Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Tài Liệu’ Category

►Giai Cấp Mới, tư bản đỏ… Làm thế nào để chiến thắng nhà cầm quyền cộng sản (Milovan Djilas)

Posted by hoangtran204 trên 29/03/2017

Hình ảnh về quyền lực và sự giàu có của gia đình Nguyễn Tấn Dũng, của các bí thư tỉnh ủy Đồng Nai, Bắc Ninh, Long An, Huỳnh Đức Thơ (chủ tịch UBND Đà Nẵng), sự giàu có của các tư bản đỏ Phạm Nhật Vượng, Trương Gia Bình (con rễ Võ Nguyên Giáp), các lãnh tụ cs Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt… hiện ra mồn một trong Giai Cấp Mới.

Hình ảnh và sự chuyên quyền của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và sự giàu có của con cái LD cũng hiện ra đậm nét trong Giai Cấp Mới.

Hỏi: Giai Cấp Mới gồm những ai?

Đáp: Đó là một nhóm người trong đảng, có quyền quản lý và phân phối toàn bộ khối tài sản đã được quốc hữu hóa và tập thể hóa. Chính vai trò độc quyền quản lý và phân phối thu nhập quốc dân cũng như mọi tài sản khác của quốc gia đã biến tầng lớp này trở thành tầng lớp đặc quyền đặc lợi.

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Sách- Báo- Hồi Ký, Tài Liệu, Đảng CSVN, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Cuộc Họp Báo Quốc Tế của Bà quả phụ Ngô Đình Nhu vào năm 1982

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2013

Phần 2,3,4 coi ở đây http://www.youtube.com/results?search_query=Interview+with+Madame+Ngo+Dinh+Nhu%2C+1982

Tài Liệu Lịch Sử: Nhân dịp tưởng niệm 50 năm tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị Bào Đệ và các Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà đã vị quốc vong thân, xin giới thiệu với các bạn, các anh chị, Video Cuộc Họp Báo Quốc Tế của Bà quả phụ Ngô Đình Nhu vào năm 1982. Bản gốc Anh ngữ và video được lưu trữ ở website của Thư viện tại: 

http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-1a3f8e-interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982

Bà Ngô Đình Nhu đã chứng minh cho quốc tế thấy lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của dòng họ Ngô Đình.

Phần dịch Việt ngữ do Khối Kỹ Thuật, UBTTTADCSVN, thực hiện. 

Cũng xin nhắc lại từ sau biến cố 1 tháng 11 năm 1963, Bà Ngô Đình Nhu cùng các con đã đi sống lưu vong ở Âu Châu. Có lúc thì ở Ý, và sau cùng Bà định cư tại Pháp cho đến lúc qua đời. Bà sống khép kín và ít giao thiệp bên ngoài hay tiếp xúc với báo chí, truyền thông. Cuộc phỏng vấn này là lần hiếm hoi duy nhất, Bà giành cho các thông tấn viên truyền hình Mỹ. Bà cũng đã xin lỗi đã lâu (gần 20 năm) không dùng tiếng Mỹ, nên có thể thỉnh thoảng Bà phải liếc xem giấy trong tay Bà. Tuy nhiên, chúng ta cũng rất ngạc nhiên là khả năng ngoại ngữ của Bà, đặc biệt là trả lời trực tiếp trước ống kính, rất tự tin so với nhiều nhà lãnh đạo hiện tại của Việt Nam.

Mời các bạn, các anh/chị theo dõi 1 trong các phần phỏng vấn dưới đây. 

——————————

Để đọc chữ lớn, phóng đại trang này lên 150% hay 175%. 

Làm như sau: Ngón cái đè nút Ctrl xuống, ngón trỏ nhấp vào dấu + để phóng lớn, và dấu – để giảm cở chữ nhỏ

Tóm Tắt
Là người em dâu của Tổng Thống Diệm, Madame Ngô Đình Nhu được xem như một đệ nhất phu nhân của Nam Việt Nam vào những năm cuối 1950s cho đến đầu 1960s.

Đây là phần bà chứng minh cho thấy chính phủ Diệm là một chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Việt Nam và rằng họ đã bị Mỹ phá hoại và rằng Mỹ, do đó, đã trả giá.

Bà bàn luận về vụ Khủng Hoảng Phật Giáo năm 1963 và những kết quả của các Hòa Ước Paris.

Bà nhận định cá tính của ông Ngô Đình Nhu và TT Diệm và danh tiếng của bà là một “Dragon Lady” của Việt Nam.

Cuối cùng, bà mô tả những nổ lực ngoại giao của ông Ngô Đình Nhu đối với Bắc Việt Nam và sự kiêu ngạo của Mỹ trong vấn đề can thiệp vào. 

Legitimacy of the Diem government
I. Tính hợp pháp của Chính phủ Diệm

Madame Ngô Đình Nhu [còn được biết là Trần Lệ Xuân]

Madame Ngô Đình Nhu: Ah, c’est je commence? [Tiếng Pháp] À, vậy là tôi bắt đầu? Quý vị, quý vị là nhóm truyền thông phương Tây đầu tiên hỏi tôi, gởi đến tôi câu hỏi đó.

 Chuyện gì đã xảy ra ở VN? Và điều gì đã sai lầm? Quý vị là người đầu tiên. Tôi chấp nhận quý vị ngay vì gần hai thập niên không có ai quan tâm đến chuyện gì đã xảy ra ở VN. Những gì tôi phải nói thì rất quan trọng đối với tôi. Và gần hai mươi năm tôi đã không có cơ hội thực hành Anh ngữ, vì vậy thỉnh thoảng tôi sẽ tham khảo tài liệu đã được soạn sẵn.

Trước hết tôi muốn hỏi quý vị, quý vị không nhận thấy rằng số phận khác thường dành cho nước Mỹ sao? Quý vị không nhận thấy rằng Tổng Thống Carter, thí dụ, là vị TT Mỹ xấu số thứ 5 sao? Và quý vị không nhận thấy điều này cũng có nghĩa rằng các chính trị gia thật thông minh, thật tài giỏi ấy lại cho rằng họ đã có thể nói vào 1975, thí dụ, là hãy bỏ quên Việt Nam lại sau lưng sao?

Họ đã cho rằng họ có thể nói điều đó với nhân dân Mỹ, hãy quên đi VN. Mặc dầu với sức mạnh và tài năng của họ, trên thực tế họ lại chính là những người có số phận ấy. Vậy thì đây là điều khác thường mà VN đã có thể tạo ra, đã có thể lôi cuốn số mệnh vào những ai cho rằng họ có thể khinh miệt mình, khinh miệt đất nước của tôi. Và Mỹ không phải là đầu tiên. Đầu tiên, chẳng hạn, là chính phủ Mendès France của Pháp.

Ông ta có một tầm vóc chính trị như thế mà không ai hiểu tại vì sao sau việc ký kết phân ranh Việt Nam lại điều chỉnh lời kêu gọi của ông ta. Ông ta muốn loại bỏ VN trong quá khứ – Quá khứ đó dành cho ông ta. Vì vậy nên bây giờ tôi phải nghĩ… số phận ấy bắt đầu từ việc phân ranh VN. Tại sao? Bởi vì thực dân Pháp lúc bấy giờ đã có thể trao trả toàn vẹn đất nước VN lại cho chính quyền hợp pháp, nhưng thay vào đó nó đã lợi dụng vào việc thua trận trong khi nó không hề thua trong cuộc chiến.

Pháp lợi dụng vào việc thua trận để phân chia đất nước VN nhằm phối hợp với Cộng sản và đặt nhân dân Việt Nam vào một sự việc đã rồi. Đây là sự mưu phản thứ nhất. Bây giờ tôi giải thích sự mưu phản thứ nhất đối với chính quyền hợp pháp nào? Bây giờ tôi phải giải thích tại sao chính quyền hợp pháp quá liên hệ vào và vì tôi nhìn thấy rất rõ rằng đối với người phương Tây, quý vị biết rõ sự quan trọng của chính quyền hợp pháp có nghĩa là gì.

Nhưng quý vị đối xử, quý vị hành động, xin lỗi khi tôi nói Quý Vị, nghĩa là “quý vị” theo cách nói chung. Thực ra, phương Tây đối xử như thể chúng tôi, thế giới thứ ba, không hiểu chút nào về chính quyền hợp pháp. Đấy là cho chúng tôi, cho chúng tôi. Điều đó có nghĩa là không có cái đầu nào tốt. Trên thực tế, ta phải có một cái đầu lành mạnh nếu ta muốn Chúa Thánh Thần thể hiện bản thân thông qua nó. Để có cái đầu lành mạnh – Có nghĩa là gì? Nghĩa là chính quyền đó phải hợp pháp.

Hợp pháp có nghĩa là được bầu cử một cách chính đáng. Nghĩa là chính quyền đó phải chấp nhận cuộc đương đầu hòa bình với chính quyền tiền nhiệm và với tất cả những ai chấp nhận để nhân dân bầu chọn mà không dùng đến phương sách bạo động. Ở VN, chính quyền duy nhất đáp ứng những điều kiện này là chính phủ của TT Ngô Đình Diệm bởi vì ông là người duy nhất chấp nhận có cuộc đương đầu hòa bình với Hoàng Đế Bảo Đại, người tiền nhiệm của ông.

Và sau khi ông bị giết, không ai dám chấp nhận đương đầu hòa bình với người mà người ấy nên được bầu chọn vào vị trí của ông trong trường hợp ông biến mất, chiếu theo Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa được thành lập bởi ông. Vì vậy khi nói Hồ Chí Minh giành được sự thoái vị của Bảo Đại, chẳng hạn, thì nó có nghĩa là ông ta đã giành được toàn bộ sự sai lạc, bởi lẽ Bảo Đại đã trở lại 4 năm sau đó để không thừa nhận ông ta.

Vì vậy chính quyền hợp pháp duy nhất của VN là chính quyền được đảm đương bởi TT Ngô Đình Diệm và nói một cách chính xác là đã bị chặt đầu bởi Mỹ. Vậy thì giờ đây quý vị, tôi nghĩ quý vị bắt đầu hiểu tại sao có một số phận như thế đặt trên đầu của nước Mỹ, sau khi những gì đã được làm ở VN… Bây giờ tôi cần giải thích tại sao có sự chặt đầu đó. Tôi xin lỗi, để lưu tài liệu…

Ký giả:
Vous pouvez dire la morte, la morte… [Tiếng Pháp] Bà có thể nói cái chết, cái chết… 

Bà Ngô Đình Nhu:
Không, ý tôi nói Việt Nam bị chặt đầu. 

Ký giả:
À, vâng. Vậy thì có lẽ có thể nói một cách rõ hơn là tại sao có cuộc đảo chánh, hoặc tại sao lãnh đạo chính phủ đã bị… 

Madame Ngô Đình Nhu:
À đúng. Không, nhưng ý tôi muốn nói như thế này — bởi tôi cho rằng một chính quyền hợp pháp của VN là cái đầu, và nếu quý vị phản bội, nếu quý vị … có thể nói như thế nào, làm cho nó biến mất? Điều đó chính xác như là quý vị chặt đầu VN. 

Ký giả:
Toàn bộ đất nước. 

Bà Ngô Đình Nhu:
Đúng, VN là một cơ thể con người, có thể nói như vậy. Đó là một chính quyền hợp pháp. Đó là cái đầu của nó. Và khi quý vị phản bội nó, quý vị tấn công nó. Đó là khi quý vị chặt đầu nó. Quý vị thấy không. 

Struggles with statecraft in South Vietnam 
II. Sự Cố Gắng Trong Việc Điều Hành Quốc Gia tại Nam Việt Nam 

Madame Ngô Đình Nhu:
Bây giờ hãy giải thích tại sao như vậy và, trên thực tế, nó chỉ diễn ra sau vấn đề Vịnh Con Heo, Bức Tường Bá Linh, và Hỏa Tiễn của Cuba. Sau ba vấn đề, mà chúng ta có thể nói, sai lầm thì Chính phủ Mỹ tin rằng phải lấy lại phần nào uy tín ở nước tôi.

Đưa vấn đề hỏa tiễn Cuba ra thì có thể khiến cho người ta sửng sốt bởi vì nó luôn đại diện cho uy lực. Nhưng thực sự tôi thì không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ rằng ngay cả CP Mỹ cũng đã hiểu nó không là uy lực gì cả. Tôi tin rằng CP Mỹ đã bị Sô Viết đánh lừa. Sô Viết đã không hề có khả năng bảo vệ Cuba nhưng giờ đây lại thành công trong việc đạt được công ước không tấn công đảo quốc này mà đổi lại là cắt giảm vài hỏa tiễn.

Bà Ngô Đình Nhu: 
Và vì vậy tôi xem việc CP Mỹ vào lúc đó đã bị Sô Viết lừa gạt vì Sô Viết hoàn toàn không có khả năng bảo vệ Cuba mà lại đạt thỏa thuận chỉ bằng cách cắt giảm vài hỏa tiễn… Không ai biết chúng có được làm bằng thiếc hay không vì chỉ có họ sử dụng chúng. Có thể nói đó là một cái giá rẻ mạc cho một công ước không tấn công. Nên tôi nghĩ do tất cả những thất bại, những sai lầm, mà CP Mỹ lúc đó đã không thể kháng cự và dễ mắc lừa…

Nó đã quá dễ mắc lừa. Nó không còn sức kháng cự để dùng lá bài thắng cuộc duy nhất là VN. Để nói VN như là sự thắng cuộc — như là lá bài thắng cuộc, chắc chắn người ta sẽ cảm thấy ngạc nhiên rằng bởi lẽ: ‘Đối với chúng tôi, Việt Nam luôn đại diện điều gì đó thua cuộc. Nó đang ở trong tình trạng hổn độn mà!’, vv…vv… Điều này không đúng! Bằng chứng VN là lá bài thắng cuộc là vì, trên thực tế, Mỹ đã nhảy vào đó, muốn có mặt ở đó, và phải giết người để xen vào. Vì không thì còn ai có thể, cứ cho rằng duy vật như người Mỹ, mà làm tất cả những chuyện như vậy để nhảy vào một nơi thua cuộc.

Vậy thì bằng chứng rất rõ là ở đó. Còn bằng chứng đối với CP Mỹ thì, thực ra, là vì chúng tôi đã bình định toàn bộ miền Nam qua Chương Trình Ấp Chiến Lược và mặc dầu, nhận thấy bị thua trong chiến tranh du kích và chiến tranh lật đổ, người Cộng Sản không dám leo thang và từ đó không dám leo thang. Người Mỹ đã nhìn thấy rất rõ nhưng lại không dám nhìn nhận, chỉ vì sợ hãi. 

Nên họ đã cân nhắc tất cả các yếu tố cho một sự thắng cuộc chắc chắn ở VN cần được tiến hành. Chỉ có cách duy nhất là gia đình Ngô Đình, tức là TT Ngô Đình Diệm và chồng tôi — được thay thế bằng những ai chịu chấp nhận sự can thiệp của Mỹ. Vì chúng tôi không muốn sự can thiệp đó, nên TT và chồng tôi đã phải bị giết, chỉ có vậy.

Và để thực hiện sự mưu phản đó, giới truyền thông phương Tây theo chân thế giới Mỹ đồn thổi chúng tôi là những kẻ độc tài. Đối với chuyện này thì tôi cần phải đọc, bởi thực sự nó rất là quan trọng đối với tôi. Chúng tôi đã bị đưa ra, thậm chí bây giờ đây, là kẻ độc tài, những kẻ độc tài, nhưng chúng tôi không bao giờ vi phạm hiến pháp chúng tôi, vốn còn dân chủ hơn hiến pháp Mỹ và dân chủ hơn hiến pháp Pháp và Anh. 

Về mặt nào? Cơ quan lập pháp của chúng tôi, là một thí dụ, được trao cho quyền hạn bởi Tu chánh án hiến pháp 1962, để công khai chất vấn cơ quan hành pháp bất cứ khi nào trong phiên họp đại hội. Điều này thì tương đối với cơ quan hành pháp Mỹ. Cạnh đó, cơ quan hành pháp chúng tôi không có quyền hạn giống như ở Pháp và Anh để quyết định trước khi thông qua cơ quan lập pháp. 

Không bao giờ. Chúng phải cùng tồn tại cho đến khi mãn nhiệm kỳ của mình. Người dân không thể được triệu tập bởi vì cả hai không thể hòa hợp. Chúng tôi thấy điều đó quá vô ích, quá vô ích. Và, đối với những vấn đề quan trọng, thì có những cuộc trưng cầu dân ý. Vì vậy bằng chứng là ở đó. Tất nhiên, tu chánh án chỉ được thành lập vào năm 1962, nhưng những ai từng nói? Những ai từng thông báo với thế giới để nói rằng hiến pháp chúng ta như thế này thì nghĩa là có dân chủ hơn. 

Bà Ngô Đình Nhu: 
Tất nhiên, chúng tôi đã không có nhiều thời gian để áp dụng tu chánh án của chúng tôi nhưng ít nhất nó đã có. Vì vậy, hoàn toàn không trung thực khi đưa chúng tôi ra như những kẻ độc tài trong khi chúng tôi đã không bao giờ vi phạm hiến pháp của chúng tôi. Không có chứng cớ của bất kỳ sự sai trái từ chúng tôi đối với hiến pháp của chúng tôi. Nhưng mà để tạo nên lòng tin tối thiểu đối với giới truyền thông tại thời điểm đó, giới truyền thông phương Tây tại thời điểm đó đã gọi chúng tôi là những kẻ độc tài. Họ phát minh ra chuyện của Phật giáo, để đưa chúng tôi ra ít nhất không những là những kẻ độc tài mà còn bị phản đối bởi một phần lớn nhân dân của chúng tôi. 

Chuyện của Phật giáo đó. Quý vị biết tại sao họ đã sử dụng nhóm đó không? Đó là bởi vì làm như vậy: Tôi chắc chắc rằng niềm tin vào Phật giáo chân chính: không hành động, không phản ứng. Vì vậy một tín đồ Phật giáo chân chính không bao giờ phản ứng. Họ sẽ không bao giờ đi ra ngoài và công khai tố cáo bất cứ ai.

Vì vậy bằng cách sử dụng nghi thức Phật giáo thì họ chắc chắn không thể bị chối bỏ bởi tín đồ Phật giáo thật sự. Tuy nhiên, họ biết rằng đối với phương Tây, đó là sự cuồng tín tôn giáo. Nói chung là coi như là một cái gì đó điển hình cho những người chưa trưởng thành, các nước kém phát triển tinh thần, nên nó không cần phải giải thích để tự biện minh. 

Nên, vì hai lý do này mà họ đã chọn tín đồ Phật giáo để – bạn gọi nó như thế nào? – Nghi thức? tôi không biết, dùng chiêu bài nghi thức cúng dường sinh mạng của họ để tạo lòng tin khi cáo buộc chúng tôi là những người độc tài không được lòng dân. Nhưng điều này cũng đã đủ để chúng tôi bắt một vài kẻ khuấy động và xem qui est-ce [Tiếng Pháp] họ là ai, yêu cầu Liên Hiệp Quốc gởi nhóm điều tra sang, và chích quả bóng Phật giáo thành ra xẹp.

Mời các bạn tham khảo bài Chế độ của TT Ngô Đình Diệm là gia đình trị, đàn áp phật giáo?) bài này nằm cuối cùng trong THƯ VIỆN CÁC BÀI ĐƯỢC ĐỌC NHIỀU NHẤT

Vì chuyện đó, Chính phủ Mỹ cho rằng họ bị mất mặt và quyết định kết thúc với chính quyền hợp pháp này — Việt Nam với cái gọi là cuộc nổi dậy, trong đó TT Ngô Đình Diệm và chồng tôi đều bị ám sát.

Bây giờ tôi nói sang sự mưu phản thứ hai.

Sự mưu phản thứ hai đến vào tháng Giêng, 27.1.1973 tại Paris, 12 quốc gia trong đó có các quốc gia quyền lực nhất thế giới — Sô Viết, Trung Quốc, và tất nhiên Mỹ là đầu tiên, Sô Viết, Trung Quốc, Pháp, Anh, vv…, 12 quốc gia tập hợp rất long trọng tại Paris để ký cho sự bảo đảmquyền của nhân dân Việt Nam lựa chọn chính quyền hợp pháp dưới sự kiểm soát của quốc tế.

Mặc dầu vậy, hiệp ước đó, hiệp ước quốc tế đó đã không bao giờ được tôn trọng. Tại sao? Tất cả những người đã ký vào cư xử như thể Tướng Dương Văn Minh, người đã đầu hàng CS năm 1975, đại diện cho Việt Nam. Vì ông ta đại diện cho Việt Nam, ông ta đầu hàng. Vụ việc được đóng lại. 

Nhưng thật là hoàn toàn đạo đức giả bởi lẽ Tướng Minh chỉ đại diện cho chính mình và các tòng phạm với Mỹ trong việc chặt đầu VN. 

Diem’s regime in relation to the American Mission in Vietnam
III. Chế Độ Diệm trong quan hệ với Sứ Mạng của Mỹ tại Việt Nam 

Madame Ngô Đình Nhu
Kể từ lúc hiệp ước quốc tế Paris không có mục đích gì khác hơn là được sử dụng để bảo đảm cho Việt Nam – miền bắc cũng như miền nam – quyền có được chính quyền hợp pháp dưới các khoản bảo trợ của quốc tế, thì hiệp ước Paris không thể phục vụ như là một bằng chứng ngoại phạm cho một sự mưu phản khác. Sự mưu phản đó là đặt Tướng Minh làm đại diện của chúng tôi trong khi ông ta không phải. Và sự mưu phản gấp đôi này được che đậy bằng một cuộc trình diễn phức tạp đầy tội lỗi.

Cuộc trình diễn này cho phép Mỹ không bị chất vấn và đồng thời ngăn việc người CS bị chất vấn. Ngăn người CS không bị chất vấn mà, thực ra, tuân theo việc tạo ra cuộc trình diễn phức tạp đầy tội lỗi này.

Mỹ giả vờ bị bắt phải giữ lời hứa trước những người không biết sự thật trong khi, trên thực tế thì quá phức tạp, lại không hề được giải thích thì chỉ giúp để che đậy tội lỗi gấp đôi của nó cho đến tận bây giờ — tức là chống lại sự xác nhận Việt Nam.

Hậu quả là sự cuồng tín tôn giáo năm 1965 khi chuyện Phật giáo vượt quá tầm tay Mỹ, thì một trong những chàng trai vàng của Mỹ đã dùng máy bay Mỹ, bom và tất cả những thứ đó nghiền nát các ngôi chùa. Sau đó, tất nhiên, Mỹ đã bị thuyết phục rằng sự cuồng tín của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể được giải quyết theo cách đó.

Hậu quả thứ hai là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đã bị lạm dụng như một trung tâm dùng cho chiến tranh lật đổ và tuyên bố chiến tranh chống lại Việt Nam để làm mất ổn định đất nước này, trong đó có vụ sát hại vị nguyên thủ hợp pháp. Tôi không biết những gì đã được thực hiện ở Iran, nhưng cho rằng vai trò của các nhà ngoại giao không phải là để kiểm soát và tuyên bố chiến tranh lật đổ bởi sẽ quá bất công cho họ có cuộc sống của họ gặp nguy hiểm vì làm chuyện như vậy.

Đó là lý do tại sao. Tôi nghĩ rằng những gì tôi nghe hiện nay là… không bao giờ lập lại nữa. Không bao giờ lập lại chuyện gì? Tức là từ nay các đại sứ quán không thể bị chuyển đổi như ở Việt Nam. Đừng nghĩ rằng có thể làm thay đổi bằng cách trả đũa, nhanh chóng và ác liệt, bởi vì trong trường hợp đó chúng ta có thể đẩy bản thân mình đến nỗi lo sợ về chiến tranh toàn cầu, chiến tranh thế giới.

Chưa từng ai có thể làm chuyện đó – sử dụng một đại sứ quán làm trung tâm cho cuộc chiến tranh phá hoại, ngoại trừ Mỹ. Bởi vì quý vị đã hiến dâng đồng đô la của quý vị với Đức Chúa, “In God we trust” [Đức Chúa, chúng con tin tưởng]. Vì vậy, ngay sau khi Mỹ không mạch lạc với chính mình, nó sẽ ngay lập tức nhận hậu quả. Bây giờ, quý vị có thể đặt câu hỏi của quý vị.

Ký giả:
Madame Nhu, bà hiện diện vào khoảng thời gian 1954 đến 1963 trong khi Ngô Đình Diệm làm lãnh đạo của chính phủ. Bà có thể cho chúng tôi biết một tí về ông như thế nào không? Bà có thể mô tả cá tính ông, và cho biết ông có thay đổi gì trong suốt giai đoạn 9 năm đó không?

Bà Ngô Đình Nhu:
Ồ, ông chưa bao giờ thay đổi. Để mô tả cá tính của ông, tôi có thể nói rằng ông là một người đạo đức – như trong Kinh Thánh. Nghĩa là có thể phạm sai lầm, nhưng ông luôn luôn muốn phục thiện ngay lập tức. Đó là lý do tại sao tôi cho rằng thật là một tội ác từ phương Tây khi lên án ông, giết ông mà không cho ông cơ hội để thậm chí trả lời, để nói chuyện bởi lẽ lúc đó quý vị không biết chuyện.

Ông đã hỏi, nhưng có chuyện gì sai vậy? Các ông muốn tôi làm gì vậy? Và quý vị có biết điều gì đã được nói với ông không? (Vị đại sứ đầu tiên, Đại sứ Nolting, đã bị sa thải một cách phi lý bởi vì ông đã không đồng tình với những việc phá hoại của Đại sứ quán Mỹ thời điểm đó. Ông đã bị thay thế bằng một người khác.) Vì vậy câu hỏi của Tổng thống Diệm, chuyện gì vậy? Tôi phải nói gì, tôi phải làm gì?

‘Chỉ cần nói, không có gì. Chỉ giữ im lặng. Không nói bất cứ điều gì.’ Tất cả chuyện này được dựng lên bởi báo chí, bởi các hãng truyền thông. ‘Để cho chúng tôi; chúng tôi sẽ sắp xếp nó.’ Còn phần của ông chỉ việc giữ im lặng và bị giết, bị đâm từ phía sau mà không nói gì!

Ký giả: 
Còn về những ấn tượng đầu tiên của bà về người Mỹ? Khi lần đầu tiên bà ở đó, bà có cảm thấy họ đã biết họ dự định làm gì không?

Ngô Đình Nhu: 
Những ấn tượng đầu tiên của tôi về người Mỹ? Lúc đầu chúng tôi – tôi đã rất, bạn nói như thế nào, bien intentionée [Tiếng Pháp], có nghĩa là tôi đã có những thiên kiến tốt nhất về họ. Tôi đã cho rằng họ là những người chân thành và là người mà người ta có thể hòa đồng rất tốt. Không có vấn đề chi, nhưng…

Ký giả: 
Những người như Đại tá Lansdale người đã đưa ra lời khuyên cho TT Diệm vào thời điểm đó, thí dụ…

Bà Ngô Đình Nhu: 
Đúng, Đại Tá Lansdale. Tôi phải nói rằng tôi không biết ông ta rõ lắm. Tôi không biết ông ta rõ lắm. Tôi đã gặp ông ta vài lần, nhưng tôi nghĩ rằng thực sự đối với Tổng Thống, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì đã gặp người Mỹ và thực sự ông thích họ. Ông cho rằng ông có thể hòa đồng với họ. Đối với chúng tôi, chúng tôi đã không có nhiều cơ hội để gặp họ. Nhưng tôi tin rằng Đại Tá Lansdale – bây giờ ông là một vị tướng – là một người bạn tốt như nhiều người, như Đại Sứ Nolting. Nhưng những người, những người bạn tốt của chúng tôi đều đã bị sa thải.

The character of Madame Nhu and her husband
IV. Cá Tính của Madame Nhu và Chồng của bà

Ký giả: 
Madame Nhu, trong giai đoạn đầu này, bà đã được biết đến như là Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam. Bà có thể xác định vai trò của bà nếu được?

Madame Ngô Đình Nhu: 
Ồ không, chuyện này quá rắc rối, và nếu tôi, à, nó sẽ làm thành nhiều tập để nói về việc tôi đã bị túm cổ như một chú mèo con và quẳng vào đấu trường. Đấu trường, bạn có nói không? Đúng, và đó là…

Ký giả:
Madame Nhu, trong suốt giai đoạn của Chính phủ Diệm, bà đã được biết đến như là Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam. Bà có thể xác định vai trò của bà cho chúng tôi?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Vai trò của tôi. Không, thật là quá khó để mà xác định. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi đã bị túm cổ bởi Chúa và như một chú mèo con, quẳng vào một đấu trường có những con sư tử. Nhưng tôi tin rằng chỉ vì tôi được sinh ra dưới biểu hiện của sư tử, nên tôi phải tin mình có thể hòa đồng với chúng. Mà thực sự, đó là một câu chuyện rất dài để nói. Tôi đã viết ít nhất 3 tập về nó vì vậy tôi xin chọn để dành phần này.

Ký giả: 
Còn về báo chí phương Tây đã phản bội bà như thế nào? Thí dụ, có sự việc gọi bà là Dragon Lady. Xin bà vui lòng bình luận về sự việc đó?

Madame Ngô Đình Nhu: 
Tôi tin rằng khi họ gọi tôi như thế chỉ vì họ thấy rằng tôi có vẻ không sợ hãi, và đó là sự thật. Chồng tôi, ông rất không hài lòng với một bên, anh trai của ông, còn một bên, vợ ông. Ông xem cả hai chúng tôi là những người quá ngây thơ, những người mà hoàn toàn, bạn nói như thế nào? comme ça, inconscient (Tiếng Pháp) như là, vô thức – nghĩa là chúng tôi không có ý thức được một thực tế rằng để nhảy vào trận đấu mà lại không, lại chẳng có cảm giác rằng mình đang chiến đấu với những con thú hung dữ. Và ông nói đi nói lại với anh của mình: Anh, anh chỉ nên làm một thầy tu, và em (nói với tôi), em chỉ nên ở nhà và làm một người vợ nội trợ trầm lặng. 

Madame Ngô Đình Nhu:
Nhưng tôi nói, tất nhiên, nếu tôi được trở về với vai trò của chính mình, tôi sẽ theo lời khuyên của chồng tôi ngay lập tức là chỉ quay về nhà để đan, vá, và nấu nướng. Đó là những điều duy nhất mà tôi thích trong cuộc đời. Tuy nhiên khi tôi ở đất nước của tôi, người ta tìm đến tôi và yêu cầu tôi nên làm chuyện này, nên làm chuyện kia. Rồi tôi nhận thấy rất rõ rằng nếu tôi không làm, thì sẽ không có ai làm những chuyện đó.

Đó là lý do tôi tổ chức các thứ để có thể giao lại ngay vì tôi đã không muốn và không thích cuộc sống mà tôi trãi qua lúc đó chút nào cả. Rồi báo chí cho là, gọi tôi là Dragon Lady do họ nhìn thấy rằng hoàn toàn không có điều gì có thể ngừng tôi lại. Duy nhất một điều họ có thể ngừng tôi lại là phải giải thích cho tôi về điều tôi đã làm sai như thế nào. Nếu họ không giải thích, tôi không quan tâm.

Cho nên, họ nhìn thấy rất rõ rằng tôi không e sợ điều chi hết. Vậy bạn thấy tại sao mà tên gọi đó có rồi chứ? Họ, giới báo chí, đã mời tôi đi. Đầu tiên họ nói, Ông Nhu, Gia đình Nhu, không có ông bà Nhu, tin tốt lành. Họ phải rời khỏi nước tôi, nên họ đã mời tôi đi để giải thích vị trí của tôi ngay tại các bục diễn thuyết của Mỹ. Quý vị thấy đó, với giới báo chí.

Khi tôi rời nước tôi, tôi đến Belgrade một cách khó khăn vào thời điểm đó, rồi tôi được Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết rằng tôi không nên đến Mỹ vì họ sẽ không bảo đảm cho sự an toàn của tôi.

Thì ra họ mời tôi để cho tôi rời khỏi nước tôi. Nhưng ngay sau khi tôi rời nước tôi, thì đừng có đến. Tôi nói tôi đã rời khỏi nước tôi chỉ để đi đến đó và Chính phủ Mỹ sẽ chứng minh cho thế giới thấy họ có khả năng bảo vệ cho một người phụ nữ yếu đuối ngay trên lãnh thổ của họ hay không. Và…

Ký giả: 
Vậy vào thời điểm này – vậy là tháng Mười, 1963…

Bà Ngô Đình Nhu: 
Đúng, chính xác.

Ký giả: 
Bà đã thất vọng với người Mỹ?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Vào lúc đó họ đã mời tôi và sau khi tôi rời nước của tôi thì họ nói với tôi như vậy. Tất nhiên, tôi đã bị lừa gạt, bị lừa gạt.

Ký giả: 
Bị thất vọng.

Bà Ngô Đình Nhu: 
Bị thất vọng, thất vọng. Và vì vậy mà mọi người đã cho tôi là Dragon Lady – có lẽ vì tôi đã thách thức họ.

Ký giả: 
Madame Nhu, còn về chồng của bà. Bà có thể – xác định vai trò của ông như thế nào không?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Ông là tất cả ở Việt Nam. Ông đã tổ chức đất nước khi Tổng Thống đi xa. Và khi Tổng Thống trở lại tất cả mọi thứ ở đó để chào đón. Và nếu không có ông thì Tổng Thống sẽ không… – Tôi không nghĩ rằng sẽ dễ dàng cho TT để cai trị đất nước, điều hành đất nước. Đó là lý do tại sao khi được đề nghị đuổi chồng tôi đi, TT nói đó là một sự đòi hỏi hoàn toàn ngu ngốc.

Vì ông hiểu rất rõ rằng chồng tôi có thể làm việc mà không có ông nhưng ông không thể làm việc mà không có chồng tôi. Còn chồng tôi thì, tôi tin rằng ông đã có tầm nhìn rất xa so với tuổi đời của ông, của dân tộc ông. Một ngày nào đó mọi người sẽ hiểu. Bây giờ tôi không thể giải thích ở đây như thế này.

The Buddhist Crisis
V. i. Cuộc Khủng Hoảng Phật Giáo

Ký giả:
Madame Nhu, bà đã nói một chút về cuộc khủng hoảng Phật Giáo năm 1963, trong thời gian đó đã có một trích dẫn được cho là của bà rằng bà vui lòng khi những nhà sư đem nướng chính họ. Bà có thể bình luận về trích dẫn đó?

Madame Ngô Đình Nhu: 
Ồ, tôi đã phải bình luận những gì tôi nói về các tín đồ PG. Tôi đã có cơ hội để làm điều đó vài lần và điều duy nhất mà tôi có thể nói rằng tất cả mọi người nếu phải đối mặt với những việc như thế, rồi thì họ phải đi đến cùng một giải pháp. Điều đó có nghĩa là: Đối với những người điên rồ vì hào quang, hào quang giả tạo, họ chấp nhận bị đánh thuốc mê và để bị đốt cháy đến chết. Họ có quyền không bao giờ bị ai đặt vấn đề. Vậy phải làm gì để ngăn chặn việc họ chấp nhận bị sát hại bởi các cuộc biểu tình?

Điều duy nhất tôi có thể làm vào lúc đó là chế giễu họ bởi vì ngay khi nó được tô vẻ như một cái gì đó hoàn toàn xứng đáng được khen ngợi, thì tất nhiên, sẽ luôn luôn có người điên rồ vì hào quang giả tạo chấp nhận nó. Tôi phải làm ngược lại.

Ký giả: 
Madame Nhu, ai đứng đằng sau cuộc khủng hoảng PG?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Tôi tin rằng trước hết là CS nhưng nó sẽ không bao giờ có khả năng gây ra đến mức độ đó mà không cần sự giúp đỡ, không cần sự trợ giúp của truyền thông Mỹ, truyền thông phương Tây. Vì vậy, sau khi nó hoàn toàn trở thành chuyện của Mỹ và sau việc sát hại gia đình Ngô Đình thì nó đi quá xa, ngoài tầm kiểm soát, và họ phải đánh bom nó.

The 1963 Coup of the Diem Regime 
V. ii. Cuộc Đảo Chánh Chế Độ Diệm năm 1963

Ký giả: 
Từ khoảng tháng Tám năm 1963 thì đã có những tin đồn về các cuộc đảo chánh và phản công chống đảo chánh. Madame Nhu, bà có thể giải thích tại sao bà cảm thấy tình hình đủ an toàn vào thời điểm đó để rời khỏi đất nước?

Madame Ngô Đình Nhu:
Năm 1963 tôi đã phải rời khỏi đất nước. Như tôi đã nói với quý vị rằng tôi luôn luôn tổ chức tất cả mọi việc để cho mọi người làm mà không cần có tôi. Vì vậy, đối với công việc của riêng tôi, đối với phong trào phụ nữ của tôi, thì tôi có thể rời đất nước. Tất cả mọi việc đã được tổ chức theo cách đó.

Tôi có một sứ mạng là ngăn cản họ. Nếu tôi không thể ngăn cản họ thực hiện tội ác, thì ít ra là sứ mạng của tôi là làm bằng cách mà tội ác đó không thể được hoàn hảo. Vì vậy, tôi đã phải đi nói chuyện trước. Mọi chuyện là như vậy nên nếu chuyện xảy ra sau đó thì bạn biết rằng tất cả được tính toán trước.

Ký giả: 
Theo bà, ai chịu trách nhiệm cho cuộc đảo chánh 1963?

Bà Ngô Đình Nhu:
Thật ra, tôi tin rằng Chính phủ Mỹ vào thời điểm đó, nếu, nếu nó không phạm quá nhiều sai lầm, quá nhiều lỗi – Vịnh Con Heo, Bức Tường Bá Linh, Hỏa Tiễn Cuba – thì nó sẽ không, nó sẽ không bao giờ thực hiện cuộc đảo chánh. Nhưng sau ba sai lầm như những cái tôi vừa trích dẫn, nó phải làm một cái gì đó ở Việt Nam – bạn nói như thế nào? – để sở hữu Việt Nam. Và đối với họ, tất cả các yếu tố để thành công là ở đây. Họ cho rằng họ không thể rời bỏ nó cho chúng tôi nhưng những gì họ đã làm thì chính xác là cướp của người nghèo. Đó là nguyên nhân có số phận đó dành cho họ bây giờ. 

Ký giả:
Ai chịu trách nhiệm cho cái chết của chồng bà và…?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Quý vị đã thực hiện rất nhiều cuộc điều tra, sách và sách và điều đó có nghĩa là Mỹ đã làm chuyện đó và họ không thể tìm ra. Điều đó có nghĩa, theo tôi, rằng họ chỉ thực hiện những cuộc điều tra để dổ dành mọi người bởi vì nếu thực sự họ muốn biết ai là người chịu trách nhiệm thì họ sẽ tìm thấy… Tôi không muốn buộc tội bất cứ ai.

Bà Ngô Đình Nhu: 
Tôi không muốn buộc tội bất cứ ai. Tôi không muốn đi vào chi tiết, nhưng bằng chứng thì ở đó. Chịu trách nhiệm là Chính phủ Kennedy và chắc chắn rằng việc sát hại vị nguyên thủ quốc gia và em trai của ông, một việc chặt đầu Việt Nam, không thể được thực hiện nếu đích thân Tổng Thống không bật đèn xanh. Chuyện này nhìn từ bên ngoài là như thế. Rõ ràng, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Tổng Thống Kennedy, nhưng thực tế – Tôi không biết. Sự thật – Tôi không biết. Tôi muốn được biết.

Ngo Dinh Nhu’s diplomacy 
VI. i. Vấn Đề Ngoại Giao của Ngô Đình Nhu 

Ký giả:
Madame Nhu, năm 1963 đã có một số tin đồn rằng chồng của bà là điên rồ, rằng ông điên rồ quyền lực, và rằng ông là một người nghiện heroin. Bây giờ, bà có thể bình luận về điều đó?

Madame Ngô Đình Nhu:
Vâng, họ đã nói rất nhiều, rất nhiều điều chống lại chồng tôi. Họ thậm chí còn nói, họ nói rằng ông là một con quỷ thuốc phiện và đại loại như vậy. Và quý vị thấy họ luôn có thể nói bất cứ điều gì chống lại tôi. Tôi không quan tâm. Nhưng tôi biết chồng tôi và để nghe tất cả những điều chống lại ông, tôi thực sự, tôi không thể chịu đựng được. Tôi không thể chịu đựng vì tôi biết ông.

Ông có một ý thức trách nhiệm rất cao và ông nhìn thấy rất rõ rằng ông đã không được hiểu, ông đã phục vụ dựa trên một niềm tin vào Chúa và vào chính mình, bị xem điên rồ vì ông đã đương đầu với Mỹ. Nhưng đối với một đức tin như vậy, điều đó có nghĩa là gì?

Là năng lực của con người. Nhưng không ai hiểu, nên họ nói rất nhiều điều. Từ nhiều năm trôi qua, cái chết của chồng tôi – tôi đã có thể chấp nhận nó, nhưng làm hạ nhân cách của ông thì tôi không thể chịu đựng nổi. Bây giờ sự báo thù đang đến đó. Sự báo thù đang đến rằng tất cả những người đã tấn công ông, đã nói tất cả những điều đó, khi mà sự thật về ông được tìm thấy và sự điên rồ của ông thực ra là cái gì? thì tất cả những người đó sẽ phải xấu hổ. Sẽ phải xấu hổ. Họ sẽ muốn nuốt lại tất cả những gì họ đã nói bởi nó sẽ chứng tỏ họ ngốc như thế nào khi đã không hiểu con người này… Giờ đó đang đến.

Ký giả: 
Um, cũng có tin đồn rằng bởi vì chồng của bà cảm thấy bị phản bội bởi người Mỹ nên ông đã thực hiện những cuộc thương lượng với CS Bắc Việt. Bà cũng có thể bình luận về điều này?

Bà Ngô Đình Nhu:
Những cuộc thương lượng với CS? Thực ra, như tôi đã giải thích, chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Nếu chúng tôi không thắng cuộc chiến, thì không bao giờ Chính phủ Mỹ nhảy vào Việt Nam. Chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Những người CS đã không dám leo thang. Họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất, họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: hoặc leo thang – họ không dám – hoặc đàm phán. Vì vậy, chính họ là người gửi người đến chúng tôi bởi vì chồng tôi đã tìm thấy một giải pháp chống lại cuộc chiến tranh phá hoại. Giải pháp đó cho phép người dân của ông sống trong chiến tranh, phòng thủ từ xa mặc dù có chiến tranh.

Và do đó những người Cộng sản không thể làm bất cứ điều gì. Vì vậy, thay vì leo thang chiến tranh, họ đã không làm, mà họ gửi người của họ đến nói chuyện với chồng tôi và chuyện này đã được xoay, xoay trở ngược chống lại chồng tôi như thể ông đã thực hiện những bước đầu tiên đó. Không, không đúng một chút nào. Đây là một sự dối trá. Không đúng một chút nào. Chính là họ là những người CS đã thực hiện những bước đầu tiên đó.

Ký giả: 
Ông đã nói gì với họ? 

Bà Ngô Đình Nhu:
Tại thời điểm đó, chúng tôi chỉ mới bắt đầu nói chuyện với họ, để biết, các ông đề nghị gì? Và họ đến, để cho họ khỏi bị mất mặt vì chúng tôi làm hết, chúng tôi đã làm mọi thứ lúc đó để tạo tình huống dễ dàng cho họ. Vì vậy, họ đến, và họ chỉ hỏi điều kiện cho Open Arms Program của các vị là gì? Có nghĩa được dịch từ chữ Chương Trình Chiêu Hồi, mà thực ra, Chiêu Hồi Minh nói là người hồi chánh, là sự trở về của người anh em phiêu bạt. Vì vậy, chúng tôi đã nói với họ chúng tôi sẽ kill the, bạn nói như thế nào, le veau gras [Tiếng Pháp]… anh em phiêu bạt, đứa con phiêu bạt.

[*Chú thích của người dịch: le veau gras có nghĩa là fat calf (bê béo) trong tiếng Anh. Madame Nhu đang cố gắng giải thích Chương Trình Chiêu Hồi bằng thành ngữ tiếng Anh to kill the fatted calf for tức có nghĩa bóng là đón nhận đứa con hoang đàng trở về, nhưng có nghĩa đen là làm thịt con bê béo.]

Họ làm thịt the veal [thịt bê], quý vị gọi the fat [con bê béo] như thế nào, nhưng chúng tôi nói với họ we shall kill the fat veal [chúng tôi làm thịt con bê béo]. Tôi nghĩ rằng Mỹ nghe được câu trả lời đó và họ cho rằng họ sẽ là con bê béo. Có lẽ vậy, bằng không tôi sẽ không thể giải thích được lý do tại sao họ đã làm những gì… những gì họ đã làm, tại sao họ đã làm những gì họ đã làm. 

Madame Nhu on the U.S. as arrogant force
VI. ii. Madame Nhu Nhận Định Chính Phủ Mỹ như một Quyền Lực Kiêu Ngạo

Ký giả:
Bà nghĩ điều gì đã đi sai? Tại sao, tại sao, tại sao đã xảy ra một kết thúc bất hạnh vào năm 1963?

Madame Ngô Đình Nhu:
Tất cả là, quý vị nói như thế nào, tính kiêu ngạo, xuất phát từ tính kiêu ngạo. Chính phủ Mỹ đã bị thuyết phục rằng nó sở hữu chân lý và đầy khinh miệt đối với… thật quá duy vật để hiểu. Tôi thậm chí không thể buộc tội họ hay là cay đắng với họ bởi vì tôi phải nói rằng ngay cả người dân của chúng tôi cũng đã không hiểu bất cứ điều gì.

Rất nhiều người đã không hiểu bất cứ điều gì. Họ duy vật, họ thừa nhận rằng chồng tôi là hoàn toàn điên rồ vì ông coi thường tất cả những sức mạnh vật chất và bám víu vào giải pháp của mình. Nhưng đó chỉ là một sự hiểu lầm bởi tính kiêu ngạo của một bên và một phần nào sự thiếu hiểu biết của bên còn lại. Bởi vì đối với những người Mỹ, tôi tin rằng đó là sự kiêu ngạo. Nhưng đối với người dân của chúng tôi, tôi tin rằng nó chỉ là một sự thiếu hiểu biết – chưa trưởng thành. 

Ký giả: 
Um, bà có điều gì muốn nói về việc này? 

Bà Ngô Đình Nhu:
Có, lời cuối cùng của tôi, thông điệp thực sự tôi muốn chuyển đến cho người dân Mỹ chỉ là thế này: Đừng bắt người của quý vị thực hiện những màn trình diễn đu bay mà không cho họ một mạng lưới. Đó là để nói, đừng cố gắng lấy lại uy tín đã mất từ chuyện Việt Nam… bằng việc xây dựng một quyền lực đáng sợ nhằm thuyết phục trong khi bỏ qua những điều luật và lời giáo huấn của Chúa Kitô. Vì vậy, Mỹ phải thực sự chấp nhận sự thật về Việt Nam trước và đền bù. 

(Hết phần 6 & HẾT)

Nguồn:  https://www.facebook.com/anquangtran/posts/10152781409002195

————–

Qua trả lời phỏng vấn, bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ có cá tính mạnh mẻ và có đẳng cấp. Cám ơn Bà. RIP, Madame Ngo Dinh Nhu. (1924-2011)

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Phỏng Vấn, Tài Liệu | Leave a Comment »

Xin thôi đi các vị trí thức khả kính của tôi!

Posted by hoangtran204 trên 02/02/2012

Lời tựa: Blogger Tô Hải bắt đầu viết blog lúc 81 tuổi, 2007.   Ông là nhạc sĩ, mà cũng là một dịch giả truyện tiếng Pháp qua tiếng Việt nên cách dùng chữ của ông trong các bài viết rất phong phú.  Ông viết rất đều đặn, cứ mỗi tuần, blogger Tô Hải cho ra lò một bài. Thật là điều đáng thán phục!

Một trong các chi tiết lịch sử đáng chú ý nhất  trong blog của ông là về  cái gọi là Cách mạng mùa Thu tháng 8, 1945. Theo blogger Tô Hải, đại khái ông nói là: làm gì có Cách mạng mùa Thu, chỉ có phịa ra thì có.  Ông nói thế vì chính ông là nhân chứng ở Hà Nội vào năm tháng ấy và ông post một tấm hình có lá cờ quốc gia của chính phủ Trần Trọng Kim mà blogger Tô Hải đưa lên là bằng chứng cho lời nói ấy (coi ở đây).  Sau đó, blog của ông bị xóa 4 hay 5 lần  có lẻ chính là vì bài viết có hình ảnh đó.  Trên trang đầu, ông viết:

Nhật ký mở đầu năm Nhâm…Rồng!

    Mồng 6 Tết

 

 XIN THÔI ĐI CÁC VỊ TRÍ THỨC KHẢ KÍNH CỦA TÔI !

 

      Thật là không vui tí nào khi gõ bài đầu năm lại phải đề cập đến cái chuyện “xưa như trái đất” này. Nhất là phải nói chuyện với các vị mà cái “trí” và cái “nhận thức” của các vị hơn tôi cả hàng tạ, hàng tấn hiểu biết và bằng cấp…


       Còn tôi, một lão già cả đời chỉ biết có “viết lách những gì người ta bảo phải viết” , viết để tồn tại, nên chẳng dám nhận có một “thành quả lao động trí óc”  nào phục vụ cho đời sống của con người Việt Nam ta “trăm năm vẫn…khổ, nghèo, mất tự do như xưa cũ”.

    Tôi chỉ mới “mở mắt ra chào đời” lần 2  từ ngày quyết tâm rời bỏ mọi vinh quang phù hoa bằng dăm ba chữ nói thẳng nói thật, cái mình “nghĩ” và “cảm”  về cả hơn  nửa thế kỷ cam tâm làm một kẻ hèn “nói dối lem lẻm, nói dối không biết ngượng”(Ng.Khải) của mình để tồn tại ,và sẵn sàng chịu “đòn thù” với những bài gọi là “góp ý” hay “phản biện”những gì đang diễn ra không có lợi cho dân mình rồi chẳng biết gửi cho ai,đành tung lên mạng…Bốn năm qua với hơn  hai trăm entries tung lên mạng , tôi chưa bao giờ nghĩ mình là “trí thức phản biện” mà chỉ là một người đã từng sống và trải nghiệm ,  dưới bốn chế độ mà góp ý với đời : Hãy sống tử tế, đừng lừa dối, lợi dụng nhau…Càng không nên hãm hại, giết hại nhau kể cả giết nhau bằng chữ nghĩa thánh hiền !…


        Vậy mà, những ngày nghỉ Tết con Rồng  này…Báo chí lề phải nghỉ để nhân viên đi tiêu cho hết tiền thưởng hàng chục, hàng trăm triệu đồng tiền thưởng công phục vụ, thì…báo chí lề trái…lại loạn cào cào lên cái chuyện trí thức, trí ngu, trí ngủ…Ông này, bà nọ …đội cho nhau những cái nón khá nặng kí.. Nào là “kẻ phản biện trung thành”,”kẻ lạc quan vô tận”,”người “giải phẫu thẩm mỹ cho chế độ” .

Riêng về bài phỏng vấn của Tuổi Trẻ với giáo sư trẻ NBC thì..ôi thôi ! Đủ thứ phê đủ thứ …”tếu táo luận”, “Gấu luận” cho đến những bài lý luận chính thống, cổ điển giảng giải về người trí thức chân chính từ thời ông Marx ,đến ông        Sartre,Chomsky.Einstein…

Chỉ còn thiếu cái cuộc bút chiến kéo dài về “Nghệ Thuật vì nghệ thuật” và “Nghệ thuật vì nhân sinh” những năm bốn mươi của thế kỷ trước  mà có lẽ các nhà trí thức trẻ hôm nay ít nghe, ít đọc,  ít thấy…

Hoặc những định nghĩa mới nhất về trí thức như “Trí thức là một người luôn dính vào những chuyện chẳng dính líu gì đến mình” hoặc “Trí thức là người luôn mang sẵn trong mình chất men bất phục tùng và phản kháng” thì ….hình như ít ai động chạm vì…cái “tọa độ chính trị” của nhiều người “vào cuộc” xem ra chưa thật được xác định…Và mình càng lạ hơn là khi thấy hai nhà trí thức cùng sáng lập và quản lý web Beauxite lại phát biểu…khác nhau khi nhận định về cái sự định nghĩa về trí thức và phản biện của giáo sư NBC ,”viện trưởng Viện Toán, ba tháng mới một lần chớp nhoáng về Việt Nam “…

 

 

      Mình chẳng có thời giờ và khả năng để đi vào cái chủ đề “trí thức ông là ai?” đã, đang và còn tranh cãi mãi sau này nhưng chỉ xin góp ý mấy điều trải nghiệm như sau:

1-   Hãy tìm đọc lại tài liệu :Tại sao đối với Einstein việc hai quả bom nguyên tử mang tên “Little boy” và “Fatman” trong kế hoạch “Trinity” quẳng xuông Hiroshima và Nagasaki ,các nhà khoa học đời sau đánh giá ông là “có trách nhiệm nhưng không phải là thủ phạm” ? (responsable mais non coupable) do bức thư ông gửi tổng thống Roosevelt tán thành kế hoạch Manhattan?).

2-   Tại sao khi J.P.Sartre giã từ chủ nghĩa cộng sản lại dám công khai lên tiếng : “Tôi phản bội tức là tôi đi tìm một sự trung thành mới” hoặc “Ở tuổi hai mươi, không theo chủ nghĩa cộng sản là không có trái tim, ở tuổi  bốn mươi  mà vẫn đi theo chủ nghĩa cộng sản là không có cái đầu”, và ông đi tìm những chân lý mới, từ chối cả giải thưởng Nobel về văn học 1964 (với cả triệu đô-la tiền thưởng) vì ông phủ nhận luôn những “giá trị cần xét lại” của bản thân ông? Và gần đây nữa ,ngay ở trong nước, cái gì đã làm Nguyên Ngọc, Sơn Tùng từ chối thẳng thừng giải thưởng Hồ Chí Minh với cả hơn trăm triệu đồng kèm theo?

3-   Tại sao khi còn ở “tọa độ chính trị” Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, Góocbachev,lại giải thích: “Perestroika và Glasnost là để “Có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”(!) rồi sau đó lại tuyên bố những ý để đời là “Cả cuộc đời tôi đi theo chủ nghĩa cộng sản chỉ thấy toàn là nói dối, nói dối, và nói dối”(nghĩa là cả những gì vừa nói về Perestroika và Glasnost trên “cương vị cũ” cũng là nói  dối nốt!).

4-   Riêng ở Việt Nam, xin hỏi tại sao cho tới nay những nhà văn , nhà thơ dám đi thẳng vào hiện thực đau khổ của người dân bị áp bức , nô lệ…những bất công xã hội ngay trong thời kỳ Pháp thuộc, tới nay những “Bước đường cùng”, những “Tắt Đèn” những “Giông Tố”, “Số đỏ”… của họ vẫn sống mãi với hậu thế ,với lịch sử văn học nước nhà ?

Còn trái lại hàng ngàn, hàng vạn “tác phẩm” dù trao cho những giải thưởng cao nhất nước cũng chỉ biến thành những “bia mộ sang trọng cắm lên một sự nghiệp văn chương đã đến hồi kết thúc”?Vậy thì trong giới văn nhân Việt có ai đáng gọi là trí thức  không nhỉ? Giới văn, thơ, báo chí, lý luận thì có đấy .Riêng cáí giới Nhạc, Họa, Sân khấu, Điện ảnh thì mấy ai có được cái trí thức của Việt Khang (nhưng tiếc rằng anh chưa phải là Hội Viên Hội Nhạc sỹ VN hay địa phương nào!).


5-   Một số trí thức hiếm hoi cũ, có bằng cấp đàng hoàng  ,từ nước ngoài  định góp phần dựng xây đất nước . Nhưng do ăn phải bả bọn tư bản thù địch đã dám ý kiến ý cỏ, phản biện, phản biếc liền bị tống cổ ra khỏi biên chế ,bị đưa đi chăn bò ở Ba vì, phải ngồi sửa xe đạp, bán mọi công trình khoa học như giấy lộn kiếm tiền đong gạo,..Hạ nhục họ đến mức đó mà  tại sao họ vẫn cắn răng, chịu đựng…mãi đến chết mới để lại vài lời trăn trối qua ít dòng vẫn đầy chất văn hóa mà cũng phải viết ở nước ngoài,bằng tiếng nước ngoài!

             …………

          6- Có thể kể ra hàng trăm mẩu chuyện cụ thể nữa để thấy               được ; 

            1-Không kể những loại trí thức dỏm, ngay trí thức thứ thiệt cũng chẳng ai giống ai….Bắt họ phải thế này, phải thế nọ lại rơi vào cái luận điểm quái quỷ “Trí thức nếu không được cải tạo, không vô sản hóa thì không hơn gì cục phân”!

            2-Bởi vì cái nước Việt Nam này nó chẳng giống ai” nên trí thức nước mình nó lại  càng chẳng giống ai cả trên cái hành tinh trái đất này! .Phân biệt thế nào là trí thức “dấn thân” với nhau đã khó huống hồ so sánh họ với bọn trí thức “kệ mẹ sự đời” “việc tao, tao làm”! “Chẳng hơi đâu mà dính vào những chuyện không phải của tao!”

      Chưa kể bọn trí thức ngày xưa  hăng hái “dậy mà đi”, bọn “muốn là chim  xin hãy là bồ câu trắng, bọn muốn làm hoa hãy làm hoa hướng dương,…muốn làm người hãy là người cộng sản”…đến hôm nay, được tí quyền lợi, tí chức vụ cỏn con bỗng véo von , kính cẩn , ghi, ghi, chép,chép những  giáo điều “chỉ đạo” sáng suốt của những tên cha căng chú kiếc nào bỗng dưng ngồi trên đầu trên cổ mình giảng đạo mà đã không thấy nhục, lại còn  luôn mồm “Dạ! những điều anh, chị dạy làm chúng em sáng ra!” Những loại “trí thức”đó , dù có treo trước ngực cả chục tấm bằng tiến sỹ theo mình ,xin mượn lời  bác Mao chế Tùng mà gọi là đúng nhất.”Bọn cục Phân!”.

               3-Riêng cái “số đông im lặng”trong giới trí thức Việt thì cũng chẳng nên lấy câu của Mác “Chỉ có loài súc vật mới không biết đau nỗi đau của đồng loại” ra để kích động lương tâm họ làm gì  nhất là cái giới trí thức được “trồng” cả hơn nửa thế kỷ nay trong hệ thống tư tưởng Mác-Lê ,sống và trưởng thành trong cái cơ chế Mác-Lê thì….dù có thấy được cái gì sai trái mười mươi đi của cái cơ chế mà nhờ nó, họ được thụ hưởng cả danh vọng lẫn quyền lợi , nên sức mấy mà có ai dám “mở miệng”,…Cho nên, có ai đó nói được một câu như “một xã hội không có phản biện là một xã hội đã chết lâm sàng…” thì dù sau đó có nói vài điều chưa hay ho lắm, tưởng cũng nên “cho qua” với cái kết luận mà tớ đã từng kết luận về mấy nhà tiến sỹ Việt Kiều nổi tiếng mà mình đã có dịp tiếp xúc rằng : Họ chỉ giỏi về cái họ được học để trở thành giỏi mà thôi !

Riêng  với mình, họ vẫn là “những chú bé thần đồng cực kỳ ngây thơ và..ngốc nghéch!” đến hết đời !Giận họ và chụp cho họ những cái mũ “con cừu” , hoặc “phản biện trung thành”…rồi giảng giải cho họ về trách nhiệm của người trí thức phải thế nào…v v..là điều quá không cần thiết.Chưa chừng lại rơi vào cái bẫy “chia để trị” ,”gây mâu thuẫn nội bộ” hoặc làm “lạc hướng chú ý” những vấn đề nóng hổi, sát sườn ,thậm chí cháy nhà, chết người đến nơi mà cứ phân với tích mãi về cái mà mình chưa hay không đồng ý ! (Vụ anh Đoàn văn Vươn bị cướp hết thủy sản dưới đầm, vụ biểu tình đòi ruộng đất bị công an đánh chết người ở Bắc Giang, việc đang triển khai Nhà máy diện hạt Nhân ở Ninh Thuận,…chẳng hạn.)

      Tiện đây, mình cũng ghi lại hai trường hợp mình đã  thoát khỏi cái sự huyễn hoặc và đòi hỏi ở những nhà trí thức thứ thiệt :

      a-/ Đầu những năm 70 thế kỷ trước , do được dự một bữa cơm gia đình bên vợ của tiến sỹ sử học Việt kiều nổi tiêng LT Kh, mình đã trao đổi với con người mà mình rất kính trọng này mọi vấn đề có thể trao đổi . Và thật ngạc nhiên ; Ông ta cái gì cũng “Ồ! À”! Thế à?” hoặc “Tôi không để ý”,”Tôi không biết”, “Tôi không có thời giờ”, “Tôi bận quá!”…

Nhưng đến khi hỏi đến câu : “Là người nghiên cứu lịch sử thế giới ,ông nghĩ gì khi người ta đang viết lại “Lịch sử Đảng Cộng Sản Liên Xô sau Đại Hội Đảng lần thứ XX vạch trần tệ sùng bái cá nhân Staline?…” thì mình thật là thất vọng khi được trả lời :”Có thế à? Tôi không để ý đến politique ! cho nên không nghiên cứu gì về cái khối cộng sản cả !?…Thế đấy ! hai  bằng tiến sỹ sử học  mà quan niệm lịch sử  không dính líu gì đến politique thì nghiên cứu cái gì nhỉ?


     b-/Một ngày xuân năm 73, 74 gì đó, mình cũng có dịp nói chuyện (bằng tiếng Tây) với vị Bộ Trưởng Y  Tế Chính Phủ Lâm Thời C.H.M.N.V.N cùng chồng tại nhà một người bạn, cũng Bác sỹ ở B ra.

Có cái mẩu đối thoại  này mà mình nhớ mãi :”Bà đã vào Đảng Cộng Sản ? -mình dùng hẳn chữ communiste  chứ không dài dòng với cái tên “Nhân dân cách mạng Miền Nam” -vì biết bà thừa hiểu vào Đảng là Đảng gì rồi.Bà nhún vai : “Rồi! Cũng như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát…thôi!”

Mình thử một cú nữa :”Vậy bà tin chủ nghĩa cộng sản sẽ toàn thắng trên trái đất này?”

Bà vội cắt ngang “Non! non! Nhưng ở Việt nam này chỉ có cộng sản mới giải phóng được đất nước”…Cho nên Cộng Sản chỉ là “phương tiện”, Giải phóng đất nước mới là ‘Mục tiêu “!Sau khi có Miền Nam, Cộng Sản sẽ phải nhường cho một giai cấp ưu tú (bà dùng chữ “élite”) trong giới kỹ trị (bà dùng chữ “technocrate”) dựng xây đất nước!

      Tới đây thì mình ngồi im mà suy nghĩ về cái “trí” và cái “thức” của biết bao người .Mình chẳng dám nhận là trí thức nhưng lại có cả một quá trình trải nghiệm đắng cay ,đau khổ mới thấy ra được mình đã “đi lạc đường” vì những suy nghĩ sai lầm y hệt bà cách đó cả ba chục năm….Bây giờ lại đến bà. Bà sẽ phải trả giá cũng như mình đã trả giá thôi! …Và quả nhiên,…số phận của bà ra sao thì sau đó cả thế giới đều biết!

  

      Tới đây,mình xin phép kêu gọi tất cả các cây bút lề trái:

       1-/Hãy tôn trọng và bao dung hơn đối với những ai đã từng có lần dám mở miệng phản biện những gì xét thấy là bất công, là vô lý, là  coi thường mạng sống, số phận người dân ,nhất là đối với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, kể cả xuống đường biểu tình (dù chỉ một lần rồi thôi).

      2-/Hãy tin rằng :Trong số “trí ngủ”đang chiếm đa số đó, không thiếu những người chỉ cần một ngọn lửa kích hoạt nhỏ cũng không ngại sắn tay áo làm bốc lên một đám cháy lớn…

      3-/Nếu cần vạch mặt chỉ tên thì hãy đánh thẳng vào bọn “trí trá”  cho đến hôm nay vẫn không ngừng rêu rao :Bọn chúng là đỉnh cao trí tuệ của con  Lạc cháu Hồng .

 Mong các vị trí thức thư thiệt hãy chiếu cố đến cáí tuổi già 86 của tôi mà miễn trách cho cái lão già này chắc đang…”gở chết”!      

             Xin đừng bắt ai cũng phải “xung phong!” trong khi trong tay họ chỉ có cái bút,cái nồi, cái xoong, cái chậu để đuổi con voi dữ đang hung hăng tàn phá vườn nhà!

nguồn: tohai01.multiply.com

http://to-hai.blogspot.com/

Xin thôi đi các vị trí thức khả kính của tôi!Thật là không vui tí nào khi gõ bài đầu năm lại phải đề cập đến cái chuyện “xưa như trái đất” này. Nhất là phải nói chuyện với các vị mà cái “trí” và cái “nhận thức” của các vị hơn tôi cả hàng tạ, hàng tấn hiểu biết và bằng cấp…

Còn tôi, một lão già cả đời chỉ biết có “viết lách những gì người ta bảo phải viết”, viết để tồn tại, nên chẳng dám nhận có một “thành quả lao động trí óc” nào phục vụ cho đời sống của con người Việt Nam ta “trăm năm vẫn…khổ, nghèo, mất tự do như xưa cũ”.

Tôi chỉ mới “mở mắt ra chào đời” lần 2 từ ngày quyết tâm rời bỏ mọi vinh quang phù hoa bằng dăm ba chữ nói thẳng nói thật, cái mình “nghĩ”“cảm” về cả hơn nửa thế kỷ cam tâm làm một kẻ hèn “nói dối lem lẻm, nói dối không biết ngượng” (Nguyễn Khải) của mình để tồn tại, và sẵn sàng chịu “đòn thù” với những bài gọi là “góp ý” hay “phản biện” những gì đang diễn ra không có lợi cho dân mình rồi chẳng biết gửi cho ai, đành tung lên mạng…
Bốn năm qua với hơn hai trăm entries tung lên mạng, tôi chưa bao giờ nghĩ mình là “trí thức phản biện” mà chỉ là một người đã từng sống và trải nghiệm, dưới bốn chế độ mà góp ý với đời: Hãy sống tử tế, đừng lừa dối, lợi dụng nhau…Càng không nên hãm hại, giết hại nhau kể cả giết nhau bằng chữ nghĩa thánh hiền!…

Vậy mà, những ngày nghỉ Tết con Rồng này…Báo chí lề phải nghỉ để nhân viên đi tiêu cho hết tiền thưởng hàng chục, hàng trăm triệu đồng tiền thưởng công phục vụ, thì…báo chí lề trái…lại loạn cào cào lên cái chuyện trí thức, trí ngu, trí ngủ…Ông này, bà nọ …đội cho nhau những cái nón khá nặng kí.. Nào là “kẻ phản biện trung thành”, “kẻ lạc quan vô tận”, người “giải phẫu thẩm mỹ cho chế độ”. Riêng về bài phỏng vấn của Tuổi Trẻ với giáo sư trẻ Ngô Bảo Châu thì..ôi thôi! Đủ thứ phê đủ thứ …“tếu táo luận”, “Gấu luận” cho đến những bài lý luận chính thống, cổ điển giảng giải về người trí thức chân chính từ thời ông Marx, đến ông Sartre, Chomsky, Einstein…

Chỉ còn thiếu cái cuộc bút chiến kéo dài về “Nghệ Thuật vì nghệ thuật”“Nghệ thuật vì nhân sinh” những năm bốn mươi của thế kỷ trước mà có lẽ các nhà trí thức trẻ hôm nay ít nghe, ít đọc, ít thấy…Hoặc những định nghĩa mới nhất về trí thức như “Trí thức là một người luôn dính vào những chuyện chẳng dính líu gì đến mình” hoặc “Trí thức là người luôn mang sẵn trong mình chất men bất phục tùng và phản kháng” thì ….hình như ít ai động chạm vì…cái “tọa độ chính trị” của nhiều người “vào cuộc” xem ra chưa thật được xác định…

Và mình càng lạ hơn là khi thấy hai nhà trí thức cùng sáng lập và quản lý web Bauxite lại phát biểu…khác nhau khi nhận định về cái sự định nghĩa về trí thức và phản biện của giáo sư Ngô Bảo Châu, “viện trưởng Viện Toán, ba tháng mới một lần chớp nhoáng về Việt Nam”

danluan00098.jpgKhi phát biểu về vụ xét sử Cù Huy Hà Vũ, NBC đã viết “Nếu có cố tình bêu xấu chế độ chắc cũng không ai làm hơn mấy ông bà này”, kể ra cũng đủ tự phong là nhà “trí thức phản biện” đấy chứ. Vậy thì chấp gì mấy câu nói “không khéo” của ông g/s toán này cơ chứ!

Mình chẳng có thời giờ và khả năng để đi vào cái chủ đề “trí thức ông là ai?” đã, đang và còn tranh cãi mãi sau này nhưng chỉ xin góp ý mấy điều trải nghiệm như sau:

1. Hãy tìm đọc lại tài liệu: Tại sao đối với Einstein, việc hai quả bom nguyên tử mang tên “Little boy”“Fatman” trong kế hoạch “Trinity” quẳng xuống Hiroshima và Nagasaki, các nhà khoa học đời sau đánh giá ông là “có trách nhiệm nhưng không phải là thủ phạm”? (responsable mais non coupable) do bức thư ông gửi tổng thống Roosevelt tán thành kế hoạch Manhattan?).

2. Tại sao khi J.P.Sartre giã từ chủ nghĩa cộng sản lại dám công khai lên tiếng: “Tôi phản bội tức là tôi đi tìm một sự trung thành mới” hoặc “Ở tuổi hai mươi, không theo chủ nghĩa cộng sản là không có trái tim, ở tuổi bốn mươi mà vẫn đi theo chủ nghĩa cộng sản là không có cái đầu”, và ông đi tìm những chân lý mới, từ chối cả giải thưởng Nobel về văn học 1964 (với cả triệu đô-la tiền thưởng) vì ông phủ nhận luôn những “giá trị cần xét lại” của bản thân ông?

Và gần đây nữa, ngay ở trong nước, cái gì đã làm Nguyên Ngọc, Sơn Tùng từ chối thẳng thừng giải thưởng Hồ Chí Minh với cả hơn trăm triệu đồng kèm theo?

3. Tại sao khi còn ở “tọa độ chính trị” Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, Góocbachev, lại giải thích: “Perestroika và Glasnost là để “Có nhiều chủ nghĩa xã hội hơn”(!) rồi sau đó lại tuyên bố những ý để đời là “Cả cuộc đời tôi đi theo chủ nghĩa cộng sản chỉ thấy toàn là nói dối, nói dối, và nói dối” (nghĩa là cả những gì vừa nói về Perestroika và Glasnost trên “cương vị cũ” cũng là nói dối nốt!).

4. Riêng ở Việt Nam, xin hỏi tại sao cho tới nay những nhà văn, nhà thơ dám đi thẳng vào hiện thực đau khổ của người dân bị áp bức, nô lệ…những bất công xã hội ngay trong thời kỳ Pháp thuộc, tới nay những “Bước đường cùng”, những “Tắt Đèn” những “Giông Tố”, “Số đỏ”… của họ vẫn sống mãi với hậu thế, với lịch sử văn học nước nhà? Còn trái lại hàng ngàn, hàng vạn “tác phẩm” dù trao cho những giải thưởng cao nhất nước cũng chỉ biến thành những “bia mộ sang trọng cắm lên một sự nghiệp văn chương đã đến hồi kết thúc”-(Nguyễn Khải)?

Vậy thì trong giới văn nhân Việt có ai đáng gọi là trí thức không nhỉ? Giới văn, thơ, báo chí, lý luận thì có đấy. Riêng cái giới Nhạc, Họa, Sân khấu, Điện ảnh thì mấy ai có được cái trí thức của Việt Khang (nhưng tiếc rằng anh chưa phải là Hội Viên Hội Nhạc sỹ VN hay địa phương nào!).

5. Một số trí thức hiếm hoi cũ, có bằng cấp đàng hoàng, từ nước ngoài định góp phần dựng xây đất nước. Nhưng do ăn phải bả bọn tư bản thù địch đã dám ý kiến ý cỏ, phản biện, phản biếc liền bị tống cổ ra khỏi biên chế, bị đưa đi chăn bò ở Ba Vì, phải ngồi sửa xe đạp, bán mọi công trình khoa học như giấy lộn kiếm tiền đong gạo,..Hạ nhục họ đến mức đó mà tại sao họ vẫn cắn răng, chịu đựng…mãi đến chết mới để lại vài lời trăn trối qua ít dòng vẫn đầy chất văn hóa mà cũng phải viết ở nước ngoài, viết bằng ngoại ngữ???!!!

***6. Có thể kể ra hàng trăm mẩu chuyện cụ thể nữa để thấy được:

1- Không kể những loại trí thức dỏm, ngay trí thức thứ thiệt cũng chẳng ai giống ai….Bắt họ phải thế này, phải thế nọ lại rơi vào cái luận điểm quái quỷ “Trí thức nếu không được cải tạo, không vô sản hóa thì không hơn gì cục phân”!

2- Bởi vì “cái nước Việt Nam này nó chẳng giống ai” nên trí thức nước mình nó lại càng chẳng giống ai cả trên cái hành tinh trái đất này! Phân biệt thế nào là trí thức “dấn thân” với nhau đã khó huống hồ so sánh họ với bọn trí thức “kệ mẹ sự đời”, “việc tao, tao làm, chẳng hơi đâu mà dính vào những chuyện không phải của tao!”

Chưa kể bọn trí thức ngày xưa hăng hái “dậy mà đi”, bọn “muốn là chim xin hãy là bồ câu trắng, bọn muốn làm hoa hãy làm hoa hướng dương,…muốn làm người hãy là người cộng sản”…đến hôm nay, được tí quyền lợi, tí chức vụ cỏn con bỗng véo von, kính cẩn, ghi, ghi, chép, chép những giáo điều “chỉ đạo” sáng suốt của những tên cha căng chú kiếc nào bỗng dưng ngồi trên đầu trên cổ mình giảng đạo mà đã không thấy nhục, lại còn luôn mồm “Dạ! những điều anh, chị dạy làm chúng em sáng ra!” Những loại “trí thức” đó, dù có treo trước ngực cả chục tấm bằng tiến sỹ đi nữa, thì theo mình, xin mượn lời bác Mao chế Tùng mà gọi là đúng nhất: “Bọn cục Phân!”.

3- Riêng cái “số đông im lặng” trong giới trí thức Việt thì cũng chẳng nên lấy câu của Mác “Chỉ có loài súc vật mới không biết đau nỗi đau của đồng loại” ra để kích động lương tâm họ làm gì nhất là cái giới trí thức được “trồng” cả hơn nửa thế kỷ nay trong hệ thống tư tưởng Mác – Lê, sống và trưởng thành trong cái cơ chế Mác-Lê thì….dù có thấy được cái gì sai trái mười mươi đi của cái cơ chế mà nhờ nó, họ được thụ hưởng cả danh vọng lẫn quyền lợi, nên sức mấy mà có ai dám “mở miệng”,…

Cho nên, có ai đó nói được một câu như “một xã hội không có phản biện là một xã hội đã chết lâm sàng…” thì dù sau đó có nói vài điều chưa hay ho lắm, tưởng cũng nên “cho qua” với cái kết luận mà tớ đã từng kết luận về mấy nhà tiến sỹ Việt Kiều nổi tiếng mà mình đã có dịp tiếp xúc rằng: Họ chỉ giỏi về cái họ được học để trở thành giỏi mà thôi! Riêng với mình, họ vẫn là “những chú bé thần đồng cực kỳ ngây thơ và..ngốc nghếch!” đến hết đời! Giận họ và chụp cho họ những cái mũ “con cừu”, hoặc “phản biện trung thành”…rồi giảng giải cho họ về trách nhiệm của người trí thức phải thế nào…v.v…là điều quá không cần thiết. Chưa chừng lại rơi vào cái bẫy “chia để trị”, “gây mâu thuẫn nội bộ” hoặc làm “lạc hướng chú ý” những vấn đề nóng hổi, sát sườn, thậm chí cháy nhà, chết người đến nơi mà cứ phân với tích mãi về cái mà mình chưa hay không đồng ý! (như Vụ anh Đoàn văn Vươn bị cướp hết thủy sản dưới đầm, vụ biểu tình đòi ruộng đất bị công an đánh chết người ở Bắc Giang, việc đang triển khai Nhà máy điện hạt Nhân ở Ninh Thuận,…chẳng hạn)

Tiện đây, mình cũng ghi lại hai trường hợp mình đã thoát khỏi cái sự huyễn hoặc và đòi hỏi ở những nhà trí thức thứ thiệt:

a-/ Đầu những năm 70 thế kỷ trước, do được dự một bữa cơm gia đình bên vợ của tiến sỹ sử học Việt kiều nổi tiếng LT Kh, mình đã trao đổi với con người mà mình rất kính trọng này mọi vấn đề có thể trao đổi. Và thật ngạc nhiên: Ông ta cái gì cũng “Ồ! À”! “Thế à?” hoặc “Tôi không để ý”, “Tôi không biết”, “Tôi không có thời giờ”, “Tôi bận quá!”…Nhưng đến khi hỏi đến câu: “Là người nghiên cứu lịch sử thế giới, ông nghĩ gì khi người ta đang viết lại “Lịch sử Đảng Cộng Sản Liên Xô sau Đại Hội Đảng lần thứ XX vạch trần tệ sùng bái cá nhân Staline?…” thì mình thật là thất vọng khi được trả lời: “Có thế à? Tôi không để ý đến politique! cho nên không nghiên cứu gì về cái khối cộng sản cả”!?…

Thế đấy! hai bằng tiến sỹ sử học mà quan niệm lịch sử không dính líu gì đến politique thì nghiên cứu cái gì nhỉ?

b-/ Một ngày xuân năm 73, 74 gì đó, mình cũng có dịp nói chuyện (bằng tiếng Tây) với vị Bộ Trưởng Y Tế Chính Phủ Lâm Thời C.H.M.N.V.N cùng chồng tại nhà một người bạn, cũng Bác sỹ ở B ra.

Có cái mẩu đối thoại này mà mình nhớ mãi: “Bà đã vào Đảng Cộng Sản?” – mình dùng hẳn chữ communiste chứ không dài dòng với cái tên “Nhân dân cách mạng Miền Nam” – vì biết bà thừa hiểu vào Đảng là Đảng gì rồi.

Bà nhún vai: “Rồi! Cũng như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát…thôi!”

Mình thử một cú nữa: “Vậy bà tin chủ nghĩa cộng sản sẽ toàn thắng trên trái đất này?”

Bà vội cắt ngang: “Non! Non! Nhưng ở Việt nam này chỉ có cộng sản mới giải phóng được đất nước”…Cho nên Cộng Sản chỉ là “phương tiện”, Giải phóng đất nước mới là ‘Mục tiêu”! Sau khi có Miền Nam, Cộng Sản sẽ phải nhường cho một giai cấp ưu tú (bà dùng chữ “élite”) trong giới kỹ trị (bà dùng chữ “technocrate”) dựng xây đất nước!

Tới đây thì mình ngồi im mà suy nghĩ về cái “trí” và cái “thức” của biết bao người. Mình chẳng dám nhận là trí thức nhưng lại có cả một quá trình trải nghiệm đắng cay, đau khổ mới thấy ra được mình đã “đi lạc đường” vì những suy nghĩ sai lầm y hệt bà cách đó cả ba chục năm….Bây giờ lại đến bà. Bà sẽ phải trả giá cũng như mình đã trả giá thôi! …Và quả nhiên,…số phận của bà ra sao thì sau đó cả thế giới đều biết!

Tới đây, mình xin phép kêu gọi tất cả các cây bút lề trái:

1-/ Hãy tôn trọng và bao dung hơn đối với những ai đã từng có lần dám mở miệng phản biện những gì xét thấy là bất công, là vô lý, là coi thường mạng sống, số phận người dân, nhất là đối với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, kể cả xuống đường biểu tình (dù chỉ một lần rồi thôi)

2-/ Hãy tin rằng: Trong số “trí ngủ” đang chiếm đa số đó, không thiếu những người chỉ cần một ngọn lửa kích hoạt nhỏ cũng không ngại sắn tay áo làm bốc lên một đám cháy lớn…

3-/ Nếu cần vạch mặt chỉ tên thì hãy đánh thẳng vào bọn “trí trá” cho đến hôm nay vẫn không ngừng rêu rao: Bọn chúng là đỉnh cao trí tuệ của con Lạc cháu Hồng .

Mong các vị trí thức thứ thiệt hãy chiếu cố đến cái tuổi già 86 của tôi mà miễn trách cho cái lão già này chắc đang…“gở chết”!

Xin đừng bắt ai cũng phải “xung phong!” trong khi trong tay họ chỉ có cái bút, cái nồi, cái xoong, cái chậu để đuổi con voi dữ đang hung hăng tàn phá vườn nhà!

Posted in Tài Liệu, Tu Do ngon Luan | Leave a Comment »

Tài Liệu: Chính Phủ VNCH trả lời Về Thắc Mắc Trong Vấn Đề Tái Thống Nhất Đất Nước

Posted by hoangtran204 trên 02/11/2011

TÀI LIỆU:

Tuyên Bố Của Chính Phủ VNCH Ngày

26-4-1958 Về Thắc Mắc Trong Vấn Đề Tái Thống

Nhất Đất Nước

Lời Tòa Soạn:  Hiệp định Genève (ngày 20-7) năm 1954 đã chấm dứt chiến tranh Việt-Pháp, nhưng lại chia đôi Việt Nam thành 2 miền Nam Bắc. Hiệp định này cũng qui định: sau 2 năm bị chia cắt Việt Nam sẽ được tái thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã quyết định không thực hiện cuộc bầu cử này và có đưa ra một bản Tuyên bố để giải thích quyết định này.

Bản Tuyên Bố này đã được phổ biến rộng rãi trên thế giới bằng nhiều ngôn ngữ. Chúng tôi chưa tìm lại được bản tiếng Việt của Tuyên Bố này, nhưng nhận thấy đây là một tài liệu có giá trị lịch sử, nên xin phổ biến bản dịch từ bản tiếng Đức để quí độc giả tham khảo.

_________________________

Lời Người Dịch:


Nhân tìm được trong thư viện một trường Đại học Đức “Bản Tuyên Bố của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26.4.1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước” bằng tiếng Đức, tôi “ngấu nghiến” đọc và nhận thấy Bản Tuyên Bố có lập luận chặt chẽ, lời lẽ nhẹ nhàng nhưng diễn được suy nghĩ đanh thép của những người lãnh đạo thời đó. Những lập luận luôn được kèm theo thí dụ các sự kiện đã xảy ra làm người đọc, cho dù chưa sống dưới chế độ cộng sản, cũng có thể hiểu được thực trạng của chế độ cộng sản và lý do nào khiến người cộng sản miền Bắc đã chia đôi đất nước và sau đó đòi hỏi một cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nước với một Việt Nam Cộng Hoà tự do và trù phú chỉ sau gần 4 năm tái kiến thiết sau ngày Hiệp định Genève được ký kết.

Một điều đáng chú ý là năm 1958 Việt Nam Cộng hoà mới có Sứ Thần chứ chưa có Đại sứ tại CHLB Đức, nhưng các Vị Tiền bối cũng đã cho dịch Bản Tuyên bố của Chính phủ ra tiếng Đức, một ngôn ngữ ít thông dụng, và cho phổ biến tối thiểu là đến các trường đại học. Qua đó cho thấy, Bản Tuyên bố này đã được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nơi VNCH có cơ sở ngoại giao.

Do tầm quan trọng của Bản Tuyên bố, tôi dịch ra tiếng Việt để mọi người cùng tham khảo và hãnh diện rằng, nước Việt Nam đã một thời có những người lãnh đạo đất nước không những chỉ thực sự vì nước, vì dân mà còn rất khôn ngoan.

Công việc dịch ra tiếng Việt từ ngoại ngữ chắc chắn không thể diễn tả hết hoàn toàn ý tưởng của bản Tuyên bố. Kính mong Quí Vị niệm tình tha thứ nếu có sơ sót.
Kính mến

Nguyễn Hội

* * *

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước

Trong bức thư đề ngày 7 tháng ba năm 1958, được sử dụng với mục đích tuyên truyền – bởi vì văn bản được phát đi ngay lập tức bởi Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Bắc Kinh – Nhà chức trách Hà Nội đưa đề nghị “thiết lập quan hệ bình thường”, đề nghị xem xét vấn đề tái thống nhất đất nước, hạn chế quân sự và giao thương giữa hai vùng.

Mặc dù đồng bào chúng tôi ở miền Nam và miền Trung Việt Nam đã được thông báo về tính chất lừa đảo của tuyền truyền cộng sản, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có trách nhiệm giải thích cho đồng bào ở miền Bắc, những người đang bị cô lập với mọi thông tin xác thực và dư luận thế giới, các mâu thuẫn giữa tuyên bố và hành động của nhà chức trách Hà Nội cùng thực trạng bất lương về những cáo buộc của họ.

Vấn đề thống nhất đất nước và cuộc bầu cử chung

Xin nhớ rằng, Chính phủ chúng tôi đã luôn luôn bảo vệ sự thống nhất của đất nước. Trong Hội nghị Genève năm 1954, phái đoàn Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ chống lại ý định của cộng sản Việt Nam. Phái đoàn chúng tôi đã chống việc chia ly tạm thời của đất nước. Chúng tôi đã đề xuất việc thu các đơn vị quân sự của cả hai bên vào một số khu vực hạn chế và sau đó tổ chức cuộc bầu cử tự do dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. (Thế nhưng) Phái đoàn Cộng sản đã bác bỏ đề nghị trên, họ đòi hỏi chia đất nước từ vĩ tuyến 17 nhằm đạt dân số trội hơn miền Nam. Sau cuộc trốn chạy của hơn một triệu người tị nạn về miền Nam, tại miền Bắc vẫn còn hơn 13 triệu người so với 11 triệu người dân sinh sống trong miền Nam.

Nhờ vào chế độ công an trị và quân đội lớn hơn so với Việt Nam Cộng hòa, cộng sản tin rằng họ có thể ép dân chúng miền Bắc, dân số cao hơn, bỏ phiếu bầu cho họ ngõ hầu chế độ cộng sản có thể thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam và như thế, nền hoà bình trong vùng Đông Nam Á sẽ bị đe doạ.

Từ ý tưởng này người cộng sản đòi hỏi thực hiện một cuộc Phổ thông đầu phiếu tại Việt Nam, trong khi họ luôn từ chối các cuộc bầu cử tự do tại Đức và Đại Hàn, bởi vì trong hai quốc gia này dân số trong vùng họ (cộng sản) kiểm soát ít hơn so với các khu vực tự do; do đó họ không có cơ hội để thực hiện ý đồ đen tối của mình. Thái độ mâu thuẫn của cộng sản về vấn đề thống nhất đất nước ở các quốc gia bị phân chia cho thấy động cơ thầm kín của họ nhằm thực hiện những cuộc bầu cử không tự do và không thành thật.

Mặc dù nhà chức trách Hà Nội đòi hỏi cuộc bầu cử chung, nhưng họ lại không tổ chức một cuộc bầu cử tự do trong vùng tạm kiểm soát của mình để canh tân cái gọi là Quốc hội của họ. Quốc hội này bao gồm một số thành viên được chỉ định và một số thành viên được bầu trong sự hỗn loạn của năm 1946, hiện nay phải đối mặt với thực tế là một số thành viên đã bỏ chạy về miền Nam. Quy định vào Hiến pháp của họ, một bản Hiến pháp được hoàn thành không có sự tranh luận, trong một phiên họp chỉ kéo dài có một ngày, thì nhiệm vụ những đại biểu của Quốc hội này đã được chấm dứt từ hơn 8 năm nay rồi. Cộng sản Việt Nam do đó đã không tôn trọng hiến pháp của chính họ. Đồng thời họ đã thiết lập chế độ Cộng sản ở miền Bắc, mà không trưng cầu ý dân. Và họ không bao giờ trưng cầu dân ý vì họ biết rằng dân chúng sẽ không bao giờ chấp nhận cái chế độ này.

Chính phủ chúng tôi đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 Tháng 10 năm 1955, dựa theo đó chế độ cũ được bãi bỏ và chế độ Cộng hòa đã được thành lập. Sau đó chính phủ chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 3 năm 1956 ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Quốc hội này đã soạn thảo và thông qua một bản Hiến pháp. Hiến Pháp này đã được công bố sau đó.

Những tổ chức dân chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.

Do đó, rất kỳ lạ khi thấy những người có trách nhiệm phân chia đất nước, không dám tiến hành bầu cử trong vùng tạm kiểm soát của họ và sau đó lại đổ lỗi cho chính phủ chúng tôi từ chối thống nhất đất nước và từ chối bầu cử chung.

Vấn đề về giao thông đi lại giữa liên khu vực tự do

Nhà chức trách Hà Nội đã dấu không thông tin cho người dân miền Bắc biết, rằng người dân có quyền chọn lựa khu vực để sinh sống. Với chế độ khủng bố, họ đã ngăn cản các chuyến di tản của dân chúng miền Bắc; họ đã dùng bạo lực bắt giữ thân nhân những người đã di cư về miền Nam. Tại Ba-Làng và Lưu-Mỹ họ đã nổ súng đàn áp những người đã cố gắng đi đến khu vực tự do.

Họ cũng đã rút ngắn thời gian cho tự do giao thông liên vùng và tự do lựa chọn vùng sinh sống, qua việc qui định thời hạn vào ngày 19 Tháng 5 năm 1955. Sau thời gian này, chính phủ chúng tôi đã đề nghị gia hạn thời gian giao thông liên vùng tự do. Nhưng nhà chức trách Hà Nội muốn hủy bỏ càng nhanh càng tốt sự liên kết giữa hai khu vực, nhằm ngăn chặn các chuyến tỵ nạn về miền Nam và luôn bày tỏ ý đồ xấu xa này của họ. Do đó nhà chức trách Hà Nội đã chỉ gia hạn thời gian di tản thêm hai tháng, tức là đến ngày 20 Tháng 7 năm 1955, và trong hai tháng đó họ đã chỉ cung cấp một chiếc thuyền cho những người muốn về miền Nam.

Bất chấp mọi nỗ lực để ngăn cản việc di tản, bất chấp bị khủng bố và trù dập bằng bạo lực và cho dù thời hạn được di tản rất ngắn ngủi, nhưng gần một triệu đồng bào từ miền Bắc đã di cư về miền Nam thành công. Mặc dù đồng bào của chúng tôi ở phía bên kia vĩ tuyến 17 bị mất quyền tự do di chuyển ngay cả trong khu vực sinh sống của mình, ngày nay họ vẫn còn chạy trốn về miền Nam bằng cách vượt dẫy núi Trường Sơn[1], hoặc trong các chiếc thuyền mỏng manh dọc bờ biển. Một số người không may mắn bị rơi vào tay cộng sản và bị giết, hoặc đã bị tra tấn tàn nhẫn. Những người khác đã chết vì kiệt sức trong rừng sâu hoặc là nạn nhân của các cơn bão biển.

Hiện nay có 81.123 người và 1955 gia đình đã tự, hoặc qua đại diện của họ, làm đơn yêu cầu được di tản vào miền Nam. Yêu cầu của họ đã được giao cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Nhưng nhà chức trách Hà Nội phản đối những yêu cầu này.

Ngoài ra, còn có một số gia đình từ miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đòi hỏi cho anh em, chồng con họ, những người đã bị cộng sản dùng bạo lực bắt cóc đưa về miền Bắc, phải được hồi hương. Tổng số đơn yêu cầu về việc này là 11.196, đã được chuyển tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngoài các đơn kiện này, còn có rất nhiều trường hợp khác được gửi trực tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, và số lượng đơn của những trường hợp này không bao giờ được công bố. Qua sự phản đối, chống lại những yêu cầu của người dân được nêu trên, nhà chức trách Hà Nội phải gánh trách nhiệm về tình trạng đau đớn vì chia ly của các gia đình này. Sau khi cộng sản cấm đoán người dân tự do đi lại ngay cả trong khu vực miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn những người muốn di tản đi xa, bây giờ thì họ lại rêu rao, tuyên truyền là “tự do đi lại” và “khôi phục lại mối quan hệ bình thường”.

Vấn đề cắt giảm lực lượng quân sự

Từ 3 năm qua nhà chức trách Hà Nội luôn luôn cổ võ cho hòa bình. Nhưng hành động của họ luôn tương phản lớn với chủ đề tuyên truyền của họ. Họ đã không dừng lại mà luôn tăng cường lực lượng quân sự và nâng cấp trang bị vũ khí kể từ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực và như vậy là vi phạm Hiệp định Genève do chính họ đã ký kết.

Cần quan tâm đến một giác thư của chính phủ Vương quốc Anh gửi cho Liên Xô ngày 9 Tháng 4 năm 1956. Là đồng chủ tịch của Hội nghị Genève, chính phủ Anh đã cáo buộc chính quyền Hà Nội, kể từ khi ngừng chiến đến nay họ đã tăng cường lực lượng quân sự từ 7 lên 20 sư đoàn. Ngoại trưởng Pháp tháng 3 năm 1958 cho biết, rằng nhà chức trách Hà Nội đã gia tăng quân đội lên đến 350.000 quân và công an, cảnh sát lên tới 200.000 người. Họ cũng đã nhập cảng vũ khí từ các nước cộng sản để tăng cường lực lượng quân sự của họ. Trong ba năm qua họ đã không tôn trọng Hiệp định Genève, bởi vì họ chưa bao giờ thông báo cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến về việc nhập cảng vũ khí vào Việt Nam.
Mâu thuẫn với thực tế, nhà chức trách Hà Nội tuyên bố rằng họ đã giảm lực lượng quân sự của họ xuống còn 80.000 người. Nhưng cho đến nay họ chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về con số thực sự quân đội của họ, trước khi hoặc sau khi cái họ gọi là giảm quân. Họ không đưa ra bằng chứng về những lời tuyên bố của mình và không chấp nhận mọi cuộc điều tra.

Họ không có lý do duy trì một quân đội mạnh mẽ hơn Việt Nam Cộng Hòa. Đây là mối đe dọa cho nền hòa bình không những chỉ cho Việt Nam mà còn cho các nước ở trong vùng Đông Nam Á. Để có khả năng duy trì một quân đội to lớn như vậy, nhà chức trách Bắc Việt áp đặt mức thuế cao và hệ thống “đấu tố”, với hệ thống này họ đã ép buộc những người vợ, những người con phải tố cáo cha mẹ và chồng mình đã “dấu vàng của nhân dân”. Những người này thậm chí đã phải tự đánh mình và cuối cùng họ bị xử tử ngay tai chỗ mà không thông qua một cuộc xét xử của toà án. Có thể nói rằng dân tộc chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ với chính quyền miền Bắc hơn bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới này.
Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn phục vụ cho nền hòa bình kể từ hiệp định Genève. Để đảm bảo lực lượng lao động cần thiết cho việc tái thiết đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, chúng tôi đã giảm quân đội từ 242.000 xuống còn 150.000, đồng thời chúng tôi đã không bổ xung thay thế 180.000 binh lính của “Đội quân Viễn chinh” Pháp. Cộng sản mong muốn duy trì Đội quân này lại ở Việt Nam. Vấn đề giảm lực lượng quân sự được phổ biến rộng rãi, điều này rất dễ kiểm chứng.
Nhân đây cũng xin nhắc lại lời tuyên bố long trọng của Chính phủ Quốc gia vào ngày 6 Tháng 4 năm 1956 là không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không cho phép cài đặt căn cứ quân sự ngoại quốc trên lãnh thổ của mình.

Vấn đề trao đổi thương mại

Trong thư đề ngày 7 Tháng Ba nhà chức trách Hà Nội đã đề xuất việc trao đổi thương mại với miền Nam. Qua đánh giá đề nghị này và qua tin tức nhận được cho thấy rằng đồng bào miền Bắc mong muốn, cầu xin sự giúp đỡ của thân nhân hoặc bạn bè ở miền Nam, có thể một vài mét vải hoặc vài viên thuốc aspirin. Nền kinh tế miền Bắc do sự thống trị của Đảng Cộng sản đang ở dưới đáy vực sâu. Đề nghị của cộng sản không nhằm mục đích nâng cao đời sống của dân chúng miền Bắc. Do hệ thống độc quyền với chính sách nội thương và ngoại thương mà họ đã đề ra là mua sản phẩm nông nghiệp của dân chúng với giá rẻ mạt và bán lại những sản phẩm này với giá cao hơn đáng kể. Mục tiêu của họ chỉ là, thu thập sự phong phú của miền Nam vào ngân sách đảng của họ. Nếu nhà chức trách miền Bắc muốn đề nghị của họ được duyệt xét thì điều kiện đầu tiên là họ phải đặt quyền lợi người dân lên trên lợi ích của đảng. Đồng thời họ phải để cho dân chúng miền Bắc toàn quyền tự do thương mại và từ bỏ sự độc quyền kinh tế mà đảng cộng sản đã chiếm đoạt từ trước đến giờ.

Vấn đề trao đổi thư từ và bưu thiếp

Mặc dù cộng sản không đề cập đến đề tài này trong thư của họ đề ngày 7 tháng ba năm 58, nhưng họ đã nhiều lần đề nghị nối lại dịch vụ bưu chính giữa hai khu vực. Cho đến hôm nay, cộng sản đã sử dụng các bưu thiếp như một phương tiện tuyên truyền nhiều hơn so với những phong thư được đóng kín. Yêu cầu trao đổi thư từ của họ không ngoài mục đích nào khác là tăng cường chiến dịch đe dọa và ăn xin người dân miền Nam. Vì quyền lợi của dân chúng, Chính phủ Quốc gia không thể thực hiện đề nghị này, nhưng Chính phủ yêu cầu cộng sản khai triển trao đổi bưu thiếp một cách đơn giản để nhân dân của hai Miền có thể liên lạc được với nhau.

Sự thật được mô tả trên đây cho thấy bản chất lừa đảo của các đề nghị của cộng sản, chẳng hạn như tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình, lệnh cấm di chuyển giữa hai khu vực, các vụ giết người muốn di tản về miền Nam, họ đã gây ra những trở ngại để các thân nhân của các gia đình sống tản mác không tìm được nhau và lợi dụng việc trao đổi bưu thiếp nhằm vào mục đích tuyên truyền.
Mâu thuẫn giữa tuyên truyền và hành động của nhà chức trách Hà Nội thật đã rõ ràng. Từ nhiều năm qua thái độ của họ vẫn luôn như một. Để chứng minh thái độ của họ đã thay đổi, họ hãy thực hiện một số hành động cụ thể như sau:

1) Họ hãy để cho 92.319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ.

2) Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo.

3) Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là “Ủy ban Giải phóng miền Nam”, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.

4) Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay.

5) Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ[2] trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.

6) Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.

Nếu khảo sát các sự kiện kỹ càng, ta sẽ nhận thấy bức thư ngày 7 Tháng Ba năm 1958 của nhà chức trách Hà Nội có mục đích chủ yếu nhằm tuyên truyền và phá hoại, chống lại sự giúp đỡ của các quốc gia bạn. Cộng sản đã hành động theo đơn đặt hàng của Liên Xô và cộng sản Trung Quốc, trong lá thư trên đã chỉ trích gay gắt Mỹ và cáo buộc người Mỹ can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Thực tế hoàn toàn ngược lại với những cáo buộc của cộng sản: mối quan hệ Việt-Mỹ hoàn toàn bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế giữa hai nước, cùng tôn trọng chủ quyền của nhau. Tương tự sự liên kết giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các nước trong thế giới Tự do. Mục đích mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ nhằm bảo đảm nền hòa bình và tự do.
Mối quan hệ giữa nhà chức trách Hà Nội cùng giới thống trị Nga và Trung Quốc, thuộc một thể loại khác. Họ là một vệ tinh đối với giới cai trị. Họ là hạ cấp so với thượng cấp trong hệ thống phân cấp của một đảng: đảng Cộng sản Quốc tế. Sự phụ thuộc này không chỉ được thể hiện qua sự đồng nhất của các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội theo kiểu mẫu của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, mà sự lệ thuộc này còn thâm nhập ngay cả vào lĩnh vực tư tưởng: trong các nghị định và các quy định của họ nhà chức trách Hà Nội bắt buộc dân chúng miền Bắc phải học các hệ tư tưởng cộng sản và sống theo đường lối chính trị của Nga và Trung Quốc.

Ở miền Nam, không ai bị bắt buộc phải tôn thờ các nhà lãnh đạo ngoại quốc và treo hình ảnh họ trong nhà, ở đây không ai có thể tưởng tượng rằng họ có thể hành xử điều kỳ lạ nêu trên.

Ở miền Bắc, nhà chức trách ép buộc dân chúng phải sùng bái các các nhà lãnh đạo Nga và Trung Quốc, treo hình ảnh của họ ở nhà và trong những ngày lễ của Liên Xô. Đồng thời họ cấm đoán dân chúng không được phê bình ý thức hệ cộng sản, không được phê bình chính phủ và giới lãnh đạo các nước cộng sản.

Thái độ hèn hạ của nhà chức trách Hà Nội đối với cộng sản ngoại quốc đã hủy hoại đời sống của dân tộc Việt, và là trở ngại lớn nhất cho công cuộc thống nhất đất nước.

Hệ tư tưởng cộng sản hoàn toàn phản nghịch với truyền thống tâm linh của châu Á và tính chất quốc gia của dân tộc Việt Nam.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc bầu cử tự do, nhà chức trách Hà Nội phải hủy bỏ chế độ cộng sản mà họ đã áp đặt lên người dân miền Bắc.

Họ không nên nhắm mắt và tự bịt tai. Họ phải học hỏi để hiểu cho ra rằng, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cuộc bầu cử không có sự tự do và chân thành.

Nguyễn Hội
sưu tầm và dịch từ văn bản tiếng Đức “Erklärung der Regierung der Republik Vietnam von 26. April 1958 über die Frage der Wiedervereinigung” do văn phòng Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958.

[1] bản tiếng Đức ghi là dẫy núi An Nam
[2] nguyên văn tiếng Đức là: Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng hát những bài ca tụng họ trong các bưu thiếp

Nguồn bản dịch:

http://nguoivietboston.com/?p=1080

Posted in Tài Liệu | 1 Comment »