Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Tư 21st, 2012

Trở về Mái Nhà Xưa

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2012

Mời các bạn thưởng thức bản nhạc Trở về Mái Nhà Xưa, Lời Việt của Phạm Duy, với tiếng hát của Ngọc Hạ và Trần Thái Hòa.

Bản nhạc “Torna A Surriento”,  do Luciano Pavarotti trình diễn; ca sĩ Pavarotti đã chết vì bệnh ung thư tụy tạng (pancreatic cancer) cách đây vài năm.

Bản nhạc này ra do nhà thơ và cũng là họa sĩ Giambattista de Curtis (20 July 1860 – 15 January 1926) viết lời, và em của ông là  nhạc sĩ Ernesto De Curtis soạn nhạc. Bản nhạc này đã được hai anh em đăng ký tác quyền vào năm 1894, nhưng 8 năm sau, 1902 họ mới tự nhận là tác giả của bản nhạc này. 

Bài ca này được cho viết theo lời yêu cầu của một người bạn của Giambattista, Guglielmo Tramontano, ông này là thị trưởng của thành phố Sorrento (Ý) vào năm 1902, khi ấy Thủ thướng Ý Giuseppe Zanardelli, đã ở tại khách sạn của ông thị trưởng nằm trong thành phố này; người ta cho rằng bản nhạc này nhằm chúc mừng nhân dịp Thủ Tướng Zanardelli lưu trú ở đây. 

Tramontano và de Curtis là những người bạn rất thân nhau, và viên thị trưởng này đã mướn bạn de Curtis trang trí một số phòng của khách sạn bằng cách vẽ lên tường và trần nhà; de Curtis cũng đã sơn một số tranh trên vải và tranh sơn dầu, và đã viết vài bài thơ và vài bản nhạc. Trong số các bài này là bài ca nổi tiếng Torna a Surriento“, nhằm chúc mừng vào dịp Thủ Tướng Ý  Giuseppe Zanardelli, lưu trú tại khách sạn này. Thị trưởng  Tramontano đã nhờ  de Curtis và anh của ông ta là Ernesto, viết một bài ca vinh danh nhà lãnh đạo Ý này.

Nhưng nhiều cuộc nghiên cứu gần đây đang cho thấy rằng bản nhạc này có thể là một bản nhạc do hai anh em đã viết trước đó và đã đăng ký bản quyền vào năm 1894, và dịp nầy, 1902,  họ đã lấy ra và sửa lại vào dịp thủ tướng Ý ghé thăm thành phố Sorrento.

Các giấy tờ của gia đình cho thấy rằng hai anh em nhà de Curtis đã đăng ký tác quyền bản nhạc này với Hiệp hội của các Tác Giả và Chủ Bút Italian Society of Authors and Editors vào năm 1894, tức là khoãng 8 năm trước khi họ nhận là viết bản nhạc này.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

► Chính trường Mỹ bàn luận gì về Việt Nam vào thời gian trước ngày 30-4-1975

Posted by hoangtran204 trên 21/04/2012

Kissinger nói: Sao chúng nó không chết quách đi

Câu nói trên của Tiến sĩ Kissinger vì một sự hiểu lầm nào đó đã gây ngộ nhận khiến nhiều người Việt quốc gia hận thù nhà ngoại giao này, họ nghĩ rằng ông đã chửi rủa đồng bào ta khi miền Nam Việt Nam đang trong cơn hấp hối tháng 4-1975.

Câu này đã được ghi tại trang 641, phần nói về The Fall of Viet Nam, April 1975, trong cuốn Kissinger a Biography của Walter Isaacson, cuốn sách 800 trang viết về Henry Kissinger.

Nguyên văn như sau:

Why don’t these people die fast? The worst thing that could happen would be for them to linger on” nghĩa là “Tại sao những người ấy không chết cho nhanh? Điều tệ hại nhất có thể sẩy ra cho họ là cứ sống kéo dài mãi” nếu dịch xuôi cho dễ hiểu là “Sao họ không chết lẹ cho rồi? nếu phải sống ngắc ngoải mãi [như thế] thật là vô cùng bất hạnh cho họ”.

Ông ta than thở cho số phận của người Đông Dương chứ không rủa họ chóng chết. Ở đây không phải là để bênh vực cho ông này, kết án ông nọ hoặc thương ông này ghét ông kia mà là chúng ta cần hiểu cho đúng lịch sử.

Tháng 12 năm 1974 và tháng 1-1975, CSBV bắt đầu mở cuộc tổng tấn công sau cùng để chiếm miền nam VN tại Phước Long đúng hai năm sau ngày ký Hiệp định Paris.

Tháng 3-1975 họ tấn công chiếm Ban Mê Thuột, cuối tháng 3, đâu tháng 4 năm 1975 hai quân khu 1 và 2 lọt vào tay Cộng quân nhanh chóng do sự sai lầm của Tổng thống Thiệu trong kế hoạch tái phối trí lực lượng. Họ bắt đầu chuyển quân đại qui mô vội vã nề phía nam để dứt điểm Sài gòn.

Khoảng đầu tháng 4-1975 trong khi CSBV đang ra sức tiến về Sài gòn, hòa bình Trung Đông thì tả tơi, bang giao với Nga sô xuống thấp, Cam Bốt gần sụp đổ và bây giờ miền nam VN đang bị CS nuốt chửng. Khi ấy ông Tổng thống Ford rời Tòa Bạch ốc đi nghỉ mát đánh golf tại Palm Springs tiểu bang California.

Bản tin truyền hình buổi tối tai Mỹ cho thấy những lời chỉ trích trước cảnh ông Tổng thống Ford đi đánh golf cùng lúc với cảnh Đông Dương đang dẫy chết trong đau khổ. Khi những người phóng viên tới phi trường phỏng vấn TT về thảm kịch đang diễn ra, ông chỉ nói ồ ồ rồi chạy trốn họ.

Kissinger và Ford đã cử Tướng Weyand, Tham mưu trưởng tới Sài Gòn để thẩm định tình hình quân sự trong một tuần kể từ 28-3-1975, ông trở lại Hoa Kỳ ngày 4-4-1975. Khi về ông đi máy bay thẳng tới Palm Springs để báo cáo trực tiếp tình hình lên Tổng thống. Ông đề nghị cho oanh tạc bằng B-52 trở lại và đồng thời xin viện trợ khẩn cấp722 triệu cho quân đội VNCH, điều xin thứ nhất tái oanh tạc sẽ trái luật, khoản viện trợ trên đây rất lớn mà chỉ có một ít người tin là có thể giúp VNCH cầm cự được. Khoản xin này gồm trên 440 xe tăng, 740 đại bác, 100 ngàn súng cá nhân, 120 ngàn tấn đạn dược.

Báo cáo của Tướng Weyand biện minh cho khoản viện trợ mới nhằm kêu gọi tới cái nhìn địa lý chính trị của Kissinger, nó muốn nói “Uy tín lâu dài của Hoa Kỳ trên thế giới phụ thuộc vào nỗ lực thiện chí của ta cố gắng làm hơn là thành công hay thất bại trong lúc này,nếu ta không nỗ lực, uy tín của ta như một đồng minh sẽ bị tiêu tan có lẽ sẽ qua hết đời này sang đời khác”.

Nói khác đi lời khuyên đó là kéo dài sự kết thúc cuộc chiến tranh cũng chính là cái lý luận mà Kissinger đã có lần dùng để biện minh cho cuộc chiến đấu trên mặt đất: để giữ uy tín khắp nơi.

Ít ngày sau dân biểu Whitten (tiểu bang Mississipi) hỏi “Đề nghị của ông dựa trên cơ bản nào trừ việc chỉ có hình thức, khi chúng ta đều biết chắc là sắp thua rồi?.

Tướng Weyand trả lời: “Thưa ông, cái cách mà chúng ta làm hay cái hình thức như ông nói nó cũng quan trọng như thực chất của vấn đề vậy”

Kissinger phản đối đề nghị xin tái oanh tạc của Weyand: “ Nếu ông làm thế, người dân Mỹ sẽ lại xuống đường biểu tình. Các phụ tá của TT tại Palm Springs bàn về khoản xin viện trợ, đa số cố vấn của Ford đều chống đối đề nghị này. Bộ trưởng quốc phòng Schlesinger cũng chống đối nhưng bị Kissinger loại ra khỏi cuộc bàn cãi và trở về Wasington, ông này cho là tình thế của Quân đội VNCH nay không hy vọng gì.

Kissinger vốn bi quan đồng ý rằng tình hình không thể cứu vãn nổi nhưng dù vậy ông cho rằng đề nghị xin Quốc hội khoản viện trợ 722 triệu là cách duy nhất để cứu vãn danh dự cho Hoa Kỳ. Ford đồng ý mặc dù không nhiệt tâm lắm.

Trên đường tới phòng họp báo để nói cho các ký giả biết quyết định, khi ấy Kissinger quay lai nói với Nessen, tùy viên báo chí phủ Tổng thống về người miền nam VN như sau:

Sao họ không chết lẹ cho rồi? nếu phải sống ngắc ngoải mãi thật là vô cùng bất hạnh cho họ”

Tại phòng họp, Kissinger lý luận theo địa lý chính trị. Ông ta nhấn mạnh quyết định viện trợ sẽ vang tiếng khắp thế giới , cái dấu hiệu gì nó sẽ gửi cho bạn và thù khắp nơi, ảnh hưởng của nó với uy tín của Hoa Kỳ sẽ như thế nào hơn là hiệu quả quân sự của nó ở vùng bao quanh Sài Gòn. Tiến sĩ nói

“Chúng ta đang đối diện với tấn thảm kịch vĩ đại, trong đó có cái gì liên quan tới uy tín, tới danh dự của Hoa Kỳ, tới cái mà các dân tộc khác trên thế giới sẽ nhìn chúng ta như thế nào”
(Kissinger a Biography, trang 641-642)

Ngày 10-4-1975 Ford ra Quốc hội xin 722 triệu, Kissinger làm việc tới khuya soạn một bài diễn văn chỉ trích Quốc hội đã làm tiêu tan Hiệp định Paris . Lý luận về chữ “uy tín” mà ông đã dùng khi bắt đầu nhiệm kỳ của Nixon cũng là chữ mà ông nhấn mạnh lúc cuối. Trong thông điệp mà ông soạn cho Ford để gửi Quốc hội, lý luận này được nói gọn gàng

Hoa Kỳ không muốn viện trợ đầy đủ cho đồng minh của chúng ta để họ chiến đấu sẽ ảnh hưởng uy tín của chúng ta như một đồng minh. Và chính uy tín này là cơ bản cho an ninh của ta vậy”
(Sách đã dẫn trang 642)

Ford giữ câu nói về uy tín nhưng ông làm nhẹ bớt những lời hoa mỹ của Kissinger tấn công chỉ trích Quốc Hội. Ông nhờ phụ tá Hartmann sửa lại dể việc xin viện trợ kết hợp với hòa giải quốc gia. Mặc dù đã nói nhẹ nhàng nhưng tại Quốc hội không có ai vỗ tay cả.

Khi Tổng thống ngỏ lời xin viện trợ thì có hai dân biểu Dân chủ Moffet và Miller bỏ ra khỏi phòng họp. Cả Quốc hội lẫn người dân đều không còn muốn ủng hộ cuộc chiến tranh VN .

Sau này Kissinger đổ lỗi cho Watergate đã khiến cho Hiệp Định Paris bị suy sụp. Nói rằng sự sụp đổ quyền hành của Tổng thống có nghĩa là Hoa Kỳ không thể và không muốn cưỡng bức sự thi hành Hiệp định. Nhưng đó không phải do vụ Watergate mà vì người ta đã quá ghê sợ cuộc chiến VN, một cuộc chiến tranh vô ích nó đã tạo tư tưởng cô lập thập niên 70 và khiến cho người dân phải lùi lại trước viễn tượng kéo dài chiến tranh Đông Dương.

Cho rằng quyền hạn của Tổng thống bị Watergate gây ảnh hưởng xấu tệ đến việc thảo luận về VN, cũng vậy nỗi thống khổ do VN có lẽ đã đẩy mạnh sự nhiệt thành của những người chống Nixon trong việc điều tra vụ Watergate. Trong bất cứ trường hợp nào ngay cả TT Ford, vụ Watergate đã qua đi, Quốc hội không cho phép cấp viện trợ kéo dài sự đòi hỏi cho danh dự ở VN.

Cuối tháng 3-1975, do kế hoạch tái phối trí lực lượng sai lầm của TT Thiệu đã khiến VNCH mất hai quân khu 1 và 2, mất luôn cả hai quân đoàn 1 và 2 trong hai tuần lễ từ 14-3 tới 30-3-75. VNCH mất 5 sư đoàn bộ binh (22, 23, 1, 2, 3), 11 liên đoàn Biệt động quân, mất gần hết 2 sư đoàn tổng trừ bị.. vũ khí đạn dược coi như mất hết, một phần lớn lọt vào tay Cộng quân.

Thời điểm giữa tháng 4-1975, dù VNCH có soay sở được một tỷ Mỹ kim để mua tiếp liệu đạn dược cũng không thể cứu vãn tình thế, chỉ trừ có yểm trợ của B-52 mới hy vọng đảo ngược tình hình, lý do quân đội VNCH đã mất một nửa (1/2) lực lượng chính qui (các sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 và 11 liên đoàn Biệt động quân) trong khi CSBV bị sứt mẻ ít hơn.

Ford ít khi nào không nghe lời cố vấn về ngoại giao của Henry Kissinger, người được coi là Khổng Minh thời nay. Một chuyện ít ai biết tới nhưng có ý nghĩa lịch sử là quyết định của ông hôm 24-4-1975, ngay cả khi khoản viện trợ 722 đã bị treo chính thức, ông tuyên bố trong một bài diễn văn tại Đại học Tulane rằng đối với Mỹ cuộc chiến tranh VN coi như chấm dứt. Ít ngày trước đó, ông có nói sơ bài diễn văn này với phụ tá lâu đời Robert Hartmann, ông cho biết Việt Nam đã sẩy ra lâu rồi và không có người sinh viên nào còn nhớ tới, chiến tranh đã chấm dứt.

Ford nói chẳng biết Kissinger có chấp nhận ý tưởng này không? Ông thích ý tưởng này, thảo luận xong ông bảo Hartmann khoan nói cho ai biết chờ ông quyết định, bản thảo có gửi cho Kissinger nhưng không có ghi câu nói về VN này vì muốn dấu không cho Kissinger biết. Khi lên máy bay Hartmann đánh máy bài diễn văn và đưa Tổng thống coi, ông hài lòng. Trước sáu ngàn sinh viên tụ tập tại sân vận động bóng rổ, ông tuyên bố:

“Nước Mỹ có thể lấy lại niềm tự hào trước khi có cuộc chiến VN nhưng chúng ta không thể lấy lại nó bằng cách trở lại cuộc chiến tranh liên hệ với Mỹ nay dã chấm dứt”
(Kisinger a Biography trang 644)

Ford đọc rõ từng câu từng chữ, đám sinh viên ai nấy reo hò, dậm chân mừng rỡ, họ nhẩy nhót ôm nhau sung sướng mãn nguyện trong khi đó tai nước đồng minh xa xôi bên kia trái đất, cảnh máu chảy thịt rơi đang diễn ra hàng ngày.

Câu nói “Cuộc chiến đã chấm dứt” vang dội trong nước, nó thể hiện bản tính rộng lượng tế nhị của một người cầu thủ Mỹ già biết cách xử thế cho tế nhị mặc dù đã thua trân đấu khi tiếng còi vang lên và cuộc chơi đã dứt.

Walter Isaacson cho rằng mục tiêu địa lý chính trị phức tạp của Henry Kissinger và ý muốn đổ lỗi trách cứ Quốc Hội của ông có thể hợp lý nhưng nó không còn hợp thời nữa. Điều bổ ích nhất cho nước Mỹ cần làm, cho vấn đề tấm lý trong nước và ngay cả cho uy tín trên thế giới ấy là hãy để cuộc Chiến tranh VN ở lại sau lưng (Sách đã dẫn, trang 644).

Trên máy bay về tòa Bạch Ốc, một ký giả hỏi Tổng thống bài diễn văn này có do Kissinger soạn hay chấp nhận nó không? Ông nói hoàn toàn không. Một người ký giả hỏi có phải Tổng thống cố tình nói thế để đánh dấu sự chấm dứt một thời ký trong lịch sử Mỹ. TT Ford đáp:

Đúng vậy, dù sao đó là một thời khá lâu dài, mối cảm kích của tôi lẫn lộn. Tôi thực tình không muốn nó chấm dứt như thế nhưng ông phải thực tế. Ta không thể thực hiện được sự hoàn hảo trên thế gian này”
(Sách đã dẫn trang 644, 645).

Sáng hôm sau tại tòa Bạch Ốc, Ford cho gọi Hartmann xuống phòng bầu dục, khi ấy Tổng thống đang ngậm tẩu hút xì và Henry Kissinger đang đi tới lui giận dữ như con sư tử mặc dù Ford cố làm cho ông ta bớt giận. Kissinger vung tay trợn mắt nhìn Hartmann bảo:

“Chúng ta không cần phải nói thế, tại sao lại dấu không cho tôi biết tí gì cả?
Hartmann lẩm bẩm nói vì soạn bản diễn văn trễ, không ngờ câu nói về Việt Nam ấy lại tạo lên nổ lớn như thế. Ông ta không nói Ford muốn câu này từ đầu. Ford đồng ý bảo tại vội quá đấy, rồi ông nháy mắt với Hartmann, ông phụ tá này bảo Kissinger “thôi từ nay sẽ không sảy ra chuyện này nữa”

Nhiều năm sau, khi kể lại chuyện cũ, Ford ca ngợi Kissinger không hết lời nhưng khi nói tới bài diễn văn đọc tại Đại học Tulane, ông nói Henry Kissinger không thích câu “chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt”. Tôi biết Henry muốn tiếp tục tranh đấu xin thêm viện trợ và trách cứ, đổ lỗi cho Quốc Hội. Chính Ford cũng muốn vậy nhưng ông cho biết đã làm việc tại Quốc hội hai mươi lăm năm, ông biết chắc họ sẽ khước từ.

Ford và Kissinger không đồng ý nhau ở điểm đó, nhưng Ford nói ông làm đúng, ông hiểu rõ đường lối của lập pháp hơn Kissinger.

Giờ phút chót, Kissinger tìm một giải pháp ngoại giao và lệnh cho Đại sứ Martin khuyên ông Thiệu từ chức.

Hôm sau TT Thiệu từ chức và kết án Hoa Kỳ không giữ lời cam kết, bỏ rơi đồng minh.

Sau này Kissinger gửi thư giảng hòa vơi ông Thiệu và nói vụ Watergate đã hủy hoại khả năng của chính phủ Mỹ xin viện trợ cho VNCH năm 1973 và 74 nhất là tình trạng bế tắc năm 1972 do nội bộ Mỹ gây ra.

Kissinger nói nếu chúng ta tiếp tục cuộc chiến thì Quốc Hội Mỹ đã áp đặt từ 1973 cái mà họ đã làm sau này năm 1975, ý ông ta nói nếu VNCH không ký kết Hiệp định Paris thì Quốc hội đã bức tử miền nam VN từ năm 1973.

Thật vậy tháng 1-1973 Quốc hội Mỹ đã tiến hành cắt viện trợ bỏ Đông Dương đánh đổi lấy 580 tù binh Mỹ nếu VNCH gây trở ngại hòa đàm (Legislation to terminate the war was speeding its way to the floor – Lary Berman, No Peace No Honor, p.221).

TT Thiệu từ chức ngày 21-4-1975 nhưng BV vẫn tiến quân, sáng 29-4-1975 Đại sứ Martin được lệnh thi hành chiến dịch Operation Frequent Wind (Gió đều), đài phát thanh quân đội Mỹ cử bản “Giáng Sinh Trắng” , người xướng ngôn viên nói “Hôm nay tại Sài Gòn [nhiệt độ là] 105 độ F và đang gia tăng” đó là mật hiệu đã định trước cho kiều bào Mỹ biết đế tới địa điểm tập trung di tản. Máy bay trực thăng từ hạm đội bắt đầu tới xà xuống nóc tòa đại sứ Mỹ và những địa điểm khác để bốc người.

Cuộc di tản tại VN không êm thắm như bên Căm Bốt, từ bao lâu nay cảnh hốt hoảng lúc trực thăng rời nóc tòa đại sứ đã ăn sâu trong tâm khảm nhiều người Mỹ, một vết thương kéo dài khác của chiến tranh, một hình ảnh tiêu biểu khác của sự tan vỡ kéo dài một thập niên.

Henry Kissinger nói với các phụ tá trong tòa Bạch Ốc bằng giọng khôi hài cay đắng

Tôi là một Bộ trưởng ngoại giao duy nhất đã mất hai quốc gia trong vòng ba tuần lễ”

Nhiếp ảnh gia trẻ Kennerly chụp hình quang cảnh rồi nói
“Tin mừng là chiến tranh đã chấm dứt, hung tin là chúng ta thua trận”.

Sau này Kissinger viết.

Lần đầu tiên trong thời hậu chiến, Hoa Kỳ đã bỏ rơi một dân tộc thân thiện vào tay Cộng sản, họ đã từng tin tưởng chúng ta
(Walter Isaacson: Kissinger a Biography, p.647)

Sự thực Kissinger nhận định không đúng lắm, Hoa Kỳ đã từng bỏ rơi Trung Hoa năm 1949 và Đông Âu năm 1945.

Trong chính phủ, Kissinger là người cổ võ hăng hái cho viện trợ cần thiết, ông ta tự coi có trách nhiệm vì đã đàm phán tại Paris , sau này ông viết trong hồi ký.

Hồi đó tôi đã không ký Hiệp định nếu không được Quốc hội quả quyết sẽ tiếp tục viện trợ dồi dào sau khi ta rút quân. Tôi không ngờ chúng ta có thể kết thúc bằng cách vứt bỏ cà một dân tộc mà ta đã kết nghĩa đồng minh
(Henry Kissinger: Years of Renewal – page 476)

Thấm thoát từ ngày những đơn vị tác chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ vào Đà Nẵng cho tới nay 1975 đã mười năm qua, quân Pháp rút khỏi VN tới nay đã tròn hai mươi năm, quân Pháp trở lại Việt Nam tái chiếm thuộc địa đã ba mươi năm qua.

Tác giả Walter Isaacson nhận định (Kisinger a Biography, p.647) tất cả những gì Hoa Kỳ đã lưu lại để cho 58,022 người tử trận thấy chỉ là một chút uy tín do thực hiện được Hiệp định ngưng bắn, nó kéo dài vừa đủ để che dấu sự rút lui của người Mỹ.

Hòa bình và danh dự mà Kissinger tuyên bố tháng 1-1973 đều không lâu dài. Nhưng Hiệp định Paris ít ra cũng đã tạo được mục đích để Hoa Kỳ từ bỏ lời hứa của họ với Sài Gòn và cái hậu quả mất uy tín thực ra cũng mơ hồ, cái mà Kissinger đưa ra chỉ là mơ hồ

Điều ấy cho Kissinger một chút an ủi, ông ta nhận định rằng sự thất bại ở VN năm 1975 thể hiện một cú đánh vào uy tín nước Mỹ, nó làm tiêu hao sức mạnh của những lời đe dọa cũng như hứa hẹn của Hoa Kỳ trên thế giới. ông nói.

Do bản tính tự xá tội, chúng ta đã phá hỏng cơ bản tự do khắp nơi, sự đầu hàng ở Đông Dương mở màn cho một thời đại ô nhục của Hoa Kỳ nó kéo dài từ Angola tới Ethiopia, tới Iran, tới Afghanistan”
Trang 647

Cũng theo tác giả Walter Isaacson, “hậu quả Domino” mà Kissinger và nhiều người khác tiên đoán không rõ ràng. Việt Nam và Căm Bốt đều đã trở thành Cộng sản, nhưng họ lại [quay sang] đánh lẫn nhau thay vì đổ sang Thái Lan. Các nhà chính khách Hoa Kỳ đã không hiểu rõ để rồi hy sinh biết bao nhân mạng.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, trả lời phỏng vấn đài NBC Kissinger nói có lẽ ta sai lầm khi quá quan tâm đến một vấn đề mà bỏ quên những chuyện khác, cuộc chiến này có tính cách Việt Nam hơn là có thể đưa tới ảnh hưởng quốc tế.

Thiếu tướng Vernon Walters tùy viên quân sự, người từng đưa Kissinger đi về trong những buổi đi đêm tại Paris , cho tới nay vẫn giữ được một lá cờ vàng nhỏ của miền nam VN trong văn phòng mình. Khi được hỏi về lá cờ này, ông Tướng giải thích nó tiêu biểu cho “một công việc còn dang dở” (unfinished business). Chúng ta đã để cho 39 triệu người rơi vào vòng nô lệ. Đó là một di sản của Hòa bình trong danh dự (Theo Larry Berman, No Peace, No Honor p.273).

Đầu thập niên 70, đa số người Mỹ chống chiến tranh VN và chủ trương rút khỏi Đông Dương, người dân đánh giá cuộc chiến này tàn ác, bẩn thỉu, tốn quá nhiều xương máu vô ích, đáng ghê sợ, dài vô tận không biết đến bao giờ mới chấm dứt … phải ra khỏi Đông Dương, sống chết mặc bay.

Quốc Hội Mỹ do thúc đấy của phong trào phản chiến cắt quân viện bỏ rơi đồng minh không thương tiếc, cho rằng nó chỉ là cuộc chiến tranh sai lầm tai hại, đã khiến cho đất nước bị phân hóa, dầy vò cắn xé nhau tan nát trong bao năm qua, quá tốn kém… phải bỏ Đông Dương bằng mọi giá, từ bỏ những lý tưởng xa vời để quay trở về với quyền lợi của nước Mỹ.

Những người Mỹ ủng hộ chiến tranh VN chỉ là thiểu số gồm các nhà lãnh đạo hành pháp như Tổng thống Nixon, Tiến sĩ Kissinger, Bộ trưởng Quốc phòng Laird… giới chức quân sự và nhiều nhà học giả nghiên cứu về chiến tranh VN…(họ) đổ lỗi cho Quốc hội cắt quân viện khiến cho VNCH sụp đổ, làm phương hại tới uy tín của đất nước trên thế giới. Họ lên án Hoa Kỳ đã tàn nhẫn bỏ đồng minh rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản, những người bạn yếu thế này đã hết lòng tin tưởng vào Mỹ *. Họ cho rằng việc rút bỏ dù chính đáng tới đâu cũng không có giá trị đạo đức.

Bên nào nói nghe cũng hay, cũng có lý cả, nhưng chỉ giới trẻ, thanh niên là thích thú nhất, ít ra họ sẽ không phải đi lính đóng đồn xa xôi vạn lý bên kia trái đất. Những người này chiếm đa số trong phong trào chống chiến tranh, đòi rút quân về nước bỏ Đông Dương.

© Trọng Đạt

© Đàn Chim Việt

——————————————–

Tài Liệu Tham Khảo

Walter Isaacson: Kissinger A Biography Simon & Schuster 1992.
Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam -The Free press 2001
Richard Nixon: No More Vietnams , Arbor House, New York 1985
Henry Kissinger: Years of Renewal- Simon & Schuster 1999
Robert Dallek: Partners In Power, Nixon and Kissinger – Harper Collins publishers 2007
The Word Almanac Of The Vietnam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985
Stanley Karnow: Vietnam , A History, A Penguin Books 1991
Wikipedia: Opposition to the US involvement in the Vietnam war
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến tranh Việt Nam 1963-1975, Đại Nam 2001.
Cao Văn viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hoà, Vietnambibliography 2003

—————————————————————————————————

* TH ghi chú: Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang, thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.

Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư này ông nhờ các phóng viên ngoại quốc đưa lại cho ông đại sứ Mỹ. Lá thơ  đầy nghĩa  khí và  tiết tháo của ông như sau :

Người dịch Trần Hoàng

Thư của Thủ Tướng Sirik Matak gởi Đại Sứ Mỹ  John Gunther Dean

Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.

Thưa Ngài và cũng là người bạn của tôi,

Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và đề nghị giúp tôi phương tiện vận chuyển đi tìm tự do.
Than ôi! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn hạ như vậy. Với Ngài, và đặc biệt là đất nước vĩ đại của Ngài, tôi không bao giờ lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do. Quý vị đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết.

Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài sẽ tìm được hạnh phúc dưới bầu trời này.

Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng  nếu tôi phải chết, thì tôi sẽ chết ở đây, trên đất nước mà tôi yêu dấu,  điều tệ hại là vì tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó. 

Tôi đã phạm phải sai lầm này là vì đặt niềm tin vào quý vị, những người Mỹ!
Thưa Ngài, người bạn của tôi, xin Ngài nhận những tình cảm chân thành và thân hữu của tôi .

Hoàng tử  Sirik Matak

Dear Excellency and Friend,

“I thank you very sincerely for your letter and for your offer to transport me towards freedom. I cannot, alas, leave in such a cowardly fashion. As for you and in particular for your great country, I never believed for a moment that you would have this sentiment of abandoning a people which has chosen liberty. You have refused us your protection and we can do nothing about it. You leave us and it is my wish that you and your country will find happiness under the sky. But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad because we are all born and must die one day. I have only committed the mistake of believing in you, the Americans. Please accept, Excellency, my dear friend, my faithful and friendly sentiments. Prince Sirik Matak.[1].[19]”  (Nguồn)

————–


Từ trái qua phải: Sisowath Sirik Matak, Lon Nol, and In Tam.

*Gia đình của Thủ Tướng Sisowath Sirik Matak (gồm các con trai, các con gái, các cháu trai, và các người giúp việc)  đều đã bị Khmer Đỏ giết chết vào ngày 21-4-1975.

*Thủ tướng Hên Xom Rênh hiện nay cũng đã từng là thành phần Khmer đỏ, và ông ở trong đoàn quân tiến chiếm Nam Vang 1975. Vài năm sau, ông chạy qua Cộng Hòa XHCN Việt Nam “ăn học”, và sau đó được cử về nắm lấy Kampuchea, rồi sau đó “ứng cử” chức vụ thủ tướng Kampuchea.

“Bức thư được sao chép và thêm vào trong cuốn sách Autrefois, Maison Privée.

Không lâu sau khi chính phủ Lon Nol tuyên bố chính thức đầu hàng Khmer Đỏ vào ngày 17 tháng 4 năm 1975, Sirik Matak đã đến tị nạn tại Khách sạn Le Phnom, nơi Hội Chữ thập đỏ quốc tế cố gắng tạo ra một khu vực an toàn.

Ông bị từ chối ngay vì Hội Chữ thập đỏ đã biết được tên ông nằm trong danh sách tử hình “Bảy Kẻ Phản Bội”. Bên ngoài khách sạn, Sirik Matak đã nói chuyện với các phóng viên và phân phát bản sao của bức thư mà ông gửi cho Đại sứ Dean.[23] Bizot thông báo rằng Sirik Matak đã tìm cách xin tị nạn chính trị tại Đại sứ quán Pháp, Khmer Đỏ đe dọa sẽ xông vào bên trong Đại sứ quán và giết chết bất kỳ người nào kháng cự bằng vũ lực nếu họ không tự nguyện tuân theo yêu cầu của chúng.

Theo như Phó lãnh sự quán Pháp Jean Dyrac và nhà báo Jon Swain,[24] Bizot nhận trách nhiệm thông báo cho Sirik Matak biết là ông đã được bàn giao cho Khmer Đỏ.[25] Sirik Matak cùng một vài quan chức còn lại đi cùng ông đều bị Khmer Đỏ sát hại vào ngày 21 tháng 4 năm 1975, lúc ông 61 tuổi.

Các chi tiết chính xác về cái chết của ông vẫn còn mơ hồ, thế nhưng Sihanouk nhận được bản báo cáo xác nhận rằng Sirik Matak cùng với Boret Long đã bị đội hành quyết sát hại ngay tức khắc tại Trung tâm Thể thao Cercle Sportif ở Phnom Penh vào ngày 21 tháng 4, một bản báo cáo khác nói rõ ông bị chặt đầu.[26]

Tuy nhiên, theo Henry Kissinger và những người khác đã lưu ý trong một bản báo cáo cho rằng Sirik Matak bị bắn vào bụng và bỏ mặc mà không được cứu chữa cho đến khi chết trong vòng ba ngày.[27]

Tổng cộng có 150 người trong chính phủ Cộng hòa Khmer đã di tản theo người Mỹ. Còn lại toàn bộ đều bị giết hết. Riêng gia đình Sisowath Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.

(nguồn)

Cập nhật thứ Bảy 21-4-2011: thư của Thủ tướng Sirik Matak

 

 
Phóng ảnh viết tay bằng tiếng Pháp gởi cho đại sứ Mỹ John Dean. Phải: Hoàng thân Sirik Matak.

nhà văn Hoàng Hải Phòng Thủy cũng có bài về chuyện này. 

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »