Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Năng Lượng và Mỏ’ Category

►Khai thác Dầu đã Suy Kiệt: Lời cảnh báo từ mỏ dầu lớn nhất Việt Nam–Việc khai thác dầu khí của PVN từ nay chỉ còn 1/3 — 1/2 so với các năm 2009-2014

Posted by hoangtran204 trên 18/01/2018

Trước đây, 2009-2014, mỗi năm PVN khai thác 16 triệu tấn dầu và 10 triệu tấn khí đốt. Tổng cộng chừng 24 triệu tấn qui dầu.

Hai năm qua, việc khai thác dầu thô chỉ còn 6-10 triệu tấn mỗi năm. Thời kỳ hoàng kim của dầu thô đã qua rồi. Lúc giàu không chịu để dành, thi nhau vung phí. Nay đã nghèo, không còn tiền nên các phe phái đánh nhau, đưa nhau ra tòa.  

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Bắc Kinh lại phản đối Việt Nam mời Ấn Độ khai thác dầu khí Biển Đông (12-1-2018)

Posted by hoangtran204 trên 13/01/2018

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Tập đoàn Dầu khí tổng kết 2017– nộp ngân sách 97.000 tỷ đồng(9-1-2017)

Posted by hoangtran204 trên 11/01/2018

Giá thành khai thác trung bình một thùng dầu năm 2016 là 23,8USD/1 thùng. 

Giá bán một thùng dầu thô trung bình là 48 đôla/1 thùng.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Tính đến hết tháng 10/2016, tổng sản lượng khai thác dầu khí của PVN đạt gần 490 triệu tấn dầu quy đổi (trong đó có trên 367 triệu tấn dầu và gần 122 tỷ m3 khí), doanh thu bán dầu đạt trên 148 tỷ USD,

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2017

1 tấn dầu thô = 7 thùng dầu (trên 7 thùng)

Lấy tỷ trọng dầu = 0.88 kg/1 lít

490 triệu tấn dầu thô = 3.591.700.000 thùng dầu thô. 

Gần 3 tỷ 600 triệu thùng dầu đã được PVN khai thác trong 30 năm qua. Dầu thô nằm ở ngoài khơi Vũng Tàu. Miền Bắc VN không có mỏ dầu và mỏ khí đốt.

CS chiếm được miền Nam 1975 là cướp được cả vựa lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long và chiếm được mỏ dầu ở ngoài khơi Vũng tàu. Người dân miền Nam không mấy ai xin vào làm việc cho tập đoàn Dầu Khí PVN. Nơi đây, lương công nhân dầu khí tối thiểu 8 triệu-15 triệu mỗi tháng. (2012). Cuối năm, còn được thưởng một số tiền khủng. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Bí thư Lạng Sơn giữ chức Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí PVN (24-12-2017)

Posted by hoangtran204 trên 30/12/2017

Từng là Bí thư hoặc phó Bí thư hai tỉnh nghèo nhất nước: Đăk Lăk và Lạng Sơn, nay Trần Sỹ Thanh được làm xếp một tập đoàn giàu có, tham ô, tham nhũng nhất nước. 

Trần Sỹ Thanh (s. 1971), quê Thanh Chương, tỉnh  Nghệ An.[1][2], quê gốc tại Nam Định. Năm 40 tuổi đã là ủy viên trung ương đảng (2011), có bằng đại học tài chính kế toán.

Theo đài BBC tiếng Việt, T.S. Thanh là cháu của CT Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng.[3]

Cứ bổ nhiệm mấy cán bộ Thanh Nghệ Tỉnh, Nam Định để chúng phá tan tành kinh tế tài chính cả nước.

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Châu Âu cầm cự được bao lâu nếu thiếu khí đốt của Nga? — Châu âu lệ thuộc vào năng lượng khí đốt của Nga (16-12-2017)

Posted by hoangtran204 trên 17/12/2017

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Đất nhiễm mặn vì bãi tro xỉ nhiệt điện Vĩnh Tân 2, dân khốn đốn

Posted by hoangtran204 trên 24/11/2017

Năm 2019, mỗi năm Sẽ có 13 triệu tấn xỉ tro ở 7 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. 

Nếu xây dựng nhà máy điện chạy bằng khí đốt, thì sẽ không lo chuyện xỉ than thải ra. Giá khí đốt rẻ hơn 20% giá than hiện đang khai thác ở Quảng Ninh,  Việt Nam theo tin của ExxonMobil.

VN sản suất 10 tỷ tấn khí đốt mỗi năm, nhưng bọn chúng bán khí đốt để chia nhau. 

Sau đó, nhập than mua ở TQ về để chạy máy Nhiệt điện than do TQ chế tạo, lắp ráp máy ở VN để được tiền hoa 10% mua máy, và 10% hoa hồng mua than của TQ. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Tại sao ExxonMobil tuyên bố hoãn dự án khoan dầu tại biển Đông ngay trong Hội nghị APEC?

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2017

 

Trần Hoàng: Được biết, sự chia chác như sau: ExxonMobil hưởng 65%, Tập đoàn PVN được 35%.

ông Vuving cũng nói rằng có thể phía Việt Nam đã chủ động yêu cầu ExxonMobil tạm dừng dự án hợp tác.

Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales, chuyên gia về vấn đề biển Đông, cho rằng Hà Nội lo ngại lại phải đối mặt với đe dọa quân sự từ Bắc Kinh.

Reuters: vào tháng 7 vừa qua Trung Quốc đã đe dọa tấn công và các căn cứ quân sự của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa nếu Hà Nội tiếp tục cho phép các đối tác nước ngoài khai thác khí đốt trên biển Đông.

Người dân VN hoàn toàn không được hưởng lợi gì hết, vì cũng giống như PVN khai thác 550.000 thùng dầu/ 1 ngày ngoài khơi Vũng tàu từ 1996- 2017, nhưng người VN vẫn phải mua xăng với giá gần gấp 2 lần giá xăng bán tại Mỹ. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Chủ tịch Exxon Mobil: Dự án Cá Voi Xanh sẽ chính thức khởi động cuối năm 2019 – năm 2023 sẽ có khí đốt

Posted by hoangtran204 trên 19/11/2017

Hãng ExxonMobil đã tìm kiếm thăm dò dầu khí tại Việt Nam 2011. 

Hôm 10/10/2017 vừa qua, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đề nghị Bộ Công Thương, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và ExxonMobil đẩy nhanh tiến độ đàm phán...  Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng… khẳng định Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để  Có thể đón khí từ mỏ Cá Voi Xanh vào năm 2023    (11/10/2017)

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►THOÁT LŨ, THẮNG LŨ, TẠI SAO KHÔNG?

Posted by hoangtran204 trên 11/11/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Một loạt nguyên lãnh đạo PVN, Vinatex bị PHÊ BÌNH nghiêm khắc (1-11-2017)

Posted by hoangtran204 trên 02/11/2017

Cướp rồi chia nhau trong bóng tối quyền lực nên không dám đưa ra nguồn tiền bán 2 tỷ thùng dầu đã được sử dụng như thế nào. 

Trong báo cáo tổng kết của PVN vào giữa tháng 1/2012 (đang tìm lại nguồn dẫn link), PVN đã cho biết: tổng cộng trong gần 20 năm khai thác dầu, PVN đã khai thác được: 256 triệu tấn qui dầu tính đến 31-12-2012.

Số lượng này rất lớn,  tương đương với gần 2 tỷ thùng dầu thô (chính xác là 1.901.052.593 thùng).

(Mỗi thùng dầu thô có thể tích trung bình 160-180 lít, tuỳ theo tỷ trọng và nhiệt độ.) 

Khai thác 2 tỷ thùng dầu thô mà dân chúng Việt Nam chẳng hưởng được chút gì. Thêm vào đó, chúng nhập khẩu xăng từ Singapore và Hàn Quốc đem về (cộng thêm thuế, phí và) bán lại với giá gấp 2 lần giá xăng mua ở Mỹ.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Bị dư luận hỏi dồn, Bộ trưởng tiết lộ: Nếu không đổ bùn xuống biển, mỗi ngày VN phải nộp cho Trung Quốc $620000 USD!!

Posted by hoangtran204 trên 05/08/2017

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Repsol xác nhận đã ngừng thăm dò dầu khí tại Biển Đông (đài RFI, 3-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 04/08/2017

RFI

Giá Hưng

3-8-2017

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►”Cần vạch trần âm mưu báo chí hoặc thế lực nước ngoài bôi nhọ Việt Nam” (Vũ Hải Trần, 27-7-2017)

Posted by hoangtran204 trên 28/07/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Xa Hoi, Dầu Hỏa và Khí đốt, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Trung Quốc hăm dọa – Việt Nam ngừng khoan dầu ở Biển Đông (BBC 24-7-2017)

Posted by hoangtran204 trên 24/07/2017

BBC News

Bill Hayton

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ, Thời Sự | Leave a Comment »

►Biển Đông: Việt Nam dùng dầu khí công phá đường lưỡi bò Trung Quốc (RFI 7-7-2017)

Posted by hoangtran204 trên 09/07/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Chuyên gia Phạm Chi Lan: Hăng hái làm điện than, Việt Nam đi ngược với thế giới (07/07/2017)

Posted by hoangtran204 trên 08/07/2017

2017, TQ đã nhất quyết loại bỏ nhà máy nhiệt điện chạy bằng than đá, do chúng gây ô nhiễm mới môi trường nặng nề. Bầu trời và các thành phố TQ có màu đen, sương mù do ô nhiễm che kín không nhìn thấy ánh mặt trời, mưa acid, ung thư, bệnh đường hô hấp, tai, mũi họng, mắt… xỉ than gây ô nhiễm nước uống… 28.000 con sông trên tổng số hơn 50.000 sông ở TQ đã chết vì cạn dòng nước, ô nhiễm.

 

Đọc tiếp »

Posted in nhóm lợi ích, Năng Lượng và Mỏ, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Trung Quốc kéo giàn khoan thứ hai vào biển Đông (19-6-2017)

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Trung Quốc kéo giàn khoan thứ hai vào biển Đông (19-6-2017)

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Exxon Mobil ký thỏa thuận khí đốt với Việt Nam – Cá Voi Xanh (lot 118)- Quãng Ngãi

Posted by hoangtran204 trên 22/06/2017

(Trần Hoàng) Đây là cách Mỹ trở lại Việt Nam. Khả năng Mỹ thuê Cảng Cam Ranh sẽ được công bố.

Hợp tác khai thác khí đốt trị giá 20 tỷ USD, sẽ đặt xong đường ống dẫn khí 2023. Ống dẫn khí nằm dưới biển, cách Quãng Ngãi 77 km, chạy vào bờ biển VN.

 

Đọc tiếp »

Posted in chính trị Hoa Kỳ ở Châu Á, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Ấn Độ hủy bỏ nhiều dự án xây nhà máy điện chạy bằng than, bởi điện mặt trời đã trở nên dư thừa và quá rẻ

Posted by hoangtran204 trên 07/06/2017

Thứ hai, 05/06/2017 | 79,376 lượt xem

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Xuất khẩu dầu của Mỹ tăng kỷ lục khi OPEC tiếp tục cắt giảm sản lượng (4-6-2017)

Posted by hoangtran204 trên 05/06/2017

Chính phủ Mỹ cũng báo cáo rằng sản xuất dầu thô trong nước đã tăng lên mức 9,34 triệu thùng/ngày từ mức 9,32 triệu thùng vào tuần trước đó, một dấu hiệu cho thấy các nhà sản xuất dầu đá phiến tiếp tục tăng sản lượng ngay cả khi giá dầu quẩn quanh ở mức dưới 50 USD/thùng.
các nhà máy lọc dầu của Mỹ cũng gia tăng sản lượng, đạt mức kỷ lục 17,51 triệu thùng/ngày vào tuần trước…
4-6-2017

Đọc tiếp »

Posted in Kinh Te, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Ông trùm nạo vét cát thao túng quan chức Bộ GTVT như thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2017

Lao Động 10/04/17 

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Vì sao ông Đinh La Thăng bị kỷ luật? Bị đuổi khỏi Bộ chính trị- Giá dầu hạ thấp chỉ còn 1/2

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2017

(Chuyện Dầu Khí thua lỗ, ai cũng biết, nhưng bây giờ mới khui ra và kỷ luật là lý do tại sao? Có đòi lại được nhiều tỷ đô la bị mất mát thua lỗ không?
Do giá dầu hiện nay chỉ còn $47 đô la một thùng, so với giá dầu (100-147 đô la) thời Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Xuân Sơn và Phùng Đình Thực làm, nên nhóm cầm quyền dầu khí PVN mới lên 2016 đã không có đủ tiền chung chi tiền bán dầu cho cấp trên; bị chất vấn, chúng đưa ra chuyện tiền bạc bị mất mát hồi trước 2016!
Tính theo tổng doanh thu, thời  Đinh La Thăng làm xếp PVN 2006-2011,
Sau khi loại Thăng, 18 ủy viên Bộ chính trị còn lại đang tìm cách nói xấu và loại nhau để ngoi lên. 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Năng Lượng và Mỏ, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Tập đoàn Dầu khí “đầu tư” và mất hàng chục ngàn tỷ đồng ở Venezuela

Posted by hoangtran204 trên 03/05/2017

PVN làm nhiệm vụ kinh tài cho đảng CsVN. Đứng đầu PVN là một ủy viên trung ương đảng. Tiền bán dầu 400.000 thùng mỗi ngày, và tiền bán ga (khí đốt) 10 tỷ mét khối/ năm có tổng doanh thu khoảng 37 tỷ đô/năm. Đảng làm chủ các mỏ dầu khí ngoài khơi Vũng Tàu và Nam Côn Sơn. Người dân VN chưa từng được hưởng giá thấp khi mua xăng dầu và khí đốt như 18 quốc gia xuất khẩu dầu trong khối APEC Group.

Tất cả tiền bán dầu khí trong hơn 27 năm qua (kể từ 1992) đều chạy vào túi của các ủy viên Bộ Chính trị. Do giá dầu hạ thấp từ 2014 đến này, nên cả bọn ăn chia không đều. Bởi vậy, cả bọn đang đánh nhau. 

PVN mất trắng cả chục ngàn tỉ đồng ở Venezuela

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Người dân Miền Trung còn lại gì sau khi đập thủy điện xã lũ

Posted by hoangtran204 trên 08/11/2016

FB Bạch Hoàn

16-10-2016

Dân dỡ ngói chui lên nóc nhà thoát lũ. Ảnh: internet

Dân dỡ ngói chui lên nóc nhà thoát lũ. Ảnh: internet

Quảng Bình: 8.000 ngôi nhà bị ngập.

Hà Tĩnh: 24.158 ngôi nhà bị ngập.

Những tấm hình người dân đứng trên nóc nhà, bơi trong dòng nước lũ đục ngầu, tôi thấy có người vẫn cười. Có phải vì đã quá quen? Có phải vì bất lực mà cười trừ? Hay đó là những nụ cười trong cay đắng?

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Miền Bắc sau 30-4-1975: Đời sống nông dân, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Formosa ở Vũng Áng có thể tàn phá môi trường hàng trăm năm vì Dòng Chảy Acid Thải ra từ Khai Thác Mỏ Sắt và Làm Thép

Posted by hoangtran204 trên 10/10/2016

Lời dịch giả: Về việc Formosa gây ô nhiễm trên 200 km ven biển, đã có nhiều thông tin về nguyên do sự cố, phân tích khoa học v.v… nhưng lại thiếu thông tin phân tích về hệ lụy lâu dài. Qua hình ảnh và miêu tả nguyên nhân cá chết, có những dấu hiệu tương đồng với hiện tượng “dòng thải mỏ axit” trong hoạt động khai thác mỏ. Ví dụ, Kênh chứa nước thải đục ngầu của Formosa:

h1Nguồn ảnh: báo Người Đưa Tin

Trong một bài viết đăng trên trang Ba Sàm ngày 6-10-2016, TS Nguyễn Đức Thắng cho biết: “Cá ở 4 tỉnh miền Trung đã chết vì nước tầng đáy biển bị cạn kiệt oxy do sự cố Formosa Hà Tĩnh đã xả 2500 m3 nước thải của khâu súc, rửa, tẩy gỉ các hệ thống đường ống kim loại, có chứa khoảng 5 tấn cation sắt hai ( Fe2+), ‘phản ứng với’ oxy trong nước, làm cạn kiệt oxy vốn đã rất khan hiếm ở tầng đáy về ban đêm. Kết quả là đã tạo ra 9,6 tấn hydroxit sắt Fe(OH)3 không độc, mầu vàng nâu, còn tươi mới lắng đọng dưới đáy biển, thành màng rất mỏng, rải đều từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế”.

Để độc giả có khái niệm về khả năng tàn phá môi trường có thể xảy ra trong trường hợp Formosa có liên quan đến “dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ”, tôi xin mạo muội dịch bài “HARDROCK MINING: Acid Mine Drainage” của tác giả Alan Septoff, đăng trên báo Earth Works, phát hành năm 2005.

___________

Mỏ khoáng sản rắn: dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ

Earth Works

Tác giả: Alan Septoff

Dịch giả: Nguyễn Quan Tâm

16-12-2005

anhbasàm

Dòng thải mỏ axit – Acid mine drainage (AMD)

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ được coi là một trong mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho môi trường nước thiên nhiên (1). Hoạt động khai thác mỏ với dòng thải mỏ axit có tiềm năng tàn phá lâu dài tác động trên sông, suối và đời sống thủy sinh.

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hình thành như thế nào?

Dòng chảy axit thải ra từ khai thác mỏ là vấn đề lo ngại nghiêm trọng trong lãnh vực khai thác kim loại, vì mỏ kim loại ví dụ như vàng, đồng, bạc và molypden thường được tìm thấy trong đá với khoáng chất sulfide (ion lưu huỳnh S–). Trong quá trình khai thác khi ion lưu huỳnh sulfide tiếp xúc với nước và không khí chúng trở thành phản ứng hóa học tạo ra axit sulfuric, H2SO4. Chất axit sulfuric có thể làm tan chảy những kim loại độc trong đất đá xung quanh, tạo thành dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. Nếu không kiểm soát được, nước axit này có thể chảy vào suối, sông hoặc ngấm vào dòng nước ngầm. Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ có thể sinh ra từ bất kỳ giai đoạn nào trong hoạt động khai thác khi sulfide tiếp xúc với không khí và nước, bao gồm các đống đá thải, chất thải, mỏ hố, hầm ngầm, và đệm ngấm.

Thảm hại cho cá và các thủy sinh

Nếu chất thải của mỏ là axit, tác động hủy hoại cho cá, động vật và thực vật có thể rất nặng nề. Khi dòng nước thiên nhiên (pH=7), bị ô nhiễm bởi dòng chảy acid từ mỏ, độ pH sẽ giảm xuống pH=4  hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong bình ắc quy, pH =1 (2). Thực vật, động vật và cá khó sinh sống được trong môi trường như thế này. Ví dụ, dòng axit và kim loại tan chảy từ mỏ Questa molypden ở New Mexico đã tàn phá sinh học trong 13 km trên con sông Red River (3).

Kim loại độc

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ còn làm tan những kim loại độc hại như đồng, nhôm, cadmium, arsenic, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại này, đặc biệt là sắt, gây ô nhiễm môi trường qua lắng động thành một màng nhờn nhờn mầu cam-đỏ,lóng ở đáy dòng nước gọi là “yellowboy”. Cho dù với số lượng ít số kim loại tan này vẫn độc hại cho con người và sinh vật. Hơn nữa chất ô nhiễm theo dòng nước lan tràn ra một vùng rộng lớn gây hại cho thủy sinh từ chết cấp tốc cho đến ngộ độc từ từ, làm hại đến khả năng phát triển và sinh sản.

Vấn đề lo ngại đặc biệt là những kim loại tan này không phân hủy trong môi trường. Chúng tồn tại ở đáy dòng nước trong thời gian rất dài, làm ô nhiễm môi trường dài hạn cho hệ sinh thái (ví dụ: vi sinh vật bị ô nhiễm, cá nhỏ ăn vi sinh vật bị ô nhiễm, cá lớn ăn cá nhỏ bị ô nhiễm, con người ăn cá bị ô nhiễm).

Hơn 100 dặm trên sông Clark Fork ở Montana, sông Coeur d’Alene ở Idaho, và sông Columbia ở Washington bị ô nhiễm kim loại tan từ những hoạt động khai thác trước đây ở thượng nguồn.

Ô nhiễm vĩnh viễn

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ đặc biệt độc hại vì nó có thể tiếp tục tồn tại vô thời hạn, gây thiệt hại trong thời gian dài sau khi hoạt động khai thác đã chấm dứt (4). Do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ gây ô nhiễm chất lượng nước ở mức độ nghiêm trọng, nên nhiều mỏ ở Tây phương cần phải xử lý (lọc) nguồn nước vĩnh viễn. Ví dụ, các quan chức chính phủ đã xác định rằng dòng chảy acid thải ra từ khai thác tại mỏ Golden Sunlight sẽ tiếp tục tồn tại hàng ngàn năm (5). Cái giá xử lý nước là một gánh nặng kinh tế cho địa phương nếu công ty khai thác phá sản hoặc từ chối trang trải chi phí xử lý nước. Ví dụ,

  • Axit chảy tràn từ mỏ Summitville ở Colorado giết chết tất cả sinh học trong một đoạn 27 km trên sông Alamosa. Vùng này đã được chỉ định thành vùng Superfund của liên bang, và Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) của Mỹ phải chi tiêu $30.000/ một ngày (USD trị giá vào năm 2000) để xử lý ô nhiễm (6)
  • Tại bang South Dakota, công ty khai thác mỏ Dakota đã từ bỏ mỏ Brohm năm 1998, để lại South Dakota với $40 triệu chi phí trong việc xử lý và bình thường hóa môi trường sau khi những hoạt động khai quật – phần lớn là do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. (7)
  • Tại mỏ Zortman Landusky ở Montana, chính phủ tiểu bang Montana gánh chịu hàng triệu đô chi phí xử lý nước sau khi công ty Pegasus Gold Corp phá sản năm 1998 (8)

h2Mỏ axit thời Roman ở Anh vẫn tồn tại sau 2000 năm. Nguồn: Earth Works

Ngay cả với công nghệ hiện có, dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hầu như không thể ngăn chận lại được khi các phản ứng hóa học đã bắt đầu.

Việc cho phép khai thác mỏ có dòng chảy acid thải ra có nghĩa là đã xếp đặt các thế hệ tương lai sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý môi trường ô nhiễm có thể kéo dài đến hàng trăm năm. Dự đoán về sự thành công trong việc quản lý chất thải này trong dài hạn khả năng tốt nhất cũng chỉ là suy đoán (9)

Nguồn:

  1. USDA Forest Service 1993, Acid Mine Drainage from Impact of Hardrock Mining on the National Forests: A Management Challenge. Program Aid 1505. p. 12.
  2. Mineral Policy Center, Golden Dreams, Poisoned Streams, 1995.
  3. Atencio, Earnest, High Country News, “The mine that turned the Red River Blue,” August 2000.
  4. Placer Dome 2002, Available: http://www.placerdome.com/sustainability/environment/reports/ard.html
  5. Montana Department of Environmental Quality, Draft Environmental Impact Statement, Golden Sunlight Mine, November 1997.
  6. U.S. Environmental Protection Agency, Liquid Assets, 2000.
  7. McClure, Robert. “The Mining of the West: Profit and Pollution on Public Lands”. Seattle Post- Intelligencer, June 13, 2001.
  8. Ibid.
  9. Environmental Mining Council of B.C., Acid Mine Drainage: Mining and Water Pollution Issues in B.C., Brochure.

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ, Thực Phẩm và sức khỏe | Leave a Comment »

►Formosa thứ hai: Lộ diện nguy cơ Nhiệt điện Duyên Hải 1 tàn phá môi trường miền Tây- 4 tỉnh, đã có 15 nhà máy nhiệt điện chạy bằng than!

Posted by hoangtran204 trên 05/10/2016

 
2-10-2016
Bất ngờ khi Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã có buổi giám sát trực tiếp Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1, tỉnh Trà Vinh vào ngày 1/10 sau khi có phản ánh của cử tri.
 
Càng bất ngờ hơn, tại đây đoàn giám sát phát hiện hàng loạt bất thường tại công trình này. Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ các Nhà máy nhiệt điện tại ĐBSCL đã hiển diện rõ ràng.

Đọc tiếp »

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Nguy hiểm của Formosa và sự ngây ngô khó hiểu

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2016

Đảng và Nhà Nước cho Formosa thuê đất khai mỏ sắt 70 năm, hợp đồng ăn chia như thế nào, khai mau!

NGUY HIỂM CỦA FORMOSA VÀ SỰ NGÂY NGÔ KHÓ HIỂU !

9-6-2016

Thành Nam 

Bài viết sau đây của tác giả Thành Nam, một doanh nhân Khoáng sản và Luyện kim

Nếu buộc Formosa phải tách kim loại nặng ra khỏi chất thải thì Formosa sẽ lỗ vốn và sẽ phải đóng cửa. Nếu xả thải trên cạn, chi phí vận tải chất thải là 30 tỷ VND/tháng, quá lớn. Nếu tống tất cả ra biển: toàn bộ cá Biển Đông sẽ tuyệt chủng.

Với kinh nghiệm một doanh nghiệp đã từng làm về khoáng sản và luyện kim chúng tôi có một số nhận xét về Formosa như sau :

Với sản lượng thép của Formosa là 7.1 triệu tấn/năm. Vậy Formosa sẽ phải thải ra môi trường xung quanh một lượng chất thải rắn thấp nhất là 7,1 triệu tấn/năm, tức 600.000 tấn/tháng.

Thành phần của chất thải bao gồm: Đất đá + Các kim loại nặng ngoài sắt + Phốt pho, lưu huỳnh + hóa chất để lọc quặng. (Xin bạn hãy lưu ý: Trong quặng sắt bao giờ cũng chỉ có trên 50% là sắt còn lại là các tạp chất khác).

Nếu bố trí một mặt bằng rất lớn ở trên cạn và thành lập những núi thải lớn, thì Formosa cũng phải bố trí một đoàn xe hùng hậu để chở thải đi đổ, chi phí cho vận tải chất thải là 30 tỷ VND/tháng.

Nếu tống tất cả ra biển, chưa bàn đến ô nhiễm biển, cũng chưa tính toán kỹ các dòng hải lưu sẽ mang đi thì chỉ trong vài tháng, biển Hà Tĩnh chúng ta sẽ lội tới đầu gối. Cá chết ở miền Trung chỉ là chuyện nhỏ mà toàn bộ Biển Đông cá sẽ tuyệt chủng.

Nếu buộc Formosa phải tách các kim loại nặng & phốt-pho lưu huỳnh ra khỏi chất thải thì Formosa sẽ lỗ vốn và phải đóng cửa ngay sau khi có lệnh ban bố của Nhà nước.

Còn một vấn đề khác hết sức nghiêm trọng mà tôi thấy hình như người Việt Nam chưa ai quan tâm, đó là: Nếu để làm ra 7.1 triệu tấn thép trong một năm, vậy mỗi năm Formosa cần phải đốt hết, thấp nhất là 4 triệu tấn than cốc. Cả một lượng khí CO2 khổng lồ thải ra trên bầu trời Việt Nam, không biết Nhà nước tính toán tới vấn đề này chưa, và Formosa đã có hạn ngạch thải khí CO2 với quốc tế chưa?

Nếu buộc Formosa đóng cửa ngay lúc này, Nhà nước phải bồi thường 28 tỷ USD, đối với Việt Nam chúng ta là một việc quá sức vì hiện nay chúng ta đang phải đi vay mới để đảo nợ (hay trả nợ) cũ.

Có 03 điểm tôi xin lưu ý bạn đọc là:

1- Bản chất của ngành luyện kim từ quặng là: Trong quặng kim loại, có rất nhiều các thành phần kim loại nặng khác nhau, người ta chỉ luyện, lọc ra loại kim loại có hàm lượng cao nhất, còn các kim loại khác có hàm lượng thấp sẽ là phế thải đổ đi.
2- Các kim loại nặng nếu được cô đọng thành thỏi sẽ không gây hại cho người. Nếu ở dạng các nguyên tử và trộn lẫn các tạp chất khác thì lại là thứ hết sức độc hại.
3- Ngành luyện kim không thể thu hồi tất cả các kim loại từ một chất quặng, nếu doanh nghiệp nào làm được việc đó thì cũng đồng nghĩa với sập tiệm.

Điều khôn ngoan nhất đối với Nhà nước hiện nay là: Hủy bỏ xả thải của Formosa ra biển, tập kết nó về một bãi. Đó là thứ vật liệu làm gạch không nung và làm đường rất tốt.

Nhà nước cần phải công bố công khai toàn văn: Bản thỏa thuận môi trường giữa Formosa và phía Nhà nước.

Theo quan điểm của tôi: Nước thải trong ngành luyện thép không phải là vấn đề quan trọng, vì nó chỉ là thứ nước tuần hoàn, dùng để làm mát hệ thống vỏ lò, sau một thời gian đóng cặn, người ta mới thải đi.

Vấn đề nghiêm trọng là: Cả một khối lượng khổng lồ chất thải rắn, mà từ khi Formosa bắt đầu hoạt động và thải ra. Khối lượng nó là bao nhiêu? Hiện nó đang nằm ở đâu? Sau khi kiểm tra, số lượng ấy đã thu lại được bao nhiêu và còn thiếu bao nhiêu? Nếu còn thiếu bao nhiêu chưa gom lại được, tức là nó đang nằm tại đáy biển bấy nhiêu. Cần phải hướng điều tra vào việc này.

Còn một vấn đề nữa: Tới đây Chính phủ cần phải kiểm soát chặt: Nguồn quặng đầu vào hàng tháng (Không phải thứ quặng sắt nào cũng được phép đưa vào luyện thép).

Thực tế thị trường quặng sắt VN mấy năm vừa qua cho thấy: Các thương lái TQ họ cương quyết không mua những loại quặng sắt có hàm lượng Lưu huỳnh, phốt pho và Asen cao, để đem về nước, vì TQ cấm.
Qua sự kiện Formosa, chúng ta nhận ra một điều là Chính phủ có vẻ rất ngây thơ trong vấn đề kiểm soát môi trường trong các dự án Đầu tư nước ngoài.

Thành Nam
Theo boxitvn.blogspot.com

 
Tung Tran's photo.

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Nhiệt điện than và sinh mạng con người

Posted by hoangtran204 trên 24/07/2015

Hoàng Sơn

Thứ Ba,  21/7/2015

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận – Ảnh: Minh Thùy.

(TBKTSG Online) – Những xung đột giữa nhiệt điện than và cuộc sống đã từng bước bộc lộ, mà một điểm nhấn là chuyện người dân ở Bình Thuận mới đây kéo ra đường phản đối ô nhiễm gây ra bởi nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2.

Nhưng câu chuyện ô nhiễm ở Vĩnh Tân 2 có lẽ mới chỉ là một “khúc dạo đầu” của một “vũ điệu tử thần” khi mà nhiệt điện than mới chỉ ở trong giai đoạn đầu phát triển tại Việt Nam. Viễn cảnh của 10 hoặc 15 năm tới mới thật sự là “mịt mù tro bụi” nếu không có sự điều chỉnh, đổi thay ngay từ lúc này.

Những người quan tâm hẳn là phải thảng thốt giật mình trước những dữ liệu được nêu ra tại hội thảo “Cơ hội và thách thức phát triển nguồn điện ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)” được tổ chức ngày 17-7 tại Cần Thơ.

Các nhà máy chết chóc

Bà Hoàng Thanh Bình thuộc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh (Green ID) cảnh báo tại hội thảo rằng việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường và đời sống của người dân, và nhấn mạnh rằng “việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than tác động đến hệ sinh thái, sản xuất nông nghiệp, các công trình xây dựng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.”

Số liệu được Green ID công bố cho thấy việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than sẽ thải ra một lượng tro xỉ khồng lồ, ước khoảng 14,8 triệu tấn mỗi năm từ năm 2020 và lên đến 29,1 triệu tấn mỗi năm từ năm 2030. Đó là một vấn nạn môi trường khổng lồ.

Ông Trần Đình Sính, Phó giám đốc Green ID, dẫn báo cáo Công trình nghiên cứu của nhóm mô hình hóa học khí quyển thuộc Trường Đại học Harvard, cho thấy số người chết sớm liên quan đến nhiệt điện than vào năm 2010 trên toàn thế giới là 3,2 triệu người, trong đó ở Việt Nam là 31.000 người và riêng ĐBSCL là 8.000 người.

Nếu con số định lượng này được xác thực, thì số người chết vì nhiệt điện than hàng năm cao gấp hơn ba lần số người chết vì tai nạn giao thông, chưa kể kèm theo đó là chi phí y tế khổng lồ do suy giảm về sức khỏe nơi các nạn nhân.

Nhiệt điện than đang là một vấn đề toàn cầu, và giải pháp ở các nước phát triển là từng bước loại bỏ chúng vì những thiệt hại quá lớn so với lợi ích.

Ngay tại Mỹ, nước có trình độ khoa học – kỹ thuật hàng đầu và các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tình trạng gây ô nhiễm, nhiệt điện than vẫn đang gây ra khá nhiều hệ lụy.

Một báo cáo của Nhóm Công tác về Khí quyển Hoa Kỳ (Clean Air Task Force) ước tính rằng riêng tại nước này, ô nhiễm không khí do nhiệt điện than trong năm 2010 gây ra 13.000 cái chết sớm, 20.000 người mắc bệnh tim, mất 1,6 triệu ngày công do ốm đau, và tổng thiệt hại tính bằng tiền là hơn 100 tỉ đô-la Mỹ hàng năm. (http://www.rmi.org/RFGraph-health_effects_from_US_power_plant_emissions)

Ở một góc nhìn khác, ông James Hansen, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu Không gian Goddard thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), cảnh báo rằng nhiệt điện than là một tác nhân lớn gây biến đổi khí hậu, và cần phải sớm đóng cửa các nhà máy chết chóc này. Trong một bài báo đăng trên tờ The Guardian của Anh, nhà khoa học này nhấn mạnh rằng khí hậu đang đi đến điểm mất cân bằng, và các hậu quả do các nhà máy nhiệt điện than gây ra sẽ vượt ngưỡng phục hồi nếu không có giải pháp tức thời. “Than là mối đe dọa đơn lẻ lớn nhất đối với nền văn minh và toàn bộ sự sống trên trái đất,” ông viết trên bài báo của mình nhằm kêu gọi mọi người – trước hết là những nhà chính trị – thay đổi nhận thức để tránh thảm họa đang đến.

Trở lại với cuộc hội thảo tại Cần Thơ nói trên, ông Lâm Thanh Hùng, Phó giám đốc Sở Công Thương Kiên Giang, đặt vấn đề: “Nhiệt điện than tuy có điều kiện phát triển, nhưng qua phân tích của một số nhà chuyên môn, nó là mối đe dọa, thế giới đang bỏ dần. Như vậy, tại sao chúng ta lại đi theo điện than mà không tìm giải pháp phát triển điện khí, điện sinh khối, điện gió hay điện mặt trời?”

Câu trả lời có vẻ là “đã đâm lao phải theo lao.”

Ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm năng lượng thuộc Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), cho rằng sau khi xem xét các vấn đề có liên quan và cả dự báo giá than nhập khẩu thời gian tới, thì nhiệt điện than vẫn là ưu tiên.

Theo Tổng sơ đồ điện VII được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7-2011 thì trong cơ cấu năng lượng của Việt Nam, nhiệt điện than được quy hoạch ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Cụ thể, nhiệt điện than sẽ có tổng công suất là 36.000MW vào năm 2020, chiếm tỷ trọng 46,8%, nhưng sẽ tăng lên 75.000MW vào năm 2030, với tỷ trọng 56,4%.

Viễn cảnh này được ông Trần Đình Sính, Phó giám đốc Green ID, cảnh báo tại hội thảo rằng “số người chết sớm sẽ còn tăng rất nhanh, nếu các nhà máy nhiệt điện than khác nằm trong quy hoạch được xây dựng lên.”

Nhưng viễn cảnh đó có vẻ khó thay đổi khi ông Cường của Bộ Công Thương khẳng định rằng “chúng ta phải phát triển nhiệt điện than bởi không có cách nào khác.”

Có còn lựa chọn nào khác?

Khai thác thủy điện ở Việt Nam, theo nhiều nhà khoa học, đã tới ngưỡng, và khó có thể gia tăng trong những năm tới, và một lựa chọn khác hiện nay là phát triển các nhà máy điện hạt nhân với hai dự án đầu tiên đang được xúc tiến tại Ninh Thuận. Về các nguồn năng lượng tái tạo như điện sinh khối, điện gió, năng lượng mặt trời…, ông Cường cho rằng không khả thi vì chi phí cao.

“Đối với điện mặt trời, lắp đặt 1MW cần khoảng 15-18 héc ta đất, rất tốn kém,” ông dẫn chứng, và nói thêm rằng với điện gió thì hiện mới có ba dự án với công suất 32 MW, cho nên nếu đi theo hướng này sẽ không thể nào đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế được.

     [Theo Tran Hoang,  ông   Cường   dẫn chứng sai.  Hiện  nay,  đối với điện mặt trời, lắp đặt 1MW cần khoảng 1 héc ta đất,  và rất  ít  tốn kém. Gia 4 xu / 1 kwh (USA)

1 hecta = 2,47 acres ( acre = mẫu Anh )

1 Gw = 1000 Mw

1 Gwh = 1000 Mwh

Nguồn:

http://www.energymanagertoday.com/it-takes-2-8-acres-of-land-to-generate-1gwh-of-solar-energy-per-year-says-nrel-094185/  

Căn cứ theo Tổng sơ đồ điện VII nêu trên, điện sinh khối và điện gió đến năm 2020 được quy hoạch với công suất lần lượt là 500MW và 1.000MW và đến năm 2030, các con số tương ứng cũng chỉ dừng ở mức khiêm tốn là 2.000MW và 6.200MW. Rõ ràng, điện gió cộng với điện sinh khối, vốn được xem là có tiềm năng lớn ở Việt Nam, đã gần như bị “loại khỏi cuộc chơi” trong Tổng sơ đồ điện VII, khi chỉ chiếm tỷ trọng chung khiêm tốn là 6% vào năm 2030 do “chi phí cao.”

Tuy nhiên, thực tế ở một số nước phát triển cho thấy điện gió đang ngày càng rẻ và có thể cạnh tranh song phẳng với nhiệt điện, tùy cách làm và cách nhìn.

Chi phí đầu tư ban đầu của điện gió là khá cao do phải đầu tư đồng bộ nhiều loại thiết bị đắt tiền như turbine, cánh quạt gió, trụ điện… nhưng nhìn tổng thể chiều dài dự án trên 20 năm, thì chi phí lại không quá lớn vì không hao tốn nhiên liệu, trong khi chế độ bảo trì cũng ít tốn kém hơn các nhà máy nhiện điện chạy khí hay chạy than.

Ở các nền kinh tế có mức lãi suất ổn định ở mức thấp thì việc tìm kiếm nguồn tín dụng dài hạn đầu tư cho điện gió không phải là vấn đề. Lãi suất thương mại ở Việt Nam cao, nhưng thiết nghĩ vẫn có thể tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nước ngoài thông qua một cơ chế huy động vốn và bảo lãnh phù hợp.

Giá thành điện gió tại New Zealand chẳng hạn dao động từ 6,5 xu Mỹ (US cent) tới 12 xu/kWh tùy vùng nhiều gió hay ít gió, khoảng cách đến khu dân cư…, và được xem là một trong những loại hình phát điện rẻ nhất ở đất nước này, và chi phí này được dự báo sẽ càng xuống thấp do công nghệ điện gió phát triển (http://www.windenergy.org.nz/the-cost-of-wind-energy).

Trong khi đó, tại Mỹ, phát triển điện gió hiện nay đã rẻ hơn so với điện từ khí đốt, từ than hoặc từ năng lượng hạt nhân, theo một báo cáo năm 2014 của tập đoàn đầu tư Mỹ Lazard (http://windfacts.ca/affordable-power). Theo Báo cáo thị trường công nghệ điện gió 2012 của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, giá điện gió căn cứ vào các hợp đồng mua bán điện đã giảm xuống chỉ còn 4 cent/kWh, một mức giá hoàn toàn cạnh tranh đối với thậm chí mặt bằng giá ở Việt Nam (http://www.awea.org/Resources/Content.aspx?ItemNumber=5547).

Báo Newsweek trong một bài ý kiến ngày 21-4-2015 nhận định rằng điện gió là một lĩnh vực công nghệ, và trong lĩnh vực công nghệ, chi phí sẽ ngày càng giảm, trong khi trong những ngành khai thác tài nguyên (như nhiệt điện than), chi phí sẽ ngày càng tăng do tài nguyên ngày càng khan hiếm.

Cần mạnh dạn điều chỉnh quy hoạch

Tiềm năng điện gió ở Việt Nam được các chuyên gia đánh giá là rất cao, trong khi tài nguyên như than thì ngày càng cạn kiệt và sẽ phải lệ thuộc vào nhập khẩu.

Tại một hội thảo vào tháng 5-2015 về năng lượng, các chuyên gia và nhà đầu tư đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều thuận lợi nhất trong khu vực để phát triển nguồn năng lượng tái tạo từ sức gió, năng lượng mặt trời, rác thải… Về gió, Việt Nam có gần 3.400km bờ biển có thuận lợi lớn, trong khi nguồn năng lượng mặt trời với lượng bức xạ nắng trung bình 5 kWh/mét vuông/ngày trên khắp cả nước. Tổng tiềm năng lượng sinh khối của Việt Nam vào khoảng 73 triệu tấn/năm, và nếu tận dụng các nguồn sinh khối này để phát điện thì công suất điện ước tính có thể lên tới 5.000MW.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), tiềm năng năng lượng gió tại Việt Nam cao hơn rất nhiều quốc gia khác tại khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, và Campuchia.

Một cuộc khảo sát, đo đạc, phân tích và xác minh của WB cho biết Việt Nam có năng lực để sản xuất đến hơn 513.000 MW điện gió hàng năm. Thế nhưng, như đã đề cập ở trên, Tổng sơ đồ điện VII chỉ đề ra chỉ tiêu khai thác 6.200MW vào năm 2030, và nếu thế thì Việt Nam đang lãng phí một nguồn tài nguyên tái tạo lớn với chi phí khai thác đang ngày càng rẻ.

Nếu quy hoạch là nhằm vạch ra một lộ trình cho phát triển, thì điều chỉnh quy hoạch là nhằm làm cho quá trình phát triển bám sát với thực tiễn, hạn chế đến mức thấp nhất những xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển. Điều chỉnh lại Tổng sơ đồ điện VII, thiết nghĩ, là một yêu cầu chính đáng, nhằm tìm giải pháp tăng tối đa nguồn điện gió, đồng thời hạn chế các tác hại khủng khiếp sẽ xảy đến từ nhiệt điện than. Không thể vì sự dễ dàng trước mắt của nhiệt điện than mà bỏ qua sự an toàn đối với cuộc sống của con người.

Xem thêm:

Từ vụ nhiệt điện Vĩnh Tân 2: Cảnh báo những quả bom nổ chậm khắp Việt Nam!

Nhiệt điện chạy than, hiểm hoạ bùn xám và giải pháp

1 hecta = 2,47 acres

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »