Trần Hoàng Blog

►Tôi không cần biết ông Minh có mấy vợ – …mừng sinh nhật “bác” (19-5-2022)

Posted by hoangtran204 trên 19/05/2022

Các cháu ngoan bác Hồ học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh




TÔI KHÔNG CẦN BIẾT ÔNG MINH CÓ MẤY VỢ

(Bài cũ đăng lại để mừng sinh nhật “bác”)

Đầu tháng 9, 2010, nhân dịp ở trong nước tổ chức rầm rộ các buổi lễ tưởng niệm 40 năm ngày Hồ Chí Minh qua đời, tôi muốn viết một bài về ông, nhưng lại lười, cứ lần khân mãi. Sau đó, mở các tờ báo mạng ra, cứ gặp mãi những bài viết về ông Minh lại đâm bực.

Bực, khi đọc những bài lải nhải khen ngợi ông. Bực cả khi đọc những bài chửi bới ông nữa.

Hầu hết các bài khen tụng hay chửi bới ông Minh đều có điểm giống nhau: Chúng đều tập trung vào đời tư của ông. Lại là những khía cạnh nhí nhách nhất trong đời tư của ông.

Người chửi, chửi thậm tệ. Theo họ, ông Minh là một kẻ giả dối. Giả dối ở mọi mặt. Tự mình viết sách khen mình… khiêm tốn và tài giỏi rồi ký tên khác (Trần Dân Tiên) rồi bắt dân chúng học tập là một sự giả dối. Gặp chị ruột, bà Nguyễn Thị Thanh, người chị duy nhất còn sống sót sau mấy chục năm xa cách mà vẫn hờ hờ hững hững để giữ tiếng vô tư và chí công là một sự giả dối. Nhưng giả dối nhất là có vợ rồi, lại là vợ Tàu nữa (Tăng Tuyết Minh), mà cứ giấu biệt. Có bồ (Nông Thị Xuân) cũng giấu giấu giếm giếm như mèo giấu cứt. Cuối cùng, bồ bị đàn em hãm hại cũng không dám mở miệng cứu giúp hay can thiệp. Nghĩa là một kẻ vừa giả dối lại vừa tàn nhẫn và hèn hạ.

Người khen, khen ông biết quan tâm và hy sinh cho người khác. Quan tâm đến đời sống cơ cực của dân chúng: Mỗi bữa, ông ăn ít hơn một chút để dành mớ gạo thừa ấy cho “đồng bào”. Quan tâm đến giấc ngủ của từng người bộ đội: Nửa đêm dậy đi dém mùng cho từng người. Quan tâm đến nỗi khách phụ nữ đến thăm, ông hỏi ngay là có mắc đái không để ông chỉ nhà vệ sinh cho!

Trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh kể, nguyên văn:

“Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên Văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ, oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.”

Thực tình, tôi không quan tâm đến cả những lời khen lẫn những tiếng chê như thế.

Theo tôi, những chuyện ấy, ngay cả khi đúng sự thực, cũng không ảnh hưởng gì mấy đến vị thế của ông Minh với tư cách một chính khách và một lãnh tụ.

Một cái nhìn có tính chuyên nghiệp đòi hỏi chúng ta không được lẫn lộn giữa các phạm trù. Một ông thánh làm chính trị tồi thì cũng vẫn là một chính khách tồi. Ngược lại, một tên lưu manh làm chính trị giỏi, biết cách sử dụng quyền lực cho những mục tiêu lớn và tốt, thì cũng vẫn là một chính khách giỏi. Tôi thích dân Mỹ ở chỗ đó. Nhớ, trong thập niên 1990, họ, một mặt, lên án cái tật hay cởi quần bậy của Tổng thống Bill Clinton, nhưng mặt khác, lại ủng hộ các chính sách của ông, các chính sách, theo họ, có lợi cho nước Mỹ. Với họ, hai khía cạnh đời tư và công việc khác hẳn nhau.

Ở Việt Nam, chúng ta cứ hay lẫn lộn mọi thứ. Không phải chỉ với Hồ Chí Minh mà cả với Ngô Đình Diệm hay Bảo Đại trước đó nữa, người ta cũng hay tập trung vào đời tư mà rất ít khi quan tâm đến chính sách của họ, với tư cách là những nguyên thủ của một đất nước.

Trong khi đó, ở cương vị của họ, chính các chính sách mới là những yếu tố đáng bàn, thậm chí, là những yếu tố duy nhất đáng bàn vì chúng có ảnh hưởng đến cả hàng chục, thậm chí, hàng trăm triệu người, có khi từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ông Minh có nhịn ăn mỗi ngày vài chén cơm thì cũng chỉ nuôi được, may lắm, một con chó; nhưng nếu ông có chính sách kinh tế đúng đắn và hiệu quả thì cả hàng chục triệu người được tha hồ ăn no và ăn ngon. Ông có hàng tá bồ nhí thì cũng chỉ làm mấy chục người ấy khổ nhưng nếu ông có chính sách về gia đình và phụ nữ đúng đắn và có hiệu quả thì hàng chục triệu phụ nữ tránh được cảnh bị lợi dụng, lạm dụng và bạo hành. Ông có hỏi hết người này đến người khác có mắc tiêu mắc tiểu không để ông chỉ nhà vệ sinh cho thì cũng giải quyết được nhu cầu của một số người nhưng nếu ông có chính sách đúng đắn và có hiệu quả về xây dựng cơ sở hạ tầng và văn hoá tiếp dân thì không ở đâu, kể cả ở các văn phòng uỷ ban nhân dân từ trung ương xuống địa phương hay các tụ điểm công cộng, từ nhà ga đến bến xe, từ trường học đến công viên, dân chúng lại phải chịu cảnh nhịn đái nhịn ỉa hay phải chịu đựng mùi hôi thối đến kinh người như họ từng chịu đựng cả trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.

Một nhà lãnh đạo không cần những cái tốt lặt vặt. Thậm chí có khi cái gọi là tốt ấy lại còn phản tác dụng. Tại Úc, nhiều chính khách bị dân chúng mất tín nhiệm chỉ vì quá tốt bụng. Đứng trước Quốc Hội, nghe báo cáo về sự khốn cùng của thổ dân, họ khóc; nghe tin thiên tai đâu đó, họ rơm rớm nước mắt. Dân chúng cảm động ư? Ừ, thì họ cũng cảm động. Nhưng khi được hỏi sự cảm động ấy có ảnh hưởng đến lá phiếu của họ trong các cuộc bầu cử hay không, phần lớn đều lắc đầu quầy quậy: Không. Nhiều người còn cho đó là sự yếu đuối không những không cần thiết mà còn có hại. Người ta chờ đợi ở lãnh tụ một cái đầu lạnh, lúc nào cũng bình tĩnh cân nhắc tính toán chuyện lợi hại gần xa chứ không cần những người quá dễ xúc động và chỉ biết phản ứng theo tình cảm như thế.

Bởi vậy, đánh giá một người làm chính trị, chúng ta chỉ cần tập trung vào chính sách của họ.

Với ông Minh, cũng vậy.

Trước hết, cần phân biệt ở ông Minh có hai khía cạnh: một nhà cách mạng và một nhà lãnh tụ.

Với tư cách nhà cách mạng, ông Minh có thể vấp phải một số sai lầm, nhưng nói chung, các chính sách ông đưa ra nếu không đúng đắn thì ít nhất cũng có hiệu quả. Nhờ đó, ông trở thành nhà cách mạng thành công nhất ở Việt Nam trong thế kỷ 20: Ông đánh đuổi được thực dân Pháp và ông giành được chính quyền vào tay đảng của ông.

Không đồng ý với ông, thậm chí, căm thù ông, người ta cũng không thể phủ nhận những thành công vang dội ấy. Ông đã thành công ở chỗ tất cả các nhà cách mạng khác, trước ông, từ các nhà Cần Vương đến các nhà Duy Tân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh và tất cả các nhà cách mạng quốc gia khác, đều thất bại.

Với tư cách một lãnh tụ, hơn nữa, lãnh tụ tối cao, vừa là Chủ tịch đảng vừa là Chủ tịch nước, ông Minh có những chính sách đúng và sai, những chính sách có hiệu quả đồng thời cũng có những chính sách hoàn toàn vô hiệu, hơn nữa, cực kỳ tai hại.

Đánh giá những chính sách ấy cần có công phu nghiên cứu và sự công tâm nhất định. Đó là công việc của giới sử học. Đã có nhiều sử gia làm điều đó. Một số người làm rất tốt. Nhưng công việc ấy sẽ còn kéo dài mãi. Nếu lịch sử là những gì luôn luôn được viết lại, việc đánh giá những chính khách lớn như ông Minh sẽ không bao giờ hoàn tất cả. Mỗi thời đại hay mỗi thế hệ, trong tương lai, sẽ lại tiếp tục tìm kiếm và đặt lại vấn đề về sự nghiệp của ông.

Trong bài này, tôi chỉ xin góp một ý nhỏ: Nói đến chính sách, cần phân biệt chính sách có tính giai đoạn và chính sách có tính dài hạn.

Trong số các chính sách dài hạn, chính sách quan trọng và căn bản nhất là chính sách liên quan đến thể chế.

Trong vấn đề thể chế, có hai khía cạnh quan trọng và căn bản nhất: ý thức hệ và cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước.

Về phương diện ý thức hệ, ông Minh chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một lựa chọn có tính lịch sử; và vì có tính lịch sử, nó vừa là trách nhiệm của ông vừa không thuộc trách nhiệm của ông.

Nhưng việc lựa chọn cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước thì hoàn toàn nằm trong tay ông. Chính ông là người quyết định nó, xây dựng nó và điều hành nó một thời gian dài. Có thể nói cái cơ chế ấy hoàn toàn là sản phẩm của ông. Là đứa con của ông.

Cái cơ chế ấy như thế nào?

Thời gian đã đủ dài để người ta nhận ra tất cả các khuyết điểm của nó. Trong đó, khuyết điểm đầu tiên là nó quá cứng nhắc, làm tê liệt hết mọi khả năng sáng tạo của ngay cả những người sáng suốt, nhiệt tình và nhiều quyền thế nhất.

Nghe nói, lúc còn tại chức, Phạm Văn Đồng thường than thở là trên thế giới không có ai làm Thủ tướng lâu như ông, và cũng không có ai làm Thủ tướng mà bất lực như ông.

Lại cũng nghe nói, trong một chuyến công du sang Úc cách đây khoảng trên dưới mười năm, Phan Văn Khải, lúc ấy đang là Thủ tướng, giữa một buổi họp mặt với giới trí thức Việt kiều, kể, đại khái, là: “Nhiều vị lãnh đạo Tây phương cứ hay nói về Việt Nam thế này thế nọ. Nhưng cứ cho họ làm Thủ tướng ở Việt Nam thử xem họ làm sao. Có khi họ làm chưa tới một ngày đã phải chạy làng rồi. Việt Nam mình nó phức tạp lắm chứ đâu đơn giản như họ tưởng. Ở Việt Nam đâu phải là Thủ tướng thì có thể làm được mọi việc!”

Lại cũng nghe nói nữa, vào những năm cuối đời, tuy ông Minh vẫn còn tại vị, nhưng thực quyền thì đã lọt hết vào tay của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Ông muốn làm nhiều chuyện nhưng đành bất lực. Tôi chẳng biết lời đồn ấy thực hư thế nào. Nhưng nếu đúng, ông Minh đã bị chính cái guồng máy ông lập ra nghiền nát; ông đã bị chính đứa con ông sinh ra quay lại ăn thịt ông.

Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái.

Cái Ác, cái Tham và cái Ngu thì ở đâu cũng có. Không có một lãnh tụ nào có thể loại trừ hay tiêu diệt chúng hết được. Nhưng trong một cơ chế tốt, chúng luôn luôn bị kiềm chế; nếu có bộc lộ, chỉ bộc lộ một cách rụt rè và lén lút; và vì rụt rè và lén lút nên không thể trở thành phổ biến, hơn nữa, lúc nào chúng cũng đối diện với nguy cơ bị phát hiện và bị trừng phạt.

Trong cái cơ chế chính quyền do ông Minh sáng lập, không có những sự kiềm chế và kiểm soát. Cấp lớn có cái Ác, cái Tham và cái Ngu lớn. Cấp nhỏ thì có cái Ác, cái Tham và cái Ngu nhỏ. Ở đâu chúng cũng nghênh ngang hoành hành được. Dân chúng không những bị bịt miệng mà còn bịbịt cả tai nữa.

Bởi vậy, bất cứ cái Ác, cái Tham và cái Ngu nào ở Việt Nam lâu nay cũng đều có một phần trách nhiệm của ông Minh.

Người ta hay hỏi: Liệu ông Minh có biết những người bị giết oan trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950 không? Có biết những vụ trù dập dã man đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm không? Có biết các vụ giết người tập thể ở Huế trong trận Mậu Thân không?

Với tôi, đó là những câu hỏi vớ vẩn. Biết hay không biết, chúng cũng thuộc về trách nhiệm của ông Minh. Biết, ông có tội. Không biết, ông có lỗi. Khi cái lỗi gây thành tội ác: Cái lỗi trở thành cái tội.

Trong bất cứ một hành vi tham nhũng công khai nào, bất cứ một hành động chà đạp nhân quyền và dân chủ nào ở Việt Nam hiện nay, cho dù được thực hiện bởi một tên công an cấp phường, cấp xã, cũng đều có bàn tay ông Minh trong đó.

Ông Minh đã chết lâu rồi nhưng cái cơ chế ông tạo ra vẫn còn đó. Nó còn đó và nó tiếp tục tạo cơ hội và cung cấp phương tiện cho những sự tàn ác, tham lam và ngu xuẩn. Để cho chúng tha hồ hoành hành và tàn phá đất nước, cái đất nước mà ông bỏ gần cả đời để dành lại từ trong tay thực dân Pháp.

Đứng trước cái di sản tệ hại khổng lồ ấy, những chuyện ông còn tân hay có vợ, chuyện ông nhịn ăn để đồng cam cộng khổ với dân chúng hay lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc lá của Mỹ, chuyện ông có nung gạch để tránh cái rét ở Paris lúc còn trẻ hay không… chỉ là những chuyện tầm phào.

Hết sức tầm phào

(2012)

=======

Vài mẩu chuyện về cuộc đời HCM

Nguyễn Minh Cần

(Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội)

một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy …” (trích sách Những mẩu chuyện …, tr. 7) thì … tự tay mình viết tiểu sử của mình để tự tôn vinh, tự đề cao chán chê, rồi “lập lờ đánh lận con đen” đặt tên tác giả là Trần Dân Tiên. Quả là một sự phỉ báng đối với lương tri con người!
 

Người viết bài này hy vọng góp thêm vài “mẩu chuyện” vào cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên mà như lời giải thích miệng “từ Trên”, khi cuốn sách được xuất bản lần đầu ở miền Bắc -“tác giả của nó là một nhà báo nổi tiếng có cơ hội được biết rõ về thân thế của Người”. Thực ra, hồi những năm 50, đại đa số cán bộ, chứ nói gì đến nhân dân, chưa hề nghe tên và không ai biết cái ông “nhà báo nổi tiếng” Trần Dân Tiên, tác giả cuốn sách “bất hủ” đó, là ai cả. Chỉ có một số rất ít cán bộ cao cấp thì thầm rỉ tai nhau về điều bí mật quốc gia: “… Chứ còn ai nữa!”

Mãi về sau này, qua hàng mấy thập niên, nhiều người mới ngã ngửa ra là ông tác giả “Chứ còn ai nữa!” đó, ông Trần Dân Tiên huyền thoại kia, chính là ông Nguyễn Tất Thành, cũng chính là ông Nguyễn Ái Quốc, và cuối cùng, cũng chính là … ông Hồ Chí Minh. Thế nhưng báo chí chính thức ở Việt Nam cho đến nay vẫn tiếp tục “giấu như mèo giấu c…” Theo tôi biết, hình như trong “thế giới” cộng sản, chỉ có hai lãnh tụ trực tiếp tham gia vào việc “xây dựng” tiểu sử của mình để lưu danh hậu thế là Stalin và Hồ Chí Minh. Tôi nói “hình như” vì không biết chính xác Kim Nhật Thành đã làm phù phép như thế nào với tiểu sử của ông ta. Nhà độc tài đẫm máu Stalin đã không trắng trợn tự tay viết tiểu sử của mình, mà giao cho một ban của Trung ương đảng, viết theo sự hướng dẫn của chính ông và cuối cùng ông “chỉ” hiệu đính tiểu sử của mình trước khi cho xuất bản. Còn “một người như Hồ Chủ Tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy …” (trích sách Những mẩu chuyện …, tr. 7) thì … tự tay mình viết tiểu sử của mình để tự tôn vinh, tự đề cao chán chê, rồi “lập lờ đánh lận con đen” đặt tên tác giả là Trần Dân Tiên. Quả là một sự phỉ báng đối với lương tri con người!

Mặc dù thế, tôi xin thành thật khuyên các bạn, ai đã có cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch thì chớ vội nóng nảy vứt nó đi mà phí. Trái lại, thỉnh thoảng nên đọc lại để thấy rõ hơn bức chân dung thật của người viết ra nó. đó là tấm gương để đời!

Ngay từ đầu sách, bạn gặp đoạn này: “Nhiều nhà văn, nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng mãi đến nay, chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất giản đơn: Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lới thân thế của mình”. Hay một đoạn khác: “Tôi (lời Trần Dân Tiên huyền thoại) nói rõ mục đích của tôi. Chủ tịch chú ý nghe. Sau khi nghe xong, Người cười và đáp: “Tiểu sử đấy là một ý kiến hay. Nhưng hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn. Rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau tám mươi năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp kia đã! Còn tiểu sử của tôi … thong thả sẽ nói đến!” Thế rồi Trần Dân Tiên (!) kết luận: “Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lới cho tôi nghe bình sinh của Người được ?” Hay là đoạn nói về thời gian “khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên mười lăm tuổi”, thế mà cậu bé 15 tuổi ấy đã đủ hiểu biết, đủ láo xược để phê phán cả các bậc tiền bối là những anh hùng lịch sử vào hàng cha chú mình, như các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu. Hay một đoạn nữa: “Và nhân dân Việt Nam muôn người như một, nghe theo lời Hồ Chủ tịch, vì họ hoàn toàn tin tưởng ở Hồ Chủ tịch, họ hoàn toàn kính yêu Hồ Chủ tịch. Không có gì so sánh được lòng dân Việt Nam kính mến tin tưởng lãnh tụ Hồ Chí Minh. Nhiều nhà báo và nhiều bạn ngoại quốc rất lấy làm ngạc nhiên trước lòng kính yêu của nhân dân Việt Nam đối với vị Cha già Hồ Chí Minh. Nhưng đối với chúng ta, người Việt Nam thì rất dễ hiểu.”

Còn nhiều, rất nhiều “hạt ngọc châu” như thế nữa! Nhưng thôi, nhân tiện nói qua thế, chứ mục đích người viết bài này không phải để nói về cuốn sách Những mẩu chuyện …, mà để bổ sung thêm vài nét vào bức chân dung của ông Hồ Chí Minh nhân dịp tháng 5, kỷ niệm ngày sinh “của Người,” dù biết tỏng tòng tong là cả ngày, cả tháng, cả năm sinh “của Người” đều là “phịa” (xin cho phép tôi dùng khẩu ngữ này, có nghĩa là bịa đặt trắng trợn), và thậm chí trong một thời gian nhiều năm, cả ngày chết “của Người” cũng là “phịa” nốt. Cố nhiên, trong trường hợp sau, “Người” không có lỗi. Nhưng, một con người mà ngày sinh, tháng sinh, năm sinh, cho đến ngày chết đều là “phịa” cả, thì có gì bảo đảm là “những mẩu chuyện” tự kể về mình lới là không “phịa” ? Nhưng dẫu sao chăng nữa, tháng 5 cũng là có dịp để “tưởng nhớ tới Người”! Vài “mẩu chuyện” mà tôi sắp kể đây là những chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh có liên quan đến “vấn đề phụ nữ” (dĩ nhiên, không phải vấn đề giải phóng phụ nữ đâu!), và không phải là thời kỳ ông ở Pháp, Nga, Trung Quốc (vì đã có khá nhiều bài báo viết về những thời kỳ đó rồi). “Những mẩu chuyện” này thuộc thời kỳ ông ở Việt Nam, và cũng chỉ vẻn vẹn trong vài năm thôi, sau khi chính quyền cộng sản tiếp thu những “vùng tạm chiếm” của Pháp ở miền Bắc.

MỘT ÁN MẠNG XE CÁN

Sau khi rời Hà Nội đi Moskva, theo học ở Trường đảng cao cấp của Trung ương đảng cộng sản Liên Xô hồi năm 1962, và nhất là sau khi tôi đã ra khỏi hàng ngũ đảng cộng sản hồi đầu tháng 6 năm 1964, trong lòng tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi một câu chuyện mà càng ngày tôi càng thấy rõ có cái gì đây đầy oan khuất, đầy mờ ám, rất là nghiêm trọng, mà bây giờ ở ngoài nước, trong hàng chục năm, lắm lúc tôi cảm thấy bó tay không thể nào tìm hiểu được.

Chuyện thế này: hồi cuối những năm 50 đầu những năm 60, tôi là phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội, thường ngày tôi xuống các cơ sở. Nhưng sáng hôm đó, tôi nhớ là vào đầu xuân, tôi phải đến thường trực tại Ủy ban, thì anh Nguyễn Quốc Hùng, ủy viên trong Ủy ban, phụ trách văn phòng, bước vào phòng tôi, hồi hộp nói: “Báo cáo anh có một việc xảy ra, có một người đàn bà bị xe ô tô cán ở đoạn đường Nhật Tân phía đi lên Chèm ...” Tôi đưa mắt nhìn Quốc Hùng, có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng không nói gì. Ngạc nhiên vì trong óc tôi thoáng một ý nghĩ, xe ô tô cán người ở Hà Nội chẳng phải là chuyện gì hiếm, sao anh ấy lại báo cáo với mình. Tôi im lặng chờ đợi. Quốc Hùng nói tiếp: “Nhưng mà, anh à, theo sự điều tra thì không phải là xe cán người, mà làm ra vẻ xe cán người …” Dừng lại một lúc, anh nói thêm: “Mà … theo báo cáo thì chiếc xe ấy lới chạy từ Chủ tịch phủ ra …” Mấy tiếng cuối cùng “từ Chủ tịch phủ ra” đã gây cho tôi một cảm giác thật mạnh. Nhưng lúc đó, thật ra, tôi không hề có mảy may ý nghĩ là việc này có liên quan gì đến vị Chủ tịch nước mà hồi đó, tôi chân thành kính yêu và tin tưởng. Một ý nghĩ thoáng qua trong óc: hay là bọn phục vụ ở Chủ tịch phủ đã làm bậy bạ cái gì đây với chị kia, rồi giết đi và bày trò cán xe ? Suy nghĩ một lúc, tôi nói: “Theo quyết định của Trên, mọi vấn đề thuộc về công an, tòa án thì do bí thư Thành ủy giải quyết, nhất là những chuyện có dính dấp đến Trên, việc này không thuộc thẩm quyền của Ủy ban hay Thành ủy, vậy hôm nay, anh đến gặp anh Tuyên báo cáo ngay anh ấy biết để anh giải quyết thì hơn.”

Hôm sau, gặp lại, tôi hỏi thì Quốc Hùng cho biết: đã báo cáo rồi và anh Tuyên bảo anh sẽ trực tiếp làm việc với anh Thân (Lê Quốc Thân, hồi đó là giám đốc Sở công an Hà Nội, về sau được thăng chức thứ trưởng Bộ công an). Khoảng một tuần sau, nhân gặp Trần Danh Tuyên, bí thư Thành ủy kiêm phó chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố, tôi tranh thủ hỏi về vấn đề đó, thì anh ta lạnh lùng gạt đi: “Thôi, việc đó xong rồi“. Biết là không thuận lợi cho một cuộc trao đổi cởi mở, nên tôi im … Khi đã ở nước ngoài, trong nhiều năm tôi cứ băn khoăn mãi về chuyện đó.

Hồi tháng 7 năm 1993, khi gặp nhà văn Vũ Thư Hiên, một người “cùng cảnh ngộ”, tức là cùng bị dính vào “vụ án xét lại – chống đảng”, đã sang được Moskva, tôi mới đem chuyện đó kể ra. Hiên bật người lên, vui mừng ra mặt, dường như anh được thêm một người nữa biết cái chuyện “thâm cung bí sử ” này và chuyện tôi kể cho anh lới một lần nữa xác nhận điều mà cụ thân sinh của anh, ông Vũ đình Huỳnh, đã dặn dò anh. Hiên nói liền: “Nhưng không phải ô tô từ Chủ tịch phủ phóng ra đâu, anh ạ. Mà từ phố Hàng Bông Nhuộm đi lên Nhật Tân …” Tôi đáp lới: “Chính là Quốc Hùng nói với tôi thế !” Rồi Hiên thủng thẳng tâm sự với tôi: “Có một hôm, ông cụ tôi bảo tôi lên xe, chúng tôi đi lên Hồ Tây, rồi theo đường Quảng Bá đi lên đường Nhật Tân, chỗ làng đào, anh biết chứ ?” Tôi trả lời theo kiểu dân Bắc: “Biết quá đi, chứ lị! Từ 51, tôi phụ trách ngoại thành cơ mà“. Yên trí là tôi biết rõ địa thế vùng này, anh kể tiếp: Dừng xe lại, hai bố con ra xe, ông cụ dẫn anh đến một đoạn đường, hình như một bên có rặng ổi, rồi bảo: “Con ơi, con nhớ những lời bố dặn đây ! Tới đây, đánh dấu một vụ án mạng, một vụ oan khuất khủng khiếp mà Trần Quốc Hoàn (ủy viên Bộ chính trị, bộ trưởng công an) là chính danh thủ phạm. Con hãy ghi nhớ, khi có dịp thì nói lên sự thật …”

Câu chuyện đại để thế này: có một chị nữ thanh niên người Nùng ở Cao Bằng, tên là Nông Thị Xuân, được đưa đến “phục vụ” Bác Hồ, cô đưa em là Nông Thị Vàng và một cô em họ nữa về Hà Nội. Sau đó, cô Xuân đẻ cho Bác một đứa con trai, được đặt tên là Nguyễn Tất Trung, và còn có tin đồn, một đứa con gái nữa, tên là Nguyễn Thị Trinh … Thế rồi Trần Quốc Hoàn hiếp cô Xuân tại nhà phố Hàng Bông Nhuộm, sau đó giết chết, rồi bày trò xe ô tô cán người tới đường Nhật Tân để lấp liếm tội ác. Sau khi cô chị bị giết, cô em chạy về Cao Bằng, rồi cũng bị giết nốt để “bịt đầu mối”, và người em họ cô Xuân cũng không thoát khỏi bàn tay đẫm máu của nó. Người yêu của cô Vàng đã viết thư tố cáo hung thủ.

Thật ra, những điều Vũ Thư Hiên kể tuy có rọi thêm vài tia sáng, nhưng vẫn chưa thỏa mãn được cái ý muốn tìm hiểu sự việc cụ thể của tôi, nên tôi vẫn tiếp tục cố làm sáng tỏ vấn đề này. Những năm gần đây, nhờ việc đi lại của người trong nước sang Nga được dễ dàng hơn, nên vài người đã kể cho tôi thêm những chi tiết rất có giá trị, bổ sung cho những điều tôi đã biết. Nhưng tất cả những điều đó chỉ là nghe lại của người này, người khác, không có chứng cứ nào, không có tài liệu cụ thể nào xác minh, giúp cho tôi được vững tin. May mắn là mới đây có một người quen cho tôi xem một tài liệu với nhiều chi tiết cụ thể xác nhận về cơ bản những điều tôi đã tìm hiểu được trong những năm qua. Sau khi cẩn thận xem xét kỹ tài liệu đó, tôi có thể tin tưởng ở tính chất chân thật của nó. Tài liệu gồm có một bức thư dài năm trang đánh máy của người chồng chưa cưới của cô Vàng đã bị giết, viết ngày 29 tháng 7 năm 1983 gửi ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kèm theo một bức thư một trang của một số thương binh, bạ cùng chiến đấu với anh ta, không đề ngày (có lẽ là gửi cùng ngày ?), gửi ông Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, đồng gửi ông Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng CSVN, ông Phạm Văn Đồng, Chủ tịch HĐBT và ông Phạm Hùng, Phó Chủ tịch HĐBT, tố cáo hành vi tội ác của bọn hung thủ đã giết hai nhiều người vô tội. Nhưng có một điều rất “kẹt” cho tôi là anh bạn cho xem tài liệu lại dặn tôi đến hai lần “đừng công bố bản tài liệu,” cho nên tôi không thể làm trái ý “người chủ” tài liệu.

Tuy nhiên, tôi mong rằng anh ấy sẽ nghĩ lại và tự anh hoặc nếu anh thấy không tiện cho mình thì giao cho một người nào khác sớm công bố toàn văn bản tài liệu đó để thực hiện ước nguyện của những người đã chết oan và của những người đã bất chấp nguy hiểm, “máu hòa nước mắt viết thư này” (lời trong thư). Phải nói rằng những người viết thư thật rất dũng cảm, đáng kính phục. Vì Chân Lý, người ta coi thường cái chết, khi viết những lời thật xót xa, đầy mai mỉa và thách đố đối với những kẻ cầm quyền và chế độ hiện tồn trong nước; những lời ấy vang lên như tiếng thét đau thương, ai oán, đã bị nhóm cầm quyền cộng sản dìm đi, bóp nghẹt trong hàng mấy thập niên rồi: “Chúng tôi, những thương binh đã đổ xương máu vì độc lập của quốc gia, tự do, công lý cho nhân dân, chúng tôi rất mong Ngài vì chân lý mà tìm ra hung thủ, xử lý thích đáng, treo cổ hung thủ công khai hoặc bí mật. Nếu trái lại, vì bè lũ, phải bao che cho hung thủ không trừng trị được bọn tàn ác này, thì chúng tôi xin phép Ngài phổ biến rộng rãi vụ bê bối này cho toàn thể thương binh và bộ đội biết để họ đổ xương máu bảo vệ NGAI VÀNG CỦA CÁC NGÀI. Và hơn nữa, chúng tôi sẽ tuyên bố vụ bê bối giết vợ Cụ HỒ CHÍ MINH này cho toàn thế giới biết để cả nhân loại tin tưởng vào chế độ ưu việt của các Ngài. Chúng tôi một số thương binh sống dở chết dở, vì vấn đề này mà các Ngài muốn bỏ tù hay thủ tiêu, chúng tôi không hề sợ, và có khi như vậy lại đỡ khổ cho chúng tôi.” (đúng nguyên văn, kể cả những chữ hoa).

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG MAI

Viết đến đây, tôi nhớ đến Nguyễn Chí Thiện, đã liều mình, bất chấp mọi nguy hiểm, xông vào sứ quán Anh ở Hà Nội 1979 để đưa tập thơ Hoa Địa Ngục của anh ra nước ngoài. Không có những con người gan dạnhư thế, làm sao bảo vệ Chân Lý và chống lại điều ác được ? Theo lời dặn của anh bạn, tôi không công bố toàn văn tài liệu đó. Nhưng những gì tôi tìm hiểu được trong mấy năm qua, nhờ sự giúp đỡ của anh chị em trong nước và được tài liệu kia xác nhận, tôi tự thấy mình có bổn phận chia sẻ với mọi người, cốt để làm sáng tỏ thêm sự thật đã bị che giấu 40 năm rồi và phần nào đáp ứng, dù là một cách quá muộn màng đi nữa, lòng mong mỏi cuối cùng của những oan hồn đang ngậm hờn ở thế giới bên kia. Hơn nữa, ngay ở trong nước, tờ báo bí mật, gan dạ Người Sài Gòn, “tiếng nói của nhân dân thèm tự do ngôn luận”, năm ngoái cũng đã tung vấn đề này lên rồi trong bài “Viết cho Đào Duy Tùng“. Và tôi tin chắc là nhà văn Vũ Thư Hiên cũng không thể bỏ qua chuyện này trong tập hồi ký Đêm Giữa Ban Ngày của anh. Có điều tôi muốn nói rõ là tội ác của bọn hung thủ đê tiện trong vụ thảm sát một loạt người này, tuy rùng rợn, khủng khiếp thật, nhưng lại không phải là đề tài chính của bài này, vì ý định của tôi chỉ là bổ sung thêm vài nét chân thực vào bức chân dung của vị Chủ tịch đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trước khi kể lới chuyện trên, tôi xin phép nói đến một chuyện khác, mới nghe thì thật tào lao, nhưng nó có thể giúp cho ta hiểu được nhiều điều. Nói chung, hồi đó, khi tôi còn ở trong nước, cán bộ ở miền Bắc (và có lẽ cả miền Nam nữa), ngay cả trong câu chuyện riêng tư, không hề dám hé răng nói bất kỳ chuyện gì về các lãnh tụ, ngoài những lời sùng bái, tán tụng, ngoài những khuôn sáo đã định sẵn, như “ơn Bác, ơn đảng”, v.v… Sự sùng bái cá nhân các lãnh tụ đã được gieo cấy sâu đậm vào tiềm thức cán bộ và dân chúng đến nỗi mọi người cho rằng nói đến các lãnh tụ mà thiếu sự ca tụng, sự sùng kính, nhất là nói đến đời riêng của các lãnh tụ là điều “phạm húy” khủng khiếp, mà điều đó thì tối kỵ, trước tiên, vì … rất nguy hiểm cho bản thân. Chỉ có một số cán bộ cao cấp nào đó thỉnh thoảng khi cao hứng mới có thể tự cho phép “đả động” nhẹ nhàng đến các lãnh tụ trong chừng mực … “không bị đứt đầu”. Cố nhiên, những việc như thế không phải là không nguy hiểm.

Có một lần, tình cờ tôi được “dự” vào một cuộc “loạn đàm” như vậy. Hôm đó, sau một cuộc họp ở Thành ủy, mọi người ra về, chỉ còn lới ba chúng tôi: Trần Danh Tuyên, bí thư Thành ủy Hà Nội, Trần Vỹ, phó bí thư, và tôi. Đang nói chuyện linh tinh, bỗng Trần Vỹ hỏi khẽ: “Thế nào, việc Phương Mai đã xong chưa ?” Trần Danh Tuyên đáp: “Không xong”. Trần Vỹ nói tiếp: “Cô ấy cũng sạch nước cản đấy chứ, sao lại không xong ?” Vui miệng, tôi cũng chêm vào một câu: “Sạch nước cản … thế mà tướng Nguyễn Sơn lới chê là ngực lép kẹp, ăn thua gì !” Cả ba cùng cười, rồi Trần Danh Tuyên hạ giọng nói rất khẽ: “Cô ấy muốn đặt vấn đề đàng hoàng, nhưng mà … Bác và các anh (ý nói Bộ chính trị) cho rằng Bác không lấy vợ thì lợi cho uy tín chính trị hơn”.

Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hòa thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là … việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ thương binh và ở luôn tại Hà Nội.

CÔ XUÂN BỊ GIẾT NHƯ THẾ NÀO ?

Bây giờ xin quay trở lới câu chuyện những cô gái ở Cao Bằng. Theo những điều người ta kể cho tôi trong những năm gần đây và được xác minh qua tài liệu đã xem thì có hai chi tiết hơi khác (các cô họ Nguyễn và cô Xuân chỉ có một con với ông Hồ), ngoài ra, các chi tiết khác về cơ bản đều giống nhau. Sự việc cụ thể như sau: cô Nguyễn Thị Xuân (tên gọi trong gia đình là Sang) và em họ, cô Nguyễn Thị Vàng, 22 tuổi, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cuối năm 1954, đã tình nguyện vào làm công tác hộ lý trong một đơn vị quân nhu. Được mấy tháng thì ủy viên Trung ương đảng, chủ nhiệm Tổng Cục Hậu cần Trần đặng Ninh, gặp cô Xuân nói chuyện vài lần, rồi đầu năm 1955 cho xe đón cô Xuân về Hà Nội, “nói là để phục vụ Bác Hồ”. Mấy tháng sau, cô Xuân cũng xin cho cô Vàng và cô Nguyệt (con gái của ông Hoàng Văn Đệ, cậu ruột của cô Xuân) về Hà Nội ở trên gác nhà 66 Hàng Bông Nhuộm. “Vì các vị lãnh đạo không cho chị Xuân ở cùng với Bác trên nhà Chủ tịch phủ, giao cho ông Trần Quốc Hoàn, bộ trưởng Bộ công an, trực tiếp quản lý chị Xuân, cho nên chị Xuân mới được đem về 66 Hàng Bông Nhuộm, nhà của công an. Cuối năm 1956, chị Xuân sinh được một cậu con trai. Cụ Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung.

“Em có nhiệm vụ bế cháu”, đấy là lời Vàng kể lới cho người chồng chưa cưới của mình trước khi cô bị giết. Và cũng nhờ Vàng đã kể lại, nên chúng ta biết được những sự việc sau đây. Khoảng mồng 6, mồng 7 tháng 2 năm 1957, Trần Quốc Hoàn đến, nói chuyện vu vơ một lúc, rồi giở trò … kéo cô Xuân vào cái buồng xép, định hãm hiếp. Cô Xuân ú ớ la lên. Vàng hoảng sợ tru tréo, còn Nguyệt khiếp sợ quá co rúm lại ngồi ở trong góc. May lúc đó có tiếng cửa sổ nhà dưới xô sầm vào tường, Hoàn sợ, bỏ cô Xuân ra, rút súng lục ra dọa: “Chúng mày im mồm, không ông cho chết hết”. Rồi xuống thang, ra ô tô chuồn. Mấy hôm sau, Hoàn lại đến, lên gác, đi thẳng vào phòng, ôm ghì cô Xuân hôn. Cô Xuân xô nó ra: “Không được hỗn, tôi là vợ ông Chủ tịch nước”. Nó nói: “Tôi biết bà to lắm, nhưng tính mạng bà nằm trong tay tôi” Rồi lấy súng dí vào ngực cô Xuân, nó rút ra sợi dây dù đã thắt sẵn thòng lọng tròng vào cổ cô Xuân kéo cô lên giường, tự tay lột hết quần áo, ngắm nghía, rồi hiếp cô. Cô Xuân xấu hổ lấy tay che mặt. Nó kéo tay cô và nói: “Thanh niên nó phục vụ không khoái hơn ông già, lại còn vờ làm gái”.

Từ đó cô Xuân trở thành thứ đồ chơi trong tay Hoàn. Nó bảo cô Xuân dặn cho hai em phải biết câm cái miệng, nếu bép xép thì mất mạng cả lũ. Mấy chị em lúc bấy giờ rất sợ bị giết, bàn nhau. Vàng đề nghị mấy chị em trốn đi thì cô Xuân nói: “Sau ngày sinh cháu Trung, chị thưa với Bác: bây giờ đã có con trai, xin Bác cho mẹ con ra công khai. Bác nói: cô xin như vậy là hợp tình hợp lý. Nhưng phải được Bộ chính trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được. Do đó cô đành phải chờ một thời gian nữa … Mấy tuần trước, Bác lới hỏi chị: các cô ở đây có nhiều người lạ mặt tới thăm phải không? Chị thưa: ba chị em không có ai quen biết ở Hà Nội, còn bà con ở Cao Bằng thì không có ai biết chị em ở đâu. Bác nói không nhẽ ông bộ trưởng công an nói dối ? Chị suy nghĩ mãi mới thấy rõ, nó muốn vu cáo chị em ta liên hệ với gián điệp hoặc đặc vụ gì đó, để định kế thoát thân nếu việc của nó bị bại lộ. Bây giờ ta trốn cũng không làm sao thoát tay nó, mà nó còn vu cáo giết hại anh chị em chúng ta. Chị bị giết cũng đáng đời, chỉ rất hối hận đã xin hai em về đây để chịu chung số phận với chị.”

Đến ngày 11 tháng 2 năm 1957, vào bảy giờ tối, một chiếc xe com măng ca thường đón cô Xuân lên gặp ông Hồ đỗ trước nhà. Tên Ninh, biệt danh là Ninh Xồm, bảo vệ viên của ông Hồ, vào gặp cô Xuân nói “lên gặp Bác.” Cô Xuân mặc quần áo, xoa nước hoa rồi ra xe. Xe do Tạ Quang Chiến (tên này trong đội bảo vệ ông Hồ, về sau làm tổng cục phó Tổng cục Thể dục thể thao) lái đi. Sáng hôm sau, 12 tháng 2, một nhân viên công an Hà Nội đến báo tin cô Xuân bị chết vì tai nạn ô tô, hiện còn để ở nhà xác bệnh viện Phú Doãn. Vàng vội vã đưa cháu Trung cho Nguyệt bế, lên xe công an vào bệnh viện, nhưng không được vào nhà xác. Chờ độ một tiếng sau thì có người bác sĩ ra đọc biên bản, đại ý: trên thân thể tử thi không có thương tích gì, cũng không phải bị đánh chém gì. Mổ tử thi, trong lục phủ ngũ tạng cũng không có thương tích gì, dạ dày không có thuốc độc, tử cung không có tinh trùng, chứng tỏ không bị hiếp dâm. Duy chỉ có xương đỉnh đầu bị rạn nứt, nước nhờn chảy ra. Bác sĩ nói: đây có thể là nạn nhân bị trùm chăn lên đầu, rồi dùng búa đánh vào giữa đỉnh đầu. Vàng nghe xong chạy về kể lại cho Nguyệt. Hai chị em cùng khóc …

Ít lâu sau, một cán bộ công an đến bế cháu Trung đi, hai chị em không biết đem đi đâu. Sau đó, Vàng được đưa đi học lớp y tá của Khu tự trị Việt Bắc ở Thái Nguyên, còn Nguyệt thì Vàng không biết người ta đưa đi đâu, sống chết ra sao. Học được mấy tháng thì Vàng được chuyển về bệnh viện Cao Bằng và may mắn được gặp người chồng chưa cưới ở đây, kể hết mọi chuyện cho anh nghe. Cô nói với người yêu: “Em nghĩ anh chỉ bị thương nhẹ, anh còn sống được lâu, anh sẽ nói rõ cho toàn dân biết vụ bê bối này. Còn em thì chắc chắn sẽ bị chúng giết, vì em đã nói vụ này cho nhiều chị em bà con biết. Bọn hung thủ còn theo dõi em. Ở Cao Bằng, có hôm em còn thấy thằng Ninh Xồm tới gặp ông bác sĩ bệnh viện trưởng, được ít lâu họ tuyên bố em bị thần kinh, được chuyển về điều trị tới bệnh viện Hòa An.”

Đây là lời người yêu, chồng chưa cưới của cô Vàng: “Tôi chỉ được gặp Vàng có một tháng, đến ngày mồng 2 tháng 11 năm 1957, cô Vàng về thăm ông cậu Hoàng Văn Đệ, hung thủ đi theo, giết chết, rồi quẳng xác xuống sông Bằng Giang, đến ngày mồng 5 tháng 11 mới nổi lên ở Hoàng Bồ. Được tin, tôi chạy về cầu Hoàng Bồ, thì thi hài đã được kiểm nghiệm và chôn cất rồi. Nghe dư luận bàn tán, cô bị đánh vỡ sọ, tiền, đồng hồ vẫn còn nguyên và người nhà đã nhận về chôn cất. Vụ này nhiều người bị giết: cô Xuân vợ Cụ Hồ Chí Minh, cô Vàng vợ chưa cưới của tôi, cô Nguyệt, còn nhiều người ở trường y tá Thái Nguyên, nghe chuyện Vàng đi nói chuyện lại cũng bị giết lây. Mấy chục năm nay, tôi tím gan thắt ruột nghĩ cách trả thù cho em tôi, nhưng sức yếu thế cô, đành ngậm hờn chờ chết …”

Tiện đây, xin phép kể qua một chuyện ngoài lề có ý nghĩa. Hồi Vũ Thư Hiên còn ở Moskva, “người ta” dò biết là anh đang viết hồi ký, và hình như cũng đoán biết là anh có trong tay “những mẩu chuyện” nào đó. Thế là một hôm, “bọn trấn lột” người Việt đến nhà, chờ Hiên vào thang máy thì chúng ùa theo, đâm anh vào mông, giật chùm chìa khóa, rồi xông vào nhà. Chúng không đụng đến tiền bạc gì hết, mà chỉ tìm kiếm tài liệu và lấy các đĩa mềm máy tính, trong đó có phần hồi ký anh đang viết dở dang. Khi chúng đi rồi, Hiên gọi điện ngay cho tôi.

Mấy hôm sau, anh lại báo tin rằng một tên gọi điện cho anh, bảo nếu muốn lấy lại đĩa mềm thì hãy “đến đấy, đến đấy” ở Moskva, mà theo lời anh, chỗ ấy là … ngôi nhà chung cư của cán bộ nhân viên sứ quán Việt Nam tại Nga. Hiên nói để trấn an tôi: “Cũng may là tôi đã dự phòng trường hợp này rồi. Anh yên tâm”. Sau đó không lâu, Hiên đến nhà đưa cho tôi đọc 74 trang hồi ký của anh. Và một thời gian sau nữa, anh lặng lẽ rời khỏi nước Nga, tìm nơi khác an toàn hơn để “đậu” … Tôi kể chuyện này để thấy tính nhạy cảm cao độ của những-người-nào-đó đối với “những mẩu chuyện” không chảy theo luồng lạch của “lãnh đạo” và “người ta” sẵn sàng lao vào những hành động tội ác, điên cuồng, cực kỳ phiêu lưu, chỉ cốt để … bưng bít sự thật.

Nhưng, vì chân lý, lẽ nào chúng ta có quyền chôn vùi, hoặc để cho ai đó được phép chôn vùi sự thật? Trái lại, bằng bất cứ giá nào, phải tìm mọi cách để trả về cho Lịch Sử những sự kiện chân thật, khách quan, không bị tô vẽ, không bị bóp méo, để mọi điều, mọi người đều được đánh giá đúng đắn và công bằng. Công Lý đòi hỏi như thế!

NHỮNG CÂU HỎI VỀ HỒ CHÍ MINH

Còn về cháu bé Nguyễn Tất Trung thì sau khi mẹ chết, nó được gửi cho ông Nguyễn Lương Bằng nuôi, độ 4-5 tuổi thì chuyển cho ông Chu Văn Tấn, đến năm 13 tuổi là năm 1969, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh mất thì giao về cho ông Vũ Kỳ, nguyên thư ký riêng của ông Hồ, làm con nuôi và đổi họ thành Vũ Trung. Tôi xin phép bỏ qua những tình tiết khác và dừng lại ở đây, vì đến đây, cũng đủ để có thể rút ra vài kết luận sơ bộ có liên quan đến đề tài cần nói:

1) Tôi luôn luôn nghĩ rằng không nên “xoi mói” vào đời tư của người khác, kể cả đời tư của các lãnh tụ. Việc các lãnh tụ có vợ, có con là chuyện rất thường tình. Ông Hồ, cũng như bất cứ ông lãnh tụ nào khác, cũng như bất cứ người nào khác, đều có thể có cuộc sống tình dục, cuộc sống gia đình, có thể có vợ, có con, có thể ly dị với vợ, rồi lới lấy vợ khác… Những điều đó không ai nên can thiệp đến. Thậm chí, dù cho ông lãnh tụ nào đó có vợ rồi, lại đi ngoại tình, “cặp bồ” với ai đó, như trường hợp Lenin, hay vợ sờ sờ ra đấy mà vẫn ngang nhiên ngủ với gái, hết cô này đến cô khác, như trường hợp Mao Trạch Đông, hay đi hoang, rồi có con với người khác, như trường hợp Karl Marx, (những ví dụ này tôi không nói vu vơ, các sử gia và các nhà báo đứng đắn trên thế giới đã viết quá đủ, với những bằng chứng không thể chối cãi) thì cũng đáng phê phán đấy, nhưng cũng chẳng sao cả, trời không vì thế mà sập được! Chỉ có cái đầu óc ngu muội, phong kiến của cái đám lãnh đạo cộng sản kênh kiệu, tự coi mình là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại” hay là “đỉnh cao trí tuệ loài người,” mới nghĩ rằng phải tô vẽ cho lãnh tụ thành một ông thánh sống, là một con người siêu phàm, không vợ không con … thì càng thêm uy tín chính trị.

Thế rồi cứ giấu kín cuộc đời riêng tư của các lãnh tụ như là bí mật quốc gia số một, hễ ai động khẽ đến là trừng trị tàn nhẫn. Đấy, cái vụ vừa qua đảng “xử trí kỷ luật” một cách thô bạo đối với Kim Hạnh, tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, chỉ vì báo đó dám nói sơ sơ chuyện ông Hồ có vợ hồi ở Trung Quốc, là một chứng minh cho cái đầu óc ngu dốt, độc đoán, lố bịch của cái đám ấy. Lẽ cố nhiên, cách xử sự của người đàn ông đối với phụ nữ, đối với vợ con phản ánh toàn bộ tư cách, phẩm chất, đạo đức của con người, và điều đáng nói, đáng xem xét đối với các lãnh tụ chính là ở đó.

2) Theo tôi, các cô gái Cao Bằng, cũng như anh chồng chưa cưới của cô Vàng cùng các thương binh bạn chiến đấu của anh đều rất ngây thơ, tưởng là ông Hồ định lấy cô Xuân làm vợ thật, tưởng cô Xuân là vợ của ông Hồ thật. Khách quan mà xét, ông Hồ không muốn có vợ đàng hoàng, ông chỉ muốn giữ cái “uy tín chính trị” hão của “bậc siêu nhân”, ông chỉ muốn được “tiếng” vì dân vì nước đến nỗi suốt đời không mơ tưởng đến chuyện vợ con. Và điều này nói ra chua xót thật, nhưng không thể không nói: cô Xuân chỉ là món đồ chơi trong tay ông mà thôi. Cô Xuân được đưa về Hà Nội là để “phục vụ” ông Hồ, cũng như bao nhiêu cô gái Trung Quốc đã được đưa đến Trung Nam Hải để “phục vụ” ông Mao (Xem hồi ký “Tôi là bác sĩ riêng của Mao” của Lý Chí Tuy). Mồm ông Hồ nói nào là giải phóng phụ nữ, nào là chống tư tưởng phong kiến, tôn trọng phụ nữ, v.v… thế nhưng ông đã hành xử với phụ nữ cực kỳ phong kiến, coi phụ nữ chẳng khác gì món đồ chơi. Nhận xét như thế hoàn toàn không có tính chất vũ đoán, vì thử hỏi:

a. Nếu coi cô Xuân là vợ thật, tới sao ông lại không để cô ở chung tới ngôi nhà riêng của ông ở trong khuôn viên Chủ tịch phủ, mà bắt cô phải ở riêng mãi tận nhà 66 Hàng Bông Nhuộm, (ai biết rõ Hà Nội thì dễ dàng hình dung được khoảng cách) là nhà của công an, lại phải chịu dưới sự quản lý trực tiếp của bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn và chỉ khi nào ông cần “được phục vụ” thì cho xe đón cô lên Chủ tịch phủ mà thôi? Trong những n ăm đó, ông Hồ chưa đến nỗi thất thế tới mức phải để cho Trường Chinh, Lê đức Thọ, Hoàng Quốc Việt có thể can thiệp vào cuộc sống tình cảm của ông như vậy, có thể khống chế ông như vậy. Ông đường đường là lãnh tụ tối cao, là Chủ tịch đảng, cơ mà!

b. Nếu ông coi cô Xuân là vợ thật thì khi cô đẻ con trai rồi, tới sao ông vẫn để hai mẹ con ở riêng tận 66 Hàng Bông Nhuộm và khi mẹ nó chết rồi, ông không đem con về nuôi, mà lại đưa cho người này, người khác nuôi cho đến khi thằng bé lên 13 tuổi, là năm ông qua đời, thì “người ta” (cũng khó biết được là ai, Bộ chính trị hay là theo lời dặn của bố đẻ đứa bé?) lại giao nó cho Vũ Kỳ làm con nuôi? Và xin các bạn chú ý, Vũ Kỳ đã (chắc chắn là anh ta không bao giờ dám tự ý) đổi họ thằng bé thành Vũ Trung, xóa mọi dấu vết tội lỗi của một ông họ Nguyễn Tất! Ở đây, khách quan mà nói, dường như ông Hồ không có chút tình thương yêu nào đối với đứa con đẻ của mình. Một người như vậy làm sao có thể thương yêu trẻ con người khác được ?

3) Theo tôi, thật khó mà bác bỏ ý kiến cho rằng từ đầu đến cuối, ông Hồ cùng đám cận thần của ông, những ủy viên Trung ương, ủy viên Bộ chính trị, đã đánh lừa tệ hại cô Xuân, một cô gái quê ngây thơ ở miền núi, làm cho cô tưởng lầm ông định lấy cô làm vợ thật. Khi có con với ông rồi, cô xin cho hai mẹ con “được ra công khai” (chắc ý nói hợp thức hóa) thì một mặt ông làm ra vẻ thông cảm, thừa nhận yêu cầu đó là hợp tình hợp lý, nhưng mặt khác ông lại chỉ vào các ông trong Bộ chính trị mà nói là các ông kia có quyền quyết định chứ không phải ông, phải chờ ý kiến của các ông kia, làm như ông không phải là “lãnh tụ tối cao”, không phải là Chủ tịch đảng, làm như ông ở dưới quyền mấy ông kia trong Bộ chính trị. Rồi ông còn khuyên nhẹ nhàng: “Cô đành phải chờ một thời gian nữa!” Và thật tội nghiệp cho cô Xuân, cô đã chờ, chờ … đến khi bị giết!

4) Còn có nhiều điều khác mà trong tình hình hiện nay khó có thể tìm ra được lời giải đáp: Tại sao Trần Quốc Hoàn lại có thể có thái độ trắng trợn, đê tiện như thế đối với cô Xuân ? Dù cô không phải là vợ chính thức thì cũng là “bồ” (nói theo lối nói thông thường hiện nay ở Việt Nam) của lãnh tụ, cơ mà! Sao y lại có thể to gan phạm thượng đến như thế ? Hay là y đã thấy rõ tình thế bị “thất sủng” của cô Xuân, tức là cái thái độ không mặn nồng nào đó của ông Hồ đối với cô Xuân, nên mới bạo phổi làm chuyện bậy bạ đến thế ? Hay là y đã biết một quyết định nào đó … về cô Xuân, nên y nghĩ rằng “không xài thì phí của trời”, trước sau rồi cô cũng chết ?

Còn câu hỏi mà ông Hồ đặt ra cho cô Xuân về những người lạ mặt thường đến chỗ các cô phải không, có ý nghĩa gì ? Có đúng là do bộ trưởng công an mớm cho ông hay không ? Việc giết cô Xuân, cô Vàng, cô Nguyệt … là mưu đồ của cá nhân Trần Quốc Hoàn, hay là chủ trương của một tập thể, nếu là của một tập thể thì tập thể nào, và ông Hồ có được biết hay không ? Trách nhiệm của ông Hồ, của Bộ chính trị Trung ương đảng, của Bộ công an, của Trần Quốc Hoàn trong việc này như thế nào ? Khoảng thời gian từ khi cháu Trung được sinh ra (cuối năm 1956) đến ngày Hoàn tới dở trò hãm hiếp mẹ nó (mồng 6 hay mồng 7 tháng 2 năm 1957), cũng như từ ngày đó tới ngày mẹ nó bị giết (11 tháng 2 năm 1957) vì sao lại gần nhau đến thế ? Điều đó có ý nghĩa gì ? Vân vân và vân vân … Hy vọng là rồi đây, các nhà thám tử Maigrets tài giỏi nhất, các chuyên gia về tội phạm có thể góp ý, góp sức, giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề.

Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử đã có ảnh hưởng rất lớn đối với vận mệnh đất nước và nhân dân Việt Nam trong nhiều thập niên của thế kỷ 20. Dù muốn hay không, không ai có thể phủ nhận điều đó. Nhưng, ảnh hưởng đó là tốt hay xấu, hay vừa tốt vừa xấu, tốt nhiều xấu ít, hay ngược lại? Công trạng của ông thế nào, tội lỗi của ông ra sao, chỉ có công không có tội, hay là chỉ có tội không có công, hay vừa công vừa tội? Ông là vị thánh nhân, là bậc siêu nhân, hay là kẻ phàm phu, hay là tên giả dối, bịp bợm? Ông là biểu tượng của đạo đức với trái tim nhân ái, hay là một kẻ vô luân, vô đạo với lòng dạ bất lương?.. Tất cả những câu hỏi đó đòi hỏi một sự nghiên cứu khách quan, cẩn trọng, sâu sắc, tỉ mỉ, toàn diện, và cuối cùng… phải chờ Lịch Sử cân lượng, phán xét, Lịch Sử được đúc kết từ muôn ngàn sự kiện chân thật. Nhận thức sâu sắc điều đó, người viết bài này không mảy may có tham vọng đánh giá cuộc đời của vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ý muốn nhỏ nhoi đã được nói ngay từ đầu, chỉ là để góp thêm vài “mẩu chuyện”, qua đó người đọc có thể thấy thêm được vài nét chân thật trên bức chân dung hoành tráng, đồ sộ của ông mà giới cầm quyền cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đã dày công tô vẽ.

Nhưng, vì chân lý, lẽ nào chúng ta có quyền chôn vùi, hoặc để cho ai đó được phép chôn vùi sự thật ? Trái lại, bằng bất cứ giá nào, phải tìm mọi cách để trả về cho Lịch Sử những sự kiện chân thật, khách quan, không bị tô vẽ, không bị bóp méo, để mọi điều, mọi người đều được đánh giá đúng đắn và công bằng. Công Lý đòi hỏi như thế! 

Ngày 10 Tháng Ba 1997
Nguyễn Minh Cần

(Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội)

Nguồn: http://www.thongluan.org
 www.geocities.ws/xoathantuong

Đêm Giữa Ban Ngày, Vũ Thư Hiên

=====

Chí Thiện đối mặt với Cực Ác 

Bùi Tín

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (Hình: Uyên Nguyên)

Suốt 5 ngày qua, sống trong tâm tưởng với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, sau khi được biết anh vừa vào bệnh viện sau một cơn đau ngực dữ dội. Hôm nay 2/10/2012 tôi được hung tin anh đã từ giã chúng ta, thọ 73 tuổi.

Chúng tôi gặp nhau ở Paris năm 2000 khi anh là khách mời của một tổ chức văn hóa Pháp. Sau đó chúng tôi đến thành phố Strasbourg ở sát biên giới Đức, nơi anh nghỉ ngơi để sáng tác, làm thơ và viết tập truyện Hỏa Lò.

Mới tháng 6 vừa qua gặp anh ở trong khu vực nội trú của Trường đại học Long Beach, phía Nam bang California, tôi thấy anh còn khá khỏe, và anh lạc quan nhắc đến các cô gái kiên trung dấn thân ở trong nước – những Hoàng Thục Vy, Phạm Thanh Nghiên, Bùi Minh Hằng, Đỗ Thị Minh Hạnh…, anh đọc cả từng đoạn văn súc tích của Võ Thị Hảo, rồi anh bình luận việc từ bỏ hàng ngũ đảng CS của anh bạn trẻ Nguyễn Chí Đức.

Tôi nhớ lời anh kể về lý do tại sao anh lại có mối quan hệ không thân thiện, dẫn đến xung khắc với đảng CS vào lúc còn rất trẻ, ở vào tuổi 21, 22. Sau chiến tranh với Pháp, sau Điện Biên Phủ, anh cũng như bao thanh niên khác, «hừng hực niềm tin yêu và hy vọng», như lời một bài hát hồi ấy. Nhưng rồi trục trặc xảy ra. Anh mê nghề dạy học, chăm đến thư viện, đọc sách báo rất nhiều, 19 tuổi đã khá thông tiếng Pháp, đọc và nhớ thơ của Victor Hugo, luận văn của Voltaire, nhớ truyện «Những kẻ cùng khổ», «Ba chàng ngự lâm pháo thủ». Khi một giáo viên trường trung học bị ốm, hiệu trưởng biết anh liền nhờ anh dạy thế một tiết lịch sử, nói về kết thúc cuộc Thế chiến lần thứ hai. Anh chuẩn bị kỹ, giải thích cho học sinh biết rằng phát xít Nhật bị bắt buộc phải đầu hàng vào tháng 8-1945 là do 2 quả bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Nagasaki và Hiroshima.

Thế là có phụ huynh học sinh cùng một giáo viên ganh tỵ với anh tố cáo với công an quận rằng anh cố tình truyền bá tư tưởng đế quốc, không theo giáo án, nói trái quan điểm của đảng, không giải thích rằng phát xít Nhật thua là do công ơn của Nguyên soái Stalin đã chỉ huy Hồng quân tiêu diệt đạo quân Quan Đông ở Mãn Châu.

Nguyễn Chí Thiện đã 3 lần vào tù. Từ tạm giam, rồi hỏa lò, rồi biệt giam, không xét xử, chân mang gông cùm, xích sắt, sống với muỗi, rệp, gián, chuột, với những trận ho thổ huyết lênh láng, nhưng suốt 27 năm dài, anh vẫn đứng vững chãi trên niềm tin của mình.

Tù đày đã không thể nào tận diệt bản chất Chí Thiện ở nơi anh, không tài nào đánh gục được sức sống quật khởi bất tận ở nơi anh, đó là sức sáng tạo nên hàng trăm bài thơ với tứ thơ, ý thơ bất diệt, độc đáo. Anh coi thơ là nguồn sống, là vũ khí tiến công, vạch mặt cường quyền, chỉ mặt cực ác phi nhân, loài dã thú giữa loài người văn minh.

Ngay trong đợt tù đầu tiên từ 1962 đến 1964 nhà thơ Chí Thiện trẻ đã làm nên nhiều bài thơ cảm khái, tuy không có bút mực, không máy ghi âm, không máy vi tính, mà chỉ ghi trong ký ức. Làm bài nào nhớ bài nấy. Làm bài sau vẫn nhớ những bài trước.

Xin nhớ lúc ấy Bắc Việt là nhà tù lớn, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Gặp người ngoại quốc, dù là người Nga, Trung Quốc, hay Pháp, mà đến gần, nói chuyện, hỏi chuyện làm quen không xin phép đảng, không xin phép chính quyền, không có công an tham dự là tội lớn, là phạm pháp. Thư từ Bắc Nam, thư từ gửi đi thế giới hay từ thế giới gửi vào bị kiểm soát, kiểm duyệt kỹ, nói chung là cấm kỵ, thông tin bị bủa vây chặt. Vì thế Chí Thiện đã vỡ óc hàng mấy tháng để tìm cách gửi tập thơ của anh ra khỏi nước, để nó đến được với loài người ở ngoài nước ta, như một tiếng vang từ địa ngục trần gian.

Thế là anh liều. Tháng 7/1979, anh mang tập thơ Hoa Địa Ngục – với mấy dòng chữ Pháp ở trang đầu: «Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm của cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Đó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm» – đến trước sứ quán Anh ở Hà Nội, chạy vụt vào đưa cho một người Anh rồi chạy trở ra. Anh bị bắt ngay và bị tống vào Hỏa Lò, bị gông cùm, tra khảo, nhưng tinh thần hứng khởi, hy vọng tập thơ của anh làm trong 13 năm tù sẽ mọc cánh bay xa, làm cho những bài thơ gầm thét nỗi oan trái sẽ đến với loài người.

Ở Chí Thiện còn có một tâm hồn trong sáng cao thượng ít người biết. Khi anh được sang Hoa Kỳ năm 1995, có một chị ở Paris, Pháp, mến mộ, động lòng thương anh, tự nguyện tỏ ý mong muốn chung sống với anh trong cuộc đời lưu vong còn lại, để dựa vào nhau trong hơi ấm gia đình. Chị lái xe ra phi trường de Gaulle đón anh về nhà. Nhưng anh không dám nhận mối tình cao quý ấy. Anh tâm sự: «Mình không khỏe, đêm thường mất ngủ, lại đủ thứ bệnh, tim, gan, thận đều có vấn đề, già yếu rồi, sống chung sẽ làm phiền, làm vất vả cho người khác, mình không đang tâm». Lúc ấy anh đã hơn 60 tuổi. Anh muốn giành toàn bộ sinh lực cho cuộc đấu tranh. Và thế là anh chấp nhận một cuộc sống đơn độc, đạm bạc, nhưng lại càng có nhiều bạn hơn, nam giới và phụ nữ, lớn tuổi cũng như bạn trẻ, chăm nom, an ủi, mang cho anh thức ăn, thuốc bổ, hoa quả, đưa anh đi họp, đi mua sắm cần thiết…

Chí Thiện có một mối thù cực sâu đối với ông Hồ. Thoạt đầu tôi nghĩ là vì anh bị đại nạn khi ông Hồ đang đầy quyền lực ở vị trí tối cao, đứng đầu nhà nước, đứng đầu đảng. Anh hiểu rõ ông Hồ là nguồn gốc chính của đại họa dân tộc, là kẻ du nhập hăng hái nhất, mù quáng nhất học thuyết Mác – Lê tai quái. Anh thường nói “các nước gần ta như Thái Lan, Indonesia, Philippines, Malaysia, Ấn Độ… hạnh phúc, tiến bộ do không có ai như ông Hồ, dốt nát, lẩm cẩm, vơ quàng vơ xiên, du nhập cái của nợ bất nhân rồi bắt nhân dân ta phải vái lạy nó”. Anh nói rõ không có thù riêng gì với ông Hồ, nhưng anh nói ông Hồ thực tế là đao phủ số 1, là tội phạm số 1, chịu trách nhiệm về cái chết thê thảm của hàng triệu con người, chịu trách nhiệm về nỗi đau khổ cùng cực của hàng chục triệu đồng bào. Anh cho rằng ông Hồ mắc nợ thù sâu oán nặng đối với mỗi gia đình Việt Nam, ở ngoài Bắc cũng như ở trong Nam, trong nước cũng như ngoài nước, không thể nào chối cãi phủ nhận. Và nay cái tệ sùng bái ông Hồ đã thành của nợ đèo bồng, phải giải thoát mới có lối ra.

Mới tháng 6/2012, anh thổ lộ với tôi nỗi đau của anh, khi xem truyền hình, lớp lớp nhân dân vẫn còn lũ lượt viếng lăng Hồ Chí Minh, có cả người Việt thuyền nhân trở về, «viếng đao phủ của chính dân tộc mình, gia đình mình». Có gì chua cay hơn. Anh nhắc đến cái lăng ông Dimitrov ở Sofia, Bulgaria, đã bị phá năm 1991, xác ông này được đem về chôn ở quê quán, nay thành nơi mặc niệm các nạn nhân của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa CS. Anh tin ở Việt Nam rồi cũng như vậy.

Anh nhắc đến một kỷ niệm riêng cách đây 5 năm khi dự lễ khai mạc trọng thể tượng đài kỷ niệm hơn 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa CS toàn thế giới, đặt gần trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ ở Washington D.C. Anh đã trả lời phỏng vấn tại chỗ của báo Mỹ, nhân danh đại diện cho hàng triệu sinh mạng người Việt bị CS giết hại trực tiếp và gián tiếp, trong đó có hàng chục vạn đồng bào thuyền nhân chết bi thảm trong lòng đại dương do phải bỏ chạy địa ngục trần gian của ông Hồ.

Hôm nay nhớ thương, quý mến Chí Thiện, tôi nghĩ không gì bằng ghi lại lại lời nhắn nhủ tha thiết của nhà thơ ngục tù Chí Thiện, gửi đến các nhà văn, nhà thơ, các chiến sỹ dân chủ, các blogger tự do, đặc biệt các bạn trẻ Đỗ thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Huỳnh Thục Vy, Bùi Minh Hằng, Khanh Bích, Võ Thị Hảo…, những tâm hồn trẻ đang dấn thân cho một Việt Nam Tự do luôn đứng thẳng mà nhà thơ Chí Thiện đã tin yêu nhắc đến tên trước khi từ biệt chúng ta:

Thế lực đỏ, phải đồng tâm đập nát
Để nó hoành hành, họa lớn sẽ lan nhanh
Nhưng không thể dùng bom A bom H
Phá nát địa cầu vì một lũ gian manh
Nên phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết
Những tội tày đình được bưng bít tinh vi
Nếu nhân loại mọi người đều biết
Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi

Anh Chí Thiện quý yêu, bài viết này coi như thẻ hương và bông hoa tinh thần tiễn anh đi vào cõi Vĩnh hằng.

Bùi Tín

=====

*Hoa Địa Ngục “ … Tháng 7/1979, anh mang tập thơ – với mấy dòng chữ Pháp ở trang đầu: «Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm của cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Đó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm» – đến trước sứ quán Anh ở Hà Nội, chạy vụt vào đưa cho một người Anh rồi chạy trở ra. Anh bị bắt ngay và bị tống vào Hỏa Lò, bị gông cùm, tra khảo, nhưng tinh thần hứng khởi, hy vọng tập thơ của anh làm trong 13 năm tù sẽ mọc cánh bay xa, làm cho những bài thơ gầm thét nỗi oan trái sẽ đến với loài người.” (Bùi Tín)

===

=====


Diễn Đàn Thế Kỷ

========

Lê Mỹ Hạnh

18-5-2021

Mai là 19/5. Loa khắp thôn xóm đã rao mừng SN của “Người”. Còn sau đây là những sự thật được ghi lại về ngày sinh của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh

– Đơn xin học Trường hành chính thuộc địa năm 1911, ông ghi sinh năm 1892. (Nếu được nhận thì thường học xong về làm quan cai trị, nhưng rất tiếc không được nhận do một hành vi sai phạm của ông Bố). Các bạn có thể xem đơn bằng tiếng Pháp ở hình dưới đây.

– Khai tại cảnh sát quận tại Paris, ông ghi sinh ngày 18-1-1894.

– Trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15-2-1895.

– Mật thám Pháp điều tra tại làng Kim Liên, Nghệ An ghi là sinh tháng 4 năm 1894.

– Khai trong tờ khai sứ quán Liên Xô tại Berlin tháng 6 năm 1923, ngày sinh là 15 -2-1895.

– Hộ chiếu do Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28-4-1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.

– Ngày 19-5-1946 là ngày Toàn Quyền D’Argenlieu đến thăm viếng Hà Nội sau thỏa hiệp ước 06/03 Hồ Chí Minh ký với Pháp. Tiếp rước vị quan lớn (khi đó là đô đốc) mà không có cờ quạt chào mừng thì không phải phép nên Hồ Chí Minh bèn loan báo hôm nay là ngày sinh của mình và lệnh nhân dân Hà Nội treo cờ mừng sinh nhật mình. Và từ đó, ngày sinh 19-5-1890 đã được ghi nhận rộng rãi.

Hôm nay Nhân dân khắp nước có thể nghe một câu chuyện khác trên hệ thống truyền thông còn ai đọc được tiếng Pháp sẽ nhìn thấy được chính xác là ông ghi sinh ngày nào trong Carte D’identite sau đây sẽ biết.

Nguồn: fb Luật sư Lê Quốc Quân

18/05/2021


————

=======

Advertisement

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: