Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm 8th, 2015

►Sơ lược cuộc đối đầu giữa Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và “Bảy chị em”

Posted by hoangtran204 trên 08/05/2015

Sơ lược cuộc đối đầu giữa Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang) và “Bảy chị em”

 Tú-hoa

6-5-2015

Vào ngày 2 tháng Tám năm 2005, một công ty dầu khí Trung Quốc, China National Offshore Oil Corporation, hay còn gọi là CNOOC Group đã phải chấp nhận ép buộc rút lui ý định mua lại công ty dầu khí Unocal 76 của Hoa Kỳ với giá đề nghị lên đến 18.5 tỷ Mỹ kim.

Công ty Unocal 76 được thành lập từ tháng Mười năm 1890, có trụ sở tại El Segundo, tiểu bang California Hoa Kỳ. Doanh thu hàng năm của Unocal là khoảng 5 đến 8 tỷ Mỹ kim và có hơn 6 ngàn nhân viên thường trực.

datauri-file

CNOOC tưởng đã có thể thâu tóm công ty Unocal 76 này trong tầm tay nhưng giới “BẢY CHỊ EM” đã lật ngược thế cờ và khiến các Dân Biểu trong Hạ Viện Hoa Kỳ không chuẩn thuận hành động mua này của Trung Quốc với lý do CNOOC là công ty nhà nước, tài sản của Hoa Kỳ không để cho chính phủ Trung Quốc sở hữu.

Hai tháng sau đó, tức là tháng Mười cùng năm, Chevron, một thành viên quan trọng của giới “BẢY CHỊ EM,” tức là tiếng lóng chỉ thế lực tư bản dầu hỏa hàng đầu của thế giới do Hoa Kỳ hậu thuẫn, đã chính thức mua lại công ty xăng dầu Unocal 76 này.

Đây là một hành động dằn mặt cho thấy rõ giới “BẢY CHỊ EM” đã cương quyết đối đầu với quyết tâm của Bắc Kinh công khai trong việc kiểm soát lượng dự trữ dầu hỏa.

Từ đó, CNOOC đành phải đi vòng qua các quốc gia khác thuộc châu Mỹ như Canada, Brazil, Venezuela…, ect, để đầu tư nhằm đảm bảo sự ổn định cho nhu cầu nhập khẩu dầu hỏa của mình. Và mỗi bước đi, bước tiến của các công ty dầu hỏa Trung Quốc điều phải tính toán, chạm chán gây go với sức ép của giới “BẢY CHỊ EM.”

Cuộc chạm chán này được gọi là cuộc đối đầu giữa “BẢY CHỊ EM” và Chu Vĩnh Khang, được coi là cha đẻ của nền kỹ nghệ dầu khí hiện đại Trung Quốc mà hiện thân là Tổng Công Ty Dầu Khí Trung Quốc – CNPC, tuy khốc liệt gây nhiều xáo trộn cho kinh tế và chính trị trên thế giới nhưng hết sức thầm lặng và không ai nghĩ tới.

Cần phải hiểu rõ hơn sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang thì mới nhìn ra cuộc đối đầu chiến lược giữa Chu gia và giới BẢY CHỊ EM khốc liệt như thế nào.

I. Sự nghiệp của Chu Vĩnh Khang (Zhou Yongkang)- cha đẻ của nền công nghiệp dầu khí hiện đại Trung Quốc:

Chu Vĩnh Khang sanh vào tháng 12 năm 1942, người gốc Vô Tích, tỉnh Giang Tô. Nơi ông sanh ra, từ ngàn xưa là đất của nước Sở thời Chiến Quốc, vốn là một nước giỏi nghề khai thác khoáng sản, trong đó có thiếc và chì. Sau tướng Vương Tiễn nhà Tần hành quân ngang qua vùng này, thấy có bia mộ viết là:

“Hữu tích: binh, thiên hạ tranh
Vô tích: ninh, thiên hạ thanh”

Nghĩa là có thiếc thì đánh nhau, loạn tranh binh đao, không có thiếc thì yên , thiên hạ an bình. Vương tướng quân thấy vậy mới đặt tên vùng này là Vô Tích (không có thiếc) để mong thái bình an lạc. Từ đó mà tên Vô Tích lưu truyền đến bây giờ.

Thiên linh địa linh sinh anh kiệt, Chu Vĩnh Khang lớn lên, tuy gia đình nghèo lắm nhưng ông học hành cực kỳ giỏi, thi đậu vào Học Viện Dầu Khí Bắc Kinh trở thành là một kỹ sư dầu hỏa, với chuyên môn là xét nghiệm địa chất và dò tìm dầu hỏa.

Vào khoảng năm1966, Chu Vĩnh Khang được điều về làm công tác địa chất thăm dò ở công trường 673 khu dầu hỏa Đại Khánh tỉnh Liêu Ninh. Tháo vát, năng nổ yêu nghề, ông đã được đề bạt làm đội trưởng đội thăm dò nơi ông công tác.

Bằng tài cán của chính mình, năm 1973, ông đã trở thành Trưởng Phòng thăm dò dầu khí của tỉnh Liêu Ninh. Dù chỉ là mới ở cương vị trưởng phòng, Chu Vĩnh Khang đã biến khu mỏ dầu Đại Khánh thành nơi sản xuất 19% tổng số lượng dầu hỏa quốc nội của Trung Quốc- một kỳ tích chấn động Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Chu Vĩnh Khang lúc nào cũng chở che, giúp đỡ cấp dưới rất tận tình dù ông có tới gần trên 2000 nhân viên. Ông không bao giờ về quê ăn mừng năm mới mà luôn ở lại cùng với nhân viên trên những cánh đồng mỏ dầu, cùng nhân viên chịu đựng mùa đông khắc nghiệt.

Năm 1979, Chu Vĩnh Khang tiếp tục được giao trọng trách thăm dò khai thác dầu hỏa ở Liêu Hà, phía Nam của vùng mỏ dầu Đại Khánh. Nơi này bây giờ được coi là nơi cung cấp dầu LỚN NHẤT cho Tổng Công Ty Dầu Khí Trung Quốc – CNPC (China National Petroleum Corporation), ước tính khoảng 200 ngàn tỷ thùng /một năm.

Năm 1983, Chu Vĩnh Khang trở thành Chủ Nhiệm Điều Hành toàn bộ công trường mỏ dầu các công trường mỏ dầu từ Đại Khánh cho đến Liêu Hà. Năm 1985, ông được chính thức thăng chuyển về Bắc Kinh và làm Thứ Trưởng Bộ Dầu Hỏa. Bộ Dầu Hỏa chính là tiền thân của CNPC.

datauri-file (1)

Dù ở địa vị cao, vào năm 1989, Chu Vĩnh Khang vẫn lao tâm lặn lội tới các vùng sâu trong đất liền, phía Tây heo hút hẻo lánh thuộc bình nguyên Tarim của Trung Quốc để thăm dò địa chất phát triển khai thác các mỏ khí với vai trò kỹ sư trưởng các công trình.

Chu Vĩnh Khang làm việc ngày đêm, bất chấp địa vị thứ trưởng của ông và biến nơi này thành nơi cung cấp 19% tổng sản lượng khí đốt nội địa cho quốc gia, chưa kể là ông cho xây đường ống dẫn khí đốt nối liền Đông-Tây xuất phát từ nơi này của Trung Quốc do ông làm giám đốc công trình thi công.

Từ một chuyên viên kỹ thuật, một kỹ sư cần mẫn và kinh nghiệm, Chu Vĩnh Khang lần hồi có được những ảnh hưởng lớn về chính trị trong Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc là vì trách nhiệm của Chu Vĩnh Khang quá lớn. Ông có trách nhiệm phải đảm bảo sự ổn định về cung cấp dầu hỏa cho nền kinh tế Trung Quốc bộc phát quá nhanh, hoàn toàn lệ thuộc vào dầu hỏa để hoạt động.

Từ những năm 1990 trở đi, người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang năm nào, nay với cương vị Tổng Giám Đốc CNPC lao hết mình ra các quốc gia khác để dò tìm, đầu tư khai thác. Báo cáo của giới BẢY CHỊ EM cho rằng ông đã viếng thăm các nước phi châu hẻo lánh đến gần 14 lần.

Chu Vĩnh Khang cũng là kỹ sư chánh, vừa là Tổng Giám Đốc công trình Greater Nile Oil Pipe Line ở Sudan, là công trình xây dựng ra nước ngoài đầu tiên của CNPC.

datauri-file (2)

Không thần thế vây cánh hay con ông cháu cha mà hoàn toàn nhờ tận tụy và yêu nghề khai thác thăm dò dầu hỏa, người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang đã được cử và trở thành Ủy Viên TW Đảng Công Sản Trung Quốc năm 1996 để có thể đảm nhiệm chức Bộ Trưởng Khai Thác Tài Nguyên hai năm sau đó -1998.

Những cải cách về hành chánh trong quản lý ngành dầu hỏa do Chu Vĩnh Khang xúc tiến đã làm kỹ nghệ ngành này của Trung Quốc phát triển mạnh mẽ và đủ sức giữ trách nhiệm cung cấp dầu hỏa cho nền kinh tế quốc dân.

Các công ty dầu khí Trung quốc theo kế hoạch của ông bung ra khắp mọi nơi để trên thế giới đầu tư thăm dò, khai thác để duy trì ổn định nguồn dầu nhập khẩu cho tăng trưởng kinh khiếp của nền kinh tế Trung Quốc.

Kế sách bung ra này của Chu Vĩnh Khang bắt đầu đụng chạm mạnh đến vị thế độc tôn hàng đầu của giới BẢY CHỊ EM, vốn âm thầm độc bá kiểm soát dầu hỏa thế giới bằng nhiều dạng, thông qua nhiều tổ chức khác nhau.

Từ đó, Chu Vĩnh Khang từ từ nhận ra được thế cuộc của thế giới về dầu hỏa và tìm cách đối phó. Đảng Cộng Sản Trung Quốc cũng thông qua ông, thấy được sự kềm kẹp của giới BẢY CHỊ EM lên tương lai chính trị và kinh tế của Trung Quốc nên bắt đầu giao hết toàn bộ sức mạnh nhân lực về ngành an ninh tình báo để ông tiện bề nắm bắt thông tin, những bước tiến, lùi toan tính của giới BẢY CHỊ EM.

datauri-file (3)
Chu Vĩnh Khang không có tham vọng trở thành Tổng Bí Thư, Thủ Tướng mà chỉ muốn nhìn thấy sức kiểm soát sở hữu dầu hỏa của Trung Quốc trên toàn thế giới được lớn mạnh nên chẳng có thế lực nào trong Đảng lo lắng Chu Vĩnh khang sử dụng an ninh mật vụ cho những mưu toan chính trị.

Cho nên, người người kỹ sư dầu hỏa tận tụy Chu Vĩnh Khang trở thành ông trùm an ninh trước sự đồng lòng của giới chóp bu đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chu Vĩnh Khang cần an ninh tình báo để đưa ra đối sách đối đầu chiến lược đối với giới “BẢY CHỊ EM” được chính xác và hữu hiệu.

Về phần “BẢY CHỊ EM”, giới chiến lược gia của họ từ lâu đã để ý đến khả năng kinh khiếp của Chu Vĩnh Khang và không hề lơ là quan sát theo dõi ông. Trong cuộc đối đầu đầy sống gió và làm chao đảo kinh tế, chính trị khắp nơi trên thế giới, nếu họ Chu là Gia Cát Lượng thì giới BẢY CHỊ EM là Tư Mã Ý, lúc nào cũng có khả năng chuyển bại thành thắng trước Khổng Minh.

IV. Đối Sách của Chu Vĩnh Khang đối phó với BẢY CHỊ EM:

Kế hoạch đối phó BẢY CHỊ EM của Chu Vĩnh Khang có thế tóm lược như sau:

1. Gia tăng mức dự trữ dầu của quốc gia từ 100 triệu thùng lên đến 600 triệu thùng vào năm 2020.

2. Mua hết các công ty dầu hỏa nhỏ “để chặt bớt tay chặt chân” của giới “BẢY CHỊ EM” mà lại ít bị để ý. Các công ty dầu hỏa nhỏ này có doanh thu từ 4 tỷ đến 10 tỷ một năm.

3. Gia tăng đầu tư qua các nước Phi châu, Mỹ châu, Trung Á, trong bối cảnh giới “BẢY CHỊ EM” mãi lo bám trụ vùng Vịnh.

4. Gia tăng ảnh hưởng chính trị- kinh tế đến các nước Trung Quốc đang nhập dầu nhằm đảm bảo lượng dầu nhập được ổn định.

5. Sử dụng tình huống chính trị thế giới, nhất là tình huống khủng bố, để mặc cả với Hoa Kỳ trong việc nới lỏng hạn chế từ “BẢY CHỊ EM” để Trung Quốc có thể tiếp tục gia tăng số vốn đầu tư vào những nước sản xuất dầu mà “BẢY CHỊ EM” đang độc bá sở hũu; cũng như cho phép Trung Quốc đầu tư vào Hoa Kỳ để khống chế dần các công ty của giới “BẢY CHỊ EM.”

6. Gia tăng các hoạt động tình báo để biết thực trạng từng đại công ty của giới “BẢY CHỊ EM,” các chính quyền của các quốc gia có dầu để âm mưu đầu tư, sở hữu khống chế.

7. Gia tăng sức ép chính trị lên Việt Nam và biển Đông để phá rối nổ lực đầu tư của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, đồng thời, tạo khả năng cho Trung Quốc khống chế từng phần hay toàn phần nguồn dự trữ dầu hỏa dồi dào của Việt Nam

Mục tiêu của đối sách mà Chu Vĩnh Khang đưa ra là tiếp tục lấn sân giới BẢY CHỊ EM về sở hữu dầu hỏa ở mọi nơi, mọi lúc bất chấp sản lượng, trữ lượng là ít hay là nhiều. Vì vậy, kế hoạch này của Chu Vĩnh Khang còn có tên lóng là chiến lược “lấn sân” (Mergers and Acquisitions- M&A)

Chu Vĩnh Khang nhìn thấy giới “BẢY CHỊ EM” có một khuyết điểm là bởi do độc bá dầu hỏa bấy lâu nên đâm ỷ lại, thuờng xuyên bỏ lơi những dự án nhỏ, bỏ lơi những quốc gia có dự trữ dầu bị đánh giá là không đáng kể (dưới 50 ngàn thùng dầu một ngày.)

Cho nên Chinese NOC’s (Chinese National Oil Companies), lần hồi, theo lệnh của Chu Vĩnh Khang, tóm thu tất cả các dự án nhỏ, đầu tư nhỏ vào những quốc gia bị giới “BẢY CHỊ EM” chê là trữ lượng không nhiều. Đặc biệt, những công ty dầu hỏa nhỏ, con con trên thế giới cũng bị Chu Vĩnh Khang thâu tóm gần hết dễ dàng vì giới “BẢY CHỊ EM” không chú ý tới.

Chính sách góp gió thành bão trong đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang, tuy là từng nơi đầu tư riêng biệt thì sản lượng dầu hỏa chẳng là bao, nhưng gôm lại thì tạo ra một trữ lượng đáng kể cho nhu cầu xăng dầu của Trung Quốc.

Khi các chiến lược gia của giới “BẢY CHỊ EM” nhìn lại thì giật mình, đó là lý do tại sao sau này, ngay cả công ty con con Uniocal 76 cũng bị giới BẢY CHỊ EM xiết lại không cho CNOOC mua.

Chu Vĩnh Khang lúc nào cũng kiên nhẫn, chịu khó siêng năng mót từng giọt dầu một đem về cho nền kinh tế Trung Quốc.

V. Kết quả đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang:

Sự “lấn sân” của ngành dầu hỏa Trung Quốc lên “BẢY CHỊ EM” trên toàn thế giới, ở khắp mọi nơi, mỗi lúc mỗi tăng là một thành công vang dội của Chu Vĩnh Khang về mặt chiến lược.

Mức sở hữu dầu hỏa của Trung Quốc đối với các quốc gia xuất khẩu dầu ngày một tăng hoàn toàn nhờ vào đối sách quyết tâm bung ra thế giới đầu tư của Chu Vĩnh Khang từ những năm 2000.
datauri-file (4)

Có thể nói, đối sách này đảm bảo nền kinh tế Trung Quốc tăng tốc trong ổn định tuyệt đối về năng lượng dù vẫn phải chạy kiếm dầu “ăn đong” từng ngày vì nhu cầu dầu hỏa của xã hội Trung Quốc không hề suy giãm hay đứng lại.

Biểu đồ 1 đã cho thấy rõ, từ một quốc gia được coi là tay trắng, nay các công ty dầu hỏa của Trung Quốc đảm đang gần một phần tư tổng sản lượng dầu hỏa của các nước vùng Vịnh Trung Đông, nơi mà giới “BẢY CHỊ EM” độc bá từ sau khi đệ Nhị Thế Chiến tới nay về đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất. Điều này cho thấy, giới “BẢY CHỊ EM” đang bị Chinese NOC’ s lấn sân ngày một mạnh mẽ.

Riêng vùng Trung Mỹ- châu Mỹ La-tin, được coi là “sân nhà” của giới “BẢY CHỊ EM,” mà nay Chinese NOC’s đã lấn sân hết 11 % và sự lấn sân này không giãm hề suy giảm buộc giới “BẢY CHỊ EM” phải gấp rút ứng phó trong thời gian gần đây.
datauri-file (5)

Đặc biệt, giới “BẢY CHỊ EM” đã mất 9% sản lượng dầu hỏa vào tay Chinese NOC’s tại vùng Bắc Mỹ, là tổng hành dinh của giới “BẢY CHỊ EM” từ thế kỷ thứ 19 đến nay. Tuy số phần trăm rất ít nhưng cũng làm cho giới “BẢY CHỊ EM” vô cùng bực bội và mất danh dự rất lớn.

Sự kiện năm 2005 về vụ mua công ty xăng dầu Unocal 76 chỉ là một thí dụ điển hình về sự bức tức kinh khiếp bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” đối với Chinese NOC’s, hiện đang “lấn sân” mạnh mẽ lên tổng hành dinh của mình .

Biểu đồ 2 cho thấy rõ, ngay cả tại Irag, một quốc gia còn đang hổn loạn và giới BẢY CHỊ EM lơ là không muốn tăng sức đầu tư, Trung Quốc vẫn lao vào đầu tư khai thác, sẳn sàng chịu đựng nhiều áp lực của các bên tham chiến. Hai mươi phần trăm sản lượng dầu hỏa của Irag là do các công ty dầu hỏa Trung Quốc sản xuất và mua lại.

Chiến thắng này của Chu Vĩnh Khang trong chiến lược “lấn sân” của mình làm các chiến lược gia của giới “BẢY CHỊ EM” tuy nóng mặt nhưng phải khâm phục sự nhẫn nại chịu khó của Chu Vĩnh Khang.

Có sự can thiệp về chính trị & quân sự của Hoa Kỳ, Irag phải là nơi mà giới “BẢY CHỊ EM” nắm tuyệt đối quyền khai thác. Bị hụt mất 20 % về tay các tập đoàn dầu hỏa Trung Quốc, giới “BẢY CHỊ EM” cảm nhận được sức ép “lấn sân” do chiến lược đối đầu của Chu Vĩnh Khang gây ra.

Giới “BẢY CHỊ EM” đã không còn lơ là về đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang như trước nữa, nhất là sau khi ngay tại đại bản doanh của mình là Hoa Kỳ mà Trung Quốc cũng ráng tìm cách chen chân và nắm gần 5 % sản lượng dầu hỏa của Hoa Kỳ (biểu đồ 2). Thật là một sự mất mặt quá lớn đối với giới “BẢY CHỊ EM.” Con số 5% là do những hành động phản ứng mãnh liệt trả đòn từ giới “BÃY CHỊ EM” mà ra, chớ nếu không, ước tính Trung Quốc sẽ nắm 14% sản lượng dầu hỏa nội địa của Hoa Kỳ dễ như trở bàn tay. Tất cả các công ty dầu hỏa nho nhỏ kiểu Unocal 76 lần hồi sẽ nằm trong tay của Chu Vĩnh Khang hết nếu giới BẢY CHỊ EM không trả đòn.

datauri-file (6)

Bề mặt, dù các công ty của giới “BẢY CHỊ EM” vẫn mua bán trao đổi với Chinese NOC’s nhưng bên trong, lần hồi nhiều đối sách để triệt hạ Chu Vĩnh Khang cũng như phá vở chiến lược “lấn sân” của ông đã được tính đến & thi hành. Đã có hàng trăm các kế hoạch đầu tư dầu hỏa của Chu Vĩnh Khang bị giới BẢY CHỊ EM âm thầm phá hoại khiến bị phải hủy bỏ, mà trong đó vụ mua công ty Unocal 76 của CNOOC vào năm 2005 chỉ là một thí dụ điển hình mà thôi.

Cục diện căng thẳng ở biển Đông ngày nay cũng hoàn toàn do giới “BẢY CHỊ EM” quyết tâm trả đòn trước chiến lược “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang đưa ra.

Biển Đông và trữ lượng dầu hỏa dồi dào tại Việt Nam đang hoàn toàn là trọng tâm phản đòn của giới “BẢY CHỊ EM.” Chắc chắn, giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không thể để cho Trung Quốc lấn vào tiền đồn này vì đây là yếu điểm để giới “BẢY CHỊ EM” đánh gục đối sách “lấn sân” của Chu Vĩnh Khang

Riêng về bản thân của Chu Vinh Khang, chắc chắn, ông sẽ không bao giờ có một kết cuộc tốt đẹp trước những bực dọc cao điểm của giới “BẢY CHỊ EM” đối với ông.
Dù sao, giới “BẢY CHỊ EM” cũng là một thế lực mại bản đầy quyền uy trong suốt hai thế kỷ nay và không bao giờ biết tha thứ cho mọi cá nhân hay thế lực thách thức vị thế độc tôn của mình.

VI. KẾT

Ngày 3 tháng Tư năm 2015, tờ “People Daily” của Trung Quốc chính thức đưa tin ông Chu Vĩnh Khang, người kỹ sư dầu hỏa siêng năng cần mẫn lập nên nhiều kỳ tích, bị phạm tội tham nhũng, tiết lộ bí mật quốc gia và lạm quyền…

Song song với bản án này là hàng loạt các tin tức hỏa mù từ báo chí, các hãng truyền thông nào là ông giết vợ, nào là ông có 6000 cung nữ, nào là ông đảo chánh giết hụt Tập Cận Bình, nào là ông bao che cho Bạc Hy Lai, cựu Bí Thư Tỉnh Trùng Khánh ..etc, nhưng không có hãng thông tấn nào đề cập chi tiết đến những đóng góp và kỳ tích của người kỹ sư dầu hỏa Chu Vĩnh Khang, cần mẫn tận tụy chịu khó yêu nghề đi lên từ khốn khó.

Thanh danh của Chu Vĩnh Khang bị triệt hạ nhưng cơ ngơi và sức mạnh của nền kỹ nghệ dầu khí Trung Quốc mà ông gầy dựng vẫn còn đó; quyền hành và ảnh huởng của Chu Vĩnh Khang có thể đã mất đi nhưng tham vọng của Cộng Sản Trung Quốc muốn thoát khỏi bàn tay nanh vuốt của giới “BẢY CHỊ EM” còn đó; dầu vẫn còn tiếp tục phun lên và Trung Quốc vẫn khát dầu mỗi ngày, cho nên cuộc đối đầu chống lại giới BẢY CHỊ EM của Trung Quốc vẫn còn tiếp diễn…

Với tư cách là một phạm nhân, Chu Vĩnh Khang mất hết tất cả từ tài sản đến ảnh huởng chính trị. Điều này có thật sự đúng hay không, hay Tập Cận Bình, hiện là Chủ Tịch Trung Quốc, vẫn âm thầm lắng nghe và dùng Chu Vĩnh Khang trong bóng tối là một câu hỏi mà giới “BẢY CHỊ EM” không bao giờ lơ là khi tìm kiếm câu trả lời.

Và cho dù thật sự Chu Vĩnh Khang đã bị triệt hạ hoàn toàn và mất hết thanh danh lẫn tài sản, hoàn toàn ngã ngựa thua trận trước thế lực của “BẢY CHỊ EM” thì đối với những ai CHẬT VẬT đấu trí với Chu Vĩnh Khang suốt gần hai mươi năm nay, vẫn sẽ mãi mãi coi ông là một Khổng Minh của thời đại, một thời đại được mang tên thời đại DẦU HỎA.

© Đàn Chim Việt

 Tú-Hoa

http://www.danchimviet.info/archives/95607/so-luoc-cuoc-doi-dau-giiua-chu-vinh-khang-zhou-yongkang-va-bay-chi-em/2015/05

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt | Leave a Comment »

►Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

Posted by hoangtran204 trên 08/05/2015

Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

I. “BẢY CHỊ EM”  (Seven Sisters) nghĩa là gì?

“BẢY CHỊ EM ” hay tiếng Anh còn gọi là “Seven Sisters ” là tiếng lóng để ám chỉ bảy công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới , nắm khoảng 85%—95% trữ lượng dự trử dầu hỏa của thế giới. Khởi thủy ( lúc ban đầu) , “BẢY CHỊ EM” trong ngành dầu hỏa bao gồm các công ty sau đây:

•Exxon (xuất thân từ Standard Oil of New Jersey )
•Mobil (xuất thân từ Standard Oil of New York)
•Chevron (xuất thân từ Standard Oil of California)
•Texaco
•Gulf Oil
•Shell
•British Petroleum

Về sau này, Exxon xác nhập với Mobil vào năm 1998 để trở thành ExxonMobil , Chevron mua đứt Texaco vào năm 1984 và Britist Petroleum mua đứt Gulf Oil cho nên “BẢY CHỊ EM”  lần hồi không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “BẢY CHỊ EM”  vẫn được sử dụng  để ám chỉ các công ty dầu hỏa hàng đầu của thế giới.

Hiện tại thì Chevron và Texaco,  hai thành viên quan trọng nhất của  giới “BẢY CHỊ EM” đang khai thác dầu hỏa tại Việt Nam. Riêng Chevron thì cho là đã có mặt tại Việt Nam ngay năm 1994 , tức là năm Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ mọi cấm vận đối với  Việt Nam .  Xin được ghi chú là thêm hai công ty Chevron và Texaco đã vào Việt Nam còn đội lốt dưới cái tên khác là CALTEX. 

Năm 2017, khi TT Trump vừa sắp nhậm chức, Rex Tillerson đang được đề cử làm Ngoại Trưởng mỹ,  Exxon Mobil đã ký hợp đồng với VN để khai thác khí đốt trong vùng Trường Sa.

Như vậy “BẢY CHỊ EM ” thực sự có mặt tại Việt Nam từ lâu và những bí ẩn riêng tư bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” ảnh huởng lên chính trị , lịch sử , và kinh tế  của Việt Nam là điều mà cần phải phân tích cặn kẽ tận tường khi bình luận hay khi đưa ra những đối sách chính trị ngoại giao cần thiết cho Việt Nam

II.  Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên nền chính trị Việt Nam hiện nay:

Cơ quan US Energy Information Administration gọi tắt là EIA của Hoa Kỳ loan  báo chính thức là trữ lượng dầu hỏa tại Biển Đông lên đến 11 tỷ thùng và 190 ngàn tỷ cubic ft khí đốt (một cubic foot tương đương với 0.28 mét khối )

EIA cũng đưa ra bản thống kê chính thức trữ lượng dầu hỏa và khí đốt của các nước trong vùng biển Đông  như sau:

Bảng thống kê 1 : Dự trữ dầu hỏa tại biển Đông
bang-1
Như vậy , trữ lượng dầu thô của Việt Nam ( 3 tỷ thùng ) không thôi đã chiếm gần 27.3 %  gần một phần ba trữ lượng của toàn vùng . Còn về lượng khí đốt thì Việt Nam đã đứng hang thứ ba trong vùng theo bảng tổng kết trình bày ở trên từ EIA.

Dữ liệu do chính EIA đưa ra cho thấy Việt Nam đã có thể cán đáng sản xuất gần 300 ngàn thùng dầu thô mỗi năm , tức là tương đương với khoảng 13.5 tỷ Mỹ kim mỗi năm nếu giá dầu thô chỉ là 45 Mỹ kim một thùng.

Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng sản xuất dầu hỏa của Việt Nam

bang-2

Dựa vào biểu đồ 1 , nếu lấy  năm 1994 làm cột mốc vì là năm Hoa Kỳ chính thực bãi bỏ cấm vận, thì sản lượng dầu thô của Việt Nam đã tăng từ 150 ngàn thùng một năm lên đến hơn 300.000 thùng một năm, gấp đôi tổng sản lương trong 20 năm.

Rõ ràng , với trình độ kỹ thuật và khả năng khai thác của Việt Nam không thể tạo ra sự nhẩy vọt về tổng sản lượng nếu như không có “BẢY CHỊ EM” ta đứng đằng sau trợ sức mọi mặt từ vốn đến kỹ thuật

Quan trọng hơn hết , toàn bộ miền duyên hải phía nam của Việt Nam, trong đó có quần đảo Trường Sa (Sparatly Islands) thuộc chủ quyền của Việt Nam  nằm hoàn toàn trên tuyến đường chuyên chở dầu hỏa khắp cả vùng châu Á Thái Bình Dương, theo sự xác nhận của EIA với tổng số lên đến  11 triệu thùng một ngày vào năm 2011 được phân bố ra các quốc gia như bản đồ dưới đây:

Họa hình 1:  Khối lượng vận chuyển dầu hỏa ngang qua biển Đông
hinh-1

Như vậy , nguồn lợi thu được từ thuế hàng hải khi vận chuyển dầu hỏa qua hải phận đối với các quốc gia trong vùng và nhất là đối với Việt Nam, hiện đang kiểm soát 29 đảo của quần đảo Trường Sa vô cùng to lớn.

Do đó , nhằm đảm bảo quyền lợi lâu dài lên đến cả trăm năm, “BẢY CHỊ EM” cần phải có những ảnh huởng chính trị cần thiết lên chính trường Việt Nam cũng như  cần chính phủ Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ để sự đi lại hàng hải, chuyên chở dầu hỏa trên con đường này không bị Hải quân Trung Quốc bắt nạt và buộc phải đóng thêm thuế hàng hải cho Trung Quốc

Trung Quốc đã nhiều lần kiếm cách phá rối, hăm dọa cũng như áp lực lên giới “BẢY CHỊ EM ” bằng nhiều kiểu cách khác nhau nếu tiếp tục bắt tay với Việt Nam khai thác dầu hỏa, khí đốt trong vùng .

Việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu khổng lồ 981 vào lãnh hải Việt Nam vào ngày 2-5-2014 với dàn hải quân hùng hậu hộ tống cũng chính là nhằm dằn mặt “BẢY CHỊ EM” ta đã phớt lờ Trung Quốc khi ký kết các hợp đồng khai thác tại vùng biển này và nhất là tại Cửu Long Basin , phía nam duyên hải Việt Nam mà Trung Quốc đã ngang ngược cương quyết đòi chủ quyền. Ngoài ra , Trung Quốc cũng muốn nhìn phản ứng của “BẢY CHỊ EM” ra sao trước tình huống này  (political benchmark testing).

“BẢY CHỊ EM” biết quá rõ về lâu về dài, khi Trung Quốc đã không chế được tình hình rồi thì Trung Quốc sẽ tự bỏ vốn khai thác , “BẢY CHỊ EM” vĩnh viễn không có phần và phải quy lụy Bắc Kinh tối đa để duy trì sự vận chuyển dầu hỏa lên Nhật Bản hoặc các nước khác trong vùng.

Điều đó càng cho thấy giới “BẢY CHỊ EM” ta không thể để các phần tử Đảng viên bảo thủ thân Trung Quốc ở trong Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục mạnh thế  khiến những toan tính cam kết đầu tư giữa Việt Nam và  giới “BẢY CHỊ EM” bị đe dọa, bất ổn.

Hơn nữa, để đảm bảo quyền lợi lâu dài, “BẢY CHỊ EM” sẽ tìm đủ cách tạo ra cho mình những ảnh huởng chính trị cần thiết trên chính trường Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

Cho nên, để “BẢY CHỊ EM” có thể yên tâm dò tìm , đầu tư và khai thác dầu hỏa và khí đốt tại thềm lục địa Việt Nam,  Cộng Sản Việt Nam cần phải có chính sách chính trị đối ngoại hợp tác với Hoa Kỳ sâu rộng về quốc phòng.

Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam tỏ ra do dự hay sẵn sàng ngả về Trung Quốc thì giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không gia tăng đầu tư vào Việt Nam vì rủi ro ( risk) quá lớn trước sự hăm dọa của Trung Quốc.

Từ đó, mối bang giao Việt- Mỹ  chịu ảnh hưởng âm thầm nhưng mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM”.

Đơn giản, đầu tư của “BẢY CHỊ EM” sẽ sút giãm nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại  nặng nề  về kinh tế cho Việt Nam nếu  Việt Nam không nằm trong đường lối hợp tác quốc phòng mà chính phủ Hoa Kỳ đề ra trong sách lược của mình tại Đông Nam Á.

Như vậy đường lối chính trị ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam cũng đang lần hồi bị ảnh hưởng áp lực của  giới “BẢY CHỊ EM “.

Ngụy trang bằng lý do quốc phòng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từ từ xích gần lại Hoa Kỳ để tìm một sự bảo vệ  nhằm lợi nhuận từ dầu hỏa được ổn định và gia tăng.

Nếu  mất đi gần hoặc hơn 10 % tổng giá trị sản phẩm quốc dân – GDP ( Gross Domestic Product )  từ nguồn lợi tức dầu hỏa và cả khí đốt , chưa kể các quyền lợi về công ăn việc làm , cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do các hoạt động đầu tư của “BẢY CHỊ EM” đem lại thì kinh tế Việt Nam và ngân sách quốc gia của Việt Nam sẽ suy sụp nhanh chóng .

Điều này sẽ đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tình thế lâm nguy về an toàn chính trị trước suy thoái kinh tế. Khi nguồn lợi tài chánh từ dầu hỏa mất đi , Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị tê liệt về ngân sách , dẫn đến sụp đổ nhanh chóng về chính trị.

Ba đời thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, từ Võ Văn Kiệt đến Nguyễn Tấn Dũng điều là người miền Nam và có liên quan trực tiếp đến sự an toàn, tự do khai thác dầu hỏa cho “BẢY CHỊ EM” ngoài khơi lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Bộ luật đầu tư khai thác dầu hỏa được thông qua để  BẢY CHỊ EM tư do đấu thầu, khai thác dầu hỏa  ban hành  vào năm 1993 khi Võ Văn Kiệt là thủ tướng.

Chevron đã vào Việt Nam năm 1994 dưới sự bảo vệ về chính trị của Kiệt để đổi lại những khoảng tài chánh cứu trợ cần thiết cho Việt Nam và Đảng cầm quyền cũng như sự hậu thuẫn của Chevron cho Việt Nam trong chính trường Mỹ.

Sau đây là một đoạn từ lá  thơ của Lisa Barry , General Manager Government Affairs ( Tổng Giám Đốc Tư Pháp ) của Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ ( House of Representative- H. R. ) , áp lực Hạ Viện tiếp tục duy trì  quy chế tự do mậu dịch “Permanent Normal Trade Relations “ gọi tắt là PNTR với Việt Nam. PNTR cho phép tự do mậu dịch giữa hai quốc gia Việt- Mỹ được hợp pháp – nguyên văn bằng tiếng Anh :

“ Chevron is a long term  investor in Viet Nam . We re-entered the Vietnamese market as soon as it was legally permissible  following the end of US trade embargo in 1994 and have increased our present since then as opportunities have been available . We are please to support and urge favorable consideration of the last step in the trade normalization process: extending Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) to Viet Nam as authorized by H.R 5602  “

(Xin tạm dịch : Chevron là một công ty đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Chúng tôi hiện diện tại Việt Nam ngay sau khi cấm vận được bãi bỏ vào năm 1994 và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình khi có cơ hội đầu tư. Chúng tôi hết lòng vận động và ủng hộ bước tiến  cuối cùng của  quá trình bình thuờng hóa : tiếp tục duy trì  nghị quyết H.R 5602- Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) , quy chế tự do mậu dịch với Việt Nam)

Đoạn trích trên từ lá thơ của công ty Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ là một bằng chứng đã cho thấy rõ ảnh huởng mạnh của giới “ BẢY CHỊ EM” lên mối quan bang giao Việt-Mỹ tác động đến nền chính trị và các quyết định chính trị sau này của Cộng Sản Hà Nội. Xin vào website để đọc hết toàn bộ nguyên văn bức thư bằng Anh ngữ .

Phan Văn Khải cũng là người miền Nam , tiếp nối Võ Văn Kiệt làm thủ tướng từ năm 1997 cho đến 2006 , trong thời gian này thì tổng sản lượng dầu hỏa của Việt Nam nhanh chóng nhãy vọt từ dưới 200 ngàn thùng dầu lên gần 400 ngàn thùng dầu mỗi ngày  do sự hiện diện mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM” dập dìu ngoài khơi Việt Nam  (biểu đồ 1 )

Trong giai đoạn  tăng vọt sản lượng dầu hỏa này, chỉ cần nhìn vào Chevron thì đã thấy cổ phần của Chevron tăng vọt tại các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam:

+ Block 122 – Phu Khanh Basin : Chevron sở hữu 20%,
+ Block B&48/95 – Malay/Tho Chu Basin : Chevron sở hữu lên đến 42.38%
+ Block 52/97- Malay/Tho Chu Basin Chevron sở hữu lên đến 43.40%

Ông Khải cũng được cho là nhờ sự vận động ráo riết của BẢY CHỊ EM để ông trở thành Thủ Tướng Cộng Sản đầu tiên viếng thăm Hoa Kỳ , ký kết hàng loạt các hợp đồng kinh tế , trong đó là chuyến đi thăm ngoạn mục đến nơi sản xuất của một người bạn lâu đời thủy chung của giới “BẢY CHỊ EM “, đó là hãng Boeing.

Nguyễn Tấn Dũng tiếp nối ông Khải làm Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam cũng là người miền Nam, mở rộng cửa cho hàng loạt các tay chân của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, trong đó có các hãng lọc dầu của Pháp, Nam Hàn, Nhật Bản.

Thời của ông Dũng, Trung Quốc gia tăng sách nhiễu BẢY CHỊ EM ngoài khơi Việt Nam khiến quan hệ hai nước Việt – Mỹ xích gần nhau hơn về quốc phòng dẫn đến hàng loạt các chuyến ngoại giao con thoi Mỹ- Việt .  “BẢY CHỊ EM”  đang hậu thuẫn mạnh cho chính giới Hoa Kỳ gia tăng hợp tác quốc phòng với Việt Nam. Sự hậu thuẫn này khiến bộ quốc phòng Mỹ lần lượt có những đối sách gia tăng tuần tra hợp tác tại biển Đông để bảo vệ quyền lợi đầu tư của “BẢY CHỊ EM”  ngoài khơi Việt Nam.

“BẢY CHỊ EM “ đã âm mưu núp bóng , dựng ra nhiều tập đoàn dầu hỏa cho nhiều quốc gia khác , rồi lôi kéo các tập đoàn này vào Việt Nam , chịu dựng sự xách nhiễu và hăm dọa từ Trung Quốc buộc lòng chính phủ các quốc gia này lên tiếng phản đối áp lực Trung Quốc , tạo ra một thế cuộc quốc tế hóa vấn đề dầu hỏa tại Biển Đông có lợi cho toàn cầu và đương nhiên , chỉ có hại cho tham vọng riêng tư của Trung Quốc.

Hệ quả của âm mưu này là Việt Nam có thêm hàng loạt các tập đoàn dầu hỏa từ Thái Lan , Nhật , Úc , Canada , Nam Hàn , Quatar , Kuwait , India ….vân vân mà hầu hết điều là con đẻ của “BẢY CHỊ EM ” ồ ạt vào Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của chính phủ các quốc gia này.

Như vậy, Trung quốc nếu muốn xách nhiễu hay áp lực cũng mệt mỏi vì có quá nhiều quốc gia liên can , nhiều tập đoàn khác nhau để liên hệ phản đối.

Các nhà phân tích , chiến lược gia đang chờ xem Trung Quốc sẽ đối phó với âm mưu này của BẢY CHỊ EM như thế nào.

Nền chính trị của Việt Nam độc tài Cộng Sản hôm nay và Tự Do Dân Chủ mai sau  luôn luôn sẽ phải chịu  những tác động và ảnh huởng mạnh từ “BẢY CHỊ EM”  Đây là một thực tế cần phải chấp nhận khi bàn thảo những đối sách chính trị cho Việt Nam
 
III. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” trong lịch sử  của Việt Nam:

Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam là điều mà các sử gia vẫn chưa chịu thừa nhận vì ảnh hưởng này không ồn ào lộ ra ngoài cho mọi người nhìn thấy dù ảnh huởng này rất là quan trọng

Trong quá khứ, Nhật Bản buộc lòng phải tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  vì Hoa Kỳ  cấm vận mọi chuyên chở dầu hỏa từ con đường dầu hỏa (đề cập ở phần II bên trên)  lên Nhật Bản khiến Nhật Bản sẽ suy xụp tê liệt hoàn toàn về kinh tế  nếu không có  hành động để tìm một giải pháp.

Hoa Kỳ hành động cấm vận dầu hỏa quyết liệt như vậy đối với Nhật Bản là để trả đũa hành động Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng, lúc bấy giờ còn thuộc Đông Dương- L’indochine do Pháp kiễm soát vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng nhằm cắt đứt đường mua bán , trao đổi tiếp viện xăng dầu đạn dượt cho chính phủ của Tưởng Giới Thạch  từ Hoa Kỳ thông qua cảng Hải Phòng và đường rày nối liền Hài Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh và Vân Nam (Sino- Vietnamese railway)

Như vậy, cuộc đối đầu trực diện nảy lửa giữa Hoa Kỳ  với Nhật Bản  về ngoại giao  từ năm 1940 dẫn đến đối đầu quân sự trực diện ngay năm sau đó bằng trận tấn công Trân Châu Cảng kinh hoàng bởi Nhật Bản vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  tạo ra đệ Nhị Thế Chiến tại Châu Á khởi nguồn từ sự xâm lược của Nhật Bản vào cảng Hải Phòng vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Trong khi đó, Trung Quốc đã bị Nhật Bản xâm lược trắng trợn từ năm 1935 nhưng Hoa Kỳ vẫn chỉ phản đối cho có lệ mà thôi, không hề có những hành động cấm vận cương quyết toàn diện đối với Nhật Bản như sau trận tấn công Hải Phòng của Nhật.
Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng mà các chiến lược gia của Hoa Kỳ cố gắng đánh lờ đi.

Việt Nam lao vào lốc xóay của Đệ Nhị Thế Chiến bởi những tranh chấp dầu hỏa giữa các siêu cường trong vùng.

Quyết định của chính phủ Hoa Kỳ cấm vận Nhật Bản dẫn đến chiến tranh đương nhiên là có sự hậu thuẫn của “BẢY CHỊ EM”  vì các đại công ty dầu hỏa lúc bấy giờ không muốn bị Nhật Bản khống chế khi chuyên chở dầu hỏa trong vùng  cũng như cắt đứt một khách hàng tiêu thụ xăng dầu khổng lồ của “BẢY CHỊ EM” là Trung Hoa Quốc Dân.

Khi Đệ II thế chiến chấm dứt  năm 1945 , trợ tá đắc lực của tướng Douglas MacArthur, Thống Đốc Toàn Quyền Nhật Bản là phó thống đốc toàn quyền Laurence Rockefeller, cháu ruột của ông tổ ngành dầu hỏa Hoa Kỳ , John D.  Rockefeller, tìm đủ cách tăng viện cho Hồ Chí MInh ,  mượn tên này gây rối Đông Dương để Hoa Kỳ CÓ CƠ HỘI CAN THIỆP CHÍNH TRỊ VÀO ĐÔNG DƯƠNG mai sau, nhằm có điều kiện kiểm soát dò tìm trữ lượng dầu hỏa và khí đốt tại miền nam duyên hải Việt Nam và lập ra kế hoạch khai thác   lâu dài trên biển Đông  sau này.

Chín năm sau đó , tức là năm 1954-1955 , cũng Laurence Rockefeller , lúc bây giờ là trợ tá đắc lực cho tổng thống Eisenhower, đã cố vấn cho chính phủ Hoa Kỳ,  vận động hậu trường chính trị  ở Washington DC ủng hộ Diệm truất phế Quốc Trưởng  Bảo Đại nhằm chấm dứt vĩnh viễn ảnh huởng của người Pháp lên Đông Dương , mở rộng cửa cho Hoa Kỳ can dự vào chính trị tại Việt Nam , mở ra cơ hội cho Hoa Kỳ chuẩn bị thăm dò khẳng định trử lượng dầu hỏa của Việt Nam, ngoài khơi Cửu Long Basin và quần đảo Trường Sa.

Vào thập niên 1950 , kỹ thuật thăm dò dầu hỏa ngoài khơi của Hoa Kỳ  đã rất tiến bộ và chính xác , chỉ cần cho nổ bom hoặc mìn dười lòng biển sâu , rồi đo sự dội lại của âm thanh sẽ biết được chính xác vị trí của salt dome , tức là những bọng muối chứa dầu bên dưới.

Từ năm 1964 trở đi, “BẢY CHỊ EM” ta , nhờ các kế họach quân sự của Hoa Kỳ khi tham chiến tại Việt Nam làm bình phong che đậy, đã có thể âm thầm thực hiện kế hoạch thăm dò mười năm của mình trên toàn bộ vùng biển Đông , biết rõ chính xác và chi tiết  trữ lượng cũng như vị trí sự phân bố dầu hỏa trên vùng biển Đông này.

(Nếu không có sự thăm dò này , EIA của Hoa Kỳ làm sao có dữ liệu , data mà thông báo?)

Hiện tại, chưa có một sử gia nào bỏ công nghiên cứu ảnh huởng sâu rộng của “BẢY CHỊ EM ” lên lịch sử của Việt Nam.

Đơn giản là vì, giới “BẢY CHỊ EM ” ta không bao giờ lộ diện mà đứng đàng sau các nhân vật chính trị , hoặc vây cánh với các nhân vật chính trị  của Hoa Kỳ để ảnh huởng đến các quyết định chính trị sao cho có lợi cho mình và phù hợp với tình thế chính trị toàn cầu

Hoa Kỳ ảnh huởng sâu rộng đến lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến nay từ việc đưa Hồ Chí Minh về đảo chánh chính phủ Trần Trọng Kim gây rối Đông Dương, cắt viện trợ chiến tranh cho nước Pháp tại Đông Dương khiến Pháp khốn đốn mà bỏ Đông Dương,  rồi đến tham chiến suốt 18 năm , sau lại  cấm vận Việt Nam 18 năm và giờ quay trở lại bảo vệ Việt Nam toàn diện từ kinh tế , quốc phòng đến môi trường thì rõ ràng , sự ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM”, một thế lực mại bản hàng đầu của nước Mỹ,   lên các quyết định của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam , là điều tất nhiên xảy ra.

Chối bỏ vai trò & ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam sẽ khiến cho mọi sự nghiên cứu sử học cận và hiện đại của Việt Nam bị khiếm khuyết và lệch lạc đi

IV. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên kinh tế Việt Nam

Sự hiện diện đầy đủ của  “BẢY CHỊ EM”  ta tại Việt Nam về lâu về dài đương nhiên tạo ra sức mạnh tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam.

Căn cứ  vào dữ kiện  của World Bank , thì thu nhập về dầu hỏa của Việt Nam đang từ con số không vào năm 1986 đã lên đến gần 7 % tổng giá trị sản lượng quốc dân GDP vào năm 2012.

Biểu đồ 2:Thu nhập từ dầu hỏa của Việt Nam (%GDP)
bieu-2

Ghi chú: Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Trong điều kiện kinh tế lạm phát và tăng trưởng ở mọi quốc gia trên toàn cầu , nhu cầu về năng lượng chỉ gia tăng chứ không có giảm và dù nhiều kỹ thuật tân tiến được áp dung để tránh lệ thuộc vào dầu hỏa, thì dầu hỏa vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của mọi nền kinh tế. Do đó , về lâu về dài,  giá dầu chỉ có xu huớng gia tăng chứ không có giảm.

Biểu đồ lên xuống giá cả của dầu hỏa trong suốt 40 năm tính từ năm 1973 đã cho thấy giá dầu đã tăng từ 16 Mỹ kim một thùng vào năm 1973 lên đến gần 50 Mỹ kim một thùng vào năm 2013.  Còn nếu lấy cột mốc là năm 1994 tức là năm khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận cho Việt Nam thì giá dầu đã tăng gần 20 Mỹ kim một thùng khiến lợi nhận dầu hỏa của Việt Nam chiếm từ 3% tổng giá trị sản lương quốc dân GDP vào năm 1994 lên gấp đôi trên 6% vào năm 2013

Biểu đồ 3 : Biến chuyển giá dầu 1973-2015 ( US dollars / barrel )
bieu-3

Ghi chú : Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Tuy nhiên , nếu chỉ nhìn về trị giá dầu hỏa mà coi đây là nguồn lợi duy nhất mà “BẢY CHỊ EM” có thể đem lại cho nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn sai lầm.

Sự hiện diện của “BẢY CHỊ EM ” là cơ hội rất tốt để Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng kinh tế từ kho bãi , cảng , kỹ thuật  , nhà máy lọc dầu , các nhà máy sản xuất các hóa chất trọng yếu cho kinh tế quốc gia, kiến thức quản lý. Đó là chưa kể “BẢY CHỊ EM” là nguốn tài trợ vô cùng lớn cho Việt Nam gia tăng khả năng sản xuất điện với kỹ thuật tân tiến, một nhu cầu vô cùng quan trọng cho một xã hội đang phát triển.

Chỉ tính riêng công ty ExxonMobil mà thôi, một khối lượng vốn lên đến 20 tỷ Mỹ kim đã được công ty này loan báo đầu tư vào Việt Nam vào ngày 19 tháng Ba năm 2014 tại Hà Nội không phải để mua dầu mà là để xây nhà máy nhiệt điện sử dung khí đốt khái thác tại biển Đông. Chỉ với 20 tỷ Mỹ kim mà ExonMobil đã là công ty đứng hàng thứ bảy về số vốn đầu tư tại Việt Nam thì rõ ràng , nếu tính sự hiện diện đầy đủ của “BẢY CHỊ EM “,tức là sự hiện diện của mọi tập đoàn dầu hỏa được  chính phủ Hoa Kỳ  hậu thuẫn thì con số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho Việt Nam từ các công ty này sẽ vượt qua xa tất cả các công ty không thuộc giới ….”BẢY CHỊ EM “!

Ước đoán số vốn đầu tư của “BẢY CHỊ EM ” tại Việt Nam  như sau:

1. Chevron: 7 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy điện chạy bằng khí đốt khai thác từ BLOCK B từ Cửu Long Basin , trong đó có tính luôn cả chi phí các ông dẫn khí từ khơi vào đất liền có chiều dài lên đến 400 km. Chevron cũng được cho là sở hữu 42 % số dầu khai thác từ Cửu Long Basin theo các hợp đồng đã ký với Cộng Sản Hà Nội.

2. ExxonMobil : 20 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy nhiệt điện lớn từ khí đốt tại tỉnh Quãng Ngãi. Hợp đồng này khiến Việt Nam có cơ sở hạ tầng tân tiến , cải thiện sức mạnh kinh tế quốc dân.

3. British Petroleum(BP) ” được cho là bỏ ra 2 tỷ Mỹ kim để thăm dò Block 05-2 tai Nam Côn Sơn , có tin đồn là bỏ của tháo chạy vì bị Trung Quốc đe dọa và lấy cớ là cần tiền để bồi thuờng vụ rò rỉ ( leak) dầu tại  Gulf of Mexico  nên bán mọi asset  tại Việt Nam nhưng nay rõ ràng BP có cổ phần gần như mọi dự án lớn nhỏ về năng lượng của Việt Nam.  Hệ thống ống dẫn khí đốt đang hoạt động tại Việt Nam hầu hết là do BP thi công , trừ hệ thống ống dẫn của Chevron .

4. Shell : Được cho là bỏ ra gần 300 triệu để đầu tư sản xuất dầu cơ khí , hay còn gọi là dầu máy hoặc là nhớt máy. Tuy con số tiền đầu tư có vẻ ít nhưng Việt Nam chưa hề tự lực nổi về sản xuất dầu nhớt cơ khí và cần Shell hiện diện để canh tân kỹ thuật và cung ứng cho nhu cầu quan trọng này của xã hội

5. ConocoPhilipe : công ty dầu hỏa mới thành lập của Hoa Kỳ , được cho là lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới trong giới “BẢY CHỊ EM ” ngày nay , nắm 23.25% cổ phần block 15-1 , 36%  cổ phần block 15-2; và 16.3 % hệ thống Nam Côn Sơn ống dẫn dầu và khí đốt ( Nam Con Son pipeline) .

ConocoPhilipecũng loan báo bán tháo bỏ chạy ra khỏi Việt Nam vì Trung Quốc đe dọa năm 2012 , nhưng nay cũng quay trở lại khi biết chính sách “nhìn về châu Á “ của Obama được thi hành. Tổng trị giá tài sản mà  ConocoPhillipe có ở Việt Nam có thể lên đến 5 tỷ Mỹ kim là ít nhất

6. Korea National Oil Corporation (KNOC) : dù mang tiếng là của Nam Hàn nhưng thực chất Chevron đứng đàng  sau, theo chân Hoa Kỳ vào Việt Nam , nhận điều hành Block 11-2, tin rằng số vốn cơ sở hạ tầng tại Việt Nam lên đến khoảng 2 tỷ Mỹ kim

7. Nippon Oil Exploration Limited and Teikoku Oil : xuất thân tự Nhật có  35% cổ phần cho block 05-1 b và 05-1c. Số vốn hạ tầng tại Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim

Thu nhập ngoại tệ từ dầu hỏa , canh tân cơ sở hạ tầng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân như hệ thống  ống dẫn dầu hay khí đốt , hệ thống nhà máy nhiệt điện , hệ thống nhà máy chưng cất dầu ( oil refinery ), nhà máy sản xuất ống dẫn dầu và các thiết bị liên quan , dàn khoan dầu , tàu chở dầu , phi trường  , công ăn việc làm  , kỹ thuật , vân vân là những quyền lợi kinh tế rất lớn  mà giới “BẢY CHỊ EM “sẽ mang đến cho Việt Nam về lâu về dài, chưa kể hậu thuẫn về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

V. Kết Luận:

“BẢY CHỊ EM ” hay còn gọi là Seven Sisters là tiếng lóng để chỉ các tập đoàn dầu hỏa hàng đầu thế giới, hầu hết là được chính phủ Hoa hậu thuẫn đằng sau.

Các công ty dầu hỏa này đang ngày càng có một ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong thuợng tầng , lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sẽ còn tiếp tục ảnh huởng đến nền chính trị của quốc gia chúng ta trong tương lai sau khi cộng sản xụp đổ

Việt Nam bị lôi cuốn vào đệ nhị thế chiến cũng vì những căng thẳng về dầu hỏa xãy ra giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ do sự cấm vận từ Hoa Kỳ sao khi Nhật Bản tấn công  cảng Hải Phòng của Việt Nam thời Đông Dương thuộc Pháp . Hai cuộc chiến tại  Việt Nam sau 1945 điều có sự can dự âm thầm của giới “BẢY CHỊ EM ” và là cơ hội tốt để giới BẢY CHỊ EM tiến hành thăm dò trử lượng dầu hỏa và khí đốt tại biển Đông . Cho nên, lịch sử của Việt Nam thật sự đã bị ảnh hưởng bởi giới ” BẢY CHỊ EM” mà các sử gia cần thừa nhận và đào sâu thêm

Ảnh hưởng về kinh tế đối với Việt Nam từ giới “BẢY CHỊ EM ” rất lớn . Sự hiện diện của  “BẢY CHỊ EM” tại Việt Nam sẽ thúc đẩy Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng và đem đến một tương lai thịnh vượng hơn cho đất nước về đường dài.

© Đàn Chim Việt

2014, Viet Nam  khai thác 400.000 thùng dâù thô / 1 ngày

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ, Quan Hệ Mỹ và Trung Quốc- ở Châu Á | Leave a Comment »

►Các hòn đảo nhỏ, chìa khoá cho quyền sở hữu Biển Đông

Posted by hoangtran204 trên 08/05/2015

BBC

Bill Hayton

03-05-2015

Các nước Đông Nam Á nói rằng họ đang “quan ngại thật sự” về việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo ở những phần tranh chấp trên Biển Đông.

Đáp lại, Trung Quốc nói họ “quan ngại sâu sắc” về tuyên bố các nước Đông Nam Á.

Đông Nam Á nói hành động của Trung Quốc đã “xói mòn lòng tin và sự tin cậy, và có thể làm phương hại hòa bình, an ninh và ổn định”.

Trung Quốc đáp trả rằng những gì họ làm là “hoàn toàn hợp pháp và không có gì phải thắc mắc”. 

Tình hình tranh chấp Biển Đông đang trở nên nghiêm trọng chăng?

Trung Quốc đã phản ứng giận dữ với tuyên bố chính thức của 10 nước thuộc Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á công bố hôm thứ Hai, chỉ trích chương trình xây đảo khổng lồ của họ ở quần đảo Trường Sa.

Trung Quốc đang sử dụng các tàu nạo vét và các đội xây dựng để biến ít nhất sáu rạn san hô thành các căn cứ lớn với các bến cảng.

Một đảo sẽ có một đường băng dài 2.900 mét (1,8 dặm).

Có mối quan ngại đang gia tăng rằng Trung Quốc sẽ sử dụng các căn cứ này làm bàn đạp để khẳng định quyền kiểm soát đối với toàn bộ Biển Đông.

Trung Quốc nói họ chỉ bảo vệ các quyền lãnh thổ và đội tàu đánh cá của họ.

Có vẻ kỳ lạ là một số hòn đảo nhỏ nhất trên hành tinh hiện nay lại nằm ở trung tâm của một trong những tranh chấp lãnh thổ lớn nhất thế giới.

Nếu chỉ thấp hơn một vài mét thì chúng thậm chí không đủ điều kiện trở thành đảo nhưng vì chúng nhô lên khỏi mặt nước Biển Đông, các nước có thể đoài chủ quyền chúng, và quan trọng hơn, lãnh thổ và các nguồn tài nguyên trong vùng biển xung quanh chúng.

H1Trung Quốc đang tiến hành bồi tạo đất ở quần đảo Trường Sa

Ai kiểm soát các đảo sẽ có yêu sách mạnh mẽ nhất đối với 1,4 triệu dặm vuông của Biển Đông, tất cả tôm cá trong đó và dầu hỏa bên dưới nó.

Đó là lý do tại sao, đối với sáu quốc gia xung quanh Biển Đông (bảy nếu tính Đài Loan là một nước riêng), khoảng 250 đảo đá, rạn san hô và đảo này, với tổng diện tích chỉ sáu dặm vuông, đáng để họ bỏ ra tất cả tiền bạc và công sức cho chúng.

Nhưng thực ra nó còn nhiều hơn thế nữa.

Hai sự tranh chấp

Để hiểu vì sao tàu và máy bay của Mỹ và Trung Quốc đang đối đầu nhau ở Biển Đông, điều quan trọng là cần phải hiểu rằng thật ra có hai sự tranh chấp khác nhau đang diễn ra ở đó.

Một là, nước nào sở hữu các thể địa lý rải rác trong vùng biển này.

Tranh chấp kia, quan trọng hơn, là về tương lai của hệ thống quốc tế đã và đang điều tiết thế giới kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc đến nay.

Các nước sẽ phải theo những quy định quốc tế nào và ai sẽ làm ra các quy định đó?

H1

Chính sự chồng chéo giữa sự hai tranh chấp này – giữa câu hỏi nước nào chiếm đóng những đảo nhỏ nào đúng lẽ và câu hỏi những nước nào thiết lập các quy tắc của thế giới – làm cho tranh chấp Biển Đông rất nguy hiểm.

Trung Quốc tự tin rằng mình là chủ sở hữu đúng lẽ của hầu như toàn bộ Biển Đông.

Kết quả là các nước Đông Nam Á đối thủ có yêu sách – Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines – đang cố gắng củng cố vị thế của mình bằng cách lôi kéo các cường quốc khác – không chỉ Mỹ là chính mà còn cả Nhật Bản và Ấn Độ – về phía họ.

Mỹ không đặc biệt quan tâm đến việc nước nào kiểm soát đảo nào, nhưng họ đang bị lôi kéo vào các tranh chấp này vì lợi ích rộng lớn hơn của mình.

Nhà chức trách ở Bắc Kinh nhìn mọi thứ theo cách ngược lại.

Họ nghĩ rằng Mỹ muốn vẫn là cuờng quốc hàng đầu thế giới, đang tụ họp các nước Đông và Đông Nam Á để kềm chế một nước Trung Quốc đang trỗi dậy.

Nhưng điều mà Mỹ và nhiều quốc gia khác quan ngại, không phải là sự trỗi dậy của Trung Quốc, như đang diễn ra, mà là những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm định đặt lại luật pháp quốc tế cho phù hợp với lợi ích riêng của họ ở Biển Đông.

Kết quả là, Mỹ cùng các đồng minh và bạn bè đang bắt tay với nhau “giữ nguyên hàng ngũ”. Mối nguy hiểm nằm ở chỗ đó.

Thách thức quốc tế

Khi Trung Quốc cố mở rộng quyền kiểm soát của mình đối với vùng biển này (như là đối tượng khác với các đảo), họ đang thách thức cả các nước trong khu vực lẫn hệ thống quốc tế.

Theo luật quốc tế hiện hành – quy định trong Công Ứớc Liên Hiệp Quốc về Luật Biển – một nước chỉ được sở hữu vùng biển nếu nuớc đó sở hữu vùng đất liền kề với nó.

Một nước sở hữu một đảo cũng “sở hữu” 12 hải lý đáy biển xung quanh đảo và có các quyền đối với tài nguyên (nhưng không sở hữu lãnh thổ) lên đến 200 hải lý xung quanh.

Tuy nhiên, chính phủ Trung Quốc và các doanh nghiệp nhà nước của họ (đặc biệt là các công ty dầu mỏ và các doanh nghiệp nghề cá) đang cố khẳng định quyền sở hữu đối với chính Biển Đông, cùng với đáy biển và các tài nguyên của nó, cách xa bờ biển Trung Quốc hàng trăm dặm.

Đây là một thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông vốn có những yêu sách của riêng họ, đối với Mỹ mà vai trò như một cường quốc thương mại và quân sự toàn cầu phụ thuộc vào quyền đi lại không bị ngăn trở qua các biển trên thế giới và đối với mọi quốc gia khác vốn tin vào các quy định hiện hành của luật quốc tế.

H1Pháo đài Trung Quốc tại Đá Vành Khăn (Mischief Reef) ở quần đảo Trường Sa đang tranh chấp

Mỹ nói chung chung rằng biển từ bờ trở ra hơn 12 hải lý không thuộc về bất cứ ai và do đó ai cũng được tự do sử dụng theo bất kỳ cách nào họ thấy phù hợp. (Đúng ra phức tạp hơn thế, nhưng đó là nguyên tắc cơ bản).

Nhật Bản mỗi sáu giờ cần một tàu chở dầu hoặc khí đốt đi qua Biển Đông để giữ cho hoạt động kinh tế tiếp nối; tương tự Hàn Quốc cũng phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng.

Cả hai nước cũng có mối quan ngại khác về cách mà Trung Quốc đang trỗi dậy.

Nhật Bản có tranh chấp riêng với Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku / Điếu Ngư, thấy có cùng mối lo chung với Việt Nam và Philippines nên đã bắt đầu cung cấp cả tàu tuần duyên cùng các thiết bị khác và đào tạo để giúp họ bảo vệ yêu sách biển của họ.

Hàn Quốc ít lớn giọng hơn, nhưng cũng quan ngại và cũng đang cung cấp vũ khí cho Philippines và Indonesia.

Ấn Độ không phụ thuộc quá nhiều vào Biển Đông, nhưng sợ hậu quả xấu nếu Trung Quốc chi phối châu Á.

Ấn Độ có hai nơi tranh chấp với Trung Quốc ở khu vực biên giới trên dãy núi Himalaya.

Họ cũng lo lắng về mối quan hệ ngày càng gia tăng của Trung Quốc với các nước xung quanh Ấn Độ Dương nên đang phát triển quan hệ an ninh với Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản và Australia (cùng với những nước khác) để đáp ứng.

Tranh chấp thế kỷ 20

Nhà chức trách Trung Quốc nói rằng họ là “chủ sở hữu” lịch sử Biển Đông “từ thời xa xưa”.

Thật ra chính quyền Trung Quốc chỉ quan tâm đến Biển Đông kể từ đầu thế kỷ 20.

Ngoại trừ một giai đọan rất ngắn, còn hầu như suốt toàn bộ lịch sử có ghi chép lại (ngoại lệ là giai đoạn 30 năm 1400-1430, trong giai đoạn đó nhưng kẻ được gọi là các đô đốc thái giám, trong đó có Trịnh Hòa, đã đi thuyền xa tới tận Đông Phi), nhà cầm quyền Trung Quốc hầu như chưa đủ khả năng kiểm soát bờ biển của chính họ, nói gì tới các đảo cách xa hàng trăm dặm.

______________________

Trịnh Hoà: Đô đốc thái giám

Trịnh Hoà sinh năm 1372 ở tỉnh nghèo Vân Nam trong một gia đình Hồi giáo gốc Trung Á, từng chiến đấu cho quân Mông Cổ. Bị quân nhà Minh bắt được, ông đã bị hoạn lúc lên 10 tuổi.

Ông đã được phái đến phục vụ hoàng tử nhà Minh, và quá nổi bật trong chiến đấu đến mức đã ngoi lên đến chức đô đốc.

Hạm đội của ông lớn hơn toàn bộ các đội tàu của châu Âu gộp lại, nổi trội với các báu thuyền khổng lồ dài 400ft (122 m) và rộng 160ft (50m).

Ông đi lại khắp vùng Đông Nam Á, Ấn Độ Dương, đến Vịnh Ba Tư và Châu Phi, tạo ra nhiều bản đồ hàng hải mới, và truyền bá văn hóa Trung Quốc.

Ông đã mở ra các tuyến đường giao thương đến nay vẫn đang lớn mạnh, và nắm được quyền kiểm soát chiến lược đối với các nước mà hiện nay một lần nữa đang nhìn Trung Quốc như là lãnh đạo không tranh cãi của khu vực.

___________________

Phiên bản lịch sử này không phải là phiên bản giảng dạy trong các trường học Trung Quốc.

Điều này đã cố kết, nhưng ý thức sở hữu không biện minh được về mặt lịch sử là điều đang đặt Trung Quốc lên tiến trình va chạm với các nước láng giềng và Hoa Kỳ.

Đó chính là lý do tại sao Trung Quốc ứng xử kẻ cả khi đưa giàn khoan dầu vào vùng biển tranh chấp chẳng hạn.

Để tự bảo vệ mình chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc, các nước đang hình thành các quan hệ an ninh mới.

Những lợi ích chồng chéo này có tiềm năng biến một tranh chấp địa phương thành tranh chấp khu vực hoặc thậm chí tranh chấp toàn cầu.

Vào thời điểm có quá nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế, các tranh chấp ở Biển Đông có vẻ tương đối nhỏ – nhưng chúng có thể lớn rất nhanh.

Thay đổi hành vi này sẽ đòi hỏi các nước trong khu vực đi đến một sự hiểu biết tốt hơn về lịch sử có chung của Biển Đông.

Đó sẽ là điều khó, nhưng sẽ dễ dàng hơn so với việc leo thang xung đột và nguy cơ đối đầu siêu cường gia tăng.

Bill Hayton là tác giả của quyển sách ‘Biển Đông: Cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á’ (The South China Sea: The struggle for power in Asia), vừa được nhà xuất bản Đại học Yale phát hành.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »