Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Năng Lượng và Mỏ’ Category

►Ông trùm nạo vét cát thao túng quan chức Bộ GTVT như thế nào?

Posted by hoangtran204 on 23/05/2017

Lao Động 10/04/17 

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Vì sao ông Đinh La Thăng bị kỷ luật? Bị đuổi khỏi Bộ chính trị- Giá dầu hạ thấp chỉ còn 1/2

Posted by hoangtran204 on 07/05/2017

(Chuyện Dầu Khí thua lỗ, ai cũng biết, nhưng bây giờ mới khui ra và kỷ luật là lý do tại sao? Có đòi lại được nhiều tỷ đô la bị mất mát thua lỗ không?
Do giá dầu hiện nay chỉ còn $47 đô la một thùng, so với giá dầu (100-147 đô la) thời Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Xuân Sơn và Phùng Đình Thực làm, nên nhóm cầm quyền dầu khí PVN mới lên 2016 đã không có đủ tiền chung chi tiền bán dầu cho cấp trên; bị chất vấn, chúng đưa ra chuyện tiền bạc bị mất mát hồi trước 2016!
Tính theo tổng doanh thu, thời  Đinh La Thăng làm xếp PVN 2006-2011,
Sau khi loại Thăng, 18 ủy viên Bộ chính trị còn lại đang tìm cách nói xấu và loại nhau để ngoi lên. 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Năng Lượng và Mỏ, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Tập đoàn Dầu khí “đầu tư” và mất hàng chục ngàn tỷ đồng ở Venezuela

Posted by hoangtran204 on 03/05/2017

PVN làm nhiệm vụ kinh tài cho đảng CsVN. Đứng đầu PVN là một ủy viên trung ương đảng. Tiền bán dầu 400.000 thùng mỗi ngày, và tiền bán ga (khí đốt) 10 tỷ mét khối/ năm có tổng doanh thu khoảng 37 tỷ đô/năm. Đảng làm chủ các mỏ dầu khí ngoài khơi Vũng Tàu và Nam Côn Sơn. Người dân VN chưa từng được hưởng giá thấp khi mua xăng dầu và khí đốt như 18 quốc gia xuất khẩu dầu trong khối APEC Group.

Tất cả tiền bán dầu khí trong hơn 27 năm qua (kể từ 1992) đều chạy vào túi của các ủy viên Bộ Chính trị. Do giá dầu hạ thấp từ 2014 đến này, nên cả bọn ăn chia không đều. Bởi vậy, cả bọn đang đánh nhau. 

PVN mất trắng cả chục ngàn tỉ đồng ở Venezuela

 

Đọc tiếp »

Posted in Năng Lượng và Mỏ, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Người dân Miền Trung còn lại gì sau khi đập thủy điện xã lũ

Posted by hoangtran204 on 08/11/2016

FB Bạch Hoàn

16-10-2016

Dân dỡ ngói chui lên nóc nhà thoát lũ. Ảnh: internet

Dân dỡ ngói chui lên nóc nhà thoát lũ. Ảnh: internet

Quảng Bình: 8.000 ngôi nhà bị ngập.

Hà Tĩnh: 24.158 ngôi nhà bị ngập.

Những tấm hình người dân đứng trên nóc nhà, bơi trong dòng nước lũ đục ngầu, tôi thấy có người vẫn cười. Có phải vì đã quá quen? Có phải vì bất lực mà cười trừ? Hay đó là những nụ cười trong cay đắng?

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Miền Bắc sau 30-4-1975: Đời sống nông dân, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Formosa ở Vũng Áng có thể tàn phá môi trường hàng trăm năm vì Dòng Chảy Acid Thải ra từ Khai Thác Mỏ Sắt và Làm Thép

Posted by hoangtran204 on 10/10/2016

Lời dịch giả: Về việc Formosa gây ô nhiễm trên 200 km ven biển, đã có nhiều thông tin về nguyên do sự cố, phân tích khoa học v.v… nhưng lại thiếu thông tin phân tích về hệ lụy lâu dài. Qua hình ảnh và miêu tả nguyên nhân cá chết, có những dấu hiệu tương đồng với hiện tượng “dòng thải mỏ axit” trong hoạt động khai thác mỏ. Ví dụ, Kênh chứa nước thải đục ngầu của Formosa:

h1Nguồn ảnh: báo Người Đưa Tin

Trong một bài viết đăng trên trang Ba Sàm ngày 6-10-2016, TS Nguyễn Đức Thắng cho biết: “Cá ở 4 tỉnh miền Trung đã chết vì nước tầng đáy biển bị cạn kiệt oxy do sự cố Formosa Hà Tĩnh đã xả 2500 m3 nước thải của khâu súc, rửa, tẩy gỉ các hệ thống đường ống kim loại, có chứa khoảng 5 tấn cation sắt hai ( Fe2+), ‘phản ứng với’ oxy trong nước, làm cạn kiệt oxy vốn đã rất khan hiếm ở tầng đáy về ban đêm. Kết quả là đã tạo ra 9,6 tấn hydroxit sắt Fe(OH)3 không độc, mầu vàng nâu, còn tươi mới lắng đọng dưới đáy biển, thành màng rất mỏng, rải đều từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế”.

Để độc giả có khái niệm về khả năng tàn phá môi trường có thể xảy ra trong trường hợp Formosa có liên quan đến “dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ”, tôi xin mạo muội dịch bài “HARDROCK MINING: Acid Mine Drainage” của tác giả Alan Septoff, đăng trên báo Earth Works, phát hành năm 2005.

___________

Mỏ khoáng sản rắn: dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ

Earth Works

Tác giả: Alan Septoff

Dịch giả: Nguyễn Quan Tâm

16-12-2005

anhbasàm

Dòng thải mỏ axit – Acid mine drainage (AMD)

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ được coi là một trong mối đe dọa nghiêm trọng nhất cho môi trường nước thiên nhiên (1). Hoạt động khai thác mỏ với dòng thải mỏ axit có tiềm năng tàn phá lâu dài tác động trên sông, suối và đời sống thủy sinh.

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hình thành như thế nào?

Dòng chảy axit thải ra từ khai thác mỏ là vấn đề lo ngại nghiêm trọng trong lãnh vực khai thác kim loại, vì mỏ kim loại ví dụ như vàng, đồng, bạc và molypden thường được tìm thấy trong đá với khoáng chất sulfide (ion lưu huỳnh S–). Trong quá trình khai thác khi ion lưu huỳnh sulfide tiếp xúc với nước và không khí chúng trở thành phản ứng hóa học tạo ra axit sulfuric, H2SO4. Chất axit sulfuric có thể làm tan chảy những kim loại độc trong đất đá xung quanh, tạo thành dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. Nếu không kiểm soát được, nước axit này có thể chảy vào suối, sông hoặc ngấm vào dòng nước ngầm. Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ có thể sinh ra từ bất kỳ giai đoạn nào trong hoạt động khai thác khi sulfide tiếp xúc với không khí và nước, bao gồm các đống đá thải, chất thải, mỏ hố, hầm ngầm, và đệm ngấm.

Thảm hại cho cá và các thủy sinh

Nếu chất thải của mỏ là axit, tác động hủy hoại cho cá, động vật và thực vật có thể rất nặng nề. Khi dòng nước thiên nhiên (pH=7), bị ô nhiễm bởi dòng chảy acid từ mỏ, độ pH sẽ giảm xuống pH=4  hoặc thấp hơn – tương tự như axit trong bình ắc quy, pH =1 (2). Thực vật, động vật và cá khó sinh sống được trong môi trường như thế này. Ví dụ, dòng axit và kim loại tan chảy từ mỏ Questa molypden ở New Mexico đã tàn phá sinh học trong 13 km trên con sông Red River (3).

Kim loại độc

dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ còn làm tan những kim loại độc hại như đồng, nhôm, cadmium, arsenic, chì và thủy ngân từ đá xung quanh. Những kim loại này, đặc biệt là sắt, gây ô nhiễm môi trường qua lắng động thành một màng nhờn nhờn mầu cam-đỏ,lóng ở đáy dòng nước gọi là “yellowboy”. Cho dù với số lượng ít số kim loại tan này vẫn độc hại cho con người và sinh vật. Hơn nữa chất ô nhiễm theo dòng nước lan tràn ra một vùng rộng lớn gây hại cho thủy sinh từ chết cấp tốc cho đến ngộ độc từ từ, làm hại đến khả năng phát triển và sinh sản.

Vấn đề lo ngại đặc biệt là những kim loại tan này không phân hủy trong môi trường. Chúng tồn tại ở đáy dòng nước trong thời gian rất dài, làm ô nhiễm môi trường dài hạn cho hệ sinh thái (ví dụ: vi sinh vật bị ô nhiễm, cá nhỏ ăn vi sinh vật bị ô nhiễm, cá lớn ăn cá nhỏ bị ô nhiễm, con người ăn cá bị ô nhiễm).

Hơn 100 dặm trên sông Clark Fork ở Montana, sông Coeur d’Alene ở Idaho, và sông Columbia ở Washington bị ô nhiễm kim loại tan từ những hoạt động khai thác trước đây ở thượng nguồn.

Ô nhiễm vĩnh viễn

Dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ đặc biệt độc hại vì nó có thể tiếp tục tồn tại vô thời hạn, gây thiệt hại trong thời gian dài sau khi hoạt động khai thác đã chấm dứt (4). Do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ gây ô nhiễm chất lượng nước ở mức độ nghiêm trọng, nên nhiều mỏ ở Tây phương cần phải xử lý (lọc) nguồn nước vĩnh viễn. Ví dụ, các quan chức chính phủ đã xác định rằng dòng chảy acid thải ra từ khai thác tại mỏ Golden Sunlight sẽ tiếp tục tồn tại hàng ngàn năm (5). Cái giá xử lý nước là một gánh nặng kinh tế cho địa phương nếu công ty khai thác phá sản hoặc từ chối trang trải chi phí xử lý nước. Ví dụ,

  • Axit chảy tràn từ mỏ Summitville ở Colorado giết chết tất cả sinh học trong một đoạn 27 km trên sông Alamosa. Vùng này đã được chỉ định thành vùng Superfund của liên bang, và Cơ quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA) của Mỹ phải chi tiêu $30.000/ một ngày (USD trị giá vào năm 2000) để xử lý ô nhiễm (6)
  • Tại bang South Dakota, công ty khai thác mỏ Dakota đã từ bỏ mỏ Brohm năm 1998, để lại South Dakota với $40 triệu chi phí trong việc xử lý và bình thường hóa môi trường sau khi những hoạt động khai quật – phần lớn là do dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ. (7)
  • Tại mỏ Zortman Landusky ở Montana, chính phủ tiểu bang Montana gánh chịu hàng triệu đô chi phí xử lý nước sau khi công ty Pegasus Gold Corp phá sản năm 1998 (8)

h2Mỏ axit thời Roman ở Anh vẫn tồn tại sau 2000 năm. Nguồn: Earth Works

Ngay cả với công nghệ hiện có, dòng chảy acid thải ra từ khai thác mỏ hầu như không thể ngăn chận lại được khi các phản ứng hóa học đã bắt đầu.

Việc cho phép khai thác mỏ có dòng chảy acid thải ra có nghĩa là đã xếp đặt các thế hệ tương lai sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý môi trường ô nhiễm có thể kéo dài đến hàng trăm năm. Dự đoán về sự thành công trong việc quản lý chất thải này trong dài hạn khả năng tốt nhất cũng chỉ là suy đoán (9)

Nguồn:

  1. USDA Forest Service 1993, Acid Mine Drainage from Impact of Hardrock Mining on the National Forests: A Management Challenge. Program Aid 1505. p. 12.
  2. Mineral Policy Center, Golden Dreams, Poisoned Streams, 1995.
  3. Atencio, Earnest, High Country News, “The mine that turned the Red River Blue,” August 2000.
  4. Placer Dome 2002, Available: http://www.placerdome.com/sustainability/environment/reports/ard.html
  5. Montana Department of Environmental Quality, Draft Environmental Impact Statement, Golden Sunlight Mine, November 1997.
  6. U.S. Environmental Protection Agency, Liquid Assets, 2000.
  7. McClure, Robert. “The Mining of the West: Profit and Pollution on Public Lands”. Seattle Post- Intelligencer, June 13, 2001.
  8. Ibid.
  9. Environmental Mining Council of B.C., Acid Mine Drainage: Mining and Water Pollution Issues in B.C., Brochure.

Posted in Formosa Hà Tỉnh -Cá chết- Ô nhiễm, Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ, Thực Phẩm và sức khỏe | Leave a Comment »

►Formosa thứ hai: Lộ diện nguy cơ Nhiệt điện Duyên Hải 1 tàn phá môi trường miền Tây- 4 tỉnh, đã có 15 nhà máy nhiệt điện chạy bằng than!

Posted by hoangtran204 on 05/10/2016

 
2-10-2016
Bất ngờ khi Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đã có buổi giám sát trực tiếp Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1, tỉnh Trà Vinh vào ngày 1/10 sau khi có phản ánh của cử tri.
 
Càng bất ngờ hơn, tại đây đoàn giám sát phát hiện hàng loạt bất thường tại công trình này. Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ các Nhà máy nhiệt điện tại ĐBSCL đã hiển diện rõ ràng.

Đọc tiếp »

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Nguy hiểm của Formosa và sự ngây ngô khó hiểu

Posted by hoangtran204 on 11/06/2016

Đảng và Nhà Nước cho Formosa thuê đất khai mỏ sắt 70 năm, hợp đồng ăn chia như thế nào, khai mau!

NGUY HIỂM CỦA FORMOSA VÀ SỰ NGÂY NGÔ KHÓ HIỂU !

9-6-2016

Thành Nam 

Bài viết sau đây của tác giả Thành Nam, một doanh nhân Khoáng sản và Luyện kim

Nếu buộc Formosa phải tách kim loại nặng ra khỏi chất thải thì Formosa sẽ lỗ vốn và sẽ phải đóng cửa. Nếu xả thải trên cạn, chi phí vận tải chất thải là 30 tỷ VND/tháng, quá lớn. Nếu tống tất cả ra biển: toàn bộ cá Biển Đông sẽ tuyệt chủng.

Với kinh nghiệm một doanh nghiệp đã từng làm về khoáng sản và luyện kim chúng tôi có một số nhận xét về Formosa như sau :

Với sản lượng thép của Formosa là 7.1 triệu tấn/năm. Vậy Formosa sẽ phải thải ra môi trường xung quanh một lượng chất thải rắn thấp nhất là 7,1 triệu tấn/năm, tức 600.000 tấn/tháng.

Thành phần của chất thải bao gồm: Đất đá + Các kim loại nặng ngoài sắt + Phốt pho, lưu huỳnh + hóa chất để lọc quặng. (Xin bạn hãy lưu ý: Trong quặng sắt bao giờ cũng chỉ có trên 50% là sắt còn lại là các tạp chất khác).

Nếu bố trí một mặt bằng rất lớn ở trên cạn và thành lập những núi thải lớn, thì Formosa cũng phải bố trí một đoàn xe hùng hậu để chở thải đi đổ, chi phí cho vận tải chất thải là 30 tỷ VND/tháng.

Nếu tống tất cả ra biển, chưa bàn đến ô nhiễm biển, cũng chưa tính toán kỹ các dòng hải lưu sẽ mang đi thì chỉ trong vài tháng, biển Hà Tĩnh chúng ta sẽ lội tới đầu gối. Cá chết ở miền Trung chỉ là chuyện nhỏ mà toàn bộ Biển Đông cá sẽ tuyệt chủng.

Nếu buộc Formosa phải tách các kim loại nặng & phốt-pho lưu huỳnh ra khỏi chất thải thì Formosa sẽ lỗ vốn và phải đóng cửa ngay sau khi có lệnh ban bố của Nhà nước.

Còn một vấn đề khác hết sức nghiêm trọng mà tôi thấy hình như người Việt Nam chưa ai quan tâm, đó là: Nếu để làm ra 7.1 triệu tấn thép trong một năm, vậy mỗi năm Formosa cần phải đốt hết, thấp nhất là 4 triệu tấn than cốc. Cả một lượng khí CO2 khổng lồ thải ra trên bầu trời Việt Nam, không biết Nhà nước tính toán tới vấn đề này chưa, và Formosa đã có hạn ngạch thải khí CO2 với quốc tế chưa?

Nếu buộc Formosa đóng cửa ngay lúc này, Nhà nước phải bồi thường 28 tỷ USD, đối với Việt Nam chúng ta là một việc quá sức vì hiện nay chúng ta đang phải đi vay mới để đảo nợ (hay trả nợ) cũ.

Có 03 điểm tôi xin lưu ý bạn đọc là:

1- Bản chất của ngành luyện kim từ quặng là: Trong quặng kim loại, có rất nhiều các thành phần kim loại nặng khác nhau, người ta chỉ luyện, lọc ra loại kim loại có hàm lượng cao nhất, còn các kim loại khác có hàm lượng thấp sẽ là phế thải đổ đi.
2- Các kim loại nặng nếu được cô đọng thành thỏi sẽ không gây hại cho người. Nếu ở dạng các nguyên tử và trộn lẫn các tạp chất khác thì lại là thứ hết sức độc hại.
3- Ngành luyện kim không thể thu hồi tất cả các kim loại từ một chất quặng, nếu doanh nghiệp nào làm được việc đó thì cũng đồng nghĩa với sập tiệm.

Điều khôn ngoan nhất đối với Nhà nước hiện nay là: Hủy bỏ xả thải của Formosa ra biển, tập kết nó về một bãi. Đó là thứ vật liệu làm gạch không nung và làm đường rất tốt.

Nhà nước cần phải công bố công khai toàn văn: Bản thỏa thuận môi trường giữa Formosa và phía Nhà nước.

Theo quan điểm của tôi: Nước thải trong ngành luyện thép không phải là vấn đề quan trọng, vì nó chỉ là thứ nước tuần hoàn, dùng để làm mát hệ thống vỏ lò, sau một thời gian đóng cặn, người ta mới thải đi.

Vấn đề nghiêm trọng là: Cả một khối lượng khổng lồ chất thải rắn, mà từ khi Formosa bắt đầu hoạt động và thải ra. Khối lượng nó là bao nhiêu? Hiện nó đang nằm ở đâu? Sau khi kiểm tra, số lượng ấy đã thu lại được bao nhiêu và còn thiếu bao nhiêu? Nếu còn thiếu bao nhiêu chưa gom lại được, tức là nó đang nằm tại đáy biển bấy nhiêu. Cần phải hướng điều tra vào việc này.

Còn một vấn đề nữa: Tới đây Chính phủ cần phải kiểm soát chặt: Nguồn quặng đầu vào hàng tháng (Không phải thứ quặng sắt nào cũng được phép đưa vào luyện thép).

Thực tế thị trường quặng sắt VN mấy năm vừa qua cho thấy: Các thương lái TQ họ cương quyết không mua những loại quặng sắt có hàm lượng Lưu huỳnh, phốt pho và Asen cao, để đem về nước, vì TQ cấm.
Qua sự kiện Formosa, chúng ta nhận ra một điều là Chính phủ có vẻ rất ngây thơ trong vấn đề kiểm soát môi trường trong các dự án Đầu tư nước ngoài.

Thành Nam
Theo boxitvn.blogspot.com

 
Tung Tran's photo.

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Nhiệt điện than và sinh mạng con người

Posted by hoangtran204 on 24/07/2015

Hoàng Sơn

Thứ Ba,  21/7/2015

Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 tại huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận – Ảnh: Minh Thùy.

(TBKTSG Online) – Những xung đột giữa nhiệt điện than và cuộc sống đã từng bước bộc lộ, mà một điểm nhấn là chuyện người dân ở Bình Thuận mới đây kéo ra đường phản đối ô nhiễm gây ra bởi nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2.

Nhưng câu chuyện ô nhiễm ở Vĩnh Tân 2 có lẽ mới chỉ là một “khúc dạo đầu” của một “vũ điệu tử thần” khi mà nhiệt điện than mới chỉ ở trong giai đoạn đầu phát triển tại Việt Nam. Viễn cảnh của 10 hoặc 15 năm tới mới thật sự là “mịt mù tro bụi” nếu không có sự điều chỉnh, đổi thay ngay từ lúc này.

Những người quan tâm hẳn là phải thảng thốt giật mình trước những dữ liệu được nêu ra tại hội thảo “Cơ hội và thách thức phát triển nguồn điện ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)” được tổ chức ngày 17-7 tại Cần Thơ.

Các nhà máy chết chóc

Bà Hoàng Thanh Bình thuộc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh (Green ID) cảnh báo tại hội thảo rằng việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến môi trường và đời sống của người dân, và nhấn mạnh rằng “việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than tác động đến hệ sinh thái, sản xuất nông nghiệp, các công trình xây dựng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.”

Số liệu được Green ID công bố cho thấy việc phát triển các nhà máy nhiệt điện than sẽ thải ra một lượng tro xỉ khồng lồ, ước khoảng 14,8 triệu tấn mỗi năm từ năm 2020 và lên đến 29,1 triệu tấn mỗi năm từ năm 2030. Đó là một vấn nạn môi trường khổng lồ.

Ông Trần Đình Sính, Phó giám đốc Green ID, dẫn báo cáo Công trình nghiên cứu của nhóm mô hình hóa học khí quyển thuộc Trường Đại học Harvard, cho thấy số người chết sớm liên quan đến nhiệt điện than vào năm 2010 trên toàn thế giới là 3,2 triệu người, trong đó ở Việt Nam là 31.000 người và riêng ĐBSCL là 8.000 người.

Nếu con số định lượng này được xác thực, thì số người chết vì nhiệt điện than hàng năm cao gấp hơn ba lần số người chết vì tai nạn giao thông, chưa kể kèm theo đó là chi phí y tế khổng lồ do suy giảm về sức khỏe nơi các nạn nhân.

Nhiệt điện than đang là một vấn đề toàn cầu, và giải pháp ở các nước phát triển là từng bước loại bỏ chúng vì những thiệt hại quá lớn so với lợi ích.

Ngay tại Mỹ, nước có trình độ khoa học – kỹ thuật hàng đầu và các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với tình trạng gây ô nhiễm, nhiệt điện than vẫn đang gây ra khá nhiều hệ lụy.

Một báo cáo của Nhóm Công tác về Khí quyển Hoa Kỳ (Clean Air Task Force) ước tính rằng riêng tại nước này, ô nhiễm không khí do nhiệt điện than trong năm 2010 gây ra 13.000 cái chết sớm, 20.000 người mắc bệnh tim, mất 1,6 triệu ngày công do ốm đau, và tổng thiệt hại tính bằng tiền là hơn 100 tỉ đô-la Mỹ hàng năm. (http://www.rmi.org/RFGraph-health_effects_from_US_power_plant_emissions)

Ở một góc nhìn khác, ông James Hansen, nguyên Giám đốc Viện nghiên cứu Không gian Goddard thuộc Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), cảnh báo rằng nhiệt điện than là một tác nhân lớn gây biến đổi khí hậu, và cần phải sớm đóng cửa các nhà máy chết chóc này. Trong một bài báo đăng trên tờ The Guardian của Anh, nhà khoa học này nhấn mạnh rằng khí hậu đang đi đến điểm mất cân bằng, và các hậu quả do các nhà máy nhiệt điện than gây ra sẽ vượt ngưỡng phục hồi nếu không có giải pháp tức thời. “Than là mối đe dọa đơn lẻ lớn nhất đối với nền văn minh và toàn bộ sự sống trên trái đất,” ông viết trên bài báo của mình nhằm kêu gọi mọi người – trước hết là những nhà chính trị – thay đổi nhận thức để tránh thảm họa đang đến.

Trở lại với cuộc hội thảo tại Cần Thơ nói trên, ông Lâm Thanh Hùng, Phó giám đốc Sở Công Thương Kiên Giang, đặt vấn đề: “Nhiệt điện than tuy có điều kiện phát triển, nhưng qua phân tích của một số nhà chuyên môn, nó là mối đe dọa, thế giới đang bỏ dần. Như vậy, tại sao chúng ta lại đi theo điện than mà không tìm giải pháp phát triển điện khí, điện sinh khối, điện gió hay điện mặt trời?”

Câu trả lời có vẻ là “đã đâm lao phải theo lao.”

Ông Nguyễn Đức Cường, Giám đốc Trung tâm năng lượng thuộc Viện Năng lượng (Bộ Công Thương), cho rằng sau khi xem xét các vấn đề có liên quan và cả dự báo giá than nhập khẩu thời gian tới, thì nhiệt điện than vẫn là ưu tiên.

Theo Tổng sơ đồ điện VII được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 7-2011 thì trong cơ cấu năng lượng của Việt Nam, nhiệt điện than được quy hoạch ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Cụ thể, nhiệt điện than sẽ có tổng công suất là 36.000MW vào năm 2020, chiếm tỷ trọng 46,8%, nhưng sẽ tăng lên 75.000MW vào năm 2030, với tỷ trọng 56,4%.

Viễn cảnh này được ông Trần Đình Sính, Phó giám đốc Green ID, cảnh báo tại hội thảo rằng “số người chết sớm sẽ còn tăng rất nhanh, nếu các nhà máy nhiệt điện than khác nằm trong quy hoạch được xây dựng lên.”

Nhưng viễn cảnh đó có vẻ khó thay đổi khi ông Cường của Bộ Công Thương khẳng định rằng “chúng ta phải phát triển nhiệt điện than bởi không có cách nào khác.”

Có còn lựa chọn nào khác?

Khai thác thủy điện ở Việt Nam, theo nhiều nhà khoa học, đã tới ngưỡng, và khó có thể gia tăng trong những năm tới, và một lựa chọn khác hiện nay là phát triển các nhà máy điện hạt nhân với hai dự án đầu tiên đang được xúc tiến tại Ninh Thuận. Về các nguồn năng lượng tái tạo như điện sinh khối, điện gió, năng lượng mặt trời…, ông Cường cho rằng không khả thi vì chi phí cao.

“Đối với điện mặt trời, lắp đặt 1MW cần khoảng 15-18 héc ta đất, rất tốn kém,” ông dẫn chứng, và nói thêm rằng với điện gió thì hiện mới có ba dự án với công suất 32 MW, cho nên nếu đi theo hướng này sẽ không thể nào đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế được.

     [Theo Tran Hoang,  ông   Cường   dẫn chứng sai.  Hiện  nay,  đối với điện mặt trời, lắp đặt 1MW cần khoảng 1 héc ta đất,  và rất  ít  tốn kém. Gia 4 xu / 1 kwh (USA)

1 hecta = 2,47 acres ( acre = mẫu Anh )

1 Gw = 1000 Mw

1 Gwh = 1000 Mwh

Nguồn:

http://www.energymanagertoday.com/it-takes-2-8-acres-of-land-to-generate-1gwh-of-solar-energy-per-year-says-nrel-094185/  

Căn cứ theo Tổng sơ đồ điện VII nêu trên, điện sinh khối và điện gió đến năm 2020 được quy hoạch với công suất lần lượt là 500MW và 1.000MW và đến năm 2030, các con số tương ứng cũng chỉ dừng ở mức khiêm tốn là 2.000MW và 6.200MW. Rõ ràng, điện gió cộng với điện sinh khối, vốn được xem là có tiềm năng lớn ở Việt Nam, đã gần như bị “loại khỏi cuộc chơi” trong Tổng sơ đồ điện VII, khi chỉ chiếm tỷ trọng chung khiêm tốn là 6% vào năm 2030 do “chi phí cao.”

Tuy nhiên, thực tế ở một số nước phát triển cho thấy điện gió đang ngày càng rẻ và có thể cạnh tranh song phẳng với nhiệt điện, tùy cách làm và cách nhìn.

Chi phí đầu tư ban đầu của điện gió là khá cao do phải đầu tư đồng bộ nhiều loại thiết bị đắt tiền như turbine, cánh quạt gió, trụ điện… nhưng nhìn tổng thể chiều dài dự án trên 20 năm, thì chi phí lại không quá lớn vì không hao tốn nhiên liệu, trong khi chế độ bảo trì cũng ít tốn kém hơn các nhà máy nhiện điện chạy khí hay chạy than.

Ở các nền kinh tế có mức lãi suất ổn định ở mức thấp thì việc tìm kiếm nguồn tín dụng dài hạn đầu tư cho điện gió không phải là vấn đề. Lãi suất thương mại ở Việt Nam cao, nhưng thiết nghĩ vẫn có thể tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nước ngoài thông qua một cơ chế huy động vốn và bảo lãnh phù hợp.

Giá thành điện gió tại New Zealand chẳng hạn dao động từ 6,5 xu Mỹ (US cent) tới 12 xu/kWh tùy vùng nhiều gió hay ít gió, khoảng cách đến khu dân cư…, và được xem là một trong những loại hình phát điện rẻ nhất ở đất nước này, và chi phí này được dự báo sẽ càng xuống thấp do công nghệ điện gió phát triển (http://www.windenergy.org.nz/the-cost-of-wind-energy).

Trong khi đó, tại Mỹ, phát triển điện gió hiện nay đã rẻ hơn so với điện từ khí đốt, từ than hoặc từ năng lượng hạt nhân, theo một báo cáo năm 2014 của tập đoàn đầu tư Mỹ Lazard (http://windfacts.ca/affordable-power). Theo Báo cáo thị trường công nghệ điện gió 2012 của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, giá điện gió căn cứ vào các hợp đồng mua bán điện đã giảm xuống chỉ còn 4 cent/kWh, một mức giá hoàn toàn cạnh tranh đối với thậm chí mặt bằng giá ở Việt Nam (http://www.awea.org/Resources/Content.aspx?ItemNumber=5547).

Báo Newsweek trong một bài ý kiến ngày 21-4-2015 nhận định rằng điện gió là một lĩnh vực công nghệ, và trong lĩnh vực công nghệ, chi phí sẽ ngày càng giảm, trong khi trong những ngành khai thác tài nguyên (như nhiệt điện than), chi phí sẽ ngày càng tăng do tài nguyên ngày càng khan hiếm.

Cần mạnh dạn điều chỉnh quy hoạch

Tiềm năng điện gió ở Việt Nam được các chuyên gia đánh giá là rất cao, trong khi tài nguyên như than thì ngày càng cạn kiệt và sẽ phải lệ thuộc vào nhập khẩu.

Tại một hội thảo vào tháng 5-2015 về năng lượng, các chuyên gia và nhà đầu tư đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều thuận lợi nhất trong khu vực để phát triển nguồn năng lượng tái tạo từ sức gió, năng lượng mặt trời, rác thải… Về gió, Việt Nam có gần 3.400km bờ biển có thuận lợi lớn, trong khi nguồn năng lượng mặt trời với lượng bức xạ nắng trung bình 5 kWh/mét vuông/ngày trên khắp cả nước. Tổng tiềm năng lượng sinh khối của Việt Nam vào khoảng 73 triệu tấn/năm, và nếu tận dụng các nguồn sinh khối này để phát điện thì công suất điện ước tính có thể lên tới 5.000MW.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), tiềm năng năng lượng gió tại Việt Nam cao hơn rất nhiều quốc gia khác tại khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, và Campuchia.

Một cuộc khảo sát, đo đạc, phân tích và xác minh của WB cho biết Việt Nam có năng lực để sản xuất đến hơn 513.000 MW điện gió hàng năm. Thế nhưng, như đã đề cập ở trên, Tổng sơ đồ điện VII chỉ đề ra chỉ tiêu khai thác 6.200MW vào năm 2030, và nếu thế thì Việt Nam đang lãng phí một nguồn tài nguyên tái tạo lớn với chi phí khai thác đang ngày càng rẻ.

Nếu quy hoạch là nhằm vạch ra một lộ trình cho phát triển, thì điều chỉnh quy hoạch là nhằm làm cho quá trình phát triển bám sát với thực tiễn, hạn chế đến mức thấp nhất những xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển. Điều chỉnh lại Tổng sơ đồ điện VII, thiết nghĩ, là một yêu cầu chính đáng, nhằm tìm giải pháp tăng tối đa nguồn điện gió, đồng thời hạn chế các tác hại khủng khiếp sẽ xảy đến từ nhiệt điện than. Không thể vì sự dễ dàng trước mắt của nhiệt điện than mà bỏ qua sự an toàn đối với cuộc sống của con người.

Xem thêm:

Từ vụ nhiệt điện Vĩnh Tân 2: Cảnh báo những quả bom nổ chậm khắp Việt Nam!

Nhiệt điện chạy than, hiểm hoạ bùn xám và giải pháp

1 hecta = 2,47 acres

Posted in Moi Truong bi O nhiem, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

Posted by hoangtran204 on 08/05/2015

Ảnh hưởng của “Bảy chị em” (Seven Sisters) tới VN

I. “BẢY CHỊ EM”  (Seven Sisters) nghĩa là gì?

“BẢY CHỊ EM ” hay tiếng Anh còn gọi là “Seven Sisters ” là tiếng lóng để ám chỉ bảy công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới , nắm khoảng 85%—95% trữ lượng dự trử dầu hỏa của thế giới. Khởi thủy ( lúc ban đầu) , “BẢY CHỊ EM” trong ngành dầu hỏa bao gồm các công ty sau đây:

•Exxon (xuất thân từ Standard Oil of New Jersey )
•Mobil (xuất thân từ Standard Oil of New York)
•Chevron (xuất thân từ Standard Oil of California)
•Texaco
•Gulf Oil
•Shell
•British Petroleum

Về sau này, Exxon xác nhập với Mobil vào năm 1998 để trở thành ExxonMobil , Chevron mua đứt Texaco vào năm 1984 và Britist Petroleum mua đứt Gulf Oil cho nên “BẢY CHỊ EM”  lần hồi không còn đúng nữa nhưng thành ngữ “BẢY CHỊ EM”  vẫn được sử dụng  để ám chỉ các công ty dầu hỏa hàng đầu của thế giới.

Hiện tại thì Chevron và Texaco,  hai thành viên quan trọng nhất của  giới “BẢY CHỊ EM” đang khai thác dầu hỏa tại Việt Nam. Riêng Chevron thì cho là đã có mặt tại Việt Nam ngay năm 1994 , tức là năm Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ mọi cấm vận đối với  Việt Nam .  Xin được ghi chú là thêm hai công ty Chevron và Texaco đã vào Việt Nam còn đội lốt dưới cái tên khác là CALTEX. 

Năm 2017, khi TT Trump vừa sắp nhậm chức, Rex Tillerson đang được đề cử làm Ngoại Trưởng mỹ,  Exxon Mobil đã ký hợp đồng với VN để khai thác khí đốt trong vùng Trường Sa.

Như vậy “BẢY CHỊ EM ” thực sự có mặt tại Việt Nam từ lâu và những bí ẩn riêng tư bên trong của giới “BẢY CHỊ EM” ảnh huởng lên chính trị , lịch sử , và kinh tế  của Việt Nam là điều mà cần phải phân tích cặn kẽ tận tường khi bình luận hay khi đưa ra những đối sách chính trị ngoại giao cần thiết cho Việt Nam

II.  Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên nền chính trị Việt Nam hiện nay:

Cơ quan US Energy Information Administration gọi tắt là EIA của Hoa Kỳ loan  báo chính thức là trữ lượng dầu hỏa tại Biển Đông lên đến 11 tỷ thùng và 190 ngàn tỷ cubic ft khí đốt (một cubic foot tương đương với 0.28 mét khối )

EIA cũng đưa ra bản thống kê chính thức trữ lượng dầu hỏa và khí đốt của các nước trong vùng biển Đông  như sau:

Bảng thống kê 1 : Dự trữ dầu hỏa tại biển Đông
bang-1
Như vậy , trữ lượng dầu thô của Việt Nam ( 3 tỷ thùng ) không thôi đã chiếm gần 27.3 %  gần một phần ba trữ lượng của toàn vùng . Còn về lượng khí đốt thì Việt Nam đã đứng hang thứ ba trong vùng theo bảng tổng kết trình bày ở trên từ EIA.

Dữ liệu do chính EIA đưa ra cho thấy Việt Nam đã có thể cán đáng sản xuất gần 300 ngàn thùng dầu thô mỗi năm , tức là tương đương với khoảng 13.5 tỷ Mỹ kim mỗi năm nếu giá dầu thô chỉ là 45 Mỹ kim một thùng.

Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng sản xuất dầu hỏa của Việt Nam

bang-2

Dựa vào biểu đồ 1 , nếu lấy  năm 1994 làm cột mốc vì là năm Hoa Kỳ chính thực bãi bỏ cấm vận, thì sản lượng dầu thô của Việt Nam đã tăng từ 150 ngàn thùng một năm lên đến hơn 300.000 thùng một năm, gấp đôi tổng sản lương trong 20 năm.

Rõ ràng , với trình độ kỹ thuật và khả năng khai thác của Việt Nam không thể tạo ra sự nhẩy vọt về tổng sản lượng nếu như không có “BẢY CHỊ EM” ta đứng đằng sau trợ sức mọi mặt từ vốn đến kỹ thuật

Quan trọng hơn hết , toàn bộ miền duyên hải phía nam của Việt Nam, trong đó có quần đảo Trường Sa (Sparatly Islands) thuộc chủ quyền của Việt Nam  nằm hoàn toàn trên tuyến đường chuyên chở dầu hỏa khắp cả vùng châu Á Thái Bình Dương, theo sự xác nhận của EIA với tổng số lên đến  11 triệu thùng một ngày vào năm 2011 được phân bố ra các quốc gia như bản đồ dưới đây:

Họa hình 1:  Khối lượng vận chuyển dầu hỏa ngang qua biển Đông
hinh-1

Như vậy , nguồn lợi thu được từ thuế hàng hải khi vận chuyển dầu hỏa qua hải phận đối với các quốc gia trong vùng và nhất là đối với Việt Nam, hiện đang kiểm soát 29 đảo của quần đảo Trường Sa vô cùng to lớn.

Do đó , nhằm đảm bảo quyền lợi lâu dài lên đến cả trăm năm, “BẢY CHỊ EM” cần phải có những ảnh huởng chính trị cần thiết lên chính trường Việt Nam cũng như  cần chính phủ Hoa Kỳ can thiệp mạnh mẽ để sự đi lại hàng hải, chuyên chở dầu hỏa trên con đường này không bị Hải quân Trung Quốc bắt nạt và buộc phải đóng thêm thuế hàng hải cho Trung Quốc

Trung Quốc đã nhiều lần kiếm cách phá rối, hăm dọa cũng như áp lực lên giới “BẢY CHỊ EM ” bằng nhiều kiểu cách khác nhau nếu tiếp tục bắt tay với Việt Nam khai thác dầu hỏa, khí đốt trong vùng .

Việc Trung Quốc đưa dàn khoan dầu khổng lồ 981 vào lãnh hải Việt Nam vào ngày 2-5-2014 với dàn hải quân hùng hậu hộ tống cũng chính là nhằm dằn mặt “BẢY CHỊ EM” ta đã phớt lờ Trung Quốc khi ký kết các hợp đồng khai thác tại vùng biển này và nhất là tại Cửu Long Basin , phía nam duyên hải Việt Nam mà Trung Quốc đã ngang ngược cương quyết đòi chủ quyền. Ngoài ra , Trung Quốc cũng muốn nhìn phản ứng của “BẢY CHỊ EM” ra sao trước tình huống này  (political benchmark testing).

“BẢY CHỊ EM” biết quá rõ về lâu về dài, khi Trung Quốc đã không chế được tình hình rồi thì Trung Quốc sẽ tự bỏ vốn khai thác , “BẢY CHỊ EM” vĩnh viễn không có phần và phải quy lụy Bắc Kinh tối đa để duy trì sự vận chuyển dầu hỏa lên Nhật Bản hoặc các nước khác trong vùng.

Điều đó càng cho thấy giới “BẢY CHỊ EM” ta không thể để các phần tử Đảng viên bảo thủ thân Trung Quốc ở trong Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục mạnh thế  khiến những toan tính cam kết đầu tư giữa Việt Nam và  giới “BẢY CHỊ EM” bị đe dọa, bất ổn.

Hơn nữa, để đảm bảo quyền lợi lâu dài, “BẢY CHỊ EM” sẽ tìm đủ cách tạo ra cho mình những ảnh huởng chính trị cần thiết trên chính trường Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

Cho nên, để “BẢY CHỊ EM” có thể yên tâm dò tìm , đầu tư và khai thác dầu hỏa và khí đốt tại thềm lục địa Việt Nam,  Cộng Sản Việt Nam cần phải có chính sách chính trị đối ngoại hợp tác với Hoa Kỳ sâu rộng về quốc phòng.

Nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam tỏ ra do dự hay sẵn sàng ngả về Trung Quốc thì giới “BẢY CHỊ EM” sẽ không gia tăng đầu tư vào Việt Nam vì rủi ro ( risk) quá lớn trước sự hăm dọa của Trung Quốc.

Từ đó, mối bang giao Việt- Mỹ  chịu ảnh hưởng âm thầm nhưng mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM”.

Đơn giản, đầu tư của “BẢY CHỊ EM” sẽ sút giãm nghiêm trọng dẫn đến thiệt hại  nặng nề  về kinh tế cho Việt Nam nếu  Việt Nam không nằm trong đường lối hợp tác quốc phòng mà chính phủ Hoa Kỳ đề ra trong sách lược của mình tại Đông Nam Á.

Như vậy đường lối chính trị ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam cũng đang lần hồi bị ảnh hưởng áp lực của  giới “BẢY CHỊ EM “.

Ngụy trang bằng lý do quốc phòng, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã từ từ xích gần lại Hoa Kỳ để tìm một sự bảo vệ  nhằm lợi nhuận từ dầu hỏa được ổn định và gia tăng.

Nếu  mất đi gần hoặc hơn 10 % tổng giá trị sản phẩm quốc dân – GDP ( Gross Domestic Product )  từ nguồn lợi tức dầu hỏa và cả khí đốt , chưa kể các quyền lợi về công ăn việc làm , cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội do các hoạt động đầu tư của “BẢY CHỊ EM” đem lại thì kinh tế Việt Nam và ngân sách quốc gia của Việt Nam sẽ suy sụp nhanh chóng .

Điều này sẽ đặt Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tình thế lâm nguy về an toàn chính trị trước suy thoái kinh tế. Khi nguồn lợi tài chánh từ dầu hỏa mất đi , Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ bị tê liệt về ngân sách , dẫn đến sụp đổ nhanh chóng về chính trị.

Ba đời thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, từ Võ Văn Kiệt đến Nguyễn Tấn Dũng điều là người miền Nam và có liên quan trực tiếp đến sự an toàn, tự do khai thác dầu hỏa cho “BẢY CHỊ EM” ngoài khơi lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Bộ luật đầu tư khai thác dầu hỏa được thông qua để  BẢY CHỊ EM tư do đấu thầu, khai thác dầu hỏa  ban hành  vào năm 1993 khi Võ Văn Kiệt là thủ tướng.

Chevron đã vào Việt Nam năm 1994 dưới sự bảo vệ về chính trị của Kiệt để đổi lại những khoảng tài chánh cứu trợ cần thiết cho Việt Nam và Đảng cầm quyền cũng như sự hậu thuẫn của Chevron cho Việt Nam trong chính trường Mỹ.

Sau đây là một đoạn từ lá  thơ của Lisa Barry , General Manager Government Affairs ( Tổng Giám Đốc Tư Pháp ) của Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ ( House of Representative- H. R. ) , áp lực Hạ Viện tiếp tục duy trì  quy chế tự do mậu dịch “Permanent Normal Trade Relations “ gọi tắt là PNTR với Việt Nam. PNTR cho phép tự do mậu dịch giữa hai quốc gia Việt- Mỹ được hợp pháp – nguyên văn bằng tiếng Anh :

“ Chevron is a long term  investor in Viet Nam . We re-entered the Vietnamese market as soon as it was legally permissible  following the end of US trade embargo in 1994 and have increased our present since then as opportunities have been available . We are please to support and urge favorable consideration of the last step in the trade normalization process: extending Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) to Viet Nam as authorized by H.R 5602  “

(Xin tạm dịch : Chevron là một công ty đầu tư lâu dài tại Việt Nam. Chúng tôi hiện diện tại Việt Nam ngay sau khi cấm vận được bãi bỏ vào năm 1994 và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình khi có cơ hội đầu tư. Chúng tôi hết lòng vận động và ủng hộ bước tiến  cuối cùng của  quá trình bình thuờng hóa : tiếp tục duy trì  nghị quyết H.R 5602- Pernament Normal Trade  Relations (PNTR) , quy chế tự do mậu dịch với Việt Nam)

Đoạn trích trên từ lá thơ của công ty Chevron chính thức gởi đến Hạ Viện Hoa Kỳ là một bằng chứng đã cho thấy rõ ảnh huởng mạnh của giới “ BẢY CHỊ EM” lên mối quan bang giao Việt-Mỹ tác động đến nền chính trị và các quyết định chính trị sau này của Cộng Sản Hà Nội. Xin vào website để đọc hết toàn bộ nguyên văn bức thư bằng Anh ngữ .

Phan Văn Khải cũng là người miền Nam , tiếp nối Võ Văn Kiệt làm thủ tướng từ năm 1997 cho đến 2006 , trong thời gian này thì tổng sản lượng dầu hỏa của Việt Nam nhanh chóng nhãy vọt từ dưới 200 ngàn thùng dầu lên gần 400 ngàn thùng dầu mỗi ngày  do sự hiện diện mạnh mẽ của giới “BẢY CHỊ EM” dập dìu ngoài khơi Việt Nam  (biểu đồ 1 )

Trong giai đoạn  tăng vọt sản lượng dầu hỏa này, chỉ cần nhìn vào Chevron thì đã thấy cổ phần của Chevron tăng vọt tại các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam:

+ Block 122 – Phu Khanh Basin : Chevron sở hữu 20%,
+ Block B&48/95 – Malay/Tho Chu Basin : Chevron sở hữu lên đến 42.38%
+ Block 52/97- Malay/Tho Chu Basin Chevron sở hữu lên đến 43.40%

Ông Khải cũng được cho là nhờ sự vận động ráo riết của BẢY CHỊ EM để ông trở thành Thủ Tướng Cộng Sản đầu tiên viếng thăm Hoa Kỳ , ký kết hàng loạt các hợp đồng kinh tế , trong đó là chuyến đi thăm ngoạn mục đến nơi sản xuất của một người bạn lâu đời thủy chung của giới “BẢY CHỊ EM “, đó là hãng Boeing.

Nguyễn Tấn Dũng tiếp nối ông Khải làm Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam cũng là người miền Nam, mở rộng cửa cho hàng loạt các tay chân của BẢY CHỊ EM vào Việt Nam, trong đó có các hãng lọc dầu của Pháp, Nam Hàn, Nhật Bản.

Thời của ông Dũng, Trung Quốc gia tăng sách nhiễu BẢY CHỊ EM ngoài khơi Việt Nam khiến quan hệ hai nước Việt – Mỹ xích gần nhau hơn về quốc phòng dẫn đến hàng loạt các chuyến ngoại giao con thoi Mỹ- Việt .  “BẢY CHỊ EM”  đang hậu thuẫn mạnh cho chính giới Hoa Kỳ gia tăng hợp tác quốc phòng với Việt Nam. Sự hậu thuẫn này khiến bộ quốc phòng Mỹ lần lượt có những đối sách gia tăng tuần tra hợp tác tại biển Đông để bảo vệ quyền lợi đầu tư của “BẢY CHỊ EM”  ngoài khơi Việt Nam.

“BẢY CHỊ EM “ đã âm mưu núp bóng , dựng ra nhiều tập đoàn dầu hỏa cho nhiều quốc gia khác , rồi lôi kéo các tập đoàn này vào Việt Nam , chịu dựng sự xách nhiễu và hăm dọa từ Trung Quốc buộc lòng chính phủ các quốc gia này lên tiếng phản đối áp lực Trung Quốc , tạo ra một thế cuộc quốc tế hóa vấn đề dầu hỏa tại Biển Đông có lợi cho toàn cầu và đương nhiên , chỉ có hại cho tham vọng riêng tư của Trung Quốc.

Hệ quả của âm mưu này là Việt Nam có thêm hàng loạt các tập đoàn dầu hỏa từ Thái Lan , Nhật , Úc , Canada , Nam Hàn , Quatar , Kuwait , India ….vân vân mà hầu hết điều là con đẻ của “BẢY CHỊ EM ” ồ ạt vào Việt Nam dưới sự hậu thuẫn của chính phủ các quốc gia này.

Như vậy, Trung quốc nếu muốn xách nhiễu hay áp lực cũng mệt mỏi vì có quá nhiều quốc gia liên can , nhiều tập đoàn khác nhau để liên hệ phản đối.

Các nhà phân tích , chiến lược gia đang chờ xem Trung Quốc sẽ đối phó với âm mưu này của BẢY CHỊ EM như thế nào.

Nền chính trị của Việt Nam độc tài Cộng Sản hôm nay và Tự Do Dân Chủ mai sau  luôn luôn sẽ phải chịu  những tác động và ảnh huởng mạnh từ “BẢY CHỊ EM”  Đây là một thực tế cần phải chấp nhận khi bàn thảo những đối sách chính trị cho Việt Nam
 
III. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” trong lịch sử  của Việt Nam:

Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam là điều mà các sử gia vẫn chưa chịu thừa nhận vì ảnh hưởng này không ồn ào lộ ra ngoài cho mọi người nhìn thấy dù ảnh huởng này rất là quan trọng

Trong quá khứ, Nhật Bản buộc lòng phải tấn công Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  vì Hoa Kỳ  cấm vận mọi chuyên chở dầu hỏa từ con đường dầu hỏa (đề cập ở phần II bên trên)  lên Nhật Bản khiến Nhật Bản sẽ suy xụp tê liệt hoàn toàn về kinh tế  nếu không có  hành động để tìm một giải pháp.

Hoa Kỳ hành động cấm vận dầu hỏa quyết liệt như vậy đối với Nhật Bản là để trả đũa hành động Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng, lúc bấy giờ còn thuộc Đông Dương- L’indochine do Pháp kiễm soát vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Nhật Bản tấn công cảng Hải Phòng nhằm cắt đứt đường mua bán , trao đổi tiếp viện xăng dầu đạn dượt cho chính phủ của Tưởng Giới Thạch  từ Hoa Kỳ thông qua cảng Hải Phòng và đường rày nối liền Hài Phòng- Hà Nội- Lào Cai- Côn Minh và Vân Nam (Sino- Vietnamese railway)

Như vậy, cuộc đối đầu trực diện nảy lửa giữa Hoa Kỳ  với Nhật Bản  về ngoại giao  từ năm 1940 dẫn đến đối đầu quân sự trực diện ngay năm sau đó bằng trận tấn công Trân Châu Cảng kinh hoàng bởi Nhật Bản vào ngày 7 tháng 12 năm 1941  tạo ra đệ Nhị Thế Chiến tại Châu Á khởi nguồn từ sự xâm lược của Nhật Bản vào cảng Hải Phòng vào ngày 26 tháng 9 năm 1940

Trong khi đó, Trung Quốc đã bị Nhật Bản xâm lược trắng trợn từ năm 1935 nhưng Hoa Kỳ vẫn chỉ phản đối cho có lệ mà thôi, không hề có những hành động cấm vận cương quyết toàn diện đối với Nhật Bản như sau trận tấn công Hải Phòng của Nhật.
Đây là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng mà các chiến lược gia của Hoa Kỳ cố gắng đánh lờ đi.

Việt Nam lao vào lốc xóay của Đệ Nhị Thế Chiến bởi những tranh chấp dầu hỏa giữa các siêu cường trong vùng.

Quyết định của chính phủ Hoa Kỳ cấm vận Nhật Bản dẫn đến chiến tranh đương nhiên là có sự hậu thuẫn của “BẢY CHỊ EM”  vì các đại công ty dầu hỏa lúc bấy giờ không muốn bị Nhật Bản khống chế khi chuyên chở dầu hỏa trong vùng  cũng như cắt đứt một khách hàng tiêu thụ xăng dầu khổng lồ của “BẢY CHỊ EM” là Trung Hoa Quốc Dân.

Khi Đệ II thế chiến chấm dứt  năm 1945 , trợ tá đắc lực của tướng Douglas MacArthur, Thống Đốc Toàn Quyền Nhật Bản là phó thống đốc toàn quyền Laurence Rockefeller, cháu ruột của ông tổ ngành dầu hỏa Hoa Kỳ , John D.  Rockefeller, tìm đủ cách tăng viện cho Hồ Chí MInh ,  mượn tên này gây rối Đông Dương để Hoa Kỳ CÓ CƠ HỘI CAN THIỆP CHÍNH TRỊ VÀO ĐÔNG DƯƠNG mai sau, nhằm có điều kiện kiểm soát dò tìm trữ lượng dầu hỏa và khí đốt tại miền nam duyên hải Việt Nam và lập ra kế hoạch khai thác   lâu dài trên biển Đông  sau này.

Chín năm sau đó , tức là năm 1954-1955 , cũng Laurence Rockefeller , lúc bây giờ là trợ tá đắc lực cho tổng thống Eisenhower, đã cố vấn cho chính phủ Hoa Kỳ,  vận động hậu trường chính trị  ở Washington DC ủng hộ Diệm truất phế Quốc Trưởng  Bảo Đại nhằm chấm dứt vĩnh viễn ảnh huởng của người Pháp lên Đông Dương , mở rộng cửa cho Hoa Kỳ can dự vào chính trị tại Việt Nam , mở ra cơ hội cho Hoa Kỳ chuẩn bị thăm dò khẳng định trử lượng dầu hỏa của Việt Nam, ngoài khơi Cửu Long Basin và quần đảo Trường Sa.

Vào thập niên 1950 , kỹ thuật thăm dò dầu hỏa ngoài khơi của Hoa Kỳ  đã rất tiến bộ và chính xác , chỉ cần cho nổ bom hoặc mìn dười lòng biển sâu , rồi đo sự dội lại của âm thanh sẽ biết được chính xác vị trí của salt dome , tức là những bọng muối chứa dầu bên dưới.

Từ năm 1964 trở đi, “BẢY CHỊ EM” ta , nhờ các kế họach quân sự của Hoa Kỳ khi tham chiến tại Việt Nam làm bình phong che đậy, đã có thể âm thầm thực hiện kế hoạch thăm dò mười năm của mình trên toàn bộ vùng biển Đông , biết rõ chính xác và chi tiết  trữ lượng cũng như vị trí sự phân bố dầu hỏa trên vùng biển Đông này.

(Nếu không có sự thăm dò này , EIA của Hoa Kỳ làm sao có dữ liệu , data mà thông báo?)

Hiện tại, chưa có một sử gia nào bỏ công nghiên cứu ảnh huởng sâu rộng của “BẢY CHỊ EM ” lên lịch sử của Việt Nam.

Đơn giản là vì, giới “BẢY CHỊ EM ” ta không bao giờ lộ diện mà đứng đàng sau các nhân vật chính trị , hoặc vây cánh với các nhân vật chính trị  của Hoa Kỳ để ảnh huởng đến các quyết định chính trị sao cho có lợi cho mình và phù hợp với tình thế chính trị toàn cầu

Hoa Kỳ ảnh huởng sâu rộng đến lịch sử của Việt Nam từ năm 1945 đến nay từ việc đưa Hồ Chí Minh về đảo chánh chính phủ Trần Trọng Kim gây rối Đông Dương, cắt viện trợ chiến tranh cho nước Pháp tại Đông Dương khiến Pháp khốn đốn mà bỏ Đông Dương,  rồi đến tham chiến suốt 18 năm , sau lại  cấm vận Việt Nam 18 năm và giờ quay trở lại bảo vệ Việt Nam toàn diện từ kinh tế , quốc phòng đến môi trường thì rõ ràng , sự ảnh huởng của “BẢY CHỊ EM”, một thế lực mại bản hàng đầu của nước Mỹ,   lên các quyết định của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam , là điều tất nhiên xảy ra.

Chối bỏ vai trò & ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên lịch sử của Việt Nam sẽ khiến cho mọi sự nghiên cứu sử học cận và hiện đại của Việt Nam bị khiếm khuyết và lệch lạc đi

IV. Ảnh hưởng của “BẢY CHỊ EM” lên kinh tế Việt Nam

Sự hiện diện đầy đủ của  “BẢY CHỊ EM”  ta tại Việt Nam về lâu về dài đương nhiên tạo ra sức mạnh tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam.

Căn cứ  vào dữ kiện  của World Bank , thì thu nhập về dầu hỏa của Việt Nam đang từ con số không vào năm 1986 đã lên đến gần 7 % tổng giá trị sản lượng quốc dân GDP vào năm 2012.

Biểu đồ 2:Thu nhập từ dầu hỏa của Việt Nam (%GDP)
bieu-2

Ghi chú: Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Trong điều kiện kinh tế lạm phát và tăng trưởng ở mọi quốc gia trên toàn cầu , nhu cầu về năng lượng chỉ gia tăng chứ không có giảm và dù nhiều kỹ thuật tân tiến được áp dung để tránh lệ thuộc vào dầu hỏa, thì dầu hỏa vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của mọi nền kinh tế. Do đó , về lâu về dài,  giá dầu chỉ có xu huớng gia tăng chứ không có giảm.

Biểu đồ lên xuống giá cả của dầu hỏa trong suốt 40 năm tính từ năm 1973 đã cho thấy giá dầu đã tăng từ 16 Mỹ kim một thùng vào năm 1973 lên đến gần 50 Mỹ kim một thùng vào năm 2013.  Còn nếu lấy cột mốc là năm 1994 tức là năm khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận cho Việt Nam thì giá dầu đã tăng gần 20 Mỹ kim một thùng khiến lợi nhận dầu hỏa của Việt Nam chiếm từ 3% tổng giá trị sản lương quốc dân GDP vào năm 1994 lên gấp đôi trên 6% vào năm 2013

Biểu đồ 3 : Biến chuyển giá dầu 1973-2015 ( US dollars / barrel )
bieu-3

Ghi chú : Gạch đỏ ở trên là chỉ dấu mốc năm Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận đối với Việt Nam

Tuy nhiên , nếu chỉ nhìn về trị giá dầu hỏa mà coi đây là nguồn lợi duy nhất mà “BẢY CHỊ EM” có thể đem lại cho nền kinh tế Việt Nam là hoàn toàn sai lầm.

Sự hiện diện của “BẢY CHỊ EM ” là cơ hội rất tốt để Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng kinh tế từ kho bãi , cảng , kỹ thuật  , nhà máy lọc dầu , các nhà máy sản xuất các hóa chất trọng yếu cho kinh tế quốc gia, kiến thức quản lý. Đó là chưa kể “BẢY CHỊ EM” là nguốn tài trợ vô cùng lớn cho Việt Nam gia tăng khả năng sản xuất điện với kỹ thuật tân tiến, một nhu cầu vô cùng quan trọng cho một xã hội đang phát triển.

Chỉ tính riêng công ty ExxonMobil mà thôi, một khối lượng vốn lên đến 20 tỷ Mỹ kim đã được công ty này loan báo đầu tư vào Việt Nam vào ngày 19 tháng Ba năm 2014 tại Hà Nội không phải để mua dầu mà là để xây nhà máy nhiệt điện sử dung khí đốt khái thác tại biển Đông. Chỉ với 20 tỷ Mỹ kim mà ExonMobil đã là công ty đứng hàng thứ bảy về số vốn đầu tư tại Việt Nam thì rõ ràng , nếu tính sự hiện diện đầy đủ của “BẢY CHỊ EM “,tức là sự hiện diện của mọi tập đoàn dầu hỏa được  chính phủ Hoa Kỳ  hậu thuẫn thì con số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng cho Việt Nam từ các công ty này sẽ vượt qua xa tất cả các công ty không thuộc giới ….”BẢY CHỊ EM “!

Ước đoán số vốn đầu tư của “BẢY CHỊ EM ” tại Việt Nam  như sau:

1. Chevron: 7 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy điện chạy bằng khí đốt khai thác từ BLOCK B từ Cửu Long Basin , trong đó có tính luôn cả chi phí các ông dẫn khí từ khơi vào đất liền có chiều dài lên đến 400 km. Chevron cũng được cho là sở hữu 42 % số dầu khai thác từ Cửu Long Basin theo các hợp đồng đã ký với Cộng Sản Hà Nội.

2. ExxonMobil : 20 tỷ Mỹ kim cho hai nhà máy nhiệt điện lớn từ khí đốt tại tỉnh Quãng Ngãi. Hợp đồng này khiến Việt Nam có cơ sở hạ tầng tân tiến , cải thiện sức mạnh kinh tế quốc dân.

3. British Petroleum(BP) ” được cho là bỏ ra 2 tỷ Mỹ kim để thăm dò Block 05-2 tai Nam Côn Sơn , có tin đồn là bỏ của tháo chạy vì bị Trung Quốc đe dọa và lấy cớ là cần tiền để bồi thuờng vụ rò rỉ ( leak) dầu tại  Gulf of Mexico  nên bán mọi asset  tại Việt Nam nhưng nay rõ ràng BP có cổ phần gần như mọi dự án lớn nhỏ về năng lượng của Việt Nam.  Hệ thống ống dẫn khí đốt đang hoạt động tại Việt Nam hầu hết là do BP thi công , trừ hệ thống ống dẫn của Chevron .

4. Shell : Được cho là bỏ ra gần 300 triệu để đầu tư sản xuất dầu cơ khí , hay còn gọi là dầu máy hoặc là nhớt máy. Tuy con số tiền đầu tư có vẻ ít nhưng Việt Nam chưa hề tự lực nổi về sản xuất dầu nhớt cơ khí và cần Shell hiện diện để canh tân kỹ thuật và cung ứng cho nhu cầu quan trọng này của xã hội

5. ConocoPhilipe : công ty dầu hỏa mới thành lập của Hoa Kỳ , được cho là lớn đứng hàng thứ ba trên thế giới trong giới “BẢY CHỊ EM ” ngày nay , nắm 23.25% cổ phần block 15-1 , 36%  cổ phần block 15-2; và 16.3 % hệ thống Nam Côn Sơn ống dẫn dầu và khí đốt ( Nam Con Son pipeline) .

ConocoPhilipecũng loan báo bán tháo bỏ chạy ra khỏi Việt Nam vì Trung Quốc đe dọa năm 2012 , nhưng nay cũng quay trở lại khi biết chính sách “nhìn về châu Á “ của Obama được thi hành. Tổng trị giá tài sản mà  ConocoPhillipe có ở Việt Nam có thể lên đến 5 tỷ Mỹ kim là ít nhất

6. Korea National Oil Corporation (KNOC) : dù mang tiếng là của Nam Hàn nhưng thực chất Chevron đứng đàng  sau, theo chân Hoa Kỳ vào Việt Nam , nhận điều hành Block 11-2, tin rằng số vốn cơ sở hạ tầng tại Việt Nam lên đến khoảng 2 tỷ Mỹ kim

7. Nippon Oil Exploration Limited and Teikoku Oil : xuất thân tự Nhật có  35% cổ phần cho block 05-1 b và 05-1c. Số vốn hạ tầng tại Việt Nam khoảng 4 tỷ Mỹ kim

Thu nhập ngoại tệ từ dầu hỏa , canh tân cơ sở hạ tầng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân như hệ thống  ống dẫn dầu hay khí đốt , hệ thống nhà máy nhiệt điện , hệ thống nhà máy chưng cất dầu ( oil refinery ), nhà máy sản xuất ống dẫn dầu và các thiết bị liên quan , dàn khoan dầu , tàu chở dầu , phi trường  , công ăn việc làm  , kỹ thuật , vân vân là những quyền lợi kinh tế rất lớn  mà giới “BẢY CHỊ EM “sẽ mang đến cho Việt Nam về lâu về dài, chưa kể hậu thuẫn về an ninh quốc phòng cho Việt Nam trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc.

V. Kết Luận:

“BẢY CHỊ EM ” hay còn gọi là Seven Sisters là tiếng lóng để chỉ các tập đoàn dầu hỏa hàng đầu thế giới, hầu hết là được chính phủ Hoa hậu thuẫn đằng sau.

Các công ty dầu hỏa này đang ngày càng có một ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong thuợng tầng , lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam và sẽ còn tiếp tục ảnh huởng đến nền chính trị của quốc gia chúng ta trong tương lai sau khi cộng sản xụp đổ

Việt Nam bị lôi cuốn vào đệ nhị thế chiến cũng vì những căng thẳng về dầu hỏa xãy ra giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ do sự cấm vận từ Hoa Kỳ sao khi Nhật Bản tấn công  cảng Hải Phòng của Việt Nam thời Đông Dương thuộc Pháp . Hai cuộc chiến tại  Việt Nam sau 1945 điều có sự can dự âm thầm của giới “BẢY CHỊ EM ” và là cơ hội tốt để giới BẢY CHỊ EM tiến hành thăm dò trử lượng dầu hỏa và khí đốt tại biển Đông . Cho nên, lịch sử của Việt Nam thật sự đã bị ảnh hưởng bởi giới ” BẢY CHỊ EM” mà các sử gia cần thừa nhận và đào sâu thêm

Ảnh hưởng về kinh tế đối với Việt Nam từ giới “BẢY CHỊ EM ” rất lớn . Sự hiện diện của  “BẢY CHỊ EM” tại Việt Nam sẽ thúc đẩy Việt Nam canh tân cơ sở hạ tầng và đem đến một tương lai thịnh vượng hơn cho đất nước về đường dài.

© Đàn Chim Việt

2014, Viet Nam  khai thác 400.000 thùng dâù thô / 1 ngày

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ, Quan Hệ Mỹ và Trung Quốc- ở Châu Á | Leave a Comment »

►Giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn giàn khoan Hải Dương 981

Posted by hoangtran204 on 07/05/2015

 giàn khoan mới vào Biển Đông nguy hiểm hơn Hải Dương 981

Ngày 30/4, Trung Quốc tuyên bố giàn khoan COSLProspector chính thức rời thành phố Yên Đài lên đường tới Biển Đông.
Đây là giàn khoan thứ tư mà Tập đoàn đóng tàu CIMC Raffles chuyển giao cho Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL-China Oilfield Services Ltd.) và là giàn khoan bán ngầm nước sâu thứ hai Bắc Kinh điều tới Biển Đông sau giàn khoan Hải Dương 981.

Hiện đại hơn giàn khoan Hải Dương 981

Công ty Dịch vụ Dầu mỏ Trung Quốc (COSL) đã nhận giàn khoan bán nổi COSLProspector (Hưng Vượng) này vào ngày 19/11/2014.

Giàn khoan COSLProspector

Giàn khoan COSLProspector được trang bị các công nghệ tiên tiến – trong đó có hệ thống định vị động (DP3), biến tần thông minh và rã đông tự động, với hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới.

Hệ thống định vị động DP3 được lắp đặt trên giàn khoan COSLProspector đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất của Na Uy và Trung Quốc.
So với các giàn khoan nửa nổi nửa chìm khác đã được bàn giao trước đó như COSLPioneer, COSLPromoter, COSLInnovator, giàn khoan COSLProspector có thể hoạt động trong môi trường băng giá. Nó có thể hoạt động hầu như khắp mọi nơi thế giới, trừ những khu vực có nhiệt độ dưới -20 độ C.

Giàn khoan COSLProspector đã trải qua tất cả các xét nghiệm và điều chỉnh cần thiết. Giàn khoan này được thiết kế để hoạt động khoan nước sâu ở Biển Đông trong nửa đầu năm 2015.

Giàn khoan COSLProspector hiện đại hơn Hải Dương 981 vì nó được trang bị hệ thống khoan tiên tiến nhất thế giới với hệ thống định vị động có thể bảo đảm cho giàn khoan này hoạt động bình thường trong bão cấp 12 ở Biển Đông.

COSLProspector là giàn khoan bán nổi thứ 7 do CIMC Raffles chế tạo. Hãng CIMC Raffles hiện đang đóng tiếp bốn giàn khoan bán nổi nữa và tất cả đều đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhất trên thế giới.

Giàn khoan này hoạt động ở độ sâu tối đa 1.500 m, độ sâu tối đa của giếng khoan là 7.600 m, nhân viên trên giàn khoan theo quy định là 130 người, tải trọng sàn tàu 5.000 tấn

Về hãng đóng tàu CIMC Raffles Yên Đài

CIMC Raffles Yên Đài là một hãng đóng tàu ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc đại lục. Hãng đóng tàu này hiện do CIMC Raffles Offshore Ltd điều hành.

Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài do công dân Singapore Brian Chang sáng lập, nhưng bị Trung Quốc thâu tóm năm 1993.

Năm 1994, công dân Singapore Brian Chang đã thành lập Hãng đóng tàu Raffles Yên Đài nằm gần Nhật Bản và Hàn Quốc, một khu vực chiếm tới 80% công suất đóng tàu của toàn thế giới. Đây là hãng đóng tàu duy nhất ở Trung Quốc do người nước ngoài chiếm đa số cổ phần.

Tháng 3/2013, CIMC đã mua hết số cổ phần còn lại của CIMC Raffles Yên Đài và biến nó thành công ty con của CIMC Offshore Holdings Co. Ltd.

Giàn khoan này từ khi ký hợp đồng đóng đến khi bàn giao chỉ mất có 35 tháng. Công ty CIMC Raffles có 9 giàn khoan nước sâu nửa chìm đã được đưa đến các vùng biển trên thế giới như Bắc Hải, Brazil, vịnh Mexico, Tây Phi để hoạt động.

Phó Tổng giám đốc CIMC Raffles là Vu Á cho rằng, giàn khoan COSLProspector gia nhập “tàu chủ lực” nước sâu cho thấy Yên Đài hoàn toàn có khả năng cung cấp giàn khoan nước sâu với số lượng lớn cho ngành dầu khí Trung Quốc.

Thông số kỹ thuật:

Dài: 104,5m; Rộng: 70,5m; Cao: 37,5m. Hoạt động ở vùng biển sâu đến 1.500m. Khoan sâu tối đa: 7.600m. Hoạt động ở nhiệt độ thấp nhất: -20 độ C. Tải trọng sàn tối đa: 5000 tấn. Số nhân viên là việc trên giàn khoan: 130 người.

Đỗ Phong (Đất Việt)

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Dầu Hỏa và Khí đốt, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »