Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Năm 2011
    C H B T N S B
    1234567
    891011121314
    15161718192021
    22232425262728
    293031  
  • Bài viết mới

Archive for Tháng Năm 17th, 2011

Ai, lực lượng nào đang đánh phá “đảng ta” ?

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Tác giả: Song Chi


 

Có một điều mà rất nhiều người, kể cả tôi, đều không thể hiểu nổi: đó là vì sao đảng và nhà nước cộng sản VN lại thiếu lòng tin và có quá nhiều nỗi sợ hãi, nghi kỵ đến thế khi hành xử đối với chính nhân dân của họ? Cứ tưởng sau 66 năm kể từ ngày giành được chính quyền ở miền Bắc và 36 năm kể từ ngày nắm trọn quyền lãnh đạo trên toàn quốc, thời gian càng dài thì mối quanh hệ giữa đảng, nhà nước và nhân dân phải ngày càng hiểu biết, gắn bó, tin cậy lẫn nhau chứ nhỉ? Cứ tưởng từ xưa đến nay đảng ta vẫn một mình nắm trọn tất cả quyền lực trong tay, từ chính phủ, quốc hội, luật pháp, quân đội, công an cho tới giới truyền thông, thậm chí kể cả mạng sống của gần 90 triệu dân VN, như vậy thì còn phải sợ hãi ai, cái gì?

Ấy vậy mà đảng ta ngày đêm lo sợ. Từ đảng viên cho đến mọi người dân đều được thường xuyên nhắc nhở, giáo huấn, rằng phải giương cao tinh thần cảnh giác trước mọi “âm mưu diễn biến hòa bình, âm mưu phá hoại của các lực lượng thù địch”. Nguy cơ “diễn biến hòa bình” và sự tồn vong của chế độ được đặt lên hàng đầu, chứ không phải là nguy cơ lệ thuộc nặng nề vào nước láng giềng Trung Quốc hay sự độc lập, toàn vẹn lãnh thổ.

Đảng ta nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Một anh cựu bộ đội, blogger như Điếu Cày với mấy người bạn cùng nhau viết blog, bày tỏ mối quan tâm đến xã hội hoặc biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa. Một gái yếu đuối trói gà không chặt như Phạm Thanh Nghiên, ngồi tọa kháng tại nhà, cũng chỉ để phản đối Trung Quốc, chứng tỏ tinh thần yêu nước. Những thanh niên chỉ có ý muốn bảo vệ cho quyền lợi của giai cấp công nhân như Nguyễn Hoàng Quốc Hùng-Đỗ Thị Mỹ Hạnh-Đoàn Huy Chương. Những trí thức bạch diện thư sinh khao khát tự do dân chủ cho đất nước như bác sĩ Phạm Hồng Sơn, luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân…Hay tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, thuộc hàng con cái của các bậc công thần của chế độ, với những việc làm thực tế là sự thể hiện quyền công dân, đòi hỏi một nền pháp lý minh bạch, rõ ràng …Những con người như vậy thì làm sao lật đổ được chính quyền, vũ khí đâu, quân đội đâu…Vậy mà đảng và nhà nước cộng sản VN đã dành cho họ những bản án rất nặng và đối xử vô cùng phi nhân trong thời gian họ bị thẩm vấn, hay khi bị giam giữ.

Ngay cả khi đã ra khỏi tù như luật sư Lê Thị Công Nhân, cô cũng không thể tìm được công ăn việc làm, đi đâu cũng bị theo dõi, hở chút lại bị bắt đưa về đồn công an “làm việc”. Hoặc như blogger Điếu Cày, đã chịu đủ 30 tháng tù theo bản án nguỵ tạo tội “trốn thuế” nhưng vẫn bị giam tiếp về cái tội “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghiã”. Suốt hơn 6 tháng trời nay gia đình không được thăm nuôi tiếp tế, chả biết Điếu Cày sống chết ra sao.

Nếu một chính quyền có đủ lòng tin vào tính chính danh của mình, có được sự đồng thuận từ sâu xa bên trong lòng nhân dân hẳn đã không cư xử như thế.

Vì sợ hãi, đảng đã bóp nghẹt mọi quyền tự do dân chủ tối thiểu của người dân VN như tự do ngôn luận, báo chí, tự do ứng cử và bầu cử, tự do hội họp, biểu tình, đình công, tự do khiếu kiện các cơ quan nhà nước hay các cá nhân có quyền lực cao nếu các cơ quan/cá nhân đó sai trái, tự do bày tỏ lòng yêu nước và phẫn nộ trước mối hiểm hoạ từ phương Bắc v.v…

Vì sợ hãi, đảng khước từ mọi cơ hội thay đổi toàn diện, để đồng hành cùng nhân dân lựa chọn con đường đi đúng đắn nhất cho đất nước, cho dân tộc. Đảng chỉ đổi mới nửa vời, đổi mới “một chân” kiềng là kinh tế nên đất nước cứ như con tàu chòng chành, một ngày nào đó sẽ chìm lỉm luôn như con tàu Vinashin vậy.

Lẽ ra, thay vì sợ hãi và nghi kỵ nhân dân của mình, dùng sức mạnh của bạo quyền, công an, quân đội và nhà tù để khống chế và đàn áp nhân dân, đảng và nhà nước cộng sản VN nên bình tâm ngồi nghĩ xem: ai, lực lượng nào mới chính là kẻ thù của họ, đang phá nát cái đất nước này, phá nát lòng tin của người dân dành cho họ?

Đó chính là vô số những ông quan to quan nhỏ bất tài nhưng nhờ chạy bằng, chạy chức mà ngồi vào được những vị trí ngon lành ở mọi lĩnh vực trong khi năng lực không có, làm đâu hỏng đấy, khiến cho xã hội nát bét. Hàng loạt tập đoàn kinh tế quốc doanh đưa nhau vỡ nợ, phá sản.

Trong bài “Rùng mình với những vụ thua lỗ bạc tỷ của “ông lớn” đăng trên Đất Việt ngày 20.4.2011, ngoài những vụ phá sản, hoặc thua lỗ đình đám dư luận của tập đoàn đóng tàu Vinashin, tập đoàn điện lực Việt Nam EVN, tổng công ty xăng dầu VN Petrolimex, Công ty cho thuê tài chính 2 (ALCII)-một công ty con của Agribank…bài báo viết:

“Ngoài những doanh nghiệp Nhà nước lớn kể trên, rất nhiều doanh nghiệp hoặc công ty con của các doanh nghiệp Nhà nước khác cũng đã và đang rơi vào tình trạng thua lỗ nặng. Theo số liệu Kiểm toán Nhà nước công bố vào cuối năm 2010, kết quả kiểm toán 183 trong số 242 doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc 20 tổng công ty nhà nước cho thấy, chỉ 88% (161/183) doanh nghiệp có lãi…”.

Làm ăn như thế chả trách gì 25 năm sau đổi mới, khi thế giới đã xếp VN vào ngưỡng thu nhập trung bình, nhưng tại Hội nghị Thường niên ADB lần thứ 44 ngày 5.5.2011 tại Hà Nội, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn cứ phải kêu lên “VN vẫn là một nước nghèo” để tiếp tục kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Nghĩa là tiếp tục đi vay, và đi ăn mày!

Và ngay chính ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cũng là một nhân vật ngồi vào cái chỗ cao hơn trình độ, năng lực của mình, nên sau 5 năm điều hành, quản lý đất nước của ông Dũng, bức tranh kinh tế lẫn xã hội của VN thật là ảm đạm!

Những ông quan to quan nhỏ ấy không chỉ háo danh, bất tài, thiếu đức, thiếu tầm mà còn tham lam vô độ, ăn được cái gì là ăn, vơ vét được cái gì là vơ vét theo kiểu “tư duy nhiệm kỳ”, sống chết mặc bay. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn ở đất nước này. Càng hô hào chống tham nhũng thì tham nhũng càng phát triển, sinh sôi nảy nở rễ cái rễ con, hút sạch từ rừng vàng biển bạc khoáng sản đất đai…cho đến các công trình, dự án, lễ hội…

Càng bày lắm trò thì càng ăn nhiểu. Ăn không kể gì đến thể diện quốc gia, ăn không chừa phần cho con cháu mai sau. Nên những công trình bạc tỷ như đại lộ Thăng Long mới vừa hoàn thành xong đã nứt, sân bay quốc tế Nội Bài thì bục hầm cầu phân người trôi lênh láng, mùi xú uế nồng nặc…Vậy mà họ còn đòi khai thác bauxite, xây tàu cao tốc, làm nhà máy điện hạt nhân. Và cam đoan đã nghiên cứu kỹ, độ an toàn hơn cả những quốc gia nhiều năm kinh nghiệm chế biến nhôm như Hungary hay quốc gia có kỹ thuật cao về công nghệ điện hạt nhân như Nhật Bản! Lại rùng mình nghĩ đến tương lai, khi một cái bể chứa bùn đỏ bauxite bị vỡ hay một nhà máy điện hạt nhân bị nổ, thì tai họa sẽ đến mức nào?

Cùng với đội ngũ quan tham bất tài là những kẻ được gọi là “công an nhân dân”, nhưng hành xử với dân không khác kẻ thù. Chỉ vì một lỗi nhỏ như chạy xe quên đội mũ bảo hiểm hay vì bất kỳ lý do nào khác, đám công an “chỉ biết còn đảng còn mình” nảy sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay, hành hung dân đến chết. Ai còn chưa tin, xin vào google search mấy chữ “công an đánh chết dân” là sẽ cho ra hàng loạt kết quả. Khi nạn nhân đã chết, những kẻ thủ ác này bèn dựng hiện trường giả, quy cho nạn nhân tự tử hoặc đột quỵ. Có bao nhiêu người dân đã chết oan ức như vậy nhưng ngoại trừ một vài vụ như vụ tay thiếu úy Nguyễn Thế Nghiệp đánh chết anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang bị 7 năm tù, còn lại bao nhiêu tay công an đánh chết dân khác vẫn ung dung, chả hề hấn gì! Chính bọn này với cách hành xử côn đồ, coi tính mạng người dân như cỏ rác, mới chính là lực lượng đang góp phần phá đảng, phá nát lòng tin của người dân!

Còn nữa, những ông thẩm phán xử án bôi bác trong những phiên tòa bỏ túi làm trò hề cho chế độ, khiến cho cả thế giới phải chỉ trích.

Còn nữa, đội ngũ những cây bồi bút, văn nô, thỉnh thoảng lại viết bài xuyên tạc sự thật, nịnh hót để lập công với đảng nhưng từ lập luận cho đến phương pháp tranh luận đểu sai, lý luận cùn, tấn công vào đời tư, cố tình đánh tráo khái niệm hoặc chụp mũ người khác…Hoặc nói lấy được những điều mà cả thế giới lẫn người dân đều không còn tin nữa…Những bài viết loại này vô tình lại trở thành phản tác dụng, làm cho người đọc càng thấy rõ ai đúng ai sai!

Còn nữa, cái loa Nguyễn Phương Nga cứ luôn luôn lập đi lập lại “VN không có cái gọi là tù nhân lương tâm, VN không có tù chính trị, tôn giáo, ở VN quyền con người được tôn trọng”…Nhưng vừa nói xong thì sự thật lại trái ngược với bao nhiêu bằng chứng, tư liệu được các đài, báo quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trên thế giới trưng ra…Khiến cho ta lại tự vả vào mồm ta!

Còn nữa…

Còn nữa…

Đấy chính là những lực lượng đang đánh phá đảng từ trong ra ngoài, đang phá nát đất nước này, phá nát lòng tin của người dân. Những nhân vật bất đồng chính kiến đơn lẻ, không một tấc sắt trong tay làm sao có thể gây nguy hiểm, làm sụp đổ chế độ cho bằng những lực lượng âm binh này?

Nếu bình tâm suy xét, “đảng ta” hãy cấp tốc sửa sai bằng cách:

Cách chức ngay tất cả những vị quan ngồi nhầm chỗ, đưa những người có thực tải thực lực lên điều hành quản lý đất nước. Xử án thật nghiêm tất cả những kẻ tham nhũng, bất kể đó là ai, thì nạn tham nhũng chắc chắn phải vơi bớt. Giáo dục lại giới công an, và đưa ra xét xử tất cả những tay công an nào đánh chết dân hay có hành vi nhũng nhiễu, đe dọa dân lành. Nâng cao trí tuệ cho những cây bồi bút, thay vì đánh dưới thắt lưng thiên hạ, nói không thành có, nói có thành không, hãy đi học lại về lập luận, các phương pháp tranh luận và tranh luận đàng hoàng với đối phương…

Và thay vì đảng cứ cãi chày cãi cối, chối biến mọi việc trước dư luận quốc tế thì thay đổi cách hành xử với dân, dừng tất cả những vụ bắt bớ người bất đổng chính kiến, cho dân được mở mồm mà nói; dừng tất cả những vụ đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền…thì thế giới có lý do gì mà chĩa vào ta?

Nhưng nghĩ cho cùng, đó cũng chỉ là sửa được ngọn mà không sửa được gốc vấn để.

Vả lại, nếu làm được thế thì đảng ta hẳn đã là một đảng nào khác rồi, đâu có còn là cái đảng mả từ xưa đến nay dân ta vẫn quá biết ấy ?

Nguồn: Blog Song Chi

và ở đây

—–

Sự thật đàng sau của việc “diễn tập chống gây rối”, là lo sợ  Hơn 240.000 dân Thanh Hóa đang bị nạn đói sẽ đi biểu tình đòi hỏi quyền được có đất đai để canh tác. Một đảng độc tài ăn hại tự xem là quang vinh, nắm quyền kiểu gì mà năm nào dân chúng ở tỉnh Thanh Hóa cũng đói khát hàng trăm ngàn người trong suốt mấy chục năm qua.

Nạn đói năm 2011 ở Thanh Hóa không phải là lần đầu tiên, mà Thanh Hóa bị đói mỗi năm trong suốt mấy chục năm qua nên mới có từ  “thiếu đói mùa giáp hạt”. Năm 1988, dân tỉnh Thanh Hóa đã bị đói kinh hoàng, rất nhiều người chết đói trong suốt 3 năm 1985-1988, lợi dụng lúc ấy Lê Duẫn nằm trên giường bệnh chờ chết, nhóm cố vấn kinh tế miền Nam đã xúi ông Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười  thay đổi đường hướng kinh tế chuyển qua tư bản chủ nghĩa nếu không thì cả nước sẽ không còn gạo, không còn xăng, không còn thuốc men, không có điện…đảng đành phải đổi mới kinh tế nhưng đảng quá mắc cở, nên phải gọi trại đi là: Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.

Hà Sĩ Phu nói về nạn đói ở Thanh Hoá từ năn 1988.

Anh bộ đội ấy người Thanh Hóa
Từ Cămpuchia về thăm nhà.
Ba-lô bết bụi đường xa
Dừng bên một quán nước trà nghỉ chân.
Mới ba năm
xa nhà
Quê hương anh
sao mà
đổi khác
Cơn gió lạnh thổi về
xao xác
Đàn trẻ gầy
nhao nhác
quanh sân.
Chợt anh bộ đội đăm đăm
Nhìn đứa bé đang cầm chổi quét.
Sao mà giống con anh y hệt
Gọi chủ quán ra sau nhà, anh hỏi:
– Thằng bé quét nhà, con ông đấy ư?
Chủ quán trước còn ậm ừ
Sau phải nhận… đã mua ngoài chợ!
“Tôi, hôm ấy, thương tình người mẹ
Nách bốn con, gánh mớ dây lang.
Dây bán trăm đồng, mà cân gạo tám trăm
Sao đủ cháo ăn cầm hơi được?
Phải bán con, chị như đứt ruột
Tôi nhận đứa bé con, đưa trước hai nghìn
Hẹn bao giờ có, sẽ cho thêm…”
Anh xin chuộc đứa con
Nhưng túi không đủ tiền.
Người chủ quán không cho
Bảo đã tốn công phu nuôi nấng.
Cực chẳng đã, người cha
Rút súng…
Rồi, … dắt con đi về hướng… làng bên.
Người lính hôn con
Lệ cha chảy xuống.
Con đòi khẩu súng
Đeo lệch ngang hông
Cha con người lính
Đi qua cánh đồng…

Công an Thanh Hóa diễn tập chống gây rối

Tin cho hay Công an Thanh Hóa vừa diễn tập thực binh quy mô lớn để xử lý tình huống ‘gây rối, bạo loạn và phá hoại bầu cử’.

Báo Thanh Hóa nói cuộc diễn tập diễn ra hôm 14/05 tại thành phố Thanh Hóa, do công an tỉnh kết hợp với Bộ đội Biên phòng và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh kết hợp thực hiện.

Đây là cuộc diễn tập thực binh quy mô, nhằm “xử lý tình huống gây rối, giải cứu con tin, bảo vệ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và HĐND các cấp”.

Được biết Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Công an, đã có mặt để chỉ đạo cuộc diễn tập.

Báo Thanh Hóa tường thuật các lực lượng tham gia buổi diễn tập đã “xử lý tình huống giả định về một vụ gây rối, gây bạo loạn tại điểm bầu cử”.

Xe thiết giáp

Các bức ảnh cho thấy người dân đứng ngoài quan sát cảnh các nhân viên cứu hỏa đang tìm cách dập lửa, trong khi cảnh sát cơ động dàn hàng để thực hiện chống bạo loạn.

Lực lượng xe thiết giáp của quân đội cũng được điều tới tham gia diễn tập.

Các lực lượng tham gia cũng tập dượt việc giải cứu con tin trong trường hợp xảy ra bắt cóc.

Tại cuộc diễn tập, công an tỉnh Thanh Hóa đã huy động các phương tiện, trang thiết bị chuyên dụng hiện đại nhất.

Đây có lẽ là cuộc diễn tập chống khủng bố đầu tiên được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, nơi hiện đang phải đối diện với tình trạng mất mùa khiến hàng trăm nghìn người dân lâm vào cảnh thiếu đói.

Thông thường, trước khi có các sự kiện lớn và quan trọng như các hội nghị quốc tế, cơ quan chức năng của Việt Nam lại tổ chức diễn tập chống khủng bố, đề phòng trường hợp xấu nhất có thể xảy ra.

Tháng 11 năm ngoái, một cuộc diễn tập chống khủng bố quy mô quốc gia được thực hiện trên sông Hồng với sự kết hợp của hai ngành công an và quân đội.

Tin BBC

“Diễn tập ‘chống bạo loạn’ ở Thanh Hóa trong lúc dân đói
16 tháng 5, 2011

Tỉnh Thanh Hóa, hôm Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011, đã tổ chức một cuộc “diễn tập phương án xử lý tình huống gây rối, gây bạo loạn, đánh bắt khủng bố, giải cứu con tin” qui mô.

Cuộc diễn tập có cả xe thiết giáp của quân đội

Cuộc diễn tập quy mô này được cho là lần đầu tiên diễn ra tại tỉnh Thanh Hóa, nơi mà gần 1/4 triệu người ở các huyện dọc theo miền biển đến miền núi, hiện đang phải đối mặt với cái đói vì mùa màng thất bát và người nông dân mất đất.

Sự đói khổ quá sức chịu đựng vì sưu cao thuế nặng hoặc sự đàn áp tôn giáo dễ dẫn tới bạo động  có thể là nguyên nhân thúc đẩy Hà Nội luôn luôn nghĩ tới các bài bản diễn tập quận sự để đối phó với quần chúng.

Hồi cuối tháng 2, 2011, một cuộc diễn tập tương tự cũng được tổ chức tại thành phố Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận với 500 sĩ quan và binh lính tham gia.

Trước đó, ngày 10 tháng 11, 2010, một cuộc diễn tập qui mô có cả tàu, máy bay trực thăng với hơn một ngàn cán bộ nhiều ngành khác nhau tập luyện “chống khủng bố, giải cứu con tin” ngay ở sông Hồng


Posted in Đảng CSVN | Leave a Comment »

►VietNam War: Tóm tắt cuộc chiến…Số người VN đã chết trong chiến tranh VN cao Khủng Khiếp!

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Lưu lại đây để rồi có dịp sẽ dịch sau.

1. Mặc dù Nhật chịu trách nhiệm chính, nhưng ông Hồ chí Minh và đảng Cộng Sản VN khi chiếm miền Bắc đã thay đổi  kinh tế và chính trị của miền nầy và  gây ra nạn đói ở miền Bắc vào năm 1945, làm cho 400.000- 1.000.000 người VN bị chết đói.

Trong khi ở miền Nam đã không có ai bị chết đói. Ông Hồ chí Minh luôn cải rằng đảng CSVN không chịu trách nhiệm về nạn đói, và nói rằng cần phát động cuộc chiến tranh toàn diện để đi tới thắng lợi. Ông đã từ  chối Pháp và miền Nam gởi gạo ra Bắc để giúp đỡ.

http://www.conservapedia.com/Vietnam_War#The_North_Vietnamese_Terror

Vietnam War

The Vietnam War, also known as the Second Indochina War or The American War (in Vietnam), was fought principally between North Vietnamese Communist troops and South Vietnamese forces supported by American soldiers. The war was basically a fight over whether South Vietnam should have a Communist government, part of the ongoing Cold War between the US and the Soviets.

The war was in progress more or less continuously since the surrender of Japan, which occupied Vietnam during World War II, in 1945. Ho Chi Minh, an operative of the Comintern (the Soviet organization charged with promoting Marxist-Leninist revolution around the world),[1] led the movement for a unified, Communist Vietnam from 1941 on.

He served as the dictator of North Vietnam until the late fifties, though he remained the figurehead president. He remained a popular icon of the New Left around the world, despite heading a totalitarian dictatorship and supporting the slaughter of millions of people.

Prelude

During World War II the Japanese occupied Vietnam and disarmed the French. With the vacuum caused by the defeat of Japan, an opportunity arose for the Communists to declare the “independence” of Vietnam in 1945. No nation recognized the new regime and the French returned and swept it away, with remnants hiding in the mountains.

The United States backed France and its puppet emperor Bao Dai. Ho Chi Minh began a campaign to fight a weakened France and seize independence through force. France’s economy was shattered by the war and so by 1953, 80% of the money and material used by Bao Dai’s troops came from the United States.

Nonetheless, in early 1954 French were defeated at the Battle of Dien Bien Phu over many months when the fortress was overrun by a well-forged Vietnamese fighting force. More than 500,000 Vietnamese died in this conflict with France (the First Indochina War).

The French sued for peace at talks in Geneva, the upshot of which was the creation of four independent countries in their former colony of Indochina: Cambodia, Laos, North Vietnam and South Vietnam.

North Vietnam was run by Ho Chi Minh as a totalitarian Communist dictatorship, while the South was run based on the Western model. Neither side respected the legitimacy of the other; as a consequence, the division was widely regarded as temporary. A British diplomat suggested that free elections be held in the North and South to determine the future of a unified Vietnam.

Contrary to commonly repeated myths; it was North Vietnam, not South Vietnam, that was the most extreme and steadfast in its efforts to prevent any such election from taking place.

Nevertheless, it is true that South Vietnam consistently opposed all such arguments, claiming that the majority of South Vietnamese wanted independence, but that those North Vietnamese who wanted conquest should not be allowed to veto their just demands.

The United States was willing to accept free elections and a reunified Vietnam, Communist-led and hostile to China. Indeed, US officials favored such a default outcome; they listed it in secret communications never intended for public consumption (but released in the Pentagon Papers) under the heading “advantages.”[2] The US gradually intervened, due to the insistence of the North on a campaign of military aggression, as part of its wider Cold War strategy of containment.

Unwilling to accept or even consider free elections, and with the South’s economy growing rapidly and its prospects looking brighter by the day, Ho Chi Minh was up against a wall. A unity government was established in Laos, and the US was firmly committed to defending South Vietnam from conquest.

Huge numbers of North Vietnamese desperately fled to the South for freedom. Cambodia was neutral and united behind the rule of Sihanouk. Despite repeated diplomatic efforts by the US to bring about a peaceful regional settlement; Hanoi became increasingly convinced that the revolution could be spread throughout Indochina only by force.

The North Vietnamese Terror

During the twenties and thirties, Communist forces waged an insurrection of mass murder and terrorism in an effort to seize power in Vietnam. The communist Viet Minh collaborated with French colonial forces to massacre supporters of the Vietnamese nationalist movements in the forties. When the Viet Minh went to war against France they continued their campaign to wipe out the nationalist groups. (America refused to back the French against the communists until 1950.)[3]

The Japanese invasion of French Indochina proved to be a catalyst for Vietnamese independence, as it united the Vietnamese people behind the Communist resistance to imperial domination. Both Japan and France controlled different parts of Indochina for a time, and the Japanese supported the 1945 August Revolution that led to a Communist take-over in North Vietnam. The Communists killed untold thousands throughout this struggle, and their victory led to a brief incursion into Vietnam by Nationalist China.

Ho Chi Minh arrived in Vietnam in 1941, and had seized control of all of North Vietnam by 1945. North Vietnam received massive supplies of arms from Josef Stalin and Mao Tse-Tung, enabling it to escalate its conflict with France into a full-blown, and bloody, war for independence. The Communists enacted drastic reforms that brought about a total collapse of whatever remained of the North Vietnamese economy; as a result, harvests declined by 20% in just one year. North Vietnam’s Communist rulers rejected food aid from South Vietnam and France in order to escalate their guerilla war; they exported food despite the obvious failure of their economic policies; and they indiscriminately massacred the top producers in society. Massive bombing by all sides during World War Two had destroyed much of Vietnam’s infrastructure; a drought in 1944 made conditions even more deadly and desperate. Although Japan bears primary responsibility, the Communist take-over turned this volatile situation into an outright catastrophe, as political and economic changes in the North caused the mass death by starvation of 400,000 to 1,000,000 North Vietnamese.[4] South Vietnam was virtually untouched by the famine. (This is even more remarkable when one considers the massive aid given to North Vietnam by the USSR and China, all of which was diverted for war). Inflating the scale of the famine for propaganda purposes, and heaping all of the blame on France; Ho Chi Minh absolved the Communists of any responsibility for the tragedy. He argued that war against France was the only way for the country to make a full recovery.[5]

Most of the food aid given to Imperial Japan or Vichy France came from their colony, South Vietnam; the Vietnamese Communists deliberately diverted American, Soviet, and Chinese aid sufficient to avert a famine towards their guerilla war against France and South Vietnam while forcing farmers to give up their harvets and exporting rice. To the extent the Communist North supplied food to the Japanese, it was largely part of a deliberate strategy: The Communists alternatively played the French, Vietnamese Nationalists, and Japanese against each other during their consolidation of power. The August 1945 formal Communist take-over (they had already controlled most of the country for years) of North Vietnam was, in fact, orchestrated in large measure by Japan: On August 14, 1945, the Japanese surrendered to the Allies. In Indochina, the Japanese officials took advantage of the situation to cause additional problems for the Allies. Violating their surrender agreements, they helped Vietnamese nationalist groups, including the Việt Minh, take over public buildings in various cities. On August 25, 1945, Bảo Ðại was forced to abdicate in favor of Hồ and the Việt Minh. Although Japan must share responsibility for the death toll, it would be hard to argue that the Communists were not responsible for at least part of it.

Further, Ho’s collaboration with Japanese war criminals continued long after World War Two. Hundreds of Japanese soldiers trained or commanded Vietnamese forces during the war with France.[6] According to Bernard Fall, both France and the Việt Minh were ready to come to terms by late 1947, but peace talks broke down due to Ho’s refusal to hand over Japanese military officers for trial in France. Ho praised them as friends and comrades whose loyalty could not be disabused, and then stormed out. Hundreds of thousands died as a result.[7]

The survival rate for French soldiers in Communist POW camps was comparable to the rates of survival in the Dachau concentration camp during the Holocaust.

From 1953 to 1956, the North Vietnamese Communists embarked on a ruthless “land reform” in which landowners, dissidents, and French collaborators were slaughtered en masse in a “genocide triggered by class discrimination.”[8] Early estimates as to the number killed varied from 50,000 to 1,000,000.[9] Although far-left activists such as Gareth Porter, Edwin Moise, Marilyn Young, and Edward Herman have for years denied that the bloodbath ever took place (by relying entirely on official North Vietnamese Communist propaganda, which Moise claimed was “extremely informative” and showed “a fairly high level of honesty”),[10] there is now a substantial literature available documenting the incredible scale of the mass killings.[11][12][13]

The North Vietnamese bloodbath began innocuously enough with an innocently named “rent reduction” campaign ostensibly designed to aid the poor. The slaughter escalated in 1954, with the beginning of “land reform” proper, which saw an award of more than 800,000 hectares of land and rice paddies, plus 100,000 cows and water buffalo, redistributed to 2 million farmers.[14] The killing soon spread in a frenzy across the entire country in an outburst of societal madness.[15] Neighbors turned on neighbors in a paranoid attempt to satisfy government quotas specified as to the number that had to be killed per village. Anyone accused of being “bourgeois” would be executed immediately after a Stalinist show trial; children were forced to witness and applaud the slow torturing of landowners.[16] Rebellions were crushed through mass deportations; scores of thousands were sent to camps; streets were filled with bodies. The entire population joined in, convinced that killing was necessary to “purify” society. Anyone deemed “too wealthy” was socially ostracized to such an extent that they could not acquire basic food or shelter, and thus starved to death along with their entire families.[17]

Domestic repression escalated dramatically, and the only free paper in North Vietnam was shut down after writing: ‘If somebody tells me to keep my mouth shut in case the Americans and Diem should make capital out of what I say, I reply: “Diem has a very good case when he refuses to hold joint consultations with us on the ground that there is no freedom in North Vietnam.”‘[18]

Official Vietnamese government records smuggled out of the country and authenticated document some 172,000 executions of victims named as landowners excluding summary executions of Communist cadre,[19] which are estimated at 40-60,000.[20] This is in line with democide analyst R.J. Rummel’s estimate of 152,000 executed.[21] The lowest widely accepted estimate of executions is a conservative figure of 56,000 from historian Bernard Fall.

Lam Thanh Liem, a major authority on land issues in Vietnam, estimates the number of executions as being potentially in the hundreds of thousands:

In South Vietnam, Nguyen Van Canh, a former Deputy Minister of the Ministry of Information and Amnesty (1969-70), sought an answer to this problem by interviewing returnees from Chieu Hoi programs and interrogating POWs, including communist cadres, soldiers, and officers from the North. These interviews and interrogations produced a great deal of valuable and reliable information. Ultimately Nguyen Van Canh was able to generate an estimate of 200,000 victims, which he divided into 2 main categories:

— 100,000 accused and murdered during the period before 1955, excluding another 40,000 victims who were sent to various concentration camps in the mountain areas. Here most of them died of malaria or other epidemic diseases. Those who were able to survive and were released became crippled mentally as well as physically. They have led a dog’s life ever since.

— 100,000 killed during phase 5, the last phase of the reform campaign, known as the Dien Bien Phu General Offensive, which ended in summer 1956. Thousands of others, most of them rich farmers and land owners, were sent to concentration camps for “reeducation.”

Of more than 200,000 victims executed, 40,000 (20%) were communist cadres, according to Nguyen Van Canh.

During work visits to the Mekong Delta (assigned by Ho Chi Minh City’s agriculture department), we had opportunities to talk to a number of Northern cadres working in scientific and technological areas as part of the “agricultural collectivization policy” in 1978-9. The discussions eventually touched on the land reform campaign in the North. Two of the cadres admitted that they were participants in the campaign in 1955-6.

— One estimated that 120,000 victims were falsely accused and executed. This number included 40,000 communist cadres.

— The other gave a larger figure: 150,000-160,000 victims killed, among them 60,000 communist cadres.

In general, the conclusions and estimates are similar; especially the number of communist cadres, which ranged from 20-30% of the total number of victims. Though the numbers of victims falsely accused may be different, the acceptable figure is 120,000-200,000 (including cadres and Party members).[22]

Virtually all contemporary scholars accept a figure of at least 150,000 executions, an estimate backed up by the some 150,000 houses and huts allocated to new occupants during the “reform”.[23] But this does not convey the full scale of the slaughter in this 4-year period alone. Rummel estimates a total of 250,000 dead; counting summary executions of party cadre, killings of dissidents and political prisoners, undocumented massacres, and forced starvation/suicides,[24] a figure roughly identical to that extrapolated from official Vietnamese government records.[25]

Beyond this quarter of a million, however, many more were killed in democide by the government of North Vietnam. By conservative estimates, 10-15,000 were killed by the state through its suppression of various uprisings.[26] At least 60,000 were killed in camps from 1945-75,[27] and as many as 40,000 died of epidemics caused by state policy during deportations.[28] There is only one estimate of the democide associated with the “rent reduction” campaign, and for it the source (Hoang Van Chi, a Vietnamese nationalist with firsthand experience) cites Professor Gerard Tongas, who was in Hanoi during these years (he left in 1959). The estimate suggests that approximately 100,000 were killed in the early fifties during this prelude to the land reform.[29] However, based on Nguyen Van Canh’s research, as well as statements from Tongas and Rummel; it is not clear whether or not this number is included in the estimates for the total number of executions during the “land reform” period.

Throughout this entire period, various political struggles/revolts were accompanied by government retaliation. Although estimates are less clear for the number killed during these conflicts, Chi cites a figure of 3-5 killed in every village in the country in the 1953 “political struggle” campaign alone,[30][31] which adds up to at least 45-75,000 dead. Other independent estimates suggested 70,000 were killed in 1956 through political repression and massacres,[32] and from this scholars have attempted to determine a rough overall total. Though most of these deaths do not cover recorded executions of landowners and none slave labor, camps, starvation, or suicides; assuming a sensible overlap between these estimates and other estimates of dead for the period and considering the estimated total dead from all causes during this time; Rummel estimates some 70-150,000 additional deaths.[33] North Vietnam also killed tens of thousands in anti-Nationalist terror during the forties[34], and committed democide in the war with France.

Rummel estimates that Hanoi killed 195,000-865,000 North Vietnamese from 1953-57,[35] with a “most-likely” figure of 365,000 dead. One way of assessing this figure is by comparing it to the total number of executions documented in official Vietnamese government records smuggled out the country by defectors and authenticated: 172,000. It would be expected that the total number of deaths from all causes throughout this whole period would be at least twice this sum.

A US intelligence report estimated 500,000 were killed in North Vietnam in the fifties.[36]

Up to 200,000 were executed in purges from 1957 on (Rummel estimates 50,000[37]) and at least 50,000 more were killed through other means.[38]

Radio Free Asia reported that unofficial estimates of those killed by Ho Chi Minh’s Vietnam Labor Party, which later become the Vietnamese Communist Party, range from 200,000 to 900,000 for its entire reign.[39] Taking every available estimate for deaths by cause under North Vietnam and averaging them out; Rummel arrived at a low of 242,000 and a high of 922,000 killed from 1945 to 1957.[40]

President Nixon claimed that 500,000 were massacred and 500,000 killed in concentration camps during the “land reform” period alone; but there are no independent estimates of camp deaths that are anywhere near that high a total.[41] However, if one assumes that the lethality of these camps can be determined by comparison to those established in South Vietnam after 1975–where 16.5% of 1,000,000 prisoners died–then 240,000 North Vietnamese were killed in camps from 1945 to 1975 if the North Vietnamese camps were slightly less than half as lethal.[42] If one assumes a more likely and conservative figure of 5% dead annually (in line with Rummel’s mid-estimate); this still adds up, over 30 years, to some 150,000 dead in concentration camps. This number can further be checked by comparison to the range: at least 2% of prisoners died per year, or 60,000 in three decades; the average between this and the high of 240,000 is exactly 150,000.

In 1959, Hanoi’s politburo received a series of reports indicating that even though the North had been directing a phase one guerrilla insurgency in the South for two years, the South was socially and economically out-pacing the North. “By Tet of 1959,” William Colby writes in his book, Lost Victory, “it was plain that a nationalist and non-Communist Vietnam was firmly established. It was also becoming apparent that its future was, if anything, more promising than the gray and regimented society in the North.”[43]

In response, the North decided to rapidly escalate the campaign to conquer South Vietnam, Laos, and Cambodia using the Ho Chi Minh trail. To “hide” the fact that “there had been an invasion from the North,” as one North Vietnamese commander openly admitted, seemingly indigenous forces were deployed in the initial phases of the conflict. Originally part of the Vietminh and honorary branches of the North Vietnamese army; groups of Cambodian (the Khmer Rouge), Laotian (the Pathet Lao), and South Vietnamese (the Vietcong) Communists were dispatched by the North to overthrow the governments of their respective countries. Thousands of North Vietnamese troops overtly aided them by providing arms and training, and by invading and occupying large chunks of Cambodia and Laos to assist them. By 1961 northern Communists were assassinating one hundred southern hamlet, village, and/or district officials each month. By 1962 that figure had grown to one thousand per month.[44]

The atrocities escalated rapidly with no end in sight. By 1965, the guerilla war was largely over, and the army of North Vietnam was using conventional warfare to try and overrun Cambodia and South Vietnam. The US began sending military advisors to South Vietnam in 1950. By 1965, it reluctantly decided to commit combat troops to prevent a Communist takeover.

The Viet Cong massacres were described as follows:

The village chief and his wife were distraught. One of their children, a seven-year-old boy, had been missing for four days. They were terrified, they explained to Marine Lt. Gen. Lewis W. Walt, because they believed he had been captured by the Vietcong. Suddenly, the boy came out of the jungle and ran across the rice paddies toward the village. He was crying. His mother ran to him and swept him up in her arms. Both of his hands had been cut off, and there was a sign around his neck, a message to his father: if he or any one else in the village dared go to the polls during the upcoming elections, something worse would happen to the rest of his children. The VC delivered a similar warning to the residents of a hamlet not far from Danang. All were herded before the home of their chief. While they and the chief’s pregnant wife and four children were forced to look on, the chief’s tongue was cut out. Then his genital organs were sliced off and sewn inside his bloody mouth. As he died, the VC went to work on his wife, slashing open her womb. Then, the nine-year-old son: a bamboo lance was rammed through one ear and out the other. Two more of the chief’s children were murdered the same way. The VC did not harm the five-year-old daughter — not physically: they simply left her crying, holding her dead mother’s hand. General Walt tells of his arrival at a district headquarters the day after it had been overrun by VC and North Vietnamese army troops. Those South Vietnamese soldiers not killed in the battle had been tied up and shot through their mouths or the backs of their heads. Then their wives and children, including a number of two- and three-year-olds, had been brought into the street, disrobed, tortured and finally executed: their throats were cut; they were shot, beheaded, disemboweled. The mutilated bodies were draped on fences and hung with signs telling the rest of the community that if they continued to support the Saigon government and allied forces, they could look forward to the same fate. These atrocities are not isolated cases; they are typical. For this is the enemy’s way of warfare, clearly expressed in his combat policy in Vietnam. While the naive and anti-American throughout the world, cued by communist propaganda; have trumpeted against American “immorality” in the Vietnam war — aerial bombing, the use of napalm, casualties caused by American combat action — daily and nightly for years, the communists have systematically authored history’s grisliest catalogue of barbarism. By the end of 1967, they had committed at least 100,000 acts of terror against the South Vietnamese people. The record is an endless litany of tortures, mutilations and murders that would have been instructive even to such as Adolf Hitler.

In 1960, some 1,500 South Vietnamese civilians were killed and 700 abducted. By early 1965, the communists’ Radio Hanoi and Radio Liberation were able to boast that the VC had destroyed 7,559 South Vietnamese hamlets. By the end of 1967, 15,138 South Vietnamese civilians had been killed, 45,929 kidnapped. Few of the kidnapped were ever seen again.[45]

The War

In 1958, North Vietnam launched an invasion of Laos.[46]

In 1959, by its own admission, North Vietnam decided on war in South Vietnam. North Vietnam created the Viet Cong and sent 20,000 men to attack the South. In 1961, North Vietnam used 30,000 troops to build invasion routes via Laos and Cambodia. North Vietnam later admitted that it “played a decisive role” in bringing to power the Pathet Lao in Laos and the Khmer Rouge in Cambodia.[47]

The Kennedy administration, which had repeatedly intervened to halt right-wing coups, acquiesced in 1963 to the overthrow of South Vietnam’s Diem by a coalition of generals. President Nixon would later characterize this decision as a catastrophic betrayal of an ally that contributed to the ultimate disintegration of South Vietnam. The casus beli for the United States intervention was an alleged attack on a US ship by North Vietnam, the Gulf of Tonkin Incident. The US responded with a massive bombing campaign called Operation Rolling Thunder. Although a swift victory over North Vietnam would have taken a matter of months, the risk of Chinese intervention was considered too great to accept. Thus, Vietnam was fought to avoid “another Korea”.

President Johnson, a tormented but deeply sincere and good man, could not bear the burden of the war. His incoherent war policy, combined with the lies and deceptions he employed to sell it, resulted in a loss of public faith in his honesty. He began to doubt himself, while his wildly incompetent administration, exemplified by Robert McNamara, began to have doubts about the morality of US policy. Many of them would join the anti-war movement.

Richard Nixon was subsequently elected President on a pledge to end the war by prosecuting it. His shrewd diplomacy, backed with the immense intellect of his National Security Advisor and Secretary of State, Henry Kissinger, hoped to negotiate an end to the war through a show of force.

Although Sihanouk designated all insurgents “red Khmers,” or “Khmer Rouge,” in reality there were two main indigenous insurgent groups. One was the Khmer Viet Minh, modeled on the Pathet Lao, that Hanoi held total political authority over. The other was called the Khmer Krahom, a fanatical Maoist cult that would soon be led by one Saloth Sar, who would later become infamous for his genocidal brutality under his assumed name, Pol Pot. Both traced their roots back to a common cadre trained by Ho Chi Minh in China from 1925-30. At Geneva, Hanoi had attempted to secure a KVM “zone” in northeastern Cambodia that would have been modeled on the Pathet Lao zone they secured in Laos. This amounted to an attempt to divide Cambodia into Communist and non-Communist halves, like Vietnam.

By 1968, the KK had 14-15,000 fighters, while the KVM had 12,000. North Vietnam had invaded and occupied large chunks of Cambodia. Nearly half of the country was faced with North Vietnamese or other Communist occupation. The Viet Cong was active in the country with about 30,000 troops, and worked with the KVM to launch invasions of Cambodia from North Vietnam. The North Vietnamese had 60,000 troops on Cambodian soil. This would be the equivalent in the United States of nearly 4 million armed and organized troops from Mexico and Canada overrunning most of the country. These figures are from 10 months prior to the start of any US bombing, which began in late 1968 under President Johnson.

By 1969, the North had accelerated its long-term plan, dubbed “Campaign X,” to conquer Cambodia. By 1970, it had the supply lines, troops, and logistical support necessary to force the collapse of Cambodia. Sihanouk had long done little to disguise his support for the North Vietnamese Communists, but now he grew afraid. “Hanoi,” he said, “could easily force the collapse of both Cambodia and what is left of Laos if it was not faced with American opposition.” Therefore, he encouraged the Americans to bomb KK, KVM, VC, and North Vietnamese “sanctuaries” in Cambodia so as to send Hanoi a message that it had better back down immediately. Demographic evidence indicates that the US bombings of Cambodia, especially the Menu bombings, ultimately killed about 40,000 Cambodian combatants and civilians.[48] Some estimates go as high as 100,000 killed by the bombing.[49] Many leftists opposed to the war considered the bombing to be a war crime. The Khmer Rouge claimed that 600-800,000 died in the war,[50] which is about three times the real figure,[51] and far-left activists such as Noam Chomsky have not only embraced these numbers but also attributed all of the deaths to American bombing and thus implied that the Khmer Rouge underestimated the full toll from the war[52]–despite the demographic impossibility of their assertions.

In 1970, North Vietnamese troops invaded and attempted to overrun the entire country of Cambodia at the request of the KVM, who had surrounded the capital and hoped one small push would be enough to overthrow the weak Lon Nol regime. Nixon responded forcefully with an incursion and bombing campaign to force the North Vietnamese out. Justifying his actions, he stated:

“Cambodia, a small country of 7 million [actually 8 million] people, has been a neutral nation since the Geneva agreement of 1954 – an agreement, incidentally, which was signed by the Government of North Vietnam.

American policy since then has been to scrupulously respect the neutrality of the Cambodian people. We have maintained a skeleton diplomatic mission of fewer than 15 in Cambodia’s capital, and that only since last August. For the previous 4 years, from 1965 to 1969, we did not have any diplomatic mission whatever in Cambodia. And for the past 5 years, we have provided no military assistance whatever and no economic assistance to Cambodia.

North Vietnam, however, has not respected that neutrality.

For the past 5 years – as indicated on this map that you see here – North Vietnam has occupied military sanctuaries all along the Cambodian frontier with South Vietnam. Some of these extend up to 20 miles into Cambodia. The sanctuaries are in red and, as you note, they are on both sides of the border. They are used for hit and run attacks on American and South Vietnamese forces in South Vietnam.

These Communist occupied territories contain major base camps, training sites, logistics facilities, weapons and ammunition factories, airstrips, and prisoner-of-war compounds.

For 5 years, neither the United States nor South Vietnam has moved against these enemy sanctuaries because we did not wish to violate the territory of a neutral nation. Even after the Vietnamese Communists began to expand these sanctuaries 4 weeks ago, we counseled patience to our South Vietnamese allies and imposed restraints on our own commanders.

In contrast to our policy, the enemy in the past 2 weeks has stepped up his guerrilla actions and he is concentrating his main forces in these sanctuaries that you see on this map where they are building up to launch massive attacks on our forces and those of South Vietnam.

North Vietnam in the last 2 weeks has stripped away all pretense of respecting the sovereignty or the neutrality of Cambodia. Thousands of their soldiers are invading the country from the sanctuaries; they are encircling the capital of Phnom Penh. Coming from these sanctuaries, as you see here, they have moved into Cambodia and are encircling the capital.”[53]

Although North Vietnam would invade and annex South Vietnam and invade, occupy, force the collapse of and establish total political control over Laos; it would ultimately fail to meet this objective in Cambodia. Though it supported, or rather offered support to, the KK; its goal of directly establishing political control over Cambodia would not be reached until 1979. Some commentators, like William Shawcross, have controversially argued that the US bombing, by forcing out the North Vietnamese, helped to create the conditions that allowed Pol Pot to come to power. Shawcross and others have also claimed that the US bombing was the main propaganda tool used to recruit members for the KK, and that it helped radicalize the Cambodian populace and swell the ranks of the Communists.

Documents uncovered from the Soviet archives after 1991 reveal that the North Vietnamese invasion of Cambodia in 1970 was launched at the explicit request of the Khmer Rouge and negotiated by Pol Pot’s then second in command, Nuon Chea.[54]

When Nixon came into office, there were more than 500,000 U.S. troops in Vietnam, and their number was increasing. Hanoi insisted that to obtain a cease-fire, the U.S. had to meet two preconditions: First, the U.S. had to overthrow the South Vietnamese government, disband its police and army and replace it with a communist-dominated government. Second, it had to establish an unconditional timetable for the withdrawal of its forces, to be carried out regardless of subsequent negotiations or how long they might last. The presence of North Vietnamese troops in Laos and Cambodia was declared not an appropriate subject for negotiations. Between 1969 and 1972, he withdrew 515,000 American troops, ended American ground combat in 1971 and reduced American casualties by nearly 90%. According to Kissinger, “a breakthrough occurred in 1972 because the administration’s strategic design finally came together in its retaliation for the North Vietnamese spring offensive. When the U.S. mined North Vietnam’s harbors, Hanoi found itself isolated because, as a result of the opening to China in 1971 and the summit in 1972, Beijing and the Soviet Union stood aside. Hanoi’s offensive was defeated on the ground entirely by South Vietnamese forces assisted by U.S. air power. Faced with a military setback and diplomatic isolation, Le Duc Tho, Hanoi’s principal negotiator, abandoned Hanoi’s 1969 terms in October 1972. He accepted conditions publicly put forward by Nixon in January 1972 — and decried as unachievable in the U.S. domestic debate. The terms of the resulting Paris peace agreement were an unconditional cease-fire and release of prisoners; continuation of the existing South Vietnamese government; continued U.S. economic and military help for it; no further infiltration of North Vietnamese forces; withdrawal of the remaining U.S. forces; and withdrawal of North Vietnamese forces from Laos and Cambodia.”[55]

Nixon brought about the first peace agreements between Israel and Egypt, and dramatically lessened the scale of the bloodshed in Indochina. For a time, it seemed peace might be within our reach. Nixon was re-elected by a landslide in 1972.

Meanwhile, in 1973, the Khmer Krahom fell under the control of its most fanatical members, led by Pol Pot and Ieng Sary. They were beyond the control of Hanoi and sought to completely annihilate Cambodian society and restart from scratch. When they besieged the capital again, the US again launched a bombing raid against Communist forces. The US Seventh Air Force argued that the bombing prevented the fall of Phnom Penh in 1973 by killing 16,000 of 25,500 Khmer Rouge fighters besieging the city.

The communist leaders had expected that the ceasefire terms would favor their side. But Saigon, bolstered by a surge of U.S. aid received just before the ceasefire went into effect, began to roll back the Vietcong. The communists responded with a new strategy hammered out in a series of meetings in Hanoi in March 1973, according to the memoirs of Tran Van Tra.

As the Vietcong’s top commander, Trà participated in several of these meetings. With U.S. bombings suspended, work on the Ho Chi Minh Trail and other logistical structures could proceed unimpeded. Logistics would be upgraded until the North was in a position to launch a massive invasion of the South, projected for the 1975–1976 dry season. Trà calculated that this date would be Hanoi’s last opportunity to strike before Saigon’s army could be fully trained.

In 1974, Congress voted not to enforce the commitments agreed to in the Paris Peace Accords. Air support for Cambodia, South Vietnam, and Laos was cut off. The military aid promised was scaled back or never materialized, and the North was allowed to resume support for the Khmer Rouge. “After Nixon stepped down over Watergate,” said one Communist commander, “we knew we would win.”[56] Without the logistical support provided by the Ho Chi Minh trail, the North would not have been able to launch an invasion of South Vietnam by 1975, which it predicted would be its “last chance” before the South was self-sufficiently able to defend itself.[57] The US canceled the bombing of Communist positions on the trail. In Cambodia, last minute efforts on the part of the US to arrange for a peace settlement involving Sihanouk ended in failure. When the US Congress vetoed Ford‘s call for a resumption of air support in Cambodia, panic and a sense of doom filled the capital, which was mercilessly shelled for more than a year by the Communists. President Ford openly predicted a “bloodbath” and stated that the Congress’s decision to abandon Cambodia to the Khmer Rouge, in particular, would lead to “an unbelievable horror story”.[58] The US frantically abandoned Saigon, and the Pathet Lao advanced throughout Laos.

Aftermath

Professor R.J. Rummel calculates that Communist Vietnam directly killed 1.7 million people from 1945 to 1987 in democide alone (not counting war casualties),[59] from a total range of 700,000 to 3.7 million murdered.[60] Some 400,000 to 2.5 million of these were killed after 1975. These figures include Laotians and Cambodians killed by Hanoi.

Phnom Penh, the capital of Cambodia, fell to followers of the Communist Party of Kampuchea, commonly known as the Khmer Rouge, on April 17, 1975. Over the next four years, the Khmer Rouge enacted a genocidal policy that would kill over one-fourth of all Cambodians, or more than 2 million people. Investigators have uncovered and examined the remains of 1,386,734 Cambodians found in mass graves near Khmer Rouge execution centers whose cause of death has been determined to have been virtually exclusively execution by the former Khmer Rouge regime. [61] Because only about one-half to a third of those who died during the Khmer Rouge years were executed (the rest having died from other causes like state-created famine, the deliberate withholding of basic necessities by the state, the refusal by the state to allow foreign aid, the abolishing of medicine and hospitals by the state, systematic overwork and slave labor by the state, brutal mistreatment by the state, and normal mortality), the Documentation Center of Cambodia estimates that the former regime killed or otherwise caused the unnecessary deaths of, between 2.0 and 2.5 million Cambodians, with a most likely estimate of 2.2 million.[62] This is because 2.5 to 3 million Cambodians died from 75-79, and 500,000 deaths over this time would have represented normal mortality–subtracting these “expected” deaths from the total, we derive the total number of “unexpected,” “excess” deaths attributable to the regime. A UN investigation reported 2-3 million dead, while UNICEF estimated 3 million had been killed.[63] Even the Khmer Rouge acknowledged that 2 million had been killed—though they attributed those deaths to a subsequent Vietnamese invasion.[64] By late 1979, UN and Red Cross officials were warning that another 2.25 million Cambodians faced death by starvation due to “the near destruction of Cambodian society under the regime of ousted Prime Minister Pol Pot,”[65][66][67] who were saved by American and international aid.

The victorious Communists perpetrated a huge bloodbath in South Vietnam, murdering hundreds of thousands of South Vietnamese men, women, and children in cold blood. The victorious Communist troops entering South Vietnam massacred around 100,000 civilians who attempted to flee the “Highlands” offensive.[68] The most exact study documented 70,000 executions in the first ninety days of the fall of Saigon;[69] while a total of 100-250,000 South Vietnamese were executed by the Communists altogether (the mid-value, 150,000, is exactly what you would expect–double the number killed in the first-ninety-day reprisals).[70][71][72] (Jacqueline Desbarats and Karl Jackson, cited by the State Department for their figure of 65,000 executions; later concluded that this figure was absurdly low and that the real number was probably twice as large;[73] no independent sources estimate a toll lower than 100,000). One to two million were sent to concentration camps, of whom some 165,000-230,000 were never seen again;[74] another million were deported to the North, and it is estimated that 50-150,000 died in the process due to epidemics, mistreatment, starvation, and the slave labor that they were made to perform in the “New Economic Zones” to which they were sent.[75][76] Half a million Chinese citizens were forcibly deported from Vietnam. Tens of thousands more were killed through other means. Based on the total number of refugees who fled from Vietnam–more than 3 million–an absolute minimum of 200-300,000 boat people died at sea, since the lowest estimate ever put forward as to how many died was 10%.[77] The highest possible figure, based on the number who arrived to freedom, would probably be on the order of Rummel’s 500,000. A mid-value estimate would thus be on the order of 400,000 dead, in line with UN estimates,[78] but far lower than the estimates of the Vietnamese government (and US intelligence).[79] In sum, then, about 500-600,000 South Vietnamese were killed by the Communists after the US withdrawal (i.e., 200,000 in concentration camps; 150-200,000 executed; 50-150,000 killed through slave labor; 100,000 massacred trying to escape the Communist victory after the “Highlands” assault; and—based on the hundreds of thousands sent to prisons, camps, and slave labor zones through the eighties, nineties, and more recent years—undoubtedly many tens of thousands since)[80]—with the victims beheaded, eviscerated or buried alive[81]—, and another 300-500,000 were drowned. This can be checked by a comparison of how many refugees fled the slaughter—and what this implies about its scale—and how many South Vietnamese fled the war itself. These considerations give us no reason to adjust this total. Finally, some 171,500 were killed in the invasion of South Vietnam,[82] putting the total number of Vietnamese dead after 1973 at over one million.

The Pathet Lao overthrew the Royalist Government of Laos in December 1975. They established a Communist dictatorship known as the Lao People’s Democratic Republic. The Pathet Lao waged a campaign of genocide, exterminating an estimated over 100,000 Hmong tribespeople. They inflicted massacres, terror bombing, concentration camps, and mass rape.[83] The Communists killed over 184,000 people in Laos altogether.[84]

More than 3 million people fled Vietnam, Cambodia, and Laos as “boat people,” about half of whom have been resettled by the United States.

After repeated border clashes in 1978, Vietnam invaded Cambodia and ousted the Khmer Rouge, installing a puppet government headed by Khmer Rouge defector Heng Samrin. From January until July 1979, according to CIA estimates, more than 350,000 Cambodians were massacred by all sides, primarily by the Vietnamese and their allies;[85] some 250,000 were specifically identified as having died as a result of Vietnam’s deliberate continuation of the 1979 famine.[86] The toll from the entire famine over the years 1979-81 is estimated at about 500,000 dead (according to Etcheson).[87] Some 25-50,000 Vietnamese died in combat,[88] while perhaps 100,000 Cambodian combatants and civilians died in the war itself.[89][90] Tens of thousands more were killed by the Khmer Rouge, which controlled parts of the country late into 1979 and waged a guerilla war against the Vietnamese-backed government.[91] The total number of people killed by the Samrin regime in democide has never been clearly documented. Rummel estimates 230,000;[92] but this is mere guesswork. Given the doubling of famine-dead by 1981, according to Etcheson’s demographic analysis; one could extrapolate from the CIA study a very conservative estimate of 700,000 dead from 1978 until the Vietnamese withdrawal–and this in democide and famine outside of actual combat in the war (which would have killed at least 50,000 Cambodians). Assuming, then, that at least half the famine was democidal, and that 2/3 of the democide was the responsibility of Vietnam (1/3 of Samrin); we would arrive at a total of 300,000 democides by Vietnam, 150,000 by Samrin, and 250,000 dead in non-democidal famine. As noted, scores of thousands more were killed in the civil war that followed the invasion and by Khmer Rouge guerillas. Rummel believes that the full toll from this period could be in excess of one million.[93]

In response to the Soviet-backed Vietnamese invasion, China invaded Vietnam in 1979. The two countries fought a brief border war, known as the Third Indochina War, which cost over 200,000 casualties, including some 30,000 deaths.

In 1981, Pol Pot made his famous declaration denying guilt for the brutalities committed by the organization he led:

Pol Pot said that he knows that many people in the country hate him and think he’s responsible for the killings. He said that he knows many people died. When he said this he nearly broke down and cried. He said he must accept responsibility because the line was too far to the left, and because he didn’t keep proper track of what was going on. He said he was like the master in a house he didn’t know what the kids were up to, and that he trusted people too much. For example, he allowed [one person] to take care of central committee business for him, [another person] to take care of intellectuals, and [a third person] to take care of political education…. These were the people to whom he felt very close, and he trusted them completely. Then in the end … they made a mess of everything…. They would tell him things that were not true, that everything was fine, that this person or that was a traitor. In the end they were the real traitors. The major problem had been cadres formed by the Vietnamese.

Communist Vietnam’s refusal to allow international food aid into Cambodia after 1979 so as to starve out whatever remained of the Khmer Rouge resistance nearly led to the mass death of millions of people from starvation and disease.[94]

Vietnam fought three more wars after 1975 and armed Communist insurgencies with billions of dollars in an attempt to overrun Thailand and Malaysia.[95] In South Vietnam, a nightmarish police state was established based on the Stalinist model: Political parties were outlawed; all music, books, literature, movies, and other media published prior to 1975 were banned completely; rationing, malnutrition, and famine ensued; ongoing class discrimination, xenophobic ethnic cleansing, and religious persecution continue to this day.[96][97][98][99][100]

The US and other Western countries covertly armed the non-Communist forces of Son Sann and Prince Sihanouk in an attempt to force out the Vietnamese troops occupying Cambodia. These brave guerillas also engaged in extensive fighting with the Khmer Rouge.[101] (See Reagan Doctrine)

In 1988, parts of Vietnam suffered famine, with millions of people on the brink of death.[102] Hundreds of thousands died before emergency international aid relieved the suffering.

Far from bringing peace, American defeat vastly increased the scale of the bloodshed in Indochina, as 4-5 million people were slaughtered in a bloodbath far surpassing the expectations of even the most fervent supporters of the war. Although North Vietnam agreed to “peace” in 1973; no one protested its subsequent invasion of South Vietnam, let alone Vietnam’s wars with China, Laos, and Cambodia. The campuses were silent on the Holocaust in Cambodia, despite their hysterical response to the limited US incursion in 1970. The bloodbath received little media coverage at the time.

Failure of US campaign to help the South

Military, political, and social historians have ever after debated why the United States was unable to defeat the North Vietnamese.

James Q. Wilson wrote: “First, Presidents Kennedy and Johnson both wanted to avoid losing Vietnam without waging a major war in Asia.” [103]

Another factor was careerism of the officer corps. The number of officers in the US army grew disproportionately from the end of WWII, with a 1-in-15 ratio dropping to 1 in 6. Competition for promotions was handled badly by General Westmoreland, who permitted a six month tour of duty for officers. This was hardly enough time to learn how to engage the enemy successfully, and gave rise to resentment among the largely working-class enlisted men.[Citation Needed]

America at first operated on the assumption that victory by body count was possible and would eventually bring the North Vietnamese to the peace table. There were in fact peace negotiations following Operation Linebacker II in December 1972, but these succeeded mostly in giving the United States its prisoners back and time to withdraw from the fight. It was simply impossible for the North Vietnamese leadership, which had been fighting in some form for 30 years, to imagine the indefinite existence of South Vietnam apart from unification under their rule.

Cost of the War

The war exacted a huge human cost, including an estimated one to two million North and South Vietnamese,[104] 100,000 to 600,000 Cambodians[105][106] and 30-50,000 Laotians.[107] The most comprehensive and detailed demographic survey ever conducted on casualties during the war, from Population and Development Review, estimated that nearly one million Vietnamese were killed throughout the two decades of conflict.[108] R.J. Rummel originally put the total at 1.2 million Indochinese killed on all sides.[109] Rummel later revised the estimate to over 2 million in all of Indochina, including 1.7 million in North and South Vietnam.[110] Communist propaganda claimed that 3-6 million died in the war, and a small minority of radical anti-war protestors and Chomsky cultists endorsed these figures, although they are not demographically possible.

The most widely cited/accepted estimate, and the middle value of the plausible range (1-2 million Vietnamese) is 1.5 million. This figure is often used in US school textbooks. Keeping in mind that there was not a 50/50 split for casualties between Hanoi and Saigon, and that North Vietnam suffered losses far heavier than the South, we could put the casualty ratio at 60/40. This would yield a rough estimated total of 875,000 North Vietnamese soldiers and civilians killed in the war compared to 625,000 soldiers and civilians killed in South Vietnam. If, on the other hand, the more recent demographic studies of Charles Hirschman and others are correct, then the real figures were probably closer to 500,000 South Vietnamese and 700,000 North Vietnamese, and even that may be slightly too high. This estimate is substantiated by US intelligence, which estimated that 200-250,000 South Vietnamese soldiers, and a smaller number of civilians, were killed in the war.[111] Further, this includes the 171,500 South Vietnamese killed in the massive invasion of South Vietnam made possible by the American withdrawal.

US intelligence and available demographic evidence suggest that Hanoi’s official figure[112] of 3 million Vietnamese dead in the war was an exaggeration.[113] Its figures for both military and civilian deaths are about double the accepted numbers, and they further claim that 1 million soldiers died and 600,000 were wounded–even though wounded is typically three times the number of dead.[114] No other independent sources arrive at such a high number.

During the peak war years, almost a third of civilian deaths were the result of Viet Cong atrocities.[115]

Somewhere between 50,000 and 100,000 North Vietnamese civilians died in the war.[116]

Demographic analysis indicates that the commonly cited figure of 600,000 dead in the Cambodian civil war may have been invented by Pol Pot himself and is more than the twice the real number of war-related deaths.[117][118][119]

Over the course of the war, the United States suffered 46,226 battle deaths with 153,311 wounded 5,486 missing and 10,326 non-battle deaths. 3.3 million troops fought over the course of the war, with the largest number of 625,866 reached on March 27th, 1969. As of 2010, more veterans of the war have died from suicide than killed on the battlefield. [120] This shows a largely unaddressable or poorly administered health issues persist and the U.S. Government has failed in its obligation to care for traumatized Vietnam veterans. The North Vietnamese claimed to have lost 1 million men.[121] Such a casualty rate, if applied to the United States, would have meant 13 million Americans killed and 3.9 million missing in action.[122]

They were quite a group, the boys of Vietnam — boys who fought a terrible and vicious war without enough support from home, boys who were dodging bullets while we debated the efficacy of the battle. It was often our poor who fought in that war; it was the unpampered boys of the working class who picked up the rifles and went on the march. They learned not to rely on us; they learned to rely on each other. And they were special in another way: They chose to be faithful. They chose to reject the fashionable skepticism of their time. They chose to believe and answer the call of duty. They had the wild, wild courage of youth. They seized certainty from the heart of an ambivalent age; they stood for something.And we owe them something, those boys. We owe them first a promise: That just as they did not forget their missing comrades, neither, ever, will we. And there are other promises. We must always remember that peace is a fragile thing that needs constant vigilance. We owe them a promise to look at the world with a steady gaze and, perhaps, a resigned toughness, knowing that we have adversaries in the world and challenges and the only way to meet them and maintain the peace is by staying strong. President Ronald Reagan, 1986

The US bombing and invasion of Cambodia killed 40,000 combatants and civilians, while US forces in Vietnam killed over 70,000 (higher estimates go to over 100,000) Vietnamese.

The death toll from US defeat arguably surpassed that exacted by the war itself.

Controversies about the War

Max Boot wrote:

Numerous bits of conventional wisdom have accreted around the Vietnam War. It is commonly held that Ho Chi Minh was a Vietnamese nationalist above all, not a true communist, and that his victory was inevitable. That Ngo Dinh Diem was an unpopular and repressive reactionary. That the United States had no vital strategic interest in defending South Vietnam. That the ‘domino theory’ was a myth. That the U.S. was right not to invade North Vietnam or Laos for fear of triggering Chinese intervention. Mark Moyar, a young, bold, and iconoclastic historian, takes a sledge hammer to these hoary beliefs. [His book] is ‘revisionist’ in the best sense of the word.” [3]

Jeffrey Record contends that the military was relegated, as a result of its constitutional position, to the role of an accomplice in what Records states was the most strategically reckless American enterprise of the 20th century. He charge President Lyndon B. Johnson and Defense Secretary Robert S. McNamara with harshly suppressing their military advisers, with Johnson believing that his hawkish Joint Chiefs of Staff were out to destroy his Great Society by their wild-eyed schemes.[123]

Media Bias

Charges of western media bias in favor of the Communist side have often been made by critics,[124] who see such alleged bias as being crucial in turning military victories by America into a loss of the war, much by means of propaganda. Underlying the importance of such is the often quoted exchange between Colonel Harry G. Summers, Jr. and his North Vietnamese counterpart, Colonel Tu. During one of his liaison trips to Hanoi, Colonel Harry told Tu, “You know, you never beat us on the battlefield,” Colonel Tu responded, “That may be so, but it is also irrelevant.”[125]

The success of the propaganda war has seemed enigmatic to many. “If there is to be an inquiry related to the Vietnam War, it should be into the reasons why enemy propaganda was so widespread in this country, and why the enemy was able to condition the public to such an extent that the best educated segments of our population (that is, media and university elite) gave credence to the most incredible allegations.” (Final Report – Chief of Military History – U.S. Government)

British “Encounter” journalist Robert Elegant stated,

For the first time in modern history, the outcome of a war was determined not on the battlefield but on the printed page and television screens – never before Vietnam had the collective policy of the media sought, by graphic and unremitting distortion, the victory of the enemies of the correspondents own side.[126]

Some journalists have admitted that their reporting was decidedly biased, and had profound effects on history. West German correspondent Uwe Siemon-Netto confessed, “Having covered the Viet Nam war over a period of five years for West German publications, I am now haunted by the role we journalists have played over there.” In relation to not reporting the true nature of the Hanoi regime and its actions resulting from the American withdrawal, he asked,

What prompted us to make our readers believe that the Communists, once in power in all of Viet Nam, would behave benignly? What made us, first and foremost Anthony Lewis, belittle warnings by U.S. officials that a Communist victory would result in a massacre?… Are we journalists not in part responsible for the death of the tens of thousands who drowned? And are we not in part responsible for the hostile reception accorded to those who survive?…However, the media have been rather coy; they have not declared that they played a key role in the conflict. They have not proudly trumpeted Hanoi’s repeated expressions of gratitude to the mass media of the non-Communist world, although Hanoi has indeed affirmed that it could not have won “without the Western press.”[127]

CBS Evening News with Walter Cronkite regularly carried news reports from its Moscow Bureau Chief, Bernard Redmont. When peace negotiations commenced with North Vietnam in Paris, Redmont became CBS News Paris Bureau Chief. What Redmont never reported during the ten year conflict was, Redmont had been a KGB operative since the 1930s, and member of the notorious Silvermaster group. [128] Redmont was the only journalist to whom his fellow Comintern party member, and North Vietnamese chief negotiator, Mai Van Bo, granted an interview to bring the Communist point of view into American living rooms in what has been called, “the living room war.”

The most manifest example of such biased reporting is held to be the portrayal of the TET offensive, in which western media was charged with inspiring and aiding the propaganda war of the communists.

Truong Nhu Tang stated years later,

The Tet Offensive proved catastrophic to our plans. It is a major irony of the Vietnam War that our propaganda transformed this debacle into a brilliant victory. The truth was that Tet cost us half our forces. Our losses were so immense that we were unable to replace them with new recruits. (Truong Nhu Tang – Minister of Justice – Viet Cong Provisional Revolutionary Government – The New York Review, October 21, 1982)

In addition to his biased reporting, FBI documents, obtained through a Freedom of Information Act by Yahoo news, evidence that legendary CBS News anchor Walter Cronkite collaborated with anti-Vietnam War activists in the 1960s, going so far as to offer advice on how to raise the public profile of protests and even promising that CBS News would rent a helicopter to take liberal Senator Edmund Muskie to and from the site of an anti-war rally.[129]

The extreme left-wing propagandist and genocide-denier Marilyn Young’s work on Vietnam is required reading in many universities, even though she denies the North Vietnamese “land reform” bloodbath by relying entirely on official Communist press releases (as well as Moise and Porter, who in turn rely entirely on official North Vietnamese press releases). According to her, Communist Vietnam killed only 15,000(!) people at most during the “reform” and all other accounts of its atrocities were fabrications made up by the Western media (hence North Vietnamese media is a more reliable source than any in the West—a point she quite explicitly argues); even though official North Vietnamese government records smuggled out of the country document over 172,000 recorded executions of individuals named as landowners during the 1954-6 period alone[130][131] (these exclude starvation, suicides, deportations, concentration camps, slave labor, Viet Cong atrocities, suppression of uprisings, the “rent reduction” campaign, the 1953 “wave of terror,” the killing of Communist cadre and all the other decades of mass murder from the forties through the seventies).

Young ignores the testimony of former North Vietnamese government officials like Hoang Van Chi, as well as foreign witnesses like Gerard Tongas; she denies the irrefutable demographic evidence of the “disappearance” of at least 150,000 landowners from 1953-6[132]; she dismisses US intelligence; accuses Vietnamese experts like Lam Thanh Liem of lying; and mocks the survivors of Communist genocide as CIA propagandists. She endorses Noam Chomsky‘s nonsensical lies, supports the North Vietnamese invasion of South Vietnam, paints a glowing picture of the concentration camps, and reduces the role of Khmer Rouge atrocities to 500-1,000,000 by citing the obscure and unknown Pol Pot apologist Michael Vickery–despite the 1,386,734 victims of execution in the mass graves!

Young further blames America for Pol Pot’s rise, attributes all of the deaths in the entire war solely to the United States, and (on page 310) argues that the “boat people” really fled Vietnam not due to Communist repression, but rather the US trade embargo. She also simply denies the Hue Massacre.

Finally, Young claims that South Vietnam was the aggressor and that its imaginary “violation” of the 1973 cease-fire prompted the invasion from the “peace-loving” North–which is not surprising in the light of her reliance on official Communist sources, although it suggests quite a chasm between their claims and reality.[133]

Notably, all of Young’s sources on North Vietnamese crimes come from the North Vietnamese government itself, and she fails to cite a single dissident Vietnamese publication independent of that government in her entire work, while casting suspicion on the honesty of Vietnamese refugees. That she is a respected Professor indoctrinating American youth is consistent with the overall liberal propaganda that has come to characterize American higher eduction.

Paul Bogdanor notes: “The bloodbath deniers simply ignore or dismiss the evidence from dissident publications, communist defectors and foreign witnesses. They rely on official North Vietnamese publications, which they take at face value. This is what passes for scholarship on the ‘anti-imperialist’ left.”[134] And Young is but one gulag-denying professor out of many.

Young’s denial of the “land reform” bloodbath is not unique. Gareth Porter, an investigative historian and journalist on U.S. national security policy, wrote the key bloodbath-denial work, titled simply “The Myth of the Bloodbath.” Professor Robert F. Turner, drawing on his knowledge of thousands of captured Viet Cong documents, scores of interviews with Communist defectors, and extensive research on the “land reform;” carefully refuted all of Porter’s charges, demonstrating that they could not withstand any serious critical scrutiny and that some 300,000 people were, in fact, killed during the genocide.[135]

Porter is shown repeatedly contradicting himself, lying, making judgments that lack evidence and credibility, and accusing others of mistranslating a language he could barely speak. Although Porter’s work was apparently sufficient to convince Young, ignore his work’s manifest sloppiness is contrary to honest scholarship. Vietnamese scholar Hoang Van Chi (1913-1988), who worked as a revolutionary and diplomat writing history and political science, also responded to Porter, who accused him of being a CIA propagandist in a ridiculous ad hominem attack.[136] Porter would later deny the Cambodian genocide and express admiration and outspoken support for Pol Pot in the infamous Cambodia: Starvation and Revolution.

Many US reporters admired the Khmer Rouge, while prominent intellectuals openly denied the Cambodian genocide. During the genocide, human rights abuses in Chile and South Korea got more coverage than Cambodia. Some journalists, mocking the claims of a bloodbath, were so bold as to sing the following lyrics to the tune of “She Was Poor But She Was Honest”: “Oh will there be a dreadful bloodbath/ When the Khmer Rouge come to town?/ Aye, there’ll be a dreadful bloodbath/ When the Khmer Rouge come to town.”[137]

Vietnam War in Popular Culture

The war and its aftermath were the inspiration for several films, including The Green Berets, The Deer Hunter, Platoon, Hamburger Hill, and We Were Soldiers.

The TV series Tour of Duty was about a U.S. Army platoon in country around the time of the Tet Offensive. The series Magnum, P.I, Night Court, Airwolf, and Area 88 all had Vietnam veterans as main or major characters. In the military drama series JAG, the main character’s father was a US Navy pilot lost over North Vietnam, and the main character’s desire to find out what happened to him is the focus of a major story arc over the first few seasons.

Quotes

“… we had to make the people suffer, suffer until they could no longer endure it. Only then would they carry out the Party’s armed policy.” – Senior Viet Cong defector (Jeffrey Race, War Comes to Long An [University of California Press, 1972], p. 112)
“We’ve been worse than Pol Pot, but the outside world knows nothing.” – Vietnamese communist boast (Nguyen Van Canh, Vietnam Under Communism, 1975-1982 [Hoover Institution Press, 1983], p. 207)
“Ho Chi Minh may have been an evil man; Nixon may have been a great man. The Americans may have had the just cause; we may not have had the just cause. But we won and the Americans were defeated because we convinced the people that Ho Chi Minh is the great man, that Nixon is a murderer, and the Americans are the invaders… The key factor is how to control people and their opinions. Only Marxism-Leninism can do that.” – Mai Chi Tho, Vietnamese communist politician (New York Times Magazine, March 29, 1981)
“In the new Kampuchea, one million is all we need to continue the revolution. We don’t need the rest. We prefer to kill ten friends rather than keep one enemy alive.” – Khmer Rouge slogan (Pin Yathay, Stay Alive, My Son [Touchstone, 1987], p. 148)
“[If every soldier kills 25 Vietnamese], we will need only 2 million troops to crush the 50 million Vietnamese; and we still would have 6 million people left.” – Khmer Rouge broadcast (Stephen J. Morris, Why Vietnam Invaded Cambodia [Stanford University Press, 1999], p. 104)
“I saw the extreme horror, and I wondered what kind of regime this was, that had no other method than to repress and annihilate its people. It took them to ‘people’s courts’ and shot them on the scene without a fair trial and even without any evidence. The land reform campaign was a crime of genocide like that of Pol Pot.” – North Vietnamese dissident Tran Manh Hao
“Suppose that their [i.e., American] postwar estimates [that more than one million people will be killed by the Khmer Rouge in Cambodia] are correct. Since the situation at the war’s end is squarely the responsibility of the United States, so are the million or so deaths that were predicted as a direct result of that situation.” – Far-left anti-war activist and genocide-denier Noam Chomsky (After the Cataclysm (South End Press, 1979), p162)
“No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then, and it is misremembered now. Rarely have so many people been so wrong about so much. Never have the consequences of their misunderstanding been so tragic.” – President Richard Nixon in No More Vietnams
“When I was a young professor in the fifties at Harvard, where 99.9% of the people on the faculty were Democrats—I can remember only one Republican that I knew—the people in political science had faculty meetings…No one ever attacked the government for being a criminal activity. Nobody said, ‘they like to go to war; they’re blood-dripping!’ Sometime in the sixties, the idea developed that the government itself was an evil enterprise, that they lied professionally to the American people, and that the purpose of intellectuals was to negate the government rather than be constructive….Everybody working in government goes through the long hours and all the other pressures [associated with the job] because he or she would like to make a contribution to a better world.” – Secretary of State Henry Kissinger[138]
“Vietnam appears determined to expel virtually all the members of its ethnic Chinese minority.” – “Hanoi Regime Resolved to Oust Nearly All Ethnic Chinese”[139]
“Kill all the rich people. Break up their cars and apartments. Bring the revolution home, kill your parents, that’s where it’s really at.” – Left-wing “anti-war” terrorist Bill Ayers in 1969
“I’m not so much against the war as I am for a Vietnamese victory. I’m not so much for peace as for a U.S. defeat.” – Ayers
“I was very frightened when I saw the Khmer Rouge saw off the neck of a civilian with the sharp edge of sugar palm leaves. They spent three days cutting his head off. They sawed a little one morning, and then in the evening, and finally the following day in the morning and night. They made the victim stand up while they were cutting in front of hundreds of people living in the Khmer Rouge area. Then they held him up when he could stand no longer.” – Cambodian refugee from the civil war[140]
“[This Council condemns Vietnam for] its acts of aggression against Democratic Kampuchea, … acts which cause serious damage to the lives and property of the Kampuchean people.” – The UN on the “illegal,” unilateral Vietnamese invasion of Cambodia
“The atrocities in Cambodia are a direct and understandable response to the violence of the imperial system.” – Chomsky, After the Cataclysm, p191
“Once the evidence of Indochinese Communist behavior began to accumulate, there were three possible responses for those in the West who had been helping to give history a push: the first was to admit the facts and hence the error of their past political position, and work to eradicate the evil they had mistakenly contributed to; this has been the response of most of the democratic left in France. The second possible response to the evidence was to admit what was going on, but to try and justify it, usually with some form of bizarre moral relativism. This was the response of America’s new political liberals. The third possible response was to deny evidence of repression, either totally or in part, and thereby retain one’s pride and prejudice. The American radical left, with Professor Noam Chomsky in the vanguard, has taken this third course.” – Stephen Morris, Harvard International Review, Dec-Jan 1981[141]
“Just consider how the Khmer Rouge controlled personal relations. They made showing love to a relative or laughing with them dangerous, since they might perceive this as showing less dedication to, or poking fun at, the Great Revolution. It was even dangerous to use some term of endearment, such as “honey,” “sweetheart,” or “dearest,” for a loved one. The doctor Haing Ngor tried to so refer to his wife, for example, and a spy overheard and reported him for this, as well as the fact that he had eaten food he picked in the forest, instead of bringing it into the village for communal eating. The local head cadre interrogated him about these sins, and told him, “The chhlop [informers] say that you call your wife ‘sweet.’ We have no ‘sweethearts’ here. That is forbidden.” Soldiers then took him to a prison where cadre severally tortured him, cut off his finger, and sliced his ankle with a hatchet. He barely survived. This deadly communist revolution created pitiful human dilemmas. Think about what this same doctor Haing Ngor went through when his wife suffered life-threatening complications during childbirth. To help her deliver her baby would mean death, since the Khmer Rouge forbid husbands from delivering their wive’s babies. In any case, to use his medical skills to save her would in effect tell the cadre that he was a doctor, and would result in his death, and possibly that of his wife and newborn child. To do nothing might mean their death anyway; still, if he did nothing, the wife might pull through. He chose to do nothing, and perhaps he could do nothing anyway since he had no proper medical instruments. Mother and baby soon both died, then, leaving a gaping wound in his heart that never healed.” – Rummel[142]
“It was. . . of Tan Samay, a high schoolteacher from Battambang. The Khmer Rouge accused him of incompetence. The only thing taught the children at the village was how to cultivate the soil. Maybe Tan Samay was trying to teach them other things, too, and that was his downfall. His pupils hanged him. A noose was passed around his neck; then the rope was passed over the branch of a tree. Half a dozen children between eight and ten years old held the loose end of the rope, pulling it sharply three or four times, dropping it in between. All the while they were shouting, “Unfit teacher! Unfit teacher!” until Tan Samay was dead. The worst was that the children took obvious pleasure in killing.” – Buddhist monk Hem Samluat’s description of an execution he witnessed in the village of Do Nauy[143]
“Not only did the Khmer Rouge run amok massacring their people, but also everywhere the Khmer Rouge tried to destroy the very heart of peasant life. Hinayana Buddhism had been a state religion, and the priesthood of monks with their saffron robes was a central part of Cambodian culture. Some 90 percent of Cambodians believed in some form of Buddhism. Many received a rudimentary schooling from the monks, and many young people became monks for part of their lives. The Khmer Rouge could not allow so powerful an institution to stand and therefore set out with vigor to destroy it. They exterminated all leading monks and either murdered or defrocked the lesser ones. One estimate is that out of 40,000 to 60,000 monks only 800 to 1,000 survived to carry on their religion. We do know that of 2,680 monks in eight monasteries, merely seventy were alive in 1979. As for the Buddhist temples that populated the landscape of Cambodia, the Khmer Rouge destroyed 95 percent of them, and turned the few remaining into warehouses or allocated them for some other degrading use. Amazingly, in the very short span of a year or so, the small gang of Khmer Rouge wiped out the center of Cambodian culture, its spiritual incarnation, its institutions. This was an act of genocide within the larger Cambodian democide, and it was not the only one. In most if not all the country, simply being of Chinese, Vietnamese, Thai, or Lao ancestry meant death. As part of a planned genocide campaign, the Khmer Rouge sought out and killed other minorities, such as the Moslem Cham. In the district of Kompong Xiem, for example, they demolished five Cham hamlets and reportedly massacred 20,000 that lived there; in the district of Koong Neas only four Cham apparently survived out of some 20,000. The cadre threw the Cham Grand Mufti, their spiritual leader, into boiling water and then hit him on the head with an iron bar. They beat another leader, the First Mufti, to death, tortured and disemboweled the Second Mufti, and murdered by starvation in prison the Chairman of the Islamic Association of Kampuchea (Cambodia). Overall, the Khmer Rouge annihilated nearly half–about 125,000–of all the Cambodian Cham. As to the other minorities, the Khmer Rouge also slaughtered about 200,000 ethnic Chinese, almost half of those in Cambodia–a calamity for ethnic Chinese in this part of the world unequaled in modern times–additionally, they murdered 3,000 Protestants and 5,000 Catholics; around 150,000 ethnic Vietnamese (over half); and 12,000 ethnic Thai out of 20,000. One Cambodian peasant, Heng Chan, whose wife was of Vietnamese descent, lost not only his wife, but also five sons, three daughters, three grandchildren, and sixteen of his wife’s relatives. In this genocide, the Khmer Rouge probably murdered 541,000 Chinese, Chams, Vietnamese, and other minorities.” – Rummel[144]
“I questioned this bitch who came back from France…my activity was that I set fire to her ass until it became a burned-out mess. Then I beat her to the point that she was so turned around I couldn’t get any answer out of her; she [finally] croaked, ending her answers….” – A Khmer Rouge “interrogator”[145]
“Along with Vickery’s theory of a ‘peasant revolution’, we can now dismiss Thion’s assertion that in Democratic Kampuchea, ‘The state never stood on its feet.’ Despite its underdeveloped economy, the regime probably exerted more power over its citizens than any state in world history. It controlled and directed their public lives more closely than any government had ever done.” – Ben Kiernan, The Pol Pot Regime (1996)
“The Khmer Rouge were tipping out patients [from the hospitals] like garbage into the streets…. Bandaged men and women hobbled by the embassy. Wives pushed wounded soldier husbands on hospital beds on wheels, some with serum drips still attached. In five years of war, this is the greatest caravan of human misery I have ever seen.” – Description of the evacuation of Pnohm Penh
“The Cambodian communists’ economic plans were, at times, utterly surreal. Scholar David Chandler notes that, in a Democratic Kampuchea report on General Political Tasks of 1976, there are three lines devoted to education, and six devoted to urine. The document states that, regarding human urine, “We collect thirty per cent. That leaves a surplus of 70%.” These were indicative of the types of policies that Chomsky and Herman claimed had lifted Cambodia out of the ashes of war.” – Bruce Sharp, “Averaging Wrong Answers”[146]
“The Khmer Rouge took children away from their parents and made them live and work in labor brigades. If the children died of fatigue or disease, the cadre were good enough to inform their parents; then, what emotion the parents showed could mean their life or death. If they wept or displayed extreme unhappiness, this showed a bourgeois sentimentality–after all, their children had sacrificed themselves for the Great Revolution and the parents should be proud, not unhappy. Similarly, a wife expressing grief over an executed husband–an enemy of the Great Revolution–was explicitly criticizing the Khmer Rouge. This unforgivable act of bourgeois sentimentality could mean her death.” – Rummel
“Everyone knows about the war waged by the United States in Cambodia from 1970 to 1975. But very few people know about or understand the war that it is waging today against that country, which now calls itself Democratic Kampuchea. The war is being fought on many fronts. But it is mainly a propaganda war, a consciously organized, well-financed campaign to spread lies and misinformation about Kampuchea since the victory of its revolution in 1975. … The most slanderous of all charges leveled against Kampuchea is that of ‘mass genocide,’ with figures often cited running into the millions of people. I believe this is a lie, which certain opinion-makers in this country believe can be turned into a ‘fact’ by repeating it often enough.” – The New York Times, November 21, 1978
“In Chomsky’s condescending view, if the media was right about the Khmer Rouge, it was only because their “lies” happened to match the truth by pure coincidence.” – Sharp, “Averaging Wrong Answers”
“Barron and Paul…rely on ‘specialists’ at the State and Defense Departments…Elsewhere in the media, similiar figures are bandied about, with equal credibility.” – Chomsky, 1977[147]
“You might recall, perhaps, that we were probably the only commentators to rely on the most knowledgeable source, State Department intelligence.” – Chomsky, 2002, on Znet[148]
“Once, I was in a boat steaming up a narrow river, just off the Great Lake. I was being taken to see a fishery in one of the richest of the fishing areas. Along with rice, fish is a staple food in Cambodia and the most important source of protein. Long before our old boat came around the bend of the river, an extraordinary smell came wafting out to greet us. The river was jammed with hundreds of thousands of dead fish, packed tight as ice floes. What had happened? I asked. ‘Pol Pot’ came the reply. It turned out that the Khmer Rouge had built a huge dam just upstream from here and the water in this ancient fishing village was now far shallower than it had ever been before. In the heat of the dry-season sun the fish had, quite simply, cooked.” – William Shawcross, in The Quality of Mercy, p.283
“… it is not only because I once argued for the victory of this very regime, and feel myself partially guilty for what is happening under it, that I believe I can say: there is a time, when a great crime is taking place, when it is better to speak out, in whatever company, than to remain silent.” – Jean Lacouture on Cambodia
“I shall never forget one cripple who had neither hands nor feet, writhing along the ground like a severed worm, or a weeping father carrying his ten-year old daughter wrapped in a sheet tied around his neck like a sling, or the man with his foot dangling at the end of a leg to which it was attached by nothing but skin.” – Description of the death march from Pnhom Penh (Cambodia Year Zero, pp.6-7)
“The object of this disgraceful exercise cannot be to convince the reader that the arguments offered are actually true. Rather, the goal is to affect the reader’s emotional attitude, by dulling his or her sense of outrage on contemplating millions of tortured and mutilated corpses brought about by the radical movement that campaigned for a communist victory in Indochina. In this task, the book is eminently successful, not unlike the works of Holocaust denial that serve as its echo and mirror image.” –Paul Bogdanor, reviewing Chomsky’s After the Cataclysm[149]
“On Cambodia, Chomsky and Herman quietly abandon their earlier view that the Khmer Rouge had killed only 25,000, that its crimes had been inflated by “a factor of 100” and that Pol Pot’s brutality had “saved many lives”. Now they try to equate American bombing with communist genocide, arguing that “the responsibility of the United States and Pol Pot for atrocities” in Cambodia is “roughly in the same range”. They generate this conclusion by a remarkable sleight of hand. First, they give estimates of 500,000-600,000 dead in the civil war (1970-5) (p. 263), more than twice the real figure. Second, they attribute the civil war deaths – all deaths, both military and civilian, on all sides – to American bombing (p. 260), in truth only a minor factor. Third, they reduce the toll of Khmer Rouge atrocities (1975-9) to 750,000-1 million (p. 263), only half of the actual number. Finally, they maintain that the starvation component of this toll “must be attributed to the conditions left by the US war” (p. 263), and not to the Khmer Rouge policy of enslaving the whole population while abolishing medicine and hospitals and rejecting food aid in the midst of a government-created famine. Doubtless unfairly, I am reminded of the techniques of Holocaust deniers, who exaggerate the cost of Allied bombing and then attribute Jewish deaths in the camps to starvation and disease caused by the war against the Nazis.” – Bogdanor reviewing Chomsky’s Manufacturing Consent[150]
“After many years, I came to the conclusion that everything he says is false. He will lie just for the fun of it. Every one of his arguments was tinged and coded with falseness and pretense. It was like playing chess with extra pieces. It was all fake.” – Paul Postal on Chomsky (The New Yorker, March 31, 2003)
“Speaking on this occasion, Noam Chomsky, Douglas Dowd and Richard Fernandez vehemently condemned the U.S imperialists’ crimes against the Vietnamese people in both zones and demanded that the U.S. authorities bring immediately all U.S. troops home. They paid profound tribute to President Ho Chi Minh and expressed their admiration for the Vietnamese people engaged in a ‘just struggle’ for independence and freedom, and their confidence in the latter’s certain victory.” – Official North Vietnamese press release, 1970.[151]

Nixon: Isn’t a person a person, …? You know, they talk about Vietnam, ‘these people far away that we don’t know,’ and you remember Chamberlain talking about the Czechs, that they’re far away and we don’t know them very well? Well,… people are people! … I’m getting tired of this business of letting these Africans beat a hundred thousand people to death and do nothing about it.

Kissinger: And all these bleeding hearts in this country who say we like to kill yellow people…

Nixon: That’s right!

Kissinger: There haven’t been as many killed [by the US military] in eight years of the war than were killed in three months in Burundi.

Nixon: …They’re talking about how many we have bombed in the North. And I told your staff to get the figures for me: How many South Vietnamese or anti-Communist North Vietnamese have been killed by the North Vietnamese government? Civilians! How many? It’s unbelievable! Nobody gives a damn! … We need a new African policy. We shouldn’t have 42 ambassadors to these [expletive] countries. Looking at Uganda, of course we have to help those 7,000 people! – President Nixon and Henry Kissinger discussing current events, September 24, 1972, from The Nixon Tapes[152]

“…The evidence is that in Cambodia the much-heralded blood bath that was supposed to follow the fall of Phnom Penh has not taken place. As for Vietnam, reports from Saigon indicate exemplary behavior, considering the situation. ‘There has been no evidence of a blood bath…as [was] so freely predicted abroad,’ writes George Esper of the A.P.” – The Nation, editorial, June 14, 1975[153]
“If, indeed, postwar Cambodia is, as he believes, similar to Nazi Germany, then his comment is perhaps just, though we may add that he has produced no evidence to support this judgement. But if postwar Cambodia is more similar to France after liberation, where many thousands of people were massacred within a few months under far less rigorous conditions than those left by the American war, then perhaps a rather different judgement is in order. That the latter conclusion may be more nearly correct is suggested by the analyses mentioned earlier.” – The Nation, “Distortions at Fourth Hand,” 1977[154]
“During the rule of the Khmer Rouge, some three million people were terminated with extreme prejudice.” – The Nation, movie review of The Killing Fields, 1984
“Even before the fall of Saigon, the Vietnamese had to think about life in South Vietnam under Hanoi’s rule and act accordingly. They were the ones who had to pay with their lives and liberties for any error of judgment. If they bet on a “bloodbath” and exiled themselves and there was “peace” and “reconciliation” they would have lost a home and a homeland for nothing. If they believed in the Communist promise of “reconciliation” and stayed in Vietnam, they might find themselves in a concentration camp today. It was a matter of life and death for thousands of South Vietnamese, not for comfortable democratic armchair intellectual speculation.” – Le Thi Ahn, “Let the Vietnamese Speak for Themselves”[155]
“Mr. President, putting it bluntly, wouldn’t we just be continuing a bloodbath that already exists in Cambodia if we voted the 222 million [in aid]?” – Reporter to US President Gerald Ford, 1975[156]
“You know the John Lennon song ‘Imagine’? ‘Imagine no possessions, no religion’? That’s what it was like in Cambodia. The only thing people had was a spoon, for eating the daily pourridge. And that pourridge was grossly insufficient for the work they were made to do in the fields.” – Sophal Ear
“Ear reminds us of all the Western intellectuals who loved — loved, loved, loved — the Khmer Rouge. … Ear shows us pictures of the “Kampuchea Conference” that took place in Stockholm, in 1979. The purpose of the conference was to promote the restoration of the Khmer Rouge to power! Jan Myrdal was the keynote speaker — the famous intellectual who is the son of Gunnar and Alva. Ear also quotes Noam Chomsky, and others. Chomsky is still making moral and political pronouncements today, and so is Myrdal. Being on the left means never having to say you’re sorry. They just glide on…” – Jay Nordlinger, National Review Online, 2010[157]
“The revolution in Kampuchea marks the beginning of the greatest and most necessary change beginning to convulse the world in the latter 20th century to shift it from a disaster-bound course to one holding out the promise of a better future for all.” – Malcolm Caldwell, Kampuchea, p.45.
“The forethought, ingenuity, dedication and eventual triumph of the liberation forces in the face of extreme adversity and almost universal foreign skepticism, detachment, hostility and even outright sabotage ought to have been cause for worldwide relief and congratulation rather than the disbelief and execration with which it was in fact greeted. . . But if manipulators have a very good reason to distort and obscure the truth we do not. Indeed we have a clear obligation to establish and propagate it with every resource at out command.” – Caldwell, Kampuchea, p.46
“The conclusions which Caldwell draws are so distanced from reality as to make them unrecognizable.” – Ear, The Khmer Rouge Canon[158]
“Irvine derived from the Television News Index and Abstracts a statistical table on media coverage of human rights in Chile, South Korea, North Korea, Cuba and Cambodia. The news organizations covered were the New York Times, the Washington Post, and the three television networks, ABC, CBS, and NBC in 1976. The findings were startling. In table 4.1, the reader will see that, contrary to the Porter-Hildebrand-Chomsky-Herman claims, the New York Times and Washington Post published four and nine stories on human rights in Cambodia, respectively. According to table 4.1, Chile received more than eight times the coverage “on human rights problems” as did Cambodia. South Korea was covered merely 5.6 times more often. The total allocation of media resources to Cambodia paled in comparison to the massive campaign against Chile and South Korea, two non-communist countries. Perhaps the reason why Chomsky and Herman used anecdotal evidence to prove their theories was because they knew that aggregate analysis would show they were wrong.” – Ear, ibid.
“To the contrary, if Nixon blamed himself for anything, it was for having left Cambodia to the Khmer Rouge partly because of Watergate.” – Ear, ibid.
“If you don’t do what they say, you die.” – Former Tuol Sleng guard[159]
“The shame, alone, would have justified that this book be written–which is firstly a cry of horror. The shame of having contributed, even as little as it was, as weak as its influence could have been on the mass media, to the establishment of one of the most oppressive powers history has ever known.” – Lacouture, Survive le peuple cambodgien! (1978), p.5
“Nothing could be more natural than that the press should rise up to denounce violations of human rights in Spain, Latin America, and South Africa. But nothing could be less justifiable than that so few voices should be raised in protest against the assassination of a people. How many of those who say that are unreservedly in support of the Khmer revolution would consent to endure one hundredth of the present suffering of the Cambodian people?” – Ponchaud, 1976
“How much blood makes a ‘bloodbath’?” – Morton Kondracke, New Republic, October 1, 1977, p.22
“This [deceit] was apparent to anyone listening closely to his [Pol Pot’s] speeches and press conferences in 1977 and 1978 and to the unsettling propaganda broadcast every day over Radio Phnom Penh by the Kampuchean Communist Party (meaning Pol Pot himself) from 1975 until January 7, 1979, when Vo Nguyen Giap’s blitzkrieg brought down Phnom Penh. Never in the human memory has a leader (be he an emperor or dictator), government, or a political party in power sung its own praises in such a dithyrambic, insolent, deceitful, shameless, and immodest way as the Pol Pot-Ieng Sary regime did. As Radio Hanoi has since stated, Messers. Pol Pot and Ieng Sary outstripped even their guru, the late Joseph Goebbels, when it came to propaganda!” – King Norodom Sihanouk, 1980
“Le Duc Tho used to tell me that their ambition was all of Indochina after which they would proceed to take over South East Asia.” – Kissinger, 1975[160]

Suharto: At Camp David, we discussed the question of unification of Vietnam. That seems now to be moving ahead. Laos and Cambodia seem already under Vietnamese influence. Does the United States believe the three will be incorporated into one country?

Ford: The unification of Vietnam has come more quickly than we expected. There is, however, resistance in Cambodia to the influence of Hanoi. We are willing to move slowly in our relations with Cambodia, perhaps to slow down the North Vietnamese influence. … The situation in Laos is disturbing.

Kissinger: It is interesting that in Laos Souvannavong is now in a subordinate position. The Chinese want to use Cambodia to balance off Vietnam and are keeping troops in connection with road building in the north. We don’t like Cambodia, for in many ways the government is worse than Vietnam, but we would like it to be independent. We don’t discourage Thailand or China from drawing closer to Cambodia.” – Ford, Kissinger, and Suharto, 1975[161]

“Kissinger: What is the Cambodian attitude?

Thai Foreign Minister: The Cambodians want salt and fish. They wanted to barter for these items.

Kissinger: Did Ieng Sary impress you?

Thai Foreign Minister: He is a nice, quiet man.

Kissinger: How many people did he kill? Tens of thousands?” – Kissinger to Thailand’s Foreign Minister, 1975[162]

“The North Vietnamese have to be the meanest people in the world. The North Koreans and Albanians are pretty difficult, but the North Vietnamese are by far the worst. They can lie to you effortlessly. … The Vietnamese in Paris used to make the same speech every morning. They used to say that if we would make a major effort, they would make a major effort. One morning the leader of the Vietnamese delegation said that if we would make a major effort, they would make an effort. At the end of the speech, I asked whether I had understood or whether he had in fact dropped an adjective. He explained that yesterday they had made a major effort, but we had made only an effort. So today we would have to make a major effort and they in turn would only make an effort.” – Kissinger, ibid.
“I am, personally, embarrassed by the Vietnam War. I believe that if you to go war, you go to win and not to lose with moderation. … You must act firmly. That’s the only way to deal with the Communists.” – Kissinger, ibid.
“We don’t mind Chinese influence in Cambodia to balance North Vietnam. As I told the Chinese when we last met when we were discussing the Vietnamese victory in Indochina, it is possible to have an ideological victory which is a geopolitical defeat. The Chinese did not disagree with me.” – Kissinger, ibid.
“You should also tell the Cambodians that we will be friends with them. They are murderous thugs, but we won’t let that stand in our way. We are prepared to improve relations with them. Tell them the latter part, but don’t tell them what I said before.” – Kissinger, ibid.
“The events that followed our withdrawal from Vietnam, including the plight of the boat people and the more than 1 million slaughtered by the new communist rulers of Cambodia, showed that media critics who said we were on the wrong side were mistaken.” – Nixon, “I Could See No Reason to Live,” Time, April 2, 1990.
“Yes, I wish I’d done it sooner.” – Nixon, recounting his response to the question of if he had any regrets about the 1970 invasion of Cambodia; “Paying the Price,” Time, April 2, 1990.
“I came to carry out the struggle, not to kill people. Even now, and you can look at me, am I a savage person?” – Pol Pot, quoted in “The Top 100 Asians of the Century,” Time, August 1999
“He [Ho Chi Minh] has become the Strategist, the Theoretician, the Thinker, the Statesman, the Man of Culture, the Diplomat, the Poet, the Philosopher. All these names are accompanied with adjectives like “legendary” and “unparalleled.” He has become Ho the Luminary, Ho the Visionary. Peasants in the South build shrines to him. In the North old women bow before his altar, asking miracles for their suffering children. Others–[such as] anti-communist fanatics…see him in a negative light.” -Time, ibid.
“Some typical tortures [in North Vietnam] were:

-The victim was compelled to kneel down, supporting on his head a basket filled with heavy stones.

-He was forced to hang by his thumbs or feet from a rope thrown over a rafter. In this position he could be either beaten or, by pulling on the rope, jerked violently up and down.

-His thumbs were wrapped in a cloth soaked in oil which was then ignited.

These tortures were widely used throughout the whole country.” – Former North Vietnamese government official Hoang Van Chi, quoted in US intelligence report, “The Human Cost of Communism in Vietnam”[163]
“Two years earlier, in 1951, heavy bombing by the French had annihilated the entire irrigation network in the communist-controlled zone. The party now saw in this military disaster a possible solution to its present problem. Its leaders revealed that the idea of destroying the irrigation system had been suggested to the French by these very traitors whom the angry masses had denounced. It was even said that they had provided the French with accurate maps giving the location of dams and lock-gates. The absurdity of this accusation was immediately apparent to all but the blindest followers of the party, since all Vietnamese knew perfectly well that it was the French who had built the dams, and that all the ordnance maps of Vietnam and of Indochina had been compiled by the French. To suppose that they had forgotten the whereabouts of these gigantic constructions, and needed map references from local spies to locate them again, was patently ridiculous. But communists, in their propaganda, have never considered absurdity to be a serious obstacle to mass persuasion. It was their habit when dealing with peasants constantly to repeat simple statements, and their propagandists knew from past experience that the villagers would believe without question any story, however fanciful, about the French and the Americans; many of them had probably never met a Frenchman or an American in the whole course of their lives. One communist officer, who had valiantly fought at Dien Bien Phu, was heard to enquire whether or not Americans had red skins. Obviously, he had confused Americans with American Indians, the Redskins–a name introduced into the Vietnamese Language by its French equivalent, Peauro Rouges. Clearly, an ignorant man; all the same, he typifies the abysmal ignorance which was so widespread. Thus, the simpler the argument, the more suited it was to the peasants’ understanding.” –Chi, ibid.
“I want to be sure…that nothing is done on these veterans. Is that understood?…Is the word out? That they are not to touch ’em, they are not to do a thing?…Get a hold of the district police; they’re not to touch them, they’re to do nothing: Just let ’em raise Hell.” – Nixon, telling John Dean to make sure that anti-war protestors–especially veterans—are left alone by police, from The Nixon Tapes[164]
“On September 23, 2001, Cambodians in Chicago celebrated Pchum Ben at Truman College. This year, coming less than two weeks after the attacks which claimed thousands of American lives, the atmosphere was different. There were American flags everywhere: on shirts, on walls, on car windows, on antennas. Toward the end of the ceremony, volunteers began to walk through the crowd. They carried small cardboard boxes, with American flags printed on the sides, ready to accept donations for the victims of the attacks in New York, Washington, and Pennsylvania. The response was instantaneous. Within seconds there were people crowded around every one of the volunteers. Within minutes the boxes were overflowing with currency. I was seeing something that I had never expected to see: Cambodians, rushing to the aid of American victims of war. Few people on Earth understand war and suffering as well as the Cambodians. In the face of insurmountable odds, they have preserved their culture. Now, the strength and resilience that withstood the Khmer Rouge forms another individual thread, woven into the fabric of America. With every new thread, the fabric grows stronger.”[165]
“…the most cruel mistake occurred with the failure to understand the Vietnam war. Some people sincerely wanted all wars to stop just as soon as possible; others believed that there should be room for national, or communist, self-determination in Vietnam, or in Cambodia, as we see today with particular clarity. But members of the U.S. anti-war movement wound up being involved in the betrayal of Far Eastern nations, in a genocide and in the suffering today imposed on 30 million people there. Do those convinced pacifists hear the moans coming from there? Do they understand their responsibility today? Or do they prefer not to listen?” – Aleksandr Solzhenitsyn[166]

References

  1. Triumph Forsaken, book by Mike Moyar
  2. The Pentagon Papers (Beacon Press, 1971), vol. 3, p661.
  3. Robert F. Turner, Vietnamese Communism: Its Origins and Development (Hoover Institution Press, 1975), pp57-9, 67-9, 74 and “Myths of the Vietnam War,” Southeast Asian Perspectives, September 1972, pp14-8
  4. A la barre de l’Indochine. Decoux, Jean. A French government report documented some 400,000 deaths, which may have been 50% too low. Others suggested an even higher toll. Rummel counts famine as non-democidal, but it would be hard to argue that the Communists were not responsible for at least 50% of the death toll
  5. http://coombs.anu.edu.au/~vern/van_kien/declar.html
  6. Stanley Karnow, Vietnam: A History, (New York: Penguin Books Ltd., 1997), pp. 146.
  7. Fall, Bernard, Last reflections on a War, pp. 88. New York: Doubleday, 1967.
  8. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  9. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  10. http://chss.montclair.edu/english/furr/Vietnam/portermyth73.pdf
  11. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM
  12. http://www.rand.org/pubs/papers/2008/P4416.pdf
  13. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  14. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  15. For more on this, see Hoang Van Chi, From Colonialism to Communism
  16. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  17. http://www.rand.org/pubs/papers/2008/P4416.pdf
  18. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  19. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  20. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  21. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  22. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  23. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  24. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  25. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  26. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  27. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF, extrapolated from at least 2,000 per year; assuming at least 100,000 imprisoned and at least 2% dead annually
  28. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  29. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  30. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390710003A.pdf
  31. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  32. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  33. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  34. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  35. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  36. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390710003A.pdf
  37. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  38. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF, this is likely an extremely conservative figure
  39. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  40. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM#3
  41. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM#3
  42. This assumes at least 100,000 prisoners.
  43. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  44. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  45. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hochiminh.html
  46. http://countrystudies.us/laos/24.htm
  47. The Economist, February 26, 1983; Washington Post, April 23, 1985.
  48. Marek Sliwinski, Le Génocide Khmer Rouge: Une Analyse Démographique (L’Harmattan, 1995), pp41-8.
  49. http://www.yale.edu/cgp/Walrus_CambodiaBombing_OCT06.pdf
  50. http://www.paulbogdanor.com/200chomskylies.pdf
  51. Marek Sliwinski, Le Génocide Khmer Rouge: Une Analyse Démographique
  52. http://www.paulbogdanor.com/200chomskylies.pdf
  53. http://www.mekong.net/cambodia/nixon430.htm
  54. Dmitry Mosyakov, “The Khmer Rouge and the Vietnamese Communists: A History of Their Relations as Told in the Soviet Archives,” in Susan E. Cook, ed., Genocide in Cambodia and Rwanda (Yale Genocide Studies Program Monograph Series No. 1, 2004), p54ff. Availible online at: http://128.36.236.77/workpaper/pdfs/GS20.pdf “In April-May 1970, many North Vietnamese forces entered Cambodia in response to the call for help addressed to Vietnam not by Pol Pot, but by his deputy Nuon Chea. Nguyen Co Thach recalls: “Nuon Chea has asked for help and we have liberated five provinces of Cambodia in ten days.””
  55. http://articles.latimes.com/2007/may/31/opinion/oe-kissinger31/2
  56. http://www.grunt.com/scuttlebutt/corps-stories/vietnam/north.asp
  57. http://www.grunt.com/scuttlebutt/corps-stories/vietnam/north.asp
  58. http://www.paulbogdanor.com/left/cambodia/bloodbath1.pdf
  59. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP6.HTM
  60. http://www.hawaii.edu/powerkills/COM.TAB1.GIF
  61. http://www.mekong.net/cambodia/deaths.htm
  62. http://www.mekong.net/cambodia/deaths.htm
  63. William Shawcross, The Quality of Mercy: Cambodia, Holocaust, and Modern Conscience (Touchstone, 1985), p115-6
  64. Khieu Samphan, Interview, Time, March 10, 1980
  65. New York Times, August 8, 1979.
  66. http://www.time.com/time/magazine/printout/0,8816,947511,00.html
  67. http://www.time.com/time/magazine/printout/0,8816,912511,00.html
  68. Phan (1988, p.xiv); Wiesner (1988, pp.318-19); Rummel acknowledges this but does not count it as democidal
  69. http://www.vietnam.ttu.edu/events/1996_Symposium/96papers/story.htm
  70. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  71. Human Events, August 27, 1977; Al Santoli, ed., To Bear Any Burden (Indiana University Press, 1999), pp272, 292-3
  72. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/manufacturing.html
  73. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  74. Orange County Register (29 April 2001)
  75. http://worldview.carnegiecouncil.org/archive/worldview/1977/06/2881.html/_res/id=sa_File1/v20_i006_a014.pdf Based on the lethality of past North Vietnamese deportations, the toll from the population transfer alone could have been well over 100,000 dead; but Rummel chose not to estimate any deaths from the deportation, apparently because no published estimates as to the dead are available and thus any figure would be highly uncertain. However, deaths from slave labor in the “new economic zones” to which they were deported are counted by Rummel, and certainly overlap with the total number of deaths caused by the deportation. With this in mind, his high estimate of 155,000, applied to both slave labor and mass deportation, seems about exactly right–if anything, it would be conservative: More than half those deported died in previous deportations, counting the effects of slave labor.
  76. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  77. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  78. Associated Press, June 23, 1979.
  79. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1B.GIF
  80. Others have independently calculated an equivalent toll: Rummel estimates conservatively that 493,000 South Vietnamese, and 547,000 Laotians and Cambodians, were killed by Hanoi after 1975 outside of an additional 250,000 “boat people.” This does not count the death toll from the invasion of South Vietnam or those civilians killed escaping the “Highlands” offensive. Victor Davis Hanson refers to “half a million killed, and more than a million in boats;” US intelligence estimated that several hundred thousand were killed (and a high-ranking US official estimated 300-600,000 drowned trying to escape); Del Vecchio uses similar figures. Few count the 100,000 massacred trying to escape the final Communist offensive by the victorious Communist troops.
  81. Jacqueline Desbarats and Karl D. Jackson, “Research Among Vietnamese Refugees Reveals a Bloodbath,” Wall Street Journal, April 22, 1985. Here Desbarats and Jackson raise their estimate to at least 100,000 or more executions.
  82. http://users.erols.com/mwhite28/warstat2.htm#Vietnam
  83. Forced Back and Forgotten (Lawyers’ Committee for Human Rights, 1989); and Jane Hamilton-Merrit, Tragic Mountains: The Hmong, the Americans, and the Secret Wars for Laos (Indiana University Press, 1999)
  84. http://users.erols.com/mwhite28/warstat5.htm#Lao75
  85. http://www.mekong.net/cambodia/demcat.htm
  86. http://www.mekong.net/cambodia/demcat.htm
  87. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  88. http://users.erols.com/mwhite28/warstat3.htm
  89. http://users.erols.com/mwhite28/warstat3.htm
  90. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  91. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  92. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB4.1A.GIF
  93. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.CHAP4.HTM
  94. http://www.time.com/time/magazine/printout/0,8816,947511,00.html
  95. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hoan1.pdf
  96. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/toai.pdf
  97. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/hoan.html
  98. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/morris.pdf
  99. http://www.ocf.berkeley.edu/~sdenney/Vietnam-Reeducation-Camps-1982
  100. http://www.ocf.berkeley.edu/~sdenney/SRV-Discrimination-1990
  101. Far Eastern Economic Review, December 22, 1988
  102. http://archive.frontpagemag.com/readArticle.aspx?ARTID=13485
  103. When Richard Nixon became president, he wanted to end the war by pulling out American troops, and he did so. None of the three presidents wanted to win, but all wanted to report “progress.” All three administrations instructed military commanders always to report gains and rely on suspect body counts as a way of measuring progress. [1]
  104. http://www.digitalhistory.uh.edu/modules/vietnam/index.cfm
  105. http://www.mekong.net/cambodia/deaths.htm
  106. http://www.mekong.net/cambodia/demcat.htm The high is extrapolated from UN figures. The Khmer Rouge reduced the expected 1979 population from 8.4 to 6.2 million; the UN estimated an expected 1979 population of 8.7 to 9 million in the absence of the war. Cambodia’s actual population in 1975 was roughly 8.2 million
  107. http://www.vietnamgear.com/casualties.aspx
  108. Charles Hirschman et al., “Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate,” Population and Development Review, December 1995
  109. http://www.hawaii.edu/powerkills/WSJ.ART.HTM
  110. http://www.hawaii.edu/powerkills/DBG.TAB11.1.GIF
  111. http://www.britannica.com/EBchecked/topic/628478/Vietnam-War
  112. Associated Press, April 3, 1995, “Vietnam Says 1.1 Million Died Fighting For North”
  113. http://www.paulbogdanor.com/200chomskylies.pdf
  114. http://web.archive.org/web/20071222122211/http://scholar.lib.vt.edu/VA-news/VA-Pilot/issues/1995/vp950404/04040331.htm
  115. Guenter Lewy, America in Vietnam (Oxford University Press, 1978), pp272-3, 448-9.
  116. http://www.hawaii.edu/powerkills/SOD.TAB6.1A.GIF
  117. Marek Sliwinski, Le Génocide Khmer Rouge: Une Analyse Démographique (L’Harmattan, 1995)
  118. Heuveline, Patrick (2001). “The Demographic Analysis of Mortality in Cambodia.” In Forced Migration and Mortality, eds. Holly E. Reed and Charles B. Keely. Washington, D.C.: National Academy Press.
  119. Banister, Judith, and Paige Johnson (1993). “After the Nightmare: The Population of Cambodia.” In Genocide and Democracy in Cambodia: The Khmer Rouge, the United Nations and the International Community, ed. Ben Kiernan. New Haven, Conn.: Yale University Southeast Asia Studies.
  120. On Veteran’s Day: Some Grim Statistic, Beliefnet, November 11, 2010
  121. Encyclopedia of Military History, Dupuy & Dupuy, 1979, Chart Page 1221
  122. Who Lost Vietnam?, by Joseph L. Galloway, a senior writer for U.S. News & World Report
  123. The wrong war. Why We Lost in Vietnam, by Jeffrey Record.
  124. Leonard Magruder, “I was there and that’s not the way it was”
  125. On Strategy: A Critical Analysis of the Vietnam War, Harry G. Summers
  126. How to Lose A War: The Press and Viet Nam; Encounter (London), vol. LVII, No. 2, August 1981, pp. 73-90
  127. Uwe Siemon-Netto in the International Herald Tribune, reprinted in Encounter, October 1979
  128. KGB file 43173 vol. 2 (v) pp. 46-55, Alexander Vassiliev, Notes on A. Gorsky’s Report to Savchenko S.R., 23 December 1949. Original document from KGB Archives [2].
  129. http://news.yahoo.com/s/ynews/ynews_ts2067/print
  130. http://www.rfa.org/english/news/vietnam_landreform-20060608.html
  131. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  132. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  133. Vietnam Wars, 1945-90 by Marilyn Young.
  134. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/landreform.html
  135. http://www.paulbogdanor.com/deniers/vietnam/turner.pdf
  136. http://www.paulbogdanor.com/deniers/vietnam/chi.pdf
  137. http://jim.com/canon.htm#ch2
  138. http://www.youtube.com/watch?v=D9vsCD0j3Ys
  139. http://www.paulbogdanor.com/left/vietnam/boatpeople1.pdf
  140. http://www.paulbogdanor.com/left/cambodia/kirk2.pdf
  141. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/morris.pdf
  142. http://www.hawaii.edu/powerkills/WF.CHAP6.HTM
  143. John Barron and Anthony Paul, Peace With Horror: The Untold Story of Communist Genocide in Cambodia. London: Hodder and Stoughton, pp. 148-149. American Edition titled Murder of a Gentle Land. New York: Reader’s Digest Press–Thomas Y. Crowell.
  144. http://www.hawaii.edu/powerkills/WF.CHAP6.HTM#4
  145. Arch Puddington, “The Khmer Rouge File,” The American Spectator (July): pp. 18-20.
  146. http://www.mekong.net/cambodia/chomsky.htm
  147. http://www.jim.com/chomsdis.htm
  148. http://www.mekong.net/cambodia/chomsky.htm
  149. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/cataclysm.html
  150. http://www.paulbogdanor.com/chomsky/manufacturing.html
  151. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/215/2150806025.pdf
  152. http://www.youtube.com/watch?v=9kph0lygo40
  153. http://www.paulbogdanor.com/deniers/cambodia/nation.pdf
  154. http://www.chomsky.info/articles/19770625.htm
  155. http://worldview.carnegiecouncil.org/archive/worldview/1977/06/2881.html/_res/id=sa_File1/v20_i006_a014.pdf
  156. http://www.paulbogdanor.com/left/cambodia/bloodbath1.pdf
  157. http://www.nationalreview.com/articles/229666/oslo-journal-part-iv/jay-nordlinger
  158. http://jim.com/canon.htm
  159. http://articles.cnn.com/2008-11-13/world/sbm.cambodia.himhuy_1_political-prisoners-choeung-ek-tuol-sleng?_s=PM:WORLD
  160. http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB62/doc4.pdf
  161. http://www.gwu.edu/~nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB62/doc4.pdf
  162. http://www.mekong.net/cambodia/kissinger_chatichai.htm
  163. http://www.vietnam.ttu.edu/star/images/239/2390710003A.pdf
  164. http://www.youtube.com/watch?v=A7k9Uj7frQ8
  165. http://www.mekong.net/cambodia/sept11.htm
  166. http://www.columbia.edu/cu/augustine/arch/solzhenitsyn/harvard1978.html

Further reading

  • Prados, John. Vietnam: The History of an Unwinnable War, 1945–1975 (2009) 704 pages
  • Jennings, Phillip. America’s victory in Vietnam 244 pages “A well-researched, brisk review of the central myths of the Vietnam War, set in historical context.” (James S. Robbins, Washington Times)

External links

  • This page was last modified on 14 May 2011, at 18:33.
  • This page has been accessed 31,690 times.

——————————

http://www.archives.gov/research/pentagon-papers/

Posted in Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

Đài phát thanh VN trên làn sóng 1503 KHz, vào buổi tối lúc 9:30 -10:00

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Buổi Phát Thanh Đầu Tiên Về Việt Nam của Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI phát thanh từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, giờ Việt Nam, mỗi đêm, trên tần số trung bình (AM) 1503 ký lô chu kỳ (kHz).

(có thể nghe đài nầy trên Internet)

Với chủ trương luôn đề cao “Sự Thật”, Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI mong mỏi là tiếng nói trung thực của những người Việt còn tha thiết đến tiền đồ của đất nước và hạnh phúc của toàn dân. Đài mở rộng đón nhận sự cộng tác, yểm trợ của đồng bào khắp nơi để góp phần mau chóng đẩy mạnh công cuộc dân chủ hóa đất nước.

http://www.lldtcntq.org
http://www.cuuquoc.org

LỰC LUỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC
P.O. Box 6005, Torrance, CA 90504, USA
187 The Horsley Drive, Fairfield, NSW 2165, AUSTRALIA
Website: http://www.lldtcntq.org – Email: vpll.llcq@gmail.com

THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Ngày 15 tháng 5 năm 2011
về
Buổi Phát Thanh Đầu Tiên Về Việt Nam
của Đài ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Như đã công bố trong Thông Cáo Báo Chí ngày 5 tháng 5 năm 2011, Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (ĐLSN) do LỰC LƯỢNG DÂN TỘC CỨU NGUY TỔ QUỐC (LLCQ) thực hiện đã phát buổi đầu tiên về Việt Nam, từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, hôm nay, Chúa Nhật, 15 tháng 5, 2011, giờ Việt Nam, tức 7 giờ 30 đến 8 giờ sáng cùng ngày tại Los Angeles, Hoa Kỳ, trên làn sóng trung bình (AM), tần số 1503 kí lô chu kỳ (kHz).
Sau phần đài hiệu trích từ bản nhạc Đáp Lời Sông Núi của nhạc sĩ Trúc Hồ, buổi phát thanh mở đầu với lời chào mừng của ông Ngô Quốc Sĩ, giám đốc Đài. Tiếp đó là các phần phát biểu của ông Trần Quốc Bảo, chủ tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương và Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, chủ tịch Hội Đồng Cố Vấn & Yểm Trợ LLCQ nhân buổi phát thanh đầu tiên của Đài.

Trong phần trình bày cảm tưởng khi biết tin Đài phát thanh ĐLSN phát về Việt Nam, lần lượt nhà báo Nguyễn Minh Cần, từ Mạc Tư Khoa, LS Lê Thị Công Nhân từ Hà Nội, GS Nguyễn Ngọc Bích từ Hoa Thịnh Đốn, và Tu sĩ Phật Giáo Hòa Hảo Huỳnh Huệ Thọ từ Bạc Liêu, đã lên tiếng biểu tỏ sự vui mừng và ủng hộ Đài. Buổi phát thanh đầu tiên của Đài ĐLSN kết thúc với bài quan điểm “Tương lai nào cho Dân tộc Việt Nam”.

Cùng lúc phát trên làn sóng điện trước đây đài BBC Luân Đôn đã từng phát (nhưng đã ngưng hoạt động từ cuối tháng 3 năm nay), toàn bộ chương trình buổi phát thanh này đã được đặt trên trang nhà của Đài ĐLSN tại địa chỉ:http://www.radiodaploisongnui.org/ để đồng bào khắp nơi theo dõi.

Kể từ 16 tháng 5, 2011, các buổi phát thanh của Đài ĐLSN sẽ gồm phần tin tức, bình luận và các chuyên mục về chính trị, văn hóa, xã hội, … nhằm trình bày sự thật về những gì đang xẩy ra liên quan đến người Việt trong nước và hải ngoại. Muốn biết thêm chi tiết về Đài, xin liên lạc ông Ngô Quốc Sĩ, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương, kiêm Giám đốc Đài phát thanh ĐLSN, địa chỉ: PO Box 612882, San Jose, CA 95161, USA, email: lienlac.dlsn@gmail.com, điện thoại: (408)663-9860.

Trong thời gian tới, LLCQ sẽ tổ chức các buổi tiếp xúc đồng hương trình bày về LL và đài ĐLSN tại các thành phố quan trọng trên thế giới. Lịch trình sơ khởi gồm: San José, Bắc Cali, vào Chúa Nhật, 29 tháng 5; tại Little Saigon, Nam Cali, Chúa Nhật 5 tháng 6; tại Dallas, TX, Thứ Bảy, 11 tháng 6; tại Houston, TX, Chúa Nhật, 12 tháng 6. Chi tiết các buổi sinh hoạt này được liệt kê trong trang nhà của LLCQ địa chỉ:http://www.lldtcntq.org./.

——————————————————————————–

LỜI CHÀO MỪNG
CỦA ÔNG NGÔ QUỐC SĨ
GIÁM ĐỐC ĐÀI PHÁT THANH ĐÁP LỜI SÔNG NÚI

Kính thưa qúy vị lãnh đạo tinh thần và đại diện các tôn giáo
Kính thưa qúy vị đại diện các đảng phái , các tổ chức đấu tranh, và đặc biệt là các chiến sĩ dân chủ trong nước Kính thưa các cơ quan truyền thông
Kính thưa toàn thể đồng bào tại hải ngoại và tại nội địa Việt Nam

Hôm nay, nhân ngày phát thanh đầu tiên của Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi, tiếng nói đấu tranh hướng về quốc nội, do Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc thực hiện, chúng tôi xin thay mặt toàn thể đoàn viên Lực Lượng khắp 5 châu, kính gới đến toàn thể qúy vị lời chào thân thương nhất, quyết tâm nhất và hy vọng nhất vào sự thành công của công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam.

Kính thưa qúy vị,

Nói đến đấu tranh cách mạng, người ta thường nói tới sức mạnh võ trang. Hẳn nhiên, không thể loại bỏ sức mạnh của súng đạn ra khỏi tiến trình cách mạng. Nhưng trong bối cảnh thế giới văn minh tiến bộ hôm nay, công cuộc đấu tranh cách mạng đang thiên về chính trị hơn là quân sự. Thật vậy, một quốc gia hùng mạnh hôm nay, thiết yếu phải có một nền chínhh trị ổn định, một nền kinh tế phồn thịnh và một đời sống xã hội an lạc. Nhưng nói tới tranh đấu chính trị, nói tới cách mạng xã hội, và văn hóa, là phải nói tới sức mạnh của truyền thông, của tin học, của điện toán, tiêu biểu như cuộc cách mạng Hoa Lài tại Bắc Phi và Trung Đông hôm nay.

Đặc biệt, đối với công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam, sức mạnh truyền thông lại càng quan trọng hơn trong sứ mệnh chọc thủng bức tường bưng bít và che đậy sự thật của cộng sản Việt Nam, vốn mang bản chất bạo lực và dối trá. Cộng sản thành hình và còn tồn tại được một thời gian khá dài, và hiện nay, cũng còn tiếp tục hiện diện ở một số nước như Trung Quốc, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam, chính là nhờ bàn tay sắt được bọc nhung với nhữngt mỹ từ phỉnh gạt như Bình Đẳng, Đại Đồng, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu, hay những huyền thoại và chiêu bài giả trá như Giải Phóng, Độc Lập và Thống Nhất…

Trong ý hướng phơi bày bộ mặt thật của Đảng cộng sản Việt Nam, Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc đã dồn nghị lực, khả năng và tâm huyết để thực hiện Đài Thanh Đáp Lời Sông Núi, tiếng nói đấu tranh hướng về Viêt Nam, được thực hiện bởi những con dân đất Việt yêu chuộng sự thật, và còn tha thiết với Tổ Quốc và Dân Tộc.

Kể từ ngày 15 tháng 5 năm 2011, đồng bào trong nước sẽ được nghe tiếng nói Đáp Lời Sông Núi mổi tối nửa giờ, từ 9.30 đến 10.00 giờ Việt Nam, trên tần số 1503 Kilô chu kỳ, nghĩa là cùng tần số, cùng giờ với đài BBC trước đây.

Xin thưa với qúy vị rằng, đây quả là một nỗ lực đầy ý nghĩa, nhưng đồng thời cũng là một thách đố lớn đối với Ban Điều Hợp đài Đáp Lời Sông Núi nói riêng và Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc nói chung. Thật vậy, các chương trình Việt Ngữ phát thanh về Việt Nam như đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, đài Á Châu Tự Do RFA, đài Pháp Quốc RFI, và đài BBC đều do chính quyền sở tại tài trợ. Trong khi đài Đáp Lời Sông Núi hoàn toàn do tự lực cánh sinh, do sự đóng góp nhân vật lực của các đoàn viên Lưc Lượng , với sự yểm trợ của một số mạnh thường quân, của các thân hữu và đặc biệt là của cộng đồng. Thế nên có thể khẳng định rằng, đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi là đài của chúng ta, là đài của dân tộc Việt. Lực Lượng chỉ đứng ra quy tụ tim óc và phối hợp mà thôi!

Trong tinh thần cởi mở và phối hợp đó, chúng tôi hoan hỉ đón nhận sự tham gia và yểm trợ của toàn thể qúy vị, về tinh thần cũng như vật chất, nhất là góp ý cải tiến xây dựng để tiếng nói đấu tranh này mỗi ngày một hữu hiệu hơn, phong phú hơn và đa dạng hơn, chứng tỏ khả năng đáp lời sông núi, đầy mạnh công cuôc cứu nguy Tổ Quốc, đáp ứng niềm mong đợi của toàn dân Việt hôm nay.

Trân trọng kính chào toàn thể qúy vị.

Ngô Quốc Sĩ

——————————————————————————–

Lời phát biểu của Ông Trần Quốc Bảo
Chủ tịch Hội Đồng Điều Hợp Trung Ương – LLCQ

Kính thưa quý thính giả trong và ngoài nước

Nhân buổi phát thanh đầu tiên của đài phát thanh ĐLSN, với tư cách Chủ Tịch HĐDHTƯ của LLDTCNTQ, tôi thay mặt toàn thể đoàn viên của LL trân trọng kính chào thân ái và cám ơn quý thính giả đang theo dõi chương trình hôm nay.

Như ông Ngô Quốc Sĩ, giám đốc Đài vừa trình bày, đài phát thanh ĐLSN là cơ quan ngôn luận của LLDTCNTQ, gọi tắt là LLCQ. Đây là một tổ chức chính trị thành lập ngày 28 tháng 2 năm 2010 tại Sydney, Úc Châu và chính thức ra mắt đồng bào vào tháng 11 vừa qua. LL quy tụ một số đoàn thể chính trị và cá nhân có quá trình tranh đấu lâu dài, cùng theo đuổi mục đích tối hậu là vận dụng sức mạnh của đại khối dân tộc để phá vỡ những chướng ngại đang cản đà tiến của dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, hiến định, pháp trị và đa nguyên, và ngăn chặn hiểm họa Bắc thuộc đang đe dọa Dân tộc.

Để có thể đạt tới mục tiêu đó, LL coi việc phục hồi niềm tin trong lòng dân tộc là kim chỉ nam của mọi hoạt động. Phải nói thẳng rằng niềm tin là yếu tố vô cùng cần thiết để khơi dậy được sức mạnh vô song của dân tộc. Niềm tin này đã bị hao mòn, suy xuyển vì các thế lực bất chính tuyên truyền lừa đảo làm cho lòng dân tan tác. Đồng thời, chế độ chính trị độc đảng, độc tài đã kiềm hãm và phá hủy niềm tự hào của dân tộc, biến một dân tộc có truyền thống anh hùng chống ngoại xâm trở thành một dân tộc đang bị thành phần cai trị trói tay trước hiểm họa mất nước đang cận kề, do một kẻ thù truyền kiếp nằm sát ngay địa đầu giới tuyến nước ta. Đó là chưa kể đến hiểm họa mất văn hóa vì một chủ thuyết ngoại lai áp đặt lên đất nước mấy chục năm qua, đã làm hủy hoại bao truyền thống tốt đẹp của dân tộc!

Kính thưa qúy thính giả,
Muốn phục hồi được niềm tin trong lòng dân tộc, LLCQ đặt yếu tố lương thiện của các đoàn viên lên hàng đầu. Bên cạnh những đoàn viên tích cực dấn thân, LL còn có những thân hữu, những người có lòng hỗ trợ, ủng hộ các hoạt động của LL. Trong phần tiếp theo, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, chủ tịch HĐCV&YT, là cơ cấu bao gồm những thành phần yểm trợ này, sẽ trình bày cùng quý thính giả đôi nét về vai trò của Hội Đồng này.

Thưa quý thính giả, nỗ lực đấu tranh chính yếu của LL trong giai đoạn hiện tại là đẩy mạnh chiến dịch SỰ THẬT, nhằm trình bày cho nhân dân Việt Nam biết rõ được thực trạng của đất nước, ý thức rõ những hiểm họa mà dân tộc Việt đang phải đối đầu. Bên cạnh đó, chiến dịch Sự Thật cũng để giải thích rõ các quyền căn bản mà một cá nhân bắt buộc phải có để sống xứng đáng với nhân phẩm, và trình bày tường tận trách nhiệm mà con dân của một quốc gia phải hành xử để bảo vệ giang sơn mà tổ tiên đã gây dựng và truyền thụ lại. Đài phát thanh ĐÁP LỜI SÔNG NÚI chính là phương tiện quan trọng và chính yếu để tiến hành chiến dịch Sự Thật nêu trên.

Kính thưa qúy thính giả,
Trong thời đại thông tin điện tử và toàn cầu hóa ngày nay, thế giới đã thu hẹp, các dân tộc năm châu bốn bể xích lại gần nhau, nhìn rõ nhau, thông tin lưu chuyển tự do như không khí! Nhưng tiếc thay, hiện tại vẫn còn sót một số nước đang sống dưới chế độ độc tài, trong đó người dân chỉ được nghe những gì kẻ cầm quyền muốn cho nghe, chỉ được thấy những gì kẻ cầm quyền muốn cho thấy, chỉ được nói những gì kẻ cầm quyền cho phép nói . Thật là đáng thương cho các dân tộc bất hạnh này, trong đó có chính dân tộc Việt Nam yêu quý của chúng ta.

Kính thưa đồng bào, trong hoàn cảnh đó, một đài phát thanh không do bộ máy tuyên truyền của chính phủ kiểm soát như đài phát thanh ĐLSN là một cố gắng lớn lao và rất cần thiết mà LLDTCNTQ cố gắng thực hiện để chuyển tải, chia sẻ những sự thật cho mọi người cùng am tường. Để được vậy, LL mong mỏi quý thính giả, đồng bào khắp nơi hãy xem Đài ĐLSN là tiếng nói của chính mình, phát xuất từ chính lương tâm của mình, để cùng góp sức duy trì Đài, phát triển Đài, hầu góp phần mau chóng đem lại tự do, dân chủ và hạnh phúc đích thực cho dân tộc VN.

Trân trọng kính chào quý thính giả và đồng báo khắp nơi./.
——————————————————————————–

Lời phát biểu của Lm Nguyễn Hữu Lễ

Kính thưa quý thính giả

Tôi rất hân hạnh được hầu chuyện với đồng bào trong nước ngay trong buổi phát thanh đầu tiên trên là sóng điện của ĐPT. ĐLSN. Tôi xin gởi lời chào thân ái đến tất cả qúy thính giả đang ngồi trước radio trong lúc này.

Lúc nãy Ô. Trần Quốc Bảo, chủ tịch HĐDHTƯ của LLDTCNTQ , trong phần giới thiệu về LL có đề cập tới HĐCV&YT với chức năng đóng góp ý kiến và hỗ trợ cho LLDTCNTQ về nhiều phương diện. Với tư cách chủ tịch HĐCV&YT tôi xin chia sẻ vài lời với quý thính giả nói riêng và với toàn thể đồng bào VN trong và ngoài nước nói chung về vai trò của hội đồng này.

Kính thưa quý thính giả và đồng bào trong và ngoài nước, LLDTCNTQ là một tổ chức chính trị sanh sau đẻ muộn, đến nay mới vừa tròn 15 tháng tuổi. Vì mới ra đời nên LL đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, như câu người ta thường nói: “trâu chậm uống nước đục!” Chính vì đang trong tình trạng trâu chậm uống nước đục đó mà LLDTCNTQ, ngoài các thành viên chính thức của buổi ban đầu đang hoạt động một cách hăng say trong mọi lãnh vực, LL cũng cần phải có sự hỗ trợ của những người thành tâm thiện chí và có uy tín, mặc dù không phải là thành viên của LL, nhưng sẽ đóng góp, hỗ trợ mặt này mặt khác cho LL, đó chính là vị trí và chức năng của của HĐCV&YT bên cạnh HĐDHTƯ của LLDTCNTQ.

Chúng ta có thể so sánh HĐCV&YT là những người làm công việc đắp đường cho chiếc xe chạy, làm công việc khai kinh cho dòng nước chảy, tìm phương tiện hỗ trợ cho các công tác của LL được tồn tại và đạt được hiệu quả. Cụ thể như công tác thiết lập và điều hành đài phát thanh ĐLSN, mà hôm nay là buổi phát thanh đầu tiên nghe được tại quê nhà. Đối với một tổ chức non trẻ như LLDTCNTQ thì việc điều hành và nuôi dưỡng đài phát thanh ĐLSN quả là một thử thách lớn lao, như lời Ô. Ngô Quốc Sĩ, Giám đốc ĐPT . ĐLSN đã trình bày trong phần mở đầu của chương trình hôm nay. Dù vậy phải nói ĐPT . ĐLSN là một nhu cầu khẩn thiết để theo đuổi và quảng bá chiến dịch Sự Thật, mà Ô. Trần Quốc Bảo lúc nãy đã nói chiến dịch Sự Thật là một đại công tác của LLDTCNTQ hiện nay. Một lý do rất dễ hiểu là người Việt Nam chúng ta đã bị các thế lực độc tài và bất chính tuyên truyền dối gạt, lừa đảo quá nhiều.

Kính thưa quý thính giả. Nói như vậy không có nghĩa là LLDTCNTQ không có lợi thế của một tổ chức sinh sau đẻ muộn. Vì sanh sau đẻ muộn nên LLDTCNTQ học những bài học qúy giá từ những tổ chức đi trước, để trang bị cho mình một hành trang căn bản trong việc tạo dựng niềm tin và vận dụng được sức mạnh của dân tộc. Vì chỉ có niềm tin và sức mạnh của dân tộc mới giải quyết được những vấn đề đang cản bước tiến của dân tộc Việt Nam hiện nay.
Cá nhân tôi rất vinh dự được mời trong vai trò Chủ Tịch HĐCV&YT của LLDTCNTQ và hiện tại các thành viên trong HĐCV&YT đang hoạt động sát cánh với HĐDHTƯ để phát triển sự lớn mạnh và đi đúng đường hướng của LLDTCNTQ.
Là một người Việt Nam tôi có bổn phận làm hết mọi cách để yểm trợ cho LLDTCNTQ là một tổ chức chân chính, trong cố gắng vận dụng sức mạnh của dân tộc chống ngoại xâm trước tai hoạ mất nước đang gần kề.

Là một Linh mục, tôi có bổn phận cố vấn trong việc gìn giữ tính trong sáng, đề cao tính lương thiện để tạo được niềm tin trong lòng dân tộc đúng như tên gọi của tổ chức: LLDTCNTQ. Tôi ước mong sẽ có nhiều người thành tâm thiện chí ở khắp nơi, hãy vì quyền lợi tối thượng của dân tộc mà đóng góp vào cuộc vận động lớn lao này. Việc làm đơn giản trước tiên là hãy đón nghe và giới thiệu ĐPT. ĐLSN cho những người chưa biết.

Xin trân trọng kính chào quý thính giả và đồng bào trong và ngoài nước.
——————————————————————————–

Phát biểu của LS Lê Thị Công Nhân ngày 15.05.2011

Khi tôi biết được thông tin này thì thật sự có Chúa chứng giám, tôi vui mừng khôn xiết bởi vì tôi thấy làm người trong nước thì tôi thấy họ quan tâm nhât là vấn đề về thông tin. Ở trong nước, quý vị biết có 700 tờ báo nhưng chúng tôi gần như không biết một cái gì, toàn những thông tin lề trái. Trừ khi những thông tin nào đó ở một mức độ nào đấy được ban Tuyên giáo trung ương tức là nhà cầm quyền CSVN người ta cho phép đăng thì may ra chúng tôi mới biết, còn nếu không thì hoàn toàn không có. Tôi dám khẳng định như vậy vì nhà tôi có đặt 3 tờ nhật báo, đó là Pháp Luật thành phố, tờ Sức Khỏe Đời Sống của bộ Y tế và một tờ là Tuổi Trẻ của là những tờ báo đỏ mà hàng ngày nhà tôi đọc.

Đọc nhật báo thì rất hiếm có những thông tin như vậy mà nếu có thì viết một cách rất là hạn chế và tôi cảm thấy mình hoàn toàn mù thông tin và thiếu thông tin.

Và khi trong công cuộc đấu tranh dân chủ này, đây là một phê bình nhưng chúng ta phải nhắc lại phê bình này, thì những câu chuyện về truyền thông, thông tin là cực kỳ quan trọng. Quan trọng ở tính chính xác, về sự kịp thời và đặc biệt là nó liên quan đến an ninh của từng cá nhân từng tổ chức cũng như toàn bộ phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam nói chung, cũng như đối với người dân Việt Nam. Lòng tôi cảm thấy rất là biết ơn, rất là vui mừng khi có những người con Việt Nam xa tổ quốc và cuộc sống của họ có thể cũng còn nhiều khó khăn nhưng họ đã hy sinh thời gian, công sức và tiền bạc để mua được một làn sóng như vậy và tổ chức thu thập thông tin, làm phóng viên, rồi biên tập, làm phát thanh đưa đến người dân những thông tin những tiếng nói đứng về lẽ phải, về sự thật và góp phần mang đến một tương lai tốt đẹp hơn cho phong trào đấu tranh dân chủ nói riêng cũng như cho người dân Việt Nam nói chung.

Và những điều như vậy đối với tôi là vô cùng quý giá. Tôi xin phép được gọi các anh chị, những ngươi chủ sở hữu làn sóng, những người biên tập, những người phát thanh là những người yêu nước thật sự, những người đấu tranh thật sự và vô cùng có ý nghĩa. Trước nhất là đối với cá nhân của tôi và tôi tin rằng đối với rất nhiều người khác cũng như vậy.

Và vì thế ngày hôm nay tôi kính chúc quý đài, quý anh chị em và tất cả mọi người sức khỏe tốt, một tin thần, ý chí kiên định để chúng ta làm việc tốt hơn đưa được những thông tin chính xác, kịp thời và góp phần chia sẻ để làm cho chúng tôi có thêm sự hiểu biết, có thêm sự chia sẻ, có thêm sự an toàn.

Và giống như mỗi người ở một mặt trận và một nơi thì chúng ta có một mối quan hệ rất khắn khít, một sự liên đới rất lớn. Trong công việc của chúng ta làm, những người trong một số phận như chúng ta về mặt chính trị và đối với quê hương Việt Nam.

Tôi mong rằng làn sóng sẽ tồn tại thật là lâu và gặt hái được nhiều sự thành công. Mà thành công trước nhất, nói một cách nôm na và hơi buồn cười đó là đây sẽ là một trong những làn sóng mà bị nhà cầm quyền Việt Nam chú ý đến thật là nhiều. Bởi vì thật sự thì họ sẽ quan tâm rất nhiều đến những làn sóng, những đài mà gây cho họ nhiều khó khăn. Điều này thì tôi dám công nhận là ở Việt Nam có kiểu như vậy. Còn nếu mà các bạn được ve vuốt, các bạn được tạo mọi điều kiện thì e rằng đôi khi chúng ta cũng phải xem xét lại một chút.

Một lần nữa xin cám ơn quý đài và quý thính giả đã dành thời gian cho tôi.

——————————————————————————–

Phát biểu của nhà báo Nguyễn Minh Cần

Dân tộc ta hiện đang đứng trước hiểm họa mất nước, thế mà những người cầm quyền nước ta vì muốn duy trì sự thống trị của họ nên cứ thi hành chánh sách nhu nhược, dựa dẩm, thậm chí thuần phục ngoại bang đang lấn chiếm nước ta. Chẳng những thế, họ còn ra sức đàn áp giới trẻ yêu nước đứng lên bảo vệ tổ quốc, đàn áp phong trào đòi tự do, dân chủ, đàn áp các tín đồ đòi tự do tôn giáo, đàn áp công nhân đòi quyền lợi và các dân tộc thiểu số đòi quyền sống như vụ đàn áp dân tộc Hmong vừa vùng lên hôm 30/4 vừa rồi .

Các nhà cầm quyền che dấu sự thật, lừa bịp dân chúng, cho nên đài Đáp Lời Sông Núi bắt đầu phát thanh từ hôm nay là một tin mừng cho những ai quan tâm đến vận mệnh nước nhà vì đài sẽ góp thêm một tiếng nói sự thật xua tan lừa bịp và dối trá

——————————————————————————–

Phát biểu của ông Nguyễn Ngọc Bích

Chúng tôi là Nguyễn Ngọc Bích thuộc Tổ Chức Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ , như một người đã đấu tranh nhiều năm cho dân chủ, tự do và nhân quyền ở Việt Nam thì chúng tôi xin hoan nghênh và chúc mừng đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi đã có sáng kiến phát thanh ở trong nước đưa những tin tức chính xác về đất nước cũng như là đưa ra lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền là con đường bắt buộc sẽ phải đi của một nước Việt Nam trong tương lai .

Như chúng ta thấy kinh nghiệm của Đông Âu, cũng như kinh nghiệm của Bắc Phi và của Trung Đông thì làn gió dân chủ tất yếu sẽ đến với Á Đông dù như là muộn màng, thành thử ra dân tộc Việt Nam sau bao nhiêu năm bị nằm dưới sự chính quyền bạo tàn của người cộng sản thì thế nào tuổi trẻ Việt Nam cũng sẽ đứng lên đáp lời sông núi để đem lại tự do, dân chủ và nhân quyền trong tương lai cho toàn dân, nghĩa là khoãng 100 triệu dân Việt Nam không những ở trong nước mà cũng sẽ được sự tham gia của đồng bào ở hải ngoại vì lúc bấy giờ thì lòng dân sẽ được thống nhất hoàn toàn

——————————————————————————–

Phát biểu của Tu Sĩ Huỳnh Huệ Thọ tại Bạc Liêu
Nói chung là ở Việt Nam thông tin hai chiều không có cho nên ở đây việc thông tin bị bưng bít, những thông tin sự thật thì người ta rất là khao khát, cho nên nếu được nguồn thông tin của đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi …. thì người dân ở nơi đây nói chung rất là khao khát và nói riêng người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng như tất cả các giới thì tôi nghĩ rằng đây là một hân hoan, phấn khởi của họ khi mà được có đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi như thế này,

Còn riêng bản thân tôi nếu được có đài phát thanh như thế này thì ở đây mình sẽ nghe được thông tin hai chiều cho nó rõ rệt sự thật cho đúng với lời Phật dạy là mình nghe cái gì phải nghe chính tiết, nên đây là niềm vui của toàn dân nói chung và nói riêng ở đây là bản thân chúng tôi

Đáp lời sông núi
Nhạc và lời: Trúc Hồ
Ban hợp ca Asia

Chương trình phát thanh

Chủ nhật 15-05-2011

Xin nhấn vào đây để nghe

http://www.lldtcntq.org

sau khi vào được website nầy,  xuống phía dưới và nhấn vào các nút có hình TAM GIÁC để nghe.

Quan điểm
15-5-2011

TƯƠNG LAI NÀO CHO DÂN TỘC VIỆT?
Ngày Chủ nhật 15/5 hôm nay là ngày tưởng niệm 66 năm chấm dứt trận đệ nhị thế chiến. Cả nhân loại đã reo hò mừng rỡ khi nghe tin đó…

©2011 Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc website:http://www.lldtcntq.org

Posted in Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Công Nhân Đình Công đòi tăng lương, đòi nghĩ 2 ngày mỗi tuần

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Lương công nhân khu CN không đủ sống

16/05/2011 09:24:16

Thu nhập bình quân của công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt khoảng 2 triệu đồng/tháng,

Đời sống vật chất của gần 1,6 triệu công nhân, lao động  trong 260 khu công nghiệp, 15 khu kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng lương eo hẹp không đủ chi trả cho những chi tiêu tối thiểu.

Đó là thông tin được đưa ra tại báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố tại hội thảo về vấn đề lao động và điều kiện sống, làm việc của công nhân trong khu công nghiệp, khu kinh tế.

 Hơn 4000 công nhân cty TNHH Pioneer đình công đòi tăng lương (IE)

Theo báo cáo này, mức thu nhập của công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt bình quân 2 triệu đồng/tháng, bao gồm cả các khoản phụ cấp như tiền xăng xe, chuyên cần, nhà trọ, làm thêm giờ…

Trong khi đó, với mức độ lạm phát, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh, nhất là tại các khu đô thị tập trung đông người, cuộc sống của công nhân lao động không những không được cải thiện mà đang có chiều hướng giảm xuống. Tiết kiệm chi phí trong bối cảnh lạm phát tăng cao dẫn đến việc họ phải chấp nhận những điều kiện sống thấp kém hơn. Đặc biệt là vấn đề dinh dưỡng và nhà ở.

Ông Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện công nhân – công đoàn ( thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) phân tích, phần lớn công nhân tại các khu công nghiệp là lao động nhập cư. Với nhóm đối tượng này, cơ cấu chi tiêu của họ đã phải dành một khoản chi phí khá lớn cho nhà trọ, lưu trú.

Chị Lý Thị Huệ, công nhân làm việc tại Công ty Yamaha Việt Nam, đóng tại Khu công nghiệp Thăng Long cho biết, tổng thu nhập của chị là 3 triệu đồng/tháng không đủ trang trải cho tiền ăn và tiền thuê nhà.

Giá cả tăng cao khiến cho việc chi tiêu của chị Huệ và những công nhân ở đây vô cùng khó khăn. Ngoài việc chi trả mua lương thực, thực phẩm và các hàng hóa trong điều kiện tăng giá như mọi người dân bình thường khác ở đô thị, chị Huệ và những lao động nhập cư còn phải chi phí thêm các khoản như thuê nhà đã tăng khoảng 20 đến 30%, trả tiền điện, nước với giá cao hơn 2 đến 4 lần so với người dân địa phương.

Còn chị Nguyễn Thị Thủy làm tại dây chuyên sản xuất linh kiện điện tử, dây cáp của Công ty Nissei của Nhật Bản thì cho rằng, nếu như trước đây, doanh nghiệp nào phải bố trí công nhân làm thêm giờ sẽ rất khó thu hút lao động vì công nhân sợ vất vả, không đủ sức làm thêm thì hiện đang có xu hướng ngược lại. Công nhân sẽ sẵn sàng “nhảy việc” sang các doanh nghiệp có việc làm thêm để tăng thêm thu nhập nếu doanh nghiệp họ đang làm không có việc làm ngoài giờ.

“Với công nhân khu công nghiệp, có lẽ cách duy nhất để “chống chọi” với “bão giá”hiện nay là làm thêm giờ”, chị Thủy nói.

Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, hiện có tới 48,2% lao động có mức thu nhập thấp nên phần lớn phải làm thêm giờ hoặc chấp nhận sống thiếu thốn. Tuy nhiên, 30,7% số công nhân cho rằng tiền công, phụ cấp doanh nghiệp trả cho họ chưa được thỏa đáng so với công sức bỏ ra. Số tiền công mà họ nhận được đang không đủ để trang trải cho những chi tiêu tối thiểu

Vũ Quỳnh (theo VnEconomy)

TIN LIÊN QUAN

http://bee.net.vn/channel/4541/201105/Luong-cong-nhan-khu-CN-khong-du-song-1799282/

Lạm phát đang khoét sâu vào đói nghèo

Tác giả: Phạm Huyền
Bài đã được xuất bản.: 16/05/2011 06:00 GMT+7
(VEF.VN) – Một nghiên cứu của Bộ KH&ĐT mới đây đã chỉ ra rằng, khi lạm phát bao trùm xã hội, thiếu đói và đình công ở Việt Nam tăng cao. Thu nhập thực của người lao động sụt giảm vì không đuổi kịp nổi tốc độ tăng giá. Mục tiêu giảm nghèo 2% năm nay có thể bị phá vỡ.

Thu nhập đuổi không kịp với giá sinh hoạt

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao đang trở thành nỗi lo ngại lớn nhất không chỉ cho các nhà quản lý chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Vòng xoáy của lạm phát có thể sẽ nhấn chìm các nỗ lực cải thiện chất lượng sống của người dân nghèo.

Theo nghiên cứu gần đây của bộ KHĐT, nhóm hộ nghèo ở Việt Nam đa số là những người nông dân ở vùng nông thôn, người làm công ăn lương, người hưu trí, hoặc kinh doanh nhỏ lẻ. Nguồn thu nhập chính của người nghèo chủ yếu là từ nông, lâm, thủy sản, chiếm 55,5% tổng thu nhập, tiền lương tiền công chiếm 23,8% tổng thu nhập.

Khi lạm phát xảy ra, tiền lương tối thiểu thường tăng không đủ bù đắp mức tăng giá. Nguồn thu từ nông nghiệp không “lại” được với tăng giá đầu vào như thuốc trừ sâu, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu cho vận chuyển, chưa kể, còn chịu rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh. Hồi năm 2008, khi thu nhập người dân chỉ tăng 10-20% thì giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tăng tới 30-50%.

Khác với người giàu, tổng thu nhập eo hẹp khiến cho việc chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu của người nghèo là duy trì sự sống, mua lương thực thực phẩm, chất đốt luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, tới 65,1%. Còn chi cho những nhu cầu thuộc về chất lượng sống như nhà ở, điện, nước, vệ sinh, y tế, giáo dục, giải trí… chỉ chiếm 34,9%. Với người giàu, việc ăn uống chỉ tiêu khoảng 45,9% tổng thu nhập, còn lại 54,1% là dành cho các nhu cầu về sức khỏe, giải trí và điều kiện sống khác.

Do đó, khi giá cả tăng cao, người nghèo sẽ phải dồn khoản tiền kiếm được chỉ để duy trì cuộc sống, như phải tăng thêm 0,5% tiền để mua thực phẩm, lương thực, thêm 0,5% tiền cho thuốc chữa bệnh và 1,4% cho đi lại (giai đoạn 2006-2008). Các nhu cầu may mặc, giáo dục, mua sắm đồ dùng, nhà ở bị co lại từ 0,2- 0,7%, dù nhóm người nghèo luôn được hưởng nhiều chính sách miễn giảm của Nhà nước.

Đặc biệt, với những người lao động nhập cư, nhóm này còn phải chi thêm tiền thuê nhà thường tăng từ 20-30%, tiền điện, tiền nước thường cao hơn 2-4 lần so với dân địa phương.

Cũng do tác động lạm phát, thu nhập bình quân của người lao động năm 2008 dù tăng lên 15,3% so với năm 2007 song vẫn thấp hơn tới 4,6% so với tốc độ tăng giá. Tương tự, thu nhập bình quân của người lao động năm 2010 dù tăng lên 10,3% so với năm 2009 thì vẫn bị sụt giảm tới 1,45% so với tốc độ giá cả.

Các chuyên gia của bộ này nhận định rằng, phản ứng chung của những hộ nghèo trước lạm phát là tiết kiệm mọi chi phí có thể, từ việc chọn nhà thuê rẻ hơn, điều kiện điện, nước, vệ sinh kém hơn, cắt giảm dinh dưỡng…, đồng nghĩa chất lượng sống bị giảm sút.

Thu nhập thực của người lao động sụt giảm vì không đuổi kịp nổi tốc độ tăng giá.  Ảnh: VFEJ.

Xoáy sâu vào đói nghèo

Thực tế 2 tháng đầu năm nay và năm 2007-2008 cho thấy, lạm phát đã để lại những những hệ lụy rất xấu tới an sinh xã hội.

Biểu hiện đáng ngại nhất là tình hình thiếu đói đã tăng cao trong tháng 1 và 2 vừa qua. Số lượt nhân khẩu nông nghiệp thiếu đói đã tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2010 với 838,6 nghìn lượt. Đây cũng là số lượng nhân khẩu thiếu đói nhiều nhất kể từ năm 2007 đến nay.

Nguyên nhân có thể do thiên tai, mất mùa… nhưng trong đó, giá lương thực tăng cao được coi là một yếu tố tác động mạnh nhất. Trong tháng 1, giá lương thực đã tăng 2,28%, thực phẩm tăng 2,74%, đến tháng 2, lần lượt các nhóm hàng này tăng 1,51% và 4,53%.

Mối liên hệ hữu cơ mật thiết giữa lạm phát và đói nghèo đã được minh chứng ở năm 2008. Đây là năm mà CPI có mức tăng kỷ lục tới 19,9% và khi đó, số lượt nhân khẩu thiếu đói cả năm đã lên tới hơn 4 triệu lượt, cao nhất của giai đoạn 2006-2010. Tình trạng này diễn ra nặng nề ở vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, là những vùng không sản xuất lúa gạo, vốn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước.

Tiền lương, tiền công tăng lên chỉ là danh nghĩa, không đủ bù đắp mức tăng giá sinh hoạt. Trong khi đó, đây lại là nguồn thu nhập chính của công nhân, lao động tự do, lao động phổ thông. Nghịch lý này đã đẩy quan hệ lao động ở các nhà máy, khu công nghiệp trở nên căng thẳng.

Bộ KHĐT cho biết, năm 2008, số vụ tranh chấp lao động và đình công đã tăng 30% so với năm 2007. Năm 2009, chỉ số giá “âm”, đình công chỉ bằng 30% của năm 2008 nhưng đến năm 2010, chỉ số giá vượt 2 con số thì mọi sự lại có vẻ bất ổn như cũ. Đình công đã xảy ra ở 19 tỉnh, thành cả nước và tăng tới…93% so với năm 2009.

Khi mức sống bị kéo lùi, lạm phát trở thành bóng ma tác động tiêu cực tới tâm lý của người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp. Vì lẽ đó, lạm phát không đơn giản tạo ra sự bất ổn kinh tế vĩ mô mà còn làm gia tăng sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo trong xã hội.

Tính thêm trượt giá, nghèo vẫn hoàn nghèo

Các phân tích của Tổng cục Thống kê còn cho thấy, lạm phát đẩy người nghèo càng nghèo hơn. Các chuẩn nghèo của Việt Nam bỗng dưng bị mất tính chân thực.

Khi tính các chuẩn nghèo mới của Việt Nam cho giai đoạn 2011-2015, lạm phát năm 2010-2011 được giả định là 8- 8,5% cho khu vực thành thị, 7-7,5% cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thực tế, CPI bình quân năm 2010 ở 2 khu vực này đã cao hơn lần lượt là 1,92% và 0,58%.

Dự báo năm 2011, CPI bình quân năm sẽ cao hơn tới 5,4- 6,4% so với mặt bằng trên. Các chuyên gia của Tổng cục này cho biết khi đó, giá trị thực tế của chuẩn nghèo 5 năm tới sẽ bị mất khoảng 7-8% giá trị, tức khoảng 30.000- 40.000 đồng/người/tháng. Vì thế, số hộ nghèo vừa vươn lên… ngưỡng hộ cận nghèo về bản chất, vẫn hoàn nghèo như cũ.

Một phép tính logic đã được cơ quan này nêu rõ, khi lạm phát tăng cao thì tỷ lệ giảm nghèo sẽ bị giảm.

Giả sử như CPI tháng 12/2011 tăng 7%, CPI bình quân là 11,9%, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam có thể giảm được 1,5 điểm %. Nhưng khi CPI tháng 12 năm nay tăng 9%, CPI bình quân năm tăng 13,1% thì tỷ lệ hộ nghèo bị giảm đi 1,3 điểm %. Còn nếu CPI tháng 12 năm nay tăng tới 12%, CPI bình quân tăng 13,9% thì tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm 1 điểm %.

Như vậy, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam theo Quốc hội đặt ra là giảm 2% sẽ khó đạt được.

Với những nghiên cứu trên, không thể không lo ngại rằng, một kịch bản về thiếu đói, đình công và bất ổn xã hội nói chung sẽ tái diễn nếu lạm phát năm nay không được kiềm chế tốt. Bên cạnh nhưng giải pháp “đánh trực diện” vào lạm phát như tài khóa, tiền tệ, giảm đầu tư công, giảm bội chi, bộ KHĐT cho rằng, các chương trình giảm nghèo cần phải được rà soát lại.

Những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo phải được tăng cường thay vì qua trung gian. Giai đoạn năm 2011-2015 là dịp để nhìn lại sâu sắc hơn việc xã hội cần chia sẻ với Nhà nước, gánh vác các chính sách an sinh xã hội như thế nào và sự chủ động vươn lên của các hộ nghèo đến đâu?

Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, hộ nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống, hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. Hộ cận nghèo ở 2 khu vực này lần lượt có thu nhập từ khoảng 401.000 đồng- 520.000 đồng/người/tháng và 501.000- 650.000 đồng/người/tháng.

Hiện, cả nước có 3,1 triệu hộ nghèo, chiếm 14,42% và 1,65 triệu hộ cận nghèo, tỷ lệ 7,69%. Các tỉnh có hộ nghèo nhiều nhất là Lào Cai, Điện Biên (trên 50%), Lai Châu, Hà Giang (trên 40%), Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum (trên 30%).

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng 1,75%, tháng 2 tăng 2,09%, tháng 3 tăng 2,17% và tháng 4 tăng 3,32% so với tháng liền kề trước. So với tháng 12/2010, chỉ số giá tháng 4 tăng 9,64%. Bình quân 4 tháng năm 2011 so với cùng kỳ năm 201, CPI tăng 13,95%.


Posted in Cong Nhan Viet Nam | Leave a Comment »

Khi các nhân vật Hành pháp và Tư pháp nhảy vào làm Đại biểu quốc hội hay làm luật

Posted by hoangtran204 trên 17/05/2011

Chết cười vì những suy nghĩ và làm việc không giống ai. Chưa từng có nước nào mà các nhân vật hành pháp, xử án, lại kiêm luôn nhiệm vụ làm luật.

Tại sao lần này đảng ta phải đưa toàn thể Bộ Chính Trị vào Quốc Hội?

Đặng Kim Tân (đã tốt nghiệp sư phạm)

Hy hữu chưa từng có

Đến nay, tất cả mọi uỷ viên BCT đã có mặt trong danh sách ứng cử đại biểu QH.

Điều lạ lùng này nghe nói chưa từng gặp trong suốt cả 12 lần bầu cử trước đây và cũng là trong cả 66 năm đảng CS cầm quyền ở Việt Nam. Lạ hơn nữa, trên thế giới cũng chưa có nước CS nào từng một lần làm như vậy.

Tóm lại đây là điều hi hữu duy nhất mà thế hệ chúng ta may mắn chứng kiến để kể lại cho con em mình.

Dư luận “chửi” đảng ta đã từ quá lâu và đã quá nhiều về chuyện đảng viên chiếm dụng 90% ghế QH – vốn là cơ quan mang tính đại diện rộng rãi nhất cho toàn dân. Sự ngang ngược ngày càng lộ liễu tới mức hết cần che dấu thế giới.

Dân ngày càng không tin Đảng

Do vậy, đảng cũng ngày càng ít tin dân tới mức rất khó kiếm ra cho đủ số 10% người ngoài đảng để đưa vào QH, mặc dù những người loại này đang chiếm tới 96% dân số cả nước.

Trong số khoảng 500 đại biểu, thì 50 người ngoài đảng được lựa chọn hết sức kỹ càng, bằng cách:

a) có sẵn một số nhân sĩ (được thử thách qua thời gian) mà đảng đã túm chặt được tóc;

b) một số sư sãi, cố đạo, từ lâu đã được đảng lắp cho một cái lưỡi khác;

c) một số người đang phấn đấu vào đảng (để có cơ hội tiến thân). Hõ sẽ vào đảng ngay trong nhiệm kỳ mà họ vừa được bầu;

d) một số đồng bào dân tộc ít tuổi, trình độ rất thấp, “nói sao biết vậy”…

Khó mà bớt số đại biểu ngoài đảng hơn nữa.

Sự trỗi dậy của QH khoá XII

Điều này khiến cho đảng thấy rõ: Dù đảng viên có chiếm tuyệt đa số trong QH, nhưng ngày càng nhiều người trong số họ vẫn không thể quá trơ tráo – bất chấp nguyện vọng nhân dân – để mà muối mặt bỏ phiếu thông qua những chủ trương “ích đảng, hại dân”.

Dẫu bị giáo huấn về “ý thức đảng” thì những đảng viên già trong QH vẫn bất chấp lời nhắc nhở của cấp trên (tuổi đời, tuổi đảng và quá trình đều thấp hơn họ) mà cứ bỏ phiếu theo ý riêng. Các ông Nguyễn Minh Thuyết, Lê Văn Cuông, Nguyễn Văn Thuận… là những người như thế.

Chính vì vậy, đảng ngày càng bị bó tay khi muốn QH thông qua (cho hợp lệ) những chủ trương lớn. Số phiếu tán thành cứ ngày càng thấp trước các ý đồ mở rộng thủ đô, khai thác bôxit, đường sắt cao tốc, đường Hồ Tây – Ba Vì, điện nguyên tử… hoặc gần đây nhất là ý đồ làm chìm lấp vụ Vinashin…

Phản ứng của QH khi ông phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thông báo chủ trương của Bộ Chính Trị “không cần thiết kỷ luật ai” trong vụ này, khiến không những ông Hùng mà toàn thể bộ chính trị tự thấy lo lắng và bẽ mặt. Họ càng lo khi nhân dân nhận ra chính quý vị cao cấp nhất trong đảng đang bao che tội lỗi cho nhau.

Vậy, các “ông vua tập thể” này sẽ đối phó thế nào?

Khó mà bớt số đại biểu ngoài đảng hơn nữa. Thế thì, chỉ còn 2 cách (mà là một thôi). Và đã thực hiện xong khi lập danh sách ứng cử viên.

a) Tăng số đảng viên quyền lực tối cao vào quốc hội. Và tăng tới tối đa, với mục đích thật sự là… đe nẹt!

b) Giảm số đảng viên già (cứng cổ) để tăng tới mức tối đa có thể số đảng viên trẻ (biết sợ, vì còn muốn tiến thân). Để dễ đe nẹt.

Chúng ta thử nghĩ coi:

1- Bộ Chính Trị có biết bao việc phải làm hàng ngày, làm sao có thể dành ra mỗi năm tới 4 tháng lận chỉ để họp quốc hội? Vậy mà, một tiêu chuẩn để ứng cử là “đủ điều kiện (sức khoẻ, năng lực và thời gian) hoạt động quốc hội”. Rõ ràng, mỗi vị trong Bộ Chính Trị không thể đủ thời gian để không vắng mặt ngày nào trong mỗi đợt họp QH?.

Ấy vậy mà, mỗi người cứ ứng cử, lại còn hè nhau đồng loạt ứng cử toàn bộ nữa chứ (!). Thế, gọi là gì? trơ trẽn? hay là liều? hay là bất chấp luật? hay là muốn chửi toàn dân?…

Chưa nói đến nhân cách. Cái ông tướng công an Trần Đại Quang khai man tuổi (cho thấp đi) và khai man bằng cấp (cho cao lên) có thể gian dối với đảng để được bầu vào BCT, nhưng làm sao dám gian dối với dân để lần này cũng ra ứng cử QH? Hẳn là BCT chủ trương bao che cho ông này trước dân.

Cứ xem QH khoá vừa qua thì rõ: Có lẽ trừ ông Nguyễn Phú Trọng ra, những uỷ viên BCT khác – dù chính thức kiêm đại biểu QH – đều chỉ có mặt trong những giờ phút quan trọng nhất trong đợt họp QH mà thôi. Ngoài ra, là trốn biệt.

Đố ai tưởng tượng nổi khi nào và ở bất cứ đâu, toàn thể Bộ Chính Trị sẽ không làm gì khác, mà dành toàn bộ thời gian họp QH suốt cả 4 tháng mỗi năm.

2- Để chọn người ứng cử đại biểu QH thì cần gì phải nhấn mạnh quá nhiều tới chuyện hạn chế tuổi tác, mà sao lần này họ lại nhấn mạnh quá mức như vậy? Và trên thực tế, họ đã chọn người như vậy.

Tới nay, đã thành quá phổ biến, tới mức giấu không nổi và không cần giấu nữa: Người trẻ vào đảng chỉ có một nguyện vọng, vừa duy nhất, vừa tối đa: là mong tiến thân nhanh hơn năng lực thực có. Chỉ có một cách: Vào Đảng.

Họ rất biết trung thành là tiêu chuẩn tối cao, chứ không phải là trung thực.

Họ càng biết, nếu nói năng ở QH mà trái ý “14 ông vua” thì con đường tiến thân sẽ tịt ngay lập tức. Vậy mà thân xác hoặc hình bóng 14 ông này đang hiện diện lù lù trong QH, như muốn nhắc nhở họ: “lũ bay cứ liệu cái thần hồn đấy!”.

Nguồn

http://danluan.org/node/8815

——

Nguyễn Hòa Ngọc

Sau nhiều ngày băn khoăn, trăn trở, chúng tôi, những thẩm phán già quyết định lên tiếng, bày tỏ nỗi lòng của đông đảo công nhân viên chức ngành tòa án, nhưng vì miếng cơm, manh áo mà đồng nghiệp chúng tôi không dám nói ra. Đó chính là tư cách đạo đức, năng lực, trình độ của đồng chí Trương Hòa Bình, Chánh án tòa án nhân dân tối cao.

Bất kỳ ai đọc bản lý lịch tự khai của đồng chí Trương Hòa Bình đều băn khoăn, thắc mắc, không hiểu tại sao đồng chí Bình lại có thể có bằng thạc sỹ luật. Từ một kỹ sư cầu đường, đồng chí Trương Hòa Bình đã phù phép, biến thành thạc sỹ luật. Và từ tấm bằng thạc sỹ luật “giả cầy” ấy, đồng chí Trương Hòa Bình tiếp tục “biến” thành tiến sỹ luật. Ai cũng biết, không một quốc gia nào trên thế giới cho phép kỹ sư cầu đường đi học thạc sỹ luật, phải là cử nhân cùng chuyên ngành mới được theo học thạc sỹ luật. Và ai cũng biết, đồng chí Trương Hòa Bình chưa một ngày nào làm nghiên cứu sinh “tiến sỹ luật” và cũng không làm “nghiên cứu sinh” ở bất kỳ một trường đại học nào. Ấy vậy mà, đồng chí Trương Hòa Bình vẫn trở thành “thạc sỹ luật”, “tiến sỹ luật”. Phải chăng đồng chí Trương Hòa Bình tự cho mình cái quyền ngồi trên các quy phạm pháp luật về giáo dục của Việt Nam và của thế giới?! Chỉ điều đó thôi cũng đủ để mọi người hiểu rõ về nhân cách, đạo đức của đồng chí Trương Hòa Bình. Khi lừa dối tổ chức, lừa dối Đảng được một lần thì người ta có lừa dối hàng nghìn lần, đặc biệt những vấn đề liên quan đến lợi ích của bản thân. Chỉ thỏa mãn tính háo danh thôi, mà đồng chí Trương Hòa Bình đã sổ toẹt vào nền giáo dục Việt Nam thì để thỏa mãn lợi ích vật chất, chức quyền, đồng chí Trương Hòa Bình sổ toẹt vào điều gì đây?! Xin mọi người tự trả lời. Nhưng điều đáng buồn nhất chính là ai cũng biết điều đó, nhưng không hiểu vì sao Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng không biết, Bộ Công an không biết, Bộ Giáo dục và Đào tạo không biết và Ban Cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao không biết?! Thực ra Ủy ban kiểm tra trung ương cũng đã vào cuộc xác minh, nhưng chính đồng chí Trương Hòa Bình nói, thì mọi việc đều được lo lót ổn thỏa, ổn đến mức chính đồng chí Bình sửa bản kết luận kiểm tra, xác minh. Quả là kỳ tài! có lẽ cần xem lại thành ngữ “bàn tay không che được mặt trời”, có thể không còn đúng nữa, bởi đồng chí Trương Hòa Bình đã che được mọi thứ rồi.

2_dong2023-480.jpg
Đồng chí Trương Hoà Bình (comple đen, đứng giữa ảnh), Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TAND tối cao và các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (Ảnh: Soha.vn)Khi đồng chí Trương Hòa Bình sang làm Chánh án, Tòa án nhân dân tối cao đã đưa đồng chí Hà ở Bộ Công an sang làm thư ký theo chế độ biệt phái. Nếu chỉ dừng ở điều đó thì cũng không có gì để nói, nhưng đồng chí Trương Hòa Bình đã gây áp lực, buộc bổ nhiệm đồng chí Hà làm Vụ phó Vụ tổ chức, rồi hàm vụ trưởng và mới đây nhất là chánh văn phòng Ban Cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao. Đây là việc làm vi phạm nghiêm trọng quy định biệt phái của ngành công an và của quy định của Đảng. Gần đây, đồng chí Trương Hòa Bình còn tự nhân danh Ban cán sự Đảng và lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, dù không hỏi ý kiến bất kỳ đồng chí lãnh đạo nào để ký công văn gửi Đảng ủy Công an Trung ương đề nghị phong tướng cho đồng chí Hà. Thật đáng nực cười, chẳng lẽ một thiếu tướng công an làm thư ký cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Cán bộ, công chức, thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đang đặt câu hỏi, vì lợi ích của người thư ký, đồng chí Trương Hòa Bình sẵn sàng đứng trên, ngồi trên các quy định của Đảng thì liệu rằng vì lợi ích của bản thân, đồng chí Trương Hòa Bình có bán Đảng, bán Tổ quốc không?! Thiết nghĩ mọi người đã có câu trả lời.

Chúng tôi, những người thẩm phán già đang chờ đợi câu trả lời của các đồng chí trong Bộ Chính trị.

Nơi nhận:

– Các đồng chí trong Bộ Chính trị;
– Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội
– Bà Lê Hiền Đức, công dân chống tham nhũng.

Thay mặt các thẩm phán nghỉ hưu
Nguyễn Hòa Ngọc

___________________________

Một bức thư tố cáo nặc danh đã được đưa lên mạng năm 2007 về vấn đề này:

Thẩm Phán, Cán Bộ Tòa Án Tối Cao CSVN Viết Thư Ngỏ: Tố Chánh Án Mới bổ Nhiệm Trương Hòa Bình Xài Bằng Giả

Việt Báo Thứ Năm, 8/23/2007, 12:02:00 PM

Một Số Thẩm Phán, Cán Bộ TAND Nhân dân Tối Cao CSVN Nêu Vấn Đề Về Văn Bằng Thạc Sỹ Luật Của Chánh Án Mới Trương Hoà Bình trong thư ghi “Những lời chân tình gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước” như sau.

Kính gửi:

– Đ/c Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh
– Đ/c Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
– Đ/c Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
– Đ/c Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng
– Đ/c Chủ nhiệm Uỷ ban KTTW Nguyễn Văn Chi

Ngành Toà án vừa có Chánh án mới, đ/c Trương Hoà Bình, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an. Ban đầu, khi nghe tin đ/c Trương Hoà Bình sang làm Chánh án, đại đa số anh em thẩm phán, cán bộ ở Toà án nhân dân tối cao đều vui mừng với hy vọng đ/c Bình sẽ mang sức sống mới, là sự kết hợp hài hoà giữa hiểu biết sắc sảo về pháp luật và đạo đức, kỷ luật của một tướng lĩnh công an cho ngành. Ngay trong buổi ra mắt với cán bộ trong Toà, đ/c Trương Hoà Bình cũng đã phát biểu rất mạnh mẽ, sẽ kiên quyết đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, xây dựng cán bộ Toà án tinh thông pháp luật, đạo đức trong sáng. Nhưng thật thất vọng!

Điều mà mọi cán bộ có tâm huyết trong ngành Toà mòn mỏi mong đợi nhiều năm qua về một người chánh án có đủ tài, đủ đức đã không thể có. Chúng tôi đã tận mắt đọc bản lý lịch đ/c Trương Hoà Bình do chính đ/c Bình khai trong đó có ghi trình độ là kỹ sư, thạc sỹ luật, nhưng không hề có thời gian nào học cử nhân luật. Xét theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn học thạc sỹ luật thì phải học, có bằng cử nhân luật chính quy, không thể dùng bằng cử nhân hệ tại chức và càng không thể từ kỹ sư học thành thạc sỹ luật được. Không hiểu đ/c Trương Hoà Bình phù phép kiểu gì mà biến cái không thể thành có thể và công khai ghi trong lý lịch mà không có bất kỳ ý kiến cán bộ cấp cao nào đề nghị xem xét (?). Điều trớ trêu là, đ/c Trương Hoà Bình khi ở Bộ Công an phụ trách công tác xây dựng lực lượng và cũng đã nhiều lần tuyên bố đấu tranh với tiêu cực trong công tác giáo dục, đào tạo, tệ nạn sử dụng bằng giả trong ngành Công an!

Một điều đáng chú ý nữa được thể hiện rõ ràng trong lý lịch của đ/c Trương Hoà Bình là đ/c Bình luôn chuyển công tác và mỗi lần chuyển là đảm nhiệm chức vụ cao hơn. Từ phó cục trưởng, sang làm Phó giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh, rồi Viện trưởng Viện kiểm sát TP. Hồ Chí Minh, lại quay vê Công an làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng, Thứ trưởng và nay là Chánh án Toà án Nhân dân tối cao. Mỗi một chức vụ đ/c Trương Hoà Bình đều đảm nhiệm trong một thời gian khá ngắn.

Thông thường một người lãnh đạo phải mất một đến hai năm để đánh giá được năng lực, sở trường của cán bộ, đưa bộ máy trong đơn vị vận hành tốt đúng như ý tưởng của người lãnh đạo. Điều đó có nghĩa đ/c Trương Hoà Bình không hiểu sâu bất cứ lĩnh vực gì mà đồng chí đã từng làm, công an không giỏi, kiểm sát chưa hay, còn toà án thì… Đ/c Trương Hoà Bình còn có bước tiến “thần kỳ”, từ thiếu tướng lên trung tướng chỉ có một năm. Vẫn biết rằng lên tướng không có hạn định, nhưng cũng cần có một thời gian để thử thách. Lên tướng kiểu đ/c Trương Hoà Bình thì các danh tướng như Nguyễn Chí Thanh, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Phùng Thế Tài, Chu Huy Mân… cũng phải ngả mua chào thua. Chúng tôi nghe nói có một số đồng chí lãnh đạo cao cấp nâng đỡ đ/c Trương Hoà Bình, nhưng nâng đỡ kiểu như vậy thì làm sao đ/c Bình thành người giỏi đươc.

Cả xã hội ta nói chung và toàn ngành giáo dục nói riêng đang nói không với tiêu cực trong giáo dục do đồng chí Nguyễn Thiện Nhân, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo khởi xướng. Đã lâu lắm rồi, chúng ta mới có một kỳ thi phổ thông trung học tương đối thực chất. Dư luận xã hội đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ việc chấn chỉnh công tác giáo dục, đào tạo của Chính phủ vừa qua. Mặt khác, công tác cải cách tư pháp cũng là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Nhiều lần đ/c Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã khẳng định điều này khi họp với ngành Toà án và tỏ ý sẽ quyết tâm đẩy mạnh tốc độ cải cách tư pháp trong nhiệm kỳ này. Nhưng liệu việc nói không với tiêu cực trong giáo dục của Chính phủ và đẩy mạnh cải cách tư pháp của Chủ tịch nước có thực hiện được không khi mà người đứng đầu ngành Toà án vẫn đang sử dụng bằng giả (cần hiểu bằng giả gồm hai loại: một là giả hoàn toàn; hai là bằng thật, nhưng học giả).

Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay, những thông tin liên quan về năng lực, trình độ, bằng cấp của cán bộ cao cấp dù không đăng lên báo chí, nhưng được lan truyền rất nhanh trong quần chúng nhân dân và sẽ chẳng có cơ quan, người nào có thể kiểm soát được. Nên việc đ/c Trương Hoà Binh sử dụng tấm bằng thạc sỹ luật giả thì mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân sẽ đều biết. Và rồi đây ai sẽ còn tin vào những phán quyết của toà án khi người đứng đầu không hiểu biết gì về luật pháp. Đ/c Trương Hoà Bình làm sao có thể trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội, hay lại bước vào lối mòn đọc bản báo cáo có sẵn do cấp dưới viết và hẹn trả lời sau bằng văn bản

Tất cả các câu hỏi và điều băn khoăn, trăn trở nói trên xin được gửi đến đ/c Tổng Bí thư, đ/c Chủ tịch nước, đ/c Thủ tướng Chính phủ, đ/c Chủ tịch Quốc hội, đ/c Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương giải đáp.

Hà Nội, ngày 13/8/2007

Một số thẩm phán, cán bộ Toà án Nhân dân Tối cao.

Nguồn

Posted in Chinh Tri Viet Nam | Leave a Comment »