Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Ba 2015
    C H B T N S B
    1234567
    891011121314
    15161718192021
    22232425262728
    293031  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Ba 25th, 2015

►Vì sao TQ cấm làm đường gần biên giới, còn VN lại mở toang cửa ngõ biên với TQ?

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

VOA

Lê Anh Hùng

25-03-2015

Quân đội Trung Quốc đã yêu cầu ngưng dự án được chính quyền thành phố Phòng Thành Cảng phê duyệt vào ngày thứ hai xây dựng công trình này hồi tháng Hai.

Trung Quốc: dã tâm xâm lược Việt Nam

VOA ngày 22.3 đưa tin: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tháng trước đã ngưng một dự án làm đường của chính quyền một thành phố nằm gần biên giới với Việt Nam vì lo ngại nó có thể được sử dụng cho một “cuộc xâm lược của Việt Nam”. 

Theo bài báo, một bản tin đăng trên trang web của Bộ Quốc phòng Trung Quốc dẫn lời một quan chức phụ trách các vấn đề biên giới ở thành phố Phòng Thành Cảng thuộc Khu Tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây nói rằng, một khi được hoàn thành, tuyến đường nối liền một ngôi làng ở vùng biên giới với thành phố Phòng Thành Cảng cách đấy 100 cây số “thực sự là mối đe dọa cho an ninh và quốc phòng” của Trung Quốc. 

Đây là một bằng chứng nữa cho thấy, Trung Quốc luôn sẵn sàng cho một cuộc xâm lược mới nhằm vào Việt Nam, đặc biệt là cuộc chiến nhằm thôn tính và kiểm soát hoàn toàn quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Theo các chuyên gia quân sự, một khi Trung Quốc tấn công Trường Sa, quân đội Việt Nam có thể vượt biên giới tấn công vào các cơ sở kinh tế hay quân sự của Trung Quốc ở gần khu vực biên giới. Mục đích của cuộc tấn công sang Trung Quốc không chỉ nhằm trả đũa hành động xâm lược của Bắc Kinh, mà còn nhằm mục đích chia sẻ hoả lực và ủng hộ tinh thần cho các lực lượng bảo vệ Trường Sa, buộc Trung Quốc phải rút quân.

Việt Nam: mở toang cửa ngõ đón quân thù

Việc Trung Quốc vẫn nung nấu dã tâm thôn tính Việt Nam thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi dòng máu họ Bành dường như đã chảy trong huyết quản của người Hán ngay từ thuở “khai thiên lập địa”, mà mảnh đất phương Nam thì luôn khiến họ thèm khát từ hàng ngàn năm nay.

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là không hiểu sao chính phủ Việt Nam lại cứ như mở toang cửa ngõ biên giới của mình để “mời chào” đội quân xâm lược đến từ phương Bắc.

Tuyến đường cao tốc Lào Cai – Hà Nội đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát lệnh thông xe vào ngày 21/9/2014. Đây là tuyến cao tốc hiện đại dài nhất Việt Nam, với 245km, đi qua 5 tỉnh thành là Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Nội. Nhờ tuyến đường mới này mà thời gian đi xe từ Lào Cai về Hà Nội được rút xuống một nửa, chỉ còn 3-4 giờ.

Tháng 11/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã cho phép tỉnh Quảng Ninh làm chủ đầu tư dự án đường cao tốc Móng Cái – Hạ Long và đang được lãnh đạo tỉnh này khẩn trương triển khai, song song với dự án cao tốc Hạ Long – Hải Phỏng.

Tháng 10/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng đã đồng ý triển khai đầu tư cho tuyến đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn (đoạn Bắc Giang – Lạng Sơn). Dự kiến dự án này sẽ được triển khai trong đầu năm 2015.

Ngày 7/9/2014, tại lễ khởi công xây dựng tuyến đường cao tốc Thái Nguyên – Bắc Kạn, Thủ tướng  Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo sẽ đầu tư xây dựng tuyến cao tốc từ Bắc Kạn lên Cao Bằng.

Cách đây 1 năm, Bộ Giao thông – Vận tải cũng đã thông qua báo cáo phương án xây dựng tuyến đường kết nối đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai với Lai Châu và Hà Giang.

H1

 

Như vậy, các hướng tiến quân chính của Trung Quốc trong cuộc xâm lược Việt Nam từ 17/2 – 16/3/1979 (Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai và Lai Châu) đều đã hoặc sắp có đường cao tốc nối từ biên giới Việt -Trung về Hà Nội.

Trước khi diễn ra cuộc xâm lược quân sự, các tuyến đường cao tốc này đã góp phần vô cùng quan trọng giúp Trung Quốc giành chiến thắng ngoạn mục trong cuộc xâm lược Việt Nam về kinh tế.

Kế hoạch xâm lược Việt Nam của Trung Quốc

Tháng 8.2008, một số trang mạng ở Trung Quốc như Sina.com đã đăng bản kế hoạch xâm lược Việt Nam trong 31 ngày dưới tựa đề “Quân Đội Trung Quốc hãy dùng Phương án A để tấn công VN!”, khởi đầu bằng 5 ngày tấn công bằng tên lửa rồi tới cao trào là tiến quân bằng đường bộ với 310.000 lính tràn vào Việt Nam từ Vân Nam, Quảng Tây và Nam Hải.

Trung Quốc hiện đã kiểm soát được một khu vực đất đai và mặt biển rộng tới 3.300ha (bằng 1,2 lần diện tích Macao) ở Vũng Áng, trong đó có cảng nước sâu Sơn Dương, ngay dưới chân đèo Ngang (Hà Tĩnh). Ở đây, “nhà đầu tư” Formosa đã xây dựng những công trình rất đáng ngờ như đường hầm chạy thẳng ra biển, hay toà nhà 9 tầng toàn bằng bê tông cốt thép, không sử dụng lấy 1 viên gạch nào.

Như vậy, thay vì dùng hải quân đánh vào Thanh Hoá như sơ đồ tác chiến trên, từ căn cứ Formosa Hà Tĩnh, Trung Quốc chỉ cần một lực lượng quân sự nhỏ là đủ để chia cắt Việt Nam thành hai phần ở đèo Ngang, một vị trí hết sức hiểm yếu về an ninh – quốc phòng.

Cấu kết?

Các tuyến đường cao tốc giúp Trung Quốc khai thông các hướng tiến quân xâm lược Việt Nam và việc người bạn “4 tốt, 16 vàng” này chiếm lĩnh được những vị trí hiểm yếu về an ninh – quốc phòng như Vũng Áng cùng chia sẻ một điểm chung: chúng đều là “tác phẩm” của cặp bài trùng Hoàng Trung Hải – Nguyễn Tấn Dũng.

Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải là người ký Công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2008 “đồng ý chủ trương cho Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa – Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh” và Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 “đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại Khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh”.

Tất cả những văn bản do mình ký, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đều ký nhân danh Thủ tướng Chính phủ, nên dĩ nhiên ông Nguyễn Tấn Dũng đều biết, bởi ông ta được báo cáo theo đúng quy định. Mới đây, sau gần 1 năm “ngâm” kết luận thanh tra sai phạm ở Hà Tĩnh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thống nhất với kết luận về sai phạm trong việc cấp phép tới 70 năm cho dự án Formosa, mà chính quyền Hà Tĩnh nói là do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo, nhưng lại đồng ý bảo lưu thời hạn đã cấp phép này.

Ông Hoàng Trung Hải là Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế ngành”, gần như nắm trong tay cả nền kinh tế Việt Nam. Ông Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao phụ trách những bộ quan trọng nhất của nền kinh tế: Bộ Công Thương; Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn; Bộ Giao thông – Vận tải; Bộ Xây dựng; và Bộ Tài nguyên – Môi trường.

Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao phó hàng loạt ban bệ trọng yếu khác như Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm; Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông – Vận tải; Ban Chỉ đạo Nhà nước về Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; Ban Chỉ đạo Quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi; Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v.

Điều đặc biệt đáng quan ngại ở đây là: Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã bị tố cáo từ nhiều năm nay là một người Hán khai man lý lịch hòng “chui sâu, leo cao” trong hàng ngũ lãnh đạo ở Việt Nam. Việc giao cho một người Hán trá hình vô số trọng trách quán xuyến cả nền kinh tế và ảnh hưởng đặc biệt lớn đến nền an ninh – quốc phòng của nước nhà rồi tiếp tay, đồng loã để cho ông ta gây ra bao hậu quả vô cùng nguy hại cho đất nước rõ ràng là hành động phản quốc của người đứng đầu chính phủ Việt Nam.

Sau tất cả những gì đã xảy ra, dư luận có đủ lý do để kết luận rằng: tình trạng nền kinh tế Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc cũng như việc nhiều vị trí hiểm yếu về an ninh – quốc phòng bị Trung Quốc khống chế thông qua các dự án kinh tế trá hình là do sự cấu kết giữa Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.1

Bài liên quan:

  1. Lào Cai: ‘Tử huyệt’ của phòng tuyến biên giới phía bắc? (VOA)
  2. Trục đường cửa ngõ chiến lược Móng Cái – Hạ Long sẽ rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc? (VOA)
  3. PTT Hoàng Trung Hải – hiểm họa đằng sau những trò mị dân (VOA)
  4. Bauxite Việt Nam đã công khai lên tiếng về vụ PTT Tàu Hoàng Trung Hải (Blog Lê Anh Hùng/Bauxite Việt Nam)
  5. Chính phủ Việt Nam đang ‘dâng’ nền kinh tế nước nhà cho Trung Quốc? (VOA)
  6. Trung Nam Hải đang toan tính gì với con bài Nguyễn Tấn Dũng? (VOA)

——————-

Ghi chú:

1. Tác giả bài viết này là người vẫn đang theo đuổi vụ tố cáo ông Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải – Nông Đức Mạnh suốt 7 năm qua. Trong câu chuyện tố cáo, tác giả đã nêu rõ, Hoàng Trung Hải đã gài bẫy và khống chế cả Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lẫn (nguyên) Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh kể từ năm 2006 và biến họ thành tay sai cho ông ta cũng như cho Bắc Kinh. Đây là một vụ tố cáo vô cùng nghiêm trọng, liên quan đến những người đã và đang nắm giữ vận mệnh quốc gia, kéo dài trong nhiều năm mà vẫn chưa được giải quyết đúng pháp luật, trong khi người tố cáo thì thường xuyên phải hứng chịu những hành động khủng bố, trả thù với nhiều hình thức khác nhau. Chừng đó là quá đủ để cho thấy bản chất của vụ việc.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ từng nêu vụ Lê Anh Hùng bị công an Hà Nội và Hưng Yên cưỡng chế vào trại tâm thần từ ngày 24.1 ÷ 5.2.2013 như một vụ vi phạm nhân quyền điển hình của nhà cầm quyền Việt Nam trong năm 2013.

——–

 

Tiến sĩ Trần Công Trục nhận định việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở Trường Sa: “Đó là những căn cứ quân sự mang tính chất tấn công”

4-3-2015

 (Tháng 3-2014)                         (Tháng 8-2014)                      (1-2015)
uunwjfgf.jpg

Hình ảnh chụp từ vệ tinh của Công ty vũ trụ châu Âu Airbus Denfense & Space (trước đây có tên là EADS, đổi tên từ đầu năm 2014) vào các thời điểm khác nhau từ tháng 3-2014 đến tháng 1-2015 trên bãi Ga Ven thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam cho thấy sự lấn chiếm xây đảo nhanh chóng của Trung Quốc

Việt Nam cần tăng cường đấu tranh trên các mặt trận ngoại giao và pháp lý, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động thực địa để theo dõi thông tin chủ động hơn nữa.

Ðó là nhận định của tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ, với Tuổi Trẻ.

* Tuổi Trẻ: Ông James Clapper, giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ, vừa tố Trung Quốc có hành động hung hăng trên biển Ðông thông qua việc mở rộng các tiền đồn ở biển Ðông làm sân bay và nơi đồn trú tàu thuyền. Ông có bình luận gì?

– Thông tin, hình ảnh của tình báo Mỹ và quan điểm của Chính phủ Mỹ về các hành động của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa rõ ràng là những sự thật không thể chối cãi được.

Trung Quốc đã có những hoạt động hết sức mạnh mẽ, khẩn trương và trên một quy mô rất lớn để xây dựng những công trình quân sự như đường băng sân bay, khu hậu cần, các đồn bốt nhằm phục vụ lực lượng quân sự của Trung Quốc.

“Giữ quan hệ hữu nghị, duy trì đàm phán hòa bình, không tạo ra xung đột là điều chúng ta đang phấn đấu, nhưng không có nghĩa chúng ta không thể hiện lập trường pháp lý của mình”

» Tiến sĩ TRẦN CÔNG TRỤC

Mỹ là một trong những nước có lợi ích gián tiếp ở biển Ðông, đặc biệt về lĩnh vực hàng hải, địa chính trị với tư cách là một nước lớn.

Rõ ràng họ có quan tâm đến vấn đề này. Ðây là sự quan tâm rất thiện chí chứ không thể nói họ có ý định nào đó để gây ra những mâu thuẫn. Chúng ta cần phải nghiên cứu sự quan tâm này.

* Ông từng phát biểu việc Trung Quốc xây dựng đảo chìm thành đảo nổi nguy hiểm hơn giàn khoan Hải Dương 981 rất nhiều? Ông có thể giải thích rõ hơn?

– Giàn khoan Hải Dương 981 là hoạt động thăm dò, thử phản ứng và Trung Quốc có thể cắm và rút nó bất cứ lúc nào. Còn các công trình trái phép của Trung Quốc xây dựng ngay trên lãnh thổ của Việt Nam vốn bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực.

Hơn nữa, xét về mặt địa chính trị và chiến lược quân sự, rõ ràng các công trình trái phép này sát bờ biển của Việt Nam, nằm xen kẽ các vùng Việt Nam có đóng quân và trên tuyến đường hàng hải ở phía nam biển Ðông. Do vậy các công trình trái phép này nguy hiểm hơn rất nhiều.

Trung Quốc đang thiết lập các nhịp cầu để làm bàn đạp tấn công. Có thể sẽ có lúc họ dùng vũ lực để đánh chiếm các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam như các năm 1956, 1974, 1988 và cũng có thể họ sẽ tiến hành “chiến tranh xâm lược mềm” như triển khai tàu đánh cá, hoạt động dầu khí và hàng không trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Ðây chính là một trong những mũi tiến công hết sức nguy hiểm của Trung Quốc.

* Sau phát biểu của ông Clapper, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi ngang nhiên nói các hoạt động trên các bãi cạn và vùng biển xung quanh ở Trường Sa là “hợp lý, chính đáng và hợp pháp” và thái độ của Bắc Kinh là “kiềm chế và có trách nhiệm”? Nên hiểu như thế nào?

– Ðây rõ ràng là những lời lẽ mang tính chất ngụy biện, che đậy những hành động sai trái và hăm dọa của họ.

Hành động của họ là sai nhưng họ tố cáo lại để giành thế chủ động. Họ nói họ chấp hành và có trách nhiệm trong việc bảo vệ hòa bình. Nếu chúng ta không tiếp tục làm rõ thì bạn bè và dư luận sẽ không hiểu vấn đề.

Ngoài ý nghĩa về mặt quân sự, Trung Quốc còn muốn biến những công trình này trở thành các căn cứ hậu cần để phục vụ các hoạt động sắp tới như cắm giàn khoan khai thác dầu, để không cần phải kéo hàng trăm tàu bảo vệ như vụ giàn khoan Hải Dương 981 năm ngoái.

Có thể nói đây là những công trình quân sự mang tính chất tấn công và hoàn toàn phù hợp với chiến lược của Trung Quốc trong việc từng bước đặt các nhịp cầu để có thể vươn ra khống chế và độc chiếm biển Ðông theo yêu sách lưỡi bò của mình.

Bài học Hoàng Sa bị mất vẫn còn đó. Họ từng bước chiếm Hoàng Sa vào năm 1956 và 1974. Ðây là mũi tấn công hết sức nguy hiểm mà chúng ta không thể không cảnh giác.

* Báo chí Trung Quốc cho rằng từ các căn cứ quân sự ở Trường Sa, Trung Quốc có thể tấn công vào Việt Nam trong vòng 24 giờ?

– Dù đây không phải là thông tin chính thức từ các cơ quan quân sự hay ngoại giao của Trung Quốc nhưng hoàn toàn là một suy luận logic. Thông tin này đến từ phía dư luận và các trang mạng từ Trung Quốc.

Thật ra, điều này nằm trong sự bài binh bố trận của Trung Quốc nhằm mang tính răn đe. Cho nên Việt Nam phải cảnh giác.

Một lần nữa tôi muốn nhắc lại đây là những căn cứ quân sự mang tính chất tấn công chứ không phải phòng thủ.

* Phía Việt Nam và những nước có quyền lợi và chủ quyền ở biển Ðông cần phải làm gì, thưa ông?

– Như chúng ta đã biết, Việt Nam là nước có lãnh thổ bị Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực quân sự. Sau đó, Trung Quốc biến các đảo chìm thành đảo nổi, trở thành căn cứ hùng hậu và kiên cố ở khu vực.

Chúng ta phải đấu tranh mạnh mẽ, chí ít là ở mặt trận thông tin truyền thông cùng với việc tăng cường đấu tranh trên mặt trận pháp lý và ngoại giao.

Về mặt pháp lý, chúng ta phải thể hiện ý chí không bao giờ chấp nhận hành động sai trái của Trung Quốc.

Chúng ta cần phải phản đối mạnh mẽ hơn và có lập trường rõ ràng hơn. Ðồng thời kêu gọi sự ủng hộ quốc tế bằng cách phân tích cho bạn bè quốc tế hiểu rõ chủ quyền của chúng ta và việc Trung Quốc xâm chiếm bằng vũ lực là sai như thế nào.

Ngoài ra, chúng ta cũng phải đẩy mạnh các hoạt động thực địa, theo dõi và nắm thông tin tường tận. Nếu Việt Nam nắm rõ thông tin thì phải công bố những thông tin chủ động hơn nữa để người dân có thể hiểu rõ vấn đề. Rõ ràng giá trị của thông tin sẽ mạnh mẽ hơn nhiều.

yextzenr.jpg* Việt Nam có nên áp dụng các biện pháp đấu tranh như vụ giàn khoan Hải Dương 981?

– Theo tôi thì phải nâng đấu tranh ở mức cao hơn nữa, chẳng hạn như tăng cường phản đối lên các tổ chức Liên Hiệp Quốc. Làm rõ các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển của Trung Quốc.

Rõ ràng tất cả biện pháp đấu tranh của chúng ta trong sự kiện giàn khoan có tác động rất lớn và Trung Quốc buộc phải thay đổi chiến thuật của mình.

Ðây là bài học nhãn tiền chúng ta cần phải rút ra. Chúng ta phải phát huy tất cả biện pháp đấu tranh có thể để giúp các bên cùng nhau giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và có hiệu quả nhất.

QUỲNH TRUNG thực hiện

* * *Phụ lục:

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh: ‘Quân đội phải kiểm soát được tình hình trên biển’

Hôm 20.10.2014, bên lề phiên họp khai mạc kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 13, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã trả lời phỏng vấn báo chí về buổi làm việc của ông với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Thường Vạn Toàn ở Bắc Kinh.

* Thưa Bộ trưởng, xin Bộ trưởng cho biết kết quả chuyến thăm và làm việc của đoàn cán bộ do Bộ trưởng dẫn đầu tại Trung Quốc vừa qua?

Bạn đón tiếp ta rất nhiệt tình, trọng thị, chu đáo và rất hữu nghị. Mục đích của chuyến đi là 2 bên bàn bạc với nhau để tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa quân đội của 2 nước cũng như Đảng, Nhà nước và nhân dân 2 nước. Chúng tôi thống nhất với nhau là tranh chấp thì phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình còn quân đội thì phải kiểm soát được tình hình trên biển, hết sức tránh việc sử dụng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực và tránh không để xảy ra xung đột, va chạm vũ trang trên biển. Hai bên thống nhất với nhau ký 1 bản ghi nhớ về kỹ thuật để thiết lập đường dây liên lạc thường xuyên trực tiếp giữa 2 Bộ trưởng Quốc phòng để khi có tình huống, va chạm, vụ việc xảy ra trên biển thì 2 bên có thể gọi nhau để trao đổi được với nhau, kiểm soát cho được những diễn biến trên biển, tránh xung đột. Hai bên thống nhất với nhau là phải kiểm soát tốt biên giới để xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển lâu dài, tạo điều kiện tối đa cho nhân dân 2 nước đi lại, giao thương, làm ăn hợp pháp.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh – Ảnh: L.Dũng

Tôi cũng đề nghị phía Trung Quốc sớm dỡ bỏ cảnh báo về du lịch để nhân dân 2 nước đi lại giao lưu. Hoạt động du lịch phát triển thì hoạt động hàng không cũng phát triển, như thế thì tăng cường hữu nghị và mới tăng cường sự tin cậy giữa 2 bên.

* Thưa Bộ trưởng, 2 bên có bàn về việc phía Trung Quốc đốc thúc nhiều hoạt động xây dựng trên khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam cũng như chuyện giàn khoan đã xảy ra ít tháng trước?

Chúng tôi có trao đổi là giờ phải giữ nguyên hiện trạng, trên biển Đông phải thực hiện cho đầy đủ DOC – tinh thần, quan điểm chung là không mở rộng tranh chấp, không cắm mới vào những nơi mà các bên chưa cắm. Khi trao đổi với bạn, nói chung bạn ghi nhận ý kiến của phía Việt Nam.

* Họ có đưa ra một cam kết, lời hứa nào về việc giữ nguyên hiện trạng như này?

Hứa thì bạn không hứa nhưng nói chung 2 bên đều thống nhất phải thực hiện DOC – nghĩa là không mở rộng, làm phức tạp thêm tranh chấp. Còn hiện nay trên biển, nói thật là các bên đều có xây dựng. Đài Loan cũng xây dựng, Philippines cũng tiến hành xây dựng đường băng, Malaysia có xây dựng. Việt Nam cũng có hoạt động xây dựng, đó là tôn tạo, nâng cấp, mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, cho các lực lượng đóng quân trên đảo để đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão, đảm bảo điều kiện sinh hoạt trên đảo. Tuy nhiên nguồn lực của ta còn có hạn nên việc xây dựng quy mô chưa lớn như Trung Quốc.

* Nhiều chuyên gia nêu ý kiến lo ngại hướng xây dựng của Trung Quốc là để hình thành một căn cứ quân sự tấn công. Điều đó đe doạ mối an ninh hàng hải trong khu vực. Cảnh báo đó có đáng suy nghĩ, lo ngại không, thưa Bộ trưởng?

Đó là các nhà nghiên cứu dự báo thôi chứ còn đương nhiên bên nào mà tiến hành xây dựng thì đó cũng là một căn cứ quân sự cả. Quan trọng là phải thống nhất với nhau giữ cho được môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác, tránh dùng vũ lực.

* Ghi nhận nào quan trọng nhất giữa các Bộ trưởng trong lần gặp này?

Quan trọng nhất là thoả thuận 2 bên phải hợp tác theo tinh thần hữu nghị của lãnh đạo 2 Đảng, Nhà nước, giữ gìn môi trường ổn định, hoà bình và kiểm soát cho được hoạt động của lực lượng vũ trang 2 nước trên biển, không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực và để xảy ra xung đột vũ trang ở trên biển.

Hà Nguyễn (ghi)

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu: “Chỉ có kẻ ngu mới chống Mỹ “

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

Chỉ có kẻ ngu mới chống Mỹ. Đảng CSVN chống Mỹ. Vậy, bọn này chính là những kẻ ngu và giờ này vẫn còn ngu.

Chỉ có kẻ ngu mới chống Mỹ

30-5-2014

LyQuangDieuMỹ đang gặp nhiều trở ngại nhưng vẫn giữ vị trí số một

Cân bằng quyền lực đang chuyển đổi. Về phía châu Á của Thái Bình Dương, theo thời gian Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc gây ảnh hưởng. Mọi chuyện sẽ không còn như trước. Địa lý là điểm mấu chốt trong trường hợp này. Trung Quốc có lợi thế hơn vì nằm trong khu vực và có khả năng phô trương sức mạnh dễ dàng hơn ở châu Á. Đối với Hoa Kỳ, gây ảnh hưởng từ cách xa 8.000 dặm là một điều hoàn toàn khác. Sự bất bình đẳng về ý chí, hậu cần và chi phí là rất đáng kể. Chỉ riêng dân số của Trung Quốc, 1,3 tỉ người, so với 314 triệu người Mỹ, cũng góp phần vào khó khăn của Hoa Kỳ. Nhưng sự chuyển giao quyền lực sẽ không xảy ra một sớm một chiều do ưu thế vượt bậc của Hoa Kỳ về công nghệ. Người Trung Quốc dù có thể chế tạo tàu sân bay nhưng vẫn không thể đuổi kịp người Mỹ một cách nhanh chóng về công nghệ tàu sân bay với sức chứa 5.000 quân và đầu máy hạt nhân. Nhưng cuối cùng, những bất lợi của Hoa Kỳ do khoảng cách địa lý dần sẽ mang tính quyết định. Hoa Kỳ sẽ phải điều chỉnh thế đứng của mình và chính sách của họ trong khu vực này.

Chính quyền Obama tuyên bố vào năm 2011 rằng Hoa Kỳ dự định tiếp cận khu vực châu Á-Thái Bình Dương với một trọng tâm mới. Họ gọi đây là Sự Xoay Trục về Châu Á. Trên tờ Foreign Policy, ngoại trưởng Hillary Clinton giải thích tư duy đằng sau chính sách mới này như sau: “Các thị trường mở ở châu Á là những cơ hội chưa từng thấy đối với Hoa Kỳ về đầu tư, thương mại và tiếp cận với các công nghệ tiên tiến… Về mặt chiến lược, việc gìn giữ hoà bình và an ninh ở khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự tiến bộ trên toàn cầu, dù là thông qua bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông, chống lại việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở Bắc Triều Tiên hay đảm bảo sự minh bạch trong các hoạt động quân sự của các nước lớn trong khu vực.” Vào tháng 4 năm 2012, 200 lính thuỷ đánh bộ Mỹ đầu tiên đã được triển khai tới Darwin , Úc trong một phần nỗ lực nhằm tăng cường hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực.

Nhiều quốc gia Châu Á chào đón cam kết mới này từ người Mỹ. Trong nhiều năm, sự hiện diện của Hoa Kỳ là một nhân tố quan trọng giúp ổn định khu vực. Kéo dài sự hiện diện này sẽ giúp duy trì ổn định và an ninh. Kích thước của Trung Quốc có nghĩa là cuối cùng chỉ có Hoa Kỳ – kết hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời hợp tác với các quốc gia ASEAN – mới có thể đối trọng lại được nước này

Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem liệu người Mỹ có thể biến ý định thành cam kết trong lâu dài được hay không. Ý định là một mặt, tài trí và khả năng là một mặt khác.

Hiện nay Hoa Kỳ có quân ở Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam . (Người Philippines đã không khôn ngoan khi mời người Mỹ rời khỏi vịnh Subic vào năm 1992. Họ quên mất hậu quả về lâu dài của hành động này và bây giờ họ bảo rằng “Hãy làm ơn quay lại.”)

Người Mỹ tin rằng họ có sẵn một sự dàn xếp quân sự trong khu vực cho phép họ cân bằng lại được với hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, vì các vùng nước trong khu vực tương đối nông, người Mỹ có thể theo dõi hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc, kể cả tàu ngầm. Nhưng liệu lợi thế này có thể kéo dài được bao lâu? Một trăm năm? Không thể nào. Năm mươi năm? Không chắc. Hai mươi năm? Có thể.

Rốt cuộc, cân bằng quyền lực có thể thực hiện được hay không còn phải chờ vào nền kinh tế Hoa Kỳ trong một vài thập niên tới. Cần có một nền kinh tế vững mạnh thì mới có thể phô trương quyền lực – đầu tư xây dựng tàu chiến, tàu sân bay và các căn cứ quân sự.

(Hiện nay, quý 1, 2015, nền kinh tế Mỹ đã phục hồi và đang là đầu tàu của thế giới. Đồng đô la Mỹ tăng giá so với tiền Euro, và hầu hết các nước phương Tây còn đang ngụp lặn vì suy sụp kinh tế và tài chánh kể từ 2008 tới nay, thì tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ giảm xuống còn 5.6% , kinh tế Mỹ phát triển ổn định suốt năm 2014 và đang là đầu tàu kéo theo nền kinh tế của cả thế giới.  Trong khi kinh tế Trung Quốc đang chậm lại và có khả năng suy thoái. Mức phát triển kinh tế của Trung Quốc trong năm ngoái và năm nay chỉ còn giao động từ 6.5-  7%).

Khi cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ trên Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc diễn ra, những quốc gia nhỏ hơn ở châu Á bắt buộc phải thích ứng với cục diện mới. Thucydides đã từng viết rằng “kẻ mạnh làm những gì mà họ có thể và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng”. Các quốc gia nhỏ hơn ở châu Á có thể không phải có một kết cục bi thảm như thế, nhưng bất cứ góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nào về sự suy giảm ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Châu Á Thái Bình Dương đều sẽ khiến các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình. Người ta sẽ phải quan tâm hơn đến những gì người Trung Quốc thích hoặc không thích khi Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng điều quan trọng không kém là không để cho Trung Quốc hoàn toàn thống trị. Cuối cùng, tôi không cho rằng viễn cảnh người Trung Quốc hất cẳng hoàn toàn người Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương có thể diễn ra.

Ví dụ như Việt Nam , là một trong những quốc gia không an tâm nhất về sự bành trướng sức mạnh của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình ra lệnh tấn công miền Bắc Việt Nam vào năm 1979 để trả đũa việc Việt Nam can thiệp vào Campuchia. Đặng phá hủy một vài làng mạc và thị trấn rồi sau đó rút lui, chỉ nhằm đưa ra một lời cảnh cáo với người Việt: “Tôi có thể tiến thẳng vào và tiếp quản Hà Nội.” Đây không phải là bài học mà người Việt có thể quên được. Một chiến lược có lẽ đã được chính phủ Việt Nam bàn đến là làm thế nào để có thể bắt đầu thiết lập các mối quan hệ an ninh lâu dài với người Mỹ.

Tôi cũng cảm thấy rất tiếc rằng sự thay đổi cân bằng quyền lực đang diễn ra vì tôi cho rằng Hoa Kỳ là một cường quốc hoà bình. Họ chưa bao giờ tỏ ra hung hãn và họ không có ý đồ chiếm lãnh thổ mới. Họ đưa quân đến Việt Nam không phải vì họ muốn chiếm Việt Nam . Họ đưa quân đến bán đảo Triều Tiên không phải vì họ muốn chiếm bắc hay nam Triều Tiên. Mục tiêu của các cuộc chiến tranh đó là chống lại chủ nghĩa cộng sản. Họ đã muốn ngăn chủ nghĩa cộng sản lan tràn trên thế giới. Nếu như người Mỹ không can thiệp và tham chiến ở Việt Nam lâu dài như họ đã làm, ý chí chống cộng ở các nước Đông Nam Á khác chắc đã giảm sút, và Đông Nam Á có thể đã sụp đổ như một ván cờ domino dưới làn sóng đỏ. Nixon đã giúp cho miền Nam Việt Nam có thời gian để xây dựng lực lượng và tự chiến đấu. Nam Việt Nam đã không thành công, nhưng khoảng thời gian gia tăng đó giúp Đông Nam Á phối hợp hành động với nhau và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển của ASEAN.

Singapore khá thoải mái với sự hiện diện của người Mỹ. Chúng ta không biết Trung Quốc sẽ quyết đoán hay hung hăng như thế nào. Vào năm 2009 khi tôi nói chúng ta phải cân bằng lực lượng với Trung Quốc, họ dịch từ đó sang tiếng Trung thành “kìm hãm”. Điều này làm nổi lên một làn sóng phẫn nộ trong cư dân mạng Trung Quốc. Họ cho rằng làm sao tôi lại dám nói như thế trong khi tôi là người Hoa. Họ quá là nhạy cảm. Thậm chí sau khi tôi giải thích rằng tôi không hề sử dụng từ “kìm hãm”, họ vẫn không hài lòng. Đấy là bề mặt của một thứ quyền lực thô và còn non trẻ.

Trong cục diện đang thay đổi này, chiến lược chung của Singapore là đảm bảo rằng mặc dù chúng ta lợi dụng bộ máy tăng trưởng thần kì của Trung Quốc, chúng ta sẽ không cắt đứt với phần còn lại của thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Singapore vẫn quan trọng với người Mỹ. Singapore nằm ở vị trí chiến lược ở trung tâm của một khu vực quần đảo, nơi mà người Mỹ không thể bỏ qua nếu muốn duy trì ảnh hưởng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Và mặc dù chúng ta xúc tiến các mối quan hệ với người Trung Quốc, họ cũng không thể cản chúng ta có các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hoá và an ninh bền chặt với Hoa Kỳ. Người Trung Quốc biết rằng họ càng gây áp lực với các quốc gia Đông Nam Á thì các quốc gia này càng thân Mỹ hơn. Nếu người Trung Quốc muốn đưa tàu chiến đến viếng thăm cảng của Singapore khi có nhu cầu, như là người Mỹ đang làm, chúng ta sẽ chào đón họ. Nhưng chúng ta sẽ không ngả về phía nào bằng cách chỉ cho phép một bên và cấm đoán bên kia. Đây là một lập trường mà chúng ta có thể tiếp tục duy trì trong một thời gian dài.

Chúng ta còn liên kết với phần còn lại của thế giới thông qua ngôn ngữ. Chúng ta may mắn được người Anh cai trị và họ để lại di sản là tiếng Anh. Nếu như chúng ta bị người Pháp cai trị, như người Việt, chúng ta phải quên đi tiếng Pháp trước khi học tiếng Anh để kết nối với thế giới. Đó chắc hẳn là một sự thay đổi đầy đau đớn và khó khăn. Khi Singapore giành được độc lập vào năm 1965, một nhóm trong Phòng Thương Mại người Hoa gặp tôi để vận động hành lang cho việc chọn tiếng Hoa làm quốc ngữ. Tôi nói với họ rằng: “Các ông phải bước qua tôi trước đã.” Gần 5 thập niên đã trôi qua và lịch sử đã cho thấy rằng khả năng nói tiếng Anh để giao tiếp với thế giới là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong câu chuyện tăng trưởng của Singapore . Tiếng Anh là ngôn ngữ của cộng đồng quốc tế. Đế quốc Anh đã truyền bá thứ ngôn ngữ này ra khắp thế giới, nên khi người Mỹ tiếp quản, đó là một sự chuyển đổi dễ dàng sang tiếng Anh kiểu Mỹ. Đây cũng là một lợi thế rất lớn đối với người Mỹ khi trên toàn thế giới đã có nhiều người nói và hiểu ngôn ngữ của họ.

Khi sự trỗi dậy của Trung Quốc tiếp diễn, Singapore có thể nâng cao chuẩn mực tiếng Hoa trong nhà trường để cho học sinh của chúng ta có một lợi thế, nếu họ chọn làm việc hoặc giao thương với Trung Quốc. Nhưng tiếng Hoa vẫn sẽ là ngôn ngữ thứ hai, vì thậm chí nếu GDP của Trung Quốc có vượt qua Hoa Kỳ, họ cũng không thể cho chúng ta được mức sống mà chúng ta đang hưởng thụ ngày nay. Đóng góp của Trung Quốc vào GDP của chúng ta ít hơn 20%. Phần còn lại của thế giới sẽ giúp Singapore duy trì phát triển và đạt được thịnh vượng – không chỉ là người Mỹ, mà còn là người Anh, người Đức, người Pháp, người Hà Lan, người Úc, vv…. Các nước này giao dịch kinh doanh bằng tiếng Anh, không phải tiếng Trung. Sẽ là rất ngu ngốc nếu chúng ta xem xét chọn tiếng Trung làm ngôn ngữ làm việc tại bất kì thời điểm nào trong tương lai, khi mà chính người Hoa cũng rất cố gắng học tiếng Anh từ khi mẫu giáo cho đến bậc đại học.

Cuộc cạnh tranh cuối cùng

Hoa Kỳ không phải đang trên đà suy thoái. Uy tín của Hoa Kỳ đã chịu nhiều tổn thất do việc đóng quân lâu dài và lộn xộn tại Iraq và Afghanistan cũng như do cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nhưng những sử gia giỏi nhìn nhận sẽ chỉ ra rằng một Hoa Kỳ dường như yếu đi và trì trệ đã từng phục hồi ra khỏi những tình huống còn tệ hại hơn. Đất nước Hoa Kỳ đã đối mặt nhiều thử thách lớn trong những thời kỳ chưa xa: cuộc Đại Suy thoái, chiến tranh Việt nam, thời kì trỗi dậy của các cường quốc công nghiệp hậu chiến như Nhật Bản và Đức. Mỗi lần như vậy, Hoa Kỳ đã tìm thấy ý chí và sức mạnh để phục hồi vị trí dẫn đầu cùa mình. Hoa Kỳ đã áp đảo. Nó sẽ thực hiện được điều này một lần nữa.

Thành công của Hoa Kỳ nằm ở nền kinh tế năng động, được duy trì không chỉ bằng khả năng đặc biệt sản xuất ra cùng một thứ với chi phí ít hơn mà còn là liên tục đổi mới sáng tạo – tức là sáng chế ra một mặt hàng hay dịch vụ hoàn toàn mới mà thế giới sớm cảm thấy hữu dụng và đáng khát khao. Chiếc iPhone, iPad, Microsoft, Internet – tất cả đều được tạo ra ở Hoa Kỳ chứ không phải nơi nào khác. Người Trung Quốc có thể có nhiều nhân tài so với người Mỹ, nhưng sao họ không có những phát minh tương tự? Rõ ràng họ thiếu một sự sáng tạo mà người Mỹ sở hữu. Và tia sáng đó cho thấy người Mỹ thỉnh thoảng thể có sáng tạo đột phá thay đổi cục diện, điều cho họ vị trí dẫn đầu.

Thậm chí nếu những người theo thuyết suy thoái đúng, và thật là Hoa Kỳ đang trên đà xuống dốc, ta phải nhớ rằng đây là một nước lớn và cần có một thời gian dài thì mới suy thoái. Nếu Singapore là một nước lớn, tôi sẽ chẳng lo lắng lắm nếu chúng ta chọn chính sách sai lầm, vì hậu quả sẽ xuất hiện chậm. Nhưng chúng ta là một nước nhỏ và một quyết định sai lầm có thể gây hậu quả kinh khủng trong một thời gian ngắn. Mặt khác, Hoa Kỳ như là một con tàu chở dầu lớn. Họ sẽ không thể chuyển hướng nhanh như một chiếc thuyền. Nhưng tôi tin rằng các cá nhân tin vào thuyết suy thoái đã sai lầm. Hoa Kỳ sẽ không suy thoái. So sánh tương đối với Trung Quốc, Hoa Kỳ có thể ít uy lực hơn. Có thể khả năng phô diễn sức mạnh ở Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng và có thể Hoa Kỳ không thể sánh với Trung Quốc về dân số và GDP, nhưng lợi thế chính yếu của Hoa Kỳ – sự năng động của họ – sẽ không biến mất. Hoa Kỳ, nếu đem ra so sánh đến giờ, là một xã hội sáng tạo hơn. Và khi mà trong lòng nội bộ nước Mỹ đang có một cuộc tranh luận về việc liệu họ có đang xuống dốc hay không thì đó là một dấu hiệu tốt. Điều đó có nghĩa rằng họ không ngủ quên trên đỉnh cao.

Tại sao tôi lại tin vào thành công dài hạn của Hoa Kỳ

Đầu tiên, Hoa Kỳ là một xã hội thu hút đến độ mà Trung Quốc khó lòng bì kịp. Mỗi năm, hàng nghìn người nhập cư đầy tham vọng và có trình độ được cho phép vào Hoa Kỳ, định cư và trở nên thành công trong nhiều lĩnh vực. Những người nhập cư này sáng tạo và thường mạo hiểm hơn, nếu không thì họ đã chẳng rời khỏi quê hương của mình làm gì. Họ cung cấp một nguồn ý tưởng dồi dào và tạo nên một chất men nào đó trong lòng xã hội Mỹ, một sức sống mà ta không thể tìm thấy ở Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ không thành công được đến như vậy nếu như không có người nhập cư. Trong hàng thế kỉ, Hoa Kỳ thu hút nhân tài từ châu Âu. Ngày hôm nay, họ thu hút nhân tài từ châu Á – người Ấn, người Hoa, người Hàn, người Nhật và thậm chí là người Đông Nam Á. Vì Hoa Kỳ có thể dung nạp người nhập cư, giúp họ hoà nhập và cho họ một cơ hội công bằng để đạt được giấc mơ Mỹ, luôn có một nguồn chảy tài năng hướng vào Hoa Kỳ và đổi lại Hoa Kỳ có được công nghệ mới, sản phẩm mới và cách làm ăn mới.

Trung Quốc và những quốc gia khác rồi sẽ phải tiếp thu vài phần của mô hình thu hút nhân tài của Hoa Kỳ phù hợp với hoàn cảnh của mình. Họ phải đi tìm người tài để xây dựng các doanh nghiệp. Đây là cuộc cạnh tranh tối hậu. Đây là thời đại mà chúng ta không còn có các cuộc đua quân sự giữa các cường quốc vì họ biết rằng họ sẽ huỷ hoại nhau bằng cách ấy. Đây sẽ là cuộc cạnh tranh về kinh tế và kĩ thuật và tài năng là nhân tố chính.

Hoa Kỳ là một xã hội thu hút và giữ chân được nhân tài. Họ chiêu dụ được những tài năng bậc nhất từ Châu Á. Hãy nhìn vào số lượng người Ấn trong các ngân hàng và trường đại học của họ — lấy ví dụ như Vikram Pandit, cựu CEO của Citibank. Nhiều người Singapore chọn lựa ở lại Hoa Kỳ sau khi du học. Đó là lí do mà tôi ủng hộ việc cho sinh viên học bổng đi du học Anh, vì tôi chắc rằng họ sẽ trở về Singapore . Ở Anh, bạn không ở lại vì bạn không được chào đón. Và vì nền kinh tế của Anh không năng động như Mỹ, ở đấy có ít công ăn việc làm hơn.

Một lí do tại sao Trung Quốc sẽ luôn kém hiệu quả hơn trong việc thu hút nhân tài chính là ngôn ngữ. Tiếng Hoa khó học hơn tiếng Anh nhiều. Nói tiếng Hoa rất khó nếu như không học từ nhỏ. Đây là ngôn ngữ đơn âm tiết và mỗi từ có tới 4 hay 5 thanh. Khi mà bạn không biết tiếng thì bạn không thể giao tiếp. Đây là một rào cản rất lớn. Đây là kinh nghiệm bản thân tôi. Tôi đã vật lộn trong suốt 50 năm và đến giờ mặc dù tôi có thể nói tiếng Hoa và viết theo kiểu bính âm (pinyin), nhưng tôi vẫn không thể hiểu được tiếng Hoa một cách thành thục như người bản ngữ. Đấy là tôi đã rất cố gắng. Trung Quốc trở nên hùng cường vào tương lai không thay đổi sự thật cơ bản là tiếng Hoa là một ngôn ngữ cực kì khó học. Có bao nhiêu người đến Trung Quốc, ở lại và làm việc ngoại trừ những người Hoa, người Châu Âu và người Mỹ trở thành những chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc? Người Trung Quốc cố gắng truyền bá ngôn ngữ của mình ra nước ngoài bằng việc xây dựng các Viện Khổng Tử trên toàn thế giới, nhưng kết quả không được tốt lắm. Người ta vẫn đến Hội đồng Anh và những cơ sở của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ thậm chí không cần phải cố gắng. Một thời họ có Trung tâm Dịch vụ Thông tin Hoa Kỳ, nhưng đã bị đóng cửa vì không cần thiết nữa. Đã có hàng loạt ấn phẩm, chương trình truyền hình và phim ảnh làm công việc đó. Nên về quyền lực mềm thì Trung Quốc không thể thắng.

Một nguồn lực khác mang lại sức cạnh tranh cho Hoa Kỳ là nhiều trung tâm xuất sắc cạnh tranh lẫn nhau khắp cả nước. Ở bờ Đông có Boston, New York, Washington, và ở bờ Tây có Berkeley, San Francisco, và ở miền Trung nước Mỹ thì có Chicago và Texas. Bạn sẽ thấy sự đa dạng và mỗi trung tâm lại cạnh tranh với nhau, không ai nhường ai. Khi người Texas thấy rằng mình có nhiều dầu mỏ, James Baker – cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ và là người Texas – đã cố gắng thành lập một trung tâm ở Houston để cạnh tranh với Boston hoặc New York. Jon Huntsman, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore và Trung Quốc và là bạn của tôi, là một ví dụ khác. Gia đình ông có tiền sử bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Vì vậy khi ông thừa hưởng gia tài từ cha, ông mang những nhà khoa học giỏi nhất trong lĩnh vực ung thư tuyến tiền liệt về quê nhà ông là bang Utah để nghiên cứu vấn đề này.

Mỗi trung tâm tin rằng mình tốt như các trung tâm còn lại, chỉ cần tiền và nhân tài, điều có thể kiếm được. Không ai cảm thấy phải tuân theo Washington hay New York . Nếu bạn có tiền, bạn có thể xây dựng một trung tâm mới. Bởi vì khía cạnh này, có sự đa dạng trong xã hội và một tinh thần cạnh tranh cho phép sản sinh ra những ý tưởng và sản phẩm mới hữu ích dài lâu. Trung Quốc thì lại chọn một cách tiếp cận khác. Người Trung Quốc tin rằng khi trung ương mạnh thì Trung Quốc sẽ giàu mạnh. Đây là một thái độ cứng nhắc, yêu cầu mọi người phải tuân theo một trung tâm duy nhất. Mọi người phải hành quân theo cùng một điệu trống. Ngay cả Anh và Pháp đều không thể cạnh tranh với Hoa Kỳ về mặt này. Ở Pháp ai là nhân tài cuối cùng đều vào các viện đại học nghiên cứu lớn. Ở Anh thì đó là Oxbridge (Đại học Oxford và Đại học Cambridge ). Những quốc gia này tương đối nhỏ, gọn vì vậy cũng đồng bộ hơn.

Kể từ cuối thập niên 1970 cho đến thập niên 1980, Hoa Kỳ mất vị trí dẫn đầu nền công nghiệp về tay những nền kinh tế mới phục hồi như Nhật Bản và Đức. Họ bị vượt mặt về đồ điện tử, thép, hoá dầu và ngành công nghiệp xe hơi. Đây là những ngành công nghiệp sản xuất quan trọng huy động nhiều nhân công, kể cả những người lao động phổ thông được các công đoàn bảo vệ. Ở một số nước châu Âu, các công đoàn chống đối các cải cách lao động bằng việc đe dọa tiến hành các hành động công nghiệp có thể mang lại tổn thất nghiêm trọng trong ngắn hạn. Nhưng ở Mỹ điều ngược lại đã xảy ra. Các tập đoàn áp dụng những biện pháp thay đổi khó khăn nhưng cần thiết. Họ giảm qui mô, giảm biên chế và cải tiến năng suất qua việc sử dụng công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin (IT). Nền kinh tế Hoa Kỳ trỗi dậy trở lại. Các doanh nghiệp mới được mở ra để giúp các công ty tối ưu hoá hệ thống IT của mình, như là Microsoft, Cisco và Oracle. Sau một khoảng thời gian điều chỉnh đầy đau đớn, các công ty có thể tạo ra nhiều việc làm mới trả lương tốt hơn. Họ không thích thú với nhưng công việc lỗi thời mà Trung Quốc, Ấn Độ hay Đông Âu có thể làm được. Họ thấy được một tương lai mà của cải không phải được tạo ra bởi việc chế tạo đồ dùng hay xe hơi, mà bằng sức mạnh trí óc, sức sáng tạo, tính nghệ thuật, kiến thức và bản quyền trí tuệ. Hoa Kỳ đã trở lại cuộc chơi. Họ giành lại được vị trí là nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong các nước đã phát triển. Tôi thật sự khâm phục sự năng động và tin thần khởi nghiệp của người Mỹ.

Bạn tiếp tục chứng kiến điều đó ngay lúc này đây. Người Mỹ vận hành một hệ thống gọn gàng hơn và có sức cạnh tranh hơn. Họ có nhiều bằng sáng chế hơn. Họ luôn cố gắng tạo được thứ gì đó mới hoặc làm điều gì đó tốt hơn. Tất nhiên, điều này cũng có một cái giá của nó. Chỉ số thất nghiệp của Hoa Kỳ lên xuống như một cái yoyo. Ở thời kì suy thoái, chỉ số thất nghiệp từ 8 đến 10 phần trăm là chuyện hiển nhiên. Kết quả là một tầng lớp dưới hình thành. Giữa những xa hoa, lấp lánh, các cửa hàng đẹp đẽ ở New York , bạn cũng có thể dễ dàng thấy người Mỹ vô gia cư nằm trên vệ đường. Họ không có gì ngoài tấm áo khoác thân và miếng thùng carton để nằm ngủ. Một số người, kể cả nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Paul Krugman, đã lên án khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn ở xã hội Mỹ.

Điều này có chấp nhận được không? Tôi không thể nói được. Có những tổ chức tôn giáo và từ thiện giúp đỡ. Một số thành lập những quán ăn tình thương cho người thất nghiệp, vv…. Nhưng mà bạn không thể vừa muốn có chiếc bánh trong tay, vừa muốn ăn nó. Nếu bạn muốn tạo nên sự cạnh tranh mà Hoa Kỳ đang có, bạn không thể tránh được việc tạo nên khoảng cách đáng kể giữa tầng đỉnh và tầng đáy, và không thể tránh khỏi việc tạo nên một tầng lớp dưới. Nếu như bạn chọn một nhà nước phúc lợi, như châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bạn tự nhiên sẽ không còn năng động.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có một nền văn hoá tôn vinh những người dám tự làm tự chịu. Khi họ thành công, họ được ngưỡng mộ như là một nhà khởi nghiệp tài năng và có được sự công nhận và vị trí xã hội họ đáng được hưởng. Khi họ thất bại thì điều này được coi là một giai đoạn tạm thời, tự nhiên và cần thiết để rốt cuộc thành công. Vì vậy họ có thể đứng lên và bắt đầu lại. Nền văn hoá này khác với Anh, một xã hội tĩnh hơn – nơi mà mọi người biết vị trí phù hợp của mình. Nước Anh rất mang tính châu Âu về điểm này. Người Anh từng có nhiều khám phá vĩ đại – máy hơi nước, máy kéo sợi và động cơ điện. Họ cũng có nhiều giải Nobel khoa học. Nhưng rất ít khám phá trong số này của họ trở nên thành công về mặt thương mại. Tại sao lại như thế? Những năm dài của 2 thế kỉ đế chế đã hình thành một xã hội nơi mà giới thượng lưu cũ và những quý tộc có ruộng đất được kính trọng. Giới nhà giàu mới bị xem thường. Các sinh viên trẻ ưu tú mơ ước trở thành luật sư, bác sĩ và trí thức – những người được ngưỡng mộ vì trí tuệ và đầu óc của họ hơn là lao động cực nhọc hoặc lao động tay chân. Hoa Kỳ thì lại khác, là một xã hội mới không có khoảng cách tầng lớp. Mọi người đều ngưỡng mộ việc làm giàu – và muốn trở nên giàu có. Đây là một động lực rất lớn để tạo nên các công ty mới và của cải. Thậm chí ở các công ty của Mỹ, người trẻ có tiếng nói lớn hơn ở các cuộc họp, và sức trẻ của họ được định hướng để giúp công ty trở nên sáng tạo hơn.

Lý Quang Diệu

Thứ Sáu, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Dịch: Nguyễn Việt Vân Anh
Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

 

*Mời các bạn ghé qua đây đọc các lời bình luận:

danchimviet.info

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »

►Gói đầu tư của đồng chí Trọng mất giá thảm hại

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

24-3-2015

Chỉ đến Hội nghị Trung ương 7 thì mọi người mới rõ, tuy nhiên trước đó, bao nhiêu vốn liếng chính trị đã được Tổng Bí thư xỉa hết vào cửa đồng chí Phạm Quang Nghị, quyết kiếm món hời theo kênh đầu tư lâu dài tại Đại hội 12. Nhìn vào chính trường mấy năm rồi, nhà phân tích đầu tư ít năng lực nhất cũng phải nói rằng đây là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất. Xét riêng việc này, so với các đời Tổng bí thư tiền nhiệm, tầm nhìn của nhà đầu tư Nguyễn Phú Trọng không phải là ngắn hạn.

Có điều, kênh đầu tư này cứ càng ngày càng tối. Chỉ xem riêng cái vụ chặt cây thì rõ.

Quản lý nhà nước ở Thủ đô bộ mặt của cả nước mà làm ăn thì văng mạng, mang nặng dấu ấn của mấy ông cai thầu xây dựng. Đáng tiếc, đây đã và đang là cách làm của ông Nguyễn Quốc Hùng, Phó Chủ tịch phụ trách xây dựng cơ bản của Thủ đô, nơi ngốn một phần rất lớn ngân sách xây dựng cơ bản của cả nước hàng năm. Giới quan sát chính trị Thủ đô cho hay, cách làm xưa nay của ông Hùng vẫn vậy. Hồi ông giành được ghế Giám đốc Sở GTVT từ ông Trần Danh Lợi một cách ngoạn mục (đưa ông Lợi xuống làm Phó dù ông Hùng không phải Thành ủy viên, không có chuyên môn Giao thông còn ông Lợi đang là Thành ủy viên, là Tiến sĩ giao thông – ai cũng biết phải Bí thư Phạm Quang Nghị quyết mới được thế), ông đã nhanh nhảu nhân rộng lối làm ăn cai thầu ra toàn bộ Thủ đô.

Còn nhớ, trước đó, ông Hùng vẫn là cai thầu xây dựng (Giám đốc Ban Quản lý dự án xây dựng Tả ngạn) với dấu ấn lớn nhất về năng lực của ông là xây cây cầu cỏn con bắc qua sông Đuống về làng đồng chí Trọng mà mất gần chục năm, qua vài lần điều chỉnh khiến vốn tăng nhiều lần so với dự toán ban đầu.

Ngồi ghế Giám đốc sở GTVT mấy bữa, được Bí thư (PQN) hậu thuẫn, đánh rụp một cái ông bỏ toàn bộ đèn tín hiệu ở các nút giao thông, ngăn và bịt hết các ngã ba ngã tư rồi bắt hàng triệu người dân Thủ đô cùng hàng triệu người khác qua Thủ đô hàng ngày phải đi kiểu rồng rắn do ông tự vẽ ra (cần nhắc lại là ông Hùng không có chuyên môn giao thông).

Mới trước đó, thành phố còn phải đi vay hàng trăm triệu đô la của Pháp và Ngân hàng Thế giới để nâng cấp hệ thống đèn tín hiệu và chỉnh trang các nút giao. Chính chương trình Táo giao thông cũng phải thốt lên “… loay hoay quanh năm hết gỡ lại ngăn, có anh giao thông tăng cường kiếm ăn …”. Báo chí chất vấn thì ông tỉnh bơ bảo đây là chủ trương của Thành ủy, ý là các anh có dám thách thức cái ông chóp bu kia không. Quanh quẩn hết xây lại đập, đập lại xây, ngốn bao tiền, được vài năm. Vừa qua ông cảm thấy chán, ông từ bỏ lối dị thường và cho dân đi lại theo lối thông thường: bỏ ngăn nút giao, phục dựng lại đèn giao thông, sau khi đã làm lãng phí không biết bao tiền của nhân dân. Có điều, ông mượn cái mồm Ban Tuyên giáo rêu rao rằng hiệu quả lắm, dân Hà Nội nhờ có ông mà nâng cao được ý thức, biết đi lại theo làn đường. Còn Bí thư PQN thì kịp lăng-xê luôn: lãnh đạo Hà nội phải kén đồng chí nào dám nghĩ, dám làm. Kết quả là ông Hùng nhảy tót lên Phó Chủ tịch Hà Nội. Vừa qua, ông này lại còn được cơ cấu vào Trung ương khóa tới với tham vọng sẽ làm Chủ tịch Hà Nội hoặc Bộ trưởng Xây dựng, Giao thông.

Từ sau khi có Luật Thủ đô ra đời, ông Hùng càng mạnh tay tợn vì có thêm quyền và tiền. Cách làm ăn cai thầu bây giờ được che đậy tinh vi hơn dưới mác “chủ trương”. Qua mấy năm làm ăn ở đất Hà Nội, ông có sự trưởng thành và cao thủ hơn tay cai đầu dài ở chỗ biết đưa thêm cái anh Tuyên giáo vào trong tốp thợ cùng làm ăn. Thế nên báo chí đã quá quen với cảnh, phàm việc gì liên quan đến giao thông đô thị là thế nào Ban Tuyên giáo cũng nhảy vào “định hướng dư luận” theo một mô típ nhàm chán: chủ trương lúc nào cũng đúng, việc này được nhân dân đồng thuận, đánh giá cao … Bí quá thì: chúng tôi luôn lắng nghe ý kiến trái chiều (dù đóng góp đúng đến mấy vẫn bị các đồng chí xếp vào loại trái chiều). Tuyên giáo mà tịt thì đã có Bí thư tiếp sức (tuyên bố chủ trương luôn đúng nhưng cách làm còn nóng vội), hoặc dí anh sở chuyên ngành vào nói bậy bạ (đường Trường Chinh cong một cách “mềm mại”). Bí nữa thì chơi kiểu chày cối như anh cựu công an Phan Đăng Long: không cần phải hỏi dân. Đường cùng thì đưa công an ra dọa.

Ngay trong lúc ông Hùng bị báo chí quây tại chính trụ sở UBND Thành phố và phải cuống cuồng tháo chạy thì Bí thư Nghị khôn ngoan ém mình tại quận Nam Từ Liêm chỉ đạo một cuộc họp nhưng vẫn gân cổ ca điệp khúc cũ: đây là chủ trương đúng và thành phố luôn lắng nghe ý kiến trái chiều. Có điều lần này khúc ca của đồng chí không được báo nào đăng tải.

Chặt phá hàng nghìn cây vừa rồi tại thủ đô chỉ là việc làm nhỏ của những ông quan quản lý nhà nước làm ăn theo kiểu cai đầu dài. Nếu công luận không lên tiếng, nay mai tiếp theo sẽ là uốn lại sông Hồng chảy thẳng hướng cho nghiêm túc, thay nước Hồ Tây cho sạch sẽ thơm tho, biến các công viên thành cao ốc cho hiện đại, lấy đất của dân giao cho các tư bản đỏ làm kinh tế cho đỡ lãng phí, đường nào cong thì nắn cho thẳng, đường nào thẳng thì phải biến thành cong cho “mềm mại” kiểu đường Trường Chinh như chính lãnh đạo thành phố từng tuyên bố, vài triệu dân Thủ đô phải ăn mặc nói năng đi lại theo đúng Bộ Quy tắc ứng xử người Hà Nội do Tuyên giáo và Sở Văn hóa ban hành …. “Chủ trương” nào theo các quan lý giải đều đúng hết. Xem ra, nếu trúng Tổng Bí thư, chắc đồng chí Nghị sẽ kiện toàn và nhân rộng mô hình quản lý quốc gia dựa trên thế chân vạc: Cai đầu dài, Tuyên giáo và Công an; thay thế hệ thống pháp luật bằng “Chủ trương” và Nghị quyết.

Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung – Giám đốc CA Hà Nội – đang trồng cây mà chính quyền gọi là vàng tâm nhưng các nhà chuyên môn gọi là gỗ mỡ (một loại cây rẻ tiền), một phần trong chiến dịch tàn sát và thay thế 6700 cây xanh tại Hà Nội. Cũng trong chiến dịch, nhiều cây gỗ sưa đắt tiền đã bị đốn lấy gỗ bán cho Trung Quốc.

Chỉ riêng vụ chặt hàng nghìn cây rất có thể dẫn tới việc Phó chủ tịch Nguyễn Quốc Hùng bị khởi tố về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ít nhất thì cánh cửa vào Trung ương của ông coi như đã đóng sập.

Kết hợp với công luận ngày càng bức xúc trước nhiều sai phạm trong ê kíp dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nghị, người ta thấy gói đầu tư của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đang mất giá. Vẫn biết đồng chí đang gắng gượng tìm kiếm kênh đầu tư thay thế, đi Tàu, đi Mỹ v.v., nhưng những việc xảy ra vừa qua chắc chắn sẽ đẩy các chiến lược đầu tư của đồng chí lâm vào khủng hoảng khó dự đoán hậu quả, đặc biệt trong bối cảnh thị trường đầu tư tới đây sẽ phát sinh nhiều diễn biến không thể lường trước.

 

*Trong cuộc họp bầu tín nhiệm tháng 1/2015, Phạm Quang Nghị đứng gần chót bảng, hạng 19/20; Phạm Quang Nghị được Nguyễn Phú Trọng đỡ đầu.

Xem thêm ở đây

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2015/01/tin-on-nong-ket-qua-bo-phieu-tin-nhiem.html

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự | Leave a Comment »

►Lý Quang Diệu viết về những ngày cuối đời

Posted by hoangtran204 trên 25/03/2015

Nguồn: Lee Kuan Yew (2013). “Personal Life: Choosing when to Go”, in L.K Yew, One Man’s View of the World (Singapore: Straits Times Press), pp. 294-301.

Biên dịch: Nguyễn Tiến Chương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Trình tự công việc hằng ngày của tôi đã được định sẵn. Tôi thức dậy, kiểm tra email, đọc tin tức, tập thể dục và ăn trưa. Sau đó, tôi đến văn phòng tại Instana, kiểm tra các văn bản và viết các bài báo hoặc bài phát biểu. Vào buổi chiều hoặc tối, tôi thỉnh thoảng có lịch phỏng vấn với các nhà báo, sau đó tôi có thể dành một hoặc hai giờ học tiếng Hoa.

Tôi tập thể dục như một thói quen hằng ngày. Ở tuổi 89, tôi có thể đứng lên mà không cần đến gậy đỡ. Khi tôi còn ở độ tuổi 30, tôi thích hút thuốc và uống bia. Tôi bỏ thuốc lá vì nó đã làm tôi mất giọng trong các chiến dịch tranh cử. Việc này xảy ra trước khi có những nghiên cứu y tế về việc hút thuốc có thể dẫn đến ung thư phổi và cổ họng. Kỳ lạ hơn, sau đó tôi trở nên dị ứng với thuốc lá.

Việc uống bia nhiều khiến tôi có “bụng bia” và nó đã được chụp trong những bức ảnh trên báo chí. Tôi đã bắt đầu chơi golf nhiều hơn để giữ thân hình, nhưng sau đó phải chuyển sang việc chạy bộ và đi bơi, những hoạt động này tốn ít thời gian hơn để đạt được cùng khối lượng luyện tập thể dục. Hiện tại, tôi đi bộ trên máy tập 3 lần mỗi ngày: 12 phút buổi sáng, 15 phút sau giờ trưa và 15 phút sau buổi tối. Trước buổi tối, tôi từng bơi 20 đến 25 phút. Nếu không có nó, tôi không thể có được sức khỏe tốt như hiện nay. Đó là một quy tắc.

Tôi tiếp tục có hẹn gặp những người khác. Bạn phải gặp gỡ người khác vì bạn bắt buộc phải có quan hệ xã hội nếu như bạn muốn mở rộng quan điểm của mình. Bên cạnh người Singapore, tôi gặp cả người từ Malaysia, Indonesia và rất nhiều lần, người Trung Quốc, Châu Âu và người Mỹ. Tôi cố gắng không chỉ gặp những bạn cũ và các chính trị gia hàng đầu mà còn những người từ nhiều lĩnh vực khác nhau như các học giả, người kinh doanh, nhà báo và cả những người bình thường.

Tôi hạn chế nhiều những chuyến bay xa bởi vì hiện tượng chênh lệch múi giờ, đặc biệt là khi tôi đến thăm Mỹ. Cho đến năm 2012, tôi vẫn đến Nhật mỗi năm một lần để nói chuyện tại Hội thảo Tương lai Châu Á- hiện tại là lần thứ 19, được tổ chức bởi tập đoàn truyền thông Nhật Bản Nihon Keizai Shimbun (Nikkei). Có khoảng thời gian, tôi đến thăm Trung Quốc gần như mỗi năm một lần, mặc dù hiện tại tôi không thích đến Bắc Kinh vì sự ô nhiễm ở đấy. Nhưng các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) ở đó nên bạn vẫn phải đến đó để gặp họ. Hội đồng Quốc tế JP Morgan, nơi tôi là một thành viên, đã vinh danh tôi khi tổ chức cuộc gặp thường niên năm 2012 tại Singapore, và Hội đồng Cố vấn của hãng Total cũng vậy. Đi Pháp thì không có vấn đề gì. Mất 12 tiếng bay thẳng trên chiếc Airbus 380, tới đó rồi về. Nhưng đến Mỹ thì mệt mỏi hơn rất nhiều, đặc biệt là vì thay đổi múi giờ, từ ngày trở thành đêm và ngược lại. Đi ra nước ngoài giúp tôi mở mang tầm nhìn. Tôi thấy được cách thức những nước khác phát triển. Không một nước hay thành phố nào đứng yên, tôi đã chứng kiến London và Paris thay đổi, hết lần này qua lần khác.

Rời khỏi chính trường tức là tôi không còn được biết rõ như trước về những việc đang diễn ra và những áp lực phải thay đổi. Vì thế nhìn chung tôi đồng thuận theo quyết định của các bộ trưởng. Tôi hiếm khi bày tỏ những quan điểm trái ngược, ít ra là hiếm khi hơn so với khi tôi còn làm việc trong chính phủ và tham dự các cuộc họp nội các, điều giúp tôi có thể tham gia đầy đủ vào các cuộc tranh luận.

Thỉnh thoảng, khi tôi nhất quyết không đồng ý với việc gì đó, tôi bày tỏ quan điểm với Thủ tướng. Một ví dụ là khi chính phủ định giới thiệu lại các chương trình bằng tiếng địa phương Trung Quốc trên các kênh truyền hình miễn phí. Một ý kiến đã được đưa ra: “Hiện tại tiếng Quan thoại đã được thiết lập vững chắc trong người dân rồi, bây giờ chúng ta hãy quay lại tiếng địa phương để những người già có thể thưởng thức các phim truyền hình.” Tôi đã phản đối, chỉ ra rằng khi còn là thủ tướng, tôi đã phải trả một cái giá rất đắt để xóa bỏ các chương trình tiếng địa phương, để khuyến khích mọi người nói tiếng Quan thoại. Vì vậy tại sao giờ phải quay ngược lại? Tôi đã làm cả một thế hệ người gốc Hoa nổi giận, vì các chương trình tiếng địa phương yêu thích của họ đã bị cắt bỏ. Đã từng có một người kể chuyện rất hay tên là Lee Dai Sor trên kênh Rediffusion, và chúng tôi đã phải cắt bỏ chương trình này. Tại sao giờ tôi lại phải đồng ý để tiếng Quảng Đông và Phúc Kiến xâm nhập vào thế hệ tiếp theo? Nếu bạn để chúng quay lại, bạn sẽ thấy nhiều người lớn tuổi bắt đầu nói chuyện với con cháu bằng tiếng địa phương. Điều đó sẽ quay trở lại, chậm rãi nhưng chắc chắn.

Mỗi đất nước cần một thứ ngôn ngữ mà tất cả mọi người đều có thể hiểu được. Việc tích hợp bốn loại ngôn ngữ lại với nhau sau khi người Anh ra đi đã từng là một nhiệm vụ khó khăn của chúng ta. Những trường học của người Hoa, nơi mà phần lớn những học sinh gốc Hoa theo học, tự hào về ngôn ngữ của họ, đặc biệt sau khi có sự trỗi dậy của Trung Quốc Cộng sản năm 1949. Tôi phải đấu tranh rất nhiều để biến Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ chung cho tất cả các trường học và tiếng mẹ đẻ trở thành ngôn ngữ thứ hai. Những nhà sô-vanh ủng hộ tiếng Hoa đã chống lại chính sách này rất gay gắt. Những nhà báo và trường học của người Hoa muốn tăng số học sinh và độc giả của họ. Vì sự kiểm soát của tôi đối với người Hoa lúc đó chưa đủ, nên bộ trưởng báo chí của tôi lúc đó là Li Vei Chen đã phải kiểm soát khắt khe các tòa báo tiếng Hoa, các trường trung học tiếng Hoa cũng như trường Đại học Nanyang cùng nhân viên của họ để hạn chế và ngăn chặn biểu tình, đình công và lãn công.

Cuối cùng thì chính giá trị thị trường của nền giáo dục bằng tiếng Anh đã giải quyết được vấn đề. Vì thế, chúng ta có Singapore ngày nay, với việc tiếng Anh kết nối chúng ta với thế giới và thu hút những tập đoàn đa quốc gia, và tiếng mẹ đẻ được xem như là ngôn ngữ thứ hai, giúp chúng ta có sự gắn kết với Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia. Đó từng là một bước đột phá vượt bậc. Nếu người dân chọn con đường khác, Singapore đã bị đẩy lùi lại.

Vì những lý do tình cảm và thực tiễn trong giao thương với Trung Quốc, chúng ta cần tiếng Hoa như là ngôn ngữ thứ hai. Nhưng chúng ta chắc chắn không cần các tiếng địa phương. Việc đảo ngược quá trình gỡ bỏ tiếng địa phương ra khỏi các phương tiện truyền thông đại chúng – điều mà chúng ta đã phải mất rất nhiều thời gian, năng lượng và nguồn vốn chính trị đạt được – sẽ là một điều hết sức ngớ ngẩn.

***

      Cuộc sống tốt hơn là cái chết. Nhưng cái chết cuối cùng cũng đến với tất cả mọi người. Đó là thứ mà ở tuổi thanh xuân con người không nghĩ đến. Nhưng ở tuổi 89, tôi thấy lãng tránh vấn đề này là vô ích. Việc tôi quan tâm đó là: Tôi sẽ ra đi như thế nào? Sự kết thúc có đến nhanh chóng không, bằng một cơn đột quỵ ở một trong số các động mạch vành? Hay sẽ là một cơn đột quỵ trong não khiến tôi nằm liệt trên giường bệnh nhiều tháng, trong trạng thái bán hôn mê? Trong số 2 cách đó, tôi thích cách nhanh chóng hơn.

Một thời gian trước đây, tôi đã cho soạn một bản hướng dẫn điều trị y tế cao cấp. Bản hướng nói rằng nếu tôi phải được cho ăn bằng đường ống và không thể hồi phục và ngồi dậy, bác sỹ của tôi sẽ phải tháo ống tube và cho tôi ra đi sớm. Tôi đã để tờ hướng dẫn được ký bởi một người bạn làm luật sư và một bác sĩ.

Nếu bạn không kí một tờ hướng dẫn như vậy, người ta sẽ làm mọi việc có thể để ngăn chặn điều chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi đã chứng kiến điều này trong nhiều trường hợp khác. Anh rể của vợ tôi, Yong Nyuk Lin, phải đeo ống. Ông ấy ở nhà, và vợ ông ấy cũng nằm liệt giường, trong thân hình tàn tạ. Tâm trí ông ấy đã trở nên vô thức. Hiện tại ông ấy đã chết. Nhưng họ giữ ông ấy như thế trong một vài năm. Làm vậy để làm gì? Thường thì các bác sỹ và người thân của bệnh nhân tin rằng họ nên kéo dài cuộc sống, nhưng tôi thì không đồng ý. Mọi thứ đều đến lúc phải kết thúc và tôi muốn nó xảy ra với tôi càng nhanh và càng ít đau đớn càng tốt, chứ không phải để tôi nằm bất động bán hôn mê trên giường bệnh với một cái ống dịch chuyền thức ăn xuống dạ dày. Trong những trường hợp ấy, người ta chỉ còn là một cái xác mà thôi.

Tôi không thích tự gắn ý nghĩa cho cuộc sống – hoặc nghĩ ra những câu chuyện lớn lao về cuộc đời – mà chỉ tìm cách đo lường nó bằng những gì bạn nghĩ bạn muốn làm trong cuộc sống. Đối với tôi, tôi đã hoàn thành những việc tôi muốn làm, trong khả năng lớn nhất của tôi và tôi hài lòng với việc đó.

Những xã hội khác nhau có những quan điểm triết học khác nhau về cuộc sống hiện tại và kiếp sau. Nếu bạn đến nước Mỹ, bạn sẽ tìm thấy những người theo đạo Thiên chúa nhiệt thành, đặc biệt là trong nhóm người bảo thủ ở vùng Vành đai Kinh Thánh (Bible Belt) chiếm phần lớn miền Nam nước Mỹ. Ở Trung Quốc, mặc dù qua nhiều thập kỷ truyền bá chủ nghĩa Mác và tư tưởng Mao, việc thờ cúng tổ tiên và những phong tục tín ngưỡng khác dựa trên đạo Phật và Đạo Giáo vẫn còn phổ biến. Ở Ấn Độ, niềm tin vào kiếp luân hồi vẫn tồn tại rộng rãi.

Tôi không phải là người theo thuyết vô thần. Tôi không công nhận cũng không phủ nhận việc Chúa tồn tại. Vũ trụ được cho rằng sinh ra từ vụ nổ Big Bang. Nhưng những con người trên thế giới này đã phát triển hơn 20.000 năm qua, trở thành những sinh vật biết suy nghĩ, và có thể có cái nhìn vượt ra ngoài bản thân và khám phá về bản thân. Đó là kết quả của thuyết Tiến hóa Darwin hay đó là do Chúa? Tôi cũng không biết nữa. Do đó tôi không cười nhạo những người tin vào Chúa. Nhưng tôi không nhất thiết phải tin vào Chúa – hay phủ nhận rằng Chúa tồn tại.

Tôi đã có một người bạn rất thân, Hon Sui Sen, một tín đồ Công giáo La mã ngoan đạo. Khi ông ấy gần mất, các linh mục đã ở bên cạnh ông ấy. Ở tuổi 68, ông ấy khá trẻ để ra đi nhưng ông ấy hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi. Là người Công giáo La mã, ông ấy tin rằng ông sẽ gặp lại vợ mình vào kiếp sau. Tôi ước rằng tôi cũng có thể gặp lại vợ mình ở kiếp sau nhưng tôi thực sự không tin vào điều đó. Tôi chỉ không còn tồn tại tương tự như bà ấy không còn tồn tại nữa – chứ nếu không thế giới bên kia sẽ bị quá tải dân số. Thiên đường có phải đủ rộng lớn và không có giới hạn để luôn đủ chỗ cho tất cả mọi người trên thế giới trong hàng ngàn năm qua không? Tôi rất nghi ngờ về điều đó. Nhưng Sui Sen đã tin vào điều đó và nó đã mang lại cho ông ấy sự bình yên nhất định trong tư tưởng khi ông ấy vượt qua những thời khắc cuối cùng bên cạnh các linh mục. Vợ ông ấy, người đã mất vào tháng 11 năm 2012, đã tin rằng họ sẽ gặp lại nhau lần nữa.

Những người xung quanh từng khuyên tôi, rằng tôi sớm muộn gì cũng như thế, đã không còn làm như vậy nữa bởi vì họ biết rằng điều đó vô ích. Vợ tôi có một người bạn thời đi học, cô ta rất sùng đạo và đã không ngừng cố gắng truyền đạo cho vợ tôi. Nhưng cuối cùng, vợ tôi đã tránh xa khỏi người bạn đó và nói rằng: “Thật vô lý. Mỗi lần gặp mặt cô ta đều muốn tôi trở thành một người theo đạo Thiên chúa.” Vợ tôi không tin vào kiếp sau, mặc dù đúng là sẽ thoải mái hơn nếu bạn tin vào kiếp sau dù nó không thực sự tồn tại.

Cứ mỗi ngày trôi qua tôi cảm thấy thể xác mình mất thêm năng lượng và ngày càng ít năng động hơn. Nếu bạn muốn tôi ra ngoài khi nắng nóng lúc hai giờ trưa để gặp gỡ người khác, bắt tay và ôm hôn các em bé, tôi sẽ không thể làm được nữa. Tôi có thể làm như vậy 20, 30 năm trước, nhưng giờ thì không thể. Bạn chấp nhận cuộc sống khi nó tới, với sự già đi của thể xác qua thời gian. Thỉnh thoảng người thư ký của tôi nhìn thấy tôi nghỉ ngơi trong phòng làm việc và hỏi tôi có cần hoãn cuộc gặp tiếp theo hay không. Tôi thỉnh thoảng vẫn nói: “Không, hãy để nó tiếp tục”. Tôi cần 15 phút chợp mắt để đầu óc sau đó có thể hoàn toàn tập trung được. Nhưng nếu tôi không thể, tôi sẽ nói rằng: “Được, hoãn lại đi. Để tôi ngủ một lát”. Bạn không thể dự đoán được cơ thể bạn sẽ trở nên như thế nào. Dù tôi có mạnh mẽ và kỉ luật tới đâu, tình trạng của tôi vẫn sẽ tiếp tục xuống dốc.

Cuối cùng, sự hài lòng lớn nhất của tôi đối với cuộc đời đến từ thực tế rằng tôi đã dành nhiều năm tập hợp sự hỗ trợ, ý chí để biến đất nước này thành một nơi nhân tài được trọng dụng, sạch bóng tham nhũng và bình đẳng cho mọi sắc tộc. Điều đó sẽ tiếp tục tồn tại sau khi tôi ra đi. Nó không giống như khi tôi mới nhậm chức. Chính phủ Lim Yew Hock lúc đó đã tham nhũng rồi. Những người Singapore trẻ tuổi có thể sẽ không biết đến cái tên Mak Pak Shee, một thành viên của chính phủ đó. Ông ấy là một người lai Ấn Độ và Quảng Đông với một bộ ria mép, và được gọi người “dàn xếp” – tức giúp hoàn thành các ưu đãi để đổi lấy một khoản phí.

Singapore như hiện tại là một địa chỉ sạch bóng tham nhũng trong một khu vực mà nạn tham nhũng rất phổ biến. Các thể chế đã được lập ra để giữ cho nó như vậy, ví dụ như văn phòng chống tham nhũng. Mọi người thăng tiến dựa trên năng lực của họ chứ không phải sắc tộc, ngôn ngữ hay tín ngưỡng của họ. Nếu chúng ta giữ vững được những thể chế này, chúng ta sẽ tiếp tục tiến bộ. Đó là hi vọng lớn nhất của tôi.

Đây là phần cuối cùng trong cuốn One Man’s View of the World được Nghiencuuquocte.net biên dịch. Bản dịch các phần khác của cuốn sách có thể xem được tại ĐÂY.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2015/03/23/ly-quang-dieu-viet-ve-nhung-ngay-cuoi-doi/#sthash.55vTXV8o.dpuf

Câu nói nổi tiếng nhất của Lý Quang Diệu:
 “Chỉ có những thằng ngu mới chống Mĩ”
(Phạm Nguyên Trường)

Posted in Nhan Vat Chinh tri | Leave a Comment »