Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 16th, 2015

►”Âm mưu của TQ nhằm nuốt trọn Biển Đông”

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2015

Chiến lược “3 bước lấn tới” của Trung Quốc là xông vào vùng chủ quyền lãnh hải của nước láng giềng, nước tiếp cận, gây tranh chấp, rồi đàm phán song phương “gác lại tranh chấp, cùng khai thác”, cuối cùng là độc chiếm luôn.

“Âm mưu của TQ nhằm nuốt trọn Biển Đông”

 BBC

Đại tá Bùi Văn Bồng

14-03-2015

 Hải Quân Trung Quốc liên tục tăng cường sức mạnh và hiện diện ở khu vực

Từ chỗ tự vẽ ra “Đường lưỡi bò”, rồi liên tiếp gây ra tranh chấp các vùng biển có mỏ dầu của các nước láng giềng trên biển Đông, lấy cớ đó kêu gọi các nước “Gác tranh chấp cùng khai thác” trong chiến thuật “Ba bước lấn tới”, mới đây Trung Quốc tuyên bố thẳng thừng: “Biển Đông là sân nhà của Trung Quốc”.

Quả thật, với tiền đề ‘chủ quyền của ta’, Trung Quốc (TQ) chủ động khai thác và tự chủ khai thác hoàn toàn không bài xích hợp tác khai thác hoặc cùng khai thác với các nước khác. Đặc biệt là khu vực giàu dầu khí ở phía giữa và nam Biển Đông, chỉ có hợp tác mới có thể ép đối thủ đến trước bàn đàm phán, cuối cùng thực hiện “cùng khai thác” – thủ đoạn đang làm hiện nay của Trung Quốc.

Đối với những khu vực có tranh chấp lớn (thực tế là TQ cố tình tạo ra tranh chấp để đòi hỏi lợi ích vô lý), độ nhạy cảm cao, có thể có ý thức liên kết với các công ty dầu khí nước ngoài hợp tác khai thác.

Ai cũng nhớ rõ: Tháng 5-2014, Trung Quốc cho giàn khoan 981 xâm phạm vùng lãnh hải gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc đó, đã có nhiều thông tin cảnh báo rằng: Việt Nam phải xem chừng Trường Sa.

Quả nhiên, giàn khoan 981 đã thực hiện mục tiêu “một mũi tên trúng 2 con chim”. Trung Quốc đã kéo dư luận quốc tế và ở Việt Nam chú ý vào giàn khoan HD-981, trong khi họ bơm cát, đắp bồi đảo đá nhân tạo Gạc Ma và bãi đá ngầm Chữ Thập để xây dựng sân bay quân sự trên quần đảo Hoàng Sa. Nhưng khi ấy, Việt Nam đã không hề lên tiếng về hành động có tính toán chiến lược này.

Trong khi đó, với giàn khoan HD-981, Trung Quốc đặt ra hai ý đồ:

1- ‘Ngụy trang, đánh lạc hướng’, ‘Dương đông kích Tây’, tập trung dư luận chú ý về giàn khoan HD-981 để rảnh tay ‘cải tạo đảo Gạc Ma, bãi đá Chữ Thập’; đồng thời thăm dò dầu khí vùng nước sâu Hoàng Sa.

2 – Nếu Việt Nam nổ súng phản công tại giàn khoan HD-981 thì Trung Quốc lấy cớ tấn công đánh chiếm đảo Trường Sa Lớn.

Ngày 12-5-2014, trên nhiều trang mạng đã tiết lộ: Hiện nay nhiều tàu chiến Trung Quốc, 17 tàu hỏa tiễn, 20 tàu đổ bộ đang tập trung phía Bắc quần đảo Hoàng Sa. Hơn 1.000 Lính Trung Quốc đã xuống các tàu đổ bộ.

Tin cho hay, qua một cuộc điện đàm SAT-COM của Trung Quốc mà hệ thống viễn thông và điều hành vệ tinh tại Mỹ biết được, họ (TQ) đã được lệnh tấn công CHIẾM LUÔN ĐẢO TRƯỜNG SA LỚN CỦA VIỆT NAM nếu trường hợp có tiếng súng xảy ra tại giàn khoan. Hải quân và tàu đổ bộ Trung Quốc đang âm mưu, tìm cớ tấn công. Tại giàn khoan, vào ngày (10-5-2014) có khoảng 79 các tàu Tuần Duyên & Kiểm Ngư Trung Quốc, cùng 3 tàu chiến, máy bay trực thăng, máy may tiêm kích từ Hải Nam bay ra KHIÊU KHÍCH các tàu của Cảnh Sát Biển của Việt Nam. Nếu Việt Nam ‘khai hỏa’ thì Trung Quốc sẽ đổ bộ chiếm luôn các đảo Trường Sa của Việt Nam, đặc biệt là đảo Trường Sa Lớn.

Mưu đồ ‘cùng khai thác’?

Sau đó 5 tháng, trên trang mạng tuanvietnam.net có đăng bài “Gác tranh chấp, cùng khai thác kiểu Trung Quốc”, dẫn lại bài của tác giả Dương Danh Huy, đăng trên website Nghiên cứu Biển Đông ngày 21/10/2010.

Phi lộ đầu bài viết, tác giả nêu: “Gần đây, chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” được Trung Quốc nhấn mạnh nhiều lần như một sáng kiến mang tính xây dựng trong bối cảnh tranh chấp trên Biển Đông vẫn đang căng thẳng. Xét đến tính phức tạp và khó tìm lối ra hiện tại đối với tranh chấp Biển Đông, giải pháp này có thể chấp nhận được nếu các bên cùng ‘gác tranh chấp, cùng khai thác’ một cách công bằng”…

Những lời gọi là “phi lộ” trên đây rất cần phải xem lại. Như: “sáng kiến mang tính xây dựng”, rồi thì “có thể chấp nhận được… một cách công bằng”. Với Trung Quốc, nhìn từ trong bản chất âm mưu, động cơ, ý định chiến lược trong các vụ tranh chấp Biển Đông đừng mất công nói đến cái ý thức “xây dựng”, sự “công bằng” với các nước trong khu vực, cả với nhiều nước khác trên thế giới…

Trong bài viết, tác giả đã dẫn liệu, phân tích: Tại hội thảo quốc tế với chủ đề “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” ở Hà Nội ngày 26-27 tháng 11/2009, GS Ji Guoxing của Đại học Jiaotong, Thượng Hải, nguyên giám đốc bộ môn Châu Á – Thái Bình Dương của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Thượng Hải, nhắc lại chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc. GS Ji Guoxing cụ thể hoá bằng cách đề nghị Việt Nam và Trung Quốc bàn về khả năng cùng khai thác bãi Tư Chính, một khu vực nằm hoàn toàn bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa vốn đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền.

Nhìn lại 5 năm trước, tại buổi họp báo ở Hà Nội ngày 6/1/2010, Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường cũng đề nghị chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Rằng: “Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”, và đề nghị rằng Việt Nam và Trung Quốc nên tạm gác lại tranh chấp, đợi điều kiện chín muồi.

Thực ra, chủ trương “Gác tranh chấp, cùng khai thác” được Trung Quốc chính thức đề nghị lần đầu tiên tại chuyến thăm Nhật, ngày 25/10/1978, Thủ Tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói với Thủ Tướng Nhật Takeo Fukuda trong văn cảnh tranh chấp chủ quyền quần đảo Shenkaku (tên Nhật) /Điếu Ngư Đài (tên Trung Quốc) giữa Nhật và Trung Quốc. Điều đáng lưu ý là Shenkaku/Điếu Ngư Đài và vùng biển lân cận nằm dưới sự kiểm soát của Nhật, và vùng biển này gần Nhật và Đài Loan hơn Trung Quốc, cho nên Nhật có nhiều khả năng để đơn phương khai thác vùng biển này hơn Trung Quốc. Vì vậy, đề nghị của Trung Quốc để khai thác chung vùng biển này là một đề nghị nằm trong chủ đích lấn chiếm Biển Đông, có lợi cho Trung Quốc hơn là có tính xây dựng cho cả Trung Quốc và Nhật. Cho tới nay, Nhật luôn luôn khước từ tất cả các đề nghị của Trung Quốc để khai thác vùng biển lân cận đảo này.

Cũng với con bài “cây gậy và củ cà rốt” này, hồi tháng 6/1986, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel rằng Trung Quốc và Philippines nên gác tranh chấp Trường Sa, “không nên để vấn đề này cản trở tình hữu nghị của Trung Quốc với Philippines và các nước khác”.

Tiếp đến, tháng 4/1988, Đặng Tiểu Bình lại đề nghị với Tổng Thống Philippines Corazon Aquino, “Xét quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta, chúng ta có thể tạm gác vấn đề này và tiếp cận theo hướng khai thác chung”.

Thế giới vẫn chưa quên sự kiện cồn sóng Biển Đông, vào đầu năm 1988 Trung Quốc chiếm đóng những bãi cạn Đá Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Huy Gơ và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa và vào tháng 4/1988 máu của các chiến sĩ Việt Nam còn chưa tan hết trên biển Trường Sa sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam để chiếm Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao ngày 14/3/1988 và chiếm được Gạc Ma. Đây là một thí dụ cho thấy rõ sự từng bước lấn sân bằng đánh, đàm, dụ dỗ không có giới hạn của Trung Quốc. Vùng biển-đảo thuộc chủ quyền các nước trong khu vực đang yên lành, Trung Quốc gây ra tranh chấp, rồi đưa ra cái gọi là “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

‘Ba bước lấn tới’

Như vậy, cái gọi là sáng kiến “gác tranh chấp, cùng khai thác” của chính phủ Đặng Tiểu Bình cho tranh chấp Trường Sa không phải do “có tính xây dựng” mà là để phục vụ mục đích đối trọng với các nước để từng bước chiếm đoạt hẳn. Chiến lược “3 bước lấn tới” của Trung Quốc là 1/ xông vào vùng chủ quyền lãnh hải của nước láng giềng, nước tiếp cận, gây tranh chấp, 2/ rồi đàm phán song phương “gác lại tranh chấp, cùng khai thác”, 3/ cuối cùng là độc chiếm luôn.

Dựa theo cái ‘đường lưỡi bò” tự vẽ, tự đơn phương công bố chính thức lần đầu tiên ra thế giới ngày 7-5-2009, không có ý kiến chấp nhận nào của bên thứ 2 hoặc thứ 3, Trung Quốc muốn biến vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các nước liên quan từng bước đi từ tranh chấp, đến “gác tranh chấp cùng khai thác” rồi cuối cùng sẽ “ẵm” luôn trọn gói.

Quả nhiên, với chiêu thức thâm độc nhưng khá lộ liễu này của chiến lược “3 bước lấn tới”, Trung Quốc lăm le Khu vực 9 lô dầu khí từ lâu, nhân sự kiện QH Việt Nam thông qua Luật biển, TQ đã kêu gọi mời thầu thăm dò khai thác hòng cố tình gây ra tranh chấp để rồi đi đến bước tiếp theo yêu cầu Việt Nam “gác tranh chấp, cùng khai thác”, làm cái nền, cái cớ để tiến tới dùng “lưỡi bò” liếm hết luôn.

Khu vực này nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Bản đồ công bố trên website của Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho thấy cả 9 lô mỏ dầu mà Trung Quốc đang mời chào thăm dò, khai thác đều nằm trong vùng biển thuộc “đường lưỡi bò” nằm trong mưu đồ tính toán đầy tham vọng có tính chiến lược của Trung Quốc. Các lô mỏ dầu này nằm ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, trải rộng hơn 160.000 km 2. Rìa phía tây của một số lô mỏ dầu nằm cách bờ biển Việt Nam không đầy 80 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, có nơi chỉ cách đất liền 30-50 hải lý, nằm trong vùng nội thủy và thềm lục địa của Việt Nam.

Việc tuyên bố mời thầu cho thấy một bước đi mới trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố quyền chủ quyền tại vùng biển này. Thâm hiểm, gian dối, phản trắc, dễ nuốt lời, lấy “Hữu hảo để chen ngang hứa hão” vẫn là bản chất có từ trong máu Đại Hán từ xa xưa. “Gác tranh chấp, cùng khai thác” rất phi lý lại là con bài đưa dần các nước vào tròng, bằng hung hăng đe dọa kết hợp với dụ dỗ, lấn dần. Bắc Kinh đang tìm mọi cách lật lọng để đạt cho kỳ được mục đích của tuyên bố: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong biển Đông và các vùng biển lân cận; có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất của những vùng biển này” (?!).

Ý đồ này của Trung Quốc đã có từ lâu, rõ nhất là sự trắng trợn trong vụ giàn khoan HD-981 và cải tại đảo Gạc Ma thành sân bay quân sự, đưa cả dân ra ở đó, mở ‘Khu du lịch Gạ Ma’. Tháng 7, giàn khoan HD-981 của Trung Quốc ‘hoàn thành kế hoạch’ rút về. Tờ “Thời báo Hoàn Cầu” Trung Quốc ngày 8/8/2014 đăng bài viết nhan đề “Bành Nguyên Chính: Biển Đông là trọng điểm khai khác dầu khí mới của ta (Trung Quốc)” xuyên tạc về chủ quyền Biển Đông, phản ánh lòng tham cả chủ quyền và tài nguyên cũng như thủ đoạn thâm độc của Trung Quốc. Tác giả Bành Nguyên Chính là phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp dầu khí Trung Quốc. Bài viết cho biết: “Hiện nay Trung Quốc đã hoàn thành lựa chọn địa chỉ xây dựng (trái phép) hải đăng ở 5 đảo, đá ngầm vùng biển Tây Sa”. Theo luận điệu của bài viết: “Ở Biển Đông, cạnh tranh dầu khí những năm gần đây ngày càng gay gắt, làm thể nào để bảo vệ quyền thăm dò dầu khí vùng biển Trung Quốc trở thành vấn đề quan trọng không thể tránh khỏi”.

“Tập đoàn dầu khí Trung Quốc (CNPC) và CNOOC khoan thành công ở Hoàng Sa (đây là hành dộng trái phép của Bắc Kinh-PV), cho thấy các công ty dầu khí của Trung Quốc có khả năng tiến hanh thăm dò, khai thác nước sâu độc lập, điều kiện phá vỡ bế tắc khu vực tranh chấp đã có”.

‘Nhà và sân Trung Quốc’

Tờ báo này ‘đề xuất’ rằng: “Nhà nước (Trung Quốc) cần hỗ trợ trên các phương diện chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, như đưa ra chính sách ưu đãi khai thác Biển Đông trên các phương diện như vốn đăng ký, thu thuế, thuế quan và tài chính, thiết lập quỹ khai thác rủi ro Biển Đông có tính chất quỹ giá trị chủ quyền, đưa ra chính sách phát triển ngành nghề hỗ trợ cần thiết, để cho khai thác Biển Đông nhanh chóng tiến triển, tạo được quy mô”.

Rõ ràng, từ việc đẩy vấn đề theo hướng tranh chấp, để làm đà đi đến “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nhưng vẫn nhằm đích cuối cùng là xâm chiếm. Đó chỉ là các nấc thang mà Trung Quốc đang leo dần. Với mưu đồ tham vọng bá quyền từ lâu đời của Trung Quốc, lúc nào cũng lăm le bành trướng xuống phương Nam, lấn chiếm Biển Đông sẽ không bao giờ có “sáng kiến mang tính xây dựng”, và cái gọi là “công bằng” với các nước ASEAN có lãnh hải Biển Đông. Việt Nam và các nước ‘cùng cảnh’ trong khu vực đừng mất cảnh giác mắc mưu Trung Quốc để sau này khỏi phải gánh hậu họa do sự thiếu kiên quyết, do những bước đi, sự nhu nhược nhân nhượng do mềm yếu thiếu bản lĩnh không cứu vãn nổi.

Mới đây, dựa theo câu hỏi của Tân Văn Xã (China News Service) – hãng tin chính thức thứ hai tại Trung Quốc sau Tân Hoa Xã – theo đó phải chăng là hoạt động bồi đắp các bãi đá và rạn san hô của Trung Quốc ở Biển Đông báo hiệu một sự thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông và thậm chí đối với cả các láng giềng, ông Vương Nghị đã tại khẳng định là chính sách Trung Quốc không thay đổi.

Đặc biệt mới đây, thách thức công khai và trắng trợn nhất, tại cuộc họp báo ngày 08/03/2015 tại Bắc Kinh, Ngoại trưởng Vương Nghị đã bác bỏ thẳng thừng những phản đối của nước khác về việc Trung Quốc đang đẩy mạnh các công trình bồi đắp đảo nhân tạo tại vùng quần đảo Trường Sa, nơi có tranh chấp với các láng giềng trong đó có Việt Nam. Ông Vương Nghị đã không ngần ngại khẳng định: Biển Đông là “nhà” và là “sân” của Trung Quốc.

Rõ ràng, cho đến nay, mưu đồ và hành động của Trung Quốc ngày càng lộ rõ. Trung Quốc đang ‘hợp pháp hóa’ và dồn sức xây dựng ‘hiện đại hóa’ cái gọi là “Thành phố Tam Sa”.

Tam Sa là một thành phố được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào ngày 24 tháng 7 năm 2012 để quản lý một khu vực mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền, bao gồm: Quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Tây Sa), Quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa), bãi Macclesfield và bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa) cùng vùng biển xung quanh. Theo phân cấp hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tam Sa là một địa cấp thị (thành phố cấp địa khu) thuộc tỉnh Hải Nam và có chính quyền nhân dân đặt tại đảo Phú Lâm (Trung Quốc gọi là Vĩnh Hưng).

Theo chính phủ Trung Quốc, việc thành lập thành phố Tam Sa sẽ giúp tăng cường hơn nữa khả năng quản lý, khả năng phát triển và kiến thiết của quốc gia này đối với những hòn đảo và các vùng nước xung quanh các quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Trường Sa, bảo vệ môi trường biển trong vùng biển Đông. Thực chất, Trung Quốc đang nỗ lực để “cái lưỡi bò” liếm hết Biển Đông.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Bình luận cáo trạng vụ anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2015

Người Buôn Gió

14-03-2015

Bản cáo trạng do Viện Kiểm Sát tối cao viết ra, nhưng lại uỷ quyền cho viện kiểm sát Hà Nội giữ quyền công tố trong phiên sơ thẩm. Vậy theo trình tự phúc thẩm thì  đối tượng việc khiếu nai, kêu oan của bị can sẽ chính là Viện Kiểm Sát Tối Cao. Dù phiên toà chưa xử đã thấy bất lợi cho các bị cáo. Vì nếu có sai ở vụ án này sẽ là lỗi của VKSTC, cấp trên của VKSNT thành phố Hà Nội là cơ quan ra cáo trạng.

Nói nôm na theo kiểu dân đen, thằng con đánh người, người ta mách bố nó, liệu có hy vọng gì chính bố nó là người ra lệnh cho thằng con đánh. Như vậy vụ án này đã thể hiện ý chí vùi dập các bị cáo ngay từ ban đầu, không cho các bị cáo hy vọng gì thái độ công bằng của cơ quan pháp luật.
Nguyên nhân của việc VKSTC viết cáo trạng là bắt đầu từ Cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công An khởi tố vụ việc, theo luật thì VKS đồng cấp sẽ thụ lý vụ án theo.

Với tội danh vi phạm khoản 2 điều 258, là tội phạm nghiêm trọng, việc diễn ra trên địa bàn Hà Nội, đối tượng vi phạm chỉ hai người, đều sinh sống làm việc tại Hà Nội. Lẽ ra cơ quan an ninh Công an TPHN thụ lý việc này, nhưng An ninh điều tra BCA đã nhảy vào cuộc ngay từ đầu. Thông thường thì việc Bộ Công An trong quá trình điều tra, thấy vụ án vào mục như trên sẽ trả hồ sơ cho công an thành phố thụ lý điều tra. Nhưng ở vụ án này, ANĐT BCA đã quyết tâm thụ lý bằng được, thậm chí sự cay cú hằn học còn thể hiện ở thời hạn điều tra.

Trong khung hình phạt tù từ 2 đến 7 năm, thời hạn điều tra được quy định trong điều 119 của BLTTHS như sau.

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thuý bị bắt khẩn cấp theo lệnh của Bộ Công An vào ngày 5/5/2014. Bản kết luận điều tra cuối cùng theo quy định được cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an ra ngày 26 tháng 1 năm 2015. Quyết định khởi tố ra ngày 13/5/2014. Tính theo ngày bắt thì bản kết luận điều tra này vi phạm 21 ngày, tính theo quyết định khởi tố vụ án vi phạm 8 ngày.Vậy năng lực của cơ quan an ninh điều tra Bộ Công An kém hay có điều gì khuất tất trong vụ án, mà chỉ một vụ án khung hình phạt từ 2 đến 7 năm thôi, thuộc khoản B điều 119 BLTTHS, cơ quan an ninh điều tra của BCA phải sử dụng tối đa thời hạn điều tra của luật tố tụng hình sự quy định. Đến lúc quá thời hạn quy định rồi dư luân lên án , lúc đó mới ra bản kết luận điều tra cuối cùng.Thực thi pháp luật kiểu ấy liệu có khiến người ta tin tưởng vào năng lực và sự công bằng hay không.? Liệu có phải đây là một vụ án đầy đủ chứng cứ hay là một vụ án khiên cưỡng, gò ép phải đưa ra xét xử bằng được. Nếu chứng cứ đầy đủ, vụ án thế này không cần để ANĐT BCA xài triệt để thời hạn điều tra như vây, thậm chí còn quá hạn quy định của BLTTHS.

Đọc bán cáo trạng cũng như kết luận điều tra, thấy nêu tên ông tướng Hoàng Kông Tư là nạn nhân của các bị cáo. Ông Tư chính là thủ trưởng cơ quan an ninh điều tra Bộ Công An.

Thử hỏi có vụ án nào người bị hại lại là người ra lệnh bắt giữ, khám xét và điều tra bị cáo.?

Phải chăng ông Tư đã lạm dụng quyền hạn của mình, để trả thù các bị cáo. Nên ông đã dùng cơ quan an ninh điều tra BCA mà ông là lãnh đạo để thụ lý vụ án, một vụ án lẽ ra để  công an thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết cũng được vì tính chất như đã nói, bị cáo chỉ có hai người, hành vi , nơi sinh sống diễn ra tại Hà Nội, khung hình phạt trong mức mà các cấp như VKS, CA, Toà Án thành phố thụ lý.

Trong 12 bài viết được gọi là bằng chứng phạm tội mà các bị cáo đăng tải trên trang Dân Quyền, bài xa nhất là bài Tham Nhũng, Chống Tham Nhũng và Thể Chế được đăng ngày 17 tháng 1 năm 2014. Bài cuối cùng là bài đăng ngày 30 tháng 4 năm 2014, bài đó có tên là.

– Ông trời con Hoàng Kông Tư vs BBC Việt Ngữ

Đây là bài đăng cuối cùng trên trong 12 bài viết đăng trên trang Dân Quyền, các bị cáo bị bắt vài ngày sau đó vào ngày 5 tháng 5 năm 2014.

Đến đây thì có thể kết luận, vụ án này do trung tướng Hoàng Kông Tư báo thù cá nhân. Nếu các bị cáo phạm tội thực sự, cơ quan an ninh điều tra BCA làm việc đúng pháp luật. Các bị cáo phải bị bắt từ lâu rồi, chứ không phải đến bài viết về ông Tư mới bắt.

Bản cáo trạng gồm 8 trang. 3 trang đầu miêu tả việc các đối tượng lập blog, lập trang mạng, đây là việc quá bình thường trong một đất nước đang có hàng chục triệu ngươi sử dụng mạng internet. Việc liệt kê quá trình lập blog, bảo mật, đăng ký sử dụng mạng, lập thư điện tử….bất kỳ ai lên mạng đều làm như vậy. Có gì mà phải vẽ ra đến 3 trang như ly kỳ, âm mưu toan tính, hiểm hóc ?

2 trang chỉ liệt kê tên của các bài viết, chỉ liệt kê đúng cái tiêu đề.

2 trang nêu lý lịch bị cáo.

1/2 trang kết luận.

 1/ 4 trang của bản cáo trạng liệt kê lượng người đọc , còm men.

Chỉ có 1/4 trang trong 8 trang cáo trạng có vẻ đúng nghĩa bản cáo trạng, nhưng đó là kết luận giám định của bộ thông tin và truyền thông khẳng định các bài viết mà hai bị cáo đưa lên là xuyên tạc đường lối của Đảng, bôi nhọ cá nhân, xâm phạm lợi ích cá nhân tổ chức….còn xâm phạm thế nào, thiệt hại ra sao, cá nhân nào bị thiệt hại…không thấy nói đến.

 Cả cái bản cáo trạng lẫn kết luận hồ sơ của Bộ Công An, Viện Kiểm Sát tối cao mà chỉ kể lể dài dòng chuyện lý lịch, việc đăng ký sử dụng mạng, lập hòm thư rồi nêu tên các bài viết. Sau đó ngắn gọn nói rằng giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông nói là có tội, thế là thành có tội mang ra xử. Không thấy phân tích chứng cứ, lập luận khoa học kết tội. Rặt áp đặt chủ quan, cảm tính. Một bản cáo trạng và kết luận hồ sơ như vậy thì cần gì hai cơ quan tố tụng lớn nhất đất nước phải dùng sạch bách thậm chí quá hạn điều tra mới viết ra được.

Và tại sao Bộ Công An có cơ quan an ninh văn hoá không giám định các bài viết mà để cho một cơ quan dân sự, không liên quan gì đến việc tố tụng đứng ra giám định và kết luận việc có tội hay không có tội.

Xét về mạnh cạnh tranh độc giả, thì chính các bị cáo là đối thủ cạnh tranh với bộ Thông Tin Truyền Thông trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin.

Vậy vụ án này thật khôi hài và bỉ ổi. Kẻ được nêu tên là bị hại thì chính là kẻ khởi tố, điều tra vụ án. Đối thủ cạnh tranh thị trường lại được mời làm giám định thiệt hại, kết luận có tội. Một vụ án được những kẻ tham gia tố tụng như vậy trông mong gì minh bạch.

Điều đặc biệt nhất trong bản cáo trạng này là bản cáo trạng vi phạm điều 100 của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự.

Điều 100 BLTTHS quy định như sau:
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1. Tố giác của công dân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;
3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
5. Người phạm tội tự thú.

Bản cáo trạng chỉ nói ngày 5 tháng 5 năm 2014 cơ quan an ninh điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Minh Thuý, sau đó Bộ Công An phát hiện thấy hai đối tượng đang mở trang website Dân Quyền, Chép Sử Việt.

Chắc sắp tới, điều 100 của Bộ luật TTHS nước CHXHCN Việt Nam phải thêm một khoản 6 nữa trong căn cứ xác định dấu hiệu pham tội, đó là cứ khám xét khẩn cấp nhà riêng, nơi làm việc mà phát hiện có gì thì khởi tố sau. Điều luật này có thể khi chung chung để cơ quan an ninh áp dụng thoải mái, hãy đặt tên điều luật đó là luật Hoàng Kông Tư.

Từ những căn cứ vi phạm các dấu hiệu vi phạm luật TTTHS như căn cứ khởi tố vụ án ở điều 100 bộ luật tố tụng hình sự, điều 119  BLTTHS về thời hạn điều tra, điều 42 BLTTHS về người tham gia tố tụng có thân thích với bị hại ( thân thích với bị hại còn không được, huống chi là bị hại như ông Tư và bị thiệt hại về cạnh tranh bạn đọc như cơ quan giám định Bộ Thông Tin Truyền Thông ) hay thẩm quyền của cơ quan thụ lý vụ án.

Đề nghị huỷ toàn bộ hồ sơ cáo trang, kết luận điều tra, thay đổi cơ quan điều tra và cơ quan công tố cũng như cơ quan giám định. Giao vụ án này cho công an TP Hà Nội, Viện Kiểm Sát Hà Nội, cơ quan giám định văn hoá của BCA thụ lý ..thực hiện. Đảm bảo công bằng cho bị cáo. Đề nghị triệu tập những cơ quan, tổ chức bị haị , những cá nhân bị hại như ông trung tướng công an, thủ trướng cơ quan an ninh điều tra BCA Hoàng  Kông Tư, ông thủ tướng chính phủ nước CHXHCN Viẹt Nam Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Thanh Nghị phó chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, ông Nguyễn Phú Trọng Tổng bí thư ĐCSVN để làm rõ mức độ thiêtj hại cũng như yêu cầu , ý kiến của các ông này đối với vụ án. Đề nghị triệu tập các tác giả trong những bài viết mà các đối tượng đăng tải lại. Triệu tập các nhân chứng liên quan…

Nếu bất chấp các vi phạm luật TTHS trên mà vẫn đem ra xét xử, rõ ràng đây là một vụ án tư thù cá nhân, những kẻ có quyền lực tố tụng đã bẻ cong pháp luật một cách trắng trợn, tuỳ tiện để thoả mãn động cơ cá nhân của mình.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An | Leave a Comment »

►Trung Quốc nói biển Đông là ‘sân nhà’, VN chưa lên tiếng

Posted by hoangtran204 trên 16/03/2015

VOA

15-03-2015

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị hôm 9/3 nói rằng các hành động bồi đắp của nước này ở biển Đông, vốn gây nhiều quan ngại không chỉ đối với các quốc gia tranh chấp và còn cả cộng đồng quốc tế, là “hợp pháp và chính đáng”.

Chính quyền Hà Nội vẫn im tiếng sau khi Bắc Kinh có những tuyên bố khẳng định biển Đông là ‘sân nhà’ của mình đồng thời lớn tiếng chỉ trích một nhà ngoại giao cấp cao của Việt Nam.

Ông Vương nói rằng Bắc Kinh “không giống với các quốc gia khác là thực hiện việc xây dựng trong nhà của người khác,” đồng thời tuyên bố “không chấp nhận chỉ trích từ bất kỳ ai vì chúng tôi chỉ xây dựng các cơ sở trong sân nhà của mình”.

Đây được coi là lần đầu tiên một quan chức cấp cao của Trung Quốc tuyên bố biển Đông là “sân nhà” của mình.

Nhận định về tuyên bố trên, giáo sư Carl Thayer cho biết ông cảm thấy “bàng hoàng” khi đọc phát biểu của ông Vương, nhất là trước ngày kỷ niệm 27 năm Trung Quốc tấn công các tàu của Việt Nam gần bãi đá Gạc Ma ngày 14 tháng Ba năm 1988.

Chuyên gia người Australia nói thêm rằng bình luận của nhà ngoại giao Trung Quốc “trơ trẽn và ngạo mạn”.

Bộ Ngoại giao Việt Nam dự kiến tổ chức một cuộc họp báo thường kỳ hôm 12/3, 3 ngày sau cuộc họp báo của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, nhưng đã thông báo hoãn mà không đưa ra lý do.

Lời qua, tiếng lại

Mới nhất, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã tỏ ra tức giận về những lời phát biểu phản đối đường lưỡi bò 9 đoạn của ông Lê Lương Minh, hiện giữ chức Tổng thư ký ASEAN.

Trả lời tờ Manila Times tuần trước, nhà ngoại giao kỳ cựu của Việt Nam nói rằng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á phản đối chính sách sử dụng đường đứt đoạn để khẳng định chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc.

Ông Minh cũng nói thêm rằng sự hội nhập kinh tế của ASEAN sẽ bị ảnh hưởng bởi “bất kỳ sự thù nghịch hay xung đột” có thể bùng ra trên vùng biển tranh chấp.

Đáp lại, phát ngôn viên của Trung Quốc nói rằng ông Minh đã có “những phát biểu mang tính bè phái và không phù hợp với vị trí của ông”, đồng thời kêu gọi nhà ngoại giao này “không sử dụng vị trí của mình cho mục đích riêng”.

Từ trước tới nay, Việt Nam khẳng định ‘chủ quyền không tranh cãi của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’.

Sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan dầu gây tranh cãi vào vùng biển mà Việt Nam nói là thềm lục địa của mình hồi giữa năm ngoái, Hà Nội và Bắc Kinh đã nhiều lần ‘lời qua tiếng lại’.

‘Không đánh đổi chủ quyền’

Chính quyền quốc gia đông dân nhất thế giới khi ấy thậm chí còn cáo buộc quốc gia láng giềng ‘xuyên tạc lịch sử, bác bỏ thực tế và nuốt lời’ liên quan tới quần đảo mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, còn Việt Nam gọi là Hoàng Sa, cũng như về công hàm Phạm Văn Đồng.

Nhưng Hà Nội đã ‘kiên quyết bác bỏ những phát biểu sai sự thật của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc’.

Những người bất đồng chính kiến ở hải ngoại bấy lâu nay dùng công hàm này để cáo buộc Hà Nội đã thực hiện điều họ gọi là ‘bán nước’, nhưng phía Việt Nam luôn bác bỏ điều này.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng tuyên bố ‘không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viển vông’ cũng như cho báo giới biết rằng Hà Nội có thể xem xét hành động pháp lý chống lại các hành động của Trung Quốc ở biển Đông.

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »