Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 21st, 2014

►Bảo vệ quyền lợi làm ăn và có trách nhiệm với khách hàng

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2014

Một xã hội tốt, một xã hội xấu

nguồn: FB Nguyễn Văn Thạnh

Hôm dự phiên tòa xét xử blogger Trương Duy Nhất xong, chúng tôi thuê một taxi 7 chỗ cho 5 người đi về Lăng Cô. Có một số kẻ lạ mặt, đeo khẩu trang, chạy xe máy bám theo xe quyết liệt. 

Tôi sợ có rắc rối nên có nói cho tài xế taxi biết hiện tình. Tôi nghĩ có thể anh ta sẽ dừng xe, đuổi chúng tôi xuống, từ chối để tránh rắc rối. Thật bất ngờ, anh tài xế nói: “Các anh yên tâm, các anh lên xe em là khách của em. Muốn đụng vô xe, bắt các anh là phải có lệnh, các anh vi phạm pháp luật thì phải chấp nhận. Không không (vô cớ) nhào vô đánh khách em là không được, em sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ các anh. Em phải có trách nhiệm với khách chứ. Em còn giữ tiếng để làm ăn….”

Tôi nghe mà lòng rất vui. Đến nơi chúng tôi trả cho anh 450.000 đồng, nhưng rất hài lòng.

Đất nước này, nếu ai cũng có tinh thần thượng tôn pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ uy tín làm ăn thì xã hội này đâu đến nỗi nát bét như thế này.

Tôi chợt nghĩ đến những vị chủ nhà xua đuổi tôi như đuổi tà, những vị chủ quán đuổi khách như đuổi hủi, thậm chí những thương hiệu lớn như FPT, Viettel,… cũng cuối đầu trước cường quyền.

Dù là lý do gì đi nữa thì chính họ đã góp phần tạo ra một xã hội tồi tệ: luật pháp lỏng lẻo, công lý cong vênh.

Lẽ tự nhiên, chúng ta, ai cũng muốn sống trong một xã hội tốt.

Muốn vậy, mọi người dân đều phải có trách nhiệm sống cho ngay thẳng, bảo vệ công lý, bảo vệ uy tín của mình. Không thể khom lưng trước cường quyền rồi nại lý do này nọ.

Suy cho cùng, một xã hội xấu hay tốt là do chính con người quyết định và cũng chính họ thụ hưởng

nguồn: FB Nguyễn Văn Thạnh

Advertisements

Posted in Cách Ứng Xử của người Việt Nam, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Ai đã đem luận văn của Nhã Thuyên ra ngoài cho ban Tuyên Giáo và báo chí đánh phá, ra lệnh cho ĐHSP Hà Nội tước học vị thạc sĩ Nhã Thuyên, và buộc một Trưởng Khoa về hưu non?

Posted by hoangtran204 trên 21/03/2014

Cô Đỗ Thị Thoan đã viết luận văn tốt nghiệp thạc sĩ (năm 2010) nói về Nhóm Mở Miệng.

Luận văn của cô được điểm tuyệt đối 10/10 của trường ĐHSP Hà Nội.

Nhưng, mấy tháng gần đây cô đã bị tước mất bằng thạc sĩ, bị mất việc, còn vị giáo sư hướng dẫn luận văn thạc sĩ cho cô thì bị rời khỏi chức trưởng bộ môn, và bị buộc về hưu non. 

Ai đã đào bới chuyện nầy ra? 

https://www.facebook.com/Osinhuyduc/posts/637716599596858?stream_ref=10

Trên FB, một nhà báo viết: “Ai là người đã ‘tuồn’ luận văn của Nhã Thuyên ra cho NVL (Nguyễn Văn Lưu) ‘đánh’ sau mấy năm đã nằm yên lành trong thư viện?

Câu hỏi này làm nhà cháu băn khoăn bấy lâu và hôm qua, tình cờ được biết là do một ‘nhà văn nhớn’ họ Trần”.

“Nhà văn lớn họ Trần” này sau đó được xác định là Trần Đăng Suyền, nguyên Phó hiệu trưởng trường ĐHSP. Khi Nhã Thuyên bảo vệ luận văn, ông Suyền đang trong Hội đồng khoa học của trường.

Nếu đúng là ông Suyền thì… không lẽ ở trường Sư phạm các thầy lại đối xử với nhau như thế.”

(Coi phần dưới cùng danh sách Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan và “Hội đồng thẩm định” đã quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học vị thạc sĩ của cô ấy.)

Luận văn của cô Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan bị rò rỉ ra ngoài, thế là  Ban Tuyên Giáo Trung ương tìm đọc “Nhóm Mở Miệng”: 

Đinh Thế Huynh, Trưởng ban Ban Tuyên Giáo trung ương và Lê Thế Kỷ, Trưởng ban Tuyên Giáo Tp Hà Nội.  Hai lão này có lẻ trực tiếp hay gián tiếp ra tay như sau:

-ra lệnh cho Văn Nghệ Tp HCM, Báo Văn Nghệ Hội Nhà Văn, báo Nhân Dân, QĐNH,  và Báo Thanh Tra mở màn đánh phá luận văn của cô Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan (nguồn) (Nhóm “Mở Miệng”: lịch sử văn học đẫm máu sắp lập lại?) (Nhã Thuyên, nạn nhân của nền chính trị hướng dẫn văn học)

-ra lệnh cho Hiệu trưởng trường ĐH Sư Phạm Hà Nội buộc  PGS TS Nguyễn thị Bình phải thôi việc, và  về hưu non trước thời hạn 5 năm. (Đây là một việc làm trái ngược lại với chuyện cách đó vài tháng:  vào ngày 11- 7- 2012  TS Nguyễn Thị Bình cùng 19 Nhà giáo Trường ĐHSP Hà Nội có tên trong danh sách của Hội đồng xét tặng danh hiệu Nhà Giáo Ưu Tú.)

-Kế đó, ra lệnh cho Trường ĐHSP Hà Nội lập hội đồng đánh giá lại luận văn tốt nghiệp thạc sĩ và rồi tước học vị thạc sĩ của cô Đỗ Thị Thoan. 

Tưởng làm chuyện vụng trộm trong bóng tối thì không ai biết, nhưng Ban Tuyên Giáo đã lầm, tang chứng chỉ đạo sờ sờ ở đây  “Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương“. (xem phiá dưới bài này). 

Ban Tuyên Giáo đã lập kế hoạch khá chu đáo để đánh phá luận văn và tước bằng thạc sĩ của một cô sinh viên độ tuổi 20s viết về các bài thơ của Nhóm Mở Miệng.

Cũng cần nhắc lại rằng Nhóm Mở Miệng do 4 sinh viên miền Nam thành lập năm 2001. Nội dung thơ của họ khá vui nhộn, nhưng làm mếch lòng đảng khá nhiều.  (1) (2)

Không dừng lại ở đó, bọn họ thành lập  nhà Xuất Bản Giấy Vụn, họ chọn giấy in thượng hạng để in sách khiến nhiều tác giả phát ghen, hình bìa sách rất trang nhã, họ in sách bằng photocopy, phát hành từ 2001 cho đến nay, và đếch thèm coi bọn kiểm duyệt của đảng ra gì hết. Cứ thế, mấy chục tác phẩm đều đặn ra đời trong hơn 13 năm qua.

( Đây là tác phẩm mới nhất của họ: TIỂU LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA VÁCLAV HAVEL ĐÃ ĐƯỢC XUẤT BẢN BẰNG TIẾNG VIỆT – Nhà Xuất Bản Giấy Vụn xuất bản  8-1- 2014   (nguồn vanlang.eu) (Nhẻ, vì cuốn sách này ra đời mà bọn đỏ bới ra chuyệncũ để đánh phá Nhã Thuyên? Hay có ai thèm chức khoa trưởng nên xới lại chuyện cũ 2010?)

Dĩ nhiên thơ và việc tự xuất bản không qua kiểm duyệt của Nhóm Mở Miệng hay và hấp dẫn thế kia thì ai mà không mê.

Luận văn thạc sĩ của co Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan ra đời trong hoàn cảnh đó (2010), và ban Tuyên Giáo của đảng CSVN quyết tâm đánh những người phụ nữ VN có đầu óc phóng khoáng trong việc nghiên cứu văn học VN. Cô gặp nạn và giáo sư của cô cũng gặp nạn. 

Nhưng rất nhiều nhà giáo dục phẫn nộ việc làm hèn hạ của ban Tuyên Giáo, bọn báo nô, thơ nô, giáo nô, và bọn nha lại. Họ phản ứng như sau:  

————————-

 

Nói thêm về “Vụ Nhã Thuyên”

3-4-2014

 

Sau khi Học Thế Nào đăng bài Kỳ án Nhã Thuyên, một số bạn đọc mà họ là những nhân vật chứng kiến ít nhiều một số sự kiện liên quan gửi thư tới nhóm biên tập với mong muốn nói lại, nói thêm hoặc bổ sung một số chi tiết mà bài viết đề cập. Học Thế Nào tổng hợp các ý kiến này thành bài viết ngắn dưới đây:

Về sự kiện ngày 27/7/2013

Sau loạt bài phê phán trên báo chính thống, lãnh đạo trường chỉ đạo Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn triệu tập họp hội đồng khoa học khoa (mở rộng) chứ không phải hội thảo khoa học như được gọi tên trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”. Học Thế Nào xin đính chính lại chi tiết này.

Thành phần mở rộng là các giáo sư đã nghỉ hưu, thêm PGS TS Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm Khoa Việt Nam học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, tham gia với tư cách phản biện. Không ai ở hội đồng chấm luận văn Nhã Thuyên năm 2010 được mời. PGS TS Nguyễn Thị Bình được mời với tư cách là thành viên hội đồng khoa học của khoa. Tất cả bốn vị Ban Giám hiệu Trường ĐH Sư phạm Hà Nội có mặt.

Tại cuộc họp, PGS TS Nguyễn Thị Bình giải trình ngắn gọn một số nội dung, cụ thể:

1/ Nghiên cứu những hiện tượng của đời sống văn học đương đại là nhiệm vụ của Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại.

2/ Luận văn được thực hiện đúng quy trình theo những quy định ở thời điểm đó.

3/ Người hướng dẫn làm việc với học viên theo tinh thần đối thoại chứ không áp đặt.

Sau trình bày của PGS TS Nguyễn Thị Bình là phần nêu ý kiến của ba phản biện (tại cuộc này gọi là ¨đọc sâu¨): GS TS Trần Đăng Xuyền, PGS TS Lê Lưu Oanh, PGS TS Lê Quang Hưng.

Sau phần “đọc sâu”, rất nhiều người đã phát biểu sau đó. Có những va chạm được cho là khá gay gắt xung quanh các tiêu chí thẩm mĩ, và cuối cùng vẫn nhất trí ghi vào biên bản kết luận là: đề tài có thể nghiên cứu được, luận văn không có sai phạm về động cơ chính trị…

Khoảng một tuần sau lại có cuộc họp của hội đồng khoa học cấp trường, gồm các giáo sư đương nhiệm và các trưởng đơn vị. Đại diện Khoa Ngữ Văn chỉ có Chủ nhiệm khoa PGS TS Đỗ Hải Phong. GS TS Trần Đăng Xuyền và PGS TS Lê Quang Hưng vẫn là  hai trong số ba vị tham gia với vai trò phản biện. Trong cuộc họp này đã có sự tranh luận gay gắt. Sau khi PGS TS Đỗ Hải Phong đọc kết luận của Hội đồng Khoa học Khoa Ngữ Văn thì có hai luồng ý kiến trái chiều. Một số vị cho rằng chỉ hội đồng chuyên môn mới đủ thẩm quyền phán xét và đề nghị hội đồng khoa học cấp trường tôn trọng các kết luận đã có. Một số vị khác cho rằng luận văn nghiên cứu một đối tượng không xứng đáng và có cái nhìn cực đoan.

Về việc bổ nhiệm Trưởng bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại

Trong cuộc thăm dò ý kiến do Ban Chủ nhiệm Khoa Ngữ văn thực hiện, TS Chu Văn Sơn đạt 8/9 phiếu đồng thuận. Nhưng trường lại ra quyết định bổ nhiệm PGS TS Vũ Thanh (chuyên gia phần Văn học Việt Nam Trung đại, lúc đó là Phó Chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn) phụ trách bộ môn dù gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các cán bộ giảng dạy. Về sau, PGS TS Vũ Thanh cũng từ chối nhiệm vụ này và ngay lập tức xin chuyển cơ quan. Hiện nay PGS TS Vũ Thanh là Phó Viện trưởng Viện Văn học.

Về việc dạy chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại

Xung quanh việc dạy chuyên đề VHVN ở nước ngoài, có những diễn biến khá phức tạp, không hoàn toàn đơn giản như một đôi câu tóm tắt trong bài viết “Kỳ án Nhã Thuyên”.

Cách đây khoảng 5 năm, khi mà GS TS Trần Đăng Xuyền còn là Phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và thầy Lã Nhâm Thìn còn là trưởng Khoa Ngữ Văn, nhà trường tổ chức xây dựng lại chương trình khung theo học chế tín chỉ. Với sự tham vấn của một số giáo sư, chương trình của Khoa Ngữ Văn có thêm  một số chuyên đề, trong đó có chuyên đề Văn học Việt Nam ở nước ngoài. Đến nhiệm kỳ PGS TS Đỗ Việt Hùng làm Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn thì chương trình được đưa ra thẩm định ở hội đồng khoa học khoa và hội đồng đã chấp nhận đề xuất này và trình lên Ban Giám hiệu nhà trường. Khoa Ngữ văn giao cho Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại phụ trách chuyên đề này và năm 2010 là năm đầu tiên thực hiện. Vì thuộc hệ thống chuyên đề tự chọn nên nó được quay vòng 2 năm/lần. Vì thế đến 2012, nó tiếp tục được giảng dạy cho sinh viên. Trưởng Bộ môn là PGS TS Nguyễn Thị Bình đã phân công 3 cán bộ, giảng viên dạy đồng thời ba lớp: TS Nguyễn Phượng, TS Đặng Thu Thuỷ, Th.s Đỗ Thị Thoan. Nội dung và cách thức lên lớp chuyên đề này được thống nhất thực hiện trong nhóm 3 cán bộ, giảng viên này. GS TS Trần Đăng Xuyền tuy là Phó Hiệu trưởng nhưng có thể vì bận công tác lãnh đạo, GS không có điều kiện quan tâm tới hoạt động chuyên môn tại khoa nên không hề biết có việc này.

Sau khi đến tuổi nghỉ quản lý, GS TS Trần Đăng Xuyền tiếp tục giảng dạy tại Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại, Khoa Ngữ Văn. Khoảng đầu tháng 4/2013, Bộ môn Văn học Việt Nam tổ chức xêmina về chuyên đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại. Sau khi TS Nguyễn Phượng đại diện cho nhóm trình bày báo cáo (có sự bổ sung của TS Đặng Thu Thuỷ và Th.s Đỗ Thị Thoan, GS TS Trần Đăng Xuyền bày tỏ sự ngỡ ngàng. GS Trần Đăng Xuyền phản đối, cho rằng không nên quan tâm mảng này. Các cán bộ, giảng viên trong bộ môn giải thích cho GS Trần Đăng Xuyền rằng, học phần này nằm trong chương trình khung do chính Trường ĐH Sư phạm Hà Nội ban hành, nhiệm vụ của Khoa Ngữ Văn hiện giờ là nghiên cứu, giảng dạy tốt học phần đó chứ không còn là lúc bàn bạc chuyện nên hay không nên.

GS Trần Đăng Xuyền cho rằng cho dù chương trình khung là của trường ban hành nhưng việc đề xuất chắc phải là của Bộ môn. Sau đó GS Trần Đăng Xuyền còn chất vấn ai là người đầu tiên nêu ý tưởng? PGS TS Nguyễn Thị Bình khẳng định bản thân bà chưa bao giờ đưa ra đề xuất này, tuy nhiên bà bỏ phiếu ủng hộ khi nó được thảo luận ở hội đồng khoa học của khoa. Và khi được Ban Chủ nhiệm khoa giao nhiệm vụ, bộ môn đã tiến hành tổ chức nghiên cứu và giảng dạy.

Theo lý lẽ của GS Trần Đăng Xuyền, nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là trường đào tạo nghề nghiệp, theo đó phạm vi nội dung kiến thức được đưa vào giảng dạy ở Khoa Ngữ Văn chỉ nên bó hẹp ở những kiến thức được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông. Tuy nhiên, lý lẽ này không thuyết phục được các cán bộ, giảng viên của bộ môn. Có cán bộ còn dẫn nội dung Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và cho rằng, việc đưa học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại vào giảng dạy tại Khoa Ngữ Văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội là phù hợp chủ trương của Đảng. Do chỉ là một buổi sinh hoạt chuyên môn nên không có kết luận. Nhiều cán bộ, giảng viên chỉ nghĩ rằng những trao đổi trong buổi sinh hoạt chỉ là những va chạm quan điểm có tính học thuật thông thường nên vẫn tiếp tục tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại cho sinh viên.

Các ghi chép phía trên của chúng tôi có thể có những sai sót nhỏ ở chi tiết, nhưng đại thể sự việc được chúng tôi ghi lại trung thực theo các thông tin tin cậy có được.

Về các dư luận ngoài lề khác, theo chúng tôi là hơi nặng “thuyết âm mưu”, nhưng cũng xin ghi lại dưới đây.

Theo dư luận ở Khoa Ngữ văn Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, những cán bộ phản đối việc dạy học phần Văn học Việt Nam ở hải ngoại nghi ngờ PGS TS Nguyễn Thị Bình chính là người đầu tiên đề xuất đưa học phần này vào chương trình khung; và động cơ của đề xuất nhằm “kéo” Nhã Thuyên về giảng dạy tại khoa. Thậm chí, một số đồn đoán thỉnh thoảng còn được “tung” ra trong dư luận ở khoa, rằng rằng PGS TS Nguyễn Thị Bình và Nhã Thuyên có “quan hệ mờ ám” với người nước ngoài.

 Đường link dẫn tới Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài:

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=279&leader_topic=&id=BT1970640667

 Học Thế Nào.

 

 

—————————

Tám câu hỏi về vụ luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên

Vũ Thị Phương Anh

Blog Giáo Dục Việt Nam

Qua thông tin trên mạng, tôi được biết luận văn thạc sĩ của cô Nhã Thuyên Đỗ Thị Thoan (từ đây sẽ gọi là Nhã Thuyên) đã được trường ĐHSP Hà Nội đánh giá lại. Và, trên cơ sở kết quả đánh giá, Nhã Thuyên đã bị tước bằng thạc sĩ.

Vụ luận văn thạc sĩ của Nhã Thuyên không phải là việc mới. Cách đây hơn nửa năm, vụ này đã gây xôn xao dư luận, mà khởi đầu của nó là một loạt bài phê phán nặng nề nội dung cuốn luận văn đã hoàn tất trước đó 3 năm (và đạt điểm tuyệt đối 10/10) được đăng trên báo Văn Nghệ TP HCM. Dựa vào kinh nghiệm về những gì đã xảy ra từ trước tới nay, người ta lập tức đoán ngay rằng loạt bài ấy có lẽ nhằm mục đích chuẩn bị dư luận và là tiếng chuông báo hiệu một kết cuộc không lấy gì làm tốt đẹp cho tác giả của cuốn luận văn cũng như người hướng dẫn nó.

Thật may (?), loạt bài ấy bộc lộ quá nhiều sơ hở trong lập luận nên hoàn toàn không thể thuyết phục được công chúng. Đã có những bài đáp trả lại những lập luận yếu kém của loạt bài tấn công, khiến cho công tác chuẩn bị dư luận của bài báo kia bị vô hiệu hóa. Theo những nguồn tin bên trong mà tôi được biết, ngay từ lúc ấy người ta đã có ý định thành lập lại hội đồng thẩm định lại luận văn và tước bằng thạc sĩ của Nhã Thuyên rồi. Nhưng có lẽ do hoàn cảnh bên ngoài không thuận lợi, nên người ta chỉ tố chức một buổi trao đổi về nội dung luận văn và sau đó Nhã Thuyên vẫn được (tạm thời) tiếp tục giữ tấm bằng thạc sĩ mà cô đã từng bảo vệ với số điểm tuyệt đối.

Tôi là người cũng đã lên tiếng trong cuộc tranh luận lần trước, và theo dõi khá kỹ những gì đã xảy ra, dù việc của Nhã Thuyên không mấy liên quan đến tôi: Tôi không cùng ngành (văn hóa/văn học), không cùng trường (ĐH Sư phạm Hà Nội), cũng chẳng quen biết bất kỳ ai có liên quan đến luận văn này. Nhưng tôi quan tâm vì nó là một việc xảy ra trong giới đại học, và những ứng xử vô lý nếu có của giới có trách nhiệm cần phải được đem ra trao đổi và tranh luận để trước hết đem lại công bằng cho những người trong cuộc; sau nữa – và quan trọng hơn – là để tránh những trường hợp tương tự về sau. Vì vậy, tôi rất vui khi nghe tin Nhã Thuyên không bị tước bằng như những lời đồn đoán lúc ấy, và trong bụng mừng thầm vì như thế có nghĩa là những người có trách nhiệm đã cởi mở hơn, đã biết lắng nghe và tiếp thu những ý kiến hợp lý và hợp với thông lệ quốc tế.

Câu chuyện tưởng dừng lại ở đó, nhưng giờ đây – nếu những thông tin mà tôi đọc được trên mạng là đúng – thì mọi điều đồn đoán trước đây vẫn cứ xảy ra, chỉ là lùi thời gian thực hiện lại thôi. Một kiểu hoãn binh. Vì sau một thời gian chờ cho dư luận lắng đọng, thì một hội đồng mới lại được lập ra để đánh giá lại luận văn của Nhã Thuyên, và trên cơ sở kết quả đánh giá lại này, cô thạc sĩ trẻ ấy đã bị tước bằng. Người hướng dẫn Nhã Thuyên thực hiện luận văn này là PGS TS Nguyễn Thị Bình thì bị chấm dứt hợp đồng ở tuổi 55, mặc dù với chức danh PGS, lẽ ra bà có thể tiếp tục được làm việc cho đến khi 60 tuổi.

Thực sự cho đến bây giờ tôi vẫn không rõ những gì tôi đã viết ở trên – dựa vào những gì đọc được trên mạng – có chính xác hay không. Vì, không giống như lần trước khi báo chí lề phải khua chiêng gõ trống ầm ĩ về luận văn của Nhã Thuyên, lần này tuyệt nhiên không có một lời nào trên báo. Nhưng dù đúng dù không, tôi nghĩ bây giờ là lúc những người có trách nhiệm lên tiếng chính thức. Nếu những gì tôi nghe được là sai (và tôi chỉ mong là nó sai) thì chỉ cần trường ĐHSP lên tiếng đính chính trên báo chí là đủ. Còn nếu những điều tôi đã nghe là đúng, tôi xin gửi đến những người có trách nhiệm trong việc này một số thắc mắc, mong sớm nhận được câu trả lời.

Đúng ra, tôi muốn gọi những thắc mắc của tôi là những lời chất vấn, vì ĐHSP Hà Nội là một trường đại học công, có sử dụng tiền thuế của người dân (trong đó có tôi), và cũng là nơi có trách nhiệm đào tạo ra những thầy cô giáo để phục vụ trong nền giáo dục quốc dân mà con cái tôi sẽ được hưởng nếu nó tốt, hoặc phải chịu nếu nó không tốt.

Những thắc mắc (đúng hơn là chất vấn) của tôi như sau:

1. Dựa trên những căn cứ nào mà trường ĐHSP HN lại thành lập hội đồng chấm lại luận văn của Nhã Thuyên? Có phải là những bài báo phê phán đầy sơ hở (vd: bài viết của “nhà nghiên cứu” Nguyễn Văn Lưu, của GS Phong Lê …) mà dư luận đã chỉ ra cách đây hơn nửa năm chăng? Hay còn những căn cứ nào khác?

2. Dựa trên những căn cứ nào mà hội đồng chấm lại luận văn lại đưa ra những kết luận trái ngược lại với hai hội đồng trước đó (hội đồng chấm luận văn và hội đồng tư vấn, cả hai đều bao gồm những chuyên gia hàng đầu)? Xin nhắc lại, kết quả luận văn của Nhã Thuyên trước đây đã đạt điểm tuyệt đối.

3. Nếu cho rằng kết quả chấm lại mới chính xác và vì thế Nhã Thuyên đáng bị tước bằng, vậy có thể kết luận rằng hội đồng chấm lần trước, và cả người hướng dẫn, đã sai?

4. Những sai lầm của luận văn Nhã Thuyên là sai lầm về khoa học, hay đó là những sai lầm về tư tưởng, đường lối? Trường ĐH Sư phạm HN có thể công khai thông báo tóm tắt kết luận của hội đồng cho mọi người cùng biết được không? Nếu đó là vấn đề tư tưởng, vậy những điều nào, hoặc những hiện tượng nào, là cấm kỵ không được nghiên cứu hoặc ủng hộ, liệu đã có quy định chưa? Nếu chưa có, thì Nhã Thuyên không thể sai và không thể xử lý, mà chỉ có thể rút kinh nghiệm. Nếu đã có, xin được nêu công khai rộng rãi, để những người sau không mắc phải những sai lầm tương tự.

5. Nếu luận văn của Nhã Thuyên sai (nên Nhã Thuyên đã bị tước bằng), vậy những người đã hướng dẫn và thẩm định luận văn cũng phải có trách nhiệm, thậm chí là trách nhiệm chính. Tại sao trường ĐHSP Hà Nội lại chỉ “xử” một mình cô học trò là Nhã Thuyên, dù sao cũng chỉ là một sản phẩm đào tạo của trường? Hay ĐHSP Hà Nội sẽ có quyết định về “số phận” của những người này sau, và nếu vậy, thì bao giờ?

6. Những người đã hướng dẫn và thẩm định luận văn Nhã Thuyên trước đây là những người có học hàm, học vị, và cả chức vụ quan trọng trong hệ thống. Nếu như họ sai, và sai nghiêm trọng đến như vậy, thì những người đã đào tạo, bổ nhiệm, và sử dụng những người ấy có phải truy cứu trách nhiệm không? Và sẽ xử lý ra sao?

7. Từ những chất vấn phía trên, có thể thấy suy cho cùng, nếu luận văn Nhã Thuyên là sai, thì đó là lỗi hệ thống chứ không phải là lỗi của riêng cá nhân nào. Như thế, các sản phẩm đào tạo của hệ thống ấy hẳn đã sai hàng loạt. Vậy chúng ta có cần thành lập hội đồng để xem xét lại tất cả các luận văn, luận án trước đây của hệ thống này hay không, hay chỉ khoanh vùng một trường hợp này thôi? Tại sao?

8. Cuối cùng, trước khi bị lôi ra đả phá trên báo chí chính thống thì luận văn của Nhã Thuyên (cũng như nhiều luận văn, luận án khác) vẫn được xem là làm đúng quy trình, quy định và đảm bảo các yêu cầu về tính khoa học. Thậm chí, với điểm đạt tuyệt đối, nó còn là một ví dụ mẫu mực của một luận văn của trường ĐHSP Hà Nội. Thế mà chỉ vì có ai đó tình cờ đọc và đem ra phê phán thì kết quả thẩm định trước đó đã bị đảo ngược, trong khi những trường hợp tương tự có thể có nhưng không bị ai moi ra thì vẫn an toàn. Như thế, có công bằng với Nhã Thuyên hay không? Và có thể nghi ngờ rằng đây chỉ là một việc mạo danh khoa học mà tấn công cá nhân – cá nhân Nhã Thuyên, và cá nhân người hướng dẫn của Nhã Thuyên mà giờ đây đang bị đối xử bất công mà không có lý do chính thức nào – hay không?

Dù ai đúng, ai sai thì điều này cũng làm cho uy tín khoa học của trường ĐHSP Hà Nội bị giảm sút nghiêm trọng, nếu không có những lý giải hợp lý về việc đã xảy ra, và quan trọng hơn, sự phân tích nguyên nhân và đề xuất các biện pháp để ngăn ngừa những trường hợp tương tự trong tương lai. Một trường đại học sư phạm lớn với bề dày truyền thống như ĐHSP Hà Nội mà để xảy ra tình trạng như vậy rõ ràng là không thể chấp nhận được.

Rất mong những thắc mắc (chất vấn?) của tôi được những người có trách nhiệm hiện nay của trường ĐHSP Hà Nội quan tâm trả lời. Vì nếu không, tôi bắt buộc phải kết luận rằng trường ĐHSP Hà Nội đã ứng xử tùy tiện, thiếu khoa học, thiếu trách nhiệm với các sinh viên và cán bộ, giảng viên của mình, và hơn hết, là thiếu trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn đầu tư của nhà nước mà vốn là tiền thuế của người dân, trong đó có tôi. Ngoài ra, tôi cũng mong báo chí, đặc biệt là những tờ báo đã moi ra vụ này, tiếp tục vào cuộc để làm rõ vấn đề, để thuyết phục người đọc rằng những gì đang diễn ra là minh bạch, công tâm, và khoa học, chứ không phải là những việc làm lén lút, ném đá giấu tay, mượn những tấm bình phong to tát như khoa học hoặc tư tưởng để trả thù cá nhân, vì hiện nay đang có những dư luận không tốt như vậy.

Trân trọng.

——————————————————————————–

Thơ của Bùi Chát,  “Nhóm Mở Miệng”

Ai?

Tôi gặp gỡ những người cộng sản
Những người anh em của chúng tôi
Những người làm chúng tôi mất đi ký ức
Mất đi tiếng nói bản thân
Mất đi những cái thuộc về giá trị
Chúng tôi còn sở hữu duy nhất một điều
Nỗi sợ

Tôi trò chuyện với những người cộng sản
Những người anh em
Những người muốn chăn dắt chúng tôi
Luôn biến chúng tôi thành đồ hộp
Hy vọng chúng tôi đời đời biết ơn

Những người cộng sản
Anh em chúng tôi

Chưa bao giờ thấy họ tự hỏi
Trong ngồi nhà đen đủi này
Ai muốn thừa kế di sản của họ?

Cũng như em, tôi không hát một mình

Dưới lớp da nạm vàng
Có thể gãi thứ mình muốn ngứa?

Tôi đâu biết đêm dài quá vậy
Chẳng còn nhiều người thức đợi ngày mai
Ai đó thì thoảng thắp lên ngọn đèn
để xua đuổi tai ương

Đáp lại những câu thời dài tuyệt vọng
Em đã đến cạnh tôi nguyện ước
Vòm đêm không chút dấu hiệu thay đổi
Chúng ta bay đến lúc hết hơi

Sống

Chọn một niềm đau. Mỗi ngày
Để sẻ chia với thế giới
Dân tộc này

Chọn một niềm tin. Mỗi ngày
Để có mặt trên trái đất
Lãnh thổ này

Chọn một cái chết. Mỗi ngày
Trong con mắt chế độ

Để được tự do

Không thế khác

Những người anh em

Đã phản bội chúng tôi

Đã nén chúng tôi vào ngục

Đã nhuộm đỏ màu da chúng tôi

Đã hy sinh mạng sống chúng tôi

Cho những giấc mơ ngột hứng của họ

Những người anh em

Vẫn lừa lọc chúng tôi

Vẫn tước đoạt ánh sáng, giọng nói chúng tôi

Vẫn dọa chúng tôi

Bằng súng và thực phẩm

Ngoài sức tưởng tượng của họ

Chúng tôi

Dưới bầu trời đen thẳm

Từng ngày từng ngày

Không lúc nào ngơi nghỉ

Việc nghĩ đến họ

Cầu

Nguyện

*

—————————————————-

 

Thư gửi cộng đồng đại học và cộng đồng nghiên cứu Việt Nam

19-3-2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Theo Bauxite Việt Nam

Sáng nay, 18/3/2014, tôi đọc được trên trang Bauxite Việt Nam bàiTư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương”, và biết được rằng Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã ra quyết định thành lập Hội đồng Khoa học thẩm định lại luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan. Hội đồng Khoa học này (không rõ gồm những ai) đã ra quyết định thu hồi luận văn, không công nhận học vị thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan.

Đồng thời qua đơn kêu cứu của người hướng dẫn khoa học của luận văn này, đăng trên báo Kinh doanh và Pháp luật, tôi được biết PGS Nguyễn Thị Bình bị buộc về hưu trước thời hạn 5 năm không có lý do, và bà đã viết đơn thư hỏi Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nhiều lần nhưng không được hồi âm.

Tôi viết thư này đề nghị tất cả những người Việt Nam đã và đang làm việc trong hệ thống đại học và nghiên cứu, ở Việt Nam hay ở nước ngoài, lên tiếng về vụ việc này và có các hoạt động để bảo vệ hai đồng nghiệp của chúng ta là Đỗ Thị Thoan và Nguyễn Thị Bình. Đừng để họ vì có sự can đảm trong hoạt động nghiên cứu mà phải chịu bất công. Các anh chị bảo vệ họ, cũng là bảo vệ chính các anh chị, bảo vệ phẩm giá và danh dự của những người làm giáo dục và nghiên cứu, bảo vệ nền giáo dục và học thuật của nước nhà, bảo vệ các sinh viên đang học tập ở các trường đại học, và bảo vệ các thế hệ tương lai của chúng ta.

Trân trọng cảm ơn!

Sài Gòn, 18/3/2014

Nguyễn Thị Từ Huy

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

nguồn: boxitvn.blogspot.com

* * *

Tư liệu: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương

18-3-2014

Nguồn: boxitvn.net

Dưới đây là trích đoạn từ một công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương. Sau này, nếu ai có hứng thú nghiên cứu, xin mách một đề tài hay, xứng đáng tầm luận án tiến sĩ: Tự do ngôn luận nhìn từ công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương.

Quả là Ban Tuyên giáo Trung ương có “con mắt nhìn sáu cõi”, quán xuyến từ nhỏ đến to, từ trong nước đến quốc tế.

Chuyện luận văn của Đỗ Thị Thoan ba năm sau khi bảo vệ với đánh giá xuất sắc, bị “phê bình tập thể” và nay bị “hội đồng thẩm định” ra quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học hàm [sic!] thạc sĩ, Ban Tuyên giáo chỉ thị “báo chí không đăng tải ý kiến, đơn thư trái chiều”, nghĩa là bịt miệng dân.

Nhân tiện, xin hỏi: Có công khai được danh sách các nhà “khoa học” tham gia cái “hội đồng thẩm định” đó không ạ? Ý kiến cụ thể của từng vị ra sao ạ? (Và cũng xin nhắc để mọi người nhớ rằng, PGS TS Nguyễn Thị Bình vì ‘tội” hướng dẫn cho cô Đỗ Thị Thoan, đã bị cho về hưu sớm đấy – xin xem ở đây).

Chuyện nhỏ mà, chứ có to như chuyện máy bay trở [sic!] khách MH370 của Malaysia bị mất tích đâu, xin cứ công khai để bàn dân thiên hạ biết “hội đồng” đã làm việc một cách đầy lương tâm chức nghiệp như thế nào.

Chuyện Ucraina cách Việt Nam mấy ngàn cây số cũng được Ban Tuyên giáo quan tâm sâu sát. Không phải vì Việt Nam có quyền lợi gì ở xứ Ucraina xa xôi, như EU hay Mỹ, mà hẳn là vì Ban lo xa, sợ dân Việt liên hệ với tình hình trong nước, thì bất lợi cho việc “trị an”. Chứ không sao?!

Báo chí Việt Nam bị “cầm tay chỉ việc” như thế, mà Việt Nam vẫn tự hào là đảm bảo quyền tự do ngôn luận, vẫn đường đường là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, cơ đấy!

Hình như một nhân vật của Nam Cao, để tán thưởng, thường hay vỗ đùi kêu lên: “Tài thật! Tài thật! […]”.

Bauxite Việt Nam

clip_image002_thumb1.jpg

Nguồn ảnh: FB Nhị Linh  (dịch giả Cao Việt Dũng)
 
—————————————————-
 

”Khi Hữu Thỉnh đọc thơ Lý Đợi

Để biết thêm điều gì đã làm cho nhóm Mở Miệng bị xem là phản động và lấy văn chương kích động người đọc ra sao, mời quý vị nghe bài thơ mang tên “chúng nói: sông có thể cạn, núi có thể mòn” của Lý Đợi qua giọng đọc của chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, ông Hữu Thỉnh:“

Chúng nó nói
Chúng nói
Sông có thể cạn
Núi có thể mòn

Chúng nói
Sông có thể cạn Núi có thề mòn

Và tôi thấy chúng làm:

Chúng đuổi người đi đường
Chúng không cho người dân cất tiếng nói
Chúng bao vây và trấn áp người biểu tình chống xâm lăng
Chúng cho người trà trộn vào đám đông biểu tình để phá thối, gây chia rẽ

Chúng bảo chúng ta bị xúi giục
Chúng coi thường sự hiểu biết của nhân dân
Chúng bảo mất Hoàng Sa – Trường Sa không phải lo.
Hãy về nhà ngủ và tin vào Cộng sản và nhà nước.
(Tin chúng mày để hôm nay thấy Sài Gòn & Hà Nội đầy một lũ tay sai Bắc Kinh à?)

Chúng vu khống những người yêu nước là phản động
Chúng muốn chúng ta vĩnh viễn là nô lệ
Chúng đã lăng mạ lòng tự trọng dân tộc
Chúng đã phỉ nhổ vào lịch sử
Chúng đã đập bàn thờ tổ quốc
Chúng đã ném cứt vào xương máu những người đã chết cho quê hương

Chúng tóm cổ các nhà báo tự do
Chúng đe doạ, đánh đập văn nghệ sĩ
Chúng khủng bố các nhà trí thức
Chúng theo dõi điện thoại, email
Chúng hiếp dâm nhân quyền…

Và chúng nói tiếp, sau khi làm:
“song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.”

Quý vị vừa nghe ông Hữu Thỉnh đọc bài thơ của Lý Đợi. Dĩ nhiên ông đọc lên để phê phán và kết án bài thơ này trong hội nghị của Hội Nhà Văn Việt Nam nhưng có một điều nghịch lý là khi nghe bài thơ qua giọng đọc hùng hồn của ông, người ta có cảm giác ông đang khen bài thơ, khen một cách chân thành vì ngôn ngữ bài thơ sống động bất ngờ đã lái cảm xúc của ông qua một hướng khác, hướng “Mở Miệng” ra để nói những lời chân thật?”

 https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=Tx5n6NpUikE
 
—————————————————–

Viết nhanh nhân vụ luận văn của Đỗ Thị Thoan, hay “Chúa đã bỏ loài người…”

19-3-2014

Vũ Thị Phương Anh

Blog Giáo Dục Việt Nam

Bài viết này của tôi không liên quan trực tiếp đến các vấn đề lý luận của giáo dục học, nhưng liên quan đến những hiện tượng đang diễn ra trong ngành giáo dục, mà theo tôi là đáng được lưu ý và cần được diễn giải trên cơ sở khoa học. Tất nhiên để lý giải nó thì cần có đầy đủ dữ kiện từ những người bên trong, là điều mà hiện nay tôi chưa thể (không thể?) có. Nên entry này tôi chỉ viết nhanh những cảm nhận đầu tiên của mình liên quan đến sự việc ấy mà thôi, hoàn toàn không có ý định đưa ra những kết luận gì cả.

Số là gần đây báo chí có nhắc đến vụ một luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn học VN của một thạc sỹ trẻ tên là Đỗ Thị Thoan (ĐTT), được thực hiện ở ĐH Sư phạm Hà Nội năm 2010 với điểm chấm tuyệt đối là 10/10.

Để thực hiện luận văn, ĐTT đã chọn phân tích thơ của nhóm Mở miệng, một nhóm thơ trẻ “ngoài luồng” mà tôi có đọc qua một vài bài thơ nhưng không quan tâm lắm. Thực sự nếu vụ này không được làm ầm lên trên báo thì tôi sẽ chẳng bao giờ biết đến luận văn này hoặc tác giả của nó.

Khi vụ việc được đưa ra lần đầu trên báo Văn nghệ TP HCM cách đây ít lâu thì tôi hoàn toàn không quan tâm và cũng không hiểu tại sao việc đã xong từ 2010 (và đã được các vị lão sư, những người thầy của thầy, đánh giá là rất tốt – điểm số đạt được của luận văn (LV) đã khẳng định như thế) – mà mãi đến 3 năm sau mới được tác giả của bài báo lôi ra phân tích với những lời kết án hết sức nặng nề như vậy. Ban đầu tôi nghĩ có lẽ vụ này cũng chỉ là việc các nhà phê bình văn học đem ra nói cho có chuyện mà nói, vì đời sống văn hóa nghệ thuật của ta không có gì để tranh cãi thì… buồn lắm.

Nhưng không ngờ sau đó vụ này lại được đưa lên những tờ báo đại diện quan trọng cho quan điểm chính trị tư tưởng chính thống và có thể gọi là “chuyên chính” của Đảng và Nhà nước.

Ví dụ như Quân đội nhân dân (có đến mấy bài, và đây là bài gần nhất http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/6/66/66/252973/Default.aspx),

Báo Thanh Tra (thử đọc bài cuối này của loạt 3 bài liên quan đến luận văn http://thanhtra.com.vn/ky-cuoi-khong-the-xam-pham-gia-tri-thieng-lieng_t221c8n57577tn.aspx),

chứ không chỉ là những tờ báo, trang blog của các văn nghệ sĩ và nhà báo (lề phải) khác.

Rồi gần đây nhất, theo thông tin của báo chí nước ngoài, cụ thể là một bài viết mới đây của đài RFA, thì tôi được biết là chính vì những bài viết phê bình này mà cô thạc sỹ trẻ ĐTT đã bị cắt hợp đồng và không còn được đứng lớp (cô đang dạy theo hợp đồng ở Khoa Văn của ĐHSP nơi cô làm luận văn), còn người giáo sư hướng dẫn cô làm luận văn thì bị cách chức trưởng khoa. Quả là những hệ quả không ai ngờ được cho những người làm nghề giáo và làm khoa học.

Những thông tin này khiến tôi nhớ lại một buổi nói chuyện gần đây với một số bạn bè thuộc khối ngành nhân văn (ngôn ngữ, văn học, ngoại ngữ vv), gồm một vài giảng viên, dăm ba nghiên cứu viên làm việc trong các viện nghiên cứu, và mấy người học viên cao học.

Hôm ấy, những bài báo đầu tiên về luận văn này mới được đưa ra, khiến cho mọi người trong giới ai ai cũng xôn xao bàn luận. Nhưng sự xôn xao đó không phải là về nhóm Mở miệng hoặc cuốn LV của ĐTT, mà là vì những bài viết trên báo chí chính thống đó nặng về lên án dựa trên cảm tính, ném đá hơn là một sự trao đổi, phê bình dựa trên cơ sở lập luận khoa học. Đa số mọi người đều cho rằng cách viết như thế khiến cho loạt bài hầu như rất ít giá trị khoa học, chưa bàn đến là kết luận của những bài báo này có đúng hay không.

Điều làm cho tôi nhớ nhất về buổi nói chuyện hôm ấy là sự băn khoăn của một cậu học viên cao học còn khá trẻ, đã hỏi đích danh tôi hai câu hỏi như sau:

(1) Mục đích của khoa học phải chăng là đi tìm và lý giải các hiện tượng mới (như trường hợp của ĐTT và nhóm Mở miệng), dù cách lý giải đó có thể là chưa hoàn toàn đúng, hay là cứ quanh quẩn mãi với những hiện tượng cũ kỹ đã được nhiều người nghiên cứu và có sẵn những kết luận mà ai cũng biết, để được an toàn và làm vừa lòng những quan điểm thủ cựu?

(2) Một luận văn thạc sỹ là một công trình khoa học và tác giả của nó là một nhà khoa học, vậy điều quan trọng trong việc thực hiện một công trình phải chăng là có một cơ sở lý thuyết và phương pháp thực hiện phù hợp, hay là gạt qua hết những vấn đề lý luận và phương pháp mà chỉ xem xét những kết luận để xem nó có giống với những gì mình đã nghĩ sẵn trong đầu hay không, và lên án nó nếu nó không làm mình vừa lòng?

Tôi đã lặng im không trả lời, vì tôi biết tất nhiên cậu học viên nọ không cần đến nó. Hai câu hỏi ấy chỉ là hai câu hỏi tu từ, khi đặt ra câu hỏi cũng là đã tự trả lời. Nhưng cũng chính vì hai câu hỏi ấy mà hôm nay tôi phải tìm đọc lại các tài liệu về lý luận phê bình văn học để có cơ sở xem Đỗ Thị Thoan có thực sự đáng bị phê phán nặng nề như trên báo chí hay không.

Và để cho bài bản, tôi đã đọc lại một tài liệu nhập môn rất căn bản về Lý luận phê bình văn học, cuốn Introduction to Literature, Criticism and Theory (3rd edition, Pearson 2004). Nhân tiện, các bạn có thể vào đây mà lấy về đọc hoặc lưu, vì đây thực sự là một tài liệu quý mà không hiểu ai đó đã đưa lên mạng để mọi người có thể sử dụng miễn phí: 

http://site.iugaza.edu.ps/ahabeeb/files/2012/02/An_Introduction_to_Literature__Criticism_and_Theory.pdf)

Toàn bộ cuốn sách đều đáng đọc, tuy nhiên, do vụ Đỗ Thị Thoan nên tôi chỉ đọc lại chương về Hậu hiện đại Postmodernism (chương 29), vì qua những gì tôi đọc được trên báo chí thì tôi tin rằng ĐTT đã dựa trên quan điểm hậu hiện đại để phân tích và đưa ra những kết luận trong luận văn của mình về nhóm Mở miệng. Và càng đọc, tôi càng có cơ sở để tin rằng nếu xét theo hai tiêu chí về chất lượng của một nghiên cứu khoa học như đã được cậu học viên cao học của tôi nêu ra ở trên, thì kết quả 10/10 cho Đỗ Thị Thoan có lẽ là xứng đáng, vì:

– LV đã chọn một đề tài mới mẻ (tiêu chí 1),

– LV đã chọn một khung lý thuyết phù hợp để thực hiện phân tích, ở đây là lý thuyết hậu hiện đại (tiêu chí 2).

Tất nhiên, vì chưa đọc LV nên tôi không thể bàn thêm được là những phân tích của ĐTT có thực sự logic theo chính khung lý thuyết mà tác giả đã chọn hay không.

Như vậy, theo tôi thì vấn đề cần bàn về LV của ĐTT nên xét theo những tiêu chí khoa học rõ ràng, và kết luận trên cơ sở những tiêu chí đó. Còn việc sử dụng kết quả nghiên cứu đó, ví dụ có cho phép phổ biến rộng rãi nội dung của LV hay không, có nên đem áp dụng những quan điểm của tác giả trong việc quản lý văn hóa, nghệ thuật hay chưa thì đó lại là vấn đề khác, vấn đề của các nhà quản lý và các nhà chính trị, không phải là chuyện khoa học.

Tôi nghĩ, hiện nay chúng ta đã mở cửa và hội nhập sâu rộng về nhiều mặt với thế giới, và các nhà khoa học của ta cần phải tiếp cận cũng như có khả năng sử dụng các lý thuyết mới trong các ngành khoa học, trong đó có ngành lý luận văn học. Vì không có lý gì mà chúng ta lại buộc các nhà khoa học chỉ được áp dụng duy nhất một quan điểm, ví dụ quan điểm Mác-xít, để phân tích mọi hiện tượng, khi thế giới đã phát triển nhiều lý thuyết mới để lý giải các hiện tượng đa dạng và phức tạp trong xã hội.

Nếu vì lý do gì đó mà phải buộc mọi người chỉ được theo một quan điểm duy nhất thì có lẽ chúng ta phải xem xét lại rất nhiều chính sách khác nữa: có nên cho phép mọi người đi du học không, có nên thu hút các nhà khoa học trên thế giới đến làm việc với chúng ta hay không, có nên kiểm duyệt mọi thứ sách báo gửi vào VN hay không, có nên cho mọi người tiếp cận Internet và đài phát thanh, truyền hình nước ngoài hay không, và có lẽ, quả thật thế, có nên mở trường đại học để mọi người đi học hay không, hay nên đóng cửa hết các trường đại học và mở ra các công trường, nông trường để mọi người vào đó lao động, như TQ thời cách mạng văn hóa, hoặc Bắc Triều Tiên hiện nay.

Cuối cùng, để mọi người cùng có chung một số thông tin về lý luận hậu hiện đại, xin trích dịch (dịch ý, không dịch từng từ) và tóm tắt ở đây một số điểm quan trọng trong chương sách mà tôi đã đề cập ở trên (hậu hiện đại):

[T]he postmodern appears to welcome and embrace a thinking of itself in terms of multiplicity. It resists the totalizing gesture of a metalanguage, the attempt to describe it as a set of coherent explanatory theories. Rather than trying to explain it in terms of a fixed philosophical position or as a kind of knowledge, we shall instead present a ‘postmodern vocabulary’ in order to suggest its mobile, fragmented and paradoxical nature. (p. 261)

Đặc điểm cốt lõi của trường phái hậu hiện đại là tính “đa diện”; nó không chấp nhận một hệ thống siêu ngôn ngữ để mô tả nó theo bất kỳ một hệ thống lý luận cụ thể nào. Những thuật ngữ được dùng để mô tả nó cho thấy nó là một hệ thống động (mobile), rời rạc (fragmented), và đầy nghịch lý (paradoxical).

Little and grand narratives

One of the best-known distinctions in the postmodern is that made by Jean- François Lyotard concerning what he calls ‘grand’ narratives and ‘little’ narratives. ‘Grand narratives’ such as Christianity, Marxism, the Enlightenment attempt to provide a framework for everything. Such narratives follow a ‘teleological’ movement towards a time of equality and justice: after the last judgement, the revolution, or the scientific conquest of nature, injustice, unreason and evil will end.

Lyotard argues that the contemporary ‘worldview’, by contrast, is characterized by ‘little narratives’. Contemporary Western discourse is characteristically unstable, fragmented, dispersed – not a world-view at all. ‘Little narratives’ present local explanations of individual events or phenomena but do not claim to explain everything. Little narratives are fragmentary, non-totalizing and non-teleological. Lyotard claims that, in the West, grand narratives have all but lost their efficacy, that their legitimacy and their powers of legitimation have been dispersed. Legitimation is now plural, local and contingent. No supreme authority – Marx, Hegel or God – can sit in judgement.

Theo Jean-Francois Lyotard, trường phái hậu hiện đại phân biệt rạch ròi giữa “những kế hoạch lớn” và “những câu chuyện vặt”. Những kế hoạch lớn như của Đạo Thiên Chúa, hay của Chủ nghĩa Mác, hoặc của Thời Khai sáng nhắm đến việc đưa ra một khung giải thích cho toàn bộ thế giới. “Những kế hoạch lớn” như vậy tin rằng thế giới này vận động theo một hướng sao cho cuối cùng chúng ta sẽ đạt được sự bình đẳng và công lý: sau cuộc phán xét cuối cùng, hay sau một cuộc cách mạng, hoặc sau sự thành công của khoa học trong việc khám phá thiên nhiên, thì những bất công, sự phi lý và các ác sẽ phải chấm dứt.

Lyotard lập luận rằng quan điểm đương đại về thế giới thì ngược lại với quan điểm trên, và đặc điểm của nó là “những câu chuyện vặt”. Câu chuyện của thế giới phương tây hiện đại ngày nay thì bất ổn, rời rạc, đứt khúc – hoàn toàn không có một thế giới quan nào cả. “Những câu chuyện vặt” thì vụn vặt, không thể khái quát hóa và không có mục đích. Lyotard khẳng định rằng ở phương Tây giờ đây “những kế hoạch lớn” không còn hiệu nghiệm, và sức mạnh cũng như tính chính danh/hợp pháp của nó hầu như đã mất. Tính hợp pháp/chính danh hiện nay có các đặc điểm là đa dạng, đậm màu sắc địa phương, và chỉ có giá trị tạm thời. Không còn Đấng tối cao nào – Marx, hay Hegel, hay Thượng đế – có thể ngồi trên tòa cao mà phán xử được nữa.

(Ghi chú: Nhà văn Vũ Hạnh gọi “Grand narratives” (mà tôi dịch là “những kế hoạch lớn”) là “đại tự sự”. Một cách xử lý ngôn ngữ theo tôi là gọn gàng và đạt cả tín và nhã; cách dịch của tôi thì chưa đạt lắm và chỉ có thể gọi là “diễn dịch” mà thôi.)

Vâng, “không còn Đấng tối cao”. Từ trước năm 1975 nhạc sĩ TCS (hình như thế) cũng đã thốt lên: Chúa đã bỏ loài người… Chẳng lẽ nền lý luận của chúng ta, những người Mác-xít và vô thần, những người tin vào biện chứng pháp, lại muốn biến Marx hay ai đó thành đấng tối cao mới để ngồi trên tòa cao phán xử hay sao?

 

————————————————————-

 

“…Tôi vừa trôi vừa nhìn tôi trôi. Tôi nhắc mình phải tin vào ngôn ngữ, thơ ca, tình yêu, tình bạn, kí ức, sự tồn tại của ý nghĩa, cái có thực của niềm vui, của say mê, tôi phải tin vào những giấc mơ và tiếng gọi của người chết…”

Nghĩ vụn về những gã đàn ông và một cô gái nhỏ

 

nhathuyen01
Nhã Thuyên – Đỗ Thị Thoan

Nhã Thuyên:

Tôi không nói những lời này để kết thúc một sự việc, chỉ là để khép lại một đoạn đường. Và dù tôi đã làm bạn thất vọng lẫn lo âu, tôi chỉ muốn nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn… Cảm ơn vì đã gặp, đã biết, đã nghe, đã va chạm, đã hiểu, đã yêu nhau, dù chỉ trong những khoảnh khắc.

Lúc này, tôi chỉ muốn nói yêu.

———–

Tôi chưa bao giờ nặng lời về đàn ông Việt Nam. Vì tôi nghĩ như thế là vơ đũa cả nắm, và bất công. Vì tôi kính trọng cha tôi, yêu người đàn ông duy nhất của đời tôi, cũng như quý mến những người đàn ông khác là thầy, là bạn, là đồng nghiệp mà tôi biết.

Nhưng đọc xong những dòng “Thư cuối năm”, cũng là entry gần đây nhất (dù đã cách đây hơn 3 tháng) trên blog của Nhã Thuyên, cô gái vừa bị tước bằng thạc sĩ ở ĐH SP Hà Nội (ai chưa biết có thể google để biết) rồi nhớ lại những gì người ta đã viết và đã làm với cô gái nhỏ ấy (trong độ tuổi 20, vừa bằng tuổi con tôi), thì tôi bỗng thấy vừa phẫn nộ vừa ghê sợ những gã đàn ông có liên quan đến “vụ Nhân văn Giai phẩm hiện đại” này. Và ghê sợ đàn ông Việt Nam nói chung, vì quả thật những gã đàn ông như vậy ở Việt Nam sao nhiều quá.

Thử nghĩ xem: Một bên là rất đông những kẻ có tuổi bằng cha cô ấy, có bằng cấp, có chức vụ, có quyền lực, có cả truyền thông và đám đông sẵn sàng hùa theo tung hô đả đảo.

Một bên là một cô gái trẻ, yêu văn học, liều lĩnh tìm cho mình một con đường mới, chọn một góc nhìn mới, và nói lên những điều mình tin với một sự can đảm không ngờ. Cô ấy chỉ có một mình – hoặc đúng hơn, là còn một phụ nữ khác đồng cảnh ngộ, người hướng dẫn của cô ấy, Giáo sư Nguyễn Thị Bình, giờ đã bị buộc nghỉ hưu trong khi lẽ ra bà còn có thể làm việc thêm 7 năm nữa. Hai người phụ nữ chân yếu tay mềm, một thầy một trò, bị một bọn (xin lỗi về từ này) đàn ông xúm vào đánh hội đồng. Thật không thể tưởng tượng được.

Tôi nặng lời quá phải không ? Không đâu, hãy đọc những lời lẽ của Nguyễn Văn Lưu, Vũ Hạnh, Đông La… khi viết về Nhã Thuyên (có thể tìm trên mạng), rồi đọc lời lẽ trong bài viết của cô gái trẻ ấy, để đánh giá xem sự phẫn nộ và ghê sợ của tôi như trong những dòng chữ này đã đủ nặng nề chưa.

Vâng, cô gái ấy chân yếu tay mềm và không có một tấc sắt trong tay làm vũ khí. Họ, những gã đàn ông ấy, đã không hề run tay hoặc có chút mủi lòng khi triệt hạ cô, đã ra sức sử dụng những ngôn ngữ thô bỉ và lý lẽ khốn nạn nhất để đạt được mục đích. Họ đã xúm nhau vào, những gã đàn ông sức dài vai rộng, trổ hết những ngón nghề lừa lọc xảo trá của mình để tước đi của cô ấy nghề nghiệp, bằng cấp, niềm tin vào cuộc đời, vào lòng tốt của con người, vào sự tồn tại của lẽ công bằng và điều thiện. Giờ đây, chắc họ đã rất hài lòng, bởi họ đã tước đi của cô ấy gần như không còn gì cả. Chỉ còn mỗi một điều họ không làm được, đó là tước đi của cô ấy sự lương thiện và lòng tự trọng. Mà những cái ấy thì họ cho là không có giá trị, không đáng quan tâm, vì bản thân họ không thấy cần đến chúng bao giờ !

Còn cô gái ấy thì chỉ nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn. Và bây giờ, cô chỉ muốn nói yêu…

nhathuyen02

(*) Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan đã cho hạng xuất sắc (điểm 10), gồm các vị:

Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Long, Tiến sĩ Chu Văn Sơn, Tiến sĩ Văn Giá, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Điệp, Tiến sĩ Nguyễn Phượng và Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình (người hướng dẫn).

Còn “Hội đồng thẩm định” đã quyết định thu hồi luận văn và không công nhận học vị thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan, gồm:

Chủ tịch Hội đồng: Phó giáo sư Tiến sĩ Đoàn Đức Phương, Chủ nhiệm khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, thành viên Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương ; Phản biện: GS Đặng Thanh Lê, chuyên gia về văn học trung đại ; Phó giáo sư Tiến sĩ Phan Trọng Thưởng,nguyên Viện trưởng Viện Văn học,thành viên Hội đồng Lý luận Phê bình Trung ương ; Phó giáo sư Tiến sĩ Lê Quang Hưng, Chủ nhiệm khoa Việt Nam học, Đại học Sư phạm Hà Nội ; và Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Duy Đức, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Tất cả thành viên của Hội đồng thẩm định chẳng ai có công trình gì đáng kể về Văn học đương đại. Hội đồng cũ không được đối thoại, trao đổi gì với “Hội đồng thẩm định”.

———-

Phạm Xuân Nguyên (Nhà lý luận phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên)

…Khoa Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội là một cơ sở đào tạo sau ĐH có pháp quy. Các học viên cao học, nghiên cứu sinh muốn được đào tạo tại đây đã phải trải qua các kỳ thi tuyển. Đề tài của họ đã được thẩm định. Người hướng dẫn được phân công và hội đồng chấm luận văn được thành lập đều phải theo đúng quy trình của Bộ GD&ĐT ban hành và phải được cấp trên quyết định. Cuộc chấm luận văn được tiến hành theo đúng các thủ tục quy định. Biên bản cuộc chấm cũng như các phát biểu của thành viên hội đồng, các điểm số đều được lưu lại hồ sơ khoa học của khoa. Nghĩa là quá trình làm luận văn và chấm luận văn, bậc thạc sĩ cũng như bậc tiến sĩ đều được tiến hành và giám sát bằng một quy trình đã được chuẩn hóa về pháp quy của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Do đó, khi có yêu cầu xét lại bản luận văn thì đòi hỏi đầu tiên là phải tuân thủ đúng quy trình đã có. Bộ hoặc trường, hoặc khoa phải có quyết định thành lập một hội đồng chấm lại luận văn, hoặc giả là hội đồng phúc tra luận văn. Hai hội đồng cũ và mới phải được đối thoại, tranh luận với nhau trên cơ sở khoa học. Kết luận của hội đồng cũ và mới phải được coi trọng ngang nhau trên bàn của cấp ra quyết định cuối cùng. Bản thân người làm luận văn là chủ thể chính của văn bản bị đưa ra mổ xẻ, phê phán, phải được quyền có tiếng nói trình bày, bảo vệ và phản biện công trình khoa học dưới dạng luận văn của mình.
Các ý kiến trên dư luận chỉ là thông tin bên ngoài, không thể coi là chứng cứ khoa học, càng không thể coi là áp lực số đông làm ảnh hưởng, thậm chí xuyên tạc bản chất khoa học của vấn đề. Trong khoa học, tiếng nói của nhà khoa học phải được coi trọng và đề cao. Hiện tại, việc “xử lý” Nhã Thuyên và giáo viên hướng dẫn cô là đã sai quy trình pháp luật, quy trình khoa học. Hội đồng thẩm định lại luận văn chưa có, cuộc họp xét lại luận văn chưa diễn ra, bản luận văn chưa được xem xét lại, người làm và người chấm luận văn chưa được tranh luận lại, thế thì lý do nào để cắt hợp đồng giảng dạy của Nhã Thuyên và cắt chức của người hướng dẫn khoa học bản luận văn đó?
Không ai có tội trước khi bị tòa kết tội. Nguyên lý cơ bản đó áp dụng trong trường hợp này là: bản luận văn Vị trí của kẻ bên lề: thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa và tác giả của nó, người hướng dẫn làm nó và hội đồng chấm nó chưa thể bị quy kết tội phạm gì khi chưa có một đánh giá khách quan, khoa học từ một hội đồng thẩm định bao gồm các chuyên gia của ngành. Bởi vì đây là một đề tài khoa học, một luận văn khoa học nên chỉ chịu sự giám định về mặt khoa học. Nhất là khoa học văn học đòi hỏi rất lớn sự tinh tường và tử tế.

http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-57_3-57_4-3536/

***

Thư cuối năm (Nhã Thuyên)

Hà Nội, 14/12/2013

Gửi những người bạn tôi
đây, đó, này, kia, ấy, nọ

Những ngày soi gương, bỗng nhiên hốt hoảng, tôi nhận thấy mình không thoát khỏi sự khắc nghiệt của ngày tháng và sự khắc nghiệt của chính tôi khi thử thách độ dẻo dai của cơ thể và tim óc mình: ngày ăn dần tôi từng chút một, tôi ăn dần tôi từng chút một. Tôi muốn viết một thư dài lời. Tôi muốn nói với bạn thật nhiều như một kẻ yếu đuối đòi được thở than.

Tôi muốn, theo đề nghị của bạn, “minh bạch hóa” cái gọi là “Vụ Nhã Thuyên”. Giờ đây, tôi cảm thấy nó như một giai thoại thê thảm, bi lẫn hài mà không ít nguy hiểm lẩn quất. Nó có thể cũng chỉ đủ dùng cho một cuộc nhậu suông nhân cách nơi vỉa hè… Nó thế nào, vì sao, kết luận của “họ” là gì, hình thức kỉ luật, hậu quả hữu hình và vô hình, những người trong cuộc khác ra sao, tôi phản ứng thế nào từ đầu tới cuối, tại sao tôi chỉ có một trả lời trên blog cá nhân “như thể viết văn” ? Tôi đã, đang, sẽ ra sao ?

Bạn đừng giận khi tôi nói trời ơi, tôi là kẻ trong cuộc mà cũng là kẻ đứng ngoài, vừa bất an vừa mỏi mệt lơ đãng. Tôi không từ chối trả lời những câu hỏi cụ thể, nhưng cho phép tôi giữ sự bất tín của mình với những khái quát. Tôi không tin việc cố gạch vài đầu dòng rõ ràng về nguyên nhân, diễn biến, hậu quả có thể thoả mãn chút nào sự tò mò và mối quan tâm của bạn dành cho tôi, và nhất là có thể làm tôi thấy những câu trả lời đó là đáng tin. Làm sao tôi có thể minh bạch hóa một chuyện, trong vô vàn những câu chuyện về sự bất công thiếu minh bạch và những điều tồi tệ hơn thế, đã xảy ra ở đây từ quá khứ tới hiện tại mà rút cục, nó chỉ giúp tôi nhìn rõ hơn những hỗn loạn, những mù tối, những khuất lấp, những điều chán nản, mệt mỏi, những uể oải sống trong từng người cụ thể, trong từng nhóm người, sự xấu xí của các hệ thống cưỡng chế tồn tại cá nhân… Nhưng tôi sẽ gắng để bạn có một chút hình dung tôi đã làm gì từ đó, bởi hình như, đó là điều mà bạn đã băn khoăn nhiều hơn cả về tôi, đã lo lắng nhiều hơn cả cho tôi, và sự ân cần trìu mến lẫn trông đợi của bạn làm tôi muốn mở lời.

Tôi ngoài cuộc đấu đá, đâm chém, đổi chác. Tôi ngoài cuộc với chính tôi. Nếu tôi coi tôi là quan trọng, hẳn tôi sẽ ngồi săm soi từng bài viết tấn công tôi hoặc dùng tôi làm điểm tấn công, tôi sẽ huy động hết sức sự minh mẫn để phản bác, chất vấn một chiều, gạch đỏ bôi đen những từ ác độc, tố sự vu khống, đòi hỏi minh bạch, tôi sẽ chép lại trong sổ tay những kẻ ném đá và hả hê nhổ nước bọt lên mình ; rồi sau đó, tôi cũng nên tận dụng cơ hội được biết đến, để góp tiếng nói phản biện về học thuật và văn chương, bày tỏ thái độ với báo chí hội đoàn trong nước, mong mọi người ủng hộ mình,…

Tôi phải dành nhiều thời gian hơn nữa cho thất vọng, giận dữ, uất ức, tố cáo, kêu đòi. Tôi đã không đủ cuồng nộ để tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội văn chương mà nhiều người đã khởi xướng. Tôi là kẻ trong cuộc, kẻ bị/được sử dụng. Tôi coi tôi, một cá nhân, là quan trọng.

Khi không hồi đáp nhiệt tình những đòi hỏi lên tiếng của bạn, trước hết, tôi đòi hỏi tôi bình tĩnh và kiên nhẫn cho sự hiểu. Tôi chủ động tìm đến những người bạn có thể giúp tôi nhìn ra sự việc và lắng nghe lời khuyên, sự chia sẻ của họ. Tôi lắng nghe những tiếng nói phân tích, hướng dẫn, chất vấn, bảo vệ mình, ở trong hay ngoài nước. Tôi đón nhận những emails, điện thoại, tin nhắn, những chia sẻ từ những người bạn hay những người mà sau đó tôi may mắn được làm bạn… Tôi biết việc lắng nghe những tiếng nói đó là quan trọng, không phải chỉ bởi đó là những tiếng nói cho tôi hiểu về sự tồn tại của mình, mà còn bởi, nó bảo vệ niềm tin của tôi về một cộng đồng chia sẻ và phản biện. Câu chuyện một (vài) cá nhân luôn (cần) là một câu chuyện chung. Nếu không có sự cưu mang của cộng đồng những người tự tìm đến với nhau để chia sẻ tiếng nói nhiều phía ấy, có lẽ tôi đã ngã quỵ vì cái xấu, cái thảm bại. Tôi muốn gọi tên từng người bạn đã ở bên tôi, tôi muốn kể tên những người tôi chưa từng được dịp biết mặt, tôi muốn cảm ơn những người đã lên tiếng chỉ vì cảm giác của họ về “lẽ phải”, nhưng tôi biết sẽ là không đủ với một lời cảm ơn.

Thế rồi tôi đã, đang làm gì ? Tôi biết bạn đã có lúc rất thất vọng.

Tôi, thoáng mỉa mai, tôi phải cảm ơn cuộc đời đã quyết định giùm tôi một số việc mà nếu để tự thân, tôi chưa hẳn dám bỏ đi thẳng băng sớm như thế: nó ném giùm tôi bằng đại học lẫn cao học để tôi khỏi phải sử dụng thêm, chặt đứt giùm tôi sự lưỡng lự và rút chân tôi ra khỏi một kết nối nhân duyên nặng nghĩa, nhiều xung đột và ít đam mê với công việc nghiên cứu. Tôi không còn mảy may bận tâm về các hội đoàn. Sự nồng nhiệt và thói hiếu động của tôi với đời sống văn chương tiếng Việt giảm đi nhưng tôi nghĩ điều đó không gây hại. Bây giờ, tôi không tưởng tượng thêm nữa về sự trung lập, độc lập của giáo dục, tôi không vẽ vời về sự thuần tuý của nghệ thuật. Rất nhiều điều lúc này lúc khác có vẻ cần thiết, tôi đã có thể đơn giản là bỏ qua chúng.

Tôi đã, đang, sẽ làm gì sau “tai hoạ” ?

Tôi có thể trả lời thành thật mà không xấu hổ: tôi hầu như chẳng làm gì.

Tôi chưa cuống quýt tìm cách dùng mình vào việc gì đó. Tôi mất việc, và chẳng đi tìm việc.

Tôi làm những thứ linh tinh vô hại. Tôi cắt giảm”đời sống xã hội” của mình. Tôi cũng không ngồi phòng tu kín mà viết lách hay đọc sách.

Nếu tôi đã từng có tham vọng viết lách, giờ là lúc tôi muốn viết không tham vọng, nếu tôi đã từng thích thú ẩn dụ, giờ tôi sẽ viết những lời không ngụ ý, sẽ chụp những bức ảnh phi-ý niệm ghi lại những khoảnh khắc thoáng qua, sẽ làm những video thơ không nội dung không kết quả. Nếu tôi đã từng muốn đọc hết những tên tuổi, giờ tôi chỉ đọc bạn bè. Nếu tôi đã từng nghĩ mình muốn là một người viết “chuyên nghiệp”, giờ tôi kháng cự lại ý định đó.

Tôi sẽ xuất bản mà không cần bận tâm về sự xuất hiện hay lượng người đọc. Tôi yêu những tình yêu không lề thói, không đòi hỏi, những tình bạn vô cầu. Tôi nuôi nấng vài ý tưởng riêng với vài bạn bè thân thiết về giáo dục và nghệ thuật. Tôi là cái gì đó, đang trở thành, đang chuyển hóa thành cái gì đó, và tôi không thấy mình cần phải thành một cái gì đó.

Tôi đã hầu như trần trụi, và sự trần trụi đó vẫn chưa đủ thành thực. Tận cùng của sự thành thực trong một cách sống thơ ca là gì ?

Vài hôm trước, lần đầu tiên trong vô số các giấc mơ của tôi về người cha đã mất, ông (tôi nhắc tôi phải trở lại với cuộc đời ông, một con người bình thường đã đi trước và để lại cho tôi kinh nghiệm về sự bất công, đấu tranh và thất bại) xuất hiện tra khảo tôi về “vụ scandal”, lần đầu tiên trong mơ, tôi thấy ông thật xa lạ ; và khi tỉnh dậy, thay vì buồn nhớ, tôi thấy mệt mỏi và trống rỗng.

Ông hỏi: “Tại sao con không thực hiện điều công bằng với mình ?” Tôi trả lời: “Làm thế nào con thực hiện điều công bằng khi con chưa thấy ý nghĩa của những việc đó ?” Tôi đem giấc mơ kể với bạn, bạn tôi nói: “Ông ấy hích cậu”. Và bạn hỏi, sự công bằng với tôi là thế nào. Tôi trả lời bạn bằng một suy nghĩ dài, quyết định chọn lấy ba từ mà tôi cảm giác chúng giúp nắm bắt sáng rõ hơn ý tưởng của tôi, như một quả dọi cho quan niệm đạo đức cá nhân mà tôi lựa chọn có nó, nhưng không sống theo nó: thành thực (honesty), cảm thông (compassion), trân trọng (respect). Tôi gắng kiên nhẫn để cảm thông, hiểu và trân trọng những dạng ngôn ngữ khác nhau và thành thực trong những quyết định cá nhân. Còn lại, có lẽ tôi xa lạ với việc thực hiện lẽ công bằng theo lẽ phải quy ước nào đó.

Nhưng cả “lẽ công bằng cá nhân” này, tôi cũng không nhất định theo nó. Vì có thể, nó xung đột với tiếng nói bản năng của tôi, vì cơ thể tôi muốn nằm không nghĩ ngợi, muốn chìm đắm tự tại, muốn hoang dã, muốn kháng cự những đòi hỏi về trách nhiệm xã hội và lí tưởng công bằng, cơ thể tôi muốn đòi sự công bằng và tự do cho cảm giác của nó. Một lúc nào đó, có thể, tôi sẽ nghĩ lại và nghĩ khác. Lúc này, tôi chỉ còn muốn nghe được tiếng nhạc của cơ thể, của hơi thở mình. Tâm hồn tôi không ích kỉ một cách ích kỉ.

Bây giờ, tôi nghĩ nhiều hơn về những điều tôi yêu, những điều tôi cần làm, những điều tôi có thể làm. Bây giờ, tôi chỉ thán phục những kẻ sống cho tình yêu. Bây giờ, tôi chỉ muốn dịch mọi ngôn ngữ sang ngôn ngữ của tình yêu. Tôi sẽ không còn đủ sức kháng cự nỗi tuyệt vọng trước cái xấu nếu cả tôi cũng bị đồng bộ hóa vào cỗ máy nặng nề của những thiết chế. Những giấc mơ của tôi sẽ bị nghiền nát. Và đó là điều tôi phải lựa chọn.

Tôi biết mọi sự vẫn mới (chỉ là) bắt đầu, thời gian coi ta là hạt bụi, thời gian sẽ chẳng đưa câu trả lời nào, nếu tôi không làm gì nữa cả. Thật may, tôi đủ kiêu ngạo để những lời độc địa không làm mình tủi giận, đủ khiêm nhường để không phàn nàn cuộc đời và đổ riệt cho “số phận”, đủ dẻo dai để không đay đả chuyện cũ, tôi yêu thương và không đóng cửa trái tim để nhận ra những tiếng nói yêu thương. Những lúc rệu rã, những lúc tôi thấy mình vô dụng nhất, tôi lại thấy những tên người, những khoảnh khắc ấm áp say mê của tình bạn, những ngây ngất của tình yêu, những cuộc trò chuyện, những gặp gỡ, những trái tim lạ lùng, những kẻ mở đường, những cuốn sách cũ, những người chết, những người đang sống…

Nếu có lúc tôi từ chối lời ân cần, không thấy sự trông đợi của bạn, không nhìn ra gương mặt tình yêu, không cảm nhận được cơ thể tôi… thì bây giờ, tôi đang, lặng lẽ, nghe lại, cảm lại, hiểu lại, đang yêu, đang yêu lại, đang học cách yêu và làm đầy hành trình của mình, một lần nữa, một lần nữa, một lần nữa,… Tôi vừa trôi vừa nhìn tôi trôi. Tôi nhắc mình phải tin vào ngôn ngữ, thơ ca, tình yêu, tình bạn, kí ức, sự tồn tại của ý nghĩa, cái có thực của niềm vui, của say mê, tôi phải tin vào những giấc mơ và tiếng gọi của người chết. Tôi phải ôm mang cộng đồng của mình, cái cộng đồng nào đó tôi vẽ ra bằng tim óc, nhưng có hình hài trong những gặp gỡ may rủi. Và tôi muốn tiếp tục sống không hiệu quả, không năng suất, lười nhác, sống mỗi lúc một trần trụi, hân hưởng niềm vui, bảo vệ trái tim dễ tổn thương, giữ gìn sự im lặng và nuôi dưỡng nỗi cô độc, hào phóng tiêu thời gian vào những điều không lề luật, tôi muốn mở tim và buông tay, tôi muốn sống một cuộc đời yếu đuối, vô quyền lực, nhưng hướng về tự do, cái đẹp, và yêu thương. Tôi vẫn chưa cạn. Tôi chỉ để dành sự trống rỗng cho những thứ mới mẻ tràn vào.

Tôi không nói những lời này để kết thúc một sự việc, chỉ là để khép lại một đoạn đường. Và dù tôi đã làm bạn thất vọng lẫn lo âu, tôi chỉ muốn nói cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn… Cảm ơn vì đã gặp, đã biết, đã nghe, đã va chạm, đã hiểu, đã yêu nhau, dù chỉ trong những khoảnh khắc.

Lúc này, tôi chỉ muốn nói yêu.

Nhã Thuyên

——————————————————-

VỤ ÁN NHÃ THUYÊN (Nguyễn Hưng Quốc)

http://bon-phuong.blogspot.com/2013/07/vu-nha-thuyen-nguyen-hung-quoc.html

*Nhà văn Vũ Hnh, tác gi ca “Bút máu” và “Con chó hào hùng” khng đnh trên báo Văn Ngh s 29 phát hành ngày 20-7-2013:
“Tôi cũng đã đc qua, ri b, không quan tâm nhng bài thơ – nếu gi đó là “thơ” – ca nhóm M Ming. Báo chí đã gi rt đúng đó là dòng kênh đen, là thơ đen, thơ rác; mượn màn hu hin đi, xóa b các “đi t s” (trong đó h gi c con c… cũng là “đi t s”!) đ nguyn ra c chế đ, c ch nghĩa Cng sn, ph báng c lãnh t ca chúng ta, mà c nhân loi kính yêu vì cuc đi chiến đu trong như ánh sáng ca Người! H văng tc, dùng nhng th tc tĩu nht đ văng tc vào cuc đi, vàoth chế. H ni longôn t, dùng ngôn t đ ni lon. H được c các trang mng ngoài nước ca các cây bút chng Cng mi ni khen ngi, c vũ và tài tr đ ph biến rng rãi trên Internet.  trong nước cũng có mt vài người bày t cái nhìn c vũ cho s đi mi thơ, cho hhin đi theo kiu “M Ming”.
*

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »