàng tháng hiện nay được chuyển vào tài khoản của tôi) để làm công việc mà tôi cho là có ích, thay vì tìm một công việc được trả thù lao xứng đáng với bằng cấp, với trình độ và với nhân phẩm của tôi. Tôi, và những viên chức như tôi, không nợ nần gì ai cả, không ăn cơm của ai cả. Chúng tôi được trả một đồng lương không xứng đáng với những gì mà chúng tôi cống hiến, không xứng đáng với thân phận người của chúng tôi. Để sống chúng tôi phải bán sức lao động để làm nhiều việc khác. Tổ tiên của tôi hiểu rằng tôi chấp nhận trả giá để thực hiện công việc mà tôi cho là có ý nghĩa với các thế hệ sau. Đó cũng là một cách để tiếp nối truyền thống gia đình.

Ký vào kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ là việc tối thiểu mà một trí thức có thể làm. Có thể cụ nội tôi, ông nội tôi hay ông Nguyễn Huy Lung sẽ thất vọng về tôi, thất vọng vì tôi có thể làm nhiều điều hơn thế mà tôi chỉ làm được cái điều tối thiểu. Nhưng có lẽ tổ tiên cha ông tôi cũng thất vọng nếu vì hành vi đúng đắn đó mà tôi bị nghi kỵ, bị theo dõi. Và họ còn tủi hổ hơn nếu tôi cảm thấy sợ hãi vì việc làm đúng của mình.

Tại sao làm điều đúng lại phải sợ? Tại sao làm điều tốt lại phải sợ?

Xã hội này có phải đã mất hết ý thức về các giá trị làm người rồi không, mất hết ý thức về các giá trị nhân đạo rồi không, mất hết ý thức về công lý, lẽ phải rồi không? Không, tôi không tin là như vậy. Tôi không tin là những người làm nhiệm vụ theo dõi đã mất hết tính người, chỉ còn biết hoạt động như những công cụ, như những cỗ máy. Tôi đã xem một bộ phim của Đức: Cuộc sống của những người khác (The lives of the others). Bộ phim đạt giải phim nói tiếng nước ngoài hay nhất Oscar 2007, phim hay nhất châu Âu 2006, phim hay nhất nước Đức 2006.

Một trong các nhân vật chính của bộ phim đó là Wiesler, nhân viên an ninh, làm công việc theo dõi những người có tinh thần tiến bộ. Và từ một kẻ lạnh lùng, sắt đá, chỉ biết có yêu cầu của công việc và thực hiện răm rắp nghĩa vụ với những kỹ năng thuần thục, chuyên nghiệp, quá trình theo dõi đã biến nhân vật thành một người có cảm xúc và biết phân biệt những gì là nhân văn với những gì là phi nhân, phân biệt được cái gì là thiện và cái gì là ác. Kết cục là anh ta đã giúp đỡ những người bị anh ta theo dõi, và bản thân anh ta thì bị cách chức, đuổi việc. Bộ phim có một kết thúc rất đẹp: sau ngày bức tường Berlin sụp đổ, nhân vật bị theo dõi đã vào viện lưu trữ tìm lại những tài liệu về quãng đời cũ của mình, và tình cờ phát hiện ra rằng người theo dõi đã cứu sống anh ta. Anh ta dò hỏi và tìm được địa chỉ của người ấy, giờ đây đang làm nghề đưa thư. Anh ta ngồi trong ô tô từ xa nhìn ân nhân của mình trên chiếc xe đạp chở đầy thư, bưu kiện. Anh ngập ngừng rồi quay đi, không đến gặp ông ấy nữa. Một thời gian sau, người đưa thư đi qua hiệu sách nhìn thấy áp phích quảng cáo cuốn sách mới của nhà văn Dreyman, người ông ta từng theo dõi nên biết rất rõ. Ông ta bước vào hiệu sách, cầm cuốn tiểu thuyết của Dreyman có nhan đề Bản sonate của những người tốt. Ông mở ra và đọc được lời đề tặng dành cho mã số: HGW XX/7. Đấy chính là mã số của ông hồi còn là nhân viên an ninh. Khi ông ta mua cuốn sách, người bán hàng hỏi ông có muốn gói quà không, ông trả lời: “Không, nó dành tặng tôi”.

Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn không phải chỉ nhờ việc những người đấu tranh cho chính nghĩa và cho các giá trị tốt đẹp biết hy sinh, mà còn nhờ việc những người chống lại chính nghĩa và chống lại các giá trị tiến bộ biết nhận ra rằng họ cần ủng hộ lẽ phải. Và nghệ thuật đích thực bảo vệ nhân tính, phát hiện nhân tính kể cả ở những nơi, những lúc, ở những người tưởng như không còn nhân tính.

Nếu giả sử (chỉ là giả sử mà thôi) có ai đó theo dõi tôi thì tôi tin rằng người đó cũng sẽ chuyển biến theo chiều hướng như vậy. Tôi tin ở các giá trị mà tôi đang cố gìn giữ và xây dựng. Tôi tin rằng lương tri và tính thiện có sức cảm hóa. Người Việt Nam là người, trước khi là người Việt Nam. Tức là chúng ta cũng mang các giá trị phổ quát của nhân loại. Chúng ta có bộ óc để nhận thức, để nhận biết lẽ phải, chúng ta có trái tim để biết xúc động, biết yêu quý những gì cần yêu quý và căm ghét những gì cần căm ghét. Chúng ta cũng có đủ phẩm chất trí tuệ và sức mạnh như những dân tộc khác để xây dựng một xã hội nhân bản như chúng ta mong muốn, nếu chúng ta thực sự mong muốn.

Có thể là tôi ảo tưởng. Nhưng ảo tưởng cũng là một đặc điểm chỉ có ở con người. Đặc điểm này có thể khiến cho con người thất bại, nhưng đó là sự thất bại có giá trị. Còn ai có thể ảo tưởng hơn những kẻ xưa kia mơ ước thảm bay và mơ ước lên mặt trăng. Tuy nhiên nếu không có những kẻ ảo tưởng về một đồ vật có khả năng di chuyển trên không trung với tốc độ kỳ diệu ấy, thì chắc chắn sẽ không có máy bay, tên lửa…

Con người có bộ óc và trái tim không phải để trở thành một cỗ máy, và cũng không thể trở thành một cỗ máy trừ khi nó không còn có ý thức rằng nó là người.

N. T. T. H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân | Leave a Comment »

Chuyện ở Trùng Khánh: từ cái chết của Neil Heywood, đến Vương Lập Quân bị bắt, và Bạc Hy Lai bị đá khỏi Bộ Chính Trị Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 16/04/2012

Chủ nhật, 15 tháng 4, 2012

‘Người Anh xấu số’ ở Trùng Khánh

Cái tên Bạc Hy Lai, người vừa bị đá khỏi Bộ Chính trị Trung Quốc, đã trở thành quen thuộc với truyền thông nước Anh những ngày này, một phần vì liên hệ phức tạp với một doanh nhân người Anh quá cố.

Neil Heywood
Neil Heywood có quan hệ thân cận với gia đình Bạc Hy Lai trước khi chết

Cái chết của ông Neil Heywood tại Trung Quốc tháng 11 năm ngoái ban đầu được cho là vì “uống rượu quá độ”.

Nhưng từ sau khi ông Bạc Hy Lai bị cách chức Bí thư Trùng Khánh, vợ của ông đã bị điều tra vì tình nghi giết ông Heywood.

Vẫn còn nhiều ẩn số quanh doanh nhân người Anh này, nhưng ít nhất người ta biết rằng ông ta đến Trung Quốc đầu thập niên 1990 và nói được tiếng Trung.

Từ London, báo The Independent số ra hôm nay cho biết khi mới bắt đầu đến Trung Quốc làm ăn, Neil Heywood viết thư cho một loạt các chính khách đang lên.

Bạc Hy Lai trả lời thư, và doanh nhân người Anh kia đã dần dần thiết lập quan hệ với ông Bạc, người vợ thứ hai Cốc Khai Lai và đứa con trai Bạc Qua Qua.

Khi đó, ông Bạc còn là thị trưởng Đại Liên, là thành phố mà Heywood gặp và kết hôn với một phụ nữ người Hoa, Vương Lộ Lộ.

Đến lúc ông Bạc được điều về cai quản thành phố Trùng Khánh, ông Heywood cũng duy trì quan hệ tuy sống ở Bắc Kinh.

Ông ta đã giúp gia đình họ Bạc trong các vụ đầu tư, giới thiệu các công ty nước ngoài đến đây kinh doanh, và được cho là giúp con trai Bạc Qua Qua đi học ở trường tư Harrow (Heywood từng học ở đó) và sau này là Balliol College của Đại học Oxford.

Theo The Independent, ông Neil Heywood tạo cho mình ấn tượng bí hiểm như thể ông có quan hệ nào đó với giới tình báo. Và quả thức, có lúc ông đã làm cho Hakluyt&Company, một hãng tư vấn được một viên chức MI6 đồng sáng lập.

Nhưng đến năm ngoái, quan hệ của Heywood với bà Cốc Khai Lai xấu đi.

Có tin nói bà mắc chứng trầm cảm và có những đề nghị quái dị như bắt các nhân vật thân cận, gồm cả Heywood, phải ly dị và thề trung thành. Dĩ nhiên ông Heywood từ chối.

Và rồi đến một ngày định mệnh tháng 11 năm ngoái, ông Heywood được gọi đến Trùng Khánh.

Ông vào ở một khách sạn, đến nay chưa rõ tên, và xác ông sau đó được tìm thấy ở đây.

Phía Trung Quốc nói với Sứ quán Anh rằng ông uống rượu nhiều quá, nhưng lại nói với gia đình ông rằng ông bị đau tim. Dù gì đi nữa, hình như chẳng ai nghi ngờ về cái chết đột ngột của một người 41 tuổi, và thi thể của ông được hỏa táng.

Ở Anh tuần này, một số người đã chất vấn vì sao Sứ quán Anh khi đó dễ dàng để vụ việc trôi đi.

Vai trò Vương Lập Quân

Trong phần kế tiếp, người ta được biết giám đốc công an Trùng Khánh, Vương Lập Quân, đã gặp Bạc Hy Lai tháng Hai năm nay.

Theo thông tin công bố, ông Vương nói cấp dưới đã báo cáo rằng cái chết của Heywood là vụ giết người và bà Cốc Khai Lai thuộc diện tình nghi.

Vị Bí thư Thành ủy lập tức giáng chức ông Vương, khiến ông này lo cho tính mạng.

Vương Lập Quân
Không rõ số phận hiện nay của Vương Lập Quân

Ngày 6/2, ông Vương liên lạc với Lãnh sự quán Anh hẹn gặp nhưng lại không đến. Ông ta lái xe suốt 170 dặm để đến Lãnh sự Mỹ ở Thành Đô.

Theo các tin đồn, ông Vương khai báo đủ chuyện với người Mỹ, giao nộp nhiều tài liệu. Phía Mỹ nhận tài liệu nhưng từ chối bảo vệ và một ngày sau, giới chức Trung Quốc kéo vào để áp giải họ Vương.

Ông Vương đã bị bắt giam và không ai biết ông đang ở đâu.

Những diễn biến sau đó đã được công khai. Bạc Hy Lai mất chức Bí thư Trùng Khánh, bị hất khỏi Bộ Chính trị và vợ ông bị tạm giữ để điều tra vụ giết Neil Heywood.

Nhưng nếu quả thật đây là vụ sát nhân, thì vì lý do gì? Vì sao Cốc Khai Lai phải giết một công dân nước ngoài chỉ vì “tranh chấp kinh tế”?

Truyền thông tiếng Anh phỏng đoán nếu quả thật bà đã giết Heywood, có thể là vì Heywood biết quá nhiều về cách thức kiếm tiền của gia đình họ Bạc.

Đã có lời đồn rằng trước khi chết, ông Heywood đã trao hồ sơ cho một luật sư như một cách “bảo hiểm tính mạng”.

Vẫn không rõ tên người luật sư này cũng như nội dung tập tài liệu.

Cáo buộc tham nhũng

Nhiều năm qua đã có không ít cáo buộc tham nhũng với Bạc Hy Lai và gia đình. Thời gian ông làm thị trưởng Đại Liên cũng đã có lời đồn không hay, nhưng một phóng viên tố cáo đã bị cầm tù và đã sống lưu vong ở Canada từ 2009.

Người dân Trung Quốc cũng tranh cãi làm thế nào ông có tiền cho con trai đi học trung học và đại học ở nước ngoài.

Bạc Hy Lai và vợ
Bạc Hy Lai và vợ có nhiều quan hệ làm ăn với bên ngoài

Ông Bạc luôn khẳng định Bạc Qua Qua được học bổng, nhưng học lực anh này không có vẻ gì đặc biệt. Tại Oxford, anh ta có tiếng hay chơi bời và được yêu cầu phải dành thêm thời gian cho thi cử.

Dẫu vậy, chàng trai trẻ cũng đã được Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy của Đại học Harvard (học phí 70,000 đôla) nhận vào học. Tại đây, Bạc Qua Qua thuê căn hộ với giá 3,700 đôla/tháng và lái một chiếc Porsche.

Dù học lực của Bạc Qua Qua không xuất sắc, nhưng dường như tài quan hệ của anh này là có thực, theo báo Anh The Telegraph.

Khui ra quan hệ của gia đình Bạc Hy Lai với tầng lớp thượng lưu của Anh, báo này cho hay khi học ở Anh, Bạc Qua Qua đã kịp thiết lập quan hệ với không ít nhân vật quan trọng.

Một người được nói là đóng vai trò như “người thầy” là Lord Powell, từng là thư ký riêng của Thủ tướng Margaret Thatcher và John Major.

Lord Powell thừa nhận: “Tôi biết cậu ta thông qua ông bố và thỉnh thoảng có gặp khi cậu ta học ở Oxford.”

Tháng Sáu năm ngoái, Bạc Hy Lai mở nhiều buổi tiệc thết đãi ở Trùng Khánh. Trong số khách tham dự có Lord Powell, và Lord Mandelson (từng là một trong vài chính khách quan trọng nhất khi Tony Blair làm thủ tướng Anh).

Khi sang Harvard, Bạc Qua Qua năm ngoái cũng tổ chức kỳ du ngoạn Trung Quốc cho các bạn học: đưa họ về Trùng Khánh gặp giới quan chức.

—————————

Chủ đề liên quan

Trung Quốc

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »