Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Năm 7th, 2015

►Ngọn Cờ, Ý Đồ Thực và Các Hệ Quả Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

40 NĂM SAU NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM –

Ngọn Cờ, Ý Đồ Thực và Các Hệ Quả Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Trần Quí Cao

07-05-2015

Để có ngày 30/4/1975 nắm quyền toàn trị trên lãnh thổ Việt Nam, đảng CSVN đã tiến hành cuộc chiến Chống Mỹ Cứu Nước dài 20 năm khốc liệt. Cuộc chiến bắt đầu từ các toán du kích quấy phá xã hội thanh bình của miền Nam trước năm 1960, cho tới những trận chiến giết hàng ngàn, hàng chục ngàn chiến sĩ hai bên, những cuộc tàn sát thường dân tay không vũ khí, như cuộc cuộc thảm sát Huế-Mậu Thân, mà con số người bị giết và cách thức giết người đạt tới mức độ diệt chủng kinh hoàng!

Ngọn Cờ của Cuộc Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Ngọn cờ của cuộc chiến này được nêu lên rất rõ:

Mỹ là giặc cướp nước ta, ta phải đánh cho Mỹ cút; chính quyền miền Nam bán nước cho Mỹ, chúng ta phải đánh cho chính quyền đó sụp đổ.

Dân Chúng Miền Nam Sống Đời Nô Lệ, Mất Tự Do, Đói Nghèo, nên miền Bắc cần Giải Phóng dân chúng miền Nam.

Giặc Mỹ Cướp Nước và Chính Quyền Miền Nam Bán Nước

Chắc còn rất rất ít người còn tin rằng Mỹ muốn cướp nước Việt Nam. Các sự việc đã xảy ra trên thế giới từ 1954 tới năm 1975 cho thấy rõ lợi ích của Mỹ không nằm trong việc chiếm một tấc đất nào ở xứ Việt Nam xa xôi, mà nằm ở việc bảo vệ hệ thống Tự Do trên thế giới.

Để đạt được Sứ Mạng này, chiến lược đầu tiên của Mỹ là hợp tác với miền Nam Việt Nam. Sau 15 năm, từ 1954 tới 1969, phần thấy chiến lược này không hiệu quả, phần thấy môi trường chính trị thế giới đã thay đổi, Mỹ đổi chiến lược: bắt tay với Trung Cộng và buông Việt Nam.

Như vậy, mâu thuẫn giữa hệ thống Tự Do và Cộng Sản đã tạo điều kiện và cho Việt Nam 15 năm để phát triển. Lẽ ra người Việt nên chọn chiến lược làm đồng minh với Mỹ, siêu cường kinh tế, kỹ thuật và tổ chức xã hội thời đó, để xây dựng đất nước hùng mạnh và ấm no. Đau đớn thay, người Việt chẳng những đã không chọn lựa phương cách có lợi đó, mà còn đưa đất nước, về đối ngoại, vào thế thù địch với Mỹ và phương Tây, về đối nội, vào vòng hận thù, chém giết, tàn phá tương lai…

Dân Chúng Miền Nam Sống Đời Nô Lệ, Mất Tự Do, Đói Nghèo

Các số liệu thống kê của IMF (International Monetary Fund) chỉ rõ: năm 1960, khi cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam bắt đầu phát triển, miền Nam có GDP/đầu người là 223 USD so với 92 USD của miền Bắc. Vậy, dân chúng miền Nam có đời sống sung túc hơn miền Bắc rất nhiều.

Dân chúng miền Nam được hưởng các quyền tự do căn bản và phổ quát của thế giới văn minh trong một xã hội được tổ chức theo chính thể Cộng Hòa lưỡng viện với tam quyền phân lập. So với thể chế chính trị độc đảng và toàn trị ở miền Bắc (các đảng Dân Chủ và Xã Hội chỉ để trang trí) thì dân chúng miền Nam hưởng Tự Do hơn miền Bắc rất nhiều.

Chiêm nghiệm thực tế biến thiên của cuộc sống, so sánh Việt Nam với các nước khác trên thế giới, nhất là so sánh với các nước từng hay còn đang bị chia hai như Tây Đức và Đông Đức, Hàn Quốc (Nam Hàn) với Triều Tiên (Bắc Hàn), còn rất rất ít người dân Việt Nam còn tin rằng: Dân Chúng Miền Nam Sống Đời Nô Lệ, Mất Tự Do, Đói Nghèo và cần được miền Bắc “Giải Phóng”. Luôn luôn, dân chúng trong phần lãnh thổ theo chính thể Cộng Sản nghèo đói và mất tự do hơn phần lãnh thổ theo chính thể Tự Do, Dân Chủ.

Sau khi Giải Phóng Miền Nam, những người ủng hộ cuộc chiến Giải Phóng Miền Nam hiểu dần rằng họ đã bị đảng CSVN lừa dối. Những dòng chữ tâm huyết tràn đầy lòng yêu nước và tình dân tộc trên ngọn cờ Chống Mỹ Cứu Nước kia đều là không thực.

Ý Đồ Thực của Cuộc Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Ngọn cờ của cuộc chiến chỉ là ngọn cờ ảo. Vậy thì, khi khởi động cuộc chiến tàn phá dân tộc, Ý Đồ thực của các nhà lãnh đạo đảng CSVN là gì?

Có người cho rằng, do áp lực của Trung Cộng mà Việt Nam phải tiến hành chiến tranh. Quả thật Trung Cộng có ý đồ kép: giữ an ninh riêng cho Trung Cộng, đồng thời khiến Việt Nam kiệt quệ.

Tuy nhiên, chìa khóa chiến tranh nằm trong tay chính quyền đảng CSVN ở Hà Nội. Nếu đảng CSVN không nhất quyết tiến hành cuộc chiến, Trung Cộng đã không thể áp đặt chiến tranh lên đất nước Việt Nam. Lúc đó Trung Cộng còn lạc hậu và nghèo đói, chưa là một thế lực khuynh đảo thế giới như hiện nay.

Sau khi ký hiệp định Genève chia đôi đất nước, giành quyền cai trị miền Bắc, những người cai trị độc đảng và toàn trị miền Bắc tự biết nếu để miền Nam phát triển trong chính thể tự do, dân chủ thì chắc chắn miền Nam sẽ vượt miền Bắc trên nhiều mặt. Hơn nữa, với sự hiện diện của miền Nam tự do và phồn thịnh, dân chúng miền Bắc cũng chưa chắc để họ cầm quyền lâu. Những thế lực độc tài luôn cần chiến tranh để tồn tại. Họ cũng cần sự chia rẽ trong dân chúng để bám giữ sự thống trị lâu dài. Ngọn cờ Chống Mỹ Cứu Nước được giương lên!

Các Hệ Quả của Ý Đồ Thực của Cuộc Chiến Chống Mỹ Cứu Nước

Từ Ý Đồ thực như thế, khi vừa chiếm được miền Nam, đảng CSVN đã vội vã tung ra một loạt các chính sách triệt hạ cái miền Nam sung túc còn rất nhiều tiềm năng phát triển, cái miền Nam có xã hội được tổ chức theo hướng văn minh và hữu hiệu, có con người đầy lòng khí phách, nhân hậu, có tri thức cùng tinh thần dân chủ, tự do… Một miền Nam như vậy, nếu thực sự là một chính quyền vì sự phát triển chung của đất nước, vì sự ấm no chung của dân tộc, đảng CSVN đã phải trân quí nó, giữ gìn nó làm vốn phát triển dài lâu. Không! đảng CSVN phải thống trị toàn diện, vì vậy miền Nam đã bị hạ gục như miền Bắc đã bị 20 năm trước đó! Nguyên khí quốc gia, lớp bị giam cầm và tận diệt trên quê hương, lớp tuôn chảy ra nước ngoài trong thân phận thuyền nhân!

Từ Ý Đồ thực như thế, khi đã hạ gục miền Nam, đảng CSVN tiếp tục bóp chết hai đảng làm kiểng là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội. Hai đảng này thực ra là hai đảng ngoại vi của đảng CSVN, tuy nhiên khi sự tồn tại của họ tiềm chứa mối đe dọa cho sự thống trị độc tài của đảng CSVN trong thời cuộc cuối thập niên 1980, đảng CSVN sẵn sàng gạt bỏ.

Từ đó, trên toàn lãnh thổ Việt Nam, đảng CSVN nắm trọn quyền thống trị, lãnh đạo. Quyền lãnh đạo đất nước không do dân chúng bầu chọn, và cũng không được san sẻ cho bất kì thành phần nào khác trong dân tộc. Tất cả mọi quyền lợi của tổ quốc chung phải nằm dưới, phải hi sinh cho quyền lợi của giới cầm quyền riêng của đảng CSVN. Cho dù phải hi sinh cả sự phát triển của dân tộc, phải hi sinh cả nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc đang bị Trung Quốc xâm chiếm dần dần thì đảng CSVN cũng cho thấy họ không do dự. Các động thái của họ, chính sách của họ đối với việc Trung Quốc xâm lăng Việt Nam đã quá đủ để chứng minh điều này.

Tới bây giờ, 40 năm sau ngày 30/4/1975, cùng với biết bao diễn biến của thời cuộc, biết bao sự thật lịch sử được phơi bày… nhiều người trong dân chúng không còn nghi ngờ gì rằng hiện trạng suy thoái toàn diện của dân tộc, hiện trạng lệ thuộc toàn diện của đất nước vào Trung Quốc xâm lăng bắt nguồn từ ngày 30/4/1975, ngày miền Nam thất thủ. Và nếu nhìn xa hơn, bắt nguồn từ cái Ý Đồ thực của đảng CSVN, khi họ ban hành nghị quyết 15, năm 1959, quyết định tiến bước Giải Phóng Miền Nam.

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Chien Tranh Viet Nam | Leave a Comment »

►Giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn giàn khoan Hải Dương 981

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

 giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn Hải Dương 981

Ngày 30/4, Trung Quốc tuyên bố giàn khoan COSLProspector chính thức rời thành phố Yên Đài lên đường tới Biển Đông.
Đây là giàn khoan thứ tư mà Tập đoàn đóng tàu CIMC Raffles chuyển giao cho Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL-China Oilfield Services Ltd.) và là giàn khoan bán ngầm nước sâu thứ hai Bắc Kinh điều tới Biển Đông sau giàn khoan Hải Dương 981.

Hiện đại hơn giàn khoan Hải Dương 981

Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL) đã nhận giàn khoan bán nổi COSLProspector (Hưng Vượng) này vào ngày 19/11/2014.

Giàn khoan COSLProspector

Giàn khoan COSLProspector được trang bị các công nghệ tiên tiến – trong đó có hệ thống định vị động (DP3), biến tần thông minh và rã đông tự động, với hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới.

Hệ thống định vị động DP3 được lắp đặt trên giàn khoan COSLProspector đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất của Na Uy và Trung Quốc.
So với các giàn khoan nửa nổi nửa chìm khác đã được bàn giao trước đó như COSLPioneer, COSLPromoter, COSLInnovator, giàn khoan COSLProspector có thể hoạt động trong môi trường băng giá. Nó có thể hoạt động hầu như khắp mọi nơi thế giới, trừ những khu vực có nhiệt độ dưới -20 độ C.

Giàn khoan COSLProspector đã trải qua tất cả các xét nghiệm và điều chỉnh cần thiết. Giàn khoan này được thiết kế để hoạt động khoan nước sâu ở Biển Đông trong nửa đầu năm 2015.

Giàn khoan COSLProspector hiện đại hơn Hải Dương 981 vì nó được trang bị hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới với hệ thống định vị động có thể bảo đảm cho giàn khoan này hoạt động bình thường trong bão cấp 12 ở Biển Đông.

COSLProspector là giàn khoan bán nổi thứ 7 do CIMC Raffles chế tạo. Hãng CIMC Raffles hiện đang đóng tiếp bốn giàn khoan bán nổi nữa và tất cả đều đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất trên thế giới.

Giàn khoan này hoạt động ở độ sâu tối đa 1.500 m, độ sâu tối đa của giếng khoan là 7.600 m, nhân viên trên giàn khoan theo quy định là 130 người, tải trọng sàn tàu 5.000 tấn

Về hãng đóng tàu CIMC Raffles Yên Đài

CIMC Raffles Yên Đài là một hãng đóng tàu ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc đại lục. Hãng đóng tàu này hiện do CIMC Raffles Offshore Ltd điều hành.

Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài do công dân Singapore Brian Chang sáng lập, nhưng bị Trung Quốc thâu tóm năm 1993.

Năm 1994, công dân Singapore Brian Chang đã thành lập Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài nằm gần Nhật Bản và Hàn Quốc, một khu vực chiếm tới 80% công suất đóng tàu của toàn thế giới. Đây là hãng đóng tàu duy nhất ở Trung Quốc do người nước ngoài chiếm đa số cổ phần.

Tháng 3/2013, CIMC đã mua hết số cổ phần còn lại của CIMC Raffles Yên Đài và biến nó thành công ty con của CIMC Offshore Holdings Co. Ltd.

Giàn khoan này từ khi ký hợp đồng đóng đến khi bàn giao chỉ mất có 35 tháng. Công ty CIMC Raffles có 9 giàn khoan nước sâu nửa chìm đã được đưa đến các vùng biển trên thế giới như Bắc Hải, Brazil, vịnh Mexico, Tây Phi để hoạt động.

Phó Tổng giám đốc CIMC Raffles là Vu Á cho rằng, giàn khoan COSLProspector gia nhập “tàu chủ lực” nước sâu cho thấy Yên Đài hoàn toàn có khả năng cung cấp giàn khoan nước sâu với số lượng lớn cho ngành dầu khí Trung Quốc.

Thông số kỹ thuật:

Dài: 104,5m; Rộng: 70,5m; Cao: 37,5m. Hoạt động ở vùng biển sâu đến 1.500m. Khoan sâu tối đa: 7.600m. Hoạt động ở nhiệt độ thấp nhất: -20 độ C. Tải trọng sàn tối đa: 5000 tấn. Số nhân viên là việc trên giàn khoan: 130 người.

Đỗ Phong (Đất Việt)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Cuộc chiến ‘cả nước là diễn viên’

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

Cuộc chiến ‘cả nước là diễn viên’

4-5-2015

 

 

maska

Bài viết trước – “Cuộc chiến biệt vô tăm tích” – đã đề cập đến một nét đặc thù của cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bài này lại nói đến một nét đặc thù nữa, chỉ người trong cuộc mới có thể nhận rõ, Đây là một nét không thể bỏ qua khi nghiên cứu, tổng kết về cuộc chiến tranh này.

Trước hết là những màn kịch của đảng. Rất điêu luyện, cao tay, tinh vi. Xin kể vài thí dụ.

Năm 1940, phát xít Nhật bắt đầu tiến công xuống phía Nam Châu Á, đe dọa Việt Nam. Đảng CS Đông Dương liền tổ chức ra Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh là tổ chức quần chúng của đảng CS, bao gồm các tổ chức Hội Thanh niên Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội Công nhân Cứu quốc…để che giấu kỹ bản chất CS của mình, thực hiện sứ mạng của Đệ Tam Quốc tế CS là nhuốm đỏ ba nước Đông dương thuộc Pháp.

Đây là màn kịch đầu tiên giấu kỹ tung tích CS, đề cao lòng yêu nước dành Độc lập để mở rộng thanh thế của đảng CS dưới chiêu bài chống Pháp đuổi Nhật. Lãnh đạo CS hiểu rất rõ là nếu trưng ra chiêu bài CS thì sẽ thất bại to vì nhân dân VN vẫn còn dị ứng với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, một phong trào tả khuynh nguy hiểm đề cao khẩu hiệu «chống trí-phụ-địa-hào, đào tận gốc, trốc tận rễ». Chính do màn kịch này mà phong trào Việt Minh lên cao, lên nhanh để Đảng CS cướp được chính quyền tháng 8/1945, lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân.

Khi thảo ra bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn có ý thức dấu kỹ tung tích CS và lập trường CS của mình, chỉ trưng ra tinh thần của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, chỉ dẫn ra các tuyên ngôn cách mạng tư sản của Hoa Kỳ và Pháp, giấu kỹ Tuyên ngôn CS mà ông ta luôn coi là kim chỉ Nam cho mọi hành động của mình.

Đây là màn kịch cao thủ thứ 2, khi ông ta đóng kịch với nhà báo Pháp: «Tôi không phải CS, đảng tôi là Việt Nam». Trong 3 bức thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ Truman để mong tranh thủ sự ủng hộ của nước Mỹ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông đóng kịch như không dính dáng gì đến cộng sản. Thế nhưng phía Mỹ đã hiểu rõ Hồ Chí Minh là nhân viên kỳ cựu và trung thành của CS Quốc tế, không thể tin là người quốc gia, đó là nhân vật nguy hiểm cho cộng đồng quốc tế, cần xếp ở bên kia của trận tuyến «chiến lược be bờ chặn đứng chủ nghĩa CS» (Containment- of-Communist Strategy).

Ngày 11/11/1945 khi bị lộ tẩy đich danh là CS rồi , ông Hồ và lãnh đạo đảng CS lại dựng lên màn kịch «tự giải thể đảng CS Đông Dương», sự thật là chỉ rút vào bí mật và còn phát triển đảng CS mạnh hơn trước.

Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Tổ quốc, Đảng Lao động VN cũng là các màn kịch làm bình phong che giấu bản chất CS. Học thuyết Mác – Lê đề cao Đảng CS, giai cấp vô sản thế giới, tinh thần quốc tế vô sản, trong khi hạ thấp, coi nhẹ và phủ định các khái niệm quốc gia, đồng bào, tổ quốc, xã hội, gia đình, tôn giáo. Cho đến khi toàn thắng rồi họ mới hạ màn kịch, lại công khai tự nhận là Đảng Cộng sản. Mặt trận Tổ quốc bị phơi bày cái mặt nạ bằng mo không còn chút giá trị trước nhân dân, do một ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN chăn dắt một cách thô thiển vụng về sau khi kịch đã hạ màn.

Cho đến nay, vào ngày 30/4 lãnh đạo Dảng CS vẫn còn đóng kịch. Họ vẫn viết trên báo chí đây là «Ngày toàn thắng chống đế quốc Mỹ xâm lược», «Ngày kết thúc vẻ vang sự nghiệp chống Mỹ cứu nước», «Ngày đánh bại ngụy quân ngụy quyền tay sai Mỹ». Họ không nhầm lẫn đâu. Họ biết rõ Hoa Kỳ không xâm lược. Chính họ là kẻ rắp tâm thôn tính, xâm lược bằng vũ lực, chà đạp «quyền tự quyết của nhân dân miền Nam» do các Hiệp định Geneve và Paris đều long trọng khẳng định, mà chính họ đã ký tên cam kết. Họ phải bịa ra kẻ xâm lược để tự nhận là người chống xâm lược, phủi trách nhiệm, tự nhận là chính nghĩa, trong khi quân đội Mỹ chỉ hành động để bảo vệ thế giới dân chủ, trong đó có VNCH, theo chiến lược «be bờ chặn đứng thảm họa quốc tế cộng sản».

Chính CS Việt Nam mới là một kiểu ngụy quân ngụy quyền do CS Moscow và CS Bắc Kinh nuôi dưỡng thành một tiền đồn của Quốc tế CS, một quân tốt thí. Lẽ ra lúc này họ phải bỏ đi cái trò đóng kịch nhầm vai, lộn vai như thế, nói lên đúng sự thật, khi chính họ đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ 20 năm chẵn và đang cần sự đầu tư và hỗ trợ của Hoa Kỳ và phương Tây.

Do CS chuyên nghề lừa dối và bịp bợm như thế nên cả xã hội VN một thời gian dài cũng nhiễm phải thói đóng kịch một cách trầm trọng và rộng khắp. Đây là một hiện tượng chưa được phát hiện, nêu lên thành hệ thống để nhận rõ thêm bộ mặt xấu xa của chủ nghĩa CS hiện thực. Nhà thơ Chế Lan Viên, người được coi là nhà thơ xuất sắc bậc nhất ở miền Bắc, khi chết đã để lại Di cảo nói rõ rằng ông ta đã lừa dối, đóng kịch ra sao. Trong bài «Trừ Đi» Chế Lan Viên viết: «Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ, Có phải tôi viết đâu, Một nửa cái cần viết vào thơ, Tôi đã giết đi rồi!». Trong bài «Ai? Tôi!» Chế Lan Viên viết: «Mậu Thân, 2000 xuống đồng bằng, Chỉ một đêm còn sống sót có 30, Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó? – Tôi !- người viết những câu thơ cổ võ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi lúc xung phong… ». Đó là sự kiện ở Bình Định, Tết Mậu Thân đảng tung 2000 quân lính và cán bộ từ căn cứ xuống đồng bằng kêu gọi dân tổng khởi nghĩa và tổng nổi dậy, nhưng thất bại thê thảm, chết gần hết.

Chế Lan Viên viết Di cảo để lại, khi sống ông không dám nói ra. Ông có dũng khí nhận tội ác về mình, thật ra tội ác thuộc về lãnh đạo đảng CS đã coi sinh mạng thanh niên quân lính cán bộ như cỏ rác, ném vào cuộc chiến một cách mù quáng. Cả một lớp văn nghệ sỹ cũng như nhà báo của đảng đều đóng kịch như thế để có kế sinh nhai, về hùa với tội ác mà cứ ngỡ mình là chính nghĩa. Chính tôi cũng đã phải đóng kịch trơ trẽn như thế.

Người dân thường hồi ấy cũng đóng kịch. Tôi xin dẫn chứng sống về 2 bà chị tôi. Bà chị ruột tôi ở Hải Phòng có con trai cả là Hưng, sau khi học xong trung học, cháu 17 tuổi được gọi đi nghĩa vụ quân sự. Ở lớp cháu trước khi hết học kỳ cuối cả lớp hơn 30 nam sinh là đoàn viên Thanh niên CS Hồ Chí Minh đều làm đơn tình nguyện 100% đi nghĩa vụ quân sự. Trong đơn gọi là «tình nguyện» còn nêu rõ sẵn sàng đi đâu khi Tổ quốc cần, ngụ ý là sẵn sàng vào Nam chiến đấu. Thư tình nguyện còn được ghi thêm ý kiến cùng chữ ký của bố hoặc mẹ rất đồng tình với ý tự nguyện của con mình. Bà chị con ông bác ruột tôi cũng có con trai là Hiệp học rất giỏi, chuyên là lớp trưởng. Cháu cũng đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Cháu cũng được quận đội Hoàn Kiếm tuyển mộ, lớp cháu hầu hết đều tình nguyện nhập ngũ, chỉ trừ các bạn quá nhẹ cân, có cố tật. Hai bà chị tôi đều lo âu, buồn khổ, nhưng tuyệt nhiên không dám lộ ra ngoài.

Với láng giềng, với chính quyền khu phố cứ phải tươi cười đóng kịch trong khi nước mắt tràn ra khi đêm xuống. Các chị dò hỏi tôi có cách nào xin cho các cháu được miễn đi quân dịch để vào học tiếp Đại học, và nhất là làm sao nếu vẫn phải đi lính thì không phải đi Nam, vì câu chuyện «sinh Bắc tử Nam» là một cơn ác mộng khủng khiếp dai dẳng cho các bà mẹ đó. Có thể nói các bạn trẻ 10 đi chỉ chừng 2, 3 phần trở về lành lặn. Vậy mà các bà chị tôi vẫn thản nhiên đóng kịch dự lễ tuyển quân, rồi sau vài tháng lại dự lễ tiễn đưa đoàn quân có con mình lên đường vào Nam, với những vòng hoa vàng đỏ choàng quanh cổ.

Đó là thời kỳ chiến sự miền Nam sôi động 1965-1970. Các bà chị tôi đau khổ biệt tin con mình hằng 3,4 năm trời, có khi được tin láng máng là cháu Hưng vào khu 5, Quảng Nam hay Quảng Ngãi, cháu Hiệp vào Tây Nguyên, Kontum hay Pleiku, để rồi cuối cùng 2 bà đều thót tim nhận giấy báo tử, chậm đến hơn một năm. Cháu Hưng hy sinh ở huyện Đức Phổ còn cháu Hiệp hy sinh ở chiến trường Tây Nguyên, cả hai đều mất xác, không biết chôn ở đâu. Sau này các bà đều đi vào Nam, lặn lội nhiều nơi, dùng cả những người có ngoại cảm đi tìm mộ, nhưng đành chịu. Các tấm bảng tuyên dương Liệt sỹ, tuyên dương Mẹ Liệt sỹ, Gia đình vẻ vang, được vỗ tay chào đón trong các cuộc họp khu phố không hề an ủi được các bà chị tôi. Nỗi xót xa đau buồn khôn nguôi kéo dài hàng chục năm, vẫn không thể biết 2 cháu hy sinh như thế nào, ở đâu, lúc nào, cũng không có một di vật dù nhỏ làm kỷ niệm. Hàng triệu gia đình, hàng triệu bà mẹ đau khổ dằn vặt khôn nguôi.

Có thể nói hàng triệu gia đình có con vào Nam chiến đấu đều bị cưỡng bách một cách tinh vi như thế, đều buộc phải cùng đảng và theo đảng đóng kịch như thế. Các thanh niên đều 100% bị «cưỡng bách tự nguyện» như thế để bị cho vào lò sát sinh, vào bộ máy nghiến thịt khổng lồ mang tên «cuộc kháng chiến thần thánh chống ngoại xâm» phục vụ cho tham vọng quyền lực vô biên của Đảng CS tuân theo lệnh của Quốc tế CS do ông Hồ Chí Minh dắt dẫn suốt 85 năm từ khi thành lập Đảng CS năm 1930.

Cuộc đóng kịch dai dẳng về mọi mặt, cuộc lừa bịp chết người, hủy diệt oan uổng vô vàn sinh mạng trai tráng của dân tộc giữa tuổi thanh xuân cần kết thúc lúc này đã là quá muộn. Tất cả các «từ ngữ» liên quan đến màn kịch hủy diệt con người này cần xem xét và vĩnh viễn từ bỏ để thay vào những «từ ngữ» chính xác. Ai xâm lược, ai là ngụy quân ngụy quyền? Ai cứu nước hay gây tai họa cho nước? Ai chính nghĩa ai phi nghĩa? Toàn thắng cái gì? Giải phóng cái gì? Công lao nỗi gì? Vẻ vang, vĩ đại gì?
Sao tiếng nói riêng của Đảng CS lại vẫn cứ mang cái lốt giả là báo «Nhân Dân», sao Tòa án Nhân dân lại kết tội những người dân yêu nước chống bành trướng, sao Ủy ban Nhân dân quận Hoàn Kiếm lại có quyền cấm nhân dân thủ đô biểu tình bảo vệ cây xanh, sao Công an nhân dân lại ngang nhiên buôn sinh mạng người dân để kiếm cơ man nào là vàng khi bán bãi, bán tàu, thuyền, bán chỗ trên các tàu thuyền ọp ẹp trong thảm kịch «thuyền nhân» 40 năm về trước. Tất cả đã đến lúc phải sáng tỏ rõ ràng, minh bạch.

Cái tội cực lớn của Đảng CS là đã lấy dối trá làm lẽ sống của mình, rồi làm gương dối trá cho toàn xã hội – nhà nhà dối trá, người người dối trá, nhà trường dạy đối trá, học trò học dối trá – phá hoại nếp lương thiện, cương trực, chất phác của xã hội, phá hoại nền đạo đức và văn hóa thuần khiết của dân tộc, đến bao giờ mới hồi phục được.

Đảng CS phải hạ ngay các màn kịch đã kéo dài và nhân dân cũng không còn ai muốn cùng đảng đóng kịch trơ trẽn hay bi thảm ở mọi nơi mọi lúc như xưa nữa.

Blog Bùi Tín (VOA)

http://www.danchimviet.info/archives/95553/cuoc-chien-ca-nuoc-la-dien-vien/2015/05

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

►Nếu thật thế thì nghiêm trọng quá!

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

Nếu thật thế thì nghiêm trọng quá!

7-5-2015

Ảnh VnExpress

Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ðã sang Bắc Kinh trong chuyến ði thãm chính thức theo lời mời của ông Tập Cận Bình.Chuyến ði cập rập không ðược chuẩn bị từ trước, vội vã chỉ ðể ði trước cuộc sang Hoa Kỳ ðể gặp Tổng thống Obama ðã ðược ấn ðịnh trong tháng 5 này. Chuyến thãm diễn ra từ ngày 7 ðến ngày 10 tháng 4, 2015.

Đi cùng ông Trọng có đến 4 ủy viên Bộ Chính trị phụ trách ngành Tuyên giáo, ngành Công an, Quân đội và một phó Chủ tịch Quốc Hội, thêm ủy viên Trung ương Phạm Bình Minh, phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao. Đủ thấy tầm quan trọng ra sao.

Một Tuyên bố chung 9 điểm được đưa ra ngày 8/4. Đây là bản Tuyên bố chung dài nhất trong quan hệ Việt – Trung từ trước đến nay. Cũng là bản Tuyên bố đậm đà nhất về « tình nghĩa hữu nghị Trung – Việt sâu đậm do 2 lãnh tụ vỹ đại Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vun đắp nên ».

Bản Tuyên bố nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng và Bốn Tốt tiêu biểu cho tình anh em và tình đồng chí chí thiết gắn bó 2 đảng và nhân dân 2 nước cùng chung lý tưởng XHCN cao đẹp. Bản Tuyên bố kể lại sự chi viện to lớn của Đảng CS và nhân dân TQ cho Đảng CS và nhân dân VN trong «  các cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân VN».

Ðiều ðặc biệt nổi bật là bản Tuyên bố chung kể lể nhiều nhất ðến những cam kết về hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 ðảng, 2 Nhà nước, 2 Chính phủ, 2 Quốc hội, 2 Mặt Trận, về mọi mặt:chính trị, quốc phòng, quân sự, an ninh, ðối ngoại, kinh tế, tài chính, thương mại, tiền tệ, tuyên huấn, ðào tạo cán bộ, vãn hóa, vãn nghệ, truyền thanh truyền hình. Hai bên cam kết sẽ tãng thêm trao ðổi hàng hóa qua biên giới, tạo ðiều kiện tãng ðầu tư, nâng cao kỹ thuật công nghiệp, rồi hợp tác giao thông trên biển, trong biển Nam Hải, ở cửa ngõ Vịnh Bắc bộ. Tất cả ðều phát triển mạnh trong kế hoạch hiện tại 2011-2016 và trong kế hoạch hợp tác 2016-2020 sắp tới.

Ðiều ðặc biệt nổi bật là trong bản Tuyên bố chung không hề nhắc ðến cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung ðầu nãm 1979, về sự kiện dàn khoan HD 981 từng gây sóng gió dữ dội trong quan hệ Việt – Trung, không hề nhắc ðến những hoạt ðộng phi pháp ngang ngược hiện tại trên vùng biển nước ta của phiá TQ, mở rộng củng cố các khu vực, các hòn ðảo, bãi ðá bị họ lấn chiếm.

Có những ðiểm mới rất quan trọng, khác hẳn với những Tuyên bố chung Việt – Trung trước ðây. Ðó là 2 bên cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ – ngân hàng, trong lĩnh vực thuế và thanh toán, có hẳn một vãn kiện ký riêng về vấn ðề này. Ðây có thể là một ràng buộc thâm hiểm nhằm gắn liền ðồng tiền VN với ðồng Nhân dân tệ TQ chặt chẽ hơn các ngoại tệ khác, nâng cao thanh thế của Ngân hàng ðầu tư hạ tầng châu Á BIIA – Bank Investment Infrastructure of Asia – do Trung Quốc lập nên. Tuyên bố chung cũng nhiều lần nói ðến hợp tác giữa hai Bộ tài chính và hai Ngân hàng Nhà nước.

Tuyên bố chung nhiều lần nhắc đến quan điểm lấy «  đại cục làm trọng  » nhằm tăng cường tình hữu nghị truyền thống, thắt chặt thêm quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 nước, 2 đảng theo 16 chữ vàng  : láng giềng hữu nghị – hợp tác toàn diện – ổn định lâu dài – hướng tới tương lai, và quan hệ 4 tốt  : láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Đây là một ràng buộc nữa để bỏ qua mọi sự kiện được coi là tiểu tiết như phía TQ ráo riết xây dựng sân bay, pháo đài, trạm Ra-Đa trên các đảo bị lấn chiếm.

Thế nhưng những thiếu sót, sơ hở trên của ông Nguyễn Phú Trọng và tùy tùng chuyên gia đi theo chưa phải là nghiêm trọng nhất. Báo Nhật bản Nikkei Asian Review ngày 9/4 cho biết «  Trong bản Tuyên bố chung Trung – Việt phía VN đồng ý đưa cảng Hải Phòng vào chương trình xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên biển do Trung Quốc khởi xướng  ». (theo bài viết « Về Tuyên bố chung Việt – Trung, trên Diễn đàn – Forum của Hải Vân và Vũ Quang Việt – 15/4).

Chủ trương xây dựng Vành đai kinh tế Tơ lụa – Silk Road Economic Belt, từ TQ qua các nước Trung Á đến Trung Đông sang tận châu Âu, với đường sắt, ống dẫn dầu và khí, dài hàng chục ngàn kilômét và xây dựng Đường Tơ lụa trên biển – Maritime Silk Road từ TQ ra biển Đông VN, xuống Ấn Độ Dương, vào Biển Đỏ rồi sang Địa Trung Hải cập các bến châu Âu và châu Phi. Đây là 2 công trình đồ sộ nhất, ban đầu chi phí hơn 50 tỷ đôla, liên hệ đến 65 nước có hơn 4 tỷ dân, được coi là tham vọng kinh tế trọng điểm rộng lớn chưa từng có trong 10 năm tới, cũng là mối quan tâm kinh tế hàng đầu của Tập Cận Bình trong giấc mơ Trung Hoa to lớn Bình thiên hạ của ông ta.

Tham vọng này cực lớn, nhưng đang vấp phải sự cản phá mạnh mẽ của Ấn Độ, Nhật Bản, các nước Trung Á thân Nga, các nước Trung Đông cũng như của Hoa Kỳ và châu Âu. TQ đang rất vất vả tìm kiếm đối tác đồng thuận cho «  2 công trình thế kỷ  » này.

Nếu quả thật như trên, ông Trọng đã nhẹ dạ bị sập bẫy của ông anh Cả của mình.

Có thể ông đã bị loáng mắt inh tai mất tỉnh táo do sự tiếp đón linh đình của ông tổng Tập, có duyệt đoàn quân danh dự, có 21 phát đại bác, có Đại Yến tiệc, quên mất rằng chưa có đồng thuận của Bộ chính trị, chưa có ý kiến của Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ, các quan chức chóp bu này bị đặt trước việc đã rồi. Nhân dân không ai bỏ phiếu bàu ông Trọng làm Tổng bí thư. Ông chỉ là Tổng bí thư của đảng ông ta. Ai cho ông cái quyền đứng đầu nước ta?
Nếu quả thật như trên thì cái sơ hở sai lầm cực kỳ nghiêm trọng của ông Trọng và cả đoàn VN nên gọi chính xác là gì ? Có thể gọi là bán nước cho thế lực bành trướng ? Ông và đoàn của ông ăn nói ra sao với toàn dân  ? Tuyên bố chung có nên đưa ra trưng cầu dân ý  của toàn dân?

Thì ra «  cái tròng Bắc thuộc mới » mà nguyên Bộ trưỏng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sớm cảnh báo đã được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mở đầu năm 1990, tiếp nối bởi Tổng bí thư Đỗ Mười, rồi bị thắt chặt hơn dưới thời Tổng bí thư tham quyền Lê Khả Phiêu, để rồi tiếp nối mạnh hơn nữa bởi tổng bí thư Nông Đức Mạnh, còn rước họa bô-xít vào vùng chiến lược Tây Nguyên, và nay lại được ông tổng Trọng làm cho cái tròng Bắc Thuộc thêm chặt hơn, ngẹt thở thêm, dân ta không còn chịu nổi.

Năm đời Tổng bí thư làm tôi đòi cho ngoại bang phương Bắc chưa đủ sao? Đại Hội Đảng CS thứ XII hãy trả lời rõ cho toàn đảng và toàn dân nước ta.

Bùi Tín  (Blog VOA)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Làm ăn chung với Trung Quốc | Leave a Comment »

►Mỹ kêu gọi VN trả tự do cho Tạ Phong Tần

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2015

Mỹ kêu gọi VN trả tự do cho Tạ Phong Tần

5-5-2015

danchimviet.info

Ông John Kerry nói bà Tạ Phong Tần 'đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ'

Ngoại trưởng Mỹ nhắc tên bà Tạ Phong Tần trong danh sách nhà báo cần được phóng thích.

Ông John Kerry nói bà Tạ Phong Tần “đang thụ án 10 năm tù ở Việt Nam vì vạch trần tham nhũng của chính phủ”.

Nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 3/5, Bộ Ngoại giao Mỹ mở chiến dịch Trả tự do cho Báo chí, nêu tên một số nhà báo mà Mỹ nói là “bị bỏ tù sai trái”.

Bà Tạ Phong Tần được chọn cho trường hợp Việt Nam, còn Trung Quốc có bà Cao Du vừa bị kết án hồi tháng Tư.

Thông cáo của ông John Kerry ngày 5/5 nói: “Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho những cá nhân này và toàn bộ các phóng viên bị cầm tù vì làm đúng việc của mình.”

Năm 2012, tòa phúc thẩm ở TPHCM y án với hai blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) và Tạ Phong Tần.

Khi đó, ông Hải bị tuyên án 12 năm tù và bà Tạ Phong Tần bị tuyên án 10 năm tù.

Tháng 10 năm ngoái, Việt Nam để ông Nguyễn Văn Hải được sang Mỹ.

Mới hôm 1/5, ông Hải đã có cuộc gặp với Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Ông đã có mặt cùng hai blogger khác là Simegnish ‘Lily’ Mengesha (từ Ethiopia) và Fatima Tlisova (từ Nga) tại Nhà Trắng để tham gia hội luận về tự do báo chí trên thế giới.

Trong cuộc gặp gỡ này, ông Hải đã nêu tên nhiều tù nhân lương tâm của Việt Nam trong đó có bà Tạ Phong Tần và đề nghị Mỹ lưu tâm đến. Bà Tạ Phong Tần là cựu sĩ quan công an, sau khi bỏ nghề, bà viết báo tự do, với nhiều đề tài khác nhau và cùng với ông Hải bà từng là sáng lập viên câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do.

Trong một diễn biến liên quan, ngay sau cuộc gặp với tổng thống Obama ở Nhà Trắng, Điếu Cày mới đây vừa có cuộc tiếp xúc với Tổ chức ân xá quốc tế (Amnesty International) và Ủy ban bảo vệ các nhà báo (CPJ) vận động cho anh Trần Huỳnh Duy Thức (bị án 16 năm tù), chị Tạ Phong Tần (Blogger, 10 năm) và các nhà bất đồng chính kiến khác, đang bị giam giữ tại Việt Nam.

Tổng hợp theo BBC và Facebook

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »