Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Hai 2021
    C H B T N S B
     123456
    78910111213
    14151617181920
    21222324252627
    28  
  • Bài viết mới

►Yamani, Bộ trưởng Dầu mỏ Ả Rập Xê Út, người đã khiến phương Tây phải quỳ gối đã qua đời (23-2-2021)

Posted by hoangtran204 trên 23/02/2021


Yamani, Bộ trưởng Dầu mỏ Ả Rập Xê Út, người đã khiến phương Tây phải quỳ gối

Bởi Rania El Gamal

FILE PHOTO: Then Saudi Arabian oil minister Sheikh Zaki Yamani speaks during a news conference in Islamabad, Pakistan, in this still image taken from a video dated January 4, 1982. Reuters TV/via REUTERS

Dubai (Reuters) – Sheikh Zaki Yamani của Ả Rập Saudi, hiện thân của sức mạnh dầu mỏ Ả Rập và khuôn mặt của vụ cấm vận dầu năm 1973 đã từng làm cho các nước phương tây phải quỳ gối, đã chết.

Yamani là nhân chứng cho vụ sát hại nhà vua Ả Rập Xê Út năm 1975, người đã đưa ông ta, một người không được ai biết đến, không thuộc hoàng tộc, để trở thành bộ trưởng dầu mỏ. Cuối cùng năm đó, Yamani bị Ilyich Ramirez Sanchez, được gọi là Carlos the Jackal, bắt cóc tại một cuộc họp OPEC. Yamani, 91 tuổi, đã chết ở London, truyền thông nhà nước Ả Rập Xê Út đưa tin hôm thứ Ba.

Được biết đến với phong thái lịch lãm và bộ râu dê đặc trưng, ​​nhiệm kỳ 24 năm điều hành các vấn đề dầu mỏ của nhà sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới của Yamani đã khiến ông trở thành người nổi tiếng toàn cầu trong thời kỳ lạm phát “sốc dầu” vào những năm 1970.

Điều đó kết thúc bằng việc ông đột ngột bị sa thải vào năm 1986 sau một nỗ lực tốn kém để nâng giá dầu thô, một chiến lược thất bại đã phủ bóng đen lên chính sách dầu mỏ của Ả Rập Xê Út cho đến ngày nay.

Vào tháng 12 năm 1975, Yamani tham dự cuộc họp của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tại Vienna, cuộc họp kết thúc trong một trận mưa đạn bắn lên trần nhà từ sát thủ người Venezuela Carlos và 5 đồng đội. Ba người ngoài cuộc đã thiệt mạng.

Carlos, cổ vỏ chính nghĩa của người Palestine, đã nhắm mục tiêu vào Yamani và coi ông ta như là con tin có giá trị nhất, nói với ông ta nhiều lần rằng ông ta sẽ bị kết án tử hình. Các bộ trưởng bị giam hai ngày trong một căn phòng có chất nổ trước khi những kẻ bắt giữ được đưa lên máy bay rời Áo cùng các con tin.

Thêm 43 giờ vất vả trên máy bay, bay từ Algeria đến Libya và ngược lại, đã tạo ra một sự thân thiết giữa kẻ bị bắt giữ và con tin.

Yamani nói với người viết tiểu sử Jeffrey Robinson: “Thật kỳ lạ, nhưng khi chúng tôi ngồi lại với nhau và nói chuyện, chúng tôi gần như đã trở thành bạn bè. “Anh ấy đã nói với tôi rất nhiều, biết rằng tôi sẽ chết.”

Một thỏa thuận đã được ký kết ở Algiers và Carlos biến mất, thoát khỏi sự bắt giữ cho đến năm 1994.

Nhiều tháng trước đó, Yamani đang ở bên cạnh Vua Faisal của Ả Rập Saudi ở Riyadh, đang tiếp một phái đoàn đến thăm thì một hoàng tử Ả Rập Saudi đã bất mãn rút súng lục và bắn chết nhà vua.
Vào thời điểm đó, sự nghiệp của Yamani rất đáng chú ý với tư cách là một thường dân trong một xã hội do hoàng gia thống trị.

Sinh ngày 30 tháng 6 năm 1930, là con trai của một học giả Hồi giáo và một thẩm phán ở Mecca, Yamani được cho là sẽ nối nghiệp cha và ông nội của mình.

Sau khi học luật ở Cairo, ông chuyển đến Đại học New York và Harvard. Trở về Ả Rập Xê Út, ông thành lập một công ty luật và đảm nhận công việc của chính phủ, thu hút sự chú ý của Quốc vương tương lai Faisal. Ông trở thành bộ trưởng dầu mỏ vào năm 1962.

Yamani trở thành nhân vật hàng đầu trong sự phát triển của OPEC, được thành lập vào năm 1960. Ông đã giải thoát ngành công nghiệp dầu mỏ của Ả Rập Xê Út khỏi sự kìm kẹp của các công ty Mỹ trong một loạt các bước để tạo ra thỏa thuận về quyền sở hữu quốc gia đối với Saudi Aramco vào năm 1976. Aramco vẫn là một trong những công ty giàu có nhất thế giới tính theo tài sản.

Trong những năm đầu của Yamani trên cương vị bộ trưởng dầu mỏ, chủ nghĩa dân tộc Ả Rập đang gia tăng và sức mạnh dầu mỏ là trọng tâm của nó.

Vào thời điểm diễn ra Chiến tranh Sáu ngày Ả Rập-Israel năm 1967, Riyadh đã sẵn sàng phát huy sức mạnh kinh tế của mình. Yamani đã công bố lệnh cấm vận cung cấp đối với các nước thân thiện với Israel. Nhưng lệnh cấm vận không cắn rứt. Tồn kho cao ở phương Tây và nguồn cung thêm từ Venezuela và Iran trước cách mạng đã lấp đầy khoảng trống.

Năm 1973, cuộc xung đột Ả Rập-Israel lần thứ tư đã khiến Yamani kích hoạt một lệnh cấm vận dầu mỏ khác. Lần này nó đã phát huy tác dụng – giá dầu thô tăng gấp 4 lần đã đánh dấu mức cao nhất của quyền lực OPEC và đẩy các nền kinh tế phương Tây vào tình trạng suy thoái khi lạm phát tăng vọt trong cái gọi là cú sốc dầu đầu tiên.

MÁY LÀM DẦU
Yamani đã tóm tắt lại khoảnh khắc đó khi các nhà sản xuất dầu phụ trách. “Thời điểm đã đến,” anh nói. “Chúng tôi là bậc thầy về hàng hóa của chính mình.”

Khi chiến tranh dầu mỏ kết thúc và lệnh cấm vận, Riyadh tìm được chỗ ở với Hoa Kỳ.

Yamani bây giờ là một người có giá vừa phải, tán thành quan điểm rằng giá cao cuối cùng sẽ phá hủy nhu cầu và khuyến khích sản xuất từ ​​việc thăm dò mới ở những nơi như Biển Bắc.

Khi cuộc cách mạng Iran năm 1979 gây ra cú sốc dầu thứ hai ở phương Tây, hầu hết các nước trong OPEC đều tăng giá dầu. Riyadh, hiện gần với Washington, đã ban hành “Sắc lệnh Yamani”, giữ giá của Ả Rập Xê Út ở mức chính thức để giảm bớt nỗi đau cho các nhà nhập khẩu.

Việc kiểm duyệt giá mới được tìm thấy của Yamani đã khiến anh ta phải trả giá. Nguồn cung dư thừa do suy thoái kinh tế đầu những năm 1980 ở phương Tây làm suy giảm nhu cầu nhiên liệu.

Người kế vị của Faisal, Vua Fahd, đã kêu gọi Yamani vừa bảo vệ thị phần của Ả Rập Xê Út vừa tăng giá. Thay vào đó, ông cắt giảm sản lượng khai thác của Ả Rập Xê Út xuống mức thấp nhất trong 20 năm, chỉ 2 triệu thùng / ngày trong nỗ lực nâng giá. (Trong nhiều thập niên qua, mức sản xuất dầu của Ả Rập Xê Út 11,2 triệu thùng dầu/1 ngày, đứng đầu thế giới) .Các thành viên OPEC không có kỷ luật về sản xuất và Yamani đã bị chỉ trích tại quê nhà khi những nước khác gia tăng thị phần của họ với sự giảm thị phần dầu của Riyadh. Khi dư thừa dầu tăng cao, giá dầu thô giảm xuống dưới 10 USD / thùng.*

Không vâng lời Fahd và thất bại, Yamani đã phải trả giá. Vào tháng 10 năm 1986, ông được biết về việc bị sa thải từ một thông báo công khai trên truyền hình Ả Rập Xê Út, dường như được thiết kế để làm ông xấu hổ.

Yamani lui về cuộc sống riêng tư của mình và trở thành người phụ trách công việc tư vấn, Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Toàn cầu.

Khi ra mắt tại London vào năm 1989, với dầu thô vẫn chỉ trị giá 20 đô la / thùng, ông dự đoán giá cuối cùng sẽ phá vỡ 100 đô la/1 thùng, như đã xảy ra trong năm 2000.

Reuters đã phỏng vấn Yamani vào tháng 9 năm 2000 để đánh dấu kỷ niệm 40 năm thành lập OPEC. Dầu đá phiến (shale oil) ít được biết đến vào thời điểm đó và năng lượng tái tạo (solar energy, wind energy) đang ở giai đoạn sơ khai, nhưng Yamani dự đoán rằng công nghệ sẽ gây tổn hại cho các nhà sản xuất dầu.

Ông nói: “Công nghệ là kẻ thù thực sự của OPEC. “Công nghệ sẽ giảm tiêu thụ dầu và tăng sản lượng từ các khu vực bên ngoài OPEC. Nạn nhân thực sự sẽ là Ả Rập Xê Út, với nguồn dự trữ khổng lồ mà họ không thể làm gì được.”
“Thời kỳ đồ đá đã không kết thúc vì thế giới hết đá, và thời đại dầu mỏ sẽ kết thúc rất lâu trước khi thế giới hết dầu.”

=====

Trần Hoàng

*Có thể nói sự sụp đổ của chế độ cộng sản Đông Âu là do giá dầu rớt xuống chỉ còn $10-20/1 thùng suốt 6 năm liền đã làm cho Liên Xô rơi vào túng quẫn, không có tiền nhập khẩu thực phẩm, thuốc men, dụng cụ y tế của các nước phương Tây.

Dầu tiếp tục giữ giá thấp $10-20/1 thùng từ 1985-1989, đã khiến Liên Xô rơi vào cảnh túng quẫn. Liên Xô đã không còn viện trợ bao cấp cho 16 nước cộng sản Đông Âu và cộng sản Việt Nam năm 1986. Năm 1989, dưới sự lãnh đạo của Công đoàn Đoàn Kết, công nhân Ba Lan đã nổi dậy đập tan tành chính quyền của đảng cộng sản Ba Lan. Tiếp đó, Bức tường Berlin đã bị dân chúng Đức phá sụp, hai nước Đức thống nhất 1990. Và sau cùng Liên Xô bị sụp đổ 25-12-1991.

*******

VNCH 10 Ngày Cuối Cùng

(Trần Đông Phong):

Bối cảnh trước tháng 4-1975 (P7)

TỪ WASHINGTON – QUỐC VƯƠNG FAISAL Muốn Viện Trợ Cho Việt Nam Cộng HòaVào cuối tháng 3 năm 1975, sau khi những Tỉnh thuộc Vùng I và II lần lượt bị cộng sản Bắc Việt thôn tính, trong khi tình hình ngày càng trở nên nguy kịch và đầy tuyệt vọng thì theo Đại Tướng Cao Văn Viên “với tất cả biến động nguy ngập xảy ra, Miền Nam vẫn còn trông đợi, hy vọng một phép nhiệm mầu nào đó sẽ xảy ra để có thể cứu vãn được tình hình”Người Miền Nam và nhất là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó dường như ai nấy cũng đều đặt hết hy vọng vào một phép lạ nào đó, vào một sự thay đổi chính sách nào đó hay vào những sự hứa hẹn hoặc cam kết nào đó từ phía Hoa Kỳ từ phía Hoa Thịnh Đốn.

Trước việc Việt Nam Cộng Hòa bị mất 4 Tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku và Kontum rồi ngay đến Vùng I Chiến Thuật và những Tỉnh ở miền Trung sau đó, Hoa Kỳ không hề có một sự phản đối nào. Ngoại Trưởng Kissinger đang bù đầu về vấn đề Trung Đông, Tổng Thống Gerald Ford họp với Bộ Tham Mưu của ông để nghiên cứu xem Tổng Thống Hoa Kỳ có thể làm được những điều gì có thể giúp cho Việt Nam Cộng Hòa mà không vi phạm Đạo Luật War Powers Act. Tòa Bạch Ốc được Bộ Tham Mưu này phúc trình cho biết rằng Hoa Kỳ không thể làm được bất cứ điều gì để can thiệp tại Việt Nam, không thể dùng phi cơ của Không Lực để can thiệp nhằm yểm trợ và cứu một số Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên, trong Đạo Luật War Powers Act lại có những “khe hở” (loopholes) và nhờ đó mà chính phủ Hoa Kỳ có thể được phép thuê mướn một số thương thuyền và phi cơ dân sự để di chuyển Quân Đội và chiến cụ cho Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi những vùng nguy hiểm cũng như là cứu người tỵ nạn ở ngoài hải phận quốc tế mà thôi.

Đối với tình hình Việt Nam vào tháng 3 năm 1975, không phải là Washington không biết gì về tình hình đang nguy ngập, một số tài liệu được giải mật sau này cho thấy ngược lại là đằng khác.

Những Diễn Tiến Tồi Tệ Ở Việt Nam

Hai ngày sau khi cộng sản Bắc Việt mở cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột, vào ngày 12 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Kissinger đã nhận được một bản phúc trình đặc biệt về Việt Nam do Hội Đồng An Ninh Quốc Gia soạn thảo. Bản phúc trình này mang số 1509 của National Security Council với đề mục “Ominous Developments in Vietnam” (Những Diễn Tiến Tồi Tệ Ở Việt Nam) do ông William L. Stearman ký tên đã phúc trình với Ngoại Trưởng Kissinger một số điểm như sau:“Một số diễn tiến quân sự và chính trị quan trọng ở Việt Nam gần đây đã cho thấy một điềm rất xấu về chiến lựơc và ý đồ của Bắc Việt trong những tháng sắp tới. Những gia tăng về các hoạt động quân sự của Bắc Việt từ ngày 10 tháng 3 năm 1975 đã chứng tỏ rằng quan điểm nầy là đúng.

Những diễn tiến mới này là:

– Vào tháng 12 năm 1974 Đại hội khoáng đại Kỳ Thứ 23 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam đã thông qua một bản nghị quyết mang tên là Nghị Quyết số 23. Nghị quyết này có thể là quyết định về một chính sách mới đối với Miền Nam.

– Vào cuối tháng hai và đầu tháng 3 năm 1975, có nhiều phái đoàn cao cấp của Liên Xô và Trung Cộng đã lần lượt đến viếng thăm Hà Nội. Thứ Trưởng Ngoại Giao Liên Xô là Nicolay Firyubin là người cầm đầu phái đoàn Xô Viết. Sự hiện diện của phái đoàn Trung Cộng cùng với phái đoàn Fiyubin tại Hà Nội có thể là hậu quả của một sự thay đổi về chính sách rất quan trọng của Bắc Việt đối với cuộc chiến tranh tại Miền Nam Việt Nam.Các nguồn tin tình báo viễn thông (communications in telligence) cho biết kể từ ngày 10 tháng 3 năm 1975, dường như Bắc Việt đã cho phối trí một phần lớn lực lượng mà danh tính cũng như là câp số của đơn vị này chúng ta chưa được biết. Đó là chưa kể đến sự xâm nhập của sư đoàn 341 của Bắc Việt từ Quảng Bình ở Bắc Việt tiến qua vùng Phi Quân Sự vào Tỉnh Quảng Trị và Sư Đoàn 968 từ Lào vào vùng Cao Nguyên Trung Phần.

Những đơn vị tiền phương của Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN) đã gia tăng các liên lạc vô tuyến và ít nhất là đã liên lạc thường xuyên với 3 sư đoàn cùng một số đơn vị biệt lập trong vùng Tây Ninh-Mỏ Vẹt. Bộ Tư Lệnh Tiền Phương này có lẽ sẽ trở thành một Bộ Tham Mưu cao cấp trong việc chỉ huy và phối hợp các tấn công trong Vùng III Chiến Thuật của Việt Nam Cộng Hòa. Sự hiện diện của những dợn vị nói trên là bằng chứng hiển nhiên về dự định tấn công với lực lượng gồm nhiều trung đoàn của cộng sản trong vùng này.

– Mức độ xâm nhập của Bắc Việt trong mùa khô năm nay đã gia tăng gấp đôi so với mức xâm nhập nầy trong mùa khô 1973-1974. Nếu mức xâm nhập nầy được tiếp tục với mức độ như hiện nay thì sự xâm nhập vào năm nay sẽ tương đương với mức độ cao nhất hồi năm 1968. (Năm 1975: 125.900 người, năm 1968: 130.300 người).

– Một chương trình tổng động viên đang được thực hiện tại Bắc Việt và chương trình huấn luyện tân binh được rút ngắn từ 4 đến 6 tháng chỉ còn lại khoảng 1 tháng mà thôi. Chương trình huấn luyện rút ngắn này đã giúp cho quân đội Bắc Việt có thể động viên, huấn luyện và gửi vào Miền Nam chỉ trong vòng 1 tháng. Các tân binh được huấn luyện vào tháng Hai thì đến tháng Ba đã lên đường xâm nhập vào Nam Việt Nam.

– Quân đội cộng sản Bắc Việt tiếp tục chuyên chở một số lượng vô cùng lớn lao về vũ khí và đạn dược vào vùng cán chảo Bắc Việt (Vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) trong số đó có rất nhiều đại bác 130 ly. Những vũ khí này sẽ được gửi đi đâu thì chưa được biết nhưng mà gần như chắc chắn rằng những vũ khí đó đang trên đường được đưa vào Miền Nam.

– Các chiến đấu cơ phản lực MIG đã được di chuyển trở lại về vùng phía Nam của Bắc Việt. Các loại chiến đấu cơ phản lực MIG-17 hiện đang được bố trí tại Phi Trường Đồng Hới và các loại MIG-21 tối tân hơn thì được bổ trí tại Vinh. Các lực lượng phi cơ MIG nầy về bản chất thì chỉ được sử dụng với mục đích tự vệ, tuy nhiên loại MIG-17 thì có thể được dùng để tấn công các lực lượng bộ binh trong khi loại MIG-21 thì có thể được dùng để bảo vệ trên không.

– Các binh sĩ của cộng sản Bắc Việt đã được học tập một cách rất tích cực mà trọng tâm của sự học tập nầy là nhắm vào mục tiêu chuẩn bị tinh thần cho việc chiến đấu trong năm 1975 sẽ vô cùng nguy hiểm. Những khẩu hiệu mà đảng cộng sản đang sử dụng để động viên tinh thần binh sĩ là:

– Tái diễn 1968.

– Tấn công như năm 1972.

– Đạt cho đựợc thắng lợi như là Điện Biên PhủTóm lại, nếu tổng kết tất cả những diễn tiến nói trên thì đó là những dấu hiệu cho thấy cuộc tổng tấn công vào mùa Xuân năm 1975 của cộng sản Bắc việt là cực kỳ nghiêm trọng và có lẽ nhắm vào mục đích làm thay đổi hoàn toàn cán cân lực lượng tại Miền Nam Việt Nam. Nhiều nhà phân tích tình báo cho rằng cuộc tổng tấn công này là những bước mở màn cho những sự thương thuyết nhằm thực thi Hiệp Định Paris theo những điều kiện mà cộng sản Bắc Việt đưa ra.

Có lẽ chiến lược của cộng sản Bắc Việt là chiếm được nhiều lãnh thổ trong cuộc tổng tấn công mùa Xuân và mùa Hè năm 1975 rồi sẽ đề nghị một cuộc ngưng bắn trước khi mà Việt Nam Cộng Hòa có đủ thì giờ để tái phối trí những lực lượng đã mất. Lúc đó thì sẽ có những áp lực rất mạnh từ phía Quốc Hội Hoa Kỳ đòi phải chấp nhận những điều kiện của Bắc Việt đưa ra tại vì phía Quốc Hội sẽ xem như đó là một cơ hội nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh và giảm thiểu viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Gần như chắc chắn rằng Miền Nam Việt Nam sẽ không sẵn sàng chấp nhận những đề nghị của Bắc Việt, tuy nhiên Hà Nội sẽ làm áp lực với chúng ta qua Quốc Hội Hoa Kỳ để nhằm ép buộc Tổng Thống Thiệu phải nhượng bộ.

Do đó, rất có thể chúng ta sẽ phải đương đầu với một tình thế mà có rất nhiều áp lực nặng nề đối với ngành Hành Pháp để buộc Tổng Thống Gerald Ford phải chấp nhận những đề nghị của Hà Nội. Có lẽ những đề nghị này sẽ nhắm vào việc thành lập một Hội Đồng Hòa Giải Hòa Hợp Dân Tộc với nhiều quyền hạn như là một chính phủ và sẽ cho phép cộng sản được hoàn toàn can thiệp vào số dân chúng đang sống trong vùng do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa kiểm soát. [National Security Council: Ominous Developments in Vietnam, March 12.1975. Hồ Sơ Tối Mật được giải mật ngày 6 tháng 1 năm 2000. Hồ sơ này đang được lưu trữ tại Thư Viện Tổng Thống Gerald Ford, Folder-7501-509.]

Như vậy thì từ tháng 3 năm 1975, trước khi cộng sản Bắc Việt khởi động các cuộc tổng tấn công tại miền Cao Nguyên và vùng Bắc Trung Phần, chính phủ của Tổng Thống Ford đã biết rằng tình hình Việt Nam đã trở thành vô vọng vì Hành Pháp Hoa Kỳ đã bị bó tay bởi Đạo Luật War Powers Act và Quốc Hội thì đã dứt khoát không cứu xét đề nghị viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa nữa. Tuy nhiên lúc đó lại có một tia sáng hy vọng mong manh đối với vấn đề trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam phát xuất từ vùng sa mạc Trung Đông.

QUỐC VƯƠNG FAISAL Muốn Viện Trợ Cho Việt Nam Cộng Hòa

Theo Frank Snepp thì trong những cuộc thương thuyết con thoi giữa các nước Trung Đông nhằm giải quyết hòa bình giữa các nước Ả Rập và Do Thái, vào ngày 19 tháng 3 năm 1975, Ngoại Trưởng Henry Kissinger ghé thăm nước Ả Rập Saudi (Saudi Arabia,) quốc gia sản xuất dầu hỏa hàng đầu của thế giới. Ngày 23 tháng 3 trước khi rời Riyad, Thủ Đô Saudi Arabia, Ngoại Trưởng Kissinger vô cùng ngạc nhiên khi Quốc Vương Faisal, vốn là một người rất mến phục và ủng hộ Tiến Sĩ Kissinger, đã nói riêng với ông là Quốc Vương muốn dành cho Ngoại Trưởng Hoa Kỳ một ân huệ cá nhân.

Quốc Vương Faisal nói rằng ông rất kính phục lòng can đảm của nhân dân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do cho chính họ. Vua Faisal nói rằng vì cảm tình đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam và một phần cũng vì cảm tình với Ngoại Trưởng Kissinger, nhà vua và chính phủ Ả-Rập Saudi sẵn sàng bảo đảm cho việc viện trợ cho vay một số tài khoản “vĩ đại” (a huge grant-in-aid) cho chính phủ Saigon nhằm bù đắp cho việc viện trợ của Hoa Kỳ bị cắt giảm. Ngoại Trưởng Kissinger ngạc nhiên và vui mừng cho đến độ sững sờ vì đây là một “phép lạ trên sân khấu” (deus ex machina) mà ông hằng mong đợi sẽ xảy ra để giúp cho ông ta thực hiện được chiến lược về ngoại giao của ông tại Đông Dương.

Nhưng bất hạnh thay, đề nghị viện trợ của Ả Rập Saudi cũng trở thành vắn số và phù du như những môn thuốc giải độc khác trước đây nhằm chữa chạy cho cuộc chiến tranh Đông Dương trong gần 30 năm. Chỉ có ba ngày sau khi đưa ra đề nghị này với Kissinger, Quốc Vương Faisal lại bị một người cháu giết chết vì ganh tức và hy vọng viện trợ cho Việt Nam cũng bị chôn vùi cùng với cái chết của Vua Faisal nước Ả Rập Saudi.

Frank Snepp cũng cho biết thêm rằng trong khi tiếp xúc với Ngoại Trưởng Kissinger mấy tuần trước đó, chính Đại Sứ Martin đã đưa ra ý kiến nên tìm cách vận động yêu cầu xin viện trợ từ nước Ả Rập Saudi. Tuy nhiên sau cùng thì chính Quốc Vương Faisal là người đã xúc tiến dự án đề nghị này. Ngay cả sau khi Quốc Vương Faisal từ trần, Đại Sứ Martin vẫn còn thúc đẩy Ngoại Trưởng Kissinger tiếp tục vận động cho kế hoạch viện trợ này nhưng chẳng có đi đến đâu vì người kế vị còn phải chú trọng đến những vấn đề khác. Frank Snepp: Sách đã dẫn. Trang 216.

Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng Trưởng Phát Triển trong những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa cũng có cho biết thêm về chuyện này như sau:

“Cuộc viếng thăm của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ vào cuối tháng 2 năm 1975 đã cho thấy sự thật hiển nhiên là sự viện trợ của Hoa Kỳ đang đỗ vỡ và sau đó lại còn có thêm nhiều diềm xấu tiếp diễn: Những thất bại tại Cao Nguyên, sự thất thủ của các Tỉnh Miền Trung cùng Đà Nẵng và việc Hoa Kỳ cúp viện trợ là những dấu hiệu tồi tệ nhất.

Thêm vào đó lại còn có vụ Quốc Vương Saud al Faisal của nước Ả Rập Saudi bị ám sát ngày 25 tháng 3 năm 1975. Vua Faisal đã bày tỏ cảm tình và niềm ngưỡng phục về công cuộc chiến đấu chống cộng sản của nhân dân Miền Nam Việt Nam và ông đã đề nghị trợ giúp cho Việt Nam. Vào đầu năm 1975, Quốc Vương Faisal đã chấp thuận trên nguyên tắc sẽ cho Việt Nam vay một số ngân khoản “nhiều trăm triệu” Mỹ kim. Số tiền này sẽ được sử dụng nhằm đẩy mạnh nền kinh tế của Miền Nam Việt Nam và đồng thời cho phép Tổng Thống Thiệu mua nhiên liệu và vũ khí đạn dược của bất cứ quốc gia nào muốn bán cho Việt Nam. Một giải pháp khác được đề nghị cho kế hoạch cho vay này của Quốc Vương Faisal là Ả Rập Saudi sẽ bảo đảm cho việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nghiêng về phía bảo đảm cho vay hơn là vì điều này sẽ loại trừ được những vấn đề khó khăn có thể xảy ra nếu phải mua những vũ khí chiến cụ của Mỹ ở ngoài thị trường Hoa Kỳ. Sự thật là toàn bộ guồng máy những vũ khí trong chiến tranh Việt Nam đều được sản xuất tại Hoa Kỳ (made in USA) do dó mà không thể nào mua sắm vũ khí đạn dược từ một nước ngoại quốc nào khác.

Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhớ lại rằng “Có lẽ dường như là một điều kỳ cục nếu liên kết dầu hỏa của Ả Rập Saudi với sự sống còn của Miền Nam Việt Nam trong nỗ lực tìm kíếm viện trợ về quân sự, tuy nhiên trong những ngày đen tối nhất của tháng 4 năm 1975 thì chẳng có chuyện gì là kỳ cục cả. Khi người ta đang sắp sửa bị chết trôi thì ai cũng đều cố gắng nắm vào cái gì đang nổi trên mặt nước”.

Người Việt Nam tin rằng số phận của họ đã đến chỗ tuyệt cùng: Khi mà kế hoạch của Quốc Vương Faisal sắp sửa được thực hiện thì nhà vua lại bị một người cháu giết chết. Tổng Thống Thiệu đã gửi một bức công điện phân ưu đến Hoàng Gia Ả Rập Saudi và đồng thời khẩn nài chính phủ Ả Rập tiếp tục kế hoạch viện trợ của cố Quốc Vương Faisal. Chính phủ Ả Rập Saudi trả lời rằng họ sẽ cứu xét đề nghị này và Tổng Thống Thiệu đã gửi Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc sang thăm viếng Ả Rập Saudi. Người Việt Nam tự than thở rằng chính số phận của họ là sẽ bị bỏ rơi.” Nguyễn Tiến Hưng & Jerrold Schecter: Sách đã dẫn, trang 306.

Trong một cuốn sách mới xuất bản vào năm 2005, Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng có nói thêm về việc này và cho đăng nguyên văn bức điện văn của Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc gửi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phúc trình về việc này như sau:

“Vừa vào phòng, ông Thiệu đưa cho tôi xem một công điện đề ngày 14 tháng 4 năm l975 do Ngoại Trưởng Bắc gửi từ Luân Đôn về. Ông Bắc vừa ở Saudi Arabia đi Luân Đôn. Chuyến đi của ông có mục đích xin Quốc Vương Haled Crown (tiếng Anh là Khalid), vừa kế vị Quốc Vương Faisal, đồng ý cho Việt Nam Cộng Hòa vay tiền như phụ vương của ông đã bị ám sát.

Luân Đôn ngày 14 tháng 3 năm 1975

Công tác tôi đi Saudi Arabia đã được kết thúc thành công. Tôi được tiếp kiến Vua Haled Crown, Hoàng Tử Rabed và Hoàng Tử Abdullab (cũng là Thủ Tướng) Đệ Nhất và Đệ Nhị Phó Thủ Tướng. Tất cả, đặc biệt là Vua Haled đã cho tôi những bảo đảm vững chắc về việc tiếp tục yểm trợ và viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã thảo luận kỹ càng với Hoàng Tử Rudal Faisal (Bộ Trưởng Ngoại Giao,) Hoàng Tử Massoud (Thứ Trưởng Ngoại Giao) và ông Amant (Tổng Trưởng Dầu Lửa và Tài Chánh).Về viện trợ sắp tới tôi đã cung cấp cho chính phủ Saudi một bản giác thư trình bày chi tiết về nhu cầu viện trợ và tình hình tại Miền Nam. Tôi hy vọng là quyết định về khoản tiền và phương thức của viện trợ sẽ được chính phủ Saudi cứu xét sớm” [Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Cơ sở Xuất Bản Hứa Chấn Minh, San Jose, Califoria, 2005, trang 310-311].

Bức điện văn này đề ngày 14 tháng 4 năm l975 và chỉ một tuần sau đó thì Tổng Thống Nguyên Văn Thiệu từ chức, nửa tháng sau đó thì Miền Nam rơi vào tay cộng sản Bắc Việt. Tuy nhiên vào những ngày tháng 4 năm 1975, việc nước Ả Rập Saudi hứa sẽ trợ giúp cho Việt Nam Cộng Hòa cũng phải được xem như là một “phép lạ”, dù rằng đó chỉ là một phép lạ trong ảo tưởng mà thôi.

Sau 1975, người viết có cơ hội làm việc tại Jeddha, nước Ả Rập Saudi, trong một thời gian và có nghe nói đến việc nầy. Một vài người Ả Rập của người viết cho biết rằng vào khoảng cuối năm 1974, Việt Nam Cộng Hòa có tham dự một cuộc triển lãm quốc tế tại Thành Phố Hải Cảng Jeddha, lúc bấy giờ là Thủ Đô thương mại và ngoại giao của Vương Quốc Ả Rập Saudi. Trong cuộc triển lãm nầy, Việt Nam đã gởi sang trưng bày những bức tranh cũng như là một sô bàn ghế sơn mài, đa số là của công ty Sơn Mài Thành Lễ và những sản phẩm này đã được dân chúng, nhất là giới thương lưu giàu có trong Hoàng Gia nhiệt liệt tán thưởng, nhờ đó mà họ có cảm tình với Việt Nam Cộng Hòa. Quốc Vương Faisal là một trong những người đó. Họ cũng xác nhận chuyện Vua Faisal có ý định viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa tuy nhiên vì phíaViệt Nam quá chậm chạp trong việc xúc tiến kế hoạch này cho nên sau khi Nhà Vua bị ám sát thì vị Hoàng Thái Tử (crown prince) là Kbalid ibn Abdulaziz lên nối ngôi không biết gì nhiều về việc này, do đó mà kế hoạch đã không được xúc tiến và bất thành.

Dường như đó cũng là vận nước cho nên Miền Nam đã bỏ lỡ mất cơ hội có một không hai này. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa cũng gặp nhiều sự không may vì Quốc Vương Khalid (1975-l982) là người có đầu óc bảo thủ, không chú trọng nhiều đến những vấn đề bên ngoài thế giới Ả Rập cho nên ông ta không để ý đến việc Quốc Vương Faisal đã có quyết định trợ giúp cho Miền Nam Việt Nam chống lại cộng sản. Tuy nhiên sau khi lên ngôi, Quốc Vương Khalid lại chọn Hoàng Tử Fabd ibn Adulaziz làm Hoàng Thái Tử kế vị thì ông này lại là người không những am tường về các vấn đề quốc tế mà lại còn là người chống cộng sản rất tích cực. Sau khi Vua Khalid băng hà vào năm 1982, Hoàng Tử Fadb ibn Abdulaziz trở thành Quốc Vương trị vì nước Ả Rập Saudi từ năm 1982 cho đến đầu tháng 8 năm 2005. Trong thời gian trị vì, Vua Fadh đã viện trợ vô cùng tích cực cho phong trào kháng chiến A- Phú-Hãn chống lại cộng sản Liên Xô trong mấy thập niên và sau cùng thì Liên Xô phải triệt thoái ra khỏi A-Phú-Hãn.

Nếu Quốc Vương Fahd lên ngôi thay cho Quốc Vương Faisal ngay từ năm 1975 thì biết đâu tình hình Việt Nam lại chẳng có thể một vài thay đổi ?(còn tiếp)

Bảo vệ Cờ Vàng

https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/04/19/vnch-1975-10ngaycuoicung/

Bạn cứ phịa ra một email hoặc tên nào đó để viết ý kiến. Comment của tất cả các bạn đọc sẽ được hiện ra.

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.

 
%d người thích bài này: