Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Truyện Ngắn’ Category

►Nguyện ước cuối

Posted by hoangtran204 on 13/12/2015

Nguyện ước cuối

5-12-2015

(Viết tưởng nhớ người anh em, người bạn vừa rời cõi tạm để trở về với đất)

Tác giả: 

 

chiatay
Có mấy tháng không gặp, thế mà hắn đã biến dạng một cách ghê gớm. Tuy còn tỉnh táo và minh mẫn, nhưng hình hài hắn như bộ xương khô đang cựa quậy trên giường. Thấy tôi, hắn tắt Tivi, hơi xoay người, bấm nút, đẩy đầu giường lên cao, và chống tay định đứng dậy. Tôi bảo, hãy ngồi yên như vậy. Hắn cười, với cái cười rúm ró thay cho lời chào. Tôi nắm chặt bàn tay gầy, tái nhợt của hắn, hỏi: Có khá hơn không? Hắn lắc lắc cái đầu, vẫn không bỏ được tính diễu cợt: Bệnh này làm sao mà khá được hả bác, cầm cự như thế này là tốt lắm rồi. Ở Việt Nam, em nghẻo củ tỏi từ lâu rồi.
Bệnh viện ít bệnh nhân, nên chỉ có mình hắn trong phòng đôi. Do vậy, tôi ngồi chuyện trò với hắn khá lâu và thoải mái. Ước muốn cuối cùng của hắn là được gặp thằng con trai, chưa từng biết mặt, và trong hoàn cảnh hiện nay, có lẽ tôi giúp được hắn. Tôi bảo, sẽ cố gắng và thử xem, bởi công việc bới gợi lại quá khứ buồn cho cả hai gia đình, nhạy cảm, tế nhị lắm. Nhưng hắn có vẻ tự tin: Bác viết văn, viết báo, quen biết Hòa Thượng Thích Như Điển và các bác trên Chùa Viên Giác, nơi vợ chồng Đào đã được Hòa Thượng quy y. Bác nhờ các cụ ở trên đó, nói cho mấy tiếng, chắc gia đình Đào đồng ý thôi…

Đến giờ bác sỹ thăm bệnh buổi chiều, tôi đành đứng dậy, tạm biệt hắn. Hắn buông tay tôi, bất chợt, nơi hốc mắt khô khốc lăn ra những giọt nước đục mờ, chảy dốc xuống. Không dám nhìn thẳng vào những giọt nước mắt ấy, tôi vội quay mặt, và an ủi hắn cứ yên tâm tĩnh dưỡng, sẽ tìm cách khác, cùng bất đắc dĩ mới phải nhờ đến Hòa Thượng.

Hắn là họ hàng xa bên mẹ tôi. Tuy lớn tuổi hơn, nhưng hắn vẫn gọi tôi bằng anh, bởi mẹ tôi ở ngành trên của bố hắn, cùng dòng họ Đặng làng Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định. Ngày còn sống, mẹ tôi hay phàn nàn, Hành Thiện tuy thanh bần, nhưng đất học. Không hiểu sao nảy nòi ra bố hắn không chịu học hành, từ nhỏ đã bỏ nhà lang thang bụi đời, nghe nói là đệ tử của ông Trần Quốc Hoàn (Bộ trưởng công an), sau đó còn tham gia vào lực lượng an ninh nha cảnh sát. Có lẽ, bị ám ảnh bởi những vụ bắt bớ, bắn giết, nhất là sau vụ Ôn Như Hầu (1946), bố hắn chán nản, bỏ về quê, theo nghề đóng cối xay.

Hắn được phôi thai không biết bởi vì tình, hay vì rượu giữa ông phó cối với người đàn bà góa, trong một lần được thuê đóng cối, ở vùng biển Nghĩa Hưng. Khi hắn cất tiếng khóc chào đời, là lúc mẹ hắn qua đời bởi băng huyết, dưới bàn tay đỡ của bà lang vườn. Do vậy, ông bố trút buồn vào hắn bằng cái tên Đặng Huy Đắng. Sau đó, bố hắn buộc phải đưa hắn trở về quê nhờ gia đình, họ hàng nuôi dưỡng. Khi đã biết chạy nhảy, hắn được bố cho theo đóng cối khắp vùng. Chính vì thế, việc học hành của hắn thường bị gián đoạn. Nhưng chẳng hiểu thế quái nào, hắn học rất giỏi, có năm còn nhảy cóc, dù bị chuyển trường, chuyển lớp liên tục. Có lẽ, vượng khí đất học Hành Thiện vẫn còn vận vào hắn chăng?

Năm 1971, đang học năm cuối, hắn và đa số bạn cùng lớp được đặc cách tốt nghiệp cấp 3, nhập ngũ, chi viện quân số cho chiến trường miền Nam. Trước khi hành quân vào Nam, thấy cái tên Đắng (cay), bôi bác mất lập trường quá, nên ban chính trị, quân lực mới quyết định, bỏ dấu sắc đi, từ đó hắn có tên mới Đặng Huy Đăng.

Mới chỉ sớm sang thu, vậy mà lá đã trải vàng lối đi. Con đường chạy tắt qua cánh rừng nhỏ vồng lên, tụt xuống vòng vèo, tưởng chừng xe đang lạc vào vùng lòng chảo. Gió từng cơn như ngọn roi quất xuống. Lá bay lên, lượn xuống đập rào rào vào thành, vào kính xe. Xe quẹo theo đường chỉ dẫn, bất chợt trước mặt một thị trấn cổ kính, sầm uất, uốn lượn theo những sườn đồi. Tuy sầm uất và cách không xa thành phố Freiburg, nhưng thị trấn dường như được tách biệt, có một khoảng không riêng của mình vậy. Sự tĩnh lặng, trầm mặc đó, có lẽ là đặc trưng riêng của thị trấn vùng biên Đức, Thụy sĩ.

Nhà chị Đào nằm trên con phố cổ, dành cho người đi bộ của trung tâm thị trấn. Có lẽ, do Dũng Gù gọi điện báo trước, nên tới nơi, thấy chị đẩy xe lăn cho chồng lòng vòng trước cửa, chờ chúng tôi. Tôi quen thân Dũng Gù ở trại tị nạn Tây Berlin và Ingelheim, khi anh làm công tác thiện nguyện vào những ngày bức tường Berlin sụp đổ (1989). Anh nguyên lính không quân của Việt Nam Cộng Hòa và có vợ người Vĩnh Phú, là công nhân lao động thời Đông Đức. Do vậy, trong anh dường như không có khoảng cách Bắc Nam hay thuyền nhân, tường nhân, hoặc công nhân lao động. Tuy nhiên, tư tưởng chính kiến của anh rất rõ ràng, nên tiếp xúc với anh có cảm giác rất tình người và dễ chịu. Trong một lần điện thoại thăm hỏi nhau, tôi vô tình kể chuyện về Đặng Huy Đăng cho anh. Anh bảo, anh quen vợ chồng anh chị Đào, Khiêm và biết thằng cu Hải từ khi còn bé tí. Tuy không thật thân, không đi cùng một con tầu vượt biển, nhưng trước đây anh cùng đơn vị, cùng vào tù cải tạo với anh Khiêm. Nhưng được hơn năm, anh Khiêm trốn trại. Hiện nay, thỉnh thoảng vẫn gặp nhau ở những sinh hoạt cộng đồng. Tôi hỏi, anh có thể giúp cho hắn được không? Anh vui vẻ nhận lời với điều kiện, tôi phải qua Mainz đón anh cùng đi.

Khi Dũng Gù giới thiệu tôi, anh chị Đào, Khiêm cười đùa: Biết Đỗ Trường trên báo Viên Giác đã mấy chục năm rồi, cứ tưởng là ông già khú đế, không ngờ trông vẫn còn ngon cơm ra phết.

Đã quá trưa, câu chuyện chiến tranh, người lính, tù đày rồi đến vượt biên, và bạn bè ai còn, ai mất giữa Dũng Gù và anh Khiêm vẫn chưa đến hồi kết. Chị Đào điện cho quán dưới nhà mang đồ ăn lên. Tôi cản chị, bọn em đã ăn trên Autobahn rồi. Chị cười, khách đường xa đến là phải cơm nước, không thì chủ nhà làm sao mà yên tâm. Đây là quán nhà mình, khi anh Khiêm chưa bị tai biến mạch máu não, anh chị vẫn tự làm, nhưng năm, sáu năm nay, cho thuê toàn bộ và cả căn hộ áp mái trên.

Anh Khiêm tuy nói năng còn một chút khó khăn, nhưng tỉnh táo và minh mẫn, anh bảo, đang luyện tập để có thể tự đi lại được. Anh xin lỗi, không được phép dùng rượu. Tôi phải lái xe cũng không được phép, nên trong bữa cơm chỉ có Dũng Gù uống. Uống một mình, tuy hơi buồn, và Dũng Gù có lẩm bẩm, phàn nàn đôi chút. Nhưng quả thật, nếu không có rượu, không thể gây cho anh cảm hứng “hót“ làm cho anh Khiêm, một con người yêu và ghét rất cực đoan, phải vui vẻ đồng ý để Đặng Huy Đăng và thằng Hải nhận cha con.

Cơm rượu xong, Dũng Gù lên cơn nghiền thuốc. Anh và anh Khiêm kéo nhau ra Balkon ngoài phòng khách ngồi. Phòng ăn còn lại chị và tôi. Biết tôi là người bà con cũng là bạn lâu năm của hắn, cũng như mục đích đến với gia đình chị hôm nay, chị nói luôn:

-Hôm trước anh Dũng Gù điện thoại, nói chuyện với chị khá lâu. Với chị và cháu Hải không có vấn đề, nhất là trước hoàn cảnh bệnh tật, không biết sống chết lúc nào của Đăng. Nhưng với anh Khiêm chồng chị, nếu suy nghĩ căng thẳng, hoặc bị sốc, dẫn đến tai biến lần hai là đi luôn. Nên chị phải thật từ từ và tế nhị. Hoàn cảnh mất mát, đau thương trước đây của anh Khiêm, và tình cảm, hy vọng anh ấy đã dành cho cho cháu Hải thế nào, chắc anh Dũng Gù đã kể với em?

-Vâng! Em đã biết. Nên hôm nay, em đưa anh Dũng Gù đến nói chuyện với anh Khiêm. Có lẽ, cùng là người lính, đã qua tù tội và mất mát, các anh ấy dễ sẻ chia với nhau hơn.

– Chị cũng nghĩ vậy, và linh cảm anh Khiêm đã biết chuyện này khá lâu rồi. Nhưng anh không hỏi và chị cũng chưa biết bắt đầu câu chuyện như thế nào với anh ấy…

– Có thể cả hai đều tế nhị, chờ những câu nói trước của nhau mà thôi, phải không chị?

Nghe tôi hỏi câu này, dường như nét mặt chị hơi bị sững lại. Tuy không trả lời, nhưng tôi hiểu được sự day dứt, giằng xé trong lòng chị. Chị và anh Khiêm đều cần một cái chìa, hay sự xúc tác ban đầu để mở cái ổ khóa của lòng mình.

Và có thể Dũng Gù chính là người dẫn nguồn xúc tác đó…

Tôi muốn biết, chị và Đặng Huy Đăng gặp nhau trong hoàn cảnh nào. Chị cười buồn: Trong chiến tranh và cay đắng, nhưng em đừng viết thành truyện đấy nhé. Vâng! Nỗi đau và sự trớ trêu đó đâu có phải của riêng chị, của Đăng, của Khiêm mà của cả dân tộc này. Và khi nào chị cho phép, chắc chắn em sẽ viết…

Chị sinh ra và lớn lên trong gia đình khá giả ở một quận ven Đà Nẵng. Ba chị làm nghề xây dựng, nên thường cuối tuần mới về. Nhà vắng vẻ, do vậy mấy căn phòng ở dãy nhà ngang, ba mẹ chị cho vợ chồng ông thày dạy trung học thuê. Lúc này, chị đã bỏ học ở nhà phụ mẹ bán hàng. Thấy vợ chồng ông giáo hiền lành, cởi mở, nên chị thường xuyên qua lại.

Rảnh rỗi, vợ chồng ông giáo hay chuyện trò, giảng giải về xã hội, con người và chiến tranh cho chị. Lúc đầu, chị không hiểu và không quan tâm nhiều. Nhưng dần dà chị thấy hấp dẫn, hứng thú bởi sự công bằng bắc ái, với tương lai xán lạn của Chủ Nghĩa Cộng Sản, dưới sự dẫn dắt ngọt ngào của ông thày. Từ đó, quan hệ giữa chị và vợ chồng ông giáo trở nên thân mật, gần gũi như người trong nhà. Kỳ này, khách qua lại nhà vợ chồng ông hơi nhiều. Chị giúp họ mua bán, liên lạc thư từ một cách hồn nhiên. Sau nhiều lần thử thách như vậy, vợ chồng ông giáo thổ lộ với chị, họ là người của phía bên kia, và muốn giới thiệu chị với tổ chức. Và chị đồng ý, từ đó chị nằm trong tổ của vợ chồng ông, thuộc một tổ chức nội thành. Sau tết Mậu Thân 1968, vợ chồng ông giáo nguy cơ bị lộ, bởi cơ sở đã bị đánh phá, nhiều người nằm vùng đã bị bắt. Trong hoàn cảnh đó, chị buộc phải trốn gia đình, theo vợ chồng ông giáo ra Đặc Khu Quảng Đà, ở cái tuổi mười bảy.

Không phải đến khi chuyển về Ban tài mậu chị mới biết Đặng Huy Đăng, mà khi còn bên giao vận chị đã đôi, ba lần gặp hắn. Đăng là lính của một đơn vị hậu cần thuộc Quân khu 5, nên hắn cũng phải đi lại và có nhiều mối quan hệ với các đơn vị quanh vùng. Mấy lần đầu gặp, dường như hắn chẳng để lại một chút ấn tượng, ngoài cái nhỏ tuổi, vào chiến trường sau chị đến những ba năm, nhưng không bao giờ chịu làm em. Sau này, tiếp xúc va chạm nhiều, đột nhiên chị đâm ra yêu quí cái tính khôi hài, vô tư của hắn.

Cuối năm 1973, trong một lần vào thành, công việc xong, chị trở về thăm nhà. Cổng vẫn ổ khóa cũ, nhà chính tối om, cửa khóa, nghe có tiếng ở nhà ngang, chị nhẹ bước, qua khe cửa thấy người bác họ trông nhà ngồi đó. Lách cửa vào, người bác nhận ra chị, và cho biết: Cha mẹ đã chuyển vào Sài Gòn từ mấy tháng trước, để lại địa chỉ và khuyên chị nên về nhà. Chị đã nhận được nhiều lần về những lời khuyên, lời nhắn gửi từ cha mẹ, nhưng có lẽ lần này buồn và hụt hẫng nhất, làm cho chị phải suy nghĩ nhiều. Bước chân quay trở lại đơn vị, chị cảm thấy nặng chịch…

Về đến bìa rừng, thấy Đăng ngồi lù lù dưới gốc cây săng lẻ, chưa kịp hỏi, hắn đã bảo chờ chị. Vẻ mặt hắn có vẻ khác thường, và chị cũng đang cảm thấy hẫng và trống trải. Chị theo hắn vào hang dưới chân núi, trước đây là nơi đóng quân của một đơn vị hậu cần.

Chiều đông, nền trời xám ngắt, màn sương mỏng dường như đã giăng kín cả cánh rừng. Bên kia ngọn núi, còn một vài vệt nắng cuối ngày hắt ngược lên như nét vẽ vụng của một tay họa sỹ tồi. Những cây săng, cây gỗ dầu bị bom, đạn pháo phạt ngang gập xuống. Vài, ba cành bị bốc lên treo lủng lẳng trên thân cây đã cháy trụi. Sau hiệp định Paris, chiến tranh chùng xuống, tuy tiếng súng giảm đi, nhưng cả hai đều tích cực chuẩn bị hậu cần, quân lực. Cuộc chiến đang bước vào cục diện mới.

Chị và Đăng đứng dựa lưng vào vách đá. Lặng im. Tiếng gió hu hú ngoài cửa hang. Dường như hơi lạnh, chị co người lại. Đăng quàng tay lên vai, xoay người chị úp vào lòng mình, thì thào hỏi: Nếu Đào đồng ý, Đăng sẽ không ra Bắc học sỹ quan đợt này!

Tuy trong lòng có tình cảm với Đăng đã lâu, nhưng chị luôn kìm nén, bởi hắn còn quá trẻ, vô tư so với chị, và chiến tranh còn mịt mù phía trước. Nhưng trước những lời thổ lộ của hắn hôm nay, quả thật làm cho chị có chút bồi hồi, bối rối. Chị ngước mắt nhìn hắn: Kém người ta đến mấy tuổi, có sợ người khác cười không? Giọng hài ước của hắn lại trở về: Gái hơn hai, giai hơn một, các cụ đã dạy, cứ thế mà mần. Bất chợt, hắn ôm chặt lấy chị. Người chị nóng và run lên, khi chiếc hôn đầu đặt trên môi. Hắn luồn tay xuống tìm kiếm…Chị rướn người lên, làm chiếc quần tụt xuống chân… Và gió đã luồn được vào trong hang, dập vách đá, cứ giật lên từng hồi.

Từ đồng bằng về, chị mới biết Đặng Huy Đăng bị thương nặng đã hơn một tháng. Khi đi, chị hẹn với hắn, sau đợt này sẽ trình báo đơn vị, bởi chị đã có thai được mấy tháng. Biết Đăng đã được phẫu thuật ở bệnh xá Quế Sơn, chị xin phép đơn vị đến thăm. Nhưng tới nơi, hắn vừa được chuyển ra Bắc, bởi ngoài bị thương ở chân, ở bụng, một mảnh bom nhỏ còn găm gần cột sống, điều kiện, phương tiện của bệnh xá không thể xử lý được. Tuy nhiên, hắn có viết thư và nhắn, dứt khóat sẽ quay lại tìm mẹ con chị.

Chị sinh con đúng ngày Buôn Ma Thuộc thất thủ, miền Nam hoàn toàn rối loạn. Và sau Huế, Quảng Ngãi, đường vào Đà Nẵng đã được mở. Bởi mới sinh, nên chị thuộc nhóm trong cơ quan về thành muộn. Bước chân về phố, tuy phấn khởi, rạo rực, nhưng chị không về cơ quan ngay, mà bế con thẳng về nhà. Đến cổng, chị tưởng bị nhầm nhà, bởi cửa mở tung, một tốp dân phòng, súng ống, băng rôn, cờ đỏ rực cả sân. Chị bước vào, một thanh niên tay đeo băng đỏ, lăm lăm cây súng cản lại:

-Chị là ai? Có việc gì?

Thấy câu hỏi lấc cấc, vô lễ, nhưng chị cố dằn giọng:

-Đây là nhà tôi, một cán bộ của đặc khu, các anh là ai và làm gì ở đây?

-Chúng tôi thuộc Ban quân quản, nhà này của một tư sản bỏ chạy, đã nằm trong diện trưng dụng, và quản lý của chính quyền mới. Có vấn đề gì, chị lên gặp các đồng chí trên Ban.

Chị đã nổi khùng, nhưng các đồng chí quân quản, dân phòng kiên quyết ép chị ra khỏi nhà. Lòng nghẹn đắng, chị bế con lủi thủi trên đường phố vừa quen, vừa lạ. Hôm sau, chị tìm gặp Hồ Nghinh, Bí thư đặc khu, Chủ tịch ủy ban quân quản, người một thời gần gũi trên rừng. Hồ Nghinh vui vẻ an ủi động viên:

-Cháu cố gắng công tác. Chính quyền mới còn rất nhiều việc phải làm, rảnh rang dứt khoát chú sẽ giải quyết việc của cháu.

Đồng chí Hồ Nghinh còn sốt sắng viết thư tay, đề nghị các đồng chí lãnh đạo cơ quan nơi chị làm việc, bố trí nhà ở cho hai mẹ con. Tuy nhiên, lời hứa của đồng chí Chủ tịch ủy ban quân quản mãi mãi chỉ là cơn gió bay trên ngọn núi Hòn Tàu. Nó đã làm cho chị hụt hẫng, niềm tin đã bị rơi rụng, và trong nỗi buồn ấy, dường như có một thoáng xót xa ân hận. Với cái tuổi mười bảy và bảy năm chiến trường, bom đạn, đói khát đã quật nát tuổi thanh xuân, quãng đời đẹp nhất của chị. Để giờ đây, khi nghe lại những cái tên Hòn Tàu, Duy Xuyên, Quế Sơn làm chị giật mình kinh hãi. Và cũng chính nơi này, tiếng khóc chào đời của con chị đã hòa vào tiếng pháo kích xé toác màn đêm…

Phải đến hai tháng sau ngày 30-4-1975, chị nhận được tin hồi âm của ba từ Sài Gòn. Được biết, mẹ đã được anh hai của chị, cựu sinh viên du học, đón sang Đức ngay từ đầu năm 1975. Ba chị dứt khoát ở lại chờ chị. Thời gian này, chị chờ đợi và viết khá nhiều thư gửi về quê cho Đăng. Nhưng không biết chị đã nhầm địa chỉ, hay hắn đã chết trên đường ra Bắc, nên thư đều quay trở lại. Mãi đến tết âm lịch, chị mới thu xếp xong công việc để đưa con vào Sài Gòn thăm ba. Mấy năm không gặp, nhìn ba già và sọp đi quá nhanh, chị bật khóc. Ông an ủi chị nhiều, và bảo vì tương lai, mẹ con chị phải rời khỏi Việt Nam. Trước mắt, với lý do cha già bệnh tật, cần sự chăm sóc, chị chuyển công tác vào Sài Gòn, để tiện móc nối xuống tàu. Sợ ba buồn, chị vâng vâng, dạ dạ để ba yên tâm.

Trở lại cơ quan đúng lúc thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, sự tranh giành quyền lực, đấu đá, bới móc thành phần xuất thân, lý lịch của các đồng chí từ rừng về, từ Bắc vô, làm chị ngao ngán. Từ đó, chị quyết định chuyển vào Sài Gòn, một quyết định không phải dễ dàng. Như vậy, chị đã hoàn toàn tin vào lời của ba mình. Và là người phụ nữ trẻ, có thâm niên bảy năm hoạt động trong phố và nằm rừng, xin chuyển vào làm cái chân lon ton vô thưởng vô phạt ở cái hội phụ nữ Sài Gòn lúc ấy, quả thật không khó khăn đối với chị…

Tuy tàu của chị được chuẩn bị rất kỹ, nhưng hai lần đầu vượt biển đều không thành. Rất may, mẹ con chị đều thoát khỏi sự truy bắt của các đồng chí công an, du kích nhờ kinh nghiệm của những năm tháng nằm rừng. Và lần thứ ba chị lại ra đi vào mùa hè 1977, do chính gia đình Khiêm đứng ra tổ chức mới trót lọt, nhưng cái giá phải trả quá đớn đau.

Lần này, kinh nghiệm nằm rừng, tuy bất lực trước bọn cướp của, hãm hiếp, giết người giữa biển cả mênh mông, nhưng nó đã giúp cho chị sự bình tĩnh, nhẫn nại chịu đựng để giữ lại cái mạng sống của mình. Hai phần ba đàn bà con gái trên tàu bị chết hoặc giết chết, ngay sau khi bị bọn hải tặc thay nhau hãm hiếp qua nhiều đợt. Vợ và con gái mới mười tuổi của anh Khiêm bị chết ngay đợt đầu. Qúa uất ức, và nhục nhã, tất cả đàn ông, con trai cùng nhau chống lại. Nhiều người bị giết chết, quẳng thây xuống biển. May mắn hơn, anh Khiêm chỉ bị chúng đánh ngất và đâm thấu bả vai. Anh bị điên khùng mất một thời gian, khi ở trại tạm dung. Nhờ sự chăm sóc của chị, anh Khiêm tỉnh táo trở lại. Khi được định cư ở Đức, anh chị đã nên nghĩa vợ chồng. Nhưng khả năng sinh đẻ của chị không còn. Từ đó, anh Khiêm dồn tất cả tình cảm cho Hải con trai của chị.

Về chiều, bầu trời dường như bị ai đó kéo xà xuống đầu ngọn núi của bên kia biên giới. Những vệt mây đậm một màu tro xám, mọng căng túi nước vắt ngang nền trời. Và gió đã trở lại, lùa vào nơi chúng tôi ngồi. Lau vội những giọt nước mắt, chị luồn tay kéo cánh cửa, rồi lặng nhìn ngọn núi cao vòi vọi và xa vời ấy. Đột nhiên chị hỏi:

– Đỗ Trường có hay về chùa Viên Giác (Hannover) không?

-Thi thoảng mới về được, bởi công việc và mấy cháu nhà em cuối tuần phải thi đấu bóng bàn (1.bundesliga) hoặc tập huấn, nên cũng phải đưa đón.

Chị bảo, rằm tháng giêng vừa rồi, mấy chị em quanh vùng thuê xe về chùa. Khi lễ phật, hoặc thăm hỏi các thày, thấy một người đàn ông đứng ngó nhìn. Lúc đầu, chị không để ý, nhưng lúc ra về người này vẫn lẽo đẽo theo sau. Nên chị cảm thấy kỳ, quay lại, thấy khuôn mặt có nét quen, người có vẻ ốm yếu bệnh tật. Chị định bước tiếp. Người này lập bập một lúc mới rõ tiếng:

-Bà có phải là Đào người Đà Nẵng, một thời ở Đặc Khu Quảng Đà không ạ?

– Vâng! Đúng rồi, nhưng bác là…

Tưởng chừng người đó ngã đổ vật xuống, may có một cô gái chạy tới. Vịn vào vai cô, người đó mới bật ra từng tiếng:

-Đăng… Đặng Huy Đăng đây…Chào…chào bác đi con!

Lúc này, chị đứng như trời trồng. Khi tiếng gọi lên xe của mấy bà bạn, mới làm chị chợt tỉnh. Chị đi nhanh về phía hắn:

-Đăng thật đây sao? Bệnh tật gì mà ra nông nỗi này?

Hai giọt nước mắt chảy dài xuống gò má nhoăn nheo của hắn. Không trả lời, hắn hỏi lại chị:

-Cuộc sống của Đào và con chúng ta bây giờ như thế nào?

– Không sao, tốt cả. Thằng Hải có vợ, con lớn rồi. Nó là kỹ sư của nhà máy sản xuất Auto.

Sự gặp lại, một cách bất ngờ, sau bốn mươi mốt năm, làm cho chị hoàn toàn không thể nghĩ, và nói được điều gì, trong hoàn cảnh này. Chị nhờ con gái hắn ghi số điện thoại cho cả hai, khi trấn tĩnh sẽ liên lạc, nói chuyện sau. Lúc chị quay đi, hắn bảo, muốn gặp con bởi quĩ thời gian của hắn không còn nhiều. Chị hứa, nhất định sẽ gặp, khi điều kiện cho phép.

Có lẽ, nói năng khó khăn, mệt nhọc và phải sống trong sự tuyệt vọng trước căn bệnh hiểm nghèo, nên mấy lần chị nói chuyện qua điện thoại, hắn đều xúc động, bị ngắt giữa chừng. Là người đã quy y, nên với chị, tất cả đã trở thành vô thường. Nhưng dường như trong sâu thẳm tâm hồn, chị vẫn còn chút băn khoăn về hoàn cảnh của hắn sau khi từ chiến trường Quảng Đà ra Bắc năm 1974…

Năm 1982 nhà tôi đã chuyển từ ngõ chợ Khâm Thiên ra Ô Chợ Dừa được mấy năm. Lúc này, tôi bỏ việc nhà nước và hành nghề buôn bán máy may, máy dệt. Buổi tối, tôi thường ngồi sửa chữa, lau chùi gỉ sét những đầu máy vừa mang tàu biển lên. Trời đã khuya, tôi ra ngoài, đóng cửa hàng nước cho mẹ. Đang dọn dẹp, thấy một gã tuổi chừng ba mươi vai khoác ba lô lộn, ăn mặc có vẻ bụi bặm, bước vào. Mẹ tôi tưởng khách, bảo đóng cửa rồi. Hắn cười cười: Cháu là Đặng Huy Đăng con ông Ba Cối đây ạ. Học ở Hà Nội bốn, năm năm rồi không biết nhà bác. Cháu vừa nghỉ hè ở quê ngoại Nghĩa Hưng, và tạt về Hành Thiện, bác Doanh Gà cho địa chỉ. Hôm nay cháu đến thăm bác. Mẹ tôi nhìn hắn từ đầu đến chân: Ba Cối chỉ có một thằng con duy nhất tên Đắng, làm gì có thằng nào tên Đăng! Hắn gãi đầu, gãi tai: Ngày đi bộ đội, họ đã đổi tên cháu thành Đăng ạ.

Học Bách Khoa cũng gần, rảnh rỗi, hắn hay ra nhà. Chủ nhật, có khi hắn giúp mẹ tôi bán hàng cả ngày. Thấy hắn có nhiều thời gian vật vờ, tôi bảo: Ông là thương binh, nên đi vận chuyển máy khâu, máy vắt sổ, thuế vụ, công an ít sờ ngó đến. Nghe có lý, từ đó ngoài thời gian học, hắn vận chuyển máy khâu không chỉ cho riêng tôi, khi từ Hải Phòng về, lúc quanh Hà Nội. Có tiền rủng rỉnh, hắn khoái lắm. Nhưng cái tật, có tiền là tụ tập bạn bè rượu chè, không bao giờ hắn bỏ được.

Có lần, hắn uống ở đâu đó, rồi đến tìm tôi, ngồi khóc như trẻ con, và kể:

Lội suối, trèo đèo cả tháng trời, rồi đồng đội cũng khiêng được hắn ra tới ngoài Bắc. Sau khi mổ xẻ, điều trị tại bệnh viện 103, hắn được chuyển về trại thương binh Hà Nam Ninh, để tập đi và an dưỡng. Thời gian này, hắn viết khá nhiều thư cho Đào, nhưng không có hồi âm. Có lẽ, chiến tranh đã kết thúc, Đào đã chuyển về thành hoặc đơn vị mới. Tuy đi đứng rất khó khăn và còn trong thời gian an dưỡng và tập luyện, nhưng hắn xin đơn vị cho chuyển về Trường Văn Hóa Thương Binh Nam Dương (Nam Ninh, Hà Nam Ninh) để ôn thi đại học. Mùa thi năm 1977, hắn đã đỗ vào Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Trong lúc chờ nhập học, hắn vào Đà nẵng tìm mẹ con Đào. Gặp lại mấy anh chị quen thân cũ của Đào, họ cho biết, chị chuyển vào Sài Gòn. Và trước đây mấy tháng Đào đã dẫn con vượt biên, không may tàu gặp hải tặc, tất cả đều bị cưỡng hiếp và giết chết, chỉ còn hai thanh niên vốn là dân chài sống sót. Tin sét đánh này, làm hắn choáng váng. Vậy là hắn đã mất Đào và vĩnh viễn, không bao giờ được gặp con. Trên tàu lộn về đất Bắc, hắn như kẻ mộng du. Và từ đó, chỉ có rượu mới làm hắn vơi đi đớn đau, ân hận mỗi khi nghĩ đến mẹ con Đào.

Ngắc ngứ mãi, năm 1983 hắn cũng tốt nghiệp đại học. Làm ở Bộ công nghiệp nhẹ được mấy tháng, hắn xin chuyển vào nhà máy dệt Đà Nẵng. Rồi cuộc sống buộc hắn phải có vợ. Đứa con ra đời, cuộc sống vợ chồng hắn càng luẩn quẩn với đồng lương chết đói thời bao cấp. Bàn tính mãi, năm 1988 buộc hắn phải khoác ba lô sang Đức, làm thuê cuốc mướn cho một nhà máy dệt may thuộc vùng Limbach-oberfrohna. Khi bức tường Berlin sụp đổ, hắn chuồn sang Tây Đức, làm đủ thứ nghề, và đưa được vợ con từ Đà Nẵng sang.

Càng lớn tuổi, dường như nỗi đau ấy càng dày thêm lên, và rượu chính là chỗ vịn cho nỗi buồn của hắn. Để rồi, căn bệnh xơ gan đã quật gã hắn…

Khi những tia nắng quái cuối ngày bất chợt sáng vụt lên, rồi tắt lịm sau ngọn núi, giữa cánh rừng đen. Để lại một quầng đen thẫm trên nền trời. Hai mắt chị Đào đỏ hoe. Chị định đi châm thêm nước. Tôi đứng dậy, nắm lấy hai bả vai run rẩy của chị và nói lời tạm biệt.

Khi lên xe, tôi đưa cho chị địa chỉ, số điện thoại bệnh viện và gia đình Đặng Huy Đăng. Anh Khiêm nắm chặt tay chúng tôi bảo, cuối tuần tới sẽ đưa cháu Hải đến chỗ Đăng, nếu có thời gian các ông nhớ đến nhé. Nghe anh Khiêm vui vẻ nói, tôi cảm thấy mình như vừa trút được gánh nặng, và lập bập hứa: Vâng! Nhất định em sẽ đến…

Được phép của anh chị Đào, Khiêm để tôi viết lại câu chuyện này, khi lễ cúng 49 ngày của hắn vừa được làm vào tuần trước. Vợ con hắn có mời tôi và vợ chồng chị Đào. Thằng Hải, chở anh chị Đào, Khiêm và vợ con đến từ tối hôm trước, bởi nó lo sắm sửa thêm, ra dáng ông trưởng của hai gia đình. Bữa cơm cúng được làm ngay tại nhà hắn. Tuy hơi chật, nhưng cảm thấy ấm cúng, trong lòng mọi người đều thấy thanh thản. Nhìn lên nóc tủ, sau làn hương khói mỏng, tôi thấy hắn ngồi đó, vẫn cười tươi và vô tư như thuở nào.

Leipzig ngày 4-12-2015

© Đỗ Trường

© Đàn Chim Việt

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

►Sau tiếng chuông chùa – Truyện ngắn của Đỗ Trường

Posted by hoangtran204 on 30/01/2015

Sau tiếng chuông chùa

29-1-2015

nghiepchuong

Buổi ra mắt tập Thơ Người Việt Ở Đức do nhà xuất bản Vipen Berlin tổ chức, diễn ra khá dài vào một chiều mùa hè 2014. Có lẽ, đã cảm thấy đói và mệt, nên giữa chừng Nguyễn Đăng Ga rủ vợ chồng nhà thơ Trần Mạnh Hảo, Người Buôn Gió, Quốc Cường, nhà điêu khắc Thành Nghĩa-An Giang, nhà văn Võ Thị Hảo và tôi về quán của anh ở Alexanderplatz ngồi lai rai. Coi đây là bữa nhậu chia tay, để ngày mai nhà thơ Trần Mạnh Hảo sang Paris và trở về Việt Nam. Ăn uống trò chuyện đang rôm rả, tôi đành đứng dậy cáo lỗi vì đã quá nửa đêm và con đường 200 km về nhà còn khá xa…

Xe chạy một đoạn, chẳng hiểu sao Navi chỉ đường lại giở chứng tậm tịt, tôi buộc đi theo trí nhớ. Một lúc, trí nhớ cũng tậm tịt nốt. Lòng vòng khá lâu, xe lạc đúng vào cổng chùa Linh Thứu. Tôi phải dừng lại, để hỏi đường ra Autobahn Leipzig. Đường phố vắng và trong chùa tĩnh lặng. Tôi men theo hè phố, tìm một quán đêm để hỏi. Bất chợt tôi ngoái lại, dường như có bóng một ni cô thấp thoáng đang đi về hướng cổng chùa. Tôi quay lại, rảo bước. Đến cổng, thấy ni cô dừng lại, có lẽ chờ tôi. Tôi đang lúng túng, tìm cách xưng hô, chợt thấy ni cô hơi sững người, nhưng giọng lại chùng xuống: Cậu Trường, đội lò mổ Leipzig phải không? Tôi giật thót cả người, nhìn thẳng, nhưng vẫn còn mơ hồ. Một giây im lặng. Đến khi chiếc răng khểnh của ni cô lộ ra, sau nụ cười thoáng buồn, tôi mới chợt vuột ra: Chị Tuyên! Sao chị lại ở đây?

Tôi quen chị đã gần ba mươi năm trước, trong những lần chị dẫn các anh chị cựu diễn viên, ca sỹ ở cùng đội bóng đèn đến chỗ chúng tôi xin tiết canh lòng lợn. Sau ngày nước Đức thống nhất, người Việt vùng phía đông ly tán, số còn lại thường sống co cụm vào từng khu. Lúc này, chị trở thành hàng xóm của tôi. Cho đến ngày con trai chị vừa đón từ Việt Nam sang, bị chính những người đồng hương bắn chết ở gần Berlin, chị buồn và lặng lẽ bỏ đi. Có người đoán, chị đã về Việt Nam, kẻ lại nói, chị theo cô, theo cậu đang hầu đồng, hầu bóng ở Dresden…

Vậy là sau mười chín năm, tôi bất ngờ gặp lại chị. Chị đã thay đổi quá nhiều. Sự thay đổi ấy, nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi. Nhưng có lẽ, chỉ có tình cảm của chị với tôi không hề đổi thay. Chị vẫn thân mật xưng chị và gọi tôi bằng cậu, như mấy chục năm trước. Chị bảo, làm lễ cho một gia đình hàng xóm ở Dresden hơi bị muộn, nhưng chị vẫn phải đi tàu đêm lên Berlin, để sáng nay kịp đi theo lễ cùng thày. Cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi và chị đã thuộc về cõi vô thường, nhưng tôi vẫn cảm thấy còn có một chút gì đó ưu tư trong đôi mắt chị. Khi tôi bước lên xe, chị còn dặn: Lúc nào rảnh qua Dresden, chị còn nhiều điều muốn nói với cậu.

Cuối tuần vừa rồi, chở mấy cô con gái đi thi đấu bóng bàn ở gần Dresden, tôi tạt vào thăm chị. Những biến cố, thăng trầm cuộc đời chị có chuyện tôi đã biết và có những chuyện đến nay tôi mới được nghe kể từ chính chị. Qủa thật, những nỗi đau ấy của chị chợt làm tôi nhớ đến chị Hà Giang, trong truyện ký Nghỉ Hè Ở Mallorca của nhà văn Phạm Tín An Ninh. Nhưng có lẽ từ những quyết định đầu đời sai lầm, dẫn đến số phận của chị còn đắng cay, nghiệt ngã hơn rất nhiều…

Chị sinh ra và lớn lên ở ngõ chợ Khâm Thiên Hà Nội. Những ngày cuối năm 1972 bom Mỹ đã cướp đi toàn bộ gia đình của chị. Chị còn sống, bởi cái đêm định mệnh ấy, chị đang ở nơi sơ tán. Tháng 4 năm 1973 trên đầu cuốn bốn khăn tang, dù đang là học sinh phổ thông năm cuối, chị vẫn xung phong vào bộ đội. Sau mấy tháng huấn luyện, chị hành quân vào chiến trường Quảng Đà…

Chiến tranh kết thúc, đơn vị chị được lệnh tiếp quản một số kho hàng và doanh trại, khu gia binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa thuộc khu vực Nam Trung Bộ. Thời gian sau, những doanh trại đã bị bom đạn cày nát này, được quây lại gọi là lán trại dành cho (tù) cải tạo, chủ yếu các sỹ quan cấp úy của quân đội VNCH. Chị vẫn ở lại làm thủ kho, cách đó không xa.

Khu nhà kho này được xây khá kiên cố, lưng tựa vào vách núi. Hai bên là hai dãy nhà mái trần, ngăn thành nhiều phòng. Hình như trước đây là nơi ở và phòng làm việc của một đơn vị quân nhu, tiếp vụ thuộc quân đội VNCH. Trước mặt có khoảnh sân khá rộng, bao quanh bởi những khóm hoa sim, đang thì nở rộ. Và tất cả được ẩn mình dưới những tán lá rừng xanh ngát, nếu từ xa hoặc trên cao nhìn xuống. Ở đây, chỉ có chị là nữ và mấy cảnh vệ đều ở tuổi hai mươi. Họ cũng là học sinh trước khi vào bộ đội như chị, nên cuộc sống rất hồn nhiên vui vẻ. Và có lẽ, tình yêu và khát vọng đang hồi sinh trong họ chăng? Nên ai cũng chuẩn bị lại sách vở, dành nhiều thời gian cho việc ôn luyện để năm tới xuất ngũ, thi vào đại học.
Lúc này, (tù) cải tạo vẫn còn thuộc sự quản lý của bộ đội. Nên chị vẫn thường qua lại đề nghị trưởng trại cử vài, ba người sang giúp sửa lại kho, hoặc bốc dỡ hàng hoá, khi cần. Và chị đã quen Chu Bá Trạc cải tạo viên, nguyên sĩ quan bộ binh, từng là thầy giáo dạy toán bậc trung học, trong một lần như vậy. Ngay lần đầu gặp, biết các cải tạo viên đều là thầy giáo, bác sỹ trí thức, chị và mấy cảnh vệ đã nghĩ ngay đến việc nhờ họ giảng dạy, hướng dẫn những môn khoa học tự nhiên.

Là khu hoàn toàn biệt lập, do vậy bọn chị rất dễ dàng vẽ ra rất nhiều công việc ma, để đón nhóm của thày Chu Bá Trạc vào kho, mỗi tuần vài, ba lần. Được học trò nể trọng, đưa đón ra vào lán trại, cũng như chăm sóc nghỉ ngơi, ăn uống, nên các thày rất nhiệt tình chỉ dạy. Từ đó, tình thày trò ngày càng trở nên gắn bó, đồng cảm. Và sau mấy tháng như vậy, dường như tình cảm của chị dành cho Chu Bá Trạc không còn dừng lại ở mức thày trò, anh em nữa…

Trời chớm sang đông, trên triền đồi và lối mòn dẫn ra con suối trước mặt đã trải vàng một màu hoa dã quỳ. Mùa này, dòng suối cũng đã cạn dần con nước. Đứng trên bờ đôi khi nhìn thấy những cá con, cá mẹ bị mắc trong hốc đá, cắm đầu vào những cành lá ối mục mà nước không thể cuốn đi. Tuy mùa đông, nhưng về trưa, nắng ngoài kia vẫn kéo cái nóng dần lên. Sau giờ học, nấu nướng ăn uống xong, trời đã chếch bóng, chị và mấy cảnh vệ tay dao, tay súng cùng nhóm (tù) cải tạo Chu Bá Trạc ra rừng tre nhỏ ở bên kia con suối. Công việc chặt tre, đốn gỗ về làm giàn bầu, giàn bí để “ngụy trang“ cho việc dạy và học của họ lại được bắt đầu…

Chị kéo Trạc vòng ra sau, đi lên phía triền đồi. Nơi có sắc vàng của hoa và của nắng như đang tan chảy vào nhau. Một loáng thôi, bóng của họ đã chìm trong cái vàng óng hòa tan ấy của trời đất. Họ lặng đứng bên nhau. Dường như có một khoảng cách rất mong manh trong lòng mỗi người. Gió… và từng cơn gió rít lên, làm chị hơi lạnh, nhưng không phải cái lạnh buốt da, cắt thịt như gió bấc nơi quê nhà. Bất chợt, Trạc xoay người nắm lấy bàn tay chị. Như viên than hồng nhóm lửa, chị hơi co người lại, có luồng khí nóng chạy dọc cơ thể… và cháy bùng lên. Ôm chặt lấy Trạc, chị ngả người, làm cả hai đổ vật xuống…

Ngay sau tết âm lịch 1976, một nửa trại đột xuất bị chuyển đi, trong đó có Chu Bá Trạc. Chị hỏi trưởng trại, hắn bảo đi Daklak, nhưng địa chỉ cụ thể thì không rõ. Không biết, đây là câu trả lời thật hay đểu của hắn. Nhưng làm cho chị vô cùng buồn bã và cả mấy cảnh vệ gác kho cũng bỏ học cả tuần. Đã từng đi qua chiến tranh và những ngày tháng khốc liệt, nhưng chưa khi nào chị cảm thấy hẫng, buồn chán như lúc này.

Quân khu đã có văn bản chính thức, đồng ý cho những quân nhân như chị được phép thi đại học. Mọi người phấn khởi làm hồ sơ giấy tờ. Với chị dường như mất cảm giác, chỉ thấy nôn nao, chao đảo trong người. Thuấn cảnh vệ, người Sơn Tây, luôn gần gũi chăm sóc chị từ ngày cùng nhau nhập ngũ, đi lấy hồ sơ về. Thấy chị đang nằm bẹp, hắn bắt phải lên bệnh xá ngay. Đi được nửa đường, chị bảo hắn quay xe về, thay thường phục, bắt xe đò vào thành phố. Hắn ngơ ngác, chị bảo, rồi ông khắc biết. Chị đã có một linh cảm chẳng lành.

Thành phố lúc này vắng vẻ, tiêu điều nhưng đã có một số phòng mạch tư nhân mở cửa trở lại. Chị và Thuấn đến vào cuối giờ chiều, phòng đợi vắng người. Chị được mời vào khám ngay. Và tinh thần chị bị sụp đổ hoàn toàn, khi bác sỹ cho biết, chị đã có thai và thai nhi đã lớn. Phòng khám không thể nạo bỏ, như theo yêu cầu của chị. Nếu chị muốn, phòng khám chỉ có thể giới thiệu đến bệnh viện. Họ sẽ làm, nhưng có thể nguy hiểm đến tính mạng, hoặc có thể chị sẽ trở thành người vô sinh. Điều quan trọng, chị phải có giấy giới thiệu của cơ quan, đoàn thể và chữ ký đồng ý của chồng.

Rời phòng khám, đầu chị quay cuồng, bước chân dường như vô định. Chị đã biết sợ, chiếc vòng kim cô muôn thuở kia, sẽ xiết chặt cuộc đời chị trong cái luẩn quẩn của sự hủ hóa suy đồi đạo đức, dẫn đến mang thai với một kẻ bên kia chiến tuyến, một cựu sỹ quan, một cải tạo viên. Gặp kẻ ngồi trên độc mồm, ác miệng gán cho cái tội theo địch, phản động chứ chẳng chơi. Đó là một điều không thể tưởng đối với một Đảng viên trẻ như chị. Tương lai của chị đang bước vào ngõ cụt. Có lẽ, đây là cái án tử hình không chỉ đối với chị mà cho cả cải tạo viên Chu Bá Trạc, tuy không bằng dao, bằng súng.

Thuấn lặng lẽ theo chị đến con phố cuối cùng. Trước mặt đã là biển và thành phố đã lên đèn. Biển cạn, ngoài kia xác mấy con tầu đắm chưa kịp cẩu đi, trồi lên, sóng vỗ, bọt tung lên trắng xóa. Bãi cát vắng người, dường như chỉ thấy rặt một màu áo của lực lượng tuần tra, kiểm soát.
Chị không khóc, nhưng hai con mắt đã đỏ hoe, nhìn về nơi có ngọn hải đăng đang cháy lên. Khi Thuấn khoác nhẹ tay lên vai, lúc đó chị mới gục đầu vào vai Thuấn bật khóc. Vỗ vỗ vào vai chị, Thuấn an ủi:

-Tuyên hãy thật bình tĩnh, rồi chúng ta sẽ tìm ra cách giải quyết thôi.

Im lặng. Không biết nước mắt của chị hay cả nước mắt của mình đã chảy thấm vai áo, nhưng Thuấn vẫn để yên như vậy. Trăng lên cao. Gió thổi từng cơn. Lạnh và đói, Thuấn đỡ chị đứng dậy đi tìm mua đồ ăn. Giờ này, không còn xe về lại đơn vị, buộc chị và Thuấn phải tìm đến nhà khách quân khu.

Hôm sau, trên đường về Thuấn đột nhiên bảo, nếu như Thuyên đồng ý, ngay trong tuần này, chúng ta lên trung đoàn trình báo sự quan hệ và xin giấy giới thiệu đăng ký kết hôn làm đám cưới. Đây là cách duy nhất để hợp thức hóa việc này.

Tuy đã biết, từ lâu Thuấn đã có tình cảm với mình, nhưng do rụt rè chưa dám nói ra, nhưng với quyết định bao dung này của Thuấn làm chị bất ngờ và xúc động. Thật ra, từ ngày cả gia đình bị bom Mỹ, chị chẳng có ai là người thân để chăm sóc, giãi bày tâm sự, ngoài Thuấn ra. Tuy nhiên, với chị tình cảm dành cho Thuấn cho đến nay, chỉ là tình bạn thân thiết đặc biệt, chứ không hoặc chưa thể nói là tình yêu. Nhưng trong hoàn cảnh vô phương cứu chữa này, chị không thể không cảm ơn và làm theo sự sắp đặt của Thuấn.

Chị cũng không ngờ đám cưới chạy của mình và Thuấn diễn ra tưng bừng, nói như ngôn ngữ thời nay, sao nó lại “hoành tráng“ đến thế. Hội trường đơn vị chật ních người, đầy đủ ban bệ và các bác tai to mặt nhớn. Bởi, đây là đám cưới đầu tiên sau ngày thống nhất, của hai chiến sĩ trực tiếp chiến đấu nơi chiến trường, trong cùng đơn vị. Nó được nâng lên thành hình ảnh điển hình, mang ý nghĩa chính trị to lớn, không chỉ riêng của một đơn vị…

Không hiểu nguồn tin bị rò rỉ từ đâu, ngay sau đám cưới rất nhiều tiếng thì thầm to nhỏ với những nụ cười ruồi, rồi chỉ chỏ vào cái bụng của chị ngày càng phổng lên. Đã đến tai, nhưng các đồng chí ngồi trên cố nuốt, vờ như không biết, nên vẫn bình yên lắm. Rất may, mấy tháng sau Thuấn đỗ vào khoa hóa thực phẩm trường đại học Bách Khoa Hà Nội, chị tuy không đủ điểm, nhưng được gọi vào trường trung cấp tài chính. Khi chị và Thuấn lên làm quyết định chuyển ngành và sinh hoạt Đảng, các đồng chí thủ trưởng và quân lực nhìn với ánh mắt lạ lắm và giải quyết rất nhanh. Cầm giấy tờ, bước chân ra khỏi phòng, chị vẫn còn nghe thấy tiếng thở phào, nhẹ như vừa cắt bỏ được miếng thịt thừa trên cơ thể của các đồng chí thủ trưởng, quân lực vậy…

“Người ăn ốc kẻ đổ vỏ mà lại đổ vỏ cho thứ ngụy quân ngụy quyền, thế mới đau chứ!“ Cái tin được rỉ tai nhau, truyền đi ở cái làng quê yên bình đậm lễ giáo này, đã làm sóng gió nổi lên đùng đùng trong gia đình, khi chị và Thuấn còn chưa về đến nhà. Thế này, có khác gì bôi tro trát trấu vào mặt gia đình, dòng họ. Mẹ Thuấn cứ ra vào lẩm bẩm như vậy.

Gặp chị, mẹ Thuấn đã có chút nguôi giận, có lẽ cảm thông hoàn cảnh và chị là người hiền lành lễ nghĩa. Nhưng bà vẫn buộc chị sau khi sinh, cho hoặc gửi ai đó nuôi một thời gian, sự việc nguôi ngoai, sẽ đón cháu về, vì Thuấn là con trưởng cũng là trưởng họ thay bố đã mất.

Chị bảo, khi con được mấy tháng, phải gửi vợ chồng bác hàng xóm cũ là bác sỹ nuôi, không hẳn vì sức ép của gia đình Thuấn. Bởi trong thời gian chị đi bộ đội, căn hộ tập thể của bố mẹ đã bị cơ quan cho một gia đình khác vào ở, khi trở về, chị không thể đòi lại được. Do vậy, chị và Thuấn đều phải ở tập thể sinh viên của trường, cuối tuần mọi người về nhà hoặc đi vắng, vợ chồng mới được ở với nhau. Vừa nhập học, chị sinh, nhưng hệ hô hấp có vấn đề, nên cháu hay ốm đau dặt dẹo. Mấy tháng sau chị lại mang thai. Việc phải bỏ học là điều khó tránh khỏi, nếu chị không được sự giúp đỡ của vợ chồng bác hàng xóm. Và nếu như họ không phải là bác sỹ và đưa cháu về phương nam nắng ấm ngay sau đó, thì có lẽ cháu không thể qua nổi những cơn bạo bệnh. Nói là như vậy, nhưng lúc nào chị cũng day dứt và ân hận, nhất là từ ngày cháu bị ung thư ruột. Không biết hậu quả này, có phải từ việc chị uống thuốc tây ngoài chợ giời cho đến thuốc lá của mấy bà dân tộc để cho sảy thai, hồi chị chửa cháu hay do nhiễm hóa chất từ nơi chiến trường? Mấy năm gần đây, cứ bòn góp đủ tiền là chị lại về Sài Gòn, dù bệnh đã ở giai đoạn cuối, nhưng với nó, chị vẫn chỉ là người xa lạ…

Tôi cắt ngang lời chị, có lẽ, lúc đó chị liên lạc với gia đình Chu Bá Trạc gửi cháu bé cho họ, tốt và hợp đạo lý hơn. Chị bảo, Trạc đã có vợ con từ trước 1975, nên chị không muốn tìm đến. Năm 1987 trước ngày chị sang Đức, vào thăm, nó vẫn nhất định không chịu gặp chị. Dù gia đình bố mẹ nuôi rất khá giả và thương cháu, nhưng chị vẫn tìm đến địa chỉ cũ của gia đình Chu Bá Trạc ở Biên Hòa, để nói cho anh ấy biết, nếu có thể, anh ấy qua lại chăm sóc cháu. Nhưng anh và cả gia đình đã bị đắm tàu chết trên đường vượt biển năm 1980, sau khi ra tù, do người hàng xóm kể lại.
Tôi buột miệng hỏi, ngày đó biết Trạc đã có vợ con và hai người ở trong hoàn cảnh vô vọng như vậy, sao anh chị vẫn… ? Chị cười buồn, không thể lý giải ở cái tuổi hai mươi ấy. Chỉ biết rằng, Trạc là người đầu đời của chị. Rồi giọng chị dường như có một chút phấn chấn hơn: Đời chị có Trạc để yêu và có Thuấn để trọng, như thế là đủ phải không em? Và bây giờ chị trở về cõi vô thường, tôi đùa như vậy, rồi hỏi chị xuống tóc từ khi nào? Hai chục năm nay rồi, chị tu tại gia, nhưng thường xuyên về chùa và theo các thày đi làm lễ.

Trưa. Chị nấu cơm chay khá ngon. Trong bữa ăn, hai chị em cứ rù rì trò chuyện. Chị bảo, nghiệp chướng của chị còn nặng lắm, nhưng không biết đó có phải của riêng chị hoặc của Trạc, của Thuấn hay của chung tất cả những người lính đã lao vào chém giết trong cuộc chiến vừa qua …

Học xong, chị về làm việc cho xưởng in bộ văn hóa. Thuấn về làm việc ở một nhà máy thuộc bộ công nghiệp thực phẩm. Mấy năm sau, bầu lên vật xuống, vợ chồng chị cùng thằng con nhỏ cũng nhận được căn phòng tập thể hơn chục thước vuông. Cuộc sống thời bao cấp quá khó khăn, chẳng riêng chị mà cái nghèo, cái nhục nó đến với tất cả mọi người.

Không thể chịu được sự cùng cuỗn ấy, năm 1987 để con lại cho chồng, người nữ lính chiến năm xưa lại khoác ba lô cùng với các văn nhân, nghệ sỹ, trí thức lên đường làm thuê, cuốc mướn nơi xứ người. Bức tường Berlin sụp đổ, từ trong nước dòng giống con Lạc cháu Hồng lại tìm đường ra đi. Thằng con chị vừa bước sang tuổi mười bảy, bỏ học đòi sang với mẹ. Sang được thời gian, chị bất lực không thể quản lý, bảo ban nó. Và vào đúng mùa hè 1995 nó bị những người cùng chung một dòng máu bắn chết, trong một ngôi nhà ở gần Berlin. Nghe nói, nó theo bọn bảo kê đi thu tiền chỗ bán thuốc lá lậu, bị băng đảng khác phục thù bắn chết. Chẳng biết đúng sai thế nào, nhưng hôm đi viếng, thấy trên cổ nó phải khâu rất nhiều mũi. Nhìn nó nằm đó, tôi cảm thấy lòng mình vô cùng trống rỗng. Chị không còn khóc được nữa, người cứng đơ, hai bà hàng xóm phải kè kè hai bên…

Tôi hỏi chị về Thuấn. Chị bảo, biết tin con chết, Thuấn cũng bị chao đảo mất mấy năm. Muốn giải phóng cho Thuấn, nên năm 1998 chị về nước làm đơn ly dị. Lúc đầu Thuấn không chịu, nhưng mọi người nói mãi, hắn miễn cưỡng đồng ý. Mấy năm sau bị áp lực của gia đình, Thuấn mới lấy vợ. Nhưng đẻ được hai đứa con, đứa nào cũng bị dị tật cả. Chị nghĩ, nhiều lúc thật có lỗi với Thuấn, không giữ được đứa con cho hắn. Bây giờ Thuấn đang là tổng giám đốc một công ty lớn lắm, giầu sang phú quí rồi. Tiền bệnh viện thuốc thang cho con gái chị, mấy năm nay đều do Thuấn trả, thông qua chồng cháu đấy. Có lần, chị bảo, đừng làm như vậy nữa, Thuấn khổ vì mẹ con chị nhiều rồi. Nhưng hắn nói, hắn làm vậy không hẳn chỉ vì chị, mà vì cả Chu Bá Trạc. Nếu không có Trạc dạy dỗ thì hắn không thể đỗ đại học và không được như bây giờ…

Chiều muộn, câu chuyện của chị đã đi vào đoạn kết. Tôi đứng dậy từ biệt chị cho kịp giờ đón mấy cô con gái nơi thi đấu bóng bàn.

Tiễn tôi ra xe, chị nhắc lại câu, hãy tin vào luật nhân quả. Thế hệ chị đã gây ra và lao vào cuộc chiến, nghiệp chướng còn nặng lắm, kiếp này không thể trả hết đâu em ạ…

Leipzig 29-1-2015

© Đỗ Trường

© Đàn Chim Việt

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

►Và câu chuyện sau đêm giao thừa- Truyện ngắn của Đỗ Trường

Posted by hoangtran204 on 08/02/2014

7-2-2014

Đỗ Trường

Tác giả gửi tới Dân Luận

Sau thời khắc giao thừa, tôi đã nhận khá nhiều E-Mail cũng như điện thoại, của bạn bè, người quen về bài viết Câu Chuyện Đêm Giao Thừa, mà tôi vừa gửi đăng. Trong đó có ông bạn “Đức Quay“ trước đây ở Neustadt in Sachsen. Đầu năm chưa kịp chúc tụng gì, hắn đã lên lớp, tổng sỉ vả tôi vì can tội suy diễn, lệch lạc tư tưởng trong bài viết. Rành tánh hắn, khi nói xong, ai đó vặn vẹo lại, hắn chẳng thể lý luận, biện minh, hoặc quên khuấy đi những điều mình vừa nói. Nên tôi để hắn tuôn hết ra, cho nhẹ người.

Hắn nguyên là lính, có mấy năm trên chốt quần nhau với giặc Tầu. Sau khi giải ngũ, hắn được sang Đức lao động ngay, theo tiêu chuẩn con em của Bộ Nông Nghiệp. Là đảng viên, khi còn trong quân ngũ, nên hắn được giao phụ trách đoàn thanh niên của đội cơ khí. Riêng cái khoản, nghị quyết thông tư, đường lối tư tưởng lãnh đạo hắn thuộc làu làu. Chẳng cứ khi họp hành, mà mỗi lần hắn đến tôi, hay tôi đến thăm hắn, trong bữa ăn, bữa nhậu, hắn không bỏ được cái đề tài nhão nhoẹt này. Nếu trong bữa đó, có thêm những bạn bè mới, dứt khoát tôi phải kéo ra ngoài, nói trước tính tình của hắn, để mọi người hiểu và cảm thông. Bằng không, dứt khoát sẽ cãi nhau to, như có lần, hắn đã bị đám thanh niên mới lớn, nện cho một trận sứt cả đầu, mẻ cả trán, ngay trong bữa nhậu.

Thế rồi, hắn trong đoàn quân nhận tiền đền bù để về nước, sau ngày bức tường Berlin sụp đổ. Với số ngoại tệ cầm về vào thời kỳ ấy, tầm tuổi hắn, được xếp vào hạng có chút máu mặt. Nếu như đúng cầu, hắn có thể cầm trong tay mấy cái bằng đại học và đủ cơ số đạn bắn đổ chiếc ghế kha khá, làm điểm tựa cho con đường công danh, bổng lộc sau này. Nhưng “ giày dép còn có số, huống chi con người…“ Hắn lẩm bẩm với tôi như vậy, khi hắn vượt biên trở lại Đức (gọi là Đức Quay).

Chân ướt chân ráo về đến địa phương, nộp giấy tờ sinh hoạt đảng, hắn được ngay mấy đồng chí lãnh đạo phường đặc biệt quan tâm, hết rủ rê lại đề nghị góp tiền mở dịch vụ, nhằm tăng ngân sách cho phường. Điểm kinh doanh của phường, hắn chỉ phải bỏ tiền sửa sang, sắm thiết bị từ con số không cho đến lúc vận hành của nhà hàng rượu bia, nhậu nhoẹt. Lời lãi cưa đôi, điều tất nhiên hắn sẽ được làm chủ nhiệm, người đứng mũi chịu sào.

Không hiểu ma đưa lối, quỉ dẫn đường thế nào, hắn lại đồng ý, bất chấp sự can ngăn của bạn bè và gia đình. Mà không đồng ý sao được, hợp đồng vô thời hạn, có dấu đỏ choét của đồng chí chủ tịch phường. Ngoài ra, những giao kèo trên cửa miệng của lãnh đạo phường, ngọt, dẻo như kẹo kéo, trong tinh thần đảng viên, đồng chí của nhau. Hấp dẫn và tin tưởng đến như vậy, có thánh cũng chẳng cưỡng lại được.

Gần một năm lăn lộn, cửa hàng đã ổn định, bắt đầu thu lãi, (thì lại) đánh đùng một phát, đồng chí chủ tịch phường, hớt hải từ đâu chạy về báo tin: Quận có ý định, trưng dụng mảnh đất này, để làm nhà văn hóa và một số công trình phúc lợi xã hội khác.

Làm thế này, khác gì sát ớt vào đít nhau. Tiền bạc, tài sản bao năm bán sức lao động, có mà đi tong à, hắn lăn đùng ngã ngửa, miệng còn lẩm bẩm như vậy…

Rồi cũng đến ngày, hắn phải gọi người tháo đồ, bán rẻ như cho, không nhận được một đồng đền bù. Lúc này, các đồng chí lãnh đạo phường đi mây về gió, hắn tìm nhưng không thể gặp. Chỉ còn lại các đồng chí công an phường, không tìm lại gặp. Nhiệm vụ các đồng chí, thúc giục hắn dọn nhanh chiến trường, để bàn giao lại mặt bằng mà thôi.

Chẳng đợi đến một năm hay vài tháng, khi hắn bàn giao xong, tuần sau đã có người đến treo biển quảng cáo, lại vẫn bia hơi, đồ nhậu, khác chăng chỉ có cái tên của chủ mới. Hôm khai trương, hắn ghé vào, nhìn thấy y nguyên đồ đạc cũ của hắn được lắp ráp lại. Thế này, thì có khác gì bọn lừa đảo, trấn lột. Hắn và gia đình mang đơn kiện cáo, từ quận lên đến thành phố. Nhưng đợi dài cả cổ, không ai thèm trả lời hắn. Có kẻ còn nhạo báng, bắn tin cho hắn, chủ mới toàn con cháu các ông ở quận và thành phố, có kiện vào mắt à. Hắn buồn chán lang thang, nhiều khi lên cơn như kẻ động kinh.

Trong lúc lang thang mộng du ấy, chẳng hiểu thế quái nào, hắn lại gặp được sư phụ tận vùng núi Bắc Giang. Từ đó hắn cạo đầu, theo thầy học kinh kệ, tướng số. Nhưng hồng trần chưa dứt, được một thời gian, hắn lại quay về. Lúc này, làn sóng vượt biên bằng đường bộ, qua Nga và các nước Đông Âu vào Đức đang rầm rộ. Cái động từ quay lại Đức, đảo thành danh từ mới, Đức Quay, chỉ những cựu công nhân hợp tác lao động vượt biên trở lại Đức, ra đời từ thời gian này. Bòn góp, vay mượn đủ tiền bạc, hắn theo dòng người ấy, để giải quyết những bế tắc.

Tới Đức lần này, hắn có thuận lợi hơn người khác, vì còn nhiều bạn bè cũ làm chỗ dựa. Sau thời gian ngắn trong trại tị nạn, hắn được vợ thằng bạn vừa tử nạn, đang cần người giúp việc, cẩu ra. Ban ngày, hắn vật lộn ngoài chợ, đêm về có nhiệm vụ chăm sóc vợ bạn. Năm sau, vợ thằng bạn quá cố tòi ra thằng con trai, thế là hắn đương nhiên có con, có vợ.

Khi vợ hắn sắp đẻ thằng con thứ hai, thì bị lãnh sáu tháng tù treo vì can tội mua bán thuốc lá lậu. Nguy cơ có thể cả gia đình hắn, bị trục xuất ra khỏi nước Đức, vì giấy phép cư trú toàn phụ thuộc vào vợ hắn. Nên hắn thuê luật sư lật lại vụ án. Hắn đứng ra nhận tất cả tội danh của vợ. Thay cho sáu tháng án treo của vợ, hắn phải ngồi tù gần một năm. Nhưng yên tâm, ra tù, quyền cư trú, hắn vẫn còn được ăn đong theo vợ con.

Ra tù, hình như hắn đổi tánh, lúc đầu mọi người cứ nghĩ, thằng này bị bệnh hay trúng tà. Đang ngon lành, tự nhiên dắt vợ con lên mãi vùng núi hẻo lánh, thuê nhà, thuê đất lập am gõ mõ tụng kinh. Thế mà chẳng hiểu ma lực từ đâu, chỉ một thời gian ngắn, hắn thu phục khá nhiều chân nhang, đệ tử, nhưng chủ yếu vẫn là mấy bà, mấy chị sồn sồn. Từ đây, sở học từ sư phụ Bắc Giang, hắn phát huy tối đa.

Năm, sáu năm sau, không rõ hắn móc đâu ra tiền, mua hẳn khu đất đang thuê, xây dựng lại nhà ở, am thờ khang trang ra phết. Thời gian gần đây, lại thấy hắn với cái đầu trọc lốc, thường xuyên xuất hiện trên truyền hình trong nước. Phái đoàn nào trong nước sang cũng thấy hắn đón tiếp, rồi quay phim, chụp hình. Miệng hắn bây giờ, còn dẻo và ngọt hơn đồng chí chủ tịch phường, hồi đã cho hắn vào rọ. Mấy năm trước, gặp hắn ở trong chợ Châu Á, trông béo tốt lắm, vẫn vồn vã thân mật với tôi như thưở nào. Trong câu chuyện, hắn có ý muốn tôi viết cho một bài báo về cái duyên, cái nợ đến với đạo và đời của hắn. Quả thật, muốn giúp hắn lắm, nhưng viết về người tốt việc tốt, hay những nhân vật điển hình này, tôi không biết viết, nếu cố gắng viết, chắc chắn sẽ dở lắm. Tôi nói với hắn như vậy.

Không biết, hồi vào trại và đặt đơn tị nạn, hay ở trong tù, hắn còn sinh hoạt Đảng cộng sản nữa hay không? Hôm rồi có người bảo, dạo này, hắn vẫn họp chi bộ đảng đều đều đấy. Với tôi, mỗi người đều có con đường riêng, tư tưởng, suy nghĩ tự do và có trách nhiệm với những việc mình đã làm. Dù tôi có thích hay không thích cái tư tưởng, việc làm ấy, nhưng con người hắn vẫn là bạn từ cái thời hoa niên của tôi. Và mỗi lần nghĩ đến hắn, tôi lại nhớ đến lời của vị Đại tá quân đội nhân dân VN Bùi Văn Bồng: Thằng ấy tuy là đảng viên, nhưng mà nó (còn) tốt.

Việc hắn còn sinh hoạt đảng nữa hay không, thì tôi chưa nhìn thấy. Nhưng cái chứng bệnh hão huyền của nó, có thế ví với cái bác Chủ tịch cựu chiến binh vùng phía Đông nước Đức. Tôi không rõ xuất thân của bác Chủ tịch này. Nhưng cứ đến ngày 30-4, hay ngày thành lập quân đội, thấy bác quần áo bộ đội thẳng nếp, quân hàm quân hiệu, huân huy chương đeo đầy ngực, chỉ huy tầm chục bác, ăn mặc y trang như vậy, hát hò, nhảy múa trên sân khấu. Vâng! Các bác chiến thắng và có quyền tự sướng. Nhưng các bác tự hào với ai trên nước Đức này? Tại sao các bác không ở lại Viêt Nam, để hưởng trọn những thành quả đã giành được? Mà phải sang tận xứ lạnh này, cầy thuê cuốc mướn, để mỗi lần gia hạn giấy phép cư trú, dù các bác nhũn như con chi chi, nhưng vẫn bị nó hành cho lên bờ xuống ruộng như vậy. Hơn nữa cái bộ quân phục mặc vào nó thể hiện sức mạnh của quân đội, quân kỷ của người quân nhân đang trong quân ngũ. Chỉ có người lính đang tại ngũ mới được mặc. Nó không phải những tấm áo hề chèo, diễn trên sân khấu, nhăn nhở như những Lại Văn Sâm…trong chương trình “Chúng Ta Là Chiến Sỹ“ hay của những bà buôn quần áo lính trên đường phố Nam Bộ, Hà Nội. Tôi có hai ông anh ruột, một người chị gái đã mất trọn tuổi thanh xuân, cho chiến trường miền Nam những năm tháng khốc liệt nhất. Bản thân tôi cũng từng là sỹ quan dự bị, nhưng vào những ngày này, có gì mà phải vui và vui với ai?

Nhìn các bác trên sân khấu oai phong là thế, nhưng không cứ các ông to bà lớn từ trong nước sang, kể cả mấy đồng chí tép riu, đáng tuổi em út, con cháu, các bác cũng cúi rạp người xuống. Tôi không có thời gian và cũng ít để ý đến sinh hoạt của các bác, nhưng vừa rồi, nghe mấy ông hàng xóm bàn luận: Không hiểu sao bác Chủ tịch hội chiến binh này, có nhiều thời gian đến thế. Hội hè nào, ở bất kỳ đâu cũng thấy bác ngự trên ghế chủ tịch đoàn, kể cả ngày của các chị em. Diễn văn của bác phát nào ra phát ấy, cứ dài dằng dặc. Có kẻ độc mồm, độc miệng gán con người, nhân cách của bác, “tuần chay nào cũng có nước mắt“ là hơi bị oan. Bởi vì, những cuộc mittinh, biểu tình chống Tầu vì biên giới biển đảo, động chạm đến đấng ngồi trên, làm chó gì có mặt bác. Nhưng hôm đại hội cựu chiến binh ở trong nước, trong đám đông, thấy bác cố chen lên như kiểu tranh nhau mua hàng thời bao cấp, để được chụp hình với bà nguyên chủ tịch nước là có thật. Nghĩ mà thất kinh.

Vâng! Câu chuyện đầu năm này, không biết nên vui hay nên buồn của những mảnh đời xa quê. Có lẽ, nó chỉ nói lên được một phần nào hiện thực cuộc sống. Và lúc này, tôi cũng định kết thúc câu chuyện, cố không xua đi những cái ám ảnh ở trong đầu, bằng cách bật TV, xem không khí tết nơi quê nhà. Đang hứng thú, bắt gặp ngay chuyên gia nước ốc Lại Văn Sâm dẫn chương trình. Thật ra, tôi không quen biết, ắc cảm gì với Lại Văn Sâm. Nhưng có lẽ, bác Sâm có cây cao, bóng cả che mát. Nên với cái lối dẫn chuyện nhạt nhẽo, ba lăng nhăng, hứng lên là dịch bậy như vậy, mà chương trình nào cũng thấy mặt bác. Hôm trước, các chị ở bên Pháp bảo, Lại Văn Sâm tay cờ bạc số một đấy, làm công chức nhà nước mà hắn lấy đâu ra lắm tiền thế. Không biết thực hư thế nào, nhưng Lại Văn Sâm có ông anh ruột Lại Văn Sinh, theo đánh giá của giới sáu ngón, là dạng quái thai ngâm dấm. Trong thời gian làm cục trưởng điện ảnh, không lâu, ông hô biến ngay 42 tỷ đồng tiền thuế của nhân dân. Báo chí, cơ quan công quyền nhà nước ưu ái gọi là làm thất thoát. Nhưng theo ngôn ngữ của mấy bà bán chè chén: Là ăn cắp, ăn cướp có tổ chức. Đường đường là cục trưởng, có nhiệm vụ quản lý tiền bạc của nhân dân, hàng năm có kiểm tra, chi thu, cân đối ngân sách, thế mà để một tên tiểu tốt kế toán, trong mấy năm ẵm đi 42 tỷ. Giải thích như vậy, để trốn tội, nói trẻ con, nó cũng phải bịt tai.

Ấy vậy, mà chuyện thật như đùa, chỉ với động tác từ chức, một việc làm chưa từng có ở đất Việt, đồng chí cục trưởng Sinh thoát tội thật. Nghe nói, nhiều người ca ngợi hành động có một không hai này và còn cảm thông với đồng chí. Riêng giới sáu ngón rỉ tai nhau, ăn đủ rồi, chuyện lại vỡ lở, bác Sinh không từ chức, chuồn cho nhanh ở lại ăn đòn à. Cái mốc hưu trí cũng không còn bao xa. Bác tính nát cả nước cờ rồi…

Đang mơ màng suy nghĩ, ông hàng xóm, là người tin tướng số, sang chúc tết, nhìn thấy Lại Văn Sâm, hét tôi, tắt Tivi và bảo: Cũng may, sáng mùng một, không gặp khuân mặt Kiều Trinh. Bằng không xui xẻo cả năm đấy. Kiều Trinh là con của cựu Tổng giám đốc đài truyền hình VN Vũ Văn Hiến. Người có bàn tay sau ngón, nhưng lại chuyên dạy đạo đức, rao giảng văn hóa trên truyền hình.

Tôi đành chuyển sang đọc báo, lại bắt gặp ngay khuân mặt và cái tin bác Lê Văn Tam, sang tìm đối tác ở Đức. Làm tôi nghĩ đến câu chuyện, có lẽ, cũng phải gần hai chục năm trước. Trong một lần về phép, cùng ông bạn nhà báo, chuyên viết về nông nghiệp, đến LHCXN Mía Đường 1. Trên đường đi hắn có kể, cho tôi nghe câu chuyện đánh mất tiền tỉ, của giám đốc nhà máy đường Lam Sơn Lê Văn Tam. Câu chuyện cứ như trong phim, trong truyện cổ tích ấy. Số là, đồng chí Tam có mang một tỷ tiền mặt của nhà máy, từ Thanh Hóa ra Hà Nội. Mãi không thấy số tiền này dùng vào cái khoản nào. Vào thời điểm đó tiền tỷ là rất lớn. Sau đó, bị nhà máy, bộ ngành truy hỏi, đồng chí Tam báo cáo, bị rơi, hoặc mất cắp hết số tiền đó, nhưng không biết ở đâu? Sự việc đang trong vòng luẩn quẩn, tôi lại trở lại Đức, nên không biết xử lý ra sao?

Cứ tưởng đồng chí Lê Văn Tam, đã đi điếu hoặc chí bét cũng về ôm đít vợ từ lâu rồi mới phải. Đầu năm nay, lại thấy đồng chí trên cương vị mới, chủ tịch HĐQT công ty mía đường Lam Sơn, rất hiên ngang, dẫn đầu một phái đoàn vô cùng “hoành tráng“ sang Đức. Không biết, công việc tìm đối tác của đồng chí đi đến đâu và có mang lại lợi ích gì cho dân cho nước hay không? Nhưng uẩn khúc tiền tỷ trước đây của đồng chí, cứ làm cho tôi rờn rợn.

Đức Quốc ngày 7-2-2014,
Đỗ Trường

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

►Ông Thông Gia- truyện ngắn của Vũ Thư Hiên

Posted by hoangtran204 on 08/02/2014

Thấm thoát mà nhà văn Vũ Thư Hiên đã rời bỏ VN 21 năm. Chắc hẳn nhà văn đã và đang nhớ nhà ghê gớm lắm. Đoạn đầu của truyện ngắn dưới đây đã nói lên nổi nhớ nhà ấy. Cầu cho cs sớm sụp đổ để nhà nhà văn VTH được trở về VN sống ở nơi mà ông rất yêu mến nhưng phải rời bỏ vì sự khắc nghiệt của chế độ độc đảng bán nước hại dân; mong sao nhà văn VTH có được niềm vui cuối đời như Alexandre Solzhenitsyn đã trở về Nga sau khi Liên Xô sụp đổ 1990. 

Ông Thông Gia

Vũ Thư Hiên

Tôi sung sướng đằm mình trong nước mát. Trên đầu tôi, chung quanh tôi, nắng chói loà. Tôi bập bềnh trôi. Có tiếng sáo diều văng vẳng. Đang say sưa ngụp lặn bỗng tôi bị một cái gì va vào làm tôi vùng vẫy, sặc sụa.

– Cậu ngủ say quá thể! – tôi nghe tiếng người, tiếng cô Lương – Dậy đi, cậu.

Cô Lương lột tấm chăn tôi trùm kín đầu. Tôi giằng lại không được. Thế là tỉnh hẳn.

– Có việc gì mà cô đến sớm thế? – tôi càu nhàu.

Tôi tiếc giấc mơ. Tiếc lắm. Không dễ gì gặp được một giấc mơ như thế. Với tôi, dòng sông quê hương mà tôi vừa được thoải mái trầm mình trong đó giờ đây xa lơ xa lắc. Nó gần như mất hẳn trong trí nhớ. Giấc mơ như một món quà bất ngờ. Món quà tan biến chỉ vì cái nhà cô Lương thổ tả kia.

Tôi nghe tiếng dép lẹp kẹp đi về phía bếp, tiếng nước đổ vào ấm, tiếng bật công tắc.

– Sớm gì mà sớm. – tiếng cô Lương nói – Trưa rồi.

Tôi vẫn còn chưa hết bực mình. Kim đồng hồ trên bàn chập nhau ở con số 12. Trưa thật rồi.

Cô Lương chậm rãi pha trà. Giữa chúng tôi, hơi trà ngào ngạt và ấm áp bốc trên miệng chén. Ở khoảng cách gần, tôi thấy cô già sọm – hai mắt lõm sâu, má hóp, da mặt đã có màu bao xi măng. Mấy chiếc răng cửa hơi đưa ra, cái duyên của cô ngày trước, giờ xuống màu, với những khe rộng hơn trước. Giọng cô không còn trong, không còn cao, nó mệt mỏi, khàn khàn. Từ nốt ruồi ở quai hàm bên phải chui ra một sợi râu bạc.

– Cửa cũng không thèm đóng. – cô chép miệng, trách – Em chỉ việc đẩy vào. Có ngày trộm vét sạch. Thật đấy. Cậu biết hôm nay ngày gì không?

– Ngày gì?

– Ngày Ông Táo lên chầu giời rồi đấy.

– Ờ…

Lại một năm trôi qua. Cô Lương là cuốn lịch sống của tôi. Không có cô nhắc, tôi sẽ không biết mình đang ở đâu trong dòng chảy vô hình ấy. Đã nhiều năm, mỗi khi phải lấy áo ấm ra mặc, thấy tuyết rơi, tôi biết là mùa đông đến; phải lôi cái quạt máy trong đống đồ xếp xó ra cho nó chạy, tôi biết đã vào hè.

– Em mang ít đồ cúng sang cho cậu.

Trên nóc tủ tôi thấy có mâm ngũ quả, xôi lạc, gà luộc. Và nén nhang mới bén.

– Cảm ơn cô.

Cô cười không tươi.

– Đàng nào em chả cúng. Cậu thì cái gì cũng phiên phiến, phiên phiến. Tết nhất phải có chút gì gọi là hương khói để nhớ đến tổ tiên, ông bà. Tết này cậu sang em, ăn Tết bên em nhá?

– Ờ…

– Hôm nay em sang đây – cô nói, giọng ngập ngừng – là có việc phiền cậu…

Tôi đặt chén trà xuống, nhìn cô, chờ đợi. Ở đây, chỉ tôi là người thường nhờ vả cô. Chứ cô chẳng bao giờ nhờ vả tôi.

– Việc gì vậy?

Cô ngần ngừ.

– Em muốn phiền cậu đi Berlin với em một chuyến.

Tôi ngạc nhiên. Từ khi dọn về đây ở gần cô, tôi chưa thấy cô đi đâu.

– Đi Berlin? Làm gì chứ?

Cô nhoẻn cười, ngượng ngập:

– Hỏi vợ cho cháu Hiếu.

*** 

Tôi và cô Lương có một tình bạn dài nửa thế kỷ.

Tình bạn của chúng tôi bắt đầu bằng một món ăn. Cô Lương không phải người bình thường. Ở đất thủ đô, cô là người nổi tiếng. Cô nổi tiếng không phải vì cái gì to tát, mà nổi tiếng nhờ món bún mọc. Tôi sẽ không tả nó ngon như thế nào. Không ai có thể tả được cái sự ngon. Chuyện ấy là của riêng cái lưỡi. Cứ phải ăn mới biết. Chỉ có thể nói gọn một câu: bún mọc là món độc quyền của cô Lương trong toàn thành phố. Về món này không ai cạnh tranh được với cô. Quanh gánh bún cô Lương, khách ngồi chật vỉa hè đợi đến lượt. Đông thế mà cô tài nhớ lắm ai đến trước, ai đến sau, lần lượt múc cho từng người suất bún nóng hổi, thơm phức, nước dùng ngọt lịm, húp bỏng miệng. Những viên mọc của cô, được chế tạo cách nào không biết, nêm nếm thế nào không biết, mềm và đàn hồi, cắn ngập chân răng, như thể chúng không phải được nặn bằng thịt lợn tầm thường của trần thế.

Đến đây tôi phải nói ngay rằng giữa hai chúng tôi không hề có chuyện ong bướm. Đơn giản vì cô Lương không phải là một cô. Cô không phải đàn bà.

Trở thành khách quen của gánh bún mọc, tôi gọi anh chàng Lương này bằng cô, như cách mọi người gọi. Có người còn gọi là cô đồng Lương. Gọi thế không đúng – Lương không phải cô đồng. Không hầu đồng, không am miếu, không hương khói, đàn địch, không con công (con nhang?) đệ tử, sao gọi thế được. Các nhà khoa học viết khá nhiều về hiện tượng ái nam ái nữ, tôi có đọc, nhưng không hài lòng. Thế giới “ái” rất đa dạng, rất phức tạp, theo tôi quan sát. Nó không dễ giải thích. Đơn giản hoá nó, sơ lược hoá nó, trong cái nhìn bất biến, đinh ninh, miêu tả qua lăng kính duy vật cho ra vẻ khoa học là không được. Lấy cô Lương làm ví dụ. Đực rựa, có vợ có con hẳn hoi. Chị vợ, tôi đã gặp, xinh gái, đàn bà trăm phần trăm, mẹ của hai đứa con giống bố như đúc. Một gia đình như mọi gia đình. Cái khác là trong gia đình này anh chồng từ tấm bé đã thích trang điểm theo cách nữ – ở nhà không biết thế nào, chứ ra đường là phải thoa một chút phấn hồng lên má, quệt một đường son nhẹ lên môi. Lại còn đeo nịt vú nữa chứ (nó hiện rõ qua lần áo phin nõn), ai cũng thấy. Nói ỏn ẻn, đi nhún nhẩy, hai tay phẩy phẩy bên hông, như thể đàn bà. Thế mới thành cô Lương. Nhưng “cô” không có một nhân tình đàn ông nào, tuyệt không. Chưa ai bắt gặp “cô” cặp kè với một người phái nam. Vì thế, nói rằng trong con người cô Lương có thứ tình dục đồng giới, bệnh hoạn, theo cách nhìn của thế hệ tôi, là nói bậy.

Tôi là người không háo lên án ai, lên án cái gì. Tôi chỉ háo ăn ngon. Qua một lần nếm thử đã đủ để tôi trở thành khách quen của gánh bún mọc cô Lương. Thấy tôi, khi nào cô cũng đon đả:

– Kìa, anh giai! – rồi khi múc bát mọc rồi, cô tươi cười hỏi, không thể nói rằng cô hỏi lấy lệ – Anh giai thêm hành trần nhá? Ớt tươi chứ? Anh giai sành một cây, em biết tính ông anh mà, ăn mọc chẳng chịu tra tương ớt đâu. Ngần này đủ chưa?

Rồi lại sợ mất lòng một ông khách nào đó nghiện tương ớt, cô bả lả:

– Nói vậy chứ bách nhân bách tính, có người thiếu tương ớt là nhạt mồm nhạt miệng, ăn mất ngon, có phải không ạ?

Hoặc:

– Anh giai nom có vẻ mệt, em nhúng hai trứng nhá? Anh giai bổ dưỡng đi cho chị em vui.

Tôi đỏ mặt vì những lời chớt nhả ấy. Khách tủm tỉm nhận xét: múc cho tôi, trong muôi của cô bao giờ cũng có nhiều mọc hơn cho người khác, một chút thôi, nhưng hơn. Họ đùa cợt bảo: là do tôi đẹp trai. Tôi soi gương chẳng thấy mình đẹp trai tẹo nào, có lẽ tại hai chúng tôi có duyên tiền kiếp.

Đùng một cái, không thấy cô Lương dọn hàng. Không ai biết cô biến đi đâu.

Khách hàng nghiện bún mọc buổi sáng nhìn cái vỉa hè quen thuộc từ lâu đông nghịt giờ đây trống trơn, chưng hửng dắt xe đi. Hỏi người chủ ngôi nhà trước gánh bún mọc của cô Lương, một ông già cao lêu đêu, ông ta lắc đầu: không biết. Cô Lương đến xin đặt nhờ gánh bún thì ông cho, ông không khoảnh. Ông cho cô ngồi nhờ ở hàng hiên nhà ông vô điều kiện. Để cảm ơn ông, sáng nào cô cũng làm một bát mọc tú hụ bưng vào cho ông. Khi khách quá đông, ngồi chật cả lối ra vào, ông chưa kịp trách thì cô Lương đã bẽn lẽn xin gửi ông ít tiền hàng tháng, coi như thuê chỗ.

– Cô ấy cứ giúi vào tay, bắt tôi phải nhận. Chứ tôi cũng không đòi. – ông nói như phân bua – Thời buổi này giúp nhau được chút gì thì giúp, là cái nghĩa đồng bào. Vỉa hè nào phải của tôi. Nhưng cô ấy là người biết điều. Thấy làm phiền người nhà đi ra đi vào, cô ấy ngại. Tôi không biết cô ấy dọn đi đâu, thật vậy.

Hoá ra trong những ngày ấy cô Lương ở tù. Với người Việt ta, ở tù không phải sự lạ. Thiên hạ gặp nhau thấy ngờ ngợ thì không hỏi quê quán, họ hàng mà hỏi: mình gặp nhau ở trại nào nhỉ?

* *

Tôi gặp lại cô Lương ở một nơi mà cả hai đều không ngờ: trại tị nạn Hồng Kông.

– Giời ạ, cậu?! – trông thấy tôi, cô Lương túm lấy, mừng quýnh. Rồi trợn mắt lên, thì thào – Cậu, sao lại ở đây?

– Thì có gì lạ?

– Cậu là cán bộ kia mà.

Cô Lương thay đổi đến khó nhận ra: son phấn không, áo quần luộm thuộm, nhếch nhác, trên mép là một hàng ria nham nhở. Bây giờ tôi không còn là khách hàng nữa, cô gọi tôi bằng “cậu”. Tiếng “cậu” của ta có nhiều nghĩa, là cách bạn bè thân mật gọi nhau, cách con gọi cha, vợ gọi chồng, cháu gọi em ruột của mẹ. Khi dùng với người ngoài nó lại là cách xưng hô tỏ sự tôn trọng đối với người có dòng dõi hoặc thuộc vai vế xã hội trên mình.

– Cán bộ thì đã sao? – tôi ôm chầm lấy cô – Đến đây lâu chưa?

– Hai năm rồi. Còn cậu?

– Mới.

– Em tưởng chỉ có dân chúng em khổ quá mới phải ra đi thôi – cô Lương cụp mắt nhìn xuống bàn chân đầy bụi di di trên mặt đất – Ai tự dưng bỏ nhà bỏ cửa, bỏ quê hương bản quán? Báu lắm đấy, cái đồng đất xứ người… Mà tại sao cậu lại phải đi?

– Chuyện dài – tôi đáp – Lúc nào rảnh, tôi kể. Còn cô, đang đắt khách sao cô lại dẹp hàng, rồi ở đây?

– Cũng là chuyện dài, cậu ơi.

Chuyện dài ấy là thế này:

Trước, hai mẹ con cô Lương là xã viên hợp tác xã thu mua đồ phế thải, nôm na là hợp tác xã đồng nát. Dân ta vốn thích oai, gọi vống lên cho sướng, chứ xã viên của cái hợp tác xã này vẫn là những bà đồng nát ngày trước. Đòn gánh trên vai, hai đầu hai thúng, họ lang thang khắp phố phường mua đủ thứ đồ vứt đi: sắt vụn, nồi thủng, mâm bẹp, giấy lộn, tóc rối…, đem bán lại cho các vựa. Để được phép làm việc ấy, tháng tháng họ phải đóng một khoản tiền cho hợp tác xã, coi như mua sự hợp pháp. Mẹ cô Lương là con gái Ước Lễ, Hà Đông, làng này nổi danh cả nước về nghề giò chả. Chồng chết sớm, bà mở hàng ăn kiếm sống, nuôi con. Có nghiệp tổ, miễn chăm làm thì không giàu được cũng đủ sống. Mở hàng mới được ít lâu thì đùng một cái, nhà nước ra lệnh cấm tiệt mọi nghề dính dáng tới lương thực, tức là tuốt tuột mọi thứ – gạo, ngô, khoai, sắn và bất cứ thứ gì có chứa tinh bột Vốn liếng thế là tong. Cũng có vài hàng phở, hàng cháo lòng đánh liều, bán chui ở trong nhà. Bà không có cái gan ấy. Để được bán chui phải chạy vạy, phải đi đêm với đủ loại quan nha, chức sắc: cán bộ phòng thuế, cán bộ quản lý thị trường, công an khu vực… mới yên. Suy đi tính lại, chỉ có cái nghề mạt hạng, bị khinh khi, là nghề đồng nát, người ta mới không nhòm đến.

Cuộc sống vất vả làm sức khoẻ bà suy sụp, rồi mất. Cô Lương còn lại một mình. Cô bỏ gánh giấy vụn, đi làm thuê cho một quán phở chui. Cho đến khi ông nhà nước thấy cuộc sống sa sút quá, kinh tế xuống dốc quá, thành phố tiêu điều quá, mới rộng lượng ngoảnh mặt đi cho những người buôn thúng bán bưng muốn làm gì thì làm, cô Lương mới dám nghĩ tới việc vay mượn họ hàng sắm sanh gánh bún mọc cho mình. Rồi lấy vợ, đẻ con.

Ai ngờ một gánh bún mà làm nên cơ đồ.

Cô Lương trở nên giàu có. Nói giàu là nói trong khái niệm tương đối. Giàu ở đây là có nhiều tiền hơn người quanh mình thôi, chứ chẳng phải thiên ức vạn tải gì. Có đồng ra đồng vào, cô cũng chẳng sung sướng. Thời bấy giờ, giàu cũng là cái tội cái nợ. Người dư dả đồng tiền ngẩn ngơ không biết dùng nó làm gì. Sắm sửa thì hàng xóm biết, gửi tiết kiệm nhiều tiền thì nhà nước biết. Phải tìm mọi cách giấu cho kín cái giàu, không được hở cho bất cứ ai. Đã trở thành thói tục người này theo dõi người kia, nhà này nhòm ngó nhà khác, không trừ cả thân thuộc. Thành thử cô Lương phải hết sức giấu giếm cái sự giàu của cô, như các cụ nói, như mèo giấu cứt. Nhưng chẳng lẽ cứ tích tiền để đấy trong lúc nó mất giá hàng ngày?

Nhờ ông anh họ mách nước, cô trở thành người “chơi” đồ cổ. Ông này rất sành đồ cổ, nhất là trong lĩnh vực gốm sứ, tôi có nghe tiếng. Ngay Viện bảo tàng Lịch sử cũng phải mời ông cố vấn mỗi khi phải xác định niên đại một hiện vật mà nhận định của các chuyên gia không thống nhất.. Người như thế lẽ ra phải ở trong biên chế, nhưng ông không được nhận vì lý lịch – cha ông có thời làm thông phán trong phủ Toàn quyền.

Ông khuyên cô:

– Chú cứ nghe tôi: để tiền vào đồ cổ là an toàn nhất hạng. Nó là thứ không thiu không thối, càng để lâu càng có giá. Chú quen nghề đồng nát, biết nhiều nhà, cứ lân la dò hỏi, biết đâu đấy, có khi vớ được của quý cũng nên. Gặp đồ cổ chú cứ gọi tôi, tôi biết cái gì quý, cái gì không quý, trả bao nhiêu là vừa. Nhà nước mua lại đồ cổ của dân bằng giá rẻ mạt, như cướp không, chẳng ai muốn bán. Dân đào được đồ cổ cũng bị thu mua, chỉ được tí tiền gọi là bồi dưỡng. Mình trả cao hơn nhà nước là người ta bán. Quen rồi, người nọ mách người kia, chú sẽ mua được khối thứ. Mua rồi cứ để đấy.

Cô hỏi ông anh:

– Mua để đấy phỏng có ích gì?

– Xì, chú không biết nhìn xa.

– Là thế nào ạ?

Ông nói chắc nịch:

– Thể nào rồi cũng có một ngày khác bây giờ. Lúc ấy chú cứ gọi là ngồi trên đống của.

Cô Lương nghe lời ông anh. Cô làm quen với giới buôn đồ cổ “chui”. Cô dò hỏi, cô lùng sục, gặp đồ quý, cô mua. Dần dà, nhờ sự dạy dỗ của ông anh, cô cũng trở thành một chuyên gia đáng nể. Cầm cái bát, cái đĩa hay lọ độc bình lên, ước lượng nặng nhẹ để biết xương, xem men, xem dáng, cô có thể nói ngay niên đại của món đồ, thuộc đời nào Tống, Đường, Minh, Thanh hay Lý, Trần. Còn hơn chuyên gia, cô sở hữu một số đồ độc nhất vô nhị. Các cụ nói: cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, đồ cổ thì thứ nào cũng lớn hơn kim hết. Thế rồi một ngày kia có người chào cô mấy cái đĩa men ngọc đời Lý, men rạn, cực hiếm. Cô mua ngay. Cũng ngay đấy công an ập vào khám để tìm những hiện vật Viện bảo tàng vừa mất trộm. Người ta tìm ra tức khắc – chính là mấy cái đĩa ấy. Để “làm rõ” lý lịch những đồ cổ khác, người ta thu tất tần tật các thứ cô tích cóp được trong mấy năm trời. Cô Lương bị bắt vì tội “tiêu thụ của gian”. Cô ở tù gần một năm, không xét xử, gọi là giam cứu.

– Rồi họ xác minh cô vô tội?

– Làm gì có chuyện ấy?! – lần đầu tiên tôi thấy cô cười gằn – Họ bảo em nhận tội đi rồi họ tha, không nhận thì cứ ở đấy.

– Rồi cô nhận?

– Chứ sao.

Ra tù, cô trắng tay. Với tấm giấy tạm tha trong túi. Cô vợ xinh gái đi theo một tay cán bộ phòng thuế. Có thể gây dựng lại cuộc đời bằng gánh bún mọc, như trước kia, nhưng cô không còn sức, nói cho đúng, sau khi ở tù ra cô chán mọi sự, không còn ý chí, không còn ham muốn. Nghe người ta mách, cô dắt hai con xuống Hải Phòng tìm đường đi xứ khác. Cũng lại do ông anh họ chuyên gia đồ cổ:

– Chú đi đi, chú đã bị bỏ tù một lần, coi như có vết, không tiền án cũng tiền sự, ở đây khó sống lắm. Bây giờ người ta đi ầm ầm. Tôi xin lỗi chú. – ông quệt nước mắt, sụt sùi – Cũng là tại cái thằng tôi chú mới sa vào vòng tù tội…

Chuyện vượt biên xưa như trái đất, khỏi kể. Sóng gió, đói khát, cạn nhiên liệu, chìm tàu… vân vân. Tất cả những cái đó xảy ra với bất kỳ ai. Người có số may mắn hiếm lắm.

* *

Tôi bằng lòng đi Berlin với cô Lương. Cô nói không có tôi đi cùng, cô sẽ lúng túng, không biết ứng xử thế nào với nhà gái cho phải phép.
Ở nhà cô, một chàng trai cao, to, để ria mép, trân trân nhìn tôi.

– Cháu Hiếu đấy – cô Lương nói, vẻ tự hào pha ngượng nghịu.

– Chào cháu – tôi chào nó, biết rằng nó sẽ không chào tôi trước – Bác không nhận ra cháu đấy.

– Gutten tag … – nhìn tôi, nó nói – Bác khoẻ?

Cô Lương liếc tôi, cái nhìn biết lỗi.

– Khi chúng mình gặp lại nhau, cháu mới bằng ngần này. – tôi cười xuề xoà với cô Lượng, rồi giơ bàn tay úp sấp làm hiệu chỉ chiều cao của nó hồi ấy – Từng ấy năm, cháu làm sao nhớ được tôi là ai.

Nghe cô kể thì thằng Hiếu sáng dạ, học trung cấp cơ khí, bây giờ đã là trưởng ca hay trưởng kíp gì đó trong một nhà máy, công việc tốt, lương cao.

– Ba, con ra tiệm nét một lát – nó bước ra cửa – Con đi chếch meo. Ba với bác chuẩn bị sẵn sàng nhé!

Tôi nhớ lúc còn nhỏ, hai đứa con cô Lương không gọi cô bằng “ba”. “Ba” hiện đại hơn, sang hơn “bố”. Đi ngang tôi, thằng Hiếu vẫy tay:

– Chuýt!

Thì ra cái Audi đen bóng đậu ngoài phố, lối vào nhà, là của nó.

– Bọn trẻ giờ thế cả. Không biết lễ phép là gì – cô Lương thở dài – Sang đây chúng nó thành Tây cả. Nó vừa nói cái gì vậy, cậu?

Tôi giải thích. Cô Lương không biết computer là cái gì.

– Cậu đừng chấp – cô Lương bảo tôi – Thế là toi cái Tết. Mình lên đấy rồi về chắc gì kịp ăn Tết. Em mời cậu Tết này ăn Tết với em, mời thật tình, mà hoá ra mời rơi. Cậu vào đây mà xem: em đã lo sẵn hết cả: măng lưỡi lợn nhá, chân giò nhá, lá giong gói bánh nhá, thịt xay làm mọc nhá… tất tần tật. Em nghĩ lại rồi, em đi một mình cũng được, bắt tội cậu đi với em những ngày này, em ái ngại quá.

– Vẽ, đi là đi. Tôi nói rồi, với tôi ngày Tết chẳng có gì quan trọng. Cô đừng nghĩ ngợi.

– Thằng Hiếu lấy Tây hay ta đấy?

– Ta, cậu ạ. May thế!

Cô chị thằng Hiếu lấy Tây. Bố vợ với con rể chỉ gút tần tác, gút tần nác với chuýt là hết chuyện. Cô Lương rầu lắm. Cô còn rầu hơn nữa là đến bẹo má thằng cháu ngoại một cái cũng không được, sờ cái giống của nó cũng bị cấm – Tây nó không thích. Nó sợ cô làm bẩn con nó.

Cô phân trần:

– Nhà gái đòi phải có chạm ngõ, ăn hỏi, rồi mới cho cưới. Lôi thôi quá, cậu ơi. Lần trước gọi điện về, thằng Hiếu đã giục. Em bảo: để thư thư, Tết ra đi cũng được. Đùng một cái, ông bố vợ nó bị đâm xe.

– Nặng không?

– Nặng, mới khổ. Bà mẹ vợ bảo thằng Hiếu phải tức tốc về đón em lên để chính thức có nhời với người ta. Nếu chẳng may ông ấy có mệnh hệ nào họ còn cho cưới chạy tang.

– Hiểu rồi. Cô biết nhà gái chứ?

– Thằng Hiếu có nói gì trước với em đâu.

Mặt cô Lương chảy dài. Khi cô buồn, hay là có điều suy nghĩ, cô bước những bước chậm chạp, cái lưng gù xuống.

* *

Làng chúng tôi ở miền Nam nước Đức. Làng nhỏ nhưng sạch sẽ, ngăn nắp, an bình. Nói chung, làng quê ở vùng này đều thế: gọn gàng, tiện lợi, bé tí, mà cái gì cũng có – bưu điện,cửa hàng dược phẩm, bệnh viện, trạm xăng, siêu thị. Thằng Hiếu vui vì tôi nhận lời đi cùng bố nó, nhà trai như thế là đủ hoành tráng. Nhưng nó chê ỏng chê eo nơi ở của chúng tôi:

– Cháu đã bảo ba cháu dọn lên Berlin, ông ấy không chịu, kêu ở thành phố lớn ồn. Ra đến nước ngoài mà còn chui rúc xó xỉnh. Ở cái chốn nhà quê thế này, bác tính, vui thú nỗi gì cơ chứ? – nó nói với tôi trên con đường làng hẹp – Sorry bác, mấy ông khốt giống nhau như đúc, sợ thay đổi như sợ cọp…

Cô Lương im lặng. Tôi ậm ừ. Tôi cảm thấy mếch lòng. Cứ như thể bố nó không chịu đi là do tôi, ông ấy thích ở đây là vì ở đây có tôi.

– Được cái ông bố vợ cháu khá. – thằng Hiếu hồn nhiên tiếp tục – Khác hẳn bố cháu. Còn nhanh nhẹn lắm, cứ như thanh niên í. Hồi mới sang, ông í đứng đường bán thuốc lá lậu, rồi cầm đầu hẳn một băng, kiếm khẳm. Tậu được nhà. Nhà hẳn hoi, chứ không phải căn hộ. Thay xe như thay áo. Mẹ vợ cháu cũng đảm, làm chủ một resto trên năm chục bàn. Ba cháu mà như người ta thì đâu đến nỗi như bây giờ. Mèng ra cũng có một cái imbiss . Tội nghiệp, không biết liệu ông bố vợ cháu có tai qua nạn khỏi không?

Không giống nhiều thanh niên khác, Hiếu vẫn nói thạo tiếng mẹ đẻ, chỉ thỉnh thoảng nó mới chêm vào vài tiếng Đức quen miệng, vài tiếng Anh thời thượng. Trên xe, nó nói với tôi nhiều hơn nói với bố.

– Này, anh Hiếu, thế ông ấy đã làm… hừm, gọi là cái gì nhỉ, à, cái di chúc chưa đấy? – giữa câu chuyện, cô Lương đang lim dim ở ghế sau, nhổm lên nói.

– Ông ấy khoẻ như vâm, – thằng Hiếu nhún vai – nghĩ gì đến di chúc.

– Vạn nhất ông ấy không qua khỏi mà không có di chúc để lại thì, hì hì…, vợ chồng anh dễ bị thiệt lắm.

Trong câu nói của cô Lương có âm sắc mai mỉa. Nhưng con trai cô không nhận thấy.

– Ông ấy có gì để lại? Khôn như rận, ba ơi, cái gì cũng tên vợ hết. Ông ấy sợ. Bọn Đức khiếp lắm, trốn thuế cả chục năm rồi chúng nó vẫn moi ra đấy.

Chúng tôi đến Berlin vào buổi tối.

Bà thông gia phốp pháp, son phấn tưng bừng ngay cả khi đang điều khiển nhà hàng. Nhác trông cũng thấy sự không môn đăng hộ đối giữa nhà trai với nhà gái.

– Chúng em không oẻ hoẹ tương tàu đâu, thưa hai bác – bà nói, giọng ngọt lịm – Nhưng mà, thưa hai bác, gì thì gì mình vẫn cứ phải giữ lề thói cha ông. Con nhà gia giáo chữ lễ phải coi trọng, là nhất, có đúng thế không ạ? Em dễ tính, cứ phiên phiến, thế nào cũng xong, chứ ông nhà em cổ lắm, nhất nhất cứ phải theo phép xưa mới chịu. Phật tử đấy ạ. Chăm đi chùa lắm. Mà chùa thì xa, có phải gần đâu. Tối nào cũng ngồi thiền, tụng kinh niệm Phật đấy ạ.

– Ông bà nghĩ thế là chí phải. – cô Lương chắp tay lễ phép – Chúng tôi nhất nhất xin theo. Ngặt vì mình ở xứ người, có nhiều cái không thể được như ở nhà, chúng tôi có điều gì thất thố xin ông bà bỏ qua cho.

Cô Lương nói trơn tru trước sự ngạc nhiên của tôi. Thường ngày cô có cái giọng ấy, có õng ẹo cũng là chất phác, mộc mạc.

– Con Thuỷ đâu rồi? – bà cao giọng gọi vào trong bếp – Ra đây.

Một cô gái trẻ, vận quần áo đúng mốt, có hở một chút rốn, nhanh nhẹn chạy ra. Mắt thằng Hiếu sáng lên. Hai đứa nhìn nhau lúng liếng. Con bé này rồi cũng đảm chẳng kém mẹ, tôi nhận xét.

– Con chào hai bác đi. Bây giờ thế đấy, hai đứa chúng nó quen nhau từ lúc nào em đâu biết, chúng nó đâu có báo cáo báo cầy gì với bố mẹ. Thôi thì không bằng lòng cũng phải bằng lòng, bác không kén dâu, chúng em cũng chẳng kén rể, mà có kén cũng chẳng được, thời bây giờ chúng nó kén nhau chẳng khiến ta, em nói thế có phải không ạ? Là cái duyên cái số cả. Nhà trai đến, có nhời với chúng em là chúng em vui rồi. – bà rơm rớm nước mắt – Vui đến, buồn cũng đến. Năm nay nhà em gặp hạn. Ông nhà em lái xe cẩn thận lắm, mà vẫn bị. Tổ cha cái thằng Đức lợn ấy, nó phóng bạt mạng, mới ra nông nỗi. Thổi bong bóng thằng ấy thấy có hơi rượu, nhưng cảnh sát bảo còn dưới mức cho phép. Chúng nó bênh nhau mà, bọn Đức thế cả, ai chả biết. May, nhà em đã mua bảo hiểm toàn phần…
Cô Lương đến lúc ấy mới dám lí nhí hỏi câu cô muốn hỏi.

– Thưa, bệnh tình ông nhà… thế nào rồi?

Bà thông gia vui vẻ:

– May, tưởng nặng, hoá không phải. Không phải mổ xẻ gì hết, chỉ mấy mũi khâu, băng bó xong nằm tĩnh dưỡng ít hôm là về. Nhà em hiếu khách lắm, ông ấy mà gặp hai bác thì chuyện dứt không ra đâu. Mấy hôm nữa, khoẻ lại rồi, nhà em sẽ đưa hai bác đi thăm các danh lam thắng cảnh ở đây. Còn bây giờ em xin mời hai bác dùng bữa rồi về nghỉ ở nhà em. Được cái nhà không đến nỗi chật, em đã chuẩn bị, hai bác mỗi người mỗi phòng ạ.

– Cảm ơn bà, bà chu đáo quá. Bác cháu đây (cô Lương chỉ tôi) trước cũng ở Berlin, bác cháu đã gọi điện đặt phòng ở một khách sạn quen rồi – cô nói dối ráo hoảnh, làm tôi một lần nữa ngạc nhiên – Chúng tôi nhận phòng xong là ăn tối luôn ở đấy cho tiện rồi mới lại yết kiến bác…

* *

Khi chúng tôi đến phòng bệnh thì thấy một bác sĩ Đức đang ở trong đó, đang đọc bệnh án.

Nhác thấy người bệnh qua cánh cửa khép hờ, cô Lương lùi phắt lại như bị điện giật, nắm chặt lấy tay tôi.

– Ông sao vậy? – tôi ghé sát vào tai cô Lương, thì thào.

Cô Lương xua xua tay:

– Không, không sao.

Mắt vẫn không rời khe cửa, mặt cô Lương đờ ra, xám ngoét. Cô lôi tôi khỏi chỗ.

– Thằng Hiếu đâu rồi?

– Tôi không biết. Nó vừa đây mà.

Thì ra thằng Hiếu dừng lại ở ngoài cổng hút thuốc. Cô Lương lật đật chạy đến, túm lấy nó, tôi hối hả theo sau.

Đứng trước mặt con, cô dằn giọng:

– Hiếu, bố vợ mày tên là gì?

Nó trố mắt:

– Sao, có chuyện gì mà ba hỏi thế? Sao mặt ba tái đi thế?

– Tao hỏi: bố vợ mày tên gì?

Thằng Hiếu ngớ ra.

– Ông ấy tên là Khởi, ông Khởi. Có chuyện gì thế, ba?

– Đúng, đúng là nó.

Cô Lương lẩm bẩm rồi cúi gập xuống như một thân cây bị đốn. Tôi vội đỡ cô. Thằng Hiếu lại càng hốt hoảng:

– Ba, ba sao vậy? Bác có biết ba cháu bị sao không?

Tôi lắc đầu. Cô Lương phẩy phẩy tay:

– Đi về. Đi về.

– Sao đến đây rồi lại đi về, ba?

– Đi về là đi về.

Tôi đoán là có chuyện nghiêm trọng, liên quan tới người bệnh đang nằm trong kia. Tôi kéo cô vào quán nước gần nhất. Dọc đường cô như người mất hồn, mặc tôi muốn đưa cô đi đâu thì đi.

Đặt cô ngồi xuống ghế, tôi gọi mấy ly bia. Cô run run cầm cái ly lên, lẳng lặng uống cạn. Đợi cô uống xong, rồi ghé sát vào tai cô thì thào:

– Ông biết ông ta?

Cô Lương nhìn chằm chằm vào khoảng không, môi mím chặt:

– Chính là nó. Chính là nó đấy, ông ạ.

Khi có người thứ ba, chúng tôi không xung hô với nhau như thường ngày nữa, mà “ông, tôi”. Cái đó đã trở thành quy ước, nó gắn chặt thêm tình thân giữa chúng tôi, như giữa hai kẻ đồng mưu.

– Mà nó là ai kia chứ? – tôi gặng.

Cô hít vào một hơi rồi thở ra hộc ra, như muốn trút hết không khí khỏi lồng ngực:

– Là thằng làm đời tôi tan nát ấy. Nó. Chính là nó. Có đến chết tôi cũng không quên mặt nó, cái thẳng khốn nạn ấy. Chính là cái thằng giả dạng đem bán cho tôi mấy cái đĩa cổ, rồi làm hiệu cho đồng bọn ùa vào khám nhà để tống tôi vào tù đấy.

Một giọt nước mắt xúc động lăn trên gò má, cô lấy mu bàn tay quệt đi. Rồi ngẩng lên, nhìn vào mặt con:

– Thằng Hiếu nghe đây!

Thằng Hiếu ngẩn ngơ trước thái độ không bình thường của bố. Bình thường bố gọi nó bằng anh, một điều anh Hiếu, hai điều anh Hiếu, với giọng trịnh trọng của ông bố đã có tuổi nói với đứa con đã thành nhân, không bao giờ bố gọi nó bằng thằng. Trước mặt nó giờ đây không phải là ông bố hiền lành, ông bố đụt, mà nó đã quen thấy, mà nó hằng coi thường. Trước mặt nó là một người đàn ông dữ dằn đang nổi cơn điên.

Nó bất giác khoanh hai tay lại, cử chỉ từ lâu nó không làm.

– Dạ.

– Nghe tao nói đây: mày sẽ không lấy cái con nhà ấy, hiểu không? – cô nhìn thẳng vào mắt nó, dằn từng tiếng, như bắt nó phải khắc trong trí

– Con ấy có là tiên cũng không lấy nữa, không được. Thằng Khởi là kẻ thù của gia đình ta. Chính nó đã làm cho gia đình ta điêu đứng. Hôm nay có súng trong tay thì tao đã bắn chết nó…

Thằng Hiếu im lặng ngồi phịch xuống ghế. Hai tay ôm đầu, nó ảo não nhìn bố.

Vẫn giọng chắc nịch, cô Lương không nói, mà tuyên bố:

– Thà chết, chứ tao không thông gia với cái giống ấy.

Tôi ôm lấy vai cô:

– Việc gì thì cũng phải bình tĩnh, từ từ suy nghĩ, trước hết là phải bình tĩnh, không nên nóng nảy. Bây giờ ta về khách sạn. Rồi tính tiếp.

* *

Ngày hôm đó kẻ vất vả nhất, khốn khổ nhất, là thằng Hiếu. Nó lái xe chạy cuồng giữa ba đỉnh của một hình tam giác – khách sạn, nhà thương, nhà hàng. Nghe lời tôi, nó nói dối bố mẹ vợ rằng lễ vấn danh theo kế hoạch như thế là phải hoãn – bố nó bất thình lình trúng gió, nằm liệt, không đi lại, không làm gì nổi. Ông bố không nói gì, nhưng bà mẹ và cô con gái cuống lên, nằng nặc đòi đến thăm. Nó phải ra sức cản, viện lẽ chừng nào bố nó chưa được định bệnh thì không thể và không nên đến, biết đâu đấy, chưa chừng bố nó nhiễm chứng cúm châu Á ngay trước khi lên đường đi Berlin cũng nên, bệnh ấy vừa xuất hiện, người bệnh cần được cách ly. Lời nói dối có hiệu quả – ở Đức người ta sợ cúm châu Á còn hơn sợ dịch tả.

Tôi không nói với cô Lương đó là kế hoãn binh của tôi. Tôi nói ra, cô sẽ nổi khùng. Cả ngày, cô chẳng nói chẳng rằng, chỉ nằm ngửa nhìn lên trần.

Đêm đến, thấy cô có vẻ đã nguôi ngoai, tôi mới lựa lời khuyên nhủ:

– Cô nóng quá. Sự đời rắc rối, nó đã xoay ra thế rồi, sức mình không cải được, thì đành chấp nhận, chứ biết làm sao?

Cô Lương trợn mắt:

– Cậu nói thế là ý thế nào? Là em phải quên đi, phải chịu làm thông gia với thằng khốn kiếp ấy? Cậu muốn em muối mặt đến gặp nó để xin con Thuỷ cho thằng Hiếu? – cô Lương tung chăn ngồi dậy, ôm đầu rền rĩ – Không, cậu ơi, không, em không thể nhìn mặt nó. Em không thể làm thông gia với nó. Không là không.

– Thì tôi có bảo cô phải đến gặp nó đâu. Tôi chỉ muốn nói là hai trẻ đã trót yêu nhau rồi, thì mình phải nghĩ cách sao cho vẹn cả mọi đường…

– Cách gì?

– Thì phải nghĩ đã chứ. Sao cho chúng nó không đau khổ.

– Chúng nó đau khổ thì mặc chúng nó.

Cô Lương quay đi, chấm dứt câu chuyện.

Tôi vắt óc chẳng nghĩ ra cách nào hay ho. Khuyên được nạn nhân hoà giải với kẻ thù là chuyện vá trời.

Gần sáng, tỉnh dậy, thấy cô Lương vẫn thức, tôi pha trà, rồi bảo:

– Thế này: tôi đưa cô ra ga đi tàu về trước, tôi ở lại. Mình sẽ nói rằng cô đã được chuyển về bệnh viện địa phương tiếp tục điều trị.

Cô lắc đầu:

– Việc gì phải nói dối? Như thế cầm bằng em sợ nó, em không dám giáp mặt nó. Em không sợ nó. Em căm thù nó.

Tôi thở dài:

– Từ từ đã nào. Có phải cô nhờ tôi đi để làm việc hỏi vợ cho thằng Hiếu không nào? Trông thằng Hiếu mà thương. Nó sợ cô đến nỗi không dám vào đây, mỗi lần tôi mở cửa lại thấy nó lấp ló ở đấy.

Cô Lương ngước mắt lên, hỏi:

– Cậu nghĩ sao? Nó sợ hay nó ghét mặt bố nó?

Tôi quả quyết:

– Nó sợ đấy. Lúc cô thiếp đi, tôi ra ngoài thì gặp nó. Tôi đã kể cho nó nghe hết sự tình, tức là tất cả mọi chuyện mà tôi biết. Nó khóc. Nó thương bố lắm.

Mặt cô Lương dãn ra ra khi nghe tôi nói thế.

– Nhưng mà em dù sao thì cũng không thể thông gia với cái giống chó má ấy được, cậu ơi. – cô lại ôm đầu – Không đời nào.

– Thì tôi đứng ra mà. Không phải cô. Tôi cũng không để cô muối mặt gặp thằng ấy. Coi như tôi là bố nuôi thằng Hiếu, cô không đến được thì tôi thay mặt nhà trai đến chạm ngõ. Còn sau này ra sao hạ hồi phân giải.
Nghe đến đấy cô Lương quay mặt vào tường, im lặng.

* *

Nằm trên giường bệnh là một người khoẻ mạnh. Nụ cười hồ hởi nở trên gương mặt phương phi, ông ta đưa tay cho tôi bắt. Nước da ngăm ngăm đen làm tôi hình dung ra ông trong bộ cảnh phục và câu nói cửa miệng của dân Hà Nội chỉ đám công an: “chân chì, da thiết bì, mũ bình thiên”.

Thằng Hiếu cho biết: khi tai nạn xảy ra, ông bố vợ nó có bị thương, có chảy nhiều máu thật, nhưng hoàn toàn tỉnh táo. Mới lấy máu bôi lem nhem khắp mặt mũi, rồi giả bộ ngất. Tưởng thế là đủ để cảnh sát làm một biên bản thuận lợi cho sự bắt đền, nào ngờ thấy máu me bê bết, họ vội gọi xe cấp cứu chở phắt đi bệnh viện. Mà ở bệnh viện thì tình trạng thương tật của ông thế nào người ta biết ngay. Sở dĩ ông còn được nằm nán lại mấy ngày là vì ông vờ bị choáng, thỉnh thoảng lại ngất đi, tính kiếm thêm ít điểm cho sự bồi thường về sau.

Nó dẫn tôi đến, rồi đứng ngoài, để hai người lớn nói chuyện.

– Tôi trông ông quen quen. – ông ta vui vẻ nói.

– Tôi cũng vậy. Tôi cũng có cảm giác chúng ta đã gặp nhau, nhưng ở đâu thì không nhớ ra. – tôi nói cho có chuyện.

– Già rồi là hay quên lắm, tôi cũng không nhớ ra.

Tôi cố lấy giọng trịnh trọng:

– Chắc cháu Hiếu đã thưa với ông: tôi là cha nuôi của cháu. Bố cháu ngã bệnh thời khí, nhất thời không đến được, nên tôi mạn phép được thay mặt nhà trai, trước hết để vấn an ông, sau là có lời xin ông bà cho cháu Thuỷ làm dâu…

Ông bố vợ thằng Hiếu cười hì hì:

– Biết rồi, biết rồi. Lại bà nhà tôi đây, bà ấy chúa hay vẽ chuyện. Cũng là phú quý sinh lễ nghĩa thôi. – rồi hạ giọng, thân mật – Chứ hồi tôi với bà ấy lấy nhau ấy mà, lễ nghĩa quái gì đâu, chẳng chạm mặt, cũng chẳng ăn hỏi. A lê hấp, cưới. Mà cưới tập thể cơ đấy, ông ạ. Nhoáng nhoàng, nhoáng nhoàng, buồn cười lắm: chủ toạ buổi lễ chưa nói dứt câu thì cả đám cô dâu chú rể đã xông vào xơi kẹo bánh ào ào như tằm ăn rỗi, rồi ào ào kéo nhau đi tuốt…

Giọng nói của ông ta gợi nhớ đến một cái gì quen quen. Cả gương mặt nữa. Tôi đã thấy nó ở đâu nhỉ?

– Tôi là người hiện đại. – ông ta tiếp tục vui vẻ – Lễ nghĩa là cái gì? Che mắt thế gian thôi. Cưới là cái gì? Là để lên giường có giấy phép, hì hì, có sự thừa nhận chính thức của nhà nước, để không bị ghép vào tội hủ hoá, có đúng thế không nào? Ông trạc tuổi tôi, ông còn nhớ người ta trị cái tội ấy nghiêm khắc thế nào. Kinh lắm. Lũ trẻ bây giờ chúng nó măng phú hết, chúng nó đếch cần lễ nghĩa gì ráo…

– Quả có thế.

– Ở bên Tây này khỏi nói, dưng mà ở trong nước cũng thế, mới lạ. Gọi là sống thử, chưa cưới cũng ở chung, vui ra phết…

– Dù sao thì…

– Ông muốn nói: cứ phải theo thủ tục của ông bà để lại mới tốt chứ gì? Ờ, thì cũng tốt, cũng tốt thôi. Thừa còn hơn thiếu, ít nhất thì để cho bà nhà tôi sướng, làm như thế, tức là đủ thủ tục thì bà ấy sướng lắm đấy…

– Dạ.

– Ông thấy cần làm gì cứ làm, tôi không phản đối. Mà này…

– Ông bảo sao?

Ông ta suồng sã nháy mắt với tôi:

– Có cái hủ tục ấy anh em mình mới có dịp gặp lại nhau chứ.

Thế là thế nào? Trong một thoáng tôi sực nhớ ra: phải rồi, trước mặt tôi, người đang nằm trên giường kia chính là tên công an đã hành tôi nhiều đêm trong cuộc hỏi cung kéo dài bất tận.

Chuyện là thế này. Tôi có bà cô ruột ở Sài Gòn. Qua họ hàng vào thăm bà biết tôi từng bị bắt đi cải tạo, bà thương tôi, khi sửa soạn vượt biên bà muốn đưa tôi cùng. Trước đó tôi còn không biết mặt bà. Cô cháu tôi không gặp may. Tên chủ tàu phản thùng. Nó thu vàng rồi báo công an. Cả tàu bị bắt. Tên Khởi này không phải là người hỏi cung chính, hắn là phụ tá.

– Tôi nhớ ra rồi. Ông là… Điều tôi không ngờ là chúng ta lại tình cờ gặp nhau ở đây. – tôi cười chua chát – Ông nhận ra tôi?

– Chứ sao! – hắn cười to – Trí nhớ công an mà. Chúng tôi không quên cái gì. Chúng tôi được huấn luyện để không quên.

– Tài thật. Bằng ấy năm rồi mà ông vẫn nhận ra ngay.

– Còn hơn thế nữa kia. Tôi biết tại sao lại là ông, chứ không phải bố thằng Hiếu, đến.

– ???

Hắn nói chậm, rõ từng tiếng:

– Ông đến là vì cô đồng Lương không muốn giáp mặt tôi.

Tôi ngạc nhiên. Phải nói là sửng sốt mới đúng. Chúng tôi chỉ thập thò ở cửa phòng bệnh của hắn chưa đến một phút.

– Quỷ quái, ông đã nhìn thấy? Ông nhận ra ông ấy?

Vẻ đắc thắng, hắn hơi nhổm người lên, cười vào mặt tôi:

– Sao không? Chỉ thoáng thấy ông ấy ở ngoài cửa là tôi nhận ra liền. Tôi biết: ông ấy còn căm tôi lắm. Ông khác, ông quên rồi.

Tôi lắc đầu, cố giữ vẻ bình thản:

– Không, tôi không quên.

– Ông quên. Bằng chứng là ông không nhận ra tôi khi bước vào đây. Ngay cả khi ngồi trước mặt tôi, ông cũng không nhận ra. Ông chỉ nhận ra khi tôi nhắc.

– Tôi vốn không có tài nhớ mặt người. – tôi lạnh lùng – Nhưng sự việc thì nhớ. Có nhiều sự việc con người không thể quên.

– Thế là tốt. Nhớ nhiều quá chẳng hay gì.

Khởi cười khẩy, cái cười khẩy rất đểu, làm tôi nhớ thêm một chi tiết trong cuộc hỏi cung. Đêm ấy hắn cũng cười như thế khi hỏi tôi: “Bà cô cậu bảo nếu tớ thả hai cô cháu cậu ra, bà ấy xin chết bốn cây. Liệu hai cô cháu cậu có định cho tớ leo cây không đấy?”

Tôi nhìn vào mặt hắn:

– Tôi có điều không hiểu: tại sao ông lại ở đây?

– Dớ dẩn. Ông đặt một câu hỏi không nên hỏi tí nào. Đơn giản là trả lời: cũng như các ông thôi.

– Chúng tôi khác, ông khác. Ông ở trong đám người có quyền đè đầu cưỡi cổ kẻ khác. Ông đi làm gì?

Khởi vẫn không mất vẻ tươi cười:

– Tội nghiệp, ông âm lịch quá. Con người ta sinh ra đã biết lựa chọn rồi, đã biết so sánh rồi, so sánh để lựa chọn cho đúng. Cái tốt hơn đặt bên cái tốt kém, thì cái tốt kém là cái xấu. Tôi chọn cái tốt. Nếu không thể chọn cái tốt nhất. Ở trong nước cũng thế, ở đây cũng thế.
Tôi khen hắn, thật lòng:

– Ông thật tinh quái.

– Chúng tôi được dạy dỗ để trở thành tinh quái mà. – hắn cười, vừa độ lượng vừa thoả mãn – Ông cứ xem các nhà lãnh đạo quốc gia của chúng ta bây giờ xem – có ông nào không giàu đâu. Tôi không làm được như họ, bởi vì tôi không có cái thế của họ. Thì tôi phải đi tìm chỗ khác. Có thế thôi. Người như tôi nhiều. Người như ông với cô Lương hiếm. Ông không nên tự hào về sự hiếm ấy. Đó là sự lạc hậu.

Tôi mím môi, thở dài qua mũi.

Hắn nắm tay tôi:

– Quên, tôi chưa hỏi ông: cô Lương, à ông Lương, sang đây không làm ăn gì à? Không mở cái quán nào?

– Không. Ông ấy đi làm nhà máy. Rồi về hưu.

Hắn cũng thở dài:

– Dại. Dại quá. Có tài nấu nướng như ông ấy, mở một cái imbiss cũng khẳm tiền. Có tiền là có điều kiện cho con ăn học đến nơi đến chốn.

– Hai cháu cũng được học hành tử tế đấy chứ, cũng nên người đấy chứ. Tôi không thấy có gì đáng phàn nàn.

Hắn đặt bàn tay béo tốt, gần như mũm mĩm, lên tay tôi, một lần nữa:

– Thế này nhé! Chuyện thằng Hiếu với con Thuỷ coi như xong. Ông Lương không đến cũng được. Kể cả ông nữa. Cứ coi ông là người đại diện nhà giai đi. Không sao. Không phải chúng ta là người quyết định. Làm gì còn có sự gả bán nữa. Thời này không phải thời chúng ta.

– Dù sao thì chúng tôi cũng phải có lời xin cháu làm dâu đàng chúng tôi. Mình cứ giữ cho đủ lễ.

Hắn nhếch mép cười buồn. Rồi bảo:

– Con người ta tham lắm, ông ạ. Nói thật với ông, không muốn có một thằng rể chỉ tốt nghiệp trung cấp. Tôi muốn một thằng rể bét ra cũng phải kỹ sư, tiến sĩ. Hoặc một ông chủ công ty lớn. Hai đứa chúng nó đặt tôi vào thế kẹt. Biết làm thế nào? Thôi thì đành chịu vậy.

Khi tôi kiếu từ, hắn còn nói theo:

– Ông yên trí, tôi sẽ nhào nặn lại thằng Hiếu. Nó chịu khó, chăm làm, cũng có chút chí tiến thủ, không như bố nó. Cái nó thiếu mà tôi không cho nó được là không nó không có cao vọng.

* *

Câu chuyện tầm phào này đến đấy là kết thúc. Như mọi câu chuyện tầm phào khác, nếu nhìn bằng cái nhìn chăm chú thể nào ta cũng tìm thấy trong đó một cái gì đáng để ta suy ngẫm, cho dù sau đó chẳng đến được một kết luận rõ ràng.

Tôi không tường thuật cho cô Lương nghe cuộc đối thoại giữa tôi với thằng Khởi. Nó không chỉ là kẻ thù của riêng cô Lương. Nó còn là kẻ thù của tôi nữa. Điều này tôi giấu, không nói ra. Nếu tôi nói, có thể cô Lương sẽ cảm thấy lòng căm thù của cô được san sẻ. Nhưng, khốn nạn thay, không phải vì được san sẻ mà hận thù nơi cô nhẹ đi. Có khi nó còn nặng thêm, vì cô thấy nó có lý hơn.

Chỉ có thời gian mới có khả năng xoá đi hận thù. Mà thời gian đủ để xoá là bao lâu thì không ai biết, không ai có thể chỉ ra.

Ba năm liền, hai ông thông gia không giáp mặt nhau, không gửi cho nhau một lời hỏi thăm.

Năm thứ tư, tôi bắt gặp hai kẻ thù một thời đi cùng nhau ở quảng trường Brandenburg. Giữa hai người là đứa cháu mới chập chững biết đi.
Nó tin cậy giao hai bàn tay bé tí cho hai ông nó dắt

danluan.org 

Các truyện ngắn khác:

Nhân đọc về cụ Tôn Thất Tần, người tù bị đảng bắt giam từ 1946 

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

Tấm Hình Cũ

Posted by hoangtran204 on 25/10/2011

Tấm hình cũ

Vậy là hắn đã đi vào cõi vĩnh hằng. Hắn nằm thẳng rẵng trong quan tài kính, xung quanh chất đầy hoa, và những mảnh giấy bạc do các con hắn cắt với những dòng chữ yêu thương, và không bao giờ quên hắn( PaPa, Wir lieben Dich und werden Dich nie vergessen). Bốn cây đèn cầy cao lêu nghêu được đặt hai bên. Hắn nằm đó mặc kệ sự đời, mặc kệ những tiếng gào khóc xót thương của vợ con, gia đình và bạn bè. Khuôn mặt hắn vẫn thản nhiên vô tư như vốn có.

Vợ hắn lúc nhoài người về phía quan tài, có lúc mềm oặt như chực đổ. Thấy vậy, hai bà bạn đến xốc nách, kẹp chặt vợ hắn vào giữa. Bà Ba mẹ vợ hắn, ôm chặt hai đứa cháu ngoại, bờ vai đang rung lên. Ông Ba (nguyên là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa-bố vợ hắn) thỉnh thoảng lấy khăn lau kính, hai mắt đỏ hoe. Ông An (đồng chí Sáu An nguyên là sĩ quan quân đội) bố hắn, đứng cạnh ông Ba, hai má tóp lại, đôi mắt đờ đẫn khô khốc, thỉnh thoảng ông lại đưa tay lên bóp vào mặt. Tôi cầm tay ông, một bàn tay lạnh ngắt, cảm tưởng người ông đang run lên như bị sốt rét rừng.

Người ta từ từ đẩy chiếc xe chở hắn về hướng nhà hỏa táng. Những chiếc lá vàng đầu thu đã trải vàng lối đi. Hai ông già dìu nhau xuống cuối con dốc, ánh nắng nhạt cuối chiều làm bóng họ đổ xuống thành những vệt dài. Sau lưng họ có một vài cơn gió xoáy nhẹ cuốn ngược những chiếc lá vàng lên rồi rơi xuống như những quân bài được ai đó tung ra.

Vài tuần trước, tôi tạt vào quán của hắn, thấy hắn đang xóc chảo hùng hục trong bếp. Vợ hắn khoe, ông nội (tức bố hắn) mới từ Việt Nam sang chơi. Tôi không phải là bác sỹ, và là người không tin tướng số, nhưng trong lòng dường như có một linh cảm nào đó không ổn khi nhìn hắn. Tôi buột miệng hỏi:

– Vẫn khỏe đấy chứ, nhìn ông hôm nay, tôi thấy kỳ kỳ, thế nào ấy!

Hắn cười hơ hớ, nhìn xéo sang vợ:

– Lại đến lúc bác phải đến bác sỹ đổi kính rồi, bảo đảm với bác tuần nào em cũng phải bắn bốn, năm phát.

Vợ hắn đỏ mặt, buông dao thái, chạy đến đấm vào lưng hắn thùm thụp.

Vậy mà tuần sau nghe tin, chỉ một cơn đau thắt ngực trong đêm đã quật ngã hắn. Hắn bỏ lại vợ con, gia đình, bỏ lại bạn bè và rất nhiều những dự định chưa làm được. Hắn ra đi còn quá trẻ vào cái độ chín nhất của một đời người.  (Tính đến nay tôi quen hắn gần hai mươi năm rồi. Ngày ấy…)*

Ở Việt Nam đang thời kỳ đói vàng mắt, quanh năm chỉ cạp khoai, củ mì khô, sang đến Đức được vào làm việc ở xí nghiệp liên hiệp thực phẩm, nghe nói ai mà chả thích, đúng là chuột sa chĩnh gạo. Nhưng liên hiệp có nhà máy giết mổ gia súc lớn nhất nước Đức, tôi được xếp vào dạng to cao đen hôi, nên điều về làm ở dây chuyền giết mổ lợn, công việc vô cùng nặng nề (người Việt ta quen gọi: lò mổ). Cứ đến cuối tuần chỗ tôi nhộn nhịp lắm, các tay bợm nhậu khỏi nói, từ các bác Tiến sỹ, các ông du học sinh đến anh em lao động và cả các em chân ngắn, chân dài ở đội bên cạnh, nguyên là các diễn viên, ca múa nhạc của Hà Nội, Sài Gòn cũng dập dìu đến với cái khoản tiết canh cổ hũ của tôi. Mệt thì mệt nhưng  vui, sinh nhật, cưới xin, hội hè nào cũng có tôi. Có lẽ lúc đó tôi còn quan trọng và nổi tiếng hơn nhà văn Đoản mắm ở Đức hiện nay cũng không chừng.

Tôi quen hắn trong một lần như vậy. Hôm đó đang ngồi lai rai với mấy ông bạn đội dệt ở ngoài hành lang ký túc xá, thấy có tay chơi mặt lạ hoắc, ăn mặc luộm thuộm, tay cầm can 3 lít đến thẳng chỗ tôi:

– Em ở đội tầng trên, mới sang được mấy tháng, nhớ tiết canh quá, thứ sáu này đại ca cho em đầy can được không?

Tôi bảo:

– Tuần này nhiều người xin quá, tuần sau nhé.

Hắn nhăn nhó:

– Khó mà cưỡng được sự thèm khát, đại ca xem bớt của thằng nào đó cho em nửa can cũng được, nhớ cho thằng em mấy cái cổ hũ.

Thấy tôi gãi đầu, hắn bỏ can lại, cười cười văng tục:

-Đại ca đ. cho tuần này, tối buồn buồn, em xuống chọc bánh xe đấy!

Hắn nguyên là sinh viên đại học bách khoa Hà Nội, vì can tội đánh người gây thương tích trong sân bóng, nên bị đuổi. Hắn bảo: Sự việc không như vậy, hai thằng đánh nhau, thằng nào cũng bị sứt mẻ, nhưng bố thằng đánh nhau với hắn là cán bộ to ở Hà Nội, trên hàng cấp tỉnh của bố hắn, nên hắn chịu thua, ôm hận trở về quê. Mẹ hắn bắt năm tới phải thi lại đại học, chiều theo ý mẹ, hắn chuẩn bị cho kỳ thi. Nhưng gần đến ngày thi, mẹ hắn lăn đùng ra chết. Buồn chán hắn đề nghị với bố hắn cho sang Đức lao động.

Mấy năm sau ngày hắn sang, bức tường Berlin sụp đổ, báo hiệu nước Đức thống nhất đã đến gần. Người Việt ở ký túc xá phân tán khắp nơi, cuối tuần lại càng trở nên vắng vẻ. Lúc này ở trong nước, phe cứng rắn của bố hắn đang trỗi dậy và ông đã đoạt chiếc ghế phó chủ tịch thường trực tỉnh trở lại. Hắn dồn dập nhận được thư của ông yêu cầu phải về nước ngay. Nhưng hắn dứt khoát không chịu, mặc dù nhà máy hắn đã đóng cửa, một số bạn bè đã nhận tiền đền bù về nước. Lò mổ vẫn còn ngắc ngứ hoạt động, nên tôi còn ở trong ký túc. Hắn ôm quần áo xuống phòng tôi xin ngủ ké. Tôi hỏi:

– Bố làm phó chủ tịch, con một, sao không về?

Hắn bảo:

– Bố em rất muốn vậy, em về ông sẽ cài cắm, sau này ông có về hưu, em đã có vị trí ổn định. Nhưng em đ. muốn như thế.

Một hôm thấy hắn tha ở đâu đó về mấy thùng thuốc lá các loại. Thấy tôi trợn mắt nhìn, hắn cười:

– Vừa mua ở chỗ mấy thằng lính Nga về, nó bán có 10 DM một cây, mai mang ra chợ, thế nào cũng được 30 DM, nằm mãi em cũng chán rồi.

Qủa thật hắn là con người của công việc, sáng sáng thấy hắn khoác đầy balô thuốc lên đường, chỉ mấy tiếng sau hắn đã bán sạch trơn. Thời kỳ này hắn rủng rỉnh lắm, tối nào tôi không phải làm ca đêm, hắn cũng rủ ra quán ngồi. Hắn bảo thời kỳ này thuế vụ bắt đầu quần thảo rồi, có lẽ phải mua ô tô, để giấu hàng. Mấy hôm sau hắn mua đâu đó được cái giấy phép lái xe của Việt Nam, và mang lên sở công chánh đổi sang giấy phép lái xe của Đức. (Cái giấy phép lái xe của Việt Nam hai năm sau bị sở công chánh kiểm tra lại, phát hiện ra là giả, nên đã thu hồi lại giấy phép lái xe của Đức, buộc hắn phải học lại. Cũng may hắn không bị truy tố ra tòa.)

Hôm mua xe ngoài chợ, tôi phải lái về cho hắn. Điếu đóm cho tôi một tuần, hắn cũng tự lái được xe. Chỗ đứng bán thuốc của hắn trước cửa Konsum, hay khu chợ ngoài trời. Thỉnh thoảng có đoàn kiểm tra, hắn vơ vội thuốc chạy chối chết, có nhiều lần mất hết cả thuốc. Triết lý của hắn, không bị bắt là may rồi. Một hôm thấy hắn thất thểu đi về, tôi chưa kịp hỏi, hắn đã bảo, có lẽ giải nghệ bán thuốc. Thì ra buổi sáng hắn vừa ra chợ, chưa bán đã bị kiểm tra liên ngành, thuế vụ, công an đuổi bắt. Bọn hắn chạy tứ phía. Người cảnh sát trẻ  đuổi theo hắn. Chạy khá xa, nhưng người cảnh sát hình như không buông tha hắn thì phải. Đang mùa đông âm dưới chục độ, ấy vậy mồ hôi đã đổ ròng ròng, hai mắt nổ đom đóm, mệt quá không thể chạy tiếp, hắn chui vào bụi cây, co ro ngồi. Đợi cho mấy người thuế vụ chạy vụt qua, người cảnh sát từ từ tiến về chỗ hắn:

– Anh đừng sợ, hãy ra đây!

Sợ quá, hắn không dám quay lại, cứ chúi đầu rúc sâu vào bụi.

– Cứ ra đây, tôi không bắt anh đâu.

Chần chừ một lúc, hắn mới lồm cồm bò ra.

– Anh hãy thật bình tĩnh, đưa túi thuốc cho tôi.

Đưa vội túi thuốc cho người cảnh sát, hắn định chạy tiếp, người cảnh sát nắm chặt tay hắn, bảo:

– Tôi chỉ thu túi thuốc này thôi. Tôi sẽ không lập biên bản, nếu làm biên bản buộc phải truy tố ra tòa, ảnh hưởng đến việc gia hạn thẻ cư trú của anh. Đừng bán thuốc lậu thuế nữa, nguy hiểm lắm. Tôi đã từng sống ở Việt Nam quê anh. Tôi tên Bernd Wittenberg, nhà khu lắp ghép Grünau … phòng 703 nhà số 3. Nếu anh cần sự giúp đỡ có thể đến tôi bất cứ lúc nào.

Hắn cảm ơn, vội bước đi thật nhanh trong tâm trạng sợ người cảnh sát đổi ý.

Tuần sau, hắn rủ tôi đến nhà người cảnh sát nói tiếng cảm ơn, nhưng thật tình muốn thăm dò người cảnh sát có thể giúp cho hắn cái giấy phép bán hàng rong hay không, vì thẻ cư trú của hắn ghi không được phép hành nghề.

Bernd xuống tận cầu thang đón chúng tôi. Có lẽ chạc tuổi nhau, nên chúng tôi nói chuyện rất cởi mở. Trong nhà đồ dùng, trang trí hầu như xuất xứ từ Việt Nam. Thấy chúng tôi ngạc nhiên nhìn, Bernd kể, cha tôi trước làm ở hội chữ thập đỏ, nên khi còn nhỏ tôi được theo ông đi khắp nơi. Tôi đã sống ở Hà Nội và Sài Gòn khá lâu, kể cả trong thời kỳ chiến tranh. Tôi còn rất nhiều kỷ niệm về quê hương các anh. Chúng tôi ngồi chơi đến khuya, men đã ngấm, người cũng đã khật khừ. Bernd hứa dứt khoát sẽ giúp hắn có cái giấy bán hàng rong (Reisegewerbekater) vì có người bạn cũng vừa từ Hannover sang tăng cường cho sở ngoài kiều thành phố này. Thật tình, chúng tôi cứ tưởng lời hứa của rượu, bia nhưng không ngờ mấy ngày sau thấy Bernd đến bảo hắn, ra sở ngoại kiều (gặp người bạn Bernd) để xóa đi dòng chữ cấm hành nghề ở thẻ cư trú.

Chuyển sang bán hàng rong, hắn vất vả, thu nhập thấp hơn đi bán thuốc lá lậu rất nhiều, nhưng không phải lo nghĩ, chạy trốn khi có đoàn kiểm tra. Lò mổ của tôi cũng bắt đầu đóng cửa, sau tết âm lịch tôi phải chuyển sang làm việc tại nhà máy thịt gần thành phố Bremen.

Chưa có tết năm nào buồn thảm như năm đó, bạn bè tản mát mỗi người một nơi, ký túc xá vắng hoe. Ngoài sân những hàng cây trơ trụi, khẳng khưu, nhọn  như những vết dao chọc thẳng lên bầu trời,  tuyết không rơi nhưng trong lòng buốt lạnh.

Sáng mùng một, Bernd đến chúc tết. Tôi với chai rượu định mở, Bernd xua tay:

– Không uống, hai ông lên xe tôi chở về chùa người Việt ở Hannover, hôm nay trên chùa tổ chức đón tết cho bà con phật tử. Ngày tôi còn làm việc ở Hannover, tết nào cũng cùng đoàn của bộ nội vụ đến thăm chùa.

Chẳng biết chúng tôi có đồng ý hay không, Bernd kéo phắt tôi và hắn ra xe.

Chùa Viên Giác lúc này còn ở địa chỉ cũ, tuy chưa được khang trang nhưng bà con khắp nơi đổ về khá đông. Mùi hương thơm ngào ngạt, tiếng chuông, tiếng mõ như tiếng vọng hồn quê, làm lòng người thấy nao nao, đôi lúc như ấm lại. Có rất nhiều các bạn học sinh, sinh viên đang làm công quả ở trong và khu vực ngoài chùa. Bernd rủ tôi lên thăm thầy trụ trì, còn hắn mắt trước mắt sau biến mất tiêu. Lúc tôi quay trở ra, thấy hắn đang bưng bê, phụ dọn dẹp với một cô sinh viên. Hắn mồm miệng liên hồi, thao thao bất tuyệt, cô gái cười ngặt ngẽo.

Đã ba giờ sáng, tôi và Bernd mấy lần giục hắn ra xe, hắn và cô gái mới chịu dứt câu chuyện. Ngồi trên xe thấy hắn thỉnh thoảng tủm tỉm cười một mình. Bernd nháy mắt:

– Cô gái tên Vân, sinh viên năm cuối phải không?

– Sao ông biết! hắn hỏi lại.

– Không những tôi biết cô ấy, mà biết cả bố mẹ cổ. Dân Nam kỳ chính cống, hình như ông bố không khoái dân Bắc kỳ lắm đâu. Ông hãy cẩn thận.

Cuối tuần, thấy hắn không đi bán hàng, lau chùi xe rất sạch, một sự lạ chưa từng thấy. Gần trưa hắn biến mất. Không hỏi, nhưng tôi đoán hắn mò sang Hannover, nơi hẹn Vân. Có tuần quá nửa đêm hắn dẫn Vân về, làm tôi đang ngủ phải lồm cồm bò dậy, tìm nơi sơ tán.

Mấy tháng sau, lúc này tôi đang làm việc ở Bremen, hắn gọi điện báo, Vân muốn hắn về trình diện phụ huynh, và muốn tôi đi cùng, vì hắn hơi bị rét. Tôi không tìm ra lý do gì để từ chối,  vì “ái tình đã đánh vỡ trái tim“ hắn lẩm bẩm như vậy.

Ông Ba ăn nói oang oang, nhưng ông lại có cái tính bụng để ngoài da. Gặp nhau lần đầu ông  mày tao tuốt tuồn tuột, làm cho chúng tôi ngỡ như được về lại nhà của mình. Trong bữa ăn, tôi và hắn cứ tì tì nhấc lên nhấc xuống cùng ông, làm cho ông vỗ đùi đen đét… được…được, hai thằng bắc kỳ bay chơi được. Hắn đang định chơi tiếp nhưng bị Vân nháy mắt, kéo áo. Hắn đành lùa vội bát cơm, lủi ra phòng khách. Ông Ba ngớ người…Cái thằng này … mày định chạy hả.. Bà Ba liếc mắt lườm, ông quay sang tôi thì thào: Có các bà vào là rách việc …nào chúng ta chiến đấu tiếp.

Ông Ba rất mê bóng đá. Tất cả các câu chuyện của ông, rốt cuộc thế nào cũng được so sánh hoặc qui về bóng đá. Với ông ở Việt Nam biết đá bóng chỉ có Tam Lang và Phạm Văn Kiểm thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông còn trách tôi, viết lách gửi bài đăng thường xuyên trên Hướng Việt, Diễn Đàn Forum do bác Phạm Văn Kiểm Phụ trách, không biết bác trước đây là cầu thủ tài danh, thật là quá xoàng. Rượu đã bốc lên đầu, tôi chống chế:

– Trước đây con không biết, nhưng bố đồng ý cho hai đứa cưới, con sẽ mời bác Kiểm làm đại diện cho họ nhà trai, vì bác Kiểm cũng gốc Bắc.

Ông cười ha hả:

– Chuyện đó mày phải hỏi bà ấy.. còn tao..

Ông Ba nói chưa hết câu, Vân cầm bức ảnh đã cũ của ông chạy vào, nói như reo lên:

– Ba! Tấm ảnh này ba có chụp chung với bố anh Sơn (tức hắn) nè.

Ông Ba vội đặt bát cơm xuống, với chiếc kính đeo, hỏi giật:

– Ai là ba thằng Sơn?

Khi ông đã nhận ra Sáu An, người phụ trách đơn vị thời ông còn ở trong rừng là bố của Sơn, miếng cơm đang nhai dở chợt tuột ra khỏi miệng. Một lúc ông mới lấy được bình tĩnh, gọi Sơn vào hỏi:

– Thế bố con bây giờ làm gì và ở đâu?

– Sau năm 1975 bố con chuyển ra làm giám đốc, rồi phó chủ tịch thường trực một tỉnh miền tây Nam Bộ. Sau này hết nhập rồi lại chia tách tỉnh, nội bộ đấu đá, nên bố con được điều về Bắc làm phó chủ tịch tỉnh quê nhà. Bây giờ ông sống một mình vì mẹ con mất đã lâu. Còn bức ảnh này…Ba có phải đã từng là bạn của bố con?

Ông Ba thẫn thờ, miệng nhệu nhạo:

– Bố con là bạn của ba…nhưng..

Bỏ lửng câu, ông Ba lảo đảo vào giường nằm, trước sự ngơ ngác của mọi người.

Sáng, khi tía nắng sớm đầu hè còn chưa kịp mang hơi nước còn đọng trên những trồi non của hàng cây trong vườn đi, ông Ba đã kê ghế ngồi nhâm nhi caffe dưới gốc táo. Có lẽ cả đêm không ngủ, nên nhìn người ông xọm hẳn đi. Tôi kéo ghế ngồi xuống cạnh ông, đột nhiên ông hỏi:

– Này Trường! Mày có tin vào số mạng, và qui luật nhân quả không?

Tôi chưa kịp trả lời, ông đã tiếp: – Đến bây giờ tao đã tin, mỗi con người đều có số phận riêng. Có những sự việc, những con người, tưởng chừng như đã đi vào dĩ vãng, nhưng chẳng hiểu sao nó lại như bóng ma hiện về. Những đau thương, thù hận đã được chôn chặt bấy lâu, đang bị cầy xới lên….

Sông nước Miền Tây đã nuôi dưỡng ông Ba và ông Quân trưởng thành. Họ là đôi bạn thân từ thưở thiếu thời. Tuổi thơ của họ đã trải qua những ngày bắt tôm đánh cá, và cùng nhau cắp sách tới trường. Vừa thi xong tú tài, hai ông nghe lời người anh họ của ông Quân trốn gia đình vào bưng theo bộ đội. Sống ở bưng có ít ngày, hai ông đã bị hụt hẫng, nó không giống như sự tưởng tượng trước đây. Hai ông muốn quay về thành phố, nhưng không được.

Sau khi học chính trị, huấn luyện ngắn ngày, hai ông được điều về đơn vị do ông Sáu An là dân Bắc kỳ nằm vùng phụ trách. Ngày mới về đơn vị, mấy tay lính mới người thị xã có mang theo máy ảnh (trước khi giao máy cho đơn vị quản lý) đề nghị đơn vị chụp một tấm hình làm kỷ niệm. Ông Ba khoác vai ông Quân đứng cạnh ông Sáu An, đó là bức hình cuối cùng của hai ông.

Trận đánh đầu tiên của hai ông với quân đội VNCH phải nói là trận đánh không cân sức. Pháo của của quân chủ lực VNCH nã ầm ầm, đơn vị các ông đã bị thương khá nhiều. Ông Sáu An tìm đường dẫn lính xông lên, nhưng không một ai bò lên được. Một lúc sau trực thăng của quân đội VNCH chở lính dù đến. Biết không xong, ông Quân kéo ông Ba rút lẹ. Hai ông men theo đầm, chạy sâu vào vùng đước thoát nạn. Ông Sáu An lúc này gần như bất lực, anh em tản mát chạy mỗi người một nơi. Lẩm bẩm chửi bới một hồi, ông Sáu An cũng men theo đầm lặn sâu vào vùng đước.

Hôm sau, mọi người cũng tìm được về nơi đóng quân, nhưng hầu như đều bị thương. Cơn tức giận của ông Sáu An trút cả lên đầu hai ông Ba, và ông Quân vì can tội cầm đầu chạy trốn. Đơn vị mang hai ông ra kiểm điểm. Ông Ba chịu không nổi văng tục:

– Tiến cái con mẹ gì, pháo nó nã ầm ầm, trang bị đầy đủ, có máy bay và lính dù. Đ.m không chạy chết cả lũ.

Sau cú phản ứng này của ông Ba, ông Sáu An hét cảnh vệ bắt nhốt ông Ba lại.

Đêm đó ông Quân lừa cảnh vệ, tháo cũi cho ông Ba:

– Tao rất ân hận rủ mày cùng vào khu cứ này. Như thế này trước sau cũng chết, tháo cũi cho mày, chúng ta chuồn về thành thôi.

Hai ông lần mò ra đến bờ kênh. Nghe tiếng chân lõm bõm, cảnh vệ đuổi theo quát đứng lại, nhưng hai ông cắm đầu chạy. Biết hai ông trốn, ông Sáu An lùa lính đi tìm bắt lại, vì nếu để hai ông thoát nguy cơ lộ đơn vị. Qúa nửa đêm ông Sáu An đuổi kịp, gọi hai ông đứng lại. Nhưng hai ông vẫn tiếp tục chạy, phát đạn đầu tiên của ông Sáu An làm ông Quân gục xuống, đưa bọc quần áo cho ông Ba, ông chỉ kịp hét: chạy nhanh lên, rồi tắc thở. Ông Ba lại vùng lên chạy. Có lẽ đêm đó ông Ba chạy bằng cả nghị lực, sức mạnh của ông Quân nên gần sáng ông cũng trốn được vào nhà của một người dân. Từ đây họ đưa ông về thành. Mối hận thù với Sáu An cứ day dứt trong lòng ông.

Về nhà được một thời gian, ông Ba đi lính, sau đó đi vào học sỹ quan Thủ Đức. Ra trường, ông được điều về chỉ huy một đơn vị công binh đóng quân tại Bình Định. Sau đó ông lấy vợ người Hoài Nhơn, nên thỉnh thoảng ông mới về quê Bạc Liêu.

Trung tuần tháng 4- 1975, ông Ba cùng đơn vị chạy vào Sài Gòn, vợ con còn kẹt ngoàiTrung. Bạn bè kêu ông cùng di tản, nhưng ông quyết tâm chờ vợ con. Khi Sài Gòn thất thủ, ông không ra trình diện. Ông bảo: cũng nhờ có một thời gian sống với người anh  em bên kia, nên ông hiểu khá rõ họ. Ông thay tên đổi họ, ra vùng kinh tế mới ngoài Cứ ba, gần ngã ba Dầu Dây làm nông phu.Ẩn dật một thời gian, ông tìm cách liên lạc với vợ con.Vợ ông đã móc nối đưa cả nhà xuống thuyền vượt biên. Sau đó gia đình được chính phủ Đức tiếp nhận.

Lúc đó tôi buộc miệng hỏi:

-Đã là sỹ quan VNCH, còn giữ tấm hình chụp ngày còn ở cứ, bố không sợ dị nghị sao?

Có lẽ cho là câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn, ông Ba cười khật:

– Sao phải sợ! trong hồ sơ quân nhân tao khai cả thời gian vào cứ đàng hoàng, bức ảnh này tao cũng chụp lại để trong hồ sơ, tất cả đều minh bạch. Mày nên nhớ, rất nhiều tướng tá VNCH trước đó là bộ đội, hoặc có dính dáng đến Việt cộng.Tao không phải là trường hợp cá biệt.

Ly caffe nguội lạnh, giọng ông Ba đã khàn đục, lộ rõ nỗi dầy vò và mâu thuẫn trong ông. Nhìn vào mắt ông, tôi những vòng quầng đen của thời gian, nhưng lành và ấm vô cùng. Tôi cảm thấy, dù ông có quyết định như thế nào đi chăng nữa, cũng mang lại không ít khó khăn cho Vân và hắn. Nhưng tôi vẫn tin vào tình người, lòng vị tha sẽ xóa bỏ hết mọi hận thù.

Sau cái giỗ một trăm ngày của hắn, ông Sáu An đòi về Việt Nam, vợ hắn và vợ chồng ông Ba cố giữ. Nhưng ông khóc bảo, đời ông coi như đã hết, nhưng dù sao còn mồ mả gia tiên, và của vợ ông vẫn cần sự chăm sóc của ông.

Hôm lái xe đưa ông ra sân bay, tôi có nhắc lại chuyện xưa giữa ông và ông Ba, ông không trả lời, nhưng mắt ông nặng trĩu ưu tư. Trước lúc lên máy bay, ông nắm chặt tay tôi bảo:

Cả cuộc đời, tôi chỉ thấy đưa thằng Sơn đi lao động ở Đức là việc làm có ý nghĩa nhất.

Rồi ông vội bước … Và trong dòng người đông đúc ấy, tôi thấy dáng đi của ông, liêu xiêu trong cái nắng quái của chiều hôm chạng vạng.

Đức Quốc ngày 23-10-2011 

© Đỗ Trường

nguồn danchimviet

Posted in Truyện Ngắn | Leave a Comment »

Đảng Đã Cho ta Một Mùa Xuân- Phim Hay mới ra…

Posted by hoangtran204 on 30/09/2011

Mỗi hình ảnh là một câu chuyện đời của những người dân VN đang sống dưới chủ nghĩa xã hội tươi đẹp. Các công dân ngoan hiền sống nhờ vào “ánh sáng và niềm tin”.Trong video dưới đây, các bạn sẽ thấy:

Một số cụ già và em bé đang làm kế hoạch nhỏ bên các bãi rác. Một em nhỏ được các đầy tớ chăm sóc rất tận tình, theo đúng câu châm ngôn của các cụ ngày xưa: thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.

Các nhà lãnh đạo anh minh đều mặc áo veste, thất cravate hẳn hoi khi đón tiếp”người nước lạ”; đôi dép râu, nón cối, AK chỉ còn trong kỷ niệm…xa xôi của thuở hồng hoang.

Các luật sư được các đầy tớ đi kèm hai bên vì sợ…té.

Các cô gái trẻ cởi áo vì trời nóng…

Các bà mẹ già ăn trầu bôi đầy mặt đỏ lòm.

Các ngư dân đánh cá ở Biển Đông gặp nhiều thuận lợi, được các “tàu lạ, người lạ” hộ tống…bảo tiêu.

Công an và an ninh khiêng những người tụ tập bị đau yếu… đi cấp cứu.

Các cụ già, bà mẹ, chị em phụ nữ cảm động quá và khóc.

Tạo điều kiện cho các chị em phụ nữ xếp hàng cởi áo chờ lấy chồng ngoại

Từ Đại hội IV đến Đại hội đảng lần thứ XI đều thành công rực rỡ, các cụ già em nhỏ vui ca đón mùa xuân trong niềm hoan lạc.

Xin các bạn chú ý, tất cả các hình ảnh đều ở trong nước, là “cây nhà lá vườn”, kể cả bài hát. Nếu không có gì trở ngại, tối nay Đài Truyền Hình Việt Nam sẽ đưa lên phim nầy lên màn ảnh nhỏ. Trong khi chờ đợi, mời các bạn xem trước một đoạn phim mẫu của Xuânnhi

Nguồn ở  đây

Đảng đã Cho Ta Nhiều Mùa Xuân

*****************************************************

Thằng Người Có Đuôi

Tập san Văn Học Nghệ Thuật Biên Khảo  Hợp Lưu

Tác giả : THẾ GIANG
– Tên chị là gì?- Thưa em tên Mơ.
– Mơ gì? Mộng mơ hay quả mơ?

– Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu…

– Quê quán ở đâu vậy?

– Em ở Thạch Thất, Hà Tây.

– Chị công tác ở cơ quan nào?

– Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình.

– Chắc chưa vào Đảng…?

– Vâng, em mới phấn đấu ở cương vị đoàn…

– Chị lập gia đình chưa?

– Em chưa lập, nhưng đối tượng thì có rồi!

– Các cụ nhà ta còn cả chứ?

– Vâng, thầy u em vẫn còn.

– Gia đình được mấy anh chị em nhỉ?

– Thưa, được tám cả thảy…

–  …

Một bản sơ yếu lý lịch? Một cuộc hỏi cung ngắn?

Tôi thò đầu ra khỏi gầm ghế, hé mắt nhìn về cuối toa xe lửa. Cửa vẫn còn mở có nghĩa là đội công an, thuế vụ trên tàu chưa làm việc, nếu không họ đã đóng chặt hai đầu toa cho hành khách không có đường đi lại hoặc tẩu tán hàng hóa.

– Chị đi đâu mà hành lý cồng kềnh thế này?

–   …

Bỏ mẹ rồi, đội kiểm tra cơ động đặc biệt! Tôi rụt đầu vào gầm ghế, cay đắng lo cho số phận hai bịch thuốc lá sợi của mình. Hôm nay thứ sáu, nhưng 15 tây, 8 âm lịch: ngày lành. Tử vi tôi tháng này không xung với tuổi, trong năm không có sao Địa Không, Địa Kiếp ghé thăm để mà lãnh tai họa, trộm cắp.

Chuyến tàu khởi hành chậm hai tiếng đồng hô như lệ thường. Nếu chả may nó chạy đúng giờ thì người ta còn coi như báo trước một điềm gở… Khổ quá, tôi đã tham lam đóng hết hàng, chỉ chừa lại số tiền vừa đủ ăn đường và nộp hụi chết cho cánh công an thuế vụ thường trực trên tàu, đám đột xuất này mà sờ đến thì chỉ còn nước bỏ của chạy lấy người.

Tàu lắc lư chạy trong đêm. Hành khách ba miền của bao nhiêu âm ngữ đã đồng tiếng ngáy. Ngay sát mặt tôi, dưới gầm ghế là hai bàn chân giao chỉ với ngón cái xòe ra, dính đầy bùn đất của anh nông dân vừa lên tắt hai bao sắn qua cửa sổ. Trên ghế đối diện, thuộc về giai cấp khác, mấy ông cán bộ đi công tác với cặp táp, điếu cày đang ép nhau ngồi. Thỉnh thoảng, những khi tàu lắc mạnh, các vị lại xón cho giai cấp dưới cùng tí nước điếu. Hai con bé con tóc khét nằng, áo bà ba đen, quần đùi, đang ôm lấy bao than củi ngủ, chả hay biết nước thánh cam lồ chảy tong tỏng trên lưng mình. Trên đâu tất cả là mấy ông con trời bộ đội đang nhịp nhàng kẽo kẹt thượng tọa trong võng. Chú lính treo gần tôi nhất đầu ngoẹo ra khỏi võng ngủ, môi trề ra, nước dãi nhểu nhảo chảy xuống bụng chị có con mọn đang tốc áo cho con bú ngáy khò khò trên ghế.

Trời ơi, muốn ra được cũng thật khó, tôi gồng sức đẩy hai bàn chân chắn ngang mặt mình mà không được. Sau mỗi cố gắng, anh nông dân lại cho tôi một cái đạp hoa cả mắt. Đau vì bị đạp thì ít, mà ức vì bị đèn nén thì nhiều, tôi nghiệm thấy, quy luật đấu tranh của xã hội cũng đúng cả dưới gầm ghế này. Nhưng thôi, tất cả đều đã mệt, cần được ngủ để có sức chiến đấu cho lúc xuống tàu.

Tỏng tỏng… róc rách… Tàu chạy vào khúc xuôi gió thì vẳng lên tiếng nước chảy, rồi âm ấm ở đầu. Nghiến răng chịu cho cái chân ghế cứa vào cổ, tôi ngỏng đầu lên để nhìn. Trời đất, suối nguồn thiên thai được bắt từ cái cần câu cong vút của thằng bé đang nằm nghiêng trên ghế ngậm ti mẹ. Xung quanh không ai để ý. Tôi rút tay, vuốt vuốt tóc rồi đưa lên mũi ngửi. Cũng may, trẻ nhỏ nó chưa ăn mặn nên tè ra không khai lắm, chứ như cái mùi thường trực bốc lên từ cầu tiêu đầu toa thì bỏ mẹ. Hành khách đi xe lửa Thống Nhất chả bao giờ bị cảm mạo, trúng gió cũng là nhờ cái mùi này chủng ngừa trước.

– Chị có tranh thủ mang ít hàng để cải thiện không ?

–  …

Cái giọng lấy cung kia lại quái ác nổi lên, tôi đã tỉnh ngủ, nghe rất gần, ngay khoang bên cạnh. Khổ nổi không làm sao chui người ra đuợc để còn biết đường mà chuồn. Thôi thì trăm sự đành cậy nhờ cây đèn bão tù mù này. Giá có ngọn gió nào thổi tắt nó đi thì đỡ biết mấy.

Lúc vừa nhảy lên tàu tôi đã chọn ngay cái toa toàn các khuôn mặt hao hao đói của cán bộ, ngô nghê chất phác của nông dân này để trao thân. Tôi định mập mờ đánh lận con đen giữa đám người lương thiện hòng trốn tránh các toán kiểm tra bất ngờ. Tôi đã mừng rơn khi những «thành phần cơ bản», chủ nhân của toa tàu giương cặp mắt tò mò, đố kỵ, sợ bóng sợ gió nhìn mấy bà «ngụy» đi thăm nuôi chồng con cải tạo ở miền Bắc về rồi từ chối không cho họ ngồi ké.

Tuy đã đuợc thực tế phũ phàng của những trại tù, cuộc sống đầy tương lai của miền Bắc XHCN nhuộm xanh lè cả mặt, nhưng mớ áo quần bằng vải tốt, đống guốc dép, đầu tóc khác lạ, nhất là thói quen nhìn lại chỗ ngồi, phủi phủi vài cái rồi mới e dè đặt mông xuống của mấy bà khiến cho hai miền không thể lại gần nhau được. Tôi tiếc rẻ vận cổ nhìn tiễn theo mấy cái gót chân thon nhỏ, dính chút bùn đi tìm bến đậu khác. Nhưng đời là một cuộc chiến đấu lớn, phải biết tiêu diệt những tình cảm phù phiếm trong mình để đi tới đích. Than ôi, những hy sinh lẻ tẻ đó cũng không cứu được hai bao hàng, đám con chiên hiền lành kia cũng không giúp tôi được chút gì, cái mánh mung của tôi đã hại tôi, chuyến này thì tiền mất tật mang rồi. Không còn cách nào hơn, tôi đành dọn mình, chuẩn bị đón tai họa sắp tới. Trong bóng tối, dưới gầm ghế, bên cạnh hai bàn chân chỉ chực đạp vào mặt với mùi khai của nước tiểu, tôi chợt nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn «Nơi đây tôi chờ… nơi kia anh chờ… » để được ngồi trên «…chuyến xe qua ba miền…». Phải rồi, bên đây tôi nằm, bên kia em nằm, cũng chuyến xe qua ba miền. Cái bậc nghệ sĩ họ thật giàu tưởng tượng và lãng mạn.

– Rụt chân lại !

Tôi hét to, cấu mạnh vào chân anh nông dân. Một cái đạp tương xứng với cái cấu tung vào mặt tôi nhanh nhạy như phản xạ co giật của con ếch khi bị truyền điện. Anh ta cằn nhằn trong miệng rồi tiếp tục ngáy.

– Xê ra cho người ta đi… tiểu !

Không dám cấu nữa, tôi chỉ biết, cũng cốt ý cho đám công an bên cạnh nghe thấy để hợp pháp hóa việc bỏ đi của mình. May làm sao anh chàng nông dân trở mình đổi thế nằm, hai hòn đá chắn cửa hang rụt lại, tôi vội nhoài người ra, đứng dậy leo trèo qua đống thịt ngổn ngang nằm kín lối đi để ra ngoài. Đứng trong cầu tiêu một lúc cho vừa đủ thời gian tiểu tiện, tôi hé cửa nhìn ra. Toa tàu hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có gió lùa ở hai bên cửa sổ, tiếng bánh sắt nghiến xuống đường rầy. Quái lạ, công an biến đâu hết rồi ? Đánh bạo, tôi mò lại gần. Hai bên thành toa võng giăng kín thành hàng, đưa đẩy. Hành khách trên ghế gật gù ngủ. Chả có bóng áo vàng nào hết! Tôi nằm mơ chăng ? Rất có thể vì dân chạy hàng bọn tôi suốt ngày đêm bị rình rập, phải đề phòng, trốn chạy nên riết rồi méo mó nghề nghiệp, nó theo cả vào giấc ngủ. Cứ sống với cái nghề này có  ngày vỡ tim mà chết. Tôi đứng tựa lưng vào thành ghế, định thần lại. Chị có con mọn đã ngã choãi lên người tay thiếu úy trẻ để ngủ, vú vê bày thõng thượt. Đứa con lọt vào kẽ nách mẹ, ngỏng cổ mân mê cái đầu tí. Chả biết họ có chồng vợ gì không, nom chị ta vẫn còn trẻ, già độ hai ba năm về trước có ai động đến tí của «trời cho» đó sẽ bị nhảy lên đùng đùng tru tréo chửi. Người thứ tư trên ghế, một ông cụ già râu tóc lưa thưa, nghiêng người cho đủ chỗ ngồi, tay bám với lên thành ghế, đầu cúi gục xuống gần ngực chị có con mọn gật gù ngủ. Bao nhiêu mật ngọt lòng thòng rỉ từ miệng chú lính trên võng, cái đầu ông hứng hết. Ba ông cán bộ tóc điểm muối tiêu, áo sơ mi trắng cọc tay, khư khư ôm cặp táp trong lòng đang nhịp nhàng lắc lư trên ghế đối diện. Ngay trong giấc ngủ họ cũng có cái vẻ «nhất trí» như khi làm việc. Tàu sắp đến ga Nha Trang, vùng đất bão lửa đối với dân buôn chuyến. Chỉ còn một ngày đường nữa những sứ giả nguyên thủy của CNXH sẽ đổ bộ vào Sài Gòn, thành phố đang trên đường cải tạo để trở về với miền Bắc, với CNXH. Tôi cúi xuống nhìn vào gầm ghế. Hai bao hàng vẫn ngủ yên trong đó. Cái bào thai đã đi được chín tháng chín ngày. Cầu trời cho nó được mẹ tròn con vuông. Khoang bên cạnh cũng toàn các khuôn mặt trong biên chế, những lá bùa dán đè lên bản mặt «bất chính» của tôi. Đừng rẻ xuống ga lẻ dọc đường, bỏ tôi côi cút một mình nhé, hỡi các bạn yêu dấu. Tôi sẽ chi viện cho miền Nam ruột thịt ít sợi thuốc lá vàng, do chính tay vợ con các bạn trồng. Những ông ba tàu chợ lớn với kỹ nghệ làm giả tuyệt hảo, hơn hẳn nền đại công nghiệp XHCN sẽ vấn thành những điếu thuốc CAPSTAN thẳng thớm, đẹp đẽ trong hộp carton giấy bóng kính để các bạn trầm tư, đắn đo, quyết định tốn kém, mang ngược về miền Bắc làm quà cho anh em bè bạn.

Một cặp trai gái vẫn còn thức, họ ngồi nép vào nhau, thỉnh thoảng trao đổi những cái nhìn. Gã trai với cây đàn ghi ta treo trên đầu, tóc dợn sóng, có dáng dấp của một vĩ nhân tỉnh lẻ, ông chủ hiệu may, hiệu chụp ảnh, một bậc văn hóa lớn ở phố huyện ( ?) không ; gã có vẻ là anh đội trưởng đội chiếu bóng huyện hơn là những vị kinh doanh thẩm mỹ vì cái kính râm nội hóa cài khéo ở ngực, áo sơ mi trắng loại vải không pha ny lông, quần kaki xanh mua phân phối, ở cổ tay thiếu cái đồng hồ. Cô gái ngồi bên cạnh tuổi chừng đôi mươi, tóc dài, hoe màu nắng cháy. Khi cô ngước mặt lên nhìn tôi thì trời đất ơi, một trang tuyệt sắc giai nhân. Đôi mắt có đuôi, mở lớn hiêng hiếng xếch đang cười lăn tăn. Mũi cô thon nhỏ, thường tìm thấy nơi tượng Đức Mẹ hoặc trong hình thiếu nữ e lệ in trên băng, đĩa vọng cổ. Cặp môi cũng chúm chím cười như mắt, phơn phớt hồng, nổi trên miền da trắng. Những đường nét, màu sắc đó được ướp trong vẻ hồn nhiên tươi tắn của cô gái mới mập mờ linh cảm về nhan sắc của mình. Toa tàu như tỏa mát hương sen, tôi ngó vội xuống quần áo của mình, lúng túng dấu mấy ngón tay dắt kín đất đen ở kẽ móng. Trong phút chốc tôi quên bẵng hai bịch thuốc lá, mũi tôi điếc với mùi khai, mắt tôi mù với thân thể nếu được phơi bày ra hết sẽ diệt dục trai tráng của thiếu phụ có con mọn bên cạnh, tôi ngây người như đười ươi giữ ống chiêm ngưỡng cô gái. Gã trai cảm thấy bị hao mòn mất mát bởi đống tình si chảy nhão nhoẹt trước mắt mình bèn đưa tay kéo cái vạt áo hở của cô gái, ra điều hoa đã có chủ. Gạt nhẹ tay gã ra, cô sửa lại thế ngồi rồi thẹn thò liếc tôi. Gã trai húng hắng ho. Như để chạy đua vũ trang với tôi, khẳng định với cô gái, gã xoay hẳn người lại, cặp mắt nhừa nhựa la liếm lần trên gò má hồng, bò quanh miệng, rồi chui xuống cổ cô. Cảm thấy gã sắp trườn vào lòng người đẹp đến nơi, tôi «e hèm» đánh tiếng, quay mặt đi chỗ khác. Sự buồn giận vô cớ chợt xâm chiếm lòng tôi. Hương hoa thế kia dãi gió dầm mưa làm chi trên chuyến tàu này. Vẻ đẹp mong manh bên cạnh sự lố bịch. Vâng, người là hoa của đất, là bà chúa của thiên nhiên, bao nhiêu cuộc đời mới dâng hiến một khuôn mặt đẹp, cũng chỉ đẹp trong tích tắc, một lần phát hương rồi trơ mình ra cho cuộc sống chìa hàm răng vẫu thô lậu nghiền nát. Chỉ sau lời tuyên bố ngắn ngủi của đồng chí chủ tịch xã kiêm chủ hôn, sau ba năm sống không có ca nhạc, ti vi chiếu bóng đêm, người đẹp ngồi kia sẽ biến thành cái máy đẻ, con đường đi đến thiếu phụ sau lưng tôi sao mà gần. Quần xanh, áo trắng mới tinh khôi, tôi nổi giận với cả sự ăn diện của cô gái. Ở xã hội này mỗi khi muốn chứng tỏ «Tôi đi chơi », «Tôi làm đẹp », người ta không có chọn lựa nào khác ngoài màu trắng để tách mình ra khỏi màu nâu lam lũ với đất, màu tím than đánh lẫn với dầu máy, màu áo lính nhuộm xanh cả đất nước. Từ đồng chí Tổng Bí Thư trên diễn đàn đại hội đảng, chú cai ngục hỏa lò Hà nội hai tay đút túi quần bước vào quán phở, cho đến cặp trai gái đi dạo quanh hồ Hoàn Kiếm, ai ai cũng chỉ một màu áo trắng. Cái màu trắng đẹp đẽ thanh khiết bị lạm dụng, bị cưỡng hiếp trở nên nhàm chán, làm nhòe nhoẹt các khuôn mắt đời vốn đa dạng, biến nó thành một thứ đồng phục ngớ ngẩn.

– Mặt mũi không đến nỗi nào mà ăn mặc bẩn thỉu như mọi rợ…

Gã trai thì thầm với cô gái. Cô ngước mắt nhìn tôi. Họ cùng cười với nhau.

– Chị đã mệt chưa ? Cứ ngả lên người tôi mà nghỉ… ?

Gã đề nghị, ngồi lấn vào cụ già đang ôm cái tay nải bên cạnh để nhường chỗ. Tôi ngờ ngợ, dỏng tai chờ đợi

– Không. Cảm ơn anh em còn ngồi được.

Cái giọng «lấy cung» khi nãy ? Tôi nhìn chăm chăm vào mặt họ. Cô gái ngượng ngùng quay mặt đi chỗ khác. Gã trai nghĩ tôi là chướng ngại cản trở dịp may chờ đợi đã lâu nên lừ mắt hằn hộc xua đuổi. Thấy địch thủ vẫn không nhụt chí, chả cần bóng gió xa xôi, gã ném thẳng vào mặt tôi câu chửi :

– Chỉ có đồ vô văn hóa mới thò mõm vào việc người khác! Thôi đúng rồi, chả có Công An nào hết, tôi cũng không nằm mơ, cũng không có ma quỉ gì quấy phá, anh bạn trẻ ngồi trước mặt chính là tác giả bản «hỏi cung» khi nãy. Tôi sờ lên túi áo ngực. Trong cuốn chứng minh thư (cũ) của Công An cấp, ngoài tên tuổi, địa chỉ, quê quán, đã can án lần nào chưa, còn những mục về cha mẹ, vợ con, còn sống hay đã chết… Tôi nhớ đến những lúc mới làm quen, người ta cũng hỏi và trả lời đầy đủ những điều cần thiết trong một bản sơ yếu lý lịch. Hỏi như một thói quen, nhiều khi chả để làm gì và sau đó ai đi đường nấy. Thói quen méo mó đó ngấm sang cả địa hạt yêu đương.

«Nơi em về trời xanh không em… » Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy, còn các Vũ Hoàng Chương, Khái Hưng, Hàn Mặc Tử… đã bị đánh bật rễ khỏi người đọc, gom lại trong cái nghĩa địa văn hóa cổ, le lói trong ký ức người già. Các tay «yêu» lừng lẫy một thời vẫn còn đấy, nhưng đã biến thành Xuân Diệu Xuân Xang Xuân… Tóc đỏ. Người ta đã tiêu thổ kháng chiến đến cả yêu đương. Nói đến «yêu» cũng phạm húy, phải gọi là «tìm hiểu», người yêu là «đối tượng tình cảm» (đối tượng đoàn, đối tượng đảng, đối tượng của pháp luật ). Hôn nhân được xây hào đắp lũy thành «lập gia đình». Chữ «chàng» và «nàng» được cách mạng hóa thành những chữ «anh», những chữ «chị», những «gã», những «hắn» trong văn học hiện hành. Người ta lập pháp hóa cả tình yêu, vớ vẩn có thể bị qui là «quan hệ bất chính», «tác phong thiếu lành mạnh». Đa sầu đa cảm, yêu lăn yêu lóc cả trong nhạc lẫn ngoài đời như ông Phạm Duy dám đi cải tạo không có ngay về.

Tình yêu không được thi ca ấp ủ, dẫn dắt, hướng thượng, thè lè đi ngoài đường trong những dịp quốc khánh, hội hè đông người để sờ mó, gỡ gạc lẫn nhau, «hủ hóa» với nhau trong nhà kho công sở, hoặc nếu đúng đắn nghiêm chỉnh hơn thì đặt ra tiêu chuẩn «3B» (Bôn sê vích, buồng ở, bia cung cấp) để «tìm hiểu». Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng «Đồng chí công tác ở cơ quan nào ?…»

Tôi cười rú lên giữa toa tàu. Gã trai giật mình rụt vội bàn tay có mắt về. Một vài hành khách luống tuổi tỉnh giấc, khó chịu nhìn thằng điên đang sắp ngửa leo qua đống người nằm giữa lối đi để ra ngoài. Ông bạn trẻ cay cú tiễn với theo…

– Thật đúng là đồ quái dị!

***

Chuyến tàu đó đã dừng lại ở Việt Nam. Hai năm sau, trên chuyến tàu ở xứ tị nạn, tôi lủi thủi đi lại một mình giữa toa tàu trống vắng. Lác đác vài cặp mắt xanh sợ gió máy đóng kín cửa sổ, khụt khịt mũi nhìn con người dị hợm cuồng cẳng. Không được chen chúc, hằm hè chửi bới nhau, không sợ cảnh sát bằng mấy con chó cảnh chạy lăng xăng bên cạnh mấy bà già, buồn, tôi lẩn thẩn ước lượng số ghế trống rồi nao lòng nhớ về những anh em bè bạn ở quê nhà. Xót xa với máu mủ mình chưa hết, tôi còn thương lấy cả cái ngành hỏa xa của xứ người. Làm ăn như thế này thì lỗ chết. Tôi quên béng đi mất, rằng tiền vé chém rất nặng, cuốc đường ngắn như thế này nếu gửi quà về Việt Nam thì «chúng nó» lai rai quán cóc cả tháng trời. Tôi nhớ về bên nhà như một kẻ thiếu nợ. Con thú hoang dã đã được thuần giống bằng trợ cấp thất nghiệp (cho mày đủ ăn để tự giam mình trong chuồng, đừng có nhìn sang túi khác). Tôi đã «quên» chưa trả lời gần chục cái thư, thư nào cũng giống nhau một điểm là ngắn (đỡ tiền tem). Chữ nghĩa tiết kiệm rồi, lại còn bóng gió xa xôi,  nhưng cái bóng gió xa xôi tài tình đến độ lồ lộ hiện ra khuôn mặt dài ngoẳng vì đói vì chờ của ông bạn. Trước khi đi, tôi đã dại dột bốc đồng «Tụi mày yên tâm đi, tao mà…» Cái «tao mà…» ấy cho đến giờ này cũng chỉ tiến thêm được một bước thành «tao sẽ…» nhưng tôi cũng không ân hận là đã cho họ ăn bánh thánh. Có vị bác sĩ nào đủ can đảm nói với người bệnh đang hấp hối của mình «Xin thưa, tôi bất lực, tôi không có thuốc…?» Những con tin của lương tâm ở bên nhà hiện đang sống bằng hy vọng. Tôi lừa họ chưa đủ, họ còn phải tự lừa mình nữa thì mới sống nỗi. Méo mặt trả xong tiền tem, cầm bằng mua xấp vé số, họ xoa tay yên tâm chờ đợi. Nhưng mấy chục cái đơn xin việc của tôi mất hút không về, sổ vẫn chưa mở, lại tiếp tục «quên».

Xuống tàu phải mua ngay mấy tấm vé số! Tôi hạ quyết tâm cho lòng yên ổn (lại tự lừa mình?) để còn nghĩ sang chuyện khác. Đúng lúc đó thì có tiếng «hèm» sau lưng. Lại một cụ ông, cụ bà bản xứ với những câu hỏi đầy bác ái như cho kẹo trẻ con về cảnh ngộ, sự hội nhập, phong cảnh quê hương? Tôi gắn vội nụ cười ba phải lên môi, chuẩn bị sẳn mấy câu thuộc lòng để trả lời.

–  Xin lỗi, anh là người Việt Nam?

Trời ơi tiếng Việt! Tôi quay phắt lại ngó sững người bắt chuyện.

–  …

– Xin lỗi ông tôi lầm lẫn…

Người đàn ông tuổi trạc bốn mươi, mắt sáng, ăn mặc buông thả lúng túng xin lỗi bằng tiếng bản xứ, vẻ mặt đầy thắc mắc. Tôi hiểu ngay sự thắc mắc đó. Người Việt gặp gỡ tình cờ ở ngoài đường ít khi nhìn nhận nhau vì họ không nói được tiếng Việt.

– Không, tôi là người Việt!

Tôi vội vã xác quyết.

– Anh đi từ miền Bắc?

Người đàn ông vồ vập. Tôi cũng nhận ra ngay cái giọng Bắc toang toác của ông ta.

– Dân tỉnh nào đấy?

– Hà Nội đây!

– Đây cũng Hà Nội!

Khỏi cần nói về nỗi mừng. Chúng tôi xoắn xuýt ôm lấy nhau mà hỏi chuyện. Chuyện bên nhà, chuyện đi đứng, chuyện ổn định đời sống bên này… Khi đã cạn những vấn đề thời sự (miếng trầu của đầu câu chuyện) trong tiếng xe xé gió, chúng tôi ôn lại những ngày tháng xa xưa của Hà Nội. Như hai anh lính trẻ đi giữa Sài Gòn, cái phố huyện hẻo lánh giáp vùng thượng du Bắc Bộ của họ là nhất thì Hà Nội đối với chúng tôi là vô địch. Bát phở Quyền ở ngã tư Phú Nhuận (té ra anh cũng đã nếm) thịt thà hùng hậu, nước độc đáo thật, nhưng độc đáo trên cái nền nhòe nhoẹt đánh lẫn với nước hủ tiếu ở Sài Gòn, không «ác ôn» bằng phở Thìn đối diện đền Ngọc Sơn ngoài Hà Nội.

– Cậu thử tưởng tượng xem, về khuya đi ngược gió đông, cách cả trăm thước mà cái thằng phù thủy ấy nó dở nắp thùng phở lên có sởn gai ốc không hả…? Trong túi không có tiền thì bỏ mẹ!

Tôi cảm thấy hơi phở nóng phả ra từ mặt anh nên gật gù.

– Thế mới là phở chứ những chỗ cậu kể đi sắp ngã vào nồi cũng không hay, bát phở bưng đến trước mặt, mở mắt ra mới biêát thì còn gì là phở?

Sau khi đi một vòng các hàng quà Hà Nội, anh dắt tôi đến quán cà phê. Cà phê Hà Nội cũng lại nhất. Anh kể ra tên mấy cái quán ít ỏi của đất Thăng Long với từng «gu» của nó. Quán «Moka» phố Bùi Thị Xuân có cô con gái đẹp như Kiều, nhưng không át được mùi thơm của cà phê ông bố. Quán «Nhỉ» phố Hàng Cá đậm đà chút nước mắm nhỉ (nên mới gọi là ông Nhỉ). Quán «Nhân»  đầu Hàng Gai có hương vị huyền ảo khó tả, người không biết, tưởng ông đánh thuốc phiện khách… Anh thừa nhận không gì sánh nổi hạt cà phê Ban Mê Thuột, nhưng Sài Gòn có vẻ chưa để ý đến nghệ thuật pha trộn. Cà phê nó có nhiều loại. Vối cho vị chát, mít cho vị chua, và chè cho vị đắng. Nếu nhiều chè một chút, tí vối, tí mít thì thành gu « Moka», hoặc đổi lại thì thành Nhân thành Nhỉ… Rốt cục tròn trịa, óng ả, no đủ như hạt cà phê Ban Mê Thuột chỉ cho được mùi thơm choáng ngợp khi mở nắp phin. Hết!

– Nhưng hình như các ông Nhân, Nhỉ, Moka bây giờ pha hơi nhiều muồng muồng trong đó thì phải…?

Tôi rụt rè phát biểu. Anh xìu người, gãi đầu rồi cười. Dù sao cũng phải công nhận anh là bậc thượng tọa trong cái đạo ăn uống này.

Hết chuyện ẩm thực, chúng tôi xoay sang chuyện người đẹp. Trong địa hạt này anh không dám cục bộ địa phương nữa vì biết tôi cũng đã chui qua cái xã hội lấy chiêu bài «bình đẳng, giải phóng» để đẩy người phụ nữ xuống bùn, chui rúc trong hầm mỏ, lẫn lộn ngoài chiến trường như nam giới. Bên cạnh đó là hệ thống tuyên truyền đồ sộ, ăn ý như dàn nhạc giao hưởng luôn gõ trống thúc dục cho bắp thịt nở nang của phái yếu trong bức tranh «ai nhanh tay cuốc bằng tay em…» trong nhịp nhạc «niềm vui cô gái mở đường Trường Sơn» trong văn học. Gái Bắc Hà đạ bị déformée biến dạng thành cái vai nở, thân hình trùng trục vì lao động nặng.

– Cứ nhìn thấy gái Sài Gòn là tớ nghĩ đến chuyện ly dị…

Anh đốt điếu thuốc, phả khói lên trần toa lim dim mắt cười. Tôi nói đến gái Cần Thơ, Vĩnh Long, đất gạo trắng nước trong da thịt mơn mởn như xoài. Anh kể về mấy chị Huế nhu mì e ấp dưới mái tóc thề, ẩn dật kín đáo với làn da trắng xanh, nhưng con mắt thì đi nhiều hơn chân, làm nhiều hơn tay, nói nhiều hơn miệng, quả tim như núi lửa chỉ chực bất tử phun nham thạch.

– Ờ lạ thật… Sài Gòn là đất tứ xứ, nhưng bất cứ người ở đâu hễ nhập vào nó ba bốn năm là thay da đổi thịt, biến thành dân Sài Gòn. Đâu như Hà Nội mình, anh từ Hải Phòng lên, sống cả hai chục năm, đẻ con ra vẫn lơ lớ giọng nước lợ, tính tình tềnh toàng của dân thành phố cảng. Chị ở chiến khu về, sống đến mấy đời hộ khẩu vẫn không tẩy được cái cách nhấm nước bọt đếm tiền. Sức cảm hóa, khả năng hội nhập ở Sài Gòn nó khác…

Tôi lấy Huế để giải thích hiện tượng đó cho anh. Nếu chính anh có dời cư về đó ở, không phải hai chục năm mà bốn-sáu chục năm, cho đến chết, chất Huế cũng không thắm vào anh được. Vùng đất nào đã được chọn làm kinh đô trên một thế kỷ tự nó sẽ tạo nên bản sắc riêng biệt cho mình, hội nhập sẽ rất khó…

Chúng tôi cãi nhau như mổ bò (dấu hiệu đã thân thiện) về những vấn đề cả hai đều không nắm vững, hoặc chả có gì đối nghịch nhau. Để đừng đập vào đầu nhau trong lần gặp gỡ đầu, tôi lái câu chuyện trở về người đẹp Hà Nội. Thế là lại một màn truy tìm các bóng dáng xưa. Để chứng tỏ mình cũng là tay cung kiếm một thời, những con nhà nọ, em gái thằng kia… Câu chuyện trở nên gần gũi, tôi râm ran bồi hồi với tên tuổi một vài người đẹp đã làm mình điêu đứng. Lần mò một lúc, anh dẫm trúng phải cô em vợ tôi ở phố Hàng Ngang. Người đồng hành, đồng hương càng trở nên thân thiết. Tôi như thấy cả Hà Nội đang thở nóng bên tai mình.

Đêm đó tôi không ngủ được. Khi chia tay chúng tôi cho nhau địa chỉ, hẹn nhất định phải gặp lại. Tôi sắp xếp thời gian rãnh rỗi trong đầu rồi sốt ruột mong sớm được ăn tục nói phét với ông bạn còn quí hơn vàng ở cái xứ buồn hiu này. Cũng nhờ anh mà ký ức vốn trí tuệ vì mưu sinh của tôi được khai thông. Tôi trằn trọc nhớ Hà Nội, tưởng tượng rõ ràng từng quán cà phê, góc phố, cô láng giềng với từng tiết xuân, hạ, thu, đông. Thơ thẩn đi hết một vòng thành phố, bắt đầu mỏi mệt với ký ức, tôi trở về với con người anh. Lứa tuổi ấy, nghề nghiệp ấy, số nhà ấy, la cà ở quán cà phê ấy với những người quen ấy… Tôi cười tủm trong bóng tối vì sự trùng lặp những ham hố, thói hư tật xấu của mình với anh bạn. Ờ, tại sao không biết anh từ trước nhỉ? Tôi lần mò những mối quan hệ trong đầu, vẫn không lòi ra con người ấy. Khuôn mặt này cũng chưa nhác thấy ngoài phố một lần. Tôi lay vai vợ để hỏi xem có biết anh nào tên Q. hồi trước có đến tán em gái không. Nàng đang ngủ, sẳng giọng trả lời là không cho xong chuyện.

Tôi lại trằn trọc hâm nóng trí nhớ sét rỉ để tìm kiếm. Cái phố nhỏ ấy, với số nhà, không nhớ chính xác, nhưng tôi có thể mường tượng được anh ở đâu gần quán phở mậu dịch, nơi thôi thường đến tán tỉnh mấy cô bán hàng để được mua bia hơi không kèm đồ ăn. Mắt mày cũng là bợm nhậu, sau chưa tặng nhau mũ cối vào đầu trong những lần chén nhỉ? Hay ít nhất cũng hối lộ vài điếu thuốc để được nhường khéo đứng trước mình với lý do gửi chỗ? Lạ thật, Hà Nội nó nhỏ như cái túi vải dắt trong cạp quấn của bà bán rau, đồng xu cắc bạc cọ xát nhau luôn xoành xoạch mà sao không bật ra khuôn mặt này. Tôi điểm lại trường hợp ra đi của anh. Theo như lời kể thì lẫn trong làn sóng người Hoa năm 79, vợ chồng anh không đủ tiền, phải sang lại căn buồng cho người khác để lấy tiền hoa hồng. Đồ đạc trong nhà bán sạch từ quạt bàn, giường tủ, xoong nồi, chổi cùn, rế rách.v.v… Anh là người Việt, để che mắt mọi người về chuyện bất thường này, hai vợ chồng phải đóng kịch, cứ tối tối đóng cửa chửi nhau toáng lên ở trong nhà, ra cái điều cơm không lành, canh không ngọt. Đước hôn một tuần, ngó chừng màn kịch đã ngấm sang hàng xóm, họ mới mở cửa đi rêu rao với mọi người rằng không thể sống với nhau được nữa, phải bán nhà, bán đồ chia đều tiền rồi ai đi đường nấy. Cũng có thể đúng vì ngoài Bắc rất nghèo, ở những chốn nghèo nhất cử nhất động đều bị để ý. Tuy mỗi xuất đi thời đó chỉ ba ngàn đồng (một lạng vàng) nhưng không sang lại nhà thì tiền đâu mà đóng. Tất cả mọi chuyến táu ra đi từ Hải Phòng đều cặp bến Hồng Kông, tôi cũng ở đó cả năm trời mà sao không thấy mặt anh? Có điều gì bất ổn rồi! Tôi khựng người như húc phải bức tường, ngồi bật dậy đi tìm thuốc hút. Mường tượng lại khuôn mặt anh, thái độ vồ vập của anh khi bắt chuyện, tôi đưa lên kính hiển vi rọi chiếu, phân tích từng câu nói rồi ráp những dữ kiện rời rạc lại với nhau để tìm sự mâu thuẫn của chúng. Không lòi ra một kẻ hở vô lý nào. Anh không hề vờn dứ, dò dẫm tôi về thái độ chính trị. Những chuyện anh đã nói với tôi được toát ra từ lỗ chân lông của con người, không có sự nhào nặn, gửi gắm của mưu tính, thậm chí còn có phần luông tuồng phàm tục thái quá của con người bị ức chế, đè nén lâu ngày mới được giải phóng.

Tôi mừng như chính mình được minh oan đốt thêm điếu thuốc tự thưởng. Có thế chứ, chưa gì đã để cho thói đa nghi hàm hồ của mình giết chết một người bạn, một con người! Ra đi từng vùng đất nghi kỵ, tỵ hiềm, vô tình tôi đã mang theo thói quen của ông bác sĩ sống trong thế giới bệnh tật, nhìn đâu cũng thấy vi trùng.

Nhưng niềm lạc quan đó không kéo dài, điếu thuốc chưa kịp tàn thì từ bên trong cất lên tiếng nói ma quái «mày vẫn còn phổi bò, nhẹ dạ như đàn bà. Kết luận một cách dễ dãi về con người là khởi đầu một tai họa!»

Tôi dụi vội điếu thuốc, vò nát mớ tóc, bực bội với thằng người ma quỷ trong mình. «Tao nói không sai đâu, đời mày vẫn bao lần vấp ngã, hộc máu mồm củng chỉ vì tính cả tin đó. » Tôi thù ghét thằng người này. Nó luôn canh chừng nhắc nhở tôi, nó đông lạnh con mắt nhìn đời của tôi, đục đẽo khuôn mặt tôi, xoá nhoà bóng mát trên mặt người khác. Nhưng tôi nể sợ nó, vì chính nó đã cứu tôi bao lần thoát khỏi tai họa, đưa tôi đến được bến bờ tự do. Sao lại không nhỉ, với những thằng nằm vùng thì lần sơ kiến nào cũng bao bọc mình cẩn thận, nó chuẩn bị lương khô cho cả quãng đường dài mười, hai mươi năm, nó chống Cộng hơn ai hết, nó kháng chiến hơn ai hết để sau khi «hoàn toàn nhiệm vụ cách mạng» nó được tha bổng bên cạnh những án tử hình khác với lý do «thành khẩn» rồi thay áo ngồi viết bản báo cáo thành tích. Đã vậy thì việc đội lốt, hoá thân vào một mẫu người có thật ngoài đời chỉ là trò vặt. Tôi rùng mình vì những điều vừa phát hiện. Chế độ chỉ dạy cho tôi vài thủ thuật điều tra sơ đẳng của thói quen, một thứ Công An theo bản năng, đụng đến vấn đề phức tạp có tính phản gián này thì ôm đầu chịu thua.

Đốt hết nửa gói thuốc, đầu óc tôi càng thêm rối. Vợ tôi bị ngợp khói, tỉnh ngủ. Nhìn bóng chồng in nghiêng trên tường, sau ánh đèn mờ, im lặng hút thuốc, nàng bực mình cằn nhằn rồi với tay tắt cái đèn ngủ.

– Khuya rồi không đi ngủ còn ngồi sừng sững như ma hiện hình!

– Tôi không trả lời, đầu thuốc lá vẫn lập loè cháy sáng. Nàng ngạc nhiên bật lại đèn, tung chăn vùng dậy.

– Có chuyện gì thế anh?

– Không… Anh nghĩ chuyện kiếm việc làm…

Tôi trấn an, ấn nhẹ nàng xuống giường, phủ chăn lên người.

– Anh nói đi, em thấy có chuyện gì không thường thì phải…?

Nàng nhỏm dậy, lo âu hỏi. Tôi thấy khó trả lời, nấn ná hút thuốc câu giờ. Từ lo âu chuyển sang hoảng sợ, nàng bấu mạnh lấy tay chồng tìm sự che chở. Phụ nữ thường có linh cảm bén nhạy trước tai họa. Khi còn ở Việt Nam, mỡi lần bị mối nguy hiểm đe doạ, biết nói với vợ mình cũng không ích gì, tôi lặng lẽ hút thuốc trong đêm một mình để nghĩ cách thoát hiểm. Nàng đánh hơi được, không dám hỏi, chỉ rón rén đến bên cạnh sửa lại cổ áo cho chồng, tìm hộ bao diêm, tay cũng bấu chặt lấy vai chồng như để truyền thêm sức. Từ ngày sang đây cuộc sống của chúng tôi đã an toàn, những khó khăn về mưu sinh được bạch nhật hoá giữa hai vợ chồng, tôi không còn trầm ngâm trong bóng tối một mình để tìm kẻ hở lách qua tù đày nữa, và nàng cũng mất đi thói quen đánh hơi tai hoạ trên mặt chồng, hồn nhiên sống với tiền trợ cấp thất nghiệp. Thật không ngờ đằng sau vẻ mơn mởn hồi sinh đó sự lo sợ vẫn tìm ẩn trong nàng, nó như cuốn phim lắp sẵn trong máy, chỉ đợi chồng bật đèn là hiện hình ra mặt mũi, cử chỉ hành động. Tôi chợt hiểu nàng đã lo hơn tôi lo, đã sợ hơn tôi sợ trong những ngày còn ở Việt Nam.

– Không có gì đâu em ạ.

Tôi ôm chặt bờ vai nhỏ của vợ, kéo vào lòng mình. Biết không dấu được nàng, mà bịa ra chuyện khác chỉ làm nàng nghi ngờ lo sợ thêm, tôi kể lại đầu đuôi chuyến gặp gỡ trên tàu của mình. Vẻ mặt nàng biến đổi dần theo câu chuyện. Cặp mắt lạc thần bình tĩnh trở lại, nàng đứng dậy mở cửa sổ cho  loãng bớt khói thuốc trong nhà, vừa làm vừa nói:

– Con Quyên nhà mình không có ai là bạn tên Q. cả, nhưng có thể anh ta lẫn trong đám bạn trai từng tới nhà, hoặc đứng từ xa phải lòng thì sao?

– Không, nghe cách kể qua tay này thì có vẻ thân thiết lắm, những chi tiết về gia đình em anh ta còn biết cơ mà?

Nàng cười, vẻ mặt rạng rỡ như thơm lấy với nhan sắc của cô em gái mình được người khác để ý.

– Thì cũng như anh đấy. Khi em chưa biết mỗi tối trời mưa có thằng trộm koát áo đứng ngóng trước cửa sổ nhà mình thì anh đã kể vanh vách với cô em gái về em rồi cơ mà?

Tôi cười ngượng ngịu, nhưng cố vớt vát:

– Anh vẫn thấy có gì bâùt ổn em à…

Nàng gạt phắt đi:

– Anh chỉ vớ vẩn, sang đến đây rồi còn sợ. Cứ mời tay đó đến đây chơi, thật giả trắng đen gì rồi mình kết luận vẫn còn chưa muộn!

Tôi không đồng ý cách giải quyết của nàng, nó có vẻ thụ động theo cảm tính đồng bóng của phụ nữ. Tôi cũng không muốn mời khách vào nhà để rồi đóng cửa vĩnh viễn những lần gõ sau. Còn dung dưỡng một quái thai trong bụng mình thì chả khoái chút nào.

Tôi bỏ dự định đến thăm anh ta. Q. gọi điện thoại tới hai lần, mời đến nhà anh chơi. Nại cớ con ốm, tôi từ chối khéo. Đến lần thứ ba thì anh ngỏ ý muốn lên tôi chơi thay vì tôi xuống. Thật khó trả lời, tôi ậm ừ cho xong chuyện rồi cầu mong anh lạc đường kiếm không ra nhà.

Q. mò đến được, vẫn cái áo khoát lần trước, trên tay ôm đồm mấy gói quà cho vợ con chủ nhà. Tôi đứng trước cửa ra vào, lúng túng không biết nên chọn thái độ đón tiếp nào cho thích hợp. Còn anh thì tự nhiên như người trong nhà, thấy chủ nhân ngần ngại đứng sau cửa, tưởng bị nhắc khéo đôi giày dính tuyết nên vội quẹt quêt vào miếng thảm nhỏ rồi cảnh cáo nhẹ:

– Ở Hà Nội người ta không bắt khách cởi giày khi vào nhà đâu…

Tôi cười gượng gạo, đỡ giúp mấy gói quà cho anh cởi áo khoác. Đống đồ của nợ này khiến tôi thêm khó chịu, nó có vẻ “gài” cho mối quan hệ mới mở đầu. Q. tinh ý nhận ra ngay thái độ đó, cười hềnh hệch:

– Thủ tục bắt buộc khi đi hỏi vợ, tớ cũng giả vờ làm cho xong chuyện. Nhưng xuống nhà tớ cậu đừng dở lại trò này nhé, một lần là đủ.

Tôi phì cười vì lối giải thích ba bứa, đi treo giúp anh chiếc áo khoát nặng chình chịch.

– Ấy, nhẹ tay thôi… – Q. nhắc nhở rồi chạy theo – Có cái nhày cho tụi mình…

Anh moi từ cái túi to tổ bố khâu bằng tay ở mặt trong chiếc áo ra nào thuốc sợi, tẩu, khăn giấy hỉ mũi dở, rồi một chai rượu mạnh.

– Dân “quốc lủi” tụi mình thì phải “chơi” cái này. Uống khắp mặt rượu ở đây tớ chỉ thấy mỗi nó là gần gủi với rượu lậu Hà Nội.

Anh nháy mắt cười với tôi. Tôi thì e ngại với đống đồ nghề anh mang tới, nó chứng tỏ anh không dừng lại ở mức xã giao. Vợ tôi biết khách sẽ đến từ hôm trước nên chuẩn bị sẵn sàng để tiếp. Khi thấy chúng tôi đã yên vị trên ghế, nàng kín đáo nhìn qua khe cửa bếp, quan sát khách. Q. không hay biết gì, đảo mắt nhìn quanh nhà rồi hỏi thăm vợ con tôi. Lúc đó nàng mới bưng cà phê ra để chào khách. Anh nói chuyện ồn ào, về đủ các vấn đề mà phụ nữ quan tâm tới ở xứ này. Vợ tôi khép nép nghe ầu luôn luôn gật, thỉnh thoảng mới thêm vài ý kiến nhỏ. Thật oái ăm, khách thì ăn nói hoạt bát tự nhiên như chủ nhà, còn chúng tôi thì rụt rè giữ ý như làm khách vậy. Q. không nhận thấy điều đó, chiều đến, vợ tôi nhấp nhổm đắn đo hai ba lần rồi mới mời khách ở lại ăn cơm, giọng thăm dò. Anh sốt sắng nhận lời rồi buộc miệng kêu đói. Tuy chỉ định bụng mời rơi, nhưng nàng chuẩn bị khá kỹ càng. Thịt, rau được thái ướp từ sáng sớm, đống đồ biển này mới lấy khỏi ngăn đá từ lúc khách nhấn chuông cho nó tươi. Chuyện vãn giữa hai gã đàn ông trở nên uể oải, anh xắn tay áo đòi vào bếp giúp bà chủ nhà làm cơm. Tôi cản cho có lêï rồi nằm dài ra ghế, vớ bừa một cuốn sách để đọc. Nếu ở Việt Nam thì tôi không ngạc nhiên với thái độ tự nhiên thoải mái của anh, nhưng ở đây, nhất là sau những thắc mắc tôi thấy nó có vẻ đi đúng bài bản “hoà mình xâm nhập quần chúng” nên những nghi ngờ càng có điểm tựa.

Ngoài tài ăn tục nói phét, ông khách còn chứng tỏ khả năng nấu bếp có hạng. Ngồi trên phòng khách nghe tiếgn dầu sôi lửa cháy phừng phừng một cách hết sức đàn ông, tôi biết vợ tôi đã bị gạt ra ngoài. Tài năng của nàng chỉ riu riu ở món kho, sình sịch ở món hầm. Cái rón rén của phụ nữ khi dùnglửa khác với sự phóng khoáng của đàn ông nên món ăn không bao giờ lên tới cỡ, chỉ lưng chừng ở ngang dốc rồi nhoè nhoẹt giống nhau ở trong tất cả các món xào nát nhũn.

Mặt đỏ bừng, chiếc khăn bàn làm bếp trên vai, hai tay bưng đĩa cá đút lò bốc khói. Q. nghiêng mặt như mấy ông bồi bàn có ngạch bước lên phòng khách. Tôi luống cuống nhỏm dậy thu dọn đĩa tách cà phê cho anh có chỗ bày. Tưới một chút rượu mạnh trong chai mình mang tới lên đĩa cá. Q. bật diêm cho lửa bùng cháy rồi hãnh diện nhìn chủ nhà. Tôi trố mắt như trẻ xem trò ảo thuật. Vợ tôi đứng sau lưng Q. cười ngượng ngùng như muốn đổ lỗi sự vụng về cho thái độ sốt săáng của khách. Anh rút chiếc khăn trên vai thấm mồ hôi gáy rồi chả hiểu sao lại lau bừa lên mặt, bất kể mùi đồ ăn ngấm lưu cửu trong đó.

Phong cách giang hồ của mấy món ăn quyến rũ tôi ăn, uống nhiều. Có chút hơi men Q. nói càng hoạt bát, mà ăn cũng không kém. Anh kháo chuyện Hà Nội, tự diễu méinh về những bỡ ngỡ khi mới đặt chân lên xứ văn minh. Những câu chuyện bình thường được anh diễn tả bằng thứ ngôn ngữ giang hồ như món ăn trở nên có duyên đến tức cười. Lũ trẻ ngồi quanh bàn cứ há hốc mồm nghe ông khách lạ, quên cả ăn. Tôi bị cuốn vào câu chuyện hồi nào không hay, vừa nhồm nhoàm nhai vừa kình cãi với khách. Vợ tôi ăn ít, nàng chống hai khuỷu tay lên bàn, xoa xoa hai bàn tay vào nhau nghe chúng tôi nói chuyện và tiếp thức ăn cho mọi người. Q. gắp cho nàng một khúc cá, khi đưa đến gần chén của nàng thì nó trượt khỏi đôi đũa rơi tòm xuống chén nước sốt.

– Đấy, chết rồi mà vật lộn với nó còn khó. Tôi luôn luôn chỉ bắt được vẩy cá trong những lần tát ao.

Anh chữa thẹn rồi thản nhiên lấy tay chùi nước sốt văng trên áo mình, đưa lên miệng liếm .

Tối đó anh ngủ lại nhà tôi. Cơm nước xong thì đã chín giờ rưỡi, chuyến xe lửa cuối cùng hai giờ sáng mới chạy, tôi buộc lòng phải giữ anh lại. Q. thấy đó là điều đương nhiên, không một câu từ chối khuôn sáo, anh hăng hái giúp chủ nhà dọn dẹp để lấy chỗ ngủ. Nhà chật nên chúng tôi dùng chiếc ghế sa lông lớn kéo ra làm giường cho khách. Ngồi trên đống chăn gối mới mang ra, anh nạp một mẩu thuốc, nhìn vợ tôi và mấy cháu nhỏ như dò hỏi rồi tự cho phép mình mồi lửa hút.

Nằm trong phòng ngủ tôi sốt ruột đợi vợ vào để nghe nàng đưa ra những nhận xét về ông khách mới. Nàng còn lịch kịch rửa chén dưới bếp, chuẩn bị nồi cháo gà cho bữa điểm tâm sáng mai. Tôi ngủ quên lúc nào không hay.

Nửa đêm tôi tỉnh giấc vì khát nước. Uống xong ly nước lạnh thì tỉnh ngủ hẳn, tôi lần ra phòng khách kiêùm thuốc lá hút. Cả nhà đã ngủ say, tiếng Q. ngáy rền cả phòng khách. Anh đã uống khá nhiều rượu, hơi thở nặng nề, nồng nặc mùi men. Tôi định vào phòng ngủ hút, nhưng sợ nàng thức gậy lại phát hoảng lên như lần trước nên lộn trở ra ban công. Tuyết rơi nhiều, lún phún rắc trong ánh đèn đường, bay cả vào nhà. Đứng một lúc người đã thấm lạnh, tôi lập cập mở cửa bước vào phòng khách. Q. vẫn ngáy như sấm, thỉnh thoảng nói lảm nhảm điều gì khôgn rõ rồi cười khì khì trong mơ. Tôi nảy ra ý định quan sát anh khi đang ngủ. Phải rồi, con người không thể dấu mình được trong trạng thái này. Những nét nhuần nhuyễn của kịch cợm lúc tỉnh sẽ bị lột sạch, cái ưu cái khuyết, những hang hốc mối mọt của cái tủ cũ sẽ bị cạo mất lớp son lẫn ghét phủ ngoài, trơ ra chất gỗ thật của mình dưới vòi nước xịt mạnh. Không cưỡng lại được ý định ngắm anh, tôi dò dẫm lần đến cây đèn mờ đứng ở phòng, bật nhẹ. Ánh sáng vừa đủ rọi tới mặt Q., anh hơi nhíu mày, rồi mặt dãn nở lại, ngáy tiếp. Mớ tóc cứng, bồng bềnh những nếp quăn tự nhiên lúc này bết mồ hôi bám quanh sọ. Chân mũi vuông, vun đọng thịt ở chóp của con người thiên về hành động, ăn nhậu. Những chân rễ chằn chịt như dây võng bắt nguồn từ đuôi mắt toả rộng ra hai bên thái dương hằn rõ mồn một. Lúc tỉnh, cặp mắt sáng tia điện nghịch ngợm đã toả lấp phần nào cái nhàu nát ở vùng mắt anh. Trán anh cao, gồ, sần sùi những nếp nhăn xếp sóng. Quai hàm vuông, ngay trong giấc ngủ cũng bạnh ra như đang ngấm ngầm chịu đựng cơn đau bụng. Khuôn mặt đó là dương bản của bộ não sau khi trải qua thuở thiếu thời cơ cực, tuổi thanh niên lận đận với mắm muối củi lửa bám rêu trong đầu.

Không thấy quen, cũng chả phát hiện ra điều gì bất thường khi đưa khuôn mặt này rọi chiếu trước quang tuyến, tôi tắt đèn ngồi hút thuốc. Con người thật thảm hại, đáng thương trong giấc ngủ, nếu đẹp có chăng chỉ là nàng công chúa được tạo hóa sàng lọc những đường nét thanh tú từ đời ông bà cha mẹ, ướp mình trong nhung lụa rồi nằm mơ bị con sâu bò đến gần đe dọa. Không biết vợ tôi có thường ngắm chồng trong giấc ngủ? Hôm nay rõ ràng Q. đã kiếm được nhiều điểm của mẹ con nàng. Cứ nhìn con mắt, nụ cười trong trẽo của nàng thì rõ, những điều cảnh giác trước của tôi tan biến ngay khi con người xù xì này lướt vào nhà. Thật đúng là đàn bà với con nít. Giá họ có ác cảm với anh ta thì ngược lại, tôi sẽ chú tâm tìm kiếm những điểm dễ thương để biện hộ trước vợ con, xác tín với mình. Tôi ngồi trong bóng tối hàng giờ, nghi ngờ phủ nhận, đốt sạch gói thuốc Q. vẫn say sưa ngủ, không hay biết chủ nhà đang trăn trở thắc mắc về mình, thỉnh thoảng lại đưa tay quệt nước dãi ở miệng.

Sau đó đều đều mỗi tháng anh vẫn đến nhà tôi chơi, còn dắt theo cả vợ con (để làm tin?) Tôi bị xô đẩy vào mối quan hệ như ép duyên, rồi cũng quen dần với nó. Hai người đã làm tốn khá nhiều thời giờ và rượu bia của nhau. Mặc dù vậy, sau mỗi lần trò chuyện, chi bộ nhỏ trong tơi vẫn họp lại để kiểm thảo, đào bới xem anh có mặc áo giấy đi đêm không. Một nửa con người tôi phải lòng anh, chấp nhận anh, đi với anh trên bề nổi cuộc sống, nhưng phần chìm, khuất trong bóng tối vẫn nhắc nhở, cảnh tỉnh khiến tôi khổ sở như ăn hộp cá ngon mà không biết date, xuất xứ của nó.

Hai bà vợ thân thiết với nhau hơn cả chị em ruột. Họ đã tìm lại Hà Nội thuở ấu thời, hàng quà hàng bánh, chợ Đồng Xuân, chợ Cửa Nam trong nhau. Lũ trẻ mất dần đi những câu “con bác Q.”, “tụi nó…” mà thành “anh R…”, “chị H…”. Chúng xóa nhoà ranh giới giữa hai nhà, ôm tất cả vào lòng rồi chia đều theo thứ tự tuổi tác.

Không được phép đầu độc cuộc sống của vợ con bằngnhững nghi ngờ, tôi thu mình lại bên cạnh những mối quan hệ cởi mở đó. Những lời tâm sự giữa hai vợ chồng tắt dần, thỉnh thoảng buột miệng đưa ra một nhận xét lạc lõng về Q. làm cả nhà ngạc nhiên, khó hiểu, tôi vội xoá nó bằng nụ cười gượng gạo rồi giải thích sang hướng khác. Mỗi lần bị qủy ám, nửa đêm tôi không dám ngồi trong phòng ngủ, ngoài phòng khách mà chui vào toilette khoá cửa lại đốt thuốc trong đó. Tôi cố gắng chặt lìa con ma nghi ngờ ra khỏi người  mà không được, sau mỗi nhát dao chém nó càng bấu chặt lấy ruột gan tôi hơn, xác nhận tính cấu thành vững chắc trong tôi. Tôi kinh hoàng nhận ra mình là kẻ tàn tật đi trên cõi đời này. Tôi không phải đoàn viên, chả phải đảng viên, chưa một ngày đứng trong cơ chế Cộng Sản, trong tôi không có những cuộc đấu tố rùng rợn, không có bội phản, giả trá, nhưng thói đa nghi, đề phòng cảnh giác luôn bắt tôi phải soi mói, phân tích và phê bình con người. Tôi không hài lòng với thời trang, tôi bực bội với đầu tóc của kẻ khác, tôi tuyên chiến với những cặp nhân tình ôm hôn nhau ở ngoài đường, tôi nhéin vạn vật với con mắt cần cải tạo. Tôi trở thành kẻ thù của con người lúc nào không hay. Những cố gắng đẽo gọt, cạo rửa bản thân mình trở nên vô ích, tôi là viên gạch vô tình nằm trong lò sát sinh và đã bị ám khói lửa thiêu người.

Jean Paul Sartre sau khi phản tỉnh đã thổ lộ “Tôi ly khai chủ nghĩa Cộng Sản, có nghĩa đã ghê tởm, phỉ nhổ nó, đoạn tuyệt hẳn với nó, nhưng mỗi sáng ngủ dậy đứng trước bồn tắm rửa mặt tôi vẫn thấy một thằng cán bộ đang rình mò, xoi mói nhìn mình trong gương…” Không biết ông đã đặp vỡ bao nhiêu miếng gương, còn tôi, tôi luôn sống với cảm giác sau lưng mình có mọc một cái đuôi.

THẾ GIANG (6/ 1986)

Posted in Giải Trí, Truyện Ngắn, Đảng CSVN | Leave a Comment »

Truyện Ngắn

Posted by hoangtran204 on 31/07/2011

Cũng Một Kiếp Người

Tác giả: Đỗ Trường
» Thể lọai: Truyện ngắn
» Số lần xem: 6490

nguồn

Bây giờ hắn nằm đó bất động như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp,khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chặt chém nham nhở .Da của hắn chùng xuống nhăn nheo, đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề lệch hẳn sang một bên, đung đưa đung đưa, mỗi khi hắn co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây.

Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại, sâu hoắn vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nào dúm lại ,méo mó .Tiếng thở của hắn phì phà,phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị, môi hắn tím ngắt,phập phà phập phùng,nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà hắn. Hai tay hắn quờ quạng,và hắn đang sờ soạng vào bóng của mình trên tường, dưới ánh đèn dầu lúc chạng vạng tối.

Hắn đã đi qua hết cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên quê hương hắn. Nhà tù của chế độ Việtnam cộng hòa, rồi nhà tù Thanh hóa sau 30-4-75 hắn cũng đã vượt qua. Ấy vậy mà căn bệnh ung thư phổi đã quật ngã hắn, hắn đang nằm chờ chết,một cái chết đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn.

Vì là con ông chú, nên hắn phải gọi tôi bằng anh, nhưng hắn lớn hơn tôi đến chục tuổi. Ông nội hắn là người giầu có tiếng tăm ở Nam Định.

Ông hắn mua rất nhiều ruộng đất ở vùng hạ sông Đáy. Ông hắn bắt vợ chồng bác cả và bố hắn về ở hẳn đó trông coi. Để trói chân bố hắn ở đó lâu dài, ông hắn lập mưu cưới vợ cho bố hắn là người địa phương . Lúc đầu bố hắn phản đối quyết liệt, nhưng sau đó không rõ thế nào , hay vì mẹ hắn nết na ,hiền thục ,chăm chỉ ,nên dần dà bố hắn cũng chịu.

Hắn là con thứ hai, sau hắn lóc nhóc còn sáu em nữa. Đến tuổi vào học lớp vỡ lòng (lớp 1),là lúc đội cải cách về thu ruộng đất của gia đình hắn . Bác cả của hắn sợ quá chạy một mạch ra Qủang yên. Vì còn vướng đàn con nhỏ ,bố hắn không kịp chạy nên bị bà con bần cố nông bắt giữ.

Bố hắn bị giam vào chuồng lợn của chính gia đình hắn. Nhà chính của bác cả và gia đình hắn bị chia cho bà con bần cố.Gia đình hắn phải chuyển xuống nhà bếp.

Hàng ngày hắn phải mang cơm cho bố ( nói là cơm cho sang vậy thôi ,thực ra chỉ là cháo bí ngô đỏ, hoặc khoai lang luộc mà thôi ) phải đi qua sân trước nhà cũ của hắn,hắn sợ lắm. Bọn bạn cũ con bần cố nông ,từ trong nhà hắn réo tên hắn chửi :  –  Thằng địa chủ con, đại gian đại ác, chúng ông không chơi với mày nữa.

Hắn lầm lũi cúi mặt bước đi. Hắn cũng nghe lỏm được, bác Âm chị gái bố hắn bị bà con bần cố nông và cô con gái nuôi đấu tố làm nhục,  ức quá thắt cổ tự tử.

Ông hắn ở trên quê, cũng bị nhốt vào chuồng trâu,tự bóp cổ mấy lần,  mặt xưng to như cái cơi trầu, bà nội hắn biết được nên cứu sống. Hôm đội mang ông hắn ra xử bắn,thì có lệnh dừng lại -sửa sai- thóat chết.

Bố hắn may mắn cũng được thả , vì ruộng đất trên giấy tờ vẫn là của ông hắn được hạ thành phần xuống trung nông.

Mới chín, mười tuổi, hắn đã phải lao động cật lực như một lão nông thực sự. Hắn và bố hắn hàng ngày phải cầy cầy,bừa bừa,lăn lộn, trên chính mảnh đất của cha ông hắn, để tính công điểm với hợp tác xã.

Chằng chuộc mãi hắn cũng học qua được bậc tiểu học. Mười bảy tuổi mà hắn còi cọc nhỏ thó như đứa trẻ mười bốn,mười lăm.Người hắn gầy như cây sậy,da xanh rớt như tầu lá.Cái đói thường trực trong con người hắn,có lẽ cả năm chỉ có ngày mùng một tết là hắn được ăn no.

Cái ngày ấy đi bộ đội tức là đi vào chỗ chết,người ta cũng phải xét lý lịch. Thành phần ông địa chủ, bố không cùng với giai cấp bần cố, lại có chú theo ngụy quân, ngụy quyền vào nam, muốn đi bộ đội còn lâu nhé. – Cho mày đi ,mày theo chú mày chống lại chúng ông à. Người ta bảo hắn thế,khi hắn viết đơn xung phong vào bộ đội.

Bố hắn thì chì chiết:

_Đi bộ đội, mày định mang súng vào Nam để giết chú mày hay sao? Đồ mất dậy.

Mặc xác mọi người,hắn vẫn quyết tâm xin đi. Cũng may bên ngọai hắn có mấy ông bác, ông cậu làm việc ngòai xã, cậy cục mãi ,người ta cũng chấp nhận cho hắn đi khám sức khỏe. Hôm khám,hắn phải đeo thêm mấy cục đá mới đủ cân.

Nhìn cái dáng loắt choắt của hắn có người thương tình hỏi:– Còn bé tý ,sao lại muốn lăn vào chỗ chết như vậy ?. Hắn hồn nhiên trả lời:– Đi bộ đội cháu sẽ được ăn no.

Cuối năm 1980 hay 81, nhà tôi lúc này còn ở trong ngõ chợ Khâm thiên. Không ngủ được, mẹ tôi thường đi chợ sớm.

Sáng hôm ấy trời nắng ráo ,có mưa gió gì đâu, lại có một người đàn ông ăn mặc kỳ cục, áo mưa kín mít như đàn bà đẻ, chân đi đôi guốc tự đẽo, lọet quẹt theo mẹ tôi vào nhà. Tôi nghệt mặt ra nhìn.

Mẹ tôi hỏi :– Không nhận ra ai sao ? tôi lắc đầu  —  Đam con chú Khôi ,vừa ở tù ra. Thì ra ông trời đánh này, nghe đã nhiều hôm nay mới gặp.

Ngày hắn đi bộ đội, tôi mới có năm, sáu tuổi, không nhớ được.  Nếu như mọi người trong gia đình không thường xuyên nhắc đến hắn, có lẽ tôi chẳng biết  còn có hắn ở trên cõi đời này.

Năm ấy hắn mới ngòai ba chục, ấy vậy nhìn hắn như ông già sáu mươi. Răng hắn cái mất cái còn ,vàng khè,ngỡ từ lúc sinh ra đến giờ,hắn chưa bao giờ biết đánh răng vậy. Da hắn bủng beo,xám xịt ,có lẽ hắn vừa trải qua trận sốt rét rừng ? Tóc hắn bết lại thành từng khóm ,tỏa mùi khét lẹt. Hai má hắn tóp lại, xương cằm chồi ra làm đôi môi đen xì của hắn hơi bị sole.

Hắn chỉ còn đôi mắt ngầu ngầu hơi đục, thi thỏang tóat lên sự sống. Chân hắn đi lại cà nhắc cà nhắc. Hắn bảo chân hắn ba lần bị thương, lần đầu dính đạn của lính VNCH, lần sau trúng đạn của bộ đội. Một lần nữa hắn bị quản giáo vụt gẫy chân, vì can tội đào trộm sắn ăn sống khi ở trong trại cải tạo.

Mẹ tôi phân công hắn ngủ cùng giường với tôi. Nhưng mấy đêm đầu hắn như bị ma ám. Đang ngủ ,hắn dựng người dậy ,nói mê lảm nhảm

_Lạnh quá,lạnh quá, tôi chết mất…

Tôi ấn người hắn xuống

_Đây là nhà mình rồi,không phải ở tù nữa đâu. Hắn đổ cả mồ hôi hột,

_Vậy hả, giời đất ơi, em cứ tưởng đang bị đứng dưới hố nước chứ. Nghĩa là thế nào ? tôi hỏi hắn.

_Trong trại có một cái hố sâu đầy nước, người ta bỏ một tấm ván gỗ trên mặt nước. Vào mùa đông ,thằng nào bị phạt phải đứng ngâm mình trên tấm ván đó ,nước tới cổ,trong tư thế cân bằng ,nếu không tấm ván sẽ bị lật, uống no nước bẩn.

Nghe hắn kể những lần sốt rét rừng không có thuốc ,phải nuốt giun đất sống ,làm tôi rùng mình. Hắn bảo nghĩ thì sợ ,nhưng trong hòan cảnh đó phải chấp nhận thôi, nhưng cái anh giun đất trị sốt rét tốt ra phết đấy.

Tôi hỏi hắn : Ông đang là bộ đội ,làm thế quái nào ông chuyển thành lính VNCH ?. Hắn lặng người đi, dường như hắn đang xúc động lắm. ….

Vào bộ đội được ba tháng, đơn vị hắn được lệnh hành quân vào Nam. Hắn được huấn luyện sơ sài . Hắn thú thật ,lúc đó chưa sử dụng súng đạn thuần thục.

Mấy tháng ròng, luồn rừng,trèo đèo, lội suối, đơn vị hắn mới đến được nơi tập kết, nhưng rơi rụng hết một phần ba. Hắn được bổ xung vào một đơn vị mới đóng sát biên giới Campuchia.

Hắn chưa được tham gia những trận đánh lớn, ngòai mấy trận đụng độ lẻ tẻ. Hắn bị bắt trong một trận như vậy ,khi hắn bị thương ở chân, và lạc đơn vị .

Hắn được đưa về Sài gòn điều trị vết thương,và tạm giam. Lúc đầu hắn cũng lớn tiếng ,hung hăng đả đảo chế độ VNCH, đúng như lời đồng chí chính trị viên căn dặn. Nhưng dần dần hắn cũng hiểu ra ,họ không hòan tòan như đồng chí chính trị viên đã nói.

Hắn được đối xử ở bệnh viện quân đội ,như những người lính VNCH. Khi vết thương đã lành, hắn phải vào nhà tù, từ đây hắn trở thành tù nhân của chiến tranh. Hắn được ăn uống đầy đủ,hắn không bị đói- Ôi! hắn sợ đói lắm,dường như cái đói cứ ám ảnh cả cuộc đời hắn. Hắn sợ đói ngay cả lúc hắn no.

Hắn biết ,hắn chỉ là thằng lính tò te, ít học ,lại còn ngốc nghếch nữa, chẳng có gì để họ quan tâm ,khai thác cả. Nhưng hiện tại hắn đang mất tự do, ngày ngày trôi qua, hắn cảm thấy vô vị.

Năm sau, hắn cùng một số bạn tù khác xin hồi chánh. Biết hắn ít học,lại còn trẻ,nên chính phủ cho hắn vào trường học nghề, nhưng hắn không chịu ,hắn muốn đi làm ngay để kiếm tiền. Vật lộn mấy năm làm thuê, lúc ở Sàigòn, khi ở Biênhòa,hắn đâm chán nản.

Đầu năm 1970,gặp lại mấy ông bạn tù cũ cùng cảnh ,rủ vào lính biệt kích không số quân, do Mỹ trả lương,vì họ đang cần tuyển những người tứ cố vô thân như hắn.

Tôi hỏi hắn: – Ông có ông chú ruột lúc đó đang là sĩ quan VNCH, và là dân biểu tỉnh Bìnhđịnh sao ông không tìm đến ?

Hắn bảo khi bị bắt ,hắn đã khai không có ai quen biết,họ hàng nào ở miền nam cả, sau này sợ phiền ,nên hắn không tìm chú hắn. Khi hắn là lính biêt kích- đóng ở Hòai nhơn,Bìnhđịnh, đó là quê vợ của chú hắn, cũnglà địa bàn đóng quân của ông.

Hắn thường xuyên thấy hình ông chú trên báo,nhưng hắn quyết tâm không tìm. Điều tất nhiên ông chú không biết hắn đang ở cạnh ông.

Dù hắn có giải thích,hoặc bằng bất kỳ lý do nào ,cũng không làm cho tôi thỏa mãn. Tôi bảo hắn; Nếu như  gặp ông chú có lẽ số phận ông sẽ đổi khác. Hắn im lặng không nói gì. Tôi còn giữ cả số lính- 76.106619- (đã lâu không biết còn chính xác không?)đơn vị sau năm 1972,

Khi Mỹ rút, hắn chuyển sang quân đội VNCH.  Số là năm 1993 em gái út lấy chồng, tôi có về Hànội. Công việc xong xuôi,tôi về thăm quê,và thăm hắn. Lúc này hắn đang đói lắm.

Nghe đâu hắn theo người ta ra mãi Quảngninh làm thợ xây. Chẳng hiểu các bố lắp đặt giàn giáo thế nào chạm vào vào dây điện chạy ngang, hắn bị giật cháy xém cả mảng da,ngã lộn cổ. Hắn không chết, nhưng bị thương nặng ,chuồn về quê tĩnh dưỡng.

Gặp hắn tôi hỏi , đã tởn chưa?  Hắn chống tay ngồi dậy ,tựa lưng vào tường ,với điếu cầy bắn liền tù tì hai ,ba phát,rồi vỗ vào miệng điếu kêu đồm độp.Hắn nuốt khói thuốc lào ừng ực ,cứ như người ta uống bia vậy. Lim dim một lúc hắn trả lời nhát gừng :

_Sợ có mà chết đói à.

Tôi hỏi:

_Sao không làm đơn sang Mỹ theo diện HO, để vợ con nheo nhóc như thế này. Hắn cười buồn

_Ở đây tù mù quá, em không biết thủ tục như thế nào ,ghi cho bác số lính, đơn vị,nhờ bác hỏi giúp.

Ngày đó Mỹ chưa có sứ quán ở Hànội,tôi cầm sang Đức nhờ anh Trần hữu Phúc biên tập báo HướngViệt,nơi tôi thường xuyên gửi bài. Anh Phúc hướng dẫn tỷ mỉ,bảo hắn phải vào Sàigòn nộp. Chẳng hiểu lý do gì hắn không vào.

Mãi đến năm 2007 hắn mới chịu làm tiếp hồ sơ. Người ta gọi khám sức ,căn bệnh ung thư phổi của hắn đã đến giai đọan cuối, chuẩn bị ngồi trên nóc tủ rồi ,còn đi với đứng gì nữa.

Có một câu chuyện hắn kể đã lâu ,có thể hắn phịa ra,hoặc thêm mắm thêm muối vào,làm tôi ám ảnh mãi. Là thám báo,nên  hắn thương phải họat động riêng lẻ. Chuyến đi đông người nhất là vụ nhảy dù xuống nhà tù nhốt phi công Mỹ ở Sơntây. Hắn làm nhiệm vụ tiếp ứng ngòai tầu biển. Sau mỗi phi vụ ,bọn hắn được xả láng cả tháng. Người Mỹ cũng vậy ,nhàn cư bất thiện. Hết trò,có vài lính Mỹ thuê các cô gái điếm vào trại cho chó đến kỳ động đực chơi. Động đến tự trọng dân tộc,bọn hắn vác súng đến sống chết với lính dù Mỹ.Chuẩn bị đánh đấm đến nơi, các cấp chỉ huy phải hỏa tốc đến , điều đình ,can thiệp mã mới ổn. Rù rà ,rù rì hắn kể đại lọai rất nhiều chuyện như vậy. Tôi không tin nhũng chuyện đó là thật, nhưng không hiểu tại sao tôi lại thích nghe.

Năm 1972, hắn chuyển về làm tiểu đội trưởng thuộc trung đội 3, đại đội 3,tiểu đoàn3,trung đòan 48,sư đoàn 18 bộ binh, với cái tên mới Nguyễn tấn Tước,( vì nhiệm vụ bảo mật nên hắn thay đổi tên tuổi ,ngày tháng năm sinh khi đổi đơn vị)cho đến ngày hắn bị bắt tại Xuânlộc.

Sau 30-4-75, hắn bị giải ra bắc. Tòa án quân khu 3 tại KiếnAn xử hắn gần sáu năm tù. Hắn ghé vào tai tôi nói nhỏ, em không khai báo thời gian đi lính biệt kích  cho Mỹ,  không thì có lẽ em khó có ngày về. Tôi hỏi lại hắn:

_Ông không phải là sỹ quan , mà sao người ta phải đưa ông ra bắc , mà tù lâu đến như vậy.

Hắn giải thích:

_Em nguyên là bộ đội xuất thân từ Nam định,nên họ xử em về tội chiêu hồi . Họ đánh giá thành phần bọn em còn nguy  hiểm hơn cả sỹ quan.

Từ đó đến nay, thời gian qua đã lâu,hắn cũng xắp tới cầu Nại hà,nên tôi mới dám viết điều này. Trông hắn cũ người như vậy ,thế mà có duyên ra phết. Ở Xuânlộc hắn cũng có vợ, chẳng biết có cưới xin gì hay không, nhưng đẻ cho hắn hai thằng con trai .Từ ngày hắn đi tù,vợ hắn cũng mất tích luôn, có lẽ đã lấy chồng khác.

Ngày mãn tù, người ta bắt hắn phải về quê để quản thúc, chứ không cho xuôi Nam.  Với cái bộ mặt dúm dó,và cái lý lịch đen như mực , ây vậy mà về quê có ít ngày ,hắn cưa đổ cô hàng xóm xinh đẹp ,nết na ra phết về làm vợ. Con cái cứ năm một ra đời, cái đói không bao giờ buông tha hắn .

Hôm trước, tôi có gọi điện về hỏi thăm, qua điện thoại người hàng xóm nhà hắn, hắn nói năng nặng nhọc lắm rồi.Tôi hỏi còn nguyện vọng gì nữa không. Hắn bảo:

_Ước nguyện thì nhiều,nhưng lúc xắp phải về thế giới bên kia, chỉ muốn được gặp đồng đội cũ  sư đoàn 18 bộ binh. Ước muốn là như vậy,nhưng khó lắm phải không bác…

Sau vài giây im lặng ,tôi nghe thấy tiếng… nấc nghẹn nghẹn…ở đầu dây bên kia.

Câu chuyện này, tôi viết ra đều theo lời kể của hắn, chẳng biết đúng sai thế nào, vì tôi chưa bao giờ trải qua gian khổ  éo le như hắn. Nhưng không hiểu tại sao, viết xong đọc lại, tôi cứ thấy rờn rợn ./.

Posted in Hồi Ký, Truyện Ngắn | Leave a Comment »

Truyện Ngắn: Gỏi Nhệch

Posted by hoangtran204 on 31/07/2011

Đỗ Trường

Thật ra quê gốc của tôi không phải vùng ven biển Nghĩa Hưng, Nam Định. Quê nội tôi, họ Đỗ sống nhiều đời ở Trực Ninh. Ông nội tôi trong cải cách ruông đất được đội(cải cách) phong là địa chủ cường hào đại gian đại ác. Theo báo Nam Định, tài sản của ông tôi bị tịch thu nhiều đứng thứ ba của tỉnh. Lệnh sửa sai, đã kịp thời cứu sống ông tôi từ nơi trường bắn. Chỉ tội cho ông Phi chủ tịch lâm thời huyện, người đã được ông tôi nuôi giấu khi còn hoạt động trong bóng tối, bị gán cho cái tội quốc dân đảng, ức quá tự mổ bụng, chết tức tưởi trước mặt đồng chí của mình hiện là những ông đội, ông phán.

Quê ngoại tôi họ Đặng làng Hành Thiện, Xuân Trường. Dòng họ khoa bảng rất nhiều người thành đạt trong học vấn, và nhiều người làm quan to ở thời nào, chế độ nào cũng có. Như mẹ tôi chẳng được học hành nhiều, vậy mà khi về già vẫn còn đọc sách tiếng pháp toanh toách tôi nghe ù hết cả tai, chữ viết cứ tròn vành vạnh, tính toán, nữ công gia chánh đâu ra đấy. Không hiểu chế độ thực dân thối nát, nhồi nhét, đào tạo kiểu gì mà tài thế. Ngay bốn ông cậu em ruột mẹ tôi, ông chức vụ bé nhất cũng là vụ trưởng vụ kỹ thuật của một bộ.

Có lẽ tôi không được thừa hưởng tý ti nào gen bên ngoại, nên học hành vào dạng làng nhàng, độn sổ, năm học nào cũng nhận điểm vớt. Học hành đã dốt nát, lớn lên, đi làm chuyên chọc ngoáy cán bộ, nên luôn luôn được xếp vào dạng cá biệt, đã thế tôi còn khắc khẩu với các bác, các cậu bên ngoại. Có lần trong đám giỗ, có bác chức to đùng cùng đoàn tùy tùng, bảo vệ đến tham dự. Tôi dạng con cháu, ngồi mâm dưới. Đang chuyện gia đình, các bác chuyển sang học hành, và chuyện xã hội. Người đã khật khừ, tôi còn can tội nói leo, nói bậy làm phật ý các bác, bị ông cậu thứ hai bịt miệng, túm cổ lôi ra ngoài, bàn giao cho mấy ông cháu áp tải về nhà. Từ lần sau giỗ chạp, nếu tôi lò dò tới, chỉ được phép ngồi mâm các bà.

Ông ngoại tôi là sếp ở sở giây thép Hà Nội, chẳng biết là sếp to hay sếp bé nhưng về khoản cô đầu, cô đít thật sự ông tôi là sếp lớn, nổi tiếng đất Hà Thành. Ngày bà ngoại tôi còn sống hay cằn nhằn, ông ấy ăn chơi như vậy, thế mà Cả Khu ( TBT Trường Chinh) móc nối, rủ đi làm “giặc cỏ” đấy. Yêu cô đầu, con hát còn hơn cả vợ con, làm sao ông ấy bỏ đi được. (Vai vế trong họ, bà ngoại tôi là chị cụ Bốn Đễ thân sinh ra ông Trường Chinh – ngày đó trong họ, và chính quyền Pháp thuộc đều gọi ông Cả Khu là giặc cỏ, vì có ai biết cách mạng cách mẽo gì đâu, chỉ biết ông đang bị chính quyền truy bắt vậy thôi, nói như từ ngữ của ta bây giờ, tội phạm hình sự – Đây là lời kể của bà tôi và cô Đặng Thị Uẩn em kế ông Trường Chinh).

Tôi không nghĩ ông bà ngoại tôi ham giầu, mà cho mẹ tôi từ Hà Nội về làm dâu làng Cát Chử, Trực Ninh. Con nhà giầu ngày xưa làm việc còn cực hơn người ở. Mẹ tôi chửa xắp đến ngày sinh anh cả tôi, trời rét căm căm vẫn phải lội xuống ao vớt bèo, băm cám lợn.

Ông nội tôi mua rất nhiều ruông, đất vùng hạ Nghĩa Hưng. Nơi đây đất mới, ruông đồng mầu mỡ, lại được kẹp giữa hai con sông Ninh Cơ, và sông Đáy nên tôm cá rất nhiều. Từ đây ra biển chỉ một vài cây số, vì vậy hầu như nhà nào cũng có Te để đánh bắt tôm cá ven biển. (Te hình chữ V, mở ra khép vào như chiếc com pa, khung được làm từ hai cây tre khô, thẳng, người ta dùng dây đay đan thành lưới như một cái vợt, dụng cụ nặng nề này chỉ có đàn ông khỏe mạnh sử dụng được, dùng hớt cá ven bờ).

Ông tôi cho bác cả, và ông chú dưới bố tôi về đây trông coi. Nghe tin đội cải cách rục rịch về, ông tôi bắt bố mẹ tôi trốn về Nghĩa Hưng. Vừa tới nơi,chú tôi giật mình bảo, anh chị đưa các cháu về Hà Nội ngay, ở đây có lẽ còn căng hơn ở trên quê đấy. Đêm đó bố mẹ tôi tìm đường ngược về Hà Nội nương nhờ bên ngoại.

Sửa sai được mấy tháng, bà nội tôi tay bị, tay gậy lên Hà nội kêu với trung ương xin lại cái từ đường họ Đỗ vừa để thờ và ở, vì ruộng đất nhà cửa bị tịch thu cả, hiện hai ông bà già đang phải tá túc ở cái chòi ngoài đồng, trước đây là nơi canh lúa. Bà ngoại tôi dẫn bà nội đi tìm cụ Bốn Đễ lúc này đang lang thang ngoài phố, viết câu đối bán. Chẳng hiểu cụ Bốn Đễ nói gì với ông Trường Chinh, hay văn phòng quốc hội, thời gian sau ông bà tôi được chính quyền trả lại cho cái từ đường.

Có lẽ do hoàn cảnh gia đình và Mỹ ném bom Hà Nội, nên mẹ gửi tôi cho ông chú ở vùng biển Nghĩa Hưng. Nhờ vậy tôi có năm tháng tuổi thơ đi qua miền đồng quê sông nước, với những mùa rạm trôi tháng tám, và những cánh đồng vỡ ải, thơm lừng khói bếp quyện mùi rươi rán đầu mùa. Khi mùa nếp đã chín vàng, là từng đàn két tụ về vạt sú ven đê. Mùa này chõ xôi của các bà các cô quê tôi không thể thiếu thịt két hấp béo ngậy, trong se se lạnh chớm đông.

Trong cái se lạnh ấy, lũ trẻ chúng tôi sau những nhận thư hùng bằng những ván bi, ván đáo, thường tụ tập nhau trên những gò giữa đồng đang gặt, tìm bắt những con muôm muỗm béo tròn, đốt lửa lên, chúng tôi nướng. Hương của rơm mới bay đi với mùi thơm chín vàng rộm, bóng mượt của muôm muỗm, cho vào miệng, cảm giác bùi, béo ngọt, man mát như chiếc đòng đòng non khi lúa đương thì con gái, cho đến hôm nay đầu đã hai thứ tóc, nhưng khi nghĩ đến nó, tâm hồn tôi lại như được trở về với tuổi thơ.

Nhà chú tôi nằm chơ vơ giữa cánh đồng, nơi này trước đây là gò đất, bác cả cho dựng nhà tạm làm nơi nghỉ trưa của thợ cấy, thợ gặt. Cải cách, bác cả chạy thoát ra Quảng Yên, còn lại chú tôi nhà cửa, của cải, ruộng vườn bị tịch thu cả. Bị giam mấy tháng, đội đinh trục xuất về trên quê, nhưng chú tôi đã lấy vợ người địa phương, nên tạm thời cho ra ở ngoài này. Sau nhà con mương dẫn nước tưới cho cánh đồng lúa. Khi trời mưa rào, hoặc cống chính ngoài sông Đáy mở, nước lên, cá dưới mương quẫy đẻ nghe ùm ụp sau nhà. Những đêm như thế này, bao giờ đăng, đó của chú cũng đầy tôm, cá.

Chú từ bé đã sống ở thành phố Nam Định vì ông tôi cũng có nhà ở đó. Nhưng chẳng lo học hành, chỉ mải đàn ca, sáo nhị, năm hai mươi tuổi, ông tôi bắt chú về Nghĩa Hưng cho bác cả kèm cặp, và trông nom ruộng vườn. Nhưng chú cũng chẳng bỏ được cái thú chơi bời đó, có khi bỏ nhà đi rong chơi cả tháng, kể cả lúc đã có vợ có con. Ấy vậy mà chú tôi đã thay đổi hẳn tính nết, sau mấy tháng bị đấu tố, giam chung với lợn trong cải cách ruộng đất. Bây giờ nghe tiếng cá quẫy chú đã biết đó là loại cá gì, to hay bé. Chú đã là người sát cá nổi tiếng trong vùng.

Hì họ, giật hầy, dừng ọ…ọ .. con trâu, và chiếc cầy trên tay chú dừng hẳn lại. Quẹt tay lau mồ hôi trên trán, chú bảo tôi, gẫy mấy cái lưỡi cầy 51, mới được như thế này đấy. Chú tôi đã lột xác thành lão nông thật sự, và đang cầy cầy, bừa bừa chính trên mảnh đất của mình. Trước và sau chú đều là chủ, nhưng bản chất quả thật hoàn toàn khác nhau.

Chú tự từ bỏ tất cả mọi thú vui, hay mọi thứ vui đã bỏ chú ra đi, nhưng cái mà chú không thể từ bỏ đó là rượu với gỏi nhệch hay gỏi cá mè, một thứ ăn quê dân dã, dễ tìm, dễ kiếm. Khi đã ngà ngà say chú thường hay ngồi bờ mương sau nhà thổi sáo, hoặc đánh đàn Mandolin hát đến thâu đêm. Tôi còn nhỏ quá nên không hiểu hết những tâm sự, u hoài của chú, nhưng tiếng sáo vọng trong đêm, giữa cánh đồng mênh mông, dưới ánh trăng mờ đục cuối tháng, gió nâng tiếng sáo lên, như tiếng hú gọi hồn làm tôi cứ chờn chờn, rợn rợn. Đàn Mandolin thường đệm, hòa âm cho những bài hát có giai điệu vui rộn ràng, nhưng không hiểu sao khi nghe chú đàn hát, tôi thấy chẳng khi nào vui. Buồn đến nỗi có lần chú đàn hát bài “Tình Đồng Chí” ông chủ tịch xã đi qua tưởng chú hát nhạc vàng, nhạc phản động. Cấm. Chú bảo đó là của ông Chính Hữu, làm tướng tá trong quân đội đấy, ông lên Hà Nội mà bắt.

Khi ông mặt trời đỏ rực lên rồi tắt ngấm ở phía Tây, đâu đó chỉ còn một vài vệt sáng hắt lên từ cuối chân trời, chú tôi vác Te, đi kheo ra hướng biển. Chú đi cà kheo lênh khênh như các diễn viên hề ở đoàn xiếc, nước biển càng sâu, cà kheo thấp dần xuống, khi nước biển đã tới ngang hông người, chiếc sào được cắm xuống, đèn bão được treo lên, một đêm đánh cá bắt đầu. Đứng trên đê nhìn trong đêm ánh đèn như những con đom đóm lập lòe trên mặt biển mênh mông.

Sáng, khi mặt trời tròn như một chiếc thúng bơi lên khỏi những con sóng nhấp nhô, hàng ngàn tia nắng sớm lung linh, muôn mầu như đang rụng xuống biển xanh. Những con còng còng hoa nhớn nhác đi tìm những ụ cát mới để ẩn náu, cũng là lúc những người đánh cá kết thúc một đêm ngâm mình vật lộn với sóng gió. Tôi và thằng Năm (con thứ năm của chú) chạy ra hướng biển. Chú đã buộc Te gọn gẽ, rọ cá đã được mang lên mặt đê như chờ chúng tôi. Nửa dưới người ướt sũng, da bấy nhợt, chú cười hỏi:

_Hai thằng mày ngủ quên hay sao?

Thằng Năm nhìn rọ cá reo lên:

_Hôm nay bố bắt được cả nhệch!

Chú vác Te đi trước, tôi và Năm dùng sào làm đòn khiêng rọ cá lẽo đẽo theo sau. Tới nhà thím tôi chọn những con nhệch cỡ trung bình cho vào chum sành đậy lại, chiều làm gỏi. Còn lại thím mang ra chợ bán. Không hiểu sao chú tôi chỉ thích ăn cá đồng hay cá bắt dưới ao, chứ ít khi tôi thấy chú ăn cá nước mặn, ngoài nhệch ra. Khi bán cá có tiền chú hay dẫn tôi và thằng Năm ra hiệu sách cách nhà cả chục cây số, mua truyện. Truyện chú mua, tôi thích nhất cuốn truyện dịch của nước ngoài “Chú Bé Đánh Trống”.

Hôm nào đẹp trời; nước rút (xuống thấp), bãi biển bồi nơi cửa sông tật (lộ) ra, chú cho tôi và thằng Năm đi theo đào nhệch. Chú mang theo kẹp móc sắt trông như bát xà mâu của ông Trương Phi trong Tam Quốc để làm vũ khí chiến đấu. Nhìn những mà (lỗ) trơn, nhẵn chú đào, còn tôi và thằng Năm chạy loanh quanh nhặt những vỏ ốc được sóng đánh dạt vào bờ, tìm bắt những con còng mầu sắc sặc sỡ đùa nghịch. Lần đầu theo chú, đào được con nhệch to bằng cổ tay, dài ngoằng, chú đã kẹp vào đầu nó, thân và đuôi nó uốn ngược lên, tôi định đè nó xuống, chú hất tay tôi ra bảo, nó cuốn bẻ gẫy tay đó, xương nó cứng lắm.

Xung quanh nhà chú tôi trồng đủ cây có liên quan đến gỏi, từ cây xung, khế, chuối xanh đến đinh lăng, xương sông diếp cá, gừng nghệ, tía tô, mơ, húng, mùi tầu .. .. Và hũ mẻ gác bếp chú cũng chăm sóc kỹ lưỡng. Bình thường ít khi chú vào bếp, nhưng món gỏi nhệch tuyệt đối chú không cho thím, hoặc bất kỳ ai động đến. Chú bảo món này không cầu kỳ nhưng nhệch nhiều nhớt, nên phải dùng lá lúa để tuốt và nước tro để rửa. Lọc thịt phải mỏng, khéo và nhanh tay dùng giấy bản thấm khô, rồi tẩm thính gạo tám thơm, bột đậu xanh, riềng, nước nghệ, bột ngọt, muối tiêu ngay khi thịt còn mầu hồng. Chú dùng mẻ, đường, gừng một chút bột ngọt, ớt… nấu thành một thứ nước sền sệt đó dấm bỗng, sau đó pha thêm hai bát nước chấm, một bát với nước mắm, một bát với mắm tôm, bát nào cũng sóng sánh cùng tiêu gừng, ớt, sả…

Khi thím mang bánh đa vừng ra quạt, chú cho những khúc nhệch còn lại vào nồi canh củ chuối hột thái nhỏ như miến lên bếp, lúc này thằng Năm làm nhiệm vụ đi mời mấy ông bạn trong tổ cầy của chú. Tôi vừa rửa xong rổ rau thơm, đã nghe tiếng í ới ngoài ngõ, vào đến nhà ông nào cũng rút từ trong bụng ra chai rượu quốc lủi nút lá chuối khô, nhìn nhau cười ngất ngưởng.
Lúc đầu tôi sợ, chú tôi lấy những lá rau thơm đặt lên đó một chút da nhệch rán giòn, cho thịt vào rưới thêm một chút dấm bỗng cuộn tròn lại đưa cho tôi, bảo ăn thử. Tôi nhắm mắt lại, cho vào miệng, từ từ cắn, cảm giác thấy bùi bùi, ngọt của thịt, giòn giòn của da, tê tê nơi đầu lưỡi vị chua ngọt, cay cay của dấm như đang chảy vào trong cuống họng. Hương thơm của lá nhẹ nhàng đẩy cao lên cơ quan khứu giác, người thấy nhè nhẹ, như người ốm khỏe lại sau một nồi nước xông vậy. Tôi từ từ mở mắt, thằng Năm hỏi ngon không. Tôi gật đầu. Chú tôi cười khà khà bảo, ngon thì chiến đấu tiếp, xuống mâm dưới thằng Năm dậy cuốn, cái món này tự tay cuốn ăn mới ngon.

Sau này tôi được đi nhiều nơi, được ăn nhiều loại gỏi, trong đó có gỏi nhệch, tuy rằng mỗi vùng, mỗi người có cách chế biến khác nhau một chút, nhưng có lẽ trong đời ai đã một lần ăn gỏi nhệch, thì không bao giờ quên được cái dân dã, “thi vị” tuyệt vời đó. Và mỗi lần ngồi vào bàn ăn, tôi thấy dường như có chú còn đang ngồi đó, cuốn cho tôi chiếc gỏi nhệch đầu tiên.

Ngày nông nhàn, hoặc ngày giỗ, chú bảo tôi và thằng Năm lội xuống ao cầm xào đập để cá chạy, chú dùng vó bắt. Cá mè, chú lấy khúc giữa lọc để làm gỏi, cách làm, gia vị chế biến không khác gì gỏi nhệch. Tất nhiên món này nhiều người cho rằng không ngon bằng gỏi nhệch, nhưng nó được ăn chung với đầu cá mè nấu với hoa chuối, mẻ rất ngon, rất đặc biệt.

Năm sau thím tôi bị bệnh thấp khớp không lội ruộng được nữa, nên chú phải làm việc ngoài đồng nhiều hơn để tính công điểm với hợp tác xã. Mấy năm đó lúa bị sâu bọ nhiều, nên phải phun thuốc sâu, công việc nguy hiểm nặng nhọc này chẳng ai chịu làm, nên chú đảm nhận cả. Vài vụ như vậy, người chú gầy rộc, và ngã bệnh. Khám bệnh viện huyện, tỉnh người ta bảo chú bị nhiễm thuốc sâu, đã cháy các túi đựng oxy của phổi, chứ không phải bị lao phổi, nên không chữa được. Nghe giải thích nôm na như vậy, lúc đó y học chưa phát triển lại chiến tranh nữa, nên tôi cũng chẳng hiểu ra sao cả. Chỉ thấy chú nằm đó ngày một tiều tụy, thở vô cùng khó nhọc. Hiệp định Paris đã được ký kết, chiến tranh có lẽ xắp kết thúc, nhưng người con cả, con thứ của chú ở ngoài chiến trường năm, sáu năm không có tin tức, càng làm cho chú chán nản. Mẹ tôi về, định đưa chú lên Hà Nội khám, chữa, chú dứt khoát không đi. Hàng ngày vẫn có người của trạm xá xã đến tiêm thuốc kháng sinh cho chú. Mấy năm như vậy tấm lưng gầy gò của chú nổi trai từng cục, không còn chỗ để người ta chọc mũi kim vào để bơm thuốc.
Sau này tôi có hỏi mấy người bạn là bác sỹ chuyên gia về bệnh phổi, bảo có thể chú bị ung thư phổi. Có lẽ mấy ông bạn tôi nói đúng vì người con cả của chú, sau khi bị lính VNCH bắt làm tù binh mấy năm, sau năm 1975 lại bị bộ đội bắt tù, ra tù một thời gian bị bệnh ung thư, hình hài của hắn giống hệt chú nằm trên giường trước khi về với thế giới bên kia.

Trong truyện ngắn “Cũng Một Kiếp Người” tôi đã viết về hắn “Bây giờ hắn nằm đó như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp, khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chém chặt nham nhở. Da của hắn trùng xuống nhăn nheo đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề, lệch hẳn sang một bên, đung đưa, đung đưa mỗi khi co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây. Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại sâu hoắm, vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nảo, rúm lại, méo mó. Tiếng thở của hắn phì phà, phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị. Môi hắn tím ngắt, phập phà, phập phùng, nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà…..”

Mẹ tôi định đưa tôi về Hà Nội, nhưng chú thím bảo cứ để tôi học hết năm rồi hãy tính. Tôi cũng không muốn xa chú, và thằng Năm trong hoàn cảnh này. Thím tôi đã khỏi bệnh và thay chú đi làm đồng. Mẹ tôi vẫn gửi tiền về, hàng tháng chú thím được lĩnh tiền đi B của hai người con đầu. Tôi và thằng Năm vẫn đi be bờ, đơm đó bắt cá, tôm nên chúng tôi không bị đói và thiếu thốn. Khác chăng chúng tôi không đi đào nhệch, và không còn tiếng sáo trúc réo rắt trong đêm nữa.

Sáng hôm đó chú tỉnh lắm, trước khi tôi và thằng Năm đi học chú còn ngồi trên võng, bảo tôi và thằng Năm đu võng và quạt cho chú một lúc, hình như chú định nói gì với chúng tôi rồi lại thôi. Đến giờ tôi và thằng Năm đi học bình thường. Lúc sau có người đến báo chú tôi sắp mất về ngay. Chúng tôi chạy vội về nhà đã thấy mọi người quây quần bên chú, hỏi chú muốn ăn gì nữa không, chú lắc đầu và bảo chú thèm một hớp bia thôi. Mọi người bảo may ra chỉ phố huyện Liễu Đề mới có, nhưng xa đến gần hai mươi km. Mọi người chưa biết làm thế nào, tôi kéo thằng Năm ra sân bảo, mày ở nhà xem chú thế nào nhé, tao đạp xe lên huyện tìm mua bia, may ra thì kịp. Ngày đó phương tiện đi lại vô cùng khó khăn, cả xóm chỉ tôi có xe đạp của cậu út đi nghiên cứu sinh ở Ba Lan về cho.

Nói là phố huyện nhưng chỉ có mấy nóc nhà, lèo tèo vài ba hàng nước, và sửa chữa xe đạp. Góc đường có cửa hàng bách hóa huyện, nhưng hàng hóa trống trơn. Khi đi luống cuống, tôi quên mang theo tiền. Tôi đánh liều vào mấy quán nước hỏi, nhưng không hàng nào có. Sang cửa hàng bách hóa chị bán hàng bảo chỉ có xy rô thôi chứ không có bia. Tôi đứng tần ngần, nước mắt như muốn trào ra. Thấy lạ bác sửa xe đạp hỏi, cháu còn nhỏ mua bia làm gì thế này. Nghe tôi kể, bác sửa xe có vẻ thông cảm bảo, ngồi vào đây, bác chạy vào hỏi chị này hay lên Nam Định và Hà Nội cất hàng, may ra có. Lúc sau bác mang về một chai bia Trúc Bạch nhỏ. Tôi thú thật với bác quên mang tiền, xin bác trả tiền giúp, tôi có thể tháo một số phụ tùng xe lại để bác làm tin. Do dự một chút rồi bác bảo, thôi đạp nhanh về, xong việc lên trả cũng được, tôi tin ở cậu.

Về đến đầu xóm, mấy thằng bạn học gọi giật tôi lại bảo chú mày đã mất rồi. Chai bia như tuột khỏi tay, ngồi bệt xuống vệ cỏ, nước mắt tôi trào ra. Vậy là chú đã không đợi tôi về. Mấy ông bạn cầy của chú mở chai bia để bên cạnh bát cơm quả trứng.

Chú mất đi để lại một khoáng trống thật mênh mông, những con chim chích chòe, chim sáo dường như chúng cũng nhớ tiếng đàn, tiếng sáo của chú, mấy ngày đầu chúng xà xuống đậu quanh sân, trên nóc nhà, sục sạo, kiếm tìm, rồi bay đi, cứ cách vài ngày tôi lại thấy chúng quay trở lại….

Về nước lần nào tôi cũng về thăm quê thăm mộ của chú. Thằng Năm vẫn ở quê, ngôi nhà cũ của chú nó đã đập đi xây lại, con mương sau nhà nó cạn khô nước, là nơi chứa rác. Những cây họ nhà gỏi nó nhổ sạch, chỉ tay vào những chậu cây cảnh nó bảo toàn tiền triệu trở lên đấy. Mùa hè nhà nó bây giờ cũng phải dùng quạt máy rồi. Nghe kể nó làm đủ nghề, từ buôn gỗ đến mổ lợn bán. Dáng đi của nó như cua bò, bụng chứa toàn bia to như đàn bà chửa. Tôi hỏi còn đi đào nhệch về làm gỏi nữa không, nó bảo thời gian đâu mà đi hở bác, muốn ăn vào mấy quán trong làng, thích đi xa sang Kim Sơn Phát Diệm, hoặc vào Nga Sơn Thanh Hóa, phục vụ tới bến. Nói xong nó kéo tay tôi bảo hôm nay bác thích ăn gỏi nhệch trong làng hay đi xa em chiều bác. Tôi viện cớ bụng không được khỏe, từ chối.

Buổi tối thấy nó cứ mở bia bôm bốp, tu ừng ực, làm tôi nhớ lại chuyện chú tôi thèm một ngụm bia trước khi mất, ngoài trời không có gió mà sao tôi cứ nghe thấy tiếng hát karaoke của quán nào đó đập thình thình bên tai.

Đức Quốc 22-7-2011

ĐỖ TRƯỜNG

Posted in Truyện Ngắn, Uncategorized | Leave a Comment »