Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 29th, 2012

Những đại gia BĐS nợ hàng ngàn tỷ và nguy cơ phá sản đang cận kề

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2012

Những đại gia BĐS nợ hàng ngàn tỷ

(VEF.VN) – Nguy cơ phá sản của nhiều doanh nghiệp bất động sản là khá cao khi mà tiền mặt của nhiều đơn vị đã cạn kiệt trong khi nợ ngân hàng vẫn đang chất đống với lãi suất cao. Một khi doanh nghiệp phá sản không chỉ cổ đông thua thiệt mà cả những người mua nhà theo hợp đồng góp vốn cũng có thể mất trắng.

Gãy lưng vì nợ

Nhiều cảnh báo cho rằng chỉ tới hết quý II/2012, nếu tiếp tục không bán được hàng nhiều doanh nghiệp sẽ không tránh khỏi tình trạng phải bán bỏ dự án hoặc chịu chấp nhận để tài sản rơi vào tay các ngân hàng.

Số liệu từ các hiệp hội bất động sản cho biết, tổng vay nợ của các doanh nghiệp bất động sản đang ở mức 200.000 tỷ đồng (nợ xấu khoảng hơn 8.000 tỷ đồng). Trong khi đó, báo cáo tài chính cho thấy lượng tiền mặt của đa số các doanh nghiệp đang ở tình trạng cạn kiệt.

Trên hai sàn chứng khoán, tính tới cuối năm 2011, trừ một vài trường hợp hiếm hoi có lượng tiền mặt lớn trên 1.000 tỷ đồng như HAG (2.900 tỷ đồng), VCG (1.756 tỷ đồng), VIC (1.231 tỷ đồng), HPG (1.064 tỷ đồng) và một số có tiền mặt thấp hơn nhưng tỷ lệ an toàn vay nợ cao như NTL (300 tỷ đồng), BCI (295 tỷ đồng), còn lại đều có rất ít tiền mặt, trong khi các khoản nợ ngắn hạn rất cao.

Trong những ngày vừa qua, TTCK tỏ ra đặc biệt lo ngại với trường hợp CTCP Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (Hanic – SHN). Giới đầu tư đang bằng mọi cách tháo chạy khỏi cổ phiếu này sau khi Chủ tịch HĐQT SHN công khai thừa nhận về khả năng phá sản. Nhưng số liệu cho thấy, tính thanh khoản của doanh nghiệp này rõ ràng đang ở mức báo động.

Cụ thể, tính tới cuối 2011, SHN chỉ còn vỏn vẹn chưa đầy 1,15 tỷ đồng tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Trong khi đó, nợ ngắn hạn lên tới 401 tỷ đồng (VCSH chỉ có 276 tỷ đồng).

Trong thông báo gửi Sở GDCK Hà Nội ngày 20/3, SHN xác nhận thông tin “Chủ tịch SHN công bố doanh nghiệp đứng bên bờ vực thẳm, hơn 6.000 cổ đông có nguy cơ mất vốn”. Theo đó, SHN cho biết CTCP Beta BQP đang còn nợ Hanic hơn 349 tỷ đồng. Số tiền này Beta đã quá hạn thanh toán hơn 9 tháng. Năm 2011, SHN thua lỗ gần 64 tỷ đồng do trích lập dự phòng phải thu quá hạn thanh toán của Beta là hơn 100 tỷ đồng.

Có thể không đến mức như SHN, nhưng thực tế, trên sàn chứng khoán có không ít các doanh nghiệp bất động sản và xây dựng khác cũng đang ở tình trạng thanh khoản yếu và nợ ngắn hạn, dài hạn đều ở mức rất cao, thậm chí có trường hợp gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu (VCSH).

Trường hợp MVC là một ví dụ. Cổ phiếu có liên quan tới bất động sản và xây dựng này gần đây đã bị tạm ngừng giao dịch do liên tục vi phạm về công bố thông tin. Cho tới thời điểm này, MCV chưa có kết quả kinh doanh quý IV/2011. Tính tới cuối quý III/2011, tình hình thanh khoản của doanh nghiệp này cũng nằm ở mức tệ hại với tiền mặt chỉ còn vỏn vẹn hơn 3 tỷ đồng; nợ ngắn hạn là 320 tỷ đồng (người mua trả tiền trước 47 tỷ đồng), cao hơn nhiều so với VCSH 198,5 tỷ đồng.

Địa ốc Hoàng Quân (HQC) cũng không kém phần khó khăn khi mà tiền và các khoản tương đương tiền tới cuối quý IV/2011 chỉ còn hơn 11 tỷ đồng, trong khi nợ ngắn hạn khổng lồ 1.790 tỷ đồng (trong đó có 661 tỷ đồng người mua trả trước). VCSH của HQC cũng nhỏ so với tổng nợ (712 tỷ so với hơn 2.000 tỷ đồng).

Người hùng oanh liệt một thời SAM của Sacom. Cổ phiếu này trước hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất cáp nhưng sau đó đã chuyển trọng tâm sang bất động sản và đầu tư tài chính. Với quy mô doanh nghiệp khá lớn (VCSH hơn 2.200 tỷ đồng), nhưng tình hình thanh khoản của doanh nghiệp này xem ra cũng không mấy tương xứng. Tính tới cuối năm 2011, tiền và các khoản tương đương tiền của SAM chỉ ở mức gần 33,8 tỷ đồng và thua lỗ năm 2011 là hơn 183 tỷ đồng.

Trong trường hợp PVA, lượng tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp này khá lớn với hơn 49,5 tỷ đồng nhưng nợ ngắn hạn lại cao là 1.110 tỷ đồng (trong đó chỉ có 173 tỷ đồng người mua trả tiền trước), so với mức VCSH gần 263 tỷ đồng.

STL cũng có phần rủi ro hơn về tỷ trọng giữa VCSH/nợ. Tới cuối 2011, tiền và các khoản tương đương tiền cũng không dồi dào, ở mức 15,3 tỷ đồng. Nợ ngắn hạn khá cao: 2.826 tỷ đồng (bao gồm 1.193 tỷ đồng người mua trả tiền trước) so với VCSH 235 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ dài hạn thì tổng nợ của STL lên tới 4.929 tỷ đồng.

Với VPH, các chỉ số không quá xấu nhưng động thái sẽ thanh lý hàng loạt dự án cũng cho thấy doanh nghiệp đang cần tái cơ cấu vốn. Trao đổi với cổ đông tại đại hội tổ chức ngày 20/3, đại diện HĐQT Công ty Vạn Phát Hưng giải trình các dự án tại quận 2, 7, 9 được mua với giá cao khi thị trường sốt đất, nay doanh nghiệp chấp nhận bán rẻ để cắt lỗ. Ước tính thanh lý các dự án này doanh nghiệp có thể thu hồi vốn khoảng 140 tỷ đồng.

Bên cạnh các doanh nghiệp nêu trên, trên TTCK còn rất nhiều doanh nghiệp bất động sản và xây dựng đang gặp khó khăn về bán hàng, kéo theo đó là thiếu vốn, thiếu tiền mặt, nợ dâng cao như S96 (tiền mặt 3,3 tỷ, nợ ngắn hạn 262 tỷ, VCSH 92 tỷ), NVT (tiền mặt 14 tỷ, nợ ngắn hạn 296 tỷ, VCSH 651 tỷ), MCG (tiền mặt 29,7 tỷ, nợ ngắn hạn 1.217 tỷ, VCSH 713 tỷ), TDC (tiền mặt 65 tỷ, nợ ngắn hạn 1.340 tỷ, VCSH 1.254 tỷ), SDH (tiền mặt 12,5 tỷ, nợ ngắn hạn 330 tỷ, VCSH 216 tỷ) …

Ngay cả trong các gương mặt rủng rỉnh tiền nêu trong đoạn đầu thì trên thực tế lượng tiền và tương đương tiền vẫn khá nhỏ bé so với số vay nợ ngắn hạn và dài hạn.

Như VCG nợ ngắn hạn phải trả tính tới cuối năm 2011 lên tới 17.400 tỷ đồng, trong đó chỉ có gần 3.700 tỷ đồng là người mua trả tiền trước. Nợ dài hạn cũng khá lớn (so với VCSH 3.590 tỷ đồng) là 8250 tỷ đồng.

HPG có nợ ngắn hạn lên tới 7.119 tỷ đồng (gần bằng VCSH 7.409 tỷ đồng), trong đó vay và vay nợ ngắn hạn là 4.545 tỷ đồng. Người mua trả tiền trước chưa tới 48 tỷ đồng. Nợ dài hạn là gần 2.370 tỷ đồng.

Cửa nào thoát án tử?

Trong một động thái mới nhất, theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam, Bộ đang xem xét mua lại một số dự án có giá bán 15-17 triệu đồng/m2 để làm nhà công vụ.

Ông Nam cũng không quên khẳng định “việc Nhà nước không phải mua để cứu doanh nghiệp bất động sản cụ thể nào. Trong điều kiện kinh tế bình thường, doanh nghiệp không gặp khó khăn thì Nhà nước vẫn có thể mua, nhưng mua vào thời điểm này thì có lợi vì giá rẻ. Giá đưa ra mang tính thỏa thuận, Nhà nước mua theo nhu cầu, nếu doanh nghiệp không bán thì Nhà nước cũng không ép doanh nghiệp.

Mặc dù vậy, thông tin này cũng đã nhen nhóm lên hy vọng cho khá nhiều doanh nghiệp bất động sản và các nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu bất động sản, cũng như nhiều người mua nhà theo hình thức góp vốn.

Thực chất, kế hoạch mua lại một số dự án bất động sản là một trong những nội dung nằm trong Đề án 254 của Chính phủ về cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015, Chính phủ giao Bộ Xây dựng xây dựng các tiêu chí bất động sản thuộc diện Nhà nước mua lại.

Theo ông Nam, theo đề án 254 các dự án nằm trong diện được mua có thể là công trình, bất động sản đang là tài sản thế chấp ngân hàng sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được. Điều này không chỉ có lợi cho doanh nghiệp mà còn có lợi cho ngân hàng, vì khi đó doanh nghiệp sẽ thu hồi được vốn, trả được nợ và nợ xấu ngân hàng sẽ giảm đi.

Trước đó, trần lãi suất huy động đã được điều chỉnh từ 14% xuống 13%. Động thái này được kỳ vọng sẽ kéo lãi suất cho vay (hiện vẫn khoảng 20-22%) xuống. Mặc dù vậy, mức giảm 1% vẫn là quá ít và các doanh nghiệp bất động sản đang chờ đợi sự điều chỉnh giảm mạnh và nhanh hơn nữa trong bối cảnh lạm phát đang được kiềm chế khá tốt.

Trước đó nữa, trong những tháng cuối năm 2011, NHNN đã hai lần nới bớt nút thắt tín dụng đối với lĩnh vực này. Theo đó, đối tượng tín dụng phi sản xuất đã được xem xét lại.

Với những chuyển biến đang có chiều hướng tích cực trong thời gian qua, dường như các doanh nghiệp bất động sản đã hồi tỉnh phần nào. Sự phục hồi có đến thực sự hay không hay vẫn sẽ bị sốc vào cuối quý II tới khi mà nhiều khoản vay sẽ đồng loạt đáo hạn, chắc vẫn còn phải trông chờ vào lãi suất, vào sự hồi phục của thị trường bất động sản hoặc vào những chính sách hỗ trợ (như mua để làm nhà công vụ) của Chính phủ.

Trên TTCK, cùng với xu hướng đi lên chung, các nhà đầu tư đang phản ứng khá tích cực với các cổ phiếu bất động sản. Nhiều mã đã liên tục tăng trần. Tuy vậy, đâu đó vẫn có nhiều người thận trọng tỏ ra lo lắng về khả năng dễ mua nhầm cổ phiếu lớm mà chẳng may một ngày nào đó ông chủ doanh nghiệp bất ngờ tuyên bố nguy cơ phá sản như SHN.

Tất nhiên, khi một doanh nghiệp bất động sản phá sản thì có nhiều điều phải lo, nhiều người phải lo, từ ngân hàng cho tới cổ đông và cả người mua nhà.

Posted in Tài Chánh-Thuế | Tagged: | Leave a Comment »

►Vì quá tráo trở nên không ai muốn kết bạn thân mà chỉ muốn lợi dụng

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2012

Việt Nam và Hoa Kỳ: một cặp đôi kỳ cục

Nguồn: David Brown – Asia Sentinel

Diên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ

27.03.2012

Một liên minh cơ hội trở thành một quan hệ chiến lược

Đặc biệt trong năm bầu cử của Mỹ, những vấn đề nhân quyền sẽ thử thách sức chịu đựng của sự tái lập quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam – hai cựu thù giờ dường như đang là những người bạn thân.

Các quan chức từ Hà Nội và Washington dạo này thường xuyên gặp gỡ nhau. Ai nghe qua những tiếp xúc song phương này có thể cho rằng những khó chịu của hai thế hệ trước vốn được người Việt gọi là “cuộc chiến tranh chống Mỹ” chỉ là một chướng ngại nhỏ trên con đường tiến tới tình thân.

Thật thế, các quan chức hai bên có vô số chuyện để bàn. Họ đang nhắm vào một danh sách dài về những quyền lợi chung bao gồm thương mại song phương đang bùng nổ, sự hợp tác quân sự giữa hai bên, việc Hoa Kỳ hậu thuẫn những dự án về y tế công, giáo dục và bảo vệ môi trường cũng như một cam kết có thể dẫn đến việc chuyển nhượng kỹ thuật hạt nhân của Hoa Kỳ.

Khi sự chúc tụng bắt đầu sau một ngày thương lượng, đã có những liên hệ đầy hớn hở về “những thành tựu nổi bật” trong mối hợp tác giữa Hà Nội và Washington.

Có hai mục tiêu khiến Hà Nội tái cam kết với Hoa Kỳ:

  • Khả năng của chính quyền trong việc giữ nguyên sự tăng trưởng kinh tế lâu dài cho người dân Việt Nam dựa dẫm một cách quan trọng trên sự dễ dàng truy cập thị trường và vốn đầu tư của Hoa Kỳ, và
  • Hợp tác quân sự của Hoa Kỳ sẽ khiến Trung Quốc thận trọng khi theo đuổi việc mở rộng tham vọng của mình trên biển Đông.

Mối quan hệ kinh tế song phương đang được phát triển kể từ đầu thập niên 1990, khi sự sụp đổ của Liên Sô đã kéo sập bức màn kinh tế “xã hội chủ nghĩa” ngày càng yếu kém của Việt Nam. Quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ được thiết lập vaà năm 1996, và hiệp ước thương mại song phương được ký kết vào giữa năm 1999.

Tuy nhiên, hiệp ước thương mại này đã không được Bộ Chính trị thông qua cho đến hơn một năm sau. Trước hết, giới bảo thủ phải được thuyết phục để từ bỏ nghi ngờ đối với động cơ của Mỹ – đặc biệt là việc nghi ngờ Hoa Kỳ hậu thuẫn Việt Nam đi vào “cuộc cách mạng chính trị hoà bình” theo mô hình Đông Âu. Chướng ngại này đã vượt qua. Đến năm 2007, với sự dẫn dắt của người Mỹ và với thành phần đổi mới thống trị đảng và nhà nước, Hà Nội đã thương lượng để được vào Tổ chức Thương mại Thế giới.

Tuy nhiên, WTO đã không là liều thuốc bổ mà những người cách tân mong muốn. Với sự kiên quyết của giới bảo thủ trong Đảng Cộng sản đầy quyền lực, Hà Nội tiếp tục nuông chiều một hệ thống doanh nghiệp nhà nước béo phì và thiếu hiệu quả. Hệ quả nghịch lý này đã vắt cạn lợi nhuận mà người Việt trông đợi từ quá trình toàn cầu hoá.

Chính sách bế tắc trong việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước có thể giúp giải thích quyết định đầy ngạc nhiên của chính phủ Việt Nam trong việc cùng Hoa Kỳ ngồi vào bàn thương thảo của “Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương” (TPP). Những đối tác khác trong TPP là Singapore, New Zealand, Brunei, Chile, Malaysia, Úc, Peru và sớm sẽ có thêm Nhật, Hàn Quốc, Canada, Mễ và Đài Loan – nhưng rõ ràng là không có Trung Quốc. Việt Nam là quốc gia kém phát triể nhất trong nhóm.

Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương được xem như là bàn đạp để bước đến Thoả thuận Thương mại Tự do Châu Á – Thái Bình Dương và một “khuôn mẫu của thế kỷ 21” trong đó đòi hỏi các thành viên phải đồng ý tự do trao đổi nông nghiệp và dịch vụ, tháo bỏ hạn ngạch và tăng cường việc bảo vệ tài sản trí tuệ.

Trong khi thoả thuận TPP đang được thiết lập, Hà Nội chắc chắn sẽ hưởng lợi qua việc hàng hoá xuất khẩu truy cập dễ dàng vào các thị trường của các nước phát triển. Tuy nhiên, để đổi lại, họ phải bắt buộc phải chấm dứt những nghịch lý trong chính sách đối với thị trường trong nước, chuyên nuông chiều các doanh nghiệp nhà nước và phải giải quyết những quan ngại về quyền lao động cũng như bảo vệ tài sản trí tuệ. Đây có thể chính là chủ đích của giới cải cách, tức là họ có thể hy vọng dùng hiệp ước mở cửa thị trường để thúc đẩy một thoả hiệp về chính sách đối với việc cải cách cơ cấu trong nước.

Sự hợp tác quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một hiện tượng mới lạ hơn, nó là mấu chốt của chiến lược toàn cầu hoá quốc phòng của Việt Nam. Hà Nội cũng theo đuôi những quan hệ quốc phòng gần gũi hơn với các nước láng giềng châu Á, Úc, Nhật, Ấn, Pháp và Nga. Hà Nội hy vọng rằng những mối quan hệ này sẽ củng cố thêm khả năng đứng vững trước sự lấn lướt của Trung Quốc tại những khu vực biển đang bị tranh chấp. Đương nhiên không phải là họ muốn tham chiến. Giới lãnh đạo Hà Nội tôn trọng sức mạnh của Trung Quốc – và trên nền tảng giữa hai đảng cộng sản – đánh giá cao tình hữu nghị với Trung Quốc miễn là nước này ngừng trò uy hiếp.

Quyết tâm không nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền hàng hải của Việt Nam rất phù hợp với quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn những hạn chế tự do đi lại trên những tuyến hàng hải ở vịnh Malacca/biển Đông. Lầu Năm Góc đã hăng hái tăng cường những cuộc tập trận quân sự với Việt Nam, nhắm vào việc tìm kiếm cứu hộ, an ninh biển và hỗ trợ thiên tai. Có những chuyến tàu viếng thăm được đăng tin rầm rộ cũng như những trao đổi tình báo quân sự thầm lặng. Tuy nhiên, trước sự thất vọng của Hà Nội, Washington đã từ chối đề nghị bán những loại vũ khí quân sự hiệu nghiệm.

Thái độ của chính quyền Việt Nam trước vấn đề nhân quyền sẽ vẫn là gánh nặng trong quan hệ Việt – Mỹ. Có một thế hệ người Mỹ gốc Việt thông tường chính trị vốn không những lưu tâm đến những vấn đề này mà còn đủ sức đóng góp vài lá phiếu. Đặc biệt là trong năm bầu cử ở Mỹ, việc Hà Nội đàn áp những người đối lập trong nước có thể thọc chiếc gậy vào trong việc thương lượng song phương về an ninh và thương mại.

Hà Nội không nên ngạc nhiên về việc này. Các quan chức Hoa Kỳ từ Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton trở xuống đều nhấn mạnh rằng việc Việt Nam đàn áp “những tiêu chuẩn toàn cầu về nhân quyền” đang cản trở việc thắt chặt hơn quan hệ hai bên. Các Thượng Nghị sĩ John McCain và Joseph Lieberman đã nói rõ khi họ đến thăm Hà Nội hôm tháng Hai. Việt Nam “muốn có một danh sách dài về vũ khí quốc phòng, [nhưng]… điều này sẽ không xảy ra ngoại trừ thành tích nhân quyền của họ khá hơn.”

Mối liên hệ giữa thành tích nhân quyền và lối vào thị trường Hoa Kỳ của Việt Nam thì không trực tiếp mấy. Trong khi việc bán vũ khí cho Việt Nam cần phải có sự chấp thuận cụ thể của Quốc hội, chắc chắn là Quốc hội sẽ khó mà từ chối hợp tác một khi Hiệp ước Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương được ký kết. Tuy thế, hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn bị yếu thế trước hàng loạt những điều khoản và nghị quyết mà Quốc hội có thể đính kèm trong những dự luật có thể có trong tương lai, trong đó bao gồm một hiệp ước đầu tư và một thoả thuận giám sát việc chuyển nhượng kỹ thuật điện hạt nhân.

Có rất nhiều cách để vấn đề nhân quyền trở thành điều kiện trong hướng đi của Hoa Kỳ. Ví dụ như ngày 20 tháng Ba, Việt Nam đã bị từ chối bởi một uỷ ban do Quốc hội Hoa Kỳ thiết lập nhằm theo dõi việc các quốc gia đối xử ra sao với các vấn đề tự do tín ngưỡng. Uỷ ban này đã đề nghị Việt Nam được đưa vào danh sách “các Quốc gia cần quan tâm đặc biệt,” cùng loại với những nước như Bắc Hàn, Trung Quốc, Iran và Sudan. Viện dẫn cụ thể, nó các buộc rằng Việt Nam “có những vi phạm mang tính hệ thống đối với tự do tôn giáo và tín ngưỡng” trong năm 2011.

Việt Nam đã ra khỏi danh sách đen về tự do tín ngưỡng của Hoa Kỳ từ năm 2006. Việc quay lại danh sách này không bắt buộc chính quyền Hoa Kỳ phải cấm vận Việt Nam – nhưng cũng là một lý do tiện lợi cho Quốc hội từ chối những điều mà Hà Nội muốn từ Hoa Kỳ.

Liệu cáo buộc của uỷ ban này sẽ khiến Việt Nam thay đổi thái độ? Chắc chắn sẽ không bằng con đường rõ ràng – Hà Nội thường ngoan cố khi bị áp lực. Rất hiếm hoặc không có khả năng chính quyền Cộng sản sẽ biểu lộ sự nhân nhượng hơn đối với những ai đòi hỏi dân chủ đa đảng hoặc những ai nhấn mạnh quyền được tự do tín ngưỡng, thành lập các nghiệp đoàn lao động mà không có sự đồng ý của chính quyền. Đây là nền tảng của vấn đề “ổn định xã hội” của chính quyền. Cho dù cải cách hay bảo thủ, các lãnh đạo Hà Nội vẫn cho rằng trong vấn đề sống còn của chính quyền, việc giữ vững quyền chuyên chế độc tài của Đảng thì quan trọng hơn so với bất kỳ mối quan hệ chiến lược hoặc hiệp ước thương mại nào.

Trung Quốc cũng có thể là một vấn đề. Một đe doạ khác đối với tình hữu nghị chín muồi giữa Washington và Hà Nội là việc Trung Quốc can thiệp nhiều thêm vào quá trình khai thác dầu mỏ và khí đốt dọc theo bờ biển dài của Việt Nam. Hai lần trong mùa xuân năm ngoái, các tàu tuần duyên của Trung Quốc đã quấy nhiễu các tàu thăm dò đang làm việc cho Petro Việt Nam và một công ty dầu Philippine. Những sự kiện này đã gây ra một làn sóng biểu tình yêu nước tại Việt Nam và thôi thúc Hà Nội tìm kiếm những quan hệ chiến lược với các nhân vật khác trong khu vực.

Các nhà nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng những khiêu khích vào mùa xuân năm ngoái có thể là những khởi xướng không được cho phép do những phần tử tìm cách bảo vệ tuyên bố chủ quyền khó hiểu của Trung Quốc trên vùng biển Đông kéo dài cho đến Singapore. Thật hay không, rõ ràng là có một thành phần không nhỏ tại Bắc Kinh đang không muốn những quốc gia khác khai thác nguồn dầu mỏ và khí đốt (vẫn chưa tìm ra) mà họ cho là của riêng Trung Quốc.

Các công ty dầu hoả lớn đã được cảnh báo rằng nếu họ muốn kiếm phần từ Trung Quốc, họ nên biến khỏi Việt Nam. Công ty BP của Anh đã sang chuyển các cơ sở ở Việt Nam từ năm 2010, và đầu năm nay công ty dầu lớn thứ hai ở Hoa Kỳ là Conoco-Phillips đã cổ phần trị giá 1 tỉ Mỹ kim của mình tại Việt Nam cho một công ty Pháp. Tuy nhiên, Exson-Mobil lại nói rằng họ vẫn muốn khai thác một mỏ dầu vừa khám phá ngoài bờ biển miền trung Việt Nam.

Các hoạt động thăm dò đang tăng cường vào mùa xuân. Thêm những sự kiện tương tự năm ngoái sẽ gây áp lực khiến Washington phải can thiệp. Chắc chắn là nó sẽ ảnh hưởng đến nền chính trị trong nước của Hoa Kỳ.

Công việc của các nhà ngoại giao là không những phải hiểu được các đối tác nước ngoài nói gì mà còn là vì sao, để giữ vững được cái đầu lạnh đối với các khả năng, và trên hết, không đánh giá quá cao những đề xuất khi báo cáo lại với các ông chủ chính trị của mình. Nếu các nhà ngoại giao làm được điều này, cả Hà Nội và Washington cần xem lại giá trị trong việc khai thác sự nồng thắm trong quan hệ của mình trong một thời gian – ít nhất là cho đến cuối năm. Cả hai bên đều không nằm trong tư thế để tiến xa hơn nữa. Thử thách hiện thời là giữ nguyên những gì đã đạt được, đứng vững trước áp lực, và không bị lôi kéo bởi ảo tưởng và/hoặc buộc tội nhau.

nguồn x-cafevn.org

————

 

Posted in Chinh Tri Hoa Ky, Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN | Leave a Comment »