Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 20th, 2012

Việt Nam: Đấu thầu khai thác dầu của Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 20/03/2012

 American Association of Petroleum Geologists (Hiệp hội Địa Chất Dầu hỏa Mỹ ), năm 2005, đã dự đoán Việt Nam sẽ trở thành quốc gia sản suất dầu hỏa đứng hàng thứ 30 trên thế giới. Hiện nay, ở Đông Nam Á, Việt Nam đứng hàng thứ 3, sau Indonesia và Mã Lai Á trong việc sản suất dầu.

Tính từ lúc bắt đầu khai thác dầu 1986  cho tới 2005, Việt Nam đã sản suất được 1 tỷ thùng dầu thô. (nguồn)Theo ước tính vào năm 2004, VN đã sản suất  được 130 triệu thùng dầu thô và 200 tỷ cubic foot ga.

Kể từ năm 1999 cho đến 2010, Việt Nam đã sản suất được 350.000 – 400.000 thùng dầu thô mỗi ngày. (nguồn)

Về ga, kể từ năm 2001 cho đến nay, mỗi năm Việt Nam sản suất được 60 – 240 tỷ cubic foot ga  (Bilion cubic foot). (nguồn)

(1 thùng dầu thô = 42 gallons = 159 lít; 1 gallon = 3 lít 89) và 200 tỷ cubic foot gas (khí đốt).  1 mét khối ga = 35,3 cubic foot ga) (Đơn vị chuyển đổi)

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (GDP khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la) (nguồn), chiếm 40% GDP. Mặc dầu Tổng Công Ty Dầu PVN chỉ việc đào dầu và ga dưới biển đem bán cho nước ngoài, nhưng năm nào công ty này vẫn than lỗ!

Nguồn tài nguyên dự trữ dầu hỏa và ga  của Việt Nam, theo ước tính vào năm 2005 của Hiệp Hội Địa Chất Mỹ, là 6,5 đến 8,5 tỷ thùng dầu thô (nguồn), và 75-100 ngàn tỷ cubic foot ga. ( 35,3 cubic foot ga = 1 mét khối ga).

Nhưng theo một đánh giá khác, vào năm 2011, thì 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có trữ lượng dự trữ khoảng 105 tỷ thùng dầu (nguồn). Con số này gấp 12-16 lần dự đoán vào năm 2005.

Nếu vậy, khi rước chủ thuyết cộng sản ngoại lai đem về VN để xúi dục chiến tranh từ 1946-1954 và 1955-1975, đảng Cộng Sản Việt Nam đã vay mượn tiền bạc của Trung Quốc, đồng ý trao đổi nhượng biển đảo và vùng biên giới phía Bắc, dẫn đến hậu quả là làm thiệt hại của tổ quốc Việt Nam khoảng 600- 800 tỷ đô la.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ký vào năm 1958, đồng ý nhường chủ quyền của 2 quần đảo này cho Trung Quốc để đổi lấy vũ khí đánh Điện Biên Phủ 1954 và đánh Nam Việt Nam 1955-1975 là một quyết định sai lầm về tài chánh rất lớn.

Trong khi đó, Trung Quốc đã đầu tư một số tiền rất lớn, 20 tỷ đô la trong 20 năm,  nhưng nay đã kiếm được món lời lớn hơn gấp 40 lần, hay 4000%. 

1 tỷ thùng dầu theo thời giá hiện nay là 100 tỷ đô la. Nếu Trung Quốc dành hết chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, nghĩa là TQ sẽ khai thác được 80/105 tỷ thùng dầu trong hai quần đảo này, thì TQ kiếm được tối thiểu là 800 tỷ đô la.  So với việc TQ đã viện trợ cho đảng cộng sản Việt Nam 20 tỷ đô la từ 1955-1975, đổi lấy 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì nay TQ có được 800 tỷ đô la. Có thể nói TQ đã trúng đầu tư quá lớn.

TQ  cho biết họ đã viện trợ cho Miền Bắc Việt Nam 20 tỷ đô la trong thời gian 20 năm (1955-1975) (nguồn).

Hiện nay, nhìn thấy rõ được sự suy yếu, sự lệ thuộc và hèn kém của đảng CSVN, (lấy tham nhũng và bao che tham nhũng làm chính sách, lấy bạo lực để đàn áp những ai muốn lên tiếng tố cáo), Trung Quốc ngang nhiên thò tay vào túi tiền của đảng CSVN, là nguồn tài nguyên dầu hỏa. Người ta không biết đảng sẽ phản đối TQ tới cùng, hay chỉ giả vờ la lớn như  bài báo dưới đây.

***

Việt Nam: Đấu thầu khai thác dầu của Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam

DCVOnline.netTin Bloomberg

Công ty Khai thác Dầu khí của Trung Quốc (China National Offshore Oil Corporation) nhắm phát triển và khai thác khu vực phía bắc của Biển Nam Hải vốn có nhiều dầu và khí là vi phạm tính chủ quyền của Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói.

Công ty khai thác dầu khí lớn nhất Trung Quốc này (CNOOC) đã gởi lời mời đấu thầu đến các công ty ngoại quốc năm rồi cho 19 khu (blocks) gần quần đảo Hoàng Sa đang còn nằm trong vòng tranh chấp. Việt Nam nhấn mạnh đến Block 65/24, là khu vực Việt Nam nói nằm cách một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa chỉ một hải lý, và phản đối những điều Trung Quốc đang tiến hành làm là vi phạm lãnh thổ Việt Nam.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam ông Lương Thanh Nghị yêu cầu Trung Quốc “ngưng ngay tất cả các hoạt động vi phạm tính chủ quyền của Việt Nam,” theo bản thông cáo đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm qua. Trung Quốc phủ nhận sự cáo buộc này và kêu gọi Việt Nam tôn trọng tính toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Liu Weimen nói ở cuộc họp báo ngắn ở Bắc Kinh hôm nay.

Các nước láng giềng của Trung Quốc đã bác bỏ bản đồ biển Nam Hải của Trung Quốc như là căn bản cho hợp tác chung cùng tìm kiếm dầu khí, đưa đến những xung đột ở vùng biển vốn rất bận rộn với tàu bè qua lại nhất thế giới. Công ty Exxon Mobil Corp, Talisman Energy Inc. và Forum Energy Plc là ba trong những công ty đã ký hợp đồng khai thác dầu khí ở vùng biển đang còn tranh chấp.

Tranh chấp lãnh hải và “Phản đối bằng mồm”! Nguồn: AFPParacel Island = Hoàng Sa và Spratly Island = Trường Sa

“Có thể hung hăng hơn”

“Việt Nam và Trung Quốc có thể trở nên hung hăng hơn về tính chủ quyền như họ đã từng trong quá khứ,” ông Tony Regan nói. Ông Tony là một nhà tư vấn cho công ty Tri-Zen International Ltd có trụ sở nằm ở Singapore và đã từng là giám đốc điều hành với công ty Royal Dutch Shell Plc trong ngành LNG. “Tôi không nghĩ là có nhiều công ty lớn đáng kể muốn chấp nhận sự rủi ro đó ngoại trừ rất rõ ràng là hai nước đối thoại với nhau và có một sự kỳ vọng đáng tin cậy về chuyện tranh chấp được giải quyết (ổn thỏa).

Block 65/24 nằm ở vùng biển cực nam mà năm rồi Trung Quốc đã mời đấu thầu bao gồm những phần nằm về phía nam của Hong Kong. Mực nước biển trong block này, bao phủ một khu vực lớn gấp hai lần tiểu bang Delaware của Hoa Kỳ, có độ sâu 2 cây số, theo trang mạng của CNOOC.

“Không chắc là khu vực như Block 65/24 và Block 55/03 nằm sau giới hạn mà Việt Nam cho mình có chủ quyền,” HIS Global Insight nói trong bản tường trình năm rồi. “Như thế, nhà thầu có cơ nguy trở nên bị rắc rối khi có căng thẳng chính trị giữa hai nước.”

Trung Quốc đánh bật Việt Nam ra khỏi 30 đảo nhỏ và vùng đá san hô ngầm bao gồm quần đảo Hoàng Sa trong trận hải chiến năm 1974, qua đó đã có 71 binh sĩ thiệt mạng. Hai nước cũng tranh chấp nhau với quần đảo Trường Sa nằm sâu hơn về phía nam, một khu vực mà Phi Luật Tân cũng cho mình có chủ quyền và cũng đã bỏ thầu để khai thác dầu khí.

Số lượng dầu dự trữ ở vùng biển Nam Hải có thể lên tới 213 tỉ thùng (barrel), theo sự khảo sát cỉa Trung Quốc năm 2008 mà Sở Năng lượng Hoa Kỳ đã trích dẫn.

Việt Nam cũng phản đối cuộc tập trận có bắn đạn thật trong tháng này của Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa và kế hoạch triển khai ngành du lịch trong khu vực này, theo bản thông cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

© DCVOnline


                                                                                                 
                                                                                          ***

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh (*)

Thứ Tư,  9/3/2011, 22:36 (GMT+7)

nguồn

(TBKTSG) – Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

 [Nhìn biểu đồ này ta thấy vào năm 2009, nợ của nhà nước chiếm 54,2% GDP, tức khoảng 54 tỷ đô la; và nợ của 81/91 tổng công ty và tập đoàn đoàn quốc doanh là 44,7% hay 44,7  tỷ đô la. Nếu như năm 2008, nợ của chính phủ và nợ của các doanh nghiệp quốc doanh tổng cộng khoảng 60 tỷ đô la (23,9 +36,2). Nhưng chỉ trong vòng 1 năm, từ 2008 đến 2009, nợ đã gia tăng là 40 tỷ đô la!]

Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công (là nợ mà chính phủ vay tiền của nước ngoài-HT) là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

 

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »