Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Ba 17th, 2012

►Thân phận “cử tri” và “Đại biểu Nhân dân” ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2012

Lê Anh Hùng
Dân hai lăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.

Tản Đà

Trước tình trạng thu hồi đất nông nghiệp vô tội vạ rồi đền bù rẻ mạt trên khắp các tỉnh thành ở Việt Nam mà không một tổ chức dân cử nào lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho họ, người ta dễ nhận thấy thân phận rẻ rúng của những cử tri nông dân trên một đất nước có tới hơn 70% dân số sống ở nông thôn, những người đã bầu lên đủ kiểu đại diện chính trị cho mình trong một chính thể tự xưng là “của dân, do dân và vì dân”.

Thậm chí, ngay cả khi người nông dân bị cướp trắng thành quả lao động như trường hợp gia đình anh Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng mà vẫn không có một vị “đại biểu nhân dân” nào do họ bầu lên bày tỏ thái độ bênh vực quyền lợi của họ, từ đại biểu HĐND xã cho đến vị ĐBQH quyền uy đầy mình là đương kim Thủ tướng.

[Xin nói leo với tác giả một chút. Tác giả dường như giả vờ bỏ quên 2 vấn đề ở đây: vấn đề thứ nhất, hiến pháp của CH XHCN VN 1980, điều 19, thời Lê Duẫn, đã ghi rõ: “Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân”. Mọi người đọc qua câu ấy thì vui mừng quá vì  mọi người hiểu  chữ sở hữu toàn dân là: dân được quyền làm chủ đất đai. Tuy nhiên, đó là sự hiểu lầm.

Vì  theo đảng CSVN, chỉ có 3 loại quyền sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, và sở hữu tư nhân. Đảng cắt nghĩa rằng: đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân có nghĩa là đất đai thuộc quyền sở hữu quốc doanh, tức là của nhà nước. Và, báo của đảng bộ Hà Nội cẩn thận cắt nghĩa thêm: dân chúng chỉ có quyền sử dụng đất.

Có nghĩa là: nếu lúc nào nhà nước cần trưng dụng miếng đất nào thì sẽ mua lại đất đai của người dân ấy theo giá trị mà nhà nước đặt ra. Đó là lý do mà các đại biểu quốc hội không dám can thiệp.  Vấn đề thứ hai là chữ đại biểu quốc hội của CH XHCN VN do đảng bày đặt ra khác xa với ý nghĩa mà tác giả hiểu.

Thí dụ điển hình: ông Ng Tấn Dũng chưa từng có nhà cửa hay từng cư trú ở Hải Phòng quá 3 ngày, nhưng ông vẫn được xem là đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Phòng. Lý do là: đảng bố trí ông ra ứng cử ở tỉnh đó và chọn ông ta làm đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Phòng.

Đảng là cao nhất, có quyền làm gì thì làm, và các định nghĩa như đại biểu quốc hội chỉ là tên gọi hình thức, chứ không nhất thiết giống như tác giả hiểu về ý nghĩa của chữ nầy. Vì vậy, ông Ng tấn Dũng không can thiệp vào vấn đề mất đất đai của Đoàn Văn Vươn là đúng rồi.

Ở các nước tư bản, tam quyền phân lập, và hành pháp, lập pháp, tư pháp có quyền ngang nhau. Ai làm ở ngành nào thì chỉ là công chức hoặc thuộc về ngành ấy. Không thể có chuyện một người mà cùng lúc làm việc trong 2 ngành. Như thể: Nước sông không thể chung đụng với nước giếng.

Còn ở nước CH XHCN VN do đảng quang vinh lãnh đạo thì có hơi khác chút. Ông thủ tướng Ng. tấn Dũng là thủ tướng, đứng đầu ngành hành pháp, nhưng ông vừa là nhà lập pháp (làm ra luật) vì ông ta là đại biểu quốc hội của tỉnh Hải Phòng.

Ông Trương Hòa Bình vừa là chánh án tòa án nhân dân tối cao (thuộc ngành tư pháp) vào năm 2007, cùng lúc ấy ông cũng là đại biểu quốc hội khóa 12 và 13 (thuộc ngành lập pháp). Mới nghe qua là choáng. Nhưng Đảng phân công như thế mới gọi là khác đời].    

Ở các quốc gia phát triển, mặc dù chính phủ của họ luôn hô hào “tự do thương mại” và đặt ra những đòi hỏi cao về mức độ mở cửa thị trường đối với các nước đang phát triển khi đàm phán các hiệp định thương mại đa phương hay song phương, song nông dân của họ vẫn luôn nhận được nhiều ưu ái, thể hiện qua các chính sách bảo hộ nông nghiệp dưới những hình thức đa dạng và tinh vi, bất chấp thực tế nông dân chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu dân số của họ.

Ở những nước đang phát triển và theo chế độ dân chủ như Thái Lan chẳng hạn, tiếng nói của người nông dân luôn được chính phủ lắng nghe và phản ứng tích cực. Lý do là vì ở những quốc gia đó, nhân dân nói chung và người nông dân nói riêng được hưởng đầy đủ các quyền tự do chính trị, trong đó có quyền lựa chọn người đại diện đích thực của mình trong bộ máy chính quyền. Tuy những chính sách bảo hộ như thế thường nhuốm màu chính trị (chủ nghĩa dân tuý hay chủ nghĩa bảo trợ) chứ không phải vì lý do kinh tế và không một cuốn sách giáo khoa kinh tế nào lại cổ vũ cho chính sách bảo hộ thương mại, song điều này càng cho chúng ta thấy rõ thực tế rằng chính phủ chỉ thực sự là “của dân, do dân và vì dân” khi người dân nắm quyền định đoạt vận mệnh chính trị của nó thông qua những lá phiếu bầu cử dân chủ.
Nông dân Thanh Hóa xuống ruộng ngày 3/2/2012
Ở Việt Nam thì ngược lại, nhân dân nói chung và người nông dân nói riêng xem ra chẳng là “cái vé” gì cả. Điển hình là các đơn kiến nghị, thỉnh nguyện thư đủ kiểu của nhân dân gửi các vị lãnh đạo, các cơ quan nhà nước nhưng hầu như chẳng bao giờ được hồi âm. Vô số bài viết trên các trang báo đã chỉ ra sự bất cập của những chính sách về nông nghiệp – nông dân – nông thôn, song tất cả rồi cũng lần lượt rơi vào im lặng chứ hầu như không tạo ra được một sự biến chuyển đáng kể nào. Đơn giản là với cơ chế “Đảng cử, dân bầu” suốt hàng chục năm qua, các “cử tri” ở Việt Nam gần như chẳng có chút ảnh hưởng gì tới sinh mệnh chính trị của các vị “quan cách mạng” cả.Trong một hệ thống mà Đảng “lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện”, tiếng nói của “nhân dân” hiếm khi được đếm xỉa tới, và tầng lớp “quan cách mạng” từ cấp nhỏ nhất đến cấp cao nhất đều lấy phương châm “dựa vào nhau mà sống” để tồn tại. Các cuộc bầu cử Quốc hội hay HĐND các cấp đều có tỷ lệ cử tri đi bầu đạt gần 100% dù trên thực tế tình trạng thường gặp là một người đi bầu cho cả nhà. Do không có cạnh tranh chính trị nên các con số liên quan đến bầu cử thường bị phù phép, bởi chẳng có chủ thể độc lập nào giám sát thực hư của những con số đó. Quả thực, ngay cả lá phiếu của cử tri, “tiếng nói tập thể” đáng kể nhất của nhân dân, mà còn bị vô hiệu hoá như thế thì còn trông mong gì ở những “tiếng nói” lẻ tẻ khác? Vụ việc ngày 22/5/2011, một người dân ở Cà Mau trên đường đi chợ đã nhặt được 85 phiếu bầu cử HĐND xã có đóng dấu đỏ (hợp lệ) khiến dư luận một phen ồn ỹ, nhưng rồi lại nhanh chóng rơi tõm vào sự im lặng quen thuộc của nhà chức trách, hay loạt bàiChuyện đồng chí Minh Nhớpcủa nhà báo Phan Thế Hải về trò hề “bầu cử Quốc hội” ở Hà Tĩnh một thời, mới chỉ cho chúng ta thấy phần nổi nhỏ xíu của tảng băng khổng lồ thôi.Mỗi kỳ “tiếp xúc cử tri” theo quy định của pháp luật, các vị “đại biểu nhân dân” thường chỉ tiếp xúc với các “đại cử tri” quen mặt và đã được chính quyền sở tại “sàng lọc” kỹ để khỏi đưa ra những câu “hỏi xoáy”. Các vị “đại biểu nhân dân” cũng chẳng cần phải bận tâm nhiều về điều đó, bởi họ làm “đại biểu nhân dân” chủ yếu là do “tổ chức phân công”, do “cấp uỷ bố trí”, hơn là do nhân dân lựa chọn và gửi gắm thông qua những lá phiếu dân chủ. Và do được cấp uỷ “phân công” hay “bố trí” như thế nên một khi trở thành “đại biểu nhân dân”, họ cũng nhất nhất “quán triệt” theo chỉ đạo của lãnh đạo Đảng các cấp. Câu chuyện do nguyên ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết kể về Nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh mà Quốc hội thông qua ngày 29/5/2008 là một minh chứng điển hình: “Khi thăm dò dự án mở rộng Thủ đô, tôi nhớ có 226 phiếu thuận và 226 phiếu chống. Nhưng khi biểu quyết thì tỷ lệ lên tới 92,9% tán thành.” Rõ ràng ở đây chỉ có ba khả năng sau xảy ra: (i) các vị ĐBQH này đích thị là những “con rối”, (ii) họ biết “lá phiếu” hay “nút bấm” của mình luôn ở trong “tầm ngắm” nên sau khi đã được “chỉ đạo” họ đành phải “quán triệt” (bởi một lẽ đơn giản là trong cái gọi là “Nhà nước pháp quyền XHCN” ở VN thì mỗi “công dân” đều là một “tù nhân dự khuyết”), và (iii) con số kia lại bị “phù phép” như đã nói ở trên. “Nhà dột từ nóc”, “quyền lực tuyệt đối thì tha hoá tuyệt đối” – thiết tưởng chẳng có gì đáng phải “băn khoăn” ở đây cả.Chắc chắn là nhiều vị đại biểu nhân dân, đặc biệt là Đại biểu Quốc hội, rất muốn lên tiếng trước những vấn đề nóng bỏng của đất nước hay những bức xúc của cử tri, đơn giản là chẳng ai muốn bị liệt vào hàng “nghị gật” hay “nghị vỗ tay” cả. Ngặt nỗi, bản thân họ cũng chỉ có “quyền” thực hiện vai trò của một “ông bưu điện” là tiếp nhận đơn thư của nhân dân và đóng dấu “kính chuyển” cho các cấp chính quyền rồi ngồi chờ câu trả lời theo kiểu được chăng hay chớ thôi. Những đơn thư chứa chất bao nỗi niềm của nhân dân cứ thế lòng vòng một hồi rồi về lại nơi xuất phát. Bên cạnh đó, những vấn đề lớn của đất nước thì thường bị dán nhãn “nhạy cảm” và được lãnh đạo Đảng các cấp “định hướng” hay “quán triệt” cho các “đại biểu nhân dân”. Bởi thế cho nên giữa lúc bao vấn đề cấp thiết của đất nước đang nổi lên cùng với nhiều bức xúc của dư luận (vụ Tiên Lãng, lạm phát, suy thoái, hiện tượng xe máy cháy hàng loạt, v.v.) mà chẳng thấy tiếng nói của Quốc hội ở đâu thì việc một vị Phó Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội lên tiếng gần như tức thời trước bức thư “cầu cứu” của một cô bé 15 tuổi trong cuộc thi trên truyền hình mang tên “Vietnam’s Got Talent” lại càng dễ khiến người ta cảm thấy sao mà lạc lõng và bi hài, để rồi cả nước lại được một phen bàn ra tán vào. Chợt nhớ câu thơ của thi sĩ Tản Đà hồi đầu thế kỷ trước:Dân hai lăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con.
Xem ra ở Việt Nam không chỉ “cử tri” mà ngay cả “Đại biểu Quốc hội” tại “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” cũng “biết thân biết phận” của mình. Thôi thì lo chuyện trẻ con cũng là một phận sự cao cả ở đời vậy, nhất là ở cái đất nước “bốn nghìn năm vẫn trẻ con” này thì còn có khối chuyện kiểu như thế. Những chuyện “quốc gia đại sự” khác thì đã có lãnh đạo Đảng và “bạn” lo hết cho rồi còn gì: nào là phải quán triệt “ba kiên trì” (kiên trì hiệp thương hữu nghị, kiên trì nhìn vào đại cục, kiên trì bình đẳng cùng có lợi) như “bạn” đã phán này, nào là không để bị “Tây hoá”, “tha hoá” và “thoái hoá” như “bạn” đã dạy này… Ôi ViệtNam, bao giờ Người mới lớn nổi đây?!./.L. A. H.Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.*************

Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai

 Trong suốt thời gian qua, bất chấp mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.

Ở khía cạnh pháp lý, “sở hữu” luôn luôn là vấn đề nền tảng của cả pháp luật kinh tế lẫn pháp luật dân sự. Hơn một nửa thế kỷ qua, việc xây dựng pháp luật ở nước ta đều đã xoay quanh khái niệm này, và trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản và nổi bật. Đó là thông qua các Hiến pháp từ 1946, 1959, 1980 và 1992 và các đạo luật đơn lẻ khác, đặc biệt là Bộ luật Dân sự năm 1995 như một đỉnh cao, sau đó sửa đổi năm 2005,  Nhà nước ta đã khẳng định và sáng tạo ra các chế định liên quan đến chế độ và hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu, các chế định kề cận v.v..Tuy nhiên, có một thực tế là cho tới hiện nay, vẫn tồn tại hai cách tiếp cận với vấn đề sở hữu  khác nhau, thậm chí chồng chéo và lẫn lộn. Đó là tiếp cận chính trị và tiếp cận pháp lý.Nhấn mạnh cách “tiếp cận chính trị”, chúng ta luôn luôn tìm cách phân định và phân biệt giữa chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa (mà nòng cốt là sở hữu tư nhân).  Trong khi đó, cách tiếp cận pháp lý đòi hỏi phải xác định rõ các quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu và các đối tượng liên quan trong các giao dịch liên quan đến sở hữu theo  “hình thức sở hữu”, vốn đa dạng, phong phú và đậm màu sắc thực tiễn hơn “chế độ sở hữu”.Cụ thể, Hiến pháp 1992 quy định ba chế độ sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định các đối tượng quan trọng thuộc sở hữu toàn dân, trong đó bao gồm đất đai và “phần vốn và tài sản Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp …”. Đến năm 2003, trong hai đạo luật quan trọng được Quốc hội thông qua là Luật Đất đai và Luật Doanh nghiệp nhà nước lại có hai quy định khác nhau liên quan đến hai đối tượng thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi Luật Đất đai vẫn khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân còn Nhà nước là “đại diện chủ sử hữu toàn dân”, thì Luật Doanh nghiệp nhà nước lại định nghĩa rằng “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ…”. Trong suốt thời gian qua mặc dù mọi cố gắng của các nhà làm luật, các vấn đề cơ bản liên quan đến sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước vẫn chưa được giải quyết. Tại sao vậy? Và vấn đề nằm ở đâu?Có thể khẳng định rằng lý do không tại năng lực chuyên môn của các nhà làm luật. Vấn đề sở hữu vốn thuộc một trong những phạm trù “cổ điển” của khoa học pháp lý và phạm trù “sơ đẳng” của một hệ thống pháp luật. Do đó, hầu như không có khó khăn gì để minh định nó. Nguyên nhân có thể có nhiều, nhưng theo chúng tôi, phần quan trọng nằm ở các “rào cản” mà các nhà làm luật chưa thể vượt qua cả về tâm lý chính trị và nhận thức chính trị.Về tâm lý chính trị, phải chăng đó là sự e ngại và né tránh để đối diện và cắt nghĩa về lý luận sự thay đổi có tính bước ngoặt của các chế định có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1980 (trong đó khẳng định vị trí độc tôn của sở hữu xã hội chủ nghĩa với hai chế độ sở hữu là “toàn dân” và “tập thể”) thông qua ban hành Hiến pháp 1992 (với sự khẳng định cùng tồn tại của sở hữu tư nhân và nền kinh tế đa thành phần)? Về nhận thức chính trị, phải chăng vẫn tồn tại định kiến xưa cũ rằng chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được bảo đảm và xây dựng trên nền tảng của hoặc chế độ sở hữu toàn dân, hoặc hình thức sở hữu nhà nước ?
Ngoài ra, về mặt lý luận, dường như chúng ta vẫn để mặc nhiên tồn tại quan niệm mang tính giáo điều về phạm trù “sở hữu toàn dân” (cho đây là điều có tính tất yếu khách quan trong một xã hội xã hội chủ nghĩa), ở một cực này, và đơn giản hay tầm thường hoá nó bằng khái niệm “sở hữu nhà nước”, ở một cực khác, mà không có sự đào sâu để làm cho minh bạch.I/ Về chế độ sở hữu toàn dân Khái niệm sở hữu toàn dân là một sản phẩm của quá khứ. Trên công luận và trong một số công trình nghiên cứu thời gian qua, những vấn đề có tính nghi ngờ hoặc phê phán đã được mạnh dạn nêu ra theo hướng (i) có tồn tại thật không chế định này về mặt pháp lý, (ii) thực chất sở hữu toàn dân chỉ là cái “áo chính trị” của sở hữu nhà nước, và (iii) từ sự không rõ ràng của khái niệm và chế định này đã “đẻ” ra nhiều hệ quả và hậu quả khó giải quyết. Sự không rõ ràng này là có thật và được minh chứng bới các mâu thuẫn và không nhất quán trong các quy định của Hiến pháp với Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Đất đai v.v.. Đi sâu về mặt học thuật, có nhiều vấn đề cần bàn luận, thậm chí tranh cãi, về các khái niệm này. Chẳng hạn:Nói đến “sở hữu toàn dân” đương nhiên có thể hiểu đó là quyền sở hữu chung của ít nhất tất cả mọi công dân đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này, về mặt pháp lý, đòi hỏi phải tạo ra một cơ chế để tất cả mọi người dân (tức các đồng sở hữu chủ) đều có quyền tham gia “định đoạt” và “hưởng lợi” từ quyền sở hữu này. Tuy nhiên, dân số vốn là một đại lượng có tính biến động, (chẳng hạn thông qua sự sống, chết và dịch chuyển), do đó, về mặt khách quan sẽ không bao giờ xác định được những ai cuối cùng đã, đang và sẽ là đồng chủ sở hữu. Để đơn giản hoá, sẽ có thể có cách lý giải (mặc dù khiên cưỡng) rằng, Quốc hội chính là chủ thể của sở hữu toàn dân vì là “cơ quan đại diện cao nhất”. Tuy nhiên, Quốc hội chỉ do các công dân từ 18 tuổi trở lên và những người không bị tước quyền công dân bầu ra chứ không phải toàn dân; hơn nữa, về thực chất, bầu cử là hành vi thực hiện các quyền chính trị (để cấu tạo ra bộ máy nhà nước) chứ không phải hành vi uỷ quyền dân sự trong quan hệ sở hữu. Ở đây, chúng tôi muốn nói tới tính vô lý về pháp luật và vô nghĩa về mặt thực tế của khái niệm sở hữu toàn dân. Mặc dù trong thời gian qua, khi cổ phần hoá các xí nghiệp quốc doanh ở Liên Xô và các nước vốn thuộc khối Đông Âu (cũ), để thể hiện thái độ nghiêm túc với chế độ sở hữu toàn dân, người ta đã chia cổ phần của các xí nghiệp này cho mọi người dân, chứ không chỉ “bán một phần cho cán bộ, công nhân viên” như ở nước ta.Còn về “sở hữu nhà nước” thì sẽ có các câu hỏi đặt ra như: (i) Ai là nhà nước? (khái niệm “nhà nước” là một hệ thống các cơ quan và cấu trúc khác nhau chứ không phải một cơ quan tập trung hay thống nhất), (ii) “nhà nước trung ương” hay “nhà nước địa phương?, và (iii) Ai là đại diện cho chủ thể nhà nước? (phân biệt giữa cơ quan chính quyền, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp). Một khi không làm rõ các vấn đề như vậy thì sẽ dẫn tới một loạt hệ quả là các hành động “nhân danh nhà nước” bao gồm cả sự chồng chéo lẫn lạm dụng về thẩm quyền.  Hiện nay, khi pháp luật xác định theo cách giải nghĩa rằng “nhà nước là người đại diện sở hữu toàn dân” thì cần đi tiếp theo lập luận này, mà theo đó chúng ta lại vấp phải vấn đề khác. Đó là, cũng theo pháp luật thì chỉ có Quốc hội là người có quyền đại diện nhân dân (tức đồng thời có thể sẽ là người đại diện sở hữu toàn dân) chứ không phải các cơ quan chính quyền (tức Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các địa phương). Và trong trường hợp như vậy thì cần phải xác định rõ là cơ quan chính quyền (hay nói gọn là “chính quyền”) sẽ chỉ đóng vai trò là người quản lý tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà thôi.Với cách đặt vấn đề như trên, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ XI với các chương trình nghị sự quan trọng được trông đợi như sửa đổi Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, lấy đó làm tiền đề để sửa đổi Hiến pháp 1992, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất như sau:(a)    Về phương diện chủ thể sở hữu:Xem xét bỏ khái niệm và chế định “sở hữu toàn dân” vì không có cơ chế thực hiện đồng thời không có ý nghĩa thực chất, mà thay vào đó xác định các chủ thể mới thay cho “toàn dân” và “nhà nước”. Cụ thể, đưa vào hai khái niệm mới là sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền (bao gồm sở hữu của chính quyền trung ương và sở hữu của chính quyền địa phương như tỉnh, huyện và xã), coi đó là hai hình thức quan trọng nhất của sở hữu công cộng. Theo chúng tôi, khái niệm “quốc gia” không chỉ rộng mà còn sâu sắc hơn khái niệm “toàn dân”. “Quốc gia” bao gồm cả lịch sử của nhiều thế hệ con người Việt Nam sống trên lãnh thổ này (tức quá khứ), hiện tại (toàn dân) và tương lai (bao hàm sự phát triển). Quốc gia là phạm trù khái quát nhưng có thực, tồn tại lâu dài, không phụ thuộc vào người dân với tư cách các cá thể thuộc phạm trù có tính biến động. Sở hữu quốc gia có ý nghĩa đặc biệt, là đối tượng bất di, bất dịch, không thể mua, bán, chuyển nhượng và được bảo hộ đặc biệt.  Sở hữu của chính quyền, ngược lại, có tính linh hoạt. Chính quyền có thể mua, bán, chuyển đổi, chuyển nhượng các đối tượng thuộc sở hữu của mình trên cơ sở Bộ luật Dân sự.(b)    Về phương diện đối tượng sở hữu:Hiến pháp 1992 hiện hành, tại Điều 17, có liệt kê các đối tượng thuộc sở hữu toàn dân, tuy nhiên vừa quá “mở” (rất tuỳ nghi), vừa không cụ thể và đặc biệt không có sự phân loại theo cấp độ quan trọng xét về mặt tài sản của một quốc gia hay nhà nước. Chẳng hạn, khi nói đến các “công trình kinh tế, văn hoá và khoa học…” thì quá mở và tuỳ nghi, hoặc khi liệt kê các đối tượng sở hữu thì lại đồng hạng giữa “đất đai, rừng núi, sông hồ …” với “phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp…” vốn rất khác nhau về tính chất cũng như ý nghĩa chính tị, kinh tế và xã hội. Cần lưu ý rằng tài sản thuộc sở hữu “quốc gia”, “nhà nước” hay “toàn dân” không chỉ mang đến nguồn lợi mà còn là gánh nặng về tài chính và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân, trước hết với tư cách là người đóng thuế, do đó, vấn đề không chỉ là bảo vệ đối với các tài sản này mà còn là sự kiểm soát của nhân dân đối với sự gia tăng của nó (ví dụ sự đầu tư xây dựng công trình hay mua sắm của các cơ quan chính quyền cần phải bị kiểm soát trong các giới hạn theo luật định).  Do đó, chúng tôi đề xuất cần có cơ chế pháp lý để phân định, phân loại, kiểm soát sự gia tăng và biến động cũng như đặt ra các giới hạn về loại cũng như quy mô giá trị đối với các tài sản thuộc loại hình sở hữu đặc biệt này.(Kỳ sau: Về sở hữu đất đai)Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)(Kỳ sau: Về sở hữu đất đai)Chế độ sở hữu toàn dân và vấn đề sở hữu đất đai (Kỳ II)

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

 Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, nhưng khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. II/ Về sở hữu đất đaiNếu lấy mục tiêu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật như thể hiện trong Nghị quyết 48 –NQ/TW của Bộ chính trị năm ban hành năm 2005 về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam từ 2005 đến 2010, tầm nhìn 2020” là thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường và bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân để làm căn cứ đánh giá, thì có thể thấy rằng các quy định pháp luật về đất đai hiện nay đang tiếp tục là các “rào cản”.  Có lẽ không có quốc gia nào có bộ luật về quản lý đất đai đồ sộ và phức tạp như ở Việt Nam, bao gồm Luật Đất đai 2003 và hơn 400 văn bản hướng dẫn sau đó được ban hành cho tới nay. Vấn đề ở chỗ đó không phải là tất cả pháp luật cần có về  đất đai (để điều chỉnh nó như là một loại tài nguyên, đối tượng sở hữu và tài sản theo BLDS) mà chủ yếu là các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước hay quản lý hành chính về đất đai, tức về thực chất xoay quanh bảo vệ các quyền và lợi ích của nhà nước với tư cách là “người đại diện chủ sở hữu (toàn dân) về đất đai”. Khái quát về thực trạng pháp luật về đất đai của nước ta có thể diễn nôm rằng: “xác lập quyền rất khó, sử dụng và chuyển dịch quyền cũng khó nhưng tước bỏ quyền thì rất dễ”. Có nhiều khía cạnh để có thể bàn luận xung quanh thực trạng này, tuy nhiên xét về phương diện “sở hữu toàn dân về đất đai” có thể nêu một số vấn đề ở góc độ lý thuyết như sau:Thứ nhất, khi Hiến pháp ghi rằng “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” thì cần coi đó là tuyên ngôn chính trị về sở hữu hơn là một chế định pháp lý. Đất đai nói chung, tương tự như không khí và ánh sáng là các yếu tố thuộc về môi trường sống tự nhiên, nên không thể là “tài sản” thuộc phạm trù sở hữu của luật dân sự được. Thay vào đó, các “mảnh đất” hay “thửa đất” cụ thể mới là đối tượng của sở hữu theo pháp luật. Luật về đất đai của các nước, do đó, chính là luật về địa chính.Thứ hai, khi tuyên bố đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên cơ sở Luật Đất đai năm 1980, Nhà nước đã tước đoạt về mặt pháp lý (một cách đơn giản và dễ dàng) toàn bộ sở hữu tư nhân về đất đai ở Việt Nam. Tuy nhiên, bởi “đất đai” và “thửa đất” (hay “mảnh đất”) thuộc hai phạm trù khác nhau, do đó, trên thực tế, quá trình quốc hữu hoá các “mảnh đất” và “thửa đất” cụ thể đã không xảy ra sau đó. Hay nói một cách khác, Nhà nước vẫn phải thừa nhận một thực tế khách quan là ai ở đâu (trên mảnh đất nào) thì vẫn ở đó. Có nghĩa rằng về mặt pháp lý, Nhà nước chỉ can thiệp vào hai khía cạnh của quyền sở hữu đất đai, đó là kiểm soát quyền sử dụng và quyền định đoạt (chứ không tước đoạt hay giành lấy các quyền này). Từ nay, người dân (chủ sử dụng đất) muốn thay đổi mục đích sử dụng hay chuyển đổi, chuyển nhượng chủ quyền đối với các mảnh đất, thửa đất của mình thì phải xin phép và được sự đồng ý của Nhà nước. Như vậy, động cơ của hành động “quốc hữu hoá” nói trên không phải nằm ở vấn đề quyền sở hữu mà ở chủ trương của Nhà nước nhằm kế hoạch hoá tập trung một cách triệt để các quan hệ liên quan đến sở hữu đất đất đai.Thứ ba, ngày nay, khi triển khai xây dựng nền kinh tế thị trường, việc kế  hoạch hoá của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội không còn nữa, dẫn đến chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai cũng mất hết ý nghĩa. Không những thế, việc tiếp tục duy trì chế định sở hữu này còn trực tiếp và/hoặc gián tiếp cản trở sự phát triển của nền kinh tế và quá trình làm giàu của người dân bằng việc hạn chế người dân biến các mảnh đất, thửa đất của mình thành tài sản và/hoặc vốn đầu tư. Mặt khác, chế định sở hữu toàn dân đối với đất đai đã và đang gây ra các “lạm dụng” một cách công khai hay ngấm ngầm của tất cả các chủ thể liên quan đến sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai, bao gồm cả chính các cơ quan chính quyền, trong đó, thay vì chuyển đất đai thành tài sản và vốn đầu tư để phát triển kinh tế và đời sống thì biến nó thành phương tiện đầu cơ để trục lợi bằng tiền bạc ngắn hạn.Cụ thể, từ góc độ thực tế của việc thi hành các chính sách về đất đai, có thể minh hoạ các yếu tố “rào cản” và “lạm dụng” nói trên như sau:(a)    Yếu tố “rào cản”. Khi nói đến phát triển trong nền kinh tế thị trường tức là phát huy quyền tự do sáng tạo của người dân với tư cách là các chủ thể kinh tế. Theo đó, người dân cần phải có quyền tự do sử dụng các “mảnh đất”, “thửa đất” của mình như một phương tiện và/hoặc tài sản (hay vốn) kinh doanh. Nói đến “phương tiện” là nói đến tính linh hoạt và đa dạng về mục đích sử dụng. Còn nói đến “vốn” hay “tài sản” trong kinh doanh tức nói đến khả năng chuyển dịch đơn giản và thuận tiện để “quay vòng” làm tăng giá trị đồng vốn và tài sản. Các khả năng này, rất tiếc đều bị cản trở hay hạn chế chính bởi cơ chế “sở hữu toàn dân”, trong đó điển hình là năm loại giới hạn về (i) chủ thể sử dụng đất (tức ai được giao đất hay thuê đất với các tiêu chí do cơ quan quản lý nhà nước quyết định), (ii) mục đích sử dụng đất (với các phân định rất chi tiết về các loại đất và hình thức pháp lý để có đất phụ thuộc vào mục đích sử dụng), (iii) quyền liên quan đến việc sử dụng (ví dụ quyền thế chấp, chuyển nhượng, thừa kế v.v..), (iv) thời hạn sử dụng đất (được quy định phổ biến là 20, 30 hay 50 năm, trừ đất ở dân sinh), và (v) thủ tục hành chính nặng nề và phức tạp để chuyển dịch và chuyển đổi quyền sử dụng đất.  Cần lưu ý là trong thời gian qua, việc cấp các các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (“sổ đỏ”) đã được triển khai rộng rãi với quy mô và số lượng lớn, tuy nhiên câu hỏi đặt ra là “sổ đỏ” thực chất có ý nghĩa gì?Đối với đất ở dân sinh, “sổ đỏ” chỉ tái xác nhận “ai ở đâu vẫn ở đấy”, và do đó, người dân không thấy có ích lợi gì một khi nhận thức rằng đó là đất thuộc sở hữu của ông cha để lại hoặc đã bỏ tiền ra mua từ trước, nay để nhận được  một “tờ giấy màu đỏ” lại phải nộp tiền và làm các thủ tục phiền hà. Nếu đất có “sổ đỏ” sẽ dễ dàng mua bán, chuyển nhượng hơn thì xét từ lợi ích của người dân, đó cũng chi là các thủ tục do chính Nhà nước đặt ra trong khi từ trước đó, người dân vẫn giao dịch bằng giấy viết tay. Trên thực tế, trong các giao dịch đất đai hiện nay, đặc biệt là đất ở, nếu đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành các thủ tục hành chính liên quan thì chỉ cần dựa trên “sổ đỏ” được cấp cho các mảnh đất, song người dân vẫn hiểu rằng, theo tập quán của giao dịch dân sự thì người đứng tên trên “sổ đỏ” chỉ là người đại diện cho các chủ sở hữu để tiếp nhận “sổ đỏ” mà thôi. Do vậy, khi tiến hành giao dịch mua bán, chuyển nhượng, bên mua vẫn yêu cầu có sự đồng ý của tất cả những đồng sở hữu hoặc có quyền và lợi ích liên quan khác đối với mảnh đất. Trong trường hợp này, có thể thấy rằng các “yếu tố dân sự” được coi trọng và thực hiện triệt để hơn các “yếu tố hành chính”.“Sổ đỏ”, một khi được cấp, đương nhiên sẽ tạo thuận lợi hơn cho bên cho vay tiền (nhất là các ngân hàng) tiếp nhận thế chấp đối với quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, vấn đề phức tạp và các khó khăn lại xảy ra khi xử lý các thế chấp như vậy. Ngân hàng hay các bên cho vay hoàn toàn không dễ dàng phát mại tài sản thế chấp hay tiếp nhận quyền sử dụng đất thay thế bên vay bởi phụ thuộc một loạt các điều kiện được pháp luật quy định về chủ thể, mục đích, hình thức và thời hạn sử dụng đất như đã nói ở trên. Nói tóm lại, hàng loạt các “sổ đỏ” đã được cấp sau các nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý địa chính trong thời gian qua sẽ có thể phát huy tác dụng rất lớn cho đời sống dân sinh và đời sống kinh tế, nếu nó thật sự là các “chứng thư về sở hữu” đối với đất đai. Tuy nhiên với tính chất chỉ là các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (như tên gọi của nó), trong khi quyền sở hữu vẫn nằm trong tay “người khác” thì tác dụng và ý nghĩa của nó đã bị hạn chế rất nhiều.(b)    Yếu tố “lạm dụng”. Trong thời gian qua, các “lạm dụng” trong lĩnh vực đất đai chủ yếu đến từ các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước tại các địa phương. Sự “lạm dụng” xảy ra đặc biệt nghiêm trọng trong hai khía cạnh (i) quy hoạch sử dụng đất và (ii) thu hồi quyền sử dụng đất hiện hữu của người dân (nhất là nông dân) để xây dựng các dự án công nghiệp và thương mại. Về mặt lý thuyết, quyền quy  hoạch sử dụng đất đương nhiên thuộc chủ sở hữu đất. Vậy nếu chủ sở hữu là “toàn dân” thì nhân dân phải được tham gia xây dựng quy hoạch. Trên thực tế, nhân danh vai trò “đại diện  chủ sở hữu toàn dân”, các cơ quan chính quyền nắm giữ toàn quyền và độc quyền trong việc lập và sửa đổi quy  hoạch. Quá trình lạm dụng sẽ bắt đầu một cách “bài bản” khi có các nhóm lợi ích tư nhân từ phía các doanh nghiệp tham gia, thậm chí chi phối, dẫn đến hậu quả là quy  hoạch không còn phục vụ các mục đích “quốc kế dân sinh” mà chỉ nhằm hỗ trợ các nhóm lợi ích tư nhân tìm kiếm lợi nhuận thông qua các dự án kinh tế cụ thể.Ngoài ra, Luật Đất đai và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành đã hợp thức quyền thu hồi đất của người đang sử dụng để phát triển các dự án kinh tế mà không tính đến tính chất và mục tiêu của các dự án này. Khác với giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch trước đây, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các dự án kinh tế được hình thành trên cơ sở các cân nhắc về lợi ích thương mại và vì động cơ lợi nhuận của cá nhân hoặc nhóm cá nhân các nhà kinh doanh. Một sự cần thiết hay nhất thiết phải phân biệt giữa dự án vì lợi ích công cộng (trong đó có lợi ích của chính những người bị thu hồi đất) và dự án vì mục đích thương mại thuần tuý đã không được tính đến khi ban hành các văn bản pháp luật về đất đai và đầu tư. Do đó, hậu quả của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá thời gian qua, như các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo, là sự mất và giảm nghiêm trọng “đất trồng lúa” và biến hàng triệu nông dân thành “tay trắng” về phương diện tư liệu sản xuất. Sự “lạm dụng” đó, theo chúng tôi, có nguyên nhân từ một cơ chế tâm lý và pháp lý đặc thù hình thành từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.Thứ tư, thông qua phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, một quá trình tư nhân hoá về sở hữu đất đai đã và đang diễn ra trên thực tế một cách không thể tránh khỏi, dẫn đến vô hiệu hoá chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như được xác định trong Hiến pháp 1992. Như trên đã nói, “chủ sở hữu đất đai” luôn luôn tách rời khỏi người chiếm hữu và sử dụng đất. Nhà nước (là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai) cố gắng duy trì quyền sở hữu của mình bằng cách can thiệp vào quá trình sử dụng và định đoạt đất. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra các quyền can thiệp một cách chủ động  này của Nhà nước đã và đang dần dần bị hạn chế và/hoặc khống chế bởi chính các yếu tố thị trường. Sự tác động của các quy luật thị trường (không chỉ bó hẹp trong nước mà còn bao gồm cả thị trường quốc tế và toàn cầu) gây sức ép làm phá vỡ các kế  hoạch chủ động, và trên thực tế những năm vừa qua đã buộc các cơ quan Nhà nước thường xuyên phải thay đổi các quy  hoạch phát triển kinh tế nói chung và quy hoạch sử dụng đất nói riêng đã ban hành. Thực tế cũng chỉ ra rằng các dự án kinh tế có quy mô vừa và nhỏ có thể đáp ứng yêu cầu phải tuân thủ quy  hoạch; song các dự án lớn, thậm chí khổng lồ (với số vốn đầu tư được nêu ra tới hàng tỷ hay hàng chục tỷ USD) thì chắc chắn sẽ tác động làm thay đổi các quy  hoạch phát triển. Hơn nữa, các dự án đó phần lớn lại được khởi xướng và quyết định bởi các lực lượng tư nhân, là đối tượng chắc chắn chủ yếu quan tâm đến tỷ suất thu hồi đầu tư và lợi nhuận, hơn là những mục tiêu quốc kế, dân sinh. Câu hỏi đặt ra là các cơ quan cấp phép đầu tư có thể từ chối cho phép các dự án đầu tư mang tính “gây sức ép” như vậy được không ? Có thể, nhưng rất khó, bởi về mặt công khai, Nhà nước đang và luôn luôn đứng trước một sức ép khác còn lớn và có tính trực tiếp hơn, đó là nâng cao và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, đồng thời tạo ra công ăn việc làm, lấy phát triển kinh tế để bảo đảm ổn định chính trị và xã hội.Trở lại khía cạnh sở hữu về đất đai, vấn đề chính ở chỗ các dự án kinh tế có phải luôn luôn được triển khai như cam kết của nhà đầu tư hay không, để qua đó cơ quan Nhà nước vẫn bảo đảm được các quy hoạch và kế hoạch về sử dụng đất? Trên thực tế vừa qua, trong phần lớn các trường hợp rủi ro đối với triển khai dự án, các cơ quan quản lý Nhà nước lại khó có thể thu hồi mà thường sẵn sàng đồng ý để chủ đầu tư gia hạn sử dụng đất, chuyển đổi mục đích và/hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân khác. Đối với không ít dự án kinh tế, các quá trình gia hạn, chuyển đổi và chuyển nhượng lại có thể tiếp tục diễn ra thêm một vòng hay nhiều vòng nữa, để cuối cùng, các khu đất đã được cấp (có thể lên tới hàng trăm, hàng ngàn hecta) vẫn nguyên hình là “đất” trong khi các lợi ích của các chủ đầu tư liên quan vẫn được thu hồi đầy đủ, thông qua việc quay vòng kinh doanh và buôn bán cái gọi là “thương quyền” đối với đất đai.Những điều nêu ra một cách khái quát như vậy diễn tả bản chất của quá trình tư nhân hoá đất đai, trong đó các cơ quan quản lý Nhà nước không còn đủ sức để sử dụng các công cụ và biện pháp hành chính nhằm kiểm soát sự vận động của các yếu tố và quy luật thị trường, dẫn đến đánh mất các thực quyền của người chủ sở hữu. Hậu qủa của nó, mà cả Nhà nướcvà xã hội phải gánh chịu là giá đất ngày càng tăng trong khi hiệu quả thật sự của các dự án đầu từ thì ngày càng thấp.Để kết luận, đánh giá việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên cơ sở Nghị quyết 48-NQ-TW nói trên, liên quan đến vấn đề sở hữu về đất đai, chúng tôi cho rằng trong năm năm qua hệ thống pháp luật của nước ta không tiến thêm được bước nào trong việc giải quyết những vấn đề căn bản như đã đề cập. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không kiến nghị bãi bỏ chế độ sở hữu đất đai hiện nay một cách đơn giản. Thay vào đó, cần có sự nghiên cứu theo hướng đặt lại vấn đề có tính nguyên tắc của Hiến pháp 1992, theo hướng huỷ bỏ chế độ sở hữu toàn dân, đa dạng hoá sở hữu về đất đai, bao gồm sở hữu quốc gia (vĩnh viễn hay về cơ bản không tư nhân hoá), sở hữu của chính quyền và sở hữu tư nhân. Điều này là thông lệ phổ biến ở hầu hết các nước đã phát triển thành công.  (theo báo Tia sáng”

Luật sư Nguyễn Tiến Lập

Tháng 9/2010

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Tập Cận Bình cho rằng: đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung- Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2012

Năm tới, Đảng CSTQ sẽ họp đại hội đảng, vậy mà bây giờ các chức vụ cao cấp nhất TQ đã được các giới ngoại giao nước ngoài và báo chí loan tin rồi. Tập Cận Bình sẽ là nhân vật chóp bu của TQ. Vậy, dựa vào đâu mà người ta biết ông này trở thành lãnh đạo cao cấp nhất của TQ? Câu trả lời là dựa vào lịch sử của đảng CSTQ từ thời Mao và các biến cố thời sự trong thời gian gần đây ở TQ  đã là nền tảng cho các suy đoán này.

Còn ở VN thì sao? Mỗi khi sắp có đại hội đảng CSVN, thì trước đó năm, ba tháng sẽ có các chuyến ngoại giao quà cáp của các đứa con ngoan viếng thăm cha; rồi chỉ vài ngày trước khi đại hội khai mạc, thì cha viếng thăm con với huấn thị rõ ràng là bản danh sách: ai sẽ nhận chức vụ gì…Chuyện này ngày xưa là bí mật, nhưng với thời đại internet thì rõ như ban ngày, một người VN có theo dõi thời sự có thể nhận ra và kiểm chứng rất dễ dàng. Điển hình, trong khoảng thời gian từ 6-2010 cho đến 1-2011 là thời gian sắp có đại hội đảng CSVN lần thứ 11. Các nhân vật cao cấp của đảng CSVN viếng thăm Trung Quốc rất nhộn nhịp. Đến nổi, khoảng 3 tháng trước ngày đại hội đảng, các blogger và các đài nước ngoài đã đoán trúng phóc 100% ai sẽ  nắm chức vụ gì trong đảng và nhà nước vào năm 2011. Chỉ cần chiếu vào các cuộc viếng thăm TQ của các nhân vật cao cấp của đảng CSVN, người ta đoán là ai sắp nắm các chức vụ chóp bu. Bởi vậy, quả thật là không nói ngoa khi nói: đảng CSTQ là cha của đảng CSVN.

Kiểm chứng lại lịch sử của đảng CSVN thì biết thêm: ai được “cha” xếp đặt vào chức vụ gì đã là một thông lệ kể từ 1951, nay cứ thế mà tiếp tục, và sẽ không thể nào khác đi được trong tương lai.

Năm 2013, Đảng CSTQ sẽ có đại hội đảng. Lịch sử lập lại, các chức vụ cao cấp nhất TQ đã được các giới ngoại giao nước ngoài và báo chí loan tin. Họ đã dựa vào đâu mà suy đoán? Các thói quen trong lịch sử của đảng CSTQ có từ thời Mao, thời gian 30 năm gần đây ở TQ, và tin thời sự đấu đá giữa các nhân vật cao cấp của đảng đang diễn ra ở TQ đã là nền tảng cho các suy đoán này.

Tập Cận Bình nói nghe quen quen

Huỳnh Ngọc Chênh

Theo RFI, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố rằng đảng Cộng Sản, mà ông sắp lên lãnh đạo vào vài tháng tới đây, chỉ là nơi tập trung thành phần giá áo túi cơm cần phải được “trong sạch hóa”. Những tệ nạn trong đảng cầm quyền suốt hơn 63 năm tại Trung Quốc là “thiếu lý tưởng, sa đọa, vô nguyên tắc và vô trách nhiệm đã xâm nhập mọi cấp đảng viên” với những mức độ khác nhau và làm mất uy tín trong dân chúng. Ông nhấn mạnh: nhân dân Trung Quốc gần như mất hết tin tưởng vào đảng Cộng sản.

Theo AFP, ông Tập Cận Bình lo ngại rằng đảng Cộng sản đã biến thành nơi chia chác đỉnh chung. Vào đảng là để có cơ hội vinh thân phì gia, chứ không phải vì lý tưởng hay mục đích cao đẹp phụng sự đất nước và nhân dân.

Ông Tập cũng nói đến một số giải pháp để làm trong sạch đảng như: “củng cố tổ chức, kiểm soát việc kết nạp đảng viên, tăng cường giáo dục và thanh tra”“thanh lọc hàng ngũ một cách kiên quyết, khai trừ những phần tử thoái hóa nghiêm trọng không thế cứu vãn”.

He he, những tuyên bố của Tập nghe sao thấy quen quen.

Bất cứ tổ chức nào, đứng trên pháp luật, độc hưởng mọi đặc quyền đặc lợi thì trước sau gì cũng đi đến chỗ thối nát rồi sụp đổ. Từ triều đình nhà Hán, qua triều đình nhà Đường, đến nhà Nguyên, nhà Minh rồi Mãn Thanh và hiện nay là đảng Cộng Sản TQ. Chế độ quân trị hay đảng trị thì cũng như nhau. Thời quân trị đẻ ra biết bao nhiêu hôn quân làm điêu đứng nhân dân và xả tắc. Thời đảng trị thì đẻ ra một ông Mao với mức độ “hôn quân” độc ác có khi toàn bộ các ông hôn quân trong lịch sử Trung Hoa gom lại cũng không bằng.

Đọc lại tài liệu thời Mao trị vì, cứ mỗi lần uy tín của ông ta lung lay, mỗi lần ông ta muốn đấu đá nội bộ để tranh giành quyền lực là y như những lần đó ông ta phát động các cuộc chỉnh đảng, các cuộc vận động đủ kiểu nhân danh làm trong sạch nội bộ đảng gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc.

Ngay sau vụ Bạc Hi Lai, những tuyên bố mạnh mẽ về chỉnh đảng của Tập Cận Bình được phát ra không khỏi không làm người ta liên tưởng đến những lần chỉnh đảng tang thương của Mao.

Nhưng dù chỉnh thật hay chỉnh giả thì từ rồi ra đời đến nay, đảng CS TQ liên tục được chỉnh đốn. Tuy vậy đến bây giờ lại nghe người sắp đứng đầu của đảng phát biểu về tổ chức của mình một cách hết sức tồi tệ như trên. Qua đó, người ta không thể không rút ra kết luận rằng: sự thoái hóa của đảng là tất yếu, là không có thuốc chữa trị.

Thật ra có một loại thuốc chữa trị rất hiệu quả nhưng những người cộng sản đang được hưởng đặc quyền đặc lợi không dại gì nghĩ đến: Đặt đảng xuống dưới pháp luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự.

Từ xưa đến nay ta vẫn thường nghe các cụm từ: Nhà nước phong kiến thối nát, nhà nước độc tài thối nát, nhà nước độc đảng thối nát chứ chưa bao giờ nghe cụm từ: nhà nước pháp quyền thối nát.

_______________________________________

Tái bút:

Ông Tập không nhắc đến thế lực thù địch của đảng nhưng qua cách nói của ông thì thế lực ấy nằm ngay trong đảng đó là: phường giá áo túi cơm, bọn đảng viên sa đọa, thoái hóa biến chất….Có một thế lực thù địch ở bên ngoài nữa nhưng không nghe ông nhắc đến: Bọn ngư dân VN đánh cá trên Biển Đông và bọn biểu tình chống Trung Cộng ở Hà Nội. He he, bọn trên Biển Đông thì anh lo, còn bọn ở Hà Nội là trách nhiệm của các chú đấy.

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »

Đấu đá trong giới lãnh đạo Trung Quốc cho thấy sự chia rẽ

Posted by hoangtran204 trên 17/03/2012

Jamil Anderlini
Diên Vỹ chuyển ngữ

Khi những nhà lãnh đạo độ tuổi lục tuần của Trung Quốc xuất hiện trước công chúng với những bộ áo sẫm màu và kiểu tóc nhuộm giống nhau, mọi hành động của họ đều được sắp xếp để biểu lộ tính đoàn kết và đồng thuận.

Báo chí và truyền hình Trung Quốc đồng loạt tường thuật giới lãnh đạo của quốc gia đông dân nhất thế giới nhất loạt đưa tay để biểu quyết một vấn đề trong ngày với mục đích quá rõ rệt rằng đây là một đảng Cộng sản hoà thuận.

Nhưng rất thường xuyên, thường là trước giai đoạn chuyển đổi chính trị hoặc khi quốc gia này đối diện một cơn khủng hoảng lớn, sự chia rẽ trầm trọng vẫn tồn tại phía dưới lại nổi lên bên trên.

Điều này hiện đang xảy ra khi giới lãnh đạo quốc gia chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi mười năm một lần vào cuối năm nay, trong đó đa số những lãnh đạo tối cao, bao gồm thủ tướng Ôn Gia Bảo và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, sẽ bước xuống để nhường chỗ cho thế hệ mới.

Hôm thứ Tư, ông Ôn, một lãnh đạo cấp tiến nhất của Trung Quốc, đã đưa ra một nghị trình cải cách chính trị mà bản thân nó hàm chứa một tấn công vào những đối thủ bảo thủ của ông.

Khi ông kêu gọi việc “cấp tốc” và “nghiêm trọng” cải cách chính trị và khi ông khẳng định rằng dân chủ cuối cùng phải xảy ra đã đánh thẳng vào mặt giới bảo thủ chuyên cho rằng thách thức tình trạng hiện tại của nền chính trị Trung Quốc chỉ dẫn đến hỗn loạn.

Năm 2009, Ngô Bang Quốc, người chính thức đứng ở vị trí thứ hai trong hệ thống quyền lực của đảng Cộng sản sau Hồ Cẩm Đào, đã kịch liệt bác bỏ hệ thống dân chủ đa đảng kiểu “phương tây”, phân định quyền lực giữa ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp hoặc một hệ thống chính trị lưỡng viện.

Điều này chẳng đưa ra được mấy lựa chọn nếu Trung Quốc vẫn hi vọng cuối cùng sẽ đem đến dân chủ và tổng bầu cử, như ông Ôn đề xuất trong cuộc họp báo hôm thứ Tư.

“Có một cảm nhận chung trong giới lãnh đạo rằng cần có vài thay đổi lớn trong hệ thống nhưng vẫn chưa có một sự đồng thuận về những thay đổi này là gì và chúng nên xảy ra theo thứ tự nào,” Victor Shih, một chuyên gia về giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc tại Đại học Northwestern. “Ý kiến của ông Ôn cho thấy ít nhất một vài người trong giới lãnh đạo đã mạnh mẽ ủng hộ việc cải cách chính trị sâu rộng hơn ở Trung Quốc.”

Ông Ôn cũng có ý kiến đối nghịch hơn khi ông đưa ra một tấn công hiếm có đến Bạc Hy Lai, viên thị trưởng đầy sóng gió của thành phố tự trị Trùng Khánh, người cho đến gần đây vẫn là người dẫn đầu để được đề bạt lên vị trí cao nhất của Đảng, trước khi viên giám đốc công an của ông bị bắt giữ vì đã tìm cách đào tị sang Hoa Kỳ.

Trong một cú đấm thẳng vào những chính sách gây tranh cãi mà ông Bạc đã đưa ra ở Trùng Khánh, ông Ôn đã liên tục liên hệ đến thảm hoạ Cách mạng Văn hoá trong giai đoạn 1966-1976 với nạn thanh trừng và ngược đãi với hầu hết các quan chức chính quyền, học giả, trí thức cũng như gia đình của họ.

Chương trình cải cách cực đoan của ông Bạc ở Trùng Khánh liên quan đến việc vực dậy những hình ảnh và ca khúc “đỏ” của thời kỳ Cách mạng Văn hoá, việc tàn bạo thanh trừng những doanh nhân giàu có bị cáo buộc là “băng đảng” và việc chi tiêu mạnh mẽ để nâng cấp các dịch vụ xã hội và các căn hộ nhà nước.

Đề cập đặc biệt đến Vương Lập Quân, vị giám đốc công an mà ông Bạc rất tin tưởng, người đã chỉ đạo phong trào thanh trừng các “tổ chức tội phạm” trước khi tìm cách đào thoát sang Hoa Kỳ sau một mâu thuẫn với ông Bạc, ông Ôn nói rằng chính quyền Trùng Khánh phải “xem kỹ lại” và “rút ra những bài học” từ sự kiện này.

Bên trong, các quan chức cao cấp nói rằng sự nghiệp chính trị của ông Bạc rõ ràng là đã chấm dứt sau việc ông Vương tìm cách đào thoát nhưng những chỉ trích mạnh mẽ của ông Ôn cho thấy những đấu đá hậu trường vẫn đang tiếp diễn.

Bên ngoài, đảng Cộng sản đã không có vẻ quá chia rẽ kể từ những ngày tháng đen tối của cuộc thảm sát Thiên An Môn, khi tổng bí thư lúc ấy là Triệu Tử Dương bị giam giữ tại gia vì đã từ chối ban hành thiết quân luật.

Đảng đã sống sót qua cơn khủng hoảng ấy một phần là nhờ nó có được một nhà lãnh đạo vĩ đại, Đặng Tiểu Bình, người đã nắm giữ tính trung thành vững chắc của Đảng và quân đội, giới đã thi hành cuộc đàn áp đẫm máu.

Ngày nay, không còn một nhân vật như thế và điều này giải thích tại sao lại có một tranh chấp đang dâng cao và tại sao Đảng cho đến nay vẫn thất bại trong việc cách chức ông Bạc hoặc có một hình thức trừng phạt công khai đối với ông.

Mặc dù có những tin đồn về việc ông chắc chắn sẽ bị sa thải đang lan toả rộng rãi tại Bắc Kinh, 10 ngày qua ông Bạc đã xuất hiện trước công chúng tại hội nghị thường niên của quốc hội bù nhìn trong vai trò là thành viên của Bộ Chính trị gồm 25 người, cơ quan quyền lực cao thứ hai ở Trung Quốc.

Một số các nhà phân tích và quan chức tin rằng cách chức ông Bạc, người vẫn còn nổi tiếng với giới bảo thủ và quân đội cũng như việc cha ông từng là một anh hùng cách mạng và phó thủ tướng Trung Quốc, có thể làm nảy sinh ra hiện tượng phân tán công khai trong đảng.

Nhưng những người khác nói rằng cho phép ông tiếp tục như cũ sẽ làm cho Đảng có vẻ yếu ớt và bị lũng đoạn bởi những cá nhân quyền lực và quen biết lớn.

Nguồn: Jamil AnderliniFinancial Times

________________

Bạc Hy Lai bị cách chức bí thư Trùng Khánh

Cập nhật ngày 15.03.2012

Bạc Hy Lai, nhà chính trị bất trị của Trung Quốc, người cho đến gần đây vẫn là người dẫn đầu để được đề bạt lên vị trí cao nhất của Đảng, đã bị cách chức bí thư đảng uỷ thành phố tự trị Trùng Khánh.

Ông Bạc sẽ được thay thế bởi Trương Đức Giang, một nhà kinh tế được đào tạo tại Bắc Hàn và cũng là phó thủ tướng, Tân Hoa Xã cho biết.

Quyết định cách chức ông Bạc đã được thông báo nội bộ đến các quan chức cao cấp vào tối thứ Tư, ngay sau khi lễ bế mạc hội nghị 10 ngày của quốc hội bù nhìn Trung Quốc, những người hiểu biết sự việc cho hay.

Hôm thứ Tư, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã bắn phát súng cảnh báo đến giới quan chức bảo thủ trong đảng, cảnh cáo họ rằng Trung Quốc có thể đối diện với một cuộc Cách mạng Văn hoá thứ hai nếu không chịu khẩn cấp cải cách chính trị.

Ông Ôn, người sẽ bước ra khỏi uỷ ban thường trực bộ chính trị đầy quyền lực vào cuối năm nay, cũng đã trực tiếp tấn công ông Bạc.

Trong một trường hợp hiếm hoi của việc công khai chỉ trích nhau giữa các quan chức cao cấp Cộng sản, ông Ôn đã đề cập đến sự kiện tai tiếng dẫn đến việc truất phế Vương Lập Quân, vị cựu giám đốc công an và đồng minh chính trị của ông Bạc, người đã tìm cách đào thoát sang Hoa Kỳ tháng trước. Ông Vương vẫn đang bị bắt giữ và trường hợp của ông vẫn đang được điều tra.

“Đảng uỷ và chính quyền Trùng Khánh phải nghiêm khắc nhìn nhận sự kiện Vương Lập Quân và rút ra những bài học từ sự việc này,” ông Ôn nói.

Nguồn: Jamil Anderlini – Financial Times

x-cafevn.org

danluan.org

 

*Bài liên quan tới bài này:

Đảng Cộng Sản Trung Quốc là nơi Tập Trung mọi Thối Nát

 

Posted in Chinh tri Trung Quoc | Leave a Comment »