Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Bảy 24th, 2014

►Nền y tế, giáo dục, văn hóa, của nước nhà vẫn như cũ, y như hồi 1958…

Posted by hoangtran204 trên 24/07/2014

Vẫn như cũ!

24-7-2014

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nhìn kĩ những gì xảy ra ở VN gần đây thì tôi nghĩ VN chẳng đổi mới trong tư tưởng và cách hành xử. Có thể lấy vụ Nhã Thuyên để minh hoạ cho nhận xét đó. Nhã Thuyên viết một luận văn về một nhóm văn chương có tên là “Mở Miệng”, và luận văn được cho điểm tuyệt đối 10/10. Nhưng đùng một cái, người ta lập một hội đồng khác đánh giá lại luận văn và thu hồi bằng thạc sĩ của cô ấy. Trước và sau sự kiện đó, trên báo chí xuất hiện những bài viết “đánh” Nhã Thuyên, mà ngôn ngữ và luận điệu y chang như những bài thời Nhân văn Giai Phẩm. Như vậy, chúng ta thấy về học thuật, chẳng có gì đổi mới. VN vẫn là nước thiếu tự do học thuật. Vụ Nhã Thuyên cho thấy một cách rõ nhất nền học thuật VN chẳng có gì đổi mới so với thời bao cấp.

Có thể lấy ngành giáo dục ra làm một minh hoạ khác. Người lãnh đạo ngành giáo dục kêu gọi cải cách. Các nhóm nhân sĩ trí thức cũng cho rằng nền giáo dục VN cần phải có cải cách triệt để để hội nhập quốc tế. Nhưng làm sao cải cách được khi cái vòng kim cô chính trị vẫn còn lơ lửng trên đầu. Giáo dục VN hiện nay lẫn lộn giữa tuyên truyền và giáo dục. Mở bất cứ quyển sách giáo khoa nào về văn học, sử, thậm chí địa lí, chúng ta đều thấy rất nhiều nội dung trong đó mang tính tuyên truyền một chiều. Có những nội dung tuyên truyền mang tính bịa đặt (như câu chuyện Lê Văn Tám) nhưng mãi đến nay vẫn chưa sửa. Nói chung, chẳng có gì đổi mới gì trong giáo dục.

Ngành giáo dục chịu sử điều khiển của Ban tuyên giáo. Ban tuyên giáo là một thiết chế rất đặc biệt trong hệ thống tổ chức theo mô hình Mao – Stalin, có nhiệm vụ kiểm soát toàn bộ hệ thống văn học và giáo dục, thậm chí kiểm soát tư tưởng của người dân. (Mở ngoặc để nói thêm là thời đại ngày nay (với internet và xa lộ thông tin toàn cầu), có ai điên rồ đến nỗi kiểm soát suy nghĩ của người dân, vì việc làm đó hoàn toàn không thể và không tưởng). Nhưng về mặt cơ chế thì hoàn toàn chẳng có gì đổi mới.

Ở bất cứ cấp nào thì đảng và Nhà nước vẫn song song nhau. Về nhân sự, cách làm của VN cũng chẳng có gì đổi mới. Cách tuyển dụng cán bộ hay bổ nhiệm thì vẫn theo kiểu “qui hoạch” và “cơ cấu”. Tất cả mô hình hoạt động này đều là “di sản” của mô hình tổ chức Mao-Stalin. Nói cách khác, về cách tuyển dụng nhân sự, vẫn chẳng có gì đổi mới.

Nhìn bề ngoài thì có lẽ nhiều người nghĩ rằng VN đã đổi mới nhiều và hiện đại nhiều. Quan chức đã bắt đầu biết mặc veston và thắt caravat (thay vì mặc áo đại cán), biết nói chút đỉnh tiếng Anh. Cơ quan mới mẻ và văn minh hơn (chứ không còn tình trạng văn phòng có sẵn cái giường ngủ). Nhưng đó chỉ là bề ngoài, chứ phía trong thì tôi có cảm giác vẫn y chang như cũ, như thời bao cấp. Có khi nó thể hiện ra cách nói làm cho người ta ngỡ ngàng. Không hề có đổi mới trong tư duy và cách làm việc, thì rất khó mà nói đến chuyện hội nhập quốc tế.

 *Mời các bạn thưởng thức trình độ cao siêu của cán bộ đảng ta, đang làm đại biểu quốc hội

Phát biểu của đại biểu quốc hội Nguyễn Bắc Việt về tình hình căng thẳng tại Biển Đông 

.

https://www.youtube.com/watch?v=Wd03UkpoVa8

.

Nguyên Văn bài phát biểu của Đại Biểu Nguyễn Bắc VIệt (Ninh Thuận):

Kính thưa Quốc Hội, tôi xin được tham doa (gia) một số ý kiến như sau:

Thứ nhất về đánh giá tình hình, tôi cơ bản nhất tri báo cáo của chính phủ, ờ tuy nhiên với tính hình diễn ra gần đây thì cho thấy, thì cần phải đánh giá sát hơn nữa tình hình. Thứ nhất (lần 2) về chiến lược Biển có thể nói trong thời gian qua thực hiện chiến lược biển theo nghị quyết TW 7 khóa X chưa được quan tâm đúng mức, cho nên sự kiện biển đông thì chúng ta mới thấy cần cái đội tầu hiện đại, cần cái tầu thuyền công xuất lớn cho ngư dân đánh bắt xa bờ dài ngày chúng ta mới thấy cần cái dịch vu hậu cần cho nghề cá (Biển Đông là vấn đề khẳng định quyền lãnh thổ quốc gia, trong đó có địa lý chính trị, giao thương, khoáng sản, hải sản…chứ không phải chuyện giành giựt đánh cá mà sắm tầu lớn tầu nhỏ thưa ngài), nghị quyết TW nêu nhưng đến nay nhất là sau sự kiện vinashin chúng ta đã không tập trung đúng mức (ở đâu tọt vô vụ Vinashin?).

Thứ 2: Trong đánh giá cần phải nhìn nhận và đánh giá tình hình bảo vệ mội trường gắn với phát triển bền vững thời gian vừa qua và gần đây có thể nói có những vấn đề chúng ta thấy là trong điều hành lãnh đạo chưa tốt từng địa phương, đây địa phương chúng tôi thấy rất rỏ có cái điễm này không phải chỉ vấn đền đất đai mà dân khiếu kiện, mà bây giờ là vấn đề bảo vệ môi trường liên quan đến đời sống của ND, thì theo chúng tôi thì cần phải có sự nhìn nhận đánh giá để có giải pháp (một lần nửa ở đâu rơi xuống chuyện môi trường? vá tự nhiên cần đánh giá , có giài pháp?).

Thứ 3: Trong đánh giá chúng ta cần phải thấy đó là vẫn còn biểu hiện chủ quan mất cảnh giác trước âm mưu chóng phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Vệt Nam, thực tế sự kiện Biển Đông từ ngoài khơi nhưng mà vào bờ liên quan đến đập phá là có vấn đề thì chúng ta thì cần phải thấy và…(Đất nước lâm nguy bị TQ chiếm Biển, đang cần cầu viện từ liên minh thì cha này nói: âm mưu của thế lực thù địch? cho hỏi âm mưu nào? thế lực thù địch nào? họ ở đâu? tên gì? thưa ngài!).

Thứ 4: theo tôi thì cần phải đánh giá thực sự đó là lòng dân, cán bộ đảng viên chưa yên trước bất ổn của thị trường tiêu thụ, trước tham nhũng tiêu cực, trước tệ nạn XH, trước trật tự an toàn XH, trước yêu cầu của việc làm, trước yêu cầu của thực hiện chế độ chính sách cho các đối tượng mà chúng ta còn nợ 2 đề án(?) đến nay vẫn chưa cho ý kiến, cái đấy là về tình hình thì tôi xin tham gia một số ý kiến như vậy, còn vấn đề Biển Đông theo tôi thì từ sáng đến giờ và những ngày qua trong phát biểu thì có thể nói tôi đồng tình với các ý kiến phát biểu ở một vế đó là vế thể hiện lòng yêu nước (Lòng yêu nước được gọi là Vế?) nhưng còn một vế theo tôi thì chúng ta chưa thực sự quan tâm đó là yêu chế độ và lo cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế (lấy lòng yêu nước để lo phong trào cộng sản quốc tế? trong khi mình đang bị TQ hiếp dâm vẫm một mực đi lo cho quốc tế?).

Xin báo cáo với các đồng chí thì thời điểm này chúng ta nên nhớ di chúc của Bác (Lại lôi Bác ra…), Bác để lại cho chúng ta lời di chúc trong đó khi nói về phong trào cộng sản Bác đã nói: ” là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đâu lòng bấy nhiêu vì sự bất hòa hiện nay giữa các đảng anh em”, tôi mong rắng đảng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần đắc lực về việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em, trên nền tảng chủ nghĩa max-lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý có tình (khối đại đoàn kết này mất rồi từ khi Đông Âu tan rã và Liên bang nga sụp đổ rồi thưa ông), dẩn 2 lời di chúc của Bác từng với lời căn dặn của Bác với cụ Huỳnh Thúc Khác trước khi Bác lên đường đi sang Pháp năm 46, Bác có dặn “dí bất biến, ứng vạn biến” Theo tôi dí bất biến ứng vạn biến bây giờ đó là độc lập dân tộc phải gắng với chủ nghĩa xã hội, rất tiếc trong phát biểu chúng ta chưa thực sự quan tâm đến nội dung này chính vì vậy theo tôi đối với chúng ta hiện nay chúng ta cái cần đó là làm sao chúng ta sớm làm diệu tình hình Biển Đông, hai chúng ta phải chủ động đấu tranh với âm mưu chóng phá của các thế lực thù địch.

Thứ 3 bảo đảm môi trường ổn định hòa bình của việt nam của khu vực và của thể giới và chính vì vậy đối sách giải pháp của chúng ta thì theo tôi:  thứ 1, phải sác định cho rỏ nguyên nhân, phải biết đau lòng với tình hình hiện nay của phong trào cộng sản công nhân quốc tế 2 nước XHCN lình xình với nhau như thế này ai có lợi? (Ông ta không đâu lòng vì đất nước và dân tộc mà đau lòng vì 2 AE XHCN xích mích nhau);  thứ 2, phải kiên định mục tiêu lý tưởng “dí bất biến, ứng vạn biến” như Bác đã căn dặn đó là phải làm sao dương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH (nghĩa là không có XHCN dân tộc không có độc lập?), đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho cách mạng Việt Nam từ khi có đảng đến nay, xem nhẹ chúng ta sẽ chệch hướng. Thứ 3, nắm chắc quan điểm đường lối phương pháp cách mạng pháp luật của VIệt Nam trong đấu tranh hiện nay sử dụng luật biển Việt Nam, sử dụng hiến pháp của chúng ta để đấu tranh và thứ 4 xiết chặt kỷ cương thông tin trê báo chí, bảo đảm đúng địng hướng (Như vậy HCM đi tỉm đường cứu nước để được tự do là vô nghĩa thưa Ngài?).

Và những việc cần làm ngay thì theo tôi thì chúng ta cần cái thứ nhất phải làm sao gập gở tiếp xúc với TQ để làm diu tình hình Biển Đông sớm đưa lại tình hình như trước khi xẩy ra sự kiện (TQ đang ăn cướp, mình bị ăn cướp lại tìm cách làm dịu tình hình? hay nói cách khác Vợ ông bị hiếp dâm xong ông đi xoa dịu tình hình với thằng hiếp dâm?), thứ 2 sử lý nghiêm minh các đối tượng kích động thông báo công khai và thứ 3 là không vì tình hình Biển Đông mà sao nhảng nhiệm vụ phát triển kinh tế XH của đất nước (Biển Đông liên quan trực tiếp đến kinh tế thưa ngài con Lừa ạh)….tôi xin hết ý kiến.

Posted in Giao Duc | Leave a Comment »

►Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958–Công hàm Phạm Văn Đồng

Posted by hoangtran204 trên 24/07/2014

Giới thiệu hồ sơ lưu trữ về quan hệ ngoại giao của VNCH tới năm 1958

Trong thảo luận về hiệu lực của Công hàm Phạm Văn Đồng có vấn đề về tư cách quốc gia (state) của VNCH ở thời điểm 14/9/1958 (lúc công hàm đưa ra). Dù tâm tư, nguyện vọng của đa số dân chúng cũng như lãnh đạo miền Nam lúc đó đều cho rằng quốc gia Việt Nam chỉ là một, và ngay cả lời nói đầu hiến pháp VNCH 1956 cũng hàm ý này “[ý] thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mau đến Ải Nam Quan”. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ luật pháp quốc tế thì VNCH có vẻ hội đủ các tiêu chuẩn để có tư cách một quốc gia: có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có chính phủ, và có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác như nêu trong công ước Montevideo 1933.

Ở thời điểm 4/1975 thì tư cách này có vẻ hiển nhiên: lúc đó VNCH đã thiết lập ngoại giao với 87 quốc gia trên thế giới và 6 quốc gia khác ở cấp bán chính thức, và dĩ nhiên trên thực tế cũng có dân số thường xuyên, có lãnh thổ xác định, có Chính phủ, tức là hội đủ 4 tiêu chuẩn để có tư cách quốc gia .

Còn vào thời điểm 14/9/1958, thì trên thực tế VNCH cũng đảm bảo được 3 tiêu chuẩn dân số, lãnh thổ, chính phủ; và tiêu chuẩn có năng lực tham gia vào mối quan hệ với các quốc gia khác thì có vẻ vẫn đảm bảo. Theo danh sách các nước công nhận VNCH cho tới ngày 7/8/1958 lưu ở Văn khố quốc gia Úc (NAA) có tới 62 nước chính thức hoặc hàm ý công nhận VNCH. Danh sách này ở trang 40-42 (và 44,45) trong hồ sơ “Saigon – Vietnam relations with other countries general [re Republic of Vietnam also known as South Vietnam]” gồm 157 trang số hiệu NAA: A4531, V221/5, có thể truy cập trực tuyến ở recordsearch.naa.gov.au. Xin giới thiệu bản chính và bản dịch danh sách này tới tất cả các bạn đọc có quan tâm:

1. Bản chính:

clip_image002

clip_image004

clip_image006

2. Bản dịch:

____________________________________

Hồ sơ V 221/5

669

18 tháng 8 năm 1958

Bộ trưởng,

Bộ ngoại giao,

Canberra.

Việt Nam: Công nhận bởi các quốc gia khác

Đính kèm là danh sách (tính đến 7 tháng 8 năm 1958) tất cả các nước hiện công nhận Việt Nam Cộng Hoà cùng với ngày mà họ công nhận nước Cộng hòa này.

(đã ký)

(D.C Nutter)

Thứ trưởng

DANH SÁCH CÁC NƯỚC CÔNG NHẬN NƯỚC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

1. Hoa Kì 26.10.1955

2. Pháp –

3. Vương quốc Anh –

4. Úc –

5. New Zealand –

6. Thái Lan –

7. Nhật Bản –

8. Ý –

9. Trung Hoa QDĐ 27.10.1955

10. Hàn Quốc –

11. Hà Lan 1.11.1955

12. Philippines 2.11.1955

13. Tây Ban Nha 3.11.1955

14. Cuba –

15. Haiti –

16. Bolivia 6.11.1955

17. Ecuador –

18. Brazil 8.11.1955

19. Liberia –

20. Nicaragua –

21. Chile 10.11.1955

22. Hy Lạp –

23. Luxembourg 11.11.1955

24. Argentina 12.11.1955

25. Costa Rica 13.11.1955

26. Canada 14.11.1955

27. Lào 15.11.1955

28. Thổ Nhĩ Kỳ 18.11.1955

29. Bỉ 22.11.1955

30. Áo 23 11.1955.

31. Tây Đức 5.12.1955

32. Vatican 9.12.1955

33. Liên minh Nam Phi 14.12.1955

34. Honduras 12.12.1955

35. Venezuela 15.12.1955

36. Guatemala –

37. Colombia 6.1.1956

38. Sudan 5.2.1956

39. Jordan 21.2.1956

40. Bồ Đào Nha 24.5.1955

41. Đan Mạch 3.1.1957

42. Lebanon 5.3.1957

43*. Ghana 6.3.1957

44*. Ma-rốc 18.6.195

45*. Tunisia 3.8.1957

46*. Malaysia 31.8.1957

47. Thụy Sĩ 1.4.1958

48. Thụy Điển 3.7.1958

49*. Iraq 2.8.1958

——————————–

50. Indonesia

51. Na Uy

Indonésia và Na Uy tương ứng đã trao đổi giấy chấp nhận tổng lãnh sự và lãnh sự ở Sài Gòn, theo luật pháp quốc tế coi như một công nhận “theo pháp lí “(de jure”)

——————————-

Các nước sau đây không thông báo chính thức công nhận nhưng đã bỏ phiếu cho VNCH gia nhập Liên Hiệp Quốc, hàm ý công nhận VN:

52. Ireland (Ai-len)

53. El Salvador

54. Peru

55. Panama

56. Uruguay

57. Iran

58. Ethiopia

59. Cộng hòa Dominica

——————————-

60. Ấn Độ: Ấn Độ đã bổ nhiệm một Tổng lãnh sự ở Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự

61. Miến Điện: Miến Điện đã nhận một Tổng lãnh sự của Việt Nam dù không có giấy chấp nhận lãnh sự; điều này tương đương với việc công nhận “trên thực tế” (de facto)

62. Campuchia: Vả lại. Campuchia và Việt Nam đã trao đổi đại diện.

(Danh sách cập nhật đến ngày 7/8/1958)

_________________________________

* Nước được Việt Nam Cộng Hòa công nhận.

Theo Bauxite

  1. Thủy Quân Lục Chiến VNCH bắt sống quân Trung Cộng tại Hoàng Sa

Posted in Miền Nam trước ngày 30-4-1975 | Leave a Comment »