Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 5th, 2015

►Mắc lừa bọn du côn (những bí ẩn lịch sử mà đảng cộng sản VN luôn che dấu)

Posted by hoangtran204 trên 05/03/2015

 

Mắc lừa bọn du côn

5-3-2015

Chính phủ Trần Trọng Kim

 

Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945.  Trong lúc tình hình Hà Nội và Bắc Bộ xáo trộn, chính phủ Trần Trọng Kim cử bộ trưởng Hoàng Xuân Hãn ra Bắc, thay mặt chính phủ giải quyết tại chỗ những vấn đề khẩn cấp.  Sau khi gặp các yếu nhân Hà Nội, Hoàng Xuân Hãn gởi điện về Huế, đề nghị lập một cơ cấu chính trị mới gọi là Uỷ ban Giám đốc Chính trị miền Bắc (Comité directeur de la politique du Nord).

Ngày 16-8-1945, chính phủ Trần Trọng Kim đề cử thành phần Ủy ban nầy như sau:  Nguyễn Xuân Chữ (chủ tịch) và bốn uỷ viên là Phan Kế Toại, Trần Văn Lai, Đặng Thai Mai, Nguyễn Tường Long.  Tuy nhiên, ngoài bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, bốn uỷ viên kia đều vắng mặt.  (Nguyễn Xuân Chữ, Hồi ký, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tr. 280.)

Lý do là vì VM đã tung cán bộ đe dọa từng người.  Phan Kế Toại không xuất hiện (có thể đã theo VM, con là Phan Kế Bảo, một cán bộ VM), Trần Văn Lai bận việc ở tòa đô trưởng, Đặng Thai Mai hoàn toàn không ra mặt, Nguyễn Tường Long bị bệnh chưa làm việc được.

Ngày 17-8-1945, Tổng Hội Công Chức do chính quyền Trần Trọng Kim thành lập, tổ chức cuộc mít-tinh tại Nhà hát lớn, Hà Nội, nhằm ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim.  Trong khi các diễn giả của Tổng Hội Công Chức đang nói chuyện ở Nhà hát lớn, thì một người nào đó (chắc chắn là cán bộ VM) ở trên lầu Nhà hát lớn quăng xuống một lá cờ đỏ sao vàng của VM.  Thế là cán bộ VM chụp lấy thời cơ, biến cuộc mít-tinh của Tổng Hội Công Chức thành cuộc biểu tình tuần hành, quay qua ủng hộ mặt trận VM. (Theo lời kể của một số người ngày nay lớn tuổi, đã từng tham dự cuộc mít-tinh ngày 17-8-1945 tại Hà Nội.)  ( Trong ngày mít-tinh 1945, công chức mang cờ quẻ ly (là cờ vàng 3 sọc đỏ, sọc giữa có 1 khoảng hở)

Ngày 19-8-1945, VM tiếp tục tổ chức biểu tình, chiếm Bắc bộ phủ (phủ toàn quyền Pháp cũ), cướp chính quyền Hà Nội.  Việt Minh làm chủ được Hà Nội từ ngày 20-8-1945, nhưng những cuộc bạo động vẫn tiếp diễn.  Bạo động bắt nguồn từ cả hai phía: Bạo động của VM tiêu diệt những phần tử đối kháng; bạo động của những đảng phái đối lập chống lại VM.  Tại Hà Giang, Vĩnh Yên và Hà Đông, VM gặp sự kháng cự mạnh mẽ của các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Sài Gòn: 1970, tr. 258.)

Ngày 21-8-1945, VM vận động các đoàn thể họp mít-tinh tại Hà Nội, lập ra một kiến nghị gồm ba điểm: 1) Yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị và giao quyền cho một chính phủ lâm thời do Mặt trận VM thành lập. 2) Yêu cầu Mặt trận VM thảo luận với các đảng phái khác để thành lập chính phủ lâm thời. 3) Yêu cầu tất cả các đảng phái, các tầng lớp dân chúng ủng hộ chính phủ lâm thời để củng cố nền độc lập quốc gia.  Bản kiến nghị nầy  được chuyển bằng điện tín về Huế. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 137.)

Về phía Nhật, tại bộ tham mưu quân đoàn 38 của Nhật đóng ở Hà Nội, người Nhật chủ trương rằng quân đội Nhật bại trận, nhưng sẽ không nhượng chỗ cho quân Đồng minh thắng trận, mà chỉ nhượng cho những ai có khả năng tiếp tục nhiệm vụ lịch sử của Nhật Bản, là giải phóng châu Á ra khỏi tay thực dân da trắng. (Philippe Devillers, sđd. tr. 136.)  Vì vậy, khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội Nhật tại Đông Dương hạ võ khí, rút lui vào các căn cứ quân sự, chờ ngày bị giải giới, để cho người Việt tự do hoạt động trước khi quân Đồng minh có mặt.

Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim không có bộ Quốc phòng, không có lực lượng võ trang để giữ gìn an ninh, trật tự và bảo vệ chế độ.  Lúc đó, các cơ quan hành chánh theo truyền thống cũ từ thời Pháp thuộc, chỉ có một số lính lệ hoặc bảo an binh giữ trật tự các cơ quan, không được trang bị đầy đủ, chỉ có tính cách hình thức hoặc lễ nghi.

Thời gian nầy là cơ hội thuận tiện cho lực lượng VM tung hoành, không bị ai chận đứng.  Đây là một trong những lý do giải thích vì sao chỉ với một lực lượng nhỏ khoảng dưới 5,000 đảng viên, (Philippe Devillers, sđd. tr. 182) mà VM cướp được chính quyền.

VUA BẢO ĐẠI TRÁNH NỘI CHIẾN

Sau khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945, Phạm Quỳnh cùng Trần Văn Chương, (nội các phó tổng trưởng), và Nguyễn Duy Quang, nội các đại thần, đã họp riêng với vua Bảo Đại chiều ngày 15-8-1945.  Nội dung cuộc họp không được tiết lộ, nhưng cuộc họp đã bị Phạm Khắc Hòe, lúc đó thế Phạm Quỳnh làm tổng lý ngự tiền văn phòng của vua Bảo Đại, biết và bí mật báo cáo với mật trận VM cộng sản. (Phạm Khắc Hòe, Những ngày cuối cùng của triều đình nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994,  tt. 55-57.)

Về phía người Nhật, được tin VM nổi lên ở ngoài Bắc, viên đại sứ Nhật ở Huế là Massayuki Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại, đề nghị vua Bảo Đại dùng lực lượng của Nhật tiêu diệt VM, vì tuy thất trận trên thế giới, quân đội Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn, đủ sức can thiệp va đàn áp VM chỉ là một lực lượng nhỏ bé, thiếu trang bị so với quân đội Nhật.

Lo sợ nội chiến xảy ra trước sự lợi dụng của ngoại bang, vua Bảo Đại từ chối đề nghị của Yokoyama.  (Theo lời kể của ông Phan Văn Vỹ, nhị đẳng thị vệ thời vua Bảo Đại, người trực gác buổi tối khi Yokoyama đến gặp vua Bảo Đại.  Ông cho biết chính ông đã đánh thức và báo tin cho nhà vua, để nhà vua ra tiếp khách.)

Một thông tin khác cho biết thêm rằng viên đại sứ Nhật ở Huế xác định với vua Bảo Đại rằng chỉ cần 2 giờ đồng hồ là quân đội Nhật sẽ dẹp tan cuộc nổi loạn ở Huế. (Daniel Grandclément, Bao Dai ou les derniers jours de l’empire d’Annam, Paris: Éditions Jean-Claude Lattès, 1997, tr. 157.)

Không phải chỉ nói với vua Bảo Đại, người Nhật còn đề nghị với thủ tướng Trần Trọng Kim.  Sau đây là lời thuật của Trần Trọng Kim:  “Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Đồng minh đến thay.  Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp, quân Nhật còn có thể giữ trật tự”.  Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng, quân Đồng minh sắp đến, mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa, và lại mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”. Tôi từ chối không nhận.”  (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tr. 93.)

Ngày 18-8-1945, Trần Trọng Kim dự tính tập họp các lực lượng quốc gia, lập ra “Uỷ ban cứu quốc”, đưa ra bản tuyên ngôn kêu gọi các đảng phái chính trị cùng nhau cổ võ nền thống nhất và độc lập dân tộc. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Xuân Thu, 1990, tr. 177.)  Công việc chưa tiến hành thì tình hình tiếp tục thay đổi nhanh chóng.

VẬN ĐỘNG NGOẠI GIAO QUỐC TẾ

Về đối ngoại, vua Bảo Đại hoàn toàn không biết Pháp đã chuẩn bị tái chiếm Đông Dương ngay từ  Hội nghị Brazzaville ở Congo, được xem là thủ phủ của Pháp tại Phi Châu, từ 30-1 đến 8-2-1944.  Thiếu thông tin liên lạc, nhà vua cũng không biết được quyết định trong tối hậu thư Potsdam gởi cho Nhật Bản ngày 26-7-1945. (Anh, Hoa Kỳ họp hội nghị Potsdam, ngoại ô Berlin soạn tối hậu thư, Trung Hoa gởi điện văn đồng ý.)  Theo tối hậu thư nầy, sau khi Nhật đầu hàng, ở Đông Dương, Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) sẽ giải giới quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16 và Anh sẽ giải giới quân Nhật ở nam vĩ tuyến 16.

Vua Bảo Đại gởi công hàm ngày 18-8-1945 kêu gọi sự ủng hộ của các cường quốc trên thế giới là Hoa Kỳ, Trung Hoa (lúc đó do Quốc Dân Đảng lãnh đạo), Anh Quốc, nhất là kêu gọi Pháp trao trả độc lập lại cho Việt Nam, đừng tái lập nền cai trị Pháp dưới bất cứ một hình thức nào.

Các bản công hàm nầy bằng tiếng Pháp được các đài phát thanh Nhật ở Sài Gòn, Hà Nội và Tokyo công bố rộng rãi.  De Gaulle im lặng vì De Gaulle muốn tái chiếm Đông Dương.  Chủ trương thực dân của De Gaulle thể hiện rõ trong tuyên bố Brazzaville (Phi Châu) ngày 8-2-1944, cũng như trong tuyên bố ngày 24-3-1945, quyết định tái lập Liên bang Đông Dương.

Các nước Đồng minh cũng hoàn toàn im lặng. (Bảo Đại, sđd, tt. 177-179; và David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power, University of California Press, 1995, tr. 361.)  Lý do sự im lặng của các nước Tây phương bắt nguồn từ sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ về Đông Dương sau khi tổng thống Hoa Kỳ là Franklin Roosevelt từ trần ngày 12-4-1945 (trong nhiệm kỳ).  Phó tổng thống Harry Truman lên thay, và thay luôn chính sách của Hoa Kỳ về Đông Dương.

Truman chủ trương tôn trọng chủ quyền Pháp ở Đông Dương, để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu.  Lúc đó Hoa Kỳ muốn đoàn kết các nước Tây Âu chống lại sự bành trướng của Liên Xô.  (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31; và Spencer C. Tucker chủ biên, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Volume three, Santa Barbara, California: 1998, tr. 888.)

Tại Việt Nam, tiếp tay với vua Bảo Đại, hoàng hậu Nam Phương gởi qua Âu Châu một thông điệp, nhờ bạn bè của bà giúp đỡ, lên tiếng kêu gọi các nước trong khối Tự do can thiệp, để kiến tạo hòa bình cho Việt Nam, nhưng vô vọng vì chẳng ai đáp ứng lời kêu gọi của bà.

Trong lúc vua Bảo Đại nao núng vì Pháp không chịu tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam, và các nước Đồng minh không đáp ứng nguyện vọng độc lập của người Việt do nhà vua đưa ra, thì ngày 21-8-1945, mặt trận VM gởi điện vào Huế yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị.

GIÃ TỪ NGAI VÀNG

Chính phủ Trần Trọng Kim không có quân đội bảo vệ chính quyền và trật tự xã hội, chấp nhận rút lui, và xin từ chức ngày 20-8-1945.  Vua Bảo Đại yêu cầu chính phủ Trần Trọng kim ở lại xử lý thường vụ và ủy cho Trần Trọng Kim lập chính phủ khác.

Khi được điện tín ngày 21-8-1945 từ Hà Nội của mặt trận VM, thủ tướng Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại:  “Xin Ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào.  Việc đã nguy cấp lắm rồi, Ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả.  Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh, mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả.  Mình thế lực không có, bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ, nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 92-93.)

Louis XVI là vua nước Pháp, trị vì 1774-1792.  Tuy cách mạng Pháp xảy ra năm 1789, nhưng đến năm 1792 Louis XVI mới chính thức bị lật đổ và bị lên máy chém năm 1793.  Nicholas II, hoàng đế cuối cùng của nước Nga, trị vì 1894-1917, bị truất phế sau cách mạng cộng sản năm 1917.  Ông ta và toàn gia đình bị cộng sản Nga bắn chết năm 1918.

Ngoài lời khuyên trên đây, vua Bảo Đại nhận thấy chính phủ Trần Trọng Kim bắt đầu tan rã.  “Sáng ngày hôm sau 23, chung quanh tôi hoàn toàn trống rỗng.  Chẳng thấy Trần Trọng Kim, cũng chẳng thấy bất cứ một Bộ trưởng nào vào điện.  Chỉ còn vài người lính phụ trách mở và đóng cửa điện, đi lại sân chầu vắng lạnh.  Trong dịp quốc lễ gần đây, chưa tới hai tháng, sân chầu đã đầy ních các quan và kẻ thân hoàng cung.  Bữa nay, chỉ còn riêng hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn, còn trung thành đứng cạnh tôi mà thôi.” (Bảo Đại, sđd. tr. 184.)  Nói một cách khác, nhà vua cảm thấy cô đơn, cô thế và hoàn toàn bị bỏ rơi.

Chẳng những cận thần tránh mặt, nhà vua cũng không được các cường quốc đáp ứng lời kêu gọi của mình.  “…Trong khi lời kêu gọi của tôi gởi cho tổng thống Truman, cho thống chế Tưởng Giới Thạch, cho quốc vương Anh, cho tướng De Gaulle lại im lìm không có hồi âm...” (Bảo Đại, sđd. tr. 184.)

Trong lúc cô thế, vua Bảo Đại lại không biết lai lịch Hồ Chí Minh, và VM.  Cũng như nhiều người Việt lúc đó, nhà vua tưởng rằng Hồ Chí Minh và VM là những người yêu nước, được quần chúng ủng hộ, và được cả các nước Đồng minh giúp đỡ (theo lời tuyên truyền của VM), nên nhà vua sẵn sàng giao quyền cho Hồ Chí Minh và VM.  Ngoài ra, một điểm quan trọng là vua Bảo Đại là người bản tính hiền lành, không tham quyền cố vị, không thiết tha quyền lực, không có cá tính mạnh, đến độ nhà vua bị xem là yếu đuối.

Suốt trong thời gian cầm quyền, Bảo Đại hoàn toàn không ra lệnh giết hay khủng bố, tù đày một người nào.  Có thể nói không một người nào tiếp xúc với Bảo Đại, kể cả những địch thủ của ông ta, mà trách cứ về tính tình Bảo Đại.

Vì tất cả các lý do trên, cuối cùng vua Bảo Đại quyết định thoái vị theo lời yêu cầu của bức điện từ Hà Nội ngày 21-8-1945.  Ngày 25-8-1945, vua Bảo Đại tuyên chiếu thoái vị và thông báo cho đại diện VM ở Huế biết.  Chiếu thoái vị được niêm yết ở Phu Văn Lâu, ở phía ngoài hoàng thành Huế, nơi công bố các chiếu dụ, mệnh lệnh của nhà vua, kết quả thi Hội và thi Đình.

Sau đó lễ thoái vị diễn ra ngày 30-8-1945 tại Ngọ môn, Huế.  Nhà vua trao bảo kiếm và quốc ấn, tượng trưng uy quyền của triều đình nhà Nguyễn, cho phái đoàn đại diện VM từ Hà Nội vào là Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Cù Huy Cận.

KẾT LUẬN

Triều đại vua Bảo Đại kéo dài trong 20 năm (1926-1945), nhưng từ 1926 đến 1932 là thời kỳ ông còn du học.  Vua Bảo Đại chỉ thực sự cầm quyền từ 1932 cho đến 1945.  Lúc vua Bảo Đại thoái vị, còn gần hai tháng nữa ông đầy 32 tuổi.  Từ nay cựu hoàng dùng tên khai sinh là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy.

Như thế là chấm dứt triều đại Bảo Đại (trị vì 1926-1945), chấm dứt nhà Nguyễn (1802-1945), và chấm dứt luôn nền quân chủ ở Việt Nam.  Lúc đó, đảng CSĐD và mặt trận VM tuy chỉ có khoảng dưới 5,000 đảng viên, nhưng là đoàn thể chính trị có tổ chức, nhất là tổ chức hạ tầng cơ sở khắp nước, nên nhanh tay cướp được chính quyền ở Hà Nội cũng như ở các địa phương.  Các đảng phái khác ở trong nước cũng như  ở Trung Hoa, thiếu chuẩn bị, đành thất thế.

Với tấm lòng yêu nước, đoàn kết và hiếu hoà, vua Bảo Đại chấp nhận thoái vị, tuyên bố trao quyền cho VM, tạo ra một thời cơ lịch sử rất thuận lợi cho Hồ Chí Minh và mặt trận VM, giúp cho ông ta và chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa thế kế tục chính thống hợp pháp, chẳng những trước quốc dân Việt Nam, mà cả trên chính trường quốc tế.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, Hồ Chí Minh và VM để lộ bản chất CS, đi ngược lại với ý nguyện của dân tộc, nên sau khi thoát khỏi sự kiểm soát của VM, gặp lại Trần Trọng Kim ở Hồng Kông tháng 8-1947, lời đầu tiên cựu hoàng Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim là: “Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 146.) (Trích: Bảo Đại (1913-1997), Toronto: Nxb. Non Nước, 2014.)

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

© Đàn Chim Việt

 

————

 

 

Bài 1: Chính phủ Trần Trọng Kim – Chính phủ đầu tiên của nước VN độc lập

Chính phủ Trần Trọng Kim. Ảnh Google

 

Sau khi vua Bảo Đại công bố Bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP ngày 11-3-1945, Phạm Quỳnh cùng toàn thể thượng thư sáu bộ trong triều đình Huế xin từ chức. Vua Bảo Đại triệu tập nhân sĩ khắp nước đến gặp, để thăm dò việc thành lập chính phủ mới.

TRẦN TRỌNG KIM LẬP CHÍNH PHỦ

Lúc đó, người Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Singapore về Sài Gòn ngày 30-3-1945, rồi đưa ông ra tới Huế ngày 5-4-1945. Trần Trọng Kim sinh tại Hà Tĩnh năm 1883, học trường Vinh, rồi trường Thông sự Ninh Bình. Năm 1905, ông qua Pháp, học trường Thương mại La Salle tại Lyon, sau chuyển qua trường Thuộc Địa Pháp, rồi trường Sư Phạm Melun.

Tốt nghiệp năm 1911, ông trở về nước dạy tại trường Trung học Bảo Hộ (Lycée du Protectorat) và trường Sĩ Hoạn (Hà Nội), rồi làm Thanh Tra Tiểu học Bắc Kỳ, hưu trí năm 1942. Ông viết nhiều sách nghiên cứu giá trị về văn chương, triết học, nhất là bộ Việt Nam sử lược, xuất bản lần đầu tại Hà Nội năm 1920.

Năm 1943, được tin bị người Pháp nghi ngờ, ông nhờ người Nhật đưa vào Sài Gòn cùng Dương Bá Trạc. Đầu năm 1944, hai ông qua Singapore. Tại đây Dương Bá Trạc từ trần vì bịnh phổi ngày 10-12-1944. Tháng 1-1945, Trần Trọng Kim đi Bangkok. Ông trở về nước sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945.

Là một nhà giáo và là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, Trần Trọng Kim cho rằng vua Bảo Đại là vị vua ham ăn chơi, không chăm lo việc nước nên không muốn gặp. Tuy nhiên, theo lời khuyên của Hoàng Xuân Hãn, Trần Trọng Kim đồng ý triều yết vua Bảo Đại ngày 7-4-1945. Gặp xong, ông thay đổi ý kiến.

Hoàng Xuân Hãn kể lại như sau: “Cụ [Trần Trọng Kim] hỏi tôi thì tôi cũng nói với cụ nên gặp ông Bảo Đại, rồi có ý gì thì cụ nói sau, chứ cụ đừng có nói trước. Cụ cứ bảo: “Bảo Đại là một cái anh chỉ biết ăn chơi, không hiểu cái gì cả”. Cụ cứ nói như thế. Sau cụ vào thăm ông Bảo Đại thì cụ ngồi đến 2, 3 giờ đồng hồ cơ. Lúc ra thì trái lại, lại thấy cụ nói: “Nó thông minh lắm chứ không phải như tôi tưởng.” (Hoàng Xuân Hãn trả lời phỏng vấn đài R.F.I (Paris) do Thụy Khê thực hiện, đăng lại trong mục “Những cuộc tiếp xúc khó quên”, sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996), do Hữu Ngọc – Nguyễn Đức Hiền sưu tập, tập I, Con người và trước tác (phần 1), Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 481.)

Trong cuộc triều yết nầy (7-4), Trần Trọng Kim đề nghị với vua Bảo Đại nên mời Ngô Đình Diệm lập chính phủ. Nhà vua liền nhờ người Nhật tìm kiếm ông Diệm để mời ông ra chấp chánh. Người Nhật trả lời không kiếm được ông Diệm, mặc dầu ông Diệm đang sinh sống tại Sài Gòn. Theo Trần Trọng Kim, có thể vì ông Diệm thuộc phe cánh Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, mà cuối thế chiến thứ hai, Nhật không chọn Cường Để và chọn vua Bảo Đại, nên Nhật cũng không mời ông Diệm. (Lệ Thần Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn: Nxb. Vĩnh Sơn, 1969, tt. 49-50.)

Vua Bảo Đại đợi ba tuần lễ mà không gặp được Ngô Đình Diệm, nên nhà vua uỷ cho Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các. Lúc đầu, Trần Trọng Kim từ chối, thì vua Bảo Đại nói: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.” Sau lời thuyết phục của vua Bảo Đại, Trần Trọng Kim “thấy vua Bảo Đại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng: “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, song ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.

Trần Trọng Kim thấy hữu lý nên chấp thuận. Ông đưa ra hai tiêu chuẩn để chọn bộ trưởng vào chính phủ: “Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 51.)

Ngày 17-4-1945, tại điện Thái Hòa (Huế), Trần Trọng Kim trình danh sách chính phủ lên vua Bảo Đại và được chuẩn y. Lúc đó, có cả sự hiện diện của viên đại sứ Nhật tại Huế là Massayuki Yokohama. Nội các Trần Kim gồm đa số là những chuyên gia và trí thức: “Tất cả những vị nầy đều là những vị ái quốc chân thành. Họ không hận thù gì nước Pháp. Trẻ tuổi, can đảm, ý thức được nhiệm vụ ngắn ngủi của mình, họ muốn rằng chủ quyền quốc gia được đánh dấu khởi đầu từ họ.” (Bảo Đại, sđd. tr. 167.)

Sau đây là thành phần chính phủ Trần Trọng Kim tại Huế ngày 17-4-1945:

Nội các Tổng trưởng [thủ tướng] : Trần Trọng Kim, giáo sư

Nội vu Bộ trưởng : Trần Đình Nam, y sĩ

Ngoại giao Bộ trưởng : Trần Văn Chương, luật sư

Tư pháp Bộ trưởng : Trịnh Đình Thảo, luật sư

Gíáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng : Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ

Tài chánh Bộ trưởng : Vũ Văn Hiền, luật sư

Thanh niên Bộ trưởng : Phan Anh, luật sư

Công chánh Bộ trưởng : Lưu Văn Lang, kỹ sư [Không nhận]

Y tế Bộ trưởng : Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ

Kinh tế Bộ trưởng : Hồ Tá Khanh, y khoa bác sĩ

Tiếp tế Bộ trưởng : Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ

(Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 52-53.)

CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM KHÔNG CÓ BỘ BINH

Đây là chính phủ đầu tiên của Việt Nam độc lập được tổ chức theo cơ cấu tây phương, gồm nhiều bộ. Đứng đầu mỗi bộ là một vị bộ trưởng phụ trách chuyên ngành. Tất cả những bộ trưởng trong chính phủ đều là những chuyên gia tân học, gồm một giáo sư, hai kỹ sư, bốn bác sĩ, bốn luật sư. Đặc biệt chính phủ nầy không có bộ Binh, hay bộ Quốc phòng, hoặc bộ An ninh.

Trước đây, sau khi vua Bảo Đại từ Pháp về cầm quyền năm 1932, Pháp cải tổ triều đình Huế ngày 2-5-1933, bộ Binh bị bãi bỏ. Nay chính phủ Trần Trọng Kim dưới quyền vua Bảo Đại cũng không có bộ Binh. Không biết lý do nào, một chính phủ được tổ chức theo lối mới, lại không có bộ Binh hay bộ Quốc phòng? Riêng Trần Trọng Kim, trong hồi ký của mình, giải thích như sau:

Việc binh bị trong nước là việc quan trọng đến vận mạng cả nước, mà lúc ấy quân lính và súng ống không có. Ở kinh đô Huế có tất cả hơn một trăm lính bảo an, tức lính khố xanh cũ, và sáu bảy chục khẩu súng cũ, đạn cũ, bắn mười phát thì năm sáu phát không nổ. Ở các tỉnh cũng vậy, mỗi tỉnh có độ 50 lính bảo an, các phủ huyện thì có độ chừng vài chục người. Việc phòng bị do quân Nhật Bản đảm nhiệm hết. Vì lẽ đó và các lẽ khác nữa mà lúc đầu chúng tôi không đặt bộ Quốc phòng. Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước, nếu mình đặt bộ Quốc phòng thì chỉ có danh không có thực, và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí, ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị, thì rồi quân đội mình mới có khí thế.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tt. 57-58.)

Tuy Trần Trọng Kim giải thích như thế, nhưng có hai dư luận bàn tán khác nhau về việc nầy: Thứ nhứt, người ta cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim gồm toàn khoa bảng chuyên viên, ít hiểu biết về việc quân sự nên không thấy rõ tầm mức quan trọng của bộ Quốc phòng. Thứ hai, có thể người Nhật muốn nắm toàn bộ vấn đề quốc phòng mà không giao cho chính phủ Trần Trọng Kim, vì sợ chính phủ nầy theo Đồng minh, có thể bất ngờ tấn công Nhật. Làm như thế, Nhật còn buộc chính phủ Trần Trọng Kim lệ thuộc vào chính sách quân sự chung của Nhật tại Đông Nam Á.

Dầu sao, việc quốc phòng chỉ dựa trên quân Nhật là điều sẽ rất tai hại về sau, vì khi quân Nhật rút lui hay đầu hàng Đồng minh, thì chính phủ Trần Trọng Kim không có lực lượng quân sự để tự bảo vệ mình, bảo vệ an ninh lãnh thổ, và sẽ dễ dàng bị sụp đổ. Không tổ chức bộ Quốc phòng, chính phủ Trần Trọng Kim mở trường huấn luyện thanh niên, chú trọng đến việc phát triển phong trào thanh niên.

Về phần vua Bảo Đại, ngày 8-5-1945, nhà vua đưa ra chủ trương xây dựng một hiến pháp theo khẩu hiệu “Dân vi quý” của Mạnh Tử, và ngày 30-6-1945, nhà vua ban hành sắc dụ thành lập Hội đồng soạn thảo hiến pháp. Hội đồng mới bắt đầu làm việc, thì tình hình thay đổi nhanh chóng.

QUỐC HIỆU, QUỐC KỲ VÀ QUỐC CA

Bắt tay vào làm việc, trước hết vào ngày 4-5-1945, chính phủ quyết định quốc hiệu mới là Đế Quốc Việt Nam, chứ không dùng các danh xưng An Nam, Đại Nam hay Đại Việt.

181 2 1945 ĐẾ QUỐC VIỆT NAM - Hoàng đế Bảo Đại & Nam Phương Hoàng Hậu (mẫu tem in thử)

Kinh đô Huế được đổi thành Thuận Hóa. Ngày 2-6-1945, chính phủ chọn quốc kỳ Việt Nam nền vàng, ba sọc đỏ theo hình quẻ ly. Quốc ca là bài “Đăng đàn cung”.

Quẻ ly là một trong tám quẻ đơn của bát quái trong kinh Dịch, gồm ba hào (vạch ngang): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch ngang đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang). Ly vi hỏa là lửa, sáng màu đỏ. Theo quan niệm của Hậu thiên bát quái, ly đóng ở phương nam.

Như vậy, màu vàng của nền cờ quẻ ly vừa là màu cờ long tinh của hoàng gia (truyền thống), vừa tượng trưng cho “thổ”, thích hợp với quẻ ly để chỉ vị trí nước ta (phương nam), và cả về màu sắc (hỏa, màu đỏ, sinh thổ, màu vàng, theo ngũ hành tương sinh), đồng thời với ý nghĩa người Việt Nam máu đỏ da vàng. Sau đây là lời giải thích của Trần Trọng Kim về lá cờ do ông đưa ra:

Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc sử diễn ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng: “Đầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chơi chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở kinh Dịch, mà quẻ ly chủ phương nam. Chữ ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.

Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd, tt. 60-61.)

Khi Trần Trọng Kim chọn cờ quẻ ly, ông cũng biết rằng “có người nói: cờ quẻ lý là một điềm xấu cho nên thất bại vì ly là lìa. Ly là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở nghĩa lý, chứ không phải là sự tin nhảm vô ý thức.” (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 61.)

Trong khi đó, theo các nhà Nho học, bài thiệu về các quẻ trong bát quái có câu “càn tam mãn, ly trung hư”, tức quẻ càn gồm có ba vạch ngang đầy đủ, trong khi quẻ ly có vạch giữa bị đứt đoạn, nên các ông cũng cho đây là điềm không tốt.

Lời bài quốc ca “Đăng đàng cung” như sau:

Kìa núi vàng bể bạc

Có sách trời… sách trời định phần!

Một dòng ta – gầy non sông vững chắc.

Đã ba ngàn mấy trăm năm!

Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc.

Văn minh đào tạo

Màu gấm hoa càng đượm

Rạng vẻ dòng giống Tiên Long.

Ấy công gầy dựng

Từ xưa đà khó nhọc

Nhớ ơn dày nặng

Lòng trung quân đã sẵn

Cố thương nhau … thương nhau một niềm.

Nguyện nhà Việt muôn đời thạnh trị.”

(Lê Văn Lân, “Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam thời quân chủ trong thế kỷ 20 qua”, Tuyển tập Nhớ Huế số 12, không đề năm, California, tr. 27.)

Như thế, vua Bảo Đại và Trần Trọng Kim đã hợp nhất hai nền hành chánh bảo hộ Pháp và địa phương Việt, nên ban đầu còn nhiều khó khăn trong buổi giao thời. Chính phủ nầy không tồn tại được lâu dài, nhưng cũng đặt định được một số nền tảng căn bản như chúng ta sẽ thấy trong hoạt động của chính phủ Trần Trọng Kim. (Trích: Bảo Đại (1913-1997), Toronto: Nxb. Non Nước, 2014.)

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

© Đàn Chim Việt

 

 Bài 3

Hoạt động của chính phủ Trần Trọng Kim

Chính phủ Trần Trọng Kim. Nguồn Internet

THU HỒI VÀ THỐNG NHẤT LÃNH THỔ
Trong phiên họp đầu tiên của nội các, luật sư Trần Văn Chương, bộ trưởng Ngoại giao, người cao tuổi nhất, được bầu làm nội các phó tổng trưởng (phó thủ tướng). Chính phủ đổi Bắc Kỳ thành Bắc Bộ, Trung Kỳ thành Trung Bộ, Nam Kỳ thành Nam Bộ, dầu lúc đó Nam Bộ chưa chính thức được sáp nhập vào trung ương.

Trần Trọng Kim cử Trần Văn Chương ra Hà Nội thương lượng với tướng Yuichi Tsuchihashi, tổng tư lệnh quân đội Nhật, kiêm toàn quyền Đông Dương, về sáp nhập Bắc Bộ vào Việt Nam. Phía Nhật không trở ngại. Ngày 2-5-1945 vua Bảo Đại cử Phan Kế Toại, xuất thân trường Hậu bổ Hà Nội và trường Thuộc địa Paris là trường chuyên đào tạo quan chức thuộc địa Pháp, nguyên tổng đốc Bắc Ninh, làm khâm sai Bắc Bộ. Phan Kế Toại chính thức nhận chức tại phủ thống sứ cũ, nay được gọi là Bắc Bộ phủ, ngày 5-5-1945.

Ngày 13-7-1945, đích thân Trần Trọng Kim ra Hà Nội thương thuyết. Toàn quyền Nhật Bản Yuichi Tsuchihashi chịu trả ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng, vốn là nhượng địa của Việt Nam cho Pháp từ năm 1888.

Chính phủ bổ nhiệm Trần Văn Lai làm đốc lý (thị trưởng) Hà Nội, Vũ Trọng Khánh làm đốc lý Hải Phòng và Nguyễn Khoa Phong làm đốc lý Đà Nẵng. (David G. Marr, Vietnam 1945, the Quest for Power, University of California Press, 1995, tt. 132-133.)

Nam Kỳ (cũ) nay là Nam Bộ vốn là thuộc địa của Pháp, theo quy chế riêng. Vì vậy, lúc đầu người Nhật trì hoãn việc trả Nam Bộ, nhưng sau người Nhật chịu giao Nam Bộ lại cho Việt Nam từ ngày 8-8-1945. (David G. Marr, sđd. tr. 135.)

Nguyên nhân có thể lúc đó Hoa Kỳ thả bom nguyên tử ngày 6-8-1945 xuống Hiroshima, Nhật sắp sửa đầu hàng Đồng minh và rút quân về nước, nên Nhật mới chịu rời Nam Bộ. Ngày 14-8-1945, vua Bảo Đại ký dụ bổ nhiệm Nguyễn Văn Sâm làm khâm sai Nam Bộ. (Vũ Ngự Chiêu, Phía bên kia cuộc cách mạng 1945: Đế quốc Việt Nam (3-8/1945), Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tr. 106.)

Trong khi đó, Hoa Kỳ thả bom nguyên tử lần thứ hai xuống Nagasaki ngày 9-8-1945, thì ngày 14-8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Vì vậy, quân Nhật ở Sài Gòn chưa kịp bàn giao Nam Bộ trở về lại với Việt Nam thì chính phủ Trần Trọng Kim sụp đổ. Việt Minh nổi lên cướp chính quyền.

GIÁO DỤC VÀ THANH NIÊN

Về giáo dục, chính phủ chủ trương dùng quốc ngữ giảng dạy thay chữ Pháp, và rất chú trọng đến ngành giáo dục kỹ thuật. Cầm quyền chưa được hai tháng, vào ngày 8- 6-1945, chính phủ quy định rằng từ đây, chữ quốc ngữ và tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức ở các công sở và trường học. Trong trường học, Pháp văn được giảng dạy như một ngoại ngữ. (Phạm Hồng Tung, Nội các Trần Trọng Kim: Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2009, 241.)

Kỳ thi tiểu học năm nay là kỳ thi đầu tiên bằng quốc ngữ, và dự định sẽ dùng quốc ngữ trong các kỳ thi cao hơn. Chương trình trung tiểu học được Việt Nam hóa, do bộ trưởng bộ Giáo dục Hoàng Xuân Hãn đưa ra. Chương trình nầy là nền tảng căn bản cho chương trình giáo dục của các chính phủ trong chính thể Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa sau nầy.

Bộ trưởng bộ Thanh niên Phan Anh có sáng kiến vận động thành lập trường Thanh niên tiền tuyến. Trường do Phan Tử Lăng làm hiệu trưởng, khai giảng khóa đầu tiên ngày 2-7-1945 gồm 43 học viên, hướng dẫn học viên hoạt động xã hội và cả quân sự. Trụ sở trường đặt tại một trại lính hộ thành cũ, phía trước cửa Quảng Đức. Cửa nầy ở phía nam kinh thành Huế, bên tay trái của Thượng Tứ từ ngoài nhìn vào. (Cửa Quảng Đức bị sập trong trận lụt năm 1953 nên còn được gọi là cửa Sập.) Phong trào thanh niên tham gia hoạt động xã hội phát triển trên toàn quốc. Ở trong Nam, phong trào thanh niên được bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đặt tên là “Thanh niên tiền phong”.

Các đoàn thanh niên nầy góp phần đắc lực trong việc vận động cứu đói đồng bào Bắc Bộ. Từ đó ý thức xã hội và tinh thần dân tộc quật khởi mạnh mẽ trong giới thanh niên. Phong trào thanh niên đang hăng say hoạt động, thì chính phủ Trần Trọng Kim từ chức sau khi Nhật bại trận.

Nhiều thanh niên xuất thân từ phong trào nầy chuyển qua hoạt động cho Việt Minh khi Việt Minh chiếm chính quyền 19-8-1945. Việt Minh sử dụng những lực lượng thanh niên nầy cho các nhu cầu chính trị của đảng Cộng Sản.

NHỮNG DỰ ÁN CẢI CÁCH

Ngày 30-6-1945, vua Bảo Đại ban hành đạo dụ số 69 thành lập Uỷ ban Dự thảo hiến pháp gồm 15 uỷ viên: Phan Anh (thuyết trình viên), Hoàng Đào, Vũ Đình Hòa, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Huy Lai, Đặng Thai Mai, Vương Quang Nhường, Nguyễn Tường Long, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Văn Sâm, Nhượng Tống, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Thinh và Nguyễn Trác. (Việt Nam tân báo, số ra ngày 7-7-1945. Phạm Hồng Tung trích dẫn, sđd. tt. 236-237.)

Đạo dụ số 70 của vua Bảo Đại thành lập Uỷ ban Cải cách cai trị, tư pháp và tài chánh gồm 15 uỷ viên: Vũ Văn Hiền (thuyết trình viên), Trần Văn Ân, Trần Văn Chương, Phạm Khắc Hòe, Lê Quang Hộ, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Khoát, Trần Văn Lý, Trần Đình Nam, Nguyễn Khắc Niêm, Đặng Như Nhơn, Dương Tấn Tài, Nguyễn Hữu Tảo, Trịnh Đình Thảo, Phan Kế Toại. (Việt Nam tân báo, số ra ngày 9-7-1945. Phạm Hồng Tung trích dẫn, sđd. tr. 237.)

Uỷ ban Cải cách Giáo dục hình thành do đạo dụ số 71 của vua Bảo Đại gồm 18 uỷ viên: Hoàng Xuân Hãn (thuyết trình viên), Nguyễn Thanh Long, Hoàng Thị Nga, Tạ Quang Bủu, Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Chi, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Thanh Giang, Ngụy Như Kon-Tum, Hồ Văn Ngà, Bùi Kỷ, Nguyễn Quang Oánh, Nguyễn Phúc Ưng Quả, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Thinh, Hoàng Đạo Thúy, Nguyễn Xiển. (Việt Nam tân báo, số 10-7-1945. Phạm Hồng Tung trích dẫn, sđd. tr. 237.)

Cuối cùng, đạo dụ số 83 do vua Bảo Đại ban bố ngày 1-7-1945 thành lập Hội đồng tư vấn quốc gia, gồm cả ba uỷ ban cải cách trên đây. (Các đạo dụ vua Bảo Đại được công bố trên báo L’Action các ngày 2, 13, 17-7-1945. Phạm Hồng Tung trích dẫn, sđd. tr. 236.)

Tất cả các uỷ ban nầy tập trung nhiều nhân tài trên khắp ba miền đất nước, nhưng rất tiếc chưa hoạt động thì thời cuộc biến đổi.

CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM CỨU ĐÓI

Một trong những chương trình hành động khẩn cấp của chính phủ Trần Trọng Kim là giải quyết nạn đói ở Bắc bộ. Nạn đói bắt đầu từ mùa đông năm 1944, lúc đó còn Pháp thuộc. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chánh, Pháp ở Đông Dương.

Khi chính phủ mới được thành lập (17-4-1945), chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh bãi bỏ việc bắt buộc nông gia bán lúa gạo cho nhà nước, và để cho dân chúng tự do buôn bán gạo. Điều nầy có nghĩa là những quy định trước đây về số lượng lúa gạo phải bán cho nhà nước theo diện tích canh tác cũng bị bãi bỏ. Người dân được tự do vận chuyển buôn bán gạo dưới 50 kí lô mà không cần phải có giấy phép của chính quyền.

Ở các tỉnh, những ngân hàng nông nghiệp sẽ phụ trách mua gạo cho nhu cầu quân sự hay nhu cầu thực phẩm của chính quyền dưới sự kiểm soát của tỉnh trưởng. Những người nghèo đói còn sống sót và những người vô gia cư được chính phủ tập trung vào những nhà nuôi dưỡng đặc biệt để phục hồi dần dần.

Chính phủ thành lập ty “Liêm Phóng Kinh Tế”, tức cảnh sát kinh tế, và giao cho Nguyễn Duy Quế điều khiển, kiểm soát gắt gao giá gạo, nhằm ngăn chận những vụ đầu cơ hay buôn lậu. (Vũ Ngự Chiêu, Phía bên kia cuộc cách mạng 1945: Đế quốc Việt Nam (3-8/1945), sđd. tt. 95-96.)

Nhờ thế, việc đầu cơ tích trữ hay buôn lậu gạo giảm hẳn. Tình hình nông gia được cải thiện nhờ giá bán cho nhà nước cao gấp 5 lần so với thời gian trước đó dưới thời còn Pháp.

Vua Bảo Đại ra sắc chỉ ngày 23-5-1945 hủy bỏ nợ nần do các tiểu nông vay tiền nhà nước trước đây. (Nguyễn Thế Anh, “The Great Famine of 1945″, The Vietnam Review 4, Spring-Summer 1998, Hamden, Connecticut, USA, tr. 469.) Chính phủ cho hạ thấp mức thuế nông dân phải đóng góp. Bộ trưởng bộ Tiếp tế Nguyễn Hữu Thí đến Sài Gòn vào đầu tháng 6-1945 để thương thuyết với người Nhật nhằm thay đổi phương cách chở gạo từ Nam ra Bắc.

Để tránh bị phi cơ Đồng minh oanh tạc, gạo sẽ được chở bằng các đoàn thuyền buồm thuê của thường dân. Bộ trưởng Nguyễn Hữu Thí còn đề nghị đưa 1,000,000 dân từ Bắc bộ và Trung bộ vào định cư ở Nam bộ. (Nguyễn Thế Anh, bđd. tr. 469.) Những chuyến xe hay những chiếc ghe chở gạo từ Nam ra Bắc, khi quay trở về, thì chở di dân vào Nam lập nghiệp. (David G. Marr, sđd. tt. 102-103.)

Ngày 30-6-1945, chính phủ Trần Trọng Kim cho đánh thuế du hý (vui chơi, giải trí) để lấy tiền tài trợ cho những hoạt động cứu đói ở Bắc bộ. Chính phủ mở chiến dịch báo chí thông tin về những bất hạnh của đồng bào Bắc bộ để kêu gọi dân chúng tiếp tay cứu trợ. Những cuộc lạc quyên được tổ chức trên toàn quốc. Chiến dịch nầy đem đến nhiều thành quả.

Tại Hà Nội, vào tháng 5-1945, Tổng hội Cứu tế quyên được 782,403 đồng. Với số tiền nầy, Tổng hội đã mua được từ kho nhà nước 1,476 tấn gạo phát chẩn cứu đói. (David G. Marr, sđd. tt. 102-103.) Uỷ ban Cứu tế Trung ương giúp đỡ Bắc bộ tại Huế và Uỷ ban tương trợ giúp đỡ những nạn nhân Bắc bộ tại Sài Gòn, được thành lập. Số tiền quyên góp được dùng mua gạo chở ra giúp đỡ đồng bào đất Bắc. (Nguyễn Thế Anh, bđd. tr. 469.)

Tại Nam Bộ, chỉ nội trong tháng 5-1945, hơn 20 hội chẩn tế ra đời, và trong vòng một tháng đã quyên được 1,677,886 đồng, kể cả 481,570 đồng mua và chuyên chở 1,592 tấn gạo ra Bắc giúp cứu đói. (Báo L’Action [Hành Động] các số 24-5 và 22-6-1945, Vũ Ngự Chiêu trích dẫn, sđd. tr. 96.)

Lực lượng tham gia các phong trào cứu đói chủ chốt là thanh niên, sinh viên, học sinh và các đoàn thể đã được thành lập trong thời toàn quyền Decoux, như Hướng đạo, Gia đình Phật tử… vì đã có kinh nghiệm đoàn ngũ hóa. Đây là lần đầu tiên giới trẻ Việt Nam thực sự bắt tay vào hoạt động xã hội. Những nhân vật nổi tiếng của phong trào nầy là Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu (Hướng đạo), Lê Đình Thám (Gia đình Phật tử) …

Những biện pháp của chính phủ cùng sự tiếp tay của đồng bào toàn quốc, đã làm cho tình hình Bắc Bộ nhanh chóng trở lại bình thường. Vẫn còn một vài nơi người nghèo sắp hàng trước các điểm phân phối thực phẩm miễn phí, nhưng nói chung tình hình khá ổn định vào tháng 6-1945. (Nguyễn Thế Anh, bđd. tr. 470.)

Nạn đói tưởng đã qua đi. Mặc dầu “Uỷ ban Bảo vệ và Giám sát đê điều” được thành lập để lo việc giữ đê, ngăn ngừa nước dâng lên gây lụt lội, nhưng bất ngờ những cơn mưa như thác đổ vào tháng 8-1945 đã tràn ngập tất cả các cánh đồng các tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Hải Dương. Nạn mất mùa trở lại. Vài nơi thiếu gạo, dân chúng đã phải ăn cả lúa giống để dành làm vụ mùa sau. (Nguyễn Thế Anh, bđd. tr. 470.)

CỘNG SẢN PHÁ RỐI

Khi nạn đói xảy ra năm 1945, đảng Cộng Sản Đông Dương và Việt Minh (VM) lên án Pháp và Nhật là tác nhân gây ra nạn đói, và chống việc trưng mua lúa gạo.

Ngày 17-4-1945, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập và lo chuyện cứu đói, thì VM lợi dụng nạn đói để tuyên truyền và phát triển. Việt Minh đả kích chính phủ Trần Trọng Kim, khích động dân chúng lăng nhục những viên chức chính quyền lo việc cứu tế. Khi biết được Đức rồi Nhật sắp đầu hàng Đồng minh, một mặt VM xúi giục dân chúng đánh phá các kho lúa. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tr. 96.) Một mặt khác, VM đứng ra tổ chức cướp các kho gạo. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions Du Seuil, 1952, tr. 131.)

Việt Minh còn âm thầm chận bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo từ miền Nam ra, rồi VM đem tiếp tế cho những mật khu của họ. (David G. Marr, sđd. tt. 102-103.)

Việt Minh hợp tác và cung cấp tin tức cho phe Đồng minh, chính là cho Hoa Kỳ, dùng máy bay bắn phá các trục giao thông, khiến việc tiếp tế thực phẩm rất khó khăn. Ngày 23-7-1945, bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bộ trưởng bộ Y tế, trên đường đi công tác, từ Thái Bình trở về Hà Nội, đến gần Bần Yên Nhân thì bị máy bay Đồng minh bắn chết. (Trần Trọng Kim, sđd. tr. 78.) Sự đi lại khó khăn đến nỗi chính phủ Trần Trọng Kim phải dùng xe đạp để chuyển công văn. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tt. 96-97.)

Từ đó, nạn đói trầm trọng trở lại. Nạn đói càng trầm trọng thì VM càng dễ tuyên truyền, vừa phản đối chính quyền, vừa chiêu dụ dân chúng bằng cách dùng gạo cướp được để cứu đói những ai chịu theo VM. Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) đã tự nhận rằng ông theo VM vì bản thân và gia đình quá đói. (Văn Cao, “Tại sao tôi viết Tiến quân ca”, viết ngày 7-7-1976, đăng lại trong sách Thiên Thai, tuyển tập nhạc Văn Cao, TpHCM: Nxb Trẻ, 1988, tt. 14-17.)

Đây là một trong những lý do giúp cho thế lực VM cộng sản nhanh chóng phát triển rộng rãi ở các vùng rừng núi và nông thôn vùng đông bắc Bắc Kỳ trong thời gian nầy.

NHÌN LẠI CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

Trong cuộc họp hội đồng chính phủ ngày 3-8-1945 tại Huế, Trần Trọng Kim báo cáo công việc ra Bắc thương thuyết và thu xếp với người Nhật. Lúc đó phó thủ tướng Trần Văn Chương có ý cho rằng Trần Trọng Kim thương thuyết với người Nhật thành công là do công ông Chương ra Bắc trước đó. (Lệ Thần Trần Trọng Kim, sđd. tr. 88.) Không biết có phải vì cuộc tranh công nội bộ hay vì nhận thấy tình hình thế giới biến chuyển và nhất là tình hình Bắc Kỳ xáo trộn do những hoạt động của Việt Minh, Trần Trọng Kim xin từ chức ngày 5-8-1945.

Vua Bảo Đại chấp thuận, nhưng yêu cầu Trần Trọng Kim duy trì chính phủ lâm thời và ủy cho Trần Trọng Kim lập nội các mới. Trong tình hình lúc bấy giờ, Trần Trọng Kim không mời đủ người tham gia chính phủ.

Ngày 20-8-1945, Trần Trọng Kim từ bỏ ý định tiếp tục cầm quyền và tuyên bố đã hoàn thành hai sứ mệnh lịch sử là thống nhất lãnh thổ và đặt định nền tảng hành chánh căn bản cho đất nước. (David G. Marr, sđd. tr. 438.). Chính phủ của ông họp phiên chót ngày 23-8-1945 rồi tự giải tán. Về phía vua Bảo Đại, hai ngày sau, 25-8-1945, nhà vua tuyên chiếu thoái vị.

Nói chung, cả vua Bảo Đại và giáo sư Trần Trọng Kim đều muốn nhân cơ hội Nhật đảo chánh Pháp để thoát ra khỏi nền bảo hộ của Pháp, tuyên bố độc lập. Tuy chỉ cầm quyền chưa đầy 6 tháng, chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện được nhiều công trình đáng kể:

Chính phủ Trần Trọng Kim hợp nhất hai nền hành chánh Pháp và hành chánh Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, thành nền hành chánh duy nhất Việt Nam. Chính phủ cũng đã hợp nhất nhất Bắc Kỳ và Nam Kỳ vào chính phủ trung ương Việt Nam.

Tháng 5-1945, Nhật giao Bắc Kỳ cho Việt Nam và được đổi thành Bắc Bộ. Nhật cũng đồng ý giao Nam Kỳ cho Việt Nam vào tháng 8-1945, nhưng chưa kịp thi hành thì VM cướp chính quyền. Nhật cũng trả ba nhượng địa là Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng cho chính phủ Trần Trọng Kim ngày 13-7-1945.

Trong hành chánh và trong giáo dục, thi cử, chính phủ Trần Trọng Kim hoàn toàn dùng chữ quốc ngữ làm chuyển ngữ chính thức, không còn dùng chữ Nho hay chữ Pháp. Chính phủ mở trường huấn luyẹân thanh niên, phát triển phong trào thanh niên trên toàn quốc. Chính phủ cũng đã thành lập ủy ban soạn thảo hiến pháp, ủy ban cải cách văn hóa, giáo dục, xã hội, nhưng rất tiếc chưa hoạt động được thì chính phủ sụp đổ.

Chính phủ Trần Trọng Kim không thành lập quân đội để tự bảo vệ, nên khi quân đội Nhật bại trận thì chính phủ Trần Trọng Kim sụp đổ. Điểm đặc biệt là chính phủ Trần Trọng Kim được Nhật hậu thuẫn, nhưng từ khi thành lập cho đến khi giải tán, chính phủ nầy hoạt động độc lập và không lệ thuộc người Nhật.

Chính phủ Trần Trọng Kim chỉ hoạt động từ tháng 4-1945 đến tháng 8-1945, nhưng đã đặt nền móng căn bản cho nền hành chánh tương lai Việt Nam, chương trình giáo dục của Hoàng Xuân Hãn rất hữu ích cho sự phát triển văn hóa Việt Nam và chính phủ Trần Trọng Kim đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết nạn đói ở Bắc Việt Nam. (Trích: Bảo Đại (1913-1997), Toronto: Nxb. Non Nước 2014)

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

© Đàn Chim Việt

Posted in Lịch Sử Việt Nam | Leave a Comment »

►TT Nguyễn Tấn Dũng đứng sau vụ chính quyền Hà Tĩnh cho Cty Formosa thuê đất dài hạn với giá rẻ mạt?

Posted by hoangtran204 trên 05/03/2015

 

Lê Anh Hùng

04-03-2015

Dư luận trong và ngoài nước như đang lên cơn sốt sau vụ Thanh tra Chính phủ công bố kết luận thanh tra ở Hà Tĩnh năm 2014 và hé lộ nhiều sai phạm nghiêm trọng, đặc biệt là việc chính quyền Hà Tĩnh cho Cty Formosa Hà Tĩnh thuê 33 triệu m2 đất và mặt biển tới 70 năm ở vị trí hết sức nhạy cảm về an ninh – quốc phòng với cái giá vô cùng rẻ mạt.

Tờ Việt Nam Thời Báo của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam ngày hôm qua đăng bài “Cấp phép 70 năm cho Formosa: Buôn gì lời nhất?” với những thông tin và nhận định nhức nhối:

Một sự đồng lõa của Chính phủ Việt Nam? Một kịch bản dài hơi như Bauxite Tây Nguyên đang định hình rõ nét tại Vũng Áng – Hà Tĩnh? Tự hỏi, nước Việt: Buôn gì lời nhất?

Lã Bất Vi là tướng quốc nước Tần thời Chiến Quốc. Xuất thân ban đầu là thương gia nước Vệ, một hôm Lã Bất Vi đến Hàm Đan kinh đô nước Triệu làm ăn buôn bán. Tại đây, ông đã gặp Dị Nhân công tử nước Tần bấy giờ đang làm con tin tại nước Triệu. Lã Bất Vi suy tính nếu mua chuộc được Dị Nhân làm tiền vốn đầu cơ chính trị, thì mình thế nào cũng sẽ công thành danh toại. Sau khi về nhà, Lã Bất Vi mới hỏi cha rằng: “Nếu buôn bán vàng bạc đá quý thì lãi gấp bao nhiêu?”. Người cha đáp: “Lãi gấp mấy chục lần”. Lã Bất Vi lại hỏi tiếp: “Nếu giúp người lên ngôi vua thì sẽ lãi gấp bao nhiêu lần?”. Người cha lưỡng lự hồi lâu rồi đáp: “Lãi nhiều đến mức không thể nào tính toán được.”

Nước Việt năm 2015, theo thông tin đăng tải trên báo Dân Trí vào ngày 3/3, ông Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho biết, cơ quan này đã tham mưu để Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Thủ tướng thống nhất với kết luận về sai phạm trong việc cấp phép tới 70 năm cho dự án Formosa nhưng đồng ý bảo lưu thời hạn đã cấp phép này.

Báo Dân Trí cũng đăng tải một số nội dung lưu ý như:

– Thanh tra Chính phủ dẫn quy định tại Điều 52 Luật Đầu tư năm 2005, thời hạn hoạt động của dự án có vốn đầu tư nước ngoài phải phù hợp với yêu cầu hoạt động của dự án và không quá 50 năm; trường hợp cần thiết, Chính phủ quyết định thời hạn dài hơn đối với dự án nhưng không được quá 70 năm. Đối chiếu với hồ sơ tại thời điểm thanh tra, Thanh tra Chính phủ chưa thấy ý kiến của Chính phủ cho phép thời hạn hoạt động của dự án trên 50 năm.

– Theo thông tin từ tỉnh Hà Tĩnh, liên quan đến việc này, có 2 văn bản do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ký cho phép địa phương thực hiện việc cấp chứng nhận đầu tư. Lãnh đạo Hà Tĩnh cũng thông tin là việc này đã báo cáo Chính phủ và được đồng ý.

– Người phát ngôn Chính phủ thông tin thêm, sau nữa, Thủ tướng cũng thống nhất với đề xuất của Bộ KH-ĐT về việc duy trì thời hạn cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án này là 70 năm.

Như vậy, với sự thống nhất giữa Chính Phủ và Bộ KH-ĐT, thì dự án Formosa với hàng ngàn lao động nước ngoài, trong đó chiếm phần lớn từ Trung Quốc sẽ tồn tại đến 70 năm. Một trường hợp “đặc biệt” đầu tiên mà Chính phủ cho phép từ sau ngày giải phóng đến nay và việc “kết luận sai phạm nhưng đồng ý bảo lưu” cũng được xem như là cách thức hợp pháp hóa vi phạm. Nói trắng ra là sự du di, đồng lõa của Chính phủ trong sai phạm của chính quyền Hà Tĩnh khi “Cho doanh nghiệp nước ngoài thuê đất vượt cả thẩm quyền của Chính phủ, đấu thầu thiếu minh bạch, bồi thường giải phóng mặt bằng có dấu hiệu vi phạm pháp luật…”

Trước đó, Formosa đề xuất lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng, ngoài ra Formosa còn ra yêu sách khi đòi Chính phủ xem xét miễn thuế nhập khẩu cho một số nguyên vật liệu, mà con số nếu phải nộp có thể lên đến 1.000 tỷ đồng.

Sự biệt đãi khó hiểu dành cho Formosa, nhất là khi địa điểm đầu tư địa lý nhạy cảm về an ninh, quốc phòng, trong khi, Tập đoàn Formosa không phải là tập đoàn có kinh nghiệm trong ngành thép, hệ quả ưu đãi đầu tư Formosa sẽ khiến ngành thép Việt bị bóp chết… Tất cả khiến nhiều chuyên gia lo ngại. 

H1TT Nguyễn Tấn Dũng dự lễ khởi công nhà máy gang thép Formosa

Trong bối cảnh gây tranh cãi đó ở dư luận Việt Nam, Formosa lại tranh thủ tìm cách “qua mặt” cơ quan chính năng tỉnh Hà Tĩnh khi cố tình xây dựng miếu thờ, và công nhân Trung Quốc vẫn miệt mài xin đất cho cả gia đình sang ở.

Một kịch bản dài hơi như Bauxite Tây Nguyên đang định hình rõ nét tại Vũng Áng – Hà Tĩnh? Và lần này, Formosa có vẻ thoải mái hành sự hơn với cái bắt tay đồng thuận chấp nhận đầu tư dự án lên đến 70 năm từ phía Chính phủ.

Tự hỏi, nước Việt: Buôn gì lời nhất?

Rõ ràng, câu trả lời cho câu hỏi mà tác giả LS đặt ra ở trên chính là “buôn vua”: các hậu duệ của Lã Bất Vi đã được những ông vua cộng sản không ngai ở Việt Nam dâng cho một phần lãnh thổ bằng 1,2 lần diện tích Ma Cao trong ít nhất là 70 năm. Trong 70 năm dài dằng dặc đó, điều gì cũng có thể xẩy ra: Kỳ Anh nói riêng và Hà Tĩnh nói chung sẽ dần dần bị “Hán hoá”; khu vực đặc biệt nhạy cảm về an ninh – quốc phòng này trở thành một “tử huyệt” khiến Việt Nam “chưa đánh đã thua” trước Trung Quốc và không cựa quậy nổi trong gọng kìm của Đại Hán, v.v.

H2Khu nhà 9 tầng của Formosa Hà Tĩnh toàn bê tông, sắt thép, không có lấy một viên gạch (Ảnh: Lê Cảnh Nam – Nguồn: Việt Nam Thời Báo)

Tờ Việt Nam Thời Báo rõ ràng là đã cố ý “né” khi viết: “Một sự đồng lõa của Chính phủ Việt Nam?” Đúng ra, họ phải viết là: “Một sự đồng loã của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng?” Với tư cách là người đứng đầu chính phủ, ông Nguyễn Tấn Dũng chính là người chịu trách nhiệm cao nhất về vụ việc này, đồng thời cũng chính ông ta lại đồng ý bảo lưu thời hạn cho Formosa Hà Tĩnh thuê đất.

Vấn đề đặt ra ở đây là: Liệu ông Nguyễn Tấn Dũng có phải chỉ đơn giản là “đồng loã” trong vụ này hay không? Xin thưa, ông ta không chỉ “đồng loã”, mà còn là “chính danh thủ phạm” của thảm hoạ mang tên “Formosa Hà Tĩnh” này:

1. Bất chấp việc một số cán bộ đảng viên thuộc Ban Tổ chức TW và Uỷ ban Kiểm tra TW gửi Tâm Huyết Thư cho Bộ Chính trị và Ban Bí thư ngày 7.5.2007 để tố cáo ông Hoàng Trung Hải là người Hán trá hình (bố đẻ ông ta tên là Sì Sói, sinh quán ở Long Khê, Chương Châu, Phúc Kiến, Trung Quốc), ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn “nhất quyết” đặt ông ta vào vị trí quan trọng thứ hai trong chính phủ kể từ năm 2007 đến nay: Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế.

Ngoài ra, ông Nguyễn Tấn Dũng còn giao phó cho tên Hán tặc này hàng loạt ban chỉ đạo nhà nước, tạo điều kiện cho y thò tay vào bộ máy an ninh với chức vụ Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia, chui vào bộ máy quân sự với chức vụ Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, chẳng khác nào “chắp cánh cho hổ” cả.

Rõ ràng, tội của ông Nguyễn Tấn Dũng ở đây là tội phản quốc.

2. Nhờ quyền lực bao trùm thiên hạ do đ/c X trao cho, PTT Hán tặc Hoàng Trung Hải đã một mình “dâng” cả Vũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương cho Trung Quốc: ông ta là người ký Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”. Đây là hai văn bản mà lãnh đạo Hà Tĩnh viện dẫn ở trên.

Những việc này Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có biết không? Xin thưa, ông ta quá biết, bởi ông ta còn tham dự lễ khởi công xây dựng nhà máy gang thép Formosa Hà Tĩnh ngày 2.12.2012 kia mà.

Tội của ông Nguyễn Tấn Dũng ở đây là tội bán nước.

Suốt mấy năm nay, dư luận đã nhiều lần lên tiếng mạnh mẽ về hiểm hoạ Formosa Hà Tĩnh, trước sự im lặng đến mức hết sức khó hiểu của ngài Thủ tướng. Ông ta không những không làm gì để ngăn chặn thảm hoạ này, mà ngược lại vẫn điềm nhiên tiếp tay cho nó. Đơn cử như cuối tháng 1 vừa qua, ông ta đã quyết định hỗ trợ gần 300 tỷ VNĐ để xây nhà cho công nhân ở Vũng Áng, trong đó có hàng ngàn công nhân Trung Quốc.

Thanh tra Chính phủ đã ban hành kết luận thanh tra tại Hà Tĩnh ngày 03/07/2014 (văn bản số 1538/KL-TTCP), nhưng mãi gần 1 năm sau kết quả thanh tra mới được hé lộ và khiến dư luận xôn xao, phẫn nộ suốt mấy ngày qua.

Ai đã “om” kết quả thanh tra này nếu không phải là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng?

Việc ông Nguyễn Tấn Dũng “om” kết luận thanh tra suốt gần 1 năm qua và mới đây lại quyết định “bảo lưu” thời hạn cho Formosa Hà Tĩnh thuê đất nói lên điều gì: ông ta là một người Việt Nam yêu nước, chống Trung Quốc, hay là một tên Việt gian bán nước, tay sai của Trung Quốc?

Đến đứa trẻ cũng có thể trả lời được câu hỏi này./.

HÃY LÊN TIẾNG VÀ LÊN TIẾNG NHIỀU HƠN NỮA, HÃY HÀNH ĐỘNG VÀ HÀNH ĐỘNG NHIỀU HƠN NỮA ĐỂ CỨU ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM CỦA CHÚNG TA!!!

—–

Mời quý độc giả xem thêm các bài liên quan đến những việc làm phản dân, hại nước của Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng – Nông Đức Mạnh:

  1. Một phó thủ tướng gốc Hoa khai man lý lịch, buôn bán ma tuý (Dân Làm Báo)
  2. Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải mở đường cho giặc tràn vào Việt Nam (Dân Làm Báo)
  3. Nhập siêu từ Trung Quốc: Cấp độ báo động ngày càng lớn và những cái tai ngày càng điếc (VOA)
  4. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và ngành khai khoáng của Việt Nam (VOA)
  5. Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị (VOA)
  6. Hiểm họa Trung Quốc và bài học từ Tiệp Khắc, Ukraina (VOA)
  7. Lào Cai: ‘Tử huyệt’ của phòng tuyến biên giới phía bắc? (VOA)
  8. Trục đường cửa ngõ chiến lược Móng Cái – Hạ Long sẽ rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc? (VOA)
  9. PTT Hoàng Trung Hải – hiểm họa đằng sau những trò mị dân (VOA)
  10. Formosa Hà Tĩnh đã trở thành đặc khu của Trung Quốc? (VOA)
  11. Bauxite Việt Nam đã công khai lên tiếng về vụ PTT Tàu Hoàng Trung Hải (Bauxite Việt Nam)
  12. Thực trạng Việt Nam: Vấn đề và Giải pháp (VOA)
  13. Chính phủ Việt Nam đang ‘dâng’ nền kinh tế nước nhà cho Trung Quốc? (VOA)
  14. Các ông trùm gây tội ác với đồng loại như thế nào? (VOA)
  15. Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng?
  16. Hãy lên tiếng bảo vệ Lê Thị Phương Anh – nhân chứng tội ác của lãnh đạo nhà nước Việt Nam (Defend The Defenders)
  17. ĐBQH Dương Trung Quốc đã bị PTT Hán tặc Hoàng Trung Hải khống chế? (blog Lê Anh Hùng)
  18. Báo động: PTT Hán tặc Hoàng Trung Hải lại quyết liệt triển khai Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận (blog Lê Anh Hùng)
  19. Quyền lực và những trò đấu đá, đánh lừa dư luận ở Việt Nam hiện nay (blog Lê Anh Hùng)

Ghi chú:

Xin nhắc lại rằng, tác giả bài viết này vẫn đang theo đuổi vụ tố cáo bè lũ cướp nước và bán nước Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng suốt 7 năm qua. Trong câu chuyện tố cáo, tôi đã nêu rõ là ông Nguyễn Tấn Dũng đã bị Hán tặc Hoàng Trung Hải khống chế và thao túng kể từ năm 2007 đến nay.

Đơn thư mới nhất của chúng tôi đã được gửi qua đường bưu điện cho Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, đồng thời gửi trực tiếp cho ĐBQH Dương Trung Quốc, ngày 16.9.2013. Tuy nhiên, gần một năm rưỡi đã trôi qua nhưng tôi vẫn chưa hề nhận được bất kỳ hồi âm nào từ cả ĐBQH Dương Trung Quốc lẫn Bộ Công an, cơ quan mà ông DTQ chuyển đơn thư tới.

Hiện nay, tôi vẫn đang đốc thúc ĐBQH Dương Trung Quốc trả lời đơn thư của chúng tôi.

nguon: anhbasam.wordpress.com

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | 1 Comment »

►Luận về một Tam đoạn luận: Họng súng đẻ ra chính quyền, Mê tín, và Lễ hội

Posted by hoangtran204 trên 05/03/2015

Luận về một Tam đoạn luận

5-3-2015

Lương Kháu Lão

03-03-2015

1- Họng súng đẻ ra chính quyền

Bộ trưởng Bộ Văn Thể Du nghĩ gì mà cười tươi thế

Khi Mao Trạch Đông phát động cuộc nội chiến đánh Tưởng giới Thạch Quốc dân Đảng phải bỏ đại lục chạy ra Đài Loan năm 1949, giành sự thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn và đông dân nhất thế giới vào tay Đảng Cộng sản Trung Quốc, Mao ngạo nghễ tuyên bố “Họng súng đẻ ra chính quyền”. Xem lại những thước phim tư liệu hồi đó, thấy hàng vạn hồng quân ào ạt xông lên theo chiến thuật “biển người” có thể hiểu được vì sao Mao lại nói như vậy. (1)

Chưa có một thống kê chính xác đã có bao nhiêu người Trung Quốc đã ngã xuống cho một nước Trung Hoa độc lập thống nhất nhưng chưa toàn vẹn như vậy. Con số phải tính bằng đơn vị triệu là điều chắc chắn. Mao đã nói đúng: chính quyền mới- một nước Trung Hoa cộng hòa dân chủ đã ra đời từ những họng súng máy, họng súng đại bác phủ khói thuốc súng trên khắp các trận địa của đất nước Trung Quốc rộng lớn. Và khi đã nắm vận mệnh đất nước trong tay, người cầm quyền khát máu đã lại tiếp tục dùng họng súng để bảo vệ chính quyền độc tài của mình. Nhẹ nhàng thì ban ra những chính sách nghe có vẻ êm ái như Đại nhảy vọt, Đại cách mạng văn hóa vô sản… nhưng đã làm chết hàng chục triệu đồng bào, đồng chí của chính Mao, nặng nề thì dùng cấp dưới núp dưới tư tưởng “chính quyền đẻ ra từ họng súng” của mình biến quảng trường Thiên An Môn thành biển máu khi đàn áp sinh viên năm 1989.

Lịch sử Trung Quốc là lịch sử chiến tranh và tội ác kéo dài từ thời Trung cổ đến thời cận đại và hiện đại. Một khi chính quyền được đẻ ra từ nòng súng thì chính quyền đó cũng sẽ xử dụng nòng súng như là một thứ vũ khí tối ưu để bảo vệ chính mình. Sẽ không có tự do dân chủ gì hết từ một chính quyền sinh ra từ nòng súng như vậy. Các thứ triết lí về chủ nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa quốc tế vô sản đều núp bóng cái họng súng mà thôi.

Trong vấn đề này học thuyết đấu tranh giai cấp của Marx và tư tưởng của Mao là thống nhất. Vậy nên nếu như có một đảng phái cấp tiến nào xuất hiện, một cá nhân nổi trội nào xuất hiện thì sẽ bị chính quyền thẳng tay trấn áp bởi vì chủ thuyết chính quyền đẻ ra từ nòng súng gắn liền với chủ thuyết chuyên chính vô sản. Tất nhiên, như quy luật do chính những người theo chủ nghĩa cộng sản đề ra “ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” thì chỉ có đàn áp mới có thể dẹp được đấu tranh , đàn áp bằng họng súng , bắn bỏ và bằng nhà tù . Nhưng càng đàn áp mạnh bao nhiêu, sức mạnh của tranh đấu càng sục sôi bấy nhiêu cho nên phải dùng chiêu thức mới mị dân bằng chủ nghĩa dân tộc. Kích động tinh thần dân tộc để đối phó với giặc ngoài, để rảnh tay đàn áp thù trong là những bước đi ngoằn nghoèo của chủ thuyết chính quyền đẻ ra từ họng súng.

2- Mê tín đẻ ra chùa chiền và nhà thờ

Trong dịp Tết vừa rồi, chả có việc gì làm hay ho bằng lượn một vòng đất Kinh Bắc thì mới thấy làng nào, thôn nào cũng xây chùa, cũng có đình. Không nơi nào chịu kém miếng. Không khí mùa xuân còn bảng lảng khắp các thôn làng. Chỗ nào cũng thấy người thập phương đến cúng bái. Trai thanh gái lịch kết hợp du xuân chụp ảnh kỉ niệm.

Ở Việt Nam, nhất là phía Bắc có hai tôn giáo được người dân tôn thờ. Kèm theo hai tôn giáo đó là các nhà thờ, đình chùa miếu mạo, nơi tôn nghiêm để người dân thờ cúng tổ tiên và các vị tiên liệt, các anh hùng dân tộc gắn với quê hương làng nước của họ.

Tôn giáo thứ nhất là thiên chúa giáo với các nhà thờ theo kiến trúc Gotic hoặc Baroc do các cha cố phương Tây du nhập vào. Trước đây cả một xứ đạo mới có một nhà thờ. Hà Nội, thành phố to nhất nước cũng chỉ có hai ba nhà thờ. Nhà thờ lớn, nhà thờ Hàm Long, và ồn ào gần đây là nhà thờ Thái Hà ở quận Đống Đa do tranh chấp đất đai.

Nhưng ở các xứ đạo truyền thống như Nam Định, Thái Bình… thì mấy năm gần đây giáo dân đã góp tiền xây dựng nhiều nhà thờ rất to đẹp điển hình là nhà thờ Bác Trạch ở Tiền Hải Thái Bình và nhà thờ Hưng Nghĩa ở Hải Hậu Nam Định. Nếu có dịp đi một vòng các làng quê thì thấy hầu như xóm đạo nào dù chỉ chưa đến một nghìn nóc nhà cũng xây một nhà thờ của riêng mình để sớm hôm hành lễ theo tiếng chuông gióng giả.

Ở Miền Nam, những người theo đạo di cư vào Nam năm 1954 được chính quyền Diệm Nhu tập kết ở khu vực Hố Nai cũng xây dựng rất nhiều nhà thờ. Đi ôtô trên quốc lộ 1A có thể thấy các nhà thờ xây dựng san sát cứ khoảng 1-200 m lại thấy một nhà thờ. Ngày Noel, ngày Tết Tây, hàng ngàn con chiên ăn mặc lịch sự đến hành lễ một cách trật tự và thành kính trong và ngoài sân các nhà thờ như thế.

Trong khi ở Miền Bắc, các đình chùa được xây dựng khắp nơi. Thôn nào, xã nào cũng có đình thờ thành hoàng làng và là nơi ngày xưa người ta tổ chức cỗ bàn tiệc tùng, còn chùa chiền thì là nơi thờ cúng Đức Phật hay các vị chức sắc trong Phật giáo. Trước đây còn nghèo, các chùa chiền thường thấp bé và cổ kính. Nay đời sống đã khá giả, người ta xây đình chùa hoành tráng hơn nhiều. Điển hình là chùa Bái Đính to nhất khu vực Đông Nam Á. Riêng các tượng La Hán người ta đã làm tới 500 vị bằng đá bày suốt dọc đường lên xuống ngôi chùa. Bên trong chùa Bái Đính người ta đúc các tượng Phật thếp vàng bày tỏ sự giàu sang. Bên ngoài chùa các quan chức từ to đến nhỏ thứ tự trồng cây lưu niệm công đức. Đi từ Bắc vào Nam đâu đâu cũng thấy tượng Phật thích ca Mầu Ni đúc rất to, nhiều chỗ treo biển lớn nhất Đông Nam Á, chiếm kỉ lục Guinness như ở An Giang, ở Đà Nẵng, ở Phật Tích Bắc Ninh …

Có một đặc điểm dễ thấy có chùa rồi phải tu bổ, muốn có tiền tu bổ và nuôi đám người phục vụ, người ta phải dựng hòm công đức. Hòm công đức bằng gỗ không an toàn nay được thay bằng thép. Như vậy có thể thấy việc cúng bái đã được tiền tệ hóa. Nơi nào cũng được Bộ Văn hóa xếp hạng. Có chùa cấp quốc gia, có chùa cấp tỉnh, có chùa cấp xã quản lý.

Trong mấy ngày Tết, tôi đã thăm chùa Phật Tích Từ Sơn nơi có pho tượng Phật rất to trên đỉnh núi, nơi vừa xây xong một ngọn tháp ở đỉnh ngọn đồi đối diện. Khách thập phương rất đông chen nhau lên chùa lên núi cúng tiến. Người buôn bán chen nhau hai bên đường coi đây là dịp may mắn kiếm ăn. Đến chùa Tháp Bút bên kia sông thì đã vắng vẻ hơn, nơi người dân tranh thủ mang cà chua trồng được ra bán rẻ như cho. Tại Lăng Kinh Dương Vương còn vắng vẻ hơn nữa nhưng lại là nơi đáng đến viếng nhất vì đó là lăng mộ của ông tổ người Việt trước cả An Dương Vương, lại do xã đứng ra quản lý nhưng rất gọn gàng ngăn nắp và không thu phí vào viếng. Giữ ô tô chỉ 10 ngàn và có phiếu thu hẳn hoi.

Tại Đền Bà chúa kho

Nhưng Bắc Ninh có hai ngôi chùa nổi tiếng “linh thiêng” và cả “tai tiếng”. Đó là Đền Bà chúa Kho ở Thị Cầu và Lễ hội chém lợn ở Ném Thượng cũng thuộc địa bàn thành phố Bắc Ninh.

Từ lâu rồi người nọ đồn người kia bà chúa kho vốn trông giữ quân lương của vua chúa ngày xưa nên rất linh thiêng. Ai muốn giầu có, làm ăn phát tài phát lộc thì đầu năm đến làm lễ vay bà, cuối năm thì trả lễ. Người nọ đồn người kia thiêng lắm, hiệu quả lắm nên cứ ùn ùn kéo đến, lễ vật phải thật to thật hoành tráng mới thành tâm và cứ thế hàng tấn vàng mã được đốt mỗi ngày. Riêng tiền trông xe các cụ bô lão của làng cũng thắng to.

Nhưng Lễ hội chém lợn của làng Ném Thượng thì mới nổi lên mấy năm gần đây và nhờ internet mọi người mới biết rộng rãi cái Lễ hội tàn bạo với con vật nuôi thân thiết của mỗi gia đình nông dân Việt Nam này. Rồi Lễ hội đập chết trâu, con vật nuôi “là đầu cơ nghiệp” của nhà nông lại bị chính những người nông dân đập chết ăn thịt để ngày mai “kéo cày thay trâu” vì trâu đã bị đập chết ăn thịt mất rồi.

Rõ ràng những điều xảy ra ở Bà chúa Kho, ở Ném Thượng là biểu hiện của tệ mê tín dị đoan đã vượt quá ngưỡng cho phép. Đến mức trong cuộc họp chính phủ mới đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phải yêu cầu điều chỉnh.

Lễ hội chém lợn Ném Thượng

Nhưng để dẹp được tệ nạn này, khi đã để nó tự phát bung ra khắp nơi, không thể bằng một mệnh lệnh hành chính “không quản được thì cấm” mà có lẽ lại phải dùng đến bảo bối “cả hệ thống chính trị phải vào cuộc”. Tuy nhiên cái hệ thống chính trị này lâu này xem ra không còn thiêng nữa. Chả lẽ lại dùng đến lực lượng chuyên chính?

3- Lễ hội đẻ ra tệ nạn

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là cơ quan nhà nước cao nhất quản lý xếp hạng các chùa chiền và Lễ hội. Không đâu như ở Miền Bắc lại lắm chùa chiền và Lễ hội như vậy. Thanh tra Bộ có biết liệu để một ngôi chùa được Bộ xếp hạng, các cụ bô lão đã phải tốn kém biết bao nhiêu?

Lễ hội chém lợn Ném Thượng thì đáng lên án và cần dẹp bỏ vì nó chả có ý nghĩa lịch sử và văn hóa gì mà còn gây phản cảm đối với văn hóa dân tộc và sự phát triển của du lịch. Nó còn kích động tâm lí hiếu chiến máu me của đám đông.

Lễ hội Lim rất đáng được hoan nghênh vì là dịp khôi phục hát quan họ đã được UNESCO xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể, nhưng mấy năm nay tổ chức đều không thành công vì người xem đông quá mà năng lực tổ chức lại yếu kém, nạn tắc đường kẹt xe khiến nhiều người muốn đi mà nản lòng. Nhiều người đi mà không đến được nơi tổ chức lễ hội.

Lẽ hội chợ Viềng Nam Định cũng thế. Nhiều người phải bỏ xe ô tô, thuê xe ôm nhưng cũng phải đi bộ bảy đến mười cây số trong đêm để chẳng mua bán được gì, chỉ thấy người là người và nhiều vị bị móc túi mất ví, mất điện thoại.

Lễ hội cướp ấn đền Trần là đỉnh điểm sự lộn xộn của các Lễ hội. Mặc dầu đã huy động hàng ngàn dân phòng, công an bảo vệ vòng trong vòng ngoài, những hình ảnh chen lấn trèo lên đầu nhau để cướp ấn năm này qua năm khác đã làm xấu xí hình ảnh và ý nghĩa của việc phát ấn của vị tướng huyền thoại Hưng Đạo Vương.

Thoạt nguyên thủy Lễ hội đền Trần là nơi phát ấn của nhà vua cho các quan chức để về phục vụ tốt nhân dân. Nhưng dưới chế độ hôm nay số lượng quan chức đông “như quân Nguyên” cho nên người ta phải chen chúc phải xô đẩy nhau để có được bổng lộc, cho dù là ảo. Và vì thế hình ảnh cướp ấn ở Đền Trần là một sự phản ánh trung thực của tệ nạn mua quan, bán tước trong đời thường.

Lí giải vì sao ở Đền Bà chúa kho người đến vay tiền ảo đông đến thế. Có phải ai cũng thắng quả đậm nhờ vay tiền bà chúa đâu. “Vật chất không mất đi cũng không tự tạo ra. Nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác”. Tiền vào túi của anh là tiền ra khỏi túi của tôi. Vậy mà ai cũng hồ hởi như bắt được vàng. Tâm lí bầy đàn, hội chứng đám đông thể hiện rõ nơi đây.

Nếu phải kể tâm lý bầy đàn thì còn nhiều thí dụ lắm. Chùa Hương mới khai hội đầu năm. Dòng người xếp hàng đi đò, đi cáp treo đông nghìn nghịt. Thắng cảnh chùa Hương thành bãi xả rác. Cáp Treo chùa Hương đích thị là cái “máy in tiền” cho nhà đầu tư nhìn xa trông rộng. Còn các tín đồ thì sao? Lẽo đẽo vào đến cửa hang chỉ để vái mông người đứng trước vì quá đông! Lễ hội chùa Yên Tử cũng rứa.

Trong cái đám người hỗn quân hỗn quan đó, không ít người đã bị móc túi. Móc túi trực tiếp là bị bàn tay kẻ cắp thò vào túi mình lấy cắp ví tiền hoặc điện thoại di động để hớ hênh. Móc túi gián tiếp thông qua tiền phí đò, tiền gửi xe không biên lai hóa đơn và lời mồi chài của những người bán đồ lễ, đồ lưu niệm. Ai cũng mua về để rồi vứt đi, lãng phí vô cùng.

Nhưng cái đáng lo ngại nhất là từ những hủ tục mê tín này hình thành một thứ tư duy hỗn mang gây gổ đánh nhau. Bạn thử lí giải tại sao một đám rước kiệu ở ngay Hà Nội- Phường Xuân Đỉnh lại ngang nhiên dùng kiệu húc vỡ kính một chiếc xe ô tô đậu trên đường theo hiệu lệnh còi từ người chỉ huy. Để lấy may hay đã phạm tội phá hủy tài sản công dân? Và sao cơ quan chuyên chính vô sản lại giữ im lặng trong trường hợp này? Để rồi sang năm lại một chủ nhân chiếc xe khác là nạn nhân.

Hỗn chiến tại Lễ hội Đền Gióng

Rồi tại Lễ hội Đền Gióng, người ta vác gậy choảng nhau để tranh cướp mấy cái hoa tre. May mà chưa đổ máu. Vậy mà ông Phó chủ tịch huyện Sóc Sơn rồi ông Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội lại công khai đăng đàn trên báo chí bào chữa và cổ súy cho hành vi bạo lực này thì hết chỗ nói.

Nếu cái ác nhân danh thánh thần, nếu cái ác không bị ngăn chặn kịp thời thì nó sẽ như bệnh dịch lây lan khắp nơi. Nhiều người đặt câu hỏi tại sao lễ hội và tệ nạn lại chỉ xảy ra ở Miền Bắc, chiếc nôi của chủ nghĩa xã hội từ thời còn đánh Mỹ, thì xin thưa chẳng sớm thì muộn nó sẽ lây lan tới Huế, tới Đà Nẵng, tới Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ mà người dân vốn hiền lành chất phác. Thì đã xảy ra rồi đó. Dân Đồng Nai đổ túa ra đường cướp bia khi một chiếc xe bị tai nạn giống y trang chuyện xảy ra ở một tỉnh phía Bắc!

Cũng giống như giao thông. Năm 1975, khi Sài Gòn giải phóng, những người lính Miền Bắc vào tiếp quản thành phố vô cùng ngạc nhiên thấy giao thông trật tự, xe cộ đi nghiêm chỉnh, người dân thành phố đối xử với nhau như những người bạn. Nếu có va chạm thì tự hòa giải, xin lỗi nhau. Còn hôm nay, sau hơn 30 năm nếm trải mùi vị của chủ nghĩa xã hội, người Sài Gòn đã biết đánh chửi nhau khi va quệt. Thậm chí đâm chết nhau chỉ vì một lời nói, một cái “nhìn đểu”chẳng khác gì miền Bắc.

Giải thích điều này xin nhường cho các nhà xã hội học, những người đang tư duy cho đường lối xây dựng đất nước, xây dựng con người mới sẽ trình trước Đại hội Đảng thứ 12 sắp tới. Chỉ xin các vị hãy nhìn thẳng vào sự thật, dám từ sự thật trần truồng và đau đớn để tìm ra lối thoát cho đất nước và con người Việt Nam chúng ta.

4-Vĩ thanh

Ba đoạn luận vừa trình bày ở trên thoạt nghe hầu như chẳng có gì liên quan ăn nhập với nhau. Nhưng nếu để ý sẽ thấy nó chính là ba mặt thống nhất trong một chủ thể là đất nước và con người theo đúng học thuyết Marx.

Đầu tiên là chính quyền được đẻ ra từ họng súng và phải dùng họng súng để giữ chính quyền. Đúng như ai đó đã nói “cướp chính quyền đã khó nhưng giữ được chính quyền còn khó hơn”. Chúng ta đã trải qua thực tế đó. Cuộc chiến đấu hơn 30 năm bằng súng đạn đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người con ưu tú là cái giá khủng khiếp phải trả cho độc lập tự do. Nhưng lãnh thổ vẫn chưa thu về toàn vẹn và chúng ta còn phải tiếp tục giương cao họng súng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ. Chỉ khi nào học thuyết đấu tranh giai cấp bị xóa sổ thì họng súng mới hy vọng được cuộn lại như bức tượng nổi tiếng ở sân trụ sở Liên hợp quốc ở New York.

Và khi đã phải dùng họng súng để chế ngự sự phản kháng thì tất yếu sự phản kháng sẽ càng ngày càng dâng cao. Người ta không dám chống lại chính quyền vì sợ bị đàn áp thì người ta đi xin xỏ sự ban phước lành của thần thánh. Con người tự chui vào cái vỏ ốc mà họ tin rằng thánh thần sẽ mang lại niềm an ủi và hạnh phúc cho họ. Đâu đâu cũng xây cất nhà thờ, đình chùa miếu mạo, đâu đâu cũng tổ chức lễ hội không chỉ để mua vui một vài trống canh mà là để quên đi những nhọc nhằn bế tắc ngày càng ngột ngạt vì những bức bối xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Người ta dễ dàng tin vào kinh thánh, vào lời cầu nguyện của các vị sư sãi hơn là nghe những rao giảng cũ mèm trên loa đài phường.

Mà sư bây giờ sao nhiều thế. Mỗi ngôi chùa có vài ba sư, có người gọi đùa là “sư quốc doanh”! Không phải ai cũng phản kháng thô bạo như cô cựu người mẫu Trang Trần, việc đi cúng bái như đi trảy hội ở các đền chùa không còn là nét đẹp của một đời sống văn hóa của người Việt Nam mà là một sự phản kháng yếm thế của con người bất lực trước cuộc sống. Và khi các lễ hội mang đậm màu sắc bạo lực không được ngăn chặn đến một lúc nào đó bạo lực sẽ bùng phát. Và giống như một đám cháy, chúng ta chỉ có thể chờ nó tự tắt và sau đó là tìm hiểu nguyên nhân và rút kinh nghiệm chứ không thể dập tắt được. Và như thế thì đã quá muộn.

 

(1) Trong Chiến tranh Việt Nam 1954-1975, quân đội Bắc Việt luôn dùng chiến thuật biển người để đánh với quân đội VNCH. Sự thiệt hại về nhân mạng của Quân đội Nhân Dân Việt Nam rất lớn, nhưng họ luôn che dấu không cho biết con số thật sự bị thiệt hại là bao nhiêu. Khi bị gặng hỏi trong thập niên 1980s bởi các nhà báo nước ngoài và các sử  gia nhằm tổng kết chiến tranh VN, Bộ Quốc Phòng VN đã luôn luôn từ chối không đưa ra con số thương vong thật sự. Con số 1.152.000 bộ đội đã chết và 780.000 thương binh, 300.000 bộ đội vẫn còn mất tích chỉ là con số giả tạo và hãy còn ít so với thực tế.

Vì không biết cách nào hơn, nên các sử  gia tạm lấy các con số nói trên trong khi chờ đợi con số bổ sung trong tương lai. Kết quả của chiến thuật biển người đã gây thiệt hại cho Bắc Việt rất lớn. Tỷ lệ chết của binh sĩ Mỹ, lính VNCH và bộ đội Bắc Việt có thể dựa vào tỷ lệ: 1/5/20. Có 58.000 lính Mỹ đã chết, và 236.000 lính VNCH đã hy sinh tính đến cuối năm 1974, và 1.152.000 bộ đội Bắc Việt đã tử thương. Không tính hơn 3 triệu thường dân VN đã chết vì chiến tranh.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chinh Tri Xa Hoi, Văn Hóa XHCN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »