Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 4th, 2015

►Quyền bắt người cần thuộc về tòa án, thay vì cơ quan điều tra

Posted by hoangtran204 trên 04/03/2015

FB LS Ngô Ngọc Trai

02-03-2015

Thưa các luật sư và mọi người. Lâu nay quyền bắt người nằm trong tay cơ quan điều tra, chúng ta tưởng thế là đúng đắn rồi nên ko có ý kiến gì khác, nhưng tìm hiểu kỹ thì thấy quyền bắt người cần thuộc tòa án.

Các nước gần ta như Hàn Quốc hay Nhật Bản đều quy định quyền bắt người thuộc tòa án, và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng quy định:

“Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp”.

Do vậy tui đã có kiến nghị về vấn đề này, nội dung luận giải kỹ hơn bên dưới, tui đề nghị các bác quan tâm tới điều này nhằm góp phần thúc đẩy xây dựng nền tư pháp VN được trở lên công minh tiến bộ.

H1

III/ NỘI DUNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ

Bộ luật tố tụng hình sự hiện tại quy định cho phép cơ quan công an điều tra sau khi tiếp nhận tin báo tội phạm thì được quyền ra lệnh bắt khẩn cấp. Sau khi bắt cơ quan điều tra phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn, Viện kiểm sát phải trả lời có đồng ý với việc bắt hay không, nếu không đồng ý thì cơ quan bắt người phải trả tự do ngay cho người bị bắt.

Việc bắt giam giữ người là một biện pháp ngăn chặn mục đích nhằm ngăn ngừa nghi can bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc tiêu hủy chứng cứ. Nhưng thực tế lâu nay việc bắt giam giữ người đã vượt quá mục đích ý nghĩa đơn thuần chỉ là một biện pháp ngăn chặn.

Theo tinh thần của luật thì nghi can mặc dù bị bắt nhưng vẫn chưa bị coi là tội phạm. Luật đã quy định rằng không ai bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án có hiệu lực pháp luật.

Như vậy mặc dù bị bắt và bị hạn chế quyền tự do đi lại, nhưng các quyền tự do dân sinh khác của người bị bắt vẫn còn, ví như quyền được đọc sách báo, xem ti vi, thăm gặp người thân, ăn uống đủ dinh dưỡng, không bị đánh đập bởi người khác…

Vậy sau khi bị bắt, người bị bắt có được đảm bảo các điều kiện đời sống dân sinh bình thường hay không?

Nhưng thực tế lâu nay có một vấn đề rất nghiêm trọng đó là điều kiện giam giữ người ở Việt Nam tệ hại khiến cho người bị giam giữ chịu sự khổ cực về tinh thần và thể xác.

Việc bắt người vốn dĩ chỉ tước đi quyền tự do đi lại của công dân song không chỉ đơn thuần như vậy, do đặc thù điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam người bị bắt lại bị tước đi hầu như hết các quyền dân sự, quyền con người bị xâm hại nặng nề khi sống trong điều kiện giam giữ mà mọi thông số chỉ tiêu giá trị đều ở mức rất thấp.

Một ví dụ là mấy năm trước tôi bảo vệ cho một người bị bắt giam ở trại tạm giam số 3 nằm trên đường cầu Bươu thuộc Hà Đông, Hà Nội. Một lần vào lấy lời khai thấy chòm râu cứng của người đó được chia làm hai nửa, một bên rất dài cứng còn một bên lại trụi nhẵn. Hỏi ra thì được biết suốt ngày người đó bị mấy người giam giữ cùng phòng đè ra nhổ râu giải trí cho đỡ buồn.

Điều đó là ví dụ giúp hình dung cho thấy tình trạng điều kiện sức khỏe của người bị giam giữ bị xâm hại như thế nào.

Còn theo một bài báo mới đây trên báo Đất Việt có tiêu đề ‘Tội phạm tăng nhanh hơn dân số, thiếu hàng ngàn chỗ giam’, bài báo đưa số liệu rằng so với quy mô đã được phê duyệt, các trại tạm giam còn thiếu hơn 14.000 chỗ (tiêu chuẩn mỗi chỗ 2m2), tạm giữ thiếu hơn 12.000 chỗ.

Bắt nhiều nên thiếu chỗ giam

Số liệu về việc thiếu chỗ giam giữ người có thể hiểu một phần nguyên nhân vì số lượng người có hành vi phạm tội quá nhiều, đó là minh chứng cho sự đổ vỡ của các chuẩn mực giá trị đạo lý. Nhưng mặt khác cũng cần đặt ra vấn đề xem xét lại việc bắt giam giữ lâu nay liệu đã đúng đắn hợp lý hay chưa?

Phải chăng có việc bắt giam giữ cẩu thả bừa bãi, nhiều trường hợp không cần thiết bắt cũng bắt, và tại sao lại để cơ quan công an điều tra được quyền bắt người?

Chúng ta biết rằng công an điều tra là lực lượng chiến đấu có chức năng nhiệm vụ phòng chống tội phạm, ở họ mang nặng tâm lý trạng thái triệt tiêu phòng ngừa. Nghề nghiệp của họ ít đòi hỏi sự suy xét công tâm khách quan để cân nhắc sự cần thiết xác đáng hay không trong việc bắt giam giữ, cái có ở nghề nghiệp của các thẩm phán.

Trước mỗi sự việc còn chưa rõ ràng lý do cần bắt hay không, nếu quyền bắt thuộc cơ quan công an thì họ sẽ có ngay quan điểm là cần bắt, điều này có nguyên nhân từ tâm lý trạng thái nhận thức nghề nghiệp.

Mặt khác pháp luật quy định rằng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, có nghĩa là nếu không chứng minh được tội phạm thì họ phải chịu trách nhiệm nào đó.

Cho nên đương nhiên dễ hiểu là cơ quan điều tra sẽ có xu hướng tìm giải pháp để hoàn tất cho được trách nhiệm của mình và giải pháp chính là quyền được bắt người.

Có thể nói quyền được bắt người là ‘phép mầu’ giúp làm ‘nhẹ gánh’ đi trách nhiệm chứng minh tội phạm.

Cho nên cái trách nhiệm chứng minh tội phạm mà lại đi kèm với cái quyền được bắt người thì còn gì nữa mà khó hiểu cho việc thiếu chỗ giam giữ.

Cần sửa luật

Bộ luật tố tụng hình sự đang được rà soát sửa đổi nên quy định rằng quyền quyết định bắt giam giữ phải thuộc về tòa án, cơ quan điều tra muốn bắt người thì phải chứng minh thuyết phục được thẩm phán về sự cần thiết và đưa ra các lý do xác đáng.

Khi xem một số bộ phim hình sự của nước ngoài đôi khi chúng ta thấy trong nội dung phim nhiều người phải vất vả lắm mới xin được ‘trát’ bắt của tòa.

Sự suy xét cẩn trọng của tòa án là bờ đê bảo vệ các quyền công dân, ngăn ngừa bạo quyền, cái mà nền tư pháp hình sự của ta còn mang nặng.

