Trần Hoàng Blog

Archive for Tháng Hai, 2014

►Gặp con gái cụ Đề Thám ở Hà Nội- Phải chăng Nguyễn Ái Quốc muốn làm rể Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám

Posted by hoangtran204 trên 14/02/2014

Phải chăng Nguyễn Ái Quốc muốn làm rể hùm thiêng Yên Thế

Một số nhà sử học cho rằng, bà Thế từng đóng phim và có nhiều người cầu hôn

13-2-2014

Tác giả: 

Ngày 30-7-1909, Pháp cử Lê Hoan, tổng đốc Hải Dương, cầm quân Việt cùng quân Pháp tấn công căn cứ của Đề Thám tức Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Yên Thế nằm ở tây-bắc tỉnh Bắc Giang ngày nay. Lê Hoan ngăn chận những nguồn tiếp liệu của Đề Thám, trừng phạt thật nặng những làng nào tình nghi chứa chấp hay yểm trợ cho Đề Thám, nên dần dần dân chúng giảm việc giúp đỡ Đề Thám.

Đề Thám rút lên gần Tam Đảo giữa Vĩnh Yên và Thái Nguyên.

Một trận đụng độ lớn xảy ra ngày 5-10-1909 tại núi Lang, gần Tam Đảo. Quân Pháp chết 7 người, bị thương 21 người. Quân Lê Hoan thiệt mạng 9 người, bị thương 10 người. Đề Thám chỉ còn khoảng 20 quân. Cả Rinh và Đội Sơn, hai thủ hạ thân cận của Đề Thám đầu hàng Lê Hoan.

Tối 30-11 rạng sáng 1-12-1909, bà Ba Nhu, tức bà vợ thứ ba của Đề Thám, cùng con gái là Hoàng Thị Thế, bị bắt.

Quân Pháp tiếp tục đeo bám Đề Thám hết sức gắt gao, nhưng vẫn không bắt được Hùm Thiêng Yên Thế. Ông ẩn hiện khắp nơi vùng Yên Thế thượng và Yên Thế hạ, giữa Thái Nguyên, Nhã Nam và Phủ Lạng Thương. Pháp không biết cách nào bắt cho được Đề Thám, liền nhờ đến Lương Tam Kỳ

Lương Tam Kỳ là một dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Hoa, tràn sang nước ta làm thổ phỉ. Sau hòa ước Thiên Tân lần thứ hai ngày 9-6-1885 giữa Pháp và Trung Hoa về vấn đề Việt Nam, quân Trung Hoa rút về nước, Lương Tam Kỳ ở lại hoạt động vùng Chợ Chu (bắc Thái Nguyên), xuống tới Tam Đảo (giữa Thái Nguyên và Phúc Yên). Năm 1889, Pháp đem quân tấn công. Lương Tam Kỳ xin hàng với điều kiện được chia đất cai trị và được trả lương. Phủ toàn quyền Pháp đồng ý, giao cho Lương Tam

Kỳ cai quản 4 tổng gần Chợ Chu và 42,000 đồng Đông Dương một năm. Lương Tam Kỳ ở yên trong 4 tổng đó và quân Pháp cũng không được vào 4 tổng đó. Lương Tam Kỳ giữ đúng lời hứa cho đến khi chết già.

Được Pháp thuyết phục, Lương Tam Kỳ gởi ba “khách trú” (chỉ người Trung Hoa), giả làm người của tướng Liên bên Quảng Tây (Trung Hoa), đến liên lạc với Đề Thám ở Yên Thế thượng vào ngày 10-1-1913. Tuy đang cần sự giúp đỡ từ bên ngoài, nhưng Đề Thám cũng rất cẩn thận đề phòng, nên mãi đến một tháng sau, ngày 9-2-1913, ba người nầy mới ra tay, hạ thủ được Đề Thám trong lúc ông đang ngủ. (Paul Chack, Hoang-Tham Pirate, Paris: Les Éditions de France, 1933, tt. 261-263.) Lúc đó, Đề Thám 52 tuổi (tuổi ta). Thế là Hùm Thiêng Yên Thế bị sa cơ, chấm dứt một cuộc đời oanh liệt, và chấm dứt luôn cuộc kháng chiến chống Pháp dai dẳng nhất từ khi Pháp chiếm nước ta năm 1884.

Về phần bà Ba Nhu, trước đây, các tài liệu đều ghi rằng bà tên là Đặng Thị Nhu, vợ thứ ba của Hoàng Hoa Thám và là một tướng lãnh giỏi của nghĩa quân Yên Thế, giúp chồng rất đắc lực. Theo tài liệu của một ký giả đã lên Yên Thế, và gặp cháu của Hoàng Hoa Thám là bà Hoàng Thị Hải, con của ông Cả Phồn, thì bà Ba Nhu có tên là Nguyễn Thị Nho, còn được gọi là bà Ba Cẩn. (Lê Xuân Sơn, “Con gái ông Đề Thám”, Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 50-94, TpHCM: ngày 18-12-1994.)

Sau khi bị bắt, bà Ba Nhu bị giam ở Hỏa Lò, Hà Nội và bị kết án đày đi Guyanne thuộc Pháp ở Trung Mỹ. Trên đường đi, bà nhảy xuống biển tự tử ngày 25-12-1910.

Con gái của bà Ba Nhu với Hoàng Hoa Thám là Hoàng Thị Thế, được người Pháp gởi qua Pháp nuôi ăn học (1909 ?). Bà Thế trở về Việt Nam năm 1923, và qua Pháp trở lại vào đầu năm 1927. (Charles P. Keith, “The Curious Case of Hoàng Thị Thế”, đăng trên tập san Journal of the Vietnamese Studies, số 8, hè 2013, University of California, Berkeley, tr. 91.)

Theo bài báo nầy, vào đầu năm 1929, khi làm giấy tờ xin đi Việt Nam, bà Hoàng Thị Thế khai với nhân viên phụ trách rằng vào tháng 3-1928, Nguyễn Ái Quốc gởi một phái viên đến gặp bà ta và thuyết phục bà ta thành hôn với Nguyễn Ái Quốc. Bà Thế cũng cho biết rằng lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã cưới một phụ nữ Nga và Quốc đã đến thành phố Lille trong hai năm 1927 và 1928. Từ đó Quốc thường đến Lille bằng một bí danh. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 99.) Lille là một thành phố kỹ nghệ nằm ở phía bắc nước Pháp, gần sát biên giới với nước Bỉ (Belgium)

Bà Thế còn thêm rằng đây không phải là lần đầu tiên bà là mục tiêu bị Nguyễn Ái Quốc theo dõi. Bà nói rằng khi còn ở Đông Dương, năm 1927 “bốn người bản xứ đến tìm bà ở Sài Gòn để ép bà đừng lên tàu thủy. Họ sẽ đưa bà qua Xiêm La [Thái Lan] bằng xe hơi và kết hôn với Nguyễn Ái Quốc…” (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 100.)

Trong thời gian nầy, Nguyễn Ái Quốc, ủy viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), qua Trung Hoa tháng 10-1924, hoạt động tình báo cho Liên Xô với bí danh mới là Lý Thụy.

Tại Quảng Châu, Lý Thụy hợp tác với Lâm Đức Thụ bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu khi Phan Bội Châu từ Hàng Châu đến ga Thượng Hải ngày 1-7-1925. (Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, nguyên bản bằng tiếng Anh (From colonianism to communism), Mạc Định dịch, Paris, 1962, tr. 38. Tưởng Vĩnh Kính, Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụy trang giả, Đài Bắc: Nxb. Truyện Ký Văn Học, 1972, bản dịch của Thượng Huyền, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, California: Nxb. Văn Nghệ, 1999, tt. 84-85.) Lý Thụy bán tin cho Pháp bắt Phan Bội Châu nhắm mục đích vừa để lãnh thưởng, vừa để loại bỏ nhà lãnh đạo cách mạng dân tộc uy tín nhất ở hải ngoại và giành lấy tổ chức của ông.

Sau vụ nầy, có thể nhờ có tiền lãnh thưởng, Lý Thụy tức Nguyễn Ái Quốc tổ chức lễ kết hôn với một nữ đảng viên cộng sản Trung Hoa là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) vào tháng 10-1926.

Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái Bình, thành phố Quảng Châu, có mặt các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ Châu Ân Lai), Bào La Đình, Thái Sướng. Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng Trung Hoa bùng nổ ngày 12-4-1927. (Hoàng Tranh (Huang Zheng), “Hồ Chí Minh với bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh”, tạp chí Đông Nam Á Tung Hoành tháng 11-2001. Báo Diễn Đàn, Paris, số 121, tháng 9-2002 dịch đăng lại, tt. 17-20.)

Hồ Chí Minh và người vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh (ảnh và bài báo)

Lúc đó, Tưởng Giới Thạch (Quốc Dân Đảng Trung Hoa) chẳng những tấn công đảng Cộng Sản Trung Hoa, mà cả những nhóm cộng sản các nước khác. Nguyễn Ái Quốc bỏ trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường biển lên Vladivostok, qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927. (Chính Đạo, Hồ Chí Minh, Con Người và Huyền Thoại 1892-1924, tập 2: 1825-1945, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1993, tr. 85.)

Tháng 11-1927, Nguyễn Ái Quốc được ĐTQTCS gởi từ Moscow qua Berlin (Đức), và xâm nhập Pháp.

Theo tin tình báo Pháp, Quốc rời Paris ngày 15-12-1927, qua Berlin, rồi qua Bruxelles (Bỉ) đầu năm 1928, tham dự Hội nghị Quốc tế Liên đoàn chống đế quốc. Sau Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc qua Đức, chờ quyết định của ĐTQTCS.

Cuối tháng 5-1928, ông đến Ý, và xuống tàu Nhật ở hải cảng Naples, qua Viễn Đông (Chính Đạo, sđd. tt. 93-94.) Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm La tháng 8-1928, lập tỉnh uỷ U-đon, thống nhất việc lãnh đạo Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên Hội ở Xiêm La. (Hoàng Văn Hoan, Giọt Nước Trong Biển Cả, Portland, OR, U.S.A.: Nhóm Tìm Hiểu Lịch Sử, 1991, tr. 43.) Giọt nước trong biển cả, Lời nói đầu – Việt Nam thư quán

So sánh lời khai của bà Hoàng Thị Thế với lịch sinh hoạt của Nguyễn Ái Quốc hay Lý Thụy trong thời gian nầy, hai bên có nhiều điểm gần nhau tuy không khít khao với nhau.

Lúc đó, nhân viên C.A.I. (Contrat d’acceuil et d’intégration) không mấy tin vào lời khai nầy, và cả tiến sĩ Charles P. Keith, giáo sư Sử học tại Michigan State University trích dẫn nguồn tin trên đây trong bài báo đã dẫn, cũng cho rằng lời khai của bà Thế thiếu xác thực. Lời khai của bà Thế với nhà chức trách Pháp được lưu trữ theo hồ sơ C.A.I. về Hoàng Thị Thế, thuộc L’Office français de l’immigration et de l’intégration (OFII), là cơ quan đảm trách việc di dân mới đến đất Pháp cần được hướng dẫn về đời sống tại Pháp.

Dầu nhà chức trách Pháp lúc đó và cả giáo sư Charles P. Keith đều nghi ngờ mức xác tín trong lời khai của bà Hoàng Thị Thế, nhưng có vài câu hỏi cần được đặt ra là:

Tại sao lúc đó bà Thế biết được, dầu không chính xác, hành trình sinh hoạt của Nguyễn Ái Quốc?

Ví dụ bà Thế nói rằng vào đầu năm 1927, trước khi bà xuống tàu thủy rời Sài Gòn đi Pháp, thì có bốn người đến gặp bà và yêu cầu bà bỏ chuyến đi Pháp để họ đưa bà sang Xiêm La và kết hôn với Nguyễn Ái Quốc.

Thực tế cho thấy sau khi cưới bà Tăng Tuyết Minh tháng 10-1926, Nguyễn Ái Quốc còn ở lại Trung Hoa cho đến tháng 6-1927 mới bị truy nã và bỏ trốn qua Liên Xô; tức trong thời gian đầu năm 1927, Quốc có mặt ở Trung Hoa và có thể liên lạc với Việt Nam.

Bà Hoàng THị Thế từng đóng phim  La Donna Bianca (1930)và Le secret de l Emeraude (1935)

Bà Thế cũng nói rằng tháng 3-1928 Nguyễn Ái Quốc gởi người đến gặp bà tại Pháp và lăp lại lời cầu hôn.

Thực tế cho thấy sau khi Nguyễn Ái Quốc trốn từ Trung Hoa qua Liên Xô tháng 6-1927, thì Quốc được ĐTQTCS gởi qua Đức, rồi qua Pháp tháng 11-1927. Sau đó, Quốc qua Bỉ (Belgium) tham dự Hội nghị Quốc tế Liên đoàn chống đế quốc. Nước Bỉ nằm ở vùng biên giới phía bắc nước Pháp. Chắc chắn Quốc đi lại hoạt động ở vùng giáp ranh Pháp-Bỉ vào đầu năm 1928, giữa Paris (thủ đô Pháp) và Bruxelles (thủ đô Bỉ) cho đến khi qua Ý và xuống tàu thủy từ thành phố Naples (Ý) vào cuối tháng 5-1928 qua Viễn đông.

Bà Thế còn nói rằng Nguyễn Ái Quốc đã đến thành phố Lille trong hai năm 1927 và 1928. Từ đó Quốc thường đến Lille bằng một bí danh. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 99.) Lille là một thành phố kỹ nghệ nằm ở phía bắc nước Pháp, gần sát biên giới với nước Bỉ, giữa vùng Paris và Bruxelles.

Như thế phải chăng lúc đó nếu Nguyễn Ái Quốc không gởi người tới đề nghị cưới bà Hoàng Thị Thế, thì bà Thế cũng có một mối liên lạc nào đó với Nguyễn Ái Quốc mới biết được hành trình của Nguyễn Ái Quốc?

Câu hỏi thứ hai là tại sao bà Hoàng Thị Thế không khai cho người khác đã theo dõi và xin kết hôn với bà, mà lại khai cho Nguyễn Ái Quốc? 

Tại Việt Nam và trên thế giới, có biết bao nhiêu là đàn ông, kể cả những đàn ông nổi tiếng, mà bà Thế không khai, lại đi khai cho Nguyễn Ái Quốc, lúc đó đang là đối tượng truy nã của mật thám Pháp, trong khi bà Thế muốn xin đi Việt Nam. Bà khai như vậy thì có lợi gì cho bà?

Vậy giữa Hoàng Thị Thế và Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh tương lai) thực sự có mối liên hệ gì chăng? Phải chăng để thu hút quần chúng, Nguyễn Ái Quốc muốn kết hôn với bà Hoàng Thị Thế nhằm giúp Nguyễn Ái Quốc thêm uy tín từ ảnh hưởng của Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Đó là câu hỏi xin đặt ra để những nhà nghiên cứu lưu tâm tìm hiểu thêm.

Ở trong nước hiện nay cũng có báo đề cập đến mối liên lạc giữa bà Hoàng Thị Thế và Nguyễn Ái Quốc, nhưng không đề cập gì đến chuyện Nguyễn Ái Quốc xin kết hôn với bà Hoàng Thị Thế. Ví dụ bài “Gặp con gái cụ Đề Thám ở Hà Nội” của Phạm Quang Đẩu đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân, đưa lên Internet ngày Thứ Bảy 26-01-2013.

Khi nhà báo đặt câu hỏi là bà Thế đã gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc lần nào chưa, thì theo bài báo nầy bà Thế trả lời như sau: “Có một lần đến giờ bà vẫn chưa quên- bà Thế nói. Đó là vào mùa xuân năm 1920. Bà lúc đó chưa đến hai mươi, vừa đóng được một bộ phim ở Pháp, vai phụ thôi…”

Bài báo không nói gì đến chuyện Nguyễn Ái Quốc xin cưới bà Hoàng Thị Thế, nhưng cũng xác nhận là bà Hoàng Thị Thế đã gặp Nguyễn Ái Quốc, đồng thời có một điểm sai căn bản. Đó là bà Thế đóng phim lần đầu vào năm 1930 là phim La lettre, chứ không phải năm 1920. Tài liệu về phim nầy hiện còn ở Pháp và niên đại ghi rõ ràng là 1930.

Như thế có thể xảy ra hai trường hợp: 1) Hoặc bà Thế nhớ lầm từ 1930 thành 1920. 2) Hoặc chính cán bộ Phạm Quang Đẩu cố tình đổi từ 1930 thành 1920 cho phù hợp với tuyên truyền của cộng sản về những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Paris. Sửa đổi lịch sử cho phù hợp với đường lối của đảng Cộng Sản là việc làm bình thường của cán bộ cộng sản từ trước cho đến nay.

Vào năm 1920, Nguyễn Tất Thành đang ở Paris, cộng tác với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Cả bốn ông (Trinh, Trường, Truyền, Thành) cùng dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ‘ Indochine au Vietnam, Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tt. 44-45), đồng ký tên vào bản “Revendications du peuple annamite” [Thỉnh nguyện thư của dân tộc Việt], bằng Pháp văn, do Phan Văn Trường viết (Trần Dân Tiên [tức Hồ Chí Minh], Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ chủ tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 32).

Bản thỉnh nguyện thư nầy gởi cho các cường quốc trên thế giới, đang họp Hội nghị Versailles sau thế chiến thứ nhất, bắt đầu từ 18-1-1919. Thỉnh nguyện thư của các ông xuất hiện lần đầu trên báo L’Humanité [Nhân Đạo] ngày 18-6-1919. Về sau, Nguyễn Tất Thành chiếm dụng danh xưng Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của Nguyễn Tất Thành.

Hồ Chí Minh (tức Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc…) và những người cộng sản luôn luôn đề cao rằng Hồ Chí Minh suốt đời sống độc thân, không lập gia đình để có thể toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Vì vậy báo chí trong nước tránh né không bao giờ nói đến chuyện phụ nữ trong đời sống của Hồ Chí Minh, nên không đả động gì đến mối liên lạc tình cảm giữa bà Hoàng Thị Thế và Nguyễn Ái Quốc. Trong khi đó, dù Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh, đi đâu, ở nơi nào, đều có bóng dáng một người đàn bà trong suốt cuộc đời hoạt động của ông. Đây là chuyện bình thường của một người đàn ông, nhưng Hồ Chí Minh và cộng sản luôn luôn che giấu. Vì vậy, chuyện bà Hoàng Thị Thế kể về việc Nguyễn Ái Quốc xin kết hôn với bà cũng có thể xảy ra, nhưng cộng sản cố tình dập bỏ đi.

Riêng bà Hoàng Thị Thế, tại Pháp, bà trở thành diễn viên điện ảnh và có mặt trong ba phim là La lettre (1930), La donna Bianca (1931) và Le secret de l’éméraude (1935).

Vào đầu thập niên 30 thế kỷ trước, nền điện ảnh Pháp bắt đầu chuyển từ phim câm qua phim có tiếng nói, và lúc đó chính phủ Pháp muốn tuyên truyền về sự thành công của Pháp ở các nước thuộc địa Pháp. Vì vậy người ta mời những người bản xứ đóng phim, trình chiếu quang cảnh thuộc địa cho dân chúng Pháp xem. Phim La lettre do Mercanton thực hiện, phỏng theo phim The Letter của Hoa Kỳ dựa trên câu chuyện của Somerset Maugham (1874-1965) viết về một đồn điền cao su ở Mã Lai Á.

Sau phim đầu tiên năm 1930 (La lettre), bà Thế kết hôn vào mùa hè năm 1931 với Robert Bourgès, con môt gia đình sản xuất rượu vang giàu có ở Bordeaux. Năm 1935, bà sinh một con trai, đặt tên là Jean-Marie Albert Arthur Bourgès. Năm sau (1936), do những bất đồng với bà mẹ chồng về việc chăm sóc đứa con, bà Thế ly dị Robert Bourgès, nhưng không được quyền nuôi con. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 107.)

Khi Việt Nam bị chia hai sau năm 1954, cả hai chế độ của hai miền Bắc và Nam Việt Nam đều mời bà Thế về nước năm 1959. Về phần Việt Nam Cộng Hòa, nhân một chuyến công du sang Pháp năm 1959, bà Ngô Đình Nhu được tổng thống Ngô Đình Diệm uỷ nhiệm mời bà Thế hồi hương. (Charles P. Keith, báo đã dẫn, tr. 107.)

Cuối cùng, bà Hoàng Thị Thế chọn lựa trở về Bắc Việt Nam năm 1961 vì bà muốn về sống tại vùng kỷ niệm của song thân ở Yên Thế. Lúc đầu, bà ở Yên Thế, Bắc Giang (Hà Bắc). Tại đây, năm 1963 bà hoàn tất tập hồi ký bằng tiếng Pháp. Năm 1974, bà Thế 74 tuổi, chuyển về Hà Nội, sống ở Khu tập thể ngõ Văn Chương, quận Đống Đa. Cuối cùng bà từ trần ngày 9-12-1988, thọ 88 tuổi, an táng tại Yên Thế, Bắc Giang.

Tập hồi ký của bà Hoàng Thị Thế được Lê Kỳ Anh dịch qua tiếng Việt, nhan đề là Kỷ Niệm Thời Thơ Ấu, Nxb. Hà Bắc ấn hành năm 1975. Lúc đó bà Thế đã lớn tuổi và đã rời Hà Bắc về Hà Nội.

Lê Kỳ Anh tức thi sĩ Hoàng Cầm, vì lúc đó Hoàng Cầm bị treo bút, không được ghi tên tác giả những sáng tác bằng bút danh chính của mình. Không có nguyên bản Pháp văn để so sánh bản dịch của Lê Kỳ Anh, nhưng dù dịch giả cố gắng dịch đúng theo nguyên bản của tác giả, nhưng chưa chắc bản dịch được trung thực theo ý tác giả và dịch giả vì còn phải qua cửa ải kiểm duyệt của nhà xuất bản nhà nước cộng sản. Ai cũng biết tất cả những nhà xuất
bản cộng sản đều chỉ được ấn hành những sách theo đúng chủ trương chính sách đường lối chính trị của đảng Cộng sản mà thôi.

Hiện nay không ai biết số phận nguyên bản cũng như nội dung tập hồi ký bằng chữ Pháp của bà Hoàng Thị Thế như thế nào, nằm trong tay ai hay đã bị đốt cháy? Phải chăng tập hồi ký nầy có liên hệ đến việc Nguyễn Ái Quốc muốn xin kết hôn với bà Hoàng Thị Thế, nghĩa là xin làm rể Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám, nên đã bị cộng sản thủ tiêu mất tích? Nhân tài còn bị cộng sản giết hàng loạt, thì cộng sản sá gì tập hồi ký của một phụ nữ, chỉ nổi danh vì là con của Hùm Thiêng Yên Thế và bà Ba Nhu bất khuất..

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 1-2-2014)

© Đàn Chim Việt

—————————————————————

Gặp con gái cụ Đề Thám ở Hà Nội

 
Nguồn QĐND – Thứ Bẩy, 26/01/2013, 14:33 (GMT+7)
 

QĐND – Có thể mỗi chúng ta từng gặp một hay nhiều “nhân chứng lịch sử”. Với tôi, việc được gặp bà Hoàng Thị Thế là nhân chứng lịch sử đáng nhớ nhất. Bởi bà là con gái út của người anh hùng nông dân Hoàng Hoa Thám đã phất cờ khởi nghĩa chống Pháp bền bỉ suốt gần 30 năm từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Dù hồi đó còn rất nhỏ tuổi, song trong ký ức bà vẫn in đậm những sự việc của cha, mẹ, các anh ruột cùng nghĩa quân ngày ấy. Có những sự việc bà chứng kiến chưa từng được sử sách ghi lại.

Tôi gặp bà tại Hà Nội vào cuối năm 1977, lúc bà đã ở tuổi gần 80, song còn minh mẫn, khỏe mạnh, đặc biệt rất đẹp lão. Dường như cái nhan sắc thời con gái từng là minh tinh màn bạc ở Pháp và Anh còn đọng lại chút nào đó lúc mãn chiều xế bóng nơi bà. Dẫn tôi đến gặp bà là người bạn cùng đơn vị, anh Tôn Gia Khai, con trai thứ của nhà sử học, nhà hoạt động cách mạng Tôn Quang Phiệt, lúc đó là Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông Tôn Quang Phiệt từng có một công trình nghiên cứu khá công phu về cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng Hoa Thám, có mối thâm giao với bà Thế.

Bà Nguyễn Thị Nho (Đặng Thị Nho, bà Ba Cẩn) và con gái Hoàng Thị Thế.

Bà Hoàng Thị Thế từ Pa-ri về nước năm 1965, được Nhà nước phân cho một căn hộ khoảng 18 m2 ở tầng 3, khu tập thể ngõ Văn Chương, Đống Đa, Hà Nội. Trong điều kiện khó khăn về nhà cửa lúc đó, có căn hộ vậy cũng là ưu ái lắm. Chồng bà là người Pháp, trước khi về nước hai người đã chia tay nhau, có một con trai. Bà ở một mình, có một người cháu gái giúp việc.

– Cháu nghe nói Bác Hồ đã mời bà trở về quê hương. Vậy thời trẻ tuổi, Bác từng sống và hoạt động ở Pa-ri, bà đã gặp Người lần nào chưa ạ? – Tôi hỏi chuyện bà.

– Có một lần đến giờ bà vẫn chưa quên-bà Thế nói. Đó là vào mùa xuân năm 1920. Bà lúc đó chưa đến hai mươi, vừa đóng được một bộ phim ở Pháp, vai phụ thôi, nhưng đã có người hâm mộ, có lẽ do bà đang độ xuân sắc chứ không phải có tài diễn xuất.

Hôm đó bà vào thăm Bảo tàng Lu-vrơ, thấy đi ngược chiều với mình là một người Việt Nam trạc ba mươi tuổi, dáng cao, gầy, có đôi mắt sáng. Người đó nhìn bà mỉm cười, bà cũng chào đáp lễ. Bỗng người đó nói giọng xứ Nghệ: “Cô Thế ơi, cô có biết cha mẹ cô là ai không?”.

Một câu hỏi lạ lùng, sao bà lại không biết cha mẹ mình cơ chứ. Bà chỉ mỉm cười và khẽ gật.

Người đó nói tiếp: “Mọi người Việt Nam yêu nước thương nòi đều khâm phục tinh thần quả cảm, anh dũng của cụ Đề Thám và bà Ba Cẩn, thưa cô”.

Lúc đó, bà cảm thấy rất tự hào về cha mẹ mình và nhìn người đó khẽ nói: “Cảm ơn! Xin anh cho biết quý danh?”.

Người đó nở một nụ cười thân thiện, trả lời: “Tôi là Nguyễn Ái Quốc”. Và người đó chào, đi ngay.

Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam nổi tiếng bởi anh đã vừa đưa một bản thỉnh nguyện, đòi cho dân Việt Nam được hưởng độc lập, gửi tới các cường quốc đang họp tại lâu đài Véc-xây sau Thế chiến thứ nhất. Người Việt ta ở Pháp ngày đó còn rất ít và việc làm của anh Nguyễn Ái Quốc đã gây được tiếng vang lớn.

 
Cụ Đề Thám và các con. 

Thế rồi ngay khi về nước, bà được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bác Hồ vẫn còn nhớ cuộc gặp tình cờ ngày ấy, dù đã 45 năm trôi qua và Bác cũng khuyến khích bà viết hồi ức về cha mẹ. Có thời gian bà được giao làm Giám đốc Bảo tàng Yên Thế trên Bắc Giang.

– Ở sách giáo khoa lịch sử bậc phổ thông có viết về cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám, bà thấy thế nào ạ? Tôi hỏi.

– Cũng đúng cả đấy, nhưng chưa đủ-bà Thế nói. Cuốn sách của anh Tôn Quang Phiệt đã bổ sung được một số điều, cũng chưa hết đâu, nhất là phần nói về giai đoạn cuối của cuộc khởi nghĩa, về cái chết của cha, mẹ, các anh trai bà. Giờ bà kể cụ thể thế này cho cháu nghe về một số điều cần bổ sung.

Cha bà họ Trương, Trương Văn Thám, sau lên Bắc Giang mới đổi là Hoàng Hoa Thám. Ông nội bà là Trương Văn Thận, bà nội là Lương Thị Minh, sinh thời đều là những người chuộng nghĩa khí. Hai người từng tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân của Nguyễn Văn Nhàn và Nông Văn Vân ở Sơn Tây, song cuộc khởi nghĩa bị đàn áp ngay. Cha bà noi gương bố mẹ, năm 16 tuổi đã tham gia khởi nghĩa của ông Đại Trận (1870-1875).

Rồi khi Pháp chiếm Bắc Ninh tháng 3-1884 thì ông gia nhập nghĩa binh của ông Lãnh Loan. Năm sau, ông lại tham gia nghĩa binh của Cai Kinh ở Lạng Giang. Sau khi Cai Kinh chết năm 1888, cha bà đứng dưới cờ Đề Nắm, trở thành một tướng chỉ huy dũng mãnh. Như thế, trước khi phất cờ khởi nghĩa, cha bà đã có hàng chục năm “thực tập” đánh giặc trong nhiều cuộc khởi nghĩa nhỏ.

 
Bà Hoàng Thị Thế và nhà quay phim Nguyễn Đăng Bảy. Ảnh: Sách Le Đề Thám (Pháp).

Tháng 4-1892, Đề Nắm bị thủ hạ là Đề Sặt sát hại, Đề Thám mới chính thức nắm lấy ngọn cờ đứng đầu nghĩa binh, lập căn cứ và trở thành “Hùm xám Yên Thế”. Trong gần 30 năm khởi nghĩa, cha bà đã đánh nhiều trận, có hai trận lớn nhất là ở Hố Chuối và Đồng Hom. Nhiều chí sĩ như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Văn Ngôn, Lê Văn Huân… đã liên hệ với ông bàn kế hoạch phối hợp hành động, nhưng đều không đi đến kết quả.

Vụ “Hà thành đầu độc” giữa năm 1908 với sự tham gia vạch kế hoạch của Phan Bội Châu, Đội Nhân thực hiện bị thất bại là một thí dụ. Pháp đã treo thưởng 30.000 phờ-răng cho ai lấy được đầu Đề Thám.

Ngày 29-1-1909, có tới 15.000 quân Pháp và 400 lính dõng do Đại tá Batay chỉ huy đồng loạt đánh vào đồn điền Phồn Xương. Nghĩa quân đánh trả quyết liệt, anh ruột bà là Cả Trọng, tướng giỏi nhất bị tử trận, cha bà cùng mấy thủ hạ thoát được vòng vây, lẩn khuất ở vùng Hố Lầy thêm 4 năm nữa, rồi bị sát hại. Đó là sáng Mồng 5 Tết Quý Sửu (1913).

Còn trong trận ở đồn điền Phồn Xương, bà lúc đó mới khoảng 8 tuổi, chạy theo mẹ và bị Pháp bắt. Mẹ bà tên là Nguyễn Thị Nho, nhưng sử sách sau này cứ gọi là Đặng Thị Nho, ngay cả sách của anh Tôn Quang Phiệt cũng gọi như vậy, chẳng nhẽ bà quên cả họ của mẹ hay sao?

Mẹ bà kể, quê làng Vạn Vân, hồi thiếu nữ xinh giòn, gặp ông Đề Thám đang lánh nạn tại đấy đem lòng yêu, ông đã có hai bà, cưới về gọi là bà Ba Cẩn. Trong các bà, mẹ bà vừa là vợ, vừa là đồng chí của Đề Thám, đã cùng chồng và ba người con trai là Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh vạch nhiều kế hoạch đánh giặc. Bà Ba Cẩn còn phụ trách hậu cần của nghĩa quân. Khi bà Thế bị bắt sang Pháp làm con nuôi, thì nghe tin năm sau, trên đường đi đày sang nhà tù Guy-dan (Nam Mỹ), mẹ bà đã nhảy xuống biển tự tử, nhằm ngày 25-12 năm Canh Tuất (1910).

Còn chuyện này nữa: Anh Cả Trọng có một con chó rất khôn, khi anh bị Pháp giết, nó cứ ngồi ở mộ anh canh chừng, không ăn không uống, một tuần sau chết gục bên mộ chủ…

Bà Hoàng Thị Thế kể chuyện cho chúng tôi nghe suốt buổi sáng hôm đó. Rồi bà còn “đoán” hậu vận cho chúng tôi nữa (sau khi rút khỏi màn bạc, ở Pa-ri ngày ấy bà nổi tiếng về cách bói theo một kiểu riêng, nhiều người, trong đó có các chính khách đã đến nhờ bà xem hậu vận).

Bà qua đời vào mùa hè năm 1992 tại Bệnh viện Hữu Nghị, hưởng thọ 91 tuổi. Thể theo nguyện vọng được yên nghỉ tại nơi cha mẹ và các anh đã ngã xuống, mộ bà được mai táng tại Yên Thế.

PHẠM QUANG ĐẨU

Cụ Đề Thám và các con.

* Trần Hoàng

Kỷ niệm thời thơ ấu [Texte imprimé] / Hoàng Thị Thế

Language:vietnamien, 1975.  Nguồn

————————————————————–

Hoàng Cầm, người dịch hồi ký của con gái Đề Thám

15-3-2013

by 

Có khá nhiều điều trùng hợp để hôm nay nói về cuốn sách này: sách nói về người anh hùng Yên Thế hy sinh cách nay tròn 100 năm; người viết ra nó là con gái của người anh hùng ấy; sách được viết đã 50 năm. Tuy thế, khá ít người biết đến cuốn sách này và người dịch nó – nhà thơ Hoàng Cầm…

IMG_0997 (Custom)

Điều này trước đây tôi chưa từng biết. Và hình như chính nhà thơ Hoàng Cầm trong sinh thời dường như cũng ít kể với ai về điều này. Người ta chỉ biết, những năm bị “treo bút”, tức là không được công bố sáng tác dưới bút danh chính của mình, từ 1958 đến 1987, Hoàng Cầm đã có lúc dùng bút danh Lê Kỳ Anh. Đó là khi ông đưa in một số thơ ca trên một số sách báo của ngành Văn hóa văn nghệ Hà Nội.

Lần theo bút danh Lê Kỳ Anh trong Thư viện Quốc gia ở Hà Nội, thấy có ít nhất 2 tập thơ văn do Sở Văn hóa Hà Nội in trong năm 1968 có tác phẩm của ông, đó là các tập Lời Bác vang dội núi sông (tập thơ ca kịch, gồm tác phẩm của Huyền Tâm, Việt Dung, Lê Kỳ Anh, Xuân Bình, Dân Huyền, Nguyễn Đỗ Lưu…), và Trận địa bên sông Hồng (tập kịch, gồm các tác phẩm của Xuân Phước, Lê Kỳ Anh, Nguyễn Dậu, Nguyễn Thành, Phùng Thái…). Bên cạnh đó, có một tập hồi ký nhan đề Kỷ niệm thời thơ ấu của bà Hoàng Thị Thế, con gái Đề Thám, Ty Văn hóa Hà Bắc xuất bản năm 1975, là bản dịch của Lê Kỳ Anh. Lê Kỳ Anh này chắc chắn là bút danh của Hoàng Cầm. Nhưng hãy nói đôi chút về tác giả và cuốn hồi ký.

IMG_0999 (Custom)

Bà Hoàng Thị Thế (1901-1988) là con gái thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế Hoàng Hoa Thám (1858-1913). Mẹ bà là Đặng Thị Nhu, tục gọi là bà Ba Cẩn (? – 1910), vợ ba đồng thời là cộng sự của thủ lĩnh Đề Thám. Cuối năm 1909, trong chiến dịch tấn công cuối cùng của quân Pháp vào Yên Thế, bà Ba Cẩn và con gái Hoàng Thị Thế bị quân Pháp bắt. Bà Ba Cẩn cùng trên 70 nghĩa quân bị đem về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội, rồi bị kết án đày sang đảo Guyane (Nam Mỹ) thuộc Pháp; trên đường đi, nhân lúc quân canh sơ ý, bà Ba Cẩn nhảy xuống biển tự tử. Cô bé Hoàng Thị Thế được đưa từ Phủ Lạng Thương về Hà Nội; cựu Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer nhận đỡ đầu cho cô Thế sang Pháp ăn học. Năm 1925 cô Thế về Hà Nội làm việc tại Phủ thống sứ Bắc Kỳ; năm 1927 lại được đưa sang Pháp. Cô được mời đóng một số bộ phim nói tiếng Pháp như La Lettre (1930), La Donna Bianca (1930), Le secret de l’ Emeraude (1935) và được xem là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên đóng phim. Năm 1930, cô Thế kết hôn với doanh gia chuyên sản xuất rượu vang vùng Bordeaux là Robert Bourge, hai người có chung một con trai là Jean Marie.

Các báo đương thời kể rằng khi Tổng thống Pháp Paul Doumer bị một tay súng Nga lưu vong bắn trọng thương (6/5/1932), cô Thế đang có mặt bên cạnh, đã tự tay lau máu cho vị Tổng thống, ông mất sau đó một ngày do vết thương quá nặng.

Năm 1961, bà Hoàng Thị Thế trở về Việt Nam, sống ở Hà Nội và Bắc Giang. Cuốn hồi ký kể về những kỷ niệm thời thơ ấu đã được bà Thế viết vào chính thời gian này, theo Ty Văn hóa Hà Bắc (1975) thì bà Thế viết hồi ký này ở Hà Bắc vào năm 1963.

Có hai điểm đáng chú ý về cuốn hồi ký. Ấy là việc tác giả viết nó bằng chữ Pháp, và chỉ dồn mọi ký ức vào 3 năm cuối cùng trước khi rời khỏi lãnh địa Yên Thế, như trong lời giới thiệu của Lê Hồng Dương ở đầu sách nói rõ: “…bà quyết định ghi lại bằng chữ Pháp những điều tai nghe mắt thấy, những tình cảm ấm nồng về mẹ cha, anh em và các thân bằng cố hữu của mình từng sống và chiến đấu trên đất Phồn Xương từ năm 1906 đến năm 1909” (sách trên, tr. 13).

 

Cuộc đời Hoàng Thị Thế 50 năm sau kể từ năm 1909, cuộc đời một cô bé mồ côi, bản thân được nuôi dưỡng bởi chính thế lực đã trừ diệt cha mẹ, lớn lên tại xứ sở xa lạ, được ăn học nên người, hơn thế, còn trở nên nổi tiếng, tức là một cuộc đời thành đạt, quả thật, cuộc đời ấy chứa đựng rất nhiều nghịch lý của những mối quan hệ con người ở tầm liên dân tộc, ở tầm thời đại, thời đại thực dân và hậu thực dân. Nhưng bà Thế đã hầu như không kể về quãng đời 50 năm của bà trên đất Pháp. Bà chỉ tập trung nói về cha mẹ, về cuộc kháng cự cuối cùng của nghĩa quân Yên Thế, về chuyện chính mình bị bắt lúc 8 tuổi khi đang được người chị dâu cõng đi lánh nạn. Khoảng gián cách thời gian khá lớn có lẽ đã khiến bà không còn giữ giọng căm hờn đối với những người Pháp thực dân, nhưng ngay khi dẫn lại lời họ, bà cũng luôn luôn khẳng định họ thừa nhận tinh thần thượng võ, vị tha của Đề Thám, nhắc lại việc Đề Thám nhiều lần tha bổng các quan chức Pháp, trong khi chính những người ấy luôn luôn mưu toan trừ diệt ông.

Kể về những hồi ức của mình thời thơ ấu trên đất Việt, nhưng bà Hoàng Thị Thế lại dùng chữ Pháp, đó có lẽ là vì bà đã sống ở Pháp quá lâu, đến già nửa đời người (từ 1909 đến 1961), có thể nói là bà đã được nuôi dưỡng, lớn lên và sống phần lớn cuộc đời trong văn hóa Pháp ngữ. Những ký ức ở thời bà chưa can dự Pháp ngữ, tuy còn giữ được đến suốt đời, nhưng để kể lại chúng thì bằng tiếng Pháp, đối với bà, lại thuận tiện hơn bằng tiếng Việt.

 IMG_1048 (Custom)

Theo ghi chú trong sách in Kỷ niệm thời thơ ấu thì nguyên bản của thiên hồi ký này là bản viết tay bằng chữ Pháp, lưu trữ tại Ty Văn hóa Hà Bắc. Bản in năm 1975 của thiên hồi ký này là bản dịch của Lê Kỳ Anh, có sự hiệu đính của Khổng Đức Thiêm. Trong lời giới thiệu, người phụ trách Ty Văn hóa tỉnh không quên “cảm ơn dịch giả Lê Kỳ Anh đã hết lòng làm cho bản dịch tiếng Việt thêm trong sáng”. Như vậy, cuốn sách được in 6.200 cuốn khổ 13×19 cm tại Xí nghiệp in Hà Bắc, in xong trong tháng 10/1975 và nộp lưu chiểu tháng 10/1975 dưới nhan đề Kỷ niệm thời thơ ấu này, chung quy mới chỉ là bản dịch. Người ta chưa biết nguyên dạng chữ Pháp của bản thảo kia ra sao.

Sau những lần tách nhập đia phương, số phận cuốn hồi ký viết tay của con gái Đề Thám không rõ bây giờ ra sao

Điều đáng lưu ý là sau khoảng 30 năm cùng nằm chung trong một tỉnh Hà Bắc (1962-1996), hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang lại tách ra, trở về ranh giới địa lý cũ. Không rõ trong sự bàn giao việc quản lý các hồ sơ di sản, nguyên bản viết tay cuốn hồi ký nói trên của bà Hoàng Thị Thế hiện ở tình trạng thế nào, thuộc cơ quan văn hóa của Bắc Giang hay Bắc Ninh? Liệu những người quản lý có định xuất bản nó dưới dạng nguyên văn chữ Pháp?

Liên quan đến dịch giả Hoàng Cầm, từng đứng tên Lê Kỳ Anh trong bản dịch in năm 1975 kể trên, tôi nghĩ có lẽ ông đã làm công việc dịch thuật một cách có trách nhiệm, thậm chí đã gửi không ít xúc cảm vào bản dịch ấy. Tuy vậy, nếu được biết nguyên bản cuốn sách, các giới nghiên cứu và dịch thuật mới có thể đánh giá thực sự về lao động của ông hồi ấy. Đó là chưa nói, bản thảo ấy cũng có thể được dịch mới bởi một dịch giả khác

Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân

Theo TTVHCT

————————————————————

 

 

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | Leave a Comment »

►Điều gì đã khiến TBT Nguyễn Văn Linh tìm cách trả thù ông Võ Văn Kiệt cho đến cuối đời?

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2014

Chuyện gì đã xảy ra giữa cá nhân ông Nguyễn Văn Linh và ông Võ Văn Kiệt trong khoảng thời gian 1956-1986? Mối giao tình của họ kể từ sau món bê thui đã diễn ra như thế nào mà kết quả là  đã khiến ông Linh thay đổi hẳn thái độ và trả thù Kiệt từ 1986 cho tới khi ông Linh mất 2002?

Linh – Kiệt và món bê thui

7-2-2014

Tác giả:  (điểm sách BTC)

Ông Linh gặp ông Kiệt lần đầu khoảng năm 1956. Để đánh dấu sự kiện quan trọng này, ông Linh mời ông Kiệt nhậu món bê thui chấm với nước mắm gừng. Tình đồng chí, mùi bê thui, với mắm mặn gừng cay đã để lại trong ký ức ông Kiệt những ấn tượng đến tận cuối đời.

Bà Bảy Huệ vợ ông Linh là người đồng hương Vĩnh Long với ông Kiệt. Vợ chồng bà coi ông Kiệt như cậu em trong nhà. Nhưng khi hai ông đã đạt đến tột đỉnh quyền uy, thì họ cư xử với nhau thế nào. Huy Đức dẫn chúng ta lần mò vào chốn thâm cung, kín cổng cao tường, nhưng vô minh, tăm tối để tìm câu trả lời trong Quyền Bính.

Vò xé miền Tây

Tháng 6 năm 1986, ông Linh trở thành Tổng bí thư (1986-1991) còn ông Kiệt là phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước.

Tháng 8 năm 1986 xảy ra vụ án Hoàng Cơ Minh, nguyên phó đề đốc tư lệnh Vùng II Duyên hải của VNCH, qua Mỹ từ năm 1975, về Thái lập căn cứ kháng chiến. Trong vụ án này có một bị cáo là Dương Văn Tư.

Cimexcol là công ty khai thác gỗ bên Lào của tỉnh Minh Hải và thành phố Hồ Chí Minh. Phó giám đốc điều hành là Dương Văn Ba.

Khi ông Linh lên Tổng bí thư được hơn một năm thì Dương Văn Ba bị bắt vì là anh của Dương Văn Tư, và anh Ba qua Lào lập chiến khu để em Tư đánh vào Việt Nam.

Nhưng Tư sanh ở miền Bắc, và nhiều tuổi hơn Ba. Họ không có mối quan hệ huyết thống. Lại không có bằng chứng Ba qua Lào để mở chiến khu.

Số phận đắng cay không buông tha Ba. Án chính trị chuyển thành án kinh tế. Hình phạt nặng nề giánh xuống đầu Ba và nhiều người khác trong ban lãnh đạo Cimexcol, mặc dù không có chứng cớ của tham nhũng hay thua lỗ.

Huy Đức không dừng lại ở việc tường thuật tại tòa mà còn đưa bạn đọc đi tìm căn nguyên. Trung tướng công an Võ Viết Thanh, thứ trưởng phụ trách an ninh “không thấy có bằng chứng Cimexcol qua Lào mở chiến khu”. Lãnh đạo Cimexcol là những đồng chí của ông Kiệt ở miền Tây trước 1975. Ông Linh và ông Kiệt đang “có vấn đề”. Ông Linh đã chỉ đạo Lâm Văn Thê giám đốc công an Thành phố Hồ Chí Minh làm án.

Từ trái sang phải: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Xô, Phạm Thái Bường (Ba Bường), và Võ Văn Kiệt thời kỳ chiến tranh "giải phóng miền Nam" Việt Nam. Ảnh VNN

Cả miền Tây Nam bộ cuốn vào vòng xoáy nghiệt ngã của tị hiềm. Những con người hiền hòa chân chất của dải đồng bằng châu thổ kẹt giữa muôn vàn xô đẩy của quyền lực. Bao nhiêu cuộc kiểm điểm, bao nhiêu thông tư, chỉ thị, bao nhiêu người bị kỷ luật, liên lụy, cách chức, khai trừ, bao nhiêu người bị oan sai, bao nhiêu người phải ôm hận xuống mồ.

Hình ảnh của miền Lục tỉnh bị vò xé thực ra chỉ là một phiên bản hắt ra từ mối quan hệ Linh – Kiệt.

“Trèo cây, múa gậy”

Tháng 3 năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đột ngột qua đời. Theo Hiến pháp thì ông Kiệt sẽ lên thay cho đến khi Quốc hội bầu ra người mới.

Tháng 6 cùng năm, Quốc hội nhóm họp đã bầu Đỗ Mười mặc dù rất nhiều đoàn đại biểu đề nghị ông Kiệt. Bạn đọc được coi một màn xiếc, quay cuồng, đảo điên đến ngoạn mục của ông Linh.

Ngay khi Phạm Hùng vừa chết, ông Linh đi gặp cố vấn Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ, rồi giao cho Nguyễn Đức Tâm đi các tỉnh miền Bắc, Võ Chí Công đi các tỉnh miền Trung, và đích thân ông đi các tỉnh miền Nam để vận động loại ông Kiệt ra khỏi ghế thủ tướng.

Không thấy Huy Đức nêu ra nội dung của cuộc gặp giữa ông Linh và hai ông cố vấn. Nhưng theo hồi ký của Đoàn Duy Thành thì Phạm Văn Đồng đánh giá Đỗ Mười là “Chỉ có phá”. Ông Đồng có lúc đã “phản ứng rất gay gắt và đã giao cho năm đồng chí cấp tướng là phải hạ anh Mười xuống”. Cũng không thấy Huy Đức nêu ra bằng chứng Bộ chính trị chọn Đỗ Mười.

Khi vận động loại Võ Văn Kiệt, ông Linh đi đến đâu cũng bị phản đối, nhưng ông luôn nhân danh “Đây là quyết định của Bộ chính trị”.

Ông Linh đã thao túng dư luận, thao túng Quốc hội để chọn Đỗ Mười, một người đã phá nát nền kinh tế miền Bắc sau năm 1954, phá tiếp nền kinh tế miền Nam sau 1975, có tiền sử tâm thần phân liệt, đã phải phải “trèo cây”, “múa gậy” để “hạ nhiệt”, trở thành Thủ tướng.

“Cậu sẽ chết”

Ông Linh nghỉ hưu vào năm 1991, nhưng những cú thôi sơn của ông nhằm vào ông Kiệt dường như không muốn nghỉ ngơi.

Khi ông Kiệt đã trở thành Thủ tướng, miền Bắc thừa điện, miền Nam thì thiếu. Ông Kiệt cho xây dựng đường dây 500 kV tải điện vào Nam, thay vì bán qua Trung Quốc.

Ông Linh cho là ông Kiệt “lợi dụng tiền Nhà nước để gây thanh danh cá nhân”, rồi lại dùng con bài tư pháp như ông đã từng làm để triệt hạ đối phương.

Một động thái thiếu thận trọng nhưng không phạm pháp của Bộ trưởng Bộ Năng lượng Vũ Ngọc Hải đã trở thành một bản án đầy ám muội giáng xuống đầu ông cùng ban lãnh đạo xây dựng đường dây 500 kV.

Chưa đủ, ông Linh đích thân bay ra Hà Nội gặp Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao để đổi cáo trạng từ khung “cảnh cáo” thành khung có mức án ba năm tù.

Vẫn chưa hài lòng, ông Linh còn can thiệp loại bỏ đợt ân xá trước Tết Nguyên đán hằng năm, để ông Hải không còn cơ hội ra tù sớm.

Quay lại vụ án Cimexcol, ông Linh đã tung ra một màn ảo thuật để tòa phải xử “sơ chung thẩm” kết hợp, đưa nạn nhận vào ngõ cụt, tuyệt đường kháng án.

Ở vụ án này, Huy Đức dẫn chúng ta vào một khoảng tối, phía sau vành móng ngựa. Một người bạn kể với ông Hải rằng “Vị ấy đã đồng ý tha cho tớ nhưng cậu sẽ chết”. “Vị ấy” là ông Linh.

Ông Linh đã dùng quyền bính để can thiệp vào các vụ án một cách tùy tiện đến mức thối nát, nếu không nói đó là hành vi phạm pháp. Đây không phải lần đầu và cũng không phải lần cuối. Ông Linh còn làm như vậy nhiều năm sau đó để triệt hạ ông Kiêt.

Không “đao to búa lớn” nhưng…

Giữa năm 1995, Chính phủ mà ông Kiệt điều hành gặt hái được nhiều thành tích, uy tín của ông lên cao. Khi đó Tổng bí thư Đỗ Mười đã ở tuổi 80. Ông Kiêt trở thành một ứng cử viên nặng ký cho chức tổng bí thư vào kỳ Đại hội VIII.

Điều này đã làm cho Trung Quốc, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, và đặc biệt là ông Linh trở nên quyết liệt hơn, tàn nhẫn hơn. Ông Linh tung ra trận đánh tổng lực với nhiều chiến thuật khác nhau.

Bà Phan Lương Cầm.

Vợ ông Kiệt là bà Phan Lương Cầm, tiến sỹ Hóa, giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội, trở thành mục tiêu cho cuộc tấn công. Bà Cầm không phải đảng viên cũng trở thành một chủ đề cho dư luận đàm tiếu. Ông Linh gọi bà là “con mẹ Giang Thanh”. Hình ảnh bà Cầm lịch lãm, duyên dáng bên chồng trong những chuyến công du nước ngoài bị mỉa mai là “gót chân Achilles” của Thủ tướng. Tấm hình bà Cầm đang mang gói quà trong một chuyến công du được tung ra cho nhiều người coi “Ông xem, nó chỉ đi để lấy quà”. Những lời đồn thổi về chuyên cơ chở bà Cầm thường mang rất nhiều hàng hóa. Ông Linh công khai tung tin bà Cầm tham nhũng.

Đời tư của ông Kiệt cũng bị sách nhiễu. Ông Kiệt lấy vợ, ông Linh cho là “ẩu”, “không thèm hỏi ai”, “không chấp nhận được”. Ông Kiệt chơi tennis thì ông Linh cho là “xa rời lối sống và đạo đức cách mạng”, “tốn kém” và “học đòi”. Một ủy viên Bộ chính trị tâm sự “Ông Linh đi đâu cũng nói xấu ông Kiệt”. Một cán bộ cao cấp thì “rất buồn” khi nghe ông Linh gọi ông Kiệt là “thằng” giữa cuộc họp đông người. Khi ông Linh càng ốm nặng, ông càng lo lắng “Sáu Dân mà trở thành tổng bí thư thì gay lắm”. Ông quyết liệt hơn với bản trường ca “Tham nhũng đâu cần chống ở đâu, cứ chống ngay trong nhà Thủ tướng”.

Song song với những hoạt động để triệt hạ uy tín cá nhân ông Kiệt, ông Linh tìm cách cô lập và loại ông Kiệt ra khỏi Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị. Ông Kiệt không được tham dự vào các quyết định quan trọng nữa.

Đồng thời, ông Linh lôi kéo nhiều nhân vật gốc miền Tây Nam bộ để chống ông Kiệt, trong đó người dẫn đầu và lợi hại nhất là Nguyễn Hà Phan.

Khi ông Phan đang làm bí thư tỉnh Hậu Giang, ông khá phóng khoáng và năng động. Ông Kiệt cất nhắc ông ra Hà Nội làm phó cho mình vào năm 1986.

Chẳng bao lâu cơn thèm khát quyền lực chốn kinh thành đã thổi bay hương đồng gió nội. Phan bỏ Kiệt mà kề vai sát cánh với “lũ chim sẻ chim ri” Đào Duy Tùng, Nguyễn Đức Bình, thậm thụt vào ra với đám “MA vương” Mười – Anh, và Nguyễn Văn Linh.

Khi chính phủ ông Kiệt chọn Úc là đối tác thăm dò dầu khí ở mỏ Đại Hùng, ông Phan bảo “miền Nam không ai đồng tình vì bọn Úc đã đưa quân vào tàn sát đồng bào ta”. Khi ông Kiệt chủ trương cho Malaysia xây dựng sân bay Nội Bài, ông Phan đưa lý do “an ninh quốc gia”, “không cho nước ngoài đầu tư ở cửa ngõ Thủ đô”.

Tháng 1 năm 1994 tại hội nghị giữa nhiệm kỳ, ông Phan đưa ra một bản thống kê mười sáu điểm chệch hướng của chính phủ mà ông Kiệt điều hành. Bữa đó, ông Phan được kết nạp vào Bộ chính trị.

Tất cả những hoạt động trên đây mới làm giảm uy tín, chứ chưa thể kết liễu sự nghiệp chính trị của ông Kiệt được. Song, những đối thủ của ông Kiệt cũng không phải chờ quá lâu, khi ông công bố “Thư gởi Bộ Chính Trị”.

Lá thư này được cho là do Nguyễn Trung, thư ký của ông Kiệt, chấp bút. Việc công bố lá thư vào một tình huống mà ông Kiệt đang bị bao vây bởi cánh bảo thủ, và vào một thời điểm trước đại hội khi mà các phe nhóm đang tính sổ với nhau, là một sai lầm chết người của ban tham mưu cho ông Kiệt.

Đối thủ của ông Kiệt không bỏ lỡ cơ hội. “Thư gởi Bộ chính trị” được hình sự hóa. Ông Lê Hồng Hà nguyên chánh văn phòng Bộ Công an bị khám nhà, hưởng hai năm tù giam vì tội tàng trữ lá thư. Tiến sỹ Hà Sỹ Phu hưởng một năm tù giam vì tội chuyên chở lá thư. Nguyễn Kiến Giang 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội đọc lá thư.

Người chống đối lá thư này mạnh nhất là Nguyễn Hà Phan. Phan kết tội ông Kiệt là “nối giáo cho giặc”, “không vững vàng”, “chệch hướng 100%”.

Thảm đỏ đã trải ra để ông Phan bước vào Phủ thủ tướng nếu như không có một vụ án “Nguyễn Hà Phan” đầy kịch tính xảy ra ngay sau đó.

Lê Khả Phiêu người đập lại lá thư này rất đanh thép trên tờ “Quân đội nhân dân” đã trở thành Tổng bí thư kế nhiệm.

Người ta dàn xếp để ông Linh không “đao to búa lớn” với ông Kiệt như trường hợp Trần Xuân Bách. Nhưng sự nghiệp chính trị của ông Kiệt coi như đã cáo chung. Ông Kiệt yên vị ở ghế thủ tướng cho đến khi hạ cánh không lâu sau đó. Ông Linh chiến thắng.

Xuyên suốt toàn bộ “Quyền Bính” bạn đọc không thấy ông Kiệt ra đòn trả đũa. Chỉ có một tình tiết nhỏ là ông Kiệt đã chỉ ra một nhân chứng sống để lột mặt thật của Nguyễn Hà Phan, kẻ từng phản bội đồng đội trong thời gian bị bắt giam. Ban Bí thư quyết định tước hết mọi chức vụ và khai trừ ông Phan ra khỏi đảng trong vòng một buổi sáng. Ông Phan trắng tay về lại miền Tây như một tội đồ. Nhìn Phan khăn gói rời Hà thành, ông Linh tím ruột.

Lúc về hưu, ông Linh thề cống hiến cho đảng đến hơi thở cuối cùng. Sự thực của viêc cống hiến trong hơn mười năm cuối đời này là ông Linh chỉ làm một việc: Mang ông Kiệt ra thui như người ta thui bê làm món nhậu.

Kiếp người ngắn ngủi trầm luân. Cả hai ông giờ đang phiêu du miền cực lạc, chẳng biết có còn chút vấn vương trần thế mà nhớ tới bữa nhậu bê thui chấm với nước mắm gừng của thủa hàn vi.

Cảm ơn Huy Đức đã dũng cảm vượt lên sự sợ hãi, vượt lên những cám dỗ của đời thường, vượt lên những đắm đuối, mê say, sùng bái, tụng niệm của nhiều người cầm bút cùng thế hệ. Anh đã can đảm bức phá những khuôn khổ, kìm hãm, cấm đoán, răn đe để tìm tòi, và để lại cho đời, cho lịch sử một lời nói thật.

Tháng Giêng, Giáp Ngọ 2014

© Trần Hồng Tâm

© Đàn Chim Việt

Chuyện gì đã xảy ra giữa cá nhân ông Nguyễn Văn Linh và ông Võ Văn Kiệt trong khoảng thời gian 1956-1986? Mối giao tình của họ kể từ sau món bê thui đã diễn ra như thế nào mà kết quả là  đã khiến ông Linh thay đổi hẳn thái độ và trả thù Kiệt từ 1986 cho tới khi ông Linh mất 2002? Tại sao ông Linh thù ông Kiệt đến tận cuối đời? Tại sao ông Kiệt luôn nhịn nhục ông Linh?

Giữa ông Kiệt và vợ ông Linh có tình cảm gì không? Thử DNA làm xét nghiệm…?  

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Đảng CSVN | 3 Comments »

►Ai đã dàn dựng bắt và thưa kiện ông Nguyễn Bắc Truyển?

Posted by hoangtran204 trên 12/02/2014

VRNs ( 11.02.2014) – Sài Gòn- Nhà cầm quyền cs VN không muốn bắt người ta về tội danh quốc gia bởi vì những tội danh như Điều 79, Điều 88, Điều 258 đều bị cộng đồng quốc tế lên án, do đó họ dựa vào những tội danh kinh tế để bò tù [những người yêu nước] như vụ án của Luật sư Lê Quốc Quân. Sự việc của tôi liên quan đến vay dân sự, tất cả được thỏa thuận tại tòa án dân sự và không cần buộc tội tôi là lừa đảo hay chiếm đoạt tài sản. Nên tất cả những cái này là do công an đã dàn dựng và buộc những người bạn của tôi đứng ra khiện thưa tôi.” Ông Nguyễn Bắc Truyển cho VRNs biết.

Ông Nguyễn Bắc Truyển lý giải: “Sáng nay, tôi đi gặp một trong những người đã nộp đơn thưa kiện tôi, tên là Quý Loan mà công ty tôi đã nợ tiền chị trước đây do tôi điều hành và làm giám đốc. Khi tôi gặp chị Quý Loan, chị rất mừng, chị hỏi thăm cuộc sống của tôi ra sao… Và tuyệt nhiên, chị Quý Loan không nhắc đến chuyện nợ nần, cũng như chị đã thưa kiện tôi.

Tôi kể lại cho chị Quý Loan nghe sự việc công an đã đánh tôi, đập phá nhà tôi và bắt tôi… Chị Quý Loan rất ngạc nhiên và tại sao lại có sự việc xảy ra với tôi như vậy…

Chị Quý Loan xác nhận với tôi rằng, chị không thưa kiện em nhưng một nhóm công an đã đến nhà chị Quý Loan, hỏi chị về số nợ đó và họ yêu cầu chị Quý Loan làm đơn thưa kiện tôi. Chị Quý Loan cho tôi biết, họ đã lấy giấy nợ đó, họ đi và họ không thông báo gì đến cho chị ấy.

Chị Quý Loan xác nhận với tôi có một người tên Thành trong nhóm công an đã ép chị Quý Loan làm đơn thưa kiện tôi.

Tôi sẽ tiếp tục tìm 3 người còn lại đã khiếu tôi, để xem ai là người đứng sau sự việc này.

[Có một điểm] tôi rất ngạc nhiên, vì trong 4 người thưa kiện này, có một người tôi đã hoàn toàn trả hết nợ cho họ, với số nợ khoảng 320 triệu đồng, nhưng người ấy vẫn thưa kiện tôi trong hồ sơ của cảnh sát điều tra.”

Ông Nguyễn Bắc Truyển nói: “Tôi sẽ liên hệ với luật sư để hỗ trợ pháp lý cho tôi về vấn đề này. Kế tiếp, tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu những người đã thưa kiện công ty tôi trước đây thì động cơ chính của họ là gì. Bởi vì tôi biết rằng, những người này rất thương tôi và tôi rất thương họ. Tôi có khẳng định với họ là, mặc dù trong thời gian qua, tôi đã ra tù và suốt thời gian qua tôi bị quản chế, quản thúc không làm ăn gì được nhưng tôi cũng đã cố gắng trả nợ cho họ khoảng 500 triệu đồng, trên tổng số nợ của 4 người này là 1,8 tỷ VNĐ.”

Ông Nguyễn Bắc Truyển bị bắt vào chiều ngày 09.02, ngay tại nhà của ông ở Đồng Tháp và sau đó 1 ngày, ông đã được thả ra vào lúc 19 giờ, ngày 10.02.2014.

Được biết, vào năm 2000, ông Truyển làm Giám đốc cho Công ty TNHH Giao nhận ngoại thương Việt Thịch Phú. Năm 2003, ông Truyển làm Tổng giám đốc Công ty Khai thác đá granite Việt – Phi Kontum. Nhưng hồi tháng 11.2006, ông Truyển bị bắt nên hai công ty trên ngưng hoạt động và cho đến 05.2007, thì hai công ty trên giải thể do không có người điều hành.

Ông Truyển là một cừu tù nhân lương tâm, một nhà bất đồng chính kiến bị bắt hồi tháng 11.2006. Và bị kết án 3 năm rưỡi tù giam, với tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự, hồi tháng 05.2007.

Ông Truyển là thành viên khối 8406 và, là thành viên của Hội Ái Hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam.

Vào năm 2011, ông Truyển được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) trao tặng giải thưởng Hellman/Hammet, để ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị khi ông bày tỏ quan điểm chính kiến một cách ôn hòa.

Pv.VRNs
11.02.2014

http://chuacuuthenews.wordpress.com/2014/02/11/ai-da-dan-dung-bat-va-thua-kien-ong-nguyen-bac-truyen/

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Phỏng vấn nhà hoạt động Nguyễn Bắc Truyển sau khi được phóng thích

Posted by hoangtran204 trên 11/02/2014

Trà Mi-VOA

10.02.2014

24 giờ sau khi thông tin về vụ hàng trăm công an bao vây, dùng võ lực tấn công, bắt giam nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Bắc Truyển tại Đồng Tháp hôm 9/2 nhanh chóng được loan tải trên các trang mạng xã hội, ông Truyển đã được phóng thích vào tối hôm nay 10/2 tại Sài Gòn.

Trao đổi với VOA Việt ngữ khi về tới nhà, nhà hoạt động cổ xúy nhân quyền và tự do tôn giáo và cũng là một cựu tù nhân lương tâm, Nguyễn Bắc Truyển, thuật lại chi tiết vụ bắt giữ gây xôn xao cộng đồng mạng chỉ vài ngày sau khi Việt Nam kiểm điểm thành tích nhân quyền UPR tại Liên hiệp quốc.

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Cách đây 1 tiếng, tôi được thả từ trại giam Chí Hòa.

VOA: Khi anh bị bắt, họ đưa anh đi đâu và làm việc với anh về những vấn đề gì?

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Họ chở tôi về Sài Gòn. Họ nói: ‘Chúng tôi chỉ áp giải anh từ Lấp Vò (Đồng Tháp) về Sài Gòn về vấn đề công nợ của công ty cũ của anh trước đây. Trước khi bị bắt tháng 11/2006, tôi là giám đốc công ty vận tải quốc tế Việt-Thịnh-Phú và tổng giám đốc của công ty khai thác đá granite ở Kontum. Khi tôi bị bắt, toàn bộ hai công ty ngưng hoạt động, xảy ra tình trạng công nợ một số người và dĩ nhiên cũng nhiều người nợ công ty. Khi ra tù, tôi bị quản chế nhưng trong thời gian đó tôi vẫn cố gắng trả. Thời gian gần đây, không hiểu sao tự nhiên các chủ nợ đưa đơn lên công an nói rằng tôi ‘chiếm đoạt tài sản’ trong khi họ biết rằng công ty tôi bị phá sản do vụ án ‘tuyên truyền chống nhà nước’ mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam cáo buộc tôi hồi 2006. Tôi rất đau lòng khi có những tài sản giá trị lớn mà phải bán đi với giá rất rẻ để trả nợ, nhưng tôi vẫn làm.

VOA: Trong 24 giờ câu lưu anh vừa qua, họ còn làm việc với anh về vấn đề nào khác không và thỏa thuận như thế nào trước khi phóng thích anh?

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Họ yêu cầu tôi trả lời các câu hỏi nhưng tôi nói tôi chỉ trả lời khi có luật sư của tôi ở đây. Trước khi họ thả tôi, họ nói: ‘Chúng tôi là cảnh sát điều tra, chỉ làm việc với anh về vấn đề công nợ, không liên quan đến chính trị hay an ninh quốc gia. Do đó, đề nghị anh liên hệ với các chủ nợ đưa đơn tố cáo anh để dàn xếp với họ, chúng tôi sẽ đóng vụ án này lại.” Mai tôi sẽ gặp các chủ nợ hỏi lý do vì sao họ gửi đơn như vậy vì đây là một vụ án dân sự, tại sao họ lại gửi đơn cho cảnh sát điều tra biến thành một vụ án hình sự. Làm việc với cảnh sát điều tra, tôi đã nói thẳng rằng: “Các anh đã vi phạm luật pháp, bắt người không đúng mà còn đánh đập tôi nữa. Do đó, tôi từ chối trả lời thẩm vấn của các anh và không ký vào các văn bản.” Cảnh sát điều tra ở Sài Gòn cũng nhìn nhận vấn đề đó là không đúng. Còn công an tỉnh Đồng Tháp chủ trương tấn công gia đình chúng tôi, họ đi rất đông. Họ đập phá đồ đạc trong nhà. Khi họ bắt tôi, họ bẻ tay, lấy băng bịt miệng bịt mắt tôi lại. Họ ấn tôi xuống nền gạch và rất nhiều người đánh vào đầu, lưng, bụng, hai vai tôi.

VOA: Với cáo buộc ‘chiếm đoạt tài sản’ mà anh bị bắt với một lực lượng võ trang đông đảo như vậy, kể cả hành hung và bắn chỉ thiên. Anh có thắc mắc gì không?

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Tôi nghĩ công an tỉnh Đồng Tháp đã ghim tôi từ rất lâu rồi. Khi tôi về huyện Lấp Vò này, họ đã nhiều lần nhắn tin vào Facebook và điện thoại di động đe dọa nếu tôi không rời khỏi Lấp Vò về Sài Gòn thì những người thân bên vợ tôi sẽ bị chém. Thậm chí họ còn đòi thảy chất nổ vào nhà. Nhà tôi đêm nào cũng bị họ chọi gạch vào. Ống thoát nước thì họ bít kín lại. Chúng tôi yêu cầu công an xã can thiệp thì họ nói không phải trách nhiệm của họ. Tôi nghĩ họ rất căm tức khi tôi có mặt tại Lấp Vò vì sự có mặt của tôi ở đây cản trở việc đàn áp tôn giáo của họ ở khu vực miền Tây này.

VOA: Anh có những hoạt động thế nào liên quan?

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Bất cứ chuyện đàn áp nào đối với Phật giáo Hòa Hảo cũng như những thông tin liên quan đến Phật giáo Hòa Hảo, tôi đều cố gắng đưa lên Facebook cũng như các trang truyền thông khác để mọi người hiểu rằng đây là một tôn giáo rất ôn hòa, nhưng nhà cầm quyền luôn cấm đoán hoạt động sinh hoạt tôn giáo của họ.

VOA: Anh có nghĩ tới các phương pháp nào để tự vệ cho mình?

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Ở Việt Nam, chúng tôi không còn cách nào khác là phải chịu trận. Họ có bắt mình bỏ tù, mình cũng phải chịu trận thôi. Tôi tin rằng đồng bào bên ngoài luôn cổ võ, ủng hộ chúng tôi. Tôi đã nhiều lần nói với công an rằng: “Bắt tôi thì dễ nhưng thả thì nhức đầu lắm đó. Nếu anh không tin, anh lên mạng xem mọi người đang nghĩ gì về tôi.”

VOA: Anh muốn gửi thông điệp gì đến những người quan tâm đến anh, chẳng hạn như những nhà lập pháp-hành pháp Hoa Kỳ từng trao đổi với anh về vấn đề nhân quyền Việt Nam?

Ông Nguyễn Bắc Truyển: Cơ quan hành pháp-lập pháp Hoa Kỳ luôn ủng hộ tiến trình dân chủ tại Việt Nam. Tôi mong rằng sắp tới đây họ sẽ có những phương thức hữu hiệu hơn để ủng hộ những nhà đấu tranh trong nước Việt Nam. Một lần nữa, tôi xin cảm ơn các cơ quan hành pháp-lập pháp Hoa Kỳ rất nhiều đã luôn ủng hộ chúng tôi.

VOA: Xin cảm ơn anh dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

NGHE phỏng vấn

Các bài sau đây đang được nhiều bạn đọc chú ý nhất trong tuần qua

►Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đe dọa tướng Giáp: “Đại tướng đừng vin là người có công để yêu cầu nọ kia đối với Trung Ương Đảng, những người có công với đất nước nhất đều đang nằm ở nghĩa trang Trường Sơn”.
►Tướng Giáp trong “Bên Thắng Cuộc”- Vụ án Năm Châu -Sáu Sứ 1991
►Tại sao tôi xin tỵ nạn chính trị?
►Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ Hà Nội 20 tỷ đô la – Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la
►Sài gòn đang hấp hối – Soái Nga Phạm Nhật Vượng và Vạn Thịnh Phát đã và đang xẻ thịt trung tâm Quận 1
►Đồng Tháp: Công an đổ quân bắt giam cả nhà anh Nguyễn Bắc Truyển trước ngày cưới
►Liên Xô đã làm gì trong cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung 17-2-1979
►Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi, nhưng tung tin đổ thừa cho Tổng Thống Thiệu lấy
►Ngay cả lúc sắp chết, các đảng viên đảng CSVN vẫn rất tham quyền lực

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển: Nhà cầm quyền cs VN muốn bắt tôi!

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2014

Cập Nhật Ngày 10-2-2014:

*Thông báo tin vui Bắc Truyển Nguyễn  đã bị công an bắt hôm 9-2  ở Đồng Tháp, và sau đó bị giam giữ ở Công An thả VỀ NHÀ TẠI SÀI GÒN lúc 7 giờ 40 tối ngày 10-2-2014. Việc giam giữ người không quá 24 giờ theo qui định của pháp luật. Nguồn: FB Bùi Hằng

*Thông tin : anh Nguyễn Bắc Truyển đã được trả tự dovào lúc 7:40 tối ngày 10-2-2014,  sau 24 giờ bị giam giữ tại Sài Gòn , theo thông tin từ anh Huỳnh anh Trí có mặt tại Sài Gòn đã thông báo là đã về đến nhà người mẹ ruột.

Nguồn: FB Bùi Hằng

————————————————————

**Hiện nay, có tin là nhiều blogger và anh Truyển đang viết đơn báo cáo sự kiện với Bộ Công An ở Hà Nội và đồng thời viết đơn nộp Tòa Án Tỉnh Đồng Tháp để kiện Sở Công An Đồng Tháp ra tòa vì dùng bạo lực bắt bớ anh Truyển trái với pháp luật và đòi hỏi Sở  Côngan Đồng Tháp phải bồi thường  thiệt hại tài sản cho nhà vợ của anh Nguyễn Bắc Truyển ở Đồng Tháp. 

Chuyện này cần phải đưa ra pháp luật để làm sáng tỏ nội vụ vì biết đâu bọn công an cấp dưới và công an Tỉnh Đồng Tháp ỷ quyền hành, làm trái qui định pháp luật, trong khi Bộ Công An và Tòa Án thì luôn tuân thủ pháp luật. (Tạm tin là thế!)

————————————————————–

Ông Nguyễn Bắc Truyển được thả

Cập nhật: 13:16 GMT – thứ hai, 10 tháng 2, 2014

BBC

Ông Nguyễn Bắc Truyển ra tòa năm 2007

Cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển vừa được thả tối ngày 10/2, một ngày sau khi ông bị bắt tại Đồng Tháp.

Bà Bùi Thị Kim Phượng, vợ sắp cưới của ông Truyển, xác nhận với BBC tin này.

Trước đó, lá thư của bà đưa lên mạng nói ông đã bị công an bắt đi khỏi nhà tại ấp Hưng Nhơn, xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp, vào chiều Chủ nhật 9/2.

Lúc đó bà Phượng và chị gái cũng có mặt. Bản thân bà cũng bị “ép tới đồn công an tỉnh Đồng Tháp và hỏi cung 5 tiếng đồng hồ” nhưng sau đã được trả tự do.

Được biết hai ông bà Nguyễn Bắc Truyển và Bùi Thị Kim Phượng dự tính sẽ tổ chức lễ thành hôn vào ngày 18/2 tới.

Theo nội dung thư kêu cứu mà bà Phượng đăng tải trên một số trang mạng, công an huy động một số đông nhân viên tới “phá hoại nhà cửa của chúng tôi, đập bể hết những cửa sổ, bàn ghế, và tịch thu tất cả những đồ dùng của anh Nguyễn Bắc Truyển như: laptop, cell phone, máy chụp hình và nhiều thứ khác”.

Hiện chưa rõ lý do tại sao công an lại có hành động như cáo buộc.

Đấu tranh dân chủ

Ông Nguyễn Bắc Truyển là thành viên đảng Dân chủ Nhân dân có trụ sở tại hải ngoại vào thời điểm bị bắt năm 2006.

Ông bị mang ra xử tội Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN Việt Nam, theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự, vào năm 2007. Lần đó ông lãnh án 4 năm tù giam.

Tháng 5/2010 ông được ra tù và chịu lệnh quản chế thêm một thời gian.

Ông Nguyễn Bắc Truyển đã có một số bài viết kêu gọi đa nguyên đa đảng, mở rộng dân chủ trước khi bị bắt.

Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục tham gia hoạt động đấu tranh dân chủ, gần đây ông điều hành Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo.

Ông Nguyễn Bắc Truyển đã ký hợp đồng trợ giúp pháp lý với Văn phòng Luật sư Tín Việt và cộng sự, đại diện là luật sư Trần Thu Nam. Hợp đồng này còn hiệu lực tới tháng 5/2014.

Bà Bùi Thị Kim Phượng, vợ sắp cưới của ông, là tín đồ Phật giáo Hòa hảo.

————————————————————–

Trước đó, nhiều hội dân sự xã hội TỰ thành lập không thông qua chính quyền đã viết đơn phản đối về vụ bắt bớ trái với pháp luật của công an Tỉnh Đồng Tháp.

KHÁNG THƯ CỦA HỘI ÁI HỮU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VÀ TÔN GIÁO VIỆT NAM VỀ VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN CSVN BẮT GIAM TRÁI PHÉP CỰU TÙ NGUYỄN BẮC TRUYỂN

Sài Gòn, Ngày 10 Tháng 2 Năm 2014

THƯ PHẢN ĐỐI

Về Việc: Luật Gia Nguyễn Bắc Truyển, cựu Tù Nhân Lương Tâm vừa bị bắt giam ngày 09/02/2014 tại tỉnh Đồng Tháp.

Kính gửi : Giám Đốc Công An Tỉnh Đồng Tháp.
Đồng Kính : Đại Tướng Trần Đại Quang Bô Trưởng Công An CHXHCNVN .

Thưa quí vị,

Chúng tôi thay mặt Hội Ái HữuTù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam
Gửi thư phản đối nầy lên quí cấp về việc:

Vào ngày 9/2/2014 công an tỉnh Đồng Tháp sau một ngày vây ráp đã bắt giam Luật Gia Nguyễn Bắc Truyển tại gia đình Ấp Hưng nhơn, xã Long Hưng Huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp;hiện nay không rõ giam giữ ở đâu.

Chúng tôi khẳng định Luật Gia Nguyễn Bắc Truyển là một cựu tù nhân chính trị sau khi ra tù lo kinh doanh thành lập công ty giao nhận vận tải và hoạt động nhân đạo là chính; song ông cũng là nhà vận động nhân quyền rất ôn hòa, đồng thời hiên đang là Tổng Thư Ký Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo, có chủ trương vận động cựu tù chính trị hay tù nhân an ninh vũ trang trước đây thay đổi lập trường dấn thân tích cực cho các hoạt động xã hội, kinh tế nhân đạo, bảo vệ quyền lợi dân oan, tương thân tương ái, cũng như tham gia gương mẫu cho cuộc vận động xây dựng xã hội công dân, xã hội pháp quyền, tôn trọng nhân quyền, dân chủ, công bằng xã hội một cách hòa bình.

Việc Luật Gia Nguyễn BắcTruyển bị bắt trước ngày đám cưới 18/2/2014 tại vùng cư dân Phật Giáo Hòa Hảo xã Long Hưng, Lấp Vò, .Đồng Tháp là quan ngại không cần thiết dù đám cưới ông có thể rất nhiều cựu tù nhân lương tâm và bằng hữu dự tiệc chúc mừng hôn lễ. Bắt bớ ông trong hoàn cảnh như vậy cũng là điều không nên làm vì nó không hợp đạo lý dân tôc, phản tác dụng rất lớn cho quí vị.

Nay chúng tôi yêu cầu quí vị kết thúc điều tra và trả tự do ngay cho nhà hoạt động dân quyền và nhân quyền Luật Gia Nguyễn Bắc Truyển. Đó là sự trọng thị cần có của một thành viên có trách nhiệm thuộc Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc mong quí vị lắng nghe.

T/M Ban Điều Hành và Cố Vấn Hội.

Đồng ký.

Thượng Tọa Thích Thiện Minh.
Linh Mục Phan Văn Lợi.
Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
Mục Sư Nguyễn Hồng Quang
Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt.
Hòa Thượng Thích nhật Ban.
Tu Sĩ Lê Minh Triết

Thư chuyển phát nhanh có hồi báo

Nguồn: FB  Trương Quốc Việt

10-2-2014

Thông cáo của Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam.

về việc “Phản đối nhà cầm quyền cộng sản Việt nam hành hung, bắt giữ ông Nguyễn Bắc Truyển và gia đình ngày 9 tháng 2 năm 2014 tại Đồng Tháp, Việt nam”.

Kính gởi:

– Đồng bào trong và ngoài nước Việt nam.
– Các cơ quan truyền thông, báo chí.
– Các tổ chức nhân quyền Quốc tế, các hội đoàn và các tôn giáo.

Kính thưa quý vị.

Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động trong và ngoài Việt nam với mục đích đấu tranh cho các quyền lợi căn bản của công nhân và nông dân đang bị áp bức, bóc lột của chế độ độc tài cộng sản Việt nam.

Ngày 9 tháng 2 năm 2014 vừa qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã dùng bạo lực, hành hung, bắt giữ ông Nguyễn Bắc Truyễn và gia đình mà không có lý do rõ ràng.

Xét thấy cần thiết phải lên tiếng để bảo vệ người dân trong trường hợp này, Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam tuyên cáo:

– Hành vi dùng bạo lực, hành hung, bắt giữ người của nhà cầm quyền cộng sản Việt nam là trái với quy định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng các công ước, điều ước Quốc tế khác mà Việt nam đã tham gia ký kết.

– Với bằng chứng rõ ràng, hung hồn như trên một lần nữa khẳng định rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt nam luôn tráo trở, láo khoét và bịp bợm trước cộng đồng Quốc tế.

Để thực hiện đúng theo những gì mà nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã ký kết, Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam yêu cầu:

– Trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện đối với ông Nguyễn Bắc Truyễn, cam kết không quấy nhiễu, phá rối hành hung ông Truyễn và gia đình.

– Bồi thường tất cả các tài sản hư hại mà nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã gây ra ngày 9 tháng 2 năm 2014 vừa qua.

– Bồi thường tổn thất vật chất khác (nếu có) và tổn thất tinh thần cho ông Truyễn và gia đình.

Hiệp hội Đoàn kết Công Nông Việt nam kêu gọi các tổ chức nhân quyền Quốc tế nên xem xét lại về việc thực thi các cam kết, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm mà Việt nam đã tham gia.

Kêu gọi toàn thể anh em công nhân, nông dân trong và ngoài nước, chúng ta hãy đoàn kết nắm chặt tay nhau để bảo vệ ông Truyễn và những nhà đấu tranh khác đó cũng chính là để bảo vệ cho chính mình.

Trân trọng.

Làm tại Sài-gòn ngày 10 tháng 2 năm 2014.

Phát ngôn nhân Quốc nội: Nguyễn Mai

Phát ngôn nhân Hải ngoai: Trương Quốc Việt.

————————————————————-

Buổi họp Kiểm Điểm Nhân Quyền Phổ Quát từ ngày 5 đến ngày 7-2-2014 vừa mới chấm dứt ở Thụy Sĩ. Trong buổi báo cáo với LHQ,  Thứ trưởng Ngoại giao Hà Kim Ngọc đã lên diễn đàn LHQ đọc một báo cáo về thành tích nhân quyền mà chính phủ VN đã thi hành ở VN trong 4 năm qua 2009-2014. Năm nay, phái đoàn VN gồm 23 người,bao gồm cả các đại diện Bộ Công An, đã đi họp và cam kết đủ thứ về tiến bộ nhân quyền ở VN. Vậy mà chỉ vài ngày sau là có chuyện:  

Anh Nguyễn Bắc Truyển bị bắt, nhà cửa bị CA đập phá tan hoang

9-2-2014

Theo Dòng Chúa Cứu Thế

Phim phỏng vấn người chị vợ của anh Nguyễn Bắc Truyển. Hơn 1oo công an mặc áo quần công an màu xanh và mặc thường phục bao vây trước nhà và chận hai đầu đường ngôi nhà vợ sắp cưới của anh Truyển, sau đó công an dùng xà ben cạy cửa, đập bể cửa kiến phía trước và phía sau, nhảy vào nhà, rất nhiều công an đè anh Truyển xuống còng tay và bịt mắt anh, và chở đi mất. Gỡ nhiều đồ đạc trong nhà và lấy đi, gỡ hình Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ thờ trên tường và lấy đi mất. 

http://www.youtube.com/watch?v=6eFCwWK_A-c

VRNs ( 09.02.2014) – Sài Gòn- Vào lúc 17 giờ, ngày 09.02.2014, gia đình ông Nguyễn Bắc Truyển một cựu tù nhân lương tâm, xác nhận với VRNs, ông Truyển đã bị nhà cầm quyền bắt và đưa đi đâu không rõ.

Suốt ngày hôm qua cho đến hôm nay, gia đình ông Nguyễn Bắc Truyển bị nhà cầm quyền sách nhiễu và gây nhiều áp lực.

 

Trước khi Ông Nguyễn Bắc Truyển bị bắt, Pv VRNs có cuộc nói chuyện với ông:

“Hôm nay, công an đến nhà bà xã tôi, yêu cầu tôi lên đồn công an xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp làm việc. Họ yêu cầu tôi mở cửa cho họ vào nhà nhưng gia đình tôi kiên quyết không mở cửa cho họ, bởi vì tôi yêu cầu họ đưa cho tôi giấy mời lên phường làm việc, hay lệnh khám xét nhà hoặc lệnh bắt nhưng họ không đưa ra được bất kỳ một giấy tờ nào, nên tôi không mở cửa cho họ vào. Họ đi rất đông trên một chiếc xe 16 chỗ và bà con ở gần nhà tôi cho tôi biết, có mấy chiếc xe hơi 4 chỗ và 1 xe bít bùng, đặt ngay trước đường chính đi vào nhà tôi.

Nghe tin gia đình tôi bị sách nhiễu, đồng đạo PGHH đổ về nhà tôi rất đông nhưng họ đã đưa nhiều cảnh sát xuống và bố trí hai đầu đường nhà tôi rất đông, nên nhiều bà con đồng đạo không vào được nhà tôi.”

Ông Nguyễn Bắc Truyển phỏng đoán lý do nhà cầm quyền muốn bắt ông: “Thứ nhất, gần 3 tháng nay, từ lúc tôi cư trú ở xã Long Hưng B, gia đình của bà xã tôi thì họ đàn áp đồng đạo PGHH nhiều hơn. Bởi vì, tôi đã thu thập tình trạng đàn áp của nhà cầm quyền cs với đồng đạo PGHH để gửi lên các cơ quan Nhân quyền trên thế giới cũng như các Đại sự quán ở phương tây. Vào tháng 7 sắp tới, đặc phái viên LHQ phụ trách về nhân quyền ở VN sẽ đến đây thăm sát về tình hình tự do tôn giáo. Tôi nghĩ đó là lý do họ muốn bắt tôi để cách ly tôi ra khỏi các hoạt động này; Thứ hai, có thể họ muốn sách nhiễu và ngăn cản đám cưới của tôi vào ngày 18.02 sắp tới, bởi vì, họ không muốn có cuộc hôn nhân này.”

Ông Nguyễn Bắc Truyển giải thích rõ hơn: “Họ bắt tôi để không còn ai lên tiếng cho bà con PGHH, các nhà đấu tranh cũng như các tù nhân chính trị bị đàn áp ở khu vực này. Họ bắt tôi để không có đám cưới của vợ chồng tôi. Họ muốn bắt tôi lâu rồi từ khi tôi đi thăm Phái đoàn Hạ Viện Hoa Kỳ [vào ngày 10.08.2013 vừa qua].”

“Lúc nào, ở trong nhà, tôi cũng để sẵn một túi đồ có vài bộ đồ, vài trăm ngàn đồng, một ít dầu, một ít kem đánh răng và dặn với vợ tôi là “khi nào anh bị bắt thì lấy túi đồ này đưa cho anh”. Tôi đã sẵn sàng đi tù nhưng nhà cầm quyền phải bắt cho đúng và phải có lệnh bắt, chứ tôi không để họ bắt tôi như là bắt cóc, hoặc đưa lên đồn công an đánh cho đến chết… như thế là sai pháp luật. Nếu tôi đồng ý cho họ bắt như vậy, có nghĩa là tôi cổ vũ cho họ vi phạm pháp luật nên tôi kiên quyết phản đối kiểu bắt người trái pháp luật này.” Ông Nguyễn Bắc Truyển khẳng khái nói.

Ông Nguyễn Bắc Truyển nói tiếp: “Nếu đám cưới của vợ chồng tôi không tổ chức được [vào ngày 18.02.2014] thì không có vấn đề gì, vì vợ chồng tôi kết hôn danh chính ngôn thuận qua giấy đăng ký kết hôn. Nếu tổ chức được thì mọi người đến chia vui với gia đình chúng tôi. Nếu đám cưới chúng tôi bị sách nhiễu thì đó là cơ hội để cho quốc tế thấy được sự dối trá của nhà cầm quyền cs VN khi đã tuyên bố tại LHQ rằng, VN luôn tôn trọng nhân quyền.”

Ông Nguyễn Bắc Truyển cho biết thêm: “Hôm qua, có 2 người mặc áo điện lực và một người mặc thường phục đến nhà tôi kiểm tra công – tơ điện. Tôi cho rằng, đây là một cái cớ vào nhà tôi. Họ tiến hành kiểm tra công – tơ điện nhưng không phát hiện ra có một cái công – tơ điện nào bất thường, nhưng họ nói là do nhà tôi sử dụng điện ít quá nên họ phải kiểm tra. Sau đó, tôi yêu cầu họ lập biên bản về buổi kiểm tra này. Tôi cảm thấy hiện tượng này bất thường, nên tôi nghĩ rằng những người này đi kiểm tra công – tơ điện nhà tôi là do công an yêu cầu, hoặc do công an giả dạng những người này và mặc đồ của sở điện lực để đi kiểm tra nhà tôi. Đây là giả thuyết của tôi. Tôi đã quay lại toàn bộ quá trình kiểm tra điện. Tôi không có tội nên tôi có quyền giám sát việc kiểm tra điện của gia đình tôi.”

“Tôi đã về đây được 3 tháng, lúc nào công an cũng chốt gác đối diện hai bên nhà tôi để canh. Họ thường xuyên gửi tin nhắn, gửi trên các hộp thư điện tử của tôi với những nội dung như, nếu gia đình vợ tôi mà chứa chấp tôi thì họ ra ngoài đường sẽ bị chém… Họ gọi điện thoại cho gia đình vợ tôi và yêu cầu can thiệp vào cuộc hôn nhân của vợ chồng tôi vì tôi là một người tù chính trị. Nhưng gia đình vợ tôi đã phản bác lại những lời đề nghị của họ bởi vì vợ tôi đã trên 18 tuổi và có quyền quyết định hôn sự. Không ai có thể ngăn cản hôn sự của chúng tôi. Họ yêu cầu tôi về Sài Gòn sống vì hộ khẩu của tôi ở Sài Gòn, nhưng Hiến Pháp VN đã quy định rõ quyền tự do đi lại của người dân, nên bất kỳ Luật hay văn bản dưới luật mà vi phạm đến HP đều không có giá trị và tôi chỉ làm theo HP mà thôi. Họ đe dọa mẹ tôi là sẽ cắt hộ khẩu của tôi ở Sài Gòn nhưng tôi nhắn với mẹ tôi là, cứ để họ cắt. Bởi vì cuộc sống của tôi không có chứng minh thư, không có hộ khẩu thì tôi vẫn sống được.” Ông Nguyễn Bắc Truyển cho biết.

Cách đây mấy ngày, nhà cầm quyền cs Việt Nam bị LHQ khuyến nghị 227 điểm về quyền con người, sau khi nhà cầm quyền cs VN Kiểm điểm định kỳ phổ quát tại Liên Hiệp Quốc, vào ngày 05.02.2014.

Trước đó, vào ngày 16.01.2014, bà Ngọc Minh, mẹ của tù nhân Đỗ Thị Minh Hạnh có cuộc điều trần trực tiếp về Nhân quyền tại Việt Nam do Ủy ban nhân quyền của Quốc hội Hoa Kỳ tổ chức. Và, ông Võ Văn Bửu, chồng của bà Mai Thị Dung, tù nhân lương tâm Phật Giáo Hòa Hảo có vài phút kể về tình trạng của bà Mai Thị Dung bị đàn áp trong nhà tù cs thông qua video, làm tại VN và gửi đến Quốc hội Hoa Kỳ.

Pv.VRNs

——————————————————-

Hoa Kỳ ra tuyên bố về UPR Việt Nam

Cập nhật: 12:22 GMT – thứ sáu, 7 tháng 2, 2014

BBC

Đại Sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã ra tuyên bố về sự kiện Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) của Việt Nam tại Geneva, hôm 05/2/2014 từ Hà Nội.

Tòa Đại sứ tại Hà Nội hôm thứ Tư đưa phát biểu của Đại biện Lâm thời, Phái bộ Hoa Kỳ, ông Peter Mulrean cho hay Hoa Kỳ hoan nghênh Việt Nam tham gia công ước quốc tế về chống tra tấn và cảm ơn chính quyền Hà Nội đã có bài thuyết trình tại cuộc Kiểm định UPR lần thứ 18.

Tuy nhiên theo Hoa Kỳ, chính quyền Việt Nam vẫn còn có những hành vi đáng ‘quan ngại’ và ‘thất vọng’ khi xâm phạm các quyền phổ quát về con người, trong đó có xâm phạm các quyền tự do ngôn luận, lập hội, hạn chế tôn giáo, ngăn cản xã hội dân sự v.v…

Bản tuyên bố của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ hôm thứ Tư nói:

“Hoa Kỳ cảm ơn đoàn Việt Nam về bài thuyết trình của đoàn,

“Chúng tôi hoan nghênh việc Việt Nam ký Công ước Chống Tra tấn, tiến bộ về bảo vệ quyền của người đồng tính/song tính/chuyển giới, và số lượng đăng ký nhà thờ tăng lên.

“Tuy nhiên, Việt Nam vẫn sách nhiễu và bắt giữ những người thực hiện các quyền hạn và các quyền tự do phổ quát, như tự do ngôn luận và lập hội. Việt Nam cũng hạn chế tự do tôn giáo, và việc sách nhiễu các nhà thờ không đăng ký vẫn diễn ra.

“Chúng tôi quan ngại về sự hạn chế đối với việc thành lập nghiệp đoàn độc lập, về việc sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức, và việc chính phủ sử dụng lao động bắt buộc.

“Chúng tôi cũng thất vọng về việc Việt Nam ngăn cản xã hội dân sự tham gia vào toàn bộ quá trình UPR.”

‘Đề xuất của Hoa Kỳ’

Bản tuyên bố của Hoa Kỳ đưa ra ba điểm để xuất với Việt Nam như sau:

“Sửa đổi luật an ninh quốc gia mơ hồ được sử dụng để đàn áp các quyền phổ quát, và thả vô điều kiện tất cả các tù nhân chính trị, như Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Điếu Cày và Trần Huỳnh Duy Thức;

“Bảo vệ các quyền của người lao động được quốc tế công nhận và tăng cường thực thi luật cấm lao động cưỡng bức; và

“Nhanh chóng phê chuẩn và thực thi Công ước Chống Tra tấn.”

Tại cuộc Kiểm định định kỳ phổ quát về nhân quyền lần thứ 18, một số quốc gia và tổ chức cho rằng Việt Nam đã có một số chuyển biến nhất định trong vấn đề nhân quyền, trong đó có việc vận động trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn nhiều điểm phải cải thiện về nhân quyền trong đó Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nhiều điểm trong 96 khuyến cáo mà Việt Nam đã chấp nhận trong lần kiểm định UPR bốn năm về trước.

“Chúng tôi cũng thất vọng về việc Việt Nam ngăn cản xã hội dân sự tham gia vào toàn bộ quá trình UPR”

Đại sứ quán Hoa Kỳ tại VN

Nhiều đoàn ngoại giao như Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada, Đức, Ireland, Ba Lan, Thụy Điển, Phần Lan, Hungary, Czech và các quốc gia khác đã thẳng thắn chất vấn Việt Nam về những vấn đề mà Việt Nam được cho là vi phạm nhân quyền, đồng thời nêu quan điểm yêu cầu Việt Nam sửa đổi.

Đại diện của Thái Lan tại UPR 18 kêu gọi Việt Nam thành lập một định chế về nhân quyền ở cấp độ quốc gia. Trong khi, Hungary khuyến nghị Việt Nam cần thúc đẩy tự do trên mạng.

Việt Nam đang chịu nhiều sức ép hơn trong tư cách mới là một thành viên của Hội đồng Nhân quyền của LHQ.

Một số tổ chức Phi chính phủ Quốc tế như, UN Watch, cho hay vào ngày 25/2 này, một loạt các tổ chức NGO sẽ nhóm họp ở Geneva và đề nghị khai trừ Việt Nam khỏi Hội đồng Nhân quyền vì theo các tổ chức này “Việt Nam không đảm bảo các quyền tự do cho người dân ở mức cao nhất, tương xứng với tư cách thành viên.”

‘Luôn tôn trọng nhân quyền’

 

UPRViệt Nam tham dự UPR lần này với tư cách mới là thành viên của Hội đồng Nhân quyền của LHQ.

Sự kiện kiểm định định kỳ về nhân quyền tại Geneva lần này đã thu hút được sự chú ý của nhiều giới ở trong và ngoài nước.

Đoàn đại biểu của chính phủ Việt Nam gồm nhiều bộ ngành tham gia UPR năm 2014 tại Geneva về cơ bản đã khẳng định nhà nước và chính phủ Việt Nam luôn luôn tôn trọng và thực thi nghiêm túc tất cả các điều luật, công ước quốc tế về nhân quyền và quyền công dân, cho rằng Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ đáng ghi nhận kể từ lần kiểm định trước hồi năm 2009.

Đại diện Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Ban Tôn Giáo Chính phủ của Việt Nam có mặt tại Geneva đều khẳng định trong các lĩnh vực cụ thể, Việt Nam đều tôn trọng các quyền của công dân, quyền con người, với chính phủ không kiểm duyệt báo chí, mạng internet, đảm bảo các quyền tự do về ngôn luận, tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc không có tôn giáo, tín ngưỡng, tôn trọng các điều khoản đã ký của công ước quốc tế về chống tra tấn hoặc đối xử tàn nhẫn v.v…

“Mặc dù thừa nhận VN có một số cải thiện về nhân quyền trong một số lĩnh vực, chúng tôi cho rằng báo cáo của đoàn ngoại giao VN không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình nhân quyền của Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội và tự do hội họp”

Thông cáo Báo chí Liên Tổ chức

Trong dịp này, tại Geneva, nhiều tổ chức nhân quyền, phi chính phủ và các nhà hoạt động vì dân chủ và nhân quyền của Việt Nam đã tham gia nhiều sự kiện liên quan, một số nhóm vận động từ các đảng phái như Việt Tân, The Voice, các cộng đoàn Việt Nam ở hải ngoại đã có các hoạt động gây áp lực lên chính quyền Việt Nam qua các diễn đàn quốc tế xung quanh sự kiện kiểm định.

Còn từ trong nước, một số giới quan sát cũng đã có những đánh giá về nhân quyền Việt Nam, cũng như dự kiến tác động của cuộc kiểm định UPR.

Hôm thứ Tư, 05/2, chuyên gia về nhân quyền luật hiến pháp của Việt Nam từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Đăng Dung nói cho rằng cả sự kiện kiểm định UPR năm 2014 và việc Việt Nam dành ghế nhân quyền đều là những dấu hiệu có tác động ‘tích cực và tiến bộ’ đối với Việt Nam.

“Trước đây không có được nói và quốc tế cũng không hiểu gì, và đây là nơi để nói và người ta còn có sự kiểm định bằng các đoàn phi chính phủ đến để nói trước các cơ quan nhân quyền quốc tế, thì tôi thấy đấy là một sự tiến bộ,” chuyên gia về luật nhân quyền và luật hiến pháp nói với BBC hôm 05/2/2014.

‘Không kỳ vọng hiệu quả’

UPRNhiều tổ chức, cá nhân đấu tranh cho nhân quyền ở hải ngoại tiếp tục gây áp lực với chính quyền VN.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Quang A không kỳ vọng kỳ kiểm định UPR sẽ có hiệu quả chuyển đội thực sự về chính sách với chính quyền Việt Nam. Ông nói:

“Tôi nghĩ rằng chắc chắn nó sẽ có tác động gây áp lực lên nhà cầm quyền Việt Nam”, ông nói với BBC trong cuộc phỏng vấn hôm 5/2.

“Nhưng những áp lực đấy có thực sự hữu hiệu để khiến nhà cầm quyền phải thay đổi chính sách liên quan đến nhân quyền thì tôi e rằng tính hiệu quả của nó là không nhiều.”

Trước đó, hôm 04/2, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, qua diễn đàn cuộc Hội luận “Những tiếng nói của Xã hội dân sự bị cấm đoán” do Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam và Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền với sự hậu thuẫn của Ân Xá Quốc tế và Human Rights Watch tổ chức, nêu quan điểm:

“Kể từ cuộc Kiểm điểm Thường kỳ Phổ quát lần thứ nhất trước đây, Việt Nam hứa hẹn thực thi nhân quyền. Nhưng trái lại, Việt Nam tung chiến dịch leo thang đàn áp như chưa từng các nhà bất đống chính kiến, và những ai phê phán chính quyền”

Hòa Thượng Thích Quảng Độ

“Kể từ cuộc Kiểm điểm Thường kỳ Phổ quát lần thứ nhất trước đây, Việt Nam hứa hẹn thực thi nhân quyền. Nhưng trái lại, Việt Nam tung chiến dịch leo thang đàn áp như chưa từng các nhà bất đống chính kiến, và những ai phê phán chính quyền. Các bloggers trẻ, nhà báo, những người đấu tranh bảo vệ quyền công nhân, quyền phụ nữ và thiếu nhi đã không ngừng bị sách nhiễu hay bị giam cầm chưa từng thấy xưa nay.

“Cuộc đàn áp cũng nhắm vào các cộng đồng tôn giáo. Bất cứ ở đâu trên thế giới này, tự do tôn giáo đều quan trọng – được ghi rõ tại điều 18 trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, cũng như trong Hiến Pháp Việt Nam. Là quyền không thể chối bỏ, ngay cả trong thời chiến. Trong hoàn cảnh không hiện hữu những đảng phái chính trị đối lập, các công đoàn tự do hay các tổ chức phi chính phủ độc lập, các tôn giáo là những tiếng nói trọng yếu cho xã hội dân sự, nói lên nỗi bất bình của nhân dân và áp lực cho sự cải cách,” lá thư của Hòa thượng Quảng Độ gửi Hội luận từ Việt Nam viết.

Hôm thứ Tư, một thông cáo báo chí liên tổ chức cuar Mạng lưới Blogger Việt Nam, Voice, No U, Dân Làm báo, Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống, Con đường Việt Nam… nêu quan điểm:

“Mặc dù thừa nhận Việt Nam có một số cải thiện về nhân quyền trong một số lĩnh vực, chúng tôi cho rằng báo cáo của đoàn ngoại giao Việt Nam không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình nhân quyền của Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội và tự do hội họp.

“Bên canh đó, đoàn ngại giao VN còn đưa ra nhiều thông tin sai sự thật và những lập luận có tính ngụy biện, lảng tránh nội dung chính của câu hỏi trong quá trình báo cáo và trả lời chất vấn.”

‘Hy vọng đạt đồng thuận’

UPRMột số tổ chức vận động độc lập cho nhân quyền của VN đã tham gia các hoạt động tại UPR 2014.

Từ Hà Nội, hôm thứ Tư, Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Đại biểu Quốc hội Việt Nam, nêu quan điểm với BBC cho rằng ‘nhận thức’ về nhân quyền ở Việt Nam, trong đó ở giới chức chính quyền thời gian gần đây đều đã được cải thiện.

Hôm thứ Năm, từ Sài Gòn, nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam, luật sư Trần Quốc Thuận cũng thừa nhận ‘không khí tự do, nhân quyền’ ở Việt Nam thời gian gần đây đã ‘dễ thở hơn’.

Tuy nhiên, luật sư Thuận cũng nói thêm nhận thức và thực thi nhân quyền của Việt Nam, hay là khoảng cách giữa ‘nói và làm’ trên thực tế vẫn còn có khác biệt lớn.

“Pháp luật, chỉ vô hình thức, thì nhìn đâu cũng thấy có, nhưng mà rõ ràng khi áp dụng thì tùy tiện, pháp luật mù mờ và chưa có một điều luật bảo vệ quyền, nhân quyền của người công dân một cách thực sự”

Luật sư Trần Quốc Thuận

Ông nói: “Pháp luật, chỉ vô hình thức, thì nhìn đâu cũng thấy có, nhưng mà rõ ràng khi áp dụng thì tùy tiện, pháp luật mù mờ và chưa có một điều luật bảo vệ quyền, nhân quyền của người công dân một cách thực sự.”

Cũng nhân dịp này, hôm thứ Tư, ông Phạm Khắc Lãm, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Người VN ở Nước ngoài, cựu Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam, nêu quan điểm kỳ vọng giữa chính phủ Việt Nam và các lực lượng tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền người Việt Nam ở trong nước và hải ngoại sẽ đạt được một ‘đồng thuận’ trong vấn đề này.

“Giải pháp… là hai bên nhân nhượng nhau để đạt đến một sự đồng thuận. Có thể sự đồng thuận đó có khó khăn nhưng tôi tin rằng nếu có sự thiện chí của các bên thì chắc chắn một sự đồng thuận là có thể kiếm được,” ông nói với BBC.

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Đồng Tháp: Công an đổ quân bắt giam cả nhà anh Nguyễn Bắc Truyển trước ngày cưới

Posted by hoangtran204 trên 09/02/2014

9-2-2014

Tin Đồng Tháp

CTV Danlambao – Sáng ngày 9/2/2014, công an đã huy động lực lượng lên đến hàng trăm người kéo đến bao vây, khủng bố nhà riêng của gia đình vợ anh Nguyễn Bắc Truyển tại ấp Hưng Nhơn, xã Long Hưng B, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

Lúc 16 giờ 30 phút chiều cùng ngày, sau khi đã cắt đứt hệ thống điện và internet, lực lượng công an bất ngờ xông vào tấn công phá cửa, bắt giam toàn bộ những người trong nhà. Anh Nguyễn Bắc Truyển cùng vợ sắp cưới là chị Bùi Thị Kim Phượng và người chị vợ tên Bùi Kim Cangbị bọn chúng bắt lên xe đưa đâu không rõ.

Được biết, đám cưới của anh Truyển và chị Phượng sẽ được tổ chức vào ngày 18/2 sắp tới. Tuy nhiên, toàn bộ đồ đạc trong nhà anh chị đã bị lực lượng công an đập phá tan tành sau cuộc bố ráp. Anh Nguyễn Bắc Truyển bị bón chúng trói chặt hai tay, ném lên xe như một con vật rồi chở đi mất tích.

Trước khi cuộc bố ráp diễn ra, facebook chị Bùi Thị Minh Hằng đăng tải một clip quay lại màn hình skype, anh Nguyễn Bắc Truyển lên tiếng tố cáo công an hèn hạ và cho biết ‘xung quanh chúng nó bao vây rất là đông’.

Trong đoạn clip, lực lượng công an gồm đủ mọi thành phần khi ấy đang tập trung tại một căn nhà đối diện. Kẻ tham gia chứa chấp và tiếp tay cho công an thực hiện hành vi khủng bố tên là Dung.

Công an bao vây đoạn đường dẫn vào nhà riêng anh Nguyễn Bắc Truyển. Trong ảnh, lực lượng CSGT và cảnh sát cơ động…ngăn chặn sách nhiễu tất cả các xe cộ để chặn những người đồng đạo đến với gia đình anh tại Âp Hưng Nhơn Xã Long Hưng B – Huyện Lấp Vò- Tỉnh Đồng Tháp (Hình ảnh do những người Dân bị ngăn chặn chụp lại ). Ảnh: Facebook Bùi Thị Minh Hằng

Theo tin từ nhà báo Trương Minh Đức, người  dân  cho biết ngay từ sáng lực lượng công an đông đảo đi bằng nhiều xe, kể cả xe bít bùng, đến bao vây tiến vào nhà. Vì không có lệnh bắt nên anh Truyển không cho vào.

Đến khoảng 16h40 chiều, hơn một trăm công an bất ngờ dùng xà ben để phá hàng rào trước và sau nhà rồi ùa vào đập phá bàn thờ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, bọn chúng còn tiếp tục phá cửa kính, các thiết bị máy móc, camera, bàn ghế… Toàn bộ đồ đạc trong nhà anh Truyển đều bị đập phá tan hoang

Hàng chục tên CA dùng bạo lực bịt miệng và đè trói, còng anh Truyển như một con vật rồi bỏ lên xe chở đi. Bọn chúng còn vu khống anh Truyển là đã “cướp tiền của người khác hàng tỷ đồng về đây xây nhà để chống  lại  chế độ”.

Hiện nay, chị Bùi Thị Kim Phượng, vợ sắp cưới của của anh Truyển bị bắt về trụ sở công an xã. Một số người dân cho biết, anh Truyển đã bị côn an chở qua phà Cao Lãnh, có khả năng đưa về Sài Gòn .

Ngoài ra, chị vợ anh Truyển tên Bùi Kim Cang cũng đã bị công an bắt giam.

Chị Bùi Thị Kim Phượng, vợ sắp cưới của anh Nguyễn Bắc Truyển

Anh Nguyễn Bắc Truyển năm nay 47 tuổi, là một người hoạt động bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam. Anh cũng là một cựu tù nhân lương tâm từng bị kết án 3 năm rưỡi tù giam với cáo buộc ‘tuyên truyền chống phá nhà nước’.

Anh Truyển là tác giả của nhiều bài viết được đánh giá rất cao trên Danlambao, nội dung kêu gọi dân chủ, nhân quyền và lên tiếng cho các tù nhân lương tâm hiện đang bị giam giữ trong chế độ lao tù CS.

Sau khi ra tù và hết thời gian quản chế, anh Truyển quyết định rời xa cuộc sống tại Sài Gòn để về miền Tây sống cùng những người dân lao động. Hiện nay, anh đang làm việc và sống chung với gia đình vợ sắp cưới, đều là những tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tại Đồng Tháp.

Nguồn: danlambaovn.blogspot.com

Posted in Công An, Dân Chủ và Nhân Quyền | 1 Comment »

►Trong khi Mỹ thách thức và chất vấn Trung Quốc về Biển Đông, thì Hà Nội bỏ mặc và im thin thít như không hề liên quan!

Posted by hoangtran204 trên 08/02/2014

Trong lúc Mỹ liên tục nói chất vấn Trung Quốc về các hoạt động hung hãn trên Biển Đông trong thời gian 3,4 năm qua, thì Hà Nội im thin thít. Đó là thái độ phục tòng Trung Quốc và não trạng khiếp nhược cuả Đảng CSVN và Nhà Nước. 

– Biển Đông: Hoa Kỳ đòi Trung Quốc nói rõ về đòi hỏi chủ quyền (RFI). – Mỹ đòi hỏi Trung Quốc nói rõ chủ quyền Biển Đông (Người Việt).

– Mỹ: TQ cần làm rõ, điều chỉnh tuyên bố chủ quyền tại Biển Ðông (VOA). – Mỹ đòi TQ giải thích yêu sách chủ quyền (BBC). – Mỹ tiếp tục cam kết chuyển trọng tâm chiến lược về châu Á Thái Bình Dương (RFA). –Ngoại trưởng Mỹ sắp công du châu Á với ba hồ sơ nóng (RFI).

– Trung Quốc đề nghị giúp Nga trong tranh chấp chủ quyền biển đảo với Tokyo (RFI). – Trung Quốc muốn cùng Nga chống Nhật (NLĐ).

Nguồn Basam.info

 

—————————————————————-

Nhiều nguồn tin khác nhau từ báo chí nước ngoài nhận xét rằng: Hà Nội đã thôi nhắc đến Hoàng Sa trên báo chí từ lâu rồi. Hóa ra, chuyện ấy có thật. Mời các bạn tìm hiểu >>>

CHUYỆN RẤT THẤT KINH

Nguyễn Thông

13-2-2014

Một nhà văn đáng kính (từng có truyện đăng trên báo Thanh Niên) vừa biên cho tôi ít dòng, than rằng:

Bác có stt về Rằm tháng Giêng, mệt với các nhà thơ. Có lẽ tôi mệt với họ hơn cả. Ngày Thơ năm nao tôi cũng được quay phim các lễ lạt về Ngày Thơ. Năm nay có thông tin thế này, biếu bác:

Đầu tiên dự định đặt tiêu đề cho Ngày thơ 2014 là “Từ Điện Biên đến Trường Sa”.

Sau khi họp báo lần 1, các nhà báo hỏi: Thế Hoàng Sa thì sao?

Ban Tổ chức (bác Hữu Thỉnh) bèn đặt lại: Từ Điện Biên đến Hoàng Sa, Trường Sa.

Mọi người tưng bừng chuẩn bị thơ phú về biển đảo, về chống bành trướng, nhớ 17/2… vân vân.

Đùng cái, có “chỉ đạo”, rằng không được nói đến Hoàng Sa.

Họp lần 2, các nhà văn đều bực, bị ép, đành chuyển thành “Mùa Xuân- Đất Nước” như mọi năm.

Đa số muốn giữ lại cái tên “Ngày Thơ VN 2014, Từ Điện Biên đến Hoàng Sa, Trường Sa”, nhưng chắc là ai cũng biết không được.

Chính thức thì Chánh văn phòng Hội Nhà văn thông báo có “chỉ đạo” chỉ được đọc 01 bài thơ về Hoàng Sa, và duy nhất 1 bài thơ về chủ đề chiến tranh biên giới phía Bắc 17/2, còn lại thì cứ “mùa xuân – đất nước” mà diễn.

Chúng tôi cũng ngao ngán. Tâm trạng của bác cũng giống chúng tôi thôi. Nhưng có lẽ chúng tôi còn phải làm việc với lũ chúng nó, nên bi kịch và đau khổ là không kêu lên được. Năm nay sẽ chỉ làm lễ lạt ở Văn Miếu rất thường, ngắn gọn và không tổ chức đêm. Có chỉ đạo cả. Chúng nó sợ nhất là có biến.

Sau khi nghe thở than của ông bạn văn, tôi suýt ngất.
Kinh thật. Văn chương thời nay như mớ giẻ rách. Ông bà nào có ý định tham gia Ngày Thơ 2014 thì nên nghĩ lại.
Nguyễn Thông

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa | Leave a Comment »

►Và câu chuyện sau đêm giao thừa- Truyện ngắn của Đỗ Trường

Posted by hoangtran204 trên 08/02/2014

7-2-2014

Đỗ Trường

Tác giả gửi tới Dân Luận

Sau thời khắc giao thừa, tôi đã nhận khá nhiều E-Mail cũng như điện thoại, của bạn bè, người quen về bài viết Câu Chuyện Đêm Giao Thừa, mà tôi vừa gửi đăng. Trong đó có ông bạn “Đức Quay“ trước đây ở Neustadt in Sachsen. Đầu năm chưa kịp chúc tụng gì, hắn đã lên lớp, tổng sỉ vả tôi vì can tội suy diễn, lệch lạc tư tưởng trong bài viết. Rành tánh hắn, khi nói xong, ai đó vặn vẹo lại, hắn chẳng thể lý luận, biện minh, hoặc quên khuấy đi những điều mình vừa nói. Nên tôi để hắn tuôn hết ra, cho nhẹ người.

Hắn nguyên là lính, có mấy năm trên chốt quần nhau với giặc Tầu. Sau khi giải ngũ, hắn được sang Đức lao động ngay, theo tiêu chuẩn con em của Bộ Nông Nghiệp. Là đảng viên, khi còn trong quân ngũ, nên hắn được giao phụ trách đoàn thanh niên của đội cơ khí. Riêng cái khoản, nghị quyết thông tư, đường lối tư tưởng lãnh đạo hắn thuộc làu làu. Chẳng cứ khi họp hành, mà mỗi lần hắn đến tôi, hay tôi đến thăm hắn, trong bữa ăn, bữa nhậu, hắn không bỏ được cái đề tài nhão nhoẹt này. Nếu trong bữa đó, có thêm những bạn bè mới, dứt khoát tôi phải kéo ra ngoài, nói trước tính tình của hắn, để mọi người hiểu và cảm thông. Bằng không, dứt khoát sẽ cãi nhau to, như có lần, hắn đã bị đám thanh niên mới lớn, nện cho một trận sứt cả đầu, mẻ cả trán, ngay trong bữa nhậu.

Thế rồi, hắn trong đoàn quân nhận tiền đền bù để về nước, sau ngày bức tường Berlin sụp đổ. Với số ngoại tệ cầm về vào thời kỳ ấy, tầm tuổi hắn, được xếp vào hạng có chút máu mặt. Nếu như đúng cầu, hắn có thể cầm trong tay mấy cái bằng đại học và đủ cơ số đạn bắn đổ chiếc ghế kha khá, làm điểm tựa cho con đường công danh, bổng lộc sau này. Nhưng “ giày dép còn có số, huống chi con người…“ Hắn lẩm bẩm với tôi như vậy, khi hắn vượt biên trở lại Đức (gọi là Đức Quay).

Chân ướt chân ráo về đến địa phương, nộp giấy tờ sinh hoạt đảng, hắn được ngay mấy đồng chí lãnh đạo phường đặc biệt quan tâm, hết rủ rê lại đề nghị góp tiền mở dịch vụ, nhằm tăng ngân sách cho phường. Điểm kinh doanh của phường, hắn chỉ phải bỏ tiền sửa sang, sắm thiết bị từ con số không cho đến lúc vận hành của nhà hàng rượu bia, nhậu nhoẹt. Lời lãi cưa đôi, điều tất nhiên hắn sẽ được làm chủ nhiệm, người đứng mũi chịu sào.

Không hiểu ma đưa lối, quỉ dẫn đường thế nào, hắn lại đồng ý, bất chấp sự can ngăn của bạn bè và gia đình. Mà không đồng ý sao được, hợp đồng vô thời hạn, có dấu đỏ choét của đồng chí chủ tịch phường. Ngoài ra, những giao kèo trên cửa miệng của lãnh đạo phường, ngọt, dẻo như kẹo kéo, trong tinh thần đảng viên, đồng chí của nhau. Hấp dẫn và tin tưởng đến như vậy, có thánh cũng chẳng cưỡng lại được.

Gần một năm lăn lộn, cửa hàng đã ổn định, bắt đầu thu lãi, (thì lại) đánh đùng một phát, đồng chí chủ tịch phường, hớt hải từ đâu chạy về báo tin: Quận có ý định, trưng dụng mảnh đất này, để làm nhà văn hóa và một số công trình phúc lợi xã hội khác.

Làm thế này, khác gì sát ớt vào đít nhau. Tiền bạc, tài sản bao năm bán sức lao động, có mà đi tong à, hắn lăn đùng ngã ngửa, miệng còn lẩm bẩm như vậy…

Rồi cũng đến ngày, hắn phải gọi người tháo đồ, bán rẻ như cho, không nhận được một đồng đền bù. Lúc này, các đồng chí lãnh đạo phường đi mây về gió, hắn tìm nhưng không thể gặp. Chỉ còn lại các đồng chí công an phường, không tìm lại gặp. Nhiệm vụ các đồng chí, thúc giục hắn dọn nhanh chiến trường, để bàn giao lại mặt bằng mà thôi.

Chẳng đợi đến một năm hay vài tháng, khi hắn bàn giao xong, tuần sau đã có người đến treo biển quảng cáo, lại vẫn bia hơi, đồ nhậu, khác chăng chỉ có cái tên của chủ mới. Hôm khai trương, hắn ghé vào, nhìn thấy y nguyên đồ đạc cũ của hắn được lắp ráp lại. Thế này, thì có khác gì bọn lừa đảo, trấn lột. Hắn và gia đình mang đơn kiện cáo, từ quận lên đến thành phố. Nhưng đợi dài cả cổ, không ai thèm trả lời hắn. Có kẻ còn nhạo báng, bắn tin cho hắn, chủ mới toàn con cháu các ông ở quận và thành phố, có kiện vào mắt à. Hắn buồn chán lang thang, nhiều khi lên cơn như kẻ động kinh.

Trong lúc lang thang mộng du ấy, chẳng hiểu thế quái nào, hắn lại gặp được sư phụ tận vùng núi Bắc Giang. Từ đó hắn cạo đầu, theo thầy học kinh kệ, tướng số. Nhưng hồng trần chưa dứt, được một thời gian, hắn lại quay về. Lúc này, làn sóng vượt biên bằng đường bộ, qua Nga và các nước Đông Âu vào Đức đang rầm rộ. Cái động từ quay lại Đức, đảo thành danh từ mới, Đức Quay, chỉ những cựu công nhân hợp tác lao động vượt biên trở lại Đức, ra đời từ thời gian này. Bòn góp, vay mượn đủ tiền bạc, hắn theo dòng người ấy, để giải quyết những bế tắc.

Tới Đức lần này, hắn có thuận lợi hơn người khác, vì còn nhiều bạn bè cũ làm chỗ dựa. Sau thời gian ngắn trong trại tị nạn, hắn được vợ thằng bạn vừa tử nạn, đang cần người giúp việc, cẩu ra. Ban ngày, hắn vật lộn ngoài chợ, đêm về có nhiệm vụ chăm sóc vợ bạn. Năm sau, vợ thằng bạn quá cố tòi ra thằng con trai, thế là hắn đương nhiên có con, có vợ.

Khi vợ hắn sắp đẻ thằng con thứ hai, thì bị lãnh sáu tháng tù treo vì can tội mua bán thuốc lá lậu. Nguy cơ có thể cả gia đình hắn, bị trục xuất ra khỏi nước Đức, vì giấy phép cư trú toàn phụ thuộc vào vợ hắn. Nên hắn thuê luật sư lật lại vụ án. Hắn đứng ra nhận tất cả tội danh của vợ. Thay cho sáu tháng án treo của vợ, hắn phải ngồi tù gần một năm. Nhưng yên tâm, ra tù, quyền cư trú, hắn vẫn còn được ăn đong theo vợ con.

Ra tù, hình như hắn đổi tánh, lúc đầu mọi người cứ nghĩ, thằng này bị bệnh hay trúng tà. Đang ngon lành, tự nhiên dắt vợ con lên mãi vùng núi hẻo lánh, thuê nhà, thuê đất lập am gõ mõ tụng kinh. Thế mà chẳng hiểu ma lực từ đâu, chỉ một thời gian ngắn, hắn thu phục khá nhiều chân nhang, đệ tử, nhưng chủ yếu vẫn là mấy bà, mấy chị sồn sồn. Từ đây, sở học từ sư phụ Bắc Giang, hắn phát huy tối đa.

Năm, sáu năm sau, không rõ hắn móc đâu ra tiền, mua hẳn khu đất đang thuê, xây dựng lại nhà ở, am thờ khang trang ra phết. Thời gian gần đây, lại thấy hắn với cái đầu trọc lốc, thường xuyên xuất hiện trên truyền hình trong nước. Phái đoàn nào trong nước sang cũng thấy hắn đón tiếp, rồi quay phim, chụp hình. Miệng hắn bây giờ, còn dẻo và ngọt hơn đồng chí chủ tịch phường, hồi đã cho hắn vào rọ. Mấy năm trước, gặp hắn ở trong chợ Châu Á, trông béo tốt lắm, vẫn vồn vã thân mật với tôi như thưở nào. Trong câu chuyện, hắn có ý muốn tôi viết cho một bài báo về cái duyên, cái nợ đến với đạo và đời của hắn. Quả thật, muốn giúp hắn lắm, nhưng viết về người tốt việc tốt, hay những nhân vật điển hình này, tôi không biết viết, nếu cố gắng viết, chắc chắn sẽ dở lắm. Tôi nói với hắn như vậy.

Không biết, hồi vào trại và đặt đơn tị nạn, hay ở trong tù, hắn còn sinh hoạt Đảng cộng sản nữa hay không? Hôm rồi có người bảo, dạo này, hắn vẫn họp chi bộ đảng đều đều đấy. Với tôi, mỗi người đều có con đường riêng, tư tưởng, suy nghĩ tự do và có trách nhiệm với những việc mình đã làm. Dù tôi có thích hay không thích cái tư tưởng, việc làm ấy, nhưng con người hắn vẫn là bạn từ cái thời hoa niên của tôi. Và mỗi lần nghĩ đến hắn, tôi lại nhớ đến lời của vị Đại tá quân đội nhân dân VN Bùi Văn Bồng: Thằng ấy tuy là đảng viên, nhưng mà nó (còn) tốt.

Việc hắn còn sinh hoạt đảng nữa hay không, thì tôi chưa nhìn thấy. Nhưng cái chứng bệnh hão huyền của nó, có thế ví với cái bác Chủ tịch cựu chiến binh vùng phía Đông nước Đức. Tôi không rõ xuất thân của bác Chủ tịch này. Nhưng cứ đến ngày 30-4, hay ngày thành lập quân đội, thấy bác quần áo bộ đội thẳng nếp, quân hàm quân hiệu, huân huy chương đeo đầy ngực, chỉ huy tầm chục bác, ăn mặc y trang như vậy, hát hò, nhảy múa trên sân khấu. Vâng! Các bác chiến thắng và có quyền tự sướng. Nhưng các bác tự hào với ai trên nước Đức này? Tại sao các bác không ở lại Viêt Nam, để hưởng trọn những thành quả đã giành được? Mà phải sang tận xứ lạnh này, cầy thuê cuốc mướn, để mỗi lần gia hạn giấy phép cư trú, dù các bác nhũn như con chi chi, nhưng vẫn bị nó hành cho lên bờ xuống ruộng như vậy. Hơn nữa cái bộ quân phục mặc vào nó thể hiện sức mạnh của quân đội, quân kỷ của người quân nhân đang trong quân ngũ. Chỉ có người lính đang tại ngũ mới được mặc. Nó không phải những tấm áo hề chèo, diễn trên sân khấu, nhăn nhở như những Lại Văn Sâm…trong chương trình “Chúng Ta Là Chiến Sỹ“ hay của những bà buôn quần áo lính trên đường phố Nam Bộ, Hà Nội. Tôi có hai ông anh ruột, một người chị gái đã mất trọn tuổi thanh xuân, cho chiến trường miền Nam những năm tháng khốc liệt nhất. Bản thân tôi cũng từng là sỹ quan dự bị, nhưng vào những ngày này, có gì mà phải vui và vui với ai?

Nhìn các bác trên sân khấu oai phong là thế, nhưng không cứ các ông to bà lớn từ trong nước sang, kể cả mấy đồng chí tép riu, đáng tuổi em út, con cháu, các bác cũng cúi rạp người xuống. Tôi không có thời gian và cũng ít để ý đến sinh hoạt của các bác, nhưng vừa rồi, nghe mấy ông hàng xóm bàn luận: Không hiểu sao bác Chủ tịch hội chiến binh này, có nhiều thời gian đến thế. Hội hè nào, ở bất kỳ đâu cũng thấy bác ngự trên ghế chủ tịch đoàn, kể cả ngày của các chị em. Diễn văn của bác phát nào ra phát ấy, cứ dài dằng dặc. Có kẻ độc mồm, độc miệng gán con người, nhân cách của bác, “tuần chay nào cũng có nước mắt“ là hơi bị oan. Bởi vì, những cuộc mittinh, biểu tình chống Tầu vì biên giới biển đảo, động chạm đến đấng ngồi trên, làm chó gì có mặt bác. Nhưng hôm đại hội cựu chiến binh ở trong nước, trong đám đông, thấy bác cố chen lên như kiểu tranh nhau mua hàng thời bao cấp, để được chụp hình với bà nguyên chủ tịch nước là có thật. Nghĩ mà thất kinh.

Vâng! Câu chuyện đầu năm này, không biết nên vui hay nên buồn của những mảnh đời xa quê. Có lẽ, nó chỉ nói lên được một phần nào hiện thực cuộc sống. Và lúc này, tôi cũng định kết thúc câu chuyện, cố không xua đi những cái ám ảnh ở trong đầu, bằng cách bật TV, xem không khí tết nơi quê nhà. Đang hứng thú, bắt gặp ngay chuyên gia nước ốc Lại Văn Sâm dẫn chương trình. Thật ra, tôi không quen biết, ắc cảm gì với Lại Văn Sâm. Nhưng có lẽ, bác Sâm có cây cao, bóng cả che mát. Nên với cái lối dẫn chuyện nhạt nhẽo, ba lăng nhăng, hứng lên là dịch bậy như vậy, mà chương trình nào cũng thấy mặt bác. Hôm trước, các chị ở bên Pháp bảo, Lại Văn Sâm tay cờ bạc số một đấy, làm công chức nhà nước mà hắn lấy đâu ra lắm tiền thế. Không biết thực hư thế nào, nhưng Lại Văn Sâm có ông anh ruột Lại Văn Sinh, theo đánh giá của giới sáu ngón, là dạng quái thai ngâm dấm. Trong thời gian làm cục trưởng điện ảnh, không lâu, ông hô biến ngay 42 tỷ đồng tiền thuế của nhân dân. Báo chí, cơ quan công quyền nhà nước ưu ái gọi là làm thất thoát. Nhưng theo ngôn ngữ của mấy bà bán chè chén: Là ăn cắp, ăn cướp có tổ chức. Đường đường là cục trưởng, có nhiệm vụ quản lý tiền bạc của nhân dân, hàng năm có kiểm tra, chi thu, cân đối ngân sách, thế mà để một tên tiểu tốt kế toán, trong mấy năm ẵm đi 42 tỷ. Giải thích như vậy, để trốn tội, nói trẻ con, nó cũng phải bịt tai.

Ấy vậy, mà chuyện thật như đùa, chỉ với động tác từ chức, một việc làm chưa từng có ở đất Việt, đồng chí cục trưởng Sinh thoát tội thật. Nghe nói, nhiều người ca ngợi hành động có một không hai này và còn cảm thông với đồng chí. Riêng giới sáu ngón rỉ tai nhau, ăn đủ rồi, chuyện lại vỡ lở, bác Sinh không từ chức, chuồn cho nhanh ở lại ăn đòn à. Cái mốc hưu trí cũng không còn bao xa. Bác tính nát cả nước cờ rồi…

Đang mơ màng suy nghĩ, ông hàng xóm, là người tin tướng số, sang chúc tết, nhìn thấy Lại Văn Sâm, hét tôi, tắt Tivi và bảo: Cũng may, sáng mùng một, không gặp khuân mặt Kiều Trinh. Bằng không xui xẻo cả năm đấy. Kiều Trinh là con của cựu Tổng giám đốc đài truyền hình VN Vũ Văn Hiến. Người có bàn tay sau ngón, nhưng lại chuyên dạy đạo đức, rao giảng văn hóa trên truyền hình.

Tôi đành chuyển sang đọc báo, lại bắt gặp ngay khuân mặt và cái tin bác Lê Văn Tam, sang tìm đối tác ở Đức. Làm tôi nghĩ đến câu chuyện, có lẽ, cũng phải gần hai chục năm trước. Trong một lần về phép, cùng ông bạn nhà báo, chuyên viết về nông nghiệp, đến LHCXN Mía Đường 1. Trên đường đi hắn có kể, cho tôi nghe câu chuyện đánh mất tiền tỉ, của giám đốc nhà máy đường Lam Sơn Lê Văn Tam. Câu chuyện cứ như trong phim, trong truyện cổ tích ấy. Số là, đồng chí Tam có mang một tỷ tiền mặt của nhà máy, từ Thanh Hóa ra Hà Nội. Mãi không thấy số tiền này dùng vào cái khoản nào. Vào thời điểm đó tiền tỷ là rất lớn. Sau đó, bị nhà máy, bộ ngành truy hỏi, đồng chí Tam báo cáo, bị rơi, hoặc mất cắp hết số tiền đó, nhưng không biết ở đâu? Sự việc đang trong vòng luẩn quẩn, tôi lại trở lại Đức, nên không biết xử lý ra sao?

Cứ tưởng đồng chí Lê Văn Tam, đã đi điếu hoặc chí bét cũng về ôm đít vợ từ lâu rồi mới phải. Đầu năm nay, lại thấy đồng chí trên cương vị mới, chủ tịch HĐQT công ty mía đường Lam Sơn, rất hiên ngang, dẫn đầu một phái đoàn vô cùng “hoành tráng“ sang Đức. Không biết, công việc tìm đối tác của đồng chí đi đến đâu và có mang lại lợi ích gì cho dân cho nước hay không? Nhưng uẩn khúc tiền tỷ trước đây của đồng chí, cứ làm cho tôi rờn rợn.

Đức Quốc ngày 7-2-2014,
Đỗ Trường

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

►Ông Thông Gia- truyện ngắn của Vũ Thư Hiên

Posted by hoangtran204 trên 08/02/2014

Thấm thoát mà nhà văn Vũ Thư Hiên đã rời bỏ VN 21 năm. Chắc hẳn nhà văn đã và đang nhớ nhà ghê gớm lắm. Đoạn đầu của truyện ngắn dưới đây đã nói lên nổi nhớ nhà ấy. Cầu cho cs sớm sụp đổ để nhà nhà văn VTH được trở về VN sống ở nơi mà ông rất yêu mến nhưng phải rời bỏ vì sự khắc nghiệt của chế độ độc đảng bán nước hại dân; mong sao nhà văn VTH có được niềm vui cuối đời như Alexandre Solzhenitsyn đã trở về Nga sau khi Liên Xô sụp đổ 1990. 

Ông Thông Gia

Vũ Thư Hiên

Tôi sung sướng đằm mình trong nước mát. Trên đầu tôi, chung quanh tôi, nắng chói loà. Tôi bập bềnh trôi. Có tiếng sáo diều văng vẳng. Đang say sưa ngụp lặn bỗng tôi bị một cái gì va vào làm tôi vùng vẫy, sặc sụa.

– Cậu ngủ say quá thể! – tôi nghe tiếng người, tiếng cô Lương – Dậy đi, cậu.

Cô Lương lột tấm chăn tôi trùm kín đầu. Tôi giằng lại không được. Thế là tỉnh hẳn.

– Có việc gì mà cô đến sớm thế? – tôi càu nhàu.

Tôi tiếc giấc mơ. Tiếc lắm. Không dễ gì gặp được một giấc mơ như thế. Với tôi, dòng sông quê hương mà tôi vừa được thoải mái trầm mình trong đó giờ đây xa lơ xa lắc. Nó gần như mất hẳn trong trí nhớ. Giấc mơ như một món quà bất ngờ. Món quà tan biến chỉ vì cái nhà cô Lương thổ tả kia.

Tôi nghe tiếng dép lẹp kẹp đi về phía bếp, tiếng nước đổ vào ấm, tiếng bật công tắc.

– Sớm gì mà sớm. – tiếng cô Lương nói – Trưa rồi.

Tôi vẫn còn chưa hết bực mình. Kim đồng hồ trên bàn chập nhau ở con số 12. Trưa thật rồi.

Cô Lương chậm rãi pha trà. Giữa chúng tôi, hơi trà ngào ngạt và ấm áp bốc trên miệng chén. Ở khoảng cách gần, tôi thấy cô già sọm – hai mắt lõm sâu, má hóp, da mặt đã có màu bao xi măng. Mấy chiếc răng cửa hơi đưa ra, cái duyên của cô ngày trước, giờ xuống màu, với những khe rộng hơn trước. Giọng cô không còn trong, không còn cao, nó mệt mỏi, khàn khàn. Từ nốt ruồi ở quai hàm bên phải chui ra một sợi râu bạc.

– Cửa cũng không thèm đóng. – cô chép miệng, trách – Em chỉ việc đẩy vào. Có ngày trộm vét sạch. Thật đấy. Cậu biết hôm nay ngày gì không?

– Ngày gì?

– Ngày Ông Táo lên chầu giời rồi đấy.

– Ờ…

Lại một năm trôi qua. Cô Lương là cuốn lịch sống của tôi. Không có cô nhắc, tôi sẽ không biết mình đang ở đâu trong dòng chảy vô hình ấy. Đã nhiều năm, mỗi khi phải lấy áo ấm ra mặc, thấy tuyết rơi, tôi biết là mùa đông đến; phải lôi cái quạt máy trong đống đồ xếp xó ra cho nó chạy, tôi biết đã vào hè.

– Em mang ít đồ cúng sang cho cậu.

Trên nóc tủ tôi thấy có mâm ngũ quả, xôi lạc, gà luộc. Và nén nhang mới bén.

– Cảm ơn cô.

Cô cười không tươi.

– Đàng nào em chả cúng. Cậu thì cái gì cũng phiên phiến, phiên phiến. Tết nhất phải có chút gì gọi là hương khói để nhớ đến tổ tiên, ông bà. Tết này cậu sang em, ăn Tết bên em nhá?

– Ờ…

– Hôm nay em sang đây – cô nói, giọng ngập ngừng – là có việc phiền cậu…

Tôi đặt chén trà xuống, nhìn cô, chờ đợi. Ở đây, chỉ tôi là người thường nhờ vả cô. Chứ cô chẳng bao giờ nhờ vả tôi.

– Việc gì vậy?

Cô ngần ngừ.

– Em muốn phiền cậu đi Berlin với em một chuyến.

Tôi ngạc nhiên. Từ khi dọn về đây ở gần cô, tôi chưa thấy cô đi đâu.

– Đi Berlin? Làm gì chứ?

Cô nhoẻn cười, ngượng ngập:

– Hỏi vợ cho cháu Hiếu.

*** 

Tôi và cô Lương có một tình bạn dài nửa thế kỷ.

Tình bạn của chúng tôi bắt đầu bằng một món ăn. Cô Lương không phải người bình thường. Ở đất thủ đô, cô là người nổi tiếng. Cô nổi tiếng không phải vì cái gì to tát, mà nổi tiếng nhờ món bún mọc. Tôi sẽ không tả nó ngon như thế nào. Không ai có thể tả được cái sự ngon. Chuyện ấy là của riêng cái lưỡi. Cứ phải ăn mới biết. Chỉ có thể nói gọn một câu: bún mọc là món độc quyền của cô Lương trong toàn thành phố. Về món này không ai cạnh tranh được với cô. Quanh gánh bún cô Lương, khách ngồi chật vỉa hè đợi đến lượt. Đông thế mà cô tài nhớ lắm ai đến trước, ai đến sau, lần lượt múc cho từng người suất bún nóng hổi, thơm phức, nước dùng ngọt lịm, húp bỏng miệng. Những viên mọc của cô, được chế tạo cách nào không biết, nêm nếm thế nào không biết, mềm và đàn hồi, cắn ngập chân răng, như thể chúng không phải được nặn bằng thịt lợn tầm thường của trần thế.

Đến đây tôi phải nói ngay rằng giữa hai chúng tôi không hề có chuyện ong bướm. Đơn giản vì cô Lương không phải là một cô. Cô không phải đàn bà.

Trở thành khách quen của gánh bún mọc, tôi gọi anh chàng Lương này bằng cô, như cách mọi người gọi. Có người còn gọi là cô đồng Lương. Gọi thế không đúng – Lương không phải cô đồng. Không hầu đồng, không am miếu, không hương khói, đàn địch, không con công (con nhang?) đệ tử, sao gọi thế được. Các nhà khoa học viết khá nhiều về hiện tượng ái nam ái nữ, tôi có đọc, nhưng không hài lòng. Thế giới “ái” rất đa dạng, rất phức tạp, theo tôi quan sát. Nó không dễ giải thích. Đơn giản hoá nó, sơ lược hoá nó, trong cái nhìn bất biến, đinh ninh, miêu tả qua lăng kính duy vật cho ra vẻ khoa học là không được. Lấy cô Lương làm ví dụ. Đực rựa, có vợ có con hẳn hoi. Chị vợ, tôi đã gặp, xinh gái, đàn bà trăm phần trăm, mẹ của hai đứa con giống bố như đúc. Một gia đình như mọi gia đình. Cái khác là trong gia đình này anh chồng từ tấm bé đã thích trang điểm theo cách nữ – ở nhà không biết thế nào, chứ ra đường là phải thoa một chút phấn hồng lên má, quệt một đường son nhẹ lên môi. Lại còn đeo nịt vú nữa chứ (nó hiện rõ qua lần áo phin nõn), ai cũng thấy. Nói ỏn ẻn, đi nhún nhẩy, hai tay phẩy phẩy bên hông, như thể đàn bà. Thế mới thành cô Lương. Nhưng “cô” không có một nhân tình đàn ông nào, tuyệt không. Chưa ai bắt gặp “cô” cặp kè với một người phái nam. Vì thế, nói rằng trong con người cô Lương có thứ tình dục đồng giới, bệnh hoạn, theo cách nhìn của thế hệ tôi, là nói bậy.

Tôi là người không háo lên án ai, lên án cái gì. Tôi chỉ háo ăn ngon. Qua một lần nếm thử đã đủ để tôi trở thành khách quen của gánh bún mọc cô Lương. Thấy tôi, khi nào cô cũng đon đả:

– Kìa, anh giai! – rồi khi múc bát mọc rồi, cô tươi cười hỏi, không thể nói rằng cô hỏi lấy lệ – Anh giai thêm hành trần nhá? Ớt tươi chứ? Anh giai sành một cây, em biết tính ông anh mà, ăn mọc chẳng chịu tra tương ớt đâu. Ngần này đủ chưa?

Rồi lại sợ mất lòng một ông khách nào đó nghiện tương ớt, cô bả lả:

– Nói vậy chứ bách nhân bách tính, có người thiếu tương ớt là nhạt mồm nhạt miệng, ăn mất ngon, có phải không ạ?

Hoặc:

– Anh giai nom có vẻ mệt, em nhúng hai trứng nhá? Anh giai bổ dưỡng đi cho chị em vui.

Tôi đỏ mặt vì những lời chớt nhả ấy. Khách tủm tỉm nhận xét: múc cho tôi, trong muôi của cô bao giờ cũng có nhiều mọc hơn cho người khác, một chút thôi, nhưng hơn. Họ đùa cợt bảo: là do tôi đẹp trai. Tôi soi gương chẳng thấy mình đẹp trai tẹo nào, có lẽ tại hai chúng tôi có duyên tiền kiếp.

Đùng một cái, không thấy cô Lương dọn hàng. Không ai biết cô biến đi đâu.

Khách hàng nghiện bún mọc buổi sáng nhìn cái vỉa hè quen thuộc từ lâu đông nghịt giờ đây trống trơn, chưng hửng dắt xe đi. Hỏi người chủ ngôi nhà trước gánh bún mọc của cô Lương, một ông già cao lêu đêu, ông ta lắc đầu: không biết. Cô Lương đến xin đặt nhờ gánh bún thì ông cho, ông không khoảnh. Ông cho cô ngồi nhờ ở hàng hiên nhà ông vô điều kiện. Để cảm ơn ông, sáng nào cô cũng làm một bát mọc tú hụ bưng vào cho ông. Khi khách quá đông, ngồi chật cả lối ra vào, ông chưa kịp trách thì cô Lương đã bẽn lẽn xin gửi ông ít tiền hàng tháng, coi như thuê chỗ.

– Cô ấy cứ giúi vào tay, bắt tôi phải nhận. Chứ tôi cũng không đòi. – ông nói như phân bua – Thời buổi này giúp nhau được chút gì thì giúp, là cái nghĩa đồng bào. Vỉa hè nào phải của tôi. Nhưng cô ấy là người biết điều. Thấy làm phiền người nhà đi ra đi vào, cô ấy ngại. Tôi không biết cô ấy dọn đi đâu, thật vậy.

Hoá ra trong những ngày ấy cô Lương ở tù. Với người Việt ta, ở tù không phải sự lạ. Thiên hạ gặp nhau thấy ngờ ngợ thì không hỏi quê quán, họ hàng mà hỏi: mình gặp nhau ở trại nào nhỉ?

* *

Tôi gặp lại cô Lương ở một nơi mà cả hai đều không ngờ: trại tị nạn Hồng Kông.

– Giời ạ, cậu?! – trông thấy tôi, cô Lương túm lấy, mừng quýnh. Rồi trợn mắt lên, thì thào – Cậu, sao lại ở đây?

– Thì có gì lạ?

– Cậu là cán bộ kia mà.

Cô Lương thay đổi đến khó nhận ra: son phấn không, áo quần luộm thuộm, nhếch nhác, trên mép là một hàng ria nham nhở. Bây giờ tôi không còn là khách hàng nữa, cô gọi tôi bằng “cậu”. Tiếng “cậu” của ta có nhiều nghĩa, là cách bạn bè thân mật gọi nhau, cách con gọi cha, vợ gọi chồng, cháu gọi em ruột của mẹ. Khi dùng với người ngoài nó lại là cách xưng hô tỏ sự tôn trọng đối với người có dòng dõi hoặc thuộc vai vế xã hội trên mình.

– Cán bộ thì đã sao? – tôi ôm chầm lấy cô – Đến đây lâu chưa?

– Hai năm rồi. Còn cậu?

– Mới.

– Em tưởng chỉ có dân chúng em khổ quá mới phải ra đi thôi – cô Lương cụp mắt nhìn xuống bàn chân đầy bụi di di trên mặt đất – Ai tự dưng bỏ nhà bỏ cửa, bỏ quê hương bản quán? Báu lắm đấy, cái đồng đất xứ người… Mà tại sao cậu lại phải đi?

– Chuyện dài – tôi đáp – Lúc nào rảnh, tôi kể. Còn cô, đang đắt khách sao cô lại dẹp hàng, rồi ở đây?

– Cũng là chuyện dài, cậu ơi.

Chuyện dài ấy là thế này:

Trước, hai mẹ con cô Lương là xã viên hợp tác xã thu mua đồ phế thải, nôm na là hợp tác xã đồng nát. Dân ta vốn thích oai, gọi vống lên cho sướng, chứ xã viên của cái hợp tác xã này vẫn là những bà đồng nát ngày trước. Đòn gánh trên vai, hai đầu hai thúng, họ lang thang khắp phố phường mua đủ thứ đồ vứt đi: sắt vụn, nồi thủng, mâm bẹp, giấy lộn, tóc rối…, đem bán lại cho các vựa. Để được phép làm việc ấy, tháng tháng họ phải đóng một khoản tiền cho hợp tác xã, coi như mua sự hợp pháp. Mẹ cô Lương là con gái Ước Lễ, Hà Đông, làng này nổi danh cả nước về nghề giò chả. Chồng chết sớm, bà mở hàng ăn kiếm sống, nuôi con. Có nghiệp tổ, miễn chăm làm thì không giàu được cũng đủ sống. Mở hàng mới được ít lâu thì đùng một cái, nhà nước ra lệnh cấm tiệt mọi nghề dính dáng tới lương thực, tức là tuốt tuột mọi thứ – gạo, ngô, khoai, sắn và bất cứ thứ gì có chứa tinh bột Vốn liếng thế là tong. Cũng có vài hàng phở, hàng cháo lòng đánh liều, bán chui ở trong nhà. Bà không có cái gan ấy. Để được bán chui phải chạy vạy, phải đi đêm với đủ loại quan nha, chức sắc: cán bộ phòng thuế, cán bộ quản lý thị trường, công an khu vực… mới yên. Suy đi tính lại, chỉ có cái nghề mạt hạng, bị khinh khi, là nghề đồng nát, người ta mới không nhòm đến.

Cuộc sống vất vả làm sức khoẻ bà suy sụp, rồi mất. Cô Lương còn lại một mình. Cô bỏ gánh giấy vụn, đi làm thuê cho một quán phở chui. Cho đến khi ông nhà nước thấy cuộc sống sa sút quá, kinh tế xuống dốc quá, thành phố tiêu điều quá, mới rộng lượng ngoảnh mặt đi cho những người buôn thúng bán bưng muốn làm gì thì làm, cô Lương mới dám nghĩ tới việc vay mượn họ hàng sắm sanh gánh bún mọc cho mình. Rồi lấy vợ, đẻ con.

Ai ngờ một gánh bún mà làm nên cơ đồ.

Cô Lương trở nên giàu có. Nói giàu là nói trong khái niệm tương đối. Giàu ở đây là có nhiều tiền hơn người quanh mình thôi, chứ chẳng phải thiên ức vạn tải gì. Có đồng ra đồng vào, cô cũng chẳng sung sướng. Thời bấy giờ, giàu cũng là cái tội cái nợ. Người dư dả đồng tiền ngẩn ngơ không biết dùng nó làm gì. Sắm sửa thì hàng xóm biết, gửi tiết kiệm nhiều tiền thì nhà nước biết. Phải tìm mọi cách giấu cho kín cái giàu, không được hở cho bất cứ ai. Đã trở thành thói tục người này theo dõi người kia, nhà này nhòm ngó nhà khác, không trừ cả thân thuộc. Thành thử cô Lương phải hết sức giấu giếm cái sự giàu của cô, như các cụ nói, như mèo giấu cứt. Nhưng chẳng lẽ cứ tích tiền để đấy trong lúc nó mất giá hàng ngày?

Nhờ ông anh họ mách nước, cô trở thành người “chơi” đồ cổ. Ông này rất sành đồ cổ, nhất là trong lĩnh vực gốm sứ, tôi có nghe tiếng. Ngay Viện bảo tàng Lịch sử cũng phải mời ông cố vấn mỗi khi phải xác định niên đại một hiện vật mà nhận định của các chuyên gia không thống nhất.. Người như thế lẽ ra phải ở trong biên chế, nhưng ông không được nhận vì lý lịch – cha ông có thời làm thông phán trong phủ Toàn quyền.

Ông khuyên cô:

– Chú cứ nghe tôi: để tiền vào đồ cổ là an toàn nhất hạng. Nó là thứ không thiu không thối, càng để lâu càng có giá. Chú quen nghề đồng nát, biết nhiều nhà, cứ lân la dò hỏi, biết đâu đấy, có khi vớ được của quý cũng nên. Gặp đồ cổ chú cứ gọi tôi, tôi biết cái gì quý, cái gì không quý, trả bao nhiêu là vừa. Nhà nước mua lại đồ cổ của dân bằng giá rẻ mạt, như cướp không, chẳng ai muốn bán. Dân đào được đồ cổ cũng bị thu mua, chỉ được tí tiền gọi là bồi dưỡng. Mình trả cao hơn nhà nước là người ta bán. Quen rồi, người nọ mách người kia, chú sẽ mua được khối thứ. Mua rồi cứ để đấy.

Cô hỏi ông anh:

– Mua để đấy phỏng có ích gì?

– Xì, chú không biết nhìn xa.

– Là thế nào ạ?

Ông nói chắc nịch:

– Thể nào rồi cũng có một ngày khác bây giờ. Lúc ấy chú cứ gọi là ngồi trên đống của.

Cô Lương nghe lời ông anh. Cô làm quen với giới buôn đồ cổ “chui”. Cô dò hỏi, cô lùng sục, gặp đồ quý, cô mua. Dần dà, nhờ sự dạy dỗ của ông anh, cô cũng trở thành một chuyên gia đáng nể. Cầm cái bát, cái đĩa hay lọ độc bình lên, ước lượng nặng nhẹ để biết xương, xem men, xem dáng, cô có thể nói ngay niên đại của món đồ, thuộc đời nào Tống, Đường, Minh, Thanh hay Lý, Trần. Còn hơn chuyên gia, cô sở hữu một số đồ độc nhất vô nhị. Các cụ nói: cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, đồ cổ thì thứ nào cũng lớn hơn kim hết. Thế rồi một ngày kia có người chào cô mấy cái đĩa men ngọc đời Lý, men rạn, cực hiếm. Cô mua ngay. Cũng ngay đấy công an ập vào khám để tìm những hiện vật Viện bảo tàng vừa mất trộm. Người ta tìm ra tức khắc – chính là mấy cái đĩa ấy. Để “làm rõ” lý lịch những đồ cổ khác, người ta thu tất tần tật các thứ cô tích cóp được trong mấy năm trời. Cô Lương bị bắt vì tội “tiêu thụ của gian”. Cô ở tù gần một năm, không xét xử, gọi là giam cứu.

– Rồi họ xác minh cô vô tội?

– Làm gì có chuyện ấy?! – lần đầu tiên tôi thấy cô cười gằn – Họ bảo em nhận tội đi rồi họ tha, không nhận thì cứ ở đấy.

– Rồi cô nhận?

– Chứ sao.

Ra tù, cô trắng tay. Với tấm giấy tạm tha trong túi. Cô vợ xinh gái đi theo một tay cán bộ phòng thuế. Có thể gây dựng lại cuộc đời bằng gánh bún mọc, như trước kia, nhưng cô không còn sức, nói cho đúng, sau khi ở tù ra cô chán mọi sự, không còn ý chí, không còn ham muốn. Nghe người ta mách, cô dắt hai con xuống Hải Phòng tìm đường đi xứ khác. Cũng lại do ông anh họ chuyên gia đồ cổ:

– Chú đi đi, chú đã bị bỏ tù một lần, coi như có vết, không tiền án cũng tiền sự, ở đây khó sống lắm. Bây giờ người ta đi ầm ầm. Tôi xin lỗi chú. – ông quệt nước mắt, sụt sùi – Cũng là tại cái thằng tôi chú mới sa vào vòng tù tội…

Chuyện vượt biên xưa như trái đất, khỏi kể. Sóng gió, đói khát, cạn nhiên liệu, chìm tàu… vân vân. Tất cả những cái đó xảy ra với bất kỳ ai. Người có số may mắn hiếm lắm.

* *

Tôi bằng lòng đi Berlin với cô Lương. Cô nói không có tôi đi cùng, cô sẽ lúng túng, không biết ứng xử thế nào với nhà gái cho phải phép.
Ở nhà cô, một chàng trai cao, to, để ria mép, trân trân nhìn tôi.

– Cháu Hiếu đấy – cô Lương nói, vẻ tự hào pha ngượng nghịu.

– Chào cháu – tôi chào nó, biết rằng nó sẽ không chào tôi trước – Bác không nhận ra cháu đấy.

– Gutten tag … – nhìn tôi, nó nói – Bác khoẻ?

Cô Lương liếc tôi, cái nhìn biết lỗi.

– Khi chúng mình gặp lại nhau, cháu mới bằng ngần này. – tôi cười xuề xoà với cô Lượng, rồi giơ bàn tay úp sấp làm hiệu chỉ chiều cao của nó hồi ấy – Từng ấy năm, cháu làm sao nhớ được tôi là ai.

Nghe cô kể thì thằng Hiếu sáng dạ, học trung cấp cơ khí, bây giờ đã là trưởng ca hay trưởng kíp gì đó trong một nhà máy, công việc tốt, lương cao.

– Ba, con ra tiệm nét một lát – nó bước ra cửa – Con đi chếch meo. Ba với bác chuẩn bị sẵn sàng nhé!

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, hai đứa con cô Lương không gọi cô bằng “ba”. “Ba” hiện đại hơn, sang hơn “bố”. Đi ngang tôi, thằng Hiếu vẫy tay:

– Chuýt!

Thì ra cái Audi đen bóng đậu ngoài phố, lối vào nhà, là của nó.

– Bọn trẻ giờ thế cả. Không biết lễ phép là gì – cô Lương thở dài – Sang đây chúng nó thành Tây cả. Nó vừa nói cái gì vậy, cậu?

Tôi giải thích. Cô Lương không biết computer là cái gì.

– Cậu đừng chấp – cô Lương bảo tôi – Thế là toi cái Tết. Mình lên đấy rồi về chắc gì kịp ăn Tết. Em mời cậu Tết này ăn Tết với em, mời thật tình, mà hoá ra mời rơi. Cậu vào đây mà xem: em đã lo sẵn hết cả: măng lưỡi lợn nhá, chân giò nhá, lá giong gói bánh nhá, thịt xay làm mọc nhá… tất tần tật. Em nghĩ lại rồi, em đi một mình cũng được, bắt tội cậu đi với em những ngày này, em ái ngại quá.

– Vẽ, đi là đi. Tôi nói rồi, với tôi ngày Tết chẳng có gì quan trọng. Cô đừng nghĩ ngợi.

– Thằng Hiếu lấy Tây hay ta đấy?

– Ta, cậu ạ. May thế!

Cô chị thằng Hiếu lấy Tây. Bố vợ với con rể chỉ gút tần tác, gút tần nác với chuýt là hết chuyện. Cô Lương rầu lắm. Cô còn rầu hơn nữa là đến bẹo má thằng cháu ngoại một cái cũng không được, sờ cái giống của nó cũng bị cấm – Tây nó không thích. Nó sợ cô làm bẩn con nó.

Cô phân trần:

– Nhà gái đòi phải có chạm ngõ, ăn hỏi, rồi mới cho cưới. Lôi thôi quá, cậu ơi. Lần trước gọi điện về, thằng Hiếu đã giục. Em bảo: để thư thư, Tết ra đi cũng được. Đùng một cái, ông bố vợ nó bị đâm xe.

– Nặng không?

– Nặng, mới khổ. Bà mẹ vợ bảo thằng Hiếu phải tức tốc về đón em lên để chính thức có nhời với người ta. Nếu chẳng may ông ấy có mệnh hệ nào họ còn cho cưới chạy tang.

– Hiểu rồi. Cô biết nhà gái chứ?

– Thằng Hiếu có nói gì trước với em đâu.

Mặt cô Lương chảy dài. Khi cô buồn, hay là có điều suy nghĩ, cô bước những bước chậm chạp, cái lưng gù xuống.

* *

Làng chúng tôi ở miền Nam nước Đức. Làng nhỏ nhưng sạch sẽ, ngăn nắp, an bình. Nói chung, làng quê ở vùng này đều thế: gọn gàng, tiện lợi, bé tí, mà cái gì cũng có – bưu điện,cửa hàng dược phẩm, bệnh viện, trạm xăng, siêu thị. Thằng Hiếu vui vì tôi nhận lời đi cùng bố nó, nhà trai như thế là đủ hoành tráng. Nhưng nó chê ỏng chê eo nơi ở của chúng tôi:

– Cháu đã bảo ba cháu dọn lên Berlin, ông ấy không chịu, kêu ở thành phố lớn ồn. Ra đến nước ngoài mà còn chui rúc xó xỉnh. Ở cái chốn nhà quê thế này, bác tính, vui thú nỗi gì cơ chứ? – nó nói với tôi trên con đường làng hẹp – Sorry bác, mấy ông khốt giống nhau như đúc, sợ thay đổi như sợ cọp…

Cô Lương im lặng. Tôi ậm ừ. Tôi cảm thấy mếch lòng. Cứ như thể bố nó không chịu đi là do tôi, ông ấy thích ở đây là vì ở đây có tôi.

– Được cái ông bố vợ cháu khá. – thằng Hiếu hồn nhiên tiếp tục – Khác hẳn bố cháu. Còn nhanh nhẹn lắm, cứ như thanh niên í. Hồi mới sang, ông í đứng đường bán thuốc lá lậu, rồi cầm đầu hẳn một băng, kiếm khẳm. Tậu được nhà. Nhà hẳn hoi, chứ không phải căn hộ. Thay xe như thay áo. Mẹ vợ cháu cũng đảm, làm chủ một resto trên năm chục bàn. Ba cháu mà như người ta thì đâu đến nỗi như bây giờ. Mèng ra cũng có một cái imbiss . Tội nghiệp, không biết liệu ông bố vợ cháu có tai qua nạn khỏi không?

Không giống nhiều thanh niên khác, Hiếu vẫn nói thạo tiếng mẹ đẻ, chỉ thỉnh thoảng nó mới chêm vào vài tiếng Đức quen miệng, vài tiếng Anh thời thượng. Trên xe, nó nói với tôi nhiều hơn nói với bố.

– Này, anh Hiếu, thế ông ấy đã làm… hừm, gọi là cái gì nhỉ, à, cái di chúc chưa đấy? – giữa câu chuyện, cô Lương đang lim dim ở ghế sau, nhổm lên nói.

– Ông ấy khoẻ như vâm, – thằng Hiếu nhún vai – nghĩ gì đến di chúc.

– Vạn nhất ông ấy không qua khỏi mà không có di chúc để lại thì, hì hì…, vợ chồng anh dễ bị thiệt lắm.

Trong câu nói của cô Lương có âm sắc mai mỉa. Nhưng con trai cô không nhận thấy.

– Ông ấy có gì để lại? Khôn như rận, ba ơi, cái gì cũng tên vợ hết. Ông ấy sợ. Bọn Đức khiếp lắm, trốn thuế cả chục năm rồi chúng nó vẫn moi ra đấy.

Chúng tôi đến Berlin vào buổi tối.

Bà thông gia phốp pháp, son phấn tưng bừng ngay cả khi đang điều khiển nhà hàng. Nhác trông cũng thấy sự không môn đăng hộ đối giữa nhà trai với nhà gái.

– Chúng em không oẻ hoẹ tương tàu đâu, thưa hai bác – bà nói, giọng ngọt lịm – Nhưng mà, thưa hai bác, gì thì gì mình vẫn cứ phải giữ lề thói cha ông. Con nhà gia giáo chữ lễ phải coi trọng, là nhất, có đúng thế không ạ? Em dễ tính, cứ phiên phiến, thế nào cũng xong, chứ ông nhà em cổ lắm, nhất nhất cứ phải theo phép xưa mới chịu. Phật tử đấy ạ. Chăm đi chùa lắm. Mà chùa thì xa, có phải gần đâu. Tối nào cũng ngồi thiền, tụng kinh niệm Phật đấy ạ.

– Ông bà nghĩ thế là chí phải. – cô Lương chắp tay lễ phép – Chúng tôi nhất nhất xin theo. Ngặt vì mình ở xứ người, có nhiều cái không thể được như ở nhà, chúng tôi có điều gì thất thố xin ông bà bỏ qua cho.

Cô Lương nói trơn tru trước sự ngạc nhiên của tôi. Thường ngày cô có cái giọng ấy, có õng ẹo cũng là chất phác, mộc mạc.

– Con Thuỷ đâu rồi? – bà cao giọng gọi vào trong bếp – Ra đây.

Một cô gái trẻ, vận quần áo đúng mốt, có hở một chút rốn, nhanh nhẹn chạy ra. Mắt thằng Hiếu sáng lên. Hai đứa nhìn nhau lúng liếng. Con bé này rồi cũng đảm chẳng kém mẹ, tôi nhận xét.

– Con chào hai bác đi. Bây giờ thế đấy, hai đứa chúng nó quen nhau từ lúc nào em đâu biết, chúng nó đâu có báo cáo báo cầy gì với bố mẹ. Thôi thì không bằng lòng cũng phải bằng lòng, bác không kén dâu, chúng em cũng chẳng kén rể, mà có kén cũng chẳng được, thời bây giờ chúng nó kén nhau chẳng khiến ta, em nói thế có phải không ạ? Là cái duyên cái số cả. Nhà trai đến, có nhời với chúng em là chúng em vui rồi. – bà rơm rớm nước mắt – Vui đến, buồn cũng đến. Năm nay nhà em gặp hạn. Ông nhà em lái xe cẩn thận lắm, mà vẫn bị. Tổ cha cái thằng Đức lợn ấy, nó phóng bạt mạng, mới ra nông nỗi. Thổi bong bóng thằng ấy thấy có hơi rượu, nhưng cảnh sát bảo còn dưới mức cho phép. Chúng nó bênh nhau mà, bọn Đức thế cả, ai chả biết. May, nhà em đã mua bảo hiểm toàn phần…
Cô Lương đến lúc ấy mới dám lí nhí hỏi câu cô muốn hỏi.

– Thưa, bệnh tình ông nhà… thế nào rồi?

Bà thông gia vui vẻ:

– May, tưởng nặng, hoá không phải. Không phải mổ xẻ gì hết, chỉ mấy mũi khâu, băng bó xong nằm tĩnh dưỡng ít hôm là về. Nhà em hiếu khách lắm, ông ấy mà gặp hai bác thì chuyện dứt không ra đâu. Mấy hôm nữa, khoẻ lại rồi, nhà em sẽ đưa hai bác đi thăm các danh lam thắng cảnh ở đây. Còn bây giờ em xin mời hai bác dùng bữa rồi về nghỉ ở nhà em. Được cái nhà không đến nỗi chật, em đã chuẩn bị, hai bác mỗi người mỗi phòng ạ.

– Cảm ơn bà, bà chu đáo quá. Bác cháu đây (cô Lương chỉ tôi) trước cũng ở Berlin, bác cháu đã gọi điện đặt phòng ở một khách sạn quen rồi – cô nói dối ráo hoảnh, làm tôi một lần nữa ngạc nhiên – Chúng tôi nhận phòng xong là ăn tối luôn ở đấy cho tiện rồi mới lại yết kiến bác…

* *

Khi chúng tôi đến phòng bệnh thì thấy một bác sĩ Đức đang ở trong đó, đang đọc bệnh án.

Nhác thấy người bệnh qua cánh cửa khép hờ, cô Lương lùi phắt lại như bị điện giật, nắm chặt lấy tay tôi.

– Ông sao vậy? – tôi ghé sát vào tai cô Lương, thì thào.

Cô Lương xua xua tay:

– Không, không sao.

Mắt vẫn không rời khe cửa, mặt cô Lương đờ ra, xám ngoét. Cô lôi tôi khỏi chỗ.

– Thằng Hiếu đâu rồi?

– Tôi không biết. Nó vừa đây mà.

Thì ra thằng Hiếu dừng lại ở ngoài cổng hút thuốc. Cô Lương lật đật chạy đến, túm lấy nó, tôi hối hả theo sau.

Đứng trước mặt con, cô dằn giọng:

– Hiếu, bố vợ mày tên là gì?

Nó trố mắt:

– Sao, có chuyện gì mà ba hỏi thế? Sao mặt ba tái đi thế?

– Tao hỏi: bố vợ mày tên gì?

Thằng Hiếu ngớ ra.

– Ông ấy tên là Khởi, ông Khởi. Có chuyện gì thế, ba?

– Đúng, đúng là nó.

Cô Lương lẩm bẩm rồi cúi gập xuống như một thân cây bị đốn. Tôi vội đỡ cô. Thằng Hiếu lại càng hốt hoảng:

– Ba, ba sao vậy? Bác có biết ba cháu bị sao không?

Tôi lắc đầu. Cô Lương phẩy phẩy tay:

– Đi về. Đi về.

– Sao đến đây rồi lại đi về, ba?

– Đi về là đi về.

Tôi đoán là có chuyện nghiêm trọng, liên quan tới người bệnh đang nằm trong kia. Tôi kéo cô vào quán nước gần nhất. Dọc đường cô như người mất hồn, mặc tôi muốn đưa cô đi đâu thì đi.

Đặt cô ngồi xuống ghế, tôi gọi mấy ly bia. Cô run run cầm cái ly lên, lẳng lặng uống cạn. Đợi cô uống xong, rồi ghé sát vào tai cô thì thào:

– Ông biết ông ta?

Cô Lương nhìn chằm chằm vào khoảng không, môi mím chặt:

– Chính là nó. Chính là nó đấy, ông ạ.

Khi có người thứ ba, chúng tôi không xung hô với nhau như thường ngày nữa, mà “ông, tôi”. Cái đó đã trở thành quy ước, nó gắn chặt thêm tình thân giữa chúng tôi, như giữa hai kẻ đồng mưu.

– Mà nó là ai kia chứ? – tôi gặng.

Cô hít vào một hơi rồi thở ra hộc ra, như muốn trút hết không khí khỏi lồng ngực:

– Là thằng làm đời tôi tan nát ấy. Nó. Chính là nó. Có đến chết tôi cũng không quên mặt nó, cái thẳng khốn nạn ấy. Chính là cái thằng giả dạng đem bán cho tôi mấy cái đĩa cổ, rồi làm hiệu cho đồng bọn ùa vào khám nhà để tống tôi vào tù đấy.

Một giọt nước mắt xúc động lăn trên gò má, cô lấy mu bàn tay quệt đi. Rồi ngẩng lên, nhìn vào mặt con:

– Thằng Hiếu nghe đây!

Thằng Hiếu ngẩn ngơ trước thái độ không bình thường của bố. Bình thường bố gọi nó bằng anh, một điều anh Hiếu, hai điều anh Hiếu, với giọng trịnh trọng của ông bố đã có tuổi nói với đứa con đã thành nhân, không bao giờ bố gọi nó bằng thằng. Trước mặt nó giờ đây không phải là ông bố hiền lành, ông bố đụt, mà nó đã quen thấy, mà nó hằng coi thường. Trước mặt nó là một người đàn ông dữ dằn đang nổi cơn điên.

Nó bất giác khoanh hai tay lại, cử chỉ từ lâu nó không làm.

– Dạ.

– Nghe tao nói đây: mày sẽ không lấy cái con nhà ấy, hiểu không? – cô nhìn thẳng vào mắt nó, dằn từng tiếng, như bắt nó phải khắc trong trí

– Con ấy có là tiên cũng không lấy nữa, không được. Thằng Khởi là kẻ thù của gia đình ta. Chính nó đã làm cho gia đình ta điêu đứng. Hôm nay có súng trong tay thì tao đã bắn chết nó…

Thằng Hiếu im lặng ngồi phịch xuống ghế. Hai tay ôm đầu, nó ảo não nhìn bố.

Vẫn giọng chắc nịch, cô Lương không nói, mà tuyên bố:

– Thà chết, chứ tao không thông gia với cái giống ấy.

Tôi ôm lấy vai cô:

– Việc gì thì cũng phải bình tĩnh, từ từ suy nghĩ, trước hết là phải bình tĩnh, không nên nóng nảy. Bây giờ ta về khách sạn. Rồi tính tiếp.

* *

Ngày hôm đó kẻ vất vả nhất, khốn khổ nhất, là thằng Hiếu. Nó lái xe chạy cuồng giữa ba đỉnh của một hình tam giác – khách sạn, nhà thương, nhà hàng. Nghe lời tôi, nó nói dối bố mẹ vợ rằng lễ vấn danh theo kế hoạch như thế là phải hoãn – bố nó bất thình lình trúng gió, nằm liệt, không đi lại, không làm gì nổi. Ông bố không nói gì, nhưng bà mẹ và cô con gái cuống lên, nằng nặc đòi đến thăm. Nó phải ra sức cản, viện lẽ chừng nào bố nó chưa được định bệnh thì không thể và không nên đến, biết đâu đấy, chưa chừng bố nó nhiễm chứng cúm châu Á ngay trước khi lên đường đi Berlin cũng nên, bệnh ấy vừa xuất hiện, người bệnh cần được cách ly. Lời nói dối có hiệu quả – ở Đức người ta sợ cúm châu Á còn hơn sợ dịch tả.

Tôi không nói với cô Lương đó là kế hoãn binh của tôi. Tôi nói ra, cô sẽ nổi khùng. Cả ngày, cô chẳng nói chẳng rằng, chỉ nằm ngửa nhìn lên trần.

Đêm đến, thấy cô có vẻ đã nguôi ngoai, tôi mới lựa lời khuyên nhủ:

– Cô nóng quá. Sự đời rắc rối, nó đã xoay ra thế rồi, sức mình không cải được, thì đành chấp nhận, chứ biết làm sao?

Cô Lương trợn mắt:

– Cậu nói thế là ý thế nào? Là em phải quên đi, phải chịu làm thông gia với thằng khốn kiếp ấy? Cậu muốn em muối mặt đến gặp nó để xin con Thuỷ cho thằng Hiếu? – cô Lương tung chăn ngồi dậy, ôm đầu rền rĩ – Không, cậu ơi, không, em không thể nhìn mặt nó. Em không thể làm thông gia với nó. Không là không.

– Thì tôi có bảo cô phải đến gặp nó đâu. Tôi chỉ muốn nói là hai trẻ đã trót yêu nhau rồi, thì mình phải nghĩ cách sao cho vẹn cả mọi đường…

– Cách gì?

– Thì phải nghĩ đã chứ. Sao cho chúng nó không đau khổ.

– Chúng nó đau khổ thì mặc chúng nó.

Cô Lương quay đi, chấm dứt câu chuyện.

Tôi vắt óc chẳng nghĩ ra cách nào hay ho. Khuyên được nạn nhân hoà giải với kẻ thù là chuyện vá trời.

Gần sáng, tỉnh dậy, thấy cô Lương vẫn thức, tôi pha trà, rồi bảo:

– Thế này: tôi đưa cô ra ga đi tàu về trước, tôi ở lại. Mình sẽ nói rằng cô đã được chuyển về bệnh viện địa phương tiếp tục điều trị.

Cô lắc đầu:

– Việc gì phải nói dối? Như thế cầm bằng em sợ nó, em không dám giáp mặt nó. Em không sợ nó. Em căm thù nó.

Tôi thở dài:

– Từ từ đã nào. Có phải cô nhờ tôi đi để làm việc hỏi vợ cho thằng Hiếu không nào? Trông thằng Hiếu mà thương. Nó sợ cô đến nỗi không dám vào đây, mỗi lần tôi mở cửa lại thấy nó lấp ló ở đấy.

Cô Lương ngước mắt lên, hỏi:

– Cậu nghĩ sao? Nó sợ hay nó ghét mặt bố nó?

Tôi quả quyết:

– Nó sợ đấy. Lúc cô thiếp đi, tôi ra ngoài thì gặp nó. Tôi đã kể cho nó nghe hết sự tình, tức là tất cả mọi chuyện mà tôi biết. Nó khóc. Nó thương bố lắm.

Mặt cô Lương dãn ra ra khi nghe tôi nói thế.

– Nhưng mà em dù sao thì cũng không thể thông gia với cái giống chó má ấy được, cậu ơi. – cô lại ôm đầu – Không đời nào.

– Thì tôi đứng ra mà. Không phải cô. Tôi cũng không để cô muối mặt gặp thằng ấy. Coi như tôi là bố nuôi thằng Hiếu, cô không đến được thì tôi thay mặt nhà trai đến chạm ngõ. Còn sau này ra sao hạ hồi phân giải.
Nghe đến đấy cô Lương quay mặt vào tường, im lặng.

* *

Nằm trên giường bệnh là một người khoẻ mạnh. Nụ cười hồ hởi nở trên gương mặt phương phi, ông ta đưa tay cho tôi bắt. Nước da ngăm ngăm đen làm tôi hình dung ra ông trong bộ cảnh phục và câu nói cửa miệng của dân Hà Nội chỉ đám công an: “chân chì, da thiết bì, mũ bình thiên”.

Thằng Hiếu cho biết: khi tai nạn xảy ra, ông bố vợ nó có bị thương, có chảy nhiều máu thật, nhưng hoàn toàn tỉnh táo. Mới lấy máu bôi lem nhem khắp mặt mũi, rồi giả bộ ngất. Tưởng thế là đủ để cảnh sát làm một biên bản thuận lợi cho sự bắt đền, nào ngờ thấy máu me bê bết, họ vội gọi xe cấp cứu chở phắt đi bệnh viện. Mà ở bệnh viện thì tình trạng thương tật của ông thế nào người ta biết ngay. Sở dĩ ông còn được nằm nán lại mấy ngày là vì ông vờ bị choáng, thỉnh thoảng lại ngất đi, tính kiếm thêm ít điểm cho sự bồi thường về sau.

Nó dẫn tôi đến, rồi đứng ngoài, để hai người lớn nói chuyện.

– Tôi trông ông quen quen. – ông ta vui vẻ nói.

– Tôi cũng vậy. Tôi cũng có cảm giác chúng ta đã gặp nhau, nhưng ở đâu thì không nhớ ra. – tôi nói cho có chuyện.

– Già rồi là hay quên lắm, tôi cũng không nhớ ra.

Tôi cố lấy giọng trịnh trọng:

– Chắc cháu Hiếu đã thưa với ông: tôi là cha nuôi của cháu. Bố cháu ngã bệnh thời khí, nhất thời không đến được, nên tôi mạn phép được thay mặt nhà trai, trước hết để vấn an ông, sau là có lời xin ông bà cho cháu Thuỷ làm dâu…

Ông bố vợ thằng Hiếu cười hì hì:

– Biết rồi, biết rồi. Lại bà nhà tôi đây, bà ấy chúa hay vẽ chuyện. Cũng là phú quý sinh lễ nghĩa thôi. – rồi hạ giọng, thân mật – Chứ hồi tôi với bà ấy lấy nhau ấy mà, lễ nghĩa quái gì đâu, chẳng chạm mặt, cũng chẳng ăn hỏi. A lê hấp, cưới. Mà cưới tập thể cơ đấy, ông ạ. Nhoáng nhoàng, nhoáng nhoàng, buồn cười lắm: chủ toạ buổi lễ chưa nói dứt câu thì cả đám cô dâu chú rể đã xông vào xơi kẹo bánh ào ào như tằm ăn rỗi, rồi ào ào kéo nhau đi tuốt…

Giọng nói của ông ta gợi nhớ đến một cái gì quen quen. Cả gương mặt nữa. Tôi đã thấy nó ở đâu nhỉ?

– Tôi là người hiện đại. – ông ta tiếp tục vui vẻ – Lễ nghĩa là cái gì? Che mắt thế gian thôi. Cưới là cái gì? Là để lên giường có giấy phép, hì hì, có sự thừa nhận chính thức của nhà nước, để không bị ghép vào tội hủ hoá, có đúng thế không nào? Ông trạc tuổi tôi, ông còn nhớ người ta trị cái tội ấy nghiêm khắc thế nào. Kinh lắm. Lũ trẻ bây giờ chúng nó măng phú hết, chúng nó đếch cần lễ nghĩa gì ráo…

– Quả có thế.

– Ở bên Tây này khỏi nói, dưng mà ở trong nước cũng thế, mới lạ. Gọi là sống thử, chưa cưới cũng ở chung, vui ra phết…

– Dù sao thì…

– Ông muốn nói: cứ phải theo thủ tục của ông bà để lại mới tốt chứ gì? Ờ, thì cũng tốt, cũng tốt thôi. Thừa còn hơn thiếu, ít nhất thì để cho bà nhà tôi sướng, làm như thế, tức là đủ thủ tục thì bà ấy sướng lắm đấy…

– Dạ.

– Ông thấy cần làm gì cứ làm, tôi không phản đối. Mà này…

– Ông bảo sao?

Ông ta suồng sã nháy mắt với tôi:

– Có cái hủ tục ấy anh em mình mới có dịp gặp lại nhau chứ.

Thế là thế nào? Trong một thoáng tôi sực nhớ ra: phải rồi, trước mặt tôi, người đang nằm trên giường kia chính là tên công an đã hành tôi nhiều đêm trong cuộc hỏi cung kéo dài bất tận.

Chuyện là thế này. Tôi có bà cô ruột ở Sài Gòn. Qua họ hàng vào thăm bà biết tôi từng bị bắt đi cải tạo, bà thương tôi, khi sửa soạn vượt biên bà muốn đưa tôi cùng. Trước đó tôi còn không biết mặt bà. Cô cháu tôi không gặp may. Tên chủ tàu phản thùng. Nó thu vàng rồi báo công an. Cả tàu bị bắt. Tên Khởi này không phải là người hỏi cung chính, hắn là phụ tá.

– Tôi nhớ ra rồi. Ông là… Điều tôi không ngờ là chúng ta lại tình cờ gặp nhau ở đây. – tôi cười chua chát – Ông nhận ra tôi?

– Chứ sao! – hắn cười to – Trí nhớ công an mà. Chúng tôi không quên cái gì. Chúng tôi được huấn luyện để không quên.

– Tài thật. Bằng ấy năm rồi mà ông vẫn nhận ra ngay.

– Còn hơn thế nữa kia. Tôi biết tại sao lại là ông, chứ không phải bố thằng Hiếu, đến.

– ???

Hắn nói chậm, rõ từng tiếng:

– Ông đến là vì cô đồng Lương không muốn giáp mặt tôi.

Tôi ngạc nhiên. Phải nói là sửng sốt mới đúng. Chúng tôi chỉ thập thò ở cửa phòng bệnh của hắn chưa đến một phút.

– Quỷ quái, ông đã nhìn thấy? Ông nhận ra ông ấy?

Vẻ đắc thắng, hắn hơi nhổm người lên, cười vào mặt tôi:

– Sao không? Chỉ thoáng thấy ông ấy ở ngoài cửa là tôi nhận ra liền. Tôi biết: ông ấy còn căm tôi lắm. Ông khác, ông quên rồi.

Tôi lắc đầu, cố giữ vẻ bình thản:

– Không, tôi không quên.

– Ông quên. Bằng chứng là ông không nhận ra tôi khi bước vào đây. Ngay cả khi ngồi trước mặt tôi, ông cũng không nhận ra. Ông chỉ nhận ra khi tôi nhắc.

– Tôi vốn không có tài nhớ mặt người. – tôi lạnh lùng – Nhưng sự việc thì nhớ. Có nhiều sự việc con người không thể quên.

– Thế là tốt. Nhớ nhiều quá chẳng hay gì.

Khởi cười khẩy, cái cười khẩy rất đểu, làm tôi nhớ thêm một chi tiết trong cuộc hỏi cung. Đêm ấy hắn cũng cười như thế khi hỏi tôi: “Bà cô cậu bảo nếu tớ thả hai cô cháu cậu ra, bà ấy xin chết bốn cây. Liệu hai cô cháu cậu có định cho tớ leo cây không đấy?”

Tôi nhìn vào mặt hắn:

– Tôi có điều không hiểu: tại sao ông lại ở đây?

– Dớ dẩn. Ông đặt một câu hỏi không nên hỏi tí nào. Đơn giản là trả lời: cũng như các ông thôi.

– Chúng tôi khác, ông khác. Ông ở trong đám người có quyền đè đầu cưỡi cổ kẻ khác. Ông đi làm gì?

Khởi vẫn không mất vẻ tươi cười:

– Tội nghiệp, ông âm lịch quá. Con người ta sinh ra đã biết lựa chọn rồi, đã biết so sánh rồi, so sánh để lựa chọn cho đúng. Cái tốt hơn đặt bên cái tốt kém, thì cái tốt kém là cái xấu. Tôi chọn cái tốt. Nếu không thể chọn cái tốt nhất. Ở trong nước cũng thế, ở đây cũng thế.
Tôi khen hắn, thật lòng:

– Ông thật tinh quái.

– Chúng tôi được dạy dỗ để trở thành tinh quái mà. – hắn cười, vừa độ lượng vừa thoả mãn – Ông cứ xem các nhà lãnh đạo quốc gia của chúng ta bây giờ xem – có ông nào không giàu đâu. Tôi không làm được như họ, bởi vì tôi không có cái thế của họ. Thì tôi phải đi tìm chỗ khác. Có thế thôi. Người như tôi nhiều. Người như ông với cô Lương hiếm. Ông không nên tự hào về sự hiếm ấy. Đó là sự lạc hậu.

Tôi mím môi, thở dài qua mũi.

Hắn nắm tay tôi:

– Quên, tôi chưa hỏi ông: cô Lương, à ông Lương, sang đây không làm ăn gì à? Không mở cái quán nào?

– Không. Ông ấy đi làm nhà máy. Rồi về hưu.

Hắn cũng thở dài:

– Dại. Dại quá. Có tài nấu nướng như ông ấy, mở một cái imbiss cũng khẳm tiền. Có tiền là có điều kiện cho con ăn học đến nơi đến chốn.

– Hai cháu cũng được học hành tử tế đấy chứ, cũng nên người đấy chứ. Tôi không thấy có gì đáng phàn nàn.

Hắn đặt bàn tay béo tốt, gần như mũm mĩm, lên tay tôi, một lần nữa:

– Thế này nhé! Chuyện thằng Hiếu với con Thuỷ coi như xong. Ông Lương không đến cũng được. Kể cả ông nữa. Cứ coi ông là người đại diện nhà giai đi. Không sao. Không phải chúng ta là người quyết định. Làm gì còn có sự gả bán nữa. Thời này không phải thời chúng ta.

– Dù sao thì chúng tôi cũng phải có lời xin cháu làm dâu đàng chúng tôi. Mình cứ giữ cho đủ lễ.

Hắn nhếch mép cười buồn. Rồi bảo:

– Con người ta tham lắm, ông ạ. Nói thật với ông, không muốn có một thằng rể chỉ tốt nghiệp trung cấp. Tôi muốn một thằng rể bét ra cũng phải kỹ sư, tiến sĩ. Hoặc một ông chủ công ty lớn. Hai đứa chúng nó đặt tôi vào thế kẹt. Biết làm thế nào? Thôi thì đành chịu vậy.

Khi tôi kiếu từ, hắn còn nói theo:

– Ông yên trí, tôi sẽ nhào nặn lại thằng Hiếu. Nó chịu khó, chăm làm, cũng có chút chí tiến thủ, không như bố nó. Cái nó thiếu mà tôi không cho nó được là không nó không có cao vọng.

* *

Câu chuyện tầm phào này đến đấy là kết thúc. Như mọi câu chuyện tầm phào khác, nếu nhìn bằng cái nhìn chăm chú thể nào ta cũng tìm thấy trong đó một cái gì đáng để ta suy ngẫm, cho dù sau đó chẳng đến được một kết luận rõ ràng.

Tôi không tường thuật cho cô Lương nghe cuộc đối thoại giữa tôi với thằng Khởi. Nó không chỉ là kẻ thù của riêng cô Lương. Nó còn là kẻ thù của tôi nữa. Điều này tôi giấu, không nói ra. Nếu tôi nói, có thể cô Lương sẽ cảm thấy lòng căm thù của cô được san sẻ. Nhưng, khốn nạn thay, không phải vì được san sẻ mà hận thù nơi cô nhẹ đi. Có khi nó còn nặng thêm, vì cô thấy nó có lý hơn.

Chỉ có thời gian mới có khả năng xoá đi hận thù. Mà thời gian đủ để xoá là bao lâu thì không ai biết, không ai có thể chỉ ra.

Ba năm liền, hai ông thông gia không giáp mặt nhau, không gửi cho nhau một lời hỏi thăm.

Năm thứ tư, tôi bắt gặp hai kẻ thù một thời đi cùng nhau ở quảng trường Brandenburg. Giữa hai người là đứa cháu mới chập chững biết đi.
Nó tin cậy giao hai bàn tay bé tí cho hai ông nó dắt

danluan.org 

Các truyện ngắn khác:

Nhân đọc về cụ Tôn Thất Tần, người tù bị đảng bắt giam từ 1946 

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

► Việt Nam không tôn trọng nhân quyền, NHƯNG lại thích xin gia nhập vào Hội đồng Nhân quyền của LHQ!

Posted by hoangtran204 trên 07/02/2014

Trần Hoàng

UN Watch có trụ sở tại Geneve, là  một cơ quan theo dõi tất cả các hoạt động của Liên Hiệp Quốc nói: việc các nước bầu  VN, Cuba, Trung Quốc vào Hội đồng Nhân Quyền LHQ cũng tựa như “bầu một kẻ chuyên đi đốt nhà, thành người đứng đầu một sở cứu hỏa”. 

5-2-2014 tại trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Thụy Sĩ, phái đoàn của Nhà nước Việt Nam lại một lần nữa công khai nói láo và lừa giối 189 quốc gia tham dự  Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về thành tích thực thi Nhân Quyền ở VN từ 2009-2013.

Năm nay, phái đoàn VN gồm khoảng 23 người đến Thụy Sĩ tham dự UPR. Thứ trưởng Hà Kim Ngọc đọc báo cáo trước LHQ và lập lại lời hứa hẹn: đồng ý mời đặc phái viên của LHQ vào thăm viếng VN trong năm 2014 và kiểm soát các vấn đề về nhân quyền! Đây cũng chính là lời hứa hẹn mà họ đã nói năm 2009, nhưng sau đó đã không cho ai vào kiểm tra. Năm nay họ nhắc lại, nhưng chắc chắn ngựa quen đường cũ, và đến năm 2018, nếu nhà Sản còn chưa kịp chui ống cống, chắc chắn họ sẽ nhắc lại. 

Cách đây bốn năm, vào tháng 5-2009, Thứ trưởng Phạm Bình Minh đã dùng các mánh khoé như triệu các đại sứ nước ngoài ở Hà Nội đến Bộ Ngoại Giao để hù dọa và mua chuộc các phái đoàn nước ngoài nói tốt cho VN, hoặc bày mánh khoé lừa gạt: khi báo cáo, phát biểu thì lập đi lập lại và nói dài, nói dai cho hết giờ thảo luận. Các mánh khóe của Phạm Bình Minh  đã bị các nhân viên tòa đại sứ Canada và Mỹ ở Hà Nội phát hiện, và bàn thảo với nhau, rồi  bị Wikileak  tiết lộ ở đây:

http://m.vietinfo.eu/cung-suy-ngam/chieu-thuc-ve-nhan-quyen-cua-ha-noi.html

Ngày 5-2-2014, Thứ trưởng Hà Kim Ngọc báo cáo trước LHQ về những “thành tích” nhân quyền mà họ đã thực hiện từ 2009-2014, nhưng họ phải nói dối vì thực tế thành tích nhân quyền của VN rất tồi tệ trong 4 năm qua; vì chỉ riêng năm 2012 đã có 50 blogger và các nhà hoạt động xã hội đã bị bắt cầm tù từ 3 năm đến 16 năm, và hiện có khoảng 600 tù nhân lương tâm đang ở tù.

4 năm qua, nhà nước VN đã KHÔNG cho phép các quan sát viên Liên Hiệp Quốc vào VN để kiểm soát về những vấn đề mà họ hứa hẹn về cải thiện nhân quyền, về các vụ vi phạm nhân quyền ở VN, đi thăm các tù nhân, về chuyện công an VN tra tấn và đánh đập người dân gây thương tích và thiệt mạng, về sự giam giữ tù nhân lương tâm, về đàn áp các tôn giáo, đàn áp người H’Mông ở Cao Bằng, về chuyện nhà nước cướp bóc đất đai của dân chúng, về quyền tự do ngôn luận bị chính quyền VN đàn áp, bắt bớ giam cầm và đánh đập các blogger, đánh đập các phóng viên đài truyền hình như trong phim này

http://www.youtube.com/watch?v=2I9_lBGKXPo

Nhà nước VN ngăn cấm quyền tự do thành lập nghiệp đoàn độc lập của công nhân, thậm chí bắt bỏ tù bất cứ người nào giúp đỡ công nhân đấu tranh đòi tăng lương, đòi quyền lội. Nhà nước đã tuyên phạt  các bản án tù từ 7-9 năm những người sau đây vì họ đã thành lập nghiệp đoàn độc lập hoặc giúp công nhân biểu tình đòi tăng lương và đòi hỏi các quyền lợi khác: Đỗ Thị Minh Hạnh (7 năm tù), Đoàn Huy Chương (7 năm tù), Nguyễn Hoàng Quốc Hùng (9 năm tù), Ls Lê Thị Công Nhân (3 năm tù và đã được thả năm 2010)…

Mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh Điều Trần Tại Quốc Hội Hoa Kỳ – YouTube

http://baovelaodong.com/2010/11/th%C6%B0-keu-c%E1%BB%A9u/

Năm nay, hầu hết các phái đoàn nước ngoài đều phản đối VN về chuyện nhà nước cướp đất đai của dân chúng, họ phản đối VN về chuyện thi hành án tử hình, họ phản đối việc đàn áp tự do ngôn luận và bắt bớ các blogger, phản đối về chuyện công an VN tra khảo, đánh đập, hành hạ đàn áp người dân trong xã hội và trong nhà tù, họ phản đối về chuyện VN đàn áp người thiểu số H’Mông 

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=-Fy3gR4OSGM

Tại hội thảo mang tên ‘Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc’ hôm 4/2/2014, Phó Giám đốc tổ chức UN Watch (theo dõi các hoạt động ở Liên Hiệp Quốc) thậm chí kêu gọi các nước thành viên Liên Hiệp Quốc hãy “khai trừ Việt Nam ra khỏi Hội đồng Nhân quyền”. 

Tất cả các mưu hèn kế bẩn với đồng bào, và lừa bịp thế giới, chỉ gặt được thế này thôi:
Ông Leon Saltiel nói:

Chỉ có những nước tôn trọng nhân quyền ở mức cao nhất mới xứng đáng có chân trong Hội đồng Nhân quyền và Việt Nam lại đang tiếp tục vi phạm các quyền tự do bao gồm cả tự do ngôn luận và tự do hội họp.”.

“Việt Nam tham gia Hội đồng Nhân quyền không phải để thúc đẩy nhân quyền mà để bảo vệ họ và bạn bè khỏi bị chỉ trích,

Hôm 5/2/2014, sau khi kết thúc phiên điều trần Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) về tình trạng nhân quyền Việt Nam, phóng viên Đỗ Phủ của đài truyền hình SBTN đã có ý định phỏng vấn phái đoàn ngoại giao chính phủ CS Việt Nam để cung cấp thông tin đa chiều cho khán thính giả.

Nhưng đoạn video phổ biến trên trang web đài SBTN cho thấy những hình ảnh khá hài hước khi phóng viên Đỗ Phủ phải liên tục ‘rượt đuổi’ hết người này đến người khác trong phái đoàn nhà nước VN để thực hiện cuộc phỏng vấn. Đáp lại, các ‘nhà ngoại giao và công an’ của phía Việt Nam liên tục né tránh hoặc viện lý do từ chối, thậm chí có trường hợp đột nhiên vùng chạy như bị ma đuổi.

Trần Hoàng

——————————————————

*Danh sách tù nhân lương tâm Việt Nam cập nhật đến tháng 11 năm 2013

https://www.amnesty.nl/sites/default/files/public/vn_final_version_nov_2013.pdf

*Đại diện Nhật Bản phát biểu tại phiên UPR rằng “chính quyền VN kiểm soát tất cả các phương tiện truyền thông tại nước này và đe dọa mọi tiếng nói chỉ trích chính phủ”.

*Cộng hòa Séc: Yêu cầu nhà nước VN gỡ bỏ các điều khoản hạn chế quyền tự do lập hội và tự do ngôn luận. Rất mong chính phủ Việt Nam tiến hành các cải cách hướng tới nền dân chủ đa đảng.

*Bỉ: Đề nghị nhà nước VN giảm các tội bị án tử hình. Công khai thông tin về những người bị án tử hình, tạm hoãn thi hành.
Đề nghị nhà nước VN ban hành luật lệ đảm bảo quyền tự do hội họp và biểu tình, phù hợp với ICCPR.

*Áo: Quan ngại về việc nhà nước VN vi phạm các quyền tự do hội họp và biểu đạt.

Chúng tôi đang có các báo cáo rằng Việt Nam đã ngăn chặn nhiều người sang tham dự UPR.

Đề nghị nhà nước VN cung cấp số lượng các trại giam, đặc biệt là nơi giam giữ những người nghiện và cưỡng bức lao động họ.

*Canada:Chính phủ Việt Nam đã từng chấp thuận khuyến nghị về Luật Tiếp cận Thông tin trong lần UPR 2009, vậy xin hỏi chính phủ Việt Nam bao giờ sẽ thông qua và ban hành Luật này?

Đề nghị VN thay đổi các điều luật 79, 88 và 258 và các điều khoản khác trong Bộ luật Hình sự để phù hợp với Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị.

Chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ chính phủ Việt Nam về mặt kỹ thuật để thực hiện những điều này.

*Anh Quốc: Quan ngại về việc kiểm soát Internet và tiêu chuẩn nhân quyền của chính phủ Việt Nam.

Quan ngại về những vụ án với quá nhiều án tử hình thời gian gần đây.

Việt Nam nên mời tất cả các cơ chế đặc biệt của Liên Hợp Quốc đến VN để lập văn phòng và quan sát việc thực thi nhân quyến.

*Thụy Sĩ: Đề nghị thực hiện nghiêm túc Công ước chống tra tấn.

Quan ngại về việc đàn áp các quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ôn hòa.

Đề nghị trả tự do cho ít nhất 30 người đã bị bắt giữ từ phiên UPR 2009 đến bây giờ.

*Mỹ:  có đặt vấn đề trả tự do cho một số người bao gồm luật sư Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Trần Huỳnh Duy Thức… Họ cũng yêu cầu Việt Nam xem xét lại các điều luật vi phạm nhân quyền như điều 88, 79, 258 hình sự hóa các hoạt động biểu đạt tư tưởng. Họ yêu cầu Hà Nội đảm bảo quyền tự do tôn giáo, hội họp, thông tin, chấm dứt sách nhiễu những người thực thi quyền con người.

Những câu hỏi thẳng thắn từ các nước như Mỹ, Canada, hay Anh Quốc liên quan đến quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và tù nhân lương tâm tại Việt Nam đã không nhận được câu trả lời cụ thể từ Hà Nội. Cũng như đợt báo cáo UPR lần trước vào năm 2009, Việt Nam lần này cũng không công nhận có vi phạm nhân quyền và không đưa ra những hứa hẹn cải thiện ở những lĩnh vực đó.

#VietnamUPR

*Chỉ vài giờ trước phiên UPR chính thức, Phái đoàn (đại diện các tổ chức dân sự độc lập gồm Nguyễn Anh Tuấn, Trịnh Long, Phạm Thị Đoan Trang, Bùi Tuấn Lâm, Trịnh Hội…) đã có cuộc làm việc với phái bộ Thụy Sĩ, nước thường xuyên có những khuyến nghị cụ thể về nhân quyền đối với chính phủ Việt Nam.

Phái đoàn đã nếu những đề nghị thực tế mà phía Thụy Sĩ có thể giúp cho phong trào đòi nhân quyền trong nước, như sứ quán Thụy Sĩ có thể tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, hội thảo nhân quyền trong nước và mời các nhà hoạt động tham dự.

Phái bộ Thụy Sĩ cũng hứa sẽ giúp đỡ hết sức mình trong việc đảm bảo an toàn cho các thành viên của phái đoàn khi trở về.

—————

Vietnam UPR

Feb 05-2014

Một ngày trước phiên UPR chính thức, phái đoàn tiếp tục cuộc vận động của mình bằng cuộc gặp với Văn phòng Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo của Liên Hợp Quốc, nhân dịp lần đầu tiên Báo cáo viên này sẽ được phép vào thăm và làm việc ở Việt Nam sắp tới (2014). (Cần nói thêm là 4 năm trước, trong phiên UPR đầu tiên tháng 5-2009, chính phủ Việt Nam đã từ chối khuyến nghị của một số nước cho phép Báo cáo viên này vào làm việc tại Việt Nam.)

Anh Đặng Văn Ngoãn, tín đồ trẻ tuổi của Phật giáo Hòa Hảo truyền thống đã đại diện Phái đoàn trình bày chi tiết về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, các cách thức mà chính phủ Việt Nam sử dụng để kìm kẹp hoạt động của các tổ chức tôn giáo, đặc biệt là bằng Nghị định 92 được ban hành thời gian gần đây.

Anh Bùi Tuấn Lâm, thành viên No-U đồng thời cũng là tín đồ Công giáo, sinh hoạt tại Dòng chúa Cứu thế Việt Nam đã trình bày về những khó khăn của Dòng Chúa Cứu thế khi hoạt động tại Việt Nam, những vụ vi phạm quyền đi lại đối với các linh mục của Dòng Chúa Cứu thế.

Một báo cáo gần đây nhất về vụ bức hại những bà con Hmong theo giáo phái Dương Văn Mình cũng được trao cho đại diện văn phòng Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo.

*Ngay sau buổi làm việc với văn phòng Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo của Liên Hiệp Quốc, phái đoàn đã có cuộc gặp với chuyên gia Tư vấn pháp lý của Cơ chế Báo cáo viên.

Đôi bên đã có cuộc trao đổi cởi mở về các cách thức mà những nhóm hội trong nước và ngoài nước có thể dùng để gây được nhiều ảnh hưởng quốc tế hơn cũng như tạo ra nhiều áp lực hơn với chính phủ Việt Nam nhằm bảo vệ các quyền căn bản cho người dân Việt Nam.

nguồn: rfa.org

————————————————

Năm 1977, trong khi Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Mai Chí Thọ, Đỗ Mười, toàn bộ đảng CSVN, công an và quân đội NDVN đang ở đỉnh cao quyền lực của nhà sản, thì 17 luật sư, nhà báo, bác sĩ, giáo sư, kiến trúc sư,  và một số sinh viên học sinh của VNCH đã tập họp lại và Ls Trần Danh San đã hiên ngang đọc bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền năm 1977 trước Nhà thờ Đức Bà, quận 1, Sài Gòn sáng ngày 23 tháng Tư năm 1977. 

Họ đã  biết trước những gì sẽ chào đón mình khi bước ra tranh đấu như thế. Họ đã coi cái chết, bắt bớ tù đày của cộng sản nhẹ như không. Họ là những người trong độ tuổi dưới 40. Có nhà cửa và gia đình, nhưng họ bất chấp tất cả. Họ là những người đầy khí phách, dám thách thức những con ác quỷ mà  nhân loại sợ hải và ghê tởm.   

…”Từ các con đường khác nhau tiến về điểm hẹn. Họ gồm có luật sư San Trần, luật sư Thiệp Triệu, luật sư Giao Nguyễn, luật sư Anh Nguyễn, thủ lãnh Dung Vũ, bác sĩ Tâm Phạm, nhà báo Vị Huỳnh, kiến trúc sư Điệp Nguyễn, giáo sư Trung Hà, luật sư Doãn Nguyễn, luật sư Tân Trần, luật sư Cương Vũ … vài sinh viên đi theo phụ giúp. Họ bí mật bố trí cái máy phóng thanh trong gốc cây bên kia đường cạnh nhà thờ. Cố làm ra vẻ bình thản như đi dự buổi lễ chiều dâng lên lời cầu nguyện trước Thiên Chúa, nhưng họ không hề biết, sau lưng họ, trước mặt họ, bên hông họ, những bóng người mặc thưòng phục kín đáo, cả những người đi bỏ thư, âm thầm theo dõi hành động của họ. Vòng vây vô hình từ từ khép chặt…”

Mời các bạn lướt qua bản tin

>>> 

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Dân Chủ và Nhân Quyền | 4 Comments »

►Việt Nam khó vào được TPP vì vi phạm QUYỀN LAO ĐỘNG quốc tế căn bản

Posted by hoangtran204 trên 07/02/2014

Tác giả Nguyễn Quốc Khải không đề cập tới THUẾ nhập khẩu. Các quốc gia cùng có tên trong hiệp ước TPP sẽ được giảm thuế nhập khẩu. Sở dĩ các quốc gia muốn vào TPP là vì họ muốn giảm thuế nhập khẩu.

VIỆT NAM KHÓ ĐƯỢC VÀO TPP VÌ VI PHẠM QUYỀN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CĂN BẢN

“Việt Nam không vào được  Hiệp Ước Hợp Tác Xuyên thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP) cũng là tín hiệu thảm họa kinh tế”

Nguyễn Quốc Khải

Washington-DC, 3-2-2014

Việc thương thuyết về Hiệp Ước Hợp Tác Xuyên thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP) giữa 12 quốc gia trong đó có Việt Nam, có nhiều triển vọng sẽ kết thúc trong năm 2014.  Hoa Kỳ là quốc gia có nền kinh tế mạnh nhất đang lãnh đạo việc thương thuyết này. 

Khi nhiều nước họp lại để trao đổi thương mại với nhau, luôn luôn có một số vấn đề phải cùng nhau giải quyết. Những vấn đề chính của TPP bao gồm quyền lao động, đầu tư, thu mua hàng hóa và dịch vụ của chánh phủ, dược phẩm và nông phẩm. Quyền lao động đứng hàng đầu, một vấn đề giản dị đối với những nước văn minh, nhưng xem ra gai góc đối với Việt Nam. Giữa một nước giầu và tiên tiến nhất là Hoa Kỳ và một nước nghèo và chậm tiến nhất là Việt Nam, đương nhiên có sự xung khắc mạnh mẽ về vấn đề lao động.  Trong phần (I) của bài phân tách này chúng ta sẽ bàn về quyền lao động ở Việt Nam. Ở phần (II), chúng ta sẽ nói về quyền lao động và việc gia nhập TPP của Việt Nam.

              I.   QUYỀN LAO ĐỘNG

Điều 69 của Hiến pháp Việt Nam 1992 quy định rằng “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luận.”

Điều 25 của Hiến Pháp Việt Nam 2013 cũng quy định tương tự: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Trên thực tế, công dân Việt Nam không có những quyền như vậy kể cả quyền hội họp và lập hội.

Quyền tập họp

Tại Việt Nam, công dân không có quyền tự do hội họp.  Điều 5.2 của Nghị Định 38/2005/NĐ-CP về biện pháp bảo đảm trật tự công cộng ký ngày 18-3-2005  ngăn cấm “tập trung đông người trái với quy định của pháp luật ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội hoặc nơi công cộng khác.”

Điều 7 của Nghị Định này quy định rằng “Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký. Quy định này không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.”

Bộ Công An sau đó quy định thêm rằng tất cả mọi tập hợp từ năm người trở lên, phải có giấy phép của chánh quyền địa phương. (1)

Quyền lập hội

Việt Nam có những tổ chức do chánh phủ bảo trợ (government-sanctioned organization viết tắt là GSO) nhưng không có một tổ chức phi chánh phủ nào cả (non-government organization viết tắt là NGO). Tất cả những GSOs tại Việt Nam kể cả những tổ chức tôn giáo – ngoại trừ một số ít độc lập thường xuyên bị chánh quyền gây khó khăn. (2)phải trực thuộc hoặc liên kết với với chánh quyền.

Thực tế là Việt Nam chưa phê chuẩn Công Ước 1948 của Liên Hiệp Quốc về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Tổ Chức (U.N. Convention of 1948 concerning Freedom of Association and Protection of the Right to Organize) bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 4-7-1950, nghĩa là đã hơn nửa thế kỷ. 

Quyền tổ chức và thương lượng tập thể

Công nhân Việt Nam không có quyền tổ chức và thương lượng tập thể. Tất cả mọi cuộc đình công đều tự phát, không có người lãnh đạo, và đều bị chánh quyền và chủ nhân coi là bất hợp pháp. Những cuộc đình công này không được hỗ trợ bởi bất cứ nhóm nào hay bởi chánh phủ. Do đó, sức mạnh thương lượng tập thể rất yếu.

Theo luật lao động hiện hành, công nhân phải đưa những cuộc tranh chấp ra tòa. Họ chỉ có thể đình công nếu những tranh chấp không thể giài quyết được bằng thương lượng. Công nhân bắt buộc phải bồi thường chủ nhân nếu tòa án xét thấy rằng cuộc đình công của công nhân là bất hợp pháp. (3)

Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam (TLĐLĐVN) là một tổ chức công đoàn duy nhất ở Việt Nam. Tất cả những công đoàn địa phương đều phải gia nhập TLĐLĐVN, một phong trào quần chúng thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của Đảng CSVN.  Tất cả những người lãnh đạo công đoàn ở cấp quốc gia hay địa phương, đều là đảng viên Cộng Sản.

TS Đỗ Quỳnh Chi, một chuyên gia về lao động, sáng lập viên và giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Lao Động, đã viết trong tài liệu nghiên cứu xuất bản vào 2008 rằng không phải là một điều bất thường khi những quản trị viên của công ty trở thành người lãnh đạo công đoàn và những chủ công ty tìm cách ảnh hưởng đến cuộc bầu cử công đoàn.  Do đó, những người lãnh đạo công đoàn thường được lãnh lương nhiều hơn những công nhân khác.

TS Đỗ Quỳnh Chi nhận xét thêm rằng Đảng CSVN tìm mọi cách để tuyển mộ đảng viên trong khu vực tư – một khu vực xẩy ra nhiều vụ đình công nhất. Mục tiêu là để thu nhận đa số các công nhân trong khu vực này vào đảng vào năm 2020 và thiết lập các tổ đảng viên trong tất cả các công ty. Điều này cho chúng ta thấy rằng Đảng CSVN hi vọng kế hoạch này sẽ giúp CSVN không những đã nắm được hết các chi nhánh công đoàn ở các công ty, mà còn len lỏi vào hàng ngũ công nhân hầu chi phối họ và giới hạn những cuộc đình công bất hợp pháp.  Nếu tình trạng hiện tại không thay đổi, TS Chi cho rằng công đoàn không thể là một công đoàn thực sự. Nó sẽ tiếp tục là một tổ chức của nhà nước và tiếp tục có những cuộc đình công bất hợp pháp.

TS Võ Trí Hào tại Đại Học Kinh Tế thành phố HCM nói trắng ra rằng: “Ai cho tiền hoạt động thì bảo vệ người ấy; Công đoàn thời kỳ Đổi mới chưa bao giờ đứng ra tổ chức đình công để đấu tranh quyết liệt quyền lợi cho công nhân.” (4)

Ông Tống Văn Công, trong một bài bình luận đăng trên báo Lao Động, phân tách một số trường hợp đình công đã nhận xét rằng chủ tịch công đoàn cơ sở ăn lương của chủ nên không dám tập hợp ý kiến của công nhân, không dám gửi kiến nghị và đối thoại với chủ nhân, và không dám tổ chức đình công. Sau khi các cuộc đình công xẩy ra, cấp trên của công đoàn và đại diện chính quyền phải đến công ty tiến hành thủ tục làm thỏa ước lao động tập thể. Ông Công kết luận rằng công đoàn cơ sở hiện nay không đóng một vai trò nào cả. Theo ông Cống, cần phải để công nhân tự chọn lựa người có tâm huyết dược công nhân tín nhiệm vào công đoàn cơ sở.  (5)

Thật là oái ăm khi giới công nhân lại bị kiềm chế trong một quốc gia do Đảng CSVN lãnh đạo, nhưng chính đảng này tự nhận là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.” (6)

Với tất cả những giới hạn và chế tài như trên, giới công nhân mất hết tất cả những võ khí để tranh đấu bảo vệ quyền lợi của mình. TLĐLĐVN không đại diện công nhân mà chỉ là một công cụ của Đảng CSVN dùng để kiểm soát giới công nhân.

Cấm cưỡng bức lao động

Một số phúc trình tiết lộ rằng có vấn đề cưỡng bức lao động tại Việt Nam. Tù nhân thường xuyên bị cưỡng ép làm việc không được trả lương hoặc được trả rất ít. Tù nhân sản xuất thực phẩm và những sản phẩm khác để tiêu thụ trong nhà tù hay bán ở địa phương. Hạt điều là một trường hợp nổi tiếng.  Human Right Watch tường thuật rằng cưỡng bức lao động được sử dụng tại các trung tâm phục hồi ma túy trên toàn quốc Việt Nam. Các tù nhân tại những trung tâm này phải bóc vỏ hạt điều trong sáu đến bẩy giờ mỗi ngày mà chỉ được lãnh $3 mỗi tháng. Cũng theo bản phúc trình này, trong thời gian 2000-2010, có trên 309,000 tù nhân đã đi qua 59 trung tâm giam giữ tại Việt Nam. (7) Ngoài ra, các tù nhân tại các trại tù khác, kể cả các tù nhân lương tâm, gần đây đã tố cáo rằng họ bị cưỡng bức tham gia vào việc chế biến hạt điều. (8) Việc xuất cảng hạt điều mang lại cho Việt Nam 1.5 tỉ Mỹ Kim mỗi năm.

Điều kiện làm việc và lương bổng

Cũng như Hiến Pháp 1992 và 2013 của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bảo đảm mọi quyền căn bản của công dân, luật lao động Việt Nam bảo đảm trên giấy tờ đầy đủ quyền lợi của công nhân như tại bất cứ một quốc gia phát triển trên thế giới. Trên thực tế, phần đông những công nhân Việt Nam phải chịu đựng lương thấp, làm nhiều giờ một ngày, không được trả lương phụ trội, điều kiện làm việc hại sức khỏe, không có bảo hiểm, và không có hưu bổng. Đây là những lý do tại ra sự bất ổn về công nhân tại Việt Nam.

Làn sóng đình công dầu tiên xẩy ra vào năm 2005 ở Việt Nam ở một mức độ ôn hòa. Con số đình công tăng dần vào những năm kế tiếp với 400 vụ vào năm 2006, 600 vụ vào năm 2007, và 762 lần vào năm 2008. Các vụ đình công nhiều hơn và cường độ mạnh hơn do mức lạm pháp gia tăng. Chánh phủ Việt Nam điều chỉnh lương tối thiểu hàng năm. Tuy nhiên mức lương tối thiểu tăng không kịp mức lạm phát.  Năm 2011 chứng kiến 978 vụ đình công. Đến năm 2013 chỉ còn 400 vụ, phần lớn vì lương tăng và kinh tế trì trệ. Khu vực dệt may và đặc biệt các công ty đầu tư ngoại quốc là những nơi trải qua nhiều vụ đình công hơn những nơi khác.

Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam (được lãnh đạo bởi Ủy viên Trung ương Đảng CSVN Đặng Ngọc Tùng) chưa hề khởi xướng, tổ chức, hay yểm trợ một cuộc đình công nhân. Do đó, theo luật, tất cả những cuộc đình công tại Việt Nam là bất hợp pháp. Và cũng theo luật, công nhân tham gia những cuộc đình công bất hợp pháp phải bồi thường chủ nhân như trên đây đã nói. Tuy nhiên cho tới nay, chính quyền Việt Nam chưa giám thi hành các luật này.

Một công nhân tại một xưởng máy trung bình phải làm 10 giờ mỗi ngày và sáu ngày mỗi tuần. Tuy nhiên họ chỉ được trả khoảng 28 xu một giờ hay 70 Mỹ kim mỗi tháng. Con số này tương tương với mức lương tối thiểu hiện nay trong khoảng 1.65 triệu – 2.35 triệu đồng Việt Nam, tức là vào khoảng 4% lương tối thiểu của Hoa Kỳ. Với thu nhập này công nhân gặp nhiều khó khăn để nuôi dưỡng gia đình. 

  1. II.  LAO ĐỘNG và HỢP TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

Lao động là một vấn đề gai góc trong các hiệp định thương mại quốc tế, đặc biệt là đối với tổ chức Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership – TPP) giữa 12 nước trong đó có Việt Nam, đang được thành lập. Lý do là lao động là một trong những yếu tố ấn định giá sản xuất, khả năng tiếp thị, và việc làm.  

Tiếng nói từ Hành Pháp và Lập Pháp Hoa Kỳ

Vào tháng 4 năm vừa qua, Đại Sứ Demetrios Marantis, Đại diện Văn Phòng Thương Mại Hoa Kỳ, trực thuộc Phủ Tổng Thống Mỹ, đã đến Việt Nam để thương thuyết về TPP, đặc biệt về vấn đề lao động.  Ông đã nhấn mạnh với Ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam về tầm mức quan trọng đối với Hoa Kỳ của những điều khoản lao động trong TPP, bao gồm năm tiêu chuẩn cốt lõi của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế thuộc Liên Hiệp Quốc về quyền lao động. (9)

Năm tiêu chuẩn lao động cốt lỗi được rút tỉa từ tám Công Ước Lao Động Quốc Tế bao gồm:

  1. Quyền lập hội.
  2. Quyền thương lượng tập thể.
  3. Loại bỏ mọi hình thức cưỡng bách lao động.
  4. Loại bỏ lao động trẻ em.
  5. Loại bỏ kỳ thị việc làm và nghề nghiệp.

Việt Nam hiện nay chưa thỏa mãn được những tiêu chuẩn trên.  Ba tiêu chuẩn sau cùng có thể được cải thiện với thời gian. Nhưng đối với tiêu chuẩn (1) và (2), Việt Nam gặp khó khăn vì CSVN muốn độc quyền cai trị đất nước, không muốn có bất cứ một tổ chức nào đứng độc lập với họ. Tuy nhiên, nếu làm như vậy, CSVN đặt quyền lợi của Đảng lên trên quyền lợi của đất nước.

Chính phủ Hoa Kỳ chịu rất nhiều áp lực của những nhà lập pháp Hoa Kỳ.  Quyền lao động là một phần của Quyền của con người nói chung. Trong một chuyến đi Việt Nam vào cuối năm 2013, Ngoại Trưởng John Kerry tuyên bố tại Hà Nội rằng “Việt Nam cần chứng tỏ tiếp tục tiến bộ về nhân quyền và tự do, bao gồm tự do tôn giáo, tự do phát biểu và tự do hội họp.”

Ông Kerry nói tiếp “không có những cải tổ như vậy, Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ rất có thể chống lại giao ước với Việt Nam, bao gồm cả việc gia nhập của Việt Nam vào chương trình Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương và việc thi hành hiệp định năng lượng hạt nhân dân sự.” (10)

DB George Miller, một thành viên cao cấp của Ủy Ban Giáo Dục và Nhân Lực (Committee on Education and the Workforce) của Hạ Viện Hoa Kỳ đã gửi thư vào tháng 7, 2013 cho Đại Sứ Michael Froman, Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ, nhân dịp Chủ Tịch Nhà Nước Trương Tấn Sang viếng thăm Hoa Kỳ. Trong lá thư này Ông Miller tố cáo rằng Việt Nam không tôn trọng quyền tự do lập hội, quyền thương lượng tập thể, cưỡng bách lao động và sử dụng lao động trẻ em. Ông cũng yêu cầu Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ ước định xem Việt Nam có thể thi hành bổn phận về lao động hay không nếu hiệp định TPP được ký kết. Nếu quá khó khăn để định lượng một vấn đề còn đang trong vòng thương thuyết, Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ làm một cuộc khảo sát tương tự về việc Việt Nam thi hành những luật lệ về lao động trong khuôn khổ Hiệp Định Thương Mại Song phương Mỹ Việt ký ngày 10-5-2007. (11)

Tiếng nói từ những tổ chức lao động Hoa Kỳ

Hành pháp Hoa Kỳ còn chịu nhiều áp lực của các tổ chức lao động Hoa Kỳ.  Tỏng Liên Doàn Lao Động Hoa Kỳ (American Federation of Labor and Congress of Industrial Organizations viết tắt là AFL-CIO), môt trong những tổ chức lao động lớn nhất ở Hoa Kỳ, bao gồm 56 công đoàn với 12.5 triệu đoàn viên, tố cáo rằng chương Lao Động của thỏa ước TPP đã không đề cập tới những tiêu chuẩn lao động cốt lõi của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế và cũng không hề nói những điều lệ lao động có thể buộc thi hành được hay không.  AFL-CIO tuyên bố tiếp rằng AFL-CIO đã tranh đấu cam go để thiết lập được một chương mạnh mẽ về lao động trong thỏa ước TPP hầu bảo đảm rằng công nhân của bất cứ một quốc gia nào trong TPP, kể cả Việt Nam, có thể sử dụng những quyền căn bản như quyền lập hội và quyền thương thuyết tập thể. (12)

Vào tháng 7 năm vừa qua, trước khi Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam viếng thăm Hoa Kỳ, Ông James P. Hoffa, Tổng Chủ Tịch của International Brotherhood of Teamsters, một tổ chức công đoàn tại Hoa Kỳ với 1.4 triệu đoàn viên, nói rằng điều kiện làm việc đã tồi tệ và lạm dụng tại Việt Nam cần phải được đề cập đến trước khi cộng đồng thế giới thưởng công cho Việt Nam.

Bản thông cáo báo chí của The Internatrional Brotherhood of Teamsters phổ biến ngày 24-7-2013 nói rằng một liên minh những nhà hoạt động lao động và nhân quyền đã kêu gọi ngưng mọi thương thuyết với Việt Nam về TPP cho đến khi Việt Nam có thể chứng tỏ rằng quốc gia này thỏa mãn được những tiêu chuẩn căn bản về lao động, môi trường, và nhân quyền. (13)

Communications Workers of America (CWA) tuyên bố rằng thu nhận Việt Nam vào TPP là thưởng công cho một chế độ vi phạm nhân quyền và quyền lao động một cách có hệ thống.  CWA tố cáo rằng Việt Nam can dự vào việc buôn lao động trẻ em, điều kiện làm việc không an toàn, trà đạp quyền lao động được quốc tế công nhận, kỳ thị nữ công nhân mang thai, công nhân không được hưởng ít nhất bốn ngày nghỉ trong tháng, phải làm nhiều giờ phụ trội mặc dù không muốn.  Như để thách thức Hoa Kỳ, khoảng 10 ngày trước khi Tổng Thống Obama tiếp Chủ Tịch Nhà Nước Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng vào ngày 15-7-2013, Việt Nam ban hành một nghị định mới hạn chế tối đa việc sử dụng Internet và quy định hình phạt nặng nề những ai trao đổi tin tức trên mạng. (14)

Ủy Ban Hoa Kỳ Bảo Vệ Công Nhân Việt Nam (U.S. Committee to Protect Vietnamese Workers – CPVW-USA) vào 2008 cũng đã đề nghị Chánh Phủ Hoa Kỳ không chấp thuận cho Việt Nam hưởng quy chế Ưu Đãi Phổ Quát (Generalized System of Preference – GSP) cho đến khi Việt Nam cho phép công nhân được tự do thành lập nghiệp đoàn độc lập và được quyền thương lượng tập thể. 15/ Mặc dù Việt Nam được nhiều công ty lớn của Mỹ có vốn đầu tư ở Việt Nam ủng hộ bao gồm IBM, Ford, etc. nhưng rõ ràng Việt Nam không thỏa mãn điều kiện lao động, do đó chánh phủ Hoa Kỳ cho tới nay vẫn chưa chấp thuận cho Việt Nam hưởng quy chế này. 

             III.   KẾT LUẬN

Với sự vắng mặt của Trung Quốc trong TPP, nếu trở thành một hội viên của TPP, Việt Nam sẽ là một nguồn cung cấp lao động rẻ tiền nhất trong 12 nước. Giá lao động ở Trung Quốc đã thấp, nhưng lương lao động ở Việt Nam còn thấp hơn, chỉ bằng khoảng 1/2 của Trung Quốc.  Nếu vào được TPP, Việt Nam sẽ thu hút được thêm nhiều vốn đầu tư ngoại quốc để phát triển. TPP sẽ vô cùng lợi ích đối với Việt Nam. Với những cải tổ chính trị tương tự tiếp theo cải tổ về lao động và nhân quyền, Việt Nam sẽ phát triển nhanh chóng trong mười năm tới và sẽ thu ngắn khoảng cách thua kém những nước Á châu khác và tăng cường một cách đáng kể khả năng bảo vệ lãnh thổ. Sức mạnh kinh tế mang lại sức mạnh về quân sự. Nhưng nếu Việt Nam không thay đổi luật lao động cho phù hợp với luật lao động quốc tế thì Việt Nam khó vào được TPP. Một cơ hội tốt đẹp lại sẽ bi bỏ lỡ. Việt Nam sẽ tiếp tục thụt hậu. (16) Nếu trường hợp này xẩy ra, thật là bất hạnh cho 90 triệu dân Việt Nam.

Chú thích:

1. Thông tư của Bộ Công An số 09/2005/TT-BCA ngày 5-9-2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị Định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2005 của chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng.

2. Một số tổ chức (chính thức hay không chính thức) được biết đến nhiều là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Khối 8406, Nhóm Thân Hữu Đà Lạt, Đảng Thăng Tiến, Đảng Việt Tân, Đảng Dân Chủ Nhân Dân, Đảng Dân Chủ Việt Nam, Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự, Hội Bầu Bí Tương Thân.

3. Nghị Định Số 11/2008/NĐ-CP, 30-1-2008 và Thông Tư Liên Tịch số 07/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC, ngày 30-5-2008.

4. Võ Trí Hào, “Sửa Hiến Pháp Đừng bít lối vào TPP: ai cho tiền thì bảo vệ người ấy,” Tuần Việt Nam, 27-9-2013.

5. Tống Văn Công, “Vì sao hơn 5.000 cuộc đình công không do công đoàn lãnh đạo?” Báo Lao Động, 26-7-2013.

6. Điều 4.1 Hiến Pháp 2013.

7. HRW, “The Rehab archipelago, forced labor and other abuses in drug detention centers in Southern Vietnam,” September 7, 2011.

8. Đỗ Thị Minh Hạnh, “Thư gửi cho cha từ trại tù,” Xuân Lộc, Đồng Nai, 10-6-2013.

9. American Chamber of Commerce in Vietnam, “Strong labor standards more investment opportunities: working in Vietnam to advance TPP,” April 22, 2013.

10. Mathew Lee, “Hoa Kỳ nhắm vào Trung Quốc, tăng cường trợ giúp Hải Quân Đông Nam Á,” AP, 16-12-2013. Bản tiếng Việt: Nguyễn Quốc Khải.

11. George Miller, “Letter to Ambassador Michael Froman, Office of the United States Trade Representative,” July 24, 2013.

12. AFL-CIO, “Trans-Pacific Partnership Free Trade Agreement (TPP), undated document onwww.aflcio.org.

13. International Brotherhood of Teamsters, “Labor and Human Rights Coalition Call for Suspension of Trade Discussion with Vietnam,” July 24, 2013.

14. Nghị Định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng.

15. Khai Nguyen, “Comment on Vietnam’s eligibility under the Generalized System of Preferences Program,” U.S. Committee to Protect Vietnamese Workers August 4, 2008.

16. Nguyễn Quốc Khải, “Việt Nam và Hiệp Định TPP – Thách Thức và Cơ Hội,” VOA, 30-8-2013.

—————————————————–

Liên đoàn Lao động Việt được thành lập

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-01-21

Trong hai ngày 17 và 18 vừa qua một tổ chức tranh đấu cho quyền lợi người lao động Việt Nam đã được thành lập qua đại hội lần thứ nhất mang tên Liên đoàn Lao động Việt tự do, gọi tắt là Lao Động Việt được tổ chức tại thủ đô Bangkok của Thái Lan.

Vì  quyền lợi người lao động Việt Nam

Từ nhiều năm qua các tổ chức hoạt động vì quyền lợi cho người lao động Việt Nam đã đóng góp những nhân tố quan trọng và tích cực cho việc thúc đẩy giới chủ và ngay cả chính phủ Việt Nam phải xem xét chính sách cũng như cách đối xử với người lao động trong nước cũng như quốc tế khi xuất khẩu lao động Việt sang các nước thứ hai.

Các tổ chức này hoạt động trong tinh thần tương trợ cho người lao động Việt Nam giúp họ biết được quyền lợi của mình trong khi làm việc dưới tình trạng hoàn toàn bị khống chế, o ép bởi Tổng Liên Đoàn Lao ĐộngViệt Nam, một tổ chức do nhà nước quản lý và điều hành.

Sau một thời gian hoạt động bốn tổ chức có tên Công đoàn Độc lập Việt Nam, Hiệp hội đoàn kết công nông Việt Nam, Phong trào lao động Việt Nam và Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam đã cùng nhau tập họp lại để trở thành liên đoàn có cái tên hoàn toàn mới đó là Liên Đoàn Lao Động Việt Tự do (Free Viet Labor Federation)

Tham dự hội nghị này chúng tôi nhận thấy có hơn hai mươi đại diện các tổ chức vừa nói từ nhiều quốc gia như Bỉ, Đức, Pháp, Áo, Ba lan, Úc, Mỹ, Mã Lai, Thái Lan, và đặc biệt có cả Việt Nam đã tập họp nơi phòng hội nghị của khách sạn First Hotel tại Bangkok Thái Lan để bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ đầu tiên.

Bốn tổ chức có tên Công đoàn Độc lập Việt Nam, Hiệp hội đoàn kết công nông Việt Nam, Phong trào lao động Việt Nam và Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam đã cùng nhau tập họp lại để trở thành liên đoàn có cái tên hoàn toàn mới đó là Liên Đoàn Lao Động Việt Tự do

Khách mời của đại hội này là hai vị giáo sư giảng dạy về tổ chức xã hội dân sự cũng như quyền lợi người lao động đến từ Australia. Đặc biệt với phát biểu của ông Bent Gerht, Chủ tịch khu vực Đông Nam á của tổ chức Worker Rights Connection đã giúp cho đại hội thêm nhiều kinh nghiệm khi điều hành một đường giây bảo vệ người lao động xuyên suốt nhiều nước tại khu vực.

 

Ông Bent Gerht, Chủ tịch khu vực Đông Nam Á của tổ chức Worker Rights Connection. RFA
Ông Bent Gerht, Chủ tịch khu vực Đông Nam Á của tổ chức Worker Rights Connection. RFA

 

Luật sư Charles Hector thuộc tổ chức Human Rights Defender cũng trao đổi kinh nghiệm của ông về các vụ tranh chấp lao động mà ông từng tham gia tranh cãi tại Malaysia và các nước.

Từ Việt Nam, nhà bất đồng chính kiến Lê Thị Công Nhân, đại diện cho quôc nội của tổ chức Phong trào Lao động Việt Nam đã góp tiếng phát biểu về hiện trạng công đoàn do nhà nước chủ trương, qua kết nối video conference Lê thị Công Nhân cho biết về hiện trạng của công đoàn Việt Nam do nhà nước quản lý:

-Hệ thống công đoàn này chỉ là một tổ chức một cánh tay nối dài của thể chế độc tài Việt Nam vá hoàn toàn do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Người ta chỉ đạo hoạt động chứ công đoàn hoàn toàn không có sự độc lập trong hoạt động của nó -trong kinh phí duy trì hoạt động cũng như các nội dung đối nội cũng như đối ngoại. Quý vị có thể tìm hiểu điều này qua điều lệ của họ có quy định rất rõ họ chịu hoàn toàn sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân viên làm việc văn phòng và các chủ tịch thì đều nhận lương nhà nước và đều được bổ nhiệm bởi các Đảng ủy của các cơ quan Đảng là nơi quyết định đầu tiên và cũng là cuối cùng ai ở vị trí nào trong các công đoàn này. Hệ thống công đoàn này được tổ chức như một bộ máy hành chính từ trên xuống dưới và chính vì thế nên bất kỳ hoạt động nào của nó đều chịu sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

(Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên Trung ương đảng CSVN hiện là Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Namnguồn)

Thành viên chính thức của Nghiệp đoàn Lao động Thế giới

Ông Trần Ngọc Thành, chủ tịch Phong trào Lao động Việt Nam cho biết những công tác sắp tới sau khi Ban chấp hành Liên Đoàn Lao Động Việt Tự do được bầu ra:

Sau khi chúng tôi tổ chức đại hội lần này và hợp nhất thành Liên đoàn Lao động Việt Tự do thì công việc đầu tiên chúng tôi sẽ hoạt động để trở thành thành viên chính thức của Nghiệp đoàn Lao động Thế giới IDOC và bước tiếp theo chúng tôi sẽ vận động để Liên đoàn Lao động Việt Tự do được hoạt động hợp pháp và công khai tại Việt Nam

Ông Trần Ngọc Thành

-Sau khi chúng tôi tổ chức đại hội lần này và hợp nhất thành Liên đoàn Lao động Việt Tự do thì công việc đầu tiên chúng tôi sẽ hoạt động để trở thành thành viên chính thức của Nghiệp đoàn Lao động Thế giới IDOC và bước tiếp theo chúng tôi sẽ vận động để Liên đoàn Lao động Việt Tự do được hoạt động hợp pháp và công khai tại Việt Nam.

 

Quang cảnh Hội Nghị . RFA
Quang cảnh Hội Nghị. RFA

Ông Đoàn Việt Trung, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ người lao động Việt Nam khi được hỏi liệu Liên đoàn Lao Động Việt sẽ nắm bắt cơ hội ra sao khi quy định của TPP là nếu Việt Nam muốn vào TPP thì buộc phải có nghiệp đoàn lao động độc lập, ông Trung cho biết:

-Nhìn về tương lai tôi thấy có hai hướng có thể xảy ra nhưng chưa biết hướng nào, tại vì nó là tương lai mà. Một hướng là tiếp tục con đường như lâu nay có nghĩa là chúng tôi tiếp tục công việc mà chúng tôi đã làm như đã được báo cáo trong đại hội. Một con đường khác có thể được vẽ ra là thương ước TPP có thề mở ra một cơ hội. Trong trường hợp TPP được ký kết và Việt Nam được thu nhận và TPP có điều khoản đòi hỏi các quốc gia thành viên phải cho phép thành lập nghiệp đoàn độc lập được hoạt động và nếu không cho phép thì TPP sẽ bị bãi bỏ cho quốc gia đó. Trong trường hợp này thì tôi nghĩ tình hình cho người lao động sẽ bắt đầu sáng sủa hơn.

Dĩ nhiên là con đường sẽ còn nhiều chông gai lắm vì nhà cầm quyền Hà Nội sẽ không dễ dàng chấp nhân những đòi hỏi thực tế. Chúng tôi có thể tiên liệu họ sẽ cho phép những nghiệp đoàn gọi là độc lập nhưng bên trong họ quấy phá để cho không hoạt động được. Nhưng dù trường hợp như vậy xảy ra chăng nữa nó vẫn sáng sủa hơn bây giờ không có một nghiệp đoàn độc lập nào được phép cả. Đây là con đường mà tôi hy vọng sẽ vạch ra trong vòng vài năm tới kjhi TPP hoạt động, nhưng ngay cả nếu điều đó không xảy ra thì chúng tôi vẫn hoạt động như từ trước tới nay.

Tôi xin kêu gọi công nhân trong nước hãy mạnh dạn vượt qua sự sợ hãi của mình bởi vì tiếng nói của mình rất quan trọng, nó bảo vệ cho quyền lợi, cuộc sống của mình cũng như nhân quyền, nhân phẩm của mình. Là người công nhân chúng ta cần phải có nhân phẩm. Mình bán sức lao động chứ không bán nhân phẩm

Ông Nguyễn Đình Hùng

Ông Nguyễn Đình Hùng, một viên chức của Nghiệp đoàn lao động Úc tham gia đại hội cho biết nhận xét của ông về khó khăn trước mắt mà liên đoàn Lao động Việt sẽ gặp trong thời gian tới, tuy nhiên theo ông nếu người lao động trong nước biết kết hợp với khả năng hiện có của Lao Động Việt thì sự thành công sẽ dễ dàng hơn:

-Theo tôi thì việc khó khăn trước mắt là những tổ chức hay hiệp hội công nhân trong nước giống như tổ chức nghiệp đoàn độc lập tại mỗi hãng xưởng, cơ sở thì họ cần tổ chức lại với nhau để tập hợp lại dưới cái dù của Lao động Việt để bảo vệ công nhân trong nước. Hiện nay trong tình hình tại Việt Nam không cho những tổ chức đó được thành lập theo xã hội dân sự và trên thực tế chưa có tổ chức nào chính thức được công nhận. Có chăng nữa thì họ cũng thành lập trong vòng kín đáo và hoạt động bí mật cho nên đó là việc trước mắt nhìn thấy.

Nhân tiện đây tôi xin kêu gọi công nhân trong nước hãy mạnh dạn vượt qua sự sợ hãi của mình bởi vì tiếng nói của mình rất quan trọng, nó bảo vệ cho quyền lợi, cuộc sống của mình cũng như nhân quyền, nhân phẩm của mình. Là người công nhân chúng ta cần phải có nhân phẩm. Mình bán sức lao động chứ không bán nhân phẩm vì vậy hãy mạnh dạn đứng ra thành lập những nghiệp đoàn cơ sở dưới cái dù của Lao động Việt. Lao động Việt là nơi có lời trước mắt vì sẽ đưa tiếng nói của người công nhân trong nước ra quốc tế và nhờ những công đoàn quốc tế cũng như các chính phủ can thiệp cho công nhân trong nước chúng ta.

Được biết trong thời gian qua, do bị theo dõi, trù dập nên hai tổ chức trong nước là Công đoàn Độc lập Việt Nam, Hiệp hội đoàn kết công nông Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn và đôi khi buộc phải rút vào bí mật. Tuy nhiên để bù lại Phong trào Lao động Việt Nam và Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam đã có những thành công đáng kể, nổi bật nhất là hoạt động thúc đẩy người lao động trong nước đứng lên giành lại quyền lợi của mình và bảo vệ thành công hàng trăm công nhân Việt lao động tại Malaysia.

Sự kết hợp giữa các tổ chức trong và ngoài nước là một nỗ lực bền bỉ của các bên. Liên Đoàn Lao Động Việt Tự Do tuy mới ra đời nhưng đã có rất nhiều kinh nghiệm tranh đấu vì vậy có thể nói tổ chức này là niềm hy vọng cho người công nhân Việt Nam.

Posted in Biểu Tình và Lập Hội, Cong Nhan Viet Nam, Quyền tự do lập Hội | Leave a Comment »

►Chính quyền VN thất hứa và nói dối không làm “người lớn” ngạc nhiên, nhưng quá bất nhẫn với cô bé 14 tuổi, cháu nội của tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2014

Trần Hoàng cũng thích tựa đề: chính quyền lại thất hứa như vẫn…

Chính quyền lại thất hứa 

Thanh Quang, phóng viên RFA

Theo RFA

Việc chính quyền Việt Nam thất hứa với con, cháu của tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu, với sự chứng kiến của Hiệu trưởng Trường Tiểu học An Minh Bắc 4, Huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang, một lần nữa, cho thấy tình trạng bội ước cố hữu của giới công lực, cầm quyền trong nước.

Buồn đến không ăn Tết nỗi

Như vậy là niềm vui khôn cùng “như đi trên mây chứ không phải ở dưới đất” của con cháu người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu vào những ngày trước Tết Giáp Ngọ trông đợi ông về ăn Tết giờ đã trở thành nỗi buồn vô tận khi người cha-ông nội-ông ngọai thương yêu của họ vẫn biệt tâm!

Từ Sài Gòn, cô Nguyễn Thị Anh Thư, con gái tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu, than rằng:

“Con buồn đến nỗi mấy ngày Tết con không ăn gì được, không đi đâu cũng như không gọi điện cho ai. Buồn nhiều lắm. Mấy chị em con bị bệnh hết trơn. Gia đình em Bích ở dưới Kiên Giang cũng bệnh. Mấy cháu – con của Bích – chờ ông về, chờ hết ngày này tới ngày khác. Bữa nay con mới hơi nguôi ngoai, mới ngồi dậy nỗi, chứ mấy bữa trước con nằm vùi luôn, không muốn gì nữa hết trơn. Buồn dữ lắm!”

Từ U Minh Thượng, Kiên Giang, con trai của cựu Đại Úy Nguyễn Hữu tên Trần Ngọc Bích (mang họ của bố dượng) cũng bày tỏ nỗi xót xa:

“Họ hứa họ thả ba trước Tết mà bay giờ không thả. Năm nay gia đình con không ăn Tết gì đâu! Buồn quá buồn. Năm nào thì cũng trông ba, trông riết, trông cho tới Tết rồi trông hết ngày lễ này tới ngày lễ khác xem ba có được về không. Mấy chục năm trước thì trông; còn năm nay họ hứa họ thả ba thì lại càng trông. Nhưng cuối cùng ba không được về nên gia đình, ai cũng buồn, không ăn Tết nỗi. Tội nghiệp đứa con gái của con trông ông trở về, rồi ông không về nên nó khóc, cứ buồn hòai ! Cả gia đình trông, con cũng trông ba về, nhưng cuối cùng ba không về (khóc)!”

Tại sao lại phải nói dối?

Trước tình cảnh như vậy, cháu nội ông Nguyễn Hữu Cầu là Trần Phan Yến Nhi, 14 tuổi, không cầm được nước mắt trong khi ngày đêm vẫn cứ trông đợi ông nội về.

Blog Dân Làm Báo trích dẫn lời cháu Trần Phan Yến Nhi kể lại rằng sau khi “hai bác công an bảo là: Cháu cứ an tâm, ông cháu sẽ về ăn tết với gia đình… Ông cháu sẽ về trước tết…”, cháu Yến Nhi“mừng không thể nào tả nổi”, rồi chờ 1 tuần, rồi 2 tuần, rồi bước sang những ngày Tết Giáp Ngọ, nhưng “cháu chẳng thấy Ông đâu!”. Cháu Trần Phan Yến Nhi buồn bã:


Cháu Yến Nhi

“Chờ đợi cháu thấy nó dài thê thảm quá vậy mà 38 năm ở tù của Ông không biết nó dài ra sao? Mỗi lần cháu nghe chuông điện thoại của Cha cháu reo là cháu hồi hộp vì chắc có lẽ đó là có người báo cho Cha và cháu để đi đón Ông về, nhưng lần nào cũng tuyệt vọng.

Từ lúc cháu gặp và nghe hai bác công an nói vậy không đêm nào cháu ngủ được yên giấc vì trông Ông về và thương cho Ông cháu quá. Cháu và Mẹ đã chuẩn bị bánh tét, chuối khô và đặc biệt là cốm dẹp Ông cháu rất thích ăn, nhưng bánh tét và chuối khô Ông cháu ăn được còn cốm dẹp thì chắc Ông ăn không được vì Ông chỉ còn 1 chiếc răng làm sao Ông ăn được. Tội cho Ông quá Ông ơi, mỗi lần cháu nhìn những thứ này cháu không cầm được nước mắt…”

Nhưng rồi cháu Yến Nhi xem chừng như không tránh được dỗi hờn:

“Cháu nhớ như in những lời hai bác công an nói là Ông sẽ về trước Tết nhưng lúc đó có lẽ cháu mừng quá cho nên cháu quên hỏi hai bác công an là: “ Trước tết năm nào Ông cháu mới về…?”. Cháu đi học thầy, cô bảo là không được nói dối, cháu đã không biết nói dối nhưng tại sao cháu lại phải nhận được lời nói dối.”

Dư luận bất bình

Qua bài “Thủ tướng không biết gì cả ?!”, nhà báo Nguyễn Ngọc Già nhận xét rằng: 

“Thông tin tù nhân lương tâm xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, 67 tuổi, không được trả tự do để về ăn tết như giới cầm quyền hứa, không làm “người lớn” ngạc nhiên, nhưng quả thật nó trở thành điều quá bất nhẫn với cô bé Trần Phan Yến Nhi – cháu nội ông Cầu”.

Nhà báo Đỗ Minh Tuyên bày tỏ bất bình về chuyện “Tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu vẫn chưa được trả tự do sau những hứa hẹn tốt đẹp của nhà cầm quyền CSVN ”, và nêu lên câu hỏi rằng:

 “Tại sao lại lừa dối một đứa trẻ và hành xử tàn tệ đối với một tù nhân lương tâm gần như đã trở thành một phế nhân – người đã vì cuộc sống an bình của đồng bào mình và tương lai của quê hương đất nước đã phải trãi qua cuộc đời hơn một phần ba thế kỷ sau những chấn song sắt đầy khắc nghiệt?”.

Tình cảnh của người tù thế kỷ này cùng nỗi mong nhớ, đợi chờ của con, cháu ông khiến cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển từng ở tù chung với ông Nguyễn Hữu Cầu phản ứng:

“Khi cháu Bích hỏi tôi về việc này thì tôi có nói với cháu Bích là khi nào thấy cha con ra thì hãy biết chớ còn bây giờ chúng ta không thể nào tin vào lời nói của họ được. Bởi vì trong quá trình mấy chục năm nay thì họ đã hứa hẹn nhiều rồi, nhưng hòan tòan có nhiều điều họ không thực hiện. Thì hiện giờ đúng là như vậy: Cho tới giờ này, ông Nguyễn Hữu Cầu vẫn chưa được thả ra khỏi nhà tù”.

Luật sư Nguyễn Bắc Truyển tin rằng vấn đề thương thảo giữa chính phủ Hoa Kỳ và phía Việt Nam chưa ngã ngũ. Có thể còn nhiều vấn đề họ cần phải trao đổi với nhau, như vấn đề thả các tù nhân chính trị thì VN sẽ được lợi gì

Bởi vì, LS Nguyễn Bắc Truyển lưu ý, công luận từng biết rằng nhà cầm quyền CSVN luôn luôn lấy người tù chính trị ra để làm món hàng trao đổi cho các vấn đề thương thảo về kinh tế có lợi cho họ.

Thật sự đây là vấn đề mà “chúng ta hết sức buồn vì cho tới giờ này, sau gần 4 thập niên, tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu vẫn tiếp tục đón cái Tết thứ 39 và biền biệt trong trại giam Z30A, Xuân Lộc, Đồng Nai!

————————————————–
Cóp Nhặt:
lethiep says: 04/02/2014 at 15:33Ngày trước, Hồ Chí Minh bị người Anh túm gáy ném vào nhà tù vỉ bị nghi ngờ là tay sai Liên xô . Cuộc sống tù ngục được chính “Bác ” kể lại như sau :“…mỗi tuần hai lần, chúng cho ông ăn thịt bò, cơm trắng… Mỗi ngày, chúng cho ông ra sân đi bách bộ mười lăm phút… Những buổi đi hỏi cung là những lúc nghỉ ngơi khoái nhất trong khi ở tù. Vì bọn mật thám thường mời ông hút thuốc lá Anh…” (  Trích “Những mẩu chuyện trong đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch ”,  tác giả Trần Dân Tiên ) .Hèn chi, sau khi trải qua kinh nghiệm ngục tù thực dân, “Bác” vẫn can đảm tiếp tục làm tay sai cho đế quốc Liên xô .Xem ra còn sướng hơn kiếm cơm bằng nghề dư lợn viên , ngày nào cũng phải bóp méo trán để nghĩ ra những câu chửi rủa quăng lên mạng . Nhức cả đầu !

*Tướng CS Trần Độ : “Nếu nhà tù Pháp mà như nhà tù bây giờ thì bọn tớ chết hết rồi, làm sao mà vượt ngục được, làm sao còn sống đến hôm nay?”

Posted in Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Tổ chức Human Right Watch kêu gọi các nước thành viên Liên Hiệp Quốc hãy “khai trừ Việt Nam ra khỏi Hội đồng Nhân quyền”

Posted by hoangtran204 trên 06/02/2014

Vận động giờ chót trước UPR Việt Nam

Nguyễn Hùng BBC Việt ngữ, từ Geneva, Thụy Sĩ

BBC Việt ngữ

Ông Leon Saltiel từ UN Watch đòi ‘đuổi’ VN khỏi Hội đồng Nhân quyền 4-2-2014

Ngay trước khi Việt Nam đăng đàn tại phiên họp kiểm định định kỳ thứ 18 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, sức ép từ các tổ chức vận động nhân quyền đối với Hà Nội và cộng đồng quốc tế đang được đẩy lên. Tại hội thảo mang tên ‘Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc’ hôm 4/2, Phó Giám đốc tổ chức UN Watch thậm chí kêu gọi các nước thành viên Liên Hiệp Quốc hãy “khai trừ Việt Nam ra khỏi Hội đồng Nhân quyền”

Hội thảo này do một số tổ chức vận động nhân quyền, trong đó có PEN International (Văn Bút Quốc Tế), UN Watch và Đảng Việt Tân, đồng chủ trì.

Ông Leon Saltiel nói chỉ có những nước tôn trọng nhân quyền ở mức cao nhất mới xứng đáng có chân trong Hội đồng Nhân quyền và Việt Nam lại đang tiếp tục vi phạm các quyền tự do bao gồm cả tự do ngôn luận và tự do hội họp.

“Việt Nam tham gia Hội đồng Nhân quyền không phải để thúc đẩy nhân quyền mà để bảo vệ họ và bạn bè khỏi bị chỉ trích,” ông Saltiel nói.
Đại diện của UN Watch, tổ chức phi chính phủ theo dõi các hoạt động ở Liên Hiệp Quốc, cũng nói thêm Libya cũng đã từng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và đã bị khai trừ khỏi hội đồng này.

Khi phóng viên BBC chất vấn về chuyện Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, ông Saltiel nói chuyện các nước thành viên Liên Hiệp Quốc dàn xếp và mặc cả với nhau để đổi chác sự ủng hộ là chuyện thường.

Ông Saltiel nhắc đến chuyện diễn giả Phạm Chí Dũng bị công an Việt Nam ngăn không cho ra khỏi Việt Nam để tới dự hội thảo và nói đây là ví dụ rõ nhất về chuyện Việt Nam không tôn trọng quyền của các cá nhân được tham gia vào các cuộc bàn thảo về nhân quyền.

Những người tổ chức hội thảo cũng cố gắng để nối Skype với ông Dũng nhưng đường truyền chập chờn nên không thể kết nối.

Cuối cùng họ phải bật đoạn thu hình từ trước của ông Dũng, người nhấn mạnh tầm quan trọng của các tổ chức phi chính phủ trong việc mang lại những thay đổi tích cực trong xã hội.

Số vụ ’88 và 79′ giảm

Người duy nhất từ Việt Nam không bị ngăn cản tham gia các hoạt động trước phiên Kiểm định Định kỳ Phổ quát UPR là luật sư Hà Huy Sơn.

Ông Sơn nói ông chưa bao giờ thắng bất kỳ vụ kiện nào liên quan tới các Điều 88 và 79 của Luật Hình sự về tội tuyên truyền chống nhà nước và tội lật đổ.

Nhưng ông cũng nói với BBC số vụ xử theo hai điều này có giảm xuống và các nhà hoạt động giờ thường bị khép vào những tội khác, chẳng hạn tội trốn thuế của luật sư Lê Quốc Quân.

Luật sư Hà Huy Sơn nói ông bị đe dọa vì bảo vệ các nhà hoạt động tại tòa

Khán phòng cũng có lúc trùng hẳn xuống khi nhà báo Trần Quang Thành, người từng làm báo trong nước và hiện sống ở Slovakia, kể về chuyện ông bị công an “chỉ điểm” cho những kẻ muốn trả thù ông vì viết bài chống tham nhũng để họ tạt a-xít vào mặt ông khiến ông bị thương tật tới 85%, một mắt mù và một mắt chỉ còn 1/10 thị lực. Vợ ông bị suy tim và mất ít lâu sau ông bị tấn công trong khi con trai và con gái ông lần lượt bị mất việc vì những bài báo của ông, nhà báo Thành nói.

Đại diện của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ông Benjamin Ismail, cũng phát biểu tại hội thảo rằng tình hình nhân quyền Việt Nam đã tồi tệ thêm từ năm 2009, năm Việt Nam lần đầu tiên bị kiểm điểm về nhân quyền.

Ông Ismail nói lần cuối cùng tổ chức của ông tiếp xúc được với Việt Nam là hồi năm 2009 và cuộc gặp khi đó cũng không có gì tốt đẹp.

‘Bị chặn hoàn toàn’

Tổng Giám đốc Đài Á châu Tự do Libby Liu cũng nói bà mong muốn được gặp gỡ các quan chức Việt Nam để có thể trao đổi với họ về dịch vụ của đài, vốn hiện bị chặn hoàn toàn ở Việt Nam theo lời bà nói.

Trước khi cuộc gặp diễn ra, BBC Tiếng Việt đã có cuộc phỏng vấn dài với bà Judy Taing, Giám đốc phụ trách Á châu của tổ chức Article 19 chuyên bảo vệ tự do ngôn luận.

Bà Taing, người điều phối một trong ba bàn tròn thảo luận của hội thảo, nói Việt Nam thậm chí không tôn trọng luật lệ của chính họ.

Bà nói Việt Nam cần tuân thủ luật của mình đề ra cùng các luật lệ quốc tế mà Việt Nam đã tham gia và cam kết thực hiện nhất là khi giờ Việt Nam đã là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Bà Taing cả quyết rằng các tổ chức phi chính phủ chỉ muốn Việt Nam thực hiện đúng những gì họ đã hứa theo chuẩn quốc tế chứ không có ý nói xấu Việt Nam như Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh có ý nói.

Chiếc áo và thầy tu

Trao đổi với BBC cũng trong ngày 4/2, một loạt các nhà hoạt động nhân quyền từ Việt Nam đi thoát sang Geneva nói họ mong có những thay đổi ở Việt Nam để con em họ không bị tù đày, ngày Xuân họ được ở nhà ăn Tết với gia đình thay vì phải xa nhà đi vận động, báo chí không còn bị chỉ huy bởi những cuộc họp của quan chức Đảng và người Việt Nam được tự do đi lại và tham gia các hoạt động về nhân quyền thay vì bị cấm đoán.

Bà Trang Huỳnh (đảng Việt Tân), thành viên ban tổ chức

Hội thảo hôm 4/2 diễn ra trong vòng hai giờ với nhiều diễn giả

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Tại sao tôi xin tỵ nạn chính trị?

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2014

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Genève 2008-2012

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-02-04

Nguồn RFA

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Genève trong nhiều năm, đã chính thức nộp đơn xin tỵ nạn vào ngày 18 tháng 10 năm ngoái và đơn xin của ông đang được Thụy Sĩ xem xét.

Mặc Lâm phỏng vấn ông Đặng Xương Hùng để tìm hiểu thêm lý do nào khiến một cán bộ ngoại giao cao cấp từ bỏ chức vụ, quyền lợi để gia nhập vào lực lượng tranh đấu cho dân chủ nhân quyền cho Việt Nam.

Mặc Lâm: Thưa vào ngày hôm qua có nhiều thông tin cho biết ông xin tỵ nạn chính trị, xin cho biết là ông chính thức nộp đơn xin tỵ nạn vào lúc nào?

Ông Đặng Xương Hùng: Chiều hôm qua chỉ là thông tin trên báo chí còn thủ tục thì tôi đã làm cách đây ba tháng rồi.

Mặc Lâm: Bên Thụy Sĩ chính thức chấp nhận đơn xin tỵ nạn của ông chưa ạ?

Ông Đặng Xương Hùng: Chưa ạ. Đang trong quá trình xét đơn

Mặc Lâm: Thưa ông chúng tôi rất ngạc nhiên vì hành động dứt khoát và rất ngoạn mục của ông. Thứ nhất từ bỏ đảng rồi tiếp theo là xin tỵ nạn chính trị. Xin ông cho biết động cơ nào mạnh đến nỗi khiến ông chọn một thế đứng khác chấp nhận từ bỏ tất cả từ chức tước tới quyền lợi và đối mặt với chính quyền Việt Nam với vô vàn nguy hiểm trước mặt?

Ông Đặng Xương Hùng: Thật ra với thực tế đang diễn ra tại Việt Nam từ khi bức tường Berlin sụp đổ chúng tôi đã thấy sự thất bại của chính quyền, của đảng. Mọi chính sách điều hành đất nước đều thất bại. Tôi là người trong cuộc, một bộ phận của bộ máy nhà nước, của đảng, trong thâm tâm nhất định nào đó tôi rất lo ngại nhưng cũng có niềm tin, nuôi hy vọng rằng một lúc nào đó đảng Cộng sản người ta sẽ sáng mắt ra và phải thay đổi

Thực ra trên thế giới này chỉ còn có Trung Quốc, Việt Nam, Cuba với Bắc Triều Tiên còn theo cộng sản thì một người bình thường người ta cũng thấy điều đó là một sự vô lý rồi. Mình cứ cười Bắc Triểu Tiên nhưng mình chả khác gì họ cả.

Gần đây thỉ thôi rồi, không còn tin nữa! thất vọng hoàn toàn vì các bác cứ giữ điều 4. Các bác ấy tuyên bố là một thế kỷ nữa chủ nghĩa Xã hội mới có thể thấy được tại Việt Nam, rồi sức mạnh nhân dân là ở sự lãnh đạo của đảng.

Rồi yếu tố Trung Quốc nữa. Họ không thấy được rằng lãnh đạo Trung Quốc đang ngồi cười khoái trá ở Bắc Kinh vì thấy Việt Nam đang trong tình trạng hỗn loạn nên nó thích lắm. Các bác không bao giờ nhận ra điều đó vì Trung Quốc chưa bao giờ ngưng việc muốn thôn tính Việt Nam. Bây giờ cơ hội cho nó thôn tính không cần bằng súng đạn nữa. Các bác cứ muốn có chỗ đứng trong lịch sử. Mình phải đứng trong lòng của người dân. Các bác và đảng tồn tại như thế này thì chỉ là tồn tại vật lý mà thôi.

Mặc Lâm: Trước khi có quyết định này chắc là ông đã phải cân nhắc rất kỹ vì tính chất nguy hiểm của nó. Ông là người đương chức đương quyền nên sự nguy hiểm cao nhơn rất nhiều lần so với người khác…

Ông Đặng Xương Hùng: Cân nhắc chứ. Cân nhắc nhiều lắm chứ vì mình còn đang ở bộ phận được hưởng lợi mà bỏ đi. Rồi sự đe dọa nữa ai mà chả sợ? Ai mà chả sợ nhất là sợ sự tàn ác, trả thù của Việt Nam? Nó rất quỷ quái, nó không những chỉ trả thù cá nhân đâu mà vào gia đình, vào những người khác của mình làm cho mình nhụt chí đi. Có những người không lo sợ sự trả thù đối với cá nhân họ, nhưng người ta sợ việc làm của họ sẽ ảnh hưởng đến gia đình và người thân. Nếu người nào đã xác định được giới hạn cuối cùng của sự trả giá để vượt qua nỗi sợ đó thì chả còn gì là sợ nữa.

Mặc Lâm: Thái độ quay lưng của ông có thể bắt đầu cho một hành trình mới đó là tranh dấu cho dân chủ tự do và nhân quyển bên ngoài đất nước?

Ông Đặng Xương Hùng: Tôi cho là ít nhất phải làm một điều gì đó. Trước nhất là tỏ thái độ cái đã. Đi là tỏ thái độ rồi. Ra đi bỏ cả chức vụ bỏ cả đảng là tỏ thái độ rồi. Tỏ thái độ dứt khoát hơn nữa mình sang đây rồi thì hòa nhập vào lực lượng đấu tranh cho dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Đấu tranh cho một nước Việt Nam có dân chủ, tôn trọng nhân quyền và hòa nhập với thế giới văn minh. Đó là tương lai tươi sáng cho đất nước Việt Nam chứ.

Mặc Lâm: Thưa ông trong những lúc gần đây rất nhiều người tuyên bố bỏ đảng rồi kể cả ông nữa…theo ông thì làn sóng này phát xuất từ nguyên nhân nào, có phải vì bất mãn cá nhân hay cái xu thế nhìn lại quan điểm chính trị của mình phải tới lúc như vậy?

Ông Đặng Xương Hùng: Theo tôi từ sau khi Quốc hội bỏ phiếu thông qua sửa đổi hiến pháp thì rõ ràng có một làn sóng bỏ đảng. Bởi vì sự bỏ phiếu của Quốc hội thông qua hiến pháp tức là việc đảng khăng khăng phớt lờ cái nguyện vọng của nhân dân đi, đi ngược lại với nguyện vọng đó thì làn sóng bỏ đảng, bỏ công khai như bác Lê Hiều Đằng hay như tôi cũng có, bỏ âm thầm cũng có, đốt thẻ đảng cũng có, bỏ sinh hoạt đảng mà không tuyên bố cũng có. Mỗi người chọn cho mình hình thức phù hợp nhất vì mỗi người một hoàn cảnh.

Có người lo không chiến thắng được bản thân mình là vì bỏ đảng là công nhận nhận thức của mình từ trước tới nay vể đảng, về chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa Mác Lê là sai lầm. Nhất là các bác lớn tuổi phần lớn bây giờ bỏ sinh hoạt vì họ cho rằng sinh hoạt đảng, đóng góp cho đảng là vô giá trị bởi vì ai có tâm huyết đến đâu chăng nũa thì tiếng nói của mình chả đi đâu vào đâu cả. Họ nghĩ rằng chẳng ích lợi gì cho đất nước khi sinh hoạt đảng.

Trước những yếu kém điều hành đất nước lại cố tình đi theo cái cách làm cũ. Với cách làm cũ, với suy nghĩ cũ thì chỉ cho ra kết quả cũ mà thôi. Mà kết quả cũ thế nào thì mọi người đều thấy rối.

Mặc Lâm: Xin một câu hỏi cuối, thưa ông mới đây Phó thủ tướng Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã nói với báo chí rằng lúc nào cũng có thế lực muốn chống phá về vấn đề nhân quyền của Việt Nam mặc dù Bộ ngoại giao đã rất cố gắng cải thiện nó. Là một cán bộ ngoại giao ông nghĩ thể nào về những phát biểu đó?

Ông Đặng Xương Hùng: Với cá nhân anh Phạm Bình Minh Phó thủ tướng Bộ trưởng Ngoại giao thì tôi rất kính trọng và khâm phục. Tuy nhiên phát biểu của anh ấy vừa rồi thì tôi thấy là các anh ấy dù đã đứng trong vị trí Phó thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao nhưng vai trò của anh ấy cũng chỉ thực thi cái chỉ đạo của Bộ chính trị, do đó bài phát biểu của anh ấy thì bản thân tôi tôi thấy là không khéo léo. Anh ấy có thể nói theo một cách khác. Nếu nói như vậy trong nội bộ đảng để khuyến khích lẫn nhau thì được chứ còn nói ra với bên ngoài thì điều đó là cái bệnh của lãnh đạo khi phải thi hành chỉ thị của đảng.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

—————————-

Bài liên quan:

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Từ bỏ đảng CSVN | 2 Comments »

►3 Ngày đi qua 11 tỉnh Miền Tây – Chuyến đi chúc Tết gia đình các tù nhân lương tâm

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2014

Hoàng Dũng Cdvn

(đại diện cho Hội Bầu bí Tương thân, Diễn đàn Xã hội Dân sự và Phong trào Con đường Việt Nam)

Sớm 26 Tết, chúng tôi khởi hành từ Saigon. Điểm dừng đầu tiên là 584 Quốc lộ 62, tp Tân An, tỉnh Long An – nơi mà cha mẹ và anh trai Đinh Nguyên Kha đang sinh sống. Không báo trước, nên cô Liên và chú Chuộng có việc lên Saigon, và chúng tôi chỉ gặp được Đinh Nhật Uy.

Ba chúng tôi lại tiếp tục lên đường, điểm đến thứ hai là gia đình nhạc sỹ Việt Khang (Võ Minh Trí) tại Nguyễn Văn Nguyễn, Phường 8, Mỹ Tho, Tiền Giang. Cận Tết, nên phải nhờ bạn của Uy bắt xe khá lâu, mới có chuyến ghé Mỹ Tho. Anh bạn này, theo Uy, đã hoàn lương, nay quản lý 1 bến xe dù. Khách muốn đi xe cứ ngồi 1 chỗ nghỉ ngơi, anh ta sẽ vẫy xe giùm và nhà xe sẽ trả cho anh vài đồng. Đó là thu nhập của anh ta.

Gặp lại cô Vân (mẹ Việt Khang) sau vài tháng, thấy cô vui khỏe, tôi rất mừng. Lần này chú Bằng đi vắng. Vườn nhà cô hoa lan nở đầy. Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe cô chú, hỏi xem cô chú chuẩn bị đón Tết tới đâu rồi, sức khỏe của anh Việt Khang ra sao… và nói về mục đích chuyến đi.

 


Cô Vân – mẹ nhạc sĩ Việt Khang. 

Chúng tôi đại diện cho Hội Bầu bí Tương thân, Diễn đàn Xã hội Dân sự và Phong trào Con đường Việt Nam đến thăm và tặng quà Tết tới một số gia đình tù nhân, cựu tù nhân chính trị khu vực phía Nam. Qua hoạt động này, nhóm Hội muốn gửi gắm tới gia đình lời động viên, chia sẻ và mong rằng người thân của các anh chị còn đang ở trong kia hãy ấm lòng lên một chút, ở nơi đây hay ở những nơi rất xa, chúng tôi – nhóm Hội và bạn bè của nhóm Hội – vẫn nhớ về họ, mong họ giữ gìn sức khỏe, sớm trở về với gia đình, bạn bè.

Rời khỏi nhà cô Vân, tranh thủ nạp năng lượng bằng 1 tô hủ tíu rồi ra ngã 3 Trung Lương đón xe đi Bạc Liêu. Ngồi chờ hơn 2h đồng hồ không có xe (vì đa số xe chạy tuyến cao tốc Trung Lương, không qua tp Mỹ Tho nữa), cuối cùng cũng lên được chiếc xe 24 chỗ với giá 300k/người cho hành trình Mỹ Tho – Bạc Liêu. Đi được 30p, nhà xe lộ nguyên hình là xe dù. Họ dừng lại bán khách. Còn lại 3 thằng tôi và 1 cô gái về Cà Mau không thể gửi cho xe khác (xe nào cũng đầy), họ buộc phải trả lại tiền (chỉ trả lại 200k/người) và trả lại chúng tôi về chỗ cũ. Vậy là cả 1 buổi chiều 26 Tết quanh quẩn ở Tiền Giang.

Cuối cùng may sao cũng lên được 1 chiếc 24 chỗ khác về Bạc Liêu với giá 200k/người. Chúng tôi về Bạc Liêu là nửa đêm, kiếm một nhà trọ để ngủ. Rẻ thật. 3 thằng ngủ hết có 120k và 10k tiền nước uống. Sáng hôm sau ghé nhà chị Tạ Minh Tú – em gái chị Tạ Phong Tần để chúc Tết. Ngồi nói chuyện với chị, nói về mục đích chuyến đi rồi 3 chúng tôi lại quày quả ra đi, vội vàng. Trong tay chúng tôi, chỉ có các địa chỉ cần đến, còn mọi thứ đều phải mày mò. Mục tiêu kế tiếp là nhà của con trai tù nhân thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu!

Cũng may, ở mỗi điểm dừng, như nhà cô Vân, nhà chị Tú, chúng tôi được tiếp thêm năng lượng bởi những cuộc nói chuyện thân tình. Chúng tôi rất mong gia đình của các anh chị hãy chia sẻ rộng rãi hơn nữa tình hình sức khỏe, tinh thần của các anh chị đang ở trong đó. Và hy vọng rằng trong lần thăm gặp tới, các anh chị sẽ biết được rằng bạn bè ở ngoài không quên họ, không chỉ dịp Xuân về.

 


Đinh Nhật Uy và Vũ Sỹ Hoàng (Hành Nhân) trao quà của Hội Bầu bí Tương thân, Diễn Đàn Xã hội Dân sự, Con đường Việt Nam cho chị Tạ Minh Tú (em gái Blogger Tạ Phong Tần) 

Vừa rời khỏi Bạc Liêu ít thời gian, chị Tú đã nhắn là có khách đến chơi nhà, thấy cuốn “câu chuyện về quyền con người” hay quá, xin, thế là chị Tú đành phải cho, càng vui thêm…

Chúng tôi chỉ biết nhà anh Bích, con trai ông Nguyễn Hữu Cầu ở U Minh Thượng, nên bắt xe đi Cà Mau. Từ Cà Mau lại đi bus 2h đến Thới Bình, sát với U Minh Thượng. Từ đây, chúng tôi đi xe ôm mấy chục cây số để đến nhà anh Bích. May mắn thay, điểm dừng lại cũng là ngay nhà anh Bích. Khi tôi đi qua cây cầu khỉ vào nhà, nhìn thấy cô bé gái, nhận ra ngay đây là bé Yến Nhi, cháu nội ông Cầu.

Trên đường đi, chúng tôi cứ nói với nhau rằng: Hôm nay là 27 Tết rồi, có khi chúng ta sẽ may mắn nhất, được là những người đầu tiên gặp người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu.

Ngồi nói chuyện với anh Bích – một giáo viên dạy giỏi của tỉnh và bé Yến Nhi, chúng tôi thêm cảm nhận được khoảng thời gian đằng đẵng đó. Một cuộc chia ly dài chưa hẹn ngày hội ngộ, ngay cả đến lúc tôi gõ những dòng chữ này.

Anh Bích, cho đến năm 31t, để trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản, cần phải hoàn chỉnh lý lịch, lúc đó anh mới biết rằng anh đúng ra là họ Nguyễn. Và người cha của anh là Nguyễn Hữu Cầu, nằm tù từ khi anh còn nhỏ. Bây giờ anh có hối tiếc vì không vào Đảng lần đó không? – Tôi hỏi. Anh Bích: Tất nhiên là không. Tôi vào làm sao được khi ba tôi như vậy. Mấy bữa nay tôi chộn rộn dữ lắm, mong ba về.

Chúng tôi cảm nhận được điều đó ở những ánh mắt của các thành viên trong gia đình anh. Lúc đó, chúng tôi cũng mong 28, chậm nhất 29 Tết bé Yến Nhi sẽ được sà vào lòng ông nội mà thổn thức. Chia tay gia đình anh Bích với niềm tin đó. Vậy mà…(người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu đến nay vẫn chưa được về).

 


Chúng tôi chụp hình cùng gia đình anh Bích trước cửa nhà anh trong niềm hy vọng ông Cầu sớm trở về. 

Anh Bích đã cám ơn  Hội Bầu bí Tương thân, Diễn đàn Xã hội Dân sự, Con đường Việt Nam đã không quên gia đình anh.

Sau đó, chúng tôi rời U Minh Thượng khi trời gần sẩm tối và nghiệm ra cái tên địa danh này thật nặng nề…

Nghỉ đêm ở Rạch Giá, sáng hôm sau chúng tôi tiếp tục đi vài chặng xe bus để đến nhà anh Võ Văn Bửu (chồng tù nhân chính trị Mai Thị Dung); chị Dung vẫn còn hơn 3 năm tù nữa mới được về nhà. Chị hiện đang ở cùng khu trại với người tù kiên cường Đỗ Thị Minh Hạnh. Anh Bửu cho biết hiện tại chị Dung sức khỏe cũng đã khá hơn 1 chút so với thời gian trước và anh cho biết hiện nay anh ít bỡ ngỡ hơn mỗi lần ra Hà Nội thăm vợ, vì anh em bạn bè đấu tranh ở Hà Nội đã giúp đỡ anh rất nhiều. Tôi hiểu, đây là một lời cảm ơn của anh đến các anh chị ở Hà Nội.

 


Với cha con anh Võ Văn Bửu tại nhà anh ở An Giang. 

Nhờ Chú Năm chạy xe mấy chục cây số lên nhà anh Bửu để thành đoàn 3 xe máy đưa chúng tôi xuống thăm nhà anh Nguyễn Bắc Truyển.

Chúng tôi,  Đinh Nhật Uy, Vũ Sỹ Hoàng (Hành Nhân) và tôi đến đây lúc 16h chiều 28 Tết, và sực nhớ ra là từ sáng đến giờ này, chúng tôi mới chỉ có được 1 tô bánh canh ở Rạch Giá. May mắn thay, người vợ tương lai của anh Truyển đã làm cho chúng tôi một tô bún ngon tuyệt. Chắc vì tô bún này mà mai mốt chúng tôi lại sớm về thăm anh chị.

Tại nhà anh Truyển, sau khi nói về mục đích chuyến đi, 4 người tươi cười chụp hình với nhau vui vẻ. Tôi thầm nghĩ: Đúng là tù chính trị! Làm sao giam hãm được những tâm hồn này?!

 


Bốn cựu tù cười đón Tết. 

Nửa đêm, về lại Long An, cu Uy lăn ra ốm. Tôi cười chọc: Trời trời, thanh niên! Ai dè, ngày mùng một Tết, tới lượt tôi lăn ra ốm, hehe. Nhưng 3 ngày đi qua 11 tỉnh, chúc Tết sáu gia đình, cũng là một chuyến đi đáng nhớ lắm chứ!

Chân thành cảm ơn Hội Bầu bí Tương thân, Diễn đàn Xã hội Dân sự đã khởi xướng chương trình này để chúng tôi được dịp đi thăm hỏi một số gia đình tù nhân chính trị. Chắc chắn danh sách thăm gặp không thể đầy đủ, nhưng tôi tin rằng sau những chuyến đi như thế này, tình cảm của chúng ta chắc chắn sẽ ngày thêm gắn bó và ngày trở về của các anh chị đã và đang hy sinh cho đất nước Việt nam tươi sáng sẽ gần lại hơn…

CHÚC TẾT GIA ĐÌNH CÁC TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM

 

 Trò chuyện với GS Phạm Minh Hoàng 

Người Việt Yêu Nước

Ngày 3-2-2014

Sáng nay tôi ăn diện rõ đẹp để đến gặp mặt đầu năm với các anh em. Đến nơi thấy mọi người đã dùng xong bữa sáng và nhấp nhổm đi, tôi hỏi: các bác đi đâu đấy? Nhà thơ Hoàng Hưng nói: Chúng tớ định đi chúc têt các gia đình Tù Nhân Lương Tâm. Mình đòi theo ngay.

Nhà thơ Hoàng Hưng đi trước, tôi và nhà báo Kha Lương Ngãi, kỹ sư Tô Lê Sơn lục tục đi sau. Khi đến nơi thì đoàn gồm: Nhà thơ Hoàng Hưng, nhà báo Kha Lương Ngãi, nhà báo Phạm Chí Dũng (suýt thành Tù Nhân Lương Tâm), kỹ sư Tô Lê Sơn, Nguyễn Công Khanh, Hoàng Dũng CDVN và tôi.

Nhà đầu tiên chúng tôi đến thăm là gia đình của nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình, anh đang bị kết án tù 6 năm cùng với nhạc sĩ Việt Khang. Mẹ của Bình bị gãy tay trước tết , tay vẫn phải băng bó. Lúc sau anh trai của Bình cũng về. Hoàng Dũng CDVN thay mặt tặng quà. Chúng tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe của Bình, của Việt Khang và nói với gia đình rằng khi nào có dịp đi thăm anh ấy thì cho chúng tôi thay mặt nhiều người (không đến được hôm nay) gửi lời chúc sức khỏe và bình an đến nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình.

 


Nhà thơ Hoàng Hưng và mẹ của TNLT Trần Vũ Anh Bình 

Trong chương trình sẽ ghé thăm nhà của anh Trần Huỳnh Duy Thức, nhưng Hoàng Dũng cho biết: sáng nay gia đình đi thăm anh Thức trong tù nên không ai có nhà.

Nhà thứ 2 là gia đình của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, đang bị kết án 9 năm cùng với Đỗ thị Minh Hạnh vì đấu tranh cho quyền lợi của công nhân; Hùng đã ngồi tù 2 năm và còn chịu án 7 năm nữa. Chúng tôi gặp ba của Quốc Hùng. Sau khi chúc tết và thăm hỏi, chúng tôi hỏi ba của Hùng rằng: hàng xóm họ đối xử với gia đình bác như thế nào. Ba của Hùng cho biết: Nhưng người nào họ lên mạng, họ biết thì họ thăm hỏi. Còn những người không biết, nhưng với những lời bôi nhọ của chính quyền rằng Hùng là “phản động” thì họ chẳng tin hoặc không quan tâm, nên họ vẫn đối xử bình thường. Chúng tôi nghe vậy mừng lắm.

 


Các nhà báo NKH, Phạm Chí Dũng, Hoàng Hưng, Kha Lương Ngãi, ba của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Hoàng Dũng, Phạm Công Thanh, Tô Lê Sơn.  


Hoàng Dũng CDVN thay mặt tặng quà gia đình Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 

 


Thăm gặp mẹ GS Phạm Minh Hoàng 

 


GS Phạm Minh Hoàng vui mừng bắt tay nhà báo Kha Lương Ngãi

Nhà cuối cùng chúng tôi đến là Giáo sư Phạm Minh Hoàng. Lúc đến nơi thì có thêm nhà báo tự do Phạm Bá Hải (cựu Tù Nhân Lương Tâm, may quá anh vừa hết hạn quản chế) đã đến trước đó 15 phút. Nhưng Gs Hoàng đã đi vắng, sau khi nghe Hải gọi điện thoại báo tin có chúng tôi đến thăm, Gs Hoàng nói sẽ về nhà liền.

Chúng tôi ngồi thăm hỏi má của giáo sư Phạm Minh Hoàng. Một lúc sau giáo sư về, anh thật sự vui mừng vì chuyến thăm bất ngờ này của chúng tôi. Anh kể chuyện như chưa từng được nói. Và nhìn gia cảnh của giáo sư 30 năm ở Pháp về thật quá “khiêm tốn” làm tôi chạnh lòng, anh chỉ có một mong ước đóng góp sức mình để đất nước đổi thay, nhưng kết cục là tù tội.

Anh cười kể: Khi kết án, họ kết tội anh là gia nhập đảng Việt Tân và tuyên truyền chống phá nhà nước. Nhưng chẳng có một bằng chứng gì là anh làm những việc chống phá. Một CA nói với anh: Anh vào đảng này, dù anh chỉ ngồi nhà đọc kinh thôi chẳng làm gì thì cũng bị bắt.

Khi chúng tôi chào về, giáo sư tiếc nuối không muốn chia tay. Nhà báo Phạm Chí Dũng và Phạm Bá Hải thấy vậy đã rủ nhau ở lại trò chuyện với giáo sư thêm một lúc nữa.

 


Nhà báo Phạm Chí Dũng, Kha Lương Ngãi, Hoàng Hưng, và NCK

Lúc ở nhà những gia đình những Tù Nhân Lương Tâm, tôi vui vẻ chúc tết cùng anh em. Nhưng khi viết những dòng chữ này thì tôi lại ngấn nước mắt.

Điều chúng tôi muốn nhắn gửi đến các Tù Nhân Lương Tâm còn ở trong tù rằng: Ở ngoài này vẫn còn có rất nhiều người sát cánh, ủng hộ các bạn và gia đình, vì thế các bạn hãy cứ giữ vững lòng tin và kiên cường. Nhà nước có thể bắt một vài chục người, hay vài trăm người, thậm chí cả triệu người yêu nước, nhưng họ không thể bỏ tù toàn thể Nhân dân Việt nam – và buộc cả Dân Tộc Việt Nam im tiếng nói.

NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC

Nguồn: Blog Huỳnh Ngọc Chênh

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Các blogger VN đã hoạt động rất sôi nổi tại LHQ trước khi Bộ Ngoại Giao VN báo cáo về nhân quyền UPR vào ngày 5-2-2014

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2014

‘Hà Nội hãy xé bỏ báo cáo lừa dối UPR để nói lên thực trạng nhân quyền’ 

Sôi nổi các cuộc vận động tại LHQ trước khi VN báo cáo nhân quyền UPR

03.02.2014

Trà Mi (VOA) – Đại diện các tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam đang có các hoạt động sôi nổi tại Geneve (Thụy Sĩ), họ đưa những hình ảnh xác thực từ trong nước ra quốc tế để vận động áp lực Việt Nam cải thiện quyền con người nhân cuộc kiểm điểm nhân quyền định kỳ phổ quát UPR của Hà Nội trước Liên hiệp quốc vào ngày 5 tháng này. 

Phái đoàn các bạn trẻ từ trong nước gồm đại diện Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, Con Đường Việt Nam, Phật Giáo Hòa Hảo Truyền thống, No-U Việt Nam, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị-Tôn giáo Việt Nam và tổ chức thiện nguyện quốc tế VOICE của người Việt hải ngoại đón chào Tết Giáp Ngọ bằng hàng loạt các buổi hội họp với quốc tế trình bày thực trạng nhân quyền tại Việt Nam mà cao điểm là sự kiện mang tên ‘Ngày Việt Nam’ bên trong trụ sở Liên Hiệp Quốc. Buổi hội thảo đã quy tụ sự tham dự của phái đoàn các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế quan tâm đến nhân quyền Việt Nam.

Blogger Trịnh Hữu Long, một thành viên trong phái đoàn vận động đến từ Việt Nam, cho biết:

“Các khách mời đã tham gia rất nhiệt tình. Về các phái đoàn ngoại giao có phái đoàn của Mỹ, Nauy, Canada, Thụy Sĩ, những nước có quan tâm đặc biệt về nhân quyền Việt Nam và đã giúp đỡ rất nhiều trong việc thúc đẩy Việt Nam bảo vệ nhân quyền. Họ không những giúp về phía chính phủ mà còn giúp các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam. Trong lần UPR trước, các phái đoàn này đã đưa ra các đánh giá và khuyến nghị rất cụ thể và thực tế cho tình hình nhân quyền Việt Nam. Cho nên, chúng tôi muốn họ giúp đưa tiếng nói của chúng tôi lên diễn đàn UPR vào ngày 5/2 tới.

Về các tổ chức quốc tế gồm có Cao Ủy nhân quyền Liên hiệp quốc, Tổ chức Ân xá Quốc tế, Human Rights Watch, Văn bút Quốc tế, Phóng viên không biên giới. Ngoài ra còn có các Việt kiều cùng đến tham dự, đưa ra rất nhiều câu hỏi và sự trăn trở.

Ngay sau Ngày Việt Nam, chúng tôi gặp đại diện phái đoàn của Costa Rica, quốc gia trong nhóm Troika của Việt Nam lần này. Ông trưởng phái đoàn đã tiếp nhận các hồ sơ của chúng tôi, cam kết đưa các tiếng nói của các hội nhóm dân sự độc lập vào phiên UPR và sẽ cố gắng đảm bảo phiên UPR công bằng, phản ánh đúng thực chất tình trạng nhân quyền của Việt Nam.”

Các cử tọa quốc tế trong buổi hội thảo quan tâm nhất những điểm gì về tình hình nhân quyền Việt Nam? Một trong những diễn giả trẻ tên Trương Ngân, đại diện Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị-Tôn giáo, chia sẻ:

“Họ quan tâm đến tình trạng những nhà đấu tranh trong nước bị bắt bớ và tự do ngôn luận bị hạn chế tại Việt Nam. Họ cũng lo lắng cho các bạn trẻ từ buổi hội thảo này trở về Việt Nam sẽ gặp khó khăn với chính quyền.”

Blogger Peter Lâm Bùi, thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam tham gia trình bày trong buổi hội thảo “Ngày Việt Nam”, nói anh vui mừng có dịp gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với bạn bè quốc tế về tình trạng vi phạm nhân quyền trong nước. Tuy nhiên, anh tiếc rằng không có sự tham dự của phái đoàn chính phủ Việt Nam tại buổi họp để cùng thảo luận và chất vấn thẳng thắn giữa các bên liên quan.

Về lịch trình vận động kế tiếp của phái đoàn đại diện xã hội dân sự từ Việt Nam, blogger Nguyễn Anh Tuấn, cho biết thêm:

“Ngày mai tụi em gặp báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc đặc trách tự do tôn giáo, người theo dự kiến vào tháng 7 sẽ có chuyến thăm lần đầu tiên trong lịch sử tới Việt Nam để tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, tụi em đang cố gắng sắp xếp thêm các cuộc gặp với phái đoàn các nước trong Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Ngoài ra tiếp tục có thêm các cuộc gặp với đại diện các tổ chức nhân quyền quốc tế.

Cao Ủy Nhân quyền Liên hiệp quốc đang dự kiến tổ chức buổi làm việc với phái đoàn chính phủ Việt Nam liên quan đến tình trạng các nhà hoạt động bị cấm xuất cảnh, bị tước quyền tự do đi lại. Tụi em đề nghị được tham gia chung buổi gặp đó. Đây giống như một kiểu đối chất, mình chuẩn bị sẵn các bằng chứng chứng tỏ nhiều công dân Việt Nam bị vi phạm các quyền này. Sau buổi  kiểm điểm nhân quyền định kỳ phổ quát (UPR) của Hà Nội trước Liên hiệp quốc vào ngày 5 tháng 2, tụi em chấm dứt các cuộc gặp chính thức, nhưng sẽ tiếp tục có các buổi làm việc phi chính thức với những tổ chức quốc tế về nhân quyền có trụ sở tại Geneva này.”

 

Trà Mi phỏng vấn blogger Nguyễn Anh Tuấn. 

Đây là lần đầu tiên các nhà hoạt động xã hội trong nước thực hiện chuyến đi vận động sang tận trụ sở chính của Liên hiệp quốc, kêu gọi sự quan tâm hơn nữa của quốc tế giúp thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam.

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | 1 Comment »

►Buổi thuyết trình và trả lời những câu hỏi về tình hình nhân quyền giữa các bạn Việt Nam và đại diện các nước Âu Châu

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2014

4-2-2014

Đoan Trang (Danlambao) – Dưới đây là tường thuật (tóm tắt) nội dung buổi thuyết trình và trao đổi của phái đoàn dân sự độc lập vận động cho nhân quyền Việt Nam với Nhóm Làm việc về Nhân quyền (COHOM) và Nhóm Làm việc về châu Á và châu Úc, thuộc Hội đồng châu Âu (European Council – cơ quan chính trị cao nhất của EU).

Buổi thuyết trình và trao đổi diễn ra vào 9h sáng giờ địa phương (tức 15h chiều, giờ Hà Nội) ngày 29/1/2014, tại trụ sở chính của Hội đồng châu Âu ở thủ đô Brussels của Bỉ.

Nội dung gồm hai phần: Thứ nhất là phần trình bày của ba đại diện cho phái đoàn dân sự Việt Nam gồm các nhóm VOICE, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, No-U Việt Nam, Con Đường Việt Nam, Hội Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam. Thứ hai là phần hỏi và đáp, với khoảng 30 câu hỏi (mà dưới đây chỉ là một số câu hỏi tiêu biểu) từ đại diện các nước tham dự.  

Chủ tọa là ông Engelbert Theuermann, Chủ tịch COHOM. Do buổi làm việc mang tính chất một cuộc điều trần, nên hình ảnh được yêu cầu giữ kín và báo chí không được vào dự.

Thuyết trình về nhân quyền Việt Nam

 Luật sư Trịnh Hội giới thiệu thành phần của phái đoàn dân sự độc lập vận động cho nhân quyền ở Việt Nam. 

Nhà báo Đoan Trang: Tôi xin được nhấn mạnh một lần nữa, rằng đây là lần đầu tiên chúng tôi – những blogger đến từ Việt Nam, đại diện cho khối xã hội dân sự độc lập, không bị nhà nước kiểm soát – đến đây, sau rất nhiều trở ngại. Chúng tôi có mặt ở đây để nói lên sự lo ngại của chúng tôi trước tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam trong 5 năm qua, thậm chí kể từ tháng 5/2009 khi Việt Nam tham dự phiên điều trần UPR trong vòng thứ nhất.

Tôi là một nhà báo và là một blogger. Với tư cách này, tôi nhìn nhận vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực quyền tự do biểu đạt, đã gia tăng trong 5 năm qua. Nhà nước có xu hướng sử dụng hai cách tiếp cận (approach) để hạn chế tự do ngôn luận của người dân, thứ nhất là lam dụng luật pháp, thứ hai là các biện pháp ngoài luật. 

Trên phương diện luật pháp, Nhà nước sử dụng các điều luật mang tính trấn áp, như Luật Báo chí, đặc biêt là Bộ luật Hình sự với cả một chương về các tội liên quan đến an ninh quốc gia, trong đó nổi bật và thường xuyên được sử dụng là Điều 79, 88 và 258.

Năm 2013 đã có ít nhất 9 trường hợp bị bắt vì Điều 258, tội ”lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm hại lợi ích nhà nước”. Các bạn có thể thấy đây là một điều luật mơ hồ và rất rộng, bao trùm, bởi vì như vậy thì bất kỳ cái gì bạn viết hoặc nói ra, phê phán Nhà nước, chỉ trích các chính sách, đều là xâm hại lợi ích nhà nước cả. Trong vòng một tháng từ 26/5 đến 13/6 ở Việt Nam đã có hai nhà báo kiêm blogger nổi tiếng bị bắt: Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào. Hai ngày sau, đến Đinh Nhật Uy bị bắt. Đây là Facebooker đầu tiên trên thế giới bị bắt vì đã viết status chỉ trích VNPT là một doanh nghiệp nhà nước, và chê tác giả của một bài báo đăng trên báo quốc doanh Quân Đội Nhân Dân. 

Năm 2013, Nhà nước có thêm Nghị định 72 và 174 mà bản chất là hạn chế quyền tự do Internet của người dân. Nghị định 72, có hiệu lực từ 1/9/2013, cấm việc chia sẻ link vào các bài báo có chủ đề chính trị, xã hội. Các bạn có thể hình dung một môi trường Facebook không có chia sẻ link không?

Bên cạnh việc sử dụng luật pháp, Nhà nước dùng các ”chiêu” ngoài luật pháp, như theo dõi (nghe trộm điện thoại, đọc trộm thư, canh cổng nhà), sách nhiễu, thậm chí mượn tay lực lượng xã hội dân sự giả mạo, tức là thành viên các GONGO (tổ chức phi chính phủ của chính phủ) để hành hung những người có tiếng nói đối lập.

Năm 2013, Nhà nước tiến hành một đợt cải cách Hiến pháp, theo hướng củng cố thêm quyền lãnh đạo của đảng cầm quyền. 

Luật sư Trịnh Hội: Đoan Trang đã nói về những vi phạm trong lĩnh vực quyền tự do biểu đạt. Tôi xin trình bày về tình hình thực thi quyền tự do lập hội, quyền được xét xử công bằng ở Việt Nam. Bất chấp việc bị đàn áp, những năm qua, đặc biệt kể từ những cuộc biểu tình năm 2011, nhiều tổ chức, nhóm dân sự độc lập đã hình thành, như Mạng Lưới Blogger Việt Nam, phong trào Con đường Việt Nam, Dân Làm Báo, Câu lạc bộ Bóng đá No-U, Truyền thông Chúa Cứu thế, v.v. 

Không khuyến khích xã hội dân sự, chính quyền Việt Nam tiếp tục không thông qua Luật Lập Hội và thường xuyên sử dụng ”quần chúng tự phát” để sách nhiễu, đàn áp thành viên của các tổ chức, nhóm dân sự độc lập. 

Bên cạnh đó, chính quyền tiếp tục bắt bớ và bỏ tù các nhà hoạt động nhân quyền: Thành viên nhóm Hội đồng Công Luật Công Án Bia Sơn bị tù từ 12 năm tới chung thân, Trần Huỳnh Duy Thức 16 năm tù, blogger Điếu Cày 12 năm tù, TS. Luật Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù, luật sư Lê Quốc Quân 30 tháng tù và 100.000 USD tiền phạt. Hiện nay, chính quyền có xu hướng chuyển từ phạt tù sang phạt tiền rất nặng. 

Chính quyền cũng tiếp tục tấn công các website độc lập, sử dụng cả biện pháp kỹ thuật lẫn đội ngũ dư luận viên. 

Năm 2013, có ít nhất 5 người dân thường bị đánh chết trong đồn công an.

Quyền được xét xử công bằng bị vi phạm. Người dân không có quyền được có đại diện pháp lý (tức là được tiếp cận với luật sư). 

Cũng xin nói thêm về một vấn đề có thể là quan trọng đối với quý vị và chúng tôi, những người ngồi đây, nhưng không thật là chuyện lớn ở Việt Nam, đó là Việt Nam vẫn duy trì án tử hình. Mới đây, đã có tòa án kết án tử hình đối với 30 bị cáo chỉ trong một ngày, liên quan đến tội buôn bán ma túy.

Rất nhiều blogger và nhà hoạt động nhân quyền bị cấm xuất cảnh, tịch thu hộ chiếu. Trong lúc chúng ta ngồi đây, một thành viên của phái đoàn là Paulo Thành Nguyễn, mặc dù được cấp visa vào Mỹ, đã bị chặn tại sân bay Tân Sơn Nhất và bị thu giữ hộ chiếu. Mẹ của cô ấy (chỉ vào Đoan Trang) cũng thường xuyên bị an ninh quấy nhiễu, đe dọa. 

Sau đây tôi xin nhường lời cho blogger Nguyễn Anh Tuấn, một blogger trẻ, nhà hoạt động nhân quyền, đến từ Việt Nam, trình bày các kiến nghị đối với Chính phủ Việt Nam. 

Blogger Nguyễn Anh Tuấn: Chúng tôi, các blogger đại diện cho Mạng Lưới Blogger Việt Nam, No-U, Dân Làm Báo, phong trào Con Đường Việt Nam, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo, Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống, VOICE, có các khuyến nghị sau đây gửi tới chính quyền Việt Nam:

– Để cho các báo cáo viên đặc biệt của EU, Mỹ và Liên Hiệp Quốc vào Việt Nam và đến thăm tất cả các tù nhân chính trị;

– Đảm bảo quyền được đại diện về mặt pháp lý cho tất cả mọi người, kể cả trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như trong quá trình phúc thẩm;

– Đảm bảo thực thi Công ước Chống Tra tấn;

– Sửa Luật Báo chí và các luật hình sự cho phù hợp với ICCPR, tức Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị;

– Tôn trọng các nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền LHQ về nhân quyền và xã hội dân sự, với tư cách một nước thành viên Hội đồng;

– Để cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập được hình thành và vận hành; 

– Thực thi các khuyến nghị của cộng đồng quốc tế mà chính quyền Việt Nam đã chấp nhận trong phiên điều trần UPR năm 2009, như: 

+ Kiến nghị của Argentina: Việt Nam tiến hành các bước cần thiết để tuân thủ dần ICCPR và đảm bảo quyền được xét xử công bằng theo đúng luật pháp; tiến hành các bước cần thiết để đảm bảo công dân được hưởng quyền tự do biểu đạt và tự do tôn giáo;

+ Kiến nghị của Áo: Việt Nam có các hành động cụ thể để đảm bảo một cách thiết thực rằng tất cả những người bị mất quyền tự do đều có thể được xét xử không chậm trễ;

+ Kiến nghị của Nhật Bản: Việt Nam củng cố hệ thống pháp lý, đảm bảo việc thực thi pháp luật theo hướng thực hiện đầy đủ các cơ chế nhân quyền quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Hỏi và đáp

Chủ tọa Engelbert Theuermann: Xin cảm ơn các vị khách vì bài thuyết trình quá tuyệt vời. Sau đây sẽ là diễn đàn cho phần hỏi và đáp. Đề nghị các quý vị có ai muốn nêu câu hỏi thì dựng bảng tên của quý vị lên phía trước để tôi có thể chỉ định. Mời quý vị.

 

(Hội trường rào rào dựng bảng tên). 

Chủ tọa Engelbert Theuermann: Ồ, quá nhiều (cười). Do có quá nhiều quý vị ở đây muốn đặt câu hỏi, nên tôi sẽ thu thập một lượt 5 câu hỏi trước, để các bạn trả lời, sau đó tiếp tục vòng 2, vòng 3.  

Một quan chức trên hàng ghế chủ tọa đặt câu hỏi về vai trò của ASEAN và các cơ chế nhân quyền của ASEAN trong việc cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Đại diện Vương quốc Anh hỏi về những việc làm cụ thể cộng đồng quốc tế có thể thực hiện để cải thiện nhân quyền ở Việt Nam; đồng thời hỏi thêm về việc Việt Nam vẫn duy trì án tử hình, ”liệu chúng ta nên đấu tranh như thế nào để thay đổi tình trạng này”?

Đại diện Ba Lan: Tôi không có câu hỏi cụ thể nào, chỉ muốn có thể đảm bảo là đại sứ của chúng tôi tại Việt Nam cũng có tham gia vào những nỗ lực cải thiện nhân quyền. Tôi cũng quan tâm đến tình hình trẻ em ở Việt Nam, quyền trẻ em, tình trạng trẻ em trong các trại giáo dưỡng và tế bần… Ba Lan từng trải qua quá khứ giống như Việt Nam bây giờ, và chúng tôi biết Chính phủ của các bạn không thích từ ”cải cách”, ”cải tổ”, họ hay nói tránh thành ”hiện đại hóa” hơn (cười). Tôi mong muốn là Việt Nam có thể cho lưu hành những cuốn sách, những tác phẩm của Ba Lan viết về tiến trình thay đổi ôn hòa.

Đại diện Ireland đặt câu hỏi, trong bối cảnh tự do biểu đạt, ngôn luận ở Việt Nam bị thắt chặt như vậy thì truyền thông Việt Nam vận hành ra sao?

Đại diện Đức hỏi về Nghị định 72 và những tác động cụ thể, nếu có, của nó đến tình hình sử dụng Internet ở Việt Nam, đã có trường hợp nào bị xử lý vì vi phạm Nghị định này chưa.

Luật sư Trịnh Hội: Về vấn đề án tử hình, thật sự tôi nghĩ rằng trong bối cảnh Việt Nam, với môi trường tâm lý xã hội và văn hóa chính trị Việt Nam, án tử hình thậm chí chưa bao giờ là một chủ đề gây tranh cãi. Ngay với bản án dành cho 30 người liên quan đến tội buôn bán ma túy kia, ở phần comment phía dưới bài báo, cũng có tới hàng chục comment hoan nghênh bản án, hoan nghênh phiên tòa. Tôi cho rằng đây là vấn đề mà các quý vị – với xuất phát điểm là xã hội phương Tây – quan tâm nhiều hơn là người Việt Nam.

Với câu hỏi về vai trò của cơ chế nhân quyền trong ASEAN, tôi nghĩ những năm qua, trên bình diện chính phủ, các nước ASEAN đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng và cải thiện một cơ chế khu vực về bảo vệ nhân quyền. Nhưng những nỗ lực thật sự lại nằm trong khối dân sự độc lập nhiều hơn. Ví dụ như năm 2013 là lần đầu tiên một số nhóm dân sự ở Việt Nam và Philippines đã có sự hợp tác. Tổ chức Asian Bridge Philippines đưa thanh niên Việt Nam sang học về xã hội dân sự, và No-U Việt Nam thì tham gia cứu trợ nạn nhân bão Haiyan ở Philippines.  

Nhân đây, nói về xã hội dân sự và có mặt phái đoàn Đức, tôi muốn cảm ơn Đại sứ quán Đức ở Việt Nam, vì đã cởi mở, giúp đỡ và bảo vệ các blogger Việt Nam rất nhiều, suốt từ thời gian các blogger thực hiện việc đến các sứ quán phương Tây ở Hà Nội để trao Tuyên bố 258 phản đối Điều luật 258. 

Nhà báo Đoan Trang: Xin cảm ơn tất cả các câu hỏi, và tôi muốn nói là tôi rất cảm động vì sự quan tâm của đại diện Ba Lan đối với Việt Nam, với trẻ em Việt Nam cũng như với nhân quyền ở nước chúng tôi nói chung.

Với câu hỏi về truyền thông Việt Nam trước tình hình quyền tự do biểu đạt bị vi phạm, tôi muốn phân biệt rõ là ở đây có hai mảng truyền thông. Truyền thông chính thống của Nhà nước thì, cho phép tôi nói dài dòng một chút, vào năm 2008, tại Việt Nam xảy ra một vụ tham nhũng lớn khi Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải bị kết tội đánh bạc và bị bỏ tù. Báo chí Việt Nam đã đưa tin rất hăng hái, họ gần như được bật đèn xanh, cho đến khi phe công an đập lại. Hơn 40 nhà báo trên toàn quốc bị triệu tập. Hai trong số họ bị bắt, và một trong hai người này, do không chịu ”nhận tội” nên đã bị kết án hai năm tù. Kể từ đó tới nay, mức độ đưa tin chống tham nhũng của báo chí Việt Nam đã suy giảm, và đây là dựa theo một nghiên cứu của chính Đại sứ quán Anh tại Việt Nam. 

Nhưng đó là truyền thông Nhà nước, còn truyền thông xã hội thì lại bùng nổ. Khi báo chí chính thống buộc phải quay lưng, im lặng, trước những bất công xã hội, trước các cuộc biểu tình của nông dân mất đất, các cuộc đình công của công nhân bị bóc lột, thì chính là các blogger, và mạng xã hội, chứ không phải nhà báo và truyền thông quốc doanh, đã đến với các nạn nhân để đưa tin, viết bài. Nói cách khác, truyền thông Nhà nước đã lắng xuống, còn truyền thông xã hội thì lại nổi lên.

Blogger Nguyễn Anh Tuấn: Xin trả lời câu hỏi về Nghị định 72. Mạng xã hội ở Việt Nam rất phát triển trong những năm qua. Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng Internet và người dùng Facebook cao nhất khu vực. Cho nên, tôi không nghĩ có luật nào có thể kìm hãm được đà tiến của Internet. Nghị định 72, tôi thấy nó giống như một trò cười cho các blogger hơn. Theo tôi được biết thì người ta chưa ghi nhận được trường hợp cụ thể nào bị xử phạt vì vi phạm Nghị định 72.

Nhà báo Đoan Trang: Theo tôi được biết thì có một trường hợp. Admin của một diễn đàn mạng bị công an hỏi thăm, nhưng admin này đang không ở Việt Nam, nên khoản tiền phạt cứ treo lơ lửng đó chờ ngày anh ta về. Có thể có những trường hợp khác mà tôi không biết. 

Chủ tọa Engelbert Theuermann: Cảm ơn các câu trả lời. Chúng ta tiếp tục, vòng thứ hai.

Đại diện Pháp hỏi về công cuộc sửa đổi Hiến pháp vừa qua ở Việt Nam, liệu Hiến pháp mới có tạo ra không gian nào cho sự phát triển của nhân quyền?

Đại diện Hà Lan: Tôi nghe nói Việt Nam đã thông qua luật cho phép người đồng tính kết hôn. Có phải trong lĩnh vực quyền của người đồng tính (LGBT) thì Việt Nam đã có nhiều tiến bộ? 

Tôi cũng thừa nhận và xin bình luận là Việt Nam còn rất chậm chạp trong việc sửa đổi, hoàn thiện những đạo luật quan trọng, như toàn bộ Bộ luật Hình sự và Bộ luật Dân sự.

Tôi xin hỏi thêm: Chúng ta đều thấy là hiện nay, trên toàn cầu, có một sự suy giảm về không gian tự do của khối xã hội dân sự, với sự thắt chặt các quyền của những tổ chức xã hội dân sự, như quyền được nhận tài trợ. Tôi muốn hỏi là việc nhận tiền tài trợ ở Việt Nam có khó khăn gì hơn không?

Đại diện Thụy Điển: Thụy Điển, như các bạn biết, là một quốc gia luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền tự do biểu đạt, ngôn luận, cả trên mạng lẫn trong đời thực. Chúng tôi đều theo sát tình hình ở Việt Nam, chúng tôi khá lo ngại về sự vi phạm quyền tự do biểu đạt, ngôn luận nơi đây. (…) Có nhiều thắc mắc, nhưng điều tôi đang quan tâm là liệu Chính phủ Việt Nam có sẵn sàng tham gia thực thi các khuyến nghị đặt ra cho họ tại phiên điều trần UPR không?

Đại diện Phần Lan: Trở lại với câu hỏi về án tử hình. Tôi muốn biết cuộc tranh luận về án tử hình ở Việt Nam đã bắt đầu chưa? Ngoài ra, việc Việt Nam trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc liệu có giúp cải thiện tình hình nhân quyền ở nước này?

Đại diện Italy: Những vi phạm nhân quyền đang diễn ra ở nước các bạn, những đạo luật hà khắc và mọi sự trấn áp, có ảnh hưởng như thế nào tới cộng đồng những người thiểu số, người yếu thế, người dễ bị tổn thương, ở Việt Nam?

Nhà báo Đoan Trang: Tôi xin trả lời câu hỏi liên quan đến quyền của người đồng tính. Nhiều người cũng đã hỏi tôi về vấn đề này, rằng có thực là ở Việt Nam, quyền của cộng đồng LGBT đang được cải thiện. Không. Không hề. Tôi phải nói rõ rằng cho đến nay, chính quyền chưa thông qua một luật nào cho phép người đồng tính kết hôn. Việc đưa tin gây hiểu nhầm như vậy có một phần là do lỗi của báo chí Việt Nam. 

Trên thực tế, người đồng tính không được tôn trọng ở Việt Nam. Thậm chí chính quyền còn có xu hướng dán cái nhãn ”gay”, ”lesbian” lên các nhà hoạt động nhân quyền để sỉ nhục họ, làm mất uy tín họ với cộng đồng. Tôi nghĩ đây là vấn đề tâm lý xã hội. Môi trường xã hội ở Việt Nam chưa thật tôn trọng quyền của người đồng tính.

Câu hỏi đặt ra là, vậy tại sao lại có sự tuyên truyền rằng Chính phủ Việt Nam đang bảo vệ và bảo đảm quyền của cộng đồng LGBT. Theo tôi hiểu, thực sự điều đó chỉ là vì cộng đồng LGBT ở Việt Nam chưa bao giờ đủ vai trò, đủ tiếng nói để Chính phủ phải xem đó như một mối đe dọa cho sự chính danh, quyền lực của họ. Nói cách khác, vấn đề quyền của người đồng tính ở Việt Nam không phải là một vấn đề nhạy cảm về chính trị. Bản thân tôi không nhìn thấy được vai trò và tiếng nói của người đồng tính cũng như các hoạt động vận động chính sách, tác động tới chính sách, của cộng đồng này.

Luật sư Trịnh Hội: Tôi xin nói rõ thêm, các nhóm, các cộng đồng ở Việt Nam chỉ thực sự bị chính quyền coi là nguy hiểm khi họ có tổ chức. Tôi nhấn mạnh, ”khi họ có tổ chức”. Những người Công giáo, Tin Lành ở Việt Nam thường bị sách nhiễu, đàn áp, vì họ có tổ chức, thậm chí có cơ quan truyền thông độc lập như là Truyền thông Chúa Cứu thế. 

Nhà báo Đoan Trang: Còn câu hỏi thứ hai của Hà Lan, ”nhận tiền tài trợ có khó hơn không”, thì tôi xin nói là ở Việt Nam, không tồn tại xã hội dân sự độc lập. Đến quyền được lập hội còn không được đảm bảo, thì làm sao người ta có thể nhận tiền tài trợ từ nước ngoài. Thậm chí, việc đó còn bị coi là nhận tiền của các thế lực thù địch để chống phá Nhà nước. Nhận tiền nước ngoài là cái mũ để lực lượng an ninh trấn áp, bắt giữ các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền. Nhận tiền nước ngoài ở Việt Nam không chỉ khó, mà còn có nghĩa là nguy hiểm, là sách nhiễu, là bắt giam, bỏ tù. 

Blogger Nguyễn Anh Tuấn: Với câu hỏi liên quan đến cuộc tranh luận về án tử hình, tôi xin trả lời như sau: Ở Việt Nam, chưa có không gian nào để người dân có thể cất lên tiếng nói của họ, phát biểu chính kiến, trao đổi hoặc đi xa hơn nữa là tham gia vào tiến trình lập pháp. Việc tranh luận về các vấn đề chính trị-xã hội không bao giờ được khuyến khích. Riêng về án tử hình, thì trong suốt quá trình học tập của tôi, 3 năm cấp ba và 4 năm đại học, tôi chưa từng thấy một cuộc tranh luận xã hội nào về vấn đề này; và lý luận duy nhất có liên quan mà tôi nhận được trong quá trình học tập tại Việt Nam, là ”mắt trả mắt, răng trả răng, mạng đền mạng”. 

Bản Hiến pháp mới của Việt Nam đã được thông qua sau một quá trình ”thảo luận xã hội” rất tốn kém do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, và kết quả cuối cùng là Đảng vẫn giữ nguyên bản dự thảo sửa đổi do chính Đảng đưa ra. Theo tôi, Hiến pháp mới không tạo ra thêm không gian tự do nào cho người Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình thảo luận về Hiến pháp dù sao cũng đã là một cơ hội để những người có quan tâm tìm hiểu về Hiến pháp, về chính trị, các quyền dân sự. Đấy cũng là lần đầu tiên ở Việt Nam, 72 trí thức hàng đầu đã đưa ra một bản kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, có nhắc đến việc bỏ Điều 4, là điều quy định vai trò lãnh đạo toàn diện và duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng tôi cũng đã nhiều lần nhận được câu hỏi, liệu chiếc ghế của Việt Nam trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc có giúp gì cho nhân quyền Việt Nam. Tôi xin trả lời: Có và không. Có sự thuận lợi và khó khăn. Xin nói về khó khăn trước. Với việc Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, Chính phủ có thể lấy đó như một chiêu để ngụy biện rằng như vậy là Việt Nam đã đảm bảo nhân quyền, điều ấy đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận, và mọi nỗ lực đấu tranh đều là sai trái, thù địch, phản động. Thực tế là lý luận ấy đã được sử dụng nhiều. Nhưng chiếc ghế đó cũng mang lại thuận lợi cho công cuộc đấu tranh vì nhân quyền ở Việt Nam. Từ nay, các blogger, các nhà hoạt động nhân quyền sẽ có thể sử dụng chính các cơ chế của Liên Hiệp Quốc để thúc đẩy công việc của mình. Họ có thể tăng cường truyền thông về nhân quyền, có thể vận động thay đổi luật pháp, yêu cầu chính quyền sửa đổi luật cho phù hợp với pháp luật quốc tế về nhân quyền, v.v.

Còn câu hỏi cuối cùng, liên quan đến các cộng đồng người thiểu số, người yếu thế và dễ bị tổn thương ở Việt Nam, thì tôi xin trả lời rằng đây là những nhóm bị ảnh hưởng nặng nề nhất vì những chính sách vi phạm nhân quyền của Nhà nước. Tôi xin lấy ba ví dụ điển hình gần đây: Thứ nhất là những người H’Mong theo giáo phái Dương Văn Mình ở phía bắc Việt Nam. 6 người đã bị bắt với tội danh ”lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm hại lợi ích Nhà nước” theo Điều 258 Bộ luật Hình sự. Thứ hai là những người H’Mong theo đạo Tin Lành. Họ cũng bị khủng bố, sách nhiễu, mất nhà mất ruộng và trở thành dân oan, vì niềm tin tôn giáo của họ, vì họ đã muốn thay ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng cây thánh giá. Và thứ ba là những người thiểu số ở Tây Nguyên.  

Ở Việt Nam có tới hàng nghìn nông dân mất đất, hàng nghìn công nhân bị bóc lột trong các nhà máy công nghiệp, và hàng nghìn dân oan. Nhưng họ không hiểu nguồn gốc những khổ đau của họ. Họ thường nghĩ tất cả đều do số phận, chứ họ không nghĩ được rằng những khổ đau, bất hạnh ấy là xuất phát từ sự mất dân chủ, tự do trong một thể chế độc đảng lãnh đạo. Và nhiệm vụ của những nhà hoạt động vì nhân quyền, những người đấu tranh bảo vệ nhân quyền, sẽ là giúp đỡ cho những con người ấy, để họ hiểu được quyền của họ, để họ cất lên tiếng nói đấu tranh, giành lại tự do và nhân quyền cho mình. 

 

———————

ĂN TẾT GIÁP NGỌ 2014 Ở GENEVA (Bùi Tín)

Bùi Tín

30.01.2014

http://www.voatiengviet.com/content/an-tet-giap-ngo-o-geneva/1841103.html

Những ngày giáp Tết Giáp này, mọi tấm lòng Việt Nam yêu nước, thương dân, yêu dân chủ, chuộng dân quyền đều hướng tới Genève, Thụy Sĩ, một trung tâm chính trị-ngoại giao- tài chính-du lịch quốc tế nổi tiếng.

Vì sao vậy? Vì ngày 30/1/2014, cũng là ngày Ba mươi Tết cổ truyền, tại Lâu đài các Quốc gia (Palais des Nations) giữa Genève sẽ có cuộc họp trù bị của một số tổ chức Việt Nam và quốc tế quan tâm đến vấn đề nhân quyền để chuẩn bị cho cuộc họp Kiểm điểm Định kỳ Tổng quát về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (Universal Periodic Review – UPR) sẽ diễn ra tại đây vào ngày 5/1 tới.

Cuộc họp UPR diễn ra 4 năm 1 lần. Năm nay đến lượt Việt Nam được “lên mâm“ (sur le plateau) để tự kiểm điểm và trả lời những phê bình nhận xét, góp ý, chất vấn của các nước về vấn đề Nhân quyền là một giá trị cơ bản của tổ chức quốc tế cao nhất này. Điều đặc biệt năm nay là VN là thành viên Hội Đồng Nhân quyền LHQ, có trách nhiệm làm gương mẫu về mặt này.Năm nay có 14 nước được lần lượt “ lên mâm” trong gần 2 tuần lễ, từ 27 tháng 1 đến 7 tháng 2; ngày 5 tháng 1 dành riêng cho VN.

Được biết năm nay theo thủ tục rút thăm, 3 nước sẽ làm trọng tài điều khiển cuộc UPR về VN là Kenya thuộc châu Phi, Kazakhstan ở Châu Âu, và Costa Rica ở châu Mỹ.

Ngày 4/1, trước ngày họp chính thức của UPR một ngày, nhằm ngày mồng 5 Tết âm lịch – Ngày kỷ niệm Đại thắng Đống Đa – sẽ có cuộc hội thảo quan trọng của phiá các tổ chức dân chủ và nhân quyền VN và các tỗ chức quốc tế cùng nhau góp ý cho cuộc họp UPR. Cuộc họp mặt sơ bộ ngày 30 Tết là bước chuẩn bị thật tốt cho cuộc họp này. Đã có nhiều tổ chức quốc tế đăng ký tham gia và góp tham luận trong cuộc hội thảo ngày 4/1, như: Human Rights Watch, Freedom House, Frontline Defenders, the International Commission of Jurists, the Committee to Protect Journalists, Southeast-Asia Press Alliance, Reporters Without Borders…

Điều nổi bật năm nay là đoàn đại biểu cho phía dân chủ và nhân quyền VN cùng bạn bè là các tổ chức quốc tế dân chủ và nhân quyền khá là đông đảo. Trước hết và quan trọng hơn hết là đoàn dân chủ và nhân quyền VN đến từ trong nước, đại diện cho một xã hội dân sự đang phát triển trong đàn áp khốc liệt như: Hiệp hội Dân Oan VN, Mạng lưới Bloggers VN, Hội Ái hữu tù nhân chính trị và tôn giáo, Con đường VN, mạng Dân Làm Báo, Trung tâm Chúa Cứu Thế, tổ chức No-U, chưa kể một số chừng một chục người bị chặn không cho xuất cảnh.

Sự xuất hiện của ông Trần Văn Huỳnh, thân sinh anh Trần Huỳnh Duy Thức, của các bà mẹ các anh Lê Quốc Quân, Đinh Nguyên Kha, mẹ của cô Đỗ Thi Minh Hạnh cũng như sự có mặt của cô Đoan Trang, anh Nguyễn Anh Tuấn … tại Capitol – trụ sở Quốc hội Hoa kỳ, trực tiếp phát biểu như là những nhân chứng sống, là một sự kiện tuyệt vời. Họ đã phải lên đường theo chiến thuật du kích, “vượt biên “ chính thức lẻ tẻ rồi hội tụ với nhau, làm nên việc lớn. Năm vị Dân biểu Hoa Kỳ đã nhận đỡ đầu cho năm chiến sỹ dân chủ đang bị giam cầm ở VN cũng là một sự kiện nổi bật.

Hầu hết các đại biểu từ trong nước đều ghé qua New York thăm trụ sở LHQ, rồi bay qua châu Âu, làm việc tại thủ đô Bỉ, Brussels, nơi đóng các cơ quan của khối Liên Âu, hiện đã tới Genève, ráo riết mở chiến dịch vận động cho dân chủ và nhân quyền ở VN.

Sự phối hợp trong và ngoài nước giữa các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền thật đáng khâm phục.

Theo tin của nhiều trang mạng, luật sư Trịnh Hội thuộc VOICE, một tổ chức đã có nhiều nỗ lực giúp bà con tỵ nạn cũng như nạn nhân cơn bão Hải Yến ở Philippin, cùng nhà truyền thông Đỗ Phủ đã và đang góp phần quan trọng cho một chiến dịch tấn công trên mặt trận ngoại giao nhân dân non trẻ rất năng động này. Họ bắt tay làm việc từ những việc nhỏ nhất, với kế hoạch sát thực tế, có khi âm thầm kín đáo, với một loạt nam nữ cộng tác viên tình nguyện trong và ngoài nước rất trẻ, giỏi ngoại ngữ, am hiểu thế giới hiện đại, nhằm vào hiệu quả công việc trong một thời gian ngắn.

Họ đọ sức với ai ? Với một chính quyền độc đảng, biên chế quan liêu nặng nề, với một nền ngoại giao phụ thuộc, trong cơn suy thoái thê thảm.

Để đối phó với cuộc Kiểm điểm UPR ngày 5/2/2014 tới, Bộ Ngoại giao Hà Nội đã cử đi một đoàn 30 cán bộ. Họ sẽ dùng những thủ đoạn cũ, mớm lời cho một vài luật sư, nhà kinh doanh, các chức sắc thuộc đủ tôn giáo, sắc tộc, trí thức ở nước ngoài, lấy hiện tượng nhằm xoá nhòa bản chất, dùng ngụy biện để nói lấy được kiểu lý sự cùn. Cũng không loại trừ khả năng họ dùng tiền bạc, quà cáp, biếu xén để mua chuộc đại biểu một số nước, nhất là ba nước trọng tài để nhờ bênh che, hoặc là chiếm thời gian phát biểu, để lấp liếm tội lỗi của họ.

Nền ngoại giao giáo điều đang độ suy thoái cầm đầu bởi một bộ trưởng trẻ còn non tay, không có một quyền uy nào vì mới là ủy viên Trung ương dự khuyết mới lên chính thức, không có mặt trong Bộ Chính trị, chỉ là một viên chức bị Bộ Chính trị và Ban Bí thư sai bảo, nay phải đối phó gần như trực diện với một nền ngoại giao nhân dân non trẻ, mang chính nghĩa dân tộc, mang giá trị dân chủ và nhân quyền của thời đại, được phối hợp trong và ngoài nước khá nhịp nhàng.

Đúng vào lúc nền ngoại giao hụt hơi, viên Lãnh sự Đặng Xương Hùng ở Genève rời bỏ nhiệm sở, tuyên bố công khai với các đài quốc tế và mạng Dân Làm Báo (ngày 22/1/2014) rằng ông chính thức rời bỏ đảng CS, ông còn kêu gọi cán bộ của Hà Nội tham dự UPR hãy trung thực đứng về phía nhân dân, nói lên sự thật về nhân quyền bị chà đạp ra sao. Ông sẵn sàng giúp ý kiến cho đoàn đại biểu nhân dân đang ở Genève.

Năm Giáp Ngọ sắp mở đầu. Cứ như đoàn ngoại giao nhân dân không đáp máy bay, mà cưỡi ngựa chiến, những dũng mã thời Quang Trung để sang tận châu Âu mở Chiến dịch Dân chủ và Nhân quyền, dồn thế lực toàn trị phản dân chủ chà đạp nhân quyền ra trước một kiểu vành móng ngựa xét xử theo luật lệ quốc tế. Để xem họ chống chế, cãi tội của họ ra sao.

Nhất định chính nghĩa sẽ thắng lợi. Chỉ là thắng với mức độ nào. Xin chúc các bạn ở tiền tuyến Genève vui, mạnh, ăn Tết Giáp Ngọ thật ngon lành, đầy hứng khởi, mang nhiều quà tinh thần về nước, mở màn cho năm Giáp Ngọ đầy triển vọng.

Tôi tin rằng đông đảo bà con Việt Nam ta ở trong và ngoài nước đang ăn Tết hướng sang Genève với các bạn thân yêu, theo dõi tường tận từng đường đi nước bước của các bạn.

Sáu mươi năm là một Giáp hoàn chỉnh. Lịch sử rất kỳ lạ đến mức tuyệt vời. Có những ngẫu nhiên tình cờ mang tính tất yếu. Năm Giáp Ngọ trước là năm 1954, năm nay là Giáp Ngọ 2014, cách nhau 60 năm tròn.

Năm 1954 sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc họp quốc tế ở Genève là một thất bại nặng nề, lâu dài. Đất nước bị chia cắt làm hai, cho đến nay tuy có hòa bình, có thống nhất về hình thức nhưng lòng người còn ly tán, vết chia cắt chưa liền da.

Phải chăng Xuân Giáp Ngọ Genève 2014 là sự kiện lịch sử bắt đầu xóa bỏ nỗi uất hận chia cắt đất nước sau đúng 60 năm, nỗi uất hận của năm Giáp Ngọ 1954, để toàn dân ta khôi phục trọn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đi đến hòa hợp dân tộc mãi mãi bền vững.

Thêm một lý do để năm nay Tết Giáp Ngọ toàn dân ta vui Tết ở Genève.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Cựu lãnh sự Việt Nam lên đài truyền hình Thụy Sĩ khẳng định xin tị nạn chính trị

Posted by hoangtran204 trên 04/02/2014

Cựu lãnh sự Việt Nam xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ

3-2-2014

Thụy My (RFI)

 

Thụy My (RFI) – Theo hãng tin Pháp AFP hôm nay 03/02/2014, trả lời trong chương trình“Le grand Genève à chaud” của đài truyền hình Léman Bleu tối qua, cựu lãnh sự Việt Nam tại Genève, ông Đặng Xương Hùng cho biết đã nộp đơn xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ.

Ông Đặng Xương Hùng, nguyên lãnh sự Việt Nam tại Genève từ năm 2008 đến 2012, nói rằng ông đã đến Thụy Sĩ hôm 18/10/2013 và đã nộp đơn xin tị nạn chính trị. Với hành động này, ông tố cáo “sự độc tài” của chế độ Hà Nội, đã “đe dọa và cầm tù” các nhà đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền. Ông hy vọng quyết định này sẽ khiến một số người khác noi theo.

Cựu lãnh sự từng làm việc tại Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm 1983 và vừa mới từ bỏ đảng Cộng sản tuyên bố: “Đất nước chúng tôi đã rơi vào một cuộc khủng hoảng toàn diện. Tất cả mọi người đều hy vọng sẽ có thay đổi, nhưng mới đây đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi cách cai trị độc tài và chế độ độc đảng. Cuộc khủng hoảng này là toàn diện vì vừa là khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng chính trị, đồng thời còn trong lãnh vực giáo dục và y tế”.

Ông Đặng Xương Hùng đã quyết định hợp tác với phe đối lập Việt Nam, đặc biệt là Ủy ban Thụy Sĩ – Việt Nam (COSUNAM) được thành lập cách đây 25 năm. Tổng thư ký ủy ban này là ông Nguyễn Tăng Lũy cho rằng việc xin tị nạn của ông Đặng Xương Hùng là một “sự kiện đặc biệt”, và nói thêm “Phía cuối đường hầm dường như đã cận kề “.

Sự kiện nhà ngoại giao trên xin tị nạn chính trị diễn ra trong lúc Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào ngày 5/2 tới sẽ xem xét tình hình thực hiện các quyền cơ bản tại Việt Nam nhân cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ cập (UPR) diễn ra bốn năm một lần.
Thụy My

viet.rfi.fr/viet-nam/20140203-cuu-lanh-su-viet-nam-len-truyen-hinh-thuy-si-khang-dinh-xin-ti-nan-chinh-tri

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Cuộc đối thoại Gorbachev-Thatcher (1984) khởi đầu cho chiến tranh lạnh chấm dứt, và chủ nghĩa cộng sản tan rả

Posted by hoangtran204 trên 03/02/2014

Gorby versus Thatcher: How the USSR charmed Britain’s Iron Lady 

Trần Hoàng: Bằng cách nào mà nhà lãnh đạo Xô Viết đã thuyết phục được bà Thủ tướng Anh, còn có biệt danh là người  đàn bà thép (Thủ tướng Thatcher có lập trường chống cộng rất cứng rắn và bà rất hiếu chiến) để rồi bà Thatcher thuyết phục TT Reagan cùng nhau hợp tác với Gorbachev xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản đã hoành hành trong hơn 70 năm qua và làm thiệt mạng 100 triệu người.  “Chủ nghĩa CS là ước mơ của một vài người nhưng là ác mộng của cả nhân loại.”

Cuộc đối thoại 1984 giữa Gorbachev và Thatcher đã mở mang cho một kỷ nguyên mới, giúp cho thế giới bước gần hơn tới ước mơ sống trong hòa bình, không còn nguy cơ của cuộc đe dọa chiến tranh hạt nhân đang diễn ra lúc ấy. Cuộc gặp gỡ năm 1984 đã làm cho cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, cuộc đối đầu giữa cộng sản và tư bản không còn nữa, và chủ nghĩa cộng sản ở 16 nước Đông Âu cáo chung. Sau 10 năm chuyển tiếp từ CS sang tư bản, và tiếp theo là thời kỳ 10 năm hồi phục, dân chúng 16 nước Đông Âu đã không còn sống trong cảnh lạnh lẻo, thiếu ăn và nạn đói đe dọa hàng năm như thời kỳ còn sống dưới chế độ cs 1945-1990. 

Coi thêm các tài liệu mật vừa mới được tháo gỡ và đem ra cho công chúng xem vào đầu tháng 1-2014 tại đây: 

http://www.margaretthatcher.org/archive/1984PREM19.asp

Cuộc đối thoại Gorbachev-Thatcher

5-1-2014

Christine Murray – Ý Yên lược dịch

nguồn: dcvonline.net

Mikhail Gorbachev thành viên BCT đảng CS Soviet chụp ảnh với Thủ tướng Anh trong chuyến viếng thăm tại Chequers (December 1984). Nguồn: REUTERS/Stringer

LONDON (Reuters) –January 3rd, 2014.  Thứ Sáu vừa qua, Anh quốc đã công khai hóa những tài liệu mật liên quan tới cố gắng của Mikhail Gorbachev để thiết lập bang giao tốt hơn với phương Tây trong cuộc Chiến Tranh Lạnh, nhằm cứu vãn Liên Sô đang trên đà suy thoái.

Kế hoạch cải tổ của Gorbachev đã kích động tới sự sụp đổ của toàn Liên Bang Sô viết. Cá nhân Gorbachev vào năm 1984 là ứng viên chính thay Konstantin Chernenko ,73 tuổi, để trở thành lãnh tụ điện Cẩm Linh nhưng ông ít được biết đến bên ngoải Liên bang Sô Viết cho tới khi ông viếng thăm Luân Đôn trong lần xuất ngoại đáng kể lần đầu tiên sang châu Âu.

Nhận lời mời của Thủ tướng Margaret Thatcher, chuyến viếng thăm năm 1984 của Gorbachev đã làm thay đổi chiều hướng Chiến tranh Lạnh, thuyết phục “Phu nhân Sắt” và đồng minh của bà, Tổng thống Ronald Reagan của Hoa Kỳ, rằng Liên Sô sắp có một nhân vật mà phương Tây có thể an tâm cộng tác được.

Trong một hồ sơ mật, Thatcher nói với Reagan, sau giờ sau cuộc thảo luận với Gorbachev về cuộc chạy đua vũ trang của Chiến tranh Lạnh,

“Tôi nhận thấy ông ta là người có thể hợp tác được, tôi thật lòng quý trọng ông ta. Không nghi ngờ gì về việc ông ta hoàn toàn trung thành với chế độ Sô Viết, nhưng ông ta sẵn sàng lắng nghe, và đối thoại chân thành, và có thể tự quyết định theo ý ông ta.”

Chỉ vài ngày sau gặp Gorbachev Thatcher bay sang trại David để thuyết phục Reagan rằng Gorbachev thật khác xa giới lãnh đạo Điện Cẩm Linh như Leonid Brezhnev, Yuri Andropov hay Chernenko, ông này hiện ốm yếu và thường vắng mặt trong các buổi họp của Bộ Chính trị.

Tập tài liệu năm 1984 cho thấy Thatcher đã phải xoay xở giữa cuộc đàm phán với Trung Quốc về việc trả lại Hồng Kông, cới một cuộc đình công của thợ mỏ trong nước, và phân tích nhann vật có thể là người lãnh đạo kế tiếp của kẻ thù mạnh nhất của phương Tây.

Theo một quy tắc mà Anh Quốc gọi là nguyên tắc 30 năm, có khoảng 500 tài liệu từ Văn phòng Nội các và Văn phòng Thủ tướng Chính phủ trong năm 1984 được coi là nhạy cảm và phải giữ bí mật theo nguyên tắc 30 năm trước khi công bố.

Tài liệu mật của nước Anh được giữ bí mật 50 năm theo các quy định dưới thời Thủ tướng Harold Macmillan ngay sau khi Thế chiến thứ hai, nhưng đã được giảm xuống còn 30 năm dưới thời Thủ tướng Lao động Harold Wilson.

Nguyên tắc này đã thay đổi trong những năm gần đây, giảm xuống còn 20 năm, dù các tài liệu cực kỳ nhạy cảm vẫn có thể được giữ kín lâu hơn với sự cho phép của Bộ trưởng Tư pháp.

Gorbachev khác người

Trái với những đình trệ thời Brezhnev, Gorbachev, khi đó mới 53 tuổi, bên bà vơ thanh lịch Raisa đã thuyết phục được Thatcher, một khi trở thành lãnh tụ Sô Việt, ông ta sẽ cho phương Tây một ngõ vào sau nhiều năm bế tắc.

Nhận xét của Thatcher (về Gorbachev) vừa có sức mạnh và tầm nhìn, đã dần dà thuyết phục Reagan. Bức tường Bá Linh bị phá vỡ vào năm 1989, và Liên bang Sô Viết sụp đổ bảy năm sau chuyến viêng thăm Luân Đôn của Gorbachev.

Reagan nói với báo chí vào năm 1990, “Bà ấy [Thatcher] cho tôi biết Gorbachev khác hẳn so với bất cứ lãnh tụ nào khác của điện Cẩm Linh. Bà ấy tin rằng có một cơ hội lớn. Hiển nhiên bà ta đã nói đúng.”

Lâu đài Chequers (Buckinghamshire, England). Nguồn: Getty Images

Tại lâu đài Chequers, nơi nghỉ ngơi và làm việc ngoài London của Thủ tướng nước Anh, Thatcher dã có nhiều giờ tranh cãi với Gorbachev về sự hạn chế di cư của người Do Thái, số phận của những người bất đồng chính kiến, như nhà vật lý Andrei Sakharov, và những giá trị của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản.

Thatcher cho biết giới lãnh đạo công đoàn của Anh như Arthur Scargill đã gây tiếng xấu cho cộng sản vì họ đã không cho đầu phiếu và công đoàn thợ mỏ đã bị đe dọa phải đình công. Bà cũng ám chỉ Liên Xô có thể đã giúp đỡ tài chính cho công đoàn [thợ mỏ], theo ghi chú của các cố vấn về cuộc họp với Gorbachev.

Gorbachev nói rằng Thatcher không nên đổ lỗi cho bất cứ ai về những vấn đề của nước Anh cho các vấn đề của mình, và Liên Xô đã chuyển không hề hỗ trợ kinh phí cho Liên minh Thợ mỏ Quốc gia; Gorbachev thêm đoạn “như tôi được biết” vào câu trả lời cùng lúc “liếc nhìn” các cố vấn của ông.

Vẫn chưa rõ liệu Thatcher đã đọc, như trò đùa mà một cố vấn đã đề nghị, một đoạn trong lá thư của Karl Marx gởi Friedrich Engels, nhớ lại mẹ của Marx một lần nói, “Nếu Karl đã gây Vốn … thay vì chỉ viết về Tư bản.”

Bữa ăn trưa kết thúc với chúc tụng, Gorbachev và Thatcher đã tiếp tục cuộc thảo luận, gay cấn hơn nhiều, về cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.

Mùa đông nguyên tử

Qua hơn ba giờ đàm đạo, Gorbachev có lúc đã trưng dẫn cho Thatcher, rõ ràng hiếu chiến, xem một biểu đồ nguyên trang trên tờ New York Times ghi sức mạnh nguyên tử của các đại cường, và sự kinh hoàng của một mùa đông nguyên tử.

Gorbachev đọc một ngụ ngôn tối nghĩ của Nga, “ Mỗi năm một lần, khẩu súng dù không nạp đạn cũng có thể phát nổ.”

Thatcher cho rằng vũ khí nguyên tử chỉ là một sự là hình thức răn đe, và chiến lược phòng thủ “Chiến tranh giữa các vì sao” của TT Reagan chính là biểu hiện “giấc mơ” hòa bình của ông ấy.

Gorbachev tin chắc rằng dù chưa có cuộc họp thượng đỉnh nào giữa tổng thống Hoa Kỳ và Tổng Bí thư đảng Cộng sản Sô viết từ sau cuộc gặp gỡ năm 1979 giữa Jimmy Carter và Leonid Brezhnev, thì nay, Cẩm linh đã đề ra ưu tiên cho một “lý tưởng cao thượng hơn” về hòa bình qua những đàm phán sẽ tổ chức vào năm 1985.

Thatcher đã nói với Reagan về Gorbachev, rằng đàng sau sự ồn ào bề ngoài với chủ nghĩa Mác của giới lãnh đạo Cộng sản, tôi có ấn tượng tôt về cá tính bén nhậy của ông ta, cùng sự sẵn sàng tranh luận và bà vợ có thể nhạy bén hơn nữa.

 Charles Powell, thư ký riêng của Thatcher, viết cho George Shultz.  Ngoại trưởng Mỹ thời đó, về Raisa Gorbachev, “Vợ ông ta không là một người phụ nữ Liên Xô bình thường. Bằng Tiến sĩ Triết học của bà ấy  không thể che giấu một nhân cách thẳng thắn và thu hút cùng với một kiến thức rộng đáng ngạc nhiên về nền văn học hiện đại và tiếng Anh cổ điển.”

Reagan và Gorbachev, người đã trở thành lãnh đạo Liên Xô vào ngày 11 tháng ba năm 1985, gặp nhau lần đầu tiên vào ngày 19 Tháng Mười Một năm 1985 tại Geneva.

Sau khi thảo luận với Gorbachev, Thatcher đã đến Trung Quốc để đàm phán về Hồng Kông, nhưng các trợ lý của Thủ tướng Anh đã bối rối khi Gorbachev, vẫn còn trong chuyến thăm của ông, đã đến Phố Downing không báo trước và yêu cầu được thấy cánh cửa màu đen nổi tiếng tại địa chỉ Số 10. Nhà lãnh đạo tương lai của Liên Xô đã bước vào đến sảnh phía trước Văn phòng Thủ tướng Anh, nhưng ông đã  “tươi cười” bước ra khỏi cửa trước khi các thư ký riêng của bà Thatcher xuất hiện.

© 2014 DCVOnline

nguồn: dcvonline.net


Nguồn: Gorby versus Thatcher: How the USSR charmed Britain’s Iron LadyChristine Murray. Reuters. January 3rd, 2014.

 

Posted in Chinh Tri | Leave a Comment »

►Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng bị công an ngăn chận không cho qua Geneve họp hôm 1-2-2014 – Thư điều trần Nhân quyền tại Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 03/02/2014

2-2-2014

Phạm Chí Dũng

Tác giả gửi tới Dân Luận

THƯ ĐIỀU TRẦN NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM

Kính gửiHội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc

Đồng kính gửi: – Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hiệp quốc (OHCHR)

– Tổ chức Giám sát nhân quyền Liên hiệp quốc (UN Watch)

– Ban tổ chức Hội thảo “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc

– Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

Vừa có thêm một bằng chứng sống động nữa về khoảng cách biệt khó che giấu giữa tư duy và cách hành xử về điều được coi là “luôn bảo đảm các quyền con người” của Nhà nước Việt Nam với những tiêu chí nhân quyền có giá trị thực tế hơn rất nhiều của Liên hiệp quốc.

Bằng chứng sống động đó vừa ứng vào trường hợp của tôi – Phạm Chí Dũng, một nhà báo độc lập ở Việt Nam.

I. Nhận thư mời từ UN Watch, một tổ chức phi chính phủ Thụy Sĩ có chức năng giám sát các vấn đề nhân quyền và dân chủ thuộc Liên hiệp quốc, tôi đã làm thủ tục visa và đã có vé máy bay để đến Genève tham dự cuộc hội thảo “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc” vào ngày 4/2/2014, bên cạnh cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam (UPR) diễn ra tại Genève vào ngày 5/2/2014.

Là một trong những diễn giả của cuộc hội thảo trên, bài tham luận của tôi sẽ đặt vấn đề về “Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam”, trong đó cần kíp xây dựng một mạng lưới liên kết giữa các NGO quốc tế và các nhóm dân sự Việt Nam nhằm thúc đẩy các vấn đề về quyền con người.

Thấu hiểu hoàn cảnh rất khó được xuất cảnh của tôi, ngày 29/1/2014, Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hiệp quốc đã gửi văn thư cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện thường trực của Chính phủ Việt Nam tại Genève và đại sứ Việt Nam tại Bangkok, đề nghị hỗ trợ đầy đủ cho chuyến đi của tiến sĩ Phạm Chí Dũng. Văn thư này cũng nêu rõ một trong những yêu cầu chủ yếu của cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam là sự tham gia của xã hội dân sự, và Liên hiệp quốc khuyến khích các nhóm dân sự và cá nhân Việt Nam tham dự cuộc kiểm điểm này.

Những tin tức mà tôi nhận được cũng cho thấy Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam tạo thuận lợi cho chuyến đi Genève của tôi.

Trước tấm chân tình và những tương tác tiến bộ của cộng đồng quốc tế cùng giới hoạt động vì quyền con người ở Việt Nam, không thể khác là trong tôi mang nặng tình cảm xúc động và hàm ơn.

Nhưng bất chấp những vận động nhiệt tình và thiện ý của cộng đồng quốc tế, chuyến bay đi Genève của tôi vào ngày 1/2/2014 từ sân bay Tân Sơn Nhất đã bị ngăn chặn. Tại sân bay này, Cục quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an và cơ quan an ninh của Công an TP. Hồ Chí Minh đã thông báo miệng với tôi rằng “hội thảo ở Thụy Sĩ có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm xuyên tạc và nói xấu nhà nước Việt Nam”, đồng thời những cơ quan an ninh này lập biên bản thu giữ hộ chiếu của tôi.

Trước đây vào tháng 8/2012, tôi cũng đã bị Công an TP. Hồ Chí Minh khuyến cáo “không nên đi” khi tôi được mời dự Hội thảo mùa hè ở Singapore về cải cách kinh tế Việt Nam. Việc không đồng ý với khuyến cáo của cơ quan an ninh cũng được hiểu là đương sự hoàn toàn có thể bị ngăn chặn tại sân bay nếu vẫn giữ nguyên kế hoạch xuất cảnh.

Gần đây nhất vào giữa tháng Giêng năm 2014, một blogger ở TP. Hồ Chí Minh là Thành Nguyễn đã bị cơ quan an ninh cửa khẩu ngăn chặn chuyến bay tới Mỹ, dù blogger này đã được tòa lãnh sự Hoa Kỳ cấp visa. Theo blogger Thành Nguyễn, phía cơ quan an ninh chỉ đưa ra một lý do rất mơ hồ trong việc ngăn chặn là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội’.

Theo thống kê sơ bộ của giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, từ đầu năm 2013 đến nay đã có khoảng 10 trường hợp cá nhân bị ngăn chặn xuất cảnh tại các cửa khẩu, tương tự vụ việc của tôi.

Cũng có thông tin trong giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam cho biết hiện đang tồn tại một danh sách lên đến khoảng 2,000 người bị cơ quan an ninh cấm xuất cảnh, trong đó nhiều trường hợp bị ngăn chặn thuộc về các cựu tù nhân lương tâm và những người bất đồng chính kiến.

II. Ngay trước thềm UPR diễn ra ngày 5/2/2014 tại Thụy Sĩ, hành động các cơ quan an ninh Việt Nam ngăn chặn việc xuất cảnh đối với tôi đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại của công dân – được ghi nhận tại điều 12 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1982; vi phạm nghiêm trọng Điều 23 của Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 mà theo đó “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Với tư cách một công dân, tôi không vi phạm bất cứ quy định nào về pháp luật xuất nhập cảnh ở Việt Nam. Tôi cũng chưa từng được cơ quan an ninh thông báo về cá nhân tôi không được xuất cảnh.

Vô tình hay hữu ý, hành động ngăn chặn xuất cảnh như trên đã làm xấu đáng kể hình ảnh của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế, chứng minh không thể sinh động và cập nhật hơn về việc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – một thành viên vừa được bầu của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp quốc – lại vừa ngang nhiên vi phạm các cam kết về nhân quyền của Liên hiệp quốc, vi phạm Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời vi phạm hiến pháp của chính nhà nước này.

Tuy vấn đề xuất cảnh của cá nhân tôi chỉ rất nhỏ bé, song vụ việc ngăn chặn xuất cảnh đối với tôi lại lồng trong khung cảnh nhiều chủ đề về quyền con người ở Việt Nam về dân sinh, dân quyền và chính trị vẫn còn thụt lùi sâu sắc, bất chấp rất nhiều hứa hẹn “sẽ cải thiện” từ phía một nhà nước luôn tuyên xưng “của dân, do dân và vì dân”.

Trong trường hợp cần thiết, tôi sẵn lòng phác tả về bức tranh nhân quyền mang sắc màu u ám trong một Việt Nam đương đại.

Lồng trong khung cảnh thụt lùi sâu sắc về nhân quyền như thế, nhiều công dân Việt Nam như tôi đang khắc khoải mong đợi những tác động đủ mạnh và đủ ý nghĩa từ cộng đồng nhân quyền quốc tế, đặc biệt là cuộc UPR sắp tới, hầu mong có thể phần nào cải thiện não trạng và cải hóa hành vi đối xử nhân quyền của nhà nước và các cơ quan an ninh Việt Nam.

Hơn lúc nào hết, ý nghĩa của những tác động quốc tế khó có thể tách rời tương lai định chế Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Nhà nước Việt Nam có thể được chấp thuận tham gia hay không, lồng trong bối cảnh quốc gia này đã chìm trong cơn suy thoái kinh tế kéo dài hơn 6 năm và phía trước là một cuộc khủng hoảng rất khó tránh thoát.

Thư điều trần này được gửi đến Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế liên quan, với lòng kính trọng những điều mà quý vị đang cống hiến cho nền dân chủ và nhân quyền trên toàn cầu.

Việt Nam ngày 2 tháng 2 năm 2014
Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
(đã ký)

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Phỏng vấn TS Phạm Chí Dũng: bị cấm xuất cảnh đi dự hội thảo nhân quyền tại Genève

Posted by hoangtran204 trên 02/02/2014

Tối nay 01/02/2014 tại sân bay Tân Sơn Nhất khi đang làm thủ tục xuất cảnh đi tham dự hội thảo về nhân quyền tổ chức tại Genève, Thụy Sĩ với tư cách diễn giả theo lời mời của tổ chức UN Watch – một tổ chức phi chính phủ Thụy Sĩ có chức năng giám sát các vấn đề nhân quyền và dân chủ thuộc Liên Hiệp Quốc, tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã bị giữ lại và tịch thu hộ chiếu. 

Sau nhiều cuộc gọi bất thành (do điện thoại của tiến sĩ Phạm Chí Dũng bị công an thu giữ), cuối cùng RFI Việt ngữ cũng đã liên lạc được. Tiến sĩ Phạm Chí Dũng cho biết :

 
Tiến sĩ Phạm Chí Dũng

 
01/02/2014
 
 

 

Như vậy là tôi đã qua khâu gửi hành lý và trình hộ chiếu, nghĩ là mọi chuyện đã tương đối ổn. Nhưng khi đến khâu kiểm tra an ninh thì họ ngần ngại, ngừng một chút. Một người nói là « Máy kẹt rồi ! ». Sau đó mấy nhân viên công an mặc sắc phục tới, đề nghị tôi đi vào một căn phòng riêng để kiểm tra lại, vì theo họ, tên của tôi tương đối phổ thông, trùng với một số người khác.

Nhưng sau đó có một sĩ quan an ninh mặc thường phục của cơ quan PA 81 thuộc Công an thành phố đến, nói với tôi là trường hợp của tôi không được xuất cảnh. Tôi hỏi lý do tại sao, họ nói là việc đi Thụy Sĩ có thể bị lợi dụng bởi những thế lực thù địch, xuyên tạc chống phá Nhà nước Việt Nam. Vì vậy trường hợp tôi đi không có lợi.

Sau đó họ làm biên bản và giữ hộ chiếu của tôi, có ghi lý do là Công an Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị, vì tôi là diện bị cấm xuất cảnh. Họ đề nghị tôi đến Cục Quản lý Xuất nhập cảnh của Bộ Công an để nhận lại hộ chiếu.

Nhưng với tôi, thì tôi không cần nhận lại hộ chiếu nữa. Tại vì từ nay trở đi tất cả những việc đi lại của tôi ra nước ngoài sẽ do Nhà nước Việt Nam quyết định, trên căn bản tinh thần nhân quyền của Nhà nước khi tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Nếu Nhà nước Việt Nam cảm thấy còn muốn giữ một chút hình ảnh nào đó về nhân quyền, thì ít nhất họ phải tôn trọng quyền tự do đi lại, quyền được xuất cảnh của công dân một cách bình thường, một cách tự do như Hiến pháp Việt Nam đã quy định. Còn nếu họ không cần tới điều đó nữa thì tôi cũng đương nhiên không cần tới hộ chiếu.

Và ngày mai tôi sẽ chính thức viết thư khiếu nại tới Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an về vụ việc này. Đồng thời sẽ thông tin rộng rãi và sâu sắc tới tổ chức Liên Hiệp Quốc, các tổ chức nhân quyền quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nhân đợt Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) diễn ra tại Genève, Thụy Sĩ vào ngày 5 tháng Hai sắp tới.

Tin liên quan:

Liệu Tiến sĩ Phạm Chí Dũng đến được Genève dự điều trần về nhân quyền?

Bạn có thể nghe phỏng vấn tại đây nếu không vào được RFI

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2014/02/Son_Vietnam_01_02_2014_Pham_Chi_Dung.mp3

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Trận Hoàng Sa trong chiến tranh lạnh toàn cầu

Posted by hoangtran204 trên 02/02/2014

1-2-2014

Tác giả: 

1.-  CHIẾN TRANH LẠNH

Chiến tranh lạnh bắt đầu từ năm 1946, sau thế chiến thứ hai (1939-1945), là tình trạng tranh chấp căng thẳng, gay cấn và quyết liệt giữa hai khối tư bản và cộng sản (CS).  Nói trắng ra, đây là cuộc tranh chấp giữa hai tập đoàn quyền lợi tư bản và CS.  Hai tập đoàn quyền lợi nầy đối chọi nhau về tất cả các mặt, nhưng hai bên không trực tiếp đánh nhau vì các cường quốc đứng đầu hai khối cùng thủ đắc võ khí nguyên tử, sợ chiến tranh nguyên tử xảy ra, thì cả hai bên đều thiệt hại nặng nề.

Chiến tranh lạnh, có một số đặc điểm như sau: 1) Mỗi khối không phải là một tổ chức thống nhứt, không có chỉ huy chặt chẽ.  2) Các quốc gia trong mỗi khối vẫn duy trì quyền lợi riêng tư, nên trong nội bộ mỗi khối, các quốc gia vẫn xảy ra tranh chấp quyền lợi với nhau, nhiều khi không kém phần quyết liệt.  Ví dụ giữa Hoa Kỳ và Pháp trong khối tư bản, giữa Liên Xô và Trung Cộng trong khối CS.  3)  Quyền lợi quốc gia của các nước luôn luôn thay đổi theo hoàn cảnh và theo thời gian nên chính sách đối ngoại cũng thay đổi theo thời gian. (Ví dụ Hoa Kỳ, Pháp, Liên Xô, Trung Cộng.)  4) Các nước nhỏ yếu bị các nước cường quốc lợi dụng.  Các cường quốc dùng các nước nhỏ để trao đổi quyền lợi giữa các cường quốc. 5) Trong chiến tranh lạnh, có một số tranh chấp địa phương, bùng nổ thành những điểm nóng, mà các cường quốc trong hai khối đứng về hai phía đối đầu nhau.

Từ khi xảy ra chiến tranh lạnh trên thế giới năm 1946, tại Á Châu, hai điểm nóng quan trọng là chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) và chiến tranh Việt Nam (1960-1975).  Trong cả hai cuộc chiến Triều Tiên và Việt Nam, Hoa Kỳ đều ủng hộ hai miền Nam tự do, chống lại hai miền Bắc CS, nhưng Hoa Kỳ áp dụng hai chiến lược khác nhau tại hai cuộc chiến nầy.

2.-  CHIẾN LƯỢC HOA KỲ TẠI NAM VIỆT NAM: PHÒNG THỦ

Tại Triều Tiên, Hoa Kỳ tấn công Bắc Triều Tiên để phòng thủ Nam Triều Tiên, tức Hoa Kỳ lấy công làm thủ.

Tại Việt Nam, Hoa Kỳ không tấn công Bắc Việt Nam mà chỉ phòng thủ ở  Nam Việt Nam, tức Hoa Kỳ lấy thủ làm thủ.

Cả hai nước Triều Tiên và Việt Nam đều có biên giới giáp ranh với Trung Cộng ở phía bắc.  Khi quân Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên năm 1950, quân đội Hoa Kỳ cùng quân đội Liên Hiệp Quốc giúp Nam Triều Tiên, đánh đuổi quân Bắc Triều Tiên đến sông Áp Lục (Yalu River), là biên giới với Trung Cộng.  Quân Trung Cộng tràn qua giúp Bắc Triều Tiên.  Sau ba năm đánh nhau qua lại, hai bên đình chiến năm 1953 ở vĩ tuyến 38, chia hai nước Triều Tiên.

Vì vậy, khi tham chiến ở Việt Nam năm 1965, các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ bị ám ảnh bởi chiến tranh Triều Tiên. (Mark Moyar, Triumph Forsaken, The Vietnam War, 1954-1965, New York: Cambridge University Press, 2006, tr. 306.)  Hoa Kỳ lo ngại nếu đánh ra Bắc Việt Nam, thì Trung Cộng sẽ can thiệp như ở Triều Tiên, nên tại Nam Việt Nam, Hoa Kỳ chủ trương chỉ phòng thủ ở Nam Việt Nam, phía nam đường phi quân sự ở vĩ tuyến 17, không tấn công ra Bắc Việt Nam, tránh  đụng chạm đến Trung Cộng.

3.-  CHÍNH SÁCH KHÔNG CHIẾN THẮNG

Chiến lược phòng thủ của Hoa Kỳ có thể tóm gọn qua câu nói của đô đốc Grant Sharp, tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương 1964-1968: “Chính phủ chúng ta lập lại để làm rõ rằng những mục tiêu của chúng ta trong cuộc tranh chấp ở Việt Nam là giới hạn.  Chúng ta không buộc phải tiêu diệt chế độ Hà Nội, không cưỡng ép dân chúng Bắc Việt Nam phải chấp nhận một hình thức chế độ khác và cũng không tàn phá Bắc Việt Nam.  Chúng ta đơn giản muốn Bắc Việt Nam ngưng điều khiển và ngưng yểm trợ phiến quân Việt cộng ở miền Nam và đưa lực lượng của họ về nhà.  Chiến lược điều khiển chiến tranh của chúng ta phản ảnh những mục tiêu giới hạn nầy.” (Nguyên văn: “Our Government has repeatedly made it clear that our objectives in the Vietnam conflict are limited. We are not ought to destroy the Hanoi regime, or to compel the people of North Vietnam to adopt another form of government, nor are we out to devastate North Vietnam. We simply want North Vietnam to cease its direction and support of the Vietcong insurgency in the South and take its forces home. Our strategy for the conduct of the war reflects these limited objectives.”) (William D. Pawley & Richard R. Tryon, Jr., “Why the Communists are Winning as of 1976 and How They Lost in 1990”, http://www.gratisbooks.com/, chữ khóa: “Getting bogged down in Vietnam”.)

Do chủ trương chiến tranh giới hạn (limited war), bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đưa ra  những “quy tắc tham chiến” (rules of engament) tức quy tắc quân đội ứng xử khi tham chiến ở NVN như một thứ cẩm nang, nhằm ngăn ngừa và giới hạn những ngẫu biến ở biên giới Hoa Việt hay vùng phi quân sự vĩ tuyến 17.

Quy tắc tham chiến hạn chế các mục tiêu tấn công, và hạn chế các hoạt động của Không quân, giảm hỏa lực làm giảm sức mạnh quân đội Hoa Kỳ.  Ai vi phạm, sẽ bị trừng phạt nặng.  (ví dụ trường hợp đại tướng John Lavelle năm 1972.)

Những quy tắc nầy bảo đảm rằng chúng ta không thể thắng và cộng sản cũng không thể thất bại.” (Nguyên văn: “These rules insured that we could not win and that the communists could not lose.”) (Steve Farrell, Why We Lost in Vietnam – The Untold Story, University of Toronto, School of Continuimg Studies, The Moral Liberal. )

Thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa Barry Goldwater tuyên bố tại Taipei (Đài Bắc) khi đến Đài Loan viếng tang tổng thống Tưởng Giới Thạch, gọi đây là “chính sách không chiến thắng” (“no win policy”). (The Bryan Times,Thursday, April 17-4-1975.)

4.-  CHIẾN LƯỢC PHÒNG THỦ KHÔNG HỮU HIỆU VỚI KHỦNG BỐ VÀ DU KÍCH

Trong chiến tranh Nam Việt Nam, cộng sản Việt Nam sử dụng chiến thuật khủng bố và du kích.  Quân du kích CS khủng bố, đánh phá khắp nơi trên toàn quốc, gây thiệt hại mỗi ngày một ít, mỗi nơi một ít, nhưng “tích tiểu thành đa”, lâu ngày làm hao mòn quân đội Nam Việt Nam và quân đội Hoa Kỳ.

Thật rất khó chống lại du kích chiến, nhất là trong địa hình rừng núi như Việt Nam.  (Ngày nay, người Mỹ tận dụng hết khả năng quân sự vẫn không chống lại được du kích Al-Qaeda, Taliban, Afghanistan.)

Muốn chận đứng du kích CS ở Nam Việt Nam, chỉ có cách duy nhứt là chận đứng ngay từ gốc, tức là hậu phương lớn của du kích CS, là Bắc Việt Nam, tức phải tấn công Bắc Việt Nam, mới chận đứng được du kích CS trên toàn cõi Nam Việt Nam.  Như Hoa Kỳ đã từng đánh ra Bắc Triều Tiên trước đây mới chận đứng hẳn du kích CS ở Nam Triều Tiên.

Vì không đánh ra Bắc Việt Nam để chận đứng du kích từ tận gốc, mà chỉ mở những cuộc hành quân bình định ở Nam Việt Nam và ngồi chờ du kích đến quấy phá mới phản công, nên dù trang bị tối tân, quân đội Nam Việt Nam và Hoa Kỳ không thể tiêu diệt hết khủng bố và du kích của CS ở Nam Việt Nam.

Hoa Kỳ còn lo ngại quân đội Nam Việt Nam bất ngờ tấn công ra Bắc Việt Nam để giải tỏa áp lực của CS ở Nam Việt Nam, nên Hoa Kỳ ngăn chận tất cả những đề nghị từ phía Việt Nam Cộng Hòa tấn công ra Bắc Việt Nam.  Ví dụ trong cuộc mít-tin tại Sài Gòn ngày 19-7-1964, kỷ niệm Ngày Quốc hận [ngày ký kết Hiệp định Genève 20-7-1954], trung tướng Nguyễn Khánh hô hào Bắc tiến.  Đại sứ Maxwell Taylor và các viên chức Mỹ có mặt tại cuộc mít-tin tránh né không bình luận. (John S. Bowman, The Vietnam War, Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tr. 42.)  Ngày 1-12-1965, trung tướng Nguyễn Chánh Thi gởi thư lên chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đề nghị Bắc tiến; đồng thời tướng Thi còn gởi thư cho đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn công khai đề nghị Bắc tiến. (Nguyễn Chánh Thi, Việt Nam, một trời tâm sự, California: Nxb. Anh Thư, 1987, tt. 319=344.)  Năm 1972, trong mùa hè đỏ lửa. quân Bắc Việt Nam tràn qua vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17.  Quân đoàn I đề nghị đưa quân vượt qua vĩ tuyến 17 đánh ngược ra Bắc.  Được tin nầy, phía cố vấn Hoa Kỳ liền giới hạn cấp số xăng, cấp số đạn và ngưng tiếp tế lương khô cho Lữ đoàn 1 Kỵ binh Việt Nam Cộng Hòa nhằm chận đứng cuộc Bắc tiến. (Hà Mai Việt, Thép và Máu, Thiết giáp trong chiến tranh, Texas, 2005, tr. 103.)

Với chiến lược phòng thủ tại NVN, quân đội Hoa Kỳ không thất bại, nhưng quân đội Hoa Kỳ cũng không chiến thắng, dậm chân tại chỗ.  Trước tình hình nầy, vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ quyết định thay đổi sách lược.

5.-  HOA KỲ THAY ĐỔI VÌ LÝ DO QUỐC NỘI

Chiến tranh kéo dài, dân chúng Hoa Kỳ mệt mỏi, chán nản, nổi lên phản đối.  Phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ lên mạnh chỉ sau vài năm Hoa Kỳ tham chiến.  Trong niên khóa 1969-1970, xảy ra 1,800 cuộc biểu tình, 7,500 người bị bắt giữ, 247 vụ đốt phá, 462 người bị thương mà 2/3 là cảnh sát và 8 người chết. Từ tháng 1-1969 đến tháng 2-1970 có 40,000 vụ ném bom, hay âm mưu ném bom, hay đe dọa ném bom liên hệ đến chiến tranh, gây thiệt hại 21 triệu Mỹ kim, hàng trăm người bị thương và 43 người chết. (Richard Nixon, No more Vietnams, London: W. H. Allen, 1986, tr. 126.)

Phong trào phản chiến Hoa Kỳ lên cao vì trong thời điểm nầy, ngoài quân đội chuyên nghiệp, Hoa Kỳ còn có binh sĩ động viên.  Thân nhân binh sĩ động viên phản đối mạnh mẽ chiến tranh vì sợ con em phải bỏ mạng trên chiến trường Việt Nam.  (Luật động viên ở Hoa Kỳ được bãi bỏ ngày 27-1-1973.  Ngày nay, quân đội Hoa Kỳ chỉ gồm toàn quân nhân chuyên nghiệp.)

Tin tức phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam, được các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ đưa lên truyền hình, chiếu liên tục suốt ngày làm nản lòng dân chúng Hoa Kỳ.  Có thể nói phong trào phản chiến Hoa Kỳ là đồng minh hữu hiệu và là nội tuyến đắc lực của Công sản Việt Nam.  Các chính trị gía và các đảng phái muốn đắc cử, phải điều chính sách lược để thu phục lòng dân Hoa Kỳ, mới được phiếu bầu.

6.-  HOA KỲ THAY ĐỔI VÌ LÝ DO QUỐC TẾ

Vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, các chính trị gia Hoa Kỳ dựa trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics), như sau: “Bắc Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiễn nguyên tử, Liên Xô có thể làm được việc đó.  Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít võ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ.” (Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334.)

Từ  đó, giới chính trị  Hoa Kỳ đưa ra nhận định mới.  “Hy sinh Nam Việt Nam mới thật là đáng giá.  Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Nam Việt Nam mà ít hy vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa Trung Quốc nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô.” (Roger Warner, sđd. tr. 336.)  Lúc đó, cuộc tranh chấp Liên Xô – Trung Cộng càng ngày càng gay gắt.  Hoa Kỳ muốn khai thác mối chia rẽ nầy, lôi kéo Trung Cộng về phía Hoa Kỳ.

Bill Sullivan, thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, trả lời một cuộc phỏng vấn rằng:  “Như thế, tôi đi đến kết luận, và điều nầy nghe ra có vẽ tráo trở, rằng không thắng cuộc chiến nầy thì chúng ta sẽ khá hơn.  Đặc biệt nữa là người Trung Quốc đã khai thông với chúng ta, và làm cho người Trung Quốc tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam.” (Roger Warner, sđd. tr. 336.)

Vì vậy, lúc đó người Hoa Kỳ nghĩ rằng: “Thua trận ở Việt Nam lành mạnh cho Hoa Kỳ hơn là thắng trận.  Rằng thua trận nằm trong quyền lợi quốc gia.  Rằng đó là lợi thế… Đó là quan niệm cấp tiến triệt để vào thời đó, rằng thua trận và phó mặc các đồng minh Đông nam Á của chúng ta cho số phận của họ, như thế mới đúng là cách làm của chúng ta.” (Roger Warner, sđd. tr. 333.)

Như trên đã viết, dù là tư bản hay cộng sản, quyền lợi của mỗi nước luôn luôn thay đổi theo hoàn cảnh.  Trước đây, vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam để ngăn chận sự bành trướng của cộng sản nhất là Trung Cộng.  Nay cũng vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ tìm cách rút lui khỏi Việt Nam.  Năm 1969, tổng thống Richard Nixon đưa ra kế hoạch “Việt Nam hóa” chiến tranh (Vietnamization), là một mỹ từ để chỉ việc chuyển gánh nặng quân sự cho quân lực Việt Nam Cộng Hòa, rồi Hoa Kỳ rút quân đội Hoa Kỳ về nước.

Đồng thời, Hoa Kỳ nhận thấy hố chia rẽ giữa Trung Cộng và Liên Xô càng ngày càng sâu rộng.  Hoa Kỳ tìm cách thân thiện với Trung Cộng, vừa nhờ Trung Cộng áp lực với Bắc Việt Nam để Hoa Kỳ rút quân, đem tù binh Hoa Kỳ về nước, vừa lôi kéo Trung Cộng về phía Hoa Kỳ, tách xa Liên Xô.

7.-  TRUNG CỘNG: THAM VỌNG XUỐNG ĐÔNG NAM Á

Các lãnh tụ Trung Cộng không khác gì các vua chúa Trung Hoa ngày xưa, luôn luôn nuôi mộng xâm lăng Việt Nam để tràn xuống Đông Nam Á.  Lịch sử cho thấy quân đội Trung Hoa thời quân chủ không thể chiến thắng được quân đội Đại Việt.  Vì vậy, lần nầy, Trung Cộng thay đổi sách lược, nhìn ra Biển Đông nhắm đến Hoàng Sa, là quần đảo của Việt Nam trong Biển Đông, nằm trên thủy lộ chiến lược từ eo biển Malacca ra Thái Bình Dương.

Nguyên từ 24-2 đến 29-4-1958 tại Genève, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị về luật biển. Do những tranh cãi tại Genève về chiều rộng của hải phận quốc gia và hải phận quốc tế, Mao Trạch Đông tuyên bố ngày 28-6-1958: “Hiện nay, Thái Bình Dương không yên ổn.  Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and Jon Halliday, The Unknown Story MAO, New York: Alfred A. Knopf, Publisher, 2005, tr. 426.) Phát biểu nầy là khởi đầu cho chủ trương mới của Trung Cộng về Biển Đông và Thái Bình Dương.

Năm tháng sau, ngày 4-9-1958, Quốc hội Trung Cộng đưa ra bản tuyên cáo về hải phận, gồm 4 điều.  Trong 4 điều nầy, Trung Cộng đưa ra hai điểm quan trọng: 1) Xác định hải phận Trung Cộng rộng 12 hải lý. 2) Xác định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc lãnh thổ Việt Nam, là của Trung Cộng (điều 1 và điều 4).

Đáp lại tuyên cáo ngang ngược nầy, Phạm Văn Đồng thủ tướng Bắc Việt Nam, thừa lệnh Hồ Chí Minh và bộ Chính trị đảng Lao Động tức đảng Cộng Sản Việt Nam, gởi cho Trung Cộng công hàm ngày 14-9-1958, tán thành bản tuyên cáo ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Cộng, tức Bắc Việt Nam tán thành chuyện hải phận 12 hải lý của Trung Cộng, đồng thời tán thành luôn  rằng các quần đảo Hoàng Sa,và Trường Sa, thuộc lãnh thổ Trung Cộng.  Đây là tội phản quốc lớn lao nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim.

Năm 1963, trong cuộc họp với đại diện đảng Lao Động Việt Nam (tức đảng Cộng Sản Việt Nam), Mao Trạch Đông nói: “Tôi sẽ làm chủ tịch của 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á.” 

Tháng 8-1965, trong cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai, Singapore…” (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua, Hà Nội: NXB Sự Thật, 10-1979, Chương “Việt Nam trong chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc”.)  Trong khi đó, Hoa Kỳ xích lại với Trung Cộng từ năm 1971.

8.-  HOA KỲ – TRUNG CỘNG XÍCH LẠI GẦN NHAU

Tháng 3-1969, chiến tranh giữa Liên Xô và Trung Cộng bùng nổ ở trên sông Ussuri.  Trung Cộng muốn tìm một đồng minh mới để làm đối trọng với Liên Xô.  Trong khi đó, Hoa Kỳ đang tìm cách rút lui dần dần khỏi Việt Nam, cũng muốn thân thiện với Trung Cộng để nhờ Trung Cộng áp lực với Cộng sản Việt Nam và tách Trung Cộng ra khỏi Liên Xô.  Hai kẻ cựu thù Hoa Kỳ và Trung Cộng nay đều có nhu cầu xích lại gần nhau.

Sau một thời gian thăm dò, liên lạc, thương thuyết mật giữa các phái đoàn Hoa Kỳ và Trung Cộng, ngày 9-7-1971, Henry Kissinger bí mật đến Bắc Kinh. 

Năm sau, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đi thăm Trung Cộng ngày 21-2-1972.  Nixon thông báo cho các lãnh tụ Trung Cộng biết là Hoa Kỳ sẽ đơn phương rút quân khỏi Nam Việt Nam, không đòi hỏi Bắc Việt Nam rút quân khỏi Nam Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ không báo cho Việt Nam Cộng Hòa biết.

Khi Richard Nixon về nước, Chu Ân Lai qua Hà Nội tường thuật cho giới lãnh đạo Bắc Việt Nam.  Bắc Việt Nam liền mở cuộc tấn công Nam Việt Nam mạnh mẽ từ tháng 4-1972. (Mùa hè đỏ lửa).  Lúc đó, “Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để trao đổi một “bức điện miệng” nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm kể từ quần đảo Hoàng Sa”.” (Henry A. Kissinger, Ending the Vietnam War, New York:  Nxb. Simon & Schuster, 2003, tr. 246. Huy Đức trích lại, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, New York: Osin Book, 2012 , tr. 109.)  Đổi lại, Trung Cộng giúp Hoa Kỳ bằng cách áp lực Bắc Việt Nam trở lại thảo luận nghiêm chỉnh tại Hội nghị Paris, nhằm giải quyết chiến tranh Việt Nam.

Như thế, ngay từ năm 1972, Hoa Kỳ ngầm hứa hẹn đồng ý để cho Trung Cộng tự do hành động ở Hoàng Sa. Trung Cộng chờ đợi cơ hội ra tay.  Cuối cùng, Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa ngày 19-1-1974.

Cần chú ý về thời điểm nầy: 1) Sau hiệp định Paris (27-1-1973), Hoa Kỳ rút quân hoàn toàn ra khỏi Nam Việt Nam, và không trở lui nữa. 2)  Liên Xô tăng cường viện trợ gấp 4 lần cho Bắc Việt Nam để tấn công Nam Việt Nam. 3) Nam Việt Nam bận rộn chống đỡ cuộc tấn công của Bắc Việt Nam. 4) Trung Cộng dự đoán Bắc Việt Nam sẽ thắng thế, nên quyết định chiếm Hoàng Sa trước khi Nam Việt Nam sụp đổ. 5) Đầu năm 1974, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tìểu Bình quyết định kế hoạch tấn công Hoàng Sa.  Ngày 17-1-1974, Mao Trạch Đông phê chuẩn báo cáo của Diệp Kiếm Anh xin đánh Hoàng Sa. (Tân Hoa Xã ngày 6-8-2013 và BBC ngày 20-12-2013.)

9.-  PHẢN ỨNG CỦA HOA KỲ SAU TRẬN HOÀNG SA

Lúc đó Cơ quan Trung Ương Tình báo (CIA) Hoa Kỳ theo sát tình hình Biển Đông và Hoàng Sa.  Hằng ngày, CIA ra bản tin Central Intelligence Bulletin (CIB) và trình nạp thẳng đến Văn phòng tổng thống Hoa Kỳ.  Bản tin ngày 19-6-1971 viết: “Những đoàn công voa hải quân từ Yu-lin (Du Lâm) trên đảo Hải Nam hiện tới Hoàng Sa thường xuyên, nhất là Woody Island (đảo Phú Lâm), một trong những đảo lớn nhất trong nhóm. Bảo vệ đoàn tàu chủ yếu là tàu khu trục, là tàu chiến lớn nhất trong hạm đội Nam Hải của Trung Quốc.”  (BBC, ngày 30-12-2013.) Như thế Chính phủ Hoa Kỳ nắm bắt rất rõ những hoạt động của Hải quân Trung Cộng ở Biển Đông. Năm 1972, khi xảy ra chiến cuộc “Mùa hè đỏ lửa”, Hoa Kỳ đã giao cho Trung Cộng một “thông điệp miệng” về vấn đề Hoàng Sa (đã trình bày ở trên).

Trong trận Hoàng Sa, quân đội Hoa Kỳ hoàn toàn làm ngơ và tránh xa Hoàng Sa, đến nỗi phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại “gọi điện thoại về Bộ tư lệnh Hải Quân xin can thiệp với cố vấn Mỹ yêu cầu Đệ thất Hạm đội Mỹ vớt các thủy thủ Việt Nam, nhưng dường như họ có được chỉ thị nên không một chiến hạm nào đến gần nơi cuộc xảy ra hải chiến.” (Hồ Văn Kỳ Thoại, Can trường trong chiến bại, tr. 171.)

Sau trận Hoàng Sa, gặp Han Hsu (Han Xu), quyền trưởng phái đoàn liên lạc TC tại Washington DC ngày 23-1-1974, ngoại trưởng HK Kissinger nói: “Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo nầy.”  (BBC Vietnamese, cập nhật 12:24 GMT – thứ Hai, 3 tháng 10, 2011.)

Gần một tuần sau trận Hoàng Sa (19-1-1974), trong cuộc họp tại Bộ Ngoại giao HK ngày 25-1-1974, do ngoại trưởng Henry Kissinger chủ tọa, đô đốc Thomas H. Moorer, tham mưu trưởng Liên quân HK, báo cáo với Kissinger: “Chúng ta đã tránh xa vấn đề… Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực [Hoàng Sa].” (BBC Vietnamese, cập nhật 12:24 GMT – thứ hai, 3 tháng 10, 2011.)

KẾT LUẬN

Chiến tranh lạnh toàn cầu đưa đến trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974.  Ngược lại trận Hoàng Sa đánh dấu sự thay đổi mối quan hệ quốc tế trong chiến tranh lạnh toàn cầu.

Trận Hoàng Sa một lần nữa cho thấy khi Việt Nam có nội chiến, đất nước chia rẽ, nội lực dân tộc sút giảm, kẻ thù bên ngoài thừa cơ hội xâm lăng nước ta.

Trận Hoàng Sa tiêu biểu cho lập trường bảo vệ đôc lập, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và quân đội Việt Nam Cộng Hòa.  Trong khi đó, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt Nam theo chủ nghĩa cộng sản, làm tay sai cho Liên Xô và Trung Cộng, phạm tội phản quốc, nhượng đất đai của tổ tiên cho ngoại bang, để mưu cầu viện trợ nhằm tấn công Việt Nam Cộng Hòa, thực hiện tham vọng thống trị toàn cõi Việt Nam.

Hoa Kỳ đến giúp Việt Nam Cộng Hòa vì quyền lợi của Hoa Kỳ, và cũng vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ sẵn sàng rút quân về nước, bỏ rơi đồng minh.  Từ năm 1972, Hoa Kỳ đã ngầm thỏa thuận về Hoàng Sa với Trung Cộng. Cũng vì quyền lợi của Trung Cộng, Trung Cộng sẵn sàng tách ra khỏi Liên Xô và xích lại gần với Hoa Kỳ, làm thay đổi cục diện chiến tranh lạnh toàn cầu.

Đây là một kinh nghiệm quý báu về vấn đề đồng minh trong tương quan quyền lợi giữa các nước.  Chỉ có đồng minh khi có quyền lợi.  Hết quyền lợi, hết đồng minh.

Chiếm được Hoàng Sa, chẳng những Trung Cộng kiểm soát sự lưu thông trên Vịnh Bắc Việt, mà còn kiểm soát thủy lộ từ Malacca qua Biển Đông, nhập vào Thái Bình Dương.  Trong tương lai Hoàng Sa càng trở nên quan trọng khi Trung Cộng bắt đầu thành lập khu vực “nhận diện phòng thủ không phận” (Air Defense Identification Zone = ADIZ) trên quần đảo nầy.

Khi Hoa Kỳ thay đổi sách lược toàn cầu, rút quân và cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, Nixon và Kissinger dự liệu là Việt Nam Cộng Hòa có thể bị sụp đổ trong vòng 18 tháng sau hiệp định Paris. (Kenneth Hughes, The Paris “Peace” Accords Were a Deadly Deception (Jan 31, 2013).

Tuy nhiên, quân đội Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục chiến đấu anh dũng, chống trả cộng sản mãnh liệt, khiến Kissinger đã than một câu để đời: “Tại sao họ không chết lẹ đi cho rồi?  Điều tệ nhất có thể xảy ra là họ cứ sống dai dẳng hoài.” (Ron Nessen, It Sure Looks Different from the Inside, Chicago: Playboy Press, 1978, tr. 129.  Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter trích dẫn, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C K Promotions, INC, 1987, tr. 512.)

Nghe câu nầy thì thật buồn cho thế thái nhân tình, nhưng đồng thời phải khâm phục sức chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.  Quân đội chúng ta không thua trận, nhưng phải ngưng chiến đấu vì sự thay đổi của hoàn cảnh chính trị thế giới.

Hoàn cảnh chính trị thế giới và bạo lực CS đã đẩy chúng ta ra khỏi Việt Nam, nhưng không một thế lực nào có thể đẩy Việt Nam ra khỏi trái tim chúng ta.  Người Việt luôn luôn nuôi mộng trở về quang phục quê hương, giải thể chế độ cộng sản bạo tàn, đòi lại Hoàng Sa cho tổ quốc thiêng liêng.

Ngày nay tình hình Đông Á đang thay đổi một lần nữa, là cơ hội cho chúng ta vận động giải thể nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam.  Người Việt Hải ngoại chúng ta cần phải hết sức ủng hộ một cách thực tế những nhà tranh đấu dân chủ trong nước, những phong trào đòi hỏi dân chủ trong nước.  Trào lưu dân chủ sẽ xóa bỏ độc tài.

Chỉ khi nào chế độ cộng sản Việt Nam bị giải thể thì người Việt mới bắt đầu tính sổ đòi đất, đòi biển với Trung Cộng; bởi vì giải thể chế độ cộng sản Việt Nam mới chấm dứt những cam kết ngầm giữa đảng Cộng Sản Việt Nam và đảng Cộng Sản Trung Quốc, từ thời Hồ Chí Minh năm 1950 cho đến Hội nghị Thành Đô năm 1990.  Chấm dứt những cam kết ngầm mới có thể nói chuyện đòi đất đòi biển trở về với tổ quốc chúng ta.

© Trần  Gia Phụng

(California, 05-01-2014)

danchimviet.info

Posted in Chien Tranh Viet Nam | 1 Comment »

►Tiến sỹ Phạm Chí Dũng bị cấm xuất cảnh không cho đi Geneve điều trần về Nhân Quyền với Liên Hiệp Quốc và các nước Âu Châu

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2014

Thứ Bảy, 1-2-2014

Danlambao –

Trước giờ vào check in hải quan

Phạm Bá Hải, Dương Thị Tân, Nguyễn Hoàng Vi, Phạm Chí Dũng, Huỳnh Công Thuận ( Phi trường Tân Sơn Nhất, 1-2-2014)

Viên an ninh thường phục có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất để yêu cầu hải quan cấm xuất cảnh đối với TS Phạm Chí Dũng

Sau khi anh Dũng vào cổng không được bao lâu thì anh an ninh đi theo chụp hình anh Dũng và mọi người, và vào trình tờ giấy gì đó với hải quan lâu lắm… Sau đó, các anh hải quan gọi điện thoại liên tục…

Anh Phạm Chí Dũng gọi ra thông báo: đang lập biên bản, anh bị cấm xuất cảnh và bị tịch thu hộ chiếu. Nguồn: FB  An Đổ Nguyễn

Nguồn tin gửi đến Danlambao lúc 19h45′ tối ngày 1/2/2014 cho biết, tiến sỹ Phạm Chí Dũng đã bị an ninh cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất lập biên bản cấm xuất cảnh và thu giữ hộ chiếu. Trước đó, khi làm thủ tục xuất cảnh, lực lượng an ninh và hải quan viện lý do TS Phạm Chí Dũng trùng tên với một người chưa được phép xuất cảnh nên đã giữ ông lại để ‘chờ làm việc’.

Theo dự kiến, tiến sỹ Phạm Chí Dũng dự kiến sẽ đáp chuyến bay lúc 20h50′ tối cùng ngày từ sân bay Tân Sơn Nhất sang Geneva theo lời mời của tổ chức UN Watch. Mục đích chuyến đi được thông báo công khai từ trước, TS Dũng sẽ tham dự tham dự hội thảo và cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) về tình trạng nhân quyền Việt Nam vào ngày 5/2/2014 sắp tới.
Được biết trước đó, bộ ngoại giao Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc đã can thiệp và yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam không ngăn chặn chuyến đi Geneva của TS Dũng.
Nhiều blogger và các nhà hoạt động tại Sài Gòn đã có mặt tại sân bay để tiễn TS Dũng lên đường.
Blogger Nguyễn Hoàng Vi cho biết: “Sau khi anh Dũng vào cổng không được bao lâu, một anh an ninh thường phục đi theo chụp hình anh Dũng và mọi người, rồi vào trình tờ giấy gì đó với hải quan lâu lắm. Sau đó, phía hải quan gọi điện thoại liên tục”.

TS Phạm Chí Dũng là một cây bút nổi tiếng với nhiều bài viết về tình hình kinh tế, chính trị tại Việt Nam. Ông từng bị bắt giam 6 tháng vì những loạt bài phơi bày sự thật về tình trạng tham nhũng và các nhóm lợi ích tại Việt Nam. Trước khi bị bắt (tháng 7/2012), ông Dũng là một cán bộ công tác tại ban An ninh Nội chính Thành ủy TP HCM.

Ngày 5 tháng 12 năm 2013, ông Dũng tuyên bố ly khai khỏi đảng cộng sản. Trong bức tâm thư bỏ đảng, ông viết: “một công dân tốt có ý nghĩa hơn nhiều so với một đảng viên tồi.”

* Cập nhật: Sau khoảng một giờ đồng hồ bị an ninh, hải quan sân bay lập biên bản không cho xuất cảnh, ông Dũng đã ra khỏi phòng làm việc lúc 08h30 phút tối cùng ngày. Dưới đây là biên bản cấm xuất cảnh đối với TS Phạm Chí Dũng:



Trước sự kiện nàyblogger Phạm Lê Vương Các bình luận trên facebook: “Chỉ còn vài ngày nữa là chính phủ VN phải ngồi trên chiếc ghế nóng của Hội đồng Nhân Quyền LHQ để báo cáo về tình hình nhân quyền VN trong 4 năm qua. Vậy mà tối hôm nay, TS Phạm Chí Dũng đã bị ‘cấm xuất cảnh’ khi sang Geneva theo lời mời của UN Watch để tham dự hội thảo bên lề UPR.

Không biết mấy ông bà đại diện cho chính phủ VN sẽ trả lời ra sao nếu bị chất vất về trường hợp của Ts. Phạm Chí Dũng vừa mới xảy ra?


Đừng đem vấn đề “an ninh quốc gia” hay “hệ thống pháp luật riêng ở mỗi quốc gia” để mà giỡn mặt với Nhóm Công tác về UPR ở đây. Một chuyên gia của nó chấp cả Hội đồng Lý luận Trung Ương của VN là chuyện thường.


Mà cần gì tới chuyên gia nhân quyền của LHQ, nhìn vào văn bản “chưa được phép xuất cảnh” này, thì người không cần học luật cũng đủ thấy vi phạm quyền tự do đi lại của công dân. Nội dung cấm xuất cảnh không có lý do, cơ sở pháp lý thì không rõ ràng (điều nào, khoản mấy), và người ra quyết định thì sai thẩm quyền.


Xin hỏi Bộ trưởng Bộ Công an, ông cảm thấy có “nhột” không khi để người ra Quyết định này “tiếm quyền” của mình vậy?”

* Tin đang cập nhật

————————————————————–

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng có đến được Genève hay sẽ bị ngăn chặn?

Thụy My

Theo Đài RFI

Nhận lời mời từ UN Watch, một tổ chức phi chính phủ Thụy Sĩ có chức năng giám sát các vấn đề nhân quyền và dân chủ thuộc Liên Hiệp Quốc, nhà báo độc lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng dự kiến sẽ có chuyến đi Genève vào ngày 01/02/2014 từ sân bay Tân Sơn Nhất để tham dự một cuộc hội thảo về dân chủ và nhân quyền, bên cạnh cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) về nhân quyền tại Việt Nam diễn ra tại Genève ngày 05/ 02/2014.

Được giới thiệu như một trong những diễn giả chính của cuộc hội thảo trên, bài tham luận của tiến sĩ Phạm Chí Dũng sẽ đặt vấn đề về “Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam”. Bài tham luận này là bức tranh phác thảo về hiện tình kinh tế – xã hội – chính trị ở Việt Nam cùng những tiền đề cho xã hội dân sự tại quốc gia này. Đồng thời nêu ra một số dự báo cho năm 2014 và xu hướng những năm sau đó, đặt vấn đề về sự cần kíp xây dựng một mạng lưới liên kết giữa các NGO quốc tế và các nhóm dân sự Việt Nam nhằm thúc đẩy các vấn đề về quyền con người.

Ngày 29/01/2014, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã gửi văn thư cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện thường trực của Chính phủ Việt Nam tại Genève và đại sứ Việt Nam tại Bangkok, đề nghị hỗ trợ đầy đủ cho chuyến đi của TS Phạm Chí Dũng. Văn thư này cũng nêu rõ một trong những yêu cầu chủ yếu của cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về nhân quyền Việt Nam là sự tham gia của xã hội dân sự, và Liên Hiệp Quốc khuyến khích các nhóm dân sự và cá nhân Việt Nam tham dự cuộc kiểm điểm này.

Được biết Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam tạo thuận lợi cho chuyến đi Genève của tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Tuy nhiên, một câu hỏi thách đố đối với cá nhân tiến sĩ Phạm Chí Dũng và giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam nói chung là liệu ông có được xuất cảnh theo lời mời của UN Watch đến Genève hay không.

Vào lần này, cũng đã xuất hiện tín hiệu “vận động” của cơ quan an ninh Sài Gòn đối với gia đình TS Phạm Chí Dũng về việc ông “không nên đi Thụy Sĩ để tránh bị lợi dụng”. Đến ngày 31/01/2014 (mùng một tết), một nhân viên công an của phường 1, quận Tân Bình là địa bàn TS Phạm Chí Dũng cư trú, đã đến nhà ông để đưa giấy mời ông đến trụ sở công an phường với lý do “làm việc” vào sáng ngày 01/02/2014 (mùng 2 tết). Người ký giấy mời là đại tá Nguyễn Thành Dân – trưởng phòng PA81 thuộc Công an TP.HCM.

Cần nhắc lại, vào tháng 8/2012 tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã bị một cơ quan an ninh Việt Nam khuyến cáo “không nên đi” khi ông được mời dự hội thảo mùa hè ở Singapore về cải cách kinh tế Việt Nam. Việc không đồng ý với khuyến cáo của cơ quan an ninh cũng được hiểu là đương sự hoàn toàn có thể bị ngăn chặn tại sân bay, nếu vẫn giữ nguyên kế hoạch xuất cảnh.

Gần đây nhất, vào khoảng giữa tháng Giêng năm 2014, một blogger ở Sài Gòn là Paulo Thành Nguyễn đã bị an ninh cửa khẩu ách chuyến bay sang Mỹ, dù blogger này đã được tòa lãnh sự Hoa Kỳ cấp visa. Theo blogger Thành Nguyễn, phía cơ quan an ninh chỉ đưa ra một lý do rất mơ hồ trong việc ngăn chặn là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội’.

Theo Hiến pháp Việt nam, một trong những quyền con người được quy định là quyền tự do đi lại, trong đó ghi rõ “Công dân Việt Nam có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”.

Hành động “mời làm việc” của cơ quan công an Sài Gòn ngay trước chuyến đi Thụy Sĩ cho thấy vẫn có thể xảy ra việc cố tình ngăn chặn TS Phạm Chí Dũng, thậm chí ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất, bất chấp mối quan tâm đặc biệt của các cơ quan quốc tế về nhân quyền. Nếu xảy ra, hành động ngăn chặn như vậy rõ ràng sẽ trái với các cam kết về nhân quyền của Nhà nước Việt Nam trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, khi quốc gia này được chấp thuận là thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền vào tháng 12/2013.

TS Phạm Chí Dũng cho biết, nếu chuyến đi Thụy Sĩ bị ngăn chận bất hợp pháp, ông sẽ chính thức khiếu nại đến Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an, đồng thời thông tin rộng rãi cho Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền quốc tế về vụ việc này.

————————————

Việt Nam hôm nay, ngày 17.01.2014

chuacuuthe.com

“3. Tỉnh Thanh Hóa: Phê duyệt kinh phí công tác phòng chống khủng bố và nhân quyền

Vào ngày 30.12.2013, tỉnh Thanh Hóa quyết định phê duyệt hỗ trợ kinh phí cho Công an tỉnh Thanh Hóa tổ chức hội nghị tổng kết Quốc phòng – An Ninh, công tác phòng chống khủng bố và nhân quyền năm 2013 với tổng số kinh phí hỗ trợ là 95.000.000 (Chín mươi lăm triệu VND).

Văn bản quyết định này ghi rõ, nguồn kinh phí lấy từ nguồn kinh phí an ninh biên giới, biển đảo trong dự toán ngân sách tình hình năm 2013.

Nhiều bạn đọc tỏ ra thất vọng như bạn đọc Khánh Lê thảng thốt nói: “….. chống khủng bố và nhân quyền….” câu này hàm ý quyền làm người cũng đồng nhất như tội khủng bố hay sao? Không biết ông phó chủ tịch Nguyễn Đình Xứng có hiểu nội dung văn bản của quyết định hay không mà lại thẳng tay ký tên vào đó???”. Tuong Thang kêu lên: “[Quyết định này] đi vào lịch sứ đấy….Nên phát sách nhân quyền cho công an Thanh Hoá đọc!”. Vu Thi Phuong Anh bình phẩm: “Đảng và Nhà nước phải làm gì đi chứ? Tờ QĐ này chắc chắn là giả mạo để bôi xấu chế độ ta đây mà. Làm gì có chuyện một nước thành viên của Hội đồng nhân quyền lại tổ chức hội nghị chống nhân quyền nhỉ?”. Nhất Nam thất vọng: “Khi trong mắt của chế độ người dân chỉ là đối tượng bị trị thì người dân là thứ nô lệ thấp hèn, không phải là con người để có quyền biết tới Nhân quyền!”.

Một Luật sư sống ở Sài Gòn cho nhận xét: “Theo tôi, việc “chống khủng bố, nhân quyền…” đã được triển khai, thực hiện… chỉ có điều tỉnh Thanh Hoá “lộ liễu quá” và chưa biết “che đậy”.

Điều này nói lên “bản chất” của nhà cầm quyền cs – như nhiều người nói – là “lưu manh, lật lọng, nói một đàng làm một nẻo” và từ “phản động- được hiểu là cản trở tiến trình tiến lên của con người”. Vì lẽ, khủng bố là “chống”, được thể hiện rất rõ về “thành tích mà Việt Nam luôn rêu rao “đã tham gia 8 trong 16 điều ước quốc tế của Liên hợp quốc về chống khủng bố; là thành viên của Công ước ASEAN về chống khủng bố và đang tích cực xem xét việc trở thành thành viên của các điều ước quốc tế về chống khủng bố còn lại”. Đặc biệt, Việt Nam vừa ban hành Luật Phòng, chống khủng bố (hiệu lực từ ngày 11/10/2013).”

Còn Nhân quyền là “bảo vệ”, là “thúc đẩy”, là “cam kết thực hiện…”. Việt Nam cũng khoe thành tích: “Ngoài việc gia nhập 4 Công ước quốc tế Genève về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh (năm 1957), từ năm 1977, sau khi trở thành thành viên LHQ, Việt Nam đã từng bước tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người..”. Gần đây nhất là “trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016″ và, Bộ trưởng Phạm Bình Minh trả lời phỏng vấn Báo Tuổi Trẻ rằng: “Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là một trong những vấn đề quốc tế lớn, một trong ba trụ cột hoạt động chính của LHQ,…” Việt Nam sẽ đóng góp tích cực…”

Những gì nhà cầm quyền tham gia ký công ước với quốc tế về quyền con người chỉ là vẻ bề ngoài để che đậy việc “chống nhân quyền” của nhà cầm quyền.

Việc chống khủng bố, nhân quyền đã được tỉnh Phú Yên triển khai khai tập huấn công tác bảo vệ đấu tranh về nhân quyền, phòng, chống khủng bố trong tình hình mới cho cán bộ lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương và các cơ quan chức năng trong tỉnh, từ cuối tháng 10 năm 2008.

Một số bạn đọc khác cho rằng, nhà cầm quyền tỉnh Thanh Hóa rất lãng phí khi bỏ ra 95 triệu để phê duyệt hỗ trợ kinh phí cho hội nghị tổng kết Quốc phòng – An Ninh, công tác phòng chống khủng bố và nhân quyền năm 2013.

Theo các bạn đọc nên để số tiền này giúp đỡ người nghèo thì hữu ích hơn. Bởi vì đầu năm 2014, Dân Trí loan tin, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có tờ trình khẩn gửi Thủ tướng Chính phủ về việc đề nghị hỗ trợ 500 tấn gạo, để cứu trợ trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Ngọ năm 2014.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »

►Sự việc đã xảy ra – Chuyện ngày Tết ở đồn công an phường (Hà Nội )

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2014

Chuyện ngày Tết ở đồn công an phường (Hà Nội )

Sự việc đã xảy ra

31-1-2014

nguoibuongio1972.blogspot.com

Người Buôn Gió

Tết năm 1982, mình cả thằng An nhà Bính bị bắt vào đồn Hàng Buồm vì tội chơi pháo ném. Hai thằng dùng pháo ném tương nhau như đánh trận. Pháo ném là loại pháo bên trong có ít sỏi và thuốc pháo, bọc giấy bên ngoài. Ném cái chạm vào chỗ nào cứng, các viên sỏi chạm vào nhau làm thuốc pháo cháy gây nổ.

Nghe thế nhưng pháo ném không nguy hiểm, vì lượng thuốc pháo ít. Những cái loại pháo ném này nếu trúng tường thì cả khoảng tường ấy ám luôn vết khói. Hồi đó Tết người ta hay quét vôi lại nhà để đón năm mới. Hai thằng mải trốn, nấp ném nhau. Tương chi chít vết khói trên tường nhà người ta. Bị họ bắt đưa lên đồn.

Đồn nhốt hai thằng lại từ trưa cho đến chiều, người nhà lên xin không cho về. Hai thằng ngồi ở cái ghế phòng trực ban bên ngoài.

Tết thì lắm chuyện, chuyện cờ bạc và chuyện đánh nhau thường hay xảy ra nhất.

Đầu tiên có người hớt hải chạy lên đồn báo là chỗ họ sắp có đánh nhau. Bọn nào đó đang vác dao kéo đến chỗ họ ở tìm nhà ai đó để đánh. Người đến đồn báo mặt xám ngoét vì sợ hãi, lắp ba lắp bắp, ríu lưỡi lại. Trực ban quát.

– Đã đánh nhau đâu mà cuống thế, bao giờ đánh nhau hẵng báo, sự việc chưa xảy ra làm sao chúng tôi đến được.

Người báo năn nỉ, bị trực ban quát.

– Đã bảo là đi về đi, rồi chúng tôi cho người xuống, tết thế này đâu có nhiều người ngay được.

Người báo sợ hãi, luống cuống ra về. Trực ban lẩm bẩm.

– Tết nhất rượu chè cho lắm vào rồi đánh nhau, cho chết bớt đi.

Trực ban cúi xuống đọc báo Xuân. Có người đến báo mất xe đạp. Trực ban báo họ viết tờ khai,mất ở đâu, lúc nào, xe thế nào…xong bảo họ về. Nếu tìm thấy sẽ gọi. Người kia khóc lóc, mếu máo nói mong các anh tìm giúp, xe em đi mượn của người ta, giờ không biết lấy gì ra mà đền. Trực ban đẩy ra cửa nói.

– Thì khai báo đây rồi, còn phải để chúng tôi đi tìm chứ. Cứ về đi có gì sẽ gọi. Có cái xe mà không biết giữ.

Người mất xe đi, trực ban cắm đầu đọc tiếp báo Xuân. Chừng hai tiếng yên ắng trôi qua, trong quãng thời gian ấy chỉ có một cảnh sát đi từ trên gác qua phòng trực ban ra ngoài. Hai thằng gọi khẽ chú ơi cho cháu về, trực ban quắc mắt.

– Không được, cho chúng mày về để chúng mày phá nhà người ta à. Ở yên đấy.

Một người đạp xe đến, dựng vội vã trước cửa đồn, ông ta vào nói gấp trong hơi thở.

– Đằng Nội Miếu có đám bạc to lắm, nhiều đứa đang chơi, đánh nhiều tiền lắm.

(Chỉ chờ có thế,) Trực ban bật dậy, hỏi sốt sắng.

– Chỗ nào, bên trong ngõ hay đầu ngõ?

– Ở ngay đầu ngõ, chỗ tổ phục vụ bán nước sôi, chúng nó chơi ở đấy.

Trực bạn gật đầu, nhanh nhẹn chạy vào trong và lên gác hô to.

– Anh em dậy thôi, khẩn trương, khẩn trương có vụ đánh bạc to.

Từ bên phía trong đồn và trên gác, lục tục đến 6 người công an đi ra, họ vội vã mặc quần áo, hối hả thúc nhau lấy xe, lấy còng. Một người chỉ huy hỏi vắn tắt địa điểm rồi phân công chia hai ngả từ Lương Ngọc Quyến xộc đến và ngả từ Hàng Giầy xộc đến. Còn ông thì sẽ vòng qua Hàng Đào bịt cái lối từ Nội Miếu thông sang. Thấy thiếu người, ông chỉ huy chỉ trực ban nói.

– cả mày cũng đi luôn, đi một tí, cần đéo gì trực.

Cả hội công an hăm hở kéo nhau đi, ra cửa trực ban quay đầu nói với hai thằng.

– Bọn ranh con ngồi đấy trông nhà cho chú, tí chú về thì chú cho chúng mày về, hồ sơ chúng mày tao ghi rồi, trốn tao về nhà bắt lên. Ở đó ngoan trông cho chú, ai hỏi bảo tí chú quay lại.

Ảnh minh họa sưu tầm trên Internet

Công an đi hết, hai thằng nhảy bổ vào góc phòng trực ban, có mấy thứ đồ của quán nước nào bị thu, có lọ chè lam, kẹo lạc mà hai thằng tăm tia thèm rỏ dãi suốt. Bốc cho mồm nhai ngấu nghiến, bột ở lọ kéo dính đầy mép. Ăn được một lúc thấy lao xao, công an đang đưa đám bạc về nhốt hết vào trong. Cho từng người ra hỏi cung.

Hai người đầu tiên thì một người bảo đứng xem, một người thì bảo tết nhất đánh có một tí lấy vui, không có ý định cờ bạc. Công an khám người thu tiền, lập biên bản bắt ký, xong bảo hai người lên gác làm kiểm điểm, tường trình. Đến người thứ ba có hàm râu mép, mặt mũi khôn ngoan, chú ấy bảo chả đánh bạc. Đang đứng chờ vợ con cạnh đám bạc thì bị bắt. Công an khám người chú ấy, móc ở túi quần chú ấy ra phải đến gần hai mươi đồng (cũng khá to hồi đó) Công an hỏi.

– Chờ vợ con mà tiền gì đây.

Chú kia lắc đầu thản nhiên.

– Này nhé, tiền của ông sao ông lại bảo tôi, tôi làm gì có đồng nào.

Công an sững người lại mấy chục giây, sau đó đút tiền vào ngăn bàn nói.

– Ừ không có tiền, đứng chờ vợ con à, thôi về đón vợ con đi không họ lo. Lần sau đứng tránh đám bạc ra nhớ.

Chú kia cảm ơn, rồi tỉnh bơ ra khỏi đồn. Nhìn chú ấy buồn cười quá, nên hai thằng bật cười, công an quát.

– Oắt con, cười gì, có đi về ngay không hay muốn nhốt trong kia cho muỗi đốt.

Hai thằng líu ríu chào chú, ba chân bốn cẳng chạy tót về nhà luôn.

Posted in Công An | Leave a Comment »

►Ngày thứ Bảy, 1-2-2014, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng có đến được Genève hay sẽ bị ngăn chặn tại nhà hoặc phi trường TSN?

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2014

 

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng có đến được Genève hay sẽ bị ngăn chặn?

Thụy My

Theo Đài RFI

Chia sẻ bài viết này

Nhà bình luận Phạm Chí Dũng. DR

Nhận lời mời từ UN Watch, một tổ chức phi chính phủ Thụy Sĩ có chức năng giám sát các vấn đề nhân quyền và dân chủ thuộc Liên Hiệp Quốc, nhà báo độc lập, tiến sĩ Phạm Chí Dũng dự kiến sẽ có chuyến đi Genève vào ngày 01/02/2014 từ sân bay Tân Sơn Nhất để tham dự một cuộc hội thảo về dân chủ và nhân quyền, bên cạnh cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) về nhân quyền tại Việt Nam diễn ra tại Genève ngày 05/ 02/2014.

Được giới thiệu như một trong những diễn giả chính của cuộc hội thảo trên, bài tham luận của tiến sĩ Phạm Chí Dũng sẽ đặt vấn đề về “Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam”. Bài tham luận này là bức tranh phác thảo về hiện tình kinh tế – xã hội – chính trị ở Việt Nam cùng những tiền đề cho xã hội dân sự tại quốc gia này. Đồng thời nêu ra một số dự báo cho năm 2014 và xu hướng những năm sau đó, đặt vấn đề về sự cần kíp xây dựng một mạng lưới liên kết giữa các NGO quốc tế và các nhóm dân sự Việt Nam nhằm thúc đẩy các vấn đề về quyền con người.

Ngày 29/01/2014, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã gửi văn thư cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại diện thường trực của Chính phủ Việt Nam tại Genève và đại sứ Việt Nam tại Bangkok, đề nghị hỗ trợ đầy đủ cho chuyến đi của TS Phạm Chí Dũng. Văn thư này cũng nêu rõ một trong những yêu cầu chủ yếu của cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về nhân quyền Việt Nam là sự tham gia của xã hội dân sự, và Liên Hiệp Quốc khuyến khích các nhóm dân sự và cá nhân Việt Nam tham dự cuộc kiểm điểm này.

Được biết Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng đã đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam tạo thuận lợi cho chuyến đi Genève của tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Tuy nhiên, một câu hỏi thách đố đối với cá nhân tiến sĩ Phạm Chí Dũng và giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam nói chung là liệu ông có được xuất cảnh theo lời mời của UN Watch đến Genève hay không.

Vào lần này, cũng đã xuất hiện tín hiệu “vận động” của cơ quan an ninh Sài Gòn đối với gia đình TS Phạm Chí Dũng về việc ông “không nên đi Thụy Sĩ để tránh bị lợi dụng”. Đến ngày 31/01/2014 (mùng một tết), một nhân viên công an của phường 1, quận Tân Bình là địa bàn TS Phạm Chí Dũng cư trú, đã đến nhà ông để đưa giấy mời ông đến trụ sở công an phường với lý do “làm việc” vào sáng ngày 01/02/2014 (mùng 2 tết). Người ký giấy mời là đại tá Nguyễn Thành Dân – trưởng phòng PA81 thuộc Công an TP.HCM.

Cần nhắc lại, vào tháng 8/2012 tiến sĩ Phạm Chí Dũng đã bị một cơ quan an ninh Việt Nam khuyến cáo “không nên đi” khi ông được mời dự hội thảo mùa hè ở Singapore về cải cách kinh tế Việt Nam. Việc không đồng ý với khuyến cáo của cơ quan an ninh cũng được hiểu là đương sự hoàn toàn có thể bị ngăn chặn tại sân bay, nếu vẫn giữ nguyên kế hoạch xuất cảnh.

Gần đây nhất, vào khoảng giữa tháng Giêng năm 2014, một blogger ở Sài Gòn là Paulo Thành Nguyễn đã bị an ninh cửa khẩu ách chuyến bay sang Mỹ, dù blogger này đã được tòa lãnh sự Hoa Kỳ cấp visa. Theo blogger Thành Nguyễn, phía cơ quan an ninh chỉ đưa ra một lý do rất mơ hồ trong việc ngăn chặn là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội’.

Theo Hiến pháp Việt nam, một trong những quyền con người được quy định là quyền tự do đi lại, trong đó ghi rõ “Công dân Việt Nam có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước”.

Hành động “mời làm việc” của cơ quan công an Sài Gòn ngay trước chuyến đi Thụy Sĩ cho thấy vẫn có thể xảy ra việc cố tình ngăn chặn TS Phạm Chí Dũng, thậm chí ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất, bất chấp mối quan tâm đặc biệt của các cơ quan quốc tế về nhân quyền. Nếu xảy ra, hành động ngăn chặn như vậy rõ ràng sẽ trái với các cam kết về nhân quyền của Nhà nước Việt Nam trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, khi quốc gia này được chấp thuận là thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền vào tháng 12/2013.

TS Phạm Chí Dũng cho biết, nếu chuyến đi Thụy Sĩ bị ngăn chận bất hợp pháp, ông sẽ chính thức khiếu nại đến Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an, đồng thời thông tin rộng rãi cho Liên Hiệp Quốc và các tổ chức nhân quyền quốc tế về vụ việc này.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền | Leave a Comment »