Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Phỏng Vấn’ Category

►Cuộc phỏng vấn và hội luận đầy lý thú của Võ Sư Đoàn Bảo Châu với LS Hà Huy Sơn (9-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2018

Tuyệt vời! Các điều luật 79, 88, 258 và bản án nặng nề 14 năm tù của Hoàng Đức Bình đã được các anh mô tả ngắn gọn và dễ hiểu. Lối nói chuyện ôn hòa đúng mực có tác dụng truyền đạt rất cao. Cám ơn hai anh. 

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Việt Khang cảm ơn cộng đồng Việt Nam, tiết lộ hoàn cảnh ra đời của các nhạc phẩm và cơ duyên nào VK đến Mỹ (8-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 13/02/2018

Một phim  phỏng vấn rất đặc sắc với các chi tiết bạn chưa từng được đọc.  

Mạng Pal-talk, Vũ Trực, Việt Khang, Trần Huỳnh Duy Thức, Huỳnh Minh Trí, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng,…

 

Đọc tiếp »

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Người CỘNG SẢN lên tiếng về Trận Mậu Thân HUẾ 1968 — Nguyễn Hữu Vấn: Trận Mậu Thân: “Chúng tôi cố tránh tổn thất cho dân” (BBC, 6-2-2018)

Posted by hoangtran204 trên 12/02/2018

“So sánh với Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan…, thì Nguyễn Hữu Vấn là cán bộ cộng sản cao cấp hơn nhiều.

Vào đầu tháng 2, Vấn là người trực tiếp đến từng nhà các công chức, quân nhân VNCH đang ở nhà ăn Tết cùng gia đình, Vấn khuyến dụ họ ra trình diện, nộp súng và cho họ trở về nhà… bằng cách gây lòng tin tưởng để khuyến khích càng nhiều người khác (đang lẫn tránh trong nhà, trong vườn, ) ra trình diện.

Sau khi nắm được danh sách, địa chỉ, chức vụ của từng người,  chừng vài ngày sau, Vấn đến nhà họ vào ban đêm, kêu họ đi họp, rồi bắt và giam giữ họ trong các trường học, lập tòa án, và xử tử các công chức, quân nhân VNCH khi Vấn đang cùng quân đội cộng sản đang chiếm giữ Huế vào cuối tháng 1, và đầu tháng 2/1968.

Khi bị lính Nhảy Dù, Biệt Động Quân phản công chiếm lại thành phố Huế, cộng sản thiệt hại nặng và đuối sức vào ngày 23, 24, và 25 tháng 2. Cộng sản đã rút chạy. Khi rút quân khỏi thành phố Huế để chạy lên rừng, và để khỏi vườn bận, Nguyễn Hữu Vấn có thể là người đã ra lệnh giết và chôn sống các nạn nhân mà y bắt mang theo lên rừng. “

 

Đọc tiếp »

Posted in Mậu Thân 1968, Phỏng Vấn, Thời Sự | Leave a Comment »

►Chi tiết bản hợp đồng BOT trạm thu phí Cai Lậy- Phó CT Công ty BOT Cai Lậy: “Chúng tôi đang chịu áp lực rất lớn của bên cho vay vốn”

Posted by hoangtran204 trên 18/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Doanh nghiệp phá rừng đầu nguồn HÒA BÌNH chặn nguồn nước- Dân thảm thiết kêu cứu : ‘Thà bắn chết chúng tôi đi còn hơn’

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Bị đảng và nhà nướcCướp Đất Đai r, Nong Dan Viet Nam, Phỏng Vấn, Đời Sống | Leave a Comment »

►Cuộc trò chuyện với chủ cho thuê xe chở Trịnh Xuân Thanh từ Berline sang Praha, Tiệp (9-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 10/08/2017

9-8-2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Phỏng Vấn, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Các Video về vụ Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc ở Đức và ra “đầu thú” ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 05/08/2017

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Báo chí- Quyền tự do ngôn luận, Công An, Luật Pháp, nhóm lợi ích, Phỏng Vấn, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Vĩnh Long: Một người dân chết trong tình trạng bị cắt cổ khi đang bị điều tra trong đồn công an

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2017

(Nạn nhân của công an là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo. Anh Tân có vợ và một con trai, bán đồ chay, và ăn chay trường.)

May 4, 2017 
 

Đọc tiếp »

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Phỏng Vấn, Tôn Giáo | Leave a Comment »

►Nói chuyện với Huỳnh Quốc Huy ngày 13-4-2017 (Nghê Lữ)

Posted by hoangtran204 trên 14/04/2017

Nói chuyện với Huỳnh Quốc Huy ngày 13-4-2017

Nghe: (25 phút)

https://clyp.it/lf5rdn5k

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Người Buôn Gió phỏng vấn Trịnh Xuân Thanh ( 2017)

Posted by hoangtran204 trên 10/02/2017

Người Buôn Gió: Phỏng vấn Trịnh Xuân Thanh [1]

4-2-2017

Thanh bóc điếu xì gà châm, hỏi tôi:

– Đi mệt không, cậu việc gì phải mất công thế. Xong rồi thì thôi chứ?

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Phỏng Vấn, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”

Posted by hoangtran204 trên 29/08/2016

Nghệ sĩ Kim Tuyến: “Tôi chọn tự do và không hối tiếc”

28-8-2016

Tuấn Khanh, nhạc sĩ.

 
Nữ nghệ sĩ Kim Tuyến
(Tuấn Khanh) Tình cờ gặp được chi Kim Tuyến, một trong nghệ sĩ tài danh của giới biểu diễn miền Nam trước 1975. Dù ở trong các tuồng diễn của gánh hát Kim Chung hay Dạ Lý Hương, thì cái tên Kim Tuyến luôn đứng cùng với Hùng Cường, Tấn Tài, Thanh Hải… Khán giả của thập niên 60 luôn đánh giá tài năng của chị không khác gì Ngọc Giàu, Bích Sơn, Phượng Liên, Thanh Thanh Hoa…  Giọng hát và lối trình diễn của chị là sự thu hút đặc biệt trên sân khấu của Sài Gòn. Nhưng có lẽ cũng vì vậy mà chị gặp không ít khó khăn sau tháng 4-1975 bởi chọn lựa của mình.
Tháng 7/2016, chị Kim Tuyến có kể về cuộc gặp giữa chị và nghệ sĩ Kim Cương. Giữa trùng phùng đó, người nghệ sĩ của Little Saigon đã bất ngờ bật ra câu hỏi với nghệ sĩ Kim Cương rằng vì sao bà lại là một cán chính nằm vùng.
Câu hỏi đó, cũng bật tung cánh cửa quá khứ, mở ra những điều âm ỉ chưa ai nói hết. Lịch sử ghi lại vô số những dữ kiện lớn lao, nhưng đôi khi vẫn thiếu những câu chuyện đời mà khiến ai nấy đều phải trầm ngâm suy nghĩ.
Ngày chiến tranh ấy xa rồi, nhưng có những vết thương không bao giờ có thể lành.
Về nghệ sĩ Kim Cương, thật mới mẻ khi nghe kể lại qua lời của một đồng nghiệp – mà hơn nữa là mặt đối mặt chứ không phải là chuyện thêu dệt. Trong chuyện kể ấy, nghệ sĩ Kim Cương đã ngại ngùng ra đi, để tránh phải trả lời nghệ sĩ Kim Tuyến. Cuộc đời, quả thật khó ngờ hôm nay và mai sau. Cũng ít ai biết, trong những tháng ngày của chế độ mới, nhiều người kể rằng nếu không có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng bênh vực thì bà Kim Cương cũng đã gặp nhiều búa rìu từ các cán bộ bảo thủ thâm căn – coi bà Kim Cương cũng cùng một loại “văn hóa đồi trụy”, không nên sử dụng trong chế độ XHCN.
Cám ơn chị Kim Tuyến, một nghệ sĩ tài danh và là một người thẳng thắn kể lại mọi thứ trong bài phỏng vấn dưới đây. Những gì chị nói ra, sẽ là phần tham khảo sống động nhất cho thế hệ mai sau về sân khấu, con người và cuộc đời của Sài Gòn trong ký ức của những ai yêu thương nơi chốn ấy.
Tôi giữ lại câu chuyện  này với sự tôn trọng người kể, với tư cách hậu bối, và cũng sẳn lòng dành thời gian với với những ý kiến cải chính khác gửi đến, trong tinh thần sẳn sàng rộng đường dư luận. Trân trọng.
Tuấn Khanh
(28-8-2016)
 
Thật bất ngờ khi gặp lại chị ở Mỹ, đặc biệt là qua trường hợp chị nói rất thẳng thắn với nghệ sĩ Kim Cương, về những hoạt động không có tính cách văn nghệ của bà. Có vẻ như còn rất nhiều thứ về cuộc đời mình mà chị chưa có dịp chia sẻ với khán giả. Nếu không bất tiện, chị có thể cho biết sau ngày 30-4-1975, cột mốc của đời chị đã như thế nào?
Kim Tuyến: Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, theo lời kêu gọi của Đài Phát Thanh Sài Gòn (quân cán chính phải đến trình diện), tôi đến sở làm là Tiểu Đoàn 50 Chiến Tranh Chính Trị trình diện. Đến nơi tôi thấy một đống rác khổng lồ ngay lối cổng ra vào và đầy cả trong sân. Bỗng có người nói: “Không phải ở đây mà phải trình diện ở Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở đường Thống Nhất”.
Đến Tổng Cục CTCT, anh Vân Sơn (ban AVT) giúp tôi lấy tờ đơn khai lý lịch từ một cán bộ cộng sản đưa cho tôi. Tôi đang điền vào thì một cán bộ khác bước ra nói: “Các ban nhạc trong Nam này chỉ có vài nhạc công, ngoài Bắc chúng tôi có cả trăm nhạc công ấy”. Tôi hơi bực nói : “Nhưng sao ca sĩ các anh hát giống tiếng Tàu quá, chỉ nghe chí chí chéo chéo không hà, chúng tôi không hiểu gì cả”.
Nhìn vào tờ khai lý lịch, tôi nhanh trí điền vào hai chữ “tài xế” ở phần nghề nghiệp. Xong mọi thủ tục, anh Vân Sơn đưa tôi đến trước cổng Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương và Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Anh Vân Sơn chào từ giả với gương mặt thật buồn. Về sau tôi được tin anh Vân Sơn đã nhảy xuống sông Thị Nghè tự tử vì bất mãn với chế độ.
Sau đó theo lời kêu gọi của chị Kim Cương, tôi đến họp tại Hội Nghệ Sĩ. Rất đông các cô chú và anh chị nghệ sĩ tân cổ tụ tập bên hông trụ sở và phía sân sau. Khi thấy tôi và nghệ sĩ Tùng Lâm ngồi trò chuyện, chị Kim Cương ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi nói “Chị ơi em buồn quá”. Chị Kim Cương  kéo đầu tôi ngả vào vai chị, một tay vuốt tóc  vỗ về: “Đừng buồn em, chị em mình rồi sẽ được giải phóng ra khỏi bốn bức tường”. Tôi sững sờ nhìn chú Tùng Lâm. Chị Kim Cương nói lớn“Mọi người vào trong, đến giờ họp. Chị nắm tay tôi, kéo tôi theo chị vào phòng họp. Chị ngồi vào đầu bàn chủ tọa. Chị dõng dạc tuyên bố: “Ngày xưa bọn Thiệu Kỳ bán nước còn hiện diện trên quê hương ta, tôi phải núp dưới danh nghĩa Làng Cô Nhi Long Thành. Hôm nay chúng ta đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Tôi ra lệnh cho anh Nguyễn Đức (nhạc sĩ) lập những tiểu tổ để chúng ta thành lập Biệt Đội Văn Nghệ …”. Chú Tùng Lâm nghiêng đầu nói nhỏ vào tai tôi: “Tuyến, khóc nữa đi con, mầy khóc nữa đi con”.
Tôi thất vọng não nề. Trong khi chị Kim Cương thao thao bất tuyệt, tôi không còn nghe hay không muốn nghe gì nữa cả. Trời ơi, thần tượng sụp đổ ! Kim Cương là Việt Cộng nằm vùng đã giúp cho cộng sản cướp đoạt miền Nam, áp bức bóc lột người dân, đưa đất nước đến chỗ sắp bị diệt vong, mà sao lại dám nói là mình yêu nước ???
Vài tuần sau, tôi gặp bác Bảy Nam, mẹ của chị Kim Cương, đi xích lô máy ngừng trước nhà. Thấy tôi Bác hỏi : “Kim Tuyến, con đi đâu đây?”. Tôi chào Bác và trả lời “Dạ, đây là nhà con”.Bác nói tiếp: “Bác vào thăm ông Trần Tấn Quốc, vì nghe ổng sắp dọn về Cao Lãnh ẩn dật. À, con có nhận được thơ của chị Kim mời con tham gia ban kịch không? Chị Kim thích con đóng kịch với chị lắm. Ngày phát role (*chọn người vào vai) chị Kim chờ con quá trời”. Tôi chỉ còn biết đáp: “Dạ…Dạ…tại con bịnh”.
Sau đó mấy ngày Má Bảy Phùng Há nhắn tôi đến nhà. Bà mặc áo dài chờ tôi, Bà cho biết Bà muốn đưa tôi lên Sở Thông Tin Văn Hóa trình diện để hát cho đoàn Sài Gòn 1 với nghệ sĩ Thành Được. Trước đó tôi luôn được Má Bảy mời hát chánh cho ban cải lương Phụng Hảo và Vân Kiều trên TV với anh Thanh Sang, và lần sau cùng với anh Thành Được tuồng Cạm Bẫy Đô Thành của soạn giả Ngọc Điệp. Má Bảy bảo tôi về thay áo dài cho đàng hoàng,“cách mạng không thích ăn mặc như vậy đâu con”, vì tôi đang mặc quần ống loa và áo thun màu vàng  với chữ Have a nice day, áo bỏ trong quần, đeo dây belt to tướng. Tôi chào Má Bảy, trở về nhà tôi, và trốn luôn Má Bảy.
Nhưng rồi sau 1975, chị có tiếp tục sinh hoạt văn nghệ bình thường không? Những ngày đó như thế nào?
Sau ngày 30/04/1975, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ miền Nam hầu như thất nghiệp hết. Cứ một hoặc hai ngày là có ba người bộ đội mang dép râu đi vào nhà tôi, ngang nhiên đi từ trước ra sau, rồi ngồi chồm hỗm trên salon và nói là “Chúng con đến thăm Mạ (Mẹ tôi)”. Lần lượt cán bộ, rồi tới  ‘Cách Mạng 30’ (*thành phần hưởng ứng với chế độ mới ngay sau ngày 30-4) kéo tới nhà tôi kêu gọi tôi tham gia. Họ bảo:“Chị là nghệ sĩ nên sẽ có tác động lớn đối với quần chúng, chị sẽ ca hát và hướng dẫn quần chúng. Mới giải phóng nên cách mạng còn nghèo. Chúng tôi sẽ cấp cho chị một chỗ ngủ nghỉ tại trụ sở ngoài đường Lê Quang Định, nơi chúng tôi tịch thu của bọn bám chân đế quốc Mỹ, chúng tôi cung cấp cho chị một bữa ăn cho một ngày… “.  Tiền lương thì không có.
Họ yêu cầu tôi theo họ ra Quận và định chở tôi bằng xe đạp. Tôi bảo họ cứ đi trước, tôi sẽ chạy xe theo. Quận của họ là bãi đất trống ngay ngã 5 Bình Hòa. Một nhóm người, già trẻ bé lớn đứng bao quanh một thanh niên nhỏ con, ốm nhách đang ôm cây đàn, vừa hát vừa chỉ dẫn tất cả hát và diễn tả bằng chân: “Ta lên giây đàn… từng tưng…”. Mọi người nhìn theo anh nầy, cùng hát cùng co chân, đưa đầu gối cao ngang bụng, hai tay cũng làm bộ như đang cầm cây đàn. Tôi thầm nghĩ “trình diễn kiểu gì mà giống như một bầy khỉ đột vậy?” Tôi cảm thấy xấu hổ cho cậu thanh niên, và tội nghiệp cho những người dân đang bị bắt làm những trò quái đản. Mặt tôi nóng bừng, tay chân tôi lạnh, chắc là bị lên máu. Tôi nói với anh cán bộ là tôi bị bệnh rồi và tôi phải về nhà chữa bệnh gấp.
Cả xóm nhà vùng tôi ở rất bực mình vì những cái loa tuyên truyền láo khoét. Mới hừng sáng loa phát rùm lên kêu mọi người thức dậy tập thể dục, nghe rất chói tai nhức óc. Có lần họ cho người đến từng nhà trong xóm kiểm kê xem nhà có cầu tiêu không? Loại nào? Ngồi bàn hay ngồi chồm hỗm có cái lỗ ?…
Hoàn cảnh chị thì như vậy, nhưng bạn bè quen biết trong nghề thì thế nào? Họ có gặp những nghịch cảnh như chị không hay mọi thứ dễ dàng hòa nhập hơn?
Tôi có người bạn tên Mai, nhà chị ở đường Ngô Tùng Châu, Gia Định. Một dịp tôi đến nhà chị thì thấy một nhóm công an phường ngồi đầy nhà. Chị nói nhỏ với tôi là họ ngang nhiên vào nhà, họ còn tự động lấy thức ăn trong tủ lạnh. Tôi bênh bạn nói: “Chị này ở một mình, không có chồng, tại sao các anh tự nhiên vào nhà người ta vậy?”  Họ đáp “À, thì chỉ là đến thăm chị Mai thôi”. Tôi chợt nhớ đến chị bạn có chồng nhạc sĩ cổ nhạc đang là quân nhân của Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và đang có nhà trong khu gia binh, tôi hỏi: “Mấy gia đình vợ con lính VNCH sống trong trại gia binh, bây giờ có được tiếp tục ở không?”.  Tên Ba Tấn, mặt mày gian ác, trả lời: “Chúng đã tiếp tay  cho bọn Thiệu Kỳ bán nước, chúng không có quyền ở”. Tôi hỏi: “Vậy ai sẽ ở?”.Hắn đáp: “Chúng tôi, những người có công với cách mạng”.Tôi nói tiếp: “Theo tôi, các anh là cách mạng giải phóng miền Nam, nên dành những căn nhà đó và các biệt thự của cái bọn mà các anh cho là bám chân đế quốc Mỹ bỏ lại, đem cấp cho các người nghèo khổ đang ở gầm cầu xó chợ. Còn các anh nên che chòi ở, thì dân chúng sẽ phục các anh vô cùng. Các anh vào ở các nhà này tôi e dân chúng sẽ nghĩ lầm về cái từ giải phóng của các anh. Còn xe tăng, xe nhà binh, máy bay của đế quốc Mỹ bỏ lại, các anh nên bắt chước Campuchia đốt bỏ hết đi, đừng nên xài bất cứ cái gì của Mỹ Ngụy để lại”.
Ba Tân tức giận gọi đồng bọn. Mấy chiếc xe mô tô hụ còi rầm rộ chạy đến, chĩa súng bắt tôi giải đi về phường. Đến chiều, một thanh niên trẻ ôm 1 tập giấy tờ mở cửa sắt vào gặp tôi.  Em có vẻ ngạc nhiên nói: “Trời ! Chị Tuyến, sao chị vào đây? Em là Đạt bạn của thằng em chị, em học ở Đạt Đức. Em có đến nhà chị hoài mà không gặp chị, chị đi hát hoài nên không biết em”. Rồi Đạt hỏi tôi chuyện gì xảy ra và Đạt đề nghị tôi viết vào một tờ giấy, nhận rằng mình không hiểu rõ đường lối của cách mạng, xin lỗi cách mạng, ký tên, rồi Đạt sẽ trình cấp trên và họ sẽ thả tôi. Tôi không chịu viết vì nghĩ mình không có tội gì cả. Đạt khuyên tôi: “Họ đã ghi vào hồ sơ và buộc chị vào tội phản động, họ sẽ đưa chị đi xa lắm…Hay là vầy, em viết gì kệ em, chị chỉ ký tên vào, họ sẽ thả chị ra”.Nghĩ đến con, đến Má tôi và các em rất cần tôi, tôi ứa nước mắt ký vào.
Vài ngày sau, anh Vinh từng là quản lý của các đoàn cải lương trước 1975 đến nhà tôi và cho biết Cục An Ninh Nội Chính mời tôi về làm đào chánh cho đoàn. Tôi nói với anh Vinh: “Nếu thương em, xin anh về nói với họ là em đang bệnh. Anh biết không, vì cái cục R nầy mà em bị lên tăng xông, bệnh gần chết”.
Vài tuần sau, chị Bạch Lan Thanh đến nhà mời tôi đi hát với nghệ sĩ Tùng Lâm và anh Giang Tử, do anh Tony Quang ảo thuật gia tổ chức. Chương trình văn nghệ bỏ túi có ca tân cổ, có kịch, có ảo thuật và xiệc. Trong đêm trình diễn ở 1 quận ở miền Tây, có cả bộ đội mang dép râu, ngồi chồm hỗm trên những băng ghế dài bằng cây, xem có vẽ thích thú vỗ tay và yêu cầu tôi hát tân cổ bản“Những Đồi Hoa Sim”, rồi “Tình Đầu Tình Cuối”,“Tình Đời”song ca với Giang Tử. Sau đó là phần ảo thuật và hài kịch. Vãn hát xong, thì  Thông Tin Văn Hóa xuống họp với chúng tôi. Một cán bộ với giọng Bắc nói:“Sao tên của Tùng Lâm và Kim Tuyến to thế ? Ngoài Bắc chúng tôi không có cá nhân đấy nhé. Yêu cầu anh Tùng Lâm đừng diễu nữa nhé”.  Tôi nghĩ thầm:“Danh hài mà không cho diễu là sao?”. Mọi người yên lặng, tôi lên tiếng: “Xin lỗi anh, anh tên gì ?” Anh ta đáp: “Chị cứ gọi tôi là anh Ba”. Tôi nói tiếp: “Anh Ba, theo tôi có lẽ ca nghệ sĩ văn công ở ngoài Bắc hát được nhà nước trả lương. Nhưng ở đây là do tư nhân tổ chức, cần bán vé vào cửa, nên phải quảng cáo tên nghệ sĩ để khán giả biết mà mua vé vào xem, nhờ đó chúng tôi mới có chén cơm”. Anh Ba nhìn tôi lên giọng: “Yêu cầu chị Kim Tuyến và anh Giang Tử không được mặc đồ Mỹ Ngụy mà phải mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn giống Bác ấy”.  Trước khi ra về, có hai cán bộ đứng dậy đặt tấm giấy lên bàn, nghiêm giọng nói: “Yêu cầu chị Kim Tuyến hát bài nầy”.  Tôi nhìn vào, thấy dòng chữ: Vọng Cổ Bà Mẹ Việt Nam bắn Mỹ cứu quốc. Khi họ đi rồi tôi nói : “Chú Lâm, chắc con nghỉ hát”. Các em trong ban nhạc nhốn nháo: “Chị Tuyến về, tụi em cũng ôm đàn về luôn”.
Tối hôm đó tôi trở về căn nhà của dân do Tony Quang mướn. Bước ra phía sau nhà, tôi thấy chú Tùng Lâm ngồi bó gối trầm ngâm bên chai rượu dưới ánh trăng. Tôi ngồi xuống, bưng chai rượu uống một hơi, dù tôi không hề biết uống rượu, uống để chia sớt nỗi đau với chú, và uống để cho vơi đi nỗi uất hận và tủi nhục mà kẻ chiến thắng muốn áp đặt quyền dạy dỗ chúng tôi. Niềm đau tủi đã dâng trào … Hai chú cháu gục đầu vào nhau khóc nức nở. Hôm sau tôi từ giã chú Lâm, về lại Sài Gòn và tìm cách vượt biên.
 Những ngày đầu sau 30 tháng Tư, tôi thấy  TV phát hình vở cải lương hồ quảng của các nghệ sĩ miền Bắc. Họ không có đôi hài để mang, họ mang dép râu, trang phục rất nghèo nàn. Có một vở kịch mà diễn viên mặc áo đầm Liên Sô nói về điện Cẩm Linh chiếu trên TV và các ca nghệ sĩ phải chào cờ của Liên Sô. So sánh với miền Nam, các nghệ sĩ cải lương hồ quảng ăn mặc rất đẹp. Các kịch sĩ không hề diễn kịch về Tòa Bạch Ốc và chúng tôi không hề phải chào cờ Mỹ. Chúng tôi làm việc cho Ban văn Nghệ Hoa Tình Thương/ Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và cơ quan thông tin JUSPAO, chúng tôi chỉ hát những bài ca ngợi quê hương, tình yêu và ca ngợi sư hy sinh của những chiến sĩ VNCH, chứ không hề có những bài ca sắt máu kiểu Cộng Sản “Thề phanh thây uống máu quân thù”.
Với nghệ sĩ thì như vậy, chung quanh chị, còn những người Sài Gón khác ra sao? Chị có còn nhớ một vài điều gì đáng nhớ vào thời điểm đó?
Một buổi trưa, nằm nghe tiếng hát lạ : “Thăm thẳm chiều trôi… khuya anh đi rồi sao trời đưa lối…” tiếng hát đầy xúc cảm như muốn xé cả ruột gan. Tôi bước ra lan can nhìn xuống đường ngay gốc cây trước nhà tôi, một người đàn ông mặc quần lính VNCH và chiếc áo thun cũ, cụt 2 chân, đang ôm đàn hát…Tôi xúc động rơi nước mắt nhớ lại những ngày hát cho các anh chiến sĩ tại các tiền đồn Pleiku, Kontum, Bệnh Viện Cộng Hòa, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh v.v… Hình ảnh quá đau xót của những thương phế binh bị đuổi khỏi bệnh viện đi qua nhà tôi trong buổi chiều 30/04/1975, hình ảnh một người đàn ông ngã quỵ trước cửa trong đêm tối, tôi và các em tôi phụ đưa anh vào nhà, nấu nước trà gừng và pha sữa, rồi cạo gió cho anh, lúc anh tỉnh dậy chúng tôi mới biết anh là lính VNCH. Hôm sau, lại một phụ nữ ngã gục trước nhà tôi vì đói quá, chúng tôi giúp chị qua cơn đói.
Được biết chị vượt biển đi từ rất sớm, đến Mỹ, chị có gặp lại đồng nghiệp và nối lại nghề diễn của mình?
Tôi vượt biên vào cuối năm 1978 với gia đình, đứa con nhỏ nhất của tôi mới 10 ngày tuổi. Chuyến vượt biển hãi hùng như bao nhiêu nạn nhân vượt biển khác. Cuối cùng chiếc tàu nhỏ bị lật  vì sóng to và đụng đá ngầm trước khi vào đến bờ biển Mã Lai, làm cho một số người chết. Gia đình tôi may mắn được cứu thoát và sau đó được định cư tại Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.
Những ngày đầu đến Mỹ, tôi cũng như bao nhiêu người tỵ nạn khác, được chính phủ Mỹ giúp đỡ. Tôi đến trường học tiếng Anh.  Chị Túy Hồng là người đầu tiên mời tôi hát trên đất Mỹ. Tôi dành một buổi hát tại Los Angeles cho anh Bảo Ân. Sau đó lịch trình diễn của tôi khá bận rộn: hát gây quỹ cho Chùa, Nhà Thờ, Kháng Chiến… hát cho các phòng trà, vũ trường, đại nhạc hội… thu video cho nhiều vở kịch và tuồng cải lương và các bài tân nhạc, trình diễn nhạc kịch cho NS Hoàng Thi THơ, trình diễn văn nghệ tại Âu Châu và các nước Canada, Nhật Bản, Úc…
Đã có lúc nào chị quay lại Việt Nam, để nhìn lại, nhớ lại?
Tôi có trở về Việt Nam sau khi Mẹ tôi mất năm 2010, lý do là lo giải quyết tro cốt của Ba tôi để lại từ năm 1973. Trong thâm tâm tôi nguyện lo xong là không bao giờ muốn trở về khi chế độ cộng sản vẫn còn trên quê hương Việt Nam. Trong chuyến đi này tôi có gặp lại vài người bạn thân quen từ thuở nhỏ, những người bà con và vài người bạn đồng nghiệp. Lúc tạm trú tại một khách sạn tại Sài Gòn tôi gặp những người làm việc ở đó nói toàn giọng Bắc mới sau 75 rất khó nghe.
Hầu như những người Bắc 75 đã vào chiếm cứ hết những căn nhà mặt đường khu thương mại của Sài Gòn, trong đó có ngôi nhà trước kia của tôi. Sài Gòn trở nên quá chật chội, lưu thông tắc nghẽn, khói bụi mịt mù, không tôn trọng luật lệ, cảnh sát giao thông làm tiền trắng trợn. Đạo đức suy đồi, tham nhũng tràn lan. Không có một quốc gia nào trên thế giới mà muốn vào hoặc ra khỏi phi trường là phải nộp tiền mãi lộ nếu muốn được yên thân. Đi đâu tôi cũng thấy biểu ngữ:“Quyết tâm làm sạch đường phố”… hết ‘quyết tâm’ này đến‘quyết tâm’ kia, hết ‘phường văn hóa’ đến ‘khóm văn hóa’, mà cán bộ và công an thì đối xử với dân rất vô văn hóa. Tôi chưa từng thấy nước nào giăng quá nhiều biểu ngữ dạy dỗ dân như Việt Nam Cộng Sản.  Tôi cảm thấy xa lạ và cô đơn trên chính quê hương của mình.
Chị chọn lựa ra đi và thật sự không hối tiếc? Được biết chế độ mới ở Việt Nam cũng nhiều lần mời chị trở lại sân khấu và sống với nghề như cũ. Thử nghĩ lại, chị ra đi chỉ vì bất mãn tạm thời hay có thêm những kinh nghiệm nào khác?
Sau 10 năm định cư trên nước Mỹ tôi mới nộp đơn xin gia nhập quốc tịch Mỹ. Ngày tuyên thệ tôi thấy lòng ngậm ngùi nghĩ đến thân phận mình cũng có một quê hương, tại sao hôm nay mình phải xin được trở thành công dân của một nước khác không cùng màu da? Nước mắt tủi hờn lại có dịp rơi.
Sau khi quyết định nghỉ hát tại Việt Nam (1975), tôi không theo dõi các chương trình TV và ít giao thiệp, nên không rõ các sự việc xảy ra cho các nghệ sĩ đồng nghiệp ở Việt Nam. Kỷ niệm đáng nhớ trước khi ra đi là có một ngày anh Nhật Trường đến nhà tìm tôi để mời tôi hát cho anh lưu diễn miền Tây, nhưng tôi bận rộn lo chuyện vượt biên.  Một kỷ niệm khác là vào một buổi tối, tôi gặp Bà Năm Sa Đéc trước một tiệm phở trên đường Hiền Vương (*nay là đường Võ Thị Sáu). Bà Năm Sa Đéc (Má Năm) có đóng chung với tôi trong phim  “Đỉnh Núi Mây Hồng”.  Má Năm vừa đưa tay chỉ lên đầu vừa nói với tôi: “Tụi nó bắt Má Năm học tập cải tạo, nhưng đầu này có sạn rồi… còn lâu ! “. Ánh mắt Má Năm sáng rực nỗi  phẫn uất trong đêm tối.
Tôi có một người em kết nghĩa tên Nguyễn Văn Trảng là đệ tử của ông Anh Lân, khi viết kịch hay viết báo em lấy biệt hiệu là Vương Thế Trung. Em tiếp tục học và đã tốt nghiệp kỹ sư (Phú Thọ), tôi có dự lễ tốt nghiệp của Trảng năm 1973. Mẹ Trảng tu ở chùa Cao Đài, Ba Trảng mất sớm. Một ngày nọ (1975), Trảng ghé nhà tôi và cho biết em đang hoạt động cho Phục Quốc Quân tại Tây Ninh, tôi gởi cho em một số tiền để em hoạt động. Năm 1978 tôi được tin Trảng đã bị bắt.
Năm  1983, soạn giả Trần Trung Quân từ Pháp sang mời tôi thu hình vở cải lương “Nước Mắt Người Đi” với Dũng Thanh Lâm, nội dung kể lại cuộc đời của các chiến sĩ phục quốc anh hùng. Tôi kể chuyện tôi có cậu em kết nghĩa tên Trảng theo Phục Quốc Quân bị cộng sản bắt, không biết giờ ra sao. Bất ngờ, anh Trần Trung Quân cho biết anh có bà Mẹ hay đi chùa Cao Đài ở Tây Ninh vừa qua Pháp đoàn tụ với anh, bà Mẹ kể rằng Hiền Tài Nguyễn Văn Trảng hoạt động phục quốc bị cộng sản gài bắt và đưa ra xử trước tòa án nhân dân. Cộng sản kết tội Nguyễn Văn Trảng là phản động. Trảng hiên ngang hét lớn: “Tôi không phản động, Hồ Chí Minh mới là kẻ phản động”. Trảng bị bắn chết ngay tại chổ. Anh Trần Trung Quân nói anh đã đưa câu nói này của Hiền Tài Trảng vào trong vở tuồng do Dũng Thanh Lâm đóng vai chiến sĩ VNCH. Tôi  lặng người đau đớn nát cả lòng, nhớ đến hình ảnh Trảng đạp xe đạp lộc cộc đến chỗ tập kịch. Tôi đề nghị giúp Trảng mua xe mobilette để làm phương tiện di chuyển. Trảng hứa trả lại sau khi ra trường làm việc. Tôi thương em như thương chính tôi vì nhớ cảnh tôi phải bỏ dở việc học để đi hát kiếm tiền phụ giúp Cha Mẹ nuôi các em, khi Ba tôi gặp khó khăn tài chánh vì Việt Cộng liên tục đắp mô đặt mìn trên tuyến đường Sài Gòn – Vĩnh Bình, làm cho chiếc xe đò của Ba tôi không hoạt động được. Tôi nói Trảng cứ yên tâm, tôi tặng Trảng vì nghèo, mồ côi cha, hiếu học, xem như tôi đóng 2 show kịch TV không lãnh thù lao. Trảng cảm động rưng rưng nước mắt.
Năm 1995, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tác giả bức tượng Tiếc Thương ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa gọi điện thoại tìm tôi. Anh cho biết anh có 1 cô bạn là nữ quân nhân vừa qua Mỹ đang ở Boston đi diện HO có biết một số tin tức về Nguyễn Văn Trảng. Tôi hẹn gặp chị tại nơi anh Thu cư trú ở Garden Grove, California. Chị  cho tôi biết là có 1 thời gian ngắn chị bị giam chung với Trảng,  Trảng thường nhắc đến Kim Tuyến và nói nếu chị ra được khỏi tù thì nhờ chị tìm gặp chị Tuyến, nhắn rằng em lúc nào cũng thương chị Tuyến. Nhưng tiếc thương thay cộng sản đã giết Em. Anh Nguyễn Thanh Thu có ý định tạc một bức tượng của Trảng, nhưng không thành vì lúc đó không ai có được một bức hình của Trảng. Chắc anh Nguyễn Thanh Thu còn nhớ câu chuyện của Trảng.
Tôi mong được gặp lại chị nữ quân nhân mà tôi đã gặp 20 năm trước. Nhớ đến Trảng tôi cảm thương và liên tưởng đến các thanh niên nam nữ trẻ tuổi như Trảng đã anh dũng tham gia phong trào Phục Quốc bị tra tấn, tù đày và sát hại. Tôi có một ông cậu ruột (cậu Lữ Minh Bạch) là một sĩ quan hải quân VNCH, cũng hoạt động phục quốc, đã bị cộng sản bắt và bị kết án 18 năm tù.
Tôi đã khóc khi đọc những bài viết của những người Tù chính trị sau khi định cư ở Mỹ qua diện HO kể về những nhục hình mà những người Cộng sản đã trả thù tàn độc, tôi lại càng căm thù chủ nghĩa Cộng sản.
Tuấn Khanh: Sau một thời gian sống và làm việc ở Mỹ, chắc chị rồi cũng dần dần gặp lại ít nhiều các đồng nghiệp trong Việt Nam qua Mỹ du lịch hoặc biểu diễn, cảm giác của chị thế nào?
Kim Tuyến: Bận rộn với gia đình và các sinh hoạt văn nghệ ở Mỹ, nhưng tôi vẫn thường liên lạc với chị Như Mai và Kim Hoàng vì có mối thân tình từ lúc chị mời tôi đóng vai chánh trong các vở kịch và tuồng cải lương trên TV, đài phát thanh và đóng  phim “Vực Nước Mắt”.
Lúc chị Như Mai điều hành Chùa Nghệ Sĩ, tôi có trợ giúp cho chi phí xây một bức tường quanh nghĩa trang nghệ sĩ.
Năm 1993, tình cờ tôi được biết qua chị Như Mai là Lê Duy Hạnh, chủ tịch Hội Sân Khấu trong Việt Nam, đang có kế hoạch giao lưu văn hóa. Bắt đầu họ sẽ gởi một hai ca nghệ sĩ ít hoặc không bị chống đối đến Mỹ hát trước để tránh bị biểu tình phản đối, sau đó họ sẽ tiếp tục gởi tiếp nhiều ca nghệ sĩ khác ra hải ngoại. Chị Út Bạch Lan đến Mỹ trước tiên. Cô chủ nhà hàng Anh Thy và cô Sáu Châu gọi báo cho tôi biết và muốn tôi cùng gặp chị  Út Bạch Lan. Tôi đến nhà hàng Anh Thy, nhìn thấy anh Duy Khánh và Lâm Tường Dũ, hai anh đưa cho tôi xem tờ quảng cáo quay roneo có hàng chữ: Tái ngộ sầu nữ Út Bạch Lan… với sự bảo trợ của  Duy Khánh, Kim Tuyến, Lâm Tường Vũ.
Họ tự động ghi tên tôi vào thành phần ban tổ chức mà không hề hỏi xem tôi có đồng ý không. Tôi nói: “Tôi chỉ muốn đến thăm chị Út Bạch Lan như một đồng nghiệp đàn em chào mừng chị, nhưng tôi không muốn có tên trong danh sách bảo trợ hay ban tổ chức, dù rằng tôi thương mến chị Út Bạch Lan”.
Sau đó tôi được biết  nhà hàng Seafood World từ chối cho thuê để tổ chức văn nghệ vì ngại sẽ có cuộc biểu tình chống đối, nên tất cả kéo về tổ chức tại quán Anh Thy, một nhà hàng nhỏ hơn.
Từ năm 1993 khi được biết cộng sản phát động kế hoạch giao lưu văn hóa, tôi có suy nghĩ nếu tiếp tục hoạt động văn nghệ thì vô tình tôi tiếp tay cho cộng sản thực hiện ý đồ ru ngủ và đánh phá cộng dồng người Việt tỵ nạn. Tôi đã bất hợp tác từ Việt Nam và đã vượt qua quá nhiều nghiệt ngã, cuối cùng thoát khỏi cộng sản VN, thì tại nơi đất Mỹ này tôi vẫn có cơ hội sống bằng trí óc và đôi tay của mình. Tôi quyết định ngưng hát. Từ năm 1993 tôi chỉ hát một lần để ủy lạo các gia đình H.O. theo lời mời của anh Nguyễn Mậu Quý, chủ tịch Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị. Trong thời điểm đó, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã book tour bên Âu Châu và mời tôi tiếp tục trình diễn nhạc kịch Ả Đào Say, nhưng tôi từ chối. Em Chí Tâm cũng muốn tôi kết hợp trình diễn với anh Thành Được, và rất nhiều nơi mời tôi đi hát, nhưng tôi vẫn không nhận lời mời. Điều tôi suy nghĩ có thể không đúng với những người khác, nhưng tôi không thể, hay đúng hơn không muốn giải bày.
Năm 2002, anh Nhật Trường mời tôi hát giúp cho 2 đêm Văn Nghệ Giã Từ Sân Khấu, tôi nhận lời vì tôi cùng quan điểm với anh khi nghe anh nói anh chống lại kế hoạch giao lưu văn hóa và không muốn đứng chung sân khấu với các nghệ sĩ do cộng sản đưa sang.
Năm 2002, chị Bạch Tuyết qua Mỹ và gọi điện thoại cho tôi, chị nói muốn đến nhà thăm tôi. Tôi vui mừng vì chúng tôi đã từng đi hát chung ở đoàn Thống Nhứt lúc tôi còn là “đào con”. Chị Bạch Tuyết may mắn giờ chót được thay thế vai của chị Diệu Hiền trong vở “Đẹp Duyên Chùa Tháp” tức “Tiếng Hát Muồng Tênh” của soạn giả Mộc Linh. Hai ông bầu Út Trà Ôn và Hoàng Giang sắp xếp cho Bạch Tuyết  thế vai vì Diệu Hiền bỗng nhiên biến mất, trong khi Bạch Tuyết chưa có vai trò nào trong vở tuồng này, còn tôi được đóng vai người em gái nhỏ. Thời gian sau tôi rất thích chị đóng chung với anh Hùng Cường ở đoàn Dạ Lý Hương, vì hai người diễn rất sống động, rất thật trong các vở tuồng xã hội cùng với Ngọc Giàu, Văn Chung, Dũng Thanh Lâm, Thanh Tú.
Phương Uyên lái xe chở chị Bạch Tuyết đến nhà chúng tôi. Sau khi chụp vài tấm ảnh kỷ niệm, tôi mời chị và Uyên đi ăn tối tại restaurant COCO. Chị bảo là chị ăn chay và chỉ ăn được món nào có tôm. Tôi tưởng chị là người Công Giáo.  Tôi hỏi thăm về tin chồng chị là ông Đức bị bắt và bị Việt Cộng tịch thu tài sản, và chắc chị khổ  với Việt Cộng vì ngày xưa chị có bức hình đội nón sắt có hàng chữ “Bỏ Bom Hà Nội” và chị đưa ngón tay cái lên. Chị nói ” Em ơi… ờ thì…nhưng chị không coi trọng tiền bạc, vật chất. Chị tu rồi em ơi, thỉnh thoảng chị được thầy  Thích Thanh Từ là thầy của chị, vì bận quá, phật tử đông quá, đã giao cho chị đi thuyết pháp. Vấn đề anh Đức ở tù thì khi hoạn nạn mình phải chấp nhận, khi nào trời quang mây tạnh thì hai đứa che dù đi chung”.
Tôi hỏi thăm về sinh hoạt và cuộc sống của chị tại VN  thì chị cho biết chị có nhiều bạn trẻ thương yêu, các bạn này có hãng nước uống và cho chị vào một phần hùn nhỏ để sống nên chị không phải bận tâm.  Chia tay ra về tôi thấy vui cho chị vì nghĩ rằng chị đã tu đến mức đã đạt được chữ “ngộ” rồi, vì nhà cửa bị tịch thu, chồng bị bắt bỏ tù mà không oán hận. Tôi thầm nghĩ, nếu là tôi thì tôi sẽ thù ghét CS lắm.
Bạch Tuyết điện thoại cho tôi:“Chị có thằng con trai học Bang Giao Quốc Tế ở bên Anh quốc. Hôm đám cưới cháu chị không qua được, chỉ có cô em kết nghĩa là mẹ nuôi của nó đứng ra tổ chức. Chị muốn nó ra mắt cô chú đồng nghiệp cho phải lễ. Chị mời em và ông xã đến rồi tụi mình đập bồn đập trống cho vui”.  Tôi nhận lời ngay. Đến nhà hàng Palace Seafood nơi tổ chức tôi nhận thấy đây là một đám cưới vì cô dâu chú rễ mặc khăn đống áo dài theo trang phục đám cưới. Có nhiều ca nghệ sĩ đến tham dự và chúng tôi cùng ca hát đóng góp thật sôi nổi với MC Trần Quốc Bảo. Cô dâu Mỹ trông khá xinh xắn dễ thương. Trước khi tiệc tàn, chị đến siết tay tôi và hẹn đến chơi nhà tôi vài hôm trước khi về lại Việt Nam.
Một buổi chiều, trên đường đến rước chị, chúng tôi ghé mua tờ Việt Báo. Tôi giở tờ báo ra xem thì giật mình khi thấy hình chị Bạch Tuyết đang quỳ lạy khán giả trên sân khấu tại San Jose với hàng tít to: “Bạch Tuyết đã quỳ lạy khán giả vì bị biểu tình phản đối”. Chúng tôi rước chị ở khu mobile home trên đường Bolsa. Trong khi ông xã tôi đổ thêm xăng tại góc đường Brookhurst và Hazard thì chị cầm tờ Việt Báo lên đọc rồi chị nói lớn: “Cũng thằng Mỹ nữa”. Tôi nói : “Chuyện gì vậy chị?”. Chị tiếp: “Thằng Mỹ không có tư cách gì để lật đổ chế độ Taliban”. Tôi hỏi: “Sao vậy chị ?”. Chị nói “Em ở Mỹ lâu mà em không biết gì sao Tuyến, thằng Mỹ làm giàu nhờ bán vũ khí, nó muốn quậy lên để bán vũ khí”.
Trời ơi, sao luận điệu và giọng nói này của Bạch Tuyết giống y như phát ngôn viên Việt Cộng Phan Thúy Thanh mà mỗi sáng lái xe di làm tôi hay nghe tin tức từ đài VOA và BBC.
Về đến nhà, chị cầm tay tôi xem, thoạt đầu, tôi nghĩ chị biết coi bói. Chị hỏi : “Tuyến, em có bao nhiêu căn nhà?”. Tôi đáp: ” Một căn nhà mà còn trả chưa xong đây chị”.
Chị lại hỏi: “Em có bao nhiêu tiền trong nhà băng?”. Tôi ngạc nhiên với 2 câu hỏi này. Chị bảo tôi về Việt Nam chơi và ở với chị. Tôi nói: “Em ghét Việt Cộng. Vượt biên suýt chết rồi chị”.
Chị nói: “Thôi mà em, đừng nghĩ vậy, chế độ bây giờ tốt đẹp hơn chế độ trước nhiều lắm”.
Ông xã tôi bất bình nói: “Chị nói chế độ bây giờ tốt đẹp tại sao sau khi chấm dứt chiến tranh họ lại bắt sĩ quan, công chức và những nhà trí thức VNCH giam cầm đày ải bỏ đói cho đến chết trong các trại tù cải tạo?”.
Chị lại nói: “Anh không biết chứ Tuyết vô thư viện bên Anh đọc sách, có nhiều nước tan chiến tranh rồi họ đem bắn bỏ hết, rồi ai làm gì họ”. Tôi bực mình nói: “Tốt đẹp gì chị, chế độ gì không có tự do tôn giáo, như Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị nhốt vào tù, Hòa Thượng Thích Quảng Độ bị quản chế”. Bạch Tuyết nói: “Ai biểu sống trong chế độ của người ta mà chống đối thì là chuyện đương nhiên”.
Tôi thất vọng ở tầm kiến thức nhỏ hẹp lệch lạc và lối lý luận sặc mùi cộng sản của ‘tiến sĩ’ Bạch Tuyết. Chị còn hết lời ca tụng tâng bốc Nguyễn Minh Triết  nói anh ta giỏi đủ mọi thứ, trong khi ở thời điểm đó Nguyễn Minh Triết còn hoạt động ở Sài Gòn và tôi chưa biết anh ta là ai.
Khi cuộc bàn luận quá căng thẳng tôi đổi đề tài để nói về văn nghệ. Tôi nói “Má em hay  xem cải lương, thỉnh thoảng em cũng xem  và thấy Tài Linh diễn xúc động, chắc Tài Linh hiền lắm hả chị?”. Bạch Tuyết nói :“Những người nổi tiếng không ai hiền hết em”.
Rồi chị kể về anh Hùng Cường, chị bảo là Hùng Cường yêu chị lắm và muốn cưới chị nhưng chị từ chối (?). Chị không biết rằng trong thời gian sống ở Mỹ anh Hùng Cường rất thân với chúng tôi và hay kể về những cuộc tình của anh, dĩ nhiên trong đó có Bạch Tuyết, anh Hùng Cường đã có mối quan hệ sâu đậm từ Bạch Tuyết ra sao, và chị đã năn nỉ anh thế nào. Tôi nghĩ nếu Hùng Cường còn sống tôi sẽ gọi anh đến để nghe Bạch Tuyết nói dóc. Đêm khuya quá, chẳng lẽ tôi đẩy Bạch Tuyết ra khỏi nhà, còn đưa về thì tôi mệt rồi sau một ngày dài làm việc.  Chị hỏi tôi có muốn gởi tiền giúp Chùa Nghệ Sĩ không, tôi nói đã giúp rồi, và lần này chỉ gởi ít tiền tặng Má Bảy Phùng Há.
Trước đây theo lời kêu gọi của Má Bảy và 2 chị Như Mai Kim Hoàng, Chùa Nghệ Sĩ không có rào nên thỉnh thoảng phát giác ra mồ mả bị đào bới vì họ muốn kíếm vàng bạc, đồng thời số nghệ sĩ già không nhà cửa phải sống lang thang, nên yêu cầu chúng tôi giúp đỡ tiền xây rào và mua tôn lợp phía sau chùa cho các cô bác có chỗ tạm trú. Chúng tôi đã gởi tiền giúp.  Sau đó chị Như Mai cho biết ông Võ Văn Kiệt chấp thuận cấp cho 1 miếng đất ở quận 8 để xây Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ. Tiền chúng tôi đã gởi, chị Như Mai lo xây rào và trùng tu trong Chùa vẫn còn dư. Tôi yêu cầu chị Như Mai bỏ số tiền đó vào bank để lấy lời lo thuốc thang cho những nghệ sĩ già đau yếu, còn Nhà Dưỡng Lão hãy để cho chính quyền cộng sản lo.
Tôi không bao giờ quên ơn Má Bảy Phùng Há, người mời tôi đóng nhiều vở tuồng trên TV, đã chỉ dạy thêm cho chúng tôi từ anh Thanh Sang đến anh Thành Được. Má Bảy cũng từng nói:“Mấy ổng muốn mời Má làm chức này chức kia, nhưng  Má nói Má không thích làm chính trị, Má chỉ thích làm Văn Nghệ mà thôi”. Tôi lấy 100 dollars bỏ vào bao thơ trao cho chị Bạch Tuyết nhờ chị đem về trao cho Má Bảy. Vài tuần sau tôi gọi điện thoại thăm Má Bảy và hỏi xem Má Bảy có nhận được tiền không. Lúc đó có mặt ông bầu Xuân, tôi nghe tiếng Má Bảy nói lớn: “Ông Xuân ơi, Kim Tuyến nói có gởi Bạch Tuyết đem về cho tôi 100 mà sao không thấy?”.Ông Xuân nói: “Bạch Tuyết bảo sung vào quỹ của Chùa”. Tôi không hiểu tại sao chị Bạch Tuyết lại làm khác lời dặn của tôi, để cuối cùng Má Bảy không nhận được gì cả !
Một lần nọ anh Hùng Cường dẫn anh Sáu Thanh đến nhà thăm chúng tôi. Anh Sáu Thanh là 1 đại thương gia trước năm 1975, chính anh là người cung cấp toàn bộ tiền bạc và phương tiện để thành lập đoàn cải lương Hùng Cường – Bạch Tuyết. Sáu Thanh giao đoàn cải lương cho Hùng Cường và chị Bạch Tuyết vì anh rất bận với các công ty lớn của anh. Đoàn cải lương này là một đại ban, được khán giả nhiệt tình ủng hộ, lần trình diễn nào cũng bán hết vé, thế mà Bạch Tuyết khai lỗ. Trước mặt chúng tôi, anh  anh Sáu Thanh nói với Hùng Cường:“Anh lập đoàn hát này cho chú mầy mà chú mầy ham chơi quá, để cho con Tuyết lộng hành, nó đưa người nhà của nó vào, nó kiểm soát mọi chi thu, cứ khai lỗ, để cuối cùng phải giải tán đoàn hát”.
Ngày 27/10/2002 Bạch Tuyết tổ chức ra mắt CD Kinh Pháp Cú chuyển thể cải lương tại Chùa Việt Nam trên đường Magnolia của Thượng Tọa Thích Pháp Châu. Ông Thượng Tọa này từng có tai tiếng vì đã lăng nhăng tình ái với một nữ Phật tử trẻ. Cuộc điện đàm hẹn hò dâm dục ở hotel của ông sư này với cô gái đã bị thu băng toàn bộ. Vì vậy cho nên truyền thông và báo chí hải ngoại kêu gọi biểu tình chống Việt Cộng Bạch Tuyết và Thượng Tọa Pháp Châu. Hôm đó có rất nhiều người đến biểu tình, trong đó có tôi, trước cửa chùa. Người biểu tình cho phát thanh cuốn tape dâm dục của Thượng Tọa Pháp Châu và hô đả đảo Bạch Tuyết. Tôi nghĩ nếu anh Hùng Cường còn sống chắc anh cũng sẽ đến biểu tình chống Bạch Tuyết, vì anh là người rất căm thù cộng sản. Dù rằng khi còn sống anh đã từng kể chính anh là người giới thiệu anh Đức (một “Việt Kiều Yêu Nước” tại Pháp) cho Bạch Tuyết sau vụ Bạch Tuyết bị vợ của ĐT Hoàng Đức Ninh làm nhục.
Trong một dịp thăm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và đi ăn tối với anh, chúng tôi có kể cho anh nghe về Bạch Tuyết và Kim Cương. Trong một lần nói chuyện trên Radio, anh Thiện đã có đề cập đến Việt Cộng Kim Cương và Bạch Tuyết. Tôi quý mến anh Nguyễn Chí Thiện vì tư cách và sự dũng cảm của anh. Chỉ vì can đảm dám nói lên sự thật của lịch sử và sự thật tàn ác của chế độ cộng sản mà anh bị gần 30 năm tù ở miền Bắc. Trong tù anh vẫn đứng thẳng, hiên ngang làm thơ vạch trần sự dã man của chế độ và dám chửi thẳng Hồ Chí Minh.
Những gì tôi kể về Bạch Tuyết là hoàn toàn sự thật, không thêm bớt, không trái với lương tâm. Một số đông trong đó có tôi vẫn còn nhiều hoài nghi về Bạch Tuyết:
– Bạch Tuyết không học Trung Học, không học Đại Học  thì làm sao có bằng Tiến Sĩ  ?
– Bạch Tuyết không rành tiếng Anh làm sao vào thư viện của Anh đọc sách và tài liệu.
– Bạch Tuyết không nói và viết lưu loát tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức thì làm Luận Án Tiến Sĩ  bằng tiếng gì ? Không lẽ làm luận án ở ngoại quốc mà dùng tiếng Việt ?
– Bạch Tuyết có biết rằng mọi người đều biết trên thế giới có nhiều bằng Tiến Sĩ Danh Dự được cấp do sự giới thiệu hay quen biết. Có các trường Đại Học dỏm, không được chấp nhận, chỉ cần nộp cho họ vài ngàn dollars là có bằng Tiến Sĩ giấy.
– Bạch Tuyết thù ghét Mỹ, vậy tại sao thích đi sang Mỹ, cho con học ở Mỹ, đi làm ở Mỹ, lấy vợ Mỹ. Phải chăng Bạch Tuyết muốn tìm một “bãi đáp an toàn” sau này ở  Mỹ ?
Những câu chuyện của hôm qua bao giờ cũng thật xúc động, dù chỉ là kỷ niệm. Nhưng có khi nào chị nhìn thấy sân khấu ở quê nhà, sự rộn rịp hoặc giàu có của giới đồng nghiệp mà chạnh lòng? Hoặc chị có lúc nào nghĩ rằng nếu chị nhượng bộ, ở lại, thì cũng đã có một cuộc sống sinh hoạt sôi nổi, nhiều thu nhập như các nghệ sĩ khác?
Sau 37 năm sống trên đất Mỹ và 41 năm miền Bắc cai trị miền Nam, tôi vẫn thường theo dõi các tin tức từ quê nhà và rất buồn khi thấy cộng sản đã tạo ra một giai cấp mới, giai cấp cán bộ, con ông cháu cha, tư bản đỏ, giai cấp này lộng hành, áp bức bóc lột người dân khốn cùng. Luân lý, đạo đức suy đồi, cuộc sống bất an, luật pháp bất minh, môi trường nhiểm độc, tham nhũng tràn đầy… Trong khi đó chính quyền lại “ác với dân, hèn với giặc” trước hiểm họa mất nước vào tay giặc Tàu.
Tôi không dùng danh từ “chính quyền” cho CSVN, vì không ai bầu cái Đảng cướp này cả. Chúng cưỡng chiếm miền Nam, áp đặt chể độ độc tài đảng trị, thì không thể dùng danh từ Chính quyền. CSVN thắng VNCH do tuyên truyền dối trá, quỷ quyệt, gian manh do HCM đem chủ thuyết ngoại lai quái đản từ Liên Sô,Trung Cộng đặt lên đầu dân VN. CSVN xem văn nghệ sĩ là bộ môn tuyên truyền hữu hiệu nhất, họ dùng nghệ sĩ để ru ngủ đồng bào quên đi tội ác mà chúng gây ra. Kim Cương là một điển hình cùng một số văn nghệ sĩ được họ sử dụng.
Tôi thấy mình đã quyết định đúng khi vượt biên rời khỏi chế độ cộng sản VN để cho gia đình và con cháu tôi có một cuộc sống an lành và tốt đẹp hơn. Tôi đã quyết định đúng khi chọn nước Mỹ, một nước tôn trọng tự do dân chủ và nhân quyền, một nước thật sự của dân, do dân và vì dân.
Dạ, xin cám ơn chị,
28/7/2016
Tuấn Khanh (ghi)

Posted in Miền Nam sau 30-4-1975, Nhan Vat, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: “Là người đóng thuế, tôi phản đối vay vốn Trung Quốc!”

Posted by hoangtran204 trên 29/07/2016

Chuyên gia Phạm Chi Lan: Là người đóng thuế, tôi phản đối vay vốn Trung Quốc!

Dân trí

Thứ sáu, 29/07/2016 – 06:00

Xung quanh đề xuất đang có dư luận trái chiều mới đây về vay một ngân hàng của Trung Quốc 300 triệu USD để làm đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái, chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ đã bày tỏ sự phản đối.
 

>> Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói gì về dự án đường vay Trung Quốc 7000 tỷ đồng ?

>> Cân nhắc vay Trung Quốc 300 triệu USD cho cao tốc Vân Đồn – Móng Cái

Thưa bà, gần đây Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) có đề xuất vay vốn 300 triệu USD của một ngân hàng Trung Quốc để phát triển cao tốc Vân Đồn – Móng Cái? Bà bình luận gì về đề xuất này?
Có cần thiết vay nợ làm cao tốc?
– Tôi có nghe và cảm thấy rất lo lắng. Trước tiên là chúng ta cần xem xét sự cần thiết làm 1 tuyến cao tốc này trong bối cảnh phải đi vay hay không khi nợ công đang lớn. Bên cạnh đó, cơ chế vay vốn sẽ thế nào, giao hết cho tổng thầu Trung Quốc hay sao?
Bộ GTVT đề xuất vay Trung Quốc 300 triệu USD để làm đường cao tốc Vân Đồn - Móng Cái, thuộc tỉnh Quảng Ninh (ảnh minh họa)
Bộ GTVT đề xuất vay Trung Quốc 300 triệu USD để làm đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái, thuộc tỉnh Quảng Ninh (ảnh minh họa)
Hơn nữa, làm đường cao tốc trên khá nhạy cảm về an ninh quốc phòng. Ở đó từng có những dự án gây bất lợi cho Việt Nam như địa phương từng cho họ làm 1 khu sân golf án ngữ vị trí quan sát quốc phòng quan trọng.
Làm tiếp con đường này có mang lại lợi ích cho khu vực Đông Bắc hay không thì đây là câu hỏi lớn, cần giải thích. Đặc biệt với Trung Quốc, tham vọng của họ không hề suy giảm, không hề che giấu là làm một con đường hai vành đai hoặc đường tơ lụa trên biển… Tất cả cái đó, có đáng để Việt Nam làm cao tốc ở chỗ nhạy cảm hay không chứ chưa nói vốn của ai.
Tại sao bà lại lo lắng khi vay vốn của ngân hàng Trung Quốc để làm đường ? Cũng có người cho rằng đây cũng là một nguồn lực để Việt Nam tận dụng phát triển?
– Vốn vay đúng là nguồn lực, dù giá rẻ nhưng chúng ta cũng phải xét toàn cục. Tôi nói như này, dự án giao thông của Trung Quốc tại Việt Nam như đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông là minh chứng và bài học. Việt Nam vay 1 đồng nhưng giờ đắt thêm gấp 3 đồng rồi mà vẫn chưa xong. Vay của họ ràng buộc đủ mọi thứ, trong khi rất nhiều nghi ngờ về chất lượng công trình rồi. Quyết liệt như ông Đinh La Thăng đã từng phải thốt lên, vay của Trung Quốc bây giờ đành phải chịu, không làm gì được.
Tại sao vết xe đổ như thế ? Điều tệ hại chưa kết thúc thì lại lao vào cái mới. Chúng ta thừa biết vay vốn của Trung Quốc thì phải đi kèm nhiều điều kiện: Vốn của người ta thì công nghệ của người ta, thầu phụ của người ta thậm chí lao công cũng của người ta nốt, vật tư của người ta hết. Họ cho vay để bán hàng họ, tạo việc làm cho họ, trong khi thời gian tiến độ và chất lượng chúng ta không kiểm soát được.
Vốn Trung Quốc, bài học xương máu ở đường sắt Cát Linh – Hà Đông
Nếu chúng ta giỏi trong giám sát thì cũng không để cho Cát Linh – Hà Đông chậm như vậy, không để cho đường ống nước sông Đà vỡ lần thứ 18 liên tiếp. Thế thì tất cả bài học đó rất rõ rồi. Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nhạy cảm đến mức, ngay cả những người dân bình thường cũng không muốn vay mượn của Trung Quốc. Vậy tại sao các cơ quan Nhà nước lại cứ muốn nhảy vào ?
Ngoài các dự án hạ tầng thì rất nhiều dự án liên quan đến Trung Quốc như dự án Nhà máy thép Thái Nguyên, các dự án xi măng, thủy – nhiệt điện… đủ các thứ. Bất cứ dự án nào của Trung Quốc cũng đầy rẫy vấn đề. Là người đóng thuế, tôi không ủng hộ vay vốn Trung Quốc vì chỉ mang lại lợi cho Trung Quốc mà tác hại cho Việt Nam là rất lớn.
Phải nói thên là Trung Quốc đang trong quá trình chuyển đổi tăng trưởng, đi kèm là các công nghệ cũ được thay bằng công nghệ mới, vật liệu cũ bằng vật liệu mới, và vòng đời của các công nghệ, kỹ thuật cũ này sẽ được xuất khẩu sang các nước khác qua ODA, qua vốn vay.
Bài học này chính bản thân các nước Châu Phi thì họ đã nhận ra rồi, đi kèm vốn rẻ của Trung Quốc là nhiều rủi ro về tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Điều tôi đau chính là quá nhiều bài học đau xót vậy mà các người trách nhiệm tại Việt Nam vẫn chưa rút được kinh nghiệm, tôi không hiểu được.
Làm đường thông thương tốt với Trung Quốc?
Việc xây dựng đường cao tốc, sẽ giúp Việt Nam khai thác thị trường tiêu thụ của Trung Quốc, giúp kinh tế Việt Nam xuất khẩu, giảm nhập siêu từ nước này, đó là giả thuyết hợp lý?
– Vấn đề của Việt Nam là chơi với Trung Quốc vừa có lợi thế, nhưng vừa có thách thức lớn. Nhưng tôi cảm nhận được qua các con số thì Việt Nam được hưởng lợi rất ít mà thách thức phần lớn. Bây giờ để cải thiện nhập siêu từ Trung Quốc phải tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế chứ không chỉ dựa vào việc làm một con đường.
Quan hệ thương mại với Trung Quốc không trở ngại vì do con đường. Hàng năm Việt Nam nhập khẩu hàng chục tỷ USD từ Trung Quốc, cả trên đường bộ, đường biển, hàng không? Đó có phải là khó khăn do con đường hay không? trong khi xuất khẩu của ta sang Trung Quốc èo uột lại bảo thiếu đường.
Cải thiện phải cải thiện ở chỗ khác. Trong các tuyên bố của Trung Quốc, họ vẫn nói cải thiện thương mại với Việt Nam, nhưng họ nhập cái gì ?, toàn nguyên liệu thô, đào hết mỏ nọ đến mỏ kia. Rồi trong việc nhập khẩu của phía Trung Quốc, cũng có nhiều bài, thủ thuật như: nhập khẩu gạo kém chất lượng, chè trộn phân lân rồi đi rêu rao chất lượng của Việt Nam xấu để chúng ta mất thương hiệu.
Bà phản đối nhưng đặt giả sử làm con đường cao tốc là thiết yếu, vậy bà có sáng kiến gì? Hơn nữa, trong quan hệ kinh tế với Trung Quốc, nước này vẫn không phải là chủ nợ của Việt Nam, các nhà tư bản Trung Quốc không phải nhà đầu tư lớn, sao chúng ta phải lo?
– Hiện nay, theo quan sát của tôi Trung Quốc không phải là đối tác đầu tư, nhà đầu tư lớn tại Việt Nam. Các dạng đầu tư của Trung Quốc chủ yếu là qua bỏ thầu giá rẻ, tổng thầu EPC khá phổ biến. Hiện đã hơn 90% tổng thầu ở Việt Nam là rơi vào tay Trung Quốc. Giá bỏ thầu của họ rẻ nhưng rồi thời gian lại bị kéo dài, giá tăng lên.
Nếu hiện nay, chúng ta cần làm, thì hình thức kêu gọi vốn bằng hình thức hợp tác công tư (PPP) là hình thức hợp lý. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều vấn đề như chi phí quá cao, có rất nhiều cái thiếu minh bạch, bản thân các dự án không có chủ đầu tư tốt cho nên bức xúc cho xã hội, nghi ngờ PPP. Tôi phải nhấn mạnh, bản chất phương thức PPP như BOT làm đường là không xấu, nhưng vì mình làm tồi nên không kêu gọi được dự án tốt, không vì thế mà nói PPP không tốt được, trong khi thế giới đã rất nhiều dự án.
Tuy nhiên, phía các đơn vị đưa ra đề xuất lại cho rằng, không thu hút được các nhà đầu tư theo phương thức PPP vì tổng vốn dự án quá lớn lên đến 300 triệu USD, không nhà đầu tư nào đáp ứng được?
– Tôi cho rằng, nếu dự án lớn ta chia nhiều cấu phần, phần nào đấu thầu tư nhân, kêu gọi được vốn của tư nhân thì ta làm triệt để nhằm giảm đầu tư ngân sách. Còn phần nào khó quá, tư nhân chê, không ai nhận thì Nhà nước đứng ra làm. Đấy là việc dự án cấp thiết, quan trọng.
Các cơ quan Nhà nước đã thử kêu gọi chưa hay mới đưa đề án ra đã nói rằng tư nhân họ không làm. Các anh có kêu gọi tư nhân chưa mà vội kết luận tư nhân không muốn tham gia vào. Mới đề xuất dự án mà đã giao hẳn cho tổng thầu, giao hẳn như vậy thì đâu còn quy trình để chúng ta quản lý, giám sát nữa, đấu thầu hay chọn lựa nữa.
Xin trân trọng cảm ơn bà.
Nguyễn Tuyền (thực hiện)
______

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói gì về dự án đường vay Trung Quốc 7000 tỷ đồng ?

Dân trí
Thứ năm, 28/07/2016 – 16:31 

Như Dân trí đã đưa tin, Bộ Giao thông Vận tải vừa đề xuất vay vốn thực hiện dự án xây dựng đường cao tốc Vân Đồn – Móng Cái (96 km) từ Ngân hàng Trung Quốc với tổng vốn vay khoảng 7000 tỷ đồng. Theo Bộ này, Bộ Ngoại giao cũng đã đồng thuận chủ trương trên. Chiều ngày 28/7, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã trả lời Dân trí về dự án này:
>> TS Đinh Thế Hiển: Chưa thấy dự án nào vốn vay, nhà thầu Trung Quốc mà trọn vẹn cả!
>> Cân nhắc vay Trung Quốc 300 triệu USD cho cao tốc Vân Đồn – Móng CáiThưa Phó Thủ tướng, được biết là Bộ Ngoại giao cũng ủng hộ việc vay vốn thực hiện dự án trên. Xin cho biết, vì sao Bộ ủng hộ việc này? Phạm Bình Minh- Hiện nay, chúng ta có nhu cầu rất lớn trong việc đầu tư, xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, chúng ta lại không có nguồn vốn, tuy có một số nguồn vốn trong nước nhưng không đủ để phát triển cơ sở hạ tầng. Như vậy, chúng ta có các khoản vay, các khoản vốn hỗ trợ phát triển (ODA) của các nước cho chúng ta thì việc Trung Quốc hay nước nào đó có nguồn vốn ODA cho chúng ta, đáp ứng yêu cầu của chúng ta thì chúng ta sử dụng. Chứ không phân biệt nước này, nước kia. Cái chính là nguồn vốn đó đáp ứng điều kiện của chúng ta hay không, đảm bảo chúng ta có khả năng vay, trả nợ.Nhưng nhiều người dân, giới chuyên gia kinh tế cũng có lo ngại khi nhìn vào một số công trình dự án đã từng vay vốn của Trung Quốc trước đây nhưng quá trình triển khai có nhiều vấn đề. Ví dụ như họ cho vay nhưng buộc ta phải nhận nhà thầu Trung Quốc nhưng nhà thầu đó thực tế năng lực lại yếu, làm kéo dài thời gian thực hiện dự án, mất hiệu quả vốn vay ?Phạm Bình Minh- Nguồn vốn vay ODA của nước nào cũng vậy, cũng kèm theo các điều kiện của các nước cho vay vốn ODA. Không phải Trung Quốc mà các nước khác cũng vậy: Vay ODA của chúng tôi với lãi suất thấp hơn vay thương mại thì phải chấp nhận nhà thầu của chúng tôi tham gia, hoặc sử dụng máy móc, công nghệ của họ…Với các điều kiện như vậy, chúng ta cũng xem xét, nếu vay mà vẫn có lợi thì chúng ta phải sử dụng nguồn lực đó thôi.

Một ví dụ nhãn tiền là Dự án đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông (Hà Nội), cũng vay vốn Trung Quốc nhưng hậu quả hiện đã khá rõ ràng thì người dân lo ngại là có cơ sở chứ, thưa Phó Thủ tướng?

Phạm Bình Minh- Phải nói thế này: Khi đánh giá dự án tiến triển nhanh hay chậm, nó không chỉ có một nguyên nhân, có rất nhiều nguyên nhân khác như có thể do quá trình giải phóng mặt bằng chậm, có nguyên nhân sử dụng hiệu quả các nhà thầu phụ…Chứ không phải do đồng tiền nó làm chậm mà sử dụng thế nào cho hiệu quả thì cơ quan, đơn vị triển khai phải biết sử dụng. Nhưng thực tế, chúng ta cũng phải nhìn nhận, nếu dùng nguồn vốn vay mà dự án bị kéo dài thì vốn vay càng đắt lên, thời gian trả nợ kéo dài, thời gian ân hạn ngắn lại. Chúng ta không triển khai nhanh thì sẽ thiệt hại nhiều.

Mạnh Quân (thực hiện

Phú Trần :Bao nhiêu dự án rồi mà chưa chừa à? Muốn phá cho nát đất nước này à???

Nguyen Viet Vẫn chưa chừa Trung quốc sao ? …rồi chết ko có chỗ chôn !

Trinh Dinh Long Nhìn dự án đường sắt trên không Cát Linh- Hà đông còn sờ sờ ta đó, bao năm rồi vẫn chưa xong và lãng phí, ai chịu.
Vay tiền của kẻ thù xâm lược, ôi !

 

Read more Tầm nhìn của Quốc Gia Việt Nam qua bức tranh 1951. Trong thời điểm 1951, tên gọi của nước ta là Quốc gia Việt Nam. Lá cờ vàng với ba sọc đỏ đã có rồi. Biên giới của VN từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Vua Bảo Đại là Quốc trưởng và Thủ tướng Quốc Gia Việt Nam là Trần Văn Hữu. Thủ tướng Trần Văn Hữu đến San Francisco họp 1951, ký vào văn bản của LHQ về lãnh thổ và chủ quyền, và công khai tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Không một quốc gia nào trong số 151 nước tham dự Hội Nghị San Francisco 1951 phản đối lời tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu. 

Thời điểm 1951, ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn vẫn còn ở trong rừng. Đầu năm 1950, ông HCM bí mật qua Trung Cộng xin vũ khí về phát động chiến tranh.

Danh hiệu nước VNCH, nền Đệ I Cọng Hòa, ra đời khi TT Ngô Đình Diệm nhậm chức 26-10-1955. 

Vào google.com, viết chữ

-Prime minister Tran Van Huu at San Francisco 1951,

-click vào chữ search.

-Sau đó, click vào Images.

Sẽ thấy các tài liệu cũ trước 1951 nói về chủ quyền HS và TS của Việt Nam. Tất cả các nước khác ngay cả TQ, Đài Loan, Malaysia,… đều không phản đối lời tuyên bố của TT Trần Văn Hữu năm 1951.

Trang blog này có nhiều bài về HS và TS rất có giá trị.

Viet Nam’s Sovereignty Over Hoang Sa And Truong Sa Archipelagoes

Sẽ nhìn thấy lập trường bán nước của đảng CSVN năm 1956 khi đảng và nhà nước Việt Cộng tuyên bố rằng: Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Cộng! Tại thời điểm này, ông HCM là lãnh tụ cao nhất của Bắc Việt, hay VNDCCH.

Đến năm 1957, vì chịu không nổi áp lực của việc thi hành ấp chiến lược của TT Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu, Lê Duẩn từ miền nam bỏ chạy ra bắc 1957.

https://groups.google.com/forum/m/#!msg/soc.culture.vietnamese/u6sAlf9B5WY/_VRCKLQMjMQJ

________

 

 

Posted in Làm ăn chung với Trung Quốc, Nhan Vat Chinh tri, Phỏng Vấn, Quan Hệ Viêt Nam và Trung Quốc- 1990- Nay | Leave a Comment »

► Họp báo vụ Cá Chết, 30-6-2016- Formosa đền 500 triệu đô la

Posted by hoangtran204 trên 30/06/2016

HỌP BÁO vụ CÁ CHẾT
30-6-2016
TƯỜNG THUẬT TRỰC TIẾP
họp báo Chính phủ về nguyên nhân cá chết16h50.
Các bạn thân mến! Chỉ còn ít phút nữa cuộc họp báo CP sẽ diễn ra. Hiện nay, tôi đã có mặt tại phòng họp. Lúc này đã có hàng chục phóng viên các báo, đài tề tựu sẵn sàng đưa tin. Bên cạnh phòng viên VN còn có khá nhiều phóng Viên quốc tế.
Theo KH cuộc họp báo sẽ được bắt đầu lúc 17h hôm nay, nhưng bây giờ đã quá 5 giờ chiều rồi.

Đúng 5h7ph cuộc họp báo bắt đầu. Chủ trì cuộc họp báo như thường lệ là Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng. Tham gia còn có bộ trưởng các bộ Thông tin và truyền thông, Quốc Phòng, Công an, Ngoại giao, VHTTDL, NV, các tuỳ viên báo chí một số ĐSQ tại Việt Nam.BT, CN VPCP Mai Tiến Dũng mở đầu bài phát biểu bằng giọng rất dõng dạc:

Hôm nay CP họp báo 2 nội dung: Thông báo ban hành chi tiết hai luật Đt và luật doanh nghiệp có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016.

Nội dung thứ hai công bố nguyên nhân cá chết tại 4 tỉnh miền trung trong thời gian qua.

Nội dunh thứ nhất không đáng quan tâm lắm. Hai bộ luật này đã được ban hành các văn bản hướng dẫn.

Nội dung thứ hai: Nguyên nhân sự cố cá chết trong tháng tư năm 2016 tại ven biển 4 tỉnh Quảng Bình Quảng Trị Thưa thiên huế… đã gây thiệt hai lớn, ảnh hưởng cuộc sống, môi trường, an ninh xã hội.

Ngay sau khi xảy ra sự cố, Thủ tướng chính phủ đã chỉ đạo tìm rõ nguyên nhân, đánh giá thiệt hại, và trợ giúp ngư dân.

Thủ tướng giao Bộ KHCN chủ trì, phối hợp các bộ, ngành liên quan huy động 100 nhà khoa học điều tra nguyên nhân vụ việc.

 
 

Đã phát hiện nguồn thải lớn nhất tại Vũng Áng, Hà Tĩnh, chứa phức hợp hỗn hợp có tỷ trọng lớn hơn nước biển làm hải sản chết.

Đã phát hiện CTy Formosa xả thải ra biển có chứa độc tố phenol vượt quá cho phép.

Các nhà khoa học và quản lý kết luận Cty Formosa là đơn vị gây ra vụ cá chết này.

Với chứng cứ xác định, Bộ Tài nguyên và MT cùng các bộ, ngành, địa phương đã nhiều lần làm việc với công ty nói trên.

Ngày 28.6, công ty Formosa đã thừa nhận xả thải gây ô nhiễm môi trường làm các chết.

CTy này đã cam kết chịu trách nhiệm hậu quả này và sẽ đền bù 11.500 tỷ, tương đương 500 triệu đô la.

Formosa cam kết sẽ không để tái diễn tình trạng này nữa và sẽ tổ chức sản xuất an toàn hơn.

Với nhận thức sâu sắc hậu qủa vừa qua, Thủ tướng CP chỉ thị các địa phương tổ chức đền bù thoả đáng cho các hộ dân.

Yêu cầu Cty Formosa thực hiện các cam kết nói trên, triển khai quan tắc môi trường cũng như đảm bảo an toàn theo quy định của CP VN.

Các cấp các ngành không để xảy ra những tổ chức, các nhân sai phạm liên quan đến sự cố MT tại các tỉnh MT vừa qua.

CP đánh giá cao các nố lực quyết tâm cuả các nhà khoa hoc. Thủ tướng cũng cảm ơn CP Đài Loan đã hợp tác ủng hộ VN giải quyết hậu quả vụ các chết này.

Thủ tướng cũng cho rằng đây là bài học chung cho tất cả chúng ta. Hết thông báo!

Ngay sau đó, Một đoạn video clip Ban lãnh đạo Tập đoàn Formosa xin lỗi nhân dân và CP VN. Lời xin lỗi của họ nghe rất thành khẩn và mong muốn được khắc phục hậu quả, tạo điều kiện được tiếp tục sản xuất tại VN, thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường.

17h36 ph hết clip.

Dưới đây là 4 ảnh của báo Dân Trí

 

 

 

Video họp báo Xem tại đây:

http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chuan-bi-cong-bo-thu-pham-khien-ca-bien-chet-hang-loat-3428561.html

Clip nói trên sẽ được cung cấp phát trên các kênh truyền hình và các trang tin báo chí khác.
Cuộc họp báo được chuyển sang phần phỏng vấn.

Nôi dung phỏng vấn…

 

@ https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10201707817534870&id=1763201593

______

________

Cá đông lạnh VN bị thu hồi ở Mỹ

|

Theo một bản tin từ Syracuse, New York, khoảng 25,760 pounds (gần 11,700 kí lô) cá phi-lê đông lạnh từ Việt Nam được cung cấp cho hệ thống siêu thị Aldi cần được thu hồi, vì cá này chưa được thanh tra trước khi phân phối tại Hoa Kỳ.

Mẫu gói cá đông lạnh cần được thu hồi trong hình do Bộ Nông Nghiệp cung cấp.

Mẫu gói cá đông lạnh cần được thu hồi trong hình do Bộ Nông Nghiệp cung cấp.

Cơ quan Dịch Vụ Thanh Tra và An Toàn Thực Phẩm thuộc Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ cho biết số lượng phi-lê cá Swai (một loại cá bông lau) đang được thu hồi bởi công ty U.S. Cado Holdings, Inc. có văn phòng tại Santa Anna, Nam California.

Những miếng cá đông lạnh này mang nhãn hiệu Sea Queen, được đóng gói vào ngày 30 tháng Ba, 2016, tại Việt Nam, bởi công ty Golden Quality Seafood Corporation.

Bản tin cho biết sản phẩm cần được thu hồi được đóng gói theo từng bịch chứa 2 pound cá, được viết dòng chữ “Skinless and Boneless Swai Fillets” ở bên ngoài. Sản phẩm này có ghi số xưởng FN1158, số lô SW1601-02-16090 và có thể sử dụng đến ngày 30 tháng Ba, 2018.

Bộ Nông Nghiệp đã được thông báo rằng một số lượng cá Swai đã được nhập cảng vào nước Mỹ mà không hội đủ các tiêu chuẩn theo qui định kiểm tra. Từ đó cơ quan thanh tra khám phá số lượng cá nói trên chưa được kiểm tra. Theo thông lệ, cá Swai đông lạnh được lấy mẫu để thử nghiệm tìm chất ma túy, chất diệt sâu và dư lượng của một số hóa chất khác.

Bộ Nông Nghiệp liệt kê lệnh thu hồi này thuộc hạng Class 1, tức là có lý do để nghi ngờ sản phẩm có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe, gây hậu quả tai hại hoặc gây thiệt mạng.

Hiện nay nhà chức trách không có phúc trình nào cho thấy số lượng cá Swai nói trên từ Việt Nam đã gây hại cho ai.

Các viên chức cho biết trong trường hợp lỡ mua đúng loại cá này ở chợ, quí vị có thể bỏ cá vào thùng rác hoặc mang trả lại chợ đã mua.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Làm ăn chung với Trung Quốc, Moi Truong bi O nhiem, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

► Cựu phó TBT báo Sài Gòn Giải Phóng: Cộng sản không thể sửa đổi mà phải thay thế tận gốc rễ

Posted by hoangtran204 trên 29/06/2016

28-6-2016

Đó là lời khẳng định của ông Kha Lương Ngãi – cựu phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng sau hơn 43 năm phục vụ cho chế độ cộng sản.

Phát biểu trước 40 nhà hoạt động nhân buổi lễ kỷ niệm Ngày quốc tế ủng hộ các nạn nhân bị tra tấn hôm 26/6/2016 tại Sài Gòn, vị cựu đảng viên 70 tuổi này bộc bạch:

“Tôi là một trong những người đã đi theo cộng sản, mặc dù chưa phải là lãnh tụ hay lãnh đạo gì, nhưng vẫn thấy rằng cái chế độ, cái đảng, cái nhà nước này đã gây ra biết bao nhiêu đau khổ và tội lỗi cho nhân dân”.

Theo ông, chỉ bằng mắt thường cũng có thể thấy được cảnh đời đau khổ của người dân Việt Nam kể từ sau ngày 30/4/1975.

“Khi theo cộng sản, tôi đã nghĩ rằng mình đi theo một cái lý tưởng tốt đẹp. Nhưng dần dần, đến sau ngày 30/4/1975, đầu tiên mình ngạc nhiên hỏi” “Ủa, sao thế?””.

“Dần dần, qua phong trào đấu tranh của nhân dân, mình càng ngộ ra là đã đi lạc đường”, ông chia sẻ.

Ông Kha Lương Ngãi năm nay 70 tuổi, từng giữ chức phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng bộ TP.HCM

Năm 15 tuổi, ông theo cộng sản “hoạt động cách mạng” và trở thành đảng viên năm 21 tuổi.

Trong quá khứ, ông là người yêu lý tưởng cộng sản đến mức “chân thành khờ dại”. Theo lời kể, khi thành trì cộng sản Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, ông đã khóc đến mức “nước mắt đầm đìa”.

Năm 2004, khi đã bước sang tuổi 58, ông chính thức tuyên bố bỏ đảng với lý do mất niềm tin vào đảng cộng sản – điều mà sau này ông thừa nhận là “đoạn tuyệt tình yêu khờ dại”.

Hiện nay, ông là thành viên của câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng – một tổ chức dân sự tại Sài Gòn quy tụ nhiều nhân sỹ và các đảng viên cộng sản phản tỉnh.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Nhan Vat, Phỏng Vấn, Từ bỏ đảng CSVN | Leave a Comment »

►Phóng viên BBC bị rút giấy tác nghiệp ở Việt Nam vì đã phỏng vấn Ts Nguyễn Quang A

Posted by hoangtran204 trên 24/05/2016

Phóng viên BBC bị rút giấy tác nghiệp ở Việt Nam?

VOA

23-5-2016

Nhà báo theo dõi khu vực Đông Nam Á của BBC Jonathan Head. (Ảnh trên trang Twitter của phóng viên Jonathan Head). Ảnh: Twitter

Nhà báo theo dõi khu vực Đông Nam Á của BBC Jonathan Head. (Ảnh trên trang Twitter của phóng viên Jonathan Head). Ảnh: Twitter

Một phóng viên BBC cho biết đã bị tước giấy tác nghiệp đưa tin chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Trong bài viết đăng trên trang web của hãng phát thanh, truyền hình của Anh Quốc hôm 23/5, phóng viên Jonathan Head viết: “Chúng tôi được thông báo rằng giấy phép tác nghiệp báo chí của chúng tôi không còn giá trị, và mọi hoạt động tường thuật buộc phải dừng lại”.

Nhà báo theo dõi khu vực Đông Nam Á của BBC viết tiếp: “Không một lý do nào được đưa ra, nhưng trong một các cuộc trao đổi căng thẳng với các quan chức ở bộ ngoại giao, họ nói tôi đã gặp ông Nguyễn Quang A mà không được phép ngay sau khi tôi đến Việt Nam hôm thứ Sáu”.

Phóng viên từng tới Việt Nam đưa tin về Đại hội đảng lần thứ 12 đầu năm nay nói thêm rằng “đây là điều không đúng”. “Cán bộ hướng dẫn đi kèm biết chúng tôi khi ấy đang ở một cuộc gặp mặt khác đã được cho phép, nhưng họ không sẵn lòng rút lại lời cáo buộc đó”, ông nói.

Phía Việt Nam chưa có phản ứng nào về lời cáo buộc của ông Head.

Theo lời kể của phóng viên này, “tất cả mọi phóng viên nước ngoài đều phải tuân theo quy định nghiêm ngặt của nhà chức trách Việt Nam, và mọi cuộc phỏng vấn hay quay phim đều phải xin phép trước”.

Phóng viên BBC nói thêm: “Trong chuyến đi này, nhóm phóng viên của chúng tôi không được phép tường thuật gì khác ngoài nghị trình của ông Obama, và chỉ được phỏng vấn một học giả đã được nhà nước cho phép nói là ông Trần Việt Thái”.

Trong khi đó, một nguồn tin từ Ban Việt Ngữ của BBC cho biết cơ quan này đã không được phép cử người về Việt Nam đưa tin về chuyến thăm của ông Obama.

Nhiều hãng thông tấn lớn cũng như các cơ quan báo chí có uy tín của Mỹ như Washington Post và The New York Times cũng có mặt ở Việt Nam để đưa tin về chuyến thăm của ông Obama.

Theo BBC, Reuters, VTC, VOA

Posted in Phỏng Vấn, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Nhà văn Dương Thu Hương mô tả TT Nguyễn Tấn Dũng

Posted by hoangtran204 trên 10/11/2015

 

Không ai hiểu rõ các nhân vật đang nắm quyền lực của đảng CsVN hơn nhà văn Dương Thu Hương. Trước khi Tập Cận Bình công khai cân nhắc tuyển chọn Nguyễn Tấn Dũng vào chức vụ TBT (năm 2016) trong cuộc viếng thăm 5-11-2015, bà đã đưa ra những nhận xét về Nguyễn Tấn Dũng rất tinh tường. Cách dùng chữ của bà rất ngắn gọn và chính xác. Thảo nào các tác phẩm của bà rất được các đọc giả ngoại quốc ưa chuộng.

Phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương

Các bạn muốn xem phim phóng sự phỏng vấn Dương Thu Hương, mời các bạn vào youtube.com, và gõ chữ sau đây vào hộp search (Tìm kiếm): “Đinh Quang Anh Thái phỏng vấn Dương Thu Hương”. Sẽ có 10 video về mục này.

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Phỏng vấn blogger Điếu Cày tại Los Angeles, California: Không có thiết chế cho người tù tiếp cận công lý ở Việt Nam

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2014

Phỏng vấn blogger Điếu Cày: Không có thiết chế cho người tù tiếp cận công lý ở Việt Nam

Vũ Quí Hạo Nhiên thực hiện
.
.
29-10-2014
.
nguồn: anhbasam

Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải là một trong những tù nhân chính trị được thế giới biết đến nhiều nhất, với những tổ chức như Human Right Watch, Amnesty International và các chính khách như Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama từng kêu gọi trả tự do cho ông. Ông bị bắt lần đầu năm 2008 với tội danh “trốn thuế,” và ngay sau khi hoàn tất án tù đó bị tiếp tục giam giữ và kết tội tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa vì những hoạt động trong Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Đến ngày 21 tháng 10 năm 2014, ông bất ngờ được thả và được đưa ngay đến Hoa Kỳ.

Nhà báo Vũ Quí Hạo Nhiên phỏng vấn ông  nơi ông đang ở trong vùng Los Angeles, California.

VQHN: Khi anh đến Los Angeles, một trong những điều ngạc nhiên là người ta ra sân bay đón anh rất là đông. Cảm giác anh khi thấy vậy là thế nào?

Điếu Cày: Lần đầu tiên đến Los Angeles, bà con đón thì đông như vậy, tình cảm thì tôi thấy rất là xúc động khi bà con ra đón rất là nhiệt tình. Đây là cái điều rất hạnh phúc với tôi khi tôi được phát biểu trước bà con với những ý nguyện của mình.

VQHN: Một cái người ta cũng nói tới rất nhiều là anh tới Hoa Kỳ với đôi dép tổ ong. Hành trang của anh lúc qua tới Mỹ gồm những gì?

Điếu Cày: Tôi đi ra khỏi nhà tù thì những cái đồ mà còn sử dụng được tôi đã chia hết cho anh em trong tù. Còn những đồ tôi mang theo là những cái đồ kỷ niệm thì tôi mang theo, trong đó có cả những bộ giấy tờ đi suốt trong cái quá trình điều tra, xét xử của vụ án này nhưng khi ra đến sân bay thì họ lấy hết.

Cho nên hành trang mà mang được sang tới đây, đó là một cái mền, của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa gởi cho tôi, cái áo gối, của cô Phạm Thanh Nghiên gửi, và cái áo con trai tôi gửi cho tôi. Ngoài ra còn có một số ủy nhiệm của bạn bè tôi đã phải viết vào trong áo và mặc vào người. Tôi cũng mang được một bức thư của nhà báo Trương Duy Nhất gửi cho tôi, và những lời dặn dò mà anh em ủy nhiệm thì rất nhiều.

belongings.jpg

Hành trang Điếu Cày mang qua có đôi dép tổ ong mang từ trong tù, tấm mền do nhà văn và cũng là bạn tù Nguyễn Xuân Nghĩa tặng, và áo gối do cựu tù nhân lương tâm Phạm Thanh Nghiên tặng. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)VQHN: Anh có thể nói sơ về những điều ủy nhiệm hay nhắn nhủ của các bạn tù?

Điếu Cày: Thực ra tôi đã qua 11 trại tù trong 6 năm rưỡi. Những cái gì mà những người tù ở Việt Nam cần, đấy là những điều chỉ có những người đi trong các nhà tù trong ngần ấy năm mới biết được là thực sự họ cần cái gì.

Vì vậy, họ rất mong muốn là tôi ra được bên ngoài và cất lên tiếng nói thay cho họ: Đó là việc thực thi pháp lý trong các nhà tù Việt Nam, cái việc mà người tù trong các nhà tù Việt Nam bị tước đoạt đi các quyền lợi đã được ghi trong Hiến pháp, được thể chế hóa ra trong luật thi hành án hình sự nhưng đã bị tước đi ở trong nhà tù, mà người tù không có cơ hội để mà cất lên tiếng nói khiếu nại.

Bởi vì các nhà tù Việt Nam cũng không có một cái thiết chế nào để cho tù nhân tiếp cận công lý. Khi tù nhân bị tước đoạt những cái quyền lợi được ghi trong luật, họ cất lên tiếng nói, họ viết đơn khiếu nại, nhưng họ lại phải gửi những cái đơn đó cho chính những cái người đã tước đoạt quyền lợi của họ. Lấy gì để bảo đảm rằng những cái người đã tước đi cái quyền lợi của họ lại đem cái là đơn đó đi các cơ quan giám sát.

Trong khi các cái cơ quan giám sát quyền lực trong các trại giam này là Viện Kiểm sát, là các cái cơ quan dân cử, thì lại không hề có một cái thùng thư hay một cái cuộc tiếp xúc nào để tù nhân có thể cất lên tiếng nói.

VQHN: Một điều nữa cũng nhiều người thắc mắc là chuyện anh qua Mỹ hoặc ở lại Việt Nam. Trước đây cả mấy tháng đã có tin là Việt Nam nói nếu anh chịu qua Mỹ thì người ta thả và lúc đó tin được đưa là anh không chịu đi Mỹ.

Điếu Cày: Vấn đề này thì tin mà cách đây mấy tháng thì tôi không bình luận được vì thục tế là tôi vừa được lôi ra khỏi nhà tù có mấy ngày thôi, nên những cái dư luận bên ngoài thì tôi không thể biết.

Nhưng mà tôi xin nói một điều rằng, là đi hay ở là không thuộc vào cái lựa chọn của tôi. Nó thuộc về chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ. Bởi vì chúng ta thấy rằng, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời rõ ràng, họ nói rằng họ đình chỉ thi hành án tôi, chứ không phải thả tôi ra. Vì vậy việc đi, hay ở lại Việt Nam, tôi không có quyền lựa chọn.

VQHN: Ngày anh biết anh sẽ được ra tù, anh có thể nói lại chuyện đó xảy ra thế nào và quá trình nó ra sao.

Điếu Cày: Tôi có thể nói thêm về câu hỏi trước như thế này, là nếu họ nói là họ đình chỉ thi hành án thì họ cũng phải đưa ra một cái quyết định. Chứ việc họ đưa tôi đi hoàn toàn không có một cái quyết định, không có một cái giấy tờ nào hết.

Trong quá trình làm việc với tôi thì họ có đề nghị là viết đơn xin ra tù trước thời hạn thì tôi dứt khoát không viết. Họ yêu cầu là viết đơn đề nghị Chủ tịch nước và Thủ tướng xin tha tù trước thời hạn thì tôi cũng không viết. Vì vậy, khi mà đi ra khỏi nhà tù là họ chỉ có khám xét đồ đạc của tôi, và đưa tôi lên xe, rồi đưa thẳng ra sân bay, chứ không hề có bất kỳ một cái quyết định nào được đọc, được nói hoặc là yêu cầu tôi ký cả.

vì tôi đã nói trước rồi, tôi có một nguyên tắc bất di dịch là không nhận tội để được ra tù, cho nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào tôi cũng không có ký vào bất kỳ giấy tờ nào khác. Vì vậy, tôi được đưa ra tù mà không hề có một quyết định nào được đọc, hay là yêu cầu tôi ký, cứ tự nhiên đi thôi.

VQHN: Vậy là từ lúc mà họ nói cho đến lúc anh được đi, thực sự ra khỏi nhà tù, là bao lâu?

Điếu Cày: Thực ra thì ngày 17 tháng 8, tham mưu của Bộ Công an xuống, có làm việc với tôi. Họ nói là, họ chỉ nói về cái việc là Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có đang thảo luận với họ về việc trả tự do cho tôi nhưng không nói rằng tôi sẽ được đi hay ở lại, vì đó chưa phải là kết quả. Còn ngày 22 tháng 9, đại diện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào gặp tôi. Đại diện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ có nói rằng chính phủ Hoa Kỳ yêu cầu chính phủ Việt Nam thả ông ra vô điều kiện, dù ông có ở lại Việt Nam hay đi đến Hoa Kỳ, nhưng hiện hai bộ ngoại giao đã đạt được thỏa thuận rằng ông ra tù sẽ nhập cảnh vào Mỹ.

VQHN: Ngày 22 tháng 9 hay ngày 22 tháng 10?

Điếu Cày: Ngày 22 tháng 9.

VQHN: Tức là cỡ một tháng trước khi ra tù? Thành ra từ ngày đó là anh đã biết là sẽ đi?

Điếu Cày: Không. Vì đây chỉ là thỏa thuận hai bên, chưa biết có đạt được thỏa thuận hay không, có đi được hay không. Vì trong thân phận người tù, chung quanh là bốn bức tường, chúng tôi rất thiếu thông tin.

VQHN: Khi anh bị bắt thì ai cũng biết là anh bị bắt vì tổ chức Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Bây giờ, sau khi đã bị bắt bị tù xong rồi, thì bây giờ anh có dự tính gì cho CLBNBTD không?

Điếu Cày: Thực ra là Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, mặc dù bị đàn áp rất dã man – các anh đã nhìn thấy là CLBNBTD nhiều anh em trong CLBNBTD bị bắt, gia đình họ bị tấn công, bị phá hoại về kinh tế, bị sách nhiễu, và đặc biệt thì người mẹ của blogger Tạ Phong Tần đã tự thiêu để phản đối về việc các con của mình đang bị giam giữ một cách hà khắc trong nhà tù cộng sản.

Mặc dù là bị đàn áp dữ dội như vậy, nhưng Câu lạc bộ Nhà báo Tự do vẫn cứ hoạt động. Những anh em còn ở ngoài vẫn cứ tiếp tục làm việc. Vì vậy khi tôi ra tù tôi sẽ tham gia cùng anh em để chúng tôi tiếp tục thực hiện quyền tự do báo chí tự do ngôn luận của mình, dù là ở trong hay ở ngoài. Bây giờ tôi không được sát cánh với anh em ở trong nước, nhưng ra ngoài, tôi vẫn sẽ cứ tiếp tục làm một cái cầu nối để làm việc mạnh mẽ hơn nữa, theo cái cách thức mới hơn nữa, để thực hiện cái quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở trong nước Việt Nam.

food_truck.jpg

Một buổi tối vài ngày sau khi tới Mỹ, blogger Điếu Cày đi ăn khuya với Nancy Nguyễn, vừa trở về từ Hong Kong, ở một xe food truck đậu bên đường phục vụ công nhân làm đêm. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên)VQHN: Về cá nhân anh, gia đình anh còn ở Việt Nam, thì anh có dự định gì?

Điếu Cày: Hiện nay vợ tôi còn ở Việt Nam. Tôi còn hai cháu ở Việt Nam, cháu Dũng thì đã có vợ, đã có con rồi. Chúng tôi thì đã bị chia cắt gia đình đã hơn 6 năm nay rồi. Là con người ai cũng muốn là đoàn tụ gia đình, ai cũng luôn luôn muốn được đoàn tụ với gia đình.

Nhưng vì cái công việc, vì cái trách nhiệm mà tôi phải gánh vác trên vai, cho nên tôi quyết định là tôi chọn những lợi ích của dân tộc, lợi ích của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, của tất cả những người làm báo Việt Nam.

Cho nên, khi đi sang đây rồi, gia đình tôi lại bị chia cắt thêm một thời gian nữa, chưa biết bao giờ mới có thể được đoàn tụ trở lại, nhưng tôi hy vọng rằng có được sớm được đoàn tụ hay không cũng là do gia đình tôi cũng như tôi ở bên này tiếp tục cuộc đấu tranh để mau được đoàn tụ.

VQHN: Tình hình nhà cửa công việc cuộc sống hiện nay anh có dự định gì trong tương lai gần?

Điếu Cày: Trong tương lai gần thì bây giờ trước mắt là sang đây, từ hôm sang đây đến giờ tôi chưa nghỉ một giờ nào. Xuống máy bay là tôi đã làm những cái việc cần thiết cho cái việc sắp tới của tôi. Mặc dù chưa tiếp xúc với các bạn bè trên truyền thông nhưng mà tôi đã lo tiếp xúc, kết nối với các bạn bè trong và ngoài nước để chúng tôi chuẩn bị bước vào một cuộc chiến mới. Còn gia đình, rồi nhà cửa, công việc, tất cả những cái đó tôi đành phải để lại sau.

VQHN: Bây giờ anh có một cái lời nào đó để nói với cộng đồng người Việt hải ngoại về cái cách nào tốt nhất để hỗ trợ cho những người trong nước thì anh có lời nhắn gì không?

Điếu Cày: Lời nhắn của tôi là tôi muốn bà con cộng đồng ở hải ngoại và đồng bào ở trong nước đã nhìn thấy cái chính quyền cộng sản đàn áp quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận như thế nào, không chỉ với báo chí của những nhà báo tự do ở bên ngoài mà cả những phóng viên ở trong nhà nước, như anh Trương Duy Nhất, như anh Nguyễn Văn Hải, như anh Hoàng Khương, như anh Võ Thanh Tùng.

Vì những cái việc đàn áp khốc liệt như vậy, việc thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam hoàn toàn không dễ một chút nào. Nếu bà con hiểu được điều đó, thì tôi để nghị bà con, cộng đồng hải ngoại, trong và ngoài nước cùng tay góp sức để giúp đỡ những nhà báo tự do. Họ thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để giúp đỡ người dân Việt Nam cất lên được tiếng nói.

Thì cái hữu hiệu nhất là bà con hỗ trợ mạnh mẽ về dư luận hơn nữa và kết nối cộng đồng trong ngoài nước để chúng ta cùng thông hiểu nhau, cùng chung tay góp sức để tương lại của đất nước để tiến đến một cái đất nước mà ở đó mỗi người dân đều có quyền thực hiện tất cả mọi cái quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, những cái quyền con người cơ bản nhất để rồi bà con chúng ta có quyền trở về sống ngay trên đất nước của mình mà không sợ bị đàn áp khi mà cất lên tiếng nói trái với ý của nhà cầm quyền.

 

Tâm trạng của blogger Điếu Cày khi đến Mỹ? (22-10-2014)

https://www.youtube.com/watch?v=zR0w6QLfjjs

 

Vũ Quí Hạo Nhiên phỏng vấn Điếu Cày tại Los Angeles ngày 28-10-2014

https://www.youtube.com/watch?v=zR0w6QLfjjs

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Phỏng Vấn, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Blogger Điếu Cày: Tôi sẽ kiện chính phủ Việt Nam ra tòa quốc tế về việc tống giam trái phép các thành viên CLB Nhà Báo Tự Do

Posted by hoangtran204 trên 28/10/2014

Blogger Điếu Cày: Tôi sẽ kiện Việt Nam ra tòa quốc tế 

27-10-2014

VOA Tiếng Việt

Nhà bất đồng chính kiến vừa được Việt Nam phóng thích tuyên bố sẽ kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do. Blogger Điếu Cày cho biết ông tin rằng ông sẽ “thắng kiện”. Ngoài ra, nhà báo tự do này còn cho biết ông phải đặt gánh nặng của phong trào “lên trên lợi ích của gia đình”. Mời quý vị theo dõi toàn bộ cuộc phỏng vấn sau đây với blogger Điếu Cày dành cho VOA Việt Ngữ chiều 27/10:

VOA: Ông mặc một chiếc áo cộc tay và đi đôi dép tổ ong để sang Mỹ. Vì sao ông lại ăn mặc giản dị như vậy?

Blogger Điếu Cày: Tôi ở trong nhà tù, bị đưa ra ngoài, có thế nào thì mặc như thế. Họ đưa tôi ra khỏi nhà tù và từ Trại giam số 6, Thanh Chương, Nghệ An, thì họ đưa thẳng tôi ra sân bay Nội Bài.

VOA: Chính quyền Việt Nam nói gì trước khi thả ông không?

Blogger Điếu Cày: Trước đó, Bộ Công an Việt Nam có vào, tham mưu của Bộ Công an Việt Nam có vào, có nói với tôi, đề nghị tôi viết đơn, xin nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập về báo chí. Họ cũng yêu cầu tôi viết một cái đơn xin tha tù trước thời hạn. Thế nhưng tôi có một nguyên tắc bất di dịch là không nhận tội để được ra tù cho nên là tôi không viết.

Sau đó tôi có được gặp Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nói với tôi rằng chính phủ Hoa Kỳ đã yêu cầu chính phủ Việt Nam phải thả tôi ra vô điều kiện, kể cả tôi ở Việt Nam hoặc đi sang Hoa Kỳ. Nhưng hiện tại, hai chính phủ mới đạt được thỏa thuận là tôi ra tù sẽ nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập.

Và tôi cũng nhận được một số sự ủy thác của anh em ở trong trại giam, kể cả anh em tù chính trị và anh em tù hình sự ủy thác cho tôi cho nên tôi đồng ý nhập cảnh vào Hoa Kỳ để học tập.

VOA: Dũng, con trai ông và cả chị Tân, vợ cũ của ông, cho biết là gia đình không nhận được một lời từ biệt nào trước khi ông ra đi. Ông có thể nói rõ hơn về chuyện này không?

Blogger Điếu Cày: Về những việc như thế này, chúng tôi là người ở trong nhà tù, việc đàm phán giữa hai bên hoặc những người đi trước có kinh nghiệm như thế nào rồi, có thông tin gì rồi thì chúng tôi hoàn toàn không biết. Một người tù khi anh bị đặt vào hoàn cảnh như thế thì anh chỉ có thể đưa ra các quyết định đối phó trong hoàn cảnh đó với những kinh nghiệm mà anh có được, với những thông tin ít ỏi mà anh có được thôi.

Ở trong tù, chúng tôi luôn phải trả giá bằng những phương pháp thử và sai. Còn khi mà xuất cảnh ra sân bay, tôi cũng nghĩ là họ sẽ để cho tôi được gặp con tôi, gặp vợ tôi ở sân bay nhưng thực tế thì họ không cho tôi gặp mà đẩy thẳng ra máy bay luôn.

VOA: Có tin nói rằng ông bị ép buộc đi Mỹ. Thông tin này đúng hay sai, thưa ông?

Blogger Điếu Cày: Thực ra thì nó có hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất là đối với chính phủ Việt Nam, thì họ chỉ đưa ra cho tôi có một sự lựa chọn, là đi học tại Hoa Kỳ, chứ không có lựa chọn là ở lại Việt Nam, và ra tù.

Anh em tù chính trị thì chúng tôi có thảo luận và thống nhất với nhau rằng “anh sẽ phải đi thay chúng tôi, để làm những gì chúng tôi ủy nhiệm”. Vì vậy, lựa chọn này, không phải là riêng của cá nhân tôi, mà còn là lựa chọn của anh em ở cùng với tôi, qua thảo luận đã ủy nhiệm cho tôi. Điều đó đã được thể hiện qua lá thư của anh Trương Duy Nhất.

VOA: Sau khi ông tới Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói ông được đi Mỹ vì ‘lý do nhân đạo’. Phản ứng của ông ra sao đối với tuyên bố này?

Blogger Điếu Cày: Tôi thấy cái tuyên bố này hoàn toàn sai, không có cái gì gọi là nhân đạo ở đây cả, bởi vì tòa án Việt Nam vẫn chưa hoàn thành thủ tục pháp lý để mà buộc tội câu lạc bộ nhà báo tự do. Chúng tôi bị bắt, bị xử sơ thẩm. Chúng tôi đã kháng cáo phúc thẩm, và đã đưa ra bằng chứng thuyết phục nhưng phiên tòa phúc thẩm đó đã không làm được một cái việc duy nhất, đó là chứng minh tội phạm đối với chúng tôi. Và đã không chứng minh được tội phạm, không công bố được chứng cứ, không đưa ra được kết luận mà lại cứ y án.

Việc đưa chúng tôi vào trại giam là hoàn toàn trái pháp luật, và quả thực nó trái pháp luật đối với ngay chính pháp luật của họ. Bởi vì cho đến giờ này, chúng tôi vào tù ngần ấy năm rồi nhưng vẫn chưa có quyết định thi hành án, chưa có bản án phúc thẩm. Tôi đã yêu cầu nhiều lần là phải công bố quyết định phúc thẩm, phải công bố quyết định thi hành án thì mới đưa tôi được vào trại giam. Vì vậy, khi mà anh Khải là tham mưu của Bộ Công an xuống và nói với tôi là viết một đơn xin tha tù trước thời hạn thì tôi nói rằng các anh chưa hoàn thành thủ tục đưa chúng tôi vào tù thì làm sao có thể làm thủ tục đưa tôi ra tù được. Vì vậy tôi không viết đơn xin tha tù. Anh ấy nói đây chỉ là một thủ tục pháp lý thì tôi nói rằng thủ tục pháp lý thì cũng phải tôn trọng pháp luật thì anh mới làm thủ tục pháp lý được. Cuối cùng thì đến ngày đi, họ cũng lặng lẽ đưa tôi ra, không hề tuyên đọc quyết định tha tù hay đình chỉ thi hành án như là Bộ Ngoại giao đã tuyên bố. Tôi cũng không phải ký bất kỳ giấy tờ gì để ra tù.

Vụ án này khi tôi sang đây là nhờ ủy nhiệm của anh em, và tôi cũng còn một trách nhiệm nữa trong chuyến đi này, đó là bắt đầu vụ án CLB nhà báo tự do ở một tòa án khác.

VOA: Tức là ông sẽ đưa vụ việc ra trước một tòa án quốc tế nào đó phải không, thưa ông?

Blogger Điếu Cày: Đúng thế. Đây là một vấn đề pháp luật và là một sai lầm cơ bản của pháp luật mà ngay tòa án Việt Nam sai lầm với chính pháp luật Việt Nam , với chính hiến pháp Việt Nam, vi phạm các công ước quốc tế. Họ không có đủ chứng cứ để buộc tội chúng tôi. Vụ án đã bị vỡ, bị sụp đổ rồi nhưng họ cố tình giam nhốt chúng tôi. Vì vậy mà chúng tôi phải đi ra ngoài này để bắt đầu vụ án đó tù một tòa án khác, tòa án của cộng đồng quốc tế.

Chúng tôi từng bước một sẽ tiến hành việc đó. Tôi sẽ tìm kiếm các nguồn lực, các tổ chức quốc tế để giúp đỡ chúng tôi đưa vụ đó ra tòa quốc tế. Tôi tin rằng, về mặt pháp lý, chúng tôi sẽ thắng kiện.

VOA: Một số nhà hoạt động cho rằng chính phủ Việt Nam đang sử dụng các tù nhân bất đồng chính kiến vào một cuộc mặc cả với Mỹ. Ông có nghĩ rằng mình là một con bài trong cuộc trao đổi này hay không?

Blogger Điếu Cày: Quan hệ ngoại giao giữa hai chính phủ với nhau, là một người tù, tôi hoàn toàn không có thông tin gì cho nên tôi không được biết. Tôi cũng không biết đổi tôi để lấy cái gì vì hoàn toàn tôi không được biết những thông tin đó. Một người phải ở trong tù đối với tôi là sáu năm sáu tháng và hai ngày nên bảo tôi phải bình luận về quan hệ ngoại giao giữa hai nước hoặc có những vấn đề liên quan đến tôi thì quả thật là tôi chưa đủ thông tin để mà bình luận.

VOA: Sau nhiều năm con cái tranh đấu cho tự do của ông khi ông ở trong tù, ông có ý định đưa gia đình mình sang Mỹ đoàn tụ với mình không?

Blogger Điếu Cày: Đó cũng là cái điều khi mà tôi lựa chọn ra đi, tôi đã phải suy nghĩ rất nhiều tại vì ai cũng muốn đoàn tụ với gia đình. Thế nhưng, trên vai tôi còn gánh nặng ủy thác của anh em, của anh em tù chính trị, và kể cả anh em tù hình sự. Tôi đã đi qua 11 nhà tù, tôi phải thay anh em cất lên tiếng nói, để bảo vệ họ. Dù họ là tù nhân, họ có thể mất một số quyền công dân nhưng quyền con người, họ vẫn còn đầy đủ. Tôi muốn rằng, những trại giam, phải thực thi pháp luật đầy đủ, và phải đối xử với họ như đối xử với những con người.

Chính vì vậy, trong lựa chọn ra đi này, gia đình tôi tiếp tục bị chia cắt, nhưng mà tôi cũng phải đặt gánh nặng của phong trào, của anh em, lên trên lợi ích của gia đình. Tôi nhận sự ủy thác của anh em để đi tiếp. Còn gia đình tôi, tôi cũng rất mong muốn sớm được đoàn tụ.

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Phỏng Vấn, Tù Chính Trị | Leave a Comment »

►Điếu Cày: ra nước ngoài không phải là đóng lại cánh cửa đấu tranh, trách nhiệm mới của tôi đó là phải đấu tranh cho nhân quyền trong các nhà tù Việt Nam”

Posted by hoangtran204 trên 28/10/2014

Điếu Cày: Ra nước ngoài không đóng lại cánh cửa đấu tranh

Nguồn: Dân làm báo

28-10-2014

 

 

Một trong những tù nhân lương tâm nổi tiếng nhất Việt Nam, blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải đã bị nhà cầm quyền CSVN cưỡng bức và trục xuất ra khỏi Việt Nam hồi tuần qua. Ngày 21/10/2014, người sáng lập Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do đã được hàng trăm người Việt tị nạn cộng sản chào đón như một người hùng ngay khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ.

Sau ít ngày nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe và lo một số vấn đề cá nhân, anh Điếu Cày đã dành cho Danlambao một cuộc phỏng vấn để hồi tưởng chặng đường đã qua và chia sẻ mục tiêu đấu tranh trong thời gian sắp tới.

dieu_cay_6.jpg

Blogger Điếu Cày tại Mỹ. Ảnh: DanlambaoKhông nhận tội để được tha tù

Điếu Cày cho biết, sáng ngày 21/10/2014, anh bị 2 xe công an áp giải từ trại giam số 6, Nghệ An ra sân bay Nội Bài để trục xuất sang Hoa Kỳ.

“Trong suốt quá trình đi như thế, tôi không hề được gặp gia đình, thăm người thân và cũng không được đi như một người bình thường”, Điếu Cày nói

Trước đó, đại diện bộ công an đã nhiều lần trực tiếp vào trại giam ép buộc Điếu Cày viết ‘đơn xin nhận tội’ và ‘tha tù’, tuy nhiên những yêu cầu này đều bị từ chối.

“Một nguyên tắc bất di dịch của tôi là không bao giờ nhận tội để được tha tù”, anh khẳng định.

Do bị bưng bít thông tin trong tù, Điếu Cày hoàn toàn không biết gì về quá trình thương thảo giữa chính phủ Hoa Kỳ và nhà cầm quyền CSVN về trường hợp của anh.

Mãi cho đến ngày 22/9/2014, đại diện ngoại giao Hoa Kỳ đã vào trại giam gặp Điếu Cày, khi đó anh mới biết thêm một số thông tin. Điếu Cày kể lại:

“Bộ ngoại giao Hoa Kỳ có nói rằng, Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam thả ông ra mà không có bất kỳ điều kiện nào, dù ông ở lại Việt Nam hay sang Hoa Kỳ”.

“Nhưng hiện tại hai bộ ngoại giao mới đạt được thỏa thuận là ông ra khỏi Việt Nam sẽ phải vào Hoa Kỳ. Đó là những thông tin mà tôi có thể biết được”.

Thả tù vì nhân đạo là ‘hoàn toàn trái sự thật’

Một quan chức bộ ngoại giao CSVN có lên tiếng nói rằng ‘việc cho phép ông Nguyễn Văn Hải xuất cảnh đi Mỹ vì lý do nhân đạo’, blogger Điếu Cày khẳng định điều này ‘hoàn toàn trái với sự thật’.

“Những gì mà bà con, cộng đồng quốc tế nhìn thấy tôi bị áp giải và xuống sân bay Los Angeles trong đôi dép tổ ong thì cũng biết tôi đã phải ra đi như thế nào”.

“Nếu vì lý do nhân đạo, tôi đã được về gặp gia đình và giờ này tôi đang ở Sài Gòn cùng với gia đình tôi chứ không phải đi qua Mỹ như thế này”.

“Và nếu vì lý do nhân đạo, nếu tôi có đi sang Mỹ cũng đi một cách đàng hoàng, cầm vé trên tay vào sân bay, chứ không phải bị áp giải ra đến tận cầu thang sân bay như thế này”, blogger 62 tuổi này khẳng định.

Quan chức bộ ngoại giao CSVN cũng lặp lại tuyên bố “Ở Việt Nam không có cái gọi là tù nhân lương tâm”, đồng thời bác bỏ cách gọi tù nhân lương tâm của quốc tế dành cho Điếu Cày.

Nếu nhà cầm quyền CSVN có ‘nhân đạo’ thì những người cất lên tiếng nói ôn hòa không thể bị bỏ tù như trường hợp Điếu Cày trong suốt 6 năm 6 tháng vừa qua.

Không đóng lại cánh cửa đấu tranh

Khi thông tin Điếu Cày đặt chân đến Mỹ được loan tải, có ý kiến cho rằng việc anh ra nước ngoài sẽ khó có thể tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ như khi còn ở Việt Nam.

Trước những ý kiến này, Điếu Cày chia sẻ:

“Tôi đã đi qua 11 nhà tù và đã có hơn 6 năm rưỡi trong nhà tù, tôi có đủ thời gian để nhìn nhận tất cả những sự ghê tởm trong các nhà tù Việt Nam”.

“Chính vì điều đó, khi không còn được sát cánh cùng bạn bè đấu tranh ngay trên chính quê hương Việt Nam, tôi đã nhận được trách nhiệm mới, đó là trách nhiệm phải đấu tranh cho nhân quyền trong các nhà tù Việt Nam”.

“…Lần này tôi đi, tôi sẽ phải thực hiện và làm những công việc mà những người tù nhân lương tâm ở Việt Nam đã không cất lên tiếng nói được”.

“Trong hoàn cảnh bất khả kháng như tôi, việc đi ra nước ngoài cũng không phải là đóng lại cánh cửa đấu tranh đối với tôi”.

“Bởi vì trên internet không có khoảng cách”, Điếu Cày chia sẻ.

Ngay khi đến Hoa Kỳ, Điếu Cày cũng đã cho phổ biến bức thư của nhà báo Trương Duy Nhất nhắn gửi. Đây là lá thư mà Điếu Cày phải rất khó khăn mới có thể mang ra được bên ngoài.

Câu lạc bộ Nhà báo Tự do là một gia đình lớn

CLB Nhà Báo Tự Do do blogger Điếu Cày sáng lập đã đặt những viên gạch đầu tiên cho truyền thông độc lập tại Việt Nam phát triển. Mặc dù bị đàn áp hết sức nặng nề, nhưng nhiều thành viên CLB vẫn tiếp tục đấu tranh trong thời gian hơn 6 năm anh bị tù đày.

Điếu Cày cho biết, CLB Nhà báo Tự Do như một gia đình lớn, anh luôn nhớ tất cả mọi người trong hơn 6 năm qua.

“Tôi vẫn luôn nhớ về mọi người, mọi thành viên trong Câu lạc bộ Nhà báo Tự Do. Đối với các thành viên trong CLB NBTD, chúng tôi như một gia đình lớn, tình cảm như anh em trong nhà với nhau. Chúng tôi đã dành cho nhau tất cả tình cảm, những khả năng mà mình có thể làm được cho bạn của mình”.

“Vì vậy, tôi muốn rằng trong thời gian sắp tới, những người còn ở trong tù, những bạn bè còn ở bên ngoài… Tôi muốn tất cả tập hợp nhau lại để cùng đấu tranh cho những người còn đang ở trong tù, và cho tất cả những ai còn đang đấu tranh cho tự do ngôn luận ở Việt Nam”.

“Mọi nỗ lực của chúng ta là để thúc đẩy cho những quyền đó được thực hiện trên quê hương Việt Nam”.

Trong cuộc phỏng vấn, Điếu Cày gửi lời cảm ơn đến tất cả các cá nhân và tổ chức đã nỗ lực đấu tranh đòi trả tự do cho anh.

“Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi người đã nỗ lực đấu tranh cho tự do báo chí. Cho tôi gửi lời cảm ơn đến những người đã giúp chúng tôi thoát khỏi lao tù”.

Dự định sắp tới: Tập hợp lại CLB NBTD

Chia sẻ về những dự định sắp tới trong một hoàn cảnh đấu tranh mới, Điếu Cày nói:

“Thứ nhất, chúng tôi sẽ tập hợp lại Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Trong quá trình từ khi thành lập đến nay, anh em CLB NBTD người thì bị bắt giữ, người bị giam cầm, nhưng chúng tôi vẫn không từ bỏ mục tiêu của mình.

Tất cả anh em sẽ tập hợp lại để phục hồi lại CLB NBTD và sẽ tiếp tục đấu tranh cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Thứ hai, tôi sẽ tiếp tục đấu tranh cho những tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Họ không cất lên được tiếng nói thì tôi sẽ thay họ cất lên tiếng nói.

Đặc biệt, trong đó có một người vẫn còn ở trong tù là cô Tạ Phong Tần. Một người đã đấu tranh rất kiên cường suốt nhiều năm trong nhà tù cộng sản. Gia đình của cô, bác Đặng Thị Kim Liêng đã tự thiêu để phản đối chính sách hà khắc của cộng sản đối với những người con đang bị giam giữ như tôi và Tạ Phong Tần”.

Điếu Cày bị trục xuất sang Mỹ chỉ với bộ quần áo đơn sơ và đôi dép tổ ong, nhưng trách nhiệm mà blogger 62 tuổi này mang trên vai quả là hết sức nặng nề.

———————————

Blogger Điếu Cày: Nhà tù Cà Mau như ‘trại súc vật’

October 27, 2014

Báo Nguoi-viet.com

Lời tòa soạn báo Người Việt – Sáu ngày sau khi được đưa thẳng từ nhà tù ở Nghệ An lên máy bay sang thẳng Hoa Kỳ và đặt chân xuống phi trường Los Angeles, ngày 27 tháng 10, blogger Điếu Cày dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn qua điện thoại từ chỗ ở tạm của ông. Trong cuộc phỏng vấn này, ông chia sẻ nhiều điều liên quan đến việc được thả trước thời hạn và những trải nghiệm của ông ở trong tù. Cuộc phỏng vấn do Nam Phương và Thiện Giao thực hiện.

* * *Người Việt: Khi được thả ra khỏi nhà tù ở Thanh Chương, Nghệ An, sao người ta không thả ông ở Việt Nam mà lại đi thẳng sang Hoa Kỳ?

Điếu Cày: Trước hết, tôi xin nói rõ: Tôi không xin tha tù, và nhà cầm quyền Cộng Sản cũng không tha tôi. Họ đưa tôi ra khỏi trại giam và áp giải tới sân bay. Bộ Ngoại Giao Việt Nam tuyên bố, Việt Nam đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù.

Người Việt: Vậy anh có biết trước việc ra đi? Hay anh có biết là liệu có những cuộc nói chuyện giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ?

Điếu Cày: Hai bên chính phủ làm việc với nhau thì chúng tôi hoàn toàn không biết. Chúng tôi ở trong tù. Thông tin rất hạn hẹp.

Người Việt: Có nghĩa là anh bị trục xuất?

Điếu Cày: Cũng không hẳn như vậy. Chính phủ Việt Nam yêu cầu tôi viết đơn xin tha tù và nhập cảnh vào Mỹ để học tập về báo chí. Nhưng họ cũng không đưa ra điều kiện tôi được ra tù và được ở lại Việt Nam. Còn khi tôi gặp đại diện Bộ Ngoại Giao Mỹ, thì họ nói chính phủ Mỹ yêu cầu chính phủ Việt Nam phải thả tôi vô điều kiện dù tôi ở lại Việt Nam hay sang Hoa Kỳ, thì hai bên mới đạt thỏa thuận tôi ra tù sẽ sang Mỹ.

Người Việt: Vào ngày anh lên đường sang Hoa Kỳ, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rằng anh tự quyết định xin sang Mỹ. Như thế có đúng không ạ?

Điếu Cày: Câu hỏi của anh có phải là: Anh không có quyền lựa chọn ở lại Việt Nam và đi sang Mỹ, hay đúng như Bộ Ngoại Giao Mỹ nói anh quyết định sang Mỹ để được thả sớm?

Người Việt: Đúng vậy.

Điếu Cày: Cả hai điều trên đều đúng.

Blogger Điếu Cày tại chỗ ở tạm. (Hình: Dân Làm Báo)Người Việt: Anh từng qua nhiều nhà tù khác nhau ở Việt Nam. Nơi nào cai tù độc ác nhất với tù nhân? Cách khác, nhà tù Việt Nam có tôn trọng khía cạnh con người của người bị giam cầm không?

Điếu Cày: Tôi đã đi qua 11 nhà tù của Việt Nam, từ Cà Mau ra tới Nghệ An. Trại nào cũng ác. Nhưng trại giam Cái Tàu, Cà Mau, thì đúng là Trại Súc Vật. Năm 2009, nghị định 113 quy định chỗ nằm mỗi người là 2 mét vuông, nhưng thực tế mỗi người khi chia gạch thì chỉ được rộng bằng (nghe không rõ). Cứ 2 người một cái mùng nhỏ, hai đầu có lỗ thủng để xuyên cái võng qua, kẻ nằm trên, người nằm dưới. Các lối đi trong phòng giam cũng kín người nằm, dù người ta đi lại ướt nhẹp và hôi thối. Nước tắm rất ít và yếu. Tù nhân phải ngậm miệng vào đường ống để hút nước ra, hứng từng ca đổ vào thùng để sử dụng. Nhưng không phải ai cũng dễ dàng đến gần vòi nước được, nếu không muốn bị một cái ca vào đầu. Một phòng, họ nhốt hơn 100 người mà chỉ có 2 chỗ đi cầu. Lại không có nước dội. Hai đống phân như hai cái thúng úp. Mùi nước tiểu và mùi phân nồng nặc, cộng với hơi người hầm hập. Và muỗi thì nhiều vô kể. Những ngày triều cường lên cao, nước trong cống và hố phân không thoát ra được, dâng lên, ngập đầy sân trại, thúi hoắc. Còn cơm với canh thì suốt đời là canh rau muống, mà canh rau muống thì dài nửa mét. Những người bị kỷ luật mới khổ.

Người Việt: Có sự khác biệt nào giữa chính sách đối xử của cai tù với tù chính trị và tù hình sự?

Điếu Cày: Tôi muốn nói về chuyện quản giáo đánh tù ngay giữa sân trại, có hàng ngàn tù nhân chứng kiến. Đó là vụ của đại úy tên là “Phú Ma” đánh tù nhân tên là “Minh Ngọng” người Cà Mau. Lúc đầu thì anh ta quất bằng mã trắc, sau đó bỏ mã trắc sang một bên, lấy gốc tràm đánh tiếp. Rồi lại thay bằng một chân niễng. Minh Ngọng chỉ lấy hai tay ôm lấy đầu, nằm quằn quại giữa sân. Đánh mỏi tay rồi Phú Ma bắt Minh Ngọng bò vào nhà tự quản, như một con vật. Phú Ma là người ở Vinh, quê Nghệ An. Còn rất nhiều vụ nữa mà tôi không tiện kể hết ra đây. Chính tôi đấu tranh hơn 2 tháng trời thì họ mới khoan thêm một cái giếng cho tù nhân ở trại giam Cái Tàu, Cà Mau.

Nếu Viện Kiểm Sát mà muốn điều tra, cứ lấy tổng số tù nhân nam ở trại Cái Tàu, chia cho diện tích số phòng giam vào thời điểm đó thì sẽ biết mỗi người nằm một đoạn gạch là bao nhiêu. Tôi ở đội 28 nhưng mà 2 lần Viện Kiểm Sát vào trại kiểm tra là 2 lần quản giáo đưa cả đội chúng tôi ra ngoài đồng ngồi cho đến khi Viện Kiểm Sát đi về thì mới được cho vào trại. Sống như thế thì làm sao gọi được là người?

Người Việt: Anh đã từng tuyệt thực nhiều lần, trong đó có 2 lần tuyệt thực dài, gần một tháng và hơn một tháng. Nếu lần sau cùng, khi anh ở Thanh Chương, nếu không có anh Nguyễn Xuân Nghĩa tiết lộ chuyện anh tuyệt thực, anh có thể nguy đến tính mạng không?

Điếu Cày: Lần tuyệt thực 28 ngày, đến ngày thứ 28 họ phải đưa cấp cứu tại bệnh viện 30 tháng Tư. Lần thứ hai tại trại giam số 6, tôi tuyệt thực 33 ngày. Tôi không ăn, chỉ uống nước. Ở trại B34, tôi tuyệt thực nhưng không có ai đưa tin ra ngoài. Vì vậy, khi tôi sắp chết họ mới đưa tôi đi cấp cứu. Ở trại giam số 6, nếu không có anh Nguyễn Xuân Nghĩa thì tôi cũng phải đi tới cùng như lần trước thôi. Nhưng lần này may có anh Nghĩa đi ra thăm gặp, anh đã dũng cảm báo cho chị Nga vợ anh ấy vào ngày 17 tháng Bảy, 2013. Khi gia đình tôi biết tin, đi thăm tôi lần thứ hai vào ngày 20 tháng Bảy, mặc dầu tin tôi tuyệt thực đã được cả thế giới biết tới, từ ngày 17 tháng Bảy, đến 20 tháng Bảy, Viện Kiểm Sát mới vào làm việc.

Người Việt: Trở lại việc gần đây. Thấy mấy bức hình liên quan đến kỷ vật anh mang ra bên ngoài, trong đó có bức thư của anh Trương Duy Nhất do anh mang ra. Khi anh đi ra, những bạn tù còn lại gồm những ai, họ ký thác, kỳ vọng điều gì nơi anh? Anh có thể làm gì để giúp họ?

Điếu Cày: Ngoài anh Trương Duy Nhất, còn có anh Trần Anh Kim, anh Nguyễn Kim Nhàn và 3 anh Tây Nguyên nữa. Khi chúng tôi thảo luận với nhau, anh em nhắn gởi và ủy thác cho tôi thay mặt anh em đấu tranh cho quyền lợi của tất cả tù chính trị, vạch trần những văn bản luật rừng. Anh em tin rằng tôi đủ trải nghiệm để thực hiện nghĩa vụ này. Điều đó cũng tác động đến quyết định của cá nhân tôi. Các bạn có thể thấy điều ấy ngay trên lá thư của anh Trương Duy Nhất. Tôi mong được mọi người chung tay giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành những điều mà anh em đã tin tưởng ký thác.

Người Việt: Khi ở nhà tù số 6 Huyện Thanh Chương, anh bị giam chung với tù làm gián điệp với Trung Quốc. Những người đó được sử dụng để theo dõi các anh và báo cáo lại với cai tù? Những người đó có làm phiền các anh nhiều không?

Điếu Cày: Đúng vậy. Trại Nam Hà, hễ có 2 đơn tố cáo là bị giam riêng, không cần biết đơn tố cáo có phải là sự thật không. Trại giam chỉ sử dụng đơn tố cáo của mấy tên gián điệp làm cái cớ để đàn áp anh em tù chính trị mà không cần điều tra, xác minh. Cụ thể nhất là vụ của tôi. Khi họ ngang nhiên và quyết định giam riêng tôi, không hề có một biên bản vi phạm nào, bất chấp tôi phản đối, họ xốc nách tôi, đưa ngay vào trong buồng giam. Khi anh Nghĩa đưa được tin ra ngoài, vào ngày 23 tháng Bảy, trại giam đưa tôi ra, tuyên đọc đơn tố cáo của 2 thằng gián điệp, lập “biên bản nguội” nhằm hợp thức hóa quyết định họ đã ra từ ngày 22 tháng Sáu, 2013, tức là trước đó hơn 1 tháng. Tôi đã ngay lập tức vạch trần âm mưu đê hèn này, và yêu cầu những người ký vào biên bản đó phải ghi đúng ngày tháng rồi mới ký.

Người Việt: Bây giờ đã sang Hoa Kỳ, chỉ mới là những ngày đầu tiên. Con đường dự định đấu tranh sẽ tiếp tục ra sao? Dự định cuộc sống riêng sẽ ra sao?

Điếu Cày: Về cuộc sống riêng, gia đình tôi và gia đình bên vợ hầu hết ở Vancouver và Toronto, Canada. Hiện nay tôi cũng chưa muốn chia sẻ nhiều về cuộc sống riêng. Về dự tính tranh đấu trong tương lai, tôi muốn nói như thế này: Các chế độ độc tài thường tạo ra một không gian khép kín và bưng bít thông tin. Chúng nắm tất cả mọi phương tiện truyền thông và dùng nó để chi phối dư luận xã hội, phục vụ cho mục đích cầm quyền. Còn người dân trong những đất nước đó thì được nghe, được biết những gì chúng muốn. Người dân không có phương tiện cất lên tiếng nói, thể hiện ý nguyện của mình. Bọn độc tài thì sống phè phỡn trên những vùng tối u mê đó. Cho đến khi bức tường bưng bít thông tin bị phá vỡ bởi người dân đã có trong tay công cụ để chia sẻ để cất lên tiếng nói, để tự do biểu đạt ý nguyện của mình, lúc đó sự dối trá mới bị phơi bày. Người dân sẽ mất niềm tin, và đến một ngày, khi họ rút lại sự tuân phục, quyền lực khi đó chỉ còn là thứ cường quyền. Truyền thông không còn bất cân xứng, tự do nhiều chiều sẽ đem lại sự cảm thông và sự thấu hiểu giữa các dân tộc, giữa các quốc gia, và góp phần củng cố hòa bình. Chúng tôi đã bắt đầu bằng truyền thông, chúng tôi sẽ tiếp tục đi theo con đường đã chọn. Nếu bạn đồng ý với tôi, hãy chung tay tạo ra càng nhiều kết nối để loan tải thông tin, để cân bằng và để phá vỡ bức tường bưng bít thông tin và định hướng.

Người Việt: Người cùng xử chung vụ với anh, là chị Tạ Phong Tần và blogger Phan Thanh Hải. Anh và anh Hải đã ra tù, còn lại chị Tần. Anh nghĩ gì về trường hợp chị Tạ Phong Tần.

Điếu Cày: Chị Tạ Phong Tần là người đấu tranh rất kiên cường, là một cây bút chủ lực. Trong suốt nhiều năm qua, chúng tôi tuy bị chia cắt ra nhiều nơi, chúng tôi vẫn luôn nhớ về nhau, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh này, Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do đã chịu mất mất rất lớn. Đặc biệt là trong việc mẹ cô Tần tự thiêu để phản đối chế độ hà khắc này. Vì vậy, chúng tôi, dù đã được ra ngoài, vẫn sẽ tìm mọi cách, sẽ đấu tranh bằng mọi giá để kéo Tần ra ngoài, bởi vì Tần không có tội gì cả. Chúng tôi chỉ là những người dân biểu đạt quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận một cách ôn hòa, mà đã bị chính quyền Cộng Sản này đàn áp một cách ghê rợn như vậy.

Người Việt: Xin cám ơn thời gian anh dành cho độc giả của chúng tôi.

—————-

►VÌ Lý Do gì Ngân Hàng Nhà Nước phát hiện một số vi phạm pháp luật nghiêm trọng ở Ngân Hàng Đại Dương của ông Hà Văn Thắm

►Bùi Tín, cựu Phó TBT nhật báo Nhân Dân, nói về cảm nghĩ sau khi đọc Đèn Cù của Trần Đỉnh

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

►Ủy Viên Trung Ương đảng CSVN Hồ Xuân Mãn thèm của lạ, nói dối, khai man…bị tước danh hiệu anh hùng LLVT

►Nguyễn Bá Thanh bị ung thư máu (do nhiễm xạ) đã qua Mỹ chữa bệnh ngay trước Đại hội XII (2016)

►Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Vân (vợ thứ hai của ông Lê Duẩn) về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

►Về ông Lê Hồng Hà- (trong vụ án ‘cố ý làm lộ bí mật Nhà nước 1995)

 

 

Posted in Dân Chủ và Nhân Quyền, Phỏng Vấn, Trại Tù | Leave a Comment »

► Điếu Cày “Tôi sang đây là để đấu tranh cho ngày trở về, không phải cho riêng tôi, mà cho tất cả đồng bào ở đây”- Phi trường Los Angele 22-10-2014

Posted by hoangtran204 trên 23/10/2014

“Blogger Điếu Cày là tù nhân lương tâm Việt Nam nổi tiếng là bất khuất, và là một trong những NHÀ ĐẤU TRANH nổi bật nhất cho QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ, và đi đầu trong các cuộc BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC.” đã  bị tù 2008-2014 (VOA Tiếng Việt)

Mời các bạn xem  phim buổi đón mừng Điếu Cày rất niềm nở và cảm động của đồng bào chúng ta tại Phi trường Los Angeles. Anh Điếu Cày đã có lời phát biểu rất mạnh mẻ là “sẽ tiếp tục đấu tranh cho anh em đấu tranh cho dân chủ ở trong nước và đặc biệt là anh em đang làm báo chí tự do ở trong nước”. Khi được hỏi: anh có dự định trở về Việt Nam hay không? Anh đã câu trả lời : “Tôi sang đây là để đấu tranh cho ngày trở về, không phải cho riêng tôi, mà cho tất cả đồng bào ở đây“.

 

Nguồn: FB Trương Quốc Huy

 

ly_tri_anh_1.jpgdc_trinity_hong_thuan.jpg

Nguồn ảnh: David L Phạm, Lý Trí Anh, Trinity Hồng Thuận

 

CHỊ TÂN

FB Liberty Melinh

21-10-2014
Mọi người đang xôn xao mừng anh Điều Cày vừa ra khỏi nhà tù, facebook tràn ngập những hình ảnh và tin tức về anh. Mình cũng mừng lắm, anh ấy là người anh hùng, là thần tượng của mình. Nhưng lúc này mình lại nghĩ nhiều đến chị Tân và những nỗ lực của chị để đòi công lý cho anh.

“Chị Tân”, chỉ cần gọi như thế là mọi người hiểu ngay đó là vợ cũ anh Điếu Cày, cái tên đã trở nên quá đỗi thân thuộc trong làng đấu tranh từ khi anh Điều Cày bị bắt.
Chị Tân, người đàn bà chân bước tập tễnh bươn bả lặn lội xuôi ngược Bắc Nam, lúc nắng lúc mưa, khi nóng bức khi giá rét, để thăm nuôi, vận động và đấu tranh đòi công lý cho chồng. Cái chân chị bị đánh đến thành tật hòng khiến chị lùi bước, nhưng chúng đã lầm, chị còn bước khỏe hơn, dẻo dai quyết liệt hơn.

Đấu tranh cho anh, chị còn tham gia mọi hoạt động của phong trào, thậm chí có những khi là người dẫn đầu. Căn nhà của chị trở thành “cơ sở cách mạng” quy tụ, đón tiếp và “chứa chấp” những anh chị em bè bạn qua lại Sài Gòn làm công việc chung. Từ kinh nghiệm trong hành trình thăm nuôi và đấu tranh đòi công lý cho chồng, chị đã là người tư vấn tin cậy và nhiệt tình cho nhiều gia đình vừa có người thân bị bắt. Nhiều khi chị còn đồng hành cùng họ đến tận nhà tù để đấu tranh cho người thân của họ đang bị giam giữ trái phép. Những ngày anh Điếu Cày kiên cường đấu tranh trong nhà tù thì chị lặng lẽ làm tiếp công việc của anh ở ngoài. Chúng bắt một anh Điều Cày thì gia đình anh thêm 2 người tranh đấu, đó là vợ và con trai anh.

Giờ anh đã được trả tự do, mình mong anh chị đoàn tụ, hưởng hạnh phúc gia đình, và thành một cặp đôi “song kiếm hợp bích” ở phong trào này.

Mình lại nghĩ đến bà mẹ và em gái của Tạ Phong Tần, bà mẹ của Phạm Thanh Nghiên, những Lê Quốc Quyết em của Lê Quốc Quân, chị Kim Liên và cháu Thạch Thảo, mẹ và em của Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy, Nhung mẹ bé Phương Uyên, Ngọc Lụa, con gái ông Nguyễn Văn Lía, Bùi Trung, Quỳnh Anh con của Bùi Hằng, Thảo con gái ông Đinh Đăng Định.. , và bao người thân khác đã tham gia và trở thành nhân tố của phong trào khi người thân của họ bị cầm tù. Ở đâu có áp bức, bất công, ở đâu quyền con người bị chà đạp một cách tàn bạo, thì ở đó có phản kháng, một người ngã trăm người vươn lên đấu tranh là tất yếu.

Nhà cầm quyền hãy cứ đàn áp bắt bớ đi, điều đó chỉ làm cho lực lượng của phong trào đấu tranh tăng lên cấp số nhân.

Và hơn hết, lúc này đây, mình mừng cho chị Tân và các con của anh chị!

P/S, hình ảnh chị Tân và cháu Dũng tại cổng trại giam số 6, Nghệ An trong lần đấu tranh phản đối nhà tù đối xử bất công với anh. Khi đó anh đang tuyêt thực, 7/2013.

— with Sông Quê and 3 others.

CHỊ TÂN<br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
Mọi người đang xôn xao mừng anh Điều Cày vừa ra khỏi nhà tù, facebook tràn ngập những hình ảnh và tin tức về anh. Mình cũng mừng lắm, anh ấy là người anh hùng, là thần tượng của mình. Nhưng lúc này mình lại nghĩ nhiều đến chị Tân và những nỗ lực của chị để đòi công lý cho anh.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>“Chị Tân”, chỉ cần gọi như thế là mọi người hiểu ngay đó là vợ cũ anh Điếu Cày, cái tên đã trở nên quá đỗi thân thuộc trong làng đấu tranh từ khi anh Điều Cày bị bắt.<br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
Chị Tân, người đàn bà chân bước tập tễnh bươn bả lặn lội xuôi ngược Bắc Nam, lúc nắng lúc mưa, khi nóng bức khi giá rét, để thăm nuôi, vận động và đấu tranh đòi công lý cho chồng. Cái chân chị bị đánh đến thành tật hòng khiến chị lùi bước, nhưng chúng đã lầm, chị còn bước khỏe hơn, dẻo dai quyết liệt hơn.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Đấu tranh cho anh, chị còn tham gia mọi hoạt động của phong trào, thậm chí có những khi là người dẫn đầu. Căn nhà của chị trở thành “cơ sở cách mạng” quy tụ, đón tiếp và “chứa chấp” những anh chị em bè bạn qua lại Sài Gòn làm công việc chung. Từ kinh nghiệm trong hành trình thăm nuôi và đấu tranh đòi công lý cho chồng, chị đã là người tư vấn tin cậy và nhiệt tình cho nhiều gia đình vừa có người thân bị bắt. Nhiều khi chị còn đồng hành cùng họ đến tận nhà tù để đấu tranh cho người thân của họ đang bị giam giữ trái phép. Những ngày anh Điếu Cày kiên cường đấu tranh trong nhà tù thì chị lặng lẽ làm tiếp công việc của anh ở ngoài. Chúng bắt một anh Điều Cày thì gia đình anh thêm 2 người tranh đấu, đó là vợ và con trai anh.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Giờ anh đã được trả tự do, mình mong anh chị đoàn tụ, hưởng hạnh phúc gia đình, và thành một cặp đôi "song kiếm hợp bích" ở phong trào này.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Mình lại nghĩ đến bà mẹ và em gái của Tạ Phong Tần, bà mẹ của Phạm Thanh Nghiên, những Lê Quốc Quyết em của Lê Quốc Quân, chị Kim Liên và cháu Thạch Thảo, mẹ và em của Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy, Nhung mẹ bé Phương Uyên, Ngọc Lụa, con gái ông Nguyễn Văn Lía, Bùi Trung, Quỳnh Anh con của Bùi Hằng, Thảo con gái ông Đinh Đăng Định.. , và bao người thân khác đã tham gia và trở thành nhân tố của phong trào khi người thân của họ bị cầm tù. Ở đâu có áp bức, bất công, ở đâu quyền con người bị chà đạp một cách tàn bạo, thì ở đó có phản kháng, một người ngã trăm người vươn lên đấu tranh là tất yếu.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Nhà cầm quyền hãy cứ đàn áp bắt bớ đi, điều đó chỉ làm cho lực lượng của phong trào đấu tranh tăng lên cấp số nhân.</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>Và hơn hết, lúc này đây, mình mừng cho chị Tân và các con của anh chị!</p><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br /><br />
<p>P/S, hình ảnh chị Tân và cháu Dũng tại cổng trại giam số 6, Nghệ An trong lần đấu tranh phản đối nhà tù đối xử bất công với anh. Khi đó anh đang tuyêt thực, 7/2013.
Hình 7/2013
Ngày 21-10-2014

VOA: Lần cuối cùng gia đình được thăm gặp blogger Điếu Cày là cuối tháng 9?

Chị Dương Thị Tân: Đúng vào ngày 28/9.

VOA: Tại cuộc gặp lần đó, blogger Điếu Cày cũng đã cho biết một số thông tin liên quan dù chưa chắc chắn. Hôm nay, khi nhận được tin này, cảm giác của chị thế nào?

(Theo ghi chép của Anh Điếu Cày, Bộ Công An đã làm hộ chiếu và giấy xuất cảnh cho anh khi đang còn ở trại giam 6 Nghệ An ngày 22-9-2014.  Trần Hoàng ghi)

Chị Dương Thị Tân: Mình chuẩn bị tâm lý là họ phải thả ông Hải, chứ mình không nghĩ là một sự ra đi vội vàng, bí mật thế này. Mình cũng không lường đến đâu. Cách ra đi thế này chưa từng có. Hoa Kỳ có thể đã mang rất nhiều người đi rồi. Thế nhưng, chưa bao giờ có trường hợp nào như thế này cả.

VOA: Vài trường hợp trước đây khi phóng thích-trục xuất tù nhân lương tâm ra khỏi nước có người thân đi kèm. Việc này hoàn toàn không xảy ra với thân nhân Điếu Cày, gia đình có cảm nghĩ thế nào?

Chị Dương Thị Tân: Mình rất bàng hoàng. Ông Hải vừa trong tù ra, 6 năm rưỡi với một người tù đặc biệt như ông Hải không hề được tiếp cận với bất cứ một nguồn thông tin nào cả mà bây giờ lại phải ra đi đến một nơi xa lạ, xa xôi như thế không có người thân nào đi cùng. Ở Mỹ, gia đình mình không có thân nhân. Rất nhiều lo lắng. 

VOA: Giữa hai trường hợp với blogger Điếu Cày: một là mãn hạn tù 12 năm trở về với gia đình, hai là được can thiệp phóng thích sớm và trục xuất ra khỏi nước kiểu này. Trong hai trường hợp đó, theo chị, trường hợp nào tốt hơn cho blogger Điếu Cày?

Chị Dương Thị Tân: Mỗi cách đều có vấn đề của nó. Ông Hải mà ở hết hạn tù thì đương nhiên vị thế của ông trong mắt bạn bè và giới đấu tranh dân chủ rất tốt, như là một tấm gương, một niềm khích lệ cho anh chị em. Nhưng ngược lại, nó lại có những nguy hiểm rình rập. Như cô thấy, thời gian gần đây một số tù nhân được thả ra thường là đau ốm, bệnh tật, cũng có những trường hợp ra tù không lâu thì chết. Việc ra đi như hôm nay thì tốt về vấn đề đỡ phải lo toan cho sinh mạng của ông trong tay họ. Nhưng ngược lại thì có những lo âu.

VOA: Có ý kiến cho rằng Hoa Kỳ can thiệp cho tù nhân lương tâm Việt Nam là điều rất tốt, nhưng cũng có người nói sự can thiệp kiểu này không có tác dụng lâu dài, nhiều khi còn lợi bất cập hại, ảnh hưởng đến hoàn cảnh chung của phong trào dân chủ Việt Nam khi ai đấu tranh đến một mức nào đó thì cũng phải ra đi khiến con đường tương lai dân chủ Việt Nam nhìn chung chưa mấy được sáng sủa. Ý kiến riêng của chị, một người trong cuộc, thế nào?

Chị Dương Thị Tân:Tốt cho cá nhân, nhưng không tốt cho phong trào chung. Thực tế mà nói cách ngoại giao con tin, cách mặc cả đổi chác bằng chính con dân của mình thì trên thế giới này không một quốc gia nào sử dụng chiêu bài này cả. Họ làm tổn hại đến quốc thể, một sự sỉ nhục quốc gia, khi mặc cả-đánh đổi những tù nhân lương tâm lấy những thứ họ cần.

VOA: Một lời chia sẻ góp ý, một tiếng nói từ thân nhân tù nhân lương tâm trong nước được chính phủ Hoa Kỳ can thiệp, chị sẽ nói gì với chính phủ Mỹ?

Chị Dương Thị Tân: Về mặt cá nhân, về mặt gia đình, tôi thay mặt ông Hải gửi lời cảm ơn chính phủ Hoa Kỳ. Nhưng với cách can thiệp của chính phủ Hoa Kỳ thì hầu như họ cứ bật đèn xanh để cho chính phủ Việt Nam làm những việc tương tự trong tương lai. Con đường đấu tranh chắc còn gian nan nhiều lắm. Thay vì ủng hộ chúng tôi thì phải bằng những cách khác như giám sát, chế tài và làm những việc khác quyết liệt hơn chứ không phải là mang đi từng người, từng người một. Nhưng trước mắt, về khía cạnh gia đình, tôi có lời tri ân đến chính phủ Hoa Kỳ vì đã giúp đỡ một hoàn cảnh rất khắc nghiệt, rất đau thương là thân nhân gia đình tôi đi thoát khỏi những nơi chốn như vậy. Nhưng về vấn đề chung thì thật sự cũng không mấy vui.

VOA: Cảm ơn chị rất nhiều vì thời gian dành cho cuộc trao đổi này.

Blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải), một trong những tên tuổi hàng đầu trong danh sách những nhà hoạt động ôn hòa mà thế giới thúc giục Hà Nội trả tự do.

Ông là một trong những người đi đầu trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc đầu tiên tại Việt Nam và cũng là một trong những ngòi bút tiên phong trong phong trào báo chí công dân, sáng lập ra Câu lạc bộ Nhà báo Tự do trong đất nước không có báo chí tư nhân và thông tin-truyền thông bị kiểm duyệt gắt gao.

Ông từng nhận Giải thưởng Hellman-Hammett năm 2009 của tổ chức Human Rights Watch dành cho các ngòi bút can đảm bất chấp đàn áp chính trị.

Ông từng đoạt Giải Tự do Báo chí Quốc tế 2013 do Ủy ban Bảo vệ Ký giả trao tặng.

Ông cũng từng được đích thân Tổng thống Mỹ Barack Obama vinh danh trong ngày Tự do Báo chí Thế giới 2012 khi nhắc tới những ngòi bút bị tù đày vì đấu tranh cho dân chủ-nhân quyền.

Trường hợp của ông được cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, và các bản án Việt Nam đã tuyên phạt ông lần lượt từ 2, 5 năm tù về tội trốn thuế cho tới 12 năm tù về vi phạm điều 88 Bộ luật Hình sự bị thế giới xem là bằng chứng của sự vi phạm trầm trọng các quyền căn bản của công dân.

Người được Ân xá Quốc tế gọi là tù nhân lương tâm từng tuyệt thực 33 ngày hồi năm ngoái để phản đối những sai trái, bất công trong trại giam.

►VOA phỏng vấn chị Dương Thị Tân về chuyện Blogger Điếu Cày được phóng thích sang Mỹ 21-10-2014

Nguyễn Lân Thắng: “Thực ra nếu anh Vũ hay anh Hải ở nhà cũng khó làm được gì, bản thân tôi hay những anh em khác dù đang tự do nhưng cũng rất khó cựa quậy… nổi rồi chặn phát là chết cứng ngay… Vì thế các bạn đừng buồn, đừng mất hy vọng, mà phải coi đây chính là cơ hội để các bạn bước ra khỏi bóng tối mà hành động… Đất nước này thay đổi khi tất cả chúng ta thức tỉnh!”

6 năm trong nhà tù cộng sản là thời gian dài đăng đẳng. Anh Điếu Cày cần phải chữa bệnh và phục hồi sức khỏe. Cuộc đấu tranh cho quyền báo chí tự do và đất nước có dân chủ hãy còn lâu dài và đòi hỏi mọi người phải cùng nhau góp sức. 

Những gì đang diễn ra với tù nhân chính trị trong nhà tù cộng sản Việt Nam>>> Blogger Điếu Cày trong mắt bạn tù – VOA tiếng Việt   (19-10-2014)

Nguyễn Xuân Nghĩa: Anh rất rộng rãi, anh từng giúp đỡ nhiều anh em Tây Nguyên để họ bớt khó khăn trong việc ăn uống và quần áo. Họ không quen khí hậu lạnh ở miền Bắc và gia đình họ cũng không có điều kiện thăm nuôi thường xuyên để gửi quần áo ấm. Anh Hải đã trợ giúp họ rất nhiều. 

Khi anh Hải ra đi, có nghĩa là nguồn trợ giúp cho những nguời tù Tây Nguyên không còn nữa.

 

Posted in Phỏng Vấn, Tù Chính Trị, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

►Năm 1976, lần đầu tiên mình hiểu thế nào là thế giới tự do khi vào Sài Gòn lần đầu

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2014

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

NQL: Có điều này không mới nhưng phải nhắc lại:

Dù không muốn nói ra, dù bây giờ ai nói ra đều bị coi là phản động, rằng đã có một cuộc giải phóng ngược trong ngày 30/4/1975, bên thắng cuộc đã được hoàn toàn giải phóng, trước tiên và trên hết là sự giải phóng về tư duy, ít nhất là đúng với mình

Năm 1976 mình 20 tuổi, lần đầu vào Sài Gòn, thấy người bán hàng niềm nở chào mời khách hàng mình quá ngạc nhiên. Mua bất cứ thứ gì cũng chủ hàng cho vào túi nilon lại càng ngạc nhiên tợn.

Lần đầu tiên mình hiểu thế nào là thế giới tự do và điều mà cô thầy mình hay nói về Sài Gòn là phồn vinh giả tạo là rất giả tạo.

Ngày ấy khi học bài Sống như anh, mình hỏi cô giáo, nói thưa cô sao anh Trỗi nghèo thế mà có xe máy để đi?

Cô giáo trả lời, nói bọn tư bản nham hiểm lắm các em ạ, chúng bắt dân nghèo phải mua xe máy để chúng nó bán được xăng. (!)

Lúc đó mình khinh ghét bọn tư bản lắm, sau ngày 30/4/1975 mình mới hiểu ra đó là lối giáo dục nham hiểm, cô giáo mình chỉ là cái loa, không loa thì có mà ăn cám!

Cảm ơn ngày 30 /4/năm 1975 đã giúp tôi giải phóng tư duy từ lúc đó sau khi đứng trước vạn cuốn sách từ bé đến lớn chưa khi nào trông thấy. 

Giả sử không có 30/4/1975 thì đến nay rất có thể miền Nam là Hàn Quốc còn miền Bắc là Bắc Triều Tiên về mọi phương diện,  chắc thế.

* Nhà văn Dương Thu Hương

Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khócVì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. 

Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Nguồn  

 

* Trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc, (2012),  tác giả Huy Đức đã ghi rằng: 

 Nguyên Ngọc: Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn .

 Huy Đức:  “bên (cần)được giải phóng hóa ra lại là Miền Bắc”.

 ►Góp phần “giải mã” một thế hệ dấn thân – Hà Sĩ Phu

Posted in Phỏng Vấn, Sách-Hồi Ký-Bài Báo... | 2 Comments »

►Cuộc Họp Báo Quốc Tế của Bà quả phụ Ngô Đình Nhu vào năm 1982

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2013

Phần 2,3,4 coi ở đây http://www.youtube.com/results?search_query=Interview+with+Madame+Ngo+Dinh+Nhu%2C+1982

Tài Liệu Lịch Sử: Nhân dịp tưởng niệm 50 năm tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị Bào Đệ và các Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà đã vị quốc vong thân, xin giới thiệu với các bạn, các anh chị, Video Cuộc Họp Báo Quốc Tế của Bà quả phụ Ngô Đình Nhu vào năm 1982. Bản gốc Anh ngữ và video được lưu trữ ở website của Thư viện tại: 

http://openvault.wgbh.org/catalog/vietnam-1a3f8e-interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982

Bà Ngô Đình Nhu đã chứng minh cho quốc tế thấy lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của dòng họ Ngô Đình.

Phần dịch Việt ngữ do Khối Kỹ Thuật, UBTTTADCSVN, thực hiện. 

Cũng xin nhắc lại từ sau biến cố 1 tháng 11 năm 1963, Bà Ngô Đình Nhu cùng các con đã đi sống lưu vong ở Âu Châu. Có lúc thì ở Ý, và sau cùng Bà định cư tại Pháp cho đến lúc qua đời. Bà sống khép kín và ít giao thiệp bên ngoài hay tiếp xúc với báo chí, truyền thông. Cuộc phỏng vấn này là lần hiếm hoi duy nhất, Bà giành cho các thông tấn viên truyền hình Mỹ. Bà cũng đã xin lỗi đã lâu (gần 20 năm) không dùng tiếng Mỹ, nên có thể thỉnh thoảng Bà phải liếc xem giấy trong tay Bà. Tuy nhiên, chúng ta cũng rất ngạc nhiên là khả năng ngoại ngữ của Bà, đặc biệt là trả lời trực tiếp trước ống kính, rất tự tin so với nhiều nhà lãnh đạo hiện tại của Việt Nam.

Mời các bạn, các anh/chị theo dõi 1 trong các phần phỏng vấn dưới đây. 

——————————

Để đọc chữ lớn, phóng đại trang này lên 150% hay 175%. 

Làm như sau: Ngón cái đè nút Ctrl xuống, ngón trỏ nhấp vào dấu + để phóng lớn, và dấu – để giảm cở chữ nhỏ

Tóm Tắt
Là người em dâu của Tổng Thống Diệm, Madame Ngô Đình Nhu được xem như một đệ nhất phu nhân của Nam Việt Nam vào những năm cuối 1950s cho đến đầu 1960s.

Đây là phần bà chứng minh cho thấy chính phủ Diệm là một chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Việt Nam và rằng họ đã bị Mỹ phá hoại và rằng Mỹ, do đó, đã trả giá.

Bà bàn luận về vụ Khủng Hoảng Phật Giáo năm 1963 và những kết quả của các Hòa Ước Paris.

Bà nhận định cá tính của ông Ngô Đình Nhu và TT Diệm và danh tiếng của bà là một “Dragon Lady” của Việt Nam.

Cuối cùng, bà mô tả những nổ lực ngoại giao của ông Ngô Đình Nhu đối với Bắc Việt Nam và sự kiêu ngạo của Mỹ trong vấn đề can thiệp vào. 

Legitimacy of the Diem government
I. Tính hợp pháp của Chính phủ Diệm

Madame Ngô Đình Nhu [còn được biết là Trần Lệ Xuân]

Madame Ngô Đình Nhu: Ah, c’est je commence? [Tiếng Pháp] À, vậy là tôi bắt đầu? Quý vị, quý vị là nhóm truyền thông phương Tây đầu tiên hỏi tôi, gởi đến tôi câu hỏi đó.

 Chuyện gì đã xảy ra ở VN? Và điều gì đã sai lầm? Quý vị là người đầu tiên. Tôi chấp nhận quý vị ngay vì gần hai thập niên không có ai quan tâm đến chuyện gì đã xảy ra ở VN. Những gì tôi phải nói thì rất quan trọng đối với tôi. Và gần hai mươi năm tôi đã không có cơ hội thực hành Anh ngữ, vì vậy thỉnh thoảng tôi sẽ tham khảo tài liệu đã được soạn sẵn.

Trước hết tôi muốn hỏi quý vị, quý vị không nhận thấy rằng số phận khác thường dành cho nước Mỹ sao? Quý vị không nhận thấy rằng Tổng Thống Carter, thí dụ, là vị TT Mỹ xấu số thứ 5 sao? Và quý vị không nhận thấy điều này cũng có nghĩa rằng các chính trị gia thật thông minh, thật tài giỏi ấy lại cho rằng họ đã có thể nói vào 1975, thí dụ, là hãy bỏ quên Việt Nam lại sau lưng sao?

Họ đã cho rằng họ có thể nói điều đó với nhân dân Mỹ, hãy quên đi VN. Mặc dầu với sức mạnh và tài năng của họ, trên thực tế họ lại chính là những người có số phận ấy. Vậy thì đây là điều khác thường mà VN đã có thể tạo ra, đã có thể lôi cuốn số mệnh vào những ai cho rằng họ có thể khinh miệt mình, khinh miệt đất nước của tôi. Và Mỹ không phải là đầu tiên. Đầu tiên, chẳng hạn, là chính phủ Mendès France của Pháp.

Ông ta có một tầm vóc chính trị như thế mà không ai hiểu tại vì sao sau việc ký kết phân ranh Việt Nam lại điều chỉnh lời kêu gọi của ông ta. Ông ta muốn loại bỏ VN trong quá khứ – Quá khứ đó dành cho ông ta. Vì vậy nên bây giờ tôi phải nghĩ… số phận ấy bắt đầu từ việc phân ranh VN. Tại sao? Bởi vì thực dân Pháp lúc bấy giờ đã có thể trao trả toàn vẹn đất nước VN lại cho chính quyền hợp pháp, nhưng thay vào đó nó đã lợi dụng vào việc thua trận trong khi nó không hề thua trong cuộc chiến.

Pháp lợi dụng vào việc thua trận để phân chia đất nước VN nhằm phối hợp với Cộng sản và đặt nhân dân Việt Nam vào một sự việc đã rồi. Đây là sự mưu phản thứ nhất. Bây giờ tôi giải thích sự mưu phản thứ nhất đối với chính quyền hợp pháp nào? Bây giờ tôi phải giải thích tại sao chính quyền hợp pháp quá liên hệ vào và vì tôi nhìn thấy rất rõ rằng đối với người phương Tây, quý vị biết rõ sự quan trọng của chính quyền hợp pháp có nghĩa là gì.

Nhưng quý vị đối xử, quý vị hành động, xin lỗi khi tôi nói Quý Vị, nghĩa là “quý vị” theo cách nói chung. Thực ra, phương Tây đối xử như thể chúng tôi, thế giới thứ ba, không hiểu chút nào về chính quyền hợp pháp. Đấy là cho chúng tôi, cho chúng tôi. Điều đó có nghĩa là không có cái đầu nào tốt. Trên thực tế, ta phải có một cái đầu lành mạnh nếu ta muốn Chúa Thánh Thần thể hiện bản thân thông qua nó. Để có cái đầu lành mạnh – Có nghĩa là gì? Nghĩa là chính quyền đó phải hợp pháp.

Hợp pháp có nghĩa là được bầu cử một cách chính đáng. Nghĩa là chính quyền đó phải chấp nhận cuộc đương đầu hòa bình với chính quyền tiền nhiệm và với tất cả những ai chấp nhận để nhân dân bầu chọn mà không dùng đến phương sách bạo động. Ở VN, chính quyền duy nhất đáp ứng những điều kiện này là chính phủ của TT Ngô Đình Diệm bởi vì ông là người duy nhất chấp nhận có cuộc đương đầu hòa bình với Hoàng Đế Bảo Đại, người tiền nhiệm của ông.

Và sau khi ông bị giết, không ai dám chấp nhận đương đầu hòa bình với người mà người ấy nên được bầu chọn vào vị trí của ông trong trường hợp ông biến mất, chiếu theo Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa được thành lập bởi ông. Vì vậy khi nói Hồ Chí Minh giành được sự thoái vị của Bảo Đại, chẳng hạn, thì nó có nghĩa là ông ta đã giành được toàn bộ sự sai lạc, bởi lẽ Bảo Đại đã trở lại 4 năm sau đó để không thừa nhận ông ta.

Vì vậy chính quyền hợp pháp duy nhất của VN là chính quyền được đảm đương bởi TT Ngô Đình Diệm và nói một cách chính xác là đã bị chặt đầu bởi Mỹ. Vậy thì giờ đây quý vị, tôi nghĩ quý vị bắt đầu hiểu tại sao có một số phận như thế đặt trên đầu của nước Mỹ, sau khi những gì đã được làm ở VN… Bây giờ tôi cần giải thích tại sao có sự chặt đầu đó. Tôi xin lỗi, để lưu tài liệu…

Ký giả:
Vous pouvez dire la morte, la morte… [Tiếng Pháp] Bà có thể nói cái chết, cái chết… 

Bà Ngô Đình Nhu:
Không, ý tôi nói Việt Nam bị chặt đầu. 

Ký giả:
À, vâng. Vậy thì có lẽ có thể nói một cách rõ hơn là tại sao có cuộc đảo chánh, hoặc tại sao lãnh đạo chính phủ đã bị… 

Madame Ngô Đình Nhu:
À đúng. Không, nhưng ý tôi muốn nói như thế này — bởi tôi cho rằng một chính quyền hợp pháp của VN là cái đầu, và nếu quý vị phản bội, nếu quý vị … có thể nói như thế nào, làm cho nó biến mất? Điều đó chính xác như là quý vị chặt đầu VN. 

Ký giả:
Toàn bộ đất nước. 

Bà Ngô Đình Nhu:
Đúng, VN là một cơ thể con người, có thể nói như vậy. Đó là một chính quyền hợp pháp. Đó là cái đầu của nó. Và khi quý vị phản bội nó, quý vị tấn công nó. Đó là khi quý vị chặt đầu nó. Quý vị thấy không. 

Struggles with statecraft in South Vietnam 
II. Sự Cố Gắng Trong Việc Điều Hành Quốc Gia tại Nam Việt Nam 

Madame Ngô Đình Nhu:
Bây giờ hãy giải thích tại sao như vậy và, trên thực tế, nó chỉ diễn ra sau vấn đề Vịnh Con Heo, Bức Tường Bá Linh, và Hỏa Tiễn của Cuba. Sau ba vấn đề, mà chúng ta có thể nói, sai lầm thì Chính phủ Mỹ tin rằng phải lấy lại phần nào uy tín ở nước tôi.

Đưa vấn đề hỏa tiễn Cuba ra thì có thể khiến cho người ta sửng sốt bởi vì nó luôn đại diện cho uy lực. Nhưng thực sự tôi thì không nghĩ như vậy. Tôi nghĩ rằng ngay cả CP Mỹ cũng đã hiểu nó không là uy lực gì cả. Tôi tin rằng CP Mỹ đã bị Sô Viết đánh lừa. Sô Viết đã không hề có khả năng bảo vệ Cuba nhưng giờ đây lại thành công trong việc đạt được công ước không tấn công đảo quốc này mà đổi lại là cắt giảm vài hỏa tiễn.

Bà Ngô Đình Nhu: 
Và vì vậy tôi xem việc CP Mỹ vào lúc đó đã bị Sô Viết lừa gạt vì Sô Viết hoàn toàn không có khả năng bảo vệ Cuba mà lại đạt thỏa thuận chỉ bằng cách cắt giảm vài hỏa tiễn… Không ai biết chúng có được làm bằng thiếc hay không vì chỉ có họ sử dụng chúng. Có thể nói đó là một cái giá rẻ mạc cho một công ước không tấn công. Nên tôi nghĩ do tất cả những thất bại, những sai lầm, mà CP Mỹ lúc đó đã không thể kháng cự và dễ mắc lừa…

Nó đã quá dễ mắc lừa. Nó không còn sức kháng cự để dùng lá bài thắng cuộc duy nhất là VN. Để nói VN như là sự thắng cuộc — như là lá bài thắng cuộc, chắc chắn người ta sẽ cảm thấy ngạc nhiên rằng bởi lẽ: ‘Đối với chúng tôi, Việt Nam luôn đại diện điều gì đó thua cuộc. Nó đang ở trong tình trạng hổn độn mà!’, vv…vv… Điều này không đúng! Bằng chứng VN là lá bài thắng cuộc là vì, trên thực tế, Mỹ đã nhảy vào đó, muốn có mặt ở đó, và phải giết người để xen vào. Vì không thì còn ai có thể, cứ cho rằng duy vật như người Mỹ, mà làm tất cả những chuyện như vậy để nhảy vào một nơi thua cuộc.

Vậy thì bằng chứng rất rõ là ở đó. Còn bằng chứng đối với CP Mỹ thì, thực ra, là vì chúng tôi đã bình định toàn bộ miền Nam qua Chương Trình Ấp Chiến Lược và mặc dầu, nhận thấy bị thua trong chiến tranh du kích và chiến tranh lật đổ, người Cộng Sản không dám leo thang và từ đó không dám leo thang. Người Mỹ đã nhìn thấy rất rõ nhưng lại không dám nhìn nhận, chỉ vì sợ hãi. 

Nên họ đã cân nhắc tất cả các yếu tố cho một sự thắng cuộc chắc chắn ở VN cần được tiến hành. Chỉ có cách duy nhất là gia đình Ngô Đình, tức là TT Ngô Đình Diệm và chồng tôi — được thay thế bằng những ai chịu chấp nhận sự can thiệp của Mỹ. Vì chúng tôi không muốn sự can thiệp đó, nên TT và chồng tôi đã phải bị giết, chỉ có vậy.

Và để thực hiện sự mưu phản đó, giới truyền thông phương Tây theo chân thế giới Mỹ đồn thổi chúng tôi là những kẻ độc tài. Đối với chuyện này thì tôi cần phải đọc, bởi thực sự nó rất là quan trọng đối với tôi. Chúng tôi đã bị đưa ra, thậm chí bây giờ đây, là kẻ độc tài, những kẻ độc tài, nhưng chúng tôi không bao giờ vi phạm hiến pháp chúng tôi, vốn còn dân chủ hơn hiến pháp Mỹ và dân chủ hơn hiến pháp Pháp và Anh. 

Về mặt nào? Cơ quan lập pháp của chúng tôi, là một thí dụ, được trao cho quyền hạn bởi Tu chánh án hiến pháp 1962, để công khai chất vấn cơ quan hành pháp bất cứ khi nào trong phiên họp đại hội. Điều này thì tương đối với cơ quan hành pháp Mỹ. Cạnh đó, cơ quan hành pháp chúng tôi không có quyền hạn giống như ở Pháp và Anh để quyết định trước khi thông qua cơ quan lập pháp. 

Không bao giờ. Chúng phải cùng tồn tại cho đến khi mãn nhiệm kỳ của mình. Người dân không thể được triệu tập bởi vì cả hai không thể hòa hợp. Chúng tôi thấy điều đó quá vô ích, quá vô ích. Và, đối với những vấn đề quan trọng, thì có những cuộc trưng cầu dân ý. Vì vậy bằng chứng là ở đó. Tất nhiên, tu chánh án chỉ được thành lập vào năm 1962, nhưng những ai từng nói? Những ai từng thông báo với thế giới để nói rằng hiến pháp chúng ta như thế này thì nghĩa là có dân chủ hơn. 

Bà Ngô Đình Nhu: 
Tất nhiên, chúng tôi đã không có nhiều thời gian để áp dụng tu chánh án của chúng tôi nhưng ít nhất nó đã có. Vì vậy, hoàn toàn không trung thực khi đưa chúng tôi ra như những kẻ độc tài trong khi chúng tôi đã không bao giờ vi phạm hiến pháp của chúng tôi. Không có chứng cớ của bất kỳ sự sai trái từ chúng tôi đối với hiến pháp của chúng tôi. Nhưng mà để tạo nên lòng tin tối thiểu đối với giới truyền thông tại thời điểm đó, giới truyền thông phương Tây tại thời điểm đó đã gọi chúng tôi là những kẻ độc tài. Họ phát minh ra chuyện của Phật giáo, để đưa chúng tôi ra ít nhất không những là những kẻ độc tài mà còn bị phản đối bởi một phần lớn nhân dân của chúng tôi. 

Chuyện của Phật giáo đó. Quý vị biết tại sao họ đã sử dụng nhóm đó không? Đó là bởi vì làm như vậy: Tôi chắc chắc rằng niềm tin vào Phật giáo chân chính: không hành động, không phản ứng. Vì vậy một tín đồ Phật giáo chân chính không bao giờ phản ứng. Họ sẽ không bao giờ đi ra ngoài và công khai tố cáo bất cứ ai.

Vì vậy bằng cách sử dụng nghi thức Phật giáo thì họ chắc chắn không thể bị chối bỏ bởi tín đồ Phật giáo thật sự. Tuy nhiên, họ biết rằng đối với phương Tây, đó là sự cuồng tín tôn giáo. Nói chung là coi như là một cái gì đó điển hình cho những người chưa trưởng thành, các nước kém phát triển tinh thần, nên nó không cần phải giải thích để tự biện minh. 

Nên, vì hai lý do này mà họ đã chọn tín đồ Phật giáo để – bạn gọi nó như thế nào? – Nghi thức? tôi không biết, dùng chiêu bài nghi thức cúng dường sinh mạng của họ để tạo lòng tin khi cáo buộc chúng tôi là những người độc tài không được lòng dân. Nhưng điều này cũng đã đủ để chúng tôi bắt một vài kẻ khuấy động và xem qui est-ce [Tiếng Pháp] họ là ai, yêu cầu Liên Hiệp Quốc gởi nhóm điều tra sang, và chích quả bóng Phật giáo thành ra xẹp.

Mời các bạn tham khảo bài Chế độ của TT Ngô Đình Diệm là gia đình trị, đàn áp phật giáo?) bài này nằm cuối cùng trong THƯ VIỆN CÁC BÀI ĐƯỢC ĐỌC NHIỀU NHẤT

Vì chuyện đó, Chính phủ Mỹ cho rằng họ bị mất mặt và quyết định kết thúc với chính quyền hợp pháp này — Việt Nam với cái gọi là cuộc nổi dậy, trong đó TT Ngô Đình Diệm và chồng tôi đều bị ám sát.

Bây giờ tôi nói sang sự mưu phản thứ hai.

Sự mưu phản thứ hai đến vào tháng Giêng, 27.1.1973 tại Paris, 12 quốc gia trong đó có các quốc gia quyền lực nhất thế giới — Sô Viết, Trung Quốc, và tất nhiên Mỹ là đầu tiên, Sô Viết, Trung Quốc, Pháp, Anh, vv…, 12 quốc gia tập hợp rất long trọng tại Paris để ký cho sự bảo đảmquyền của nhân dân Việt Nam lựa chọn chính quyền hợp pháp dưới sự kiểm soát của quốc tế.

Mặc dầu vậy, hiệp ước đó, hiệp ước quốc tế đó đã không bao giờ được tôn trọng. Tại sao? Tất cả những người đã ký vào cư xử như thể Tướng Dương Văn Minh, người đã đầu hàng CS năm 1975, đại diện cho Việt Nam. Vì ông ta đại diện cho Việt Nam, ông ta đầu hàng. Vụ việc được đóng lại. 

Nhưng thật là hoàn toàn đạo đức giả bởi lẽ Tướng Minh chỉ đại diện cho chính mình và các tòng phạm với Mỹ trong việc chặt đầu VN. 

Diem’s regime in relation to the American Mission in Vietnam
III. Chế Độ Diệm trong quan hệ với Sứ Mạng của Mỹ tại Việt Nam 

Madame Ngô Đình Nhu
Kể từ lúc hiệp ước quốc tế Paris không có mục đích gì khác hơn là được sử dụng để bảo đảm cho Việt Nam – miền bắc cũng như miền nam – quyền có được chính quyền hợp pháp dưới các khoản bảo trợ của quốc tế, thì hiệp ước Paris không thể phục vụ như là một bằng chứng ngoại phạm cho một sự mưu phản khác. Sự mưu phản đó là đặt Tướng Minh làm đại diện của chúng tôi trong khi ông ta không phải. Và sự mưu phản gấp đôi này được che đậy bằng một cuộc trình diễn phức tạp đầy tội lỗi.

Cuộc trình diễn này cho phép Mỹ không bị chất vấn và đồng thời ngăn việc người CS bị chất vấn. Ngăn người CS không bị chất vấn mà, thực ra, tuân theo việc tạo ra cuộc trình diễn phức tạp đầy tội lỗi này.

Mỹ giả vờ bị bắt phải giữ lời hứa trước những người không biết sự thật trong khi, trên thực tế thì quá phức tạp, lại không hề được giải thích thì chỉ giúp để che đậy tội lỗi gấp đôi của nó cho đến tận bây giờ — tức là chống lại sự xác nhận Việt Nam.

Hậu quả là sự cuồng tín tôn giáo năm 1965 khi chuyện Phật giáo vượt quá tầm tay Mỹ, thì một trong những chàng trai vàng của Mỹ đã dùng máy bay Mỹ, bom và tất cả những thứ đó nghiền nát các ngôi chùa. Sau đó, tất nhiên, Mỹ đã bị thuyết phục rằng sự cuồng tín của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể được giải quyết theo cách đó.

Hậu quả thứ hai là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn đã bị lạm dụng như một trung tâm dùng cho chiến tranh lật đổ và tuyên bố chiến tranh chống lại Việt Nam để làm mất ổn định đất nước này, trong đó có vụ sát hại vị nguyên thủ hợp pháp. Tôi không biết những gì đã được thực hiện ở Iran, nhưng cho rằng vai trò của các nhà ngoại giao không phải là để kiểm soát và tuyên bố chiến tranh lật đổ bởi sẽ quá bất công cho họ có cuộc sống của họ gặp nguy hiểm vì làm chuyện như vậy.

Đó là lý do tại sao. Tôi nghĩ rằng những gì tôi nghe hiện nay là… không bao giờ lập lại nữa. Không bao giờ lập lại chuyện gì? Tức là từ nay các đại sứ quán không thể bị chuyển đổi như ở Việt Nam. Đừng nghĩ rằng có thể làm thay đổi bằng cách trả đũa, nhanh chóng và ác liệt, bởi vì trong trường hợp đó chúng ta có thể đẩy bản thân mình đến nỗi lo sợ về chiến tranh toàn cầu, chiến tranh thế giới.

Chưa từng ai có thể làm chuyện đó – sử dụng một đại sứ quán làm trung tâm cho cuộc chiến tranh phá hoại, ngoại trừ Mỹ. Bởi vì quý vị đã hiến dâng đồng đô la của quý vị với Đức Chúa, “In God we trust” [Đức Chúa, chúng con tin tưởng]. Vì vậy, ngay sau khi Mỹ không mạch lạc với chính mình, nó sẽ ngay lập tức nhận hậu quả. Bây giờ, quý vị có thể đặt câu hỏi của quý vị.

Ký giả:
Madame Nhu, bà hiện diện vào khoảng thời gian 1954 đến 1963 trong khi Ngô Đình Diệm làm lãnh đạo của chính phủ. Bà có thể cho chúng tôi biết một tí về ông như thế nào không? Bà có thể mô tả cá tính ông, và cho biết ông có thay đổi gì trong suốt giai đoạn 9 năm đó không?

Bà Ngô Đình Nhu:
Ồ, ông chưa bao giờ thay đổi. Để mô tả cá tính của ông, tôi có thể nói rằng ông là một người đạo đức – như trong Kinh Thánh. Nghĩa là có thể phạm sai lầm, nhưng ông luôn luôn muốn phục thiện ngay lập tức. Đó là lý do tại sao tôi cho rằng thật là một tội ác từ phương Tây khi lên án ông, giết ông mà không cho ông cơ hội để thậm chí trả lời, để nói chuyện bởi lẽ lúc đó quý vị không biết chuyện.

Ông đã hỏi, nhưng có chuyện gì sai vậy? Các ông muốn tôi làm gì vậy? Và quý vị có biết điều gì đã được nói với ông không? (Vị đại sứ đầu tiên, Đại sứ Nolting, đã bị sa thải một cách phi lý bởi vì ông đã không đồng tình với những việc phá hoại của Đại sứ quán Mỹ thời điểm đó. Ông đã bị thay thế bằng một người khác.) Vì vậy câu hỏi của Tổng thống Diệm, chuyện gì vậy? Tôi phải nói gì, tôi phải làm gì?

‘Chỉ cần nói, không có gì. Chỉ giữ im lặng. Không nói bất cứ điều gì.’ Tất cả chuyện này được dựng lên bởi báo chí, bởi các hãng truyền thông. ‘Để cho chúng tôi; chúng tôi sẽ sắp xếp nó.’ Còn phần của ông chỉ việc giữ im lặng và bị giết, bị đâm từ phía sau mà không nói gì!

Ký giả: 
Còn về những ấn tượng đầu tiên của bà về người Mỹ? Khi lần đầu tiên bà ở đó, bà có cảm thấy họ đã biết họ dự định làm gì không?

Ngô Đình Nhu: 
Những ấn tượng đầu tiên của tôi về người Mỹ? Lúc đầu chúng tôi – tôi đã rất, bạn nói như thế nào, bien intentionée [Tiếng Pháp], có nghĩa là tôi đã có những thiên kiến tốt nhất về họ. Tôi đã cho rằng họ là những người chân thành và là người mà người ta có thể hòa đồng rất tốt. Không có vấn đề chi, nhưng…

Ký giả: 
Những người như Đại tá Lansdale người đã đưa ra lời khuyên cho TT Diệm vào thời điểm đó, thí dụ…

Bà Ngô Đình Nhu: 
Đúng, Đại Tá Lansdale. Tôi phải nói rằng tôi không biết ông ta rõ lắm. Tôi không biết ông ta rõ lắm. Tôi đã gặp ông ta vài lần, nhưng tôi nghĩ rằng thực sự đối với Tổng Thống, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì đã gặp người Mỹ và thực sự ông thích họ. Ông cho rằng ông có thể hòa đồng với họ. Đối với chúng tôi, chúng tôi đã không có nhiều cơ hội để gặp họ. Nhưng tôi tin rằng Đại Tá Lansdale – bây giờ ông là một vị tướng – là một người bạn tốt như nhiều người, như Đại Sứ Nolting. Nhưng những người, những người bạn tốt của chúng tôi đều đã bị sa thải.

The character of Madame Nhu and her husband
IV. Cá Tính của Madame Nhu và Chồng của bà

Ký giả: 
Madame Nhu, trong giai đoạn đầu này, bà đã được biết đến như là Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam. Bà có thể xác định vai trò của bà nếu được?

Madame Ngô Đình Nhu: 
Ồ không, chuyện này quá rắc rối, và nếu tôi, à, nó sẽ làm thành nhiều tập để nói về việc tôi đã bị túm cổ như một chú mèo con và quẳng vào đấu trường. Đấu trường, bạn có nói không? Đúng, và đó là…

Ký giả:
Madame Nhu, trong suốt giai đoạn của Chính phủ Diệm, bà đã được biết đến như là Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam. Bà có thể xác định vai trò của bà cho chúng tôi?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Vai trò của tôi. Không, thật là quá khó để mà xác định. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi đã bị túm cổ bởi Chúa và như một chú mèo con, quẳng vào một đấu trường có những con sư tử. Nhưng tôi tin rằng chỉ vì tôi được sinh ra dưới biểu hiện của sư tử, nên tôi phải tin mình có thể hòa đồng với chúng. Mà thực sự, đó là một câu chuyện rất dài để nói. Tôi đã viết ít nhất 3 tập về nó vì vậy tôi xin chọn để dành phần này.

Ký giả: 
Còn về báo chí phương Tây đã phản bội bà như thế nào? Thí dụ, có sự việc gọi bà là Dragon Lady. Xin bà vui lòng bình luận về sự việc đó?

Madame Ngô Đình Nhu: 
Tôi tin rằng khi họ gọi tôi như thế chỉ vì họ thấy rằng tôi có vẻ không sợ hãi, và đó là sự thật. Chồng tôi, ông rất không hài lòng với một bên, anh trai của ông, còn một bên, vợ ông. Ông xem cả hai chúng tôi là những người quá ngây thơ, những người mà hoàn toàn, bạn nói như thế nào? comme ça, inconscient (Tiếng Pháp) như là, vô thức – nghĩa là chúng tôi không có ý thức được một thực tế rằng để nhảy vào trận đấu mà lại không, lại chẳng có cảm giác rằng mình đang chiến đấu với những con thú hung dữ. Và ông nói đi nói lại với anh của mình: Anh, anh chỉ nên làm một thầy tu, và em (nói với tôi), em chỉ nên ở nhà và làm một người vợ nội trợ trầm lặng. 

Madame Ngô Đình Nhu:
Nhưng tôi nói, tất nhiên, nếu tôi được trở về với vai trò của chính mình, tôi sẽ theo lời khuyên của chồng tôi ngay lập tức là chỉ quay về nhà để đan, vá, và nấu nướng. Đó là những điều duy nhất mà tôi thích trong cuộc đời. Tuy nhiên khi tôi ở đất nước của tôi, người ta tìm đến tôi và yêu cầu tôi nên làm chuyện này, nên làm chuyện kia. Rồi tôi nhận thấy rất rõ rằng nếu tôi không làm, thì sẽ không có ai làm những chuyện đó.

Đó là lý do tôi tổ chức các thứ để có thể giao lại ngay vì tôi đã không muốn và không thích cuộc sống mà tôi trãi qua lúc đó chút nào cả. Rồi báo chí cho là, gọi tôi là Dragon Lady do họ nhìn thấy rằng hoàn toàn không có điều gì có thể ngừng tôi lại. Duy nhất một điều họ có thể ngừng tôi lại là phải giải thích cho tôi về điều tôi đã làm sai như thế nào. Nếu họ không giải thích, tôi không quan tâm.

Cho nên, họ nhìn thấy rất rõ rằng tôi không e sợ điều chi hết. Vậy bạn thấy tại sao mà tên gọi đó có rồi chứ? Họ, giới báo chí, đã mời tôi đi. Đầu tiên họ nói, Ông Nhu, Gia đình Nhu, không có ông bà Nhu, tin tốt lành. Họ phải rời khỏi nước tôi, nên họ đã mời tôi đi để giải thích vị trí của tôi ngay tại các bục diễn thuyết của Mỹ. Quý vị thấy đó, với giới báo chí.

Khi tôi rời nước tôi, tôi đến Belgrade một cách khó khăn vào thời điểm đó, rồi tôi được Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết rằng tôi không nên đến Mỹ vì họ sẽ không bảo đảm cho sự an toàn của tôi.

Thì ra họ mời tôi để cho tôi rời khỏi nước tôi. Nhưng ngay sau khi tôi rời nước tôi, thì đừng có đến. Tôi nói tôi đã rời khỏi nước tôi chỉ để đi đến đó và Chính phủ Mỹ sẽ chứng minh cho thế giới thấy họ có khả năng bảo vệ cho một người phụ nữ yếu đuối ngay trên lãnh thổ của họ hay không. Và…

Ký giả: 
Vậy vào thời điểm này – vậy là tháng Mười, 1963…

Bà Ngô Đình Nhu: 
Đúng, chính xác.

Ký giả: 
Bà đã thất vọng với người Mỹ?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Vào lúc đó họ đã mời tôi và sau khi tôi rời nước của tôi thì họ nói với tôi như vậy. Tất nhiên, tôi đã bị lừa gạt, bị lừa gạt.

Ký giả: 
Bị thất vọng.

Bà Ngô Đình Nhu: 
Bị thất vọng, thất vọng. Và vì vậy mà mọi người đã cho tôi là Dragon Lady – có lẽ vì tôi đã thách thức họ.

Ký giả: 
Madame Nhu, còn về chồng của bà. Bà có thể – xác định vai trò của ông như thế nào không?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Ông là tất cả ở Việt Nam. Ông đã tổ chức đất nước khi Tổng Thống đi xa. Và khi Tổng Thống trở lại tất cả mọi thứ ở đó để chào đón. Và nếu không có ông thì Tổng Thống sẽ không… – Tôi không nghĩ rằng sẽ dễ dàng cho TT để cai trị đất nước, điều hành đất nước. Đó là lý do tại sao khi được đề nghị đuổi chồng tôi đi, TT nói đó là một sự đòi hỏi hoàn toàn ngu ngốc.

Vì ông hiểu rất rõ rằng chồng tôi có thể làm việc mà không có ông nhưng ông không thể làm việc mà không có chồng tôi. Còn chồng tôi thì, tôi tin rằng ông đã có tầm nhìn rất xa so với tuổi đời của ông, của dân tộc ông. Một ngày nào đó mọi người sẽ hiểu. Bây giờ tôi không thể giải thích ở đây như thế này.

The Buddhist Crisis
V. i. Cuộc Khủng Hoảng Phật Giáo

Ký giả:
Madame Nhu, bà đã nói một chút về cuộc khủng hoảng Phật Giáo năm 1963, trong thời gian đó đã có một trích dẫn được cho là của bà rằng bà vui lòng khi những nhà sư đem nướng chính họ. Bà có thể bình luận về trích dẫn đó?

Madame Ngô Đình Nhu: 
Ồ, tôi đã phải bình luận những gì tôi nói về các tín đồ PG. Tôi đã có cơ hội để làm điều đó vài lần và điều duy nhất mà tôi có thể nói rằng tất cả mọi người nếu phải đối mặt với những việc như thế, rồi thì họ phải đi đến cùng một giải pháp. Điều đó có nghĩa là: Đối với những người điên rồ vì hào quang, hào quang giả tạo, họ chấp nhận bị đánh thuốc mê và để bị đốt cháy đến chết. Họ có quyền không bao giờ bị ai đặt vấn đề. Vậy phải làm gì để ngăn chặn việc họ chấp nhận bị sát hại bởi các cuộc biểu tình?

Điều duy nhất tôi có thể làm vào lúc đó là chế giễu họ bởi vì ngay khi nó được tô vẻ như một cái gì đó hoàn toàn xứng đáng được khen ngợi, thì tất nhiên, sẽ luôn luôn có người điên rồ vì hào quang giả tạo chấp nhận nó. Tôi phải làm ngược lại.

Ký giả: 
Madame Nhu, ai đứng đằng sau cuộc khủng hoảng PG?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Tôi tin rằng trước hết là CS nhưng nó sẽ không bao giờ có khả năng gây ra đến mức độ đó mà không cần sự giúp đỡ, không cần sự trợ giúp của truyền thông Mỹ, truyền thông phương Tây. Vì vậy, sau khi nó hoàn toàn trở thành chuyện của Mỹ và sau việc sát hại gia đình Ngô Đình thì nó đi quá xa, ngoài tầm kiểm soát, và họ phải đánh bom nó.

The 1963 Coup of the Diem Regime 
V. ii. Cuộc Đảo Chánh Chế Độ Diệm năm 1963

Ký giả: 
Từ khoảng tháng Tám năm 1963 thì đã có những tin đồn về các cuộc đảo chánh và phản công chống đảo chánh. Madame Nhu, bà có thể giải thích tại sao bà cảm thấy tình hình đủ an toàn vào thời điểm đó để rời khỏi đất nước?

Madame Ngô Đình Nhu:
Năm 1963 tôi đã phải rời khỏi đất nước. Như tôi đã nói với quý vị rằng tôi luôn luôn tổ chức tất cả mọi việc để cho mọi người làm mà không cần có tôi. Vì vậy, đối với công việc của riêng tôi, đối với phong trào phụ nữ của tôi, thì tôi có thể rời đất nước. Tất cả mọi việc đã được tổ chức theo cách đó.

Tôi có một sứ mạng là ngăn cản họ. Nếu tôi không thể ngăn cản họ thực hiện tội ác, thì ít ra là sứ mạng của tôi là làm bằng cách mà tội ác đó không thể được hoàn hảo. Vì vậy, tôi đã phải đi nói chuyện trước. Mọi chuyện là như vậy nên nếu chuyện xảy ra sau đó thì bạn biết rằng tất cả được tính toán trước.

Ký giả: 
Theo bà, ai chịu trách nhiệm cho cuộc đảo chánh 1963?

Bà Ngô Đình Nhu:
Thật ra, tôi tin rằng Chính phủ Mỹ vào thời điểm đó, nếu, nếu nó không phạm quá nhiều sai lầm, quá nhiều lỗi – Vịnh Con Heo, Bức Tường Bá Linh, Hỏa Tiễn Cuba – thì nó sẽ không, nó sẽ không bao giờ thực hiện cuộc đảo chánh. Nhưng sau ba sai lầm như những cái tôi vừa trích dẫn, nó phải làm một cái gì đó ở Việt Nam – bạn nói như thế nào? – để sở hữu Việt Nam. Và đối với họ, tất cả các yếu tố để thành công là ở đây. Họ cho rằng họ không thể rời bỏ nó cho chúng tôi nhưng những gì họ đã làm thì chính xác là cướp của người nghèo. Đó là nguyên nhân có số phận đó dành cho họ bây giờ. 

Ký giả:
Ai chịu trách nhiệm cho cái chết của chồng bà và…?

Bà Ngô Đình Nhu: 
Quý vị đã thực hiện rất nhiều cuộc điều tra, sách và sách và điều đó có nghĩa là Mỹ đã làm chuyện đó và họ không thể tìm ra. Điều đó có nghĩa, theo tôi, rằng họ chỉ thực hiện những cuộc điều tra để dổ dành mọi người bởi vì nếu thực sự họ muốn biết ai là người chịu trách nhiệm thì họ sẽ tìm thấy… Tôi không muốn buộc tội bất cứ ai.

Bà Ngô Đình Nhu: 
Tôi không muốn buộc tội bất cứ ai. Tôi không muốn đi vào chi tiết, nhưng bằng chứng thì ở đó. Chịu trách nhiệm là Chính phủ Kennedy và chắc chắn rằng việc sát hại vị nguyên thủ quốc gia và em trai của ông, một việc chặt đầu Việt Nam, không thể được thực hiện nếu đích thân Tổng Thống không bật đèn xanh. Chuyện này nhìn từ bên ngoài là như thế. Rõ ràng, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về Tổng Thống Kennedy, nhưng thực tế – Tôi không biết. Sự thật – Tôi không biết. Tôi muốn được biết.

Ngo Dinh Nhu’s diplomacy 
VI. i. Vấn Đề Ngoại Giao của Ngô Đình Nhu 

Ký giả:
Madame Nhu, năm 1963 đã có một số tin đồn rằng chồng của bà là điên rồ, rằng ông điên rồ quyền lực, và rằng ông là một người nghiện heroin. Bây giờ, bà có thể bình luận về điều đó?

Madame Ngô Đình Nhu:
Vâng, họ đã nói rất nhiều, rất nhiều điều chống lại chồng tôi. Họ thậm chí còn nói, họ nói rằng ông là một con quỷ thuốc phiện và đại loại như vậy. Và quý vị thấy họ luôn có thể nói bất cứ điều gì chống lại tôi. Tôi không quan tâm. Nhưng tôi biết chồng tôi và để nghe tất cả những điều chống lại ông, tôi thực sự, tôi không thể chịu đựng được. Tôi không thể chịu đựng vì tôi biết ông.

Ông có một ý thức trách nhiệm rất cao và ông nhìn thấy rất rõ rằng ông đã không được hiểu, ông đã phục vụ dựa trên một niềm tin vào Chúa và vào chính mình, bị xem điên rồ vì ông đã đương đầu với Mỹ. Nhưng đối với một đức tin như vậy, điều đó có nghĩa là gì?

Là năng lực của con người. Nhưng không ai hiểu, nên họ nói rất nhiều điều. Từ nhiều năm trôi qua, cái chết của chồng tôi – tôi đã có thể chấp nhận nó, nhưng làm hạ nhân cách của ông thì tôi không thể chịu đựng nổi. Bây giờ sự báo thù đang đến đó. Sự báo thù đang đến rằng tất cả những người đã tấn công ông, đã nói tất cả những điều đó, khi mà sự thật về ông được tìm thấy và sự điên rồ của ông thực ra là cái gì? thì tất cả những người đó sẽ phải xấu hổ. Sẽ phải xấu hổ. Họ sẽ muốn nuốt lại tất cả những gì họ đã nói bởi nó sẽ chứng tỏ họ ngốc như thế nào khi đã không hiểu con người này… Giờ đó đang đến.

Ký giả: 
Um, cũng có tin đồn rằng bởi vì chồng của bà cảm thấy bị phản bội bởi người Mỹ nên ông đã thực hiện những cuộc thương lượng với CS Bắc Việt. Bà cũng có thể bình luận về điều này?

Bà Ngô Đình Nhu:
Những cuộc thương lượng với CS? Thực ra, như tôi đã giải thích, chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Nếu chúng tôi không thắng cuộc chiến, thì không bao giờ Chính phủ Mỹ nhảy vào Việt Nam. Chúng tôi đã thắng cuộc chiến. Những người CS đã không dám leo thang. Họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất, họ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất: hoặc leo thang – họ không dám – hoặc đàm phán. Vì vậy, chính họ là người gửi người đến chúng tôi bởi vì chồng tôi đã tìm thấy một giải pháp chống lại cuộc chiến tranh phá hoại. Giải pháp đó cho phép người dân của ông sống trong chiến tranh, phòng thủ từ xa mặc dù có chiến tranh.

Và do đó những người Cộng sản không thể làm bất cứ điều gì. Vì vậy, thay vì leo thang chiến tranh, họ đã không làm, mà họ gửi người của họ đến nói chuyện với chồng tôi và chuyện này đã được xoay, xoay trở ngược chống lại chồng tôi như thể ông đã thực hiện những bước đầu tiên đó. Không, không đúng một chút nào. Đây là một sự dối trá. Không đúng một chút nào. Chính là họ là những người CS đã thực hiện những bước đầu tiên đó.

Ký giả: 
Ông đã nói gì với họ? 

Bà Ngô Đình Nhu:
Tại thời điểm đó, chúng tôi chỉ mới bắt đầu nói chuyện với họ, để biết, các ông đề nghị gì? Và họ đến, để cho họ khỏi bị mất mặt vì chúng tôi làm hết, chúng tôi đã làm mọi thứ lúc đó để tạo tình huống dễ dàng cho họ. Vì vậy, họ đến, và họ chỉ hỏi điều kiện cho Open Arms Program của các vị là gì? Có nghĩa được dịch từ chữ Chương Trình Chiêu Hồi, mà thực ra, Chiêu Hồi Minh nói là người hồi chánh, là sự trở về của người anh em phiêu bạt. Vì vậy, chúng tôi đã nói với họ chúng tôi sẽ kill the, bạn nói như thế nào, le veau gras [Tiếng Pháp]… anh em phiêu bạt, đứa con phiêu bạt.

[*Chú thích của người dịch: le veau gras có nghĩa là fat calf (bê béo) trong tiếng Anh. Madame Nhu đang cố gắng giải thích Chương Trình Chiêu Hồi bằng thành ngữ tiếng Anh to kill the fatted calf for tức có nghĩa bóng là đón nhận đứa con hoang đàng trở về, nhưng có nghĩa đen là làm thịt con bê béo.]

Họ làm thịt the veal [thịt bê], quý vị gọi the fat [con bê béo] như thế nào, nhưng chúng tôi nói với họ we shall kill the fat veal [chúng tôi làm thịt con bê béo]. Tôi nghĩ rằng Mỹ nghe được câu trả lời đó và họ cho rằng họ sẽ là con bê béo. Có lẽ vậy, bằng không tôi sẽ không thể giải thích được lý do tại sao họ đã làm những gì… những gì họ đã làm, tại sao họ đã làm những gì họ đã làm. 

Madame Nhu on the U.S. as arrogant force
VI. ii. Madame Nhu Nhận Định Chính Phủ Mỹ như một Quyền Lực Kiêu Ngạo

Ký giả:
Bà nghĩ điều gì đã đi sai? Tại sao, tại sao, tại sao đã xảy ra một kết thúc bất hạnh vào năm 1963?

Madame Ngô Đình Nhu:
Tất cả là, quý vị nói như thế nào, tính kiêu ngạo, xuất phát từ tính kiêu ngạo. Chính phủ Mỹ đã bị thuyết phục rằng nó sở hữu chân lý và đầy khinh miệt đối với… thật quá duy vật để hiểu. Tôi thậm chí không thể buộc tội họ hay là cay đắng với họ bởi vì tôi phải nói rằng ngay cả người dân của chúng tôi cũng đã không hiểu bất cứ điều gì.

Rất nhiều người đã không hiểu bất cứ điều gì. Họ duy vật, họ thừa nhận rằng chồng tôi là hoàn toàn điên rồ vì ông coi thường tất cả những sức mạnh vật chất và bám víu vào giải pháp của mình. Nhưng đó chỉ là một sự hiểu lầm bởi tính kiêu ngạo của một bên và một phần nào sự thiếu hiểu biết của bên còn lại. Bởi vì đối với những người Mỹ, tôi tin rằng đó là sự kiêu ngạo. Nhưng đối với người dân của chúng tôi, tôi tin rằng nó chỉ là một sự thiếu hiểu biết – chưa trưởng thành. 

Ký giả: 
Um, bà có điều gì muốn nói về việc này? 

Bà Ngô Đình Nhu:
Có, lời cuối cùng của tôi, thông điệp thực sự tôi muốn chuyển đến cho người dân Mỹ chỉ là thế này: Đừng bắt người của quý vị thực hiện những màn trình diễn đu bay mà không cho họ một mạng lưới. Đó là để nói, đừng cố gắng lấy lại uy tín đã mất từ chuyện Việt Nam… bằng việc xây dựng một quyền lực đáng sợ nhằm thuyết phục trong khi bỏ qua những điều luật và lời giáo huấn của Chúa Kitô. Vì vậy, Mỹ phải thực sự chấp nhận sự thật về Việt Nam trước và đền bù. 

(Hết phần 6 & HẾT)

Nguồn:  https://www.facebook.com/anquangtran/posts/10152781409002195

————–

Qua trả lời phỏng vấn, bà Ngô Đình Nhu quả là một phụ nữ có cá tính mạnh mẻ và có đẳng cấp. Cám ơn Bà. RIP, Madame Ngo Dinh Nhu. (1924-2011)

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Phỏng Vấn, Tài Liệu | Leave a Comment »

►Phỏng vấn: Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Posted by hoangtran204 trên 12/07/2012

Ông Cao Xuân Vỹ Kể Việc Ông Ngô Đình Nhu Bí Mật Gặp Ông Phạm Hùng Ở Khu Rừng Tánh Linh Bình Tuy

Minh Võ
June 14, 2012


Ô. Cao Xuân Vỹ, TT. Ngô Đình Diệm &
Ô. Ngô Đình Nhu

Như đã hứa, (1)  ông Cao Xuân Vỹ, sau ba lần vào cấp cứu và điều trị tại bệnh viện, đã vui lòng dành cho chúng tôi một cuộc phỏng vấn để cống hiến bạn đọc một số hồi ức và kỷ niệm của ông trong thời gian đi theo Việt Minh kháng chiến rồi về hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm với tư cách là người phụ tá thân cận của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

1. Hỏi: Thưa ông, nghe nói ông cùng quê Nghệ An với ông Hồ Chí Minh?

Đáp: Phải. Tôi người làng Thịnh Mỹ, phủ Diễn Châu ở về phía biển, còn ông Hồ ở xã Kim Liên huyện Nam Đàn về phía núi.

2. Hỏi: Ông có thể cho biết gia đình ông có liên hệ gì với gia đình ông Hồ không?

Đáp: Tôi được biết ông cố tôi là cụ Cao Xuân Dục, thượng thư bộ học thuộc triều đình Huế có giúp đỡ thân phụ ông Hồ là Nguyễn Sinh Sắc về tài chính và khuyến khích, giúp đỡ ông ấy nhiều trong việc học hành để có thể đi thi và đậu phó bảng. Một phần vì ông Nguyễn Sinh Sắc là bạn học với ông nội tôi là Cao Xuân Tiếu. Đây là hình căn nhà ông nội tôi cho ông cử Sắc. (Ông Vỹ đưa xem hình căn nhà.)

3. Hỏi: Có tài liệu của phía Cộng Sản, như của Sơn Tùng và Nguyễn Đắc Xuân nói, khi thấy ông Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng khoa Ất Mùi, (năm 1895), ông Cao Xuân Dục đã giúp cho ông Nguyễn Sinh Sắc được vào Huế, để có phương tiện và đủ sách vở hầu tiếp tục việc học và có thể thành đạt. Điều này có đúng không?

Đáp: Đúng. Ông cố tôi còn can thiệp để cho ông Nguyễn Sinh Sắc, dù không phải là con quan cũng được vào học ở Quốc Tử Giám. Đến khoa thi năm Tân Sửu (1901) chánh chủ khảo Cao Xuân Dục thấy khóa sinh Sắc không trúng tuyển đã cho lệnh xét lại bài thi của 4 thí sinh để rồi xin vua Thành Thái cho ông ta đậu phó bảng. Khóa ấy có 9 tiến sĩ, 13 phó bảng. Ông Sắc đậu phó bảng thứ 11.

4. Hỏi: Hồi còn nhỏ ông có biết về hoạt động của Cộng sản ở quê nhà và có chứng kiến các cuộc nổi dậy của Cộng Sản thường được gọi là phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh không?

Đáp: Có. Phong trào này mạnh nhất ở hai huyện Nam Đàn và Thanh Chương. Nhiều người bị chết oan. Cộng Sản đã giết hai tri phủ. Vì thế phản ứng của chính quyền bảo hộ cũng rất quyết liệt. Pháp đem bom thả cũng giết nhiều người, trong số ấy có cả Cộng Sản lẫn thường dân. Cha tôi có kể lại rằng để đối phó với phong trào này, ông Nguyễn Hữu Bài, thượng thư bộ Lại của Triều Đình Huế, (tương đương với chức thủ tướng thời nay), đã cho áp dụng một kế hoạch chiêu dụ Cộng Sản khá thành công. Lúc ấy ông cố tôi cùng ở trong nội các Nguyễn Hữu Bài.

5. Hỏi: Khi Việt Minh cướp chính quyền ông ở đâu? và có ủng hộ họ không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang học ở Hà Nội. Tôi nhớ là mấy tháng trước khi Việt Minh cướp chính quyền, thanh niên sinh viên Hà Nội chúng tôi rất hăng hái ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, vì là chính phủ của Việt Nam độc lập đầu tiên, dù phải nhờ có người Nhật lật đổ người Pháp. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi và đã ủng hộ hết mình. Tiếc rằng bỗng nhiên chính phủ này từ chức ngày 7 tháng 8 (1945). Thật khó hiểu. Tuy từ chức nhưng chính phủ Trần Trọng Kim vẫn xử lý theo lệnh nhà vua. Khi mà Việt Minh tới trám vào chỗ trống chính trị này thì chúng tôi đã đi theo Việt Minh. Chúng tôi không biết Việt Minh là Cộng Sản. Thực ra lúc ấy chả mấy người biết Việt Minh là Cộng Sản.

6. Hỏi: Ông có gặp ông Hồ bao giờ không?

Đáp: Có. Hồi ấy tôi ở trong phong trào thanh niên sinh viên tranh đấu. Chúng tôi được hai ông Hoàng Minh Giám và Phan Mỹ giới thiệu để gặp ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Lúc ấy ông ấy có cái vẻ bề ngoài rất ân cần và dễ mến. Về sau tôi mới hiểu tại sao ông ấy đã chiêu dụ được nhiều người đi theo ủng hộ Việt Minh. Cho đến giờ này tôi vẫn nghĩ ông ta thật là thông minh và xảo quyệt. Lại được tay Võ Nguyên Giáp cũng rất thông minh trợ tá đắc lực. Tôi học với Võ Nguyễn Giáp 4 năm, Tôi biết ông ta rất rõ. Ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã tỏ ra sắc sảo và quả đoán… Rất “độc tài”. Nhưng dầu sao Võ Nguyên Giáp không thể sánh được với Ngô Đình Nhu. Còn Phạm Văn Đồng thì không đáng là học trò Ngô Đình Nhu.

7. Hỏi: Rồi tại sao ông lại bỏ Việt Minh?

Đáp: Vì chúng tôi kết án ông Hồ đã ký thỏa ước mồng 6 tháng 3, nhượng bộ Pháp quá nhiều. Hơn nữa họ đã hãm hại nhiều người yêu nước bất đồng chính kiến. Chúng tôi chạy sang phía Việt Cách của các ông Nguyễn Hải Thần và Nghiêm Kế Tổ…

8. Hỏi: Khi nào thì các ông rời Hà Nội?

Đáp: Liền khi cuộc chiến giữa Việt Minh và Pháp bùng nổ ngày 19-12-46. Lúc ấy ông Hồ và đại bộ phận Việt Minh chạy lên Việt Bắc kháng chiến. Thì chúng tôi gồm 36 nhà trí thức và thanh niên sinh viên tranh đấu chạy vào khu Tư, gồm Thanh Nghê Tĩnh, để cùng với một số Việt Minh ôn hòa lập một phòng tuyến mới phi Cộng Sản chống thực dân và giúp dân mở mang về kinh tế và văn hóa. Có thể nói Liên Khu Tư lúc ấy như là một khu tự trị.

9. Hỏi: Ông có thể cho biết tên một số trong 36 nhà trí thức mà ông bảo đã rời Hà Nội vào Liên Khu Tư sau kháng chiến bùng nổ không?

Đáp: Tôi còn nhớ chẳng hạn có Luật Sư Trần Chánh Thành, các ông Trần Hữu Dương, Hồ Đắc Điềm, Phạm Thành Vinh, sau này trở thành rể của ông Hồ Đắc Điềm, ông Nguyễn Duy Quang, người của ông Bảo Đại, ông Phan Huy Xương, anh của bác sĩ Phan Huy Đán tức Phan Quang Đán, ông Tôn Thất Trạch v.v… Các ông này về sau đã hợp tác với thủ tướng Ngô Đình Diệm. Ông Trần Chánh Thành từng là bộ trưởng phủ thủ tướng, với ông Tôn Thất Trạch là đổng lý văn phòng. Ngoài ra, về phía thường dân tôi nhớ còn có bà Hòa Tường là một thương gia giầu có ở phố Hàng Đào cũng đi theo.

Tôi xin nói thêm ông biết điều này, là những vị này và tôi hồi đầu theo Việt Minh. Nhưng tất cả đều không phải Cộng Sản. Và ngay từ 1930 thì đã có hai phe cùng chống Pháp một bên là Đảng Cộng Sản, lúc ấy chưa có Việt Minh. Một bên là các nhân vật và tổ chức quốc gia phi Cộng Sản trong đó ngoài những người như ông Ngô Đình Diệm đã bắt đầu hoạt động từ đó, còn có các chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, mà đảng trưởng là Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí đã bị Pháp xử bắn.


ông Ngô Đình Nhu

10. Hỏi: Khi nào ông rời Liên Khu Tư vào Sài Gòn và gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Chúng tôi rời Liên Khu Tư ra Hà Nội. Chứ chưa vào Sài Gòn. Lúc ấy là vào khoảng đầu năm 1953. Ông Hồ Chí Minh theo lệnh Stalin và Mao Trạch Đông khỉ sự chuẩn bị mở chiến dịch Giảm Tô và cải cách ruộng đất. Có người thân trong Việt Minh cho chúng tôi biết. Nên tìm đường chạy trước. Về sau trong họ tôi có nhiều người có chút tư điền bị đem ra đấu tố. Chị ruột tôi cũng bị giết. Tôi “dinh Tề” qua ngả Phúc Nhạc, Phát Diệm là khu an toàn tự trị dưới quyền trông coi của giám mục Lê Hữu Từ. Khó khăn lắm mới tới được Hà Nội. Hà Nội lúc ấy đang sống an bình dưới chính quyền Bảo Đại. Tôi đi thoát được là nhờ có người chú họ ở trong tổ chức Việt Minh cấp cho một giấy thông hành. Ở Hà Nội tôi gặp lại các ông Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát từng hoạt động chung với chúng tôi thời 1945.

Trong thời gian còn ở Liên Khu Tư chúng tôi nghe biết cán bộ Cộng Sản trong tổ chức Việt Minh chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cán bộ Trung Cộng. Sau khi Mao Trạch Đông chiếm trọn lục địa vào cuối năm 1949, ông ta đã bắt Hồ Chí Minh gửi một số lớn cán bộ Việt Cộng sang Tầu để tẩy não, cải tạo tư tưởng, bắt học tập chủ nghĩa Mao-ít. Vì cái chủ nghĩa này mà các chiến dịch giảm tô và cải cách ruộng đất đã đẫm máu với những vụ con tố cha, vợ tố chồng và nông dân tàn sát lẫn nhau thật rùng rợn. Làng tôi có ông hàn Lương biết mình sắp bị đưa ra đấu tố đã nhảy xuống giếng tự tử, vậy mà đội cải cách đã lôi xác ông lên để đấu cái thây ma. Chúng đánh nát bấy cái thây ấy. Tôi mong có người thâu thập những tin tức khắp nước về cuộc Cải Cách Ruộng Đất thời gian đó để cho mọi người biết Cộng Sản dã man chừng nào.

11. Hỏi: Khi nào thì ông gặp ông Ngô Đình Nhu?

Đáp: Cuối năm 1953. Tôi vào Sài Gòn thì gặp lại ông Trần Chánh Thành. Ông Thành giới thiệu tôi với ông Nhu. Ông Thành vào Sài Gòn năm 1952 cùng một lượt với phần lớn trong số 36 nhà trí thức đã vào Liên Khu Tư để kháng chiến chống Pháp nhưng bất hợp tác với Việt Minh. Lúc gặp lại tôi thì ông Thành đang làm cho tờ báo Xã Hội của ông Nhu, đồng thời tập sự luật sư với Luật Sư Trương Đình Du…

12. Hỏi: Theo chỗ chúng tôi biết thì ông Ngô Đình Nhu từng có 5 nhiệm vụ quan trọng: một là dân biểu Quốc Hội, hai là Cố Vấn Chính Trị của Tổng Thống, ba là thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, bốn là Tổng Bí Thư đảng Cần Lao Nhân Vị, và sau hết vào năm cuối cùng ông còn là chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược. Vậy ông ấy có một lực lượng nhân sự nào đáng kể để giúp thi hành chừng ấy nhiệm vụ không? Ví dụ ông ấy có mấy văn phòng? Có bao nhiêu nhân viên được ăn lương?

Đáp: Ông ấy chỉ có một mình thiếu tá Phạm Thu Đường làm chánh văn phòng, thường được gọi là chánh văn phòng ông Cố Vấn. Và dưới quyền thiếu tá Đường chỉ có 5 nhân viên, hầu hết tự túc. Không có ngân khoản nào dành cho ông Cố Vấn. Và phải nói thực khó hiểu là chính chức Cố Vấn này cũng chẳng được một văn kiện nào bổ nhiệm hay quy định nhiệm vụ. Thực tế ông Nhu chỉ giúp việc cho riêng ông Diệm với tư cách là phụ tá cho Tổng Thống. Người ta thấy việc ông làm thì gọi ông là Cố Vấn vậy thôi. Vì thế ông không có quyền hạn và nhiệm vụ gì chính thức.

Còn về thủ lãnh Thanh Niên Cộng Hòa, thì ông chỉ thị cho chúng tôi, phải tự túc. Mọi đoàn viên đều tự nguyện và tự túc theo tinh thần cách mạng. Cho nên cũng chẳng có quyền lợi gì.

Về văn phòng dân biểu, ông cũng không có. Thực ra ông ấy rất ít đi họp Quốc Hội. Chỉ khi nào có vấn đề chính sách quan trọng như Ấp Chiến Lược chẳng hạn, hay vấn đề “Giáo Dục nhân bản”, vấn đề “kinh tế tư hữu cơ bản” v.v.. thì ông mới tới trình bày mà thôi. Cho nên mọi thứ một mình ông cáng đáng. Tôi thật phục sức làm việc của ông Nhu.

13. Hỏi: Thế còn chức chủ tịch ủy ban liên bộ về Ấp Chiến Lược thì sao? Có văn thư nào quy định không?

Đáp: Chức này thì có. Nhưng cũng chỉ là một thông tư của phủ Tổng Thống gửi đến các bộ, để việc ông chủ tọa các phiên họp Ủy Ban Liên Bộ được danh chính ngôn thuận. Ông Nhu quan niệm chương trình Ấp Chiến Lược là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị, chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Ông thúc đẩy các tỉnh trưởng khai hóa người dân quê theo tinh thần tam túc, nghĩa là tự túc về tư tưởng, tự túc về tổ chức và tự túc về kỹ thuật, để có thể làm chủ cuộc đời mình, làm chủ được xã hội, không bị lệ thuộc vào bên ngoài, vào ngoại bang. Ông để rất nhiều thì giờ đích thân soạn những bài thuyết trình có tính lý luận cao dành cho các cấp lãnh đạo chính phủ và cán bộ cao cấp, chỉ cho họ cách thức đưa những tư tưởng cao vào đầu óc thường dân qua những hình ảnh và ngôn ngữ bình dân dễ hiểu. Mục đích của ông là tiến dần tới một xã hội có tổ chức cao, có đầy đủ các phương tiện truyền thông, giao tế, kinh tế, văn hóa cao trong đó mỗi con người, “mỗi nhân vị”, đều được quan tâm đồng đều, chứ không biến con người thành những “cái đinh, con ốc” trong một guồng máy xã hội theo kiểu Cộng Sản. Ông tin tưởng rằng phương pháp đó về lâu về dài sẽ làm cho CS phải đầu hàng. Chứ không phải chỉ dựa vào những hàng rào giây kẽm gai. Dĩ nhiên ban đầu thì việc rào ấp là cần thiết để giữ cho Ấp Chiến Lược được an toàn trước sự phá hoại và tấn công của du kích CS. Quốc sách Ấp Chiến Lược mà thành công thì Cộng Sản sẽ thành cá bị tát ra khỏi ao, nằm trên đất.

14. Hỏi: Về đảng Cần Lao Nhân Vị, nó thành hình ra sao, và ai là những đồng chí cốt cán nhất của ông Nhu?

Đáp: Hai người cùng với ông Nhu sáng lập ra đảng Cần Lao Nhân Vị là các ông Trần Quốc Bửu và Huỳnh Hữu Nghĩa. Nhưng ban đầu các ông không gọi tên đảng là Cần Lao mà gọi là đảng Công Nông. Nhưng vì không muốn gợi ý về cái liên minh công nông của Cộng Sản, nên về sau các ông đổi ra là Cần Lao. Còn vế Nhân Vị thì sau nữa mới thêm vào theo đề nghị của ông Nhu. Ông Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao Công có kinh nghiệm về đấu tranh nghiệp đoàn, đã quen ông Nhu khi còn ở bên Pháp. Và ông Huỳnh Hữu Nghĩa một tín đồ Cao Đài, là cố vấn chính trị của tướng Trình Minh Thế. Ông Nghĩa đã giúp ông Nhu chinh phục được tướng Thế, chứ không phải như có người Mỹ cho rằng ông Nhu có được ông Thế là nhờ đại tá Edward Lansdale. Ông Lansdale có can thiệp để quân của tướng Thế được hợp thức hóa và trả lương như Quân Đội Quốc Gia thì đúng. Người nào bảo Lansdale dùng tiền mua Tướng Thế là cố tình xuyên tạc để hạ uy tín của một vị tướng kiên cường anh dũng, thanh liêm mà anh em ông Diệm rất quý trọng. Khi nghe tin tướng Thế tử trận Tổng Thống Diệm đã ngất xỉu. Điều này tướng Lansdale có ghi trong hồi ký.

Văn phòng Tổng Bí Thư đảng Cần Lao cũng do một mình Thiếu Tá Phạm Thu Đường quán xuyến, kiêm nhiệm.


TT. Ngô Đình Diệm

15. Hỏi: Ông Ngô Đình Diệm có giữ vai trò gì trong đảng Cần Lao không?

Đáp: Không. Ông ấy hoàn toàn ở ngoài và trên đảng Cần Lao. Với ông Diệm chỉ có Tổ Quốc và Quốc Dân.

Tôi còn nhớ khoảng năm 1956, Tổng Thống gọi tôi vào bảo tôi lên cao nguyên đèo heo hút gió để quan sát nghiên cứu tìm ra những địa điểm thích hợp để lập các khu dinh điền, hòng đưa người kinh lên trấn giữ địa điểm mà ông bảo là vô cùng quan trọng về mặt chiến lước. Tôi thấy mình đi thì ông Nhu thiếu một trợ lý. Lại cũng hơi ngán cảnh cô đơn ở nơi xa lạ. Tôi bèn thưa với Tổng Thống: Công tác đoàn thể của ông Cố Vấn đang thiếu người. Tổng Thống nói: Đoàn thể gì. Dẹp. Tuy nhiên rồi ông cũng đấu dịu. Cứ đi đi. Thỉnh thoảng tôi sẽ lên với anh…

Cũng cần thêm rằng ông Diệm rất quan tâm đến vùng cao nguyên. Ông thường nói: giữ được cao nguyên thì giữ được miền Nam. Và ông tìm cách đưa nhiều cán bộ và những người dân có kinh nghiệm với Cộng Sản lên đó lập nghiệp.

16. Hỏi: Ông nghĩ gì về việc chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý truất phế ông Bảo Đại?

Đáp: Nhiều người chê ông Diệm, là nhà Nho mà bất trung, không giữ lời thề trung thành với cựu hoàng. Nhưng tôi thấy không đúng. Trước hết chính cựu hoàng bảo ông Diệm chỉ thề trước Thánh Giá trung thành với Tổ Quốc. Thứ nữa, khi cựu hoàng triệu ông sang Pháp, ông Diệm đã sẵn sàng lên đường, dù biết sang đó sẽ mất chức thủ tướng.

Nhưng chính nhóm liên khu Tư chúng tôi đã thuyết phục ông, gần như làm áp lực với ông, để ông bỏ ý định sang Cannes . Chúng tôi xúm vào yêu cầu ông ở lại lấy cớ tình hình không cho phép vắng mặt. Chúng tôi phải nói với thủ tướng rằng nếu Cụ bỏ chúng tôi lại mà đi một mình thì sinh mệnh chúng tôi ai sẽ lo? Chúng tôi đã bỏ tất cả vào đây là vì cụ, vì tin cụ sẽ bảo vệ phần đất tự do còn lại này, bảo vệ chúng tôi. Nay cụ nỡ lòng nào bỏ chúng tôi, bỏ đất nước này cho Thực dân, Cộng Sản?

Rồi nhiều đoàn thể họp nhau lại đặt ông Diệm trước sự việc đã rồi là tự ý hạ bệ ông Bảo Đại. Cuộc trưng cầu dân ý của chính phủ Ngô Đình Diệm tổ chức sau đó chỉ là để hợp pháp hóa hành động của chúng tôi.

17. Hỏi: Có sử gia Mỹ bảo ngày 22 tháng 8 năm 1963, Thanh Niên Cộng Hòa đã tấn công chùa Xá Lợi cùng với Cảnh Sát và Lực Lượng Đặc Biệt. Điều này có đúng không?

Đáp: Hoàn toàn bịa đặt. Tổ chức này không phải để dùng vào những việc như vậy. Nó là tổ chức phi vũ trang mà.

18. Hỏi: Sử gia Mark Mayor viết trong tác phẩm Triumph Forsaken rằng gần ngày đảo chính, tỉnh trưởng Định Tường báo cáo với ông Nhu rằng đại tá Có là phụ tá của tướng Đính rủ ông ta làm đảo chính. Ông Nhu hỏi lại tướng Đính, thì tướng Đính xin đi chém đầu Có. Ông có biết vụ này không?

Đáp: Không cần tỉnh trưởng Định Tường báo cáo thì ông Nhu đã biết rồi. Nhưng ông muốn cứ để vậy để theo dõi.

19. Hỏi: Khi ông cùng ông Nhu đi gặp Phạm Hùng ở Bình Tuy, ông Nhu có cho ông biết hai người họ bàn chuyện gì không?

Đáp: Lúc ấy thì không. Chỉ biết chúng tôi cùng đến Quận Tánh Linh ở đây có một vùng do Cộng quân kiểm soát. Ban đầu cứ tưởng đi săn cọp như mọi khi. Nhưng đến nơi ông Nhu bảo chúng tôi ở ngoài, còn ông đi về phía trước độ vài trăm mét. Có Phạm Hùng chờ ở đó. Sau này về nhà tôi cũng không tiện hỏi ông Nhu. Nhưng qua những gì ông tự ý nói ra vào một lúc nào đó thì, nội dung câu chuyện trên một tiếng đồng hồ, gồm nhiều điều cho đến nay vẫn chưa được tiết lộ. Có một điều mà phía họ rất quan ngại, nếu không bảo là sợ, rất sợ chương trình Ấp Chiến Lược.

Họ yêu cầu cho biết ai là người chủ trương và mục đích để làm gì? Ông Nhu trả lời: đó chỉ là một chủ trương của chính phủ nhằm bảo vệ sinh mạng và tài sản của người dân, ngăn ngừa sự xâm nhập, phá phách của du kích các ông… Các ông bảo cán bộ đừng tìm cách đánh phá làng xã, thì chúng tôi sẽ bỏ luật 10/59. Cán bộ các ông có thể về sống với dân lành tại các ấp…

Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn:

– Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
– Rồi cho dân qua lại tự do
– Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn đinh cư sang bên kia nếu muốn
– Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
– Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
– Và sau cùng là tổng tuyển cử.

Có lần ông Nhu tính với chúng tôi: Ông dự đoán rằng, nếu cho dân tự do chọn nơi định cư, thì căn cứ theo tình trạng về tự do dân chủ tồi tệ và kinh tế kiệt quệ của miền Bắc lúc ấy, sẽ có khoảng 3 triệu người dân sẽ dần dần vào định cư ở miền Nam. Vì vậy “mình” phải chuẩn bị đất cho dân. Ông cũng tính rằng hiện dân số miền Bắc có tới 23 triệu, trong khi dân số miền Nam chỉ có 17 triệu. Nếu có được 3 triệu dân Bắc vào định cư ở miền Nam thì dân số 2 bên sẽ cân bằng. Bầu cử tự do, với sự giám sát của Quốc Tế thì chắc mình sẽ thắng.

20. Hỏi: Lần ông tháp tùng ông Nhu đi dự lễ đăng quang của quốc vương Ma-rốc năm 1962, ông có cho biết là sau đó các ông đến Paris gặp ông Pinay, đại diện Tổng Thống Charles De Gaulle, bàn chuyện hiệp thương với ông Hồ. Lúc ấy có mặt giáo sư Bửu Hội không?

Đáp: Dĩ nhiên là có. Vì Giáo sư Bửu Hội là đại sứ của VNCH ở Ma-rốc, và là bạn học với ông Nhu ở bên Pháp. Ông Bửu Hội lại từng là cố vấn cho Hồ Chí Minh. Nên trong việc này, có thể nói vai trò của ông Bửu Hội cũng quan trọng không kém ông Nhu. Ông Nhu và chúng tôi ở khách sạn Grillon cả tháng. Cuộc tiếp xúc xảy ra nhiều lần mà hầu như lần nào cũng có sự hiện diện của giáo sư Bửu Hội. Ông Nhu cho biết lúc ấy ông Hồ Chí Minh đã nhờ ông Jean Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle giúp. Ông Hồ biết là ông De Gaulle đang có chủ trương trung lập Đông Dương, lại hận Mỹ đã “hất cẳng” Pháp. Ông Hồ nhờ Sainteny xin Tổng Thống De Gaulle can thiệp để tiếp xúc với Sài Gòn. Tổng Thống Pháp rất sốt sắng trong việc này. Sau chuyến đi này ít tháng thì xảy ra vụ ông Nhu “đi săn cọp” ở Tánh Linh.

21. Hỏi: Gần ngày đảo chính đại sứ Cabot Lodge có điện đàm với Tổng Thống Diệm. Lúc đó ông có ở bên cạnh Tổng Thống không?

Đáp: Không.

22. Hỏi: Trong cuốn Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cựu đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết rằng ông ta xin phép Tổng Thống đem xe tăng thiết giáp lên bộ tổng Tham Mưu để bắt các tướng và dẹp đảo chính. Nhưng Tổng Thống không cho. Ông có biết chuyện này không?

Đáp: Lúc ấy tôi đang ở bên Tổng Thống Diệm và ông Nhu tại dinh Gia Long. Chính tôi nghe điện thoại của ông Duệ và trình lên Tổng Thống.

Tổng Thống la tôi: Các anh muốn gì? Ở với tôi bấy lâu mà không hiểu ý tôi sao? Dân Nghệ An các anh chỉ thích làm loạn. Đem quân đội chống quân đội là cách bảo vệ tổ quốc hả?

Tôi thưa: Nhưng người ta đánh mình thì mình phải đánh lại chứ Tổng Thống. Chẳng lẽ để phải chết sao?

Ông quát lên: Chết thì đã sao.

Đúng, đối với ông chết thì đã sao. Nhưng đối với chúng ta thì cái chết của ông là cái chết dần của miền Nam. Ông còn nói quân đội là để bảo vệ tổ quốc chứ không phải để bảo vệ cá nhân Tổng Thống.

Ông bảo tôi liên lạc với ông Trương Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc Hội yêu cầu cho triệu tập Quốc Hội để ông ra từ chức trước Quốc Hội, hòng tránh cảnh đổ máu. Nhưng tôi gọi ông Lễ 4 lần không được.

Lúc ấy không phải chỉ có Lữ Đoàn xin lên tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính. Mà còn có cả một đại đội biệt kích thuộc Lực Lượng Đặc Biệt đi hành quân ở Tây Ninh vừa về đến Sài Gòn cũng báo cáo là lực lượng phòng vệ của các tướng đảo chính ở Tổng Tham Mưu rất yếu, đại đội biệt kích xin phối hợp với 2 tiểu đoàn của Lữ Đoàn Phòng Vệ phủ Tổng Thống để đột kích vào bắt hết các tướng đảo chính. Tướng Nguyễn Văn Phú, lúc ấy còn là Thiếu Tá đã tiếp xúc với tôi về việc này. Nhưng như vừa nói. Tổng Thống không chấp thuận.

Viên đại úy đại đội trưởng Biệt Kích đề nghị cho lực lượng của Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống có xe bọc thép dẫn đầu tiến tới bao vây bộ Tổng Tham Mưu, còn đại đội của anh ta sẽ đột kích bọc hậu từ phía sân vận động vào bắt sống các tướng. Tôi rất buồn bực và lấy làm khó hiểu tại sao ông cụ lại không cho đánh. Ông Nhu ngồi cạnh đó cũng chẳng nói gì.

23. Hỏi: Theo ông trong số các tướng lãnh lúc ấy ai có khả năng nhất?

Đáp: Tôi hầu như không tiếp xúc với các tướng. Ngay cả Phó Tổng Thống cũng vậy. Hầu như chẳng bao giờ gặp. Nhưng tôi có nghe ông Nhu nói ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc ấy mang lon đại tá, là một tư lệnh (sư đoàn 5) giỏi nhất. Ông Nhu có nhận xét đó sau khi nghe ông Thiệu thuyết trình ở hội trường Suối Lồ Ồ.

Còn các tướng thì rất sợ Tổng Thống Diệm mỗi khi phải thuyết trình cho ông về tình hình an ninh. Bởi vì ông nắm vững tình hình và nhất là địa hình địa vật… địa lý của từng vùng. Kiến thức về quân sự của ông cũng rất uyên bác. Tôi được biết, khi mới về nước làm thủ tướng, ông đã yêu cầu tổng lãnh sự ở Hồng Kông mua cho ông tất cả tác phẩm của Mao Trạch Đông, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành Đức Hoài để đọc và bắt ông Nhu phân tích nghiên cứu trình lên.

24. Hỏi: Nghe nói ông bà Nhu có một biệt thự đẹp lắm ở Đà Lạt. Ông có tới đó bao giờ không?

Đáp: Ông nói đến cái biệt thự này, tôi lại nhớ tới cái ông luật sư Trương Phú Thứ ở Seattle . Ông ấy muốn tìm cách phỏng vấn bà Ngô Đình Nhu mà không sao được. Chẳng rõ tại sao ông ta biết nhà tôi, tìm đến xin tôi giới thiệu với bà Nhu. Tôi biết đã từ lâu bà ấy ẩn dật không muốn báo chí nhắc tới. Nhưng tôi biết bà ấy hãy còn quyến luyến ngôi nhà hai phòng ngủ của một người Pháp, bỏ hoang đã lâu mà anh em chúng tôi hùn tiền mua cho ông bà ấy vào khoảng năm 1960, mà không đủ tiền sửa chữa, cho nên đến khi ông Nhu bị sát hại và bà Nhu sống lưu vong, cũng mới chỉ sửa được phần nửa.

Tôi bảo ông Thứ hãy về Việt Nam, lên Đà Lạt chụp ảnh ngôi nhà ấy rồi mang theo sang Pháp, tìm cách đưa tấm hình đó tận tay bà Nhu thì may ra bà ấy cho gặp. Thì quả thật chắc ông đã biết, ông Thứ đã viết một bài cho tờ Văn Nghệ Tiền Phong nói về bà Nhu ở tuổi gần bát tuần sống như một nhà tu ở Paris. Tôi mong ông Thứ có dịp phổ biến tấm hình này để độc giả thấy cái “ngôi biệt thự xinh đẹp” của ông bà Nhu.

25. Hỏi: Thống tướng Maxwell Taylor, Đại sứ Frederick Nolting và nữ ký giả Marguerite Higgins đều nói được Tổng Thống Diệm tiếp hơn kém khoảng 5 giờ đồng hồ. Ông có biết điều đó và có ý kiến gì không?

Đáp: Lúc ấy nhiều người nói tổng thống tiếp khách lâu quá. Tôi có trình ông, bảo người ta phê bình tổng thống độc thoại!

Ông cười. Ông bảo: Người Mỹ họ ít hiểu về dân tôc mình về lịch sử của nước mình. Mình phải lợi dụng lúc họ chịu nghe để nói cho họ hiểu chứ. Mấy người này đều chăm chú nghe tôi và đặt nhiều câu hỏi. tôi phải trả lời cho họ chứ.

26. Hỏi: Gần ngày đảo chính Tổng Thống có mời ông bà Đại Sứ Mỹ lên Đà Lạt nghỉ tại biệt điện của Tổng Thống và dự dạ tiệc thân mật. Ông có biết họ thảo luận về việc gì không?

Đáp: Tôi có biết và nhớ là Tổng Thống đề nghị chính phủ Mỹ thông cảm những khó khăn của miền Nam và đừng ép ông phải cải cách gấp rút. Ông cũng hứa sẽ xem xét những đề nghị của chính phủ Mỹ một cách nghiêm chỉnh. Nhưng cần phải có thời gian. Phía ông Lodge thì nằng nặc đòi Tổng Thống phải đưa ngay ông Nhu ra ngoại quốc. Nhưng dĩ nhiên không bao giờ Tổng Thống nhượng bộ điều này được.

27. Hỏi: Xin ông tha lỗi, ông là Phật tử chứ ạ? Và trong vụ Phật Giáo có ai nhờ ông làm trung gian để thương lượng giàn xếp giữa chính quyền và bên Phật Giáo đấu tranh không?

Đáp: Phải, tôi là Phật tử đã quy y… – Ông vào phòng lấy ra một cuộn giấy mở cho tôi thấy tờ PHÁI QUY Y rồi nói tiếp – Tôi quy y với thầy Thích Minh Châu. Khi vụ Phật Giáo xảy ra tôi có ra Huế gặp thầy Thích Trí Thủ để nhờ thầy can thiệp với Thượng Tọa Thích Trí Quang… nhưng Hòa Thượng Trí Thủ nói bây giờ các thầy trẻ học thức nhiều, họ có đường lối riêng, các sư già chúng tôi nói họ không nghe. Nên không kết quả. Nhiều người khác cũng can thiệp nhiều ngả khác, cũng không hơn gì. Hồi ấy còn cả một ủy ban của chính phủ gồm nhiều Phật tử đứng đầu là phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cố gắng dàn xếp. Nhưng bên Phật Giáo tranh đấu chỉ muốn lật đổ chính phủ thôi. Nên họ cố đưa ra những yêu sách không cách nào làm được. Tôi rất ân hận là không giúp gì được với tư cách là một Phật tử.

28. Hỏi: Theo ông thì ai cố ý giết hai ông?

Đáp: Theo tôi thì người ra lệnh trực tiếp là tướng Dương Văn Minh. Còn ông Minh có nhận lệnh ở trên nào không thì không biết. Sở dĩ tôi dám quả quyết ông Minh, là vì chính ông Minh sai cận vệ của ông ta là đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng đi với tướng Mai Hữu Xuân, để “thi hành nhiệm vụ”(!). Và Nhung đã leo lên xe bọc thép trong đó có hai anh em Tổng Thống. Nhung là một tay giết người không gớm tay, y còn khắc dấu vào cán dao găm mỗi lần giết được một người. Ngay tối mồng hai y còn khoe “con dao lịch sử” của y với con của tướng Đôn cơ mà. Đó là theo chính lời của tướng Đôn thuật lại trong Việt Nam Nhân Chứng. Còn tướng Xuân thì khi “đi đón ông cụ” về và ông cụ đã chết rồi, đã tới trước Dương Văn Minh giơ tay làm dấu, miệng nói: “Mission accomplie” (Nhiệm vụ hoàn thành). Cứ theo những lời trên của tướng Đôn, thì không nghi ngờ gì người chủ trương và ra lệnh giết hai ông là tướng Big Minh.

29. Hỏi: Thời gian quấy rầy ông đã quá dài. Nhất là trong lúc ông còn bịnh nhiều. Xin cám ơn ông đã mất công trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Và nếu có thể được xin ông cho một cảm tưởng chung về Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu.

Đáp: Tôi cũng xin cám ơn ông đã tốn công đi từ xa đến để cho tôi được có dịp nói lên vài điều trong số những gì mình còn nhớ được về thời gian dài phục vụ Đất Nước bên cạnh hai nhân vật lịch sử mà tôi hằng kính mến.

Cứ mỗi lần nhớ đến hai cụ, tôi đều ngậm ngùi xót xa. Nhất là đối với cụ Diệm. Ông quá ngay thẳng, quá quân tử, quá rộng lượng, lúc nào cũng nghĩ tới làm cho dân được ấm no hơn. Vậy mà người ta nỡ hãm hại ông. Không phải chỉ có những ngày giỗ hai ông tôi mới khóc.

Cụ Vỹ dằn cơn xúc động bắt tay tôi khi tôi từ biệt ra về…

Minh Võ, San Diego

www.vietthuc.org

Posted in Chinh Tri Viet Nam, Lịch Sử, Phỏng Vấn | 1 Comment »

►’Tư tưởng Hồ Chí Minh’ và Dân chủ Việt Nam chỉ là sự tuyên truyền

Posted by hoangtran204 trên 26/06/2012

Đây là một bài nhận định rất sâu sắc và có dẫn chứng về các sự kiện lịch sử phản bác lại các lời tuyên truyền lâu nay như  “Tư tưởng Hồ Chí Minh” và “Dân chủ Việt Nam” mà chúng ta thỉnh thoảng đọc trên báo chí nhà nước.

Bằng những câu văn trong sáng, dứt khoát, Bs Phạm Hồng Sơn nhận định là không có tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng không có chuyện dân chủ dưới triều đại HCM, mà nó chỉ là một chế độ độc tài khi ông ta lên nắm quyền 1954 cho đến khi ông chết 1969.  Cũng theo Bs Sơn:  “cụ Hồ không phải là một chính trị gia có lý tưởng dân chủ.”

Các bằng chứng và sự kiện lịch sử được Bs Sơn trích dẫn quá chính xác, không ai có thể chối cải và biện bác được.

Đọc tiếp »

Posted in Nhan Vat Chinh tri, Phỏng Vấn | Leave a Comment »

Vụ công an đánh hội đồng 2 nhà báo VOV: Người trong cuộc lên tiếng

Posted by hoangtran204 trên 11/05/2012

 

Vụ đánh nhà báo: Người trong cuộc lên tiếng

Ngày 9-5, nhà báo Nguyễn Ngọc Năm – trưởng phòng phóng viên thời sự, chính trị, kinh tế của Đài Tiếng nói Việt Nam – đã có cuộc trao đổi với Tuổi Trẻ về việc bị công an đánh khi đang tác nghiệp tại Văn Giang (Hưng Yên).

Cũng hôm qua, ông Bùi Huy Thanh – chánh Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên – xác nhận lãnh đạo tỉnh này đang yêu cầu làm rõ vụ việc.

“Tôi bị đánh và còng tay”

Khẳng định rằng mình đã tuân thủ đúng pháp luật về báo chí đồng thời làm theo chỉ đạo của lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam, nhà báo Nguyễn Ngọc Năm cho biết ông từng đến nhiều “điểm nóng” nhưng chưa bao giờ nghĩ đến tình huống mình bị công an đánh. Ông Năm nói tiếp:

– Trước ngày diễn ra việc cưỡng chế, tôi có dự buổi họp báo do Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên chủ trì. Trong buổi họp báo đó, đại diện tỉnh Hưng Yên (chánh văn phòng) đã trả lời rằng các nhà báo không nên đến khu vực cưỡng chế. Lý do đưa ra là để đảm bảo an toàn cho các nhà báo. Tuy nhiên, không có bất cứ quyết định nào bằng văn bản về việc này. Là nhà báo, tôi cần phải đến tận hiện trường quan sát để có thông tin định hướng một cách đúng nhất theo cách tiếp cận mà luật pháp cho phép.

* Tình huống nào khiến ông bị đánh hội đồng và bị còng tay?

– Đang đứng quan sát thì tôi nhìn thấy anh Hán Phi Long (phóng viên của Đài Tiếng nói Việt Nam – VOV) bị một người mặc sắc phục công an đến hỏi. Nội dung hỏi gì tôi không nghe rõ, nhưng ngay sau đó họ xốc nách Long đẩy vào sát tường bao của nghĩa trang liệt sĩ cạnh đó. Tôi thấy hàng chục người gồm cả công an đánh Long bằng dùi cui, vụt vào mặt và đầu. Thấy đồng nghiệp bị đánh hội đồng, ôm bụng gục xuống, tôi chạy sang và hét lên nhiều lần: “Chúng tôi là nhà báo, chúng tôi ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Sao các anh lại đánh nhà báo? Không được đánh, chúng tôi là nhà báo”. Họ buông Long và quay lại đánh tôi (như trong clip) và còng tay, mặc cho tôi ra sức thanh minh tôi là nhà báo. Nhưng cũng may, trong lúc họ tập trung đánh tôi, Long kịp chạy thoát và được người dân đưa ra trạm y tế cấp cứu. Tôi được dẫn giải lên xe thùng cùng với hai người dân, có cả phụ nữ, về Viện KSND Văn Giang để lấy lời khai.

Trên các mạng đang có một video clip được cho là quay cảnh 2 nhà báo VOV bị công an đánh (video clip trên đây trích xuất từ Youtube). Các cơ quan chức năng chưa xác định được tính trung thực của video clip. Tuy nhiên, trả lời Tuổi Trẻ, nhà báo Nguyễn Ngọc Năm khẳng định ông và đồng nghiệp chính là 2 người bị đánh trong clip công an đánh người tại buổi cưỡng chế đất ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên. Ngày 9.5, mặc lại chiếc áo kẻ cũ, ông Năm khẳng định: “Đây chính là chiếc áo kẻ tôi đã mặc khi bị đánh”.

* Đến khi nào thì lực lượng cưỡng chế, bao gồm công an, biết anh là nhà báo?

– Ngay sau khi đưa vào viện kiểm sát, tôi yêu cầu cảnh sát lấy từ túi áo tôi để kiểm tra các loại giấy tờ, họ mở còng cho tôi để lấy lời khai. Họ lập biên bản tạm giữ của tôi thẻ nhà báo, thẻ Đảng, thẻ hội viên Hội Luật gia Việt Nam, chứng minh nhân dân và điện thoại.

Họ giữ tôi tại trụ sở viện kiểm sát và Công an huyện Văn Giang để lấy lời khai hai lần. Ngay trước khi hoàn thành các thủ tục, tôi đề nghị với một thiếu tá, người lấy lời khai của tôi (anh Tiến, đội trưởng đội trọng án), để viết một lá đơn gửi giám đốc Công an tỉnh Hưng Yên với ba nội dung: lãnh đạo Công an tỉnh cần có buổi làm việc với lãnh đạo của chúng tôi (trước nghỉ lễ 30-4) để làm rõ đúng sai, ai có lỗi phải chân thành nhận lỗi; tìm ra những người ra lệnh và người đánh chúng tôi để kiểm điểm, xử lý, rút kinh nghiệm; bồi thường tổn thất về sức khỏe, danh dự, tinh thần cho chúng tôi, nhất là phóng viên Phi Long. Sau đó một tuần không nhận được hồi âm, tôi có gọi điện hỏi anh Ngạn, giám đốc Công an Hưng Yên, anh Ngạn nói chưa nhận được. Ngày 2-5, tôi tiếp tục làm đơn lần thứ hai với nội dung tương tự. Ngày 3-5, giám đốc Trung tâm tin (thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam) gửi công văn đến công an tỉnh.

* Có bao giờ anh nghĩ mình sẽ bị đánh như việc đã xảy ra hôm 24-4?

– Gần 15 năm làm báo, tôi đã đến rất nhiều điểm nóng trong nước và cả nước ngoài, những nơi thiên tai, lũ lụt nguy hiểm. Tôi cũng đã nghĩ đến những chuyện rủi ro giống như những người làm báo khác nhưng đó là chuyện chẳng may “tên rơi đạn lạc”, chưa bao giờ tôi cho rằng mình bị đánh như ở xã Xuân Quan hôm 24-4.

* Anh nói thế nào khi sự việc xảy ra đã nửa tháng mà không hề nhận được phản hồi từ Công an tỉnh Hưng Yên?

– Điều này để dư luận đánh giá thì rõ hơn. Tôi cũng không nằm ngoài phạm vi đó.

 

Ngày 16-5 sẽ nghe các bên giải trình

Chiều 9-5, ông Bùi Huy Thanh – chánh Văn phòng UBND tỉnh Hưng Yên – đã có cuộc làm việc với phóng viên một số báo xung quanh việc hai phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam xác nhận bị lực lượng chức năng hành hung gần khu vực cưỡng chế thu hồi đất tại xã Xuân Quan hôm 24-4.

Ông Thanh cho biết: “Ngày 8-5, đang họp Hội nghị trung ương 5 nhưng cả Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên Nguyễn Văn Cường, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Thông đã gọi điện về yêu cầu giải quyết khẩn trương sự việc này. Sáng nay (9-5), Vụ Pháp chế Văn phòng Chủ tịch nước cũng về làm việc với các cơ quan chức năng tỉnh Hưng Yên về toàn bộ vụ việc liên quan đến thu hồi đất tại Văn Giang, trong đó có nội dung hai nhà báo bị đánh. Cùng ngày, tôi đã làm việc với giám đốc Công an tỉnh Hưng Yên Trần Huy Ngạn để thông báo yêu cầu của chủ tịch UBND tỉnh. Sau đó yêu cầu tổ công tác số 1, chốt số 3 xã Xuân Quan tường trình cặn kẽ sự việc. Ngày 16-5, UBND tỉnh Hưng Yên sẽ có cuộc họp để nghe các bên tường trình sự việc, trong đó có lãnh đạo công an tỉnh, hai phóng viên và cơ quan quản lý họ là Đài Tiếng nói Việt Nam”.

Quan điểm chỉ đạo về vụ việc này là xử lý nghiêm khắc nếu đúng đó là sai phạm của lực lượng chức năng. Chúng tôi mong hai nhà báo cung cấp băng gốc cho cơ quan công an vì phải có đầy đủ vật chứng, nhân chứng mới sớm xử lý được. Hơn nữa, cũng phải xem lúc bị đánh các phóng viên có xưng là nhà báo không, có thẻ hành nghề không hay là khi bị đưa về cơ quan công an mới xưng là nhà báo? Vấn đề này cần làm rõ mới xác định được tính chất vụ việc” – ông Thanh nói.

Khi phóng viên hỏi hai nhà báo đã xác nhận việc họ bị đánh, việc yêu cầu cung cấp băng gốc ghi lại chuyện bị đánh là rất khó vì hai nhà báo không phải người quay được cảnh chính mình bị đánh, ông Thanh cho rằng: “Phải có đầy đủ chứng cứ mới xử lý được vì hai nhà báo xác nhận mình bị đánh chỉ mới là một chiều, xem trên clip chỉ thấy người bị đánh đội mũ bảo hiểm, chưa rõ mặt là nhà báo thật hay không, giữa chuyện nhà báo đang tác nghiệp mà bị đánh và người chống đối bị đánh có tính chất rất khác nhau”. “Quan điểm là giải quyết thấu tình đạt lý, nhìn nhận ở mọi góc cạnh” – ông Thanh nhấn mạnh.

Ông Thanh tâm sự thêm: “Hôm đó tôi ngồi tại sở chỉ huy dã chiến, cầm bộ đàm chỉ đạo liên tục. Mình chỉ sợ trời nóng quá nên anh em cũng nóng lên, hung hăng làm chuyện gì đó không hay. Tôi luôn yêu cầu anh em phải hết sức bình tĩnh, kiên nhẫn, thuyết phục nhân dân. Đến chiều 24-4, thấy anh em phản ảnh có một nhà báo bị bắt, tôi yêu cầu kiểm tra và phải thả ngay. Dù chưa có kết luận cuối cùng về tính thực hư của clip hai nhà báo bị hành hung nhưng dù đó là cảnh hành hung nhà báo hay dân cũng rất phản cảm”.

————————————-

Hội Nhà báo Việt Nam đang tìm hiểu vụ việc

Liên quan vụ việc hành hung hai nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam, ông Hà Minh Huệ – phó chủ tịch thường trực Hội Nhà báo Việt Nam – cho biết ngày 9-5 hội đã cử cán bộ kiểm tra đến Hưng Yên làm việc với các cơ quan chức năng, nhưng đến nay vẫn chưa có thông tin gì mới từ chuyến làm việc ấy.

Ông Huệ khẳng định Hội Nhà báo Việt Nam sẽ tích cực bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của phóng viên. Tuy nhiên, cần phải có thời gian chứ không thể nôn nóng để có ngay câu trả lời được.

Theo Tuổi Trẻ

nguồn danchimviet.info

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

Nhà báo Trương Minh Đức vừa mãn hạn tù trả lời phỏng vấn của BBC cho biết “Sẽ tiếp tục đấu tranh”

Posted by hoangtran204 trên 09/05/2012

Nhà báo Trương Minh Đức, vừa mới mãn án tù 5 năm, trả lời phỏng vấn của đài BBC. Ông đã từng là phóng viên của báo Tiền Phong, báo Pháp Luật,…

‘Sẽ tiếp tục cuộc đấu tranh’ 

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2012/05/120506_truongminhduc_inv.shtml

Ký giả Trương Minh Đức ra tù

Ký giả Trương Minh Đức

Ông Trương Minh Đức (trái)

Ông Đức đoàn tụ với vợ (phải) và gia đình sau khi mãn hạn tù

Một ký giả Việt Nam từng có các bài viết chống tham nhũng vừa được chính quyền trả tự do sau 5 năm tù giam vì tội “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ” xâm phạm “lợi ích nhà nước.”

Trả lời BBC Việt ngữ hôm Chủ Nhật từ nhà riêng, ông Trương Minh Đức (link nghe phỏng vấn pop.html) cho hay ông được chính quyền trao trả tự do hôm 5/5/2012, sau khi đã hoàn tất thời gian thi hành án tù giam tròn 5 năm.

Ông Đức cho hay sức khỏe của ông “không được tốt” và trước mắt ông sẽ phải khám, chữa nhiều chứng bệnh để cải thiện sức khỏe như “cao huyết áp, dị ứng da…”

Cựu tù nhân nói môi trường trong các trại tù mà ông đã trải qua rất bất lợi cho sức khỏe khi điều kiện phòng giam ở nhiều nơi mà ông thụ án là “khắc nghiệt, khắt khe, quá tải” và “chật hẹp, thiếu thông gió, vệ sinh, tắm rửa khó khăn”.

“Có nơi phòng giam cho 50 người, người ta giam tới 70-80 hay trên 80 người.

“Chăm sóc y tế chỉ phát thuốc uống, trạm xá chật hẹp, diện tích 30 mét vuông, chứa tới 40-50 người… Nhiều người phải nằm đất, nằm dưới sàn gạch…”

‘Không có tội

Ông Đức nói ông đã từ chối ký vào một bản cam kết “không tái phạm” để được chính quyền thả về sớm vì ông nói ông không bao giờ cho rằng mình “có tội.”

Người từng có các bài viết trên các báo trong nước như Nông thôn Ngày nay, Tuổi trẻ, Pháp luật, Thanh Niên, v.v… về đề tài chống tham nhũng nói ông sẽ tiếp tục quan tâm quyền lợi của những người dân thường “bị ức hiếp” để bảo vệ quyền lợi của “những người thấp cổ bé họng.”

Ông cũng cho rằng Việt Nam vẫn còn nạn tham nhũng, nạn lạm dụng quyền lực của chính quyền trước người dân và mất dân chủ.

Ông nhắc lại quan điểm từ trước khi bị bắt cho tới thời điểm hiện nay rằng ông muốn “kêu gọi Việt Nam có bầu cử dân chủ tự do” và muốn những người lãnh đạo Đảng, nhà nước ra ứng cử các chức danh của chính quyền phải để cho những người khác muốn “tranh cử” được cạnh tranh công bằng với họ.

Cựu tù nhân nói ông nhận thức được các cấp độ “rủi ro” mà việc tái hoạt động có thể gây ra cho bản thân, từ việc có thể tiếp tục bị “trù dập”, bị “xã hội đen chặn đường” như trước đây cho tới bị bắt giam, và đặc biệt là gia đình có thể gặp “khó khăn kinh tế.”

Ông Trương Minh Đức bị bắt ngày 5/5/2007 và bị Tòa án nhân dân Tỉnh Kiên Giang xử 5 năm tù giam trong phiên tòa ngày 18/7/2008 với tội danh “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

Khi bị bắt, ông Đức đã công khai thừa nhận mình là thành viên của Đảng Vì dân, có trụ sở ở Houston, Texas, Hoa Kỳ.

Ông giải thích với BBC rằng vì ông không thể lên tiếng trên các báo trong nước, nên đã buộc phải tìm hình thức hoạt động mới bằng cách “gửi các bài báo ra nước ngoài” để tiếng nói của những nguời dân ở trong nước có thể được nghe thấy.

Bài phỏng vấn 12 phút. Nên nghe- rất kinh khủng

pop.html

http://www.bbc.co.uk/emp/releases/worldwide/revisions/749603_749269_749444_3/pop.html


Posted in Phỏng Vấn, Trại Tù | Leave a Comment »

Đài VOA Phỏng Vấn Chị Bùi Thị Minh Hằng

Posted by hoangtran204 trên 05/05/2012


Một phụ nữ được nhiều người biết đến từ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Trường Sa-Hoàng Sa, từ việc chị bị đưa vào trại giáo dục phục hồi nhân phẩm sau những cuộc tuần hành ôn hòa ấy, từ báo đài cả trong và ngoài nước, và từ thông cáo báo chí của tòa đại sứ Mỹ và giới bảo vệ nhân quyền quốc tế kêu gọi phóng thích chị. Chị Bùi Thị Minh Hằng, người vừa được chính quyền Việt Nam trả tự do ngày 29/4 sau 5 tháng giam giữ tại trung tâm Thanh Hà về tội danh gây rối trật tự công cộng, tuyên bố cương quyết tiếp tục đấu tranh cho lẽ phải và sẽ tự thiêu vì dân oan.

Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh Niên của đài VOA, chị Hằng khẳng định việc phóng thích chị sớm so với thời gian giam giữ dự kiến ban đầu là 2 năm không phải là sự khoan hồng như nhà nước nêu, mà do áp lực từ công luận của người Việt trong và ngoài nước cũng như quốc tế.

Chị Minh Hằng: Tôi được thông báo về quyết định trả tôi về vào ngày 26/4. Lúc đó, tôi phản đối vì trong 5 tháng họ giam giữ tôi trái pháp luật, tôi có 2 lần gửi đơn khiếu nại và tiến hành khởi kiện sau khi họ không trả lời đơn. Tôi vừa gửi đơn kiện ngày 7/4.

Cho nên, trong khi tôi đã gửi đơn từ đi rồi tự dưng họ lại bảo tha tôi. Mà thật ra không phải họ tha. Họ vận động tôi viết đơn xin khoan hồng. Tôi trả lời rằng tôi không có tội nên không thể viết đơn xin khoan hồng, mà tôi đang kiện lại chính cái quyết định đã bắt giam tôi trái pháp luật.

Sau đó, họ gợi ý tôi làm đơn xin đi chữa bệnh. Đấy, nói họ quyết định trả tự do cho tôi là không đúng, mà quyết định ghi là ‘miễn chấp hành thời hạn thi hành còn lại.’

Trà Mi: Thưa chị, vì sao có được quyết định ‘miễn chấp hành thời hạn thi hành còn lại’ đó?

Chị Minh Hằng: Nhận được quyết định đó, tôi cũng rất ngỡ ngàng. Tôi hỏi họ. Họ bảo căn cứ vào đơn xin của mẹ tôi.

Điều này càng khiến tôi nghi ngờ. (Bởi vì chỉ) Cách đó mấy ngày, thông qua chương trình TV và báo chí mà trại phát cho chị em đọc, (họ có kế hoạch rõ ràng, báo trước giờ phát hình), tôi được biết mẹ tôi và chị em tôi làm đơn yêu cầu chính quyền đưa tôi vào trại giam. Thế thì tại sao bây giờ lại có đơn xin cho tôi như họ nói, mà họ cũng chẳng đưa cho tôi đọc cái đơn ấy nữa.

Cho nên, thực hư thế nào tôi cũng không biết bởi từ nhiều năm nay khi có những chuyện va chạm với chính quyền, tôi bị dối gạt rất nhiều, lòng tin của tôi không còn nữa.

Tôi có viết đơn khiếu nại lại quyết định cho tôi về. Tôi nói thứ nhất, tới thời điểm này sau 5 tháng oan sai, tôi không muốn về nữa. Tôi muốn ở lại chờ đến khi nào những đơn từ tôi gửi đi được xem xét đúng pháp luật.

Sau đó, họ cho người vào thuyết phục tôi. Đầu tiên là ngày 27/4 có cô Cao Minh, công an Hà Nội, vào. Đến chiều có một chị tên là Oanh, người của Bộ Công an, vào nói chuyện với tôi. Chị ấy có ghi âm. Quan điểm của tôi rất rõ ràng rằng tôi không ra khỏi trại khi tôi chưa được giải quyết các đơn khiếu nại và khởi kiện. Căn cứ vào động thái và thái độ cư xử của họ, tôi đoán biết rằng họ có kế hoạch đưa tôi ra khỏi cơ sở Thanh Hà trước ngày 30/4.

Buổi trưa 26/4, khi tôi xuống đọc quyết định miễn giảm cho tôi, tôi thấy họ để trống ngày mà lại ghi sẵn là tháng tư. Tập hợp thông tin, tôi được biết việc họ bắt buộc phải đưa tôi ra khỏi trại trước ngày 30/4 là một sức ép rất ghê gớm từ công luận trong nước, hải ngoại, và từ thế giới.

Trà Mi: Với những lý luận đó, theo chị vì sao phải trước mốc thời gian là 30/4? Có lý do gì không ạ?

Chị Minh Hằng: Việc này để cho chính quyền trả lời thì hay hơn. Mục tiêu vì sao? Bởi vì họ đã bắt tôi trái pháp luật. Bây giờ đúng ra họ phải trả tôi về theo đúng pháp luật, nhưng họ không có hành xử nào chứng minh họ phục thiện trong chuyện họ làm sai cả. Ngược lại, họ vẫn tiếp tục những việc ‘xóa dấu vết sai phạm’ của họ đi, tức cách hành xử man rợ của họ.

Trà Mi: Chị nói lý do họ nêu ra để phóng thích chị sớm là phía gia đình chị có làm đơn. Sau khi ra khỏi trại, chị có kiểm chứng việc này với gia đình để biết thực hư ra sao chăng?

Chị Minh Hằng: Điều đó không bao giờ xảy ra vì gia đình tôi đã lên đài truyền hình của nhà nước bôi xấu tôi. Bản thân tôi cũng không được đơn lá đơn xin như họ nói. Về việc này, tôi có trả lời họ rằng tôi là một công dân độc lập, cho nên mẹ tôi có làm đơn đưa tôi vào đây cũng không đúng pháp luật mà mẹ tôi có làm đơn đưa tôi ra khỏi đây cũng không đúng pháp luật.

Trà Mi: Có một chi tiết hơi khó hiểu đối với công luận là vì sao chính gia đình chị lại lên các phương tiện truyền thông trong nước nói những điều không hay về chị?

Chị Minh Hằng: Vấn đề này là một nỗi đau riêng của tôi. Người ta không chọn được tổ quốc và nơi để mình sinh ra. Cho nên, tôi xin phép để công luận tự tìm hiểu điều này.

Nó đúng như nhan đề của bài báo họ viết: “Những trò lố bịch và màn kịch nhẫn tâm”. Họ có cả một hệ thống chính quyền, nhưng vì nó không chân chính nên họ mới lợi dụng vào những tình huống, những sứt mẻ của những gia đình để làm những trò rất lố bịch. Họ làm nên một màn kịch vô cùng nhẫn tâm như chính nhan đề bài báo của họ. Họ đã đào thêm một hố sâu khiến tôi với những người trong gia đình tôi, mặc dù là ruột thịt, nhưng có lẽ trong cuộc đời này sẽ không bao giờ có thể ngoảnh lại được với nhau.

Trà Mi: 5 tháng vừa qua trong trại phục hồi nhân phẩm Thanh Hà đã nghiệm ra cho chị những điều gì?

Chị Minh Hằng: Nói thật sự là phải để tôi viết lên mới đầy đủ. Đấy là những giây phút hãi hùng nhất về hành xử của chính quyền đối với nhân dân.

Trà Mi: Những người quan tâm đến vụ việc của chị cho rằng vì chị có những hành động phản đối các biện pháp sai trái của chính quyền đối với người biểu tình yêu nước nên dẫn tới kết cục là chị phải vào trại giáo dục. Ngược lại, phía chính quyền nói nguyên do vì chị có những hành vi thách thức chính quyền, vi phạm các điều lệ chính quyền đưa ra dù đã có những văn bản cảnh cáo chính thức. Với những luận điểm chính quyền đưa ra, chị nghĩ thế nào?

Chị Minh Hằng: Việc họ nói phải có chứng cứ thực thể. Ví dụ như ông Nguyễn Đức Nhanh của Công an TP Hà Nội tuyên bố rằng: “Chúng tôi không có quan điểm đàn áp người biểu tình”, nhưng thực tế diễn ra đã được phim ảnh ghi nhận lại cho thấy công an Hà Nội đàn áp biểu tình rất dã man.

Điều đó cả thế giới đã nhìn thấy. Cả dân tộc tôi nhìn thấy, mà không phải là một lần. Mấy chục triệu dân Việt Nam chúng tôi không có tự do để được tranh luận với chính quyền. Luật là họ. Họ là luật. Cho nên họ mới hành xử với chúng tôi sai trái như thế. Điều chúng tôi muốn đấu tranh cũng chỉ để bảo vệ tính tôn nghiêm của luật pháp.

Trà Mi: Liên quan tới thời gian chị bị giam giữ ở trại Thanh Hà, chị có điều gì muốn chia sẻ ngay lúc này không?

Chị Minh Hằng: Nói về năm tháng tôi ở trong cơ sở Thanh Hà, chuyện rất dài. Hiện tôi đang bị cơ sở thu giữ cuốn nhật ký cá nhân. Để thời gian tới, tôi sẽ có những cái thực tế gửi đến công luận, còn hiện nay, nói thật lòng, sức khỏe tôi còn rất yếu.

Trà Mi: Nhưng đôi nét ấn tượng nhất về những gì chị mô tả là thời gian ‘hãi hùng nhất’ trong 5 tháng qua ở trại Thanh Hà, những điều gì khó quên nhất đối với chị?

Chị Minh Hằng: Họ hành xử sai trái pháp luật, không còn cả tình người. Cho tới giờ phút cuối, với quyết định thả tôi ra khỏi cơ sở đó, họ vẫn hành xử với tôi một cách không có tính người và bất chấp pháp luật. Họ còng 2 tay tôi ra đằng sau, trói chân tôi vào xích cột vào một cái ghế trên xe. Họ quẳng tôi lên sàn xe. Lúc đó tôi phẫn uất tới tột độ. Họ không còn coi tôi là con người nữa. Tôi nằm trên sàn xe như một con lợn.

Trà Mi: Trong thời gian bị giam, chị đã tuyệt thực rất nhiều lần. Những lần đó, chị được đối xử thế nào?

Chị Minh Hằng: Là phụ nữ, tôi cũng khao khát về sức khỏe và sắc đẹp, nhưng tới mức tôi phải tự hủy hoại thân thể của mình để phản đối những cái họ đối xử với tôi thì chắc mọi người cũng hiểu rằng nó nằm ngoài sức chịu đựng của một con người.

Trà Mi: Với việc đưa chị vào trại phục hồi nhân phẩm – trung tâm giáo dục, họ đã áp dụng những biện pháp giáo dục, phục hồi nhân phẩm như thế nào đối với chị?

Chị Minh Hằng: Họ nhốt chúng tôi như nhốt gà chọi.Sau này, lúc gần thời điểm họ trả tôi ra, tôi liên tục làm đơn tố cáo, khiếu nại, đề nghị, kiến nghị, thư ngỏ. Sau vài chục lần tôi viết thư như thế, những đòi hỏi bước đầu như được ra sân chơi nửa tiếng một ngày được đáp ứng. Việc này xảy ra trước thời điểm tôi về chừng nửa tháng.

Tôi đòi hỏi cho trại viên được gọi điện thoại, họ cũng đáp ứng được một hai lần, nhưng tôi thì không được, vì họ nói tôi bị lập biên bản kỷ luật, nên không được.

Ví dụ như tôi nhịn ăn, họ cũng lập biên bản tôi mặc dù trong luật pháp chẳng có quy định nào nói rằng tuyệt thực là vi phạm pháp luật mà chỉ có quy định về quyền con người là không ai bị bắt và giam cầm một cách độc đoán. Nói như thế để quý vị biết họ hoàn toàn bất chấp, không bao giờ làm theo pháp luật. Con tôi phải bỏ học để đi nuôi mẹ. Cơ sở Thanh Hà đã gây rất nhiều khó khăn cho tôi trong việc đó, dẫn tới chuyện tôi lấy dao lam rạch lên tay, lên người tôi để cắt ven. Họ ngăn trở rất ghê gớm giữa tôi với gia đình và bạn bè, người thân.

Trà Mi: Cung cách họ đối xử với chị có khác với các trại viên khác không?

Chị Minh Hằng: Tôi là người bị chèn ép trong đó. Thậm chí họ dùng các trại viên đã vi phạm để gây hấn với tôi. Nhưng chỉ một thời gian, tới lúc tôi ra về, tình cảm của chị em đối với tôi khá tốt và họ nhận thức được mọi việc.

Trà Mi: Quyết định trả tự do cho chị lúc này có điều kiện ràng buộc nào không?

Chị Minh Hằng: Thưa không.

Trà Mi: Việc của chị rất nhiều người quan tâm, thậm chí tòa đại sứ Hoa Kỳ cũng đã lên tiếng. Cảm xúc đầu tiên của chị về việc được trả tự do lúc này là gì?

Chị Minh Hằng: Tôi rất biết ơn. Khi ra đây và đọc biết được những thông tin, tôi rất xúc động. Tôi không thể tưởng tượng rằng tình con người và sự bảo vệ chính nghĩa có tính cách lan rộng trong xã hội loài người như thế.

Tôi xem được những clip do những người tôi chưa hề quen hoặc chưa hề trao đổi mà họ lại đứng lên đi tìm những tiếng nói có thể bảo vệ cho tôi và chia sẻ với tôi. Đấy là điều tôi rất tri ân. Tôi thấy trách nhiệm của mình đối với cộng đồng lớn hơn rất nhiều. Tôi sẽ làm những gì có thể trong thời gian tới khi sức khỏe tôi hồi phục.

Trà Mi: Sau tất cả những gì diễn ra, những việc chị đã làm và những hậu quả chị nhận lãnh, chị nhìn thấy những ngày tháng tới của mình như thế nào?

Chị Minh Hằng: Tôi đã biết mình phải chịu đựng những cái oan khuất, thiệt thòi, hay trả thù man rợ. Nhưng không riêng tôi mà tất cả những người dân khác càng thêm quyết tâm và khao khát rằng chúng tôi phải làm sao đó cho xã hội này tốt đẹp lên. Không thể nào tiếp tục chấp nhận cách hành xử sai trái của một số người trong chính quyền. Mọi công dân đều phải có trách nhiệm làm theo pháp luật, nhưng một số người trong chính quyền bất chấp pháp luật. Đề nghị nhà nước phải có biện pháp để chấm dứt những tình trạng thế này.

Trà Mi: Với tinh thần khẳng khái và việc củng cố thêm quyết tâm đó, chị có dự liệu sẽ có thêm những chuyện rắc rối cho mình?

Chị Minh Hằng: Việc đầu tiên tôi đặt bút viết là đơn gửi Chủ tịch nước và Tổng bí thư. Đơn này tôi sẽ viết dưới hình thức là thư tuyệt mệnh bởi vì dân oan nhiều quá và khổ quá.

Tôi đã chứng kiến nhiều cảnh. Tôi đi đòi đất đòi nhà, đòi tài sản của cha ông để lại mà tôi đã phải xâm lên vai hai chữ “Nợ nước, thù nhà” khi tôi bị một số kẻ đâm xe vào tôi, hại tôi. Những việc này cho tôi suy nghĩ rằng an toàn của một người dân ngay thẳng muốn bảo vệ chính nghĩa trong xã hội bây giờ quá khó. Tình hình bất an, bất ổn khiến người dân chúng tôi hoàn toàn thiếu tin tưởng. Tôi sẽ viết tất cả những sự kiện gì xảy ra đối với cá nhân tôi kèm theo bằng chứng trong suốt quá trình tôi đi khiếu kiện vừa qua. Tôi cũng sẽ nói lên nguyện vọng của tôi với Chủ tịch nước và Tổng bí thư rằng tôi xin hiến tấm thân tôi cho những người dân oan Việt Nam hiện nay bằng cách là tôi sẽ tự thiêu. Dự tính của tôi là như thế.

Trà Mi: Cảm ơn chị đã dành thời gian cho chúng tôi trong cuộc trao đổi này. Xin chúc chị mau chóng hồi phục sức khỏe. Chúng tôi mong chị có được những ngày tháng an lành và dự định của chị về việc tự thiêu sẽ không bao giờ diễn ra.

Chị Minh Hằng: Tôi biết rằng con người phải bảo vệ sự sống cho mình. Trong lá thư viết cho Chủ tịch nước, tôi sẽ viết về tất cả những hiện tình cay đắng mà người dân chúng tôi đang phải gánh chịu.

Tôi không bao giờ muốn bản thân mình hay bất cứ đồng bào nào của mình phải ngã xuống vì những việc oan khuất hay vì đấu tranh, nhưng nếu như tình trạng này không được khắc phục-đất nước và cuộc sống của chúng tôi-thì việc hy sinh không phải tôi mà sẽ còn rất nhiều người nữa, bởi vì ‘chết vinh còn hơn sống nhục’.

Trà Mi: Vừa rồi là cuộc trao đổi với chị Bùi Thị Minh Hằng, người vừa được trả tự do sau 5 tháng bị đưa vào trại phục hồi nhân phẩm vì tham gia vào các cuộc tuần hành và những hoạt động chống Trung Quốc xâm lược Trường Sa-Hoàng Sa.

Nguồn: voanews.com

nguon: danchimviet.info

THEO DÒNG SỰ KIỆN:

  1. ĐSQ Mỹ ra thông cáo báo chí về Bùi Minh Hằng
  2. Chị Bùi Thị Minh Hằng vẫn ‘mất tích’
  3. Thư cám ơn của chị Bùi Minh Hằng

Posted in Phỏng Vấn | Leave a Comment »

►Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Posted by hoangtran204 trên 30/04/2012

Lời tựa của Trần Hoàng: Không nên để cho lòng hận thù nung nấu, nhưng các sự thật của lịch sử cần được phô bày ra, để cho các thế hệ trẻ VN sẽ học hỏi, rút kinh nghiệm, thấy được những điều hay, biết cách xử thế, và không bao giờ lập lại lịch sử.

***

*Bắt nguồn từ những cuộc phỏng vấn thời còn làm cho Đài Á Châu Tự Do năm 1997 và do cảm phục thái độ can cường và tấm lòng của Dương Thu Hương đối với con người và đất nước Việt Nam, Đinh Quang Anh Thái đã xem nhà văn nữ này như một người chị tinh thần.

Trung tuần tháng Hai vừa qua, do lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur, bà Dương Thu Hương đến Paris để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn No man’s land, nay được dịch sang Pháp ngữ là Terre Des Oublis.

Khi được tin này, Đinh Quang Anh Thái đã lập tức sang Paris thăm bà Dương Thu Hương và được bà dành cho một loạt cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề tại quê nhà chúng ta. Bài thứ nhất đã được đăng trên Việt Tide số 241 và sau đây là bài thứ nhì. Những bài kế tiếp sẽ được tiếp tục đăng trên Việt Tide vào những tuần sắp tới, mời quý độc giả đón đọc.

Bài 1

Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Việt Tide: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?

Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.

Việt Tide: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?

Dương Thu Hương: (cười khẩy) Đó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như nước trong (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình.

Việt Tide: Bà có thể nói rõ hơn?

Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Đối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Đội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ được vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý luận Nghiệp vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường.

Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải cách Ruộng đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.

Việt Tide: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ?

Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.

Việt Tide: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của hai cháu tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?

Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục.

Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Đứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt.

Việt Tide: Khi lớn lên, các cháu có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?

Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.

Việt Tide: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?

Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép.

Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.

Việt Tide: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?

Dương Thu Hương: Không! Đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.

Việt Tide: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người làm giặc ngay tại Hà Nội tại sao vậy, thưa bà?

Dương Thu Hương: Câu hỏi của ông vô cùng mâu thuẫn và vô cùng ngớ ngẩn. Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.

Việt Tide: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?

Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Đơn giản như vậy thôi.

Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giất mơ.

Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm ghiếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.

Việt Tide: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?

Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Đúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét.

Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động), tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.

Việt Tide: Nói chuyện với bà, tôi thường nghe bà nhắc đến hai chữ “số phận”. Bà tin số phận như thế nào và bà hiểu hai chữ số phận như thế nào?

Dương Thu Hương: (cười thoải mái)  Tôi tin số phận theo kiểu của tôi và hiểu số phận theo kiểu một người nhà quê chân đất mắt toét. Đại loại như vậy. Còn để diễn giải hai chữ số phận trong cuộc phỏng vấn ngắn ngủi này thì đó là điều bất khả.

Việt Tide: Xin bà cứ nói chi tiết.

Dương Thu Hương: (cười to) Tôi nói ví dụ, chúng ta không phải hoàn toàn là những kẻ bất lực, nhưng chúng ta cũng không hoàn toàn là những kẻ làm chủ được số phận của mình. Ví dụ như khi tôi ở trong tù năm 91, tôi nghĩ không bao giờ có ngày ra khỏi tù. Nhưng rồi tôi lại thoát nhờ sự can thiệp của những người mà tôi chưa bao giờ biết. Như vậy rõ ràng là có bàn tay của Chúa (nói  theo người Thiên Chúa Giáo) và có bàn tay của Giời Phật (nói theo người dân Việt Nam). Đấy là điều khiến tôi tin vào số phận.

Dương Thu Hương (Việt Tide Phỏng Vấn)

http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=categories&op=newindex&catid=47

http://www.vietthuc.org/author/duong-thu-huong/

Hình ảnh Miền Nam Việt Nam trước ngày 30-4-1975

>>> Xem Hình

*********************

Bài 2

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cập nhật lúc 30-04-2011 10:23:08 (GMT+1)

Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (P) ăn trưa cùng ông Hồ Chí Minh (T) vào tháng 8/1959 tại Bắc Kinh.

Tháng 4 năm 1975, những người cộng sản tiến vào Sài Gòn “giải phóng miền Nam” kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Bắc – Nam, kéo dài trong 21 năm.

Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến này, dựa trên các tài liệu đã được giải mật thời gian gần đây, nhiều người nhận ra, cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” do những người Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật sự không phải vì Việt Nam.

Vì Liên Xô vào để truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản

Sau Đệ nhị Thế chiến, Joseph Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình bằng cách hỗ trợ nhiều quốc gia tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng bạo lực để lật đổ các chính thể hiện hành, thiết lập các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Năm 1958, ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chính quyền Cộng sản ở miền Bắc, Việt Nam, tuyên bố: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý, xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết cho phép các lực lượng Cộng sản miền Nam sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền miền Nam. Và rồi cuộc chiến Bắc – Nam đã được những người Cộng sản khơi mào bằng các phong trào kiểu như “Đồng khởi” ở Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, sách động quần chúng đấu tranh vũ trang kết hợp với chính trị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng, cuối năm 1960, Đảng Cộng sản cho ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản, hoạt động ở miền Nam với mục đích lật đổ chính quyền miền Nam, thống nhất Việt Nam, để biến Việt Nam thành một khối thống nhất, thành viên của cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn vừa kể, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Liên Xô liên tục qua lại thăm viếng nhau. Đến cuối năm 1960, hai bên bắt đầu ký nhiều thỏa thuận, trong đó, Liên Xô cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ miền Bắc, để giúp miền Bắc “giải phóng miền Nam”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1961, hai tuần trước khi ông Kennedy tuyên bố nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Nikita Khrushchev, Thủ tướng Liên Xô, tuyên bố, Liên Xô sẽ hỗ trợ “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” trên toàn thế giới, trong đó có Cuba và Việt Nam. Khrushchev gọi đây là những cuộc chiến tranh “thần thánh”. Ông Ilya Gaiduk, nhà sử học người Nga, tiết lộ, trong kế hoạch của Moscow, Việt Nam trở thành một kênh chính để tạo ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Ngày 31 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố, những diễn biến vừa kể là bằng chứng về tham vọng muốn thống trị thế giới của Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc.

“Tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”

Ngoài việc Liên Xô muốn vào truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản, những người Cộng sản Việt Nam cũng muốn biến đất nước trở thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, năm 1959, nêu rõ: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ chiếm cứ miền Nam, âm mưu xâm lược miền Bắc là để tấn công phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên, thắng lợi của cách mạng Việt Nam quan hệ trực tiếp đến phe xã hội chủ nghĩa, làm cho phe xã hội chủ nghĩa càng rộng lớn, vững mạnh”.

Ông Lê Duẩn chụp vào ngày 15/5/1975. AFP photo

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô. Theo đó: “Hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của phe XHCN và phong trào cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng Lao động Việt Nam, giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc của phong trào vô sản quốc tế”.

Kể từ đó, khối cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, đã gia tăng viện trợ quân sự, từ vũ khí, đạn dược, xe tăng, tên lửa, máy bay…cho đến các cố vấn quân sự, thậm chí cả binh lính, cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, để lật đổ chính quyền miền Nam, thực hiện cuộc cách mạng vô sản, biến Việt Nam thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Trong bài nói chuyện đăng trên báo Nhân Dân, ngày 20 tháng 7 năm 1965, ông Hồ Chí Minh đã cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc về sự giúp đỡ này, ông nói: “Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp năm châu. Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN giúp đỡ lãnh đạo miền Bắc với mục đích truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam và rộng hơn là các nước Đông Nam Á, thế nhưng ông Hồ Chí Minh chỉ thấy sự giúp đỡ này là “vô tư”, “không vụ lợi”. Ông cho biết: “Các nước bạn giúp ta một cách khẳng khái, vô tư, như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi. Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”. Và ông  ông Hồ Chí Minh cho biết, ông “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”.

Tháng 2 năm 1966, khi đến Moscow tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 23, ông Lê Duẩn tuyên bố, ông có hai tổ quốc, đó là Tổ quốc Việt Nam và Tổ quốc Liên Xô. Ông Lê Duẩn cũng cám ơn Liên Xô về sự “viện trợ to lớn và nhiều mặt” cho chính phủ miền Bắc. Trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Lê Duẩn cho biết: “Liên Xô giúp chúng tôi bằng trái tim của họ, và họ đã giúp chúng tôi nhiều hơn chúng tôi có thể sử dụng, và Trung Quốc cũng giúp đỡ chúng tôi”.

Sử gia Douglas Pike nhận xét về cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do miền Bắc khởi xướng như sau: “Bản chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi trên thực tế: từ một anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo, cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”.

Cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng miền Nam”, ngoài mục đích Liên Xô muốn đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn của phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Nam Á, những người Cộng sản Việt Nam đã “giải phóng miền Nam, là “giải phóng” cho ai? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Ngọc Trân

nguồn RFA

nguồn danchimviet.info

nguồnlethanhhoangdan

Bài 3

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”. Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác?

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu.

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam – mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.

Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”.

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc…Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau:Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

Ngọc Trân

Nguồn RFA

nguồn Vietinfo.eu

—————————————————————————————————

Sau khi chiếm được miền Nam vào ngày 30-4-1975, đảng cộng sản Việt Nam đã trả thù những người miền Nam bằng cách như thế này:

_Chỉ 1 tháng sau đó, họ bắt 400.000 quân nhân, công chức, của miền Nam vào ở tù từ 6 năm-17 năm. Tù ở đây là ở trong rừng sâu nước độc, bỏ đói, để những người này chết dần.

_Bắt ép gia đình của người miền Nam đi kinh tế mới để cướp nhà của họ. Trong khi những người cha, những người chồng bị bắt đi thì công an và chính quyền địa phương (cấp quận, huyện, tỉnh, trung ương) chiếm lấy nhà ở của những “ngụy quân ngụy quyền học tập cải tạo “, và đẩy 1 triệu gia đình của người miền Nam đi kinh tế mới, và cán bộ chính quyền đoạt lấy nhà cửa của các gia đình này để lại.

Kinh tế mới là các khu rừng nằm ở cách xa thành phố và thị xã, không có điện, không nước, không nhà ở; chỉ là một bãi đất trống chia lô, và gia đình tự che lều, che màn, tự lấy lá lợp làm nhà lấy.

_Con cái của các quân nhân, công chức miền nam đã và đang học tập cải tạo không được vào học đại học. Việc đối xử phân biệt này chỉ dần dần chấm dứt vào đầu những năm 1990. Đây không phải là sự chấm dứt vì tự nguyện mà vì vào thời gian này, con cái của cán bộ và đảng viên có được học bổng hay đi xuất khẩu lao động qua 16 nước XHCN từ 1984-1994, và bên cạnh đó, con cái cán bộ đảng viên cũng đã được xuất ngoại qua âu châu du học trong thời gian bắt đầu chung quanh thời điểm 1990.

 _Người miền Nam phải bắt buộc lòng vượt biển để tìm cái sống vì quá sợ cộng sản. Hơn 2 triệu người vượt biên đến được tự do, nhưng khoảng 500000- 1 triệu người đã bị chết vì chìm tàu, vì hải tặc và mất tích trên biển Đông, hoặc chết trong khi đi đường bộ vượt biên giới qua Kampuchea để đến Thái Lan.

_Quét sạch các đền, chùa, lăng, miếu, nhà thờ, chiếm 240 trường tiểu học, trung học, đại học của công giáo, chiếm hàng trăm chùa chiền và hàng trăm trường tiểu học, trung học, đại học của Giáo hội Phật giáo VN Thống Nhất, các trung học, đại học của Phật giáo Hòa Hảo và Phật giáo Cao Đài,  và hàng ngàn trường học của các tư nhân.

_Đốt hết các sách vở báo chí của miền Nam để tiêu hủy các dấu tích của nền văn hóa ở miền Nam 1976. Cấm hát và trình diễn tất cả các bản nhạc do nhạc sĩ miền Nam sáng tác trước 1975.

Chuyện  đốt sách báo của miền Nam VN (xảy ra vào năm 1975 và 1976)  do đảng CSVN và nhà nước CHXHCN VN chủ trương và thi hành được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam. Trong lịch sử nước Tàu, cũng có chuyện Tần Thủy Hoàng và Mao Trạch Đông đốt  sách.

_Kể từ sau 30-4-1975, khoảng trên 3 triệu cán bộ và đảng viên miền Bắc và người miền Bắc đổ xô vào 18 tỉnh miền nam, họ thực hiện việc cướp đất đai và chiếm nhà ở của dân chúng miền Nam.  (Tôi về Việt Nam đã nghe và Thấy gì ở Miền Nam Sau 37 năm Dưới Chế độ Cộng sản http://www.danchimviet.info/archives/63710)

Dưới đây là một chuyện trại học tập cải tạo vào năm 1975-1981.

MÃI MÃI … KHÔNG QUÊN

Những ngày gần đây, đài phát thanh Little Saigon mỗi sáng đều tường thuật chuyến đi về Biển Đông của đặc phái viên Đinh Quang Anh Thái trong đoàn đi thăm lại những ngôi mộ vô danh hay hữu danh của các thuyền nhân vuợt biển, những người từng mong muốn thoát khỏi một chế độ cực kỳ tàn ác, dã man Cộng Sản Việt Nam. Ra đi,  với ước mơ được sống một đời sống cho ra con người, họ chẳng may bỏ xác trên biển cả và được chôn tại các đảo xa xăm vùng Thái Lan, Mã Lai, Indonesia…

Giọng nói nghẹn ngào tức tưởi của đặc phái viên khi đứng trước các ngôi mộ cá nhân hay tập thể làm tôi nhớ lại những người bạn sỹ quan đã bỏ mình khi bị đưa đi ở tù tại các trại Cà Tót, Sông Mao…và cuốn phim về trại cải tạo như quay chậm lại tuy thời gian đã quá 32 năm nhưng vẫn còn in đậm nét trong ký ức tôi.

Sau khi Phan Thiết mất vào tay Cộng Sản, tôi cùng gia đình vào Saigon, rồi trôi giạt về Long Xuyên, vùng 4 chiến thuật. Tôi cứ đinh ninh rằng ở Long Xuyên sẽ được an toàn hơn vì chưa bị hao binh tổn tướng, còn ở Saigon thì sợ sự pháo kích bừa bãi của phía bên kia. Nhưng rồi khi nghe tin ông Dương văn Minh vừa mới nhậm chức Tổng Thống đó thì đã tuyên bố đầu hàng, tôi cảm thấy như trời đất sụp đổ: thôi thế là hết, chẳng còn hy vọng gì nữa!

Tôi cùng với vợ đi trình diện ở Long Xuyên được người của chế độ mới trả lời :  “ Ở đâu, thì về nơi đó mà trình diện”

Thế rồi, ngày 7 tháng 5 tôi cùng gia đình về lại PhanThiết.

Đường từ Saigon về Phan Thiết, lúc mới đầu cũng còn tạm được, nhưng khi đi được nửa đoạn đường thì có một cái cầu bị phá sập, và cả một dãy xe đò bị tắc nghẽn.Dân chúng ùn ùn trở về quê cũ. Một người mang một cái xách tay, gương mặt người nào cũng thất thần, buồn bả và xanh xao. Đến chỗ tắc nghẽn, mọi người phải   xuống đi bộ, lội qua con suối cạn, chờ đoàn xe từ từ bò xuống suối rồi  bò lên.

Trời đang mưa, tôi và vợ con phải tấp vào một trại làm than. Nhìn quanh quẩn không có hàng quán gì cả. Bỗng thấy một bà già đang nấu cơm và kho thịt, tôi có ý muốn mua một ít đồ ăn cho gia đình, bà đồng ý bán cho chúng tôi cơm, chút ít thịt kho với bều bều nước. Nhưng trời mưa lạnh và chúng tôi đang đói nên ngon ơi là ngon.

Lúc về đến Phan Thiết, những ngày đầu, tâm trạng tôi vô cùng hoang man, không biết phải làm gì. Rồi tôi đi trình diện Ủy ban quân quản, và tìm gặp một số bạn bè. Nếu có nói chuyện với ai ở ngoài đường, người nào cũng lo lắng nhìn quanh quất, xem có bị theo dõi không. Đường phố vắng tanh, nhà nhà đều đóng cửa. Thỉnh thoảng người ta mở cửa he hé một chút, đi ra một lát lại đóng lại. Phan Thiết như một thành phố chết. Nét mặt mọi người đều căng thẳng.

Tôi tự nghĩ về thân phận mình, như con cá nằm trên thớt, thôi thì cứ ra sao thì ra. Tôi tạm chuẩn bị một cái gì đó, tôi đến nhà một anh y tá cũ xin một ít thuốc Chloroquine và primaquine. Biết đâu rồi đây tôi bị đưa đi những vùng khỉ ho cò gáy, rừng thiên nước độc!  Anh ấy là một hạ sỹ quan rất thân tình. Anh đã dốc hết cả chai cho tôi. Tôi giữ cho mình 20 viên để phòng thân, gặp bạn bè, cho mỗi người 20 viên. Sau đó, tôi đến nhà anh Nguyễn văn Tư, nguyên Đại úy sỹ quan hành chính quân y, thấy thân sinh anh Tư đang làm dép râu, tôi đưa tặng anh Tư mấy viên thuốc Chloroquine và Primaquine. Ba anh Tư rất mừng và làm cho tôi một đôi dép râu bằng vỏ lốp xe Jeep.

Ngày 18/6/75 vì đang loay hoay tìm kế mưu sinh, tôi cùng với một người bạn, anh Cảnh đạp xe ra cây số 17. Anh này có người quen cho đất ở đây. Từ Phan Thiết đến đó hơn 17 km. Trời hơi mưa mưa. Đến nơi mới thấy đó chỉ là một miếng đất khô cằn, xung quanh không có sông suối. Nếu muốn trồng lúa, chỉ có gieo lúa khô, nhờ nước trời mà thôi.

Tôi chưa có dự tính gì cho những ngày sắp tới. Rồi khi về đến nhà, vợ tôi cho hay có lệnh ngày mai 19/6 tôi phải đi tập trung học tập cải tạo. Thât là oái ăm! Ngày 19/6 cũng là ngày quân lực VNCH, vậy mà tôi phải đi tù.

Tôi vội ra chợ mua một miếng vải nylon, về nhà may gấp thành cái võng để sau này khi cần đến thì dùng nó, máng giữa hai cành cây để nằm nghỉ.

Tối hôm đó, vợ tôi nấu cơm, tôi ăn hoài mà không  thấy no, vì cả ngày đạp xe gần 35 km.
Sáng hôm sau, tôi ra tập họp ở vườn bông, đem theo chừng 10kg gạo, ít cá khô, vài bộ quần áo. Ra đến nơi, gặp anh em Bình Thuận ở vùng xung quanh cũng vừa đến. Mặt mày ai nấy buồn xo, đưa tay chào nhau rồi nói nho nhỏ với nhau “ chẳng biết tương lai ra sao !”

Khoảng 10 giờ sáng,sau khi điểm danh, chúng tôi được lệnh lên những chiếc xe GMC. Đồ đạc mỗi người chẳng có bao nhiêu . Chiếc xe chở khoảng 40 người có hai bộ đội VC có súng ngồi đằng sau để canh.
Đoàn xe di chuyển về thị trân Phú Long . Nhưng khi gần đến đó, xe đổi hướng về một ngã rẽ trái theo đường liên tỉnh lộ nối Phú Long qua Thiện Giáo. Đường này chỉ dành cho xe bò đi mà thôi,nhưng có lẽ họ muốn đánh lạc hướng để vợ con sỹ quan đi trên xe không biết chỗ đến.

Lên đến Thiện Giáo đoàn xe tiếp tục chạy theo liên tỉnh lộ 8. Đường này ngày xưa nối Thiện Giáo với Di Linh, đã bị bỏ lâu rồi, cỏ lác mọc  lấn vô nhiều vô kể, nên xe chạy bị dằn xóc muốn lộn ruột. Độ vài chục cây số nữa thì xe chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng. Khoảng một giờ sau, được lệnh xuống đi bộ rồi lội qua một con suối cạn đến một vùng rừng hơi thấp trên một ngọn đồi nhỏ.

Trước khi vào trại, chúng tôi được lệnh tập họp trên một sân đất.

Trại là một số nhà bằng lá, nằm trên một ngọn đồi thấp, dưới những tán cây rất cao.
Lúc chúng tôi vào, bên phải có những nhà tranh có vách, bên trái là cụm nhà tù rào bằng tre trong một khu rừng rậm. Những dãy nhà dành cho sỹ quan tập trung có hình chữ E bị ngắt đoạn. Nói là nhà chứ thật ra chỉ có mái che còn bốn bề trống hoác.

Chúng tôi được lệnh ngồi xuống. Nhìn vào trong trại những sỹ quan ở tù, tôi thấy lố nhố một số người, đứng có, ngồi có, mặt mày ốm o và xanh xao. Bỗng tôi nhận ra có một người quen. Té ra là Thiếu tá Phạm Minh, Chỉ huy trưởng trung tâm yểm trợ tiếp vận Bình Thuận, đang đi ra chỗ để cối xay lúa, đứng ngó chúng tôi.

Họ bắt đầu lục xét “hành trang” của chúng tôi. Tất cả đồ ăn, thuốc men, đồ dùng họ tập trung lại và lấy hết. Do đó, tôi vội lấy số đường mang theo ( khoảng nửa kg) ngốn hết. Nhìn thấy ở hàng trên, họ đang tịch thu thuốc của anh em, tôi vội xé cái nón vải đang đội trên đầu ( tôi đội một nón vải, trên đó lại thêm một nón lá – sẽ có ích sau này) ở giữa hai lớp vải, tôi nhét vội vào những viên thuốc ngừa sôt rét mang theo.

Đây là lúc mấy cán bộ việt cộng tha hồ lấy của người làm của mình. Một cán bộ việt cộng lấy những cây viết của anh em, gài vào túi áo mình va khoe với bạn: “Viết đẹp quá, tụi mày muốn lấy không?” đến lượt tôi bị lục soát, đồ ăn, mùng, mền, võng… đều bị lấy hết. Đến đôi dép râu tên cán bộ việt cộng nói: “các anh làm sao mà có hân hạnh được mang đôi dép này rồi lấy luôn.” Riêng về cái mền, tôi nói: “ trời này lạnh quá, các anh lấy mền thì làm sao tôi sống nổi” sau đó nó trả lại.

Tiếp đến, tất cả được đưa vào trại. Đi ngang qua một dãy có hai thanh gỗ dài song song được khoét những lổ tròn để làm còng, đây là dấu tích trước đây- tôi nghe kể lại- nhưng sĩ quan sau khi bi bắt được đưa lên đây, tối nào củng bị còng. Khi Sài gòn chưa “giải phóng” tôi còn nghe chuyện về thiếu tá Phạm Minh khi bị còng đã nói: “yêu cầu được đối xữ theo quy chế Geneve” thì đám VC trả lời: “không có quy chế Giơ-Ne-Vơ ở đây, mà chỉ có luật của chúng tôi” và bị còng cả tay lẫn chân cho đến khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng mới mở còng.

Lúc gần tối, chúng tôi được cho ăn. Một toán tập hợp 10 người để nhận khẩu phần. Mỗi 10 người được đem ra hai thau: Một thau đựng cơm, một thau đựng nước muối. Thau vừa móp vừa dơ, trông còn tệ hơn cái thau cho chó ăn của những nhà nghèo ở Việt nam. Nước muối màu vàng vàng, đen đen, còn cơm thì ẩm móc và lẫn với sạn. Tôi phải đổ thêm nước vào để sàn bớt sạn ra. Chúng tôi chia nhau mỗi người hơn một chén cơm, nhai trệu trạo mà cũng ráng nuốt vô. Đó là khẩu phần hàng ngày của chúng tôi ở trại Cà Tót.

Đêm đầu tiên, gặp thiếu tá Vị, kéo tôi và đại úy Bùi Thanh Minh nằm hai bên cho vui. Ba anh em nói chuyện tiếu lâm đến khuya, vẫn còn cười khúc khích. Đám cán bộ VC đi canh nói to: “ Ngủ đi, bộ ở tù sướng lắm hay sao mà cười hoài!”

Dần dần, tôi chứng kiến người bị sốt rét quá nhiều. Hằng ngày, mặt họ xanh xao và run rẩy trong cái mền, dù trời đang nắng ấm. Ngoài hàng rào có một cái lều nhỏ hỏi ra, tôi đuợc biêt có một người sắp chết bị bỏ đó. Tôi vội lấy một viên thuốc sốt rét để phòng thân. Cả đêm tôi không dám ngủ, trùm mền kín sợ muỗi cắn truyền bệnh. Sáng hôm sau, mượn được cây kim, tôi bèn tháo sợi chỉ từ trong cái mền, rồi sếp đôi mền lại , may thành cái bao và đêm nào tôi cũng trãi xuống chun vô, sau đó chụp cái nón lá lên đầu. Ngủ trong bao đó thì yên tâm không lo bị muỗi cắn.

Một buổi tối tôi lấy nước, gặp anh On, là trung sỹ quân cảnh của Đoàn Liên Hiệp Kiểm soát Đình chiến hai phe ( Việt Cộng và Việt Nam cộng Hòa ). Tôi thắc mắc hỏi anh : “ Anh là trung sỹ , sao bị lên đây ?”( Tôi biết anh này từ hồi còn làm ở Quân y viện Đoàn mạnh Hoạch, anh thường xin thuốc cho con ), anh ta trả lời rằng khi khai lý lịch, họ viết sai trung sỹ ra trung úy và hiện đang làm đơn xin cứu xét lại truờng hợp của anh. Vì anh phụ trách “ anh nuôi “ , nên anh dẫn tôi về chỗ anh làm và cho tôi mấy miếng cơm cháy, sau đó cho thêm một tán đuờng. “ Bác sỹ ăn đi !”. Tôi nói cám ơn anh lắm nhưng vì tôi đã ăn hết số đường đem vào nên cho đến nay chưa thấy thèm ngọt. Anh cho tôi ba con cá khô nhỏ. Chiều đó, tôi cũng đem chia lại cho bạn, người một con. Tôi ngức cái mình ( và chừa cái đầu lại ) để chiều đó được ăn cá khô. Mấy ngày sau vào rừng, thấy một đọt măng , bèn xắn đêm về, mượn dao ( dao tự tạo chứ trại không cho dùng dao ), xắc măng nấu với đầu cá khô, cũng được một bữa ăn gọi là “ thịnh soạn “.

Công việc của tôi hàng ngày là : cắt tranh, đánh tranh, đốn tre để mở rộng trại tù. Có bữa tôi vác cuốc làm cỏ một vùng gần đó trồng rau cải, ớt, đu đủ….

Sau đó chúng tôi phải làm bảng lý lịch trích ngang. Mới đầu thì họ bắt khai sơ lược. Một thời gian sau họ bắt khai kỷ hơn, nên tôi phải tính toán khai làm sao cho trước sau như một. Bữa nọ, một cán bộ VC ngồi gần, nhìn thấy lý lịch của tôi thì nói : “ À, anh là Bác sỹ! Hồi đó, anh mà thấy chúng tôi bị thương, thì anh lấy máu truyền cho Mỹ chớ gì !”. Tôi cười đáp : “ Trước khi truyền cho ai thì máu đó phải được thử nghiệm để xem trong đó có vi trùng những bệnh nguy hiểm hay không chứ đâu phải dễ , cán bộ ở trên rừng  thường bị sốt rét , làm sao lấy máu truyền được!”.

Một cán bộ tên Loan, cấp bậc trung tá đỡ ngay, thấy cấp dưới đang đuối lý, bèn nạt ngay : “Thôi! Tiếp tục; làm đi, không nói nữa !”.

Trong thời gian bị giam ở đây, có một số người bị chết vì sốt rét. Tôi không biết nhiều hay ít nhưng có hai anh tên Long và Biên khiến tôi nhớ suốt đời, vì tên của hai anh nhắc nhở tôi nhớ đến cây cầu Long Biên ở Hà Nội.

Toán chúng tôi gồm cả thảy mười người đi chôn cất hai anh. Lúc đi chôn, một số ít đốn tre  chặt dây mây để bện lại. Một toán đào hố ở bìa rừng, toán kia chặt tre làm bảy miếng và lấy dây rừng bện lại thành cái vạc, sau đó lấy quần áo hai đàomặc lại cho họ, rồi lấy mền hay vải nylon cuộn họ lại. Số cây tre theo đúng tục lệ Việt Nam   “ nam thất, nữ cửu “. Các anh phải đủ bảy thanh tre, được cuộn lại, khiêng tới chổ đào hố.

Vùng đó, toàn cả sỏi và đá, chúng tôi không sao đào sâu được, cố gắng lắm cũng chỉ được 1 mét thôi, và hạ các anh xuống, lấp đất, vun lại. Và một anh vác rựa tới một cây gần đó, đẻo tên người nằm xuống ( vì không có tấm bảng để ghi tên ).  Anh trưởng toán lúc bấy giờ là Lê Khắc Hai ( tức nhà văn Hải Triều). Sau khi chôn xong, anh Lê Khắc Hai hô : “ Nghiêm! Chào tay! Chào!” Chúng tôi cũng hơi ngượng vì đang ở trong hoàn cảnh tù đày mà anh Hai còn giữ lối chào theo quân kỷ. Sau đó, anh Hai hô tiếp : “ Một phút mặc niệm bắt đầu !”Rồi “ Một phút …qua!”.

Nghĩ lại mà thương cảm cho mấy anh sỹ quan chết mà không có được tấm bia, không có được cái hòm, chỉ có bảy thanh tre, rồi sau này vợ con muốn tìm cũng không biết đâu mà tìm.
Một thời gian sau, tôi có dịp gặp lại viên cán bộ VC hồi tôi mới đến trại, đã xét đồ đạc của tôi. Tôi thấy mỗi khi anh ta bước đi, hai ống quần đánh vào nhau kêu rọt rẹt. Nhìn lại, té ra anh lấy tấm nylon của tôi ( trước kia tôi may võng ) ra may quần.

Hơn hai tháng sau, một buổi sang, những thiếu tá, trung tá được lệnh chuẩn bị đồ đạc để di chuyển. Tôi không nghĩ họ sắp bị đem đi thủ tiêu, vì không thể thủ tiêu nhiều người cùng một lượt. Về sau, tôi được biết họ được đưa vào trại Suối Máu.

Khoảng hai tháng rưởi sau đó, một buổi sáng, cấp bậc đại úy như chúng tôi được lệnh chuẩn bị đồ đạc để di chuyển. Họ dẫn chúng tôi đi theo đường rừng, từ trại đó trở ra, băng qua rừng, về lại theo con đường liên tỉnh. Trên đường đi tôi thấy những hố bom do B52 thả rất đều dọc theo tỉnh lộ. Đến tỉnh lộ 8, thấy xe đợi sẵn, chúng tôi lên xe, họ chở chúng tôi về hướng Bắc. Gần chiều, đến trại gia binh của Sông Mao.

Mỗi nhà trong khu này được giành cho khoảng 10 người. Sau đó, họ bắt chúng tôi đào một hố xí lớn gần ngay ngoài đường rồi bên trên gác ngang những cái cây để đi vệ sinh. Hố xí đó gần sát ngay hàng rào kẻm gai, tiếp đó là con đường bằng dất , đến nhà dân ở bên kia. Họ ra lệnh rằng những nhà vệ sinh trong trại gia binh phải đuợc lấp đi vì vừa ăn vừa ị trong nhà rất mất vệ sinh. Chúng tôi không lấp mà dung một cái lon  đặt xuống, lấy cát lấp lên trên để lỡ khi hữu sự vào ban đêm. Nếu lỡ đêm hôm phải đi ra ngoài, tay cầm đèn dầu, gặp khi gió thổi tắt, trên trạm canh có thể bắn mình chết lắm.

Đến đây, họ phát cho tôi hai chai : một chai dung dịch muối, quinine, có nút cao su, được bọc hai lớp nylon; một chai nữa là solucamphre, hai seringue, vài cây kim, một chai alcool, một ít gòn, một cái soong để nấu, để chích cho những người bị bệnh sốt rét. Mỗi lần chích, phải mở lớp nylon đầu tiên ra, lấy kim đâm xuyên lớp nylon thứ hai, xuyên qua nút cao su, rút thuốc rồi bọc lớp nylon đầu tiên lại.

Một buổi sáng, anh Đại úy Nguyễn văn Tư bệnh. Nghe có người báo, tôi qua phòng anh ấy thăm. Anh nói nhức đầu muốn ói, chóng mặt. Tôi khám thấy anh hơi sốt và cứng cổ. Tôi lục tiền bạc của anh ta và hỏi thăm anh em ai có thuốc thì dung tiền ấy mua lại và chích cho anh. Chiều đó, trong khi chờ đợi, tôi báo lên cho trại. Hôm đó , anh được đưa lên Bộ chỉ huy. Bẵng đi ba ngày sau, một sớm mai, họ kêu bốn người đi “làm việc”. Khi mấy người này về, tôi hỏi thì được biết các anh có lệnh đi đào huyệt. Rồi bốn người nữa được lệnh đi “làm việc’. Té ra, là họ đem anh Tư đi chôn. Tôi nhớ một điềm lạ : trước khi anh Tư chết, một đôi đũa từ phía cao trên bếp tự nhiên rớt xuống một chiếc gãy làm đôi. Có người về sau kể lại với tôi như vậy.

Sau một thời gian, hố xí vì dơ bẩn quá nên xông ra mùi hôi thối kinh khủng, đến nỗi người dân không dám đi qua con đường đó. Còn những nhà quanh đó thì đóng cửa im ỉm.

Một bữa kia, chúng tôi được điều động khoảng mười người, đi lên chỗ cách đó khoảng năm trăm mét, có lẽ là Bộ chỉ huy. Đi vào trong khu vườn , tôi thấy một villa hồi xưa có độ bốn phòng. Chúng tôi được lệnh đào một hố xí gần cổng ra vào. Nhận lệnh thì phải làm thôi!  Điều buồn cười sau này tôi mới biết là người Bắc không có hố xí tự hoại như ở miền Nam, nên khi thấy có hố xí sẵn trong nhà thì họ cho là dơ dáy , bắt lấp đi rồi làm một cái khác ở ngay ngoài cổng villa.

Đến trại này, khẩu phần ăn gồm có chút ít cơm với rau, sống cũng tạm cầm hơi qua ngày.

Một thời gian sau, chúng tôi được lệnh tháo những vỹ sắt ở phi trường dã chiến Sông Mao, nằm cách trại gia binh chừng hai km. Cứ bốn người phải khiêng cho được bốn tấm trong một ngày, để về làm thêm trại, hội trường, nhà ở; sau đó là hàng rào để rào lại cho kỷ cái trại tù giam chính mình! Một khi có vỹ sắt làm hàng rào, ở trong không nhìn thấy gì ở ngoài nữa.

Một hôm, trên đường đi làm về, chúng tôi nghe một tiếng nổ “Ầm” . Sau đó, nghe nói Thiếu úy Tân bị thương. Tân mới ra trường Sỹ quan Võ bị Đà Lạt. Anh ta trong một toán bị điều đi tháo dây kẻm gai để giăng quanh trại và đã bị mìn cắt đi một chân! Tôi mong ước đi thăm Tân, để xem có thể giúp được gì không trong khả năng của mình, nên một bữa kia, tôi nói với viên y tá VC xin gặp Tân. Anh ta dẫn tôi đi, biểu tôi phải đi sau lưng anh ta, giống như đang thi hành một công tác gì đó.

Khi đến gần chỗ Tân nằm, viên y tá chỉ tay vào và nói “ Nửa giờ sau thì về lại trại !”. Lúc tôi gặp Tân, thì chân đã bị cưa rời. Tôi nhìn anh trong nước mắt và hỏi : “ Em cần tôi giúp đỡ gì không ?”. Tân đáp “ Nhờ anh nhắn giùm gia đình em “. Ngay khi về tôi ghi ngay những thứ cần dùng trên tờ giấy nhỏ : thuốc trụ sinh, thuốc bổ, bông băng, những thứ cần dung cho vệ sinh vết thương, sữa…Trong một chuyến thăm nuôi sau đó, tôi nhờ chuyển thư cho gia đình Tân. Sau này, nghe nói cha mẹ Tân tốn nhiều tiền để mua đầy đủ thứ cần dùng cho con rồi chầu chực ở cổng từ sáng đến tối, năn nỉ lắm họ mới cho đem vô, ông bà mới chịu về.

Tiếp đến, chúng tôi học tập chính trị. Chương trình học là mười bài. Ngày học một nửa hay một phần ba bài. Cả tổ kiểm điểm rồi thu hoạch. Bài một : Đế quốc Mỹ kẻ thù của nhân dân. Bài hai : Ngụy quyền là tay sai, cũng là kẻ thù của nhân dân. Bài ba : Ngụy quân là công cụ của Đế quốc Mỹ cũng là kẻ thù của nhân dân ta. Mới học có ba bài thì anh Đại úy tổ trưởng nọ tiết lộ: anh là cháu ruột của Lê Duẩn, mẹ anh ta là chị của Lê Duẩn. Vì thế, sau 30/4/1975, Lê Duẩn phái một trực thăng vào Quảng Trị đón bà ấy ra Bắc, về sau cả gia đình don về Sài Gòn, có lẽ đã ở một villa nào đó do tiếp thu của chế độ cũ. Anh ta đưa một thư của Lê Duẩn gởi cho Ban chỉ huy trại và được thả ra.

Tổ chúng tôi được một số người nhà gởi cho hạt giống cải. Chúng tôi gieo hạt rồi bán cho những tổ khác, lấy tiền mua đường nấu chè cho anh em ăn.

Trong trại tôi có anh Lê Bá Trung, bác sỹ, một bữa tự lấy syringe chích một mũi vitamine C do anh mang theo rồi bị “sốc”. Cả trại có ba bác sỹ mà đành bó tay vì không có thuốc men gì cả. May quá, trong lúc hơi tỉnh lại, anh Trung nói trong xách tay của anh còn một chai Solucortef, tôi bèn lấy ra chích cho anh, anh mới qua khỏi. Tôi hỏi anh sao không uống mà chích chi vậy, anh nói:” nghĩ là chích có tác dụng nhiều hơn, mà không ngờ…”

Một buổi sáng, tôi nghe tin có mấy người trong trại vừa ngủ dậy không đứng lên được nữa. Tôi biết đó là triệu chứng của thiếu B1. Tôi hỏi thăm các anh em ai có mang theo thì mua lại cho mấy anh bị bệnh đó uống từ 0.5g đến 1g, hai ngày sau thì họ đi được ( còn nếu uống theo thuốc VC chế thứ 5mg thì phải uống cả 100 viên mới đủ!)

Trong đám tù cải tạo, một anh tên Vận, người Bắc gốc Lâm Đồng, có người em đi bộ đội miền Bắc. Hôm nhận thư nhà, anh ta đưa cho chúng tôi xem một tấm hình đặc biệt : Anh bộ đội đứng bên một chiếc xe đạp, vai mang một radio, cánh tay để vắt ngang qua, nghiêng về phía trước cho người ta thấy cái đồng hồ. Anh Vận giải thích : nó có đủ ba Đ rồi đó. Tôi hỏi nghĩa là sao ?Anh nói :” Đó là Đổng, Đài, Đạp, tức là đồng hồ, radio và xe đạp, ba cái này là tiêu chuẩn hạng nhất ở miền Bắc !”.

Đám cán bộ biết rằng những người tù cải tạo đều là những người có học vấn cao, cho nên họ ưa “ nổ “ với chúng tôi để chứng tỏ mình cũng có trình độ như ai. Một bữa đang học chính trị, họ nói : “ Cái mi-cà rô đâu rồi ?” anh em ngạc nhiên. Sau mới biết họ muốn nói cái micro.

Một bữa khác, trong lúc họ “ dạy “, họ nói : “Trên này không có la-phan”. Thiệt ra, họ muốn dùng chữ plafond. Không biết nghe ai nói về đời sống ở Mỹ, họ cũng “nổ” khi giảng bài : “ Các anh yên tâm đi về sau khi đi làm về, sẽ có đồ ăn dọn sẵn. Mình muốn ăn món gì, cứ tự đi lấy về ngồi vào bàn ăn ( giống nhà ăn quân đội Mỹ ). Còn các bà ở ngoài đời, đang đứng nấu ăn trên bếp, bấm bấm vài cái trên cái bảng là ngoài đồng máy cày chạy tới chạy lui thôi !” Nghe vậy, một anh hỏi nhỏ bạn “ Không biết như vậy, mai mốt mình về sẽ làm cái gì ?” – ‘ Bộ mày không biết mày làm cái gì à ?”Rồi cả hai cùng cười khúc khích.

Thường chúng tôi học vài ngày rồi đi lao động một ngày. Một bữa đang lao động, chúng tôi được lệnh tập họp trong hội trường lớn. Mọi người băn khoăn không biết chuyện gì. Té ra, nguyên nhân như sau : Có ai đó viết trong nhà cầu câu :” Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!” Rồi có người báo lên trên. Hậu quả là suốt trong hai ngày chúng tôi bị ngồi nghe chửi rủa, rồi lại được dỗ dành: Anh nào tự thú thì sẽ được khoan hồng, nhưng không ai tự thú hết. Tiếp đó, họ lại dọa nạt :” Chúng tôi đã điện ra Hà Nội, họ sẽ gởi đến một cái máy, thì những hình ảnh cách đây năm mười ngày sẽ hiện ra hết, nếu anh nào không chịu tự thú thì trước sau gì cũng bị kỷ luật !”. Hôm sau, một anh bạn hỏi nhỏ tôi :” Có máy đó thiệt không ?”Tôi trả lời :” Hồi xưa, tôi có đọc một cuốn truyện có tựa đề “ Máy khám phá thời gian “ ( La Machine à explorer le temps )- Đó chỉ là một câu chuyện giả tưởng, chứ không có máy nào như thế cả. Vì để thâu lại những hình ảnh đó, máy phải có vận tốc nhanh hơn ánh sang, là 300.000 km/giây. Hiện nay, trên thế giới chưa có máy đó!”.

Thời gian này chúng tôi được đưa đi lao động trồng khoai sắn ở một nơi gần đường rầy xe lửa, cạnh đài viễn thông của phòng 7 , Bộ tổng tham mưu. Bây giờ chỉ còn những antenne, còn phòng ốc bị phá toàn bộ. Mỗi ngày có cả chục chuyến xe từ Nam ra Bắc, chở những vật liệu tháo gỡ. Đoàn xe dài dằng dặc, có những toa hành khách là những người dân mặt mày ốm xo, lơ láo, những trẻ em đi chân đất, mặt buồn thiu đứng ở cửa xe dòm ra ngoài. Có những người dân thấy tù nhân, họ thương tình quăng xuống cho kẹo, bánh mỳ, chuối…Gặp lúc cán bộ có vẽ lơ là, đám tù vội chộp lấy và tiêu thụ rất nhanh. Qua đó ta thấy tình người dân đối với kẻ “ ngã ngựa “ thật tràn đầy thương cảm!

Một bữa kia, tôi cùng mấy người bạn trong toán phải đi quét dọn cho một y tá dời qua phòng khác. Trong phòng có một giường khám bệnh, một tủ kim loại bằng sắt tây, một ít thuốc, một khẩu K54. Trên bàn có những chai lọ đựng thuốc, tôi để ý thấy có một chai đề ABC ( B là bê bò ). Tôi bèn hổi có ý chọc “quê” người y tá : ” Ở miền Nam chỉ có thuốc APC ( P là bê phở ) viết từ chữ đầu của ba loại thuốc : Aspirine, Phenacetine, Cafeine, còn ở miền Bắc chữ ABC là loại thuốc gì vậy cô ?” Cô y tá VC ngó tôi, rồi im lặng bỏ đi.

Có hôm toán tôi được lệnh đi dọn cầu tiêu gồm năm , sáu cái cho đám cán bộ. Cầu đó là loại tự hoại. Công việc là gom giấy , rác đốt đi và xối nước làm vệ sinh. Nhìn lên tường , tôi chú ý mấy chữ về “ Nội quy nhà cầu “: Các đồng chí hãy bỏ các giấy, các đất cục, đá, lá cây và cành cây vào thùng sau khi đi cầu . Điều đó , chứng tỏ đám cán bộ kia phải dùng những vật liệu kia… Trời ơi là trời !

Một hôm, một người bạn dẫn tôi đến thăm một anh bạn từ Lâm Đồng xuống ở gần đó. Đến nơi, gặp lúc mấy anh đang nấu trong một cái thau những thức ăn dành cho gia súc như bắp, đậu, lúa mạch xay nhỏ. Họ mời chúng tôi ăn. Vì đói nên ăn vào thấy ngon quá.

Sau khi học xong mười bài, một bữa toán tôi được chuyển về núi Tà Dôn gần Phan Thiết. Chúng tôi được ở trong một dãy nhà trên đường đi vào núi Tà Dôn, bên tay phải. Những ngày đầu , sau khi lãnh phần ăn sang, họ dẫn chúng tôi đi quá núi Tà Dôn và đến một vùng gọi là Bầu TRắng, sau đó tản vô rừng để cắt tranh, đốn cây để làm một số dãy nhà. Buổi trưa có toán nấu ăn, ăn tại chỗ chiều về trại ở ngoài.

Mỗi ngày, sáng đi chiều về, chúng tôi đi lao động như thé một thời gian. Riêng có hai nguời, ngày trước ở trong toán “gò” trong trại Sông Mao, được giữ lại và giao công việc “ gò” thùng gánh nước và soong. Một bữa, một anh cán bộ nói với anh đó : “ Làm cho tôi một cái hòm “ Anh trại viên nghe mà sảng hồn, hỏi lại và được nói lại y chang câu ấy. Sau này mới hiểu ra chữ “hòm” nghĩa là rương hay vali. Hôm sau , anh ấy được dẫn đến cái trailer nằm trên đường dẫn về núi Tà Dôn và biểu lấy tôn của trailer để làm rương. Anh vừa làm xong thì những cán bộ khác cũng đòi làm như vậy và mỗi người còn đòi đục thêm cho có hình ngôi sao ở mặt trên cái rương. Chừng hai tháng sau, khi chúng tôi chuyển hẳn vào sau núi Tà Dôn, cái trailer chỉ còn là một bộ sườn với những miếng đệm lót đung đưa theo gió.

Trong thời gian đi đi, về về để lao động như mọi ngày, một bữa trời bỗng chuyển mưa, tên cán bộ la lớn :” Khẩn trương! Khẩn trương lên!” Tụi tôi ngạc nhiên, kinh hãi klhông biết chuyện gì nguy hiểm lắm mà phải khẩn trương. Sau này mới hiểu ý của cán bộ: các anh phải đi nhanh lên. Không có gì quan trọng cả mà họ cũng dùng chữ đao to búa lớn.

Khi nhà tranh đã làm xong, chúng tôi được lệnh về ở hẳn tại Bàu Trắng, sau núi Tà Dôn. Nhìn xa xa , hai bên triền dốc là đồi cát.

Bàu Trắng là một vũng chạy từ chân núi Tà Dôn ra xa khoảng 5 km, chiều rộng khoảng nửa km. Ở mặt trên của bàu này, lá cây rụng từ bao nhiêu năm, gió thổi tấp đầy trên ao làm thành một cái bè đồ sộ, rồi cây lát mọc lên trên cao khoảng 1,5m. Nhiệm vụ của chúng tôi là cắt những cây lát này, rồi đem lên bờ, hay đạp lún xuống nước!Còn nước ở đây thì đen ngòm, hơi thối vô cùng và đầy cả đỉa. Có con dài chừng 20 cm, màu trên den, dưới xanh, có loại nhỏ, luc nhúc dưới nước. Vì bị đỉa cắn nhiều lần quá, chúng tôi bèn kiếm những bao cát cũ, may bọc bàn chân lại, còn quần dài thì kiếm dây cột túm ống để chống đỉa. Dưới nước còn có những sinh vật chúng tôi gọi là cà tót, nhỏ chỉ bằng đầu cây kim, con mẹ thì hơi to hơn, bơi xung quanh nó có những đàn con nhỏ nổi trên mặt nước. Nếu ta bị cắn, lúc đầu không để ý, nhưng sau cảm thấy ngứa ngáy khó chịu, vết thương sưng lên, điểm giữa lõm xuống có một chấm đỏ, mình cứ tưởng là bầm máu mà thôi, nhưng sinh vật quái quỷ vẫn còn nằm lỳ ở đó, ngứa vô cùng, chỉ đến khi mình gỡ nó ra, nó mới lìa khỏi thân mình. Về sau có kinh nghiệm, mỗi khi làm xong, tôi lấy xà bông giặt chà xát từ ngực trở xuông xem có con nào bám vào không, nếu không thì ngứa chịu không nỗi!

Một hôm, đang làm lao động, bỗng tôi giật mình mụốn lạnh người: một con rắn đen đang len giữa hai chân. May mắn cho tôi là chưa bị rắn cắn.

Trường hợp bị rắn cắn đã xảy ra cho một số người. Như một anh trại viên người Lâm Đồng, lúc thò tay cầm lát rồi lấy lưỡi hái cắt, đã bị rắn cắn, anh la lên. Người ta dìu anh vào bờ. Vì không có thuốc để chữa trị nên họ để anh nằm , cởi áo anh ra và khuyên nên bình tĩnh.  Lúc đầu anh nói hơi tê nơi bàn tay rồi tê đến cánh tay, sau tê nguyên cả tay. Chúng tôi chỉ biết trấn an anh. Lát sau nghe anh nói nhức đầu quá và hơi thở nhanh. Chúng tôi chẳng biết làm gì hơn, lấy quạt, quạt cho anh. May mà không phải rắn độc nên sau hai giờ anh có vẻ bình thường trở lại và thoát chết. Anh ấy là Đại úy trưởng khối chuyên môn của Nha địa dư Đà Lạt.

Về sau, để đề phòng vụ rắn cắn tôi cẩn thận hơn. Trước khi cắt, tôi quay lưỡi liềm xem thử có con rắn nào thì để cho nó chạy trước mới thò tay xuống nắm bó lát mà cắt.

Khi cắt lát xong, phần còn lại là một bè lá cây dày độ  ba tấc, nửa nổi nửa chìm trên mặt nước. Chúng tôi phải cắt từng miếng to, lật úp lại , để cho nó thối rửa ra. Sau đó, một toán khác lấy đất đắp ngang qua cái bàu đó thành những thửa ruộng ngập nước. Tiếp đến, chúng tôi bắt đầu tháo nước ở khúc dưới ra từ từ, để rồi bùn, cây mục lắng xuống.

Thời gian này, một số anh em đói quá. Có những anh em phải lặn xuống hồ móc lên những củ sen, luộc rồi ăn. Có anh hái hột cườm thảo, bữa đó đó hái được khoảng nửa lon Guigoz. Nhiều người biết đó là loại độc vô cùng, nên can ngăn, nếu không sẽ chết.

Sau khi xả hết nước ra, những rể cây mục rồi, đến lúc phải làm trâu : họ bắt sáu người làm một toán, năm người kéo cái bừa đi đằng trước, một người cầm cái bừa điều khiển ở đằng sau để bừa những thửa ruộng đó.

Trong toán tôi có anh Nguyễn Lê Chánh, Y sỹ Đại úy, chúng tôi để cho anh ấy giữ cái bừa, năm người chúng tôi kéo cái bừa đi đằng trước. Anh ấy, để đùa vui, giơ cái cây vừa đi vừa la : “ Tá , ái, tá, ái “ y như là đang điều khiển mấy con trâu thật! Không biết có phải do gió đưa lại mà đám cán bộ nghe được, kêu chúng tôi lại răn đe : “ Vì Nhà nước còn khó khăn, các anh phải làm lao động tốt để còn được về với gia đình, chứ chúng tôi đâu có bắt các anh làm trâu bò mà các anh la “ tá, ái “. Nghe nói về sau anh Chánh còn bị làm kiểm điểm, không biết mấy lần !

Người ta còn kể lại rằng có một số bà vợ sỹ quan hay con cái của họ nghe tin đồn ở Bàu Trắng là chỗ tập trung ở tù, họ đã lăn lội tìm đến nơi ( thời gian này chưa cho thăm nuôi ) núp trong bụi nhìn xuống thấy thân nhân mình bị “ làm trâu “ kéo bừa, mấy bà khóc và kể với nhau thảm thiết vô cùng !

Khi những thửa ruộng kể trên có thể cấy được rồi, phần đông chúng tôi bị đưa về Núi Rể , chỉ để lại đó một toán nhỏ thôi để bắt đầu cấy lúa.

Ở Núi Rể, nhiệm vụ của chúng tôi là làm khoảng 20 cái nhà bằng tre, mái lợp tôn. Tre và cây gỗ phai đi đốn về. Sau khi làm sườn nhà bằng cây, thì tre được đang lại để làm cửa và vách trông cũng đẹp mắt. Lúc gần xong, một bữa có ba cán bộ bước vô, lưng có súng ngắn, vai mang túi da. Một cán bộ nói : “Các anh làm cũng tốt, nhưng chưa biết phát huy sang kiến, cải tiến kỷ thuật. Hãy nhìn gò mối ngoài kia ! Đất , đá đem vô đổ thêm nước, nện rồi chà láng thì còn chắc hơn ciment nữa !” Chúng tôi theo lệnh thì phải làm thôi. Mối ngoài đồng mà lại đem vô nhà. Rồi họ sẽ thấy hậu quả của việc này .

Thời gian ở đây, chúng tôi dùng chung giếng nước của chừng  mười nhà dân quanh đó. Một bữa, lúc đang làm vệ sinh sau buổi chiều lao động về, chúng tôi thấy ba, bốn bà mặc quần áo vải đen đang quảy thùng gánh nước, da mặt họ trắng hồng hồng. Đi theo sau có một số con nít ăn mặc tươm tất, nước da cũng hồng hồng như thế. Họ có vẻ khác với người dân ở đây. Chúng tôi đoán  chắc họ là vợ con của anh em trại viên từ Đà Lạt, Lâm Đồng xuống mà thôi…

Lúc đầu, đám cán bộ đang coi chúng tôi, nhìn họ hau háu, nhưng sau cũng biết họ không phải là dân địa phương, họ bèn ra oai đuổi mấy bà ấy đi! Mấy bà ấy cãi lại : “ Cái giếng là của xóm này, tại sao chúng tôi không được quyền lấy nước !” Đám cán bộ hỏi :” Mấy chị ở đâu ?”. Họ đáp :”Chúng tôi ở xóm này!”. Thật ra , họ xuống để tìm chồng trong trại. Lúc đó, những sỹ quan từ cấp Thiếu úy đến Đại úy thuộc Lâm Đồng, Bình Thuận, Bình Tuy, Ninh Thuận đều bị tập trung về Sông Mao.

Sau khi làm xong những ngôi nhà kể trên, chúng tôi được đưa lên Sông Lũy. Chúng tôi đi vô cách đường quốc lộ khoảng 10km để làm đập tràn và đào một đường dẫn nước từ nơi đó về nông trường Sông Lũy.

Về sau, chúng tôi có trở lại nơi những ngôi nhà làm bằng đất lấy từ gò mối ( theo lệnh của cán bộ ) thì nay đã không còn nữa, mái tôn đã bị lấy đi hết, tất cả bị sụp do mối ăn.

Thời gian đầu đến Sông Luỹ, chúng tôi đốn cây, tre, cắt tranh lợp nhà để ở. Sau đó, được lệnh làm một cái đập tràn ngăn sông Lũy lại. Chúng tôi khiêng đá lớn nhỏ đủ loại, đấp thành một con đập thấp. Khi việc này xong, thì phải dùng những tấm lưới sắt bao trùm con đập lại. Tiếp đến công việc của chúng tôi là gánh đất làm thành một con đập bằng đất sau cái đập bằng đá..

Lúc sau này, chúng tôi thấy có đoàn khoảng 5,6 người bô bô nói tiếng Bắc, họ đem theo những dụng cụ như dàn cây ba chạc, máy nhắm. Có lẽ đây là đám cán bộ khảo sát địa hình. Họ làm việc trong khi chúng tôi làm đập. Khoảng hơn 2 tháng sau,, họ bắt chúng tôi khởi sự đào kênh từ trên đập tràn đi theo những cột mốc do đoàn khảo sát người Bắc cắm. Tời nắng như đổ lửa, chúng tôi ráng sức đào sâu xuống, lúc gặp đá cũng phải khiêng. Công trình chúng tôi được khoảng 2 Km thì có lệnh trên : mở thử cho nước chảy. Lúc phá bờ đất cho nước tràn vào thì một điều bất ngờ xảy ra: nước chảy chầm chậm đọ nửa cây số thì ngưng chảy! Thất bại! Chúng tôi đựoc lệnh tạm ngưng, không làm nữa.

Tôi nghe kể lại về sau này, đám khảo sát và đám trung đoàn chửi nhau chí chóe. Tức tối, đám khảo sát bỏ về.

Rồi một hôm, một anh Đại úy công binh trong khối tôi tên là Vân , được kêu lên và hỏi xem anh có thể giúp trng đoàn họ làm con kênh được không. Anh ta mới trả lời xin họ hãy cấp cho anh một bản đồ 1/50.000 của vùng này, và cho anh thời gian 2 đến 3 ngày để nghiên cứu địa hình. Về sau, họ giao cho anh bản đồ rồi phái 2 tên bộ đội có đeo sung áp giải anh Vân đi lội quanh vùng để xem địa thế.

Thời gian này, trại cũng có một chiếc máy ủi loại Kubota nho nhỏ. Anh Vân bắt đầu sử dụng máy ủi đất, một số lính VC cắm cọc theo đó và chúng tôi lại bắt đầu đào kênh. Có lúc đào sâu xuống, có lúc đắp cao lên. Trong lúc làm công trình này, cũng có nhiều chuyện buồn cười. Đáng lẽ, chúng tôi phải gánh đất từ dưới lên. Có anh trong toán nói : xin cán bộ cho anh em làm theo phương pháp Taylor. Viên cán bộ trên này nối vọng xuống : “ Bây giờ mà các anh còn nói chuyện Tây lo, Mỹ lo, các anh phải tự lo mà làm đi, không có Tây, Mỹ nào lo ở đây hết !”. Cả bọn chúng tôi mỉm cười với nhau rồi cũng làm theo phương pháp dây chuyền, tức là đứng theo hàng dọc , chuyền rổ đất đá lên cao.

Có lúc gặp tảng đá to, phải nạy ra và tìm cách đưa ra ngoài kênh, anh em phải kiếm ba khúc cây vững chắc rồi cột lại một đầu làm điểm tựa, sau đó đốn cây dài và to làm đòn bẩy. Sau khi cột tảng đá bằng dây vào đầu ngắn, cả bon chúng tôi gần 10 người đu vào đầu dài để đưa tảng đá lên quãng nửa chiều cao của kênh. Sau đó, dời 3 chạc gỗ lên chỗ cao để đưa tảng đá ra khỏi con kênh. Gần mười mấy người tù ốm nhom đến đen thui mà ráng sức đưa tảng đá lên cao. Cũng may trong thời gian này không xảy ra tai nạn, chứ nếu có chắc nguy hiểm đến tính mạng nhiều lắm !

Đôi lúc, chúng tôi phải phá vỡ những tảng đá cứng. Họ phát cho những dụng cụ, một đầu như lưỡi cuốc nhỏ, một đầu như nửa cánh cung, làm bằng sắt  uốn cong và dài khoảng 8 tấc. Chúng tôi dùng đầu nhọn bửa vào trong đá và cuốc lại bằng đầu tựa lưỡi cuốc. Để tự phòng vệ, tôi phải kiếm những miếng vải bao cát, may kết dính vào cái nón phía trước mặt mình và cột ngang nơi cổ để chỉ thấy lờ mờ thôi mà làm việc, vì nếu không khi cuốc xuống, đất đá có thể văng vô mặt, sẽ thương tật  chết người. Còn về tay chân, sau nột thời gian lao động ở đây, bàn tay chúng tôi phồng chai hết.

Chúng tôi đào được khoảng 3 km thì có lệnh bắt buộc phải dời trại đi. Vì họ cho thời gian có một ngày, vừa để di chuyển đồ đạc đến chỗ mới, vừa thu xếp chỗ ở để đi làm, nên anh em vội vã dựng lều. Lều này có mái ở trên, nhưng bốn bề trống hoác. Ở giữa lều là một cái sạp đủ nằm, cao hơn mặt đất khoảng nửa thước, đề phòng rắn rít. Cái lều này áp sát với lều anh bạn và kéo dài ra.

Lều trại đơn sơ như vậy, nên gặp những đêm mưa rừng gió lạnh, mái lều đâu có che chắn cho mình, chỉ có một cách khi thức dậy, choàng vội tấm nylon do gia đình gởi vô, rồi ôm vô những “ hành trang “ mà nằm khum xuống, tựa như những người Hồi giáo khum xuống mà lạy, cả đêm như vậy. Chịu trận với gió lạnh và mưa, đâu có ngủ nghê gì được, sáng hôm sau phải đi lao động!

Thời gian ở đây chúng tôi có lệnh mới vì tình hình khó khăn, khẩu phần mỗi người trong tháng là3,5kg gạo độn với khoai mì, khoai lang khoảng 15kg, 16kg rút xuống còn 12kg. “ Ở trên biểu chúng tôi đưa một toán đi đào củ nầng vê nấu ăn thêm. Có người đã đào được những củ nầng to bằng trái banh, đưa về gọt vỏ, che ra rồi luộc. Theo sự chỉ dẫn “ở trên”: luộc xong bỏ vào cái rọ, ngâm một ngày một đêm ngoài suối, rồi lấy vô luộc lại, xắc ra rồi phân phát cho anh em. Tôi nghĩ rằng dù là củ gì có bổ dưỡng bao nhiêu mà qua giai đoạn luộc, ngâm rồi luộc như thế thì cái còn lại chỉ là xác bã, chẳng lợi gì cho cơ thể, nên khi được phát vào buổi sáng khoảng một chén thì tôi lặng lẽ bỏ vào giỏ xách mình nhưng không ăn. Thật là may cho tôi vì ngày đó, có một số anh ăn vào khoảng nửa chén, đi làm được khoảng 2 giờ sau thì ói mửa, choáng váng, bước đi không nỗi, mặt mày xanh dờn! Đám cán bộ phải cho họ về. Sau đó, chúng tôi được tập họp lại để nghe chửi : “ Chúng tôi nhờ những củ nầng này để ăn mà sống, chống Mỹ cứu nước. Tại sao các anh làm ăn cẩu thả để anh em bị ngộ độc như vậy!”. Ngoài miệng nói như thế chứ sau đó họ cũng không cho phép đào củ đó nữa.

Một buổi sáng, chúng tôi đang đi dọc theo con mương đến chỗ toán phải làm thì thấy toán đi đầu vừa chạy vừa la hét mừng rỡ. Tôi nhìn xa hơn, thấy một con mễn         ( một loại nai nhỏ như con chó ) chạy đằng trước, nhưng vì con vật đang có chửa nên lúc leo lên triền dốc, nó bị té xuống không leo lên mương được mà chạy dọc theo con mương. Nó có chửa nên chạy chậm hơn đám tù, mặc dù đang đói. Nhưng do sự thôi thúc  của miếng mồi nên chạy thật mau để vây bắt con vật, sau đập chết rồi mang về chia nhau. Tôi nghĩ thật đáng thương tâm, những người tù quá đói khổ, thấy con vật tội nghiệp muốn tìm đường sống cho con mình mà cũng không thoát được.

Thời gian ở đây, một hôm chúng tôi ra suối tắm, có một toán thuộc Lâm Đồng đạp nhằm một cái bao. Lúc đưa lên, té ra là một bao cá thiều, sau này mới biết đó là một trong những bao cá của toán nghĩa vụ quân sự lúc đi chợ về, gánh qua suối bị rớt hôm trước rồi trôi dạt xuống đây. Mấy anh Lâm Đồng chia nhau, tuy cá đã sình ươn ra và bốc mùi rồi. Tối đó, mấy anh ngứa quá, gãi sồn sột. Khoảng 10 người bị tình trạng này.

Để kiếm thêm thức ăn, một số người tìm những cọng thép bẽ làm cái bẫy, rồi để dành chút ít đồ ăn của mình làm mồi. Khoảng bốn năm bữa , họ bẫy được con sóc, có bữa bẫy được một con chuột đồng. Có một anh  không biết nhờ ai mua giùm được một con gà mái, anh nuôi nó cho đến khi nó đẻ. Từ đó, ngày nào anh cũng khám “ phụ khoa“ cho con gà để kiểm tra coi có trứng không, sợ mât trứng. Nó đẻ một thời gian thì ngừng , quay sang ấp. Vì không có trứng để ấp ( anh ấy ăn trứng mất rồi ) nó mổ một lon sữa bò để ấp. Thấy vậy anh ấy quăng lon sữa bò ra xa. Hôm sau, nó lại lấy lon sữa bò ấp nữa. Một anh khác bàn nên đem ngâm con gà trong nước lạnh. Anh làm theo, sau đó con gà tiếp tục đẻ!

Công trình đào kênh của chúng tôi trải dài khoảng 9 tháng, thì có lệnh ngưng. Lúc đó còn khoảng một cây số thì đến nông trường trồng bông, là phần việc của toán nghĩa vụ quân sự. Nhìn lại dụng cụ mình làm, thấy thất kinh : cái đầu nhỏ như lưỡi cuốc nay chỉ còn một phần tư, còn cái đầu kia, trước là một cây nhọn dài 8 tấc ( thường dùng trong hầm mỏ miền Bắc ) bây giờ còn khoảng 2 tấc mà thôi !

Chúng tôi lúc rảnh thì tắm giặt hay “cải thiện linh tinh”( danh từ VC dùng chỉ cái việc kiếm thêm thức ăn) qua những lá cây rừng. Có một loại cây tên là “ Thảo nam sơn” nghe người ta nói vỏ của nó có vị thuốc trị hết đau lưng. Do đó khi có anh em la: có cây Thảo nam sơn, thì có cả mấy chục người nhào tới để tước vỏ cây. Sau đó, thân cây như bị “ lột truồng “.

Chúng tôi nghe nói lúc khánh thành có những quan chức cao cấp đến tham dự. Đêm đó, chúng tôi được” chiêu đãi” một bửa văn nghệ do một đoàn văn công tỉnh Thuận Hải trình diễn. Chúng tôi ngồi một góc, còn đám nghĩa vụ ngồi một góc. Khi đoàn văn công nhìn xuống, có lẽ họ thấy những sỹ quan Bình Thuận ngồi dưới nên lúc khởi đầu, họ chơi những bản nhạc ngoại quốc, trong đó có bài La Paloma, đám tù vỗ tay quá xá. Cứ hết một bài thì vỗ tay “ Bis!Bis!”. Đám nghĩa vụ quân sự mặt mày ngô ngáo vì không biết bài nào cả. Sau khi họ chơi hết ba bài, một cán bộ VC lên nói: “ Các anh không được chơi nhạc ngoại quốc!” . Tôi nghe một anh văn công đáp : “ Tôi chơi nhạc Cuba, Hungary, những bài này của XHCN”. Viên cán bộ không chịu, bắt chơi nhạc VN mà thôi. Lúc đó, họ bắt đầu chơi những bài nghe như những tiếng ró ré hét lên.

Hôm sau, Bộ chỉ huy kêu anh Vân lên “ làm việc”. Vân với tôi cũng khá thân. Lúc về, anh kể :” Họ nối sẽ thả tôi ra với điều kiện ký giấy làm cho họ mấy năm, anh thấy sao ?”. “ Trời ơi! Anh ở tù một mình, bây giờ định đem vợ con lên ở tù nữa hay sao?Chỗ này là nơi chó ăn đá, gà ăn muối, đau ốm , bệnh hoạn không thuốc men. Anh ở tù một mình là đủ rồi. Chừng nào họ thả về thì thả…” . Về sau , anh ấy từ chối khéo léo công tác phục vụ cho trung đoàn ấy.

Sau khi, chúng tôi làm đập tràn và kênh đào song Lũy xong, họ chở chúng tôi về một vùng gần Phan Thiết , gần đồi Nora. Đồi Nora ở bên trái quốc lộ, chúng tôi phải đi vào một đường lộ nhỏ bên phải để đến trại.

Đến đây, chúng tôi cũng khởi sự làm nhà cửa, phá gò mối, ban ruộng ra để sửa soạn cho vụ mùa.
Bao quanh trại là hàng rào bằng tre đan lại có gai. Một đêm kia, khi chúng tôi đang ngủ thì có kẻng đánh và có tiếng súng nổ. Tất cả được lệnh tập họp điểm danh. Về sau, tôi nghe nói có ba người trốn trại. Đó là Đại úy Đặng Phiên, Thông Ngộ và một anh nữa tôi không nhớ tên. Mấy anh này lúc còn ở trại Sông Mao thì cùng nhóm với tôi, do tôi làm tổ trưởng. Về sau này, các anh ấy đã chuyển qua nhóm khác.

Thời gian sau, tôi nghe phong thanh cán bộ họ đã đi hành quân và bắn chết những anh này. Và họ có đem về những cuốn sổ tay nhỏ của mấy anh.

Lúc này, họ cho chúng tôi ăn uống quá tệ so với hồi trước. Bây giờ chúng tôi trực thuộc Bộ nội vụ tức Công an quản lý. Một hôm , họ ra lệnh tập họp và biểu đem “ quân trang, quân dung “ra để kiểm soát. Điều mỉa mai là chúng tôi chẳng còn gì nữa để mà gọi là quân trang, quân dụng, chỉ có mấy bộ đồ rách tả tơi, mấy cái nồi lon gô…Họ quen xài chữ đao to búa lớn. Đám công an này kiểm soát rất kỹ. Mỗi người được lệnh trãi ra một tấm nylon rồi nồi niêu, quần áo đồ dùng…bày ra trên đó. Quan cảnh như đang bán chợ trời, anh  em trại viên ngồi đó, còn đám cán bộ lật lên, lật xuống, rà soát những cái cổ áo, từng đường may trên áo, lai quần để tìm ra xem có dao hay đinh trong đó không. Nhưng chúng tôi dại gì mà đem dấu dao, đinh trong áo quần. Nếu cần thì chúng tôi giấu vào một hốc cây nào đó ( cái gọi là dao chẳng qua là một cây đinh lớn mà chúng tôi đập đạp ra rồi mài mài cho bén ) khi gặp thằn lằn, rắn mối, cóc nhái…thì rồi xẻ ra nướng ăn, rồi nhét lại vô trong một hốc cây.

Một buổi sáng, chúng tôi được lệnh đi lao động, mỗi toán phải hai người với một cái đòn, mười người phải đem theo một cái võng, không ai được ở lại hết, trừ ra một số tối thiểu người làm nhà bếp tức “anh nuôi” khoảng bốn năm người.

Từ đó, chúng tôi đi ra quốc lộ 1, đi được một đoạn đường thì thấy một cảnh thật thương tâm, một anh thương binh, có lẽ thương phế binh VNCH cụt một chân, vừa chống một cây nạng, vừa cuốc! Ngang hàng với anh, đứng gần đó là ba đứa con anh khoảng 12 tuổi, 8 tuổi và 6 tuổi đều cầm mỗi đứa một cây cuốc nhỏ mà cuốc tới. Nhìn thấy cảnh này , tôi thấy ứa nước mắt.

Chúng tôi đi ra đến quốc lộ một, sau đó băng qua để lên đồi Nora . Theo lệnh trên, chúng tôi cứ hai người phải gỡ một cuộn kẽm gai trên ngọn đồi này. Nghe nói hồi xưa đây là đồi pháo binh của VNCH và nơi mà nhà văn Y Uyên đã tử trận.

Nora là một ngọn đồ thấp. Lúc chúng tôi đến, trên đường đi, nhìn lên thấy chẳng còn gì, ngoài những hàng rào kẽm gai xung quanh. Ở phía bên trái đường đi, có một cái am nhỏ. Từ trong am một bà già đi ra, ngược lại chiều với chúng tôi. Bà già hỏi chúng tôi : “ Các anh lên đây làm gì ?” “ Chúng tôi được lệnh lấy kẽm gai “. Bà ta nói :” Đừng!Đừng! Cách đây mấy ngày, có một con bò bị vướng mìn và đã chết “. Chúng tôi cho bà hay chúng tôi là tù, đâu có dám cãi lệnh. Bà nói để bà lên am cầu nguyện cho chúng tôi.

Chúng tôi tiếp tục đi, dạt ra hai bên để lấy kẽm gai. Sau cùng, tôi và anh Nguyễn lê Chánh cũng gỡ được hai cuộn kẽm gai, xỏ đòn và gánh về.

Các  toán đổ xô ra quanh đó. Thỉnh thoảng , khi kéo dây kẽm gai lên, anh  em giật mình kinh hoảng vì thấy những trái lựu đạn hay mìn ba chấu bung lên hoặc nằm lăn lóc ở đó. Anh  em la lên rồi nằm rạp xuống. Cũng may, không nổ! Không biết do mưa nắng bao nhiêu năm , lựu đạn và mìn kia đã hư mục, hay là sự mầu nhiệm của lời cầu nguyện của bà già kia mà Ơn trên và linh hồn tử sĩ VNCH đã phò hộ cho chúng tôi.

Tôi thấy chính sách của VC thật là vô nhân đạo khi đưa người tù đi gỡ kẽm gai ở một nơi đầy mìn bẫy. Họ đã tính toán trước  sẽ có người bị thương tật hay là chết. Vì thế, chúng tôi được lệnh, cứ mười người thì mang theo một cái võng, phòng khi trường hợp đó xảy ra, để khiêng người bị nạn. Có cả thảy mấy trăm người như vậy mà may thay, không một tai nạn nào xảy ra, không một trái lựu đạn nổ. Chỉ có một số anh em khi gỡ kẽm gai bị trầy xước sơ sơ mà thôi.

Những chuyện nguy hiểm có thể chết người rồi thì cũng qua đi, nhưng cái ám ảnh suốt ngày, suốt tháng đối với anh  em là những ngày đối dai dẳng. Vào buổi sáng họ phát cho mỗi người một cái bánh làm bằng bột mì ( có lẽ do viện trợ từ những nước khác ) đường kính độ 20 cm. Sáng một cái, trưa hai, tối hai, chúng tôi gọi là “ bánh xe lãng tử “. Sức khỏe anh  em do đó mà suy kiệt dần, chỉ khá lên được khi có thăm nuôi. Mỗi kỳ thăm nuôi 3 tháng một lần, sau đó anh  em trở lại xanh xao, ốm yếu như cũ, như một chu kỳ cứ tái diễn mãi.

Thời gian ở Sông Mao, vấn đề vệ sinh thật là khủng khiếp. Mỗi tuần, chúng tôi được dẫn đi tắm một lần ở cái ao nước đục ngầu, màu xanh đen. Bao nhiêu người, từng tốp một xuống tắm giặt. Toán này lên, toán khác xuống, cũng chỉ tại cái ao nước đó! Một số an hem bị ghẻ lở cả thân mình, như trường hợp anh Châu ( tôi quên mất họ, chỉ nhớ tên ) nguyên là Đại úy trung tâm yểm trợ tiếp vận. Trước 75, bạn bè gọi đùa anh là “ anh Châu bụng “. Về sau, anh bị ghẻ lở, còn bụng thì xẹp lép. Anh  em mới gọi là “ Châu ghẻ “ . Nghe nói lúc được thả ra rồi, một thời gian sau anh bị bệnh và qua đời.

Có những điều anh  em lo nghĩ vì chẳng thấy gì sáng sủa cả trong tương lai, nhất là băn khoăn về gia đình, không biết thân nhân mình làm sao mà sống, khi mình thì ở trong cái rọ này. Hình ảnh tôi nhận thấy rõ nhất là anh Bỗng, nguyên Đại úy thuộc Ban liên hiệp quân sự hai bên. Sau 6 tháng vào tù, tóc anh biến thành bạc phơ. Thật đúng là hình ảnh Ngũ tử Tư hiện đại.

Sau khi được thả ra, những hình ảnh hãi hùng trong trại tù cứ lởn vởn trong đầu tôi suốt mấy chục năm. Cho đến trước lúc được đi Hoa Kỳ, cứ hai hay ba tháng tôi vẫn thường nằm mơ thấy mình ở trong trại tù cải tạo, rồi qua bốn đến năm ngày sau đó thì mất ngủ . Khi đã định cư ở Hoa Kỳ, khoảng bốn năm đầu, thỉnh thoảng tôi lại nằm mơ thời gian kinh hoàng đó. Phải đến bảy năm sau đó, mới chấm dứt tình trạng ác mộng đó.

          Chúng ta , những sỹ quan bị đưa đi ở tù một cách nhục nhã, bị đọa đày khủng khiếp mà còn sống sót để được hưởng chính sách nhân đạo HO của Mỹ quốc và ngày nay chúng ta đã có những gia đình êm ấm, con cái nên người, chúng ta cũng phải nhớ lại sau lưng chúng ta, những bà vợ còn rất trẻ khi chúng ta bị lùa đi vào trại cải tạo, những bà mẹ, những bà chị , cô em gái với lòng thương vô bờ bến đã xông ra ngoài xã hội đầy bất công, đầy thù hận, đầy phân biệt để sống còn, để nuôi thân nhân ở ngoài, rồi còn dành dum từng đồng, từng bánh đường, từng con cá khô, miếng bánh, từng viên thuốc để định kỳ thăm nuôi, an ủi và khuyến khích chúng ta cố gắng sống nhẫn nhục chờ đợi ngày về. Những người thân của chúng ta đã không được sửa soạn với những khóa học “ mưu sinh thoát hiểm “ , mà với bàn tay khéo léo, nghị lực kiên cường để giữ được gia đình tạm đủ sống và yểm trợ các người tù bằng những món quà thăm nuôi, những lời khuyên để chúng ta yên tâm mà chính chúng ta, những người tù 5, 10, 15 năm thấy hoàn toàn vô vọng.

Chính họ là những động lực thúc đẩy chúng ta cố gắng sống còn và chính họ mới là những người bây giờ phải được nhận những lời tuyên dương cao quý nhất. Còn chúng ta, chỉ là những thanh niên, trong thời điểm đó, phải làm bổn phận của người trai, khoác áo chiến binh trong buổi binh đao, khi nước nhà còn đầy quân thù lúc nào cũng lăm le phá hoại hạnh phúc toàn dân.

Viết xong, 5/4/2007
LÊ BÁ DŨNG
YK 1

Viết để riêng tặng các sỹ quan bị tù đày của Tổng trại 8 Sông Mao, các bạn đã nằm xuống hay đang lưu lạc nơi quê người, và nhất là các bà mẹ, vợ hay con các sỹ quan đã không quản gian nan trong gông cùm Cộng Sản.

nguồn ykhoahuehaingoai.com

(Các truyện tù khác ở đây: http://www.michaelpdo.com/ChuyenTu.htm

———————————————————————————————

=================================================================

Bài 4

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097

Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ, Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

—————————————————————————————————————————————————-

Bài 5

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn mỗi ngày 2 quả.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN. Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa; tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 14 tỷ.

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau:

Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’.

Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội”

Trích: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.

Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Ngô Đình Nhu quả là một nhân vật chính trị sáng suốt. Cả vài trăm năm trước đó và phải mất cả 100 năm sau, nước ta mới có một nhân vật có tầm nhìn xa về chính trị như  ông Nhu.  Với câu nói trên, ngay từ năm 1960, ông Nhu đã nhìn thấy được các diễn biến của chính trị Mỹ và TQ  phải diễn ra theo con đường đó; và ngay lúc ấy, Bộ Quốc Phòng và nước Mỹ cũng chưa nhận ra bước đi này, cho mãi tới 1971-1972, khi TT Nixon hòa hoãn với Trung Cộng để bao vây Liên Xô và mở ra sự hợp tác Mỹ và Trung Quốc trong các thập niên 1970s-2000s và cho đến nay. (theo nhận định của Trần Hoàng)

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.

Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945, tướng Paton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa (quốc gia) mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc -ghi chú của Trần Hoàng).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”

Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỹ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm. Còn vũ khí thì tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16.

Hơn 10 sư đoàn còn lại chỉ được trang bị súng carbin M1, tiểu liên Thompson, súng trường là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho, hoặc là các vũ khí mà quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, thải ra và cho quân đội miền miền Nam.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng mấy triệu người Việt Nam và Đông Dương chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

Các ý kiến khác về chiến tranh Việt Nam như sau:

*“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…… ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi VN !”- (Tổng bí thư Cộng sản Lê Duẩn- 1976).

*  “Chỉ có Việt Nam là khốn khổ vì chiến tranh tàn phá suốt 29 năm trời ( 1946-75) là bởi Cộng sản Việt Nam đã đưa vận mệnh của nước Việt Nam ràng buộc vào sự sống còn và quyền lợi của phe Cộng sản quốc tế ” – (Thượng toạ Thích Quảng Độ).

* “Cuộc chiến giải phóng miền Nam là cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc”- ( Nhà văn Dương Thu Hương).

* ” Cái động lực gây nên cuộc chiến đó chính là chủ nghĩa cộng sản: “Đấy chính là một tà giáo đại bịp nhất trong lịch sử loài người mà những tên lãnh tụ tối cao của chúng dựa vào đó để gây chiến tranh nồi da xáo thịt, để tiến hành âm mưu hiểm độc tiêu diệt mọi lòng tin khác, mọi nhận thức, mọi tình cảm, mọi tình yêu, kể cả lòng yêu nước của con người!”- ( Nhà văn Tô Hoài)

(còn cập nhật thêm)

——————————————————————————————–

Đừng quên “Tháng Tư Đen”

Mark Moyar – Điểm sách (Trà Mi lược dịch)

nguồn dcvonline.net

Bỏ rơi Việt Nam

Từ lúc chiếc trực thăng cuối cùng của Mỹ rời toà Đại sứ ở Sài Gòn vào tháng Tư năm 1975, sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đề tài chính trong các cuộc tranh luận của Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Phe bồ câu cho rằng thất bại của miền Nam Việt Nam vì chính phủ miền Nam suy yếu và không có chính nghĩa, củng cố lập luận đồng minh của Mỹ đã không xứng đáng được viện trợ. Nhóm diều hâu đổ lỗi cho việc mất miền Nam Việt Nam vì viện trợ Hoa Kỳ bị cắt đứt – phù hợp với niềm tin của nhóm diều hâu rằng các chính khách Mỹ đã điên rồ bỏ rơi phần đất mà gần 60.000 binh sĩ Mỹ đã chết để bảo vệ.

Việt Nam, tháng 4, 1975
Nguồn ảnh: Getty Images


Tuy nhiên, không giống như các trang lịch sử trước đó của cuộc chiến, giờ phút cuối cùng của VNCH chỉ được các nhà sử học xem xét lướt qua. Tác giả viết lịch sử, được cho là toàn diện, của cuộc chiến có xu hướng lướt nhanh qua giai đoạn 1973-1975. Trong thời gian đó, không có lực lượng chiến đấu của Mỹ tại Việt Nam và báo giới cùng các quan chức dân sự Mỹ cũng quan tâm rất ít đến Việt Nam; học giả, vì thế, có ít nguồn tài liệu bằng tiếng Anh để tham khảo.

Cuốn “Tháng Tư Đen” của George J. Veith đã lấp đầy khoảng trống lịch sử đó một cách khác thường. Tác giả George Veith đã đào sâu vào những nguồn tài liệu Việt Nam bị bỏ quên trước đó, gồm cả lịch sử của Bắc Việt, và ông đã phỏng vấn nhiều vị chỉ huy đơn vị chiến đấu miền Nam Việt Nam. Trong cách kể tỉ mỉ, Veith trình bày cả núi chi tiết mới đã cho phép ông trả lời các câu hỏi chính của lịch sử.

Mặc dù các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm một số lỗi nghiêm trọng trong cuộc tấn công năm 1975 của Bắc Việt, ông Veith nói, không thể đổ thất bại vì chính phủ vớ vẩn được và chắc chắn không phải vì khả năng chiến đấu kém cỏi của quân đội VNCH. Ở vào lúc đó lãnh đạo quân đội miền Nam Việt Nam, gồm nhiều sĩ quan đã chiến đấu giỏi, đẩy lui cuộc tấn công mùa Hè đỏ lửa năm 1972 và các cuộc đụng độ lớn nhưng ít được biết đến trong những năm 1973 và 1974. Trong cuộc tấn công cuối cùng của Bắc Việt, cấp chỉ huy và các đơn vị của miền Nam Việt Nam đã chiến đấu giỏi hơn nhiều người đã tưởng.

Nếu người Mỹ còn nhớ, một chiến thắng của miền Nam Việt Nam vào năm 1975, đó là trận chiến Xuân Lộc, ở đó một sư đoàn của quân đội miền Nam Việt Nam đã đập tan 3 sư đoàn Bắc Việt. Tuy nhiên, ông Veith cũng ghi lại một số các cuộc đụng độ khác, trong tháng Ba và tháng Tư năm 1975, chứng tỏ sức đề kháng mãnh liệt của quân đội VNCH – từ Mỏ Tàu và Núi Bông ở địa đầu giới tuyến, đến Bến Cầu và Chơn Thành ở vùng biên giới, rồi Cần Thơ và Long An ở phía nam.

Ông Veith chứng minh một cách thuyết phục rằng nguyên nhân gốc rễ đưa đến thất bại của miền Nam Việt Nam chính vì Quốc hội Hoa Kỳ đã cắt giảm viện trợ năm 1974, khi đó viện trợ quân sự đã giảm gần một nửa. Khi Bắc Việt bắt đầu tấn công dữ dội từ tháng 3 năm 1975, miền Nam Việt Nam đã rơi vào tình trạng thiếu nhiên liệu máy bay và phụ tùng thay thế, không cho phép quân đội chuyển quân đến để củng cố mạn sườn, dễ bị tấn công dài 900 dặm, về phía tây. Bắc Việt do đó được tự do tập trung các cuộc tấn công,với số lượng áp đảo, vào các thị xã, thành phố chính yếu.

Chiến thắng An Lộc (1972)
Nguồn ảnh: vnafmann.com


Do sự khan hiếm lực lượng không vận, đe dọa quân đội Nam Việt Nam, trong tình trạng hiểm nghèo, thường xuyên phải rút lui bằng xe tải hoặc đi bộ. Thường dân chạy phía sau các binh sĩ, sợ bị các lực lượng cộng sản tàn sát, những người đã thảm sát dân Huế năm 1968 và thường dân dọc theo Quốc Lộ 1 vào mùa Hè đỏ lửa năm 1972. Phụ nữ và trẻ em và các loại xe dân sự làm tắc nghẽn cầu, đường, làm cuộc di tản chậm lại. Do đó, một số đơn vị chiến đấu bị quân Bắc Việt chận đường và tiêu diệt.

Khi cuộc di tản chiến thuật, khi lực lượng Nam Việt Nam cố gắng để tạo thành một vành đai phòng thủ tại thành phố Đà Nẵng, thì hơn một triệu thường dân đã đổ tràn vào thành phố của 500.000 người đang trong trạng thái hoảng loạn. Đường phố đã kẹt cứng vì giao thông dân sự, ông Veith giải thích, do đó sự vận chuyển của xe quân sự và hình thành đội quân lớn đã không thể phối hợp được. Một số binh sĩ bỏ đơn vị mình để bảo vệ thân nhân hoặc giúp họ chạy trốn. Tướng Ngô Quang Trưởng, một tướng lãnh tài ba và lôi cuốn của VNCH, đã quyết định tổ chức quốc phòng là điều không thể thực hiện được, ông đã ra lệnh sơ tán của quân đội chiến đấu bằng đường biển. Một số binh lính miền Nam Việt Nam đã thoát khỏi bằng tàu thuỷ, nhưng hàng ngàn người khác đã bị đơn vị quân đội Bắc Việt đang ồ ạt truy đuổi và bắt sống trên bãi biển.

“Tháng Tư Đen” cho thấy rằng việc cắt giảm viện trợ của Mỹ quá nhanh khiến niền Nam Việt Nam đã không thể đánh bom các lực lượng của đối phương ngay cả khi họ đang tụ tập đông đảo và là mục tiêu mời gọi. Lực lượng không quân Nam Việt Nam không thể bay đủ phi vụ, và khả năng của không quân tiếp tục bị xói mòn khi các sân bay bị quân Bắc Việt tràn ngập. Trong tháng Giêng năm 1973, Tổng thống Nixon đã hứa với Việt Nam là không lực Mỹ sẽ đánh tan quân Bắc Việt nếu họ đã vi phạm hiệp định ngưng bắn sắp được ký kết tại Paris. Nhưng sau đó vụ Watergate bùng nổ, và Quốc hội, dùng Nghị quyết Quyền lực Chiến tranh 1973, để ngăn cản người kế nhiệm TT Nixon, là TT Gerald Ford, thực hiện các cam kết với VNCH.

Mặc dù miền Nam Việt Nam có 763.000 người vào năm 1975, sự hạn chế di động chiến lược chỉ cho phép quân đội VNCH tập trung 110.000 binh sĩ làm phòng tuyến sau cùng ở Sài Gòn. Quân Bắc Việt, có 350.000 quân được cung cấp đa dạng nhờ sự thay đổi biến đường mòn Hồ Chí Minh thành một đường trải nhựa và có cả đường ống dẫn dầu bên cạnh. Mặc dù trước tình hình tuyệt vọng, ông Veith lưu ý, nhiều đơn vị miền Nam Việt Nam đã chiến đấu đẩy lui nhiều cuộc tấn công lớn của quân Bắc Việt Nam tại Sài Gòn và phản công có hiệu quả. Theo ước tính của riêng Hà Nội, lực lượng Bắc Việt Nam có 6.000 binh sĩ tử thương trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Người lính miền Nam Việt Nam đã chiến đấu cho đến khi chính phủ (Dương Văn Minh) mới được dựng lên ra lệnh đầu hàng với ảo vọng được phe thắng trận nhượng bộ.

Black April của George Veith; 587 trang, 29.95 USD
Nguồn ảnh: NXB Encounter Books


Hơn 100.000 binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà tử thương trong các trận chiến cuối cùng, hay đã bị xử tử ngay sau đó hoặc đã chết dần mòn vì bị ngược đãi trongcác trại “cải tạo” khổng lồ. Nửa triệu người miền Nam Việt Nam đã chết trên đường chạy trốn sự đàn áp cộng sản. Trong lúc đang toan tính viện trợ cho Afghanistan trong tương lai, “Tháng Tư Đen” là một lời nhắc nhở đúng mức với chính phủ Mỹ về thiệt hại nhân mạng khi bỏ rơi đồng minh đang bị bao vây.

© DCVOnline


Nguồn: Abandoning Vietnam. Mark Moyar. WSJ, BOOKSHELF – May 4, 2012.
Tác giả là một chuyên viên tư vấn quốc phòng và là tác giả cuốn “Triumph Forsaken: The Vietnam War, 1954-1965.”

——————————————————————————————–

Có tài liệu này trên diễn đàn của báo Military Times   (Thời báo Quân đội) nói là Trung Quốc đã giúp cho Bắc Việt trên 20 tỷ đô la trong chiến tranh Việt Nam.

Đảng cộng sản Trung Quốc đã gởi 320.000 lính Trung Cộng qua giúp miền Bắc VN, tính cho đến tháng 3-1968.  Tổng số lính Trung cộng bị thương và chết là 1o70 lính Trung Cộng đã chết.

(sẽ lịch bài dưới đây sau khi thu thập thêm các tài liệu khác)

China assistance North Vietnam killed American in Vietnam wars.
China communist Party and North Vietnam power signed up agreements about PLA sent troops to Vietnam fight against American imperialist in 1965.

At the same year, PLA send air defensive missile force, air defensive artillery, engineering force, railways troops, sweep mine team and shipping fleet and so on support North Vietnam. And carried on battle and supported tasks.

CCP total send 320 thousands troops support North Vietnam until 1968 March, total soldiers injury or be killed, in the middle of there were 1070 soldier dead. At the same time, China communist party provided numerous military equipments and battle supplies. Include 170 planes, 140 ships and 500 tanks, 16000 trucks, cannon 37000, 2.16 millions guns ,bullets and shells add up to 12800 millions. In additional to these, and trained 6000 persons and technologists, through Vietnam war ,CCP gave an huge human power, finance, substance assistances for North Vietnam, count in supplies equality more the 20 billion dollars.
China communist party said: they very love kill and torture American, European, abused them, CCP said you killed abuse more European, they more respect you.

———————————————————————————–

How many soldiers did China send to help North Vietnam?

Postby Kim Sung on 19 Nov 2006, 13:17

According to a Chinese military magazine ‘Research on Contemporary China’ (當 代中國史), China sent about 320,000 troops, 179 fighters, 145 combat vessels, 1044 tanks and vehicles, 16,333 trains, 37,500 mortars, and 2,160,000 assault rifles.
If we put together all these Chinese assistance in money, the total is more than 20 billion dollars (the then value). Among 320,000 troops sent to help North Vietnam, 5,270 soldiers were killed or wounded in combats. I didn’t know that China gave such a huge assistance to North Vietnam. Where were these Chinese troops deployed? More details on Chinese assistance to North Vietnam will be appreciated.
——————————————————————————————
3.

Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge

Military History Online – Chinese Support for North Vietnam during the Vietnam War: The Decisive Edge

by Bob Seals

“Best turn it into a bigger war…I’m afraid you really ought to send more troops to the South…Don’t be afraid of U.S. intervention, at most it’s no worse than having another Korean War. The Chinese army is prepared, and if America takes the risk of attacking North Vietnam, the Chinese army will march in at once. Our troops want a war now.”[1]
— Mao speaking to the North Vietnamese in 1964

So why did the powerful modern nations of France and the United States lose two wars in Vietnam to a third rate military power like North Vietnam? This is the logical question that many historians have asked and attempted to answer since the Second Vietnam War ended in April 1975 with the fall of Saigon to North Vietnamese tanks.

This Chinese military support, to include equipment, advisors and planning assistance, provided from 1949-1975, would prove in both the First and Second Indochina Wars to be decisive. This substantial military support would give the People‘s Army of Vietnam an edge to resist Western forces and eventually subjugate the Republic of South Vietnam. This support, for various reasons, has never really been acknowledged by most popular histories of the conflict. This is perhaps due to the fact that such acknowledgement of the massive Chinese military support provided challenges many cherished myths of Vietnamese Communist military brilliance and the “heroic struggle” against overwhelming western imperialists. Two recent histories bear this out. Case in point A Military History of China, edited by David A. Graff makes no mention of Chinese support for Vietnam while Bruce A. Elleman’s Modern Chinese Warfare, 1795-1989, dismisses Chinese support in a mere two sentences.[3] However, unless this decisive Chinese support is properly understood by students of both Vietnam wars the answer to the question of why North Vietnam won will remain incomplete and misunderstood. This paper will attempt to outline the Chinese communist support in both wars and explain exactly why this support was so decisive.

China communist Party and North Vietnam power signed up agreements about PLA sent troops to Vietnam fight against American imperialist in 1965. At the same year, PLA send air defensive missile force, air defensive artillery, engineering force, railways troops, sweep mine team and shipping fleet and so on support North Vietnam. And carried on battle and supported tasks.
Chia total sent 320,000 troops to support North Vietnam until 1968 March, At the same time, China provided numerous military equipments and battle supplies. Include 170 planes, 140 ships and 500 tanks, 16000 trucks, cannon 37000, 2.16 millions guns ,bullets and shells add up to 12800 millions. In additional to these, and trained 6000 persons and technologists, through Vietnam war ,China gave an huge human power, finance, substance assistances for North Vietnam, count in supplies equality more the 20 billion dollars.

**In the 1950s Chinese formulas served as a model for the Vietnam Workers’ Party (VWP) in its war against France and in its efforts to rebuild the north. In the 1960s, Beijing provided extensive aid to help Ho Chi Minh fight the United States. China’s support was crucial in the VWP’s defeat of the French in 1954 and in its ability to resist the American pressure in the Second Indochina War. At the height of Chinese-DRV solidarity, Ho characterized the relationship as “comrades plus brothers.

**In general, the importance of China in the two Vietnam wars has been overlooked or underrated in both Vietnamese and Western writings.[2] Vietnamese writers have tended to disregard the Chinese role in the interest of producing “national history,”[3] while lack of access to Chinese archival sources has handicapped the treatment of Beijing in the Western scholarship on the Indochina conflict.


Posted in Phỏng Vấn, Trại Tù | 4 Comments »

►Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2012

Bắt nguồn từ những cuộc phỏng vấn thời còn làm cho Đài Á Châu Tự Do năm 1997 và do cảm phục thái độ can cường và tấm lòng của Dương Thu Hương đối với con người và đất nước Việt Nam, Đinh Quang Anh Thái đã xem nhà văn nữ này như một người chị tinh thần.

Trung tuần tháng Hai vừa qua, do lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur, bà Dương Thu Hương đến Paris để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn No man’s land, nay được dịch sang Pháp ngữ là Terre Des Oublis

Khi được tin này, Đinh Quang Anh Thái đã lập tức sang Paris thăm bà Dương Thu Hương và được bà dành cho một loạt cuộc phỏng vấn liên quan đến nhiều vấn đề tại quê nhà chúng ta. Bài thứ nhất đã được đăng trên Việt Tide số 241 và sau đây là bài thứ nhì. Những bài kế tiếp sẽ được tiếp tục đăng trên Việt Tide vào những tuần sắp tới, mời quý độc giả đón đọc. 

Bài 1

Tôi khóc ngày 30 tháng Tư 75 vì thấy nền văn minh đã thua chế độ man rợ

Việt Tide: Năm 1968, khi bà quyết định đi vào Nam chiến đấu – như trong sách của bà nói là bà tham dự cùng các bạn cùng lứa tuổi “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ” –, tâm tư của bà lúc đó như thế nào?

Dương Thu Hương: Tâm tư của tôi lúc đó hoàn toàn là của một người Việt cổ. Tôi liều thân cứu nước vì tôi quan niệm đây là một cuộc chiến tranh chống quân xâm lược; và chống quân xâm lược thì người tử tế phải xông ra chiến trường chứ không thể để mặc cho người khác hy sinh; và không thể mưu cầu một cuộc sống yên ấm khi người khác lâm nguy.

Việt Tide: Không phải là theo tiếng gọi của đảng cộng sản Việt Nam?

Dương Thu Hương: (cười khẩy) Đó là cái điều lầm lẫn lớn nhất của các nhà báo nước ngoài cũng như nước trong (cười). Tại vì những người ấy có chịu lắng nghe đâu. Các ông ấy toàn nghĩ theo kiểu các ông ấy thôi. Cứ hàm hồ chụp lên đầu người khác suy nghĩ của mình. 

Việt Tide: Bà có thể nói rõ hơn? 

Dương Thu Hương: Tôi chả coi đảng cộng sản Việt Nam là cái gì cả. Đối với một gia đình như gia đình tôi, bố tôi từng là đại đội trưởng Đội Bá Vụ, phụ trách vấn đề liên lạc vô tuyến và làm trực tiếp dưới quyền ông Võ Nguyên Giáp, nhưng bố tôi không bao giờ được vào đảng vì bà của tôi là địa chủ. Bố tôi chịu nhiều bất công, vì ông cống hiến rất nhiều mà chả được gì cả. Khi tôi lớn lên thì tôi không được thi vào đại học bởi vì lý lịch của bố tôi và gia đình tôi không thuộc thành phần cốt cán. Tôi vào trường Lý luận Nghiệp vụ vì lúc đó họ tuyển năng khiếu diễn kịch, hát múa; và tôi vào được vì do cơ may tôi có một người họ hàng làm thầy giáo của trường.

Tôi còn nhớ lúc xẩy ra chiến dịch Cải cách Ruộng đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tự bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết. Thật khủng khiếp. Khi 8 tuổi, buổi sáng khi đi tưới rau, tôi thấy cảnh những người chết như thế và điều đó làm cho tôi vô cùng khủng khiếp. Cho nên tôi nhắc lại, năm 68 tôi vào tiền tuyến là vì tôi tuân thủ truyền thống cứu nước của dân tộc Việt Nam chứ không vì đảng cộng sản.

Việt Tide: Theo chỗ tôi biết, bà lập gia đình trong giai đoạn chiến tranh và hai con của bà sinh ra ngay tại tiền tuyến; có đúng không ạ? 

Dương Thu Hương: Vâng, đúng như vậy.

Việt Tide: Bà có thể cho biết hoàn cảnh sống của hai cháu tại tiền tuyến khi cuộc chiến bắt đầu vào thời điểm khốc liệt năm 1968?

Dương Thu Hương: Chúng tôi sống như những người nông dân và tất cả mọi người đều chịu sự tàn phá của bom đạn chiến tranh. Thức ăn thức uống vô cùng khan hiếm, thậm chí rau cũng không có. Gạo ở bên kia sông, chỉ vì mấy cân gạo có thể mất mạng, vì bom Mỹ ném liên tục.

Một điều nữa, ngay trong chiến tranh, năm – bẩy trăm người chết nhưng không bao giờ tin tức được loan báo. Vì tất cả đều chấp nhận cái chết đương nhiên. Và không thể loan tin vì suy nghĩ lúc bấy giờ ta là dân tộc anh hùng chiến thắng tất cả mọi kẻ thù nên không thể cho biết sự tổn thất. Hai con tôi sinh ra trong hoàn cảnh như vậy. Khi chúng nằm ở trong hầm, dưới mặt ván vài gang là nước và rắn bò lóp ngóp. Đứa con gái của tôi khi vừa được ba tháng, rắn ngủ ở dưới đít của nó. Vì rắn tìm chỗ ấm mà! May mà sáng ra rắn tuồn xuống nước chứ không cắn con bé. Mà đấy là rắn độc. Cho nên mấy ông dân chài sống chung quanh bảo rằng con tôi được thần độ mạng. Tôi tin con người có số thật. Bởi vì sống dưới bom đạn, đói khát, rắn rết như vậy mà hai đứa con tôi, dù không được tươi da thắm thịt như con cái những người sống trong hoàn cảnh bình thường, nhưng chúng cũng không đến nỗi bị què quặt. 

Việt Tide: Khi lớn lên, các cháu có bị ám ảnh bởi hồi ức lúc sống trong chiến tranh bom đạn không ạ?

Dương Thu Hương: Trong chiến tranh chúng nó còn rất nhỏ cho nên khi lớn lên ấn tượng về cuộc chiến cũng mờ nhạt. Nhưng khi chúng lớn lên thì chúng chịu một cuộc chiến tranh khác còn tàn khốc hơn cuộc chiến thời 1968: mẹ chúng nó làm giặc. Cho nên chúng nó bị nhiều thiệt thòi lắm.

Việt Tide: Thưa bà, các cháu bị thiệt thòi ra sao ạ?

Dương Thu Hương: Tôi đã nói rất rõ với các con tôi, rằng con đường làm giặc là phải chịu tất cả mọi khổ đau; cho nên tất cả mọi người trong gia đình, nghĩa là bố tôi, mẹ tôi, anh em tôi và con cái, nếu ai muốn thì tôi sẵn sàng viết giấy với tòa án là không có quan hệ với tôi nữa để tránh cho họ khỏi bị di lụy. Còn nếu những người muốn tiếp tục đứng với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, thua thiệt và không bao giờ được nói với tôi một lời can thiệp vào việc tôi làm. Bởi vì tôi biết chắc chắn cộng sản sẽ dùng những người thân thuộc để gây sức ép.

Nhiều trường hợp đã xẩy ra đối với những người đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Vợ con, anh em của họ bị công an áp lực phải khuyên can họ không được đấu tranh nên một số người đành bỏ cuộc. Bản thân tôi đã lường trước điều đó nên tôi tuyên bố sòng phẳng rằng, cả tuổi xuân của tôi, tôi đã hy sinh để nuôi con rồi, nên bây giờ tôi an tâm lao vào cuộc chiến chống lại bọn cường quyền. Tôi bảo các con tôi có thể về sống với bố của chúng hay với một người mẹ khác. Còn nếu chọn sống với tôi thì phải chấp nhận khổ đau, vì chắc chắn chúng sẽ không có chỗ đứng trong chế độ này. Hai con tôi đứa nào cũng hai bằng đại học nhưng vẫn không có việc làm. Con trai lớn của tôi phải sống bằng tất cả mọi việc, từ bồi bàn cho đến gác cổng. . .và bây giờ đi quay phim thuê cho một hãng tư. Cháu gái thì bán sơn.

Việt Tide: Các cháu có chia sẻ lý tưởng của mẹ không?

Dương Thu Hương: Không! Đối với chúng nó, tôi là một người điên. Nhưng dầu sao chăng nữa thì cũng là tình mẹ con, nhất là tôi đã giao hẹn là nếu chấp nhận tôi thì không được can ngăn việc tôi làm, nếu can thiệp thì tôi sẽ cắt đứt ngay tức khắc, thành ra chúng nó đành chấp nhận thôi.

Việt Tide: Từ một người dấn thân “xẻ Trường Sơn đánh Mỹ”, bây giờ bà trở thành một người làm giặc ngay tại Hà Nội tại sao vậy, thưa bà?

Dương Thu Hương: Câu hỏi của ông vô cùng mâu thuẫn và vô cùng ngớ ngẩn. Tôi là người yêu nước khi tôi tham gia cuộc chiến tranh và đến tận bây giờ tôi vẫn là người yêu nước. Vì thế tôi mới làm giặc. Hai hành động đó (vào tiền tuyến năm 68 và bây giờ làm giặc) thống nhất với nhau.

Việt Tide: Tư tưởng “làm giặc” của bà nhen nhúm từ lúc nào?

Dương Thu Hương: Từ năm 1969. Lúc đó, nếu tôi còn chút ảo tưởng nào về chủ nghĩa cộng sản thì tôi đã trở thành đảng viên rồi. Họ mở rộng cánh cửa mời tôi vào đảng cơ mà. Nhưng vì tôi được dậy dỗ trong một gia đình lấy đạo đức làm tiêu chuẩn cho nên tôi không thể xếp tôi đứng vào hàng ngũ với những người mà tôi khinh bỉ. Đơn giản như vậy thôi.

Việt Tide: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trộ trước sự phát triển vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?

Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.

Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.

Ông Thái đừng quên rằng, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ . . .nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải.

Lần thứ hai tôi khóc là năm 1984 khi tôi đến Mascơva. Tất cả những người Việt Nam khác đến đấy đều hớn hở, sung sướng. Riêng tôi thì nhục nhã không thể tả được. Vì khi ở trong nước, tôi vẫn có ấn tượng dân tộc mình là dân tộc anh hùng và là một dân tộc cũng có được một cuộc sống xứng đáng. Nhưng khi đến Mascơva trong một phái đoàn điện ảnh trẻ thì tôi mới nhìn thấy ra rằng, người Việt Nam bị khinh bỉ. Người Việt Nam đầu đen chỉ xếp hàng trong các đội quân dài dặc các bà già Nga bụng to để mua nồi áp xuất, bàn là điện nhằm gởi về nước. Những người bán hàng họ mắng cho như là mắng khỉ ấy. Họ mắng cũng đúng vì người mình khuân hàng đống nồi, hàng đống sản phẩm của người ta để tuồn về nước. Khi đứng ở khách sạn Peking nhìn xuống đường, tôi thấy những đoàn đại biểu Việt Nam trong những bộ quần áo complet gớm ghiếc trông như những đàn bò đi trong thành phố. Tôi hoàn toàn vỡ mộng và tôi khóc. Một nhà văn Nga mắng tôi. Anh ta bảo rằng, “người ta đi Nga người ta sung sướng, còn bà thì tại sao bà lại khóc như cha chết vậy. Sao lại vớ vẩn thế”. Anh ta không biết nỗi đau đớn của tôi khi thấy thân phận của người Việt Nam.

Việt Tide: Từ đó bà lao vào cuộc đấu tranh?

Dương Thu Hương: Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Đúng ra, ngã rẽ này đã bắt đầu từ năm 1969 khi lần đầu tiên tôi gặp những toán tù binh người miền Nam ở Quảng Bình. Lúc đó tôi làm công tác ở các binh trạm và những tù binh lần đầu tiên tôi gặp không phải là người Mỹ mà chính là người Việt Nam, cũng đầu đen mắt đen, cũng lùn và da vàng mũi tẹt như tôi, và nói tiếng Việt Nam như tôi. Cho nên tôi mới hồ nghi rằng tất cả những điều người ta nói đây là cuộc chiến tranh chống quân xâm lược thì đó là láo toét.

Tuy nhiên vì lúc đó là chiến tranh và tất cả đều lao vào một guồng máy và bị cỗ xe khổng lồ nó cuốn đi. Cho đến năm 75, với thời gian (giọng ngậm ngùi, xúc động), tất cả mọi ngờ vực trong tôi đã chín muồi. Năm 75, tôi hiểu rằng đây là thời điểm quyết định và là ngã rẽ dứt khoát trong tư tưởng của mình.

Việt Tide: Nói chuyện với bà, tôi thường nghe bà nhắc đến hai chữ “số phận”. Bà tin số phận như thế nào và bà hiểu hai chữ số phận như thế nào?

Dương Thu Hương: (cười thoải mái)  Tôi tin số phận theo kiểu của tôi và hiểu số phận theo kiểu một người nhà quê chân đất mắt toét. Đại loại như vậy. Còn để diễn giải hai chữ số phận trong cuộc phỏng vấn ngắn ngủi này thì đó là điều bất khả.

Việt Tide: Xin bà cứ nói chi tiết.

Dương Thu Hương: (cười to) Tôi nói ví dụ, chúng ta không phải hoàn toàn là những kẻ bất lực, nhưng chúng ta cũng không hoàn toàn là những kẻ làm chủ được số phận của mình. Ví dụ như khi tôi ở trong tù năm 91, tôi nghĩ không bao giờ có ngày ra khỏi tù. Nhưng rồi tôi lại thoát nhờ sự can thiệp của những người mà tôi chưa bao giờ biết. Như vậy rõ ràng là có bàn tay của Chúa (nói  theo người Thiên Chúa Giáo) và có bàn tay của Giời Phật (nói theo người dân Việt Nam). Đấy là điều khiến tôi tin vào số phận.

Dương Thu Hương (Việt Tide Phỏng Vấn)

http://dcvonline.net

http://www.vietthuc.org

—————————————————————-

Và đây là cuộc phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương tại New York, ngày 30-4-2006.

Năm 1975, nhà văn Dương Thu Hương, (sinh 1-1-1947), khi đó đang ở trong đoàn quân chiến thắng, trong một cuộc phỏng vấn bà đã phát biểu cảm tưởng của bà vào ngày 30-4-1975 như sau:

https://www.youtube.com/watch?v=1HhbiG8YGpE

Phim trên là trích đoạn của cuộc Phỏng vấn  nhà văn Dương Thu Hương ở New York ngày 30-4-2006. Đây là một trong những cuộc phỏng vấn tuyệt vời nhất giữa người đặt câu hỏi, các câu trả lời của bà DTH, và phần phiên dịch chính xác có thể nói là >98%. Mời các bạn thưởng thức.

Phần 1   http://www.youtube.com/watch?v=An_oN0N9_6c

Phần 2   http://www.youtube.com/watch?v=p947T7siNxw

Phần 3   http://www.youtube.com/watch?v=7Mqa25l9cT4

Phần 4  http://www.youtube.com/watch?v=wtx3aRcFA58

Phần 5  http://www.youtube.com/watch?v=XQYWA5lNH7U

Phần 6  http://www.youtube.com/watch?v=8qwG4iPzuy0

Phần 7 http://www.youtube.com/watch?v=v-8BpWkHW9E

1. Lời tiên đoán cuả Ronald Reagan (khi đang còn là Thống Đốc của tiểu bang California 1967-1975)  về cuộc rút quân đội Mỹ ra khỏi VN năm 1973 có khả năng để lại các thảm họa như thế nào.

Ronald Reagan (1973) ” …Ending a conflict is not so simple, not just calling it off and coming home. Because the price for that kind of peace could be a thousand years of darkness for generations of VietNam borned .”
[Dịch]: “…Chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hòa bình đó là ngàn năm tăm tối cho các thế hệ sinh ra tại Viêt Nam về sau.”

Nhà văn Phạm Đình Trọng:

*“Thế hệ chúng tôi cũng rầm rập ra trận, lúc đó chúng tôi tưởng rằng đi giải phóng miền Nam và hào hứng hát: Giải phóng miền Nam / Chúng ta cùng quyết tiến bước . . . Hóa ra không phải chúng tôi đi giải phóng miền Nam mà chúng tôi đi vào cuộc nội chiến Nam – Bắc tương tàn, chúng tôi chỉ là công cụ mang học thuyết Mác Lê nin, học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu áp đặt cho miền Nam, để cả nước bị nô dịch bởi học thuyết Mác Lê nin, để học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu thống trị cả dân tộc Việt Nam, đánh phá tan tác khối đoàn kết dân tộc Việt Nam, đánh phá tan nát đạo lí và văn hóa Việt Nam.” _ Phạm Đình Trọng

trong tác phẩm Bên Thắng Cuộc, (2012),  tác giả Huy Đức đã ghi rằng: 

 Nguyên Ngọc : Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn .

 Huy Đức:  bên (cần)được giải phóng hóa ra lại là Miền Bắc”.

(trích từ bài ►Góp phần “giải mã” một thế hệ dấn thân – Hà Sĩ Phu

Chén kiểu thì không chọi lại với chén sành. Và rồi đất nước VN trở nên tang thương, cái nghèo đeo đuổi, văn hóa suy đồi, giáo dục xuống cấp, gia đình ly tán…trong khi các cán bộ Việt Cộng cướp sạch đất đai, chia nhau tài nguyên mỏ dầu hỏa,  các mỏ kim loại hiếm quí như wolfram, mỏ núi pháo (mời google hoặc xem trong cột bên trái của blog này: bán tài nguyên khoáng sản và cho nước ngoài thuê đất đai, rừng từ 50-99 năm)

*****************************************************

Bài 2

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cập nhật lúc 30-04-2011 10:23:08 (GMT+1)

Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ (P) ăn trưa cùng ông Hồ Chí Minh (T) vào tháng 8/1959 tại Bắc Kinh.

Tháng 4 năm 1975, những người cộng sản tiến vào Sài Gòn “giải phóng miền Nam” kết thúc cuộc chiến giữa hai miền Bắc – Nam, kéo dài trong 21 năm.

Ba mươi sáu năm sau cuộc chiến này, dựa trên các tài liệu đã được giải mật thời gian gần đây, nhiều người nhận ra, cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” do những người Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật sự không phải vì Việt Nam.

Vì Liên Xô vào để truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản

Sau Đệ nhị Thế chiến, Joseph Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu thực hiện kế hoạch mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình bằng cách hỗ trợ nhiều quốc gia tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng bạo lực để lật đổ các chính thể hiện hành, thiết lập các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa, đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản.

Năm 1958, ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo chính quyền Cộng sản ở miền Bắc, Việt Nam, tuyên bố: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý, xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ Xã hội Chủ nghĩa”.

Tháng 1 năm 1959, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra nghị quyết cho phép các lực lượng Cộng sản miền Nam sử dụng bạo lực để lật đổ chính quyền miền Nam. Và rồi cuộc chiến Bắc – Nam đã được những người Cộng sản khơi mào bằng các phong trào kiểu như “Đồng khởi” ở Bến Tre, lan ra các tỉnh Nam Bộ, sách động quần chúng đấu tranh vũ trang kết hợp với chính trị.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương Đảng, cuối năm 1960, Đảng Cộng sản cho ra đời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, một tổ chức chính trị, quân sự của Đảng Cộng sản, hoạt động ở miền Nam với mục đích lật đổ chính quyền miền Nam, thống nhất Việt Nam, để biến Việt Nam thành một khối thống nhất, thành viên của cộng đồng các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn vừa kể, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Liên Xô liên tục qua lại thăm viếng nhau. Đến cuối năm 1960, hai bên bắt đầu ký nhiều thỏa thuận, trong đó, Liên Xô cam kết viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ miền Bắc, để giúp miền Bắc “giải phóng miền Nam”.

Ngày 6 tháng 1 năm 1961, hai tuần trước khi ông Kennedy tuyên bố nhậm chức tổng thống Mỹ, ông Nikita Khrushchev, Thủ tướng Liên Xô, tuyên bố, Liên Xô sẽ hỗ trợ “các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc” trên toàn thế giới, trong đó có Cuba và Việt Nam. Khrushchev gọi đây là những cuộc chiến tranh “thần thánh”. Ông Ilya Gaiduk, nhà sử học người Nga, tiết lộ, trong kế hoạch của Moscow, Việt Nam trở thành một kênh chính để tạo ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á.
Ngày 31 tháng 1 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố, những diễn biến vừa kể là bằng chứng về tham vọng muốn thống trị thế giới của Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc.

“Tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”

Ngoài việc Liên Xô muốn vào truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản, những người Cộng sản Việt Nam cũng muốn biến đất nước trở thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15, năm 1959, nêu rõ: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á. Đế quốc Mỹ chiếm cứ miền Nam, âm mưu xâm lược miền Bắc là để tấn công phe xã hội chủ nghĩa. Cho nên, thắng lợi của cách mạng Việt Nam quan hệ trực tiếp đến phe xã hội chủ nghĩa, làm cho phe xã hội chủ nghĩa càng rộng lớn, vững mạnh”.

Ông Lê Duẩn chụp vào ngày 15/5/1975. AFP photo

Ngày 9 tháng 2 năm 1964, báo Pravda của Đảng Cộng sản Liên Xô đưa tin, một đoàn đại biểu của Đảng Lao Động Việt Nam do ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất dẫn đầu, đã đến thăm Liên Xô. Theo đó: “Hai bên đã thể hiện sự đoàn kết của phe XHCN và phong trào cộng sản thế giới, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa Đảng cộng sản Liên Xô và Đảng Lao động Việt Nam, giữa Liên bang Xô Viết và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và các nguyên tắc của phong trào vô sản quốc tế”.

Kể từ đó, khối cộng sản, đứng đầu là Liên Xô, đã gia tăng viện trợ quân sự, từ vũ khí, đạn dược, xe tăng, tên lửa, máy bay…cho đến các cố vấn quân sự, thậm chí cả binh lính, cho chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, để lật đổ chính quyền miền Nam, thực hiện cuộc cách mạng vô sản, biến Việt Nam thành “tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Trong bài nói chuyện đăng trên báo Nhân Dân, ngày 20 tháng 7 năm 1965, ông Hồ Chí Minh đã cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc về sự giúp đỡ này, ông nói: “Tôi thay mặt đồng bào cả nước nhiệt liệt cảm ơn Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em khác, cảm ơn nhân dân tiến bộ khắp năm châu. Nhân dân Việt Nam quyết tâm làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng, giải phóng Tổ quốc của mình, chặn tay bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giữ vững tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á”.

Tuy Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN giúp đỡ lãnh đạo miền Bắc với mục đích truyền bá Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam và rộng hơn là các nước Đông Nam Á, thế nhưng ông Hồ Chí Minh chỉ thấy sự giúp đỡ này là “vô tư”, “không vụ lợi”. Ông cho biết: “Các nước bạn giúp ta một cách khẳng khái, vô tư, như anh em giúp nhau, tuyệt đối không có chút gì vụ lợi. Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”. Và ông  ông Hồ Chí Minh cho biết, ông “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình”.

Tháng 2 năm 1966, khi đến Moscow tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ 23, ông Lê Duẩn tuyên bố, ông có hai tổ quốc, đó là Tổ quốc Việt Nam và Tổ quốc Liên Xô. Ông Lê Duẩn cũng cám ơn Liên Xô về sự “viện trợ to lớn và nhiều mặt” cho chính phủ miền Bắc. Trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, ông Lê Duẩn cho biết: “Liên Xô giúp chúng tôi bằng trái tim của họ, và họ đã giúp chúng tôi nhiều hơn chúng tôi có thể sử dụng, và Trung Quốc cũng giúp đỡ chúng tôi”.

Sử gia Douglas Pike nhận xét về cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do miền Bắc khởi xướng như sau: “Bản chất của cuộc chiến tranh đã thay đổi trên thực tế: từ một anh Việt Cộng chân đất với khẩu súng ngắn tự tạo, cho tới những lực lượng quân đội Cộng sản Việt Nam được trang bị những thứ vũ khí hiện đại nhất mà thế giới cộng sản có thể sản xuất”.

Cuộc chiến tranh được gọi là “giải phóng miền Nam”, ngoài mục đích Liên Xô muốn đưa Chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, biến Việt Nam thành tiền đồn của phe Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Nam Á, những người Cộng sản Việt Nam đã “giải phóng miền Nam, là “giải phóng” cho ai? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Ngọc Trân

nguồn RFA

nguồn danchimviet.info

nguồnlethanhhoangdan

Bài 3

‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (2)

Hàng năm, cứ mỗi lần đến ngày 30 tháng 4, Đảng và Nhà nước Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm ngày “giải phóng miền Nam”. Trong dịp này, những người “chiến thắng” luôn tự hào và hãnh diện vì đã đánh thắng đế quốc Mỹ, một cường quốc hùng mạnh nhất thế giới.

> ‘Giải phóng miền Nam’: Cho ai và vì ai? (1)

Cái gọi là “công cuộc giải phóng miền Nam” mà những người Cộng sản Việt Nam đã tiến hành, ngoài mục đích xóa bỏ chế độ tư bản, kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội theo học thuyết Mác – Lênin, những người Cộng sản Việt Nam còn bị chi phối bởi mục đích nào khác?

Con cờ trong bàn cờ của Trung Quốc

Khi tiến hành “giải phóng miền Nam”, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ bị chi phối bởi Liên Xô mà còn chịu nhiều tác động từ Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Dựa trên các tài liệu đã được giải mật, do kế hoạch của Mao Trạch Đông muốn bành trướng xuống khu vực Đông Nam Á trong tương lai, nên lãnh đạo Trung Quốc không muốn cuộc chiến Việt Nam sớm kết thúc, mà muốn chiến tranh kéo dài để làm Việt Nam suy yếu.

Tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Điện, Malaysia, Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.

Và những người Cộng sản Việt Nam đã giúp Trung Quốc thực hiện kế hoạch này. Trong số các tài liệu đã được giải mật, một tài liệu được lưu trữ ở Trung tâm Wilson cho thấy, trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970, ông Lê Duẩn đã cho ông Mao Trạch Đông biết, Việt Nam đang trường kỳ kháng chiến chống Mỹ là vì Trung Quốc. Ông Lê Duẩn đã nói, nguyên văn như sau: “Tại sao chúng tôi giữ lập trường bền bỉ chiến đấu cho một cuộc chiến kéo dài, đặc biệt trường kỳ kháng chiến ở miền Nam? Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch…Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch đã nói rằng 700 triệu người Trung Quốc đang ủng hộ nhân dân Việt Nam một cách vững chắc”.

Ở một tài liệu khác, cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – do Nhà xuất bản Sự Thật của Đảng Cộng sản Việt Nam phát hành – tại trang 53, có đăng nguyên văn nội dung lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trả lời ông Đặng Tiểu Bình hồi năm 1966, như sau: “Sự nhiệt tình của một nước XHCN, với một nước XHCN khác là xuất phát từ tinh thần quốc tế vô sản. Chúng tôi không bao giờ nghĩ nhiệt tâm là có hại. Nếu các đồng chí nhiệt tâm giúp đỡ thì chúng tôi có thể đỡ hy sinh 2-3 triệu người… Miền Nam chúng tôi sẽ chống Mỹ đến cùng và chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần quốc tế vô sản”.

Những lời thú nhận

Tuy tiến hành cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” là nhằm phục vụ mục tiêu đưa cả thế giới cùng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản, như tuyên bố của ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không thể làm hài lòng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Vì sao?

Cùng là Cộng sản nhưng cả Liên Xô lẫn Trung Quốc không thể “đoàn kết” với nhau, bởi bên nào cũng muốn tạo ảnh hưởng, chi phối khu vực Đông Dương và rộng hơn là khu vực Đông Nam Á.

Cư dân ở các huyện biên giới phía Bắc tìm nơi trú ẩn khi Trung Quốc đồng loạt tấn công dọc theo biên giới Trung-Việt. Ảnh chụp ngày 23 tháng 2 năm 1979. AFP photo

Sau khi chiến tranh kết thúc, nhận thấy Việt Nam có vẻ muốn ngả hẳn về phía Liên Xô, năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tràn sang Việt Nam, nhằm “dạy cho Việt Nam một  bài học”. Đến lúc này, Nhà xuất bản Sự Thật – một cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam – mới công bố những bí mật trong quan hệ Việt – Trung ở giai đoạn tiến hành “giải phóng miền Nam”, “đánh Mỹ cho Liên Xô, Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại”, qua cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”.

Tại trang 5 của tác phẩm vừa dẫn, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thú nhận: “Trên thế giới chưa có người lãnh đạo một nước nào mang danh là ‘cách mạng’, là ‘xã hội chủ nghĩa’ và dùng những lời lẽ rất ‘cách mạng’ để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc”.

Ở trang 73 của tác phẩm này, những người cộng sản Việt Nam đã cay đắng thú nhận: “Những người cầm quyền Trung Quốc, xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ có giúp Việt Nam khi nhân dân Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, nhưng cũng xuất phát từ lợi ích dân tộc, họ không muốn Việt Nam thắng Mỹ và trở nên mạnh, mà chỉ muốn Việt Nam yếu, lệ thuộc Trung Quốc…Họ lợi dụng xương máu của nhân dân Việt Nam để buôn bán với Mỹ… Họ muốn chia rẽ Việt Nam với Liên Xô và các nước XHCN khác”.

Cũng trong tác phẩm vừa dẫn, ở trang 100, Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết âm mưu của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam như sau: “Họ bật đèn xanh cho Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đồng thời đưa quân Mỹ trực tiếp xâm lược miền Nam, Việt Nam. Khi Việt Nam muốn ngồi vào thương lượng với Mỹ để phối hợp ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao thì họ ngăn cản. Khi nhân dân Việt Nam trên đà đi tới thắng lợi hoàn toàn thì họ bắt tay với chính quyền Nixon, dùng xương máu của nhân dân Việt Nam để  đưa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lên địa vị ‘siêu cường thứ ba’ và đổi chác việc giải quyết vấn đề Đài Loan”.

Mười một năm trước khi lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nhận ra và thú nhận những điều vừa kể, vào  tháng 3 năm 1968, khi phát biểu tại trường Đại học Kansas, Thượng nghị sĩ Robert Kennedy đã tuyên bố, mục tiêu của cuộc chiến “giải phóng miền Nam” do Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành, thật ra chỉ vì Trung Quốc muốn Mỹ sa lầy.

Ông Robert Kennedy nhận định: “Mao Trạch Đông và các đồng chí Trung Quốc của ông ta yên lặng ngồi nhìn: [Việt Nam] đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. Họ xem chúng ta làm suy yếu một nước, là hàng rào vững chắc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc xuống phía Nam. Họ hy vọng sẽ buộc chúng ta chặt hơn trong cuộc chiến kéo dài ở Campuchia, Lào và Thái Lan. Họ tự tin rằng cuộc chiến ở Việt Nam ‘sẽ càng làm cho Mỹ sa lầy, hủy hoại tài nguyên, mất uy tín về sự kỳ vọng của các nước vào sức mạnh của Mỹ, chúng ta bị đồng minh xa lánh, xung đột với Liên Xô, và bất đồng gia tăng trong dân chúng Mỹ’. Như một nhà quan sát Mỹ đã nói: ‘chúng ta dường như đang bị chơi đúng kịch bản mà Mao đã viết ra’.”

Ba mươi sáu năm sau khi cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam” kết thúc, Trung Quốc càng ngày càng hùng mạnh hơn và sự hùng mạnh đó đang gây trăn trở cho hàng triệu người Việt. Còn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục tự hào vì đã “giải phóng miền Nam”.

Ngọc Trân

Nguồn RFA

nguồn Vietinfo.eu

=================================================================

Bài 4

Có Ai Thích Được Giải Phóng đâu !!!???

Hoàng Dược Sư – X.Cafe.VN

Mon, 05/02/2011 – 02:25

http://www.x-cafevn.org/node/2097

http://www.x-cafevn.org/node/2097

Vậy là đúng 36 năm, kể từ ngày mất miền Nam thân yêu. Mất cả tên Saigon thân thương, mất cả tên những con đường với muôn vàn kỷ niệm. Và rồi còn bao nhiêu thứ mất mát đáng sợ hơn.

Ngày ấy, ngày 30/4/75, ngày mà cả miền Nam sống trong sợ hãi. Những chiếc xe tăng T54 ngênh ngang tiến vào thành phố, nghiến nát những con đường, những bãi cỏ xanh tươi mơn mởn. Ngày ấy dân miền Nam sợ xanh mặt, họ bồng bế nhau chạy trốn loạn lạc. Họ có muốn các anh vào giải phóng đâu!!

Ngày 30/4 là một ngày định mệnh đau buồn cho nước VN. Ngày đánh dấu cho một kiếp ô nhục, ngày mà đánh dấu những tang thương, mất mát, đoạ đày sau này cho con dân VN, ngày tiên đoán cho kiếp bị đô hộ, nô lệ cho giặc Tàu gần kề.

Chúng tôi có mong đợi các anh đến giải phóng đâu. Vậy các anh đến làm gì. Chúng tôi đang sống trong thanh bình, thịnh vượng thì có cần gì đến giải phóng. Các anh mập mờ đánh lận con đen. Các anh dùng mỹ từ giải phóng để che giấu sự ăn cướp trắng trợn và dã man cuả các anh. Nếu các anh thật sự giải phóng chúng tôi thì tại sao chúng tôi lại bồng bế nhau chạy trốn. Chúng tôi chạy bán sống bán chết, chúng tôi bỏ cuả chạy lấy người. Vì sao? Vì chúng tôi ghê tởm các anh.

Các anh còn nhớ sau hiệp định Geneve 1954, tại sao cả triệu người bỏ ruộng vườn, bỏ mồ mả ông bà, bỏ tài sản mà trốn chạy các anh. Vì người ta đã quá biết bộ mặt đểu giả, giả nhân giả nghiã cuả các anh. Nếu các anh không ngăn cản để cho đồng bào miền Bắc tự do di cư vào miền Nam, thì số người di cư phải tới hơn 5 triệu người là ít. Những cảnh chia lià vợ chồng, con cái, chết chóc, thất lạc…là do ai tạo ra?

Sau ngày 30/4, khi nhà văn Dương thu Hương, lúc ấy còn là bộ đội, vào miền Nam thì quá ngỡ ngàng đến té ngửa ra, vì bị lường gạt bao nhiêu năm. Miền Nam văn minh, trù phú và đầy ắp tình người. Bà ta đã ngồi bệt xuống lề đường mà khóc, vì sự thật phũ phàng. Đó chính là tâm sự cuả bà đã được in thành sách. Các anh mới chính là những người cần được giải phóng!!!

Các anh reo vui trong chiến thắng, các anh ca hát “chưa thấy hôm nào đẹp như hôm nay, non nước tưng bừng lòng ta mê say…” Các anh hứa hẹn mang thanh bình cho đất nước.

Thế rồi các anh đánh tư sản, các anh vơ vét vàng bạc, tài sản cuả dân chúng. Các xí nghiệp công xưởng lớn nhỏ thì các anh tịch thu, phá hủy, cả nền công nghiệp cuả miền Nam bị phá sản. Mấy trăm ngàn quân nhân cán chính thì các anh trả thù, cho họ tù đày, với mỹ từ học tập cải tạo. Các anh tạo ra cảnh thê lương chia lià, vợ xa chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Như vậy các anh còn chưa hài lòng, các anh còn đì con cái họ bằng cách phân biệt lý lịch ngụy quan, ngụy quyền…khi họ thi tốt nghiêp, đi học, hay xin việc làm. Chưa hết, các anh còn kiểm soát tự do cuả người dân bằng những công an khu vực, giấy đi đường, bằng những tem phiếu, bằng những bobo, khoai, sắn. Người dân co cụm lại vì sợ hãi, vì đói rách, vì nghi kỵ lẫn nhau, vợ tố chồng, con tố cha…đưa đến một sự suy đồi về đạo đức trầm trọng. Cuối cùng các anh lại đổi tiền, để thừa dịp cướp bóc công khai giữa ban ngày.

36 năm rồi, các anh đã làm gì cho đất nước, hay chỉ thêm hoang tàn đổ nát, nghèo khổ và thất vọng. Các anh đã biến VN thành nước lạc hậu và nghèo nhất thế giới, phải ngửa tay đi xin khắp nơi trên thế giới. Các anh đã bán đất bán biển cuả tiền nhân tổ tiên cho Tàu Cộng, các anh nịnh nọt, đút lót cho kẻ thù, các anh hèn hạ gọi kẻ thù từng đô hộ mình cả ngàn năm là quan thầy, là mẫu quốc. Các anh còn biết xấu hổ hay không?

Các anh sợ mất Đảng, mất chỗ đứng mà không sợ mất nước. 36 năm rồi các anh vẫn còn nguyền ruả Mỹ, Ngụy. Các anh chửi họ là bọn Nguỵ quân, ngụy quyền, bọn Diệm Nhu, Thiệu kỳ…là bọn phản động, tay sai cho ngoại bang…chỉ biết ăn canh thừa, cá cặn cuả đế quốc…Các anh, cũng như các tờ báo lề phải không ngừng đả kích, chửi bới những người mà các anh gọi là phản động, là tàn dư Mỹ ngụy..Như vậy làm sao các anh đòi hoà hợp hoà giải dân tộc, xoá bỏ hận thù để xây dựng đất nước được. Ai sẽ tin lời các anh, các anh muốn hoà hợp, hoà giải mà cứ chửi cha, chửi tổ tiên người ra, thì hoà giải cái nỗi gì.

Ngày 30/4 mỗi năm các anh tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng, thì hoà hợp ở đâu? Các anh đâu có thật sự muốn hoà giải. Các anh chỉ thích tiền và đô la cuả họ mà thôi. Các anh sợ 3 triệu Việt kiều Hải ngoại tạo phản, tạo áp lực với thế giới, nên phải vuốt ve, nịnh nọt Việt Kiều như khúc ruột ngàn dặm, để mỗi năm đám phản động đó gởi về cả chục tỷ mỹ kim cho các anh. Các anh hô hào, cổ võ cho Việt kiều về VN làm ăn, quê hương là chùm khế ngọt…Tất cả chỉ là dối trá và lường gạt mà thôi.

Thật vô phước cho đất nước VN. Mấy ngàn năm tổ tiên dựng nước thì tới thời CS là thời mạt kiếp. Tội lớn nhất cuả Hồ chí Minh là mang cái học thuyết CS ngoại lai, láo lếu, phi lý mất tính người vào VN, để rồi con dân VN chịu muôn vàn đau khổ.

Ôi đã 36 năm rồi, quê hương tôi còn đọa dày cho tới bao giờ!!?? Biết đến bao giờ các bạn thanh niên, các trí thức còn u mê, mê man bất tỉnh mở mắt ra nhìn vào sự thật…Giờ phút này có bao nhiêu triệu người đang ăn mừng ngày 30/4 tưng bừng náo nhiệt, và cũng có bao nhiêu người ngậm ngùi làm lễ giỗ cho vợ chồng,cha mẹ, hay anh em cuả họ…Như vậy có nên hoà hợp, hoà giải hay không? Tôi tin rằng 3 triệu người Việt lưu vong sẽ sẵn lòng độ lượng và tha thứ cho tất cả những nỗi nhục nhằn, cay đắng mà họ đã gánh chịu vì CS, nhưng họ không bao giờ quên. Họ nhớ để ôn cố tri tân, để không đi vào vết xe lịch sử cũ.

Hoàng dược Sư
30/4/2011.

—————————————————————————————————————————————————-

Bài 5

Trần Hoàng điểm lại một số ý kiến về Chiến Tranh Việt Nam

1./ Nhiều sách báo và tài liệu gần đây cho thấy rằng Tổng thống Nixon và phụ tá Kissinger đã ép buộc VNCH ký kết hiệp định Paris 27-1-1973 kết quả là đã đưa tới sụp đổ miền Nam.

Nay nhiều bí mật khác nữa đã được tiết lộ, việc Mỹ cắt giảm quân viện cho miền Nam mới là nguyên nhân chính. Bản tin Việt Ngữ đài VOA ngày 2-7-2007 cho biết cựu Bộ trưởng quốc phòng Laird, thời Nixon lên tiếng cho biết VNCH thua trận vì bị Mỹ cắt viện trợ.

Cụ thể, tiền quân viện của Mỹ dành cho miền Nam đã giảm dần từ sau năm 1973:

– Tài khóa 1973: hai tỷ mốt (2,1 tỷ)

– Tài khóa 1974: một tỷ tư (1,4 tỷ), giảm 33% so với năm trước

– Tài khóa 1975: bẩy trăm triệu (0,7 tỷ), giảm 66% so với năm 1973.

Trong thời gian nầy, cuộc khủng hoảng dầu lửa đã làm giá xăng dầu tăng lên gấp bốn lần. Bởi vậy ngân khoản năm 1975 ấy chỉ có giá trị mãi lực trên dưới 350 triệu. Khoản quân viện 350 triệu vào năm 1975 đã thua kém quân viện cho miền Nam hồi năm 1963 là 384 triệu đô la.

Đại tướng  Cao Văn Viên nói: Vào tháng 1 năm 1975, quân đội miền Nam chỉ còn đủ số đạn được để đánh nhau trong 3 tuần. TT Nguyễn văn Thiệu lên truyền hình nói: Vì hết thuốc men và dụng cụ y tế, thậm chí ở các bệnh viện, các bác sĩ và y tá quân đội phải giặt lại các băng bông y tế cho sạch máu, để băng lại cho những chiến sĩ bị thương. Về đạn dược, mỗi khẩu súng đại bác chỉ được bắn 2 quả mỗi ngày.

Trong khi đó, CSVN đã tiết lộ trong một buổi hội thảo qui mô tại Sài Gòn ngày 14-4 và 15-4-2006 (theo BBC.com) trong giai đoạn 1961-1964 CS quốc tế viện trợ cho miền Bắc 70,295 tấn hàng quân sự. Và trong giai đoạn 1965-1975, viện trợ ấy đã tăng lên 724,512 tấn hàng hóa quân sự, tức là viện trợ gia tăng gấp hơn 10 lần.

Trong khi đó, Trung Quốc và Liên Xô tranh nhau tăng viện trợ để dành ảnh hưởng của CSVN.

Trung Quốc viện trợ 2 tỷ đô la mỗi năm, tổng viện trợ của Trung Quốc dành cho Miền Bắc là 20 tỷ.  Và Liên Xô viện trợ còn hơn thế nữa, nhưng chỉ tiết lộ 11,5 tỷ đô la ►Năm 1989, Trung Quốc lần đầu tiên thừa nhân gởi 320.000 quân qua tham chiến ở Việt Nam trong năm 1965-1968 và viện trợ Hà Nội 20 tỷ đô la – Liên Xô viện trợ 11 tỷ đô la

So sánh viện trợ quân sự cho miền Bắc và miền Nam ta có thể đoán đã có sự xếp đặt ngầm của các siêu cường.

2./ Cựu Trung Tướng Tôn Thất Đính đã ghi lại nhận xét của ông Ngô Đình Nhu từ đầu thập niên 60 về chiến lược toàn cầu của Mỹ như sau:

Nếu tụi nó (Mỹ) nhảy vô để chiến thắng Cộng Sản như ở Triều Tiên, bất kể một cuộc can thiệp của Tầu hay… đệ tam thế chiến, thì mình cũng để cho tụi nó thử sức với Cộng sản xem sao, chứ ở đây mục đích của tụi nó là tìm một thế ‘sống chung nào đó’ với Cộng Sản, thì đánh để làm chi, rốt cuộc cũng chỉ như rứa? Con đường của Hoa Thịnh Đốn muốn đi tới là Bắc Kinh, mình chỉ là vật tế thần ‘cục kê’ của tụi nó’.

Để rồi tướng Đính kết luận: ‘Nhận định đó đến thập niên 1970 đã trở thành sự thật và khi Nixon bắt tay được với Mao Trạch Đông, thì tiền đồn chống Cộng của VNCH đã hết ý nghĩa, và do đó Hoa Thịnh Đốn phải thu xếp để chấm dứt một cuộc chiến tranh không còn cần thiết mặc cho nền hoà bình này đã làm sỉ nhục tính cách siêu cường của Mỹ và đẩy miền Nam vào địa ngục của Cộng Sản Hà Nội”

Trích: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, trang 635, của tác giả Nguyễn Đức Phương.

Nguyễn Đức Phương kết luận.

Như vậy cả hai miền Nam, bắc Việt Nam đều không nhìn thấy được chính sách ngoại giao của Mỹ từ đầu thập niên 70 để tiếp tục cuộc chém giết. Mùa hè năm 1972 không cần thiết phải là một mùa hè rực lửa. Những trận đánh đẫm máu tại Cửa Việt, tại Sa Huỳnh đã hầu như vô nghĩa. Hiệp định Ba lê chỉ là một biên lai để khách hành nhận lại tù binh và đoạn chiến. Số phận của VNCH đã được định đoạt từ lâu và cũng không phải tại chiến trường.” CTVNTT trang 635, 636.

Ông Ngô Đình Nhu quả là một nhân vật chính trị sáng suốt. Cả vài trăm năm trước đó và phải mất cả 100 năm sau, nước ta mới có một nhân vật có tầm nhìn chính trị như  ông Nhu.  Với câu nói trên, ngay từ năm 1960, ông Nhu đã nhìn thấy được các diễn biến của chính trị Mỹ và TQ  phải diễn ra theo con đường đó; và ngay lúc ấy, Bộ Quốc Phòng và nước Mỹ cũng chưa nhận ra bước đi này, cho mãi tới 1971-1972, khi TT Nixon hòa hoãn với Trung Cộng để bao vây Liên Xô và mở ra sự hợp tác Mỹ và Trung Quốc trong các thập niên 1970s-2000s và cho đến nay. (theo nhận định của Trần Hoàng)

Ông Nguyễn Tiến Hưng cũng nói.

Kể từ ngày TT Nixon bắt tay được với Trung Quốc thì giá trị của Miền Nam để ‘ngăn chặn làn sóng đỏ’ đã không còn là bao nhiêu trong những tính toán của Mỹ về hơn thiệt (cost-benefits). Dần dần, Miền Nam đã hết vai trò một tiền đồn của thế giới Tự Do. Và như vậy, vấn đề còn lại đối với Mỹ thì chỉ là làm sao rút ra được cho êm thắm, ít bị tổn hại về uy tín là được rồi” Khi Đồng Minh Tháo Chạy, trang 456, 457.

Những người hoạch định chiến lược Mỹ không phải là những nhà quân sự mà là các chính trị gia, họ họach định với thái độ do dự và lo sợ nên các kế hoạch công phá địch đã bị vô hiệu. Nhiều người cũng đặt giả thuyết cho rằng các nhà chính trị Mỹ đã bị tư bản chi phối cố tình kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, giả thuyết đó dựa trên sự nghi ngờ người Mỹ giả vờ không đánh thắng được Việt Cộng để cù cưa kéo dài chiến tranh. Sự nghi ngờ này đã đưa tới những cuộc biểu tình chống chiến tranh tại Mỹ cũng như tại Việt Nam năm 1966 tại miền Trung mà hậu quả chỉ là có lợi cho CS.

Cuối năm 1969, cựu Tư Lệnh Wesmoreland tại Mỹ nói nếu Mỹ tiếp tục oanh tạc thì đã thắng rồi, Bắc Việt lợi dụng hoà đàm yêu cầu Mỹ ngưng oanh tạc hơn một năm nay để chuyển quân vào đánh tiếp. Ông Nguyễn Tiến Hưng cho rằng miền Nam sụp đổ vì đã quá phụ thuộc vào Mỹ từ Quốc phòng, kinh tế, giao thông, ăn, ở.. Ta cũng quá ỷ lại vào Mỹ, lúc nào cũng tin tưởng vào sự giúp đỡ của người bạn Đồng Minh .

Sự thực đây không phải là lần đầu tiên người Mỹ phản bội đồng minh , cái trò mua bán đổi chác, bỏ rơi đàn em đã có từ Thế Chiến Thứ hai cách đây đã hơn 60 năm.

Tháng 4-1945, tướng Patton Mỹ đánh Đức Quốc Xã tiến quân đến sát biên thùy Tiệp Khắc sắp vào giải phóng họ thì được lệnh phải dừng lại ngay lập tức vì Tiệp đã được nhường cho Nga. Sau này những bí mật đã được tiết lộ, sở dĩ Mỹ nhường Đông Âu cho Nga vì họ có nhờ Nga phụ giúp một tay đánh quân Nhật tại Á Châu. Họ có cho nghiên cứu làm bom nguyên tử nhưng không hy vọng gì lắm.

Cuối năm 1944, mặt trận Âu châu đã gần kết thúc nhưng tại Á châu, Nhật vẫn còn hơn 5 triệu quân đóng rải rác tại các nước Đông Nam Á, họ lại chiến đấu dai dẳng không chịu đầu hàng. Người Mỹ trù tính phải đánh một năm rưỡi hoặc hai năm mới xong, sẽ phải tốn nhiều xương máu, sinh mạng của tư bản quí như vàng. Muốn tiết kiệm xương máu nhân dân, họ chỉ còn cách đem Đông Âu ra đánh đổi và Staline nhận lời ngay vì sinh mạng dân Xã hội chủ nghĩa lại rẻ như bèo. Nhà văn Lỗ Ma Ni, Constantin Virgil Gheorghiu trong cuốn truyện Les Sacrifíés du Danube đã diễn tả nỗi đau đớn uất hận của 150 triệu người Đông Âu tan gia bại sản đã bị Hoa Kỳ bán đứng cho CS để cứu vớt nền văn minh Tây Âu.

Một thí dụ nữa về sự phản bội đồng minh mà người Mỹ từng làm. Cuối năm 1948 Tưởng Giới Thạch mất Mãn Châu, ngày 7-10-1948 Hồng quân đại thắng ở Hoa Bắc, hai hôm sau Tưởng Giới thạch xin Mỹ viện trợ để cứu nguy tình thế quá hiểm nghèo nhưng không được đáp ứng. Đầu tháng 12-1948 Tưởng phu nhân bà Tống Mỹ Linh đích thân sang Mỹ cầu viện nhưng họ lờ đi. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa Dân Quốc không thương tiếc vì trước đây họ giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, Tưởng đã cầm chân được một số lớn quân Nhật, nay đế quốc Nhật tan tành thành tro bụi, Tưởng không còn là đồng minh cần thiết nữa.

Hoa Kỳ bỏ rơi Trung Hoa mang lại hậu quả tai hại cho cả Á Châu, Trung Cộng nhuộm đỏ nước Tầu rồi trở thành mối đe dọa cho Hoa Kỳ, cho nền hoà bình thế giới và bây giờ vẫn còn đe dọa, cái giá mà Hoa kỳ phải trả cho sự bỏ rơi này muôn đời không bao giờ hết.

Và để rồi gần 30 năm sau, tháng tư 1975 họ lại dở cái trò vắt chanh bỏ vỏ ấy tại Việt Nam.

(Gần đây nhất là vào năm 1979,  người đồng minh Mỹ đã phản bội Đài Loan. Giới chính trị gia và tư bản Mỹ hy vọng rằng họ sẽ  nhiều quyền lợi kinh tế hơn một khi họ giao thiệp được với Trung Quốc, Năm 1979, Mỹ đã đóng cửa tòa đại sứ và ngưng bang giao với Đài Loan, không công nhận Đài Loan trên chính trường quốc tế, rồi đẩy Đài Loan ra khỏi Liên  Hiệp Quốc.  Cùng lúc ấy Mỹ quay sang công nhận và hổ trợ cho Trung Quốc vào  Liên Hiệp  Quốc).

Người Mỹ có được lợi lộc gì trong cuộc chiến tranh Việt Nam hay chỉ toàn là thiệt hại, dĩ nhiên có. Trước mắt họ đã ngăn chận được cuộc chiến tranh theo kiểu tầm ăn dâu của Trung Cộng tại Á Châu, sự phản ứng quyết liệt đã khiến khối Cộng sản chùn bước. Mỹ đã bắt tay hoà hoãn được với Trung Cộng, ít ra họ cũng yên tâm thoát khỏi sự đe dọa an ninh cho đất nước.

Việt Nguyên trong bài “ 32 Năm Lật Trang Sử Cũ” cho biết Trung Cộng đã viện trợ cho Bắc Việt 20 tỷ Mỹ kim trong suốt cuộc chiến tranh từ 1950 -1975, đúng như Trần Phan Anh nói trong Trận Chiến Mùa Hè năm 1972: “QVNCH đã cầm chân và tiêu diệt phần lớn năng lực và tài nguyên của khối Cộng Sản vào cuộc chiến tranh. Họ đã tạo thời giờ quí báu cho Khối Tự Do phát triển kinh tế và củng cố hàng ngũ. Kết cuộc họ đã bị trói tay để đưa đến thảm trạng 30 tháng 4 năm 1975”


Người Mỹ nói họ thiệt hại 300 tỷ Mỹ kim, không phải rằng họ cho miền Nam VN số tiền khổng lồ ấy, mà tiền chiến phí cho chiến tranh VN là một chi phí tổng gộp bao gồm cả việc trả lương lính Mỹ, nhân viên quốc phòng Mỹ, cố vấn Mỹ, công nhân chế tạo vũ khí người Mỹ, chi phí di chuyển… những khoản tiền ấy lưu hành và chi tiêu trong phạm vi kinh tế, lãnh thổ nước Mỹ hơn là ra ngoại quốc.

Chính phủ miền Nam VN chỉ nhận được chừng 2 tỉ đô la mỗi năm.

Mỹ chỉ viện trợ cho quân đội Miền Nam những vũ khí của thế chiến thứ II. Tính cho đến năm 1971, chỉ trừ 3 sư đoàn TQLC, sư đoàn Nhảy Dù, các liên đoàn Biệt Động Quân là được trang bị súng tự động AR 15 hoặc M 16. 

Hơn 10 sư đoàn còn lại và lính địa phương quân, nghĩa quân, xây dựng nông thôn… chỉ được trang bị súng carbin M1, súng garrant, tiểu liên Thompson… là các vũ khí thời thế chiến thứ 2 hoặc của thế chiến thứ nhất còn sót lại trong kho. Khi quân đội Mỹ trang bị mới cho các đơn vị của họ, họ đã thải ra các vũ khí cũ và đem cho quân đội miền Nam sử dụng.

Nước Mỹ khóc lóc thảm thương cho 58 ngàn người lính của họ đã chết tại VN, nhưng họ không hề đoái thương tới hàng 5 triệu người Việt Nam và nhiều triệu người Kampuchia và Lào đã chết vì bị các thế lực siêu cường xúi cho người ta giết lẫn nhau. Người Mỹ cũng không hề thương tiếc cho 4 triệu người dân Miên vô tội đã bị Khmer đỏ tàn sát vì Mỹ đã bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn vào năm 1975.

Ông Nguyễn Tiến Hưng nói Hoa Kỳ bỏ Việt Nam vì quyền lợi của họ tại đây không còn nữa.

nguồn: Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh của Trọng Đạt

Các ý kiến khác về chiến tranh Việt Nam như sau:

*“Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc… ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi VN !”- (Tổng bí thư Cộng sản Lê Duẩn- 1976).

*  “Chỉ có Việt Nam là khốn khổ vì chiến tranh tàn phá suốt 29 năm trời ( 1946-75) là bởi Cộng sản Việt Nam đã đưa vận mệnh của nước Việt Nam ràng buộc vào sự sống còn và quyền lợi của phe Cộng sản quốc tế ” – (Thượng toạ Thích Quảng Độ).

* “Cuộc chiến giải phóng miền Nam là cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc”- ( Nhà văn Dương Thu Hương).

* ” Cái động lực gây nên cuộc chiến đó chính là chủ nghĩa cộng sản: “Đấy chính là một tà giáo đại bịp nhất trong lịch sử loài người mà những tên lãnh tụ tối cao của chúng dựa vào đó để gây chiến tranh nồi da xáo thịt, để tiến hành âm mưu hiểm độc tiêu diệt mọi lòng tin khác, mọi nhận thức, mọi tình cảm, mọi tình yêu, kể cả lòng yêu nước của con người!”- ( Nhà văn Tô Hoài)

____________________

►Sài Gòn đã giải phóng tôi

Nguyễn Quang Lập

30-4-2016

nguyenquanglap00

LTSBài của tác giả Nguyễn Quang Lập đã được phổ biến trên facebook cách đây đúng một năm nhân ngày 30/4.

Tác giả nói lên cảm xúc của mình một cách chân thật khi vào được SàiGòn và khám phá sự thật ai đã giải phóng mình.

******************

 

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “ triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ dành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan (cho anh phát súng tim anh nát/nhưng anh tin số phận anh còn), tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

Nguyễn Quang Lập
Nguồn:facebook.com/notes

____________

 

“…ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.”

 

Mấy lời của tác giả

Bên Thắng Cuộc

IMG_6962

Huy Đức-

Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ, nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm.

Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.

Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối.

Nhưng hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi. Hàng chục năm sau, tôi vẫn nhớ hai chữ “chạy suốt” bay bướm, sặc sỡ sơn hai bên thành xe. Cho tới lúc ấy, thứ tiếng Việt khổ lớn mà chúng tôi nhìn thấy chỉ là những chữ in hoa cứng rắn viết trên những băng khẩu hiệu kêu gọi xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh Mỹ.

Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa – biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe – buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.

Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày [ 1], Thép Đã Tôi Thế Đấy [ 2]. Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.

Tôi vẫn ở lại miền Bắc, chứng kiến thanh niên quê tôi đắp đập, đào kênh trong những năm “cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, chứng kiến khát vọng “thay trời, đổi đất, sắp đặt lại giang san” của những người vừa chiến thắng trong cuộc chiến ở miền Nam, rồi chứng kiến cũng những con kênh đó không những vô dụng với chủ nghĩa xã hội mà còn gây úng lụt quê tôi mỗi mùa mưa tới.

Năm 1983, tôi có một năm huấn luyện ở Sài Gòn trước khi được đưa tới Campuchia làm chuyên gia quân sự. Trong một năm ấy, hai cô em gái của Trần Ngọc Phong [ 3], một người bạn học chung ở trường sỹ quan, hàng tuần mang tới cho tôi bốn, năm cuốn sách. Tôi bắt đầu biết đến rạp chiếu bóng, Nhạc viện và sân khấu ca nhạc. Cho dù đã kiệt quệ sau tám năm “giải phóng”, Sài Gòn với tôi vẫn là một “nền văn minh”. Những năm ấy, góc phố nào cũng có mấy bác xích lô vừa mỏi mòn đợi khách vừa kín đáo đọc sách. Họ mới ở trong các trại cải tạo trở về. Tôi bắt đầu tìm hiểu Sài Gòn từ câu chuyện của những bác xích lô quen như vậy.

Mùa hè năm 1997, một nhóm phóng viên vì nhiều lý do phải rời khỏi tờ báo Tuổi Trẻ, gồm Đoàn Khắc Xuyên, Đặng Tâm Chánh, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Tuấn Khanh, Huỳnh Thanh Diệu, Huy Đức. Chúng tôi thường xuyên gặp gỡ, chia sẻ và trao đổi với các đồng nghiệp như Thúy Nga, Minh Hiền, Thế Thanh, Phan Xuân Loan… Thế Thanh lúc ấy cũng vừa bị buộc thôi chức tổng biên tập báo Phụ Nữ Thành Phố, và cũng như Tổng Biên tập báo Tuổi Trẻ Kim Hạnh trước đó, chị không được tiếp tục nghề báo mà mình yêu thích.

Chúng tôi nói rất nhiều về thế sự, về những gì xảy ra trên thế giới và ở đất nước mình. Một hôm ở nhà Đỗ Trung Quân, nhà báo Tuấn Khanh, người vừa gặp rắc rối sau một bài báo khen ngợi ca sỹ bị coi là chống cộng Khánh Ly, buột miệng nói với tôi: “Anh phải viết lại những gì diễn ra ở đất nước này, đấy là lịch sử”. Không ai để ý đến câu nói này của Tuấn Khanh, nhưng tôi lại bị nó đeo bám. Tôi tiếp tục công việc thu thập tư liệu với một quyết tâm cụ thể hơn: Tái hiện giai đoạn lịch sử đầy bi kịch của Việt Nam sau năm 1975 trong một cuốn sách.

Rất nhiều thế hệ, kể cả con em của những người đã từng phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hòa, sau ngày 30-4-1975 đã trở thành sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Nhiều người không biết một cách chắc chắn điều gì đã thực sự xảy ra thậm chí với ngay chính cha mẹ mình.

Không chỉ thường dân, cho đến đầu thập niên 1980, nhiều chính sách làm thay đổi số phận của hàng triệu sinh linh như “Phương án II”[ 4] , như “Z30”[ 5] cũng chỉ được quyết định bởi một vài cá nhân, nhiều người là ủy viên Bộ Chính trị cũng không được biết. Nội bộ người Việt Nam đã có nhiều đụng độ, tranh cãi không cần thiết vì chỉ có thể tiếp cận với lịch sử qua những thông tin được cung cấp bởi nhà trường và bộ máy tuyên truyền. Không chỉ các thường dân, tôi tin, những người cộng sản có lương tri cũng sẽ đón nhận sự thật một cách có trách nhiệm.

Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975 – ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.

Tác phẩm Bên Thắng Cuộc, quyển I: Giải Phóng, Tác giả Huy Ðức – OsinBook xuất bản, 2012

 

_____________________

(còn cập nhật thêm)

Posted in Chien Tranh Viet Nam, Phỏng Vấn | Tagged: , , | 9 Comments »