Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 7th, 2015

►Cướp có văn hóa

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Nguyễn Hữu Vinh (Hà Nội)

nguồn:  RFA

Kinh hoàng cướp trong lễ hội

Mới đây, sau vụ cướp “lộc thánh” tại đền Gióng thuộc Hà Nội kinh hoàng bởi hàng chục thanh niên với thanh gỗ dài thẳng cánh choảng nhau bạt mạng mà báo chí đưa cả video lẫn hình ảnh, thì ông Phó ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Phan Đăng Long tuyên bố rằng đó là “Cướp có văn hóa”. Sau trận “cướp có văn hóa” này, báo chí cho biết nhiều người phải vào bệnh viện.

Ngay sau đó là cướp lộc trong lễ phát ấn đền Trần ở Nam Định. Báo VietnamNet cho biết: “Đến 23h30 phút, ngay sau thời khắc khai ấn của các bô lão dòng tộc họ Trần tại phường Lộc Vượng – TP Nam Định, hàng ngàn người dân, khách hành hương đã đổ xô vào cung Thiên Trường chen nhau giành lộc đức Thánh Trần. Một cảnh tượng xô đẩy hỗn loạn đã diễn ra khiến nhiều người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em bị mắc kẹt”.

Ở đây không bàn đến việc những vở bi hài kịch cứ diễn đi diễn lại đầy bạo lực hàng năm đã làm nhiều người phải lo ngại về tính bạo lực của một số lễ hội và sự bát nháo của các lễ hội ngày nay. Vấn đề này, chúng tôi đã nói đến trong bài viết trước đây. Ở đây, chúng ta bàn đến một khái niệm, định nghĩa mà Phó ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Phan Đăng Long gọi là “Cướp có văn hóa”.

Sự hình thành thói quen cướp bóc trong xã hội Cộng sản Việt Nam

“Cướp”, theo Từ điển tiếng Việt, trong các nghĩa của động từ này, có 2 nghĩa gắn liền với vật chất như sau: – Lấy cái quý giá của người khác bằng vũ lực hoặc thủ đoạn. Hoặc: Tranh lấy, giành lấy một cách trắng trợn ỷ vào một thế hơn nào đó.

Như vậy, cũng theo Từ điển Tiếng Việt, thì trong từ cướp, không có định nghĩa nào có khái niệm “văn hóa” hoặc đồng nghĩa với cái gọi là văn hóa. Bởi theo nguyên tắc đạo đức xã hội Việt Nam ngàn đời nay – trước khi có Cộng sản – cướp chưa bao giờ được gắn liền hoặc được coi như một hành động có văn hóa.

Kể từ khi người Cộng sản giành phần thắng bằng việc cướp chính quyền năm 1945, hành vi cướp ở Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, một thời kỳ mới. Đặc biệt, những năm gần đây, văn hóa cướp đã có những nét đặc trưng mới mang danh nhà nước. Và đến nay, hình thành một khái niệm “cướp có văn hóa”.

Thực ra, trên thực tế, một nhà nước được hình thành bằng cách cướp chính quyền, tồn tại và hành động dựa trên cơ sở của một chủ nghĩa lấy bạo lưc, cướp bóc làm động lực và lẽ sống, thì chuyện cướp trở thành nề nếp, thành văn hóa không có gì là lạ.

Trước hết, với cái gọi là “Ba cuộc cách mạng được tiến hành song song” để nhằm đưa đất nước đến một cái mơ hồ viển vông là Chủ nghĩa cộng sản – mà thực chất là kiếm chác tiền của, tài nguyên cho một nhóm người mang danh Cộng sản – Ở đó, cuộc “cách mạng quan hệ sản xuất” thực chất là một cuộc trấn cướp vĩ đại.

Điển hình là cuộc Cải cách ruộng đất được tiến hành những năm 50 của thế kỷ trước mà nỗi kinh hoàng còn đến tận hôm nay và di họa thì còn đến mãi mai sau. Trong biến cố đó, tất cả tư liệu sản xuất của những người nông dân ưu tú, có kinh nghiệm làm ăn và làm giàu đa bị cướp đoạt và phá hoại. Thậm chí những người đã nuôi nấng Cộng sản đã bị đưa ra giết thịt để làm lễ tế trong cái gọi là “cách mạng về quan hệ sản xuất” theo lý thuyết của Chủ nghĩa Mác – Lenin và Chủ nghĩa Quốc tế vô sản.

Thế rồi, việc đưa quân vào miền Nam Việt Nam để tiến hành cái gọi là “giải phóng miền Nam” – cuộc chiến giữa hai ý thức hệ Cộng sản và tư bản chủ nghĩa. Hậu quả là hàng triệu người đã chết, đất nước nằm trọn dưới sự cai trị của những người Cộng sản. Hậu quả là một đất nước từng được chính Hồ Chí Minh ca ngợi là “Ở vào xứ nóng, khí hậu tốt. Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu. Nhân dân dũng cảm và cần kiệm”… đến ngày hôm nay lãnh thổ nằm dưới gót giày quân xâm lược, tài nguyên, khoáng sản đã khai thách triệt để, bán đổ, bán tháo, bán sạch cho nước ngoài, công dân đua nhau đi làm thuê, làm nô lệ, chấp nhận cho bọn “chó săn đế quốc” – theo định nghĩa của đảng CSVN”- bóc lột sức lao động. Đó cũng là hành động “cướp”. Họ đã cướp đi quyền được tự quyết, được tự lựa chọn con đường ấm no, độc lập và hạnh phúc cho đất nước của những người dân Việt Nam.

Thế rồi, cũng chính khi những người cộng sản vứt bỏ không thương tiếc chiếc áo vô sản để tập trung tư liệu, nguồn lực sản xuất vào tay đảng phái mình, thì tất cả những miếng mồi, những lời nói, chính sách từ lý luận đến thực tiễn đã bị vứt bỏ. Họ sáng tác ra mớ lý luận về “đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh” hoặc “Vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lenin” để gom tất cả những tài sản đất đai, tài nguyên của đất nước vào tay mình. Để thực hiện những điều đó, không có cách nào hơn, họ lại sử dụng động tác “Cướp”.

Không chỉ là đất đai, tài nguyên của người dân, đã bị đảng thẳng tay cướp đoạt bằng các Quyết định, chính sách, dự án… Tất cả, sự thua thiệt, bị cướp đoạt chính là người dân mà quyền con người của họ cũng đã bị Đảng ngang nhiên tự xưng vĩ đại, sáng suốt, giành quyền lãnh đạo… để cướp đoạt không thương tiếc.

Không chỉ là những người nông dân, những nhà tư sản, mà tất cả các tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo đều bị cướp nặng nề. Các cơ sở tôn giáo, thờ tự bị cướp để chia chác, để bán hoặc ít nhất là phá hoại, quyền tự do có niềm tin, tín ngưỡng bị cướp trắng trợn bởi chủ nghĩa vô thần được làm nền tảng xã hội. Dù ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên của họ năm 1946 và trên môi miệng những kẻ truyên truyền thì “Nhà nước luôn đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân và nơi thờ tự được luật pháp bảo hộ”. Chính nhà nước cộng sản dùng đúng định nghĩa: Lấy cái quý giá của người khác bằng vũ lực hoặc thủ đoạn. Hoặc: Tranh lấy, giành lấy một cách trắng trợn ỷ vào một thế hơn nào đó” – từ tay tôn giáo vào tay mình. Thực chất, không thể nói gì hơn, đó là hành động cướp.

Cướp trở thành “văn hóa”(!)

Hiện tượng “Cướp” đã diễn ra trên mọi mặt, trong mọi giai đoạn, mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp xã hội. Nó cứ diễn đi, diễn lại ngang nhiên, được thực hiện trên thực tế, được hỗ trợ bởi lý thuyết, chủ nghĩa vô sản bạo lực, được thực hiện bởi đội quân “Còn đảng, còn mình”… thì dần dần đã trở nên bình thường trong xã hội.

Và khi mọi việc trở nên bình thường trong xã hội thì nó thành nếp nghĩ, nếp sống, thành nếp sinh hoạt trong đời sống cộng đồng.

Từ chỗ cha ông ta chỉ dạy “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan” cho đến lúc xã hội hỗn loạn. Còn nhớ, trước phiên tòa xử một thanh niên chặt tay cô gái để cướp xe ga, người nhà gào thét chửi bới cô gái rằng: Ai bảo mày mang vàng bạc và đi xe ga đẹp làm chi cho nó chặt”. Xã hội đã đến lúc buộc phải sống chung với… cướp.

Không chỉ là kẻ cướp của, giết người man rợ như Lê Văn Luyện đã không còn lạ lùng ghê tởm với xã hội, mà những tiếng hò reo, cổ vũ tên tội đồ này của lớp trẻ, đã trở thành một hiện tượng riêng có ở thời Cộng sản.

Bởi, ngay cấp độ nhà nước, công quyền, người ta không chỉ cướp đất đai, quyền lực, chính quyền, mà ngày nay còn sản sinh ra những trò đốn mạt như cướp “vòng hoa tang”, cướp phá những lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ chống xâm lăng… dưới sự tổ chức và bảo kê của công an, nhà nước.

Thế rồi, nó trở thành nét “văn hóa” của người Việt dưới thời Cộng sản tự lúc nào không hay.

Thời xa xưa, cha ông ta đã nói đến những hành động “cướp” với những sự khinh bỉ và ghê tởm, ngày nay, người Cộng sản coi là “văn hóa”.

Ngày xưa, cha ông ta sống dưới chế độ phong kiến thối nát và lạc hậu, cả cộng đồng họp lại, bàn bạc thống nhất cách chống cướp. Thời Cộng sản, cướp trở nên phổ biến đến mức không có cách nào chống đỡ, bởi thuộc chính sách, luật pháp cộng sản đặt ra.

Và đất nước bốn ngàn năm, có lẽ chưa bao giờ chứng kiến hàng đoàn, hàng lũ, từng làng, từng xã, khắp cả nước người dân biến thành dân oan đi khiếu kiện trùng trùng điệp điệp hết năm này qua năm khác, hết đời cha sang đời con.

Đó chính là hậu quả của chính sách “cướp có văn hóa”.

Và không chỉ là cướp có văn hóa, mà còn là cướp có chính sách, luật pháp và nhà nước hẳn hoi.

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=1GPofCbGvzQ

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

►Việt Nam: độc tài chuyên chế hay độc tài toàn trị? – Ba cách để có quyền lực

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

 

Việt Nam: độc tài chuyên chế hay độc tài toàn trị?

Nguyễn Hưng Quốc

6-2-2015

Chèn tiêu đề của ảnh vào đây

Ai cũng biết Việt Nam sống dưới một chế độ độc tài. Nhưng vấn đề là: bản chất của chế độ độc tài ấy là gì?

Lý do để đặt câu hỏi ấy là vì độc tài có nhiều loại và nhiều mức độ khác nhau. Chiến lược và chiến thuật để chống lại các loại và các mức độ độc tài ấy cũng khác nhau. Do đó, việc nhận diện bản chất độc tài của chế độ Cộng sản tại Việt Nam hiện nay trở thành vô cùng cần thiết.

Nói một cách tóm tắt, độc tài là việc nắm giữ toàn bộ quyền quyết định cũng như thực hành quyền lực vào tay một người hoặc một nhóm người. Người hoặc một nhóm người ấy có thể là một ông vua được kế nhiệm dựa trên quan hệ huyết thống (độc tài quân chủ), có thể là một viên tướng lên nắm quyền bằng bạo lực (độc tài quân phiệt), một lãnh tụ thoán đoạt quyền lực bằng các cuộc cách mạng (độc tài cá nhân). Cũng có thể đó là một nhóm người nhân danh thần quyền (oligarchy – như ở Iran lâu nay) hoặc một đảng chính trị nào đó (độc tài đảng trị).

Dựa trên mức độ, giới nghiên cứu chia độc tài thành hai cấp chính: độc tài chuyên chế (authoritarianism) và độc tài toàn trị (totalitarianism).

Dưới chế độ chuyên chế, người cầm quyền nắm toàn bộ quyền lực trong các lãnh vực lớn từ hành pháp đến lập pháp và tư pháp, từ chính trị đến quân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội; dưới chế độ toàn trị, ngoài các lãnh vực trên, nhà cầm quyền còn quản lý cả tâm hồn và trí tuệ của dân chúng. Trong quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, dưới chế độ chuyên chế, cá nhân có một phạm vi tương đối độc lập; dưới chế độ toàn trị, ngay cả trong đời sống riêng, họ cũng không được tự do, hay nói theo Lê Đạt, thời Nhân Văn Giai Phẩm, chính quyền “đem bục công an đặt giữa trái tim người / bắt tình cảm ngược xuôi / theo luật lệ đi đường nhà nước”. Về biện pháp, chế độ chuyên chế sử dụng bạo lực và sau đó, tuyên truyền; chế độ toàn trị sử dụng cả hai, bạo lực và tuyên truyền cùng lúc và với mức độ ngang nhau. Chế độ chuyên chế gắn liền với bộ máy hành chính; chế độ toàn trị, ngoài bộ máy hành chính, còn gắn liền với một kiểu ý thức hệ nào đó. Chế độ chuyên chế đòi hỏi dân chúng phải vâng lời; chế độ toàn trị đòi hỏi dân chúng vừa vâng lời vừa tin tưởng. Chế độ chuyên chế mua chuộc sự trung thành bằng quyền lợi; chế độ toàn trị bằng những lời hứa hẹn đến một tương lai không tưởng nào đó. Dưới các chế độ chuyên chế, có thể có đối lập và phản biện; dưới các chế độ toàn trị thì tuyệt đối không. Để duy trì quyền lực, các chế độ chuyên chế sử dụng bộ máy đàn áp và ngăn cấm mọi hình thức tham gia của quần chúng; các chế độ toàn trị, một mặt, sử dụng các biện pháp đàn áp, mặt khác, cho phép dân chúng tham gia vào các sinh hoạt chính trị nhưng với điều kiện: việc tham gia ấy nằm trong khuôn khổ, sự định hướng và kiểm soát của nhà cầm quyền.

Trong lịch sử, toàn bộ các chế độ độc tài đều là chuyên chế; chỉ có ba chế độ độc tài được ghi nhận là toàn trị: chủ nghĩa phát xít tại Ý, chủ nghĩa Nazi tại Đức và chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu trước đây cũng như ở một số quốc gia khác, trong đó, có Trung Quốc và Việt Nam hiện nay.

Trên nguyên tắc, chế độ toàn trị cộng sản (communist totalitarianism) có mấy đặc điểm chính: Một, về ý thức hệ, chỉ thừa nhận một ý thức hệ duy nhất là chủ nghĩa Mác với một số kết hợp, chẳng hạn, ở Liên Xô là chủ nghĩa Stalin, ở Trung Quốc là chủ nghĩa Mao, và ở Việt Nam, gần đây, “tư tưởng” Hồ Chí Minh. Hai, về cơ cấu quyền lực, chỉ có một đảng duy nhất, đó là đảng cộng sản, được lãnh đạo bởi một nhóm nhỏ được gọi là Bộ chính trị, hoặc rộng hơn một chút, Ban chấp hành trung ương. Ba, có cả một bộ máy công an, an ninh và mật vụ khổng hồ để kiểm soát và trấn áp những người bất phục tùng. Bốn, nắm chặt các sinh hoạt kinh tế trong nước. Và năm, nắm toàn bộ các phương tiện truyền thông đại chúng, cộng với hệ thống kiểm duyệt chặt chẽ để không những ngăn chận mọi tiếng nói phản biện hoặc khác biệt mà còn nhồi sọ dân chúng để mọi người đều suy nghĩ giống nhau theo định hướng của nhà cầm quyền.

Đó là trên nguyên tắc, còn trên thực tế, sau khi các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chế độ cộng sản tại Trung Quốc và Việt Nam có còn là một chế độ toàn trị hay không? Nhiều học giả đáp: Còn. Với họ, chế độ độc tài ở Trung Quốc hiện nay vẫn là một chế độ toàn trị, ở đó, sự khắc nghiệt trong bộ máy cai trị tuy giảm một chút so với thời Mao Trạch Đông nhưng tự bản chất, đó vẫn là một chế độ toàn trị chứ không phải là chuyên chế. Còn ở Việt Nam thì sao?

Theo tôi, chế độ cộng sản tại Việt Nam hiện nay đang trong quá trình biến thái từ toàn trị sang chuyên chế. Họ vẫn chủ trương độc đảng, vẫn sử dụng bộ máy công an khổng lồ để đàn áp dân chúng, vẫn khăng khăng từ chối việc tư nhân hoá truyền thông, vẫn đề cao chủ nghĩa cộng sản và “tư tưởng” Hồ Chí Minh, vẫn cố gắng dập tắt mọi tiếng nói phản kháng và phản biện trong nước. Tuy nhiên, trong rất nhiều lãnh vực, guồng máy cai trị của họ, dường như đang rã ra. Về kinh tế, họ buộc phải chấp nhận kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản. Về truyền thông, họ vẫn không kiểm soát được hết các mạng lưới xã hội trên internet. Họ nắm trong tay tất cả các nhà xuất bản cũng như các tờ báo trong nước, nhưng họ vẫn không kiểm soát nổi các hiện tượng luồn lách để một số tác phẩm đi ngược lại quan điểm và chủ trương của họ vẫn được ra mắt.

Nhưng quan trọng nhất là về phương diện ý thức hệ. Yếu tố then chốt để phân biệt độc tài chuyên chế và độc tài toàn trị nằm ở ý thức hệ. Cả ba chế độ độc tài toàn trị trên thế giới vào thế kỷ 20 vừa qua (phát xít, Nazism và cộng sản) đều được đặt trên một nền tảng ý thức hệ riêng. Ở Việt Nam, trong các diễn văn chính thức, người ta vẫn lải nhải nhắc đến chủ nghĩa Mác và “tư tưởng” Hồ Chí Minh, nhưng trong suốt mấy chục năm vừa qua, kể từ phong trào đổi mới và đặc biệt, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã ở Liên Xô và Đông Âu, người ta vẫn không thể cụ thể hoá cái gọi là “tư tưởng” Hồ Chí Minh cũng như không chứng minh được một cách thuyết phục cái gọi là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản có chút giá trị khoa học cần được thực hiện hay ứng dụng.

Không có ý thức hệ, sự tồn tại của chế độ cộng sản Việt Nam chỉ còn nằm trên hai yếu tố: mua chuộc và đàn áp. Họ là những bạo chúa không có niềm tin. Họ chỉ có thể quản lý dân chúng trên phương diện kinh tế và xã hội và hoàn toàn bỏ ngỏ trên mặt trận tư tưởng.

________________

Nguyễn Hưng Quốc là nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt.

 

—————

 

Phiếm: Ba cách để có quyền lực

6-3-2015

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

►Đầu Xuân: những điều tồi tệ

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Đầu Xuân: những điều tồi tệ

6-3-2015

*Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

Báo Tiền Phong Online của đảng in hình nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên ngai đầu rồng nạm vàng, giữa phòng khánh tiết gia đình lộng lẫy như giữa cung đình vua chúa ngày xưa.

Chưa có những ngày đầu Xuân nào bộ mặt của Đảng Cộng Sản lại lem luốc, nhọ nhem như ngày Xuân Ất Mùi này. Nó chứng minh cho sự sa sút, suy thoái của đảng không sao kìm hãm.

Báo Tiền Phong Online của đảng in hình nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh ngồi trên ngai đầu rồng nạm vàng, giữa phòng khánh tiết gia đình lộng lẫy như giữa cung đình vua chúa ngày xưa. Vừa sang trọng hào nhoáng vừa quê kệch hãnh tiến của trọc phú học làm sang. Trên mạng tự do Dân làm báo đưa lại hình nội thất của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, xa hoa kiêu kỳ với trống đồng cổ, cả tượng đồng ông ta, nhằm lưu danh thiên cổ. Hai tổng bí thư CS thời thoái trào bi đát của đảng đều lên ngôi do thời thế nhiễu lọan, theo kiểu có người cho là “vơ bèo vạt tép”, để rồi vẫn ngỡ mình là vua.

Triều đình nào, quần thần nấy. Xuân này xuất hiện Quốc sư Vũ Khiêu ôm hôn một cách thô bạo hoa hậu Kỳ Duyên bằng tuổi cháu chắt mình, còn tặng câu thơ lẳng lơ ăn cắp của thơ Đường bên Tàu. Thật đẹp mặt cho đảng CS, khi liều lĩnh phong cho một trí thức dỏm danh hiệu ‘Anh hùng nhân dân’.

Chỉ mấy ngày Tết đã có đến hàng vạn vụ đánh chém nhau, ẩu đả, làm cho 6.200 người phải nhập viện, hàng trăm người chết do ẩu đả và tai nạn giao thông, kỷ lục chưa Tết nào sánh kịp. Nó thể hiện bản chất bạo lực đàn áp nhân dân lương thiện của đảng cầm quyền đã nhiễm sâu vào xã hội, tính hung ác bất lương bao trùm xã hội mất ổn định, khi đảng làm gương, đi đầu trong chà đạp nền pháp quyền và pháp luật.

Có những chuyện tưởng là nhỏ mà thật là tồi tệ đến quái đản, lại cho lên chình ình trên mặt báo. Đó là chiếc bánh chưng nặng 7 tạ, chiếc bánh phồng tôm khổng lồ một tạ rưỡi, chiếc bánh tét dài 18 mét, chậu hủ tíu khổng lồ cho ngàn người ăn, đều được các chức sắc của đảng đến ca ngợi, biểu dương.

Xã hội đảo điên chính là ở đó. Vì đó là bánh chưng không ai cho vào mồm nuốt nổi, một kiểu mù quáng lừa bịp nhau lập thành tích ảo, không có một ly thiết thực nào cho cuộc sống. Đố ai ăn nổi chiếc bánh chưng, bánh tét hay bánh phồng tôm ấy, dù cho chỉ một phần nhỏ. Tất cả sẽ mốc meo rồi đổ xuống cống. Đảng kêu gọi dân lập nên những thành tích kỳ quái, tốn không biết bao nhiêu tiền của, vật dụng, thời gian của dân, không có một ý nghĩa chính trị, kinh tế, nhân văn nào. Hoàn tòan có hại mà không có ai ngăn cản, phản đối. Một xã hội trơ lỳ, vô cảm, a dua theo đảng làm những chuyện vô duyên, khả ố, tồi tệ.

Đến năm Ất Mùi tệ giết lợn để tế thần được quảng cáo rùm beng hơn hẳn mọi năm. Những con lợn béo ú được rước rồi chọc tiết, chặt đầu mổ bụng, máu xổ ra đầy sân cho dân tranh nhau nhúng tiền có hình ông Hồ vào cho dính máu lợn để lấy khước, phát tài, phát lộc. Đó, đảng CS khuyến khich trở về thời mông muội, tín ngưỡng mụng mị, mất vệ sinh, cổ vũ bạo lực trong khi thế giới văn minh đề cao lòng thương súc vật.

Rõ ràng đảng CS, cơ quan tuyên huấn của đảng cố tình ru ngủ nhân dân, nhất là tuổi trẻ, bằng những lễ hội rẻ tiền, thấp kém, phản nhân văn, để họ quên đi những vấn đề chính trị hệ trọng, cấp bách, trong khi bọn bành trướng vẫn đang thực hiện mưu đồ gặm nhấm, mở rộng diện tích các đảo của ta chúng đã chiếm được, cho lao động của chúng xâm nhập khắp mọi vùng, cho các công ty của chúng bao thầu các nhà máy điện, xi măng, hóa chất, bô-xít …, cho hàng hoá kém phẩm chất, có khi có chất độc hại của chúng thâm nhập khắp nơi.

Chính do chính sách ngu dân, đánh lạc hướng xã hội của đảng CS trong những ngày đầu Xuân Ất Mùi này như vừa nêu, toàn dân ta cần hết sức cảnh giác, tập trung chú ý vào các vấn đề chính trị nóng bỏng của đất nước.

Trước mắt, Bộ Chính trị sẽ công bố các văn kiện dự thảo cho Đại hội XII để toàn đảng, từ cơ sở trở lên thảo luận. Đây sẽ có thể trở thành một cuộc đấu tranh mạnh mẽ, dữ dội, nếu nhân dân ta thức tỉnh về quyền tự do của mình. Bộ Chính trị sẽ cố làm mọi cách để toàn đảng từ cơ sở đến Đại hội nuốt trôi 5 cục xương gai góc: kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, kiên trì CNXH; kiên trì giữ tên đảng CS; kiên trì chế độ độc đảng, kiên trì điều 4 trong Hiến pháp; kiên trì kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kiên trì lấy kinh tế Nhà nước làm chủ đạo.

Đó là 5 luận điểm bảo thủ giáo điều, 5 xiềng xích nguy hiểm, 5 bức tưòng thành ngăn chặn Dân chủ và Phát triển, 5 tử huyệt cho nhân dân và dân tộc. Đó cũng là 5 cơ sở của Cương lĩnh đảng CS hiện nay, 5 luận điểm cốt tử của Nghị quyết Đại Hội XII sắp tới.

Tất nhiên tất cả sinh lực sống còn của dân tộc Việt Nam, của trí thức dân tộc, của bà con ta trong và ngoài nước thật lòng yêu nước thương dân phải được tập trung vào việc đương đầu với lãnh đạo của đảng CS trong thời kỳ thoái trào từ tồi đến tệ của nó.

Tất nhiên tất cả sức lực của xã hội dân sự đang ở thế phát triển tự tin phải tận lực hiến mình cho cuộc đấu tranh sống mái này, một cuộc đấu lý bền bỉ dai dẳng suốt năm 2015 này.

Chúng ta có quyền lên tiếng đông đảo bằng lý lẽ, lập luận chặt chẽ bác bỏ triệt để công khai các văn kiện của Đại hôị XII, vì tuy là công việc riêng của đảng CS, nhưng đó lại là tai họa giáng thẳng lên đầu dân ta, là kềm kẹp áp đặt của đảng CS. Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ triệt để các văn kiện ấy còn là vì các luận điểm ấy đã bị thế giới văn minh lên án là tội ác chống nhân lọai, đã bị thế giới coi là rác rưởi.

Đã đến lúc đông đảo đảng viên CS, nhất là đảng viên thường ở cơ sở nhận ra quá trình suy thoái tệ hại của đảng CS, sự thối nát lạc hậu đến cùng cực của thế lực lãnh đạo để sớm thoát đảng, thoát Trung, thoát Mác – Lê, cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về với dân tộc, với nhân dân, với xã hôị dân sự, với thời đại dân chủ chân chính.

Những điều tệ hại diễn ra ngay từ những ngày Tết Ất Mùi làm dấy lên sự phẫn nộ của toàn dân, là động lực thôi thúc mọi lực lượng lành mạnh của dân tộc trỗi dậy làm chủ vận mệnh của mình, tự mình mở ra Kỷ nguyên Dân chủ của nước ta.

Bùi Tín

————–

Từ Cụ Bùi Bằng Đoàn đến ông Bùi Tín: Tầm nhìn đã bứt qua thế hệ
Phan Châu Thành (Danlambao)Tôi là kẻ hậu sinh, một mặt rất kính trọng ông Bùi Tín (và nhất là Cụ Bùi Bằng Đoàn) vì tất cả những gì ông đã làm, đã sống như một nhà dân chủ tiên phong, một mặt tôi đã ngỗ nghịch nhiều lần tranh luận với ông – như tranh luận với cha mình: có khi hỗn hào, khi căng thẳng và cố chấp, nhưng lúc nào cũng thương yêu trong lòng. Tôi luôn tin nếu thế hệ sau không biết kính trọng và thương yêu cha ông, kính trọng và thương yêu Lịch sử của dân tộc mình thì còn có gì hơn để kinh trọng và yêu thương được nữa chăng? Mà thế hệ không biết kính trọng và yêu thương ai là một thế hệ chết…
*
Tuyên ngôn bứt phá của ông Bùi Tín

Sáng nay, “ngồi Thiền trên mạng”, tôi đã vui mừng đến ngỡ ngàng và reo to lên: “Hoan hô ông Bùi Tín!” khi đọc được bài mới nhất của ông Bùi Tín trên Dân Làm Báo – bài “Đầu Xuân: những điều tồi tệ” có những câu như sau:

“Đã đến lúc đông đảo đảng viên CS, nhất là đảng viên thường ở cơ sở nhận ra quá trình suy thoái tệ hại của đảng CS, sự thối nát lạc hậu đến cùng cực của thế lực lãnh đạo để sớm thoát đảng, thoát Trung, thoát Mác – Lê, cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về với dân tộc, với nhân dân, với xã hội dân sự, với thời đại dân chủ chân chính.”

Đó quả là cái nhìn, tầm nhìn có sự bứt phá ngoạn mục của ông Bùi Tín so với chính ông hôm qua và so với cả thế hệ của ông – thế hệ lỡ nhầm lạc theo cộng sản thứ hai của VN. Cho đến nay, hầu như tất cả các trí thức phản tỉnh trong và ngoài nước thế hệ ông, những nhà đối lập chính trị” thế hệ ông, và cả đa số sau ông (thế hệ tôi) đều chưa có được quan điểm rõ ràng, minh bạch và dứt khoát như vậy để phong trào dân chủ tiến lên: Thoát đảng (cộng sản), cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về vói dân tộc, với nhân dân!

Từ ông tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đến Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày… đều không ai dám có lời kêu gọi thành lập đảng mới như thế, như ông Bùi Tín cả. Điều đó chứng tỏ ông Bùi Tín đã dứt khoát đoạn tuyệt với đảng cộng sản, không còn hy vọng và đề nghị gì với họ nữa, hoàn toàn phủ nhận vai trò của đảng cộng sản và đại hội 12 của họ sắp tới. Đó chắc chắc sẽ là đại hội cuối cùng của CSVN trong thế độc tài toàn trị.

Từ Cụ Bùi Bằng Đoàn đến ông Bùi Tín

Tôi luôn bùi ngùi với cảm xúc của mình – kính trọng và mến thương – với Cụ Bùi Bằng Đoàn – một nhân tài của đất nước và một nhân vật lịch sử lớn, vì mỗi lần trước và sau những cuộc tranh luận trên mạng với ông Bùi Tín – khi ôn hòa, lúc căng thẳng – tôi luôn cố tìm hiểu kỹ nhất có thể về cuộc đời Cụ Bùi Bằng Đoàn rồi mới đến cuộc đời ông Bùi Tín, để có thể hiểu đúng ông Bùi Tín mà tranh luận.
Vì rất kính trọng và mến thương Cụ Bùi bằng Đoàn, như tôi luôn kính yêu ông nội, ông ngoại mình vậy – những người giống cụ Bùi Bằng Đoàn không phải chỉ vì cùng thế hệ thời cuộc, mà đều có lòng với dân nước và đều đã dâng cả tấm lòng, cuộc đời mình cho dân. Còn việc họ đã làm điều đó thế nào (sai cách), kể cả nội ngoại tôi và Cụ Bùi Bằng Đoàn – đi theo cộng sản, lại là chuyện khác. Đó dường như là giới hạn của thế hệ, và giới hạn đó làm họ bị mắc lừa cộng sản…

Thế hệ cộng sản (và từng là cộng sản) thứ hai của ông Bùi Tín và cha tôi cũng lại vấp vào giới hạn thế hệ của mình- đó là công sản là thứ có thể thay đổi tốt lên hay còn cứu vớt được, và đó lại là điều làm tôi vô cùng đau xót. Cha tôi đã mất, nhưng trước đó ông không nói được một câu nào dứt khoát như câu tuyên bố của ông Bùi Tín hôm nay, ngoài sự ủng hộ và tin cậy vào những gì tôi đã và đang làm. Cả ông tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (mà tôi chọn ra ở đây như biểu tượng hàng đầu hay đại diện của cả giới trí thức cộng sản phản tỉnh thê hệ ông và thế hệ kế sau hiện nay) cũng chưa hiểu và nói được điều gì như thế.

Với tôi, tuyên ngôn hôm nay của ông Bùi Tín đã đặt ông vào đúng vị trí trí thức đối lập cộng sản hàng đầu của thế hệ ông, vượt qua giới hạn thế hệ của mình, xúng đáng là hậu duệ của Cụ Bùi Bằng Đoàn. Có dịp tôi sẽ xin có một bài riêng về cuộc đời và cái chết (có bình thường không?) của Cụ Bùi Bằng Đoàn (và Cụ Nguyễn Văn Tố…), mà tôi đã bỏ công nghiên cứu và suy ngẫm. Hôm nay, tôi tin Cụ Bùi Bằng Đoàn nơi chín suối sẽ mỉm cười nhẹ bước du tiên vì hậu duệ mình cuối cùng đã đoạn tuyệt được với sai lầm nông nổi trong vài năm sóng gió của chính mình và trong bão táp của dân tộc…

Lời chúc mừng và cảm ơn ông Bùi Tín của một kẻ hậu sinh

PCT tôi là kẻ hậu sinh, một mặt rất kính trọng ông Bùi Tín (và nhất là Cụ Bùi Bằng Đoàn) vì tất cả những gì ông đã làm, đã sống như một nhà dân chủ tiên phong, một mặt tôi đã ngỗ nghịch nhiều lần tranh luận với ông – như tranh luận với cha mình: có khi hỗn hào, khi căng thẳng và cố chấp, nhưng lúc nào cũng thương yêu trong lòng. Tôi luôn tin nếu thế hệ sau không biết kính trọng và thương yêu cha ông, kính trọng và thương yêu Lịch sử của dân tộc mình thì còn có gì hơn để kinh trọng và yêu thương được nữa chăng? Mà thế hệ không biết kính trọng và yêu thương ai là một thế hệ chết…

Vì thế hôm nay, đọc được những lời như trên của ông Bùi Tín, tôi như vỡ òa tâm tư: đây mới là ông Bùi Tín mà tôi nhìn thấy, đây mới là hậu duệ của cụ Bùi Bằng Đoàn mà tôi kinh trọng như ông cha minh! Và vì tôi biết, thế hệ ông Bùi Tín, tất cả, đều không sống, nói và làm gì cho mình nữa rồi. Tất cả chỉ vì các thế hệ sau là thế hệ của tôi, và các thế hề mai sau.

Thế cho nên, khi ông Bùi Tín và thế hệ thứ hai đã dứt khoát đoạn tuyệt với cộng sản rõ ràng như thế, thì thế hệ chúng tôi còn gì nữa phải băn khoan mà không tiến lên phía trước:

Cùng nhau lập nên một đảng mới, trở về vói dân tộc, với nhân dân!

Hôm nay, bẵng những lời chân thành này, PCT tôi xin chúc mừng sự bứt phá ngoạn mục và dứt khoát của ông Bùi Tín, của thế hệ trước chúng tôi, đã vượt qua hạn chế thế hệ của chính mình, Và tôi cũng xin cảm ơn ông Bùi Tín về điều đó. Ông Bùi Tín đã làm được điều ngoạn mục cho cả một thế hệ: một bước nhỏ thôi nhưng vượt qua lằn răn tầm nhìn của thế hệ minh, để thế hệ sau chúng tôi vững tâm hơn với hành trang của cha ông, của lịch sử mà tiến lên thời đại Tự do Dân chủ cho Việt Nam, sạch bóng cộng sản lỗi lầm tàn độc.

Phan Châu Thành
danlambaovn.blogspot.com

PS1: Tôi chưa bao giờ, và chắc sẽ không thể xin lỗi ông Bùi Tín, vì với bậc cha ông mình thật khó mà xin lỗi được – nó giả dối làm sao. Tôi chỉ có thể tạ tội với ông nếu đúng là tôi có tội. Nếu không phải là tội lỗi, tôi tin ông Bùi Tín sẽ bỏ qua sự hỗn hào của tôi, nếu có. Tôi đã từng hỗn hào với cha mình mà có xin lỗi được đâu! PCT.

PS2: Còn một ý quan trọng này nữa tôi xin hỏi và đề nghị với ông Bùi Tín, vì chính ông đã nêu ra, rất đúng: Nên chăng ông Bùi Tín cùng các nhân sĩ khác trong ngoài nước hãy đứng lên hôm nay phất một ngọn cờ mới thay màu cờ máu cộng sản? Thời cơ đã đến rồi chăng, mà thời gian của cá nhân ông Bùi Tín cũng vẫn còn đủ cho việc lớn đó? Vả lại, xã hội Dân chủ là đa nguyên, là rất nhiều là cờ kia mà – chẳng phải bản thân cá nhân, cuộc đời ông Bùi Tín đã là một lá cờ đó sao? PCT.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng mới | Leave a Comment »

►Hãy trả Bà Nà lại cho người Đà Nẵng chúng tôi

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Hãy trả Bà Nà lại cho người Đà Nẵng chúng tôi

5-3-2015

 

lang-biet-thu

Thử làm một phép so sánh:

Vé máy bay giá rẻ ở Đà Nẵng đi Sài Gòn là 850.000đ

Vé cáp treo lên và xuống Bà Nà: 500.000 cho người ngoài Đà Nẵng, 350.000 cho người Đà Nẵng (đã bao gồm vào cửa các trò chơi trong khu Fantasy Park).

Từ ngày 1. 4. 2015, giá vé tăng lên thành 550.000đồng/người cho người ngoài Đà Nẵng .

“Bà Nà mây”, ảnh của Vietsuntravel.com

“Bà Nà mây”, ảnh của Vietsuntravel.com

Không nói chuyện tài nguyên của đất nước mà giờ những người dân muốn lên chơi phải mua vé gần bằng nửa chuyến bay từ Đà Nắng đi Sài Gòn, Hà Nội; chỉ nói chuyện bao nhiêu công sức đổ ra mới làm được con đường lên đỉnh để xây dựng trên đó, vậy mà bây giờ, chỉ vì cáp treo mà chính quyền Đà Nẵng đồng ý cho doanh nghiệp cấm đường bộ, thì thật quá bất công.

Nhớ ngày nào, tui và Dương Thanh Tùng từng vác máy quay, máy nổ lội đường rừng, đánh đu dây leo, ngủ 3 đêm trên đường đi mới lên tới đỉnh để về có những hình ảnh đầu tiên lên VTV với phim “Vàng trên núi Chúa”, lên báo Tuổi Trẻ cuối tuần với bài “Bà Nà, nhìn thấy đó mà xa”. Sau đó một năm thì Đà Nẵng huy động quyết liệt lắm mới mở được con đường lên đỉnh. Chúng tôi sung sướng lắm, chiều rủ nhau lên núi nhậu, sáng sướng thì chạy lên uống café nhìn thành phố dưới chân mình, nhìn mây khói kéo đi như ở Sa Pa, Đà Lạt mà chả tốn đồng nào, chỉ 30 phút chạy xe máy.

Được dăm năm thì Đà Nẵng bán đứt cho Sun Group. Giờ thì 400.000 – 500.000 đồng mới được đặt chân lên. Lại bày đặt tri ân 150.000! Đây không phải là “tri ân” mà là tận thu ngày vắng khách. Nếu tri ân sao lại trừ thứ Bảy và Chủ nhật?

Cáp treo lên Bà Nà. Ảnh: Vietnam My Country, từ trang Panaramio

Cáp treo lên Bà Nà. Ảnh: Vietnam My Country, từ trang Panaramio

Không cần biết tập đoàn Sun Group Ba Nà Hills tri ân người dân Quảng Nam Đà Nẵng bao nhiêu mới gọi là đủ. Chỉ cần trả Bà Nà núi Chúa lại cho người dân Đà Nẵng, trả con đường đèo đẹp ngoạn mục nhất Việt Nam lại cho người đi bộ lên đỉnh chơi. Họ có muốn dùng dịch vụ của Bà Nà Hills hay không là quyền của họ. Đừng ép họ mua vé cáp treo bao gồm cả những dịch vụ trong đó.

Nói thêm khỏi mất công cãi: Bà Nà Hills đúng là có công khi biến Bà Nà thành sản phẩm du lịch hút khách cho Đà Nẵng, thế nhưng không thể vì thế mà Bà Nà thành “nhượng địa” độc quyền của họ, không ai được đặt chân vào nếu không có vé.

Ảnh: Hồ Trung Tú

Ảnh: Hồ Trung Tú

Và nói thêm điều nữa, vé cáp treo bao gồm cả vé vào khu vui chơi, được tính là 200.000đ, mà làm thế là không đàng hoàng. Ai cần vào khu vui chơi đó chứ dân Đà Nẵng thì không, chơi một lần là đủ rồi. Người Đà Nẵng chỉ muốn lên Bà Nà mỗi chiều thứ Bảy, như người Huế muốn lên đồi Vọng Cảnh, người Hà Nội phóng xe lên Tam Đảo. Đừng bắt họ mua cái thứ vé này. Hãy trả lại con đường bộ đi-mà-không-mất-xu-nào cho họ, trả lại họ những khu vực công cộng mà một người bán vé số, một người xe ôm Đà Nẵng không cần tốn tiền cũng có thể đưa vợ con lên chơi.

Sun Group không làm ra độ cao 1.500m, không làm ra sương khói se lạnh Bà Nà giữa hè. Vì vậy, Sun Group không có quyền độc quyền khai thác điều đó dựa vào lý do đổ ra nghìn tỉ. Chỗ nào anh xây dựng thì anh xứ việc dựng rào bán vé, còn lại là của người dân.

Hãy trả lại Bà Nà cho người dân. Đừng cướp nước trên chính nước mình.

Theo Facebook Hồ Trung Tú , SoiToday. (Tác giả là một công dân Đà Nẵng)

Posted in Cướp Đất Đai, Du Lich | 1 Comment »

►Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Bốn mươi năm Dương Nghiễm Mậu và tự truyện Nguyễn Du

22-2-2015 

“… Kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc K..” Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu, 2005.

1975_ Bùi Giáng và Dương Nghiễm Mậu
Sau 30 tháng 4, 1975 các văn nghệ sĩ không đi thoát, hoặc chọn ở lại như Dương Nghiễm Mậu, nếu không phải đám nằm vùng thì ai cũng chờ cái ngày đi vào nhà giam, các trại tù cải tạo. Giữa những ngày căng thẳng và ảm đạm ấy, có một người vẫn nhởn nhơ, đi tìm thăm bạn bè văn nghệ cũ. Không ai khác hơn đó là nhà thơ Bùi Giáng Lá Hoa Cồn. Trung niên thi sĩ lúc nào cũng gầy và già hơn tuổi, râu tóc xơ xác như từ bao giờ.

Giữa một Sài Gòn thảng thốt, không biết anh đã lượm ở đâu trên đường mà có được bộ quân phục nguỵ với quân hàm Đại tá, Bùi Giáng đem vận ngay vào người, chân thấp chân cao đi nghêu ngao như diễn binh trên hè phố. Có lẽ đây là hình ảnh tuyệt đẹp cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam, với một tân binh tình nguyện gia nhập đạo quân đã hoàn toàn rã ngũ.

Rồi Bùi Giáng cũng tới được khu nhà thờ Ba Chuông, nơi có căn nhà Dương Nghiễm Mậu. Bùi Giáng hồn nhiên đi sâu vào con hẻm chật chội ấy đã thấp thoáng màu cờ đỏ. Anh vẫn tỉnh táo nhớ đúng nhà, tới đập cửa rầm rầm đòi vào thăm cho được cố tri. Trầm tĩnh và bản lãnh như Nghiễm, mà trước tình huống ấy cũng vẫn như gái ngồi phải cọc; được cái lúc ấy chòm xóm còn là thân quen, mạng lưới công an chưa đủ dầy đặc để gây nỗi phiền hà. Ra khỏi nhà Dương Nghiễm Mậu, không biết Bùi Giáng còn đi gõ cửa tới thăm những ai khác, hay anh lại ra nơi đầu cầu Trương Minh Giảng như một người tỉnh táo đứng làm cảnh sát công lộ chỉ đường “trên dòng luân lưu hỗn mang của lịch sử”
và để rồi sau đó nếu anh không bị đám “cách mạng 30” hay bọn công an đánh tả tơi sưng mặt mũi thì rồi cuối cùng chắc anh cũng lại tìm về với “mẫu hậu” Kim Cương, ngồi trước cửa phóng bút làm thơ tặng nàng.

Phóng viên chiến tranh Dương Nghiễm Mậu đi qua nhịp cầu Tràng Tìền bị giựt sập trong Tết Mậu Thân, Huế 1968 [photo by Đinh Cường]
1975_ Toà Soạn Bách Khoa và anh Lê Ngộ Châu
Tuần lễ trước 30 tháng 4, 1975, nhân viên Đài Mẹ Việt Nam và những cây viết cộng tác đã được Mỹ lên kế hoạch di tản khỏi Việt Nam – để tránh bị trả thù. Trước ngày lên tàu ra đảo Phú Quốc, nhà văn Võ Phiến tới thăm toà soạn Bách Khoa, nơi vùng “xôi đậu” có Võ Phiến Bắt Trẻ Đồng Xanh ngồi chung với Vũ Hạnh Bút Máu; cũng là nơi mà Võ Phiến đã gắn bó suốt 18 năm cùng với tuổi thọ của tờ báo. Anh Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa kể lại: Võ Phiến thì phải đi, nhưng linh cảm không có ngày về, vẻ mặt buồn thảm, anh chỉ ngồi khóc lặng lẽ không nói nổi lời giã từ và rồi đứng dậy bước ra khỏi toà soạn.Toà soạn báo Bách Khoa trước 1975, 160 Phan Đình Phùng, Sài Gòn, từ phải: chủ nhiệm Lê Ngộ Châu (2006), Vũ Hạnh, Nguyễn Hiến Lê (1984), Vi Huyền Đắc (1976), Lê Phương Chi, Võ Phiến [nguồn: internet]
Trước một ngày mất Sài Gòn, thì hầu như toàn bộ nhân viên Đài Mẹ Việt Nam trong đó có gia đình Võ Phiến Giã Từ, Lê Tất Điều Phá Núi, Viên Linh Hoá Thân, Tu. Hồng Tôi Nhìn Tôi Trên Vách, Thanh Nam Bóng Nhỏ Đường Dài từ Phú Quốc đã được đưa lên con tàu lớn Challenger đậu sẵn ngoài khơi. Khi bờ biển Phú Quốc xa mờ trong tầm mắt, lần này thì Lê Tất Điều thấy Võ Phiến khóc. Cùng với những con tàu thuộc Đệ Thất Hạm đội, họ lênh đênh trên Biển Đông trong cuộc hải trình nhiều ngày để tới đảo Guam.Guam đã từng là căn cứ xuất phát của các đoàn phi cơ B52 trong cuộc chiến tranh Việt Nam với những trận mưa bom trải thảm/ carpet
bombing có sức tàn phá của một cơn địa chấn. Đảo Guam chỉ rộng 550 km2 sau tháng Tư 1975, là chặng dừng chân đầu tiên của hàng trăm ngàn người Việt tỵ nạn trước khi vào đất Mỹ. Vũ Khắc Khoan Thần Tháp Rùa, Nghiêm Xuân Hồng Người Viễn Khách Thứ 10, Mặc Đỗ Siu Cô Nương nhóm Quan Điểm cũng đi thoát và trước sau đặt chân tới các trại tỵ nạn trên đất Mỹ.

Chưa đến một tuần lễ sau, ngày 5 tháng 5, 1975 một trong những cây viết lâu năm của Bách Khoa, Phạm Việt Châu Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh đã tuẫn tiết tại tư gia khi cộng sản hoàn toàn chiếm Miền Nam. Cái chết rất sớm và tức tưởi của một tác giả có viễn kiến về lịch sử dân tộc, sức sáng tạo đang sung mãn mới bước vào tuổi 43, đã như một hồi chuông báo tử cho bao
nhiêu tang thương diễn ra sau đó.
1975_ Chiến Dịch Đốt Sách
Những ngày sau 30 tháng 4, 1975, hai đứa con Vũ Hạnh trong bộ bà ba đen, tay cuốn băng đỏ, tới toà báo Bách Khoa cũng là nơi cư ngụ của anh chị Lê Ngộ Châu. Trước khách lạ, đứa con gái nói giọng hãnh tiến: “Tụi con mới từ Hóc Môn về, cả đêm qua đi kích tới sáng.” Người dân lành nào vô phước đi lạc trên đường ruộng đêm đó có thể bị tụi nó coi là nguỵ. Những tên nằm vùng cùng với đám “cách mạng 30” này chỉ như phó bản đám Hồng vệ binh của Mao nhưng lại sau cả thập niên. Cũng chính những đám này là thành phần kích động chủ lực trong chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ, chúng dẫm đạp những cuốn sách, nổi lửa đốt từng chồng sách rồi tới cả tới những kho sách. Những cuốn sách mà đa phần chúng chưa hề đọc, trong đó có cả một tủ sách “Học Làm Người”. Sách của những “tên biệt kích văn nghệ” còn được trưng bày trong toà nhà triển lãm Tội ác Mỹ Nguỵ cùng với vũ khí chiến tranh và chuồng cọp, dĩ nhiên có sách của Dương Nghiễm Mậu, có cả cuốn Vòng Đai Xanh của người viết. Cảm khái với câu thơ Nguyễn Du trong Độc Tiểu Thanh kí: văn chương vô mệnh cũng tro than/ văn chương vô mệnh luỵ phần dư.

Hơn hai ngàn năm sau, chẳng ai quên chuyện “đốt sách chôn nho/ phần thư, khanh nho” của Tần Thuỷ Hoàng, nhưng không biết chỉ 100 năm tới đây, các thế hệ tương lai có ai còn giữ được“bộ nhớ” Đã Có Một Thời Như Thế – tên một bài viết của Nhật Tiến, về giai đoạn người Cộng sản Việt Nam đốt sách giam tù cả một thế hệ văn nghệ sĩ của Miền Nam?

 Chiến dịch lùng và diệt tàn dư văn hoá Mỹ Nguỵ sau 30-04-1975 với những vụ “đốt sách” [nguồn: internet]
1975_ Nhà hàng Givral và Phạm Xuân Ẩn
Trước 1975, La Pagode, Brodard, Givral là nơi tôi, Phạm Đình Vy [chủ nhiệm Tình Thương] và các bạn y khoa thỉnh thoảng có dịp lui tới kể cả khi đã ra trường. Givral cũng là nơi thường gặp gỡ các nhà báo như Phạm Xuân Ẩn, Cao Giao, Nguyễn Tú, Như Phong Lê Văn Tiến… Phạm Xuân Ẩn, là bạn đồng môn với nhà văn Sơn Nam thời trung học Cần Thơ, Ẩn gốc người Nam dáng chân quê mộc mạc.Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Phạm Xuân Ẩn chỉ được biết tới như phóng viên của Reuters, sau đó chuyển sang tuần báo Times, trụ sở trong Continental Palace bên kia đường. Cũng không thể không nhắc tới khách sạn Caravelle, gần toà nhà Quốc hội cũ, nơi tập trung đông đảo nhà báo ngoại quốc, nơi đặt văn phòng của các hãng thông tấn và truyền hình Mỹ như ABC, NBC, CBS…

Cũng chính Morley Safer trong một buổi phát hình CBS Evening News ngày 5 tháng 8, 1965 chiếu cảnh lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ trong cuộc hành quân xua dân ra khỏi làng và sau đó bật quẹt Zippo đốt nhà của họ, những hình ấy đã làm rúng động Toà Nhà Trắng và cả nước Mỹ như một vết hằn sâu của một cuộc chiến bắt đầu thất nhân tâm. Bảy năm sau, Nick Ut phóng viên AP với bức hình “Napalm Girl” chụp trong trận giao tranh Trảng Bàng Tây Ninh ngày 8 tháng 6, 1972, cũng là thời điểm Quốc Hội Mỹ dứt khoát cắt viện trợ quân sự cho Miền Nam.
Đội quân báo chí hùng hậu ấy, trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, có khả năng điều kiện hoá dư luận với “những tin tức xấu từ một phía”, đủ làm nản lòng dân Mỹ, cùng với đám GI’s đang cầm súng từ phía bên kia nửa vòng trái đất; truyền thông Mỹ có phần công lao không nhỏ gián tiếp đưa tới mất Miền Nam Tự Do và cũng là một thất trận đầu tiên trong lịch sử các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ. Và rồi, tất cả bọn họ cũng đã kịp tháo chạy trước khi Sài Gòn đổi chủ.

Và rồi mấy ngày đầu tháng 5, 1975, Givral lại như điểm hẹn của những người bạn còn kẹt lại, tới đó để biết ai ở ai đi và nghe ngóng tin tức. Từ những chiếc bàn nhìn qua khung kính trong suốt ấy, tình cờ gặp lại Phạm Xuân Ẩn. Ẩn cũng đã từng tới thăm toà soạn báo sinh viên Y khoa Tình Thương trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày nào. Vợ con Phạm Xuân Ẩn đã được tuần báo Times cho di tản trước đó nhiều hôm, nhưng Ẩn thì ở lại. Với hơi chút ngạc nhiên và vẻ quan tâm, Ẩn hỏi tôi: “Vinh, tại sao toa không đi?” Lúc đó chỉ như một câu hỏi xã giao, nhưng phải sau này, khi đã ở trong vòng rào các trại tù cải tạo, tôi mới thấm thía vỡ lẽ được câu hỏi ấy của Phạm Xuân Ẩn, nó đã như lời báo bão về những năm tháng tù đầy từ một chính sách mà Ẩn thì biết rất rõ.

Trong vỏ bọc của một nhà báo làm cho tuần báo Times danh tiếng của Mỹ, thực chất trước đó nhiều năm Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên chiến lược đơn tuyến của Cộng sản Hà Nội. Sau này cũng chính Phạm Xuân Ẩn tâm sự với Morley Safer chương trình 60 Minutes của CBS rằng khi Sài Gòn sụp đổ không dễ gì để nói với đám “cách mạng 30” đeo súng AK lúc đó rằng, tôi là đại tá quân đội của họ, không phải
CIA. Có thể tôi bị tụi nó giết và cả con chó của tôi cũng bị nướng sống.
[Flashback, Vietnam Revisited 1989, The Spy in Winter]

Từ trái: Cao Giao Newsweek, Phạm Xuân Ẩn Times, Robert Shaplen New Yorker, Nguyễn Hữu Vượng Newsweek, Nguyễn Tú Chính Luận, [photo by Richard Avedon, Continental Hotel Saigon April 17, 1971; “The Spy Who Loved Us”, Thomas A. Bass] 1975_ Nhà báo Như Phong

1975_ Nhà báo Như Phong
Chỉ sau cụ Hoàng Văn Chí Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, người hiểu rõ cộng sản sau này không ai hơn nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến. Cô Thần cũng là bút hiệu khác của Như Phong Khói Sóng trên nhật báo Tự Do, một chuyên mục viết về cộng sản Miền Bắc. Hiểu cộng sản như vậy, với biết trước những tháng năm tù đầy, vậy mà anh vẫn chọn ở lại. Gặp lại anh tại nhà luật sư Mai Văn Lễ, trước bệnh viện Sùng Chính trên đường Trần Hưng Đạo. Anh Mai Văn Lễ có một thời làm Khoa trưởng Luật khoa Huế thời Phật giáo Tranh đấu, bây giờ chỉ còn lại mình anh, chị và hai con thì đã đi trước đó một tuần.
Trưa ngày 30 tháng Tư, ngay sau khi lệnh đầu hàng được phát đi, có thể thấy từ mấy tầng lầu cao là một cơn mưa confetti, chỉ một màu trắng của những mảnh vụn giấy tờ tuỳ thân của quân cán chính cần được xé huỷ trước khi cộng quân hoàn toàn kiểm soát Sài Gòn. Không kể những giày nón quân phục được cởi bỏ vội vàng vứt tả tơi trên đường phố. Là người đi trước thời cuộc, anh Như Phong tiên đoán đúng những gì sắp diễn ra: chiến dịch đánh tư sản, kế hoạch đổi tiền cho mỗi hộ khẩu và rồi những cuộn giấy bạc sau đó trở thành rẻ rách và rồi sẽ là quần đảo ngục tù / Gulag Archipelago một tên sách của Solzhenitsyn. Dư tiền cũ thiên hạ đổ xô đi mua vàng, đôla chợ đen không dễ gì có trong thời điểm này.Anh Như Phong thì chỉ gợi ý  mua những cuộn len qu. nhồi trong các bộ nệm sa lông giống như ngoài Bắc, sau này khi cần có thể gỡ dần ra bán để kiếm sống. Nói vậy thôi chứ thái độ của cả mấy anh em vẫn là “chờ xem”.

Và rồi vang lên tiếng xích sắt nghiến trên mặt nhựa, nhìn qua khung cửa là những chiếc tăng T54 treo cờ giải phóng hối hả chạy về phía trung tâm Sài Gòn.

1980_ Cũng đừng tới thăm
Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã đổi khác. Nếu còn chút gì thân quen thì là mấy người bạn, không nhiều còn ở lại. Anh ấy là một trong những cố tri đầu tiên tôi nghĩ tới thăm. Là giáo sư đại học, anh tốt nghiệp ở Mỹ, trở về Việt Nam từ cuối thập niên 1960, đầy l. tưởng, ôm mộng lớn về một cuộc cách mạng xã hội – theo anh công bằng xã hội/ social justice phải là giải pháp rốt ráo cho một cuộc chiến tranh bế tắc đang diễn ra khốc liệt giữa hai miền Bắc Nam.

Tôi cũng đã từng gặp anh ở Mỹ và cả những năm sau này ở Việt Nam. Sự xụp đổ mau chóng của Miền Nam với anh là cả một “giấc mộng lỡ”. Tuy không phải chịu những năm tháng tù đầy, nhưng cuộc sống gia đình anh, cũng như cả Miền Nam rõ ràng là khó khăn. Từng bước,
anh đã bán những bộ tự điển qu. lúc đó rất có giá, cho đám học giả đói sách từ Bắc vào mua; tiếp đến là đồ đạc tranh tượng, cuối cùng là còn lại là một tủ sách khoa-học-xã-hội đồ sộ mà anh đem từ Mỹ về thì nay trở thành vô giá – no value, chỉ có thể đem cân k. bán lạt-son để làm bột giấy.

Vợ anh là cô giáo cũng phải ra giữa chốn chợ trời tần tảo kiếm sống. Anh thì quá nhậy cảm để thấy nỗi đau và nhục.

Gặp lại anh, vẫn nét mặt trí thức và đôn hậu như ngày nào, nhưng trong ánh mắt thì lộ rõ vẻ bất an. Thoáng nét vui mừng nhưng anh kịp kìm hãm, vừa nói vừa canh chừng nhìn ra cửa : “Biết toa được ra trại thì mừng nhưng cũng xin toa đừng tới thăm”. Sự thẳng thắn rất trực tiếp của anh, thoáng như một gáo nước lạnh, nhưng tôi cảm thông và vẫn rất thương anh. Gia đình bên vợ anh ở Mỹ đang làm thủ tục bảo lãnh, nghĩ rằng việc có liên hệ với lính nguỵ với tù cải tạo có thể là cản trở cho cuộc hành trình hy vọng của gia đình anh tới bến bờ tự do ấy.

Anh phản ứng theo hoàn cảnh, không chút phán đoán tôi vẫn dành cho anh sự kính trọng, và mai mốt đây nếu có ngày gặp lại anh thì chắc chắn phải là trên một lục địa khác. Rất sớm trên toàn Miền Nam đã bắt đầu có một mạng lưới tai mắt tổ dân phố và công an đủ để
gây hoài nghi và cả sự sợ hãi.

Ra khỏi nhà anh, có lại được niềm vui ấm lòng khi gặp người bạn tấm cám Nghiêu Đề. Nghiêu Đề cho biết mới gặp Sao Trên Rừng đi xe gắn máy từ Đà Lạt xuống, ngạc nhiên thấy Nguyễn Đức Sơn lần đầu tiên ăn vận đồ lớn complet cravate, hỏi tại sao thì Sơn cười giọng khinh mạn: “có vậy mới khỏi lẫn với tụi nó”.
1980_ Trần Phong Giao ngoài chợ
Trần Phong Giao dáng vạm vỡ, da sậm có vẻ công nhân lao động ngoài nắng hơn là người làm việc chữ nghĩa văn phòng. Nổi tiếng là thư k. toà soạn báo Văn trong 8 năm từ 1963 tới 1971, một tờ báo có vị trí đặc biệt trong sinh hoạt văn học Miền Nam với phát hiện những cây bút mới và không ít sau này đã trở thành những tên tuổi. Sau Văn, anh thử làm nhiều công việc khác cũng trong lãnh vực báo chí, xuất bản, rồi thủ thư nhưng đã không để lại nhiều dấu ấn như ở Văn.

Không lâu sau 30 tháng 4, cả hai anh chị đã phải chạy chợ kiếm sống với chiếc xe ba bánh, đậu trên đường Lê Thánh Tôn đứng bán từng bó củi, mấy nải chuối hay những bó rau tươi để nuôi đàn con. Ngày ra tù, tới thăm anh, vẫn ở trong con hẻm gần Cầu Kiệu, bên Tân Định,
anh gầy sút đi nhiều hai chân đã rất yếu. Gia tài của anh đáng giá vỏn vẹn còn một tủ sách, quý nhất là trọn bộ báo Văn đóng bìa da, một sự nghiệp của Trần Phong Giao nhưng rồi anh cũng đã không giữ được và phải đem bán cho một Việt kiều từ Mỹ về để có tiền chạy gạo và thuốc men. Trần Phong Giao mất trong sự túng quẫn và bạo bệnh (2005), anh cũng bước qua được ngưỡng tuổi cổ lai hy.
1981_ Và những bữa cơm gia đình
Ngôi nhà Nghiễm trong con hẻm với mặt tiền hẹp nhưng khá sâu. Nghiễm mặc quần soóc, áo thun trắng, đôi mắt rất tinh anh lúc nào cũng như mỉm cười, trông trẻ hơn tuổi của một người sinh năm 1936.

Tuy sống gần khu Chợ Cũ, sẵn những quán ăn vỉa hè và nhà hàng, rất tiện cho nếp sống cơm hàng cháo chợ, nhưng thường sau một ngày làm việc, thay vì về nhà tôi ghé nhà Nghiễm, được chị Trang vợ Nghiễm cho thêm chén thêm đũa với những bữa ăn đạm bạc nhưng ngon miệng vì là bữa cơm hạnh phúc gia đình. Trong tù, tôi và Nghiễm thì đã quen với những bữa ăn đói ngày đêm, ra ngoài tuy rau đậu nhưng cũng là bữa tạm no.

Người lớn thì không sao, nhưng với trẻ nhỏ đang tuổi “mau ăn, chóng lớn” thì khẩu phần ấy phải xem là suy dinh dưỡng. Nếu không là ngày phải ra trễ, tôi ghé qua chợ mua một món ăn gì đó, đem tới bày thêm vào mâm cơm gia đình. Có thêm món thịt, thêm chút chất đạm thì hôm đó với hai đứa nhỏ như là bữa tiệc. Những lần gặp nhau, tôi và Nghiễm đều ít nói. Hình như Nghiễm có viết ở đâu đó là những điều không cần nói ra nhưng cũng đã hiểu nhau rồi.

Chỉ có cô giáo Trang vợ Nghiễm sau một ngày dạy học mệt nhọc nhưng lúc nào cũng có đôi chuyện vui từ trường đem về gia đình. Miền Nam tài nguyên thì vẫn nguyên vẹn, nhưng đã có chính sách bần cùng hoá kiểm soát từng bao tử của người dân qua khẩu phần và sổ lương thực của họ.
1982_ Dương Nghiễm Mậu và một Thanh Tâm Tuyền khác
Đã gặp Thanh Tâm Tuyền ở những ngày 30 tháng Tư 1975 nơi một căn nhà nhỏ bên Gia Định. Vợ Tâm lúc đó cũng vừa sinh đứa con trai út trong cảnh tán loạn bệnh viện Nguyễn Văn Học. “Một Chủ Nhật Khác” cuốn tiểu thuyết cuối cùng của “một thời để yêu một thời để chết” cũng vừa mới in xong, chưa kịp phát hành. Ra tù 1982, gặp lại Thanh Tâm Tuyền của Bếp Lửa, bằng tuổi Dương Nghiễm Mậu nhưng trông anh già hơn nhiều, da sậm đen sắc diện của một người bị bệnh sốt rét kinh niên.

Khó có thể tưởng tượng với vóc dáng mảnh mai ấy anh sống sót qua suốt bảy năm tù đầy ngày nào cũng đói lạnh nơi những vùng sơn lam chướng khí ấy ở các trại giam Miền Bắc. Bảy năm đốn tre trảy gỗ trên ngàn, bị tre nứa đâm xuyên đùi không giải phẫu thuốc men nhưng anh vẫn sống sót, trong tù chống rét anh tập hút thuốc lào, không giấy bút anh vẫn làm thơ qua trí nhớ nhưng là những bài thơ trở về với các thể thơ truyền thống.

Thơ ở Đâu Xa là tập thơ cuối cùng làm trong tù TTT cho xuất bản ở bên Mỹ (1990). Trong một cuộc phỏng vấn rất hiếm năm 1993, Thanh Tâm Tuyền đã giải thích sự chuyển biến trong thi ca của anh: “Làm thơ trong trại cải tạo, cũng là trở về với thi ca truyền thống dân gian/ Faire de la poésie dans un camp de redressement, c’est aussi retourner à la poésie de tradition populaire.”
[Thanh Tam Tuyen, la poésie entre la guerre et le camp; par Le Huu Khoa,
Publications de l’Université de Provence]
Trong chỗ rất riêng tư, anh tâm sự: Thái Thanh bạn anh đã dứt khoát không hát từ sau 1975. Khi biết Thanh Tâm Tuyền vừa ra tù đến thăm, cô ấy cầm đàn và hát lại những bài thơ phổ nhạc của anh: Đêm màu hồng, Nửa hồn thương đau, Lệ đá xanh… tuy ấm lòng gặp lại cố tri nhưng rồi anh đã không còn nguyên vẹn cảm xúc để nghe lại những thanh âm ngày cũ. Anh đã nói không với những người mới muốn gặp anh. Anh vẫn giữ thái độ đó khi sang định cư ở Mỹ. Sự khép kín ấy khiến Mai Thảo đôi khi cũng phản ứng giận
lẫy.

Từ phải: Thanh Tâm Tuyền và Doãn Quốc Sĩ trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn 1985 [nguồn: internet]
Rồi cũng có một buổi gặp gỡ cuối 1982, từ nhà Nghiễm có Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và tôi cùng đi bộ tới một quán cóc cũng trên đường Trương Minh Giảng nơi gần đường xe lửa. Thức uống của Nghiễm bao giờ cũng là một chai bia. Nhắc tới Tô Thuỳ Yên Trường Sa Hành thì vẫn còn ở trong tù. Rồi chẳng ai nhắc tới nỗi khổ hiện tại mà câu chuyện lại xoay quanh những người bạn may may mắn ở phương xa. Những người đi thoát trước 1975, vài tên tuổi được nhắc tới: Thanh Nam Tu. Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Viên Linh… Nhưng rồi tên Mai Thảo Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời vẫn như điểm hội tụ của những tin tức. Anh là nhà văn duy nhất hiếm hoi thoát các vụ ruồng bắt của cộng sản trong suốt hai năm sống lẩn lút ở Sài Gòn. Vẫn có nhiều người liều mạng che chở cho anh. Trần Dạ Từ Tỏ Tình Trong Đêm cùng với rất nhiều nhà văn nhà báo thì đang trong tù, Nhã Ca Giải Khăn Sô Cho Huế ra tù sớm phải cưu mang một đàn con nhỏ nhưng cũng chính mấy mẹ con Nhã Ca đã bất chấp hệ luỵ cất dấu bác Mai Thảo trong nhà, một căn phố lầu trên góc đường Tự Do, đây cũng là chặng ẩn náu cuối cùng của Mai Thảo cho đến khi anh vượt biển rất sớm thoát được tới đảo Pulau Besar Mã Lai đầu tháng 12, 1977.Hai năm sau Mai Thảo 1979, phải kể tới chuyến đi thừa sống thiếu chết của  81 thuyền nhân trong số đó có Nhật Tiến Người Kéo Màn và thầy Từ Mẫn Lá Bối, vợ chồng ký giả Dương Phục Vũ Thanh Thuỷ… và con tàu đã gặp nạn hải tặc Thái Lan trên biển rồi trên đảo Kra, và cũng rất sớm qua ngòi bút của người chứng Nhật Tiến đã ghi lại những thảm cảnh ấy và bắt đầu làm rúng động lương tâm thế giới. Cũng khởi đầu cho phong trào Cứu Người Vượt Biển về sau này.
Sau lần gặp gỡ nơi nhà Nghiễm, Thanh Tâm Tuyền chuẩn bị đi Mỹ theo diện HO, cho dù “tâm thái” – chữ của TTT, vẫn gắn bó với một quê hương mà anh không muốn xa rời, riêng tác giả Ba Sinh Hương Lửa lại vào tù tổng cộng 14 năm trước khi đi định cư 1995 và gặp lại Mai Thảo ở Quận Cam. Trên đường đi, tôi không thể không có . nghĩ nếu làm một con toán cộng những năm tù đầy của mỗi văn nghệ sĩ Miền Nam, con số ấy phải vượt trên nhiều thế kỷ. Không phải chỉ có oan nghiệt giam cầm huỷ hoại những thân xác, họ còn giết chết sức sáng tạo của văn nghệ sĩ trong khoảng thời gian sung mãn nhất. Một nỗ lực huỷ diệt cả một nền văn hóa đến tận gốc: trước lịch sử, ai phải nhận lãnh trách nhiệm cho những tội ác thiên thu ấy?

Tiểu sử:
Dương Nghiễm Mậu tên thật là Phí Ích Nghiễm, sinh năm 1936 tại Hà Đông, cùng năm sinh với Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường. Học tiểu học trường Hàng Than, trung học Chu Văn An Hà Nội. Cùng học 2 trường ấy nhưng Nghiễm hơn tôi 5 tuổi, có lẽ trên nhiều lớp nên không được biết anh. 1954 di cư vào Nam. Từ 1957 viết nhiều tùy bút, đoản văn, truyện ngắn, truyện dài cho Sáng Tạo, Thế Kỷ 20, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Giao Điểm, Chính Văn. Có một giai đoạn ngắn, Nghiễm sinh hoạt nơi Đàm Trường Viễn Kiến của Nguyễn Đức Quỳnh Ai Có Qua Cầu. Từ 1962, làm tạp chí Văn Nghệ với L. Hoàng Phong, anh của nhà thơ Quách Thoại.

Tập truyện ngắn đầu tay Cũng Đành, Văn Nghệ xuất bản năm 1963. Truyện dài Gia tài Người Mẹ, giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc 1966. Nhập ngũ 1966 với cấp bậc hạ sĩ đồng hoá, làm phóng viên chiến trường đến tháng
4/1975. Sau 1975 bị bắt, ra tù 1977, sống bằng nghề sơn mài tại Sài Gòn.

 

Nghiễm nhắm mắt mỉm cười dưới mặt đồng hồ kim phút kim giờ cùng rớt xuống [photo by Trần Cao Lĩnh]

2006_ Những Cơn Mưa Sài Gòn
Từ một khách sạn nhỏ gần đường Tự Do, để tới khu nhà thờ Ba Chuông, đi bộ thì quá xa, taxi thì nạn kẹt xe, tôi chọn Honda ôm, nhưng đã không tránh khỏi thót tim vì mấy tay lái xe quá liều mạng: chạy nhanh len lách, ngược dòng xe cộ, cắt cả lên vỉa hè đông người đi bộ mà anh ta cho là an toàn hơn đi theo luật giao thông. Tuy không có mẩu giấy địa chỉ trên tay, nhưng có trí nhớ tốt về hình ảnh / photographic memory, tôi nghĩ vẫn có thể tìm ra nhà Dương Nghiễm Mậu vẫn trong ngõ hẻm ấy cho dù đã nhiều năm không gặp.

Nhà đã được xây lại, cất thêm một từng lầu. Nghiễm nay là nghệ nhân sơn mài, chị Trang vợ Nghiễm thì vẫn dạy Anh văn ở Marie Curie, hai con Nghiễm đã trưởng thành tốt nghiệp đại học và đi làm. Cả gia đình đều làm việc cật lực để tạo được một cơ ngơi như hôm nay.
Khi Nhà Văn là Con Bệnh
Tháng 9, 2006 gặp lại Nghiễm sau bao năm, khi anh vừa bước vào ngưỡng tuổi cổ lai hy. Thanh Tâm Tuyền vừa mất trước đó 6 tháng [03/2006]. Như Phong Khói Sóng mất đã 5 năm [12/2001], Mai Thảo Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền cũng mất trước đó 8 năm [01/1998], cùng năm với Nghiêu Đề Ngọn Tóc Trăm Năm [11/1998]. Họ là những nghệ sĩ Việt Nam chọn tự do phải sống lưu vong và vùi thân ở một nơi không phải quê nhà.

Nghiễm thì vừa gặp nạn ở cái tuổi 70, khi đang đi bộ trên lề anh bị một xe gắn máy chắc cũng lại xe ôm leo lên tông gẫy xương cổ chân, phải phẫu thuật bó bột gần 2 tuần lễ rồi mà còn sưng đau, vẫn phải chống nạng.

Nghiễm giỏi chịu đựng, không hề than đau chính điều ấy khiến tôi quan tâm. Nghiễm cần được tái khám để có một . kiến thứ hai / second opinion. Tôi nghĩ tới một bạn đồng môn còn ở lại, chuyên khoa chỉnh trực, giảng dạy ở Y khoa, bạn bè gọi anh là người có bàn tay vàng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình. Anh cũng có phòng mạch tư ngoài giờ và tôi đề nghị đưa Nghiễm tới đó. Nghiễm thì lưỡng lự không muốn nhưng vì tình bạn anh đã không thể nói không.

Không có địa chỉ, nhưng biết phòng mạch Bs Võ Thành Phụng trên đường Lê Văn Duyệt, đối diện với trụ sở Tổng Liên Đoàn Lao Công cũ. Với một cổ chân bị gẫy còn rất xưng đau, thì lên và xuống taxi lúc này không phải là dễ dàng đối với Nghiễm. Cơn mưa nhiệt đới thì vẫn cứ tầm tã từ nhà cho tới khi Nghiễm bước chân được vào phía trong phòng mạch. Gặp chị Võ Thành Phụng, khi biết người bệnh là nhà văn Dương Nghiễm Mậu, thì tôi hầu như không còn vai trò gì nữa. Chị là độc giả lâu năm và rất quen thuộc với các tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu, từ thời báo Văn, Văn Nghệ và cả Sáng Tạo ngày nào, không kể những cuốn sách của Nghiễm mà chị đã đọc.

Phòng mạch đông khách, do sắp xếp của chị Phụng, Nghiễm là bệnh nhân mới được ưu tiên khám trước. Anh Phụng cùng tôi đọc những tấm phim chỉ rõ xương cổ chân gẫy chưa lành nhưng không nhiều di lệch nên không cần thêm phẫu thuật mà là điều trị bảo tồn. Quá bận bịu với chuyên môn, anh Phụng có lẽ không là độc giả của Dương Nghiễm Mậu như chị Phụng nhưng Nghiễm đương nhiên trở thành người bệnh đặc biệt của phòng mạch anh chị hôm đó. Trời vẫn không ngớt mưa, trong taxi trên đường về, tôi nói đùa với Nghiễm, trong cuộc đời viết văn, tôi chưa bao giờ có hạnh phúc được gặp được một nữ độc giả tâm đắc và yêu văn chương đến như vậy. Rất ít bày tỏ, như từ bao giờ Nghiễm chỉ đáp lại bằng một nụ cười hiền.

 Dương Nghiễm Mậu gẫy chân, ngồi cười trước tủ sách, hai tay tựa trên khung đi / walker [photo by Ngô Thế Vinh 09/ 2006] 2012_ Từ Hải Ngoại Truyện.
Trước 1975, đọc Kinh Kha với con chủy thủ trên đất Tần bất trắc trong Nhan Sắc để thấy truyện Dương Nghiễm Mậu là những tình huống và thái độ lựa chọn, rất biểu tượng và nhiều ẩn dụ. Nghiễm viết truyện xưa mà nói tới nay. Kinh Kha qua sông Dịch, chàng lọt vào được cung điện, khi đã kề đoản đao vào cổ Tần Vương, nhưng thay vì run sợ, thì Tần Vương lại ngửa mặt cười. Và Kinh Kha chợt hiểu ra tất cả: giết bạo chúa này sẽ lại có một bạo chúa khác… Và hình ảnh Kinh Kha lầm lũi rời khỏi cung điện vẫn là nỗi đau không cùng, như một dự báo oan khiên cho ngày hôm nay.Từ Hải Ngoại Truyện được Dương Nghiễm Mậu viết khoảng 10 năm sau 1975, [Gia Định, 2005]. Từ Hải là nhân vật được Dương Nghiễm Mậu khá nâng niu. Phí Ích Bành em Nghiễm, trao cho tôi một phong bì với 16 trang chữ có ít dòng thủ bút của Nghiễm. Đọc ngay những trang viết ấy để thấy một Từ Hải Ngoại Truyện nửa anh hùng nửa thảo khấu, rất khác với nhân vật chính truyện khi chọn con đường bổng lộc giam thân về chốn triều đình.

Từ Hải Ngoại Truyện với thủ bút của Dương Nghiễm Mậu Một trích đoạn về bối cảnh xã hội trong Từ Hải Ngoại Truyện: “một hôm thầy Khổng ngồi xe đi trên đường thì thấy một bô lão bước tới vái chào, thầy Khổng cho dừng xe lại, trong chốc lát cả một đám đông trẻ con gầy còm nhếch nhác vây quanh. Ông lão nói: nghe thiên hạ nói thầy nhiều chữ nên tới xin một ít. Khổng Tử liền mở cái hòm gỗ lấy ra một cuốn sách trao tận tay cụ già. Cụ già cầm lấy ngắm nghía rồi lật những trang sách nhìn trên nhìn dưới rồi gấp lại đứa trả thầy Khổng và nói: tôi không biết dùng cái này để làm gì. Có tiếng cười khả ố vang lên từ một người trung niên ở trần, đóng khố: sách chẳng có giá trị gì đối với những người không có cơm ăn và mù chữ. Ông hãy bước chân xuống ruộng, đi cày trồng lúa rồi lấy thóc mà cho họ thì có ích hơn. Chuyện chỉ kể tới đó không cho biết hành xử của thầy Khổng ra sao”.
Cũng trong Từ Hải Ngoại Truyện, Dương Nghiễm Mậu viết về giới quan lại khoa bảng: “Trong Sưu Tặc K. những kẻ nổi lên làm giặc thường xuất thân là dân thuyền chài, kẻ cầy ruộng, người chăn trâu, kẻ đốn củi; tuyệt nhiên không thấy có kẻ nào đậu tiến sĩ, trạng nguyên. Không tên giặc nào có làm thơ làm phú, hoặc từng làm quan, làm thầy giáo mà đi làm giặc. Ở những sách khác có viết về kẻ có chữ bất mãn thường chọn cách viết sớ tâu lên: khi thì đòi chém tham quan ô lại, khi kêu ca sưu cao thuế nặng khiền dân đen chết đói, khi kêu oan cho lương dân bị chết chém… Những lá sớ lâm ly thảm thiết này thường không được nghe. Có kẻ dâng sớ nhiều lần nhưng không thấy cởi bỏ áo mũ trở lại làm phó thường dân mà vẫn ung ung tại vị hưởng bổng lộc của triều đình. Một đôi kẻ chấp bút có đôi chút tự trọng thì chọn con đường ở ẩn, không chọn con đường làm giặc nên không có tên trong Sưu Tặc K..”

Dương Nghiễm Mậu viết những dòng cuối: “Từ những trang sách tới thực tế của chuyến đi làm ta hoài nghi những ghi chép của người xưa… nhiều sách truyện đã để cho Từ Hải chết đứng giữa trận tiền. Một anh hùng phải có cái chết anh hùng. Trong ngoại truyện Từ Hải, cuối cùng Từ Hải đã chết nhưng chết một cách khác, không phải cách chết đứng giữa trận tiền.”

Rồi từ chuyện xưa mà hóa ra nay, Dương Nghiễm Mậu viết tiếp: “Nhiều sách tạo ra những anh hùng như mô tả kẻ tự biến mình thành cây đuốc sống, lấy thân mình bịt họng súng thần công, ôm bom lao vào quân giặc mà chết. Hầu hết những anh hùng trong sách đó chẳng bao giờ người ta tìm ra tung tích.”
Tưởng cũng nên nói thêm, căn nhà của gia đình Nghiễm không xa cây cầu Nguyễn Văn Trổi trên đường Công L. thời chống Mỹ, rồi không thể không nhắc tới “cây đuốc sống” Lê Văn Tám đốt kho xăng Thị Nghè 1945 thời chống Pháp: một nhân vật mà sau này Trần Huy Liệu, bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào những ngày cuối đời đã trối trăng lại với đám môn sinh: Lê Văn Tám chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và không có thật.

Ba mươi hai năm sau 1975, qua liên lạc vận động của nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, [cũng là người giới thiệu Phạm Duy đến với Công ty Phương Nam], nhà xuất bản Phương Nam đã tái bản 4 tập truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu (Đôi Mắt Trên Trời, Cũng Đành, Nhan Sắc, Tiếng Sáo Người Em Út), và truyện dài Nguyệt Đồng Xoài của Lê Xuyên. Ngay sau đó, Vũ Hạnh, tuổi đã ngoài 80, như một đao phủ đã không nương tay viết bài đấu tố Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên, và quy tội Công ty Phương Nam.

Vũ Hạnh viết: “Sách của Dương Nghiễm Mậu thì nổi bật tính phản động tha hóa lớp trẻ hầu đưa đẩy họ vào sự chống phá cách mạng, chống lại sự nghiệp giải phóng đất nước khỏi sự thống trị của bọn đế quốc xâm lược, còn sách của Lê Xuyên là tính đồi trụy.” Vũ Hạnh viết tiếp: “Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất  nước.” Và rồi cũng Vũ Hạnh kể lể: “các tác giả Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp bất cứ sự quấy phiền nào.” [Sài Gòn Giải Phóng, 22/4/2007].
Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây, trước 1975 đông đảo thế hệ văn nghệ sĩ Miền Nam không thiếu lòng nhân ái đã hơn một lần cùng vận động k. tên yêu cầu thả Vũ Hạnh. Vũ Hạnh cũng được Văn Bút Việt Nam che chở, và khi bị kết án tù thì chính linh mục Thanh Lãng, Chủ tịch Văn Bút đứng ra bảo lãnh, để rồi sau đó Vũ Hạnh lại công khai ra ngoài họat động.

Sau 1975, nhiều nhà văn nhà báo miền Nam ấy đã chết rũ trong tù như Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Trần Văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường… hay vừa ra khỏi nhà tù thì chết như Hồ Hữu Tường, Vũ Hoàng Chương. Nếu còn sống sót, đều nhất loạt phải gác bút: Dương Nghiễm Mậu sống bằng nghề sơn mài, Lê Xuyên ngồi bán thuốc lá lẻ ở đầu đường, Trần Lê Nguyễn tác giả kịch Bão Thời Đại thì phải đứng sạp bán báo để độ nhật, Nguyễn Mộng Giác Đường Một Chiều làm công nhân sản xuất mì sợi, Trần Hoài Thư Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi ba năm ở tù ra trở thành Người Bán Cà Rem Dạo.
Nghiễm vốn tâm lành, nếu có ai nhắc đến chuyện Vũ Hạnh thì anh chỉ cười, giọng vẫn bao dung, anh tin trên đời người tốt nhiều hơn kẻ xấu, kẻ xấu như vậy rốt cuộc họ cũng tự thấy sai. Nghiễm có lạc quan quá không vì đã hơn 40 năm chịu khổ ải do họ gây ra, nay đã tới tuổi gần đất xa trời mà sao họ vẫn“chưa tự thấy sai” chưa hề biết sám hối. Một người bạn rất quen biết Vũ Hạnh nhận định: sự hung hãn ấy chỉ như tấm bình phong – một thứ raison d’être, biện minh cho sự hiện hữu của Vũ Hạnh còn như một người cộng sản.
“Ngày Xưa Vũ Hạnh” cộng sản nằm vùng vẫn được sống thênh thang, vẫn được đối xử như một nhà văn [L. Đợi, talawas 10.5.2007] “Ngày Nay Vũ Hạnh” bên thắng cuộc – tên bộ sách của Huy Đức, thì vô cảm vênh váo, là tiếng nói hung hãn nhất trong Hội đồng đánh giá Văn Học Miền Nam tại Thư Viện Quốc Gia. Vẫn một cliché, vẫn một khẩu hiệu tung hô không suy xuyển: “tác giả là gốc ngụy, nội dung tác phẩm là nô dịch phản động đồi trụy”. Vũ Hạnh xấp xỉ tuổi Võ Phiến, nay sắp bước vào cái tuổi 90 vẫn cứ nhân danh “đảng ta, chèo lái con thuyền chở đạo” vẫn không ngừng truy đuổi cả những thế hệ nhà văn trẻ nối tiếp có khuynh hướng tự do, điển hình qua bài viết phê phán Nhã Thuyên và Nhóm Mở Miệng với hai cây bút nổi trội là L. Đợi và Bùi Chát [Thấy gì từ một luận văn sai lạc, Văn Nghệ
29/2013].
Có lẽ tấn thảm kịch của Vũ Hạnh cũng như những người cộng sản tha hoá bước vào Thế Kỷ 21 là sự “nguỵ tín/ mauvaise foi” họ sống với hai bộ mặt, vẫn không ngừng hô hào cổ võ cho điều mà họ không còn chút tin tưởng. Vũ Hạnh vẫn không ngưng nặng lời chửi rủa Mỹ, nhưng rồi vẫn gửi con cái đi du học rồi trưởng thành sống ở Mỹ; Vũ Hạnh vẫn được ra vào nước Mỹ như một con người tự do.

Trở lại với Nghiễm, nhiều người vẫn nghĩ rằng, sau 1975, ngoài thời gian bị tù đày, đi làm sơn mài kiếm sống, Dương Nghiễm Mậu không còn viết gì. Điều này có lẽ không đúng. Nghiễm không có sách mới xuất bản trong nước suốt 40 năm từ sau 1975. Nhưng Dương Nghiễm Mậu như tôi biết, anh vẫn viết, trong đó có “Tự Truyện Nguyễn Du” như một tác phẩm lớn mà tôi tin là anh vẫn bền bỉ hoàn tất từng trang sách.

2015_ Mưa California Mưa Sài Gòn
California vẫn khô hạn, nhưng thản hoặc cũng có những cơn mưa đủ tầm tã để gợi nhớ những cơn mưa Sài Gòn, nhớ ngày tới thăm bạn cũng vào một buổi chiều mưa như vậy, với những khúc đường xá thì ngập lụt. Hạnh phúc ở xa là có được một người bạn như Nghiễm, cho dù ở đâu và bao giờ có biến động ra sao thì vẫn cứ là một Dương Nghiễm Mậu với Nhan Sắc ấy, nhất quán và xác tín như thuở nào: có cái dũng để nói không.

Tôi nghĩ tới Nghiễm, anh đã sống trong dòng chính sinh hoạt Văn Học Miền Nam, từ rất sớm cho tới 1975, và 40 năm sau anh vẫn thăng trầm với vận nước ngay trên quê nhà. Anh là một nhân chứng khả tín cho suốt thời kỳ ấy và điều anh viết ra được mọi người tin.
Lời Cuối Cho Bài Viết
Dự định khởi đầu là một bài viết về cố tri Dương Nghiễm Mậu, với cuộc hành trình 40 năm của anh. Bài viết chỉ với hơn bảy ngàn chữ, nhưng rồi không tránh được, như một flashback, có thêm những khúc phim trắng đen ngắn của hồi tưởng rất chung và cả rất riêng tư, khá rời rạc đổ tràn theo những trang viết.
Vậy mà đã 40 năm qua đi 1975-2015, với đời người như một cơn gió thoảng, với lịch sử chỉ là một chớp mắt, nhưng lại là một chặng đường rất dài trải nghiệm những tang thương. Thêm một chớp mắt nữa, thế hệ những người cầm bút 1954-1975 đều trở về với cát bụi, một số có thể còn được nhắc tới qua tác phẩm nhưng rồi cũng phải kể tới cuộc sống đầy đoạ và cả những cái chết tức tưởi của họ. Nói tới Văn Học Miền Nam, không thể không có một “cuốn sách trắng/ livre blanc” về thời kỳ đó, một Wikipedia mở, như một “bộ nhớ” cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Trong quá trình phục hồi di sản Văn Học Miền Nam, không thể không nhắc tới một tên tuổi: Trần Hoài Thư – Thư Quán Bản Thảo, anh có hùng tâm và đơn độc trong suốt nhiều năm nỗ lực khôi phục lại những văn bản của một thời kỳ văn học bị truy lùng và huỷ diệt.

Không phải là quá sớm để ghi lại một giai đoạn lịch sử trung thực, chứ không phải là “phiên bản” nguỵ tạo mà người cộng sản đã và đang làm. Trước khi lịch sử bước qua một trang khác.
NGÔ THẾ VINH
Sài Gòn 1975 – California 2015

(Tác giả gửi đăng)
23

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Hố chôn người ám ảnh (Ấp Tân Lập, Xuân Lộc)

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Hố chôn người ám ảnh

Trần Đức Thạch

24-02-2015

RFA

Bộ đội Trần Đức Thạch, ảnh chụp khoảng năm 1975-1976. Internet file.

Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với Sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn. Nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng hòa tiếp viện cũng như rút lui.

Phải công nhận là Sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến  hai người lính Sư đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá.

Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai  nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.

… Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng  nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.

– Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!

Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.

Tôi quát:

Dân Xuân Lộc kéo nhau chạy trốn bộ đội Cộng Sản, được trực thăng VNCH đưa di tản tránh chiến sự 1975

– Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.

Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:

– Anh ơi! đây là lệnh…

– Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!

– Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!

– Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!

Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo.

Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy năm người con gái và năm người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:

– Ai bắn đấy?

– Đại đội phó Hường đấy anh ạ!

QĐVNCH giúp dân Xuân Lộc lên trực thăng tránh chiến sự, 1975

Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu  đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu.

Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ, ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ Nguỵ ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có  bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em Phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:

– Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!

– Không lo, có tôi đi cùng!

Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:

– Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước  tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.

Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình bằng mọi nỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”

Bộ đội CSBV trong một thành phố VNCH sau 30 tháng 4, 1975

Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:

– Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

– Em bị thằng cha nào đó lừa  rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.

* * *

…. Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao?

Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình dung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác.

Không! Người dân Ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tuỷ câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhoà được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa, có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân chương do Đảng và Nhà nước trao tặng sau ngày chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này.

Sau ngày giải phóng miền Nam 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:

Nhà văn-Nhà thơ bất đồng chính kiến Trần Đức Thạch bị tuyên án 3 năm tù, ngày 10 tháng 8 năm 2009

– Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả lũ!

Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là Đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập…

Thời gian trôi, Tôi, từ một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói . Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.

Trần Đức Thạch
Cựu phân đội trưởng trinh sát
Tiểu đoàn 8  – Trung đoàn 266
Sư đoàn 341 – Quân đoàn 4

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam, Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »

►Không phải tạm dung!

Posted by hoangtran204 trên 07/03/2015

Không phải tạm dung!
Monday, February 23, 2015

Lệ Hoa Wilson

Tôi người Việt Nam. Ông xã người Mỹ. Chúng tôi gặp nhau và thành hôn năm tôi 30 tuổi, đã một lần ly dị và có hai đứa con. Ông xã thì cũng 30 tuổi và còn là trai tơ.

Vùng I chiến thuật lấy Ðà Nẵng (nơi tôi và ông xã gặp nhau) làm thủ phủ nên có rất nhiều bộ chỉ huy trong đó có nhà thương của Hải Quân Mỹ là trung tâm y tế cho tất cả binh sĩ Mỹ trong vùng. Qua khỏi ngã tư Mỹ Khê, quẹo mặt để đi vào núi Non Nước, nằm về phía tay mặt là nhà thương. Tôi đoán nó chiếm trọn ít nhứt là năm mẫu đất với các trung tâm y tế mổ xẻ, chữa trị đủ loại, nhà ở cho binh sĩ và dĩ nhiên là một nhà xác! Một nhà xác không có nhiều nước mắt vì thân nhân ở mãi mười ngàn dặm xa!

Trước mặt nhà thương là một bãi đáp trực thăng để tải các thương binh, các chiến sĩ tử trận từ các chiến trường vùng I. Mỗi lần trực thăng đáp xuống thì con đường xe chạy được các quân cảnh Mỹ chận lại, từng chiếc cáng được vội vã khiêng ra chạy thẳng vào cổng chánh, có người sẽ tỉnh lại với một cái chân nằm đâu đó trong lá rừng rậm rạp, có người sẽ được trở về quê hương dưới lá cờ phủ kín, có người sẽ ngậm ngùi từ biệt những giấc mơ vì cánh tay đã mất, gương mặt đã bị tàn phá, linh hồn đã bị tổn thương…

Đại gia đình tác giả (áo đỏ, đứng thứ 2 từ trái) trong lần cậu con trai út tốt nghiệp đại học UC Berkeley. (Hình: Tác giả cung cấp)

Vì ông xã thuộc binh chủng hải quân và đóng quân trong nhà thương nên tôi đã có biết bao lần phải ngừng xe, tắt máy, ngồi nhìn những bước chân vội vã, những gương mặt chịu đựng, những ánh mắt buồn hiu của những người tải thương. Mỗi khi có một cái cáng phủ cờ Việt Nam hay Mỹ thì những người Mỹ xuống xe đứng nghiêm chỉnh đưa tay chào vĩnh biệt. Tôi ít khi thấy thương binh Việt Nam, có thể vì họ được chuyển tới một trung tâm y tế khác. Chỉ có một lần tôi thấy một cái cáng được khiêng ra khỏi cửa trực thăng, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa phủ kín. Tôi không thấy mặt cũng như binh chủng của tử sĩ nhưng một người đàn bà đầu tóc rũ rượi, cánh tay quấn băng treo vào vai còn đẫm máu đang lảo đảo nhảy ra khỏi cửa trực thăng. Tóc chị trước kia chắc được cột lại bằng dây thun, nay chỉ còn một vài lọn lỏng lẻo trên đỉnh đầu còn bao nhiêu thì thả dài rối rắm xung quanh mặt.

Bạn ơi, hình ảnh đau thương nhứt không phải là cái cáng có người chết nằm phủ kín lá cờ vàng chói, không phải dòng nước mắt đầm đìa trên mặt người sống sót mà là một miếng băng vải mỏng dùng để quấn vết thương. Nó bị dơ vì đất và máu. Nó chỉ dài bằng một chiếc khăn mùi soa. Nhưng nó lại được người vợ trân trọng để ngang lên trán, dùng một cọng lạt dừa cột vòng lại sau đầu. Mảnh khăn tang được vội vã quấn tạm thời nhưng sự ly biệt thì chắc chắn ngàn trùng xa cách. Người thiếu phụ Việt Nam đang để tang cho người chồng chiến sĩ đã hy sinh vì tổ quốc!

Tôi không ra khỏi xe chào vĩnh biệt người chiến binh nhưng gục mặt vào tay lái nước mắt tuôn rơi khóc thương cho những đứa trẻ đang quẩn quanh trong thôn xóm chờ cha trở lại. Tôi tưởng tượng tới lúc gia đình nghe tiếng chuông reo, mở cửa ra và thấy một người binh sĩ đứng trước mặt với cái nón cầm trên tay. Người mẹ ở ngàn dặm xa kia có ngã xuống vì trái tim tan nát?… Một cái gì đó nhen nhúm trong tâm hồn tôi. Chiến tranh tiếp diễn cho tới một lúc nào đó thì hòa ước được ký, quân đội Mỹ rút đi.

Anh nấn ná xin ở lại Việt Nam và là nhóm binh sĩ cuối cùng ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất vào đầu năm 73. Tháng 6, 1973, tôi sanh đứa con trai đầu lòng cho anh. Tháng 9 năm 74 tôi qua Mỹ thăm anh tiện thể thăm dò chuyện xuất nhập cảng. Chúng tôi dự định chờ anh ra khỏi quân đội và sẽ về sinh sống tại Việt Nam. Ðiều kiện để tôi nói “I do” là chúng tôi phải ở Việt Nam và sẽ có bảy đứa con. Tôi nào biết trời cao đất rộng là gì, chỉ biết rằng tôi rất ham con và bảy đứa là một con số chấp nhận của gia đình VN, đâu nghĩ rằng đối với người Mỹ hai đứa là lý tưởng, ba đứa là chau mày, bốn đứa là nổi điên, năm đứa là tan nát, sáu đứa là thảm họa mà bảy đứa là… rồi đời!

Thời cuộc thay đổi, đến tháng 3 năm 75 thì tôi quay về Việt Nam để đón các con. Lúc đó tôi đang có thai đứa thứ hai được bảy tháng. Khi còn bên Mỹ, qua tin tức trên báo và tin rỉ ra trong quân đội thì chúng tôi biết chắc là Saigon sẽ mất, nhưng khi về Việt Nam thì Saigon vẫn vui vẻ, vẫn bình yên. Rạp chiếu bóng vẫn hát, tiệm ăn vẫn mở cửa, đám cưới vẫn tiến hành, tình yêu vẫn nở hoa… Tôi thầm cằn nhằn báo chí Mỹ thật là dỏm, toàn là đưa tin vịt không hà.

Nhưng với ngày qua, mọi việc có vẻ tệ hơn. Nhóm người quen bán hột xoàn với mẹ con tôi cùng nhau an ủi rằng “bà Mỹ” còn ở đây chưa chạy thì lo gì. Ông xã tôi kêu điện thoại ngày một hối thúc tôi ra đi. Tôi trả lời là má tôi không cho đi, sợ về Mỹ sanh rồi lấy ai săn sóc, làm sao có củi lửa để hơ, có lá xông để tắm, có nghệ vàng để thoa mặt, v.v.. Sanh xong rồi tôi sẽ qua.

Một tuần sau tôi mất liên lạc với anh.

Ngày 20 tháng 4, 1975 một trung sĩ Việt Nam lái xe jeep đến nhà tôi, gõ cửa:

“Xin lỗi đây có phải là nhà của bà Lê Thị Hoa không?”.

Tôi trả lời:

“Trung sĩ ơi, ở đây không có bà Lê Thị Hoa chắc trung sĩ muốn kiếm bà Lệ Hoa phải không?”

Viên trung sĩ vội nói:

“Tôi cũng không biết chắc. Tôi làm việc cho ban an ninh phi trường và được lịnh tới đây chở cái bà có chồng Mỹ lên gặp đại tá Mỹ phụ tá tùy viên quân sự…”

Tôi cầm lấy giấy và thấy tên tôi. Tôi vội dẫn theo hai đứa con nhỏ nhất lên phi trường Tân Sơn Nhất. Khi vào văn phòng,vị đại tá cho tôi biết là ông xã đã liên lạc với cơ quan của ông và nhờ họ giúp tôi và các con phương tiện để rời Việt Nam.

Vị đại tá nhìn xấp tài liệu nói:

“Chồng bà yêu cầu tòa đại sứ giúp đỡ bà và ba đứa con di tản khỏi Việt Nam lập tức. Xin bà hãy để hai đứa trẻ nầy lại đây cho cô thơ ký tôi trông chừng, còn bà thì theo xe trở lại nhà và dẫn đứa thứ ba tới đây, chúng tôi sẽ làm giấy tờ và gia đình bà sẽ ra đi nội trong ngày nay.”

Tôi ngẩn ngơ nhìn vị đại tá ngồi nghiêm chỉnh trước mặt:

“Ngài đại tá, ngài có nói chơi không? Tôi sanh ra, lớn lên, sống ba mươi lăm năm tại non nước nầy giữa cha mẹ, thân nhân, bạn bè… và bây giờ ngài cho tôi hai tiếng đồng hồ để từ bỏ tất cả… xin ngài hãy nói là ngài nói chơi, chuyện nầy không có thật…”

Nước mắt tôi ứa ra và chắc là tôi có vẻ bi thương của một con thú sắp chết nên vị đại tá rộng lượng nhìn tôi :

“Tôi biết tình cảm của bà. Thôi bà hãy dẫn con về và ngày mai trở lại. Ngày mai, bà có nghe rõ không? Chuyện đầu tiên bà thức dậy ngày mai là cùng ba con lên xe đến đây. Tôi sẽ gởi người trung sĩ nầy đến nhà bà sáng mai.”

Tôi về nhà và cả nhà bắt đầu khóc. Tôi đi lên đi xuống thang lầu, mở các hộc tủ ra rồi đóng lại, ra sân thượng nhìn chậu cúc héo queo, xuống nhà bếp ngồi lên bộ ván ngựa,vô nhà tắm rờ rờ cái lon múc nước, ra phòng khách nằm lên võng đưa kẽo kẹt… Tôi như người mộng du, làm tất cả những hành động vô nghĩa đó với tiếng khóc hụ hụ.

Ba giờ chiều tôi gọi điện thoại cho vị đại tá biết là vì tôi bị xúc động nên đã động đến cái thai. Hiện giờ tôi đang ra huyết và bác sĩ cấm không cho tôi di chuyển cho đến ba ngày sau. Dĩ nhiên vị đại tá không dám giỡn với tánh mạng người khác nên phải đồng ý cho tôi thêm ba ngày nữa. Tôi không nghĩ là sau ba ngày đó tôi còn có được một giọt nước mắt nào nữa trong cuộc đời.

Ba má tôi không đi vì tôi có người anh đi tập kết: ông bà chờ sự trở lại. Anh rể tôi không đi vì là sĩ quan Cộng Hòa: sợ mang tội trốn lính. Chị tôi không đi vì theo chồng.

Ba đứa cháu trai theo tôi vì sợ sẽ phải bị đày đi lính. Một đứa cháu gái theo tôi vì sợ sẽ bị gả ép cho thương phế binh Cộng Sản.

Vì thế ba ngày sau tôi mang một bụng bầu tám tháng và bảy đứa nhỏ lên phi trường. Vị đại tá nhìn tôi như nhìn con quái vật:

“Xin lỗi bà, theo giấy tờ thì tôi chỉ có quyền cho bà và ba đứa con của bà đi. Hiện tại bà có tới bảy đứa! Tôi thật không thể giúp bà.”

Khi người ta phải phấn đấu cho sự sống chết thì can đảm và khôn ngoan ở đâu bất chợt hiện ra. Tôi nhẹ nhàng nói:

“Tôi hiểu thưa đại tá. Tôi không trách ông. Nhưng đây là những đứa cháu tôi nuôi từ nhỏ giống như con tôi vậy. Nếu ngài không cho chúng đi thì mẹ con tôi cũng xin ở lại.”

Vị đại tá bối rối nhìn tôi. Có lẽ ông đã biết rằng rồi thì Việt Nam sẽ mất, rồi thì một làn sóng người sẽ cuồn cuộn ra đi. Sớm một vài ngày, bốn đứa trẻ nầy có thấm gì đối với số người đang rần rộ chen lấn ngoài kia. Ông thở dài, ngồi xuống ghế ký cái công văn “eight months pregnant wife and seven children of US citizen need to be evacuated” rồi đưa cho tôi. Chúng tôi theo dòng thác người nhớn nhác ra đi.

Chúng tôi tới Camp Pendleton ngày 5 tháng 5 năm 1975. Anh đang đóng quân ở Ferndale, một tỉnh lẻ nhỏ nhắn hiền hòa chỉ có bảy ngàn dân, cách San Francisco sáu tiếng đường xe về hướng bắc. Lúc đó chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Xô vẫn tồn tại nên đây là một căn cứ hải quân rất quan trọng nằm trên một ngọn đồi cao ngó ra biển. Các đài radar tối tân được đặt cùng khắp để theo dõi các tàu ngầm xâm phạm bất hợp pháp vào hải phận Mỹ và California.

Khí trời California lúc đó là 75 độ mà mọi người lạnh cóng. Ðêm thứ hai tại camp, anh lái xe một lèo 16 tiếng để đến đón mẹ con tôi. Mười một giờ khuya một người lính Mỹ đến lều để dẫn tôi lên văn phòng nơi anh đang làm thủ tục.

Bạn có biết lúc đó tôi giống ai không?

Không Giống Ai Hết!

Ðây là một người đàn bà 36 tuổi, tóc hơi dính chùm lại vì cát bụi, mặt hỏm vào, gò má bị nám, mặc một cái áo dài xanh bên hông chỉ gài được một nút ở dưới nách vì thai bụng quá lớn, ngoài khoác một áo bầu thùng thình màu trắng, đầu trùm cái mền xám cột thắt dưới cằm, chiều dài mền thả phấp phới sau lưng. Le lói hơn nữa là người lính Mỹ trẻ thấy tôi run cầm cập nên cởi cái áo lính trận ra, trước mặt đầy những túi để dao găm, lựu đạn v.v… và trùm lên tôi. Tôi bước vào căn lều. Bàn làm việc nằm cuối phòng và anh đang đứng cúi xuống ký giấy tờ.

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bước những bước chân nhẹ nhàng, nặng nề, tủi hổ, hoang mang, giải thoát, run sợ như lúc đó. Ðây là lúc bắt đầu cho những ngày tươi sáng với sum họp thương yêu, với nhà lầu chọc trời, với ngựa xe rộn rã, với tương lai đại học hay là lúc chấm dứt cho dòng sông Hậu hiền hòa với hàng dừa nặng trái, lúc từ giã những hàng me xanh thân yêu Trần Quý Cáp, lúc quay lưng lại với bến Ninh Kiều đằm thắm xinh tươi, lúc quì lạy cha mẹ quê hương nói lời vĩnh biệt?

Tiếng bước chân tôi làm anh quay lại. Anh bước tới ôm lấy tôi. Tôi cố gắng để khỏi ngất đi, quì xuống sàn nhà, tay ôm lấy mặt và nghẹn ngào: “Oh My God honey, I lost my family, I lost my country, I lost everything!” rồi tôi khóc nức nở. Anh quì xuống ôm đầu tôi. Anh cũng khóc. Tất cả người Mỹ trong phòng đều rưng rưng.

Ngày 13 tháng 6 năm 1975 tôi sanh cháu Jimmy. Tháng 9 tựu trường, tôi gởi hai đứa nhỏ nhất cho cô bạn, đi làm phụ giáo lớp một trường tiểu học Ferndale, hai đô la rưỡi một giờ.

Hè 1976, tôi đứng bán hot dog trong hội chợ và ba thằng lớn thì đi dọn rửa phân ngựa trong trường đua. Lúc đó chánh phủ Mỹ còn giàu nên cứ hai năm là các quân nhân được đổi tới một trạm binh khác. Tôi thấy tụi nhỏ rất buồn và sợ rằng sự dời chỗ thường xuyên sẽ làm tụi nó hụt hẫng vì xa bạn nên khuyên anh giải ngũ. Và chúng tôi dọn xuống miền Nam California, tỉnh La Habra.

Tôi thì để tất cả sự nghiệp lại Việt Nam, anh thì trước khi biến cố Việt Nam xảy ra, đã bị thua lỗ tất cả vốn liếng trong một vụ hùn hạp mở tiệm in với một nhóm dân sự nên chúng tôi hoàn toàn… sạch sẽ. Khi đi mướn nhà ở đường Dexford, La Habra, chúng tôi chỉ dẫn theo bốn dứa nhỏ nhất, hai trai hai gái. Chủ nhà là một người đàn ông Mỹ dễ thương, khi biết anh vừa giải ngũ thì rất vui vẻ nói:

“Ô, căn nhà nầy có ba phòng lớn, thật là lý tưởng cho gia đình ông bà với hai trai hai gái. Tôi rất vui lòng cho ông bà mướn.”

Chúng tôi dở khóc dở cười. Anh là người ít nói và chậm chạp nên tôi bèn duyên dáng cười cười nhìn ông

“Thưa ông, nếu tôi nói với ông là chúng tôi có tám đứa con thì ông có tin chúng tôi không?”

Lần nầy thì chủ nhà nhìn chúng tôi dở khóc dở cười. Ông ngẫm nghĩ một lát rồi nói:

“Thôi được, tôi đồng ý cho ông bà mướn. Mỗi tháng tôi sẽ đích thân đến thâu tiền nhà. Hy vọng là mọi sự sẽ tốt đẹp.”

Ông đâu có biết rằng tên tôi là Lệ Hoa nghĩa là một bông hoa mỹ lệ, đẹp đẽ chớ chẳng phải là nước mắt của hoa nghe bạn. Vì thế tôi thích trồng bông, thích vườn tược. Tôi sanh ra và lớn lên ở Cần Thơ, bà con sống ở Ô Môn, Thới Lai, Phong Ðiền, Cờ Ðỏ nên mỗi mùa Hè chị em tôi thường về vườn đi cầu khỉ, chèo ghe, bắt ốc gạo, hái vú sữa. Cái chất vườn Nam bộ đã ăn sâu vào máu tôi nên hiện giờ nhiều người còn cho rằng tôi không có vẻ gì là sang trọng như người Việt Nam sống ở Mỹ. Biết sao!

Sau khi dọn vô, tôi và các con hì hục cuốc đất, đổ phân và biến cái sân trống rỗng của ông thành ra một cái vườn đầy hoa vạn thọ (đây là để honor má tôi vì bà rất thích bông vạn thọ). Tháng sau khi ông tới thu tiền nhà thì ông ngẩn ngơ và phán một câu, “Tôi không cần phải tới tận nhà thâu tiền nữa, bà cứ viết check gởi cho tôi là được. Cám ơn bà về những bông vạn thọ.”

Một vài người quen xúi tôi xin đi làm waitress vì nghề nầy tiền lương chẳng bao nhiêu nhưng tiền tip thì… ăn chết không hết. Trời ơi tôi nghĩ tới cái viễn cảnh, anh sẽ đi làm, tôi sẽ đi làm lại còn tiền hưu trí từ quân đội nữa thì quả nhiên là… ăn chết không hết! Tôi vội vàng vác đơn tới tiệm Red Lobster gần nhà xin việc. Người manager hỏi bà có làm waitress bao giờ chưa? Dạ chưa. Bà có khi nào làm chủ nhà hàng chưa? Dạ chưa. Cứ hỏi…bà có… bà có… bà có…. Cứ trả lời… dạ chưa… dạ chưa… dạ chưa… và thế là tiền ăn chết không hết chỉ là mộng ảo.

Tôi mua tờ báo thấy rao là “Chương trình CETA của chánh phủ sẽ trả tiền trường cho một năm học để giúp bạn học các nghề văn phòng như thơ ký, kế toán, phụ tá hành chánh v.v… Mỗi tuần chương trình sẽ tặng bạn bốn chục đô để di chuyển và sau khi tốt nghiệp sẽ kiếm việc làm cho bạn…” Tôi nói với anh đây chắc hẳn là một sự lường gạt vì làm gì lại có sự tốt đẹp như thế. Anh thì lớn lên đã nhập ngũ, phần nhiều thời gian nếu không lang thang trên biển cả thì cũng đóng quân ở một xứ khác ngoài Mỹ nên đối với xã hội dân sự cũng có chút bỡ ngỡ. Tôi hăng hái tới cơ quan xin vào chương trình thơ ký. Người phụ trách chương trình thấy tôi là người tị nạn, chồng lại là cựu quân nhân, hình dạng có vẻ nghèo nên thương tôi. Sau khi nói chuyện và đọc cho tôi viết một đoạn Anh văn, bà nhận tôi vào chương trình thơ ký. Khi tôi lui cui làm giấy tờ, bà dịu dàng hỏi:

“Bà có giỏi toán không? Làm nhân viên kế toán thì nhiều lương hơn thơ ký thường và rất dễ kiếm việc làm.”

Tôi không dám trả lời vì không biết “toán” của bà thuộc về loại gì nên ngập ngừng:

“Dạ tôi cũng không biết chắc.”

Bà lấy ra một bài thi toán đưa cho tôi. Ái dà, bà ơi. Có phải là bà đang chà đạp cái trường Gia Long của tôi không? Tôi là học sinh đệ nhất A đây nha bà, dù tôi không được như bà Dương Nguyệt Ánh ngày nay phát minh ra cái gì là bom tìm nhiệt thì ba cái 25% của 100 là bao nhiêu, 1/3 của 75 có lớn hơn 2/3 của 40 không v.v.. là cái chuyện nhắm mắt cũng trả lời được.

Đại gia đình tác giả chụp trong dịp Tết. (Hình: Tác giả cung cấp)

Một năm sau tôi được giới thiệu vào làm cho công ty nhà hàng Dennys, bộ phận kế toán xuất nhập.

Làm việc bảy năm tại Dennys tôi đã học được biết bao điều về gia đình, xã hội, dân tình Mỹ. Trong những buổi ăn trưa tôi học đan áo, học móc khăn, học cách nấu món ăn Mỹ, Ý, Tây Ban Nha, học cách dạy con, cách đối xử với chồng, học cách không bao bạn ăn để rồi kể lể khi giận hờn nhau, mà mạnh ai nấy móc túi trả phần mình và tình bạn thì không bao giờ sứt mẻ.

Những người bạn ngoại quốc mới nầy giúp tôi hoàn thiện ngôn ngữ, hiểu rõ những tiếng lóng, sử dụng thành thục những thành ngữ, trả lời điện thoại một cách chuyên nghiệp.

Giúp tôi biết nói cám ơn với con cái. Biết dằn lòng không mở thư của chúng ra kiểm soát. Biết chỉ dẫn chúng tự thực nghiệm cuộc đời hơn là bao che lầm lỗi. Biết nói xin lỗi khi phạm phải sai trái.

Biết văn minh không phải là mặc áo hở ngực hở mông mà là tuân thủ theo Hiến Pháp. Biết tự do không phải là mạnh ai nấy làm mà là kính trọng nhân vị của chính mình và của đồng loại. Biết thành công là nhờ vào sự mẫn cán, học hỏi, cầu tiến chớ không nhờ vào nịnh bợ lấy lòng.

Biết các sắc dân khác cũng đầy thương yêu và nhiều đau khổ. Biết kính trọng người Mỹ đen. Biết thương yêu người Mễ nghèo.

Họ cười lăn lóc với cái accent Á Ðông của tôi nhưng họ không chê tôi dốt nát. Họ chỉnh sửa lại những tiếng tôi dùng sai trật nhưng không có ý khinh khi. Họ không đánh giá tôi cao vì tôi đến từ gia đình trưởng giả như tôi khoe khoang. Họ không nhìn tôi thấp kém vì tôi thuộc third world country như báo chí thường đăng tải. Họ nhìn tôi giống như họ, một người vợ, một người mẹ đang cố gắng kiếm tiền một cách lương thiện để giúp chồng nuôi dạy đàn con.

Chín mươi phần trăm nhân viên kế toán là đàn bà. Ðây là những bà mẹ, bà vợ ban ngày làm toàn thời gian, chiều về nấu ăn chăm lo con cái, cuối tuần giặt giũ, lau chùi nhà cửa, dạy con làm bài tập, đi chợ, đi chơi với gia đình. Họ sống bình thường mà còn giỏi hơn tôi là đằng khác.Vậy mà khi xưa tôi cứ nghĩ đàn bà Mỹ là đồ bỏ. Tôi mang tội khinh người. Khi ở Việt Nam tôi ít khi nào giặt quần áo cho tôi, cho chồng, cho con. Tôi chưa khi nào lau chùi cầu tiêu, thức khuya dậy sớm cho con bú, kiểm soát từng bài văn điểm toán cho con. Tất cả đều có anh tài xế, chị vú, anh bồi, chị bếp, cô giáo dạy kèm. Biết bao người đã than trời trách đất rằng sống ở đây sao mà cực quá, xã hội gì mà sướng đâu không thấy chỉ thấy cái gì cũng tự mình làm, thời gian hưởng thụ chẳng bao nhiêu mà làm việc thì quay tròn như chong chóng chẳng lúc nào ngừng. Cực ơi là cực. Chỉ chăm chăm muốn về Việt Nam hưởng thụ.

Bạn ơi, bạn hãy dừng chân một bước. Bạn hãy mỉm cười cầm từng món đồ dơ bỏ vào máy giặt, nhìn vết bẩn trên chỗ đầu gối và hình dung lại gương mặt mếu máo đáng yêu của con nhỏ khi té quị xuống bãi cỏ, nhớ lại ánh mắt chờ mong tin tưởng của con khi mẹ đến đỡ lên.

Bạn hãy nhìn cả nhà húp sột soạt chén canh bầu, cùng chia nhau miếng sườn nướng, cuộn chả giò. Bạn hãy cúi xuống đứa bé đang nở nụ cười ngây thơ chờ mong bình sữa bạn đang đu đưa trước mặt. Bạn hãy vừa xào món tàu hủ vừa trả lời thằng con đang cắm cúi làm bài tập bên kia bàn là Los Angeles không phải là thủ phủ của California con ơi. Thủ phủ của CA là Sacramento hoặc square of three is not three, it’s nine. Và năm phút sau đứa con vui vẻ đứng dậy: “Thank you mom (or dad). My home work is done.”

Ðây mới chính là lúc bạn sống, là lúc mà bạn xuyên thủng qua lớp giáp để linh hồn và huyết nhục bạn và gia đình cùng hòa quyện vào nhau. Ðây chính là lúc hột mè trí tuệ nảy nở trong các con do bạn gieo xuống, lúc hạt giống tình yêu thẩm thấu vào linh hồn chúng do bạn cày cấy vào. Chúng sẽ lớn lên với ân cần bạn gởi vào chén cơm, với giúp đỡ bạn xẻ chia trong bài tập, với thương yêu bạn vuốt thẳng áo quần, với mồ hôi bạn chảy dài trong trận đấu.Và vợ chồng bạn có cùng một trận tuyến, cùng một hướng đi.

Tôi đã từ bỏ quê hương điêu tàn, đã quay lưng với tương lai đen tối. Tôi đã chọn một nơi khác để cất nhà, một miếng đất khác để gieo hạt. Tôi đã dùng nước sông của họ để tưới tẩm, dùng đồi núi của họ để chăn nuôi. Tôi đã dùng chất xám của họ để tiến thân, dùng lòng tốt của họ để sống còn. Tôi không bao giờ quên dòng máu Việt trong tôi nhưng tôi sẽ không ngồi đó nhìn non nước nầy, dân tộc nầy với một ánh mắt hờ hững, dửng dưng, một thái độ vô ơn, rẻ rúng. Tôi sẽ không coi đây chỉ là một mảnh đất tạm dung và ngồi khóc thương cho một khung trời đã mất, mơ tưởng về một dĩ vãng đã tàn phai.

Tôi sẽ hòa vào các chủng tộc khác nhau, rơi lệ khi thấy tòa nhà chọc trời sụp đổ, đau thương khi nhìn xác lính được chở về, hân hoan khi nghe bài quốc ca trong các cuộc tranh tài. Tôi sẽ dạy các con cùng tôi nhận nơi nầy làm quê hương, sẽ đem tất cả khả năng lao động hay học vấn đóng góp vào sự thịnh vượng chung của quốc gia nầy.

Thay vì trồng cây cổ thụ tạm thời trong một cái chậu nhỏ để nó chỉ được lớn èo uột trong bóng râm, tôi và gia đình muốn đào một hố sâu, đổ đầy phân bón, tưới tẩm nó với tất cả ân cần, săn sóc nó với tất cả sức lực để cho rễ mạnh nó ăn sâu vào lòng đất, cho tàn xanh nó tỏa rộng khắp không gian. Chúng tôi không tạm dung. Chúng tôi mọc rễ và yêu thương quê hương nầy. Rồi một ngày nào đó, ở bên kia góc trời có cần tới một bóng mát bình an, chúng tôi sẽ chiết bớt một nhánh cổ thụ đem về…

Chúng tôi chỉ có thể làm như thế khi chúng tôi nhận nơi nầy làm quê hương.

 

Nguồn: nguoi-viet.com

Bạn đọc viết, chủ đề: “30 Tháng Tư, 1975 – 2015: Tị Nạn và Hội Nhập”

 

Posted in Chạy trốn chủ nghĩa Cộng sản, Chien Tranh Viet Nam, Việt kiều-Lịch Sử hình thành-Cuộc Sống | Leave a Comment »