Trần Hoàng Blog

  • Bài viết mới

  • Thư viện

  • Chuyên mục

  • Tháng Mười Một 2019
    C H B T N S B
    « Th10    
     12
    3456789
    10111213141516
    17181920212223
    24252627282930
  • Bài viết mới

Posts Tagged ‘Chính Trị Mỹ và Trung Quốc 1978-2008’

Châu Á Đứng Dậy

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2008

Quyền Lợi của Người Mỹ

Châu Á Đứng Dậy

Aaron I. Friedberg

Tạp chí Đối Ngoại

Số tháng 1 và 2 năm 2009

Người dịch: Trần Hoàng

Khi TT Barack Obama ngồi xuốnghọp với hội đồng an ninh quốc gia để xem xét lại bộ hồ sơ chính sách ngoại giao của Mỹ, ông ta sẽ nhìn thấy Á Châu, và chính sách của Mỹ ở Á Châu, dường như ở tình trạng tốt. Mặc cho những lời cáo buộc rằng Hoa Kỳ đã làm ngơ miền đất nầy để tập trung vào Trung Đông và chủ nghĩa khủng bố, chính phủ của ông Bush thật sự đã dành nhiều công sức và sự chú ý vào Châu Á, và đang đạt được nhiều thành quả to lớn.

Những mối liên hệ hàng ngày với Trung Quốc hiện nay tốt đẹp hơn đã từng có vào dạo năm 2000. Một số nhà quan sát thời cuộc đang mô tả các mối quan hệ ấy như là nồng nhiệt hơn và hợp tác hơn bất cứ lúc nào trong 20 năm qua (1988-2008). Hoa kỳ đã và đang thắt chặt quan hệ đồng minh của họ với Nhật Bản và đã và đang bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới bắt tay hợp tác chiến lược với Ấn Độ. Chính phủ Bush đã đạt được thành công để lèo lái và vượt qua những khác biệt sâu sắc với Nam Hàn – hết thẩy mọi chuyện từ các căn cứ quân sự đến các mối đàm phán thương nghị với Pyongyang (Bắc Hàn)—có đủ sự điêu luyện để tránh những sự khác biệt trong ý kiến có thể dẫn đến những sự sức mẻ tình hữu nghị vĩnh viễn trong các mối quan hệ. Sự xuất hiện của một chính phủ mới thiên về Hoa Kỳ ở Hán Thành có thể làm cho các mối quan hệ dễ dàng hơn cho người kế tục ông Bush để đặt quốc gia đồng minh nầy trở lại trên đôi chân vững chắc.

Một kết quả quan trọng tương tự như trên về chính sách ngoại giao của ở Á châu của ông Bush là hai nồi hơi ngấm ngầm lâu nay chỉ chờ chực bùng nổ ở Đông Á trông ra bây giờ ít có cơ may để bùng nổ hơn họ đã từng có cách đây một vài năm. Nhờ vào những nổ lực của Hoa Kỳ để ngăn chận cả hai bên, TQ và Đài Loan đã và đang vượt qua khỏi một thời kỳ nguy hiểm đặc biệt trong mối quan hệ của họ. Hiện nay đang có ít nhất một cơ hội mà chính phủ mới thành lập có quan điểm thực dụng hơn ở Đài Bắc sẽ có thể đoạt được một giải pháp dài lâu bằng những cuộc thương nghị các vấn đề với Trung Quốc. Trong lúc nầy, Bắc Hàn đã và đang đi những bước quan trọng hướng tới hủy bỏ nguyên tử và đang tuyên bố ước muốn ấy của họ, theo nguyên tắc, để gỡ bỏ tất cả các yếu tố cơ bản của chương trình nguyên tử của họ. Một số chướng ngại vât hướng tới một sự dàn xếp có thể chấp nhận được tuy vẫn còn, nhưng tình thế hiện nay đường như càng ổn định hơn là tình thế dạo mùa thu năm 2002.

Vậy thì chính ở Ấ Châu mà chính quyền của TT Bush đã tiến sát tới để đạt được các mục đích của họ. Thật vậy, một cựu nhân viên đã và đang đi xa hơn nữa để mô tả Châu Á như là một miền đất của “câu chuyện thành công chưa được nói tới của thủ đô Hoa Thịnh Đốn.”. Những thành công của 8 năm qua là thực tế, nhưng những phán xét như trên thì có tình chất bề mặt và chưa chín mùi. Chính phủ Obama sẽ phải làm việc chuyên cần và chăm chỉ để ngăn ngừa những thành công đoạt được của chính phủ Bush khỏi bị hủy hoại. Chính phủ Obama cũng sẽ phải nói ra một số đề tài khó khăn từ lâu nay mà TT Bush và các cố vấn của ông có thể đã phải tránh né, hay trì hoãn chờ đợi một thời gian thuận lợi hơn trong tương lai.

Hồ Sơ Á Châu

Nếu chúng ta định giá trị chính sách ngoại giao của Obama ở Châu Á, để cho hợp lý chúng ta có thể bắt đầu với những thành đạt đáng hãnh hiện nhất của chính phủ của ông Bush:

Cải thiện những mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự thật là mối quan hệ hữu hảo của 2 quốc gia nầy thì chẳng có gì chắc chắn và bảo đảm.

Trong thời gian sắp tới những hăm dọa lớn nhất sẽ xuất phát từ kinh tế hơn là lãnh vực chiến lược. Đặc biệt nếu thế giới chậm chạp phục hồi từ những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chánh, những căng thẳng về thương mại ngấm ngầm giữa 2 cường quốc Thái Bình Dương có thể dễ dàng sôi trào ra.

Chính phủ của Bush đã thành công phần lớn để ngăn chậnnhững yêu cầu đánh thuế vào cáchàng hóa của TQ để bảo vệ công nghệ Mỹ, hay phạt Bắc kinh vì không gia tăng giá trị củađồng nhân dân tệ [4] Vì những chuyện như đánh thuế hàng hóa của TQ nhập vào Mỹ và yêu cầu TQ tăng giá trị đồng nhân dân tệ là các ý kiến xuất phát chủ yếu tư bên trong đảng dân chủ, do đó TT Obama có thể nhận ra là rất khó lòng để chống cự lại những áp lực bảo vệ mậu dịch như thế của đảng dân chủ.

Thí dụ, y như các mối quan hệ giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ đã từng căng thẳng vì những bất đồng về thương mại trong thập niên 1980s, vì vậy các đề tài về kinh tế có thể dễ dàng trở thành một nguồn chính của sự mâu thuẩn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Mặc dù có nhiều điểm tương tự nhau trong sự căng thẳng mậu dịch giữa Mỹ-Nhật và Mỹ- TQ, tuy vây, các tình thế hiện nay thì có tính chất khác nhau, ít nhất là trong một khía cạnh quan trọng: Vì bất luận những sự bất đồng ý kiến của họ là gì chăng nữa, Hoa Kỳ và Nhật Bản sau cùng bị ràng buộc chặt chẻ với nhau bởi một sự liên minh phòng thủ. Cả hai đã tin rằng họ đã chia sẻ nhau những giá trị chung và đối diện với một sự hăm dọa chung. Ngày nay, trái lại, chính cái viễn cảnh của gia tăng kinh tế hổ tương đang giữ Hoa Kỳ và Trung Quốc lại với nhau, đối lập với những khuynh hướng tiềm ẩn hướng tới sự không tin cậy nhau và kình địch nhau trong chiến lược. Nếu thương mại đang trở thành một đấu trường giữa Mỹ và Trung Quốc, sẽ ít có điều gì để ngăn chặn toàn bộ mối quan hệ khỏi sự trượt dốc nhanh chóng.

Tương tự, những mối căng thẳng giữa TQ và Đài Loan hiện giờ đang trở lại và có khả năng làm yếu đi mối quan hệ giữa TQ và Mỹ. Trong khi tống thống Đài Loan Mã Anh Cửu của Quốc Dân Đảng có thể ít ham muốn sự ưa thích độc lập hơn là đảng Dân Chủ Nhân dân để chọc giận Bắc Kinh và muốn đàm phán, tuy vậy đảng nầy sẽ không, và thật sự không thể, chấp nhận những đòi hỏi của Trung Quốc về sự thống nhất. Nói cho cùng, Đài Loan là một thể chế dân chủ trong đó một đại đa số người dân ưa thích một sự tiếp tục tình trạng không thay đổi hiện nay của Đài Loan. Nếu những nhà lãnh đạoTrung Quốc trông đợi một bước đột phá sớm sủa về mặt ngoại giao, thì họ đang hướng tới sự thất vọng.

Một phần nào đó vì những chia rẽ sâu xa về đảng phái đã và đang đặc trưng hóa nền chính trị Đài Loan vào 8 năm qua, những nổ lực để cải thiện khả năng của hòn đảo nầy cho sự tự vệ đã và đang chậm lại, mặc dù các khả năng quân sự của TQ đã và đang gia tăng nhanh chóng. Những cuộc buôn bán vũ khí đã được chấp thuận bởi chính phủ Bush trong những tháng đầu tiên của chính phủ nầy (2001) đã bị giữ lại trong nhiều năm bởi chính quốc hội Đài Loankhông chịu thi hành cho phép thông qua các ngân sách cần thiết. Sau cùng, khi Đài Bắc đã chuẩn bị đồng ý mua vũ khí, chính phủ Bush đã trì hoãn để tránh làm mất lòng và chọc giận Bắc Kinh, và sau cùng mới đây đã chấp thuận 1 phần nhỏ của đơn đặt hàng vũ khí nguồn gốc từ năm 2001 trong lúc chính phủ nầy trên đường rời khỏi nhiệm kỳ.

Giữa những vấn đề khác đang choán đầy trong công việc ở Á Châu của TT Obamasẽ là câu hỏi liệu có nên, hay làm cách nào để giúp đỡ Đài Loan duy trì một số tương đồng về cân bằng quân sự với Trung Quốc. Tiếp tục bán những vũ khí của Mỹ sẽ gây ra sự tức giận dữ dội của Bắc Kinh, nhưng không hành động thì sẽ làm cho Đài Loan bịhiểm họa ngày càng gia tăng và làm băng hoại niềm tin và đánh mất lòng can đảm của họ.

Mặc dầu sự tiến bộ đã và đang được thực hiện hướng tới gần hơn sự hợp tác chiến lược, liên minh giữa Mỹ và Nhật sẽ đòi hỏi sự chú ý thận trọng trong những năm sắp đến. Cựu thủ tướng Nhật Junichiro Koizumi là một lãnh tụ đầy tài năng một cách đáng chú ý, ông đã thành công trong việc lèo lái quốc gia của ộng nhanh chóng hơn là nhiều người đã nghĩ, có thể nói là hướng tới một vị trí quốc tế bình thường và đầy tính khẳng định. Những thủ tướng kế vị ông Koizumi đã và đang thiếu khả năng và sự khẳng định của Koizumi. Sự rời bỏ quyền lựcnhanh chóng của thủ tướng Shinzo Abe đã để lại mốt số sáng kiến chưa hoàn tất, bao gồm các kế hoạch gia tăng sự hợp tác giữa các nền dân chủ của Châu Á và tái phục hồi lại hiến pháp của Nhật để các lực lượng vũ trang của Nhậtcó thể tham dự vào trong các cuộc hành quân tự vệ chung với một số nước. Một sự thiếu chú ý hiển nhiên và sự thiếu khẳng định ở người kế vị thủ tướng Abe, ông Yasuo Fukuta, ông nầy đã hăm dọa xóa bỏ một hợp đồng đang còn thương nghị về chuyện phối trí các lực lượng của Mỹ. Chuyện nầy hiện còn đang được xem xét liệu vị thủ lãnh mới, cựu bộ trường ngoại giao Nhất Taro Aso, sẽ có khả năng tiếp tục công việc mà cựu thủ tướng Koizumi đã để lại.

Nhiều người Nhật hiên nay lo ngại rằng Hoa Kỳ đang bắt đầu nghiên về Trung Quốc. Các hành động gần đây của Mỹ đã và đang làm tăng thêm các nổi lo sợ nầy: Trong tất cả cuộc nói chuyện về các giá trị chung, Washington đã bày tỏ ít nhiệt tình về các đề nghị của chính phủ Abe về cải thiện hợp tác giữa các nước dân chủ trong miền. Tương tự, sự miễn cưỡng của Mỹ để bán các chiến đấu cơ F-22 cho Nhật đã được phiên dịch rộng rãi như là một cái tát vào má vì bị thúc đẩy bởi một ước muốn không chọc tức tới những sự nhạy cảm của TQ.

Có lẻ điều đáng lo ngại nhất từ quan điểm của Nhật là sự thay đổi đáng chú ý trongchính sách của Mỹ ở Bắc Hàn. Quyết định của chính phủ của ông Bush – sau khi cuộc thử nghiệm nguyên tử của Bình Nhưỡng tháng 10 năm 2006 – để quay ngược lại con đường, làm nhẹ bớt áp lực kinh tế và bắt đầu thương nghị song phương để lại cho Nhật cái cảm giác bị cô lập và không dễ chịu chút nào. Saukhi đeo sát vào vị trí của Mỹ kể từ khi bắt đầu các cuộc họp giữa 6 quốc gia vào tháng 8/ 2003, Tokyo đột ngột nhận ra đơn độc của mìnhtrong việc ủng hộ một lập trường liên tục cứng rắn. Mặc đầu chính phủ của tổng thống Bushcho rằng mục đích của họ vẫn là xóa sạch hết mọi mãnh vụn của vật liệu phân chia hạt nhân và khả năng làm bom nguyên tử của Bắc Hàn, các nhà quan sát Nhật đã và đang bắt đầu tự hỏi có phải là những người Mỹ đã và đang có quyết định riêng lẻ rằng họ có thể sống với khả năng hạt nhân của Bắc Hàn còn sót lại.

Quyết định ấy sẽ tùy thuộc vào TT Obama. Tiến trình từng bước của Bush đã và đang sản xuất ra một kết quả đầy tham vọng. Đổi lại cho việc áp lực được giảm xuống, viện trợ được gia tăng và sự tháo bỏ khỏi tình trạng danh sách các quốc gia hậu thuẩnkhủng bố, chế độ của Kim Chính Nhất đã và đang ngưng hoạt động (nhưng vẫn chưa tháo ra từng mãnh và phá hủy) lò phản ứng hạt nhân ở Yongbyon và các cơ sở chế biến của Bắc Hàn và xuất trình những cái mà nhà máy nầy tự cho là đóng góp “hoàn toàn và chính xác” về cung cấp các vật liệu phân chia hạt nhân. Nhưng Bình Nhưỡng vẫn chưa đồng ý về một kế hoạch trao vật liệu nguyên tử plutonium của họ. Bắc Hàn cũng đã không tiết lộ các chi tiết về một chương trình bí mật làm giàu hạt nhân song song với việc sản xuất chất Uranium dùng cho các loại vũ khí, đóng góp cho sự liên quan của Bắc Hàn vớicác nước có ưu thế hạt nhân tựa như Syria và Iran, hay chấp nhận một loại chế độ kiểm tra sâu sát và mạnh mẻ mà xem ra là cần thiết để xác nhận những gì mà Bắc Hàn từng cho là họ sở hữu được.

Mặc dầu nếu nhu Bắc Hàn đồng ý chịu nhường bỏ mọi thứ mà họ đã và đang thừa nhận là sở hữu, họ đã có thể vẫn còn nắm giữ một số vũ khí, che giấu các cơ sở làm giàu chất Uranium và có lẻ một phần nào đó của một chương trình mà họ đã và đang cung cấp hàng hóa tới cho các quốc gia khác. Chính quyền của Obama sẽ phải quyết định liệu có nên sống với những gì không chắc chắn là một cái giá có thể chấp nhận được dành cho tất cả hay hầu hết khả năng chế tạo plutonium của Bắc Hàn. Nếu Mỹ đồng ý trả cho cái giá ấy, niềm quan tâm của Nhật sẽ không được thỏa mãn. Nếu không, Washington sẽ có nguy cơ chạm trán với Bắc Triều tiên và một sự chia rẻ theo nhiều cách với các chính phủ đang tin rằng giải pháp hiện nay là tốt nhất mà họ có thể có được – đặc biệt là chính quyền của Trung Quốc và có lẻ là Nam Hàn nữa.

Thêm vào các cuộc đàm phán nguyên tử, Mỹ có các công việc quan trọng khác vẫn còn làm chưa xong với Nam Hàn. Sau khi thương nghị một thỏa ước thương mại tự do giữa Nam Hàn và Mỹ, chính phủ của TT Bush đã gặp phải một sự phản đối rất mạnh mẻ từ các vị dân cử của đảng Dân chủ trong quốc hội những người nầy thì rất kiên quyết giữ lập trường cứng rắn về vấn đề thương mại trước các cuộc bầu cử trong năm 2008. Trách nhiệm dành cho việc thúc đẩy các thỏa ước ấy thông qua quốc hội hay để cho các thỏa ước ấy không trở thành đề tài bàn thảo nữa hiện nay đang rơi vào tay của Obama. Nếu thỏa ước đạt được sự chấp thuận của quốc hội, thỏa ước mậu dịch tự do ấy sẽ cung cấp một sự gia tăng chính cho các mối liên hệ giữa Nam Hàn và Mỹ và một nền tảng vững chắc trên đó để xây đắp liên minh nầy. Nếu thỏa ước mậu dịch Mỷ và Nam Hàn thất bại do quốc hội Mỹ không thông qua, hai đối tác lâu đời nầy có thể lại một lần nữa bắt đầu trôi dạt xa nhau.

Trong trường hợp của Ấn Độ, một tay chơi lớn khác ở trong miền nầy,Tổng thống Obama thừa hưởng một mối quan hệ đang chin mùi với các triển vọng, cũng như là các thăng trầm tiềm tàng khác. Sau nhiều năm thương nghị, sau cùng Mỹ và Ấn Độ đã đạt được một sự đồng ý trên vấn đề hợp tác nguyên tử. Với chướng ngại vật không còn nữa, chính phủ mới của Obama sẽ có thế tiến về phía trước trong việc gia tăng mốí quan hệ đối tác chiến lược sâu hơn và rộng hơn. Nhưng chính phủ cũng sẽ phải thương nghị những khác biệt có tính chất nghiêm trọng, ấy là sự hiện hữu từ lâu nhưng không ra mặt cho mãi đến bây giờ, về chuyện làm cách nào để ứng xử với Pakistan, Ahganistan, và Iran.

Sự Thách Thức của Trung Quốc

Bao trùm lên tất cả các đề tài là sự thách thúc lớn nhất có tính chiến lược mà TT Obama sẽ đối mặt ở Châu Á và, không bàn cải gì nữa, toàn thế giới: Tìm ra cách nào để đương đầu với một nước TQ ngày càng gia tăng về sự giàu có, tham vọng, quyền lực, và tính khẳng định của họ.

Chính phủ của Obama sẽ kế thừa một hướng đi thời hậu chiến tranh lạnh của Mỹ hướng tới TQ mà Mỹ đã và đang tìm cách để hòa trộn các yếu tố của sự tham dự với “đối trọng”(cách dùng ưa thích hiện nay của người Mỹ), hay “bao vây” ( Trung Quốc dùng chữ nầy), hay cái điều mà tôi sẽ ám chí tới như là “cân bằng”. Một chiến lược hầm bà lằng xáng cấu đã và đang thực hiện rất tốt trong hơn 15 năm qua, mặc dầu đôi khi có những thay đổi khó hiểu trong giọng nói và sự nhấn mạnh bởi vì những mưu toan có tính bè phái. Tuy vậy, cuối cùng chính phủ của đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa đều giống nhau là cùng hổ trợ mở rộng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.

Những vị tổng thống kế tục nhau đã và đang khuyến dụ Bắc Kinh trên mặt trận ngoại giao, khuyến khích quốc gia nầy trở thành một tham dự viên tích cực trong những (định chế) tổ chức đa quốc gia và tìm kiếm một cách thành thật sự hậu thuẩn của TQ vào một loạt những vấn nạn, từ sinh đẻ và chủ nghĩa khủng bố cho tới an ninh năng lượng và sự thay đổi khi hậu của trái đất.

Trong thời gian gần, những chính sách nầy đã và đang có khuynh hướng để cho những người cầm quyền hiện nay ở TQ một cổ phần đầu tư vào trong sự ổn định của trật tự quốc tế hiện nay, mặc dầu khả năng của họ để thách thức thế giới đang gia tăng.

Mục đích sâu xa hơn của sự tham dự, tuy vậy, là để gia tăng những lực lượng tiến bộ được cho rằng sẽ lãnh đạo TQ hướng tới dân chủ tự do. Những nhà làm chính sách người Mỹ hy vọng rằng, đúng lúc nào đó, sự kết hợp của giai cấp trung lưu đang lớn mạnh và sự cởi mở gia tăng của một nền kinh tế trong thời đại tin tức và hiện đại sẽ mang lại một sự chấm dứt độc quyền về quyền lực chính trị của đảng Cộng Sản TQ.

Ngay trong lúc Mỹ đang buôn bán và có những cuộc đàm phán với TQ, thì đồng thời nước Mỹ đã và đang tìm cách duy trì các vị trí chiến lược của Mỹ ở Đông Á. Mục đích không phải là “bao vây” TQ bằng cách xây một bức tường chung quanh TQ. Thay vì đó, đối diện với quyền lực đang gia tăng của TQ, các nhà làm chính sách người Mỹ đã và đang tìm cách duy trì một mức độ khả năng thích hợp để ngăn cản khuynh hướng xâm lăng, thích gây hấn hay các toan tính ép buộc (của TQ)

Thắt chặt tình thân hữu với các đồng minh khu vực và các đồng minh chống cộng thân thiết, đáng tin cậy nhất của Hoa kỳ trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á [5], tái phối trí lại các lực lượng Mỹ, và gởi một số đơn vị không quân và hải quân tới vùng tây Thái Bình Dương đang là tất cả những phần của nố lực nầy.

Tám năm qua đã và đang minh họa sự phục hồi của một chiến lược hỗn hợp nhưng cũng đặt ra nhiều câu hỏi về sự thỏa mãn kéo dài. Bất luận điều gì khác có thể được phát biểu trong 30 năm qua về sự tham dự, họ vẫn chưa biến đổi được định chế chính trị của Trung Quốc.Tóm lại, thay vì nới lỏng sự siết chặt quyền lực, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã và đang gấp đôi những nổ lực của họ để nắm quyền kiểm soát tin tức, đàn áp những người bất đồng chính kiến và

Tuyển lựa vào đảng những thành viên của những giai cấp thượng lưu và trung lưu đang gia tăng. Những chiến lược nầy sau cùng có thể thất bại, nhưng trong lúc nầy các chiến lược đó dường như được thi hành rất tốt. Dường nhưkhông còn là chuyện tưởng tượng để gợi lên rằng trong những thập niên sắp đến Mỹ và các đồng minh của họ sẽ đối diện với một nước TQ ngày càng gia tăng sự giàu có và tínhnăng động một cách kỹ thuật, nhưng chính quyền của nước ấy vẫn là độc tài.

Khi nói về liệu có phải sự tham dự trong các tổ chức quốc tế và ngoại giao đã và đang làm cho TQ trở thành một tay chơi có trách nhiệm trong hệ thống toàn cầu hiện nay hay không, hầu hết các lời phán xét thì có tính chất xấu tốt lẫn lộn. Bắc kinh đã và đang đặt niềm tin mới của họ vào trong chủ nghĩa đa phương, trái lại các chính sách của TQ được hổ trợ bằng khuynh hướng tình nghi người Mỹ cho hành động đơn phương. Và TQ đã và đang diễn tả ước muốn của họ cùng nhau làm việc với Mỹ trong một loạt các vấn đề hàng đầu. Những người lạc quan nhìn những sự phát triển nầy như bằng chứng của sự tiến bộ, nhưng làm sáng tỏ hơn các điều hoài nghi thì ít nhất cũng có vẻ đúng. TQ có thể đơn giản là đang làm những điệu bộ như có mục đích làm nhẹ bớt các điều lo ngại về sự tiến bộ nhanh chóng của họ, trong lúc lẫn tránh nói về các hoạt động trong tương lai của họ. Trong lúc giữ thái độ gần gủi với Washington, Bắc kinh cũng đã và đang làm yếu đi vị thế của Mỹ ở Châu Á. Trung Quốc đã và đang tích cực ve vãn nhiều đống minh truyền thống của Mỹ bằng các hoạt động thương mại và “chính sách ngoại giao nụ cười”, và TQ đã và đang dẫn dắt những cơ chế mới dành riêng cho “người Á Châu mà thôi” và Mỹ bị tách ra khỏi các cơ chế ấy.

Nếu vẫn còn quá sớm để tuyên bố sự tham dự là một sự thất bại, và cũng là quá sớm để tin về sự thành công sau cùng của nó. Đặc trung cơ bản của chế độ Trung Quốc vẫn là không thay đổi ngay cả khi TQ gia tăng giàu có hơn và hùng mạnhhơn, làm cho sứ mạng để duy trì một sự cân bằng quyền lực ở Châu Ángày càng khó khăn hơn và tốn kém hơn. Đó là trường hợp đặc biệt nói vềphương diện quân sự.

Hơn mười mấy năm nay, TQ đã và đang chú ý vào việc gia tăng và mở rộng các căn cứ quân sự đều đặn. Theo một báo cáo của bộ quốc phòng gần đây, chi tiêu cho quốc phòng giữa năm 1996 và 2006 đã gia tăng trung bình gần 12%, ngay cả việc còn nhanh hơn nền kinh tế của TQ, kinh tế TQ đã tăng trưởng chỉ trên 9% mỗi năm. Trong lúc các số liệu chính xác còn đang là một để tài để bàn cải, chẳng có nghi ngờ nào cho rằng Bắc Kinh đã và đang đổ rất nhiều tài nguyên hơn mức bình thường vào các lực lượng lục quân và rằng các cuộc đầu tư quan trọng đã và đang bắt đầu sinh ra cáckết quả thật sự.

Sự xây dựng lực lượng vũ trang của Bắc Kinh đã và đang gia tăng khả năng của họ để hướng sức mạnh vào không gian và hải phận bờ biển phía Đông của họ và trong các vùng biển nước sâu ở trên. Kết quả TQ đã và đang được trang bị tốt hơn để hăm dọa Đài Loan hơn họ đã từng làm cách đây chỉ hơn 10 năm, và TQ đang tiến gần tới điểm nơi đó họ có khả năng đặt ra một thách thức không thể coi thường được tới ưu thế quân sự của Mỹ trong vùng Tây Thái Bình Dương.

Kể từ giữa thập niên 1990s, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân (PLA) đã và đang đạt được nhiều ý nghĩa cho việc khám phá, truy tìm, và nhắm mục tiêu vào các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm lớn khác. Mục đich là để có thể bắn hạ chúng bằng mọi (vũ khí) thứ từ các tiểu đỉnh có vận tốc rất nhanh, tới các hỏa tiển tầm ngắn bắn ra từ lục địa bằng các đầu đạn hạt nhân. Trong cuộc khủng hoảng ở tương lai, các chiến hạm chính của Mỹ chuyên phóng  hỏa lực từ ngoài biển, một khi bị tổn hại, có thể không đủ khả năng để vận chuyển một cách an toàn trong vòng vài trăm hải lý cách bờ biển của TQ.

Thêm vào đó, Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân đang tích lũy được đủ các tên lửa tầm trung mang đầu đạn thường và các hỏa tiển tự điều khiểncó thể bắn phá hầu hết các mục tiêu quan trọng ở miền Đông Á, bao gồm các căn cứ Mỹ ở trong miền nầy. Gần đây, quân đội TQ đã biểu diễn khả năng dò tìm và phá hủy những vật trên không gian tựa như các vệ tinh viễn thông và các vệ tinh do thám, và quân đội TQ cũng đã và đang trở nên quan tâm rất nhiều trong các kỹ thuật chiến tranh trên mạng toàn cầu, cái mà họ dường như đang xử dụng để thâm nhập vào các hệ thống mạng computer của các doanh nghiệp và chính quyền ở cả Châu Âu và Mỹ.

Sau cùng, sự hiện đại hóa của Quân Đội Nhân Dân và sự mở rộng của lực lượng tên lửa hạt nhân chiến lược của TQ có thể làm yếu đi những sự tín nhiệm về các bảo đảm của Mỹ về an ninh của miền nầy. Khôngđiều nào trong số các điều kể trên có ý nóirằng Mỹ sẽ buộc lòng phải rút lui khỏi Á Châu.

Vẫn còn ít có ý nghĩa cho rằng một cuộc chiến tranh hầu như có thể xẩy ra vào bất cứ lúc nào, ngay cả một cuộc chiến tranh lạnh theo kiểu mới. Nhưng sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang gia tăng nhanh, và sự thăng bằng về các khả năng chiến tranh đang bắt đầu chuyển sang hướng thuận lợi của TQ. Những ưu điểm trong sức mạnh quân sự lâu nay đã và đang hổ trợ vị trí an ninh của Mỹ ờ Đông Á chẳng bao lâu sẽ là một chuyện của quá khứ.

Các Chiến Lược Thay Thế

Hiện có 3 cách, nói rộng ra, theo đó Mỹ có thể đáp ứng tới các sự gia tăng nầy:

_Tham Gia Chủ Quyền [*]

_Gia tăng sự Tham dự vào các định chế

_Tăng cường sự quân bình

Thứ nhất, được ưa chuộng bởi một số người tự cho là thuộc loại thực tế, làthừa nhận sự nổi bật của TQ và tìm kiếm một sự quản lý lưỡng cực chung xuyên qua vùng Thái Bình Dương sự quản lý chúng ấy sẽ bao gồm một sự thông cảm ngầm lên các phạm vi của sự ảnh hưởng. Mỹ có thể đồng ý, thí dụ, chấp nhận ưu thế của người Trung Quốc ở một nữa phía đông đất liền và hải đảo của miền Đông Âu và Đông Á để đổi lấy sự bảo toàn vị trí riêng của họ như một đấu thủ lãnh đạo trên vùng biển Đông Á. Một số nhà chiến lược người TQ bàn bạc rằng phạm vi của họ nên trải rộng vào trong biển Thái Bình Dương, có lẻ tới chuổi đảo thứ nhất chạy từ đỉnh phía nam Nhật Bản, xuống quá miền duyên hải phía tây của Phi luật Tân và Mã lai Á và bao gồm trong đó là Đài Loan và phần lớn Biển Đông.

Dù tốt hơn hay xấu, chẳng có sự thỏa thuận nào là có thể xẩy ra. Cho rằng sự lệ thuộc gia tăng của TQ lên các mặt hàng nhập khẩu thực phẩm, nhiên liệu, và những nguồn tài nguyên khác, Trung Quốc không thể trông đợi để chấp nhận một tình thế mà trong đó quyền lui tới vùng biển thì lệ thuộc vào thiện chí và đặc quyền của Mỹ. Về phần mình, Mỹ sẽ miễn cưỡng (không thích) nhường ưu thế ở một miền lãnh hải chứa đựng nhiều tài nguyên đang tranh cải, những hải lộ chủ yếu, và một số nước bạn bè theo chế độ dân chủ tin cậy vào Mỹ cho sự an ninh của họ.

Thay vì tìm kiếm một sự đồng ý vào các phạm vi ảnh hưởng, Washington có thể tăng gấp đôi nổ lực của họ vào sự tham dự. Những người bênh vực của chiến lược nầy, bao gồm hầu hết các nhân vật quốc tế dòng chính theo chủ nghĩa tự do, bàn luận rằng Mỹ và các quốc gia Á Châu khác nên làm nhiều hơn nữa để làm TQ trở thành một nước tham dự toàn phần vào trong hệ thống hiện hữu của các qui luật và các tổ chức quốc tế. Như nhà lý thuyết G. John Ikenberry cắt nghĩa, “Mỹ không thể nào ngăn cản sự trổi dậy của TQ, nhưng Mỹ có thể giúp bảo đảm rằng sức mạnh và quyền hạn của TQ được sử dụng phải nằm trong phạm vi những điều nội qui và các định chế mà Hoa Kỳ và các đối tác của nó đã thiết lập vào thế kỷ trước” [3]

Thêm vào niềm tin của họ trong những hiệu quả của các tổ chức quốc tế, hầu hết các nhà theo chủ nghĩa tự do cũng tin rằng sự cải thiện và dân chủ đang đến với TQ một cách không thể nào tránh được, chắc có lẻ không sớm thì muộn. Những cường quốc bên ngoài có thể không có khả năng để xúc tiến sự chuyển đổi nầy của TQ, nhưng họ có thể trì hoãn chuyện ấy nếu như họ chấp nhận và thực hiện các chính sách có tính chất phối hợp như hăm dọa hay không tôn trọng, kết quả là khơi dậy ngọn lửa chủ nghĩa dân tộc và làm chậm lại tiến trình của sự tự do hóa.

Bởi vậy phe phái nầy đang dùng lý lẻ rằng, Mỹ nên thận trọng cực độ về chuyện thắt chặc những quan hệ với các đồng minh, tăng cường các lực lượng vũ trang của Mỹ trong các miền nầy, hay cố gắng làm chậm bớt sự thủ đắc các kỹ thuật vũ khí tối tân của Quân Đội Nhân Dân TQ. Bỏ qua vai trò riêng của họ trong sự khiêu khích châm ngòi cho một phản ứng của Mỹ, TQ sẽ xem các hành động nầy như là các hành động thù địch có khuynh hướng bao vây và kềm chế TQ. Bắc kinh sẽ xử dụng bất luận điều gì mà Washington đang làm để biện hộ cho hành động gia tăng quân sự của TQ và tập trung sự hổ trợ dành cho sự cai trị của đảng Cộng Sản được lâu dài.

Để từ chối ban cho TQ cơ hội nầy, một số nhà quan sát tin rằng Mỹ nên đi trước các biện pháp nầy. Nhưng hãy dễ dãi vào chuyện cân bằng và đặt nhiều sự chú trọng vào sự tham dự sẽ có nghĩa là hạ giảm bớt một vụ đánh cá cược không chắc. Nếu TQ tự do hóa khi sức mạnh của họ gia tăng, có nhiều khả năng của sự chạm trán sẽ lu mờ hay giảm sút, ngay cả những hình thức sâu xa hơn của sự tham dự và hợp tác có khả năng là có thể thực hiện được.

Sau cùng Washington có thể quyết định nhường đường cho một nước TQ dân chủ đang trổi dậy, [cũng giống như Anh đã chọn lựa để chấp nhận] ưu thế của Mỹ ở Bán Cầu Phía Tây vào cuối thế kỷ thứ 19. Nhưng nếu TQ gia tăng mạnh mẻ hơn mà không cải thiện, hay trở nên yếu kém, không còn ổn định và không thể tiên đoán được, các đồng minh của Mỹ và các lực lượng vũ trang triển khai tiền tuyến sẽ vẫn là những công cụ của chính sách của Mỹ. Thật là không khôn ngoan để cho phép TQ teo lại trên cơ bản của một lý thuyết chưa chắc chắn về sự dân chủ hóa của TQ.

Về mối lựa chọn thứ Ba: Một số biến đổi của đường lối được pha trộn mà Hoa Kỳ đã và đang theo đuổi kể từ cuối cuộc chiến tranh lạnh? Lựa chọn nầy vẫn còn đem ra xủ dụng hiện nay, nhưng chúng ta nên điều chỉnh hỗn hợp các yếu tố mà phương pháp ấy bao hàm. Trong khi đẩy sự tham dự lên hàng đầu, chúng ta cũng cần cải thiện những nổ lực của chính phủ của TT Bush để duy trì “một cán cân quân bình về quyền lực để bênh vực và ưu đãi cho sự tự do” ở Châu Á. Đặt qua một bên những đặc tính bất thường có tính chất sự kiện, điều nầy có nghĩa là gì trong thực hành? Liên hệ tới Trung Quốc, có nghĩa rằng các nhà làm chính sách người Mỹ nên được huống dẫn bởi 3 nguyên lý.

Tiếp tục Tham Dự 

Thương mại và đàm phán có thể vẫn còn làm biến đổi TQ nữa: Cuối cùng, nền kinh tế thị trường và nền chính trị độc tài có thể chứng minh là kỵ nhau và không tương hợp.Trong lúc nầy, phần hùn mấu chốt của Trung quốc trong sự ổn định có thể làm các nhà lãnh đạo của họ cẩn thận hơn nữa về chuyện ủng hộ lòng vòng và có ý muốn nhiều hơn để hợp tác trong những đề tài quan tâm chung. Chính phủ của Obama nên tiếp tục tìm kiếm ra những lãnh vực nơi mà những niềm quan tâm giữa Mỹ và TQ trùng hợp nhau và làm việc chung nhau ở bất cứ nơi đâu có thể làm.

Sự tham dự không vượt qua được sự hữu ích, nhưng nó yêu cầu sự điều chỉnh và một sự định giá ngay thẳng, khách quan về các hiệu quả của nó. Thổi phồng qui mô của sự cải cách chính trị của Trung Quốc hay xếp đặt các mối quan tâm của TQ cùng với các mối quan tâm của các quốc gia dân chủ tiền tiến chỉ là dàn cảnh cho sự thất vọng và có hiệu quả ngược lại.

Tránh Những Chuyện Nhạy Bén Thái Quá

Những bước đầu (sáng kiến) có ý đồ làm gia tăng sức mạnh về vị trí của Mỹ ở Châu Á đang gây ra các cuộc phản đối và những lời cảnh báo mạnh mẻ từ Bắc Kinh. Những phản ứng của TQ đang được thu gom lại và lập đi lập lại bởi các người chủ trích ở Mỹ và ở Châu Á, những người nầy xử dụng chúng để tranh luận và thuyết phục chống lại làm bất cứ điều gì có thể làm chọc giận Trung Quốc.Trong khi sẽ là một lầm lỗi để gạt bỏ qua các lời tuyên bố của TQ là ngoài tầm kiểm soát, chấp thuận các điều ấy như là một giá trị bề ngoài (mà không chứng minh) thì có nguy cơ ban cho TQ một quyền phủ quyết hiệu quả về các hành động của Mỹ.

Những nhà chiến lược người Trung Quốc có khuynh hướng thổi phồng những điểm nhạy bén của họ, vẽ ra “các đường mực đỏ” rất rõ ràng trước các hành động mà họ xem xét như là không thể chấp nhận được. Bằng cách làm tê liệt hay ít nhất là làm chậm các đáp ứng tới việc gia tăng sức mạnh riêng của họ, TQ có thể hy vọng làm nghiên cán cân lực lượng có sẵn từ trước vào trong sự thuận lợi của họ song cho tới lúc nầy quyền ấy sẽ dường như không thể được thực hiện được nữa. Để ngăn chận điều nầy, các giới chức người Mỹ phải nên có đầu óc cứng rắn và sáng suốt đủ để biết sự khác biệt giữa những hăm dọa khoác lác ầm ỉ hay những hăm dọa thành thật.

Tiếp tục nói về các quyền lợi của con người (nhân quyền), dân chủ, và sự minh bạch.

Khi sự giàu có và quyền lực của TQ đã và đang gia tăng, hầu hết các chính quyền dân chủ đã và đang trở nên ít lên giọng chỉ trích Trung Quốc về sự thiếu tôn trọng các quyền tự do chình trị và các quyền cơ bản của con người. Hiện nay, những lời phàn nàn như thế được xem ra là không có hiệu quả và tự khoan dung mà còn có nguy hiềm cho các quyền lợi thương mại, Nước Mỹ vẫn còn cất cao tiếng nói chỉ trích TQ hơn hầu hết các quốc gia khác, nhưng phán xét từ sự đáp ứng chính thức bị câm lại về những tình trạng bất an tại Tây Tạng vào mùa xuân năm 2008, chuyện ấy đang trở thành đáng chú ý hơn.

Vì các lý do chiến lược cũng như các lý do đạo đức, sẽ là một lầm lỗi dể cho chủ đề chỉ trích ấy bị bỏ qua. Trong lúc khoe khoang khoác lác hay bắt nạt và lý thuyết, tụng niệm các câu thần chú về các đức tính của dân chủ thì không có ích, hay ngay cả vất bỏ hết các thành tích mà mình đã đạt được, Hoa kỳ không nên giữ thái độ im lặng trên những đề tài đó (vũ đàn áp Tây Tạng 2008- TH).

Thỉnh thoảng, những cuộc biểu tình có tổ chức đúng vào thời gian có các hành động ngược đãi được dùng để thông báo với Bắc Kinh rằng cả thế giới vẫn đang chăm chú nhìn vào và quan tâm vào chuyện Trung Quốc đối xử với các công dân của họ ra sao. Một chính sách ngoại giao công khai và khôn khéo hơn của Mỹ là giữ một vai trò quan trọng ở nơi đây, đó là nhắc nhở những nước khác về đặc trưng thật sự của chế độ cộng sản Trung Quốc và những giới hạn mà chế độ nầy áp đặt lên nhằm ngăn chặn các mối liên hệ giữa Trung Quốc và các nước dân chủ. Những bạn bè thật sự của nước Mỹ ở trong miền nầy vẫn còn là những quốc gia đồng minh theo chế độ dân chủ và các nhà lãnh đạo Hoa kỳ sẽ không bao giờ nên co cụm lại mà không nói lên tiếng phản đối như thế (trong vụ Tây Tạng).

Áp lực lên Trung Quốc cho những sự công khai to lớn hơn về các ngân sách quân sự và các kế hoạch của họ dùng để phục vụ cho một mục đích tương tự. Sự bí mật của TQ về đề tài nầy làm nổi bật lên đặc tính khép kín của chế độ nầy và nêu lên những câu hỏi hợp lý về mục đích sau cùng của sự gia tăng ngân sách dành cho quân đội của họ. Nếu các nhà làm chính sách Trung Quốc trở nên ngay thẳng hơn về các chương trình quân sự lâu dài của họ, những sự lo ngại của các nước làng giềng của họ sẽ hầu như lớn hơn –không nhất thiết là một điều xấu.

Một Chương Trình Nghị Sự Trong Miền Này

Đường lối của Mỹ hướng tới các nước làng giềng của Trung Quốc sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn sự ổn định trong miền nầy. Liên quan tới phần còn lại của Châu Á, Mỹ nên làm 4 điều:

Củng cố các mối liên hệ song phương.

Công việc quan trọng nhất của Mỹ ở Châu Á sẽ tiếp tục thi hành dựa trên cơ bản song phương, và các đối tác đáng tin cậy nhất của Hoa Kỳ sẽ vẫn là những quốc gia nói trên mà qua họ, Hoa Kỳ sẽ chia sẽ các nguyên tắc chính trị và các sự quan tâm.

Không có chút nào là lỗi thời, điều gọi là hệ thống “liên lạc với nhau và liên lạc xuyên qua một trung tâm” liên kết Washington với nhiều thủ đô khác nhau trong miền sẽ vẫn còn là chủ yếu tới chính sách Á Châu của Mỹ. Nhưng hệ thống nầy sẽ đòi hỏi những sự chú ý thướng xuyên và những sự củng cố mạnh hơn.

Chính phủ của Obam không nên tự cho phép mình xỏ mũi và đánh lừa bởi lời hứa hẹn xa xôi, không chắc chắn của những tổ chức an ninh mới mẻ của nhiều nước Á Châu. Thay vì đó, Hoa Kỳ nên tập trung vào làm mới lại đồng minh Nam Hàn và Mỹ, hồi phục lại các tiến bộ đã làm trong những năm gần đây hướng tới một đồng minh “bình thường” hơn với Nhật Bản, và tiếp tục xây đắp một quan hệ đối tác chiến lược chân thành với Ấn Độ. Trong vài ba năm tới đây, Mỹ cũng nên mở rộng và làm sâu đậm các mối liên hệ của họ với Indonesia, một nước dân chủ vừa nổi lên mà – cùng với Úc – nên gia tăng thành một vai trò lãnh đạo ở miền Đông Nam Á.

[Cập nhật cuối năm 2011: TT Obama và bà Clinton đã đi theo đường lối này. Họ đã tăng cường hợp tác với Nam Hàn và Nhật. Đồng thời Mỹ thiết lập căn cứ hải quân ở Singapore năm 2011. Mỹ đã tặng 2 chiến hạm tối tân cho Phi luật Tân và Phi mời Mỹ vào đóng quân trên đất nước này. TT Obama ghé thăm Úc và cả hai nước cùng tuyên bố thiết lập căn cứ quân sự ở miền Bắc nước Úc và Úc đồng ý cho 2500 TQLC Mỹ đồn trú ở Úc. Mỹ bình thường hóa  ngoại giao với Miến Điện và tách Miến Điện khỏi quỹ đạo của TQ. Vào tháng 12, 2011, Hoa Kỳ và 8 thành viên khác của APEC dự trù sẽ loan báo một thỏa thuận khung cho một nhóm mậu dịch nhỏ hơn, đó là nhóm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, mục đích giảm thuế nhập khẩu cho các quốc gia Đông Nam Á; trước đó TQ đinh ninh là  Mỹ sẽ mời TQ gia nhập nhóm này, nhưng TT Obama nói nếu TQ muốn gia nhập thì “hãy làm đơn xin”. Lời phát biểu công khai của TT Obama đã làm các nhà lãnh đạo TQ bẻ mặt, và hiểu rằng họ bị loại trừ ra khỏi nhóm Đối tác Xuyên Thái Bình Dương].

Thắt Chặt Mối Quan Hệ Giữa các quốc gia dân chủ ở Á Châu

Sự nghèo nàn của các tổ chức quốc tế ở Á Châu so sánh vói Âu Châu đã và đang là một đề tài của nhiều sự thảo luận kể từ khi có sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh.

Nhiều phương cách đã và đang được đề nghị: Một Cộng đồng Đông Á lấy kiểu mẫu từ Liên Hiệp Âu Châu, một sự phối hợp của các cường quốc chính của Đông Bắc Á Châu sẽ bao gồm ít nhất năm trong số sáu quốc gia tham dự trong cuộc Đàm Phán Sáu Bên (Mỹ, TQ, Nhật, Nga, và Nam Triều Tiên), và các quốc gia khác. Với điều kiện rằng Mỹ có một ghế tại bàn hội nghị nầy, Mỹ không có lý do để phản đối tới bất cứ những sự đề nghị nào, nhưng Hoa kỳ không nên trông cậy vào các tổ chức rộng rải và mới mẻ trong miền nầy để bảo đảm các quyền lợi của họ hay gìn giữ hòa bình.

Tốt hơn nhiều cho những mục đích nầy là một tầng lớp mới của sự liên lạc liên kết các nước dân chủ ở Châu Á lẫn nhau và liên kết tới Hoa Kỳ. Các nước dân chủ nầy có nhiều điều để bàn luận giữa họ, hay ít ra là làm sao họ sẽ phối hợp các chính sách ngoại giao, đầu tư và viện trợ ngoại quốc của họ để khuyến khích sự lan tràn của dân chủ tự do khắp miền nầy.

Sự trổi dậy của Trung Quốc là một bằng chứng rõ ràng nhất về nhu cầu để phối hợp một cách có hiệu quả hơn. Nếu các quốc gia dân chủ hy vọng quân bình được sức mạnh đang gia tăng của TQ, các quốc gia nầy nên đóng góp các tài nguyên của họ.

Một số cơ chế đã được đề nghị nhằm đạt được những mục đích nầy, thí dụ như một số quốc giaÁ châu nên hợp lại thành một khối tương đương với khối NATO, thì không thích hợp hiện nay. Không tiên đoán được tương lai của TQ ra sao và những niềm quan tâm hợp lý về chuyện khiêu khích TQ một cách không cần thiết đang làm cho đề nghị này trở thành một ý kiến không được chấp nhận. Tuy nhiên, một cộng đồng của các quốc gia dân chủ ở Á Châu sẽ có một lợi thế mềm dẽo hơn và có thể là một phần của một liên minh lớn toàn cầu của các quốc gia có suy nghĩ như họ.

Những ai phản đối lại ý kiến nầy trên cơ sở cho rằng sự hình thành tổ chức như vậy thì có tính chất “chia rẻ” hay gây hấn với các chế độ độc tài thì nên nhớ lại rằng khối Cộng đồng Châu Âu hiên nay là một tổ chức quốc tế có các điều kiện chính trị rất nghiêm khắc khi gia nhập.

Thực tế rằng Trung Quốc đã và đang thiết lập một câu lạc bộ riêng của họ dành cho các chính quyền ở Trung Á (Tổ Chức Hợp Tác Thượng Hải – thành lập 1996 và 2001, gồm 6 nước, Nga và Trung Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan and Uzbek [6]) sẽ làm nhẹ bớt những quan tâm về chuyện thành lập một nhóm các quốc gia dân chủ ở Á Châu.

Hướng tới sau cùng, Mỹ nên tập trung vào các thời kỳ ngắn hạn về chuyện cổ vỏ sự liên lạc và hợp tác giữa những nhóm nhỏ ngoại biên đã và đang nổi lên khắp miền nầy. Hoa Kỳ và Nhật Bản là những đồng minh. Nhật và Ấn Độ đã và đang hội họp với nhau trên rất nhiều lãnh vực nhạy bén, cũng như là Ấn Độ và Hoa Kỳ cũng họp nhau. Tại sao lại không tổ chức những cơ hội cho các viên chức của cả 3 quốc gia ngồi lại cùng nhau? Những cuộc hội nghị thường xuyên giữa Nhật, Mỹ và Nam Hàn đã và đang đổ vỡ trong những năm gần đây vì những mối căng thẳng giữa Tokyo và Seoul. Tổng thống Obama nên thử hàn gắn và làm lành lại những mối bất đồng nầy và phục hồi lại một cuộc đàm phán chiến lược tay ba giữa các quốc gia dân chủ của miền Bắc Á Châu nầy. Nếu các nước khác như Úc muốn tham gia vào trong các cuộc bàn thảo, thì quá tốt đẹp.

Mục đích của tất cả cuộc đối thoại và hợp tác sẽ là cổ vỏ những bàn luận thành thực giữa các chính quyền có cùng suy nghĩ và và thiết lập các cơ chế ngoại vi đa phương và thường xuyên liên lạc nhằm chia sẽ tin tức, xem xét lại các chọn lựa trong những biến cố khác nhau, và thiết lập một phương pháp chung để liên lạc và có thể tham gia vào các cuộc hành quân tập trận. điều trở nên cần thiết trong biến cố này là để củng cố những mối quan hệ nầy gần gủi hơn tương tự như một liên minh theo truyền thống, hầu hết những điều cơ bản cần yếu sẽ được đưa ra. Chắc chắn Trung Quốc sẽ không thích bất cứ điều gì liên quan đến chuyện nầy,nhưng sẽ không ngăn cấm các quốc gia dân chủ tự bảo vệ mình và tự bảo đảm các quyền lợi của họ.

Duy Trì Sự luân chuyển tự do của các hàng hóa và con người

Chống lại chủ nghĩa bảo vệ mâu dịch thì có tính chất chủ yếu để duy trì mối quan hệ tốt đẹp nhất với TQ, nhưng bảo vệ mậu dịch cũng cần thiết cho sự sống còn để chống lại nền kinh tế đang gia tăng của TQ đang thu hút vào. Nếu Hoa Kỷ đòng chặt thị trường của mình không cho các hàng nhập cảng và các đầu tư của Á Châu vào Mỹ, miền nầy sẽ trở thành lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Ngoài sự cung cấp những phúc lợi kinh tế cho các nước liên quan, sự mở cửa thị trường của Hoa kỳ sẽ làm yếu đi những nổ lực của TQ trong việc tự đặt họ vào tâm điểm của một khối kinh tế độc quyền trong miền nầy.

Tương tự như thế, nhưng sự luân chuyển của con người cũng phải được tự do. Khi TQ tiếp tục xây dựng lên những viện đại học thành công, các phòng thí nghiệm và các khu công nghệ tiên tiến, TQ sẽ trở thành một nam châm hấp dẫn nhiều người có tài năng và tham vọng khắp Á Châu và thế giới. Nếu ý kiến chông lại việc di dân và sự lo sợ chủ nghĩa khủng bố tạo ra kết quả là những hàng rao cao khi vào nước Mỹ, chúng ta có thể tự mình tước đoạt dòng nhập cư đều đặn của những người di dân tài ba và nhiều tham vọng, họ luôn luôn là một trong những ưu điểm có giá trị nhất trong sự cạnh tranh toàn cầu về khoa học và kỹ thuật.

Vị trí của nước Mỹ cũng như quyền lực của người Á Châu không chỉ nằm trong các quyền lợi kinh tế và quan tâm chiến lược nhưng còn trong những mối quan hệ mạnh mẻ về gia đình, niềm tin, và kinh nghiệm cá nhân. Trong mấy chục năm qua những mối quan hệ nầy đã và đang buộc chặc Hoa Kỳ với Nam Hàn, Nhật bản, Úc và Philippines. Ngày nay, những mối liên hệ ấy đang liên kết Hoa kỳ với Ấn độ và TQ. Nếu những mối liên hệ ấy đơm hoa kết quả, chúng nên được thường xuyên nhắc nhở và làm cho tươi mát lại. Đối với Hoa Kỳ, sự cởi mở là một nguồn sức mạnh vĩnh viễn của quốc gia cũng giống như dấu hiệu của sự tự tin lâu dài.

Gia tăng các khả năng Quân Đội

Yếu tố sau cùng trong một chiến lược ở bình diện rộng cho Châu Á có thể chứng minh là rất khó lòng để thưc hiên. 10 năm tới đây, và chắc có lẻ là lâu hơn nữa, Mỹ sẽ phải làm nhiều để đáp ứng tới khả năng về sự gia tăng quân sự của TQ – bởi vì Mỹ cần tránh các lựa chọn của mình sao cho khỏi bị thu hẹp lại trong những cuộc khủng hoảng có thể xẩy ra, và cũng để bảo đảm rằng những đồng minh và các kẻ thù không mất niềm tin vào những bảo đảm an ninh của người Mỹ. Nếu không có quyền lực đáng tin cậy của Hoa Kỳ trong miền nầy, một số các quốc gia đồng minh đã có thể lựa chọn giải pháp đơn phương và căng thẳng như thủ đắc các vũ khí hạt nhân. Các quốc gia khác đã có thể tìm kiếm sự dàn xếp tốt nhất với Bắc Kinh. Các viễn cảnh cho sự truyền bá tự do sẽ phai mờ, và các nguy cơ của mâu thuẩn sẽ gia tăng.

Các mối quan tâm thì rõ ràng, những chướng ngại vật để đưa ra hành động thích hợp sẽ cao. Cho rằng giá cả quá cao dành cho việc duy trì quân đội hiệu lực ở vùng Thái Bình Dương – đặc biệt khi quốc gia nầy sẽ bị siết chặt ngân sách bởi nền kinh tế đang gặp khó khăn –áp lực để đối phó và giải quyết những khó khăn ở trong nước cần thiết hơn và có thể khuyến dụ các chính phủ trong tương lai làm ở mức tối thiểu. Điều nầy sẽ là một canh bạc đầy nguy hiểm. Trong thời đại mà các nhà lý thuyết và các nhà ngoại giao đang ham mê “quyền lực mềm mỏng”, sự cân bằng về vũ khí vẫn mang tính quyết định. Các nhà lãnh đạo quốc gia có trách nhiệm không có sự lựa chọn nào ngoại trừ phải đi theo điều ấy

Bản Dịch @Trần Hoàng 2008

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

*************

[1] Victor Cha, “Chiến Thắng Châu Á” Tạp chí Đối Ngoại (tháng 11 và 12/ 2007)

[2] Văn phòng của Bộ Trưởng Quốc Phòng, Bản Báo Cáo Hàng năm tới Quốc Hội: Quân Lực của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc 2008

[3] Ikenberry, “Sự Trổi Dậy của Trung Quốc và Tương lai của Phương tây” Hệ Thống Các nước Tự Do có thể Tồn tại?

Tạp Chí Đồi Ngoại (tháng 1/ tháng 2, năm 2008)

[4] TQ đã cố tình giảm giá trị đồng nhân dân tệ để có lợi thế trong xuất khẩu. Ở bên trong TQ, có nhiều hàng hóa xuất cảng sang Mỹ, và khi bán thì thu ngoại tệ đô la càng nhiều ở Hoa Kỳ; Ngược lại, vì giá đô la cao hơn nhân dân tệ, hàng hóa Hoa kỳ ở TQ trở thành quá đắt giá, dân chúng TQ không thích mua hàng cuả Mỹ. Hàng của Mỹ cũng không cạnh tranh được với hàng hóa của các nước khác ở TQ.

The American Interested LLC 2006

———————————————————

Những con hổ nguy khốn: Châu Á cần một động lực mới cho tăng trưởng

Cơ hội có thật nào cho Việt Nam trong khủng hoảng?

Sự thật về mô hình phát triển của Trung Quốc
dưới góc nhìn từ hai ký giả người Âu

3-2-2009

Văn Ngọc

Tia Sáng

Trong khi dư luận quần chúng, cùng các kênh thông tin và truyền thông ở phương Tây lại không ngớt lời ca ngợi những cái hay, cái giỏi của đất nước này về mọi mặt thì hai tác giả Pierre Cohen và Luc Richard xuất thân là nhà báo và nhà văn đã từng sống ở Trung Quốc và biết tiếng quan thoại, hiểu biết rộng về kinh tế, với cặp mắt quan sát sắc sảo của mình, họ đã đi vào từng ngóc ngách của đời sống xã hội Trung Quốc để tìm hiểu một thực tế vô cùng tế nhị và phức tạp để viết một cuốn «La Chine sera-t-elle notre cauchemar?» (Ed. Mille et Une Nuit – Paris 2005, tái bản 5-2008) đầy ắp thông tin và dày công phân tích nhằm chỉ ra những khuyết tật trong mô hình phát triển hiện nay của Trung Quốc.


Người ta có thể nghĩ rằng, trước hết hai tác giả này muốn nói lên một sự thật, một thực tế, mà trong nhiều năm ở phương Tây, báo chí, cùng các cơ quan truyền thông và một số người có chức quyền vẫn cố tình che giấu, hoặc tô hồng, vì dẫu sao, người ta cũng cần cái thị trường khổng lồ này trong một nền kinh tế toàn cầu hoá.

Cũng có thể, do một bản năng tự nhiên, hay một tinh thần dân tộc chủ nghĩa nào đó, các tác giả muốn vạch ra những yếu kém của mô hình phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc, để cảnh báo các xã hội phương Tây.

Cũng có thể, họ còn có một tầm nhìn rộng hơn nữa, một tầm nhìn có tính chất chiến lược, ở qui mô toàn cầu.

Nhưng cũng có thể, đó chỉ là do một sự thôi thúc nội tâm có tính chất đạo lý, vì sự thật, vì hạnh phúc của con người, và tương lai chung của cả loài người?

Tác phẩm được viết như một thiên phóng sự, một nhân chứng. Nó không chỉ nêu lên những hoàn cảnh cụ thể, có thật, nói lên những điều mà những con số thống kê không thể nói lên hết được, mà còn truyền được tới người đọc một dòng suy nghĩ, một nỗi lo âu, một lời cảnh báo.

 

 

 

1/ Nạn thất nghiệp ở thành thị

 Từ những năm 90 của thế kỷ trước, với những bước đầu của quá trình toàn cầu hoá, hàng loạt các xí nghiệp quốc doanh TQ bị dẹp bỏ, nhường chỗ cho các xí nghiệp tư nhân. Hàng triệu công nhân bị sa thải. Năm 1998, chỉ riêng trong khâu dệt may, có 660.000 người bị rơi vào hoàn cảnh này; trong lãnh vực dầu khí, 1 triệu người. Các nhà máy cũ nhường chỗ cho các nhà máy mới do nước ngoài đầu tư xây dựng. Công nhân quá 35 tuổi không được nhận vào xưởng làm việc nữa. Một ngày công không phải là 8, 9 giờ, mà là 11, 12 giờ. Công nhân bị sa thải được gọi là xiagang (« hạ cương», từ được tạo ra để làm nhẹ bớt cái ý bị đuổi việc – cương đây là cương vị).

Chủ trương dẹp bỏ các xí nghiệp quốc doanh thực ra đã bắt đầu được thực hiện ngay từ những năm 80 và do chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý. Sự kiện này diễn ra cùng một lúc với việc Đặng Tiểu Bình cho thực hiện chính sách phân quyền về các địa phương. Cũng là một công đôi việc, tránh cho Trung ương khỏi mang tiếng! Nhưng cũng từ đó, nạn tham nhũng lan tràn về các địa phương.

Theo một cuộc điều tra gần đây của Nhà nước, thu nhập bình quân của những người giàu có nhất ở thành thị, lớn hơn gấp 12 lần thu nhập của những người nghèo; 10% nhà có của ở thành thị, chiếm 45% tổng số tài sản, trong khi 10% những người nghèo nhất chỉ chiếm có 1,4% số tài sản này.

Ở các thành phố lớn vùng đông-bắc, nạn thất nghiệp chiếm từ 20 % tới 30% dân số. Ở Phong Đô, một thành phố mới được xây dựng lại một cách rất hoành tráng ở bờ nam sông Dương Tử, gần đập thuỷ điện Tam Hiệp, tỷ lệ này lên tới 60, 70%, vì trên thực tế, đây là một thành phố chết, hoàn toàn thiếu vắng mọi hoạt động kinh tế.

50 năm sau «Bước nhảy vọt» (1958) – một sai lầm về đường lối công nghiệp hoá, đã khiến hàng mấy chục triệu nông dân bị chết oan (nạn đói những năm 1959-1961) – các nhà lãnh đạo địa phương Trung Quốc vẫn còn nghĩ rằng, chỉ cần hô hào, động viên bằng lời nói, là có ngay những người hăng hái đầu tư.

 

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương Tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6USD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

Vấn đề thất nghiệp được tóm gọn lại trong một phương trình đơn giản: năm 2004, số người thất nghiệp là 14 triệu, thêm vào đó là 10 triệu người từ nông thôn đổ ra thành thị kiếm sống hàng năm (Năm 2005, con số này lên đến 13 triệu người). Để đáp ứng nhu cầu, phải cung cấp 24 triệu công ăn việc làm cho những người này, điều mà cho đến nay các giới hữu trách mới chỉ bảo đảm được có một phần ba mà thôi.

Điều nghịch lý, là một đất nước có nhiều người thất nghiệp nhất, lại là nơi có nhiều khách nước ngoài đầu tư nhất, và cũng là nơi mà các doanh nghiệp phương tây chịu di dời cơ sở sản xuất của họ đến nhất. Lý do đơn giản, là vì ở đây họ tìm được nhân công rẻ nhất [Tiền công lao động của một người thợ máy Trung Quốc (0,6U SD/giờ) rẻ gấp 23 lần tiền công của một người thợ máy Pháp (17USD), và gấp 40 lần một người thợ Đức (24USD)] !

2/  Nạn thất nghiệp ở nông thôn (mingong = «dân công» , từ mới để chỉ những người thất nghiệp từ nông thôn đổ lên thành thị kiếm sống, và thường tụ tập ở các chợ lao động («chợ người»), hay ngay trên hè phố – từ này khác với từ dân công trong tiếng Việt, được dùng trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam) :

Hiện nay, Trung Quốc có dân số trên 1,3 tỷ người, mà hai phần ba là nông dân, tức là số nông dân có tới 900 triệu người, trong số đó 600 triệu sống bằng nghề trồng trọt, trên những mảnh ruộng nhỏ li ti.

Năm 1978, Trung Quốc phát động phong trào hiện đại hoá nông thôn, bãi bỏ chính sách tập thể hoá. Người nông dân được phát ruộng, phát đất để trồng trọt, được đem nông phẩm ra chợ bán tự do. Ngay từ năm 1980, đời sống của người nông dân có những bước biến chuyển. Nhưng đến khoảng năm 1990, không thấy người ta bàn bạc, đả động gì đến nông thôn nữa, mà chỉ chú trọng đến sự phát triển của các đô thị, của các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu, và đương nhiên là đến quá trình toàn cầu hoá.

Năm 2004, người ta được thống kê cho biết rằng số dân nghèo đến mức tối đa (tính theo tiêu chuẩn: dưới 75USD/người/năm), lần đầu tiên đã tăng lên sau 25 năm, và đa số những người này là nông dân.

Một vài thí dụ cho thấy sự nghèo khổ tột cùng của họ. Một cậu học sinh trung học ở một huyện lị kia, vì không có tiền để trả tiền học, đã lao mình xuống gầm xe lửa tự tử. Trước đó một hôm, ông đốc trường đã không cho phép cậu thi lên lớp, và bảo rằng : « Không có tiền, không được học ».

Vào mùa xuân năm 2005, đã nổ ra những vụ tranh giành đất đai giữa nông dân và các quan chức địa phương, cũng như đã có những cuộc biểu tình của nông dân chống việc các nhà hữu trách đã để cho các chất thải công nghiệp làm ô nhiễm môi trường của mình.

Như vậy, là sau một thời gian ngắn ngủi, làm ăn bắt đầu khấm khá trở lại vào những năm 80, tình hình nông thôn lại một lần nữa xuống cấp : thuế má ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng, học phí cho con cái tăng, các dịch vụ y tế thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, nạn thất nghiệp tràn lan.

 

Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

Hố sâu giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn. Nếu kể cả những dịch vụ mà người dân đô thị còn được hưởng thêm, thì thu nhập của người dân đô thị bằng sáu lần thu nhập của người dân nông thôn. Khoảng hơn 10% nông dân sống với non 625 nhân dân tệ mỗi năm (62Euro/năm). Mức sống này còn kém hơn cả mức sống bần cùng nhất, theo tiêu chuẩn quốc tế. 11% dân số Trung Quốc thiếu ăn, trong số đó đa số là nông dân.

Nếu tính theo tiêu chuẩn đầu người, mỗi nông dân phải có được 0,66 ha đất nông nghiệp mới có thể làm ăn sinh sống được ở nông thôn. Con tính đơn giản này cho thấy nông thôn Trung Quốc thừa 170 triệu người. Thừa người ở nông thôn, thì người ta chỉ còn cách kéo nhau lên thành thị làm dân công.

Dân công không phải là một người vừa là nông dân, vừa là công nhân. Họ không là gì cụ thể cả. Họ không phải là nông dân, mà cũng không phải là công nhân. Họ làm công nhật,  không có hợp đồng, không có bảo hiểm xã hội, hôm trước hôm sau có thể bị đuổi, mà không kêu ca được với ai. Họ bị cấm không được phép làm một số nghề (danh sách các nghề bị cấm năm 1996, tại Bắc Kinh, là 15 nghề, đến năm 2000 con số này lên tới hơn 100) . Một ngày lao động của họ có khi là 10, 12 tiếng , có khi là 15 tiếng. Họ không có quyền hưởng luật lao động. Một dân công muốn có được một chỗ làm việc, phải « mua » các giấy tờ, thủ tục hành chính, với giá 640 nhân dân tệ, bằng 2 tháng lương. Chế độ « hộ khẩu » được áp dụng chặt chẽ đối với họ.

Mặc dầu vậy, với giá nhân công rẻ mạt, họ đã « được » khai thác có hiệu quả trong các ngành công nghệ xuất khẩu, nơi mà TQ phá kỷ lục về giá thành sản phẩm.

 

Dân công  là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800 nhân dân tệ (80Eu ro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

Dân công  là những người bị đánh thuế nhiều nhất và cũng là những người bị khinh rẻ nhất ở các đô thị. Một cặp vợ chồng dân công, lương tháng mỗi người khoảng 800nhân dân tệ (80Euro), phải trả mỗi tam cá nguyệt 400 nhân dân tệ (40Euro) cho trường học của đứa con, nhiều hơn cả những người dân thành phố cư ngụ tại chỗ.

Nhà nước TQ dự kiến, trong vòng 20 năm,  giảm số nông dân xuống chỉ còn 30% số người lao động của cả nước. Dự kiến này xem ra không thực tế lắm, vì nếu như vậy thì phải chấp nhận hàng năm sẽ có tới 26 triệu nông dân kéo nhau lên thành thị sinh sống, trong khi lúc này chỉ có từ 10 đến 13 triệu. Dẫu sao, dòng thác dân công – mà người ta ước lượng khoảng từ 150 đến 200 triệu – vẫn sẽ đổ vào các thành thị, và giá nhân công nhờ đó sẽ giữ được ngày một rẻ.

Không những nông thôn thiếu đất trồng trọt, mà diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại bởi những xí nghiệp, nhà máy, được di dời về đây. Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia ô nhiễm nhất thế giới. 190 triệu nông dân sống trong một môi trường không lành mạnh, nước sông, nước hồ phần lớn đều bị ô nhiễm.

 

3/ Số phận của những người nữ dân công

 

 

Ở Trung Quốc, những nơi phải sắp xếp, tổ chức lại các xí nghiệp quốc doanh bị dẹp bỏ, phụ nữ là những người đầu tiên bị sa thải hoặc di chuyển. Trong các ngành kỹ nghệ, điều kiện làm việc của những người nữ dân công còn tồi tệ hơn là của nam dân công nhiều. Không lấy gì làm lạ, là sau một thời gian, một số không nhỏ các nữ dân công đã phải bỏ đi làm gái điếm.

Hiện tượng mãi dâm của các cô gái từ nông thôn lên thành thị , từ hơn 20 năm nay, đã trở nên một hiện tượng bình thường dưới mắt mọi người. Phần lớn các cô này đều đã trải qua một thời kỳ làm dân công. Quan hệ tình dục đã trở thành hàng hoá trao đổi, hoàn toàn phù hợp với tâm thức coi đồng tiền là quyền lực tối cao, coi cuộc đời là tiêu xài, hưởng thụ, con người là hoàn toàn vô trách nhiệm đối với xã hội.

Nhiều người – trong đó có những khách du lịch rất nhiệt tình và hồ hởi – khi được viếng thăm các thành phố Trung Quốc, theo các tuyến « tua », cứ ngỡ rằng những biến đổi về mặt xã hội ở những nơi này cũng là những biến đổi chung cho cả đất nước Trung Hoa. Thật ra, không phải thế. Đó chỉ là cái mặt tiền.

Cuộc sống ở đô thị có thay đổi thật, người phụ nữ có được nhiều điều kiện thuận lợi hơn để học hành và làm việc, nhưng Trung Quốc chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp. Ở những vùng trung tâm, như Hồ Nam, An Huy, v.v., nông thôn vẫn không mấy thay đổi. Vẫn những cuộc hôn nhân sắp đặt sẵn, cô dâu về nhà chồng rồi, liền bị cắt đứt liên hệ với gia đình nhà mình. Vẫn những vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em giữa vùng này và vùng khác. Vẫn cái truyền thống «  trọng con trai, khinh con gái ». Chính sách giới hạn « một con » của Nhà nước, khiến cho các cặp vợ chồng phải chọn lựa. Trên 7 triệu trường hợp phá thai mỗi năm, 70% là thai con gái. Vai trò của người mẹ, người vợ, trong nhiều gia đình nông dân đôi khi chỉ dừng lại ở vai trò của người hầu, người ở. Từ những năm 80, sau khi chế độ hợp tác xã bị dẹp bỏ, trở lại phương thức canh tác kiểu gia đình, vai trò của người phụ nữ lại càng bị chèn ép. Bắt đầu từ năm 1990, sự xuống cấp của các khâu giáo dục và y tế ở nông thôn càng làm cho họ bị thiệt thòi. Do sự phân biệt chọn lựa vì quyền lợi kinh tế giữa con trai và con gái, tỷ lệ thất học về phía nữ là 23% năm 1997 (49% năm 1982) ; về phía nam là 9% (21% năm 1982).

 

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.   

Chính sách kinh tế của Nhà nước đối với nông thôn, cộng với các hủ tục còn tồn tại ở đây đối với người phụ nữ, khiến cho họ lâm vào một hoàn cảnh tuyệt vọng. Hiện nay, tỷ lệ tự tử của phụ nữ Trung Hoa thuộc vào hàng cao nhất thế giới.   

 

4/ Giáo dục bị « hy sinh » cho kinh tế

Ở thời đại ngày nay, biết đọc, biết viết không đủ, còn phải biết đôi chút khái niệm khoa học kỹ thuật, phải biết sinh ngữ, để có thể tiếp thu được những công nghệ nhập từ nước ngoài, v.v. Trên thực tế, nhà nước Trung Quốc đã không thực sự quan tâm đến vấn đề này. Năm 2003, ngân quỹ dành cho giáo dục chỉ chiếm có 3,8% tổng sản lượng công nghiệp.

Ngay từ 1999, tại một Hội nghị của Bộ Giáo dục, một chủ trương đă được đề ra, là khuyến khích các gia đình tăng thêm ngân quỹ cho việc giáo dục con cái. Ý đồ là đi đến việc tư lập hoá các trường học. Ở các vùng nông thôn nghèo, các khoản chi phí cho việc học của con cái đối với các bậc cha mẹ lại càng lớn. Cũng bởi vì chỉ có 23% ngân sách giáo dục của nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

 

Chỉ có 23% ngân sách giáo dục của Nhà nước dành cho nông thôn, nơi có 2/3 dân số của cả nước, cho nên gánh nặng về mặt tài chính đổ cả lên đầu các bậc cha mẹ, mà đại bộ phận là nông dân nghèo khổ.

Trong một công trình nghiên cứu về gia đình người nông dân, Isabelle Attané, thuộc Trung tâm nghiên cứu dân số,  viết : « Trong một hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nhiều hơn là nhu cầu xã hội, thì những người dân nghèo khổ nhất, những người không được hưởng thụ những thành quả của sự phát triển, phải trả giá đắt nhất ».

Chính sách của Nhà nước về giáo dục như vậy đã ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng cách về trình độ văn hoá ngày càng xa giữa thành thị và nông thôn (mức sống ở thành thị hiện nay cao gấp 6 lần mức sống ở nông thôn), cũng như giữa con trai và con gái (nạn thất học chiếm 6,6% giới trẻ ở nông thôn, trong đó có 3,6% là con trai, 10% là con gái).

 Điều đáng lo ngại nhất, là giáo dục vốn được coi là một công cụ có khả năng đưa tầng lớp nông dân thoát khỏi nạn nghèo đói, thì nay lại không tới được với họ nữa. Theo Philippe Cohen và Luc Richard, họ vẫn chỉ là một kho dự trữ nhân công rẻ tiền– một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc tạo ra những sản phẩm mới, rẻ, dễ cạnh tranh, dễ kiếm lời trên thị trường toàn cầu hoá.

 

5/ Khó khăn trong việc áp dụng luật pháp

Điều mà các nhà lãnh đạo TQ phải lo thực hiện trước tiên, là làm sao áp dụng được luật pháp, nói chung, trên đất nước mình ! Trong mọi lãnh vực, từ kinh tế, lao động, đến môi trường, có luật pháp là một chuyện (mặc dầu đôi khi luật pháp cũng còn rất mù mờ), nhưng áp dụng nó lại là một chuyện khác.

Chỉ cần lấy một thí dụ : công nghệ làm hàng lậu quy mô quốc tế, chẳng hạn. Người ta cho rằng hiện tượng này chỉ có thể xảy ra với sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của những quan chức địa phương mà thôi.

Các luật lao động thông thường cũng không áp dụng được giữa chủ và thợ, vì luôn luôn có sự can thiệp của chính quyền địa phương bênh vực quyền lợi của ngườI chủ, kẻ có tiền. Lương lậu của thợ thuyền, đặc biệt là của những người dân công, luôn luôn bị trả chậm.

Nhìn chung, ít nhất một nửa số nhân công làm việc trong các xí nghiệp ở quy mô quốc gia, không được hưởng luật pháp. Tại sao lại có tình trạng như vậy ? Đơn giản chỉ vì, nếu tất cả các xí nghiệp áp dụng luật lao động, thì Trung Quốc sẽ mất đi con chủ bài (nhân công rẻ) để cạnh tranh trên thị trường.

Trong lãnh vực môi trường cũng vậy. Sự áp dụng khe khắt các luật lệ về môi trường sẽ động chạm đến các quyền lợi kinh tế. Do đó, luật pháp trong lãnh vực này cũng được để lỏng lẻo, và tuỳ ở các cơ quan hữu trách địa phương có muốn áp dụng hay không. Trường hợp ô nhiễm ở sông Hoài, vùng Hồ Nam, An Huy, là một thí dụ điển hình. Năm 1994, chính quyền Trung ương hạ lệnh làm sạch con sông này, vì cả một vùng dân cư gồm 160 triệu dân bị ô nhiễm. Trên giấy tờ, hàng nghìn xưởng máy bị đóng cửa, di chuyển, hoặc cải tạo theo đúng các tiêu chuẩn, quy phạm. 60 tỉ nhân dân tệ đã được chi ra cho công việc này, nhưng cho đến nay con sông Hoài vẫn bị ô nhiễm hơn bao giờ hết. Đối với chính quyền, thì vấn đề như vậy là đã giải quyết xong rồi : sổ tiền 60 tỉ nhân dân tệ (6 tỉ Euro) đã được chi ra, và vấn đề đã được xoá sổ.

***

Tác phẩm của Philippe Cohen và Luc Richard còn đề cập đến nhiều vấn đề khác nữa, liên quan đến tác hại của mô hình phát triển của Trung Quốc lên nền kinh tế toàn cầu. Song vì giới hạn của bài viết, chúng tôi đã chỉ tập trung trình bày những nhân chứng và nhận xét của các tác giả trên những vấn đề mà chúng tôi cho là liên quan trực tiếp đến Việt Nam, để chúng ta cùng suy nghĩ.

—————–

 

Những con hổ nguy khốn: Châu Á cần một động lực mới cho tăng trưởng

 

Tqvn2004 chuyển ngữ
Bien-Tap biên tập

http://danluan.org/node/49

 

The Economist

 

Lời giới thiệu: Sự đi xuống của thị trường tiêu dùng Mỹ và Châu Âu đã có ảnh hưởng tiêu cực tới những nền kinh tế Châu Á vốn dựa vào thu hút FDI và chính sách hướng xuất khẩu. Theo báo cáo mới đây của chính phủ, kim ngạch xuất khẩu tháng Một năm 2009 giảm 24,2% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi đó lượng FDI vào Việt Nam trong tháng Một chỉ bằng 11% của năm ngoái. Khi thị trường bên ngoài tiêu điều như vậy, thị trường nội địa là một trong những động lực để thúc đẩy nền kinh tế. Làm thế nào để kích cầu nội địa? Lời khuyên của tờ The Economist dành cho các con Hổ Châu Á có lẽ cũng đáng để Việt Nam học hỏi. Tòa soạn Dân Luận xin giới thiệu tới bạn đọc bản dịch này của tạp chí The Economist.

 

 

 

CÓ VẺ NHƯ chẳng có sự công bằng. Đa số các nền kinh tế Châu Á đều là điển hình của sự khôn ngoan. Trong khi các gia đình Mỹ và Châu Âu vay nợ ngập đầu, các gia đình Châu Á chắt chiu cất dấu những khoản dành dụm của mình. Trong khi các ngân hàng ở các quốc gia giàu có đang chất chồng các khoản đầu tư không thể rủi ro hơn, thì các ngân hàng Châu Á luôn kiềm chế để những khoản đầu tư như vậy ở mức thấp nhất. Và trong khi Mỹ và Anh đang vét cạn những khoản dành dụm trên toàn thế giới, chính phủ Châu Á mua vào số lượng lớn cổ phiếu – trái phiếu chính phủ nước ngoài bằng khoản dự trữ ngoại hối.

Thế nhưng nhiều con hổ Châu Á lại bị tổn thương nặng hơn những nền kinh tế “vung tay quá trán” Phương Tây. Trong quý Tư năm 2008, GPD có lẽ đã rớt với tốc độ trung bình bình quân cả năm khoảng 15% ở Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan; lượng xuất khẩu của họ sụt giảm hơn 50% bình quân cả năm. Giá cổ phiếu tại các nước Châu Á đang phát triển giảm một lượng tương đương với đợt khủng hoảng tài chính Châu Á cách đây một thập niên. Cuộc khủng hoảng đó đã bắt nguồn từ sự phụ thuộc quá đáng của Châu Á vào vốn nước ngoài. Bây giờ đây, những con hổ lại gặp rắc rối vì phụ thuộc một cách quá đáng vào xuất khẩu.

Các nền kinh tế đang nổi lên ở Châu Á đã từ lâu được coi là khu vực năng động nhất của thế giới, với GDP tăng bình quân hàng năm 7.5% trong thập niên vừa qua, nhanh gấp 2.5 lần so với toàn thế giới. Chỉ trong mùa hè vừa rồi, nhiều quốc gia trong số này đã được cảnh báo bởi những nhà quan sát nước ngoài rằng họ tăng trưởng quá nhanh và cần tăng lãi xuất để tránh lạm phát. Bây giờ đây, rất nhiều trong số các quốc gia này đang rơi tự do và tình hình có vẻ ngày càng tồi đi.

Trong quý Tư năm 2008, GDP thực giảm với tốc độ so với cả năm là 21% ở Nam Hàn và 17% ở Singapore, dẫn tới lượng sản phẩm ở cả hai quốc gia giảm 3-4% so với năm ngoái. Chính phủ Singapore đã thừa nhận rằng nền kinh tế nước này có thể suy giảm tới 5% so với năm ngoái, đây là lần suy thoái nặng nề nhất kể từ ngày độc lập của Singapore năm 1965. So với Singapore, tăng trưởng 6.8% của Trung Quốc trong năm nay cho tới quý Tư nghe có vẻ lành mạnh, nhưng những ước đoán có điều chỉnh thời vụ cho thấy sản lượng đầu ra của quốc gia này đã chững lại trong 3 tháng cuối năm.

Anh chàng khổng lồ giàu có hơn ở Châu Á, Nhật Bản, chưa báo cáo con số GDP của mình, nhưng xuất khẩu giảm 35% trong 12 tháng cho tới tháng 12. Trong cùng thời gian đó, Đài Loan giảm 42% và sản xuất công nghiệp giảm kinh hoàng 32%, tệ hơn cả cú rớt lớn nhất tính theo năm ở Mỹ trong thời kỳ Đại khủng hoảng.

Những nền kinh tế hướng xuất khẩu của Châu Á đã hưởng lợi hơn nhiều so với các khu vực khác từ sự bùng nổ tiêu dùng ở Mỹ, và vì thế các doanh nghiệp ở đây dĩ nhiên sẽ bị tổn thương nặng bởi sự đảo chiều sụt giảm đột ngột. Xuất khẩu ở Châu Á vốn đã mong manh (xem bảng 1). Và với sự suy giảm 13% của xuất khẩu toàn khu vực trong 12 tháng tới tháng Mười Hai chỉ thua kém tí xíu so với năm 1998 hay 2001, các kỷ lục bất hạnh đó sẽ sớm bị đánh bại.

Cú lao xuống của xuất khẩu càng trở nên trầm trọng hơn bởi sự đổ vỡ của hệ thống tài chính quốc tế, bởi bây giờ khó kiếm được nguồn vốn cho thương mại (trade finance). Giá cổ phiếu sụt giảm trên diện rộng càng làm cắt giảm đầu ra. Thương mại giữa Châu Á với nhau đã giảm còn lớn hơn so với giữa châu lục này và Mỹ hay Châu Âu. Xuất khẩu từ Trung Quốc tới các khu vực còn lại của Châu Á giảm 27% trong tháng Mười Hai so với năm ngoái, phần nào phản ánh nhu cầu thấp hơn cho các linh kiện lắp ráp tạo ra sản phẩm để tái xuất khẩu.

Bảng 1

Những con số xuất khẩu gây kinh hoàng đó chưa phải là toàn bộ nguyên nhân cho sự phiền muộn ở Châu Á. Nếu nhìn kỹ các con số khác, người ta thấy ở phần lớn các quốc gia này, nhập khẩu còn giảm nhiều hơn cả xuất khẩu, và đó là phần lớn bởi nhu cầu nội địa suy yếu.

Ví dụ tại Trung Quốc, tiêu dùng nội địa suy yếu – đa phần là kết quả của sự sụp đổ trong lĩnh vực xây dựng nhà ở – đã chiếm quá nửa tốc độ suy giảm của quốc gia này năm 2008. Ở Nam Hàn, xuất khẩu thực thực ra đã đóng góp dương vào tăng trưởng GDP trong quý Tư, trong khi chi tiêu tiêu dùng và đầu tư cố định rớt với tốc độ bình quân cả năm là 18% và 31%. Nam Hàn là một ngoại lệ so với quy luật “khôn ngoan” của Châu Á. Các gia đình Nam Hàn nợ nần tới 150% so với thu nhập có thể sử dụng của họ, thậm chí còn cao hơn cả Mỹ. Hệ thống ngân hàng, nơi đã vay mượn nước ngoài một cách mạnh mẽ để chi trả cho làn sóng vay mượn trong nước cũng đã bị tổn thương nặng nề với sự đổ vỡ của thị trường tài chính thế giới, làm cho các công ty của quốc gia này khó kiếm nguồn vốn đầu tư cho mình.

Chi tiêu tiêu dùng nội địa cũng sụp đổ ở các nơi khác. Trong 12 tháng vừa qua, bán lẻ sụt giảm 11% ở Đài Loan, 6% ở Singapore và 3% ở Hồng Kông. Là các trung tâm thương mại lớn, hai quốc đảo trên đã bị tơi tả bởi cơn bão toàn cầu. Cả hai đều cầm nắm lượng cổ phiếu lớn, do đó sự trao đảo của thị trường chứng khóa và giá hàng hóa đã làm người dân hoảng sợ không dám tiêu dùng. Ở Hồng Kông, giá nhà trung bình đã giảm khoảng 20% kể từ mùa hè và Goldman Sachs, một ngân hàng đầu tư, dự đoán sẽ tiếp tục giảm 30% nữa tới giữa 2010.


Bảng 2

Một báo cáo gần đây của Frederic Neumann và Robert Prior-Wandesforde, hai nhà nghiên cứu kinh tế tại HSBC, một ngân hàng lớn, lập luận rằng Châu Á đang phải gánh chịu hai cuộc khủng hoảng: Một nội địa và một quốc tế. Cầu nội địa được coi là phải hứng chịu cú đập của sự sụt giảm xuất khẩu, nhưng thực ra nó bị tác động bởi hai lực. Thứ nhất, đó là sự tăng giá đột ngột của thực phẩm và năng lượng trong nửa đầu của năm 2008 làm lợi nhuận của các công ty, cũng như mãi lực tiêu dùng sụt giảm. Thực phẩm và năng lượng là hai thứ chiếm phần lớn ngân sách gia đình ở Châu Á, so với đa số các khu vực khác. Thứ hai, ở một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Nam Hàn và Đài Loan, các chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm “điều trị” lạm phát đã làm nghẹt hơn nữa cầu tiêu dùng. Đánh giá lại, người ta thấy rằng các chính sách hạn chế tín dụng của Trung Quốc để hạ nhiệt khu vực bất động sản của nó đã có tác dụng “quá tốt”.

Hai cuộc khủng hoảng thúc đẩy lẫn nhau. Một phần của sự suy giảm chi tiêu quốc nội dẫn tới ít thứ để xuất khẩu hơn, làm cho các công ty phải cắt giảm đầu tư và đuổi bớt công nhân. Điều này làm cho không ai có thể nói rằng nguyên nhân nội địa hay quốc tế là nguyên nhân chính dẫn tới sự đau đớn của Châu Á. Sự coi trọng xuất khẩu của các nền kinh tế thần kỷ ở Châu Á đã từ lâu là điều gây tranh cãi. Những con số thô sơ cho thấy, trung bình, các quốc gia đang trỗi dậy ở Châu Á xuất khẩu khoảng 47% của GDP, so với 37% của 10 năm trước. Con số thực tế biến động từ 14% ở Ấn Độ tới 186% ở Singapore (xem bảng 2). Ở Nhật Bản, một quốc gia được coi là có nền kinh tế hướng xuất khẩu, xuất khẩu chỉ chiếm có 16% GDP.

Nhưng tỉ lệ này không thể hiện đúng mức sự lệ thuộc của một quốc gia vào cầu từ bên ngoài, nếu xuất khẩu có hàm lượng nhập khẩu cao. Trung Quốc xuất khẩu chiếm tới 36% GDP, nhưng một nửa trong số đó là “xuất khẩu dạng gia công”, trong đó chứa rất nhiều linh kiện nhập khẩu. Do đó ảnh hưởng lên tăng trưởng GDP của sự sụt giảm trong xuất khẩu sẽ được phần nào bù trừ nếu nhập khẩu giảm theo. Ước tính cho thấy lượng giá trị gia tăng nội địa từ hàng xuất khẩu Trung Quốc ở mức khiêm tốn hơn là 18% GDP.

Một thước đo khác về mức độ quan trọng của xuất khẩu là sự thay đổi của lượng xuất khẩu thực trên các con số thực tế. Giữa năm 2002 và 2007, mức độ tăng trưởng xuất khẩu thực chỉ chiếm 15% tốc độ tăng trưởng GDP thực ở Trung Quốc. ngược lại, xuất khẩu thực chiếm một nửa mọi tăng trưởng ở Singapore và Đài Loan. Tuy nhiên, thước đo này không chỉ ra được ảnh hưởng tổng thể, bởi nó bỏ qua các hiệu ứng phụ của xuất khẩu tới những thứ như triển vọng kinh doanh, đầu tư, thị trường việc làm và chi tiêu tiêu dùng. Dù cách này hay cách khác, các nền kinh tế nhỏ hơn như Hồng Kông, Singapore và Đài Loan, đều phụ thuộc xuất khẩu nặng nề. Các nền kinh tế khổng lồ, Trung Quốc và Ấn Độ, đỡ phụ thuộc xuất khẩu hơn.

Sự phục hồi của Châu Á từ cuộc khủng hoảng lần trước được dẫn dắt bởi sự gia tăng xuất khẩu tới các quốc gia giàu có trên thế giới. Đây là điều khó xảy ra trong tương lai gần. Câu hỏi đặt ra là, liệu nhu cầu trong nước có tăng lên để che lấp bớt sự ế ẩm của nền kinh tế? Có những lý do để nghĩ như thế. Giá hàng hóa giảm đang kích thích sức mua của người tiêu dùng, ngược lại với chiều hướng của năm ngoái. Quan trọng hơn là tác động của sự nới rộng tài chính và tiền tệ.

Ngoại trừ Nam Hàn và Ấn Độ, Châu Á vẫn chưa chịu các vấn đề tài chính đang làm phương Tây khốn đốn. Các nhà nghiên cứu kinh tế HSBC nhận định rằng khu vực này có lẽ chỉ chịu một cái nhéo tín dụng hơn là sự đổ vỡ trên diện rộng. Trái ngược với Mỹ và Châu Âu, nơi mà nợ nần chồng chất sẽ ngăn cản chi tiêu trong nhiều năm tới, đa số gia đình và doanh nghiệp Châu Á (ngoại trừ Nam Hàn) có số nợ khá khiêm tốn. Và bởi vì hệ thống ngân hàng lành mạnh hơn, các ngân hàng Châu Á có lẽ sẽ không phản ứng giống các ngân hàng phương Tây bằng cách từ chối cho vay trong khủng hoảng. Do đó, việc giảm lãi suất và xoa dịu kiểm soát tín dụng sẽ có hiệu quả hơn bất kỳ nơi nào. Không kém phần quan trọng là sự giải cứu thị trường tài chính quy mô lớn của các chính phủ Châu Á. Điều này cũng tỏ ra sẽ hiệu quả hơn ở các nơi khác, bởi khu vực kinh tế tư nhân ở đây đang làm ăn tốt hơn và sẽ có khả năng đáp lại bằng cách chi tiêu nhiều hơn.

Châu Á chưa bao giờ triển khai vũ khí tài chính và tiền tệ của mình mạnh mẽ như hiện nay. Mỗi quốc gia trong khu vực đều cắt giảm lãi suất và thông báo gói kích thích kinh tế. Trong lần suy sụp kinh tế trước đây, chính phủ Châu Á thường bị hạn chế bởi những chỉ trích về tài chính công, hoặc nhu cầu bảo vệ giá trị đồng bản địa. Nhưng lần này họ bước vào chu kỳ suy sụp kinh tế với thâm hụt ngân sách nhỏ, hoặc thậm chí thặng dư ngân sách. Các nền kinh tế đang trỗi dậy chính của Châu Á, trừ Ấn Độ, đang có tỉ lệ nợ quốc gia trên GDP tương đối thấp.

Mặc dù kích thước thực của các gói kích thích tài chính ở một số quốc gia, đáng kể nhất là Trung Quốc, có lẽ sẽ nhỏ hơn các con số báo chí đưa, chúng vẫn gây ấn tượng. Sau khi chỉnh lý những con tính bị trùng lặp và các thước đo không thực tế, Trung Quốc, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan sẽ bắt đầu hưởng gói kích thích tài chính ở mức ít nhất là 3% GDP trong năm 2009. Trung Quốc đã ra tín hiệu rằng sẽ còn có biện pháp tiếp theo trong vòng vài tháng tới; quốc gia này chắc chắn có thể chi thêm. Ngày 22/01/2009, chính phủ Singapore đã tuyên bố một gói các biện pháp tương đương với 8% GDP. Đây là lần đầu tiên, khoản chi tiêu như thế này được tài trợ bằng cách rút từ quỹ dự trữ khổng lồ của chính phủ Singapore.

Sự hiệu quả của việc nới lỏng các chính sách tài chính phụ thuộc vào cấu trúc, cũng như kích thước của nó. Giảm thuế thu nhập được đưa ra ở Nam Hàn và Đài Loan sẽ chỉ có ảnh hưởng khiêm tốn nếu tiền đó được dành dụm thay vì đưa vào chi tiêu. Thuế doanh nghiệp, được đưa ra ở Singapore, có thể không kích thích đầu tư nếu lợi nhuận đang trên đà sụt giảm. Chính quyền Đài Loan đang nỗ lực kích thích chi tiêu tiêu dùng bằng cách phát ra những phiếu mua hàng trị giá 3.600 tiền Đài Loan (tương đương 107USD) cho mỗi công dân của mình. Các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn nghi ngờ rằng việc làm này sẽ tạo ra làn sóng tiêu dùng mới, nhưng cơ chế này đang được theo dõi khá sát bởi các chính phủ Châu Á khác.

Điều hứa hẹn hơn cả là việc các quốc gia đang lên kế hoạch kích thích chi tiêu vào cơ sở hạ tầng. Trong ngắn hạn, đây là cách tốt nhất để chính phủ thúc đẩy cầu và tăng việc làm; trong dài hạn, những xa lộ và đường xe lửa sẽ thúc đẩy sản xuất. Thắt chặt tài chính trong các quốc gia đang trỗi dậy ở Châu Á sau khủng hoảng 1998 đã khiến chính phủ cắt giảm vốn đầu tư; và kết quả là cơ sở hạ tầng công cộng ở một số quốc gia, đáng kể là Indonesia và Thái Lan, bây giờ có lẽ tồi hơn so với một thập niên trước đây. Do đó có nhiều cơ hội để chi tiêu lớn hơn vào cơ sở hạ tầng.

Nếu (vẫn là một chữ NẾU lớn) Trung Quốc và các quốc gia khác thực hiện đầy đủ kế hoạch kích thích kinh tế của họ, cầu nội địa sẽ bắt đầu khôi phục trong nửa thứ hai của năm nay, ngay cả khi xuất khẩu vẫn yếu đuối. Tăng trưởng trung bình ở các quốc gia đang trỗi dậy Châu Á có thể chỉ ở mức 4-5% cả năm, bằng một nửa so với tốc độ tăng trưởng của nó năm 2007, và là chậm nhất kể từ sau khủng hoảng kinh tế Châu Á. Nhưng nó vẫn còn tốt hơn là cú tụt 2.4% năm 1998 (xem bảng 3). Con số trung bình đó che dấu một biên độ biến đổi rất rộng. Nền kinh tế Hồng Kông, Singapore, Nam Hàn và Đài Loan sẽ tăng trưởng âm trong năm nay, trong khi các nền kinh tế lớn hơn, nhưng ít cởi mở hơn, như Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia sẽ duy trì ở mức tốt hơn.

Mua sắm hay dành dụm

Tuy nhiên, các chính phủ ở Châu Á có nhiều thứ phải lo lắng hơn, ngoài tốc độ tăng trưởng. Sau khủng hoảng hiện thời, tăng trưởng sẽ do đâu mang lại? Sự bùng nổ tiêu dùng và mở rộng thâm hụt ngân sách Mỹ, điều đã đem lại phần lớn tăng trưởng cho Châu Á thập niên vừa qua, đã đi đến chỗ kết thúc. Thời kỳ vung tay quá trán của Mỹ có lẽ sẽ không lặp lại như một chu kỳ. Trong những năm tới, Mỹ sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn và nhập khẩu ít đi. Sự tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của Châu Á, vì thế, dường như đã tới giới hạn của nó.

Nó cần có một động cơ khác cho tăng trưởng: trong tương lai, nó sẽ phải dựa nhiều hơn vào nhu cầu nội địa, đặc biệt là tiêu dùng. Trong những năm gần đây, nó đã làm điều trái ngược: chi tiêu tiêu dùng đã giảm trong cấu trúc GDP, trong khi đó xuất khẩu và đầu tư đã leo lên (xem bảng 4). Hai thập niên trước, chi tiêu tiêu dùng chiếm 58% GDP của Châu Á. Tới năm 2007, con số này giảm xuống 47%. Chi tiêu tiêu dùng ở Trung Quốc chỉ chiếm 36% GDP, một nửa con số của Mỹ. Một phân tích bởi CLSA, một công ty môi giới, cho thấy tỉ trọng xuất khẩu trên GDP hiện tại vượt quá tiêu dùng cá nhân trong 6 trên 11 quốc gia Châu Á mà nó theo dõi.

Làm thế nào để Châu Á thúc đẩy tiêu dùng? Điều này phụ thuộc vào lý do tại sao nó đi xuống hiện tại. Một lý giải thường thấy là các gia đình Châu Á đang cố gắng tiết kiệm phần lớn thu nhập của mình để tránh những rủi ro về lương hưu và phúc lợi xã hội – một mối lo càng ngày càng tăng trong cuộc khủng hoảng.

Nhưng lý giải này có gì đó không hoàn toàn phù hợp với thực tế. Tại nhiều quốc gia, đáng kể là Nam Hàn và Đài Loan, tiết kiệm của các gia đình đã giảm tương đối với thu nhập trong thập niên vừa qua; ở Trung Quốc, chúng tương đối bằng phẳng (sự gia tăng của tốc độ tiết kiệm ở Trung Quốc tới từ các công ty và chính phủ, chứ không phải từ các gia đình).

Nếu các gia đình không tiết kiệm nhiều hơn, tại sao lại có sự hao hụt trong phần đóng góp vào GDP? Câu trả lời là vì thu nhập từ lương đã giảm tương đối so với GDP. Ở Trung Quốc, đóng góp từ lương giảm từ 53% năm 1998 xuống 40% năm 2007.

Một lý do là số lượng công việc tạo ra ít đi vì chính phủ khuyến khích các ngành công nghiệp thâm dụng vốn (capital-intensive). Trên khắp Châu Á, và đặc biệt là Trung Quốc, lãi suất thấp đã khuyến khích đầu tư và các chính sách như giữ tỷ giá hối đoái thấp và bảo trợ đã ưu tiên cho sản xuất thay vì các dịch vụ thâm dụng lao động (labour-intensive service).

Do đó nếu Châu Á muốn dịch chuyển động lực tăng trưởng của mình sang hướng tiêu dùng, phương thuốc thường dùng là thúc đẩy các gia đình chi tiêu nhiều hơn là chưa đủ. Các chính sách của chính phủ sẽ phải thay đổi để nâng thu nhập của các gia đình lên. Chúng bao gồm: Từ bỏ sự thiên vị về hướng sản xuất thâm dụng vốn; thúc đẩy tự do hóa thị trường tài chính để giảm chi phí vốn; cắt các bảo hộ và miễn giảm thuế dành riêng cho các ngành sản xuất, thay vì dịch vụ; và tấn công các cơ sở độc quyền và các rào cản khác tới các ngành dịch vụ. Một tỷ giá hối đoái mạnh hơn cũng sẽ giúp dịch chuyển khỏi tăng trưởng nhờ xuất khẩu, và thúc đẩy mãi lực của các gia đình nhờ giảm chí phí nhập khẩu, xét trên khía cạnh đồng tiền bản địa.

Ngược lại, một số ở Trung Quốc đang dại dột kêu gọi phá giá đồng Nhân Dân Tệ để hỗ trợ nền kinh tế. Điều này không có mấy ích lợi thúc đẩy xuất khẩu, vì xuất khẩu đang tổn thương bởi thiếu vắng nhu cầu hơn là vì thiếu sự cạnh tranh, nhưng nó lại ngăn cản các thay đổi kinh tế cần thiết.

Ngay cả nếu tiết kiệm của các gia đình giảm xuống, chúng vẫn ở mức cao, ở khoảng 20% tại Trung Quốc và Đài Loan. Điều này phản ánh tâm lý giới trẻ muốn tiết kiệm cho tuổi già. Một nghiên cứu của IFM tiên đoán rằng khi dân số già cỗi và những người về hưu này sử dụng khoản tiết kiệm của mình, nó sẽ đẩy tỉ lệ tiêu dùng trên GDP ở một số quốc gia lên 8 điểm phần trăm hoặc hơn trong thập niên tới.

Từ từ hồi phục

Những thay đổi trong chính sách cũng có thể giúp giảm mức độ tiết kiệm. Ở các hệ thống tài chính phát triển kém, các gia đình khó kiếm được các khoản vay và do đó cần phải tiết kiệm cho những lúc cần tới. Tạo ra con đường thông thoáng để các gia đình có thể vay sẽ giúp giảm mức độ tiết kiệm. Nhưng trong bối cảnh bùng nổ tín dụng và tan vỡ như thế này, các chính phủ sẽ phải cực kỳ thận trọng trong cải cách tài chính.

Việc thiếu vắng hệ thống phúc lợi xã hội đầy đủ cũng là nguyên nhân khiến người ta để dành. Như thế, chi tiêu lớn hơn vào y tế, giáo dục và hỗ trợ phúc lợi có thể khuyến khích các gia đình giảm tiết kiệm và tăng chi tiêu. Do đó, trong bản tin gần đây, Trung Quốc tuyên bố sẽ dành 850 tỉ Nhân Dân Tệ (125 tỉ USD) trong 3 năm tới để cung cấp chăm sóc sức khỏe cơ bản tới ít nhất 90% dân số vào năm 2011 là điều đáng khuyến khích. Nhưng chi tiết về kế hoạch này còn rất sơ sài.

Sau cuộc khủng hoảng Châu Á, nhiều người ngoại quốc đã quá vội vã kết luận rằng sự thần kỳ của khu vực đã chết. Các nền kinh tế đó sống trở lại không phải chỉ bởi khẩu vị của những người tiêu dùng Mỹ, mà còn bởi Châu Á vẫn còn những yếu tố quan trọng cho sự phát triển: năng suất ngày càng tăng; có nhiều khoản tiết kiệm để dành cho đầu tư; các rào cản nhập khẩu còn thấp đủ để kích thích cạnh tranh. Những thứ đó sẽ giúp Châu Á tiếp tục là khu vực tăng trưởng nhanh nhất của thế giới. Nhưng những công nhân và người tiêu dùng phải được hưởng miếng lớn hơn từ miếng bánh thu được.

Tỉ lệ tiêu thụ và vay mượn thấp của Châu Á đồng nghĩa với việc nó có thể lợi dụng tiêu dùng như một động lực phát triển trong thập niên kế tiếp. Trong lần khủng hoảng trước đây, Châu Á đã phải uống thứ thuốc không chữa đúng bệnh. Đi ra phố và tiêu tiền nhiều hơn chắc chắn sẽ tạo sự thay đổi tốt đẹp.


Posted in Chính Sách Đối Ngoại, chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Chinh Tri Hoa Ky | Tagged: | 7 Comments »