Cân nhắc quyết định bắt người điều này cũng nằm trong chức năng xét xử phán quyết của tòa án. Tức là cân nhắc xem liệu đã cần thiết hay chưa trong việc tước đi một số quyền tự do của công dân.

Chúng ta cần học hỏi nước ngoài về chế định bắt người. Hai nước gần gũi với ta là Hàn Quốc và Nhật Bản đều quy định quyền bắt người thuộc về tòa án.

Hiến pháp Hàn Quốc viết rằng: Trong trường hợp bắt, giam giữ, tịch thu tài sản hoặc khám xét thì cần phải có lệnh của thẩm phán thông qua các thủ tục luật định và bất kỳ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ đều có quyền yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của việc bắt hoặc giam giữ.

Hiến pháp Nhật Bản viết rằng: Không bai bị bắt bớ mà không có sự cho phép của tòa án trong đó chỉ rõ hành vi phạm tội trừ trường hợp đương sự bị bắt quả tang.

Một thí dụ điển hình

Mới đây báo chí ồn ào đưa tin về vụ chai nước có ruồi, nhiều ý kiến chỉ ra cho thấy hành vi của người liên quan trong vụ việc ngấp nghé giữa hành vi phạm tội cưỡng đoạt tài sản và quan hệ pháp luật dân sự, nếu quyền bắt thuộc tòa án quyết định thì họ sẽ nhìn sự việc dưới hai góc độ và cân nhắc có nên bắt hay không.

Để xét cơ sở hợp lý cho việc bắt cũng không khó gì, chỉ cần làm rõ vài vấn đề: Ông Võ Văn Minh người bị bắt là chủ quán ăn uống có nhân thân rõ ràng liệu ông có bỏ trốn không? Ông sẽ bỏ trốn hay công khai đấu tranh chứng minh Tân Hiệp Phát sai và bảo vệ yêu cầu của mình?

Liệu ông có tiếp tục phạm tội không, chẳng lẽ ông lại tiếp tục đi tống tiền người khác hay đi cướp? Liệu ông Minh có tiêu hủy chứng cứ nào không, chai nước có ruồi thì đã bị cơ quan chức năng thu giữ rồi, mà nếu không thu giữ thì ông Minh cũng giữ lại để làm bằng chứng bảo vệ mình chứ đời nào ông tiêu hủy.

Như thế có thể thấy không có lý do xác đáng nào cho việc bắt giam, nhưng thực tế ông đã bị bắt. Vì lý do rằng quyền bắt người nằm trong tay cơ quan công an điều tra chứ không phải tòa án.

IV/ KIẾN NGHỊ

  1. Kính mong Chủ tịch nước là Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương quan tâm tới trình trạng bắt giam giữ hiện nay, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn nghiên cứu chế định về bắt giam giữ của các nước tiến bộ như Nhật Bản hay Hàn Quốc để học hỏi và triển khai vào Bộ luật tố tụng hình sự của ta đang được rà soát sửa đổi.
  2. Kính mong Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình là Trưởng ban soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, triển khai nghiên cứu thay đổi nội dung về chế định bắt giam giữ hiện nay, chuyển quyền ra quyết định bắt giam giữ sang cho tòa án.

Kính mong được xem xét.

Xin trân trọng cảm ơn.

Posted in Công An, Luật Pháp | Leave a Comment »

►Bạn có thể bị buộc tội “khinh miệt cảnh sát” ở Mỹ hay không?

Posted by hoangtran204 trên 04/03/2015

Quyền tự do của mỗi công dân để phản đối và thách thức các hành động của cảnh sát mà không sợ bị bắt giữ hay giam cầm chính là một trong những đặc điểm mà chúng ta dùng để phân biệt một đất nước tự do và một chế độ công an trị”.

 

TC Luật Khoa

Vi Katerina Tran

03-03-2015

Bay Area Sets Up DUI Checkpoints For Holiday Season

“Quyền tự do của mỗi công dân để phản đối và thách thức các hành động của cảnh sát mà không sợ bị bắt giữ hay giam cầm chính là một trong những đặc điểm mà chúng ta dùng để phân biệt một đất nước tự do và một chế độ công an trị” – thẩm phán Brennan, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, đã viết như vậy trong án lệ City of Houston v. Hill năm 1987.

Ở Việt Nam, các hành vi khinh miệt công an ngày càng được phản ánh nhiều hơn trên Internet và báo chí, mà vụ việc gần đây nhất là videoclip người mẫu Trang Trần chửi bới công an phường Hàng Buồm (Hà Nội) ngày 26/2/2015 vừa qua. Cô lập tức bị bắt và bị tạm giữ hình sự trong ba ngày trước khi được tại ngoại. So sánh với pháp luật Mỹ có thể gợi mở ra một hướng tranh luận cho vấn đề đang rất nóng hổi này ở Việt Nam.

Khinh miệt cảnh sát không phải là tội phạm

Khinh miệt tòa án – contempt of court – là tội hình sự ở Mỹ. Trong Bộ luật Hình sự của tiểu bang California, điều 166(a) ghi rõ những hành vi cấu thành tội khinh miệt tòa án, một tội tiểu hình theo luật của tiểu bang này. Một trong số những hành vi này là tội làm ồn, quấy nhiễu trật tự trong tòa án khi đang có phiên xử, bao gồm cả việc sử dụng ngôn ngữ để quấy rối. Vì tòa án là cơ quan tư pháp trong hệ thống tam quyền phân lập, là nơi đại diện cho sự thực thi pháp luật và do đó, tinh thần thượng tôn pháp luật cần phải được tôn trọng và bảo vệ qua việc đòi hỏi mọi người tham gia vào thủ tục tố tụng là phải đặt pháp luật – mà đại diện cho nó chính là hệ thống tư  pháp và tòa án – ở mức cao nhất.

Từ những năm của thập niên 60 ở Mỹ, bắt đầu có một cách gọi với hàm ý chế giễu việc cảnh sát Mỹ tự đặt mình ở địa vị của tòa án để xác định hành vi “miệt thị” áp đặt lên người dân khi phải trao đổi với cảnh sát. Thành ngữ  “Contempt of Cop” ra đời bằng cách ghép từ “cop” – một từ lóng dùng cho từ cảnh sát (police officer) ở Mỹ, và từ “contempt” – “khinh miệt” trong tội khinh miệt tòa án.

 Cùng một tư duy, những thành ngữ khác cùng ý niệm với “khinh miệt cảnh sát” ra đời, chẳng hạn như “disturbing the police” – gây rối lực lượng cảnh sát –  dựa theo tội “disturbing the peace” – gây rối trật tự công cộng. Mang nặng tính chế giễu hơn là “flunking the attitude test” – “thái độ không đủ điểm” hay “P.O.P”, viết tắt từ “Pissing Off the Police” – “chọc điên cảnh sát”.

Trong những bài viết hay các bài nghiên cứu về hành vi sai phạm của cảnh sát ở Mỹ (police misconduct), tội “khinh miệt cảnh sát” thường xuyên được mang ra để chỉ trích nhân viên công vụ ở Mỹ và hay được dùng làm kết luận một cách châm biếm rằng, tội này mới là tội ác “nghiêm trọng” nhất mà một bị can có thể phạm phải khi đối mặt với cảnh sát. Từ những định nghĩa này và các án lệ có liên quan, “khinh miệt cảnh sát” không phải là một tội hình sự để có thể dẫn đến việc giam giữ và bỏ tù công dân ở Hoa Kỳ.

Phạm vi “ngôn từ gây hấn” dần bị thu hẹp

Tu chính án thứ Nhất bảo vệ tự do ngôn luận của tất cả mọi người, trong mọi trường hợp, kể cả bị can của một vụ án.

Quyền tự do ngôn luận bảo vệ cả những ngôn từ, cho dù có dung tục và lạm dụng, nhưng nếu không có ý đồ đe dọa, (non-threatening verbal abuse), thì cho dù có sử dụng đối với nhân viên cảnh sát vẫn không phải là hành vi cấu thành tội hình sự ở Mỹ.

Cho dù hệ thống tòa án Mỹ có những quan điểm khác nhau về định nghĩa của những ngôn từ được bảo vệ (protected speech) của Tu chính án thứ Nhất, định nghĩa về “ngôn từ gây hấn” (fighting words) vẫn là một trong những chuẩn mực dùng để xem xét tính hợp hiến của những đạo luật hay các bộ luật giới hạn sự tự do ngôn luận, ngay cả những trường hợp có liên quan đến nhân viên công vụ. Điều đáng chú ý là từ năm 1942, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã bắt đầu có định nghĩa về “ngôn từ gây hấn” theo phán quyết của Chaplinsky v. New Hampshire 315 U.S. 568 (1942).

“Có một điều đã được hiểu rất rõ ràng đó là quyền tự do ngôn luận là không tuyệt đối. Có những thể loại của ngôn từ đã được định nghĩa và khoanh vùng để ngăn cấm và trừng phạt chúng mà không cần phải xem xét về tính hợp hiến. Đó là những ngôn từ vô sỉ, khiêu dâm, báng bổ, mạ lỵ và sỉ nhục, hay còn là ngôn từ “gây hấn” – những ngôn từ mà ngay khi cất tiếng chỉ có duy nhất một ý niệm là dùng để gây thương tổn hoặc kích động việc gây rối an ninh, trật tự. Những ngôn từ này vốn đã được nhìn nhận là không có bất kỳ đóng góp gì cho thể hiện tư tưởng, và cũng không có giá trị xã hội đáng kể, cho nên sự thật là bất kỳ lợi ích gì mà những ngôn từ này mang lại cũng không thể so sánh với tầm quan trọng của việc giữ gìn kỷ cương và luân thường trong xã hội”.

Kể từ đó, định nghĩa về “ngôn từ gây hấn” đã bị thu hẹp hơn rất nhiều trong vòng 60 năm qua. Án lệ quan trọng nhất cho định nghĩa ngôn từ gây hấn sau Chaplinsky có thể nói đến là án lệ Cohen v. California (1971) 403 U.S. 15.

Để phản đối chế độ quân dịch trong cuộc chiến Việt Nam, Paul Cohen đã mặc một chiếc áo với dòng chữ “Fuck the Draft” vào một tòa án ở California. Paul Cohen đã bị bắt và bị kết tội theo một đạo luật hình sự của tiểu bang, cấm đoán bất kỳ hành vi khiếm nhã nào để có thể gây mất trật tự công cộng một cách cố tình và có ác ý.

Tòa án California dựa theo phán quyết Chaplinsky để đưa ra kết luận chiếc áo của Cohen với dòng chữ trên đã cấu thành “ngôn từ gây hấn”. Tuy nhiên, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã lật lại bản án của Cohen và đưa ra một định nghĩa thu hẹp cho “ngôn từ gây hấn”. Theo đó, phần phán quyết được viết bởi thẩm phán John Paul Harlan đã đòi hỏi “ngôn từ gây hấn” chỉ có thể là những câu nói xúc phạm hay sỉ nhục nhắm đến một cá nhân một cách rõ ràng và trực tiếp bởi vì “một câu nói thô tục đối với một người lại có thể là những giai điệu thơ ca đối với một người khác”.

Cảnh sát không có quyền để giới hạn ngôn luận của người dân ngay cả khi đang thi hành công vụ

Một năm sau phán quyết của án lệ Cohen, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tiếp tục ra phán quyết Gooding v. Wilson (1972) 405 U.S. 518 và đã lật lại bản án hình sự của một công dân tiểu bang Georgia.

Bị cáo James Wilson đã bị bắt và bị buộc tội gây rối trật tự công cộng khi anh ta đã nhục mạ và chửi bới một nhân viên cảnh sát cộng với một câu hăm dọa. Nguyên văn câu nói của Wilson là “White son of a bitch, I’ll kill you”, và “You son of a bitch, I’ll choke you to death”, tạm dịch là: “Thằng chó da trắng, tao sẽ giết mày” và “Đồ chó đẻ, tao sẽ siết cổ mày đến chết”.

H1

Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã cho rằng điều luật của tiểu bang Georgia nhằm hình sự hóa hành vi của Wilson đã vi phạm Hiến pháp Hoa Kỳ vì nó trừng phạt cả những ngôn từ không nằm trong định nghĩa “ngôn từ gây hấn” của án lệ Chaplinsky. Ở đây có thể thấy rằng, khi một điều luật của một bộ luật tiểu bang, như luật của Georgia trong vụ án Gooding v. Wilson, bị phán xét là vi hiến bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ thì nó không còn giá trị pháp lý để buộc tội người dân và bản án phải bị hủy bỏ.

Tương tự, vào năm 1974, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ tiếp tục ra phán quyết Lewis v. City of New Orleans (1974) 415 U.S. 130 (1974) lật lại bản án buộc tội bà Mallie Lewis.

Bà Lewis đã bị bắt theo một điều luật của thành phố dùng để hình sự hóa hành vi “sử dụng ngôn từ thô tục và lăng nhục nhân viên cảnh sát” sau khi đã chửi bới người cảnh sát viên đòi hỏi chồng của bà xuất trình bằng lái xe.

Thẩm phán Brennan của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã viết trong phán quyết của tòa, là điều luật này của thành phố New Orleans vi phạm quyền tự do ngôn luận nằm trong Tu chính án thứ Nhất bởi vì “ngôn từ lăng nhục theo định nghĩa của điều luật này bao gồm cả những từ ngữ mà khi nói ra không gây ra thương tổn hay ngay lập tức kích động một hành vi gây mất an ninh, trật tự”.

Năm 1987, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ một lần nữa tuyên bố một điều luật hình sự hóa hành vi cản trở nhân viên công lực chấp pháp của thành phố Houston, tiểu bang Texas, là vi hiến trong án lệnh City of Houston v. Hill (1987) 482 U.S. 451.

Raymond Wayne Hill đã bị bắt vì vi phạm điều luật của thành phố Houston, theo đó một người chống đối, lạm dụng, xâm hại, hay gây rối nhân viên cảnh sát khi đang làm nhiệm vụ sẽ bị buộc tội hình sự. Hill đã bị bắt giữ sau khi anh ta lớn tiếng mắng nhân viên cảnh sát đang chất vấn một người bạn của anh ta. Hill đã mắng nhân viên cảnh sát với câu nói: “Sao mày không giỏi đi kiếm chuyện với một đứa nào đồng cân đồng lạng với mày ấy?

Thành phố Houston đã lý luận cho tính hợp hiến của điều luật thành phố rằng nó không nhắm vào việc giới hạn quyền tự do ngôn luận của người dân mà đây là một điều luật trừng trị những hành vi phạm pháp luật. Thẩm phán Brennan của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã bác bỏ lập luận này và đã viết phán quyết của tòa là điều luật này đã vi hiến vì nó giới hạn quyền tự do sử dụng ngôn từ để phản đối và thách thức hành động của cảnh sát.

Ngôn ngữ hình thể cũng có thể bị ghép vào “ngôn từ gây hấn”. Vào năm 2013, Tòa Phúc thẩm Liên bang Địa phận Số 2 (U.S. Court of Appeals for the 2nd District) ở New York đã ra phán quyết trong vụ án Swartz v. Insogna và quyết định rằng hành vi đưa ngón tay giữa với cảnh sát (“ngón tay thối” – một hành động dung tục và khiếm nhã theo văn hóa Mỹ) không đủ để cấu thành một hành động quấy rối trật tự công cộng hay một lý do hợp lý cho việc yêu cầu dừng phương tiện giao thông để hợp tác với cảnh sát. Vì vậy, việc bắt giữ Swartz sau đó là một hành động lạm quyền của người thi hành công vụ.

Bởi vì quyền thẩm định tính hợp hiến của một điều luật hay đạo luật trong hệ thống tam quyền phân lập ở Hoa Kỳ nằm trong tay ngành tư pháp. Do đó, khi nhánh lập pháp ban hành một điều luật, người dân có quyền yêu cầu tòa án quyết định tính hợp hiến của điều luật dùng để buộc tội họ.

Tuy các tòa án cấp dưới có những phán quyết khác nhau về “ngôn từ gây hấn” khi sử dụng với nhân viên công quyền, các án lệ của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ trong vấn đề này cho đến ngày hôm nay có lẽ được diễn đạt tốt nhất qua câu chữ của thẩm phán Brennan trong án lệnh City of Houston v. Hill:

Quyền tự do của mỗi công dân để phản đối và thách thức các hành động của cảnh sát mà không sợ bị bắt giữ hay giam cầm chính là một trong những đặc điểm mà chúng ta dùng để phân biệt một đất nước tự do và một chế độ công an trị”.

Tài liệu tham khảo:

Fighting words

Wikipedia, mục từ Contemp of cop

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Vì sao báo VN im tiếng trong vụ ‘chiếc ghế của nguyên Tổng Bí thư’?

Posted by hoangtran204 trên 04/03/2015

VOA

02-03-2015

H1Truyền thông trong nước hoàn toàn im lặng sau khi dư luận ‘dậy sóng’ vì hình ảnh nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên chiếc ghế to, giống ngai vàng, trong khi từng đồng loạt vào cuộc phanh phui tài sản của nguyên tổng thanh tra Trần Văn Truyền.

Sau khi tờ Tiền Phong gỡ bỏ bức ảnh gây ‘sốt’ các trang mạng xã hội, trong đó người từng đứng đầu đảng Cộng sản Việt Nam suốt 10 năm trời, ngồi trên chiếc ghế chạm trổ đầu rồng màu vàng, đón tiếp khách tới thăm, báo chí Việt Nam không có bất kỳ bài viết nào khác về điều mà nhiều người nói là “sự xa hoa” của một cựu quan chức nhà nước.

Và hiện nhiều người sử dụng mạng xã hội Việt Nam đang so sánh việc đưa tin về vụ mà nhiều người nói là “chiếc ghế của nguyên tổng bí thư” với vụ việc của ông Truyền.

Năm ngoái, sau khi báo Người cao tuổi khai mào cuộc điều tra, hàng loạt những cái tít như “Sự thật về căn biệt thự ‘khủng’ của ông Trần Văn Truyền”, “Tổng ‘của nổi’ của ông Trần Văn Truyền trị giá bao nhiêu?” hay “Ông Trần Văn Truyền lấy tiền đâu mua nhà, biệt thự?” đã xuất hiện liên tục và dày đặc trên báo chí.

Nói chuyện với VOA Việt Ngữ với điều kiện không nêu danh tính, một người có chức vụ trong ban biên tập của một tờ báo ở Việt Nam cho biết rằng ông Mạnh “quá cao” nên không báo nào dám mạo hiểm như vụ ông Truyền. Nhà báo này nói:

“Vụ việc đụng trần rồi. Làm sao ai có thể nói được. Dù báo chí có làm thì người ta cũng sẽ cản. Ở đây rõ ràng đã có một sự kiểm duyệt rồi”.

Sau khi báo chí đồng loạt vào cuộc và gây sức ép, ông Truyền đã phải “xin lỗi đảng, nhân dân” và đã phải trả lại một số ngôi nhà.

Trái ngược với vụ ông Truyền, nếu tìm kiếm tin tức về chiếc ghế và ngôi nhà với nội thất tông màu vàng của ông Nông Đức Mạnh, thì chỉ thấy các bài viết trên các trang web hải ngoại.

Tiến sỹ Nguyễn Quang A, một người quan sát tình hình chính sự trong nước, nói ông tin rằng truyền thông ở Việt Nam “đã được lệnh không được nói gì về cái chuyện đấy nữa”.

“Báo chí chính thống của Việt Nam, dù có tới 700 cơ quan báo chí, nhưng mà thực sự có một ông tổng biên tập, đó là ông Đảng. Cái ông đó thì cũng lại chỉ nằm ở trong tay một hai ông mà thôi, tức là ông tổng bí thư và ông trưởng ban tuyên giáo. Chuyện đó nó được điều khiển như thế nào là ở cái ông tổng biên tập đó. Đối với trường hợp ông Trần Văn Truyền chẳng hạn, thì phản ánh một chuyện khác hơn một chút, tức là đấy là một cuộc đấu đá nội bộ giữa các phe với nhau, và báo chí đã được bật đèn xanh, cho làm cái chuyện đó. Tôi nghĩ rằng ở một nền báo chí tự do, và 700 tờ báo là 700 tờ báo thật, tức là có 700 ông tổng biên tập độc lập, thì tôi nghĩ rằng cái chuyện cái ghế, cái nhà của ông Nông Đức Mạnh nó cũng sẽ được kéo dài hơn, nhưng mà việc kéo dài đó cũng vẫn tuân theo một quy luật tức là nó sẽ chìm dần”.

Ông A cũng nói thêm rằng “báo chí ở bên ngoài không thể tiếp cận được các thông tin gì hơn”, vì thế vụ việc này “diễn ra một cách rất ngắn ngủi” và sẽ “chìm xuồng”.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc với Nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh để hỏi ý kiến của ông về những phản ứng của dư luận thời gian qua.

Ông Nông Đức Mạnh từng làm Chủ tịch Quốc hội Việt Nam từ năm 1992 tới năm 2001, và sau đó, đảm trách vị trí Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 tới năm 2011.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Tôi có hai ước mơ – Tự diễn biến

Posted by hoangtran204 trên 04/03/2015

 

Nguyễn Trung Chính

03-03-2015

Đầu năm nay, báo chí vô tình tiết lộ hình ảnh phòng khách vua chúa của TBT Nông Đức Mạnh để sau đó Tuyên giáo phải ra lệnh báo chí gỡ ảnh xuống nhằm bảo vệ sự trong sáng của Đảng.

Ông Nông Đức Mạnh là cha đẻ của phong trào buộc đảng viên “Học tập làm theo gương Bác cần kiệm, lìêm chính, chí công, vô tư”.

Tưởng rằng, chỉ một Ủy viên Trung ương, Bí Thư đảng Ủy Thừa Thiên Huế Hồ Xuân Mãn, người được chứng nhận xuất sắc học tập “Làm theo gương Bác”, bị nhóm cựu chiến binh Phong Điền, Huế tố cáo khai man lý lịch, nay lại lòi ra việc ông Nông Đức Mạnh “cần kiệm, lìêm chính, chí công, vô tư” theo kiểu phòng khách vua chúa vừa bị đám đàn em vô tình phanh phui.

Trước đó hơn một tuần, ngày 10/02, hai tàu cá của ngư dân Bình Định đánh bắt trong vùng biển Hoàng Sa đã bị tàu Trung Quốc rượt chạy đâm vào đá ngầm và chìm, ngư dân chơi vơi trên thuyền thúng suốt đêm nhưng tàu Trung Quốc không thèm cứu hộ. Đến sáng 11, tàu cứu hộ Việt Nam ra đến nơi liền bị tàu chiến, kiểm ngư cùng máy bay Trung Quốc quần thảo ngăn chặn, đe dọa. May mà lực lượng cứu hộ đã liều mạng mới cứu được 11 ngư dân đưa vào đất liền bình an, nhưng ngư dân đã mất hết tài sản.

Thế mà ngày hôm sau, 11/2, trong cuộc điện đàm với Tập Cận Bình, người lãnh đạo cao nhất của đảng lãnh đạo, ông Nguyễn Phú Trọng, quên hẳn những gì vừa xảy ra đối với ngư dân đánh cá ở Hoàng Sa, quên hẳn những gì đang xảy ra ở Trường Sa, chỉ dám lập lại lời người phát ngôn Bộ ngoại giao: “giải quyết thỏa đáng các vấn đề trên Biển Đông theo tinh thần các thỏa thuận đã đạt được và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế “.

Người ta tự hỏi tinh thần các thỏa thuận đã đạt được có cho phép Trung Quốc cấm ngư dân đánh cá ở vùng biển Hoàng Sa của mình, hoặc cho phép Trung Quốc ngang nhiên xây dựng trên các đảo Trường Sa của Việt Nam hay không mà ông Nguyễn Phú Trọng lại lờ đi, không dám thốt lời phản đối trực diện khi được phép điện thoại với họ Tập.

Cùng với tất cả những tệ nạn đã và đang xảy ra cho xã hội, chúng ta khẳng định lại, không sai lầm, về chân dung của cái đảng cộng sản đang áp đặt chế độ độc tài toàn trị cho 90 triệu người dân Việt Nam hiện nay. Đó là: trong thì dối trá với dân, ngoài thì hèn hạ trước Trung Quốc để mong chủ nghĩa xã hội Mác-Lê ở Việt Nam đứng vững nhằm tiếp tục vơ vét không chừa một thứ gì cho dân.

Chân dung này đã được các phương tiện truyền thông, ngoài vòng kiềm tỏa của đảng, nói đến quá nhiều nhưng vẫn cứ phải luôn nhắc lại để cho từng lớp đảng viên nhìn thấy mà tự xấu hổ, mà tự chuyển hóa.

Đứng trước hòn đá tảng đang ngăn bước tiến dân tộc.

Khác với 40 năm trước kia, đảng cộng sản hôm nay đang bị phân hóa ngày càng công khai. Đứng trước sự phân hóa này, những người không chấp nhận tình trạng độc tài độc đảng, đã làm cho đất nước cứ như câu người ta hay mỉa mai “Con cò lặn lội bên bờ đại dương”, có một số thái độ khác nhau:

– Sự phân hóa chỉ là cuội .

– Sự phân hóa có thể dựng lên một nhân vật độc nhất thu tóm hết quyền lực để sau đó làm tay sai gọn cho Tàu.

– Sự phân hóa là một thực tế. Làm sao tác động lên thực tế này theo chiều tốt đẹp cho đất nước.

Trước khi tiếp tục bài viết, người viết muốn bộc bạch suy tư riêng của mình, những ai thấy xốn tai thì xin lỗi trước: Đảng bất luận tên gì, chủ nghĩa gì, hay bất cứ cá nhân nào mang được phúc lợi cho đất nước và dân tộc đều đáng được hưởng ứng.

Thời cả nước đứng lên chống thực dân, Đảng cộng sản, sau năm 1951 trá hình thành đảng Lao Động, đã có công chỉ huy cuộc kháng chiến cho đến năm 1954, nhưng sau khi lấy lại tên là đảng Cộng sản đã gây quá nhiều tội ác để ngày nay chỉ còn là một tập đoàn cha con nối đuôi nhau thống trị và tham nhũng.

Trước tình trạng một đảng như thế, vì quyền lợi đất nước và dân tộc, hoặc phải dẹp nó đi, nếu có sức Phù đổng gạt tất cả xuống đất ngay tức khắc, vì càng dây dưa thì dân tộc chỉ có thiệt.

Hoặc nếu không có sức Phù Đổng, thì có một cách làm khác như một bộ phận không nhỏ đảng viên, trí thức trong nước đang làm hiện nay, nhằm thúc đẩy cái đảng này cải tà quy chính để đi vào con đường ích nước lợi dân.

Nếu cho rằng ước muốn này là cuội, là cò mồi thì đó là một đức tin, không có gì phải bàn đến, nhưng nếu cho rằng đây là ảo tưởng thì đó là điều nên tránh vì đến nay, chưa ai thành công để có bài học chung cho mọi người.

Nếu các đảng viên, trí thức trong nước thành công trong việc thúc đẩy như thế thì dựa trên tinh thần phúc lành của Chúa, của Phật, của quyền lợi của đất nước, tôi nghĩ rằng rất đáng hỗ trợ. Con người không phải là vật vô tri, cái ác cái thiện luôn đan kẽ nhau, khả năng cảm hóa là đức tính của con người và đó là khoa học, chúng ta không thể phủ nhận.

Tư tưởng và tư duy chính trị

Xã hội nào cũng có hai loại người:

1 – Những người cũng ít nhiều biết đến điều hay lẽ phải, nhưng chỉ lo thu vén cho mình, cho gia đình mình, không làm hại ai, luôn luôn cam chịu, an phận, cùng lắm chỉ than trời đất, thần thánh. Người ta gọi họ là đa số thầm lặng, và quả thật họ đa số. Ở những nước độc tài như Việt Nam, dù có muốn họ cũng không thể phát biểu ý kiến của mình, trái với những nước văn minh dân chủ, loại người này có lá phiếu để biểu đạt ý muốn của mình. Lá phiếu đa số chưa chắc đã là đúng nhưng lại có nhiều trọng lượng, buộc các đảng tranh quyền phải đáp ứng nguyện vọng của họ, nếu muốn cầm quyền.

2 – Những người hiểu biết hơn, có suy nghĩ cao hơn, không chấp nhận bất bình đẳng, độc tài, và nhất là sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng để đấu tranh vì quyền lợi chung. Ở những nước độc tài như Việt Nam, họ thường chịu nhiều thiệt hại cá nhân để giữ sự khẳng khái của mình. Đây là những người đầu tàu đưa xã hội tiến lên. Họ là sỹ phu, họ xứng đáng được kính trọng.

Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, chúng ta đang trông cậy vào loại người thứ hai này, họ đang tạo thời cơ, và khi thời cơ đã đến, chính họ là những người huy động tất cả đa số thầm lặng đứng lên cùng họ đánh đổ độc tài, thiết lập tự do dân chủ như tất cả các xã hội văn minh, giàu có khác.

Quan niệm chung hiện nay ở các nước dân chủ là quan niệm win-win, hai bên đều thắng, trái với quan niệm cá lớn nuốt cá bé đã lỗi thời vì nó là mầm móng của tất cả sự bất ổn.

Ông Khrouchtchev là cha đẻ của ” Sống chung hòa bình”, đề nghị tại đại hội lần thứ 20 của đảng cộng sản Liên Xô ngày 14 tháng hai 1956, khi thấy rằng không thể áp đặt xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới bằng vũ lực. Không đợi đến thời Gorbachev, có thể nói sự sụp đổ của Cộng sản bắt đầu từ đây. Nó sụp đổ vì qua “Sống chung hòa bình”, nó tự phơi bày ra bộ mặt mất nhân bản của chính nó.

Đến một lúc nào đó, khi không ai nuốt được đối phương dễ dàng thì thương lượng, nhượng bộ là điều tất yếu:

Mỹ và Bắc Việt cuối cùng rồi cũng kéo nhau ra thủ đô ánh sáng để ký hiệp định Paris . Đàng cộng sản Việt Nam không thể dẹp mạng truyền thông xã hội rồi cuối cùng ông Nguyễn Tấn Dũng phải tuyên bố phải chung sống với nó.

Kiên định tư tưởng chứng tỏ mình không bị lay động, vẫn trung thành với tư tưởng của mình. Về phương diện cá nhân thì sự trung kiên này đáng trân trọng, nhưng khi nhìn về lợi ích toàn xã hội thì sự kiên định lập trường của cá nhân đôi khi rất tác hại. Chỉ cần nhìn các đảng viên cộng sản bịt mắt che tai, bảo vệ đảng đến cùng vì kiên định lập trường bất chấp tác hại của nó trên toàn dân tộc cũng đáng để chúng ta suy nghĩ.

Về chính trị, nếu chỉ kiên định thì không biết nắm thời cơ để chủ động, nên cứ bị động. Trong thời gian qua, những kiến nghị 72, Thư ngỏ 61, là những sáng kiến chủ động, khiến chính quyền lúng túng đối phó, trong khi lấy chữ ký vận động cho Ba Sàm, Bọ Lập là việc làm cần thiết nhưng ở thế bị động.  

Trở lại sự phân hóa trong đảng cộng sản.

Hiện nay giữa những anh em đấu tranh chống độc tài, chống lại đường lối Mác Lê mà tôi quen biết có vài luồng suy nghĩ:

1 – Phải hình thành đảng đối lập, hoặc phong trào đối lập với đảng cầm quyền để chiến tuyến rõ ràng có lợi cho việc tranh đấu.

2 – Không được tin gì vào những hứa hẹn của những người lãnh đạo cộng sản hiện nay và phải dứt khoát như thế.

3 – Trong tình trạng hiện nay, không tin được ai cả, nhưng có mặt nào tiến bộ hợp với đòi hỏi xóa bỏ độc tài độc đảng thì nên góp tay đẩy tới.

Về suy nghĩ 1 và 2, tôi không theo nhưng không bài bác, vì:

Lý do thứ nhất đã nói ở trên là chưa ai thành công trong đấu tranh xóa bỏ độc tài nên cần thận trọng, không thể đưa kết luận đúng sai về một con đường nào cả (trừ bạo động và bất bạo động là một vấn đề khác).

Lý do thứ hai là nếu có chiến tuyến thì không bao giờ có chiến tuyến cố định vì đánh nhau cho lắm cuối cùng cũng lôi nhau ra ký hiệp định Paris năm 1973 như đã nói ở trên.

Lý do thứ ba là tôi tin vào con người.

Phải chấp nhận rằng con người có khả năng làm điều ác cũng như điều thiện và có khả năng hóa thiện. Con vật như Trư Bát Giới còn theo được Tam Tạng đi thỉnh kinh huống gì con người. Và chúng ta đã có chứng cứ: một số người cộng sản đã từ bỏ đảng, một số cán bộ cao cấp quân đội yêu cầu từ bỏ đường lối Mác-Lê, quân đội bảo vệ đất nước chứ không bảo vệ đảng phái, chúng ta có cụ Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, vừa được 100 tuổi, người kiên trì phê phán thẳng thừng đường lối phá dân hại nước của đảng cộng sản. Đọc hồi ký Đèn Cù Trần Đĩnh, chúng ta thấy bao nhiêu người cộng sản kiên cường bất khuất phản kháng đảng. Trường hợp gần nhất là chúng ta có Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, một người được ngành công an đào tạo chính quy, bài bản, đã thay đổi quan điểm và đang bị bắt từ gần tám tháng nay…

Vì thế tôi chọn suy nghĩ thứ 3 và xin nói thêm lý do:

Đầu năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đọc thông điệp đầu năm được một số người đánh giá tốt. Lúc đó tôi đã viết bài “Xin Thủ Tướng cho tôi tin một lần” có nghĩa là tôi không tin nhưng vẫn để cửa mở. Sau đó một tháng, sau khi tìm hiểu tôi lại viết bài “Thưa Thủ Tướng, tôi không bán cái” có nghĩa là ông nói thì chờ ông làm, tôi vẫn tiếp tục đấu tranh. Hai bài này đã đăng trên trang mạng Bauxite Việt Nam và Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự (hiện đổi tên thành Dân Quyền).

Năm 2015, ông không đọc thông điệp nữa (?), nhưng từ khi Trung Quốc kéo dàn khoan HD981 vào vùng biển Việt Nam, ông là lãnh đạo duy nhất có những tuyên bố dứt khoát, nêu tên Trung Quốc và được nhiều người đón nhận hơn nữa, trong khi ông Nguyễn Phú Trọng lập bập mở miệng mắc quai, ông Trương Tấn Sang kiểu “đàn kêu tích tịch tình tang”, ông Nguyễn Sinh Hùng, còn tệ hại hơn nữa, ngăn chặn quốc hội ra thông điệp phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền.

Từ đây, sự phân hóa trong đảng ngày càng hiện rõ, không thể nói giữa đảng và chính phủ có sự thống nhất tư tưởng, không phe nào có thể diệt phe nào lập tức như đã xảy ra thời Trần Xuân Bách.

Thử hình dung một tình huống, nếu ông Dũng thật tâm thiết lập thể chế dân chủ: Ngày mai ông Dũng tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa độc tài độc đảng, thiết lập dân chủ, thả những người bị giam giữ vì bất đồng chính kiến, cắt cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn bám theo kinh tế thị trường… Trong trường hợp đó, hoặc ông Dũng bị phe quân đội, công an mà Hiến Pháp buộc phải bảo vệ đảng, cùng Nguyễn Phú Trọng đảo chánh ngay ông Dũng, hoặc ông Dũng thắng. Giả thuyết ông Dũng thắng khó mà xảy ra vì quyền lực chưa tập trung vào tay ông Dũng.

Ai cũng hiểu rằng một người làm chính trị, chưa thâu tóm được quyền lực trong tay không thể làm như Tổng thống Thein Sein ở Miến điện được. Vì thế mà trong một thời gian, phe ủng hộ Thủ tướng đã có nhiều bài viết phân tích tại sao ý muốn đổi mới của cố Thủ tướng Võ văn Kiệt thất bại, thậm chí họ còn phê phán rằng bộ tham mưu của Võ Văn Kiệt không biết làm chính trị, đưa đầu ra nhanh quá cho cá sấu nó quặp.

Ông Dũng có thật tâm khi tuyên bố tại Viện Koerber (Berlin, CHLB Đức) ngày 15/10/2014 rằng “Chúng tôi tin rằng nhân quyền, tự do, dân chủ là xu hướng không thể đảo ngược và là đòi hỏi khách quan của xã hội loài người.” thì chỉ có ông Dũng mới biết. Dù sao tất cả mọi người cũng sẽ biết sau đại hội đảng CS XII vào đầu năm 2016, nghĩa là còn một năm nữa thôi. Dối hay thật rồi sẽ được phơi bày ra hết.

Có người nói rằng, khi ông Dũng nắm hết quyền lực sẽ rất nguy hiểm vì Tàu chỉ cần nắm thóp một người, thay vì nhiều người như hiện nay. Điều này cũng có khả năng xảy ra, nhưng khi đó cuộc đấu tranh của chúng ta cũng dễ hơn vì đối thủ chúng ta chỉ là một người thay vì nhiều người, nhất là người đó lại lộ ra tất cả gian dối khi tuyên bố mạnh mẽ không để nhà tôi là nhà Trung Quốc, biển tôi thành ao nhà Trung Quốc .  

Cũng có người cho rằng cứ để cho ông Dũng “đi tới”, đừng kiến nghị, tuyên bố có thể chèn chân ông, tạo cớ cho thế lực bảo thủ đàn áp.

Nói như thế là quá chắc ông Dũng là “Phe ta”, tức là phe đòi bỏ chủ nghĩa Mác-Lê, đòi thiết lập tự do dân chủ, đòi cắt cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” đã làm cho đất nước cứ tụt hậu về kinh tế ? Ai bảo đảm điều này?

Tôi có hai ước mơ  

– Một thế chủ động hiện nay có thể làm được là các đảng viên “Phe ta” có thể định hình bằng một tuyên bố công khai những gì mình ước mong cho một đảng chân chính, cho đất nước và tuyên bố quyết tâm đấu tranh để thực hiện nó, nếu vì thế mà bị khai trừ khỏi đảng cũng cương quyết chấp nhận vì tiền đồ của dân tộc.

Trước thềm đại hội 12 là lúc phải phân rõ trắng đen, phân rõ anh vào   đảng chỉ là để trục lợi hay anh vào đảng với lý tưởng vì dân vì nước trong khi cái đảng hiện nay nó chỉ vì nó và vì 4 tốt, 16 chữ vàng. Thời cơ chỉ còn đúng một năm.

Trong bài “ĐẢNG TA, NHÂN DÂN TA, ĐỒNG CHÍ TA” đăng trên một số trang mạng, ông BÙI MINH QUỐC đã chọn lọc rõ ràng ai là Ta ai là Nó.

Nếu sau đại hội 12, đảng vẫn tiếp tục Mác-Lê thi ít nhất tuyên bố trên cũng là cơ sở để, nếu cần, thì ta có đảng ta, phong trào ta để tiếp tục đấu tranh với đảng nó. Huy động công khai nhân dân ta đấu tranh với đảng viên trục lợi, theo Tàu khựa ở cái đảng chúng nó.

– Ước mong thứ hai là tầng lớp trí thức ngoài đảng, hoặc đã ra khỏi đảng, trong nước cũng như hải ngoại, nhận diện rõ ai là đồng minh, cùng đi chung một đoạn đường, để ủng hộ, hỗ trợ những đảng viên đang đấu tranh cho một bước thắng lợi mới, trong khi vẫn tiếp tục phương cách đấu tranh riêng của mình, giống như chúng ta từng hỗ trợ cuộc đấu tranh ở Hồng Kông, Miến Điện, Trung Quốc…

Chưa bao giờ đảng cộng sản bị phân hóa giữa hai đường lối thân Tàu nhiều và thân Tàu ít như hiện nay. Đã trở thành công khai và hai phe đang tiếp tục giữ miếng, phòng thủ, đặt quân cờ. Không ai biết trước những biến động nào có thể xảy ra.

Đây là lúc chúng ta cần chủ động hơn, khẳng định thái độ rõ hơn, mạnh hơn, chất lượng hơn trong cuộc tranh đấu chống độc tài, loại bỏ chủ nghĩa giáo điều Mác- Lê, cùng toàn dân bảo vệ đất nước. Nếu chúng ta không có những hành động dứt khoát thì sẽ như thường lệ, đảng nó sẽ thương lượng, dàn xếp với nhau trên đầu trên cổ người dân.

Nếu không có đủ đức tin, rộng lượng để hổ trợ những tiếng nói đang nổi lên đây đó gần với tư duy của chúng ta thì hãy giúp đảng nó đi đến tột cùng của sự phân hóa.

nguon: anhbasam

——————–

 

AFR Dân Nguyễn

04-03-2015

Với Bản công bố kết quả điều tra của Ủy ban kiểm tra trung ương đảng (UBKTTW), vụ đồng chí Trần văn Truyền tạm coi như khép lại. Đảng thở phào. Dù đc Truyền “ăn vụng không biết chùi mép”, nhưng nếu không bị Người cao tuổi “bới móc”, đc Truyền đâu có cơ hội nổi tai tiếng đến vậy. “Con dại cái mang”, đảng cắn răng vì thiên hạ chửi “nó” thì ít, chửi “cha” nó thì nhiều.

Đầu xuân  năm nào chẳng thế, vẫn theo lệ thường, các đồng chí lãnh đạo đảng, nhà nước, quốc hội đi khắp nơi chúc tết. Chúc Dân an khang thịnh vượng.

Năm nay, năm dê chứ đâu phải năm khỉ… gió, mà tự dưng bên đoàn, “cánh tay phải”, “lực lượng dự bị của đảng” lại tập hợp từ “đương” cho tới “nguyên” những người đứng đầu cái lực lượng tiên phong đó đi chúc tết các “nguyên” tổng bí thư (TBT). Đó có thể là một “sáng kiến” hay của ai đó. Thay mặt thế hệ trẻ VN, các đương và cả nguyên bí thư của “cánh tay phải” của đảng chúc tết các nguyên TBT những gì nhỉ? Nếu lời chúc là “an khang thịnh vượng”, e thừa. Vì với những gì mà các nguyên TBT đang xài (chỉ là những gì thuộc bề nổi) đã trên cả thịnh vượng rồi.

Nếu như đc Truyền đã từng phải vuốt mặt không kịp với sự chỉ trích của công luận (cả báo lề đảng nữa); nếu như đc Truyền phải trần tình về cái biệt thự khủng, chềnh ềnh trước mắt bàn dân, có được do ông anh nhận hay cô em kết nghĩa cho tiền mà có, hơn nữa còn phải làm lụng “thối cả móng tay”…thì đc nguyên TBT- một “cựu hoàng” của “vua tập thể” chẳng phải thanh minh gì về cái gia tài mình đang sở hữu. Nếu như cơ quan ngôn luận của Người cao tuổi chỉ giúp thiên hạ thấy được cái bề ngoài của đc Truyền, thì báo TP, cơ quan phát ngôn của “cánh tay phải” của đảng lại cho thiên hạ thấy toàn cảnh bên trong gia tài của cựu hoàng. Những thứ mà ngài đang xài còn trên cả xa xỉ. Nội thất cho thấy chẳng khác cung điện của vua chúa thời phục hưng bên trời Tây. Huara báo TP. Đúng là hậu sinh khả úy, làm việc lớn hơn cả Người cao tuổi.

Thiên hạ dĩ nhiên giờ quay sang ném đá cựu hoàng NĐM. Kẻ đang cười ruồi vào ngài nguyên TBT, không ai khác là đc Tổng thanh tra Truyền (TTTT). Dù biết đảng đã “giơ cao đánh khẽ”, nhưng đc cựu TTT chắc cũng hận bầm gan cái tổ chức mà đồng chí từng tuyên thệ dưới cờ của nó, nhất là hả hê bởi cái con người đáng ghét kia, kẻ từng chỉ trích đc mới đây, giờ đang bị “phơi áo”. Xét về “tư tưởng cách mạng”, đc Truyền chắc được điểm số cao hơn. Còn về “đạo đức, lối sống”, đc Truyền lại càng có quyền vỗ ngực mà lên mặt trước ngài cựu hoàng “răng chắc…” kia nhiều lần về hạnh kiểm của mình…

Về vụ đc Truyền, đảng vừa có xử lý thích đáng. “Thích” cho đc Truyền. “Đáng” cho Người cao tuổi. Dù không bị “bắt khẩn cấp” hay “bắt quả tang”, nhưng Tổng BT Kim Quốc Hoa, nếu không bị “nhập kho”, chí ít cũng bị tước giấy phép hành nghề. Mất cần câu cơm còn là may. Ngồi bóc mấy cuốn lịch trong nhà đá mới là “hận Đồ Bàn”. Tung ra “chưởng” này, đảng không chỉ trả đòn thù, mà còn dằn mặt những kẻ hay tổ chức nào sau này dám “chọc gậy bánh xe”, hay là “chõ mũi” vào “chuyện trong nhà” của đảng. Đừng có “phòng”, chớ có “chống”  khi đảng chưa bật đèn xanh!

Vậy còn vụ “chiếc ngai vàng” của báo TP, đảng sẽ xử trí sao đây? Xông nhà, xông đất ngày mồng một khó lắm.Thiên hạ vốn kiêng cữ mà. Thật đau cho đảng là cả hai “cá thể” này- cựu tổng thanh tra và cựu hoàng đều bị báo lề đảng khui ra. Nhưng nếu công tâm, đảng cũng phải thấy là, trong khi Người cao tuổi hữu ý “bới móc”, thì TP chỉ là vô tình. Một “tai nạn nghề nghiệp!

Chẳng nói thì ai cũng đã thấy tội nghiệp cho ngài vua một thời này sẽ dông cả năm…

Với thiên hạ, qua đây thấy gì?

Thấy là, không khác chế độ phong kiến, càng giữ phẩm hàm cao trong hàng ngũ quan lại, các quan cộng sản càng giàu sang phú quý. Quan hàng tỉnh thua quan lại trung ương. Quan trung ương chịu nép vế quan trong BCT. Và đương nhiên, kẻ ngự tột đỉnh về không chỉ quyền uy, mà cả về sự xa hoa, không ai khác ngoài bệ hạ!

Qua đây, qua hai “cá thể” nầy, thiên hạ thấy gì nữa?

Không phải là “các thế lực thù địch”, hay “bọn phản động” trong nước “nặn” ra hai đồng chí kể trên. “Bọn phản động”, hay “các thế lực thù địch” là cách đảng hằn học gọi những con người, nếu không cháy bỏng lòng yêu Nước, thương Dân, thì cũng là những người luôn nói lên sự thật, tôn trọng sự thật. Những đồng chí “còn trong đống rơm”, xét về bản chất, chẳng khác gì bản chất hai đồng chí đã “lộ” ở trên, vì họ cùng được đào tạo trong một lò, cùng có một mục đích làm đầy tớ Nhân Dân, lại đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức… giả, nên đạo đức cách mạng của họ sáng ngời là vậy. Chẳng thế lực thù địch nào, chẳng bọn phản động nào có thể “nói xấu” đảng thật được như những gì mà đảng đang tự phơi bày.

Việc gì phải đến, sẽ đến. “cái kim bọc trong lâu ngày…” . Đảng đang tự diễn biến đấy chứ. Chẳng ai “bôi nhọ” được đảng bằng chính “đạo đức cách mạng” chưng ra…

Ngàn lời nói chẳng bằng một việc làm! Vạn lời khen chẳng tày một mắt thấy. Năm mới ngài cựu hoàng NĐM được dịp khoe của. E rằng, những đương kim hoàng đế kế tiếp chưa có dịp khoe những gì mình sở hữu thì “…việc phải đến sẽ đến mất rồi!”.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »