Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Nợ công và Nợ doanh nghiệp’ Category

►Nợ công của Việt 3,1 triệu tỷ đồng năm 2017— Trước đó, năm 2015 nợ công là 2,1 triệu tỷ đồng

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2018

2015 dư nợ của Chính phủ là hơn 94 tỷ USD, tương đương hơn 2 triệu tỷ đồng

Cuối 2017, dư nợ công khoảng 3,1 triệu tỷ đồng, tương đương 62,6%GDP.

 

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Các chủ nợ nước ngoài của Việt Nam là ai? (26-6-2014)

Posted by hoangtran204 trên 28/01/2018

Vào ngày 27-11-2017, nợ công của VN là gần 95 tỷ US đô la
 
Nợ công của VN là nợ do nhà cầm quyền Hà Nội đi vay tiền của hơn 10 quốc gia và các tổ chức tín dụng để chi tiêu.
80 % số nợ của VN hiện nay là số tiền mà VN đã đi vay mượn dưới thời TBT Nguyễn Phú Trọng, và cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 2006-2016.
Trong 3 năm qua, số tiền chính phủ VN đi vay nợ của nước ngoài và của quỹ bảo hiểm xã hội trong nước là : 2015 (15 tỷ), 2016 (20 tỷ), và 2017 (16 tỷ).  
 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►VN lại mượn tiền: ADB phê duyệt hai khoản vay gần 300 triệu USD cho Việt Nam (Thứ 2, 18/12/2017)

Posted by hoangtran204 trên 19/12/2017

Năm 2017:

-mượn ADB 470 triệu đôla

-mượn World Bank 1 tỷ 663triệu đôla 

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Năm 2017, Nợ công tiếp tục tăng trên 3,1 triệu tỷ đồng (25/10/2017)

Posted by hoangtran204 trên 05/11/2017

Nợ công năm 2017 sẽ là 3,1 triệu tỷ đồng, nghĩa là tăng thêm khoảng 300 nghìn tỷ đồng so với năm 2016.

►Năm 2016, Nợ công 2,86 triệu tỷ đồng (hay $128 tỷ USD)– Nợ chính phủ 2,4 triệu tỷ đồng (hay $106 tỷ USD)

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Thời Sự | Leave a Comment »

►Năm 2016, Nợ công 2,86 triệu tỷ đồng ( $128 tỷ USD)– Nợ chính phủ 2,4 triệu tỷ đồng ($106 tỷ USD)

Posted by hoangtran204 trên 05/11/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Thời Sự | Leave a Comment »

►Năm 2015: Nợ công 2,5 triệu tỷ đồng ($117 tỷ USD)— Nợ Chính phủ 2,1 triệu tỷ đồng ($92,5 tỷ USD)

Posted by hoangtran204 trên 05/11/2017

Nợ công 2,5 triệu tỷ đồng bằng 61,8% GDP

Nợ Chính phủ  2,1 triệu tỷ đồng, bằng 50% GDP .

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nợ công 2017 tiếp tục phình to 3,2 triệu tỷ đồng, hay 137 tỷ đô la, mỗi người phải ‘gánh’ 33 triệu đồng (1-11-2017)

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2017

Nền kinh tế VN chỉ dựa trên bán tài nguyên khoáng sản, gia công hàng hóa. 

Khi giá dầu thô từ cuối 2014 chỉ còn $44-52, so với $98-120 (2010-2014), nhà nước bị thâm hụt ngân sách: chi nhiều hơn thu.

Bội chi ngân sách kéo dài nhiều năm khiến tốc độ tăng nợ công gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP… (GDP của VN tăng trưởng khoảng 6% mỗi năm.

GDP  tăng chủ yếu do các doanh nghiệp vốn nước ngoài (FDI) đầu tư vào VN, thuê nhân công VN làm việc,  và sản xuất hàng hoá.  Thí dụ, Samsung Electronic VN mở các hãng xưởng ở Bắc Ninh và Thái Nguyên, thuê nhân công VN lắp ráp điện thoại, khoảng 30 triệu cái, làm các hàng hoá khác và xuất khẩu khoảng 30-35 tỷ USD hàng năm. Khi tính tổng sản lượng nội địa (GDP), Nhà nước VN gộp và tính luôn số tiền 30-35 tỷ USD của Samsung vào GDP.

Tháng 8/2017 đến cuối năm nay, nhà nước tung 600.000 tỷ đồng vào thị trường.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nợ của Việt Nam, Ngân sách thâm thủng, Thời Sự | Leave a Comment »

►Chính phủ sẽ vay 342 nghìn tỷ, trả nợ 260 nghìn tỷ trong năm 2017

Posted by hoangtran204 trên 06/09/2017

Với nền kinh tế sống bằng bán tài nguyên dầu khí và kiều hối, bởi vậy, mỗi khi 2 món trên giảm, thì Hà Nội phải đi vay mượn. Khi giá dầu thô xuống chỉ còn 42-47 đô la/1 thùng trong 3 năm liên tiếp, (so với trước đây 98-145 đô một thùng 2009-2014), Hà Nội phải đi vay 50 tỷ USD.

Ba năm 2015, 2016, và 2017, nhà cầm quyền Hà Nội đã đi vay 15 tỷ, 20 tỷ, và 15 tỷ USD để sống sót.

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

►”Cần vạch trần âm mưu báo chí hoặc thế lực nước ngoài bôi nhọ Việt Nam” (Vũ Hải Trần, 27-7-2017)

Posted by hoangtran204 trên 28/07/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Xa Hoi, Dầu Hỏa và Khí đốt, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Nợ công Việt Nam 2,5 triệu tỷ đồng, tính đến 31-12-2015: Các chuyên gia góp ý gì để quản lý hiệu quả? (THỨ 7, 20/05/2017)

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2017

Cafef.vn

20-5-2017

GDP 2015 là 198,8 triệu tỷ đồng. Nợ công chiếm 62,2% GDP. Chi trả nợ và viện trợ 148.300 tỷ đồng, gần 7 tỷ USD/ năm.

 

Đọc tiếp »

Posted in Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Ngân sách Nhà nước chi khoảng 815 tỉ đồng trả lãi và nợ gốc mỗi ngày, hay 13 tỷ USD/ năm (tin 30-4-2017)

Posted by hoangtran204 trên 02/05/2017

LĐO KINH TẾ H.M 08:46 ngày 30/04/2017
 
 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Bộ trưởng Tài chính: ‘Chi tiêu như thế thì chỉ có chết’

Posted by hoangtran204 trên 22/03/2017

“mức bội chi trong giai đoạn 2011-2015 rất cao, tổng vay nợ khoảng 1,4 triệu tỷ đồng.

“Bội chi như vậy thì nợ công tăng… Việc huy động vốn thời hạn vay rất ngắn, lãi suất cao, có những khoản lãi suất tới 11-13%/năm”

Bộ trưởng Tài chính: ‘Chi tiêu như thế thì chỉ có chết’

THỜI S

Ông Đinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Tài Chính, cho rằng việc nợ công tăng nhanh là do làm ra ít nhưng chi tiêu nhiều.

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nợ, trả nợ, và khủng hoảng-Nợ Chính Phủ và nợ doanh nghiệp: 431 tỷ USD hay 210% GDP

Posted by hoangtran204 trên 03/03/2017

Cả 2 loại nợ cộng lại 431 tỷ USD, hơn 200% GDP 2016:

-nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.

-năm 2016, nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP.

Nợ, trả nợ và khủng hoảng

09/02/2017 | 11:33

Vũ Quang Việt*

Đọc tiếp »

Posted in Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: nợ công tăng rất nhanh, mức tăng trung bình trong 5 năm qua là 18,4%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế -Chính phủ yêu cầu nghiên cứu huy động vàng, ngoại tệ trong dân

Posted by hoangtran204 trên 08/01/2017

trong bối cảnh World Bank sẽ chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam

Nợ công tăng nhanh gấp ba tốc độ tăng trưởng

Tuổi Trẻ, 7-1-2017

TTO – Tại hội nghị của Bộ Tài chính chiều 7-1, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tỉ lệ nợ công tăng rất nhanh, mức tăng trung bình trong năm năm qua là 18,4%, gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế. 

(TT Phúc hàm ý rằng: nhiệm kỳ 2 của thủ tướng N. Tấn Dũng hoàn toàn thất bại, phải đi vay nợ suốt 5 năm qua 2011-2016.)

 

Đọc tiếp »

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam, Ngân sách thâm thủng | Leave a Comment »

►Những kẻ nào ăn ốc, giờ bắt nhân dân đổ vỏ

Posted by hoangtran204 trên 28/10/2016

FB Tèo Ngu Khìn

28-10-2016

Dự án tràn lan không suy tính hiệu quả, đầu cơ dồn dập vào bất động sản thay vì đầu tư vào các ngành sản xuất Việt Nam có thế mạnh để tạo gia giá trị gia tăng thực, bán buôn chứng khoán ma mãnh, cho vay sân sau, cánh hẩu, rút ruột ngân hàng…dẫn đến hệ quả núi nợ xấu càng ngày càng phình lớn.

Đã thế lại không minh bạch xử lý nợ xấu theo đúng cơ chế thị trường, cho phá sản theo luật, thông tin tỷ lệ nợ xấu không chuẩn…, đem “nhốt” nợ xấu vào VAMC để làm đẹp sổ sách & bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Sau 5 năm bày trò “VAMC”, nợ xấu có giải quyết được không? Nợ xấu có biến mất không, hay thật ra nợ xấu ngày càng biến chất?

Nhân dân Việt Nam hầu hết thuộc thành phần nghèo, cái ăn còn chưa đủ nói gì đến tiêu hoang. Thế mà, một bọn “lợi ích nhóm” Tư Bản Đỏ – cấu kết giữa quan tham biến chất & doanh nghiệp bất lương – một bọn chỉ chiếm tỷ lệ dân số rất nhỏ lại ăn trên ngồi trốc, bòn rút của cải xã hội, tiêu xài hoang phí vô tội vạ, để đất nước rơi vào thảm cảnh nợ công chồng chất, nợ xấu phình to.

Kết kim thất bại, hút 500 tấn vàng trong dân cứ ngỡ dân ngu, dùng chiêu 0% lãi suất tiền gửi để ép dân bán ngoại tệ mạnh không thành, giờ lại “dụng mưu” đề xuất Nhà nước tạm ứng tiền ngân sách để xử lý nợ xấu? Ngân sách nhà nước không phải tiền mồ hôi nước mắt toàn dân đóng thuế mà ra ư? Tiền cực khổ của dân chúng đóng góp sao lại có thể lấy dùng để cứu một lũ ăn tàn phá hại? Lẽ công bằng xã hội đâu?

Nợ xấu 262.054 tỷ đồng – hơn 12 tỷ USD – hiện nằm chết dí trong cái gọi là công ty quản lý tài sản VAMC do ai gây nên? Những kẻ nào đã “ăn ốc”, giờ lại bắt dân đen “đổ vỏ”? Quýt làm giờ cam chịu?

Còn “chiêu thức” nào nữa không? Kết kim bất thành, moi vàng thảm bại, hút đô la không xong, bán tài sản công qua cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hòng có tiền xài thì liệu có mãi mà bán, vay nợ nước ngoài ngày càng khó và lợi suất giờ bị đẩy lên cao hơn xưa, v.v.

Thế thì “xoay sở” cách chi đây?

Liệu có dám liều mạng như đại thi bá nhà thơ cựu phó thủ tướng Tố Hữu khi trước mà làm chiến dịch Đổi Tiền để đẩy lạm phát phi mã cho theo kịp Zimbabwe?

Hay ‘vay’ của người anh cả 4 tốt 16 vàng phương bắc? Vay thì phải trả chứ? Nhưng liệu sẽ còn gì để trả không? Có ư? Đất liền, hay Biển, Đảo?

anhbasam

______________

TBKTSG

Chủ tịch VAMC kêu gọi xã hội chung tay xử lý nợ xấu

Tư Giang

27-10-2016

Nhiều người đang kêu gọi cần nhìn nhận khách quan về nợ xấu. Ảnh: TL

Nhiều người đang kêu gọi cần nhìn nhận khách quan về nợ xấu. Ảnh: TL

Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) Nguyễn Quốc Hùng kêu gọi xã hội chung tay xử lý nợ xấu.

Tại hội thảo “Xử lý nợ xấu – những nút thắt cần tháo gỡ” do Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Quốc hội, và VAMC tổ chức chiều 26-10 tại Hà Nội, ông Hùng nói, để VAMC thành công trong công tác xử lý nợ xấu, cần có cái nhìn khách quan về nợ xấu.

“Nợ xấu không phải do một mình hệ thống ngân hàng gây ra mà do nhiều nguyên nhân, trong đó ngân hàng là một trong những nguyên nhân”, ông nói.

Ông Hùng bổ sung thêm: “Không để một mình ngành ngân hàng loay hoay xử lý nợ xấu, nợ xấu ảnh hưởng nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế, do vậy cả xã hội cần chung tay cùng hệ thống ngân hàng để xử lý nợ xấu, coi xử lý nợ xấu là trách nhiệm của toàn xã hội và cùng chung tay xử lý trên tinh thần công khai, minh bạch”.

Theo ông Hùng, cần có biện pháp thật mạnh đối với những khách hàng cố tình chây ỳ không hợp tác, nhất là những khách hàng có điều kiện trả nợ nhưng cố tình không trả, không bàn giao tài sản bảo đảm để phát mại.

Nợ xấu chiếm 5,84% tổng dư nợ

Dữ liệu của VAMC cho biết, tại thời điểm cuối tháng 9-2012 nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) ở mức 464.664 tỉ đồng, tương đương 17,21% tổng dư nợ tín dụng.

Trong năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, các TCTD đã cơ cấu lại 143.400 tỉ đồng dư nợ tín dụng.

Từ cuối năm 2012 đến tháng 8-2016, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 548.500 tỉ đồng nợ xấu, trong đó bán nợ cho VAMC 220.000 tỉ đồng, chiếm 40,14%.

Tính đến tháng 8-2016 nợ xấu là 147.000 tỉ đồng, chiếm tỷ lệ 2,66% tổng dư nợ. Nếu tính cả nợ xấu TCTD bán cho VAMC sau khi thu hồi nợ và xử lý rủi ro là 186.000 tỉ đồng thì tỷ lệ nợ xấu chiếm tỷ lệ 5,84 %.

VAMC đã làm gì với nợ xấu?

Tại hội thảo, Chủ tịch VAMC đã trình bày về các phương án xử lý nợ xấu trong thời gian qua.

Theo đó, đáng chú ý nhất là công tác mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB). Tính từ năm 2013 đến nay, VAMC đã thực hiện mua được 25.062 khoản nợ tại 42 TCTD, với tổng dư nợ gốc 262.054 tỉ đồng, giá mua nợ là 227.848 tỉ đồng. Hầu hết khoản nợ xấu đã mua đều có tài sản bảo đảm là bất động sản hoặc tài sản hình thành từ vốn vay kể cả bất động sản, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, dự án, trái phiếu doanh nghiệp.

Về công tác thu hồi nợ, VAMC đã phối hợp với các TCTD tổ chức thu hồi nợ đạt 37.983 tỉ đồng dưới nhiều hình thức thu hồi nợ như: bán nợ, bán tài sản bảo đảm… đạt tỷ lệ 15% dư nợ gốc nội bảng.

Ông Hùng cho biết, tốc độ thu hồi nợ so với tổng dư nợ đã mua còn hạn chế song tỷ lệ khách hàng tự trả nợ chiếm tới 70%, còn lại 30% là bán nợ, bán tài sản bảo đảm. Việc bán tài sản bảo đảm, bao gồm phát mại tài sản bảo đảm, thi hành án để thu hồi nợ chỉ đạt 10.990 tỉ đồng, chiếm tỷ lệ 28,9 %. Như vậy có thể thấy việc bán tài sản kể cả cưỡng chế thi hành án để thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn nếu khách hàng không đồng thuận và không tự nguyện bàn giao tài sản bảo đảm.

Khó khăn của VAMC

Báo cáo của VAMC tại hội thảo cho biết, với nguồn lực hạn chế về con người và mạng lưới hoạt động, trong khi số lượng khoản nợ VAMC đã mua rất lớn (trên 25.000 khoản), tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đa dạng, phân tán tại nhiều nơi, nên VAMC chưa thể trực tiếp quản lý để nắm bắt được đầy đủ thực trạng các khoản nợ mua từ TCTD, việc tổ chức thực hiện xử lý tài sản để thu hồi nợ kém hiệu quả. Hiện tại, VAMC chỉ có thể tập trung rà soát, phân loại đối với các khoản nợ có dư nợ lớn, số còn lại VAMC đã thực hiện ủy quyền các nội dung xử lý nợ ngay tại thời điểm mua nợ.

Bên cạnh đó, nguồn vốn của VAMC còn hạn chế và chưa phù hợp với yêu cầu xử lý nợ theo chức năng, nhiệm vụ của VAMC, đặc biệt trong công tác mua bán nợ theo giá trị thị trường. Việc xử lý nợ xấu của VAMC không thể triệt để và hiệu quả nếu không có dòng tiền thực sự để hỗ trợ các TCTD, khách hàng.

Hơn nữa, VAMC phải triển khai tất cả các nghiệp vụ quy định tại Nghị định 53/2013/NĐ-CP, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải giỏi về nghiệp vụ, vững về kiến thức pháp luật, có kinh nghiệm thực tiễn để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Trên thực tế, việc tuyển chọn cán bộ có năng lực rất khó khăn, chưa nói đến VAMC hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên khó thu hút người tài vào làm việc cho VAMC. VAMC chưa có cơ chế chính sách để thu hút các cán bộ có năng lực cũng như tạo động lực cho cán bộ cống hiến lâu dài.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nguyên nhân làm nợ công tăng cao: Giật mình về đơn giá xây dựng cho đầu tư công

Posted by hoangtran204 trên 09/09/2015

đơn giá áp dụng làm dự toán xây dựng tại các công trình do nhà nước đầu tư như: chung cư, trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính… do Bộ Xây Dựng ban hành cao hơn rất nhiều so với giá thực tế…

Giật mình về đơn giá xây dựng cho đầu tư công

4-9-2015

Báo Thanh Niên

Giá dự toán xây dựng của Bộ xây dựng ban hành đối với các dự án công cao hơn rất nhiều so với giá thực tế là một trong các nguyên nhân đẩy nợ công lên cao - Ảnh minh họa: Mai VọngGiá dự toán xây dựng của Bộ Xây dựng ban hành đối với các dự án công cao hơn rất nhiều so với giá thực tế là một trong các nguyên nhân đẩy nợ công lên cao
– Ảnh minh họa: Mai Vọng

Mới đây, một cuộc hội thảo có liên quan tới đầu tư công trong xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh lại một lần nữa làm tôi giật mình khi biết đơn giá áp dụng làm dự toán xây dựng tại các công trình do nhà nước đầu tư như: chung cư, trường học, bệnh viện, trụ sở hành chính… do Bộ Xây dựng ban hành cao hơn rất nhiều so với giá thực tế

Tại hội thảo, các chuyên gia đưa ra hàng loạt con số, chỉ nghe thôi đã thấy “choáng toàn diện”.
Báo Thanh Niên ngày 1.9 đưa tin, theo dự toán đơn giá xây dựng hiện hành thì 1m2 tường 20 cm mà Bộ Xây dựng xây dựng đơn giá thì chi phí vật tư là 140.000 đồng, nhân công 139.000 đồng… Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn Đực, Giám đốc Công ty TNHH tư vấn xây dựng Tân, một công ty chuyên về tư vấn xây dựng tại TP.HCM, giá chủ đầu tư trả nhân công cho nhà thầu chỉ 60.000 đồng/m2. Như vậy đơn giá nhân công theo dự toán cao hơn 2,31 lần so với nhân công thực tế.
Hay đơn giá theo dự toán sơn 1m2 tường hết 11.000 đồng tiền vật tư và 59.000 đồng trả cho nhân công trong khi thực tế chủ đầu tư trả nhân công cho nhà thầu chỉ 34.000 đồng.

Trong thực tế, khi xây dựng một công trình, giá nhân công thường thấp hơn giá vật tư, chỉ bằng khoảng 40% giá vật tư. Nhưng trong quy định dự toán của nhà nước, tiền trả cho nhân công lại cao hơn tiền mua vật tư. Cụ thể, đơn giá theo dự toán 1m2 xây dựng hoàn chỉnh thì tiền vật tư là 2.941.000 đồng và tiền cho nhân công là 2.956.000 đồng. Nhưng thực tế trong xây dựng tiền trả cho nhân công chỉ 1.179.000 đồng.

“Với mức giá mà nhà nước trả cho nhà thầu và thực tế nhà thầu trả cho nhân công thì nhà thầu lãi 50% số tiền”, ông Đực tính toán.

Ông Đực còn chỉ ra rằng, trong thực tế, khi xây dựng một công trình, giá nhân công thường thấp hơn giá vật tư, tức giá nhân công chỉ bằng khoảng 40% giá vật tư thì trong quy định dự toán của nhà nước, tiền trả cho nhân công lại cao hơn tiền mua vật tư. Cụ thể, đơn giá theo dự toán 1m2 xây dựng hoàn chỉnh thì tiền vật tư là 2.941.000 đồng và tiền cho nhân công là 2.956.000 đồng. Nhưng thực tế trong xây dựng tiền trả cho nhân công chỉ 1.179.000 đồng. Ông nói : “Đơn giá nhân công theo dự toán sẽ hơn 2,51 lần so với nhân công thực tế. Không những vậy, giá nhân công cao hơn vật tư là vô lý…”
Thật khó hiểu!
Một kiến trúc sư tại TP.HCM đã nêu ví dụ về vụ chặt cây xanh mới đây ở Hà Nội cho thấy nhiều khoảng tối. Theo dự toán, nhà nước chi trả là gần 36 triệu đồng/cây khoán gọn tất cả, từ đốn, hạ và vận chuyển nếu đường kính cây từ 1,2 m trở lên. Trong khi thực tế, chỉ cần bỏ ra khoảng 3 triệu đồng là có thể thuê được nhân công chặt một cây, cộng thêm tiền vận chuyển nữa sẽ đủ kinh phí hạ tới cả chục cây xanh. Không những vậy, chỉ mỗi khâu đánh dấu cây chặt mà nhà nước trả 670.000 đồng/cây thì quả là một sự lãng phí và vô lý hết sức.
Tôi chưa tán thành ý kiến của vị KTS nọ vì ông cho rằng những định mức và đơn giá này “được soạn trong phòng làm việc đã vài ba chục năm rồi”.
Nhưng tôi lại phần nào đồng tình với cái cách mà vị KTS phân tích: Cách đây 10 năm, khi chặt một cành cây thợ phải leo lên cây cắt thủ công, nên mỗi công thợ một ngày chỉ cắt 2 cành cây, mỗi cành 100.000 đồng, như vậy, mỗi ngày công nhân được trả 200.000 đồng. Còn bây giờ có máy móc hiện đại, mỗi ngày một công nhân có thể cắt 20 cành cây. Vì vậy, khi nhân lên nhà nước phải trả 2 triệu đồng/nhân công/ngày. Nhưng thực tế công ty cũng chỉ trả cho họ 200.000 đồng/ngày chứ làm gì có vị tiều phu nào ở Hà Nội có mức thu nhập đến 2 triệu đồng/ ngày như vừa nêu. Còn nếu như tôi nói sai, xin các cơ quan có trách nhiệm mách dùm , sẽ có rất nhiều người mơ được trở thành tiều phu lại được sống ở Thủ đô lắm.
Tôi cũng rất băn khoăn và không lý giải nổi, khi trên địa bàn Thủ đô đã từng xảy ra chuyện đơn vị thi công rút ruột công trình theo kiểu bớt lõi thép trong khâu làm móng, đại thể như cột bê tông lẽ ra phải có 20 thanh thép mới đúng thiết kế thì nay chỉ còn 17-18 thanh. Hoặc còn cách khác, vẫn đủ số thanh thép nếu” đếm cây nghiệm thu” thì họ thay bằng thép có đường kính nhỏ hơn để ăn bớt . Nghe mà khiếp vía vì hoang mang nếu ai đó định mua căn hộ…
Tuy kẻ làm bậy pháp luật đã xét xử, song các nhà chuyên môn lại cho rằng dù có bị rút ruột nhưng công trình vẫn an toàn, không đáng ngại vì còn có ngưỡng đã được dự phòng… Nếu quả vậy thì đúng là đầu tư công được tính toán xông xênh quá đi rồi, làm sao họ không tìm cách rút ruột công trình? Và nay, qua chuyện từ hội thảo trên, tôi cũng đã hiểu ra vấn đề.
Lâu nay, các chuyên gia kinh tế của chúng ta  luôn băn khăn về sự tụt hậu của Việt Nam so với một số nước trong khu vực như Singapore, như Thái Lan về năng suất lao động , nó quá chênh lệch nhau, có khi vênh đến cả chục lần. Lại càng không thể so với các nước có nền công nghiệp hiện đại ở các châu lục khác.
Vào những năm 60-70 của thế kỷ trước, những ai ở miền Bắc Việt Nam như chúng tôi đều đã từng một thời rất thán phục nước Cộng hhòa Dân chủ Đức ( Đông Đức) bởi trình độ, công nghệ và hạ tầng cơ sở của họ có một khoảng cách khá xa so với các nước XHCN còn lại. Những tưởng với cái đà đó, CHDC Đức sẽ ngày một vững mạnh và bứt phá nhanh nhất trong các nước thuộc cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Ấy vậy mà , khi phe XHCN sụp đổ, chúng ta mới vỡ lẽ CHDC Đức còn lạc hậu về nhiều mặt so với những người Đức ở bên kia bức tường Berlin, đó là CHLB Đức (Tây Đức).  Sau gần nửa thế kỷ theo đuổi XHCN, khi sáp nhập vào Tây Đức, GDP của Đông Đức chỉ góp được 7% của cả nước Đức mới so với 93% của Tây Đức dù cho họ chiếm khoảng 1/3 dân số so với Tây Đức.
Nếu cứ vẫn giữ cho mình một cung cách tư duy năm xưa như thế, cung cách làm việc như thế, tôi thật khó tin trong một vài chục năm nữa Việt Nam có thể có cuộc bứt phá ngoạn mục, đuổi kịp các nước trong khu vực cũng không hề dễ dàng. Việc để đơn giá nhân công quá cao đương nhiên sẽ là mầm mống của những lãng phí và tham nhũng, qua đó, nó sẽ  đẩy tiền đầu tư công lên rất cao, cao đến phi lý là không thể chấp nhận.

Hành

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

► Nợ công không còn là vấn đề đáng lo ngại của tương lai, mà là trước mắt.

Posted by hoangtran204 trên 15/10/2014

Nợ công: Không còn là vấn đề của tương lai

Tư Hoàng/ TBKTSG 

Ảnh bên:Hầm đường bộ Hải Vân – công trình xây dựng bằng vốn vay của Nhật Bản. Ảnh Wikipedia
 Ngưỡng an toàn nợ công của Việt Nam đang có nguy cơ bị xô đổ trong thời gian ngắn tới đây nếu căn cứ vào những số liệu chính thức của Chính phủ. Như vậy, nợ công không còn là vấn đề đáng lo ngại của tương lai, mà hiện hữu trước mắt.

Tuy nhiên, ngưỡng an toàn đó thực tế đã bị bỏ lại phía sau từ lâu, nếu nợ công được tính đúng và tính đủ, theo các tài liệu của Quốc hội.
Theo báo cáo của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nợ công của Việt Nam đến năm 2015 sẽ tiệm cận mức 64% GDP, gần sát ngưỡng an toàn là 65% GDP – được coi là chỉ tiêu mang tính pháp lệnh của Quốc hội trong kế hoạch 2011-2015. Mức nợ công sẽ vào khoảng 63% GDP vào cuối năm nay.
“Nợ công là mối đe dọa, cân đối ngân sách chưa tích cực, nếu không muốn dùng từ rất xấu”, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói trong phiên thảo luận gần đây của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
\
Ông lo ngại, nếu tốc độ tăng nợ công vượt ngưỡng an toàn 65% vào năm 2015, thì cả Quốc hội và Chính phủ sẽ rất khó để tăng bội chi, hay tăng chi cho đầu tư phát triển.
Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng để giúp Việt Nam hiện thực hóa giấc mơ trở thành quốc gia công nghiệp hóa đến năm 2020, ông bày tỏ.
Tuy nhiên, tiêu chí tính nợ công của Việt Nam là chưa đầy đủ, và thực tế nợ công của Việt Nam phải lớn hơn nhiều, theo Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển.
Ông Hiển nói, nợ công dự kiến lên gần 64% GDP tính đến cuối năm 2015 phản ảnh ngân sách Nhà nước “đang ở mức rất khó khăn” do nghĩa vụ trả nợ so với tổng ngân sách ở mức cao.
Chính phủ dự kiến sẽ dành 31,9% ngân sách để trả nợ trong năm 2015, tức cao hơn so với giới hạn 25% ngân sách dùng để trả nợ mà Quốc hội cho phép.
Nợ công đáng lo ngại hơn, nếu tính ở góc độ khác.
Ông Hiển giải thích: “Nợ công của chúng ta chưa được tính đầy đủ vì nợ công chưa tính hết nợ của Ngân sách nhà nước như nợ hoàn thuế, nợ bảo hiểm xã hội, và nợ cấp bù lãi suất cho hai ngân hàng thương mại quốc doanh”.
Một ví dụ cụ thể. Chỉ riêng tiền chi lương cho những người về hưu từ năm 1995 trở về trước đã lên tới 22.500 tỉ đồng trong năm nay. Tuy nhiên, con số này chưa được tính vào nợ công, và thực tế là ngân sách Nhà nước chưa có tiền trả, theo Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai.
Một khoản đặc biệt khác, là nợ của doanh nghiệp nhà nước lên tới 1,6 triệu tỉ đồng, theo Bộ Tài chính, cũng không được tính vào nợ công.
Trong kế hoạch năm 2015, Chính phủ đề nghị bội chi ngân sách Nhà nước là 226.000 tỉ đồng, tăng 20.000 ngàn tỉ đồng so với năm 2014.
Mức bội chi này tương đương với 5% GDP, và sẽ lên tới 7% GDP, nếu cộng với 85.000 tỉ đồng trái phiếu Chính phủ dự kiến phát hành trong năm sau.
Bội chi ngày càng lớn và được duy trì ở mức 5% GDP trong kế hoạch 2011-2015, cao hơn 4,5% GDP là chỉ tiêu của Quốc hội.
Tuy nhiên, bội chi chưa bao giờ bao bồm trái phiếu chính phủ. Nguồn vốn này phát hành tổng cộng lên tới 680.000 tỉ đồng tính tới nay, tương đương 18% GDP, theo Ủy ban Chứng khoán.
Tuy nhiên, vấn đề của nợ công nằm ở chỗ, nguồn vốn này có được sử dụng hiệu quả hay không.
Về góc độ này, thì nợ công là đáng lo, khi ngân sách Nhà nước dùng tới 72% để chi thường xuyên, tức chi ăn cho bộ máy; và 28% còn lại là chi cho đầu tư phát triển, và chi trả nợ.
Có nghĩa, là chi đầu tư phát triển – nguồn nuôi dưỡng chính để trả lại nợ – là không được đảm bảo.
Bộ Tài chính gần đây chỉ đồng ý chi 180.000 tỉ đồng cho đầu tư phát triển trong năm 2015, trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định phải cao hơn ở mức 242.000 tỉ đồng.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính có vẻ đã thắng thế khi Chính phủ đã trình ra Thường vụ Quốc hội con số 180 ngàn tỉ đồng.
Như vậy, nợ công đã thực sự trở thành vấn đề đáng lo ngại, chứ không phải chỉ là chuyện rủi ro trong tương lai.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Quốc hội Việt Nam vừa thông báo: Nợ công VN (90 tỷ đô la) sắp ‘vượt ngưỡng an toàn’ 65%

Posted by hoangtran204 trên 15/10/2014

Nợ công VN sắp ‘vượt ngưỡng an toàn’

Theo BBC 

15-10-2014

Quốc hội Việt Nam vừa thông báo nợ công sắp vượt trần, trong lúc giới chuyên gia cảnh báo mối nguy tiềm ẩn từ khối doanh nghiệp nhà nước.

Báo điện tử VnExpress hôm 14/10 dẫn lời Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân phát biểu trước đại diện các doanh nghiệp châu Âu tại Hà Nội cho biết nợ công có khả năng “đạt suýt soát 64% GDP” vào cuối năm 2015.
“Chúng tôi quy định nợ công không vượt quá 65% GDP”, bà nói thêm.
Trước đó, báo cáo được chính phủ Việt Nam đưa ra tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hôm 9/10 cho biết nợ công có thể sẽ đạt tương đương 60,3% GDP vào cuối năm 2014.
Tính đến ngày 14/10, nợ công của Việt Nam, theo Đồng hồ nợ công toàn cầu của tạp chí The Economist, là 84,6 tỷ đôla.
Trả lời BBC hôm 14/10, Tiến sỹ Phạm Thế Anh, giảng viên tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, cho rằng tình trạng nợ công gia tăng sẽ làm giảm uy tín của chính phủ trong vấn đề cải cách nền kinh tế.
Ông Thế Anh cũng cảnh báo những rủi ro tiềm ẩn do việc thống kê nợ công hiện nay không bao gồm nợ từ doanh nghiệp nhà nước.
” Đi ngược lời hứa cải cách” 
BBC: Thưa tiến sỹ, ông có thể cho biết những rủi ro nền kinh tế sẽ phải đối mặt nếu nợ công chạm ngưỡng an toàn?
Tiến sỹ Phạm Thế Anh: Như Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã nói, trong vòng 1-2 năm tới, nợ công của Việt Nam có thể tăng sát trần, đạt tới 64% GDP.
Ở đây là họ đã tính tới một số các dự án mà chính phủ đang xin phép quốc hội phê duyệt để thực hiện ví dụ như dự án sân bay Long Thành và một số dự án lớn khác.
Các dự án này chủ yếu đều dùng vốn đi vay nên nếu được cho phép thực hiện sẽ đẩy mức nợ công của Việt Nam lên sát ngưỡng an toàn.
Việc này có thể tác động đến các nhà đầu tư tài chính, gây tâm lý lo ngại và có thể làm ảnh hưởng đến đánh giá về độ an toàn của nợ công Việt Nam.
Bên cạnh đó, mức vay nợ của Việt Nam hiện nay tương đối là cao. Trong khi đó, chính phủ vẫn tiếp tục tham gia cam kết thực hiện các dự án kinh tế quá lớn, nằm ngoài khả năng cân đối thu chi.
Việc này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực tư nhân, cụ thể là khiến vốn mà lẽ ra khu vực tư nhân có thể tiếp cận bị giảm đi rất nhiều.
Điều này cũng làm giảm giá trị lời cam kết của chính phủ trong việc thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước, thu hẹp khu vực đầu tư công trong nền kinh tế, bởi vì chỉ số nợ công đang phản ánh điều ngược lại. 
Hoạt động của Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) đã chậm lại trong thời gian gần đây   
 Chưa tính doanh nghiệp nhà nước 
 
BBC: Thưa ông, tại Việt Nam, nợ của các doanh nghiệp nhà nước lại không được tính vào nợ công. Điều này dẫn tới những rủi ro nào?
Tiến sỹ Phạm Thế Anh: Nợ công được công bố chính thức của Việt Nam hiện nay là nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương, không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước.
Theo tôi thì nợ của doanh nghiệp nhà nước mới là nguy cơ tiềm ẩn và là rủi ro lớn nhất với an toàn nợ công của Việt Nam hiện nay.
Nếu chúng ta nhìn vào thực tiễn thì có thể thấy có một số khoản nợ không được chính phủ bảo lãnh, nhưng khi làm ăn thua lỗ thì chính phủ vẫn phải đứng ra cam kết trả nợ thay.
Trên thực tế, nợ của doanh nghiệp nhà nước hiện nay mà không được chính phủ bảo lãnh cũng gần tương đương với nợ công chính thức được công bố.
 Trong số các doanh nghiệp nhà nước có nợ lớn thì có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn khó khăn, không trả được nợ.
Nhiều doanh nghiệp có tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu lên tới 30 lần. Có thể điểm tên một số doanh nghiệp nhà nước đó như Công ty Hàng hải của Vinashin chuyển sang Vinalines, nợ có thể lên tới 70.000 – 80.000 tỷ.
Các doanh nghiệp trong ngành giao thông vận tải và xây dựng cũng có hệ số nợ rất lớn, có thể lên đến hơn 10 lần.
Đây là những mầm mống, nguy cơ đe dọa đến vấn đề an toàn nợ công của Việt Nam.
” Ngân sách không trả được nợ xấu”
BBC: Vừa rồi Bộ Kế hoạch Đầu tư có đề xuất là sử dụng một phần ngân sách để xử lý nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước. Ông nghĩ gì về điều này?
Tiến sỹ Phạm Thế Anh: Điều đó theo tôi là không khả thi vì ngân sách hiện nay không đủ để trang trải chi tiêu của chính phủ, bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư. Hàng năm, thâm hụt ngân sách lên đến 6 – 7%.
Như vậy nếu nói lấy nguồn thu từ ngân sách nhà nước để trả nợ xấu thì không khả thi vì nếu có lấy thì cũng không đáng kể so với quy mô nợ xấu hiện nay. 
BBC: Ông đánh giá thế nào về mức độ hiệu quả của Công ty Quản lý Tài sản (VAMC) trong vấn đề xử lý nợ xấu hiện nay?
Tiến sỹ Phạm Thế Anh: VAMC về bản chất không phải là công ty xử lý nợ xấu. Đây chỉ là một công cụ để kéo dài thời gian xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại.
Các ngân hàng thương mại hiện nay khi vướn vào nợ xấu thì nguồn vốn của họ bị tắc nghẽn ở khoản nợ xấu đó.
Ngân hàng Nhà nước dùng VAMC để tái cấp vốn cho các ngân hàng đó bằng cách ghi trái phiếu cho các ngân hàng có nợ xấu.
Các ngân hàng này có thể dem trái phiếu thế chấp tại Ngân hàng Nhà nước để lấy tiền dùng vào hoạt động kinh doanh.
Về bản chất, VAMC không phải là công cụ xử lý nợ xấu mà chỉ kéo dài thời gian giúp các ngân hàng thương mại tự giải quyết nợ xấu thông qua tái cấp vốn.
Tôi không nghĩ rằng nó có thể giải quyết được vấn đề nợ xấu hiện nay của Việt Nam.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Nhà nước Việt Nam: Nợ nhiều, ăn hết lấy đâu đầu tư – đang tiến dần tới sụp đổ về tài chánh

Posted by hoangtran204 trên 15/10/2014

Nợ nhiều, ăn hết lấy đâu đầu tư

10/10/2014

Báo Tuổi Trẻ

 

      

 
Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng báo cáo tình hình thu chi ngân sách - Ảnh: V.Dũng
Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng báo cáo tình hình thu chi ngân sách – Ảnh: V.Dũng

 

TT – “Trước đây, chi trả nợ duy trì ở mức 11-12% tổng chi ngân sách nhà nước, song từ năm 2012 đã phải thực hiện vay đảo nợ với tổng số năm sau cao hơn năm trước”.

Từ Chủ tịch, phó chủ tịch Quốc hội cho đến các chuyên gia, người dân không khỏi sốt ruột sau khi bộ trưởng Bộ Tài chính và chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – ngân sách trình bày báo cáo và báo cáo thẩm tra tình hình thu chi ngân sách năm 2014, kế hoạch 2015 tại phiên họp thường vụ Quốc hội ngày 9-10.

Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết ngân sách cân đối rất căng thẳng, bội chi cao hơn mức đầu tư phát triển, phải vay để đảo nợ, không bố trí được nguồn để tăng lương…

Nợ đè lên đầu lên cổ

72% ngân sách dành cho chi thường xuyên, còn lại chưa đến 30% phải vừa dành đầu tư phát triển, vừa trả nợ vừa làm những việc khác. Đấy là một cái ngân sách có cơ cấu rất xấu. Từ đó phải vay, phải tăng bội chi, phải phát hành trái phiếu, rồi phải đảo nợ… 
Chủ tịch Quốc hội NGUYỄN SINH HÙNG

Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, từ năm 2012 trở về trước, do cân đối được ngân sách nên dự toán chi đầu tư phát triển bố trí cao hơn mức bội chi ngân sách nhà nước hằng năm.

Năm 2013, do kinh tế khó khăn, tăng trưởng thấp, nhu cầu chi thực hiện các chính sách xã hội và tiền lương tăng cao nên để bố trí chi đầu tư phát triển cao hơn bội chi ngân sách nhà nước đã phải bố trí chi trả nợ thấp hơn mức yêu cầu, đồng thời phải kết hợp với phát hành đảo nợ khoảng 40.000 tỉ đồng.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng báo cáo: “Năm 2014 nhu cầu chi trả nợ lớn do tăng vay để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ nên dự toán bố trí trả nợ cao hơn năm 2013 là 15.000 tỉ đồng và phải phát hành đảo nợ khoảng 70.000 tỉ đồng, chi đầu tư phát triển vẫn phải bố trí thấp hơn bội chi ngân sách nhà nước.”

“Năm 2015 và vài năm tới ngân sách còn nhiều khó khăn, chi trả nợ, chi thực hiện các nhiệm vụ an sinh xã hội tăng nhanh nên vẫn chưa thể bố trí chi đầu tư phát triển theo yêu cầu của Đảng và nghị quyết của Quốc hội” – ông Dũng thừa nhận.

Trong khi nghị quyết của Quốc hội yêu cầu năm 2015 bội chi ngân sách ở mức 4,5%, kể cả trái phiếu chính phủ, thì Chính phủ đề nghị bội chi 5% và chưa kể trái phiếu (nếu cộng cả khoản trái phiếu chính phủ thì bội chi ngân sách 2015 sẽ lên đến 7%).

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính – ngân sách do Chủ nhiệm Phùng Quốc Hiển trình bày cũng cho thấy sự sốt ruột trước tình trạng chi đầu tư phát triển giảm quá nhanh so với giai đoạn trước.

“Trước đây, chi trả nợ duy trì ở mức 11-12% tổng chi ngân sách nhà nước, song từ năm 2012 đã phải thực hiện vay đảo nợ với tổng số năm sau cao hơn năm trước. Đây là dấu hiệu không lành mạnh, đòi hỏi phải kiểm soát rất thận trọng, chặt chẽ các khoản vay và trả nợ để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia” – Ủy ban Tài chính – ngân sách cảnh báo.

Còn Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lên tiếng: “Sang năm các đồng chí thấy nợ công đã ở mức hơn 64% rồi, không được trên 65%. Thế đến năm 2015 xơi hết rồi thì đến năm 2016, 2020 lấy gì mà bội chi, lấy gì mà phát triển nữa?”.

Ông nói: “Các đồng chí phải đặt ra những vấn đề từ khó khăn này để tìm ra cách giải căn bản, lâu dài bài toán cân đối ngân sách. Tôi thấy xấu lắm rồi. Bây giờ thu được đồng nào các đồng chí đem xài hết, thứ hai là đầu tư các đồng chí giảm đi, thứ ba là cứ vay thêm ào ào. Như vậy thì một là không phát triển được đất nước, hai là trả nợ không được.”

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng  gay gắt: “Bài toán tài chính năm năm tới các đồng chí phải tính ngay từ bây giờ… Tôi nói tính thế nào thì tính nhưng phải trở lại tinh thần 50% chi thường xuyên, 30% chi đầu tư phát triển và 20% trả nợ. Trước đây chúng ta vay dài hạn 10, 15, 20 năm, bây giờ các đồng chí phát hành trái phiếu chỉ có hai, ba năm và thậm chí chỉ một năm, vậy cái việc trả nợ nó đè lên đầu lên cổ làm sao mà sống được”.

 Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng:
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Trước đây chúng ta vay dài hạn 10, 15, 20 năm, bây giờ phát hành trái phiếu chỉ có hai, ba năm và thậm chí chỉ một năm, vậy cái việc trả nợ nó đè lên đầu lên cổ làm sao mà sống được” – Ảnh: TTXVN

Chưa thể tăng lương

“Do cân đối ngân sách nhà nước năm 2015 khó khăn như nêu trên nên chưa bố trí được ngân sách cải cách tiền lương, không có điều kiện điều chỉnh tiền lương cơ sở” – Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nói.

Trong khi đó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội Trương Thị Mai nhắc Chính phủ “phải thu xếp trả nợ bảo hiểm xã hội 22.500 tỉ đồng”, đây là khoản tiền ngân sách mà Chính phủ phải nộp vào quỹ để trả lương cho người về hưu.

“Năm 2014 đã hoãn lộ trình tăng lương, năm 2015 Chính phủ cũng báo cáo không bố trí được nguồn để thực hiện. Có một số ý kiến và dư luận cũng băn khoăn về việc này” – Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đặt vấn đề.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đề nghị: “Các đồng chí trở lại bài toán cơ bản đi, đừng quên những bài toán cơ bản. Cân bằng thu chi, thu lấy mà chi, không phát hành (thêm tiền) để chi, không vay quá nhiều để chi… Làm sao để có tích lũy mà tiêu dùng, làm ra có của ăn phải có của để chứ. Bây giờ mình ăn hết rồi thì lấy đâu mà đầu tư. Ăn hết rồi mà lại không có lương thì tôi chẳng hiểu thế nào. Bài toán đó các đồng chí phải tính chứ”.

Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh: “Không tăng lương với mấy ông đang đi làm như tôi hay các đồng chí, hay kêu gọi tinh thần cán bộ công nhân viên chức còn được, nhưng các cụ về hưu, những người có công với cách mạng mà các đồng chí nói không giải quyết gì cả thì sao được. Các đồng chí phải tính lại cơ cấu chi, tôi lấy ví dụ chi thường xuyên cho Văn phòng Quốc hội là 100 thì ông phải dành một khoản để giải quyết lương. Ông không giải quyết lương cao cho Chủ tịch Quốc hội thì ông phải giải quyết lương thấp cho người thu nhập có 2, 3 triệu đồng/tháng”.

Hơn 210.000 doanh nghiệp báo lỗ

Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế – xã hội năm 2014 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2015, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định tình hình kinh tế – xã hội trong chín tháng năm nay tiếp tục có chuyển biến tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực.

Nền kinh tế tiếp tục phục hồi với tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước. Tăng trưởng kinh tế chín tháng đạt 5,62%. Thu ngân sách nhà nước đạt cao so với cùng kỳ những năm gần đây.

Việc thực hiện tái cơ cấu kinh tế, với trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu các ngân hàng thương mại, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đã đạt được những kết quả bước đầu tích cực…

Thừa nhận những điểm tích cực như trên, báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế chỉ ra những điểm khó khăn, bất cập nổi lên trong năm nay, đặc biệt số doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động vẫn lớn (chín tháng năm nay, số doanh nghiệp thành lập mới là 52.525, số doanh nghiệp giải thể, phá sản là 51.244, số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động là 18.873). “

Có 213.000 doanh nghiệp kê khai lỗ không phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp, chiếm 68,6% tổng số doanh nghiệp nộp tờ khai. Số nợ thuế khó thu tăng 7,3% so với cuối năm 2013” – Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết.

Cùng với đó là việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiệu quả chưa cao, khoảng 17% so với kế hoạch. Tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng thương mại có xu hướng tăng trở lại.

Ủy ban Kinh tế nêu những băn khoăn: “Về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu như tại sao tổng mức đầu tư toàn xã hội giảm, doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động mấy năm nay rất lớn mà tăng trưởng vẫn tăng cao hơn các năm trước, trong khi tăng trưởng kinh tế còn dựa vào vốn đầu tư.  Nhiều ý kiến cho rằng với tình hình khó khăn doanh nghiệp như trên song chỉ tiêu tạo việc làm mới năm nào cũng đạt xấp xỉ 1,6 triệu lao động là chưa thuyết phục. Một số ý kiến cho rằng chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế GDP quý 3 tăng 6,19% là chưa thuyết phục vì chưa làm rõ được nguồn lực nào tạo tăng trưởng đột biến”.

Bộ trưởng Bùi Quang Vinh giải thích việc khai thác vượt kế hoạch khoảng 1 triệu tấn dầu thô đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng GDP năm nay.

Đánh giá tổng quát, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói: “Điều quan trọng là mình thấy một năm khá là tốt, cả về quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội… Nhưng hạn chế, yếu kém vẫn còn nhiều. Nợ công là mối đe dọa, cân đối ngân sách chưa tích cực, sức cạnh tranh còn yếu, năng suất lao động xã hội rất thấp. Hàng loạt nguyên liệu, máy móc vẫn phải nhập khẩu… Tôi thấy nhiệm vụ năm 2015 là nặng nề. Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2015 đưa ra kế hoạch là 28% GDP, tôi đề nghị phải tăng lên 30%, nếu không thì mục tiêu tăng trưởng 6,2% rất khó. Ngân sách của chúng ta vẫn còn chi tiêu lãng phí ở chỗ này chỗ kia thì bớt đi, đưa vào đây để đầu tư được không?”.

* Đại biểu CAO SỸ KIÊM (ủy viên Ủy ban Kinh tế):

Tốt nhất là siết chặt kỷ luật thu chi

Các con số, chỉ số như vậy cho thấy tình hình ngân sách rất căng thẳng, đúng như Chủ tịch Quốc hội nói là rất xấu. Xu hướng khó khăn, mất cân đối thu chi đã diễn ra nhiều năm, nhưng điều đáng chú ý là ngày càng trầm trọng bởi nhu cầu chi luôn tăng cao, thậm chí chi luôn vượt dự toán nhưng thu vẫn rất khó khăn. Ba năm liên tiếp không những bội chi ở mức cao mà chúng ta phải đi vay để đảo nợ. Đây là vấn đề cần đặc biệt lưu ý, nó cũng giống như một gia đình túng quẫn cứ phải vay chỗ này “đập” vào chỗ kia, chứ đồng vốn đi vay ấy không phải để dành cho đầu tư, cho phát triển.

Việc không bố trí được nguồn tiền để thực hiện tăng lương theo lộ trình rất đáng suy nghĩ, bởi nó sẽ gây ra nhiều tâm tư trong xã hội. Nợ công đã tiến đến giới hạn được cảnh báo, do đó Quốc hội càng phải thận trọng hơn trong việc quyết định từng khoản chi, đại biểu sẽ khó khăn hơn mỗi khi phải bấm nút quyết định những dự án lớn như chủ trương đầu tư cảng hàng không quốc tế Long Thành mà Chính phủ vừa trình.

Về lối ra thì không còn cách nào khác, tốt nhất vẫn phải là siết chặt kỷ luật thu chi. Tôi nghĩ chúng ta vẫn còn dư địa để tăng thu cho ngân sách nếu chúng ta siết chặt kỷ luật, tính toán lại các nguồn thu, không để tình trạng rơi rụng, lách luật, ăn chia, trốn thuế, nợ đọng… Trong chi tiêu càng phải kiểm soát tốt, chấm dứt tình trạng chi vung tay, vượt dự toán, lãng phí, thiếu minh bạch, thiếu hiệu quả.

* TS PHẠM THẾ ANH (trưởng bộ môn kinh tế vĩ mô Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội):

Tiết kiệm chi, bán bớt doanh nghiệp nhà nước

Đã đến lúc phải thắt chặt chi tiêu. Thứ nhất là giảm biên chế, giảm chi thường xuyên. Thứ hai là bán bớt doanh nghiệp nhà nước. Hiện có rất nhiều doanh nghiệp nhà nước cơ bản không tạo nguồn thu ngân sách thì nên bán bớt. Bán doanh nghiệp nhà nước cũng giúp tăng hiệu quả, từ đó tăng thu ngân sách.

Trong những vấn đề tạo nên tình hình hiện nay, tôi thấy cần phải xem xét lại cơ cấu phân bổ ngân sách cho các địa phương và phương thức chi tiêu trái phiếu chính phủ. Hiện nay, phân bổ ngân sách địa phương có theo tiêu chí dựa trên thu của địa phương đó không, tiêu chí thế nào theo tôi chưa thật rõ ràng. Các địa phương vẫn muốn có nhiều dự án để chi. Chi trái phiếu chính phủ cũng chưa được đưa vào danh mục chi ngân sách, vì vậy việc thẩm định, giám sát không được như chi ngân sách. Như việc xây sân bay Long Thành cũng thuộc dạng này, không có đủ thẩm định, phản biện, được xây dựng dựa trên ý chí một số người.

LÊ KIÊN – CẦM VĂN KÌNH ghi

LÊ KIÊN

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Bao giờ Việt Nam vỡ Nợ? VN nợ 180 tỷ đô la, mỗi 3 tháng trả 1 tỷ đô la

Posted by hoangtran204 trên 20/08/2014

Ba tháng mất một tỉ đôla, bao giờ Việt Nam vỡ nợ? (Việt Hoàng)

Việt Hoàng

17-8-2014

“…Một gốc cây mục không thể nào sống lại được, trong khi những hạt giống đã nảy mầm nếu được nuôi dưỡng tốt thì không mấy chốc sẽ lớn mạnh và khi đó người dân sẽ có quyền lực chọn những giống cây thích hợp và mạnh khỏe nhất để dùng vào việc gây dựng lại cơ đồ…”

 

 

vono02

Ông Nguyễn Anh Dương, chuyên gia của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương Việt Nam (CIEM) cho biết trong một cuộc hội thảo hồi cuối năm 2013 (22/11/2013)  rằng cứ mỗi ba tháng Việt Nam phải trả nợ công, gồm cả gốc và lãi lên tới 25.000-26.000 tỉ đồng (hơn một tỉ đôla) (tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/581607/cu-moi-ba-thang-viet-nam-tra-no-1-ti-usd) .

Đấy là hồi cuối năm ngoái, khi mọi chuyện vẫn “bình thường” nhất là quan hệ với Trung Quốc vẫn “tốt đẹp”. Sau sự kiện Trung Quốc đem giàn khoan HD-981 đặt sâu vào trong lãnh hải Việt Nam khiến quan hệ hai nước nổi sóng, dẫn đến các cuộc biểu tình bạo động gây chết người Trung Quốc tại Vũng Áng thì sự trả đũa và trừng phạt kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam không biết diễn biến thế nào mà mới đây, ngày 7/8/2014 trong Hội nghị toàn quốc ngành kế hoạch và đầu tư tại Đà Nẵng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải thốt lên “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ, phải bố trí đủ để trả nợ…”.

Một câu hỏi khiến nhiều người dân Việt Nam (và cả một số đại biểu quốc hội) quan tâm đó là: Nợ công của Việt Nam hiện nay là bao nhiêu? Cùng với nó là các câu hỏi như: Nợ công của Việt Nam được quản lý và sử dụng như thế nào? Phương án trả nợ ra sao? Nếu vỡ nợ thì chính phủ sẽ giải quyết như thế nào? Cuộc sống của người dân khi đó sẽ đi về đâu? …Cho dù các quan chức cao cấp của Việt Nam ra sức trấn an dân chúng rằng, nợ công vẫn ở mức an toàn (50-60% GDP) nhưng theo các chuyên gia kinh tế thì nợ công Việt Nam đã vượt ngưỡng an toàn từ lâu và đã vượt quá 100% GDP. Theo tiến sĩ Phạm Thế Anh, trưởng bộ môn kinh tế vĩ mô Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội thì “Nợ công Việt Nam nếu tính cả nợ doanh nghiệp nhà nước với nợ đọng xây dựng cơ bản thì đã trên 100% GDP năm 2012, tương đương khoảng 180 tỉ USD. Số nợ này gấp khoảng bốn lần thu ngân sách của VN mỗi năm”. baodatviet.vn/kinh-te/tai-chinh/viet-nam-dang-tra-lai-bao-nhieu-ty-usdnam-cho-no-cong

Những người dân Việt Nam không quan tâm đến chính trị thì cho rằng nợ công nhiều hay ít không ảnh hưởng đến họ và việc trả nợ đã có đảng và nhà nước lo? Một tin không mấy vui dành cho họ là trung bình mỗi người dân Việt Nam (từ lúc mới ra đời cho đến lúc nằm thở bằng bình ô-xy ở bệnh viện) đều phải có trách nhiệm trả nợ công là khoảng 20 triệu đồng! Những người này sẽ bảo “Tôi làm gì có tiền mà trả? Tôi có vay đâu mà trả? Mà tôi không trả thì đã sao?” Vậy sự thật là như thế nào? Điều đầu tiên mà những người này cần nhớ là đảng, nhà nước và chính phủ Việt Nam không làm gì ra tiền. Ngay cả lương của họ cũng lấy từ ngân sách quốc gia, tức là từ tiền thuế của người dân mà có.

Nhà nước đi vay tiền của nước ngoài, về lý thuyết là để phục vụ cho các nhu cầu phát triển của người dân Việt Nam, họ chỉ là người thay mặt người dân Việt Nam đi vay nợ mà thôi. Vì vậy toàn thể người dân Việt Nam phải có trách nhiệm trả nợ là hoàn toàn đúng và không thể khác được. Nếu có người cho rằng tôi không có gì để trả, thì khi đó con cháu họ sẽ phải trả bằng cách phải đóng thuế nhiều hơn và nhận mức lương ít đi so với nhu cầu của cuộc sống. Bạn nói tôi không có tiền để nộp thuế. Không sao, nhà nước có muôn nghìn cách để móc túi bạn mà cách đơn giản nhất là tạo ra lạm phát, tức là làm cho đồng tiền mất giá đi. Bạn vẫn sẽ nhận lương 3-4 triệu/tháng như trước nhưng giá trị thực của đồng lương đó chỉ còn 1-2 triệu vì giá cả ngoài thị trường đã tăng lên gấp đôi.

Nếu cuối cùng, vì người dân không còn gì để nộp cho nhà nước để trả nợ nữa thì vỡ nợ cấp nhà nước sẽ xảy ra. Chuyện này không có gì mới và lạ. Năm 1997 một loạt các nước vùng Đông Nam Á đã vỡ nợ trong đó có cả Hàn Quốc, Thái Lan. Mới nhất là ngày 31/7/2014 vừa qua, Argentina một quốc gia Nam Mỹ đã vỡ nợ lần thứ hai, sau khi mất khả năng thanh toán 1,5 tỷ USD trái phiếu quốc gia cho cho hai quỹ đầu tư của Mỹ. Giả sử Việt Nam rơi vào tình trạng vỡ nợ thì điều gì sẽ xảy ra? Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành thì: “Nếu Việt Nam vỡ nợ, tất nhiên hệ số tín nhiệm của tín dụng đối với Việt Nam sẽ rất là thê thảm, trong trường hợp nhà nước muốn vay tiền chỉ số tín dụng từ BB sẽ rơi xuống B- và xuống hơn nữa…như thế làm sao Việt Nam có thể tồn tại trên thị trường tài chính quốc tế. Những chuyện ấy sẽ kéo theo làm cho một nước không thể ngóc đầu lên nổi. Chúng ta đã thấy chuyện đó xảy ra rồi, thí dụ bên Argentina vỡ nợ lần thứ hai kéo theo bao nhiêu hệ lụy của nền kinh tế”rfa.org/vietnamese/programs

Như vậy cũng có nghĩa là Việt Nam sẽ không thể vay được tiền của ai nữa kể cả từ Quĩ Tiền tệ Quốc tế, cho đến khi khả năng trả nợ được phục hồi. Trái phiếu của Việt Nam khi đó chỉ còn là đống giấy lộn.

Chuyện vỡ nợ công của Việt Nam không còn là chuyện giả tưởng nữa mà đang có nguy cơ lớn trong những ngày sắp tới. Sự vỡ nợ của các Quĩ bảo hiểm xã hội (tức là Quĩ Hưu trí của công nhân viên chức nhà nước) liên tục được đưa ra và cảnh báo là có thể vỡ sớm hơn so với dự báo. Lý do là có nhiều doanh nghiệp hoạt động èo uột dẫn đến việc nợ đóng tiền cho Quĩ bảo hiểm xã hội. Lý do quan trọng nữa, theo lời ông Bùi Sĩ Lợi, Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khiến ông “bày tỏ sự lo lắng về hoạt động đầu tư, tăng trưởng quỹ BHXH, vì nguồn quỹ này chủ yếu cho ngân sách Nhà nước vay và mua trái phiếu Chính phủ (73,41%), các ngân hàng thương mại Nhà nước vay chỉ chiếm (24,72%).bhxhhagiang.gov.vn/index.php/vi/news/

Như vậy nếu nhà nước vỡ nợ công thì các Quĩ Hưu trí này cũng vỡ nợ theo. “Sổ hưu” của các cán bộ và quân nhân ăn lương nhà nước, khi đó cũng không còn. Không hiểu khi đó đại tá-giáo sư Trần Đăng Thanh sẽ ăn nói thế nào để thuyết phục các đảng viên yên tâm và tiếp tục đồng lòng cùng chính phủ chống lại nguy cơ “diễn biến hòa bình” của “các thế lực thù địch”? Một bản tin cũng đáng chú ý trên báo Pháp Luật Thành Phố là “Bạc Liêu: Nguy cơ không còn tiền để chi lương”. Điều khiến chúng ta giật mình là tỉnh Bạc Liêu, một miền quê trù phú với những cánh đồng cò bay thẳng cánh, có công tử Bạc Liêu ăn chơi nổi tiếng Sài thành thuở trước, mà giờ đây cũng gay go như vậy thử hỏi những nơi khác sẽ như thế nào?cafef.vn/thoi-su/bac-lieu

Nếu không có những thay đổi đột biến và sâu rộng về thể chế chính trị thì sẽ không có cách gì cứu vãn được tình thế. Vì chính trị là quyết định tất cả. Người dân Việt Nam sẽ phải trả giá đắt cho sự bàng quang và thờ ơ của chính họ đối với các hoạt động chính trị của nhà nước và các tổ chức đối lập dân chủ. Một mặt người dân luôn trông chờ và hy vọng vào sự thay đổi và sự tử tế của chính quyền. Đây là một sai lầm nghiêm trọng vì một chế độ độc tài toàn trị chỉ luôn vơ vét và làm giàu cho chính họ và thân tộc họ chứ không bao giờ họ vì dân vì nước. Mặt khác vì tâm lý chờ đợi và cam chịu, ngại thay đổi nên người dân Việt Nam đã không dành sự quan tâm cần thiết và đúng mức cho các tổ chức chính trị dân chủ đối lập. Sai lầm của người dân ở đây là họ vẫn cố gắng tưới nước cho một gốc cây đã mục ruỗng thay vì dành một chút thời gian để chăm sóc cho những hạt giống mới đã đâm chồi nảy lộc. Một gốc cây mục không thể nào sống lại được, trong khi những hạt giống đã nảy mầm nếu được nuôi dưỡng tốt thì không mấy chốc sẽ lớn mạnh và khi đó người dân sẽ có quyền lực chọn những giống cây thích hợp và mạnh khỏe nhất để dùng vào việc gây dựng lại cơ đồ.

Là một tổ chức chính trị dân chủ đối lập của người Việt Nam, chúng tôi xin được đưa ra những giải pháp để giải quyết vấn đề nợ công cũng như sự an toàn của Quĩ Hưu trí để người dân Việt Nam tham khảo và đánh giá như sau:

-Để tránh vỡ nợ công thì cách tốt nhất là chính quyền cần hạn chế vay mượn nước ngoài tối đa. Vay ít thì trả ít, nguy cơ vỡ nợ vì vậy sẽ được giảm thiểu.

-Muốn tránh vay nợ nước ngoài nhiều thì chính quyền phải tăng thu ngân sách bằng biện pháp chống thất thu thuế. Muốn chống thất thu thuế thì đầu tiên phải chống được tham nhũng (cứ một đồng bị tham nhũng thì ngân sách nhà nước sẽ mất đi mười đồng, thậm chí hàng trăm đồng từ tiền thuế). Thứ hai là phải chống được buôn lậu. Thứ ba luật pháp phải nghiêm minh và bình đẳng với mọi thành phần kinh tế. Nhà nước sẽ kiên quyết xóa bỏ bọi ưu đãi và đặc quyền, đặc lợi dành cho các tập đoàn và các doanh nghiệp nhà nước, kể cả các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI. Nhà nước sẽ tư hữu hóa mọi ngành nghề kinh tế và tạo ra một bộ luật kinh tế chung cho tất cả mọi thành phần với tất cả sự ưu đãi và dễ dãi để người kinh doanh yên tâm đầu tư các dự án dài hạn. Nhà nước không có chức năng kinh doanh mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ trọng tài và giữ cho các hoạt động kinh tế và xã hội được ổn định và đảm đảo an sinh xã hội.

-Chính quyền Việt Nam phải cắt giảm tối đa bộ máy công chức và những người hưởng lưởng từ ngân sách. 30% công chức “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về” phải cho nghỉ việc. Trả các hội đoàn ăn lương ngân sách về cho xã hội dân sự như Hội nhà văn, Hội nhà báo, Hội nông dân, Hội phụ nữ… Các hội này phải tự thân vận động và sống bằng sự đóng góp của các hội viên. Nhà nước không có trách nhiệm và không nên nuôi cơm các hội này. Các đảng phái và tổ chức chính trị cũng phải tự thân vận động, tồn tại và phát triển bằng chính năng lực của mình. (VN trả lương 7 triệu công chức, 4,7 triệu người hưu trí, và 8 .8 người có công với cách mạng)

-Việt Nam là một nước đang phát triển vì vậy rất cần nhiều nguồn vốn để xây dựng hạ tầng cơ sở và phục vụ dân sinh. Việc vay mượn nợ công là điều vẫn phải làm trong nhiều năm tới. Để tránh thất thoát và tham nhũng trong việc đầu tư và giải ngân các nguồn vốn vay này thì tiêu chí minh bạch và công khai cần phải đặt lên hàng đầu. Tất cả các dự án đầu tư công đều phải được thông báo rộng rãi từ trước khi đấu thầu một gian đủ dài để mọi doanh nghiệp có thể nghiên cứu và tham gia. Việc đấu thầu phải diễn ra công khai minh bạch, dưới sự giám sát của người dân và báo chí. Một ủy ban độc lập của quốc hội sẽ quản lý và giám sát quá trình đầu tư công này.

-Quĩ Hưu trí (Quĩ bảo hiểm xã hội) là một vấn đề rất quan trọng cho sự ổn định của đất nước vì nó liên quan đến lương hưu của hàng triệu người …hưu trí. Bất cứ sự đổ vỡ nào của Quĩ Hưu trí đều gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho đời sống xã hội. Vì sự quan trọng đó mà không thể để “việc quản lý và sử dụng Quĩ Bảo hiểm Xã hội là trách nhiệm của tổ chức …bảo hiểm xã hội”. Quĩ Hưu trí phải do một Ủy ban độc lập của Quốc hội quản lý và giám sát. Việc dùng tiền của Quĩ hưu trí để đầu tư phải rất thận trọng, công khai và đảm bảo an toàn một cao nhất…

Các đề nghị của chúng tôi đưa ra có thể chưa đầy đủ và vẫn còn phiến diện tuy nhiên chỉ với chừng ấy thôi thì người dân Việt Nam cũng có thể thấy rằng, nhà nước hiện nay không thể làm được gì, không thể thay đổi được gì. Rõ ràng là phải thay đổi thể chế chính trị trước tiên sau đó mới có thể làm những việc tiếp theo khác…

 Nguồn: ethongluan.org 

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nước nào sẽ sụp đổ trong vòng 3 năm tới: Bắc Kinh nợ 3000 tỷ đô la, Hà Nội nợ 140 tỷ đô la- Nỗi bi thiết từ nợ công

Posted by hoangtran204 trên 15/01/2014

Đồng sàng Bắc Kinh – Hà Nội: Nỗi bi thiết từ nợ công

14-1-2014

Phạm Chí Dũng

Theo Bauxite Việt Nam

Thân phận “nước giàu dân nghèo” của nền kinh tế Trung Quốc không chỉ làm liên lụy đến số phận nền kinh tế thế giới mà còn góp phần chung quyết đối với vận mạng của nền kinh tế và cả thể chế Việt Nam.Linh cảm bất an của những người Việt còn tinh thần dân tộc về một sự chuẩn y tai hại của chính thể Bắc Kinh vào thể chế cầm quyền Hà Nội – thông qua “gói hỗ trợ” kinh tế bất thường trong những năm tới – sẽ có thể được giải nguy bởi cơn nguy biến có khả năng nổ ra ngay trong lòng nền kinh tế Nội Hán chỉ trong vài ba năm nữa.Ít nhất vài dấu hiệu nguy biến như thế đang phát lộ và trở nên lớn lao hơn nhiều so với những nhận định thầm cảm trước đây. Tinh thần trưởng thành khá nhanh chóng như vậy đã diễn biến theo chuỗi logic bất biến: ngân hàng và nợ xấu.3.000 tỷ USD nợ công!

Từ đầu năm 2013, ít nhất 3 ngân hàng lớn của nước ngoài là Goldman Sachs, Citigroup và Bank of America đã bất ngờ thoái toàn bộ vốn đầu tư khỏi hệ thống ngân hàng Trung Quốc. Trào lưu chủ động rút vốn này đã kéo theo sự thoái lui của một số quỹ tài chính quốc tế khỏi thị trường chứng khoán quốc gia đầy kiêu ngạo này, khiến cho chỉ số Thượng Hải Composite không thể nào ngóc đầu lên được. Từ thời điểm hoàng kim năm 2007 đến nay, dù chỉ số này đã mất đi 40% giá trị đỉnh, nhưng dĩ nhiên đà suy thoái chưa dừng ở đó.

Nếu chứng khoán được xem là tín hiệu tiên phong báo trước xu hướng vận động của kinh tế, thì đó chính là một logic khác đã dẫn đến tình thế nợ công trở nên hiểm nghèo đột ngột đối với toàn bộ nền kinh tế Trung Quốc, điều mà ngay cả “tiến sĩ tận thế” Nouriel Roubini, trong nhiều đánh giá và dự báo trước đây về chuyển động của kinh tế Trung Hoa, cũng không thể bao quát được.

Đột biến đã xảy ra khi năm 2013 bước vào những ngày cuối cùng. Chính vào lúc đó, cơ quan kiểm toán Trung Quốc bất ngờ công bố số nợ công của nhà nước này đã lên đến 3.000 tỷ USD. Con số này, xét về mặt giá trị tuyệt đối, gần bằng toàn bộ kho dự trữ ngoại tệ khổng lồ của Trung Hoa đại lục.

Một kinh ngạc cũng đã phát vỡ. Mới vào năm 2011, nợ của các chính quyền địa phương chỉ được báo cáo vào khoảng 1.450 tỷ USD, cho dù khi đó ước đoán của những tổ chức xếp hạng tài chính độc lập có tiếng trên thế giới như Credit Suisse và Fitch Ratings là 2.200 tỷ USD. Thế nhưng đến nay, nợ của khối chính quyền địa phương đã tăng lên gấp đôi.

Cú vọt lên gấp đôi đó lại chỉ tăng tốc trong một thời gian ngắn ngủi. Vì sao lại xảy ra một giấc mơ chóng mặt như thế?

Có hai cách giải thích: hoặc giới ngân hàng trung ương Trung Quốc đã cố tình giấu nhẹm về con số thực nợ xấu của các chính quyền địa phương và cả về số nợ công của đất nước này; hoặc những người làm chính trị chuyên nghiệp như Tập Cận Bình muốn thực sự nhìn thẳng vào sự thật trần trụi để tiến hành một cuộc cải cách kinh tế lớn chưa từng thấy – chỉ dấu được xem là ngang ngửa với kế hoạch hiện đại hóa Trung Quốc mà Đặng Tiểu Bình đã ồn ào khoa trương từ cuối những năm 1970.

Cũng còn một cách lý giải sâu xa và khó nói hơn: sau khi đã trở thành hiện tượng chưa từng có trong giới chính khách Trung Quốc về thắng lợi thâu tóm quyền lực chỉ trong vòng một năm từ khi nhậm chức, Tập Cận Bình muốn dùng sự thật về nợ xấu và nợ công để tạo nên một chiến dịch “perestroika” mà từ đó sẽ khuynh loát toàn bộ hệ thống điều hành của chính quyền, khiến chính phủ và các thành viên của nó phải phụ thuộc hoàn toàn vào các quyết định của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước, từ đó làm rõ hơn hẳn tính thực tiễn về cơ chế “nhất thể hóa” trong việc tập trung hóa quyền lực trên toàn cõi Trung Hoa.

Cần lưu ý, chủ đề dần công khai hóa nợ xấu và nợ công đã chỉ diễn ra sau hội nghị trung ương 3 của đảng vào tháng 11/2013 – một cuộc họp cho thấy Tập Cận Bình đã không hoàn toàn thành công trong ý đồ muốn tạo ra một cuộc cải cách liên quan đến cơ chế giảm độc quyền doanh nghiệp quốc doanh, cải cách hệ thống ngân hàng và đa dạng hóa chế độ sở hữu đất đai.

Đồng sàng

Nhưng nói gì thì nói, mọi chuyện cũng đã trở nên xấu hơn đáng kể so với vài năm trước. Có đến 70% hoặc hơn nợ của các chính quyền địa phương phụ thuộc không thể chối cãi vào thị trường bất động sản tại đất nước này. Mà tình trạng bất động sản lại vẫn nằm nguyên trong một nghịch lý quá nan giải: bất chấp giá nhà đất vẫn tiếp tục tăng tiến tại phần lớn trong 70 thành phố chính của Trung Quốc, chính quyền ở nhiều nơi vẫn không thể giải quyết được hàng tồn kho nhà đất, đặc biệt là khối ung thư khổng lồ căn hộ cao cấp. Tính thanh khoản vẫn chưa thoát khỏi bóng ma giảm phát.

Nhiều người trong giới phân tích quốc tế và cả tại Hồng Kông đã khẳng định là thị trường bất động sản Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ. Thời điểm sụp đổ có thể trong từ 3 – 5 năm nữa.

Khác hẳn với tốc độ giảm nhiệt đáng kể đến 30% của thị trường bất động sản Singapore, giới điều hành chính sách nhà đất Trung Quốc đã hầu như thất bại trong việc điều tiết giá nhà quá nóng, cho dù những chính sách như đánh thuế đối với việc người dân sở hữu căn hộ thứ hai đã được đưa ra từ năm 2012. Cho tới nay, không những không giảm, giá nhà vẫn tiếp tục phi mã. Một cuộc thăm dò dư luận cho thấy có đến 70% người được hỏi không hài lòng hoặc phản ứng phẫn nộ vì giá nhà quá cao so với thu nhập trung bình của người lao động.

Tình hình phân hóa quá lớn về giá nhà đất và thu nhập ở Trung Quốc cũng có thể gần tương tự xã hội Việt Nam – nơi mà giá nhà đất cao gấp 25 lần thu nhập bình quân của người lao động, trong khi tiêu chí hợp lý của Liên hiệp quốc đưa ra chỉ dưới 5 lần.

Không thể giải quyết được việc bình ổn giá nhà đất, chế độ chính trị ở Trung Quốc cũng đương nhiên đang tuyệt vọng trong mục tiêu làm cho hố phân hóa giàu nghèo hẹp lại, do đó càng khiến tâm trạng bất mãn và tâm lý thù ghét người giàu trong dân chúng trở nên đại trà và sắt máu hơn.

Cũng không thể giải quyết được nạn tồn kho nhà đất, hệ thống ngân hàng Trung Quốc luôn phải đối mặt với nguy cơ đổ vỡ, và hơn nữa là dạng domino sụp đổ liền mạch giữa các ngân hàng. Bài học gần nhất mà chắc chắn giới điều hành kinh tế Trung Quốc không thể nào quên là sự sụp đổ bất ngờ của ngân hàng Lehman Brothers ở Mỹ vào tháng 10/2007, dẫn tới cuộc suy thoái toàn diện tại quốc gia hùng mạnh nhất thế giới này trong 17 tháng.

Đó cũng là hình ảnh đơm hoa kết trái của cơ chế “đầu tư nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất” ở Trung Quốc vào thời kinh tế hoàng kim những năm 2006-2007, tương tự với Việt Nam. Nhưng mọi chuyện vẫn chưa phải hết, vì ngay cả sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 và đến thời kỳ tạm phục hồi năm 2009-2010, Bắc Kinh và Hà Nội vẫn đua nhau tiếp tục đầu tư theo cái cách “tiền đổ vào cho đến lúc sụp đổ hoàn toàn”.

Hoàn cảnh Hà Nội còn tàn tệ hơn: sau 6 năm suy thoái với nền kinh tế cạn kiệt sức hồi sinh, sau cú đổ nợ lên đầu con cháu với tỷ lệ nợ công hiện thời lên đến 95-98% GDP (khoảng 135 tỷ đô la), giới lãnh đạo và những tập đoàn cá mập nhà nước vẫn không ngớt vay mượn từ ODA và các nguồn tín dụng quốc tế khác.

Vay mượn cho đến khi sự đổ vỡ trở nên tuyệt đối…

Đèn nhà ai nấy rạng

Không thể né tránh rằng, tương lai đổ vỡ sẽ hoàn toàn không xa vời, đặc biệt ứng với nền kinh tế Việt Nam.

Còn với Trung Quốc, bởi tiềm lực kinh tế mạnh hơn hẳn, trước mắt giới điều hành kinh tế tại quốc gia này vẫn chưa phải quá lo lắng về một cận cảnh kinh hoàng.

Tuy nhiên, tỷ lệ nợ công/GDP ở Trung Quốc hiện thời đã lên đến 50% theo các con số báo cáo của chính cơ quan kiểm toán nước này. Còn nếu theo tính toán của một số cơ quan phân tích độc lập của châu Âu, tỷ lệ nợ công tại Trung Quốc có thể cao hơn nữa, thậm chí đến 200%.

200% cũng là tỷ lệ nợ công mà Nhật Bản đã lâm vào trong thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Dù cơ cấu nợ công chủ yếu là nợ trong nước, chừng đó đã là quá đủ để người Nhật phải rơi vào thập kỷ mất mát không tránh khỏi. [kinh tế Nhật suy thoái từ 1990 cho đến nay vẫn còn tiếp diễn và chưa có dấu hiệu phục hồi – TH].

Sau nhiều năm tăng trưởng nóng và quá hãnh tiến về chủ thuyết “Trung Quốc trỗi dậy”, có thể không bao lâu nữa nền kinh tế và cả xã hội của đất nước này sẽ phải rước lấy sự mất mát ghê gớm. Cũng rất có thể, đó sẽ là một sự trả giá đau đớn, hoàn toàn không liên quan với ngữ nghĩa “hạ cánh mềm”. Thậm chí, cuộc hạ cánh cứng sẽ có thể mang ý nghĩa “đòn xoay chế độ”.

Với hiện tượng xuất hiện dấu hiệu khá rõ ràng về nợ xấu và nợ công được công bố ở Trung Quốc vào cuối năm 2013, có khả năng độ trễ để dấu hiệu biến thành thực chứng sẽ từ một đến hai năm. Và nếu trong năm 2014 các chính quyền địa phương tiếp tục bị ám ảnh nặng nề bởi núi hàng tồn kho nhà đất, cũng như không thể thanh toán phần lớn nợ cho chính quyền trung ương, thần chết sẽ lừng lững hiện ra. Năm 2015 sẽ chứng kiến sự biến mất của một tỷ lệ không nhỏ doanh nghiệp bất động sản và kéo theo tình cảnh băng hà của một bộ phận trong giới ngân hàng.

Viễn cảnh không mấy xa xôi đó hiển nhiên sẽ tác động tức thì qua đường biên giới Việt – Trung. Những gì mà giới quan chức “bốn tốt” ở Hà Nội đặt niềm tin và ấp ủ không ít hy vọng vào một “gói giải cứu” nhiều tỷ đô la từ Bắc Kinh cho năm 2014 và những năm tới sẽ có thể trở thành cái bánh vẽ không lồ không hơn không kém.

Thậm chí một khi kinh tế Trung Quốc rơi vào suy thoái, một tỷ đô la cũng không sẵn dành cho Hà Nội, và theo lời của một chuyên gia nhà nước, thì một tỷ đô la cũng có thể khiến cho Nhà nước Việt Nam vỡ nợ.

Khi đó và như một câu tục ngữ dân gian, sẽ là “đèn nhà ai nấy rạng”. Không thể có chuyện ứng cứu lẫn nhau, nhất là khi các nền chính trị độc tài bị ngập ngụa bởi nạn tham nhũng và đã trở thành một thứ phản cảm đối với lịch sử nhân loại.

P. C. D.

Tác giả trực tiếp gửi cho BVN

 

———————————————————–

Trần Hoàng: Bức tranh kinh tế và tài chánh của VN quá ảm đạm.

Nợ và nợ xấu của các doanh nghiệp quốc doanh do nhà nước bảo lãnh là 1,3 tỷ đồng

Gộp hai thứ nợ này lại, VN mắc nợ 2,9 triệu tỷ đồng (hơn 140 tỷ đô la), tức hơn 100% GDP năm 2013.

Thêm 200.000 căn hộ cao cấp và trung cấp không ai mua từ 2008 cho đến nay.

  1. Không thể cứu vãn được kinh tế Việt Nam « Trần Hoàng Blog

    Nov 16, 2013 – Chưa bao giờ trong lịch sử của thể chế đương đại, các nhóm lợi ích lại lộ  nhập thấp và trung bình của xã hội, một bộ phận nho nhỏ trong chính giới  Nếucăn cứ vào độ chênh giữa số thực tế và số báo cáo của Trung Quốc, …. có tài sản đang bị kẹt vốn trong 200.000 bất động sản không bán được trong  …

Đảng CSVN và Nhà Nước đã mua máy in tiền về đặt ở Hà Nội. Nhà máy in tiền xây cho rộng thêm để chứa tiền mới in ra và sẽ hoạt động trong năm 2015.—-> Vàng sẽ tăng giá, đô la sẽ tăng giá, vì đồng tiền VN mất giá. Bộ Chính Trị biết thế nguy, sai TT Ng Tấn Dũng đọc diễn năm đầu năm dối gạt rằng sẽ đổi mới thể chế. Đảng đòi nắm ngân hàng nhà nước và kiếm soat mọi chi tiêu

  1. Bắt bớ, tù đày hay thả con tin…tùy thuộc vào nhu cầu đòi hỏi được 

    on 03/10/2013  CTN Sang được đón tiếp trong sự thờ ơ, còn thủ tướng Dũng dù các nguồn cố gắng vận động dăm …. đang kẹt vào các món nợ xấu, kẹt trong 200.000 căn hộ cao cấp và trung cấp chưa bán được…
  2. Nợ xấu bất động sản sẽ làm sụp đổ các ngân hàng, bùng vở nợ xấu 

    on 22/08/2013  riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung (200.000 căn hộ chưa bán được) và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý  
  3. Không thể cứu vãn được kinh tế Việt Nam « Trần Hoàng Blog

    Nov 16, 2013 – Chưa bao giờ trong lịch sử của thể chế đương đại, các nhóm lợi ích lại lộ  nhập thấp và trung bình của xã hội, một bộ phận nho nhỏ trong chính giới  Nếucăn cứ vào độ chênh giữa số thực tế và số báo cáo của Trung Quốc, …. có tài sản đang bị kẹt vốn trong 200.000 bất động sản không bán được trong  
  4. Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh « Trần Hoàng Blog

     on 27/10/2013  sụp đổ vì vốn liếng đang kẹt vào các món nợ xấu, kẹt trong 200.000 căn hộ cao cấp và trung cấp chưa bán được…

    17 triệu lao động Việt thu nhập không quá 40 nghìn đồng/ngày

    17-12-2013

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nợ công và nợ xấu sẽ tiếp tục đè nặng lên những thế hệ tương lai của Việt Nam ?

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Nhà nước cộng sản chỉ sụp đổ bởi lý do tài chánh, lạm phát, kinh tế suy thoái. Sự cai trị của đảng cộng sán chỉ chấm dứt khi nhà nước không còn tiền chi trả lương cho công nhân viên, quân đội, công an nhân dân, và hàng triệu các đảng viên. Liên Xô và các 16 nước XHCN ở Âu châu-đã sụp đỗ theo cách ấy vào năm 1989-1991- mặc dầu đã nhiều lần in tiền đưa vào nền kinh tế như nhà Sản ở VN đang làm trong thời gian qua.   

Nhà nước đang trả lương cho gần 9 triệu công nhân viên chức, và 8,8 triệu người có công với cách mạng. 

————————————–

Thụy My& Phạm Chí Dũng

Theo RFI 

Đếm tiền tại một ngân hàng ở Hà Nội.

Reuters

Theo các con số chính thức, nợ công của Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 55,4% tổng sản phẩm nội địa (GDP) nghĩa là còn trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên hiện nay ngay báo chí nhà nước cũng đã đặt dấu hỏi về con số này, và đưa ra tỉ lệ nợ công lên đến 95% GDP. Trong khi đó, vừa rồi Chính phủ đã đề nghị Quốc hội cho nâng trần bội chi ngân sách lên 5,3% và phát hành thêm 170.000 tỉ đồng trái phiếu. Theo tính toán của một tờ báo trong nước, cứ mỗi ba tháng Việt Nam phải trả nợ một tỉ đô la. 

Phải chăng ngân sách Việt Nam đang cạn kiệt, và hậu quả sẽ như thế nào khi nợ nần tứ phía, tham nhũng lan tràn ? Trong tạp chí kinh tế hôm nay, RFI Việt ngữ đã trao đổi về vấn đề này với tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng ở Việt Nam.  (GDP Việt Nam năm 2012 ước đạt 136 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.540 USD)

RFI : Như anh đã biết, nợ của Việt Nam nếu tính cả những doanh nghiệp mà chủ yếu là của nhà nước thì lên tới 95% GDP, có nghĩa là vượt ngưỡng an toàn mà ngưỡng này được xem là 60%. Anh nhận xét tình hình này như thế nào ? 

TS Phạm Chí Dũng : Tôi xin nói trước về vấn đề ngưỡng an toàn so với GDP của Việt Nam. Hiện nay theo một số quan chức Việt Nam thì ngưỡng an toàn nằm ở mức 70% chứ không phải 60%. Trong khi đó theo ngưỡng an toàn tiêu chuẩn quốc tế về nợ công trên GDP, thì nợ công là 65%. Nhưng thật ra hiện nay đang có mâu thuẫn rất lớn về đánh giá giữa hai luồng quan điểm, khác nhau hoàn toàn về vấn đề nợ công trên GDP.

Luồng quan điểm thứ nhất thuộc về chính phủ Việt Nam với màu sắc luôn luôn tô hồng, theo như các báo cáo của chính phủ. Đó là tỉ lệ nợ công trên GDP hiện nay chỉ chiếm 55,4%, mà nếu vay nợ thêm thì tỉ lệ nợ công trên GDP cũng chỉ khoảng 60% tức là vẫn còn an toàn, dưới mức 70% cho phép.

(nợ công hiện nay là 78 tỷ đô la/ GDP của VN là 136 tỷ USD

nợ và nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước – hiện nay lên tới 1,3 triệu tỉ đồng Việt Nam- tức là khoảng 65 tỉ đô la 

gộp chung lại, VN hiện mắc nợ 143 tỷ đô la)

 

Trong khi đó theo một quan điểm độc lập khác thì tỉ lệ nợ công quốc gia trên GDP Việt Nam hiện nay tới 95%. Đánh giá này được nêu ra tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân tại Nha Trang vào tháng 4/2013. Một số chuyên gia phản biện độc lập – tôi nhớ là ở Ba Lan, và kể cả ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã rất bức bối, và lần đầu tiên nêu ra tỉ lệ nợ công hiện nay lên tới 95% GDP.

Với điều kiện tính luôn cả nợ và nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước – hiện nay lên tới 1,3 triệu tỉ đồng Việt Nam, tức là khoảng 65 tỉ đô la – lại không được tính vào nợ công quốc gia của Việt Nam.

Nghịch lý là như vậy. Mà khi không tính vào thì tất nhiên tỉ lệ nợ công/GDP của Việt Nam chỉ có 55,4% thôi. Nhưng nếu tính tất cả nợ công của kinh tế nhà nước thì tỉ lệ đó phải lên tới ít nhất 95% GDP.

Còn theo đánh giá của một chuyên gia quốc tế nữa thì tỉ lệ nợ công/GDP không phải là 95% nữa mà là 106%. Đó là một con số khủng khiếp, và điều đó nhắc chúng ta nhớ lại tỉ lệ nợ công/GDP của Philippines trước đây. Nợ công của Philippines vào thời Tổng thống Marcos – được coi là một trong những đời tổng thống tham nhũng nhất của Philippines – lúc đó là 120%, tương đương 120 tỉ đô la, và toàn bộ GDP hàng năm của Việt Nam hiện nay.

Và nếu như mâu thuẫn ở Việt Nam không thể giải quyết được thì người ta đành phải chấp nhận là có một sự chênh biệt tới 50%, giữa báo cáo chính phủ với những đánh giá phản biện về thực tế, hiện tồn ở Việt Nam hiện nay. Do đó cần phải xem lại rất kỹ, rất sâu về nguyên nhân gây ra ung họa ở đâu. Chính là do các tập đoàn nhà nước, chẳng hạn như Vinashin, Vinalines…Mà bản thân những tập đoàn như Vinashin thì chúng ta đã biết họ nợ ít nhất là 84.000 tỉ đồng Việt Nam, tương đương 4 đến 5 tỉ đô la, tức khoảng 6% GDP của Việt Nam.

Đó chỉ mới là một tập đoàn. Còn nhiều tập đoàn khác – chẳng hạn đã xuất hiện những cái tên như Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, kể cả Tập đoàn Điện lực Việt Nam nữa. Tập đoàn này cho tới nay trở thành quán quân về nợ ngân hàng, với tổng số 118.000 tỉ đồng, là tập đoàn nhà nước được các ngân hàng ưu ái vô cùng, thuộc loại được ưu ái nhất Việt Nam.

RFI : Thưa anh, trong tình hình nợ công đã cao như vậy mà còn phải gánh thêm những món nợ – dù Nhà nước không bảo lãnh. Theo luật quản lý nợ công thì những khoản nợ này không được tính vào nợ công quốc gia, nhưng nếu chính phủ phát hành trái phiếu thì cũng là một cách làm tăng nợ lên ?

Thực chất việc phát hành trái phiếu chỉ là dùng giấy để mua nợ chứ không phải là dùng tiền thật mua nợ. Cho nên đó là một thủ pháp mà tục ngữ Việt Nam gọi là « đánh bùn sang ao », mà thực tế không giải quyết bất kỳ vấn đề nào, một nội dung nào về vấn đề nợ xấu. Có nghĩa là nợ xấu vẫn y nguyên ! Vậy thì phát hành trái phiếu là cho ai ?

Có hai kênh để phát hành trái phiếu. Một là kênh phát hành nội địa cho dân chúng, cho các doanh nghiệp, ngân hàng. Thứ hai là kênh phát hành quốc tế. Chẳng hạn trường hợp tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin, chính phủ đã có quyết định cho tập đoàn này phát hành 600 triệu đô la trái phiếu quốc tế.

Như vậy là cũng dùng giấy để giải quyết nợ. Nhưng vấn đề còn lại là có bán được trái phiếu hay không. Tôi không cho là có nhiều hy vọng lắm về việc doanh nghiệp và các tập đoàn nước ngoài kỳ vọng vào việc Vinashin có thể phục hồi một cách vững chắc, để họ có thể mua trái phiếu quốc tế của Vinashin.

Điều đó cho thấy kênh phát hành trong nước hiện nay cũng đang bế tắc, vì gần như tiền không vào lưu thông và tình trạng găm giữ tiền trong dân chúng rất phổ biến, thị trường bất động sản đóng băng. Đó là một minh chứng cực kỳ điển hình. Cho nên việc phát hành trái phiếu nội địa có nhiều khả năng không thành công, các ngân hàng cũng như vậy.

Vấn đề còn lại là nếu tính đúng tính đủ theo năm tiêu chí của Liên Hiệp Quốc về nợ công thì phải cộng luôn cả nợ của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước không xử lý được vào nợ công. Lúc đó tỉ lệ nợ công sẽ không phải là 55% nữa mà sẽ lên ít nhất là 95% GDP.

Nếu như Nhà nước Việt Nam với chính sách hiện nay cứ tiếp tục vay những nguồn vốn được coi là tài trợ quốc tế, chẳng hạn như ODA từ Nhật Bản v.v…dù với lãi suất ưu đãi, vẫn là một gánh nặng đổ lên đầu con cháu. Đời con, đời cháu sẽ tiếp tục phải trả, chứ không phải là thế hệ lãnh đạo hiện nay.

RFI Ngay cả trong trường hợp trái phiếu phát hành để hỗ trợ cho những tập đoàn quốc doanh lỗ lã có bán chạy đi nữa, nhưng đây không phải là dòng vốn rót vào sản xuất – doanh nghiệp tư nhân không vay được – thì đây có phải là hiện tượng lành mạnh không ?

Đó không phải là một hiện tượng lành mạnh đối với khu vực sản xuất, và đối với thực lực của nền kinh tế Việt Nam. Vì đó chẳng qua, tôi nhắc lại, là một thủ pháp để chuyển nợ thành một tờ giấy nào đó mà thôi. Và giấy xét cho cùng cũng chỉ là giấy, vì trái phiếu không có ý nghĩa gì ; trong trường hợp phát hành quá nhiều trái phiếu thì vô hình chung lại đẩy mạnh lạm phát. Và nếu không phát hành trái phiếu mà in thêm tiền cũng là lạm phát.

Cho nên ở đây chính phủ buộc phải chọn một phương cách tạm gọi là tương đối an toàn là phát hành trái phiếu. Nhưng tôi muốn nói thêm một khía cạnh thế này : việc phát hành trái phiếu mà không phải dùng tiền mặt để mua nợ xấu cho thấy ngân quỹ Việt Nam đã eo hẹp, và có nhiều dấu hiệu cạn kiệt đến mức như thế nào !

Trong cuộc suy thoái từ năm 2008 đến đầu 2009, tháng 3/2009 chính phủ Việt Nam đã tung ra một gói kích cầu khoảng 143.000 tỉ đồng, tương đương 8 tỉ rưỡi đô la theo tỉ giá hối đoái vào thời điểm đó. Đây là một con số khổng lồ và đã vực dậy nền kinh tế, nhưng đặc biệt vực dậy các thị trường đầu cơ như chứng khoán và bất động sản, còn nền kinh tế chỉ ăn theo những thị trường này mà thôi.

Tuy nhiên trong suốt ba năm suy thoái vừa qua, điều đáng ngạc nhiên là tiền đi đâu ? Cuối cùng thì các doanh nghiệp đã không thể kỳ vọng là Nhà nước có thêm một gói kích cầu nào nữa. Gói kích cầu đó đã được hy vọng vào năm 2012, khi nền kinh tế quá khó khăn. Nhưng đến năm nay thì gần như đã chấm dứt hy vọng, vì không có bất kỳ một tín hiệu nào về việc chính phủ có thể tung ra một gói kích cầu. Từ đó người ta mới đánh giá thế này : Chính phủ hết tiền rồi !

Các doanh nghiệp nói như vậy, và thực chất là nguồn tiền quá eo hẹp. Huy động mãi mới chỉ được gói kích thích 30.000 tỉ đồng để hỗ trợ cho thị trường bất động sản mà thôi.

Điều đó cho thấy việc tung ra trái phiếu là một kênh chẳng đặng đừng. Một kênh bất đắc dĩ mà chính phủ phải thực hiện, và cuối cùng cũng chỉ là một việc gần như vô nghĩa, tức là không giải quyết thực chất vấn đề nợ xấu.

Liên quan đến việc này, tôi cũng muốn nói thêm là công ty Quản lý Tài sản Quốc gia, viết tắt là VAMC được thành lập vào đầu năm 2013, có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là xử lý nợ xấu đang tồn đọng tại các doanh nghiệp và ngân hàng. Nhưng sau một hồi bàn thảo rất gay cấn, cuối cùng vốn điều lệ của VAMC chỉ có 500 tỉ mà thôi. Trong khi nhiệm vụ của VAMC là phải giải quyết ít nhất 100.000 tỉ đồng nợ xấu, theo con số báo cáo !

Với vốn điều lệ chỉ có 500 tỉ mà phải giải quyết gấp hai chục lần số nợ xấu thì làm sao có thể được ? Thế là cuối cùng người ta cũng đành ngã sang một phương án như chính phủ đang thực hiện hiện nay. Có nghĩa lại tiếp tục phát hành trái phiếu. VAMC sẽ có một loại trái phiếu đặc biệt, và dùng loại trái phiếu đó để trả lại cho các ngân hàng – những ngân hàng đang ôm nợ xấu. Và các ngân hàng đó phải chuyển lại một số tài sản thế chấp và nợ xấu cho VAMC.

Cho nên trong mấy tháng vừa rồi, có những báo cáo đánh giá là tổ chức này (VAMC) đã mua được 30 đến 35.000 tỉ đồng nợ xấu. Nhưng điều đó có ý nghĩa như thế nào ? Hay chỉ thuần túy là một việc diễn ra trên giấy và chuyển từ tài khoản này sang tài khoản kia. Còn thực chất nợ xấu vẫn là một hằng số, nếu không muốn nói là tăng lên theo thời gian và không hề thay đổi.

Thậm chí theo một báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước – buộc phải báo cáo trước Quốc hội kỳ họp thứ 6 khóa 13, thì Ngân hàng Nhà nước đã phải làm một động tác, một văn bản được coi là « đảo nợ » và chuyển 300.000 tỉ đồng từ nợ xấu lên nhóm nợ đỡ xấu hơn. Như vậy trái phiếu không giải quyết được gì cả.

RFI Mới đây ông Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã đánh giá chuyện anh vừa nói là xử lý nợ xấu bằng cách « ngậm sâm ». Tức là tổ chức VAMC chỉ « cấp cứu » thôi, chứ không phải là xử lý nợ xấu triệt để. Muốn triệt để phải chờ sự phục hồi của nền kinh tế, mà theo ông là khoảng hai, ba năm tới. Theo anh vấn đề này có thể giải quyết thế nào ?

À, đây là một ẩn số cực kỳ lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Nợ xấu hiện nay đang là vấn đề cốt tử để quyết định vận mệnh của nền kinh tế Việt Nam, và có thể cả vận mệnh của nền chính trị Việt Nam trong tương lai không quá xa !

Ông Trương Văn Phước trước đây từng là Tổng giám đốc Eximbank. Nhận định của ông theo tôi độ khách quan chỉ khoảng một nửa thôi ,vì ông vẫn là một quan chức.

Muốn đánh giá một cách thực chất vấn đề nợ xấu của Việt Nam và thời gian để giải quyết nợ xấu, có lẽ phải dựa vào những ý kiến độc lập hơn nhiều. Nhưng dù sao tôi cho là ý kiến của ông Trương Văn Phước từ trước tới nay vẫn là một trong những ý kiến tương đối sâu sắc và có thể tham khảo được.

Vấn đề ông đưa ra là từ hai tới ba năm có thể giải quyết được nợ xấu, theo tôi là quá lạc quan. Đó là theo lộ trình của Nhà nước và những điều mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố trước Quốc hội, đến khoảng năm 2014-2015 có thể giải quyết được nợ xấu.

Nhưng theo một chuyên gia khác là ông Bùi Kiến Thành, một chuyên gia Việt kiều và có thể nói là một người khách quan nhất trong lãnh vực tài chánh ngân hàng, thì thời gian để giải quyết nợ xấu phải mất ít nhất 5 năm, tính từ năm 2012. Đánh giá của ông Bùi Kiến Thành được đưa ra vào năm 2012. Có nghĩa là sớm nhất phải đến 2017 mới có thể giải quyết được.

Như vậy đã có một sự chênh biệt khá đáng kể, ít nhất hai, ba năm giữa đánh giá của một chuyên gia phản biện độc lập với khối ngân hàng nhà nước về thời gian giải quyết nợ xấu. Còn giải quyết như thế nào, thực chất hiện nay VAMC không thể gọi là một phép mầu, một cây đũa thần.

Và đúng là như ông Trương Văn Phước đã dùng từ bóng bẩy nhưng ý nhị, là chỉ cho ngậm sâm. Đối với những cơ thể đã ốm o, dặt dẹo và thường là mang trọng bệnh thì mới cho ngậm sâm. Nhưng ngậm sâm chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn, sau đó nếu không giải quyết được gì nữa, lúc đó cơ thể sẽ lờn thuốc. Sẽ không có bất kỳ một loại sâm, một loại thuốc quý nào có thể làm cơ thể hồi phục. Lúc đó sẽ lụn bại, sụp xuống rất nhanh.

RFI : Thưa anh, báo cáo kinh tế vĩ mô 2013 mang tiêu đề « Thách thức còn ở phía trước » kêu gọi cổ phần hóa triệt để doanh nghiệp nhà nước, mở rộng tham gia của tư nhân, đưa ra lộ trình doanh nghiệp nhà nước hiện giờ 25-27% GDP xuống dưới 10% vào năm 2020. Anh thấy việc này có khả thi không ?

Thực ra tôi không quan tâm lắm tới chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước cho tới thời điểm này. Vì việc đó đã làm từ lâu và không có kết quả, chỉ theo tính chất phong trào mà thôi, và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước không mấy quan trọng. Còn những doanh nghiệp quan trọng thì Nhà nước vẫn nắm. Cho nên điều đó không tạo ra ý nghĩa nhiều lắm trong chiến dịch cổ phần hóa suốt mười mấy năm vừa rồi.

Chẳng hạn những lãnh vực như xăng dầu, điện lực độc quyền đến như thế nhưng Nhà nước vẫn không cổ phần hóa. Mà không cổ phần hóa thì giá chỉ có tăng mà không có giảm. Còn những lãnh vực cổ phần hóa như bưu chính thì như chúng ta đã thấy, trong thời gian khá dài giá đã giảm đáng kể, chẳng hạn giá cước sử dụng internet.

Nếu không bỏ độc quyền thì việc cổ phần hóa sẽ không có ý nghĩa lắm. Thành thử việc cổ phần hóa sẽ diễn ra như thế nào trong thời gian sắp tới, theo tôi không quan trọng bằng việc phải cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất bằng việc xóa bỏ, hoặc ít nhất là cũng xóa dần thế độc quyền của một số doanh nghiệp, chẳng hạn như những doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, điện, nước thì mới có ý nghĩa. Chứ còn vẫn mãi độc quyền, không có một cải cách nào cả, thì sẽ khó thể tham gia vào những định chế đa phương thương mại quốc tế, và cũng không phát huy được nội lực của khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

RFI : Thưa anh, vừa rồi một nhà kinh tế kiêm blogger là Alan Phan cho biết ông không tin vào một chính sách nào của Nhà nước nữa, vì thật ra các tập đoàn lợi ích đã lũng đoạn rồi. Ông cho rằng với những gánh nặng doanh nghiệp nhà nước, nợ xấu ngân hàng, ngân sách, thì Việt Nam dù có tham gia TPP đi nữa thì cũng không thể trở thành một con rồng trong thời gian tới…
Có hai vấn đề. Một là lòng tin, và hai là hiệu quả TPP.

Thứ nhất là lòng tin, thì đánh giá của ông Alan Phan theo tôi cơ bản là đúng. Tại vì hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đã than thở về chuyện mất lòng tin hoàn toàn vào thị trường, và chẳng còn mấy lòng tin vào Nhà nước. Theo thăm dò chính thức, có ít nhất 50-60% doanh nghiệp đã không còn lòng tin vào những chính sách của Nhà nước nữa rồi.

Nhưng theo tôi thì tỉ lệ này vẫn còn rất khiêm tốn. Vì khi nói chuyện với một số doanh nghiệp thì tôi nhận ra rằng nếu đưa ra những tiêu chí rõ ràng để khảo sát tâm lý, thăm dò ý kiến của họ và phân tích cho rõ ràng, thì có thể nói họ hầu như không có niềm tin. Tôi cho rằng ít nhất 80-85% doanh nghiệp và người dân không còn tin vào những chính sách kinh tế của Nhà nước nữa.

Nhất là sau ba năm suy thoái và để cho các nhóm lợi ích, đặc biệt là nhóm lợi ích ngân hàng, bất động sản, chứng khoán và vàng bạc lũng đoạn hoàn toàn thị trường. Cho nên bây giờ mới để xảy ra một trận lũ, hậu quả, dư chấn của một cuộc khủng hoảng gần như là ngổn ngang, phơi bày tất cả những gì trần trụi ra và đang phải giải quyết mà chúng ta vừa đề cập tới. Hậu quả lớn nhất của nó là vấn đề nợ xấu.

Vấn đề thứ hai là TPP. Tôi còn nhớ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có đề cập về lòng tin chiến lược. Lòng tin chiến lược là gì ? Điều đó đã được sách vở nói đến, kể cả một cuốn sách mô tả về hội nghị Shangri-la và những lời phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rất là chi tiết. Nhưng ở đây lại liên quan đến lòng tin đối với Chính phủ, với chính sách của Nhà nước.

Khi mà lòng tin của các doanh nghiệp và người dân không còn bao nhiêu, thì liệu có nổi một lòng tin chiến lược bền vững hay không ? Hay đó chỉ là một câu sáo rỗng và rất xa vời ? Nói chung là một ảo ảnh hoàn toàn không thể hiện thực hóa.

Mà không hiện thực hóa thì chúng ta cần phải nhìn lại điều đang muốn nhấn sâu vào : TPP. Việt Nam tham gia vào TPP để làm gì ? Để có thể đạt được lợi thế nhiều nhất chăng ? Hay là chúng ta phải nhìn lại cả một quá trình nền kinh tế Việt Nam tham gia vào định chế WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) suốt bảy năm, nhưng đã gần như không có hiệu quả, ngoài một số chỉ tiêu xuất khẩu.

Mà xuất khẩu tăng về lượng nhưng lại không tăng giá, và thực chất vẫn tạo ra một sự phân hóa rất lớn về mặt thu nhập giữa các tầng lớp người dân Việt Nam. Đặc biệt là người nông dân Việt Nam cho đến nay đang phải lãnh hậu quả, dù sản lượng lúa đạt nhưng giá lúa vẫn thấp.

Tôi cho là trong thời gian sắp tới có nhiều khả năng Việt Nam sẽ được chấp nhận tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương, xuất phát từ tín hiệu Nhà nước Việt Nam được chấp nhận vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên, tham gia vào TPP nhưng vẫn còn vướng khá nhiều rào cản kỹ thuật do quốc tế quyết định. Đó là những rào cản kỹ thuật về xuất xứ hàng hóa của hàng xuất khẩu ra nước ngoài – phải mang tính chất nội khối chứ không phải ngoại khối TPP. Thứ hai là những rào cản kỹ thuật về nhãn mác, về sở hữu trí tuệ, kể cả vấn đề nghiệp đoàn lao động mà người Mỹ và phương Tây đang đặt ra cho Việt Nam như một điều kiện để tham gia TPP.

Nghiệp đoàn lao động lại liên quan mật thiết với vấn đề nhân quyền như đã được quy định trong điều 69 của Hiến pháp Việt Nam, nhưng chưa bao giờ được luật hóa một cách cụ thể.

Do vậy theo tôi đánh giá chung, trong vòng từ ba đến bốn năm tới dù có được tham gia TPP, nền kinh tế Việt Nam vẫn không nhận lãnh được những kết quả tương xứng như mong muốn, mà tiếp tục suy thoái, tiếp tục phân hóa dày đặc giữa các giai tầng ở Việt Nam.

RFI : Tóm lại là tình hình có vẻ u ám, quốc doanh không hiệu quả thậm chí làm ra thêm nợ nần, thị trường chứng khoán gần như bế tắc, bất động sản đóng băng. Doanh nghiệp tư nhân chết rất nhiều, những doanh nghiệp còn sống thì ngân hàng có cho vay cũng ít dám vay. Trở lại vấn đề nợ công, liệu có một lối thoát nào khả dĩ, theo anh ?

Lối thoát khả dĩ nhất hiện nay có lẽ là phải chống tham nhũng một cách triệt để, thu hồi tài sản do tham nhũng để trả nợ nước ngoài. Không còn cách nào khác ! Tại vì không còn nguồn tiền nào khác để trả nợ cho nước ngoài, trong bối cảnh ngân sách cạn kiệt như thế này, các thị trường đầu cơ gần như đóng băng, và trong tương lai gần không có gì triển vọng hơn.

Chỉ còn cách lôi những tập đoàn tham nhũng, những cá nhân tham nhũng ra mà xử. Tại vì họ đã ăn đủ, ăn dày, ăn sâu, ăn đậm quá nhiều năm rồi, đã làm cho người dân quá khốn khổ rồi ! Nay cần phải làm những vụ lớn như Bạc Hy Lai ở Trung Quốc, lấy tài sản tham nhũng bù đắp gánh nặng nợ nần của quốc gia, trả nợ cho nước ngoài. Còn việc phát hành trái phiếu quốc tế, tôi không tin là hiện thực hóa thành công.

RFI RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Việt Nam, đã vui lòng nhận lời tham gia tạp chí kinh tế hôm nay của chúng tôi

————————————————————————

BÀI LIÊN QUAN

►Nhiều trụ sở hoành tráng – Mặc cho nợ nần quốc gia lên đến 78 tỷ USD, và nợ DNNN do chính phủ bảo lãnh 62 tỷ USD

►Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

Chính phủ: 127 tập đoàn, tổng công ty nợ gần 1,35 triệu tỷ đồngtăng 6% so với 2011, chiếm 56% tổng nguồn vốn. (29-11-2013)

Có số nợ vay tương đối lớn là Tập đoàn Dầu khí 124.499 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 103.194 tỷ, Tổng công ty Hàng hải 31.681 tỷ…

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | 2 Comments »

►Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

Posted by hoangtran204 trên 27/11/2013

Cứ mỗi ba tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD

22-11-2013

Báo  tuoitre.vn

TTO -Sáng 22-11, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Cơ quan Hợp tác phát triển Đức GIZ đã tổ chức diễn đàn về phục hồi tăng trưởng, tái cơ cấu – cơ hội và thách thức.

Các chuyên gia tại đây cho rằng VN cần cẩn trọng trong cuộc chạy theo tăng trưởng GDP, nguy cơ rơi vào lạm phát, bất ổn…

TS Nguyễn Đình Cung, quyền viện trưởng CIEM, cho rằng đang có lo ngại hiện tượng nới lỏng đầu tư công và theo ông, điều này có thể dẫn đến nguy cơ đầu tư dàn trải. Nhiều chuyên gia khác cũng đồng tình và cho rằng kinh tế VN có khó khăn, đầu tư của khu vực tư nhân giảm, tuy nhiên cần cẩn trọng với áp lực tăng đầu tư công bởi đó là nguy cơ khiến tái diễn lạm phát, bất ổn kinh tế…

Chính phủ đã trình xin cho nâng trần bội chi ngân sách (tức chi lớn hơn thu) từ 4,8 lên 5,3% GDP. Tuy nhiên, theo tham luận của ông Nguyễn Anh Dương (CIEM), ngay cả khi sử dụng tất cả 0,5% GDP này cho đầu tư công thì cũng chỉ có thể giúp tăng GDP từ 0,057-0,086% – một con số không đáng kể.

Dẫn lại gói kích cầu Chính phủ đã làm năm 2009, tới 145.000 tỉ (khoảng 8,7% GDP), tham luận cho biết thực tế cũng chỉ giúp tăng GDP có 1-1,5%. Việc nâng trần bội chi để thêm nguồn lực đầu tư phát triển, theo ông Nguyễn Anh Dương, chỉ có thể hiệu quả nếu có các biện pháp tái cơ cấu đầu tư công và nâng cao được hiệu quả đầu tư.

Phân tích thêm việc nới trần bội chi và phát hành thêm trái phiếu Chính phủ, ông Nguyễn Anh Dương cho rằng điều này là đáng lo ngại khi ảnh hưởng tới tính bền vững của ngân sách.

Theo số liệu của các cơ quan chức năng, nợ công của VN liên tục tăng, năm 2012 đã lên tới trên 1,6 triệu tỉ đồng.

Ông Dương tính toán dựa trên số liệu 6 tháng đầu năm 2013 với số nợ trên, mỗi quý VN phải trả nợ gốc và lãi tới 25.000-26.000 tỉ đồng (trên 1 tỉ USD), tương đương 16% thu ngân sách. “Vấn đề không phải nợ công có an toàn không, mà khả năng trả nợ trong tương lai mới là yếu tố cần được quan tâm” – ông Dương nói.

Trong khi tại nhiều diễn đàn lớn, nhu cầu tăng GDP đã được nhiều quan chức nhắc như mục tiêu quan trọng thì theo nhóm tác giả Bùi Trinh, Nguyễn Việt Phong, Bình Phan từ Tổng cục Thống kê, bảo hiểm tiền gửi… thì chỉ tiêu GDP hiện nay chưa thực chất. Cụ thể, hiện nay các đánh giá tình hình kinh tế – xã hội của VN thường gắn chặt với chỉ tiêu tăng GDP. Trong khi đó, GDP lại được cộng tất cả phần giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế và thuế nhập khẩu.

Như vậy có nghĩa một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hoạt động trên lãnh thổ VN trong một năm thì toàn bộ giá trị tăng thêm của họ trong năm đó sẽ được tính vào GDP của VN. Thí dụ, năm 2013, Tổng số xuất khẩu của VN là 133 tỷ Mỹ Kim, trong số này Công ty Sam Sung Việt Nam (SEV) xuất khẩu 21,5 tỷ đô la. (nguồn) Xuất khẩu điện thoại soán ngôi vương của dệt may , Sam Sung VN xuất khẩu 23 tỷ đóng thuế mấy đồng , làm luật cho Sam Sung lách để đóng thuế rất ít và càng ngày càng ít. Sam Sung từng trả lươngcho  công nhân TQ là 466-600 USD, nhưng khi lập nhà máy ở VN, chỉ trả cho công nhân VN 145 đô/ 1 tháng. 

Trong khi đó, nếu doanh nghiệp đó ng ay cả khi khai thác tài nguyên của VN thì họ cũng sẽ chuyển lợi nhuận về nước, nhưng khoản lợi nhuận đó thực tế đã được tính vào GDP của VN. Nên theo nhóm tác giả, GDP không phản ánh đầy đủ bức tranh nền kinh tế.

Một lo ngại khác là việc tăng nguồn lực cho đầu tư công, ông Nguyễn Anh Dương cho rằng có thể khiến chèn lấn khu vực tư nhân. Vì thực tế năm 2009, theo ông Dương, khi gói kích cầu được Chính phủ đưa ra, đầu tư của khu vực tư nhân đã giảm xuống mức 33,9% tổng đầu tư xã hội so với mức 35,2% năm 2008.

Đặc biệt, phân tích việc tăng đầu tư nhà nước, ông Nguyễn Anh Dương đã đưa ra hai kịch bản, trong đó khẳng định có hai khả năng: năm 2014 tăng trưởng của VN có thể đạt 5,6% thì lạm phát cũng phải tới 8,8%. Kịch bản cao hơn, năm 2014 nếu đúng theo các dữ liệu đưa ra, tăng GDP đạt 5,81% thì lạm phát cũng tới sát 9%…

Ông Trần Kim Chung, viện phó CIEM, băn khoăn không hiểu tại sao đến nay vẫn chưa có đề án tái cơ cấu đầu tư công, với phân công trách nhiệm rõ ràng để thực hiện…

TSKH Phạm Quang Thái, phó chủ tịch Hội Khoa học kinh tế VN, kiến nghị trước thực tế hiện nay cần lập một ủy ban tái cơ cấu trực thuộc Chính phủ để điều phối, thúc đẩy, kiểm tra quá trình tái cơ cấu.

Ông Thái cũng đề nghị sửa Luật ngân sách nhà nước, trong đó không để các khoản như trái phiếu chính phủ nằm ngoài ngân sách mà cần đưa vào ngân sách để Quốc hội giám sát, mọi việc chi tiêu phải được sự cho phép và thẩm định của Quốc hội bởi nguồn này có khi lớn tới 40% chi ngân sách…

C.V.KÌNH

Bài liên quan

►Vào cuối năm 2013, nợ công của Việt Nam sẽ lên tới 78,6 tỷ USD, theo tuần báo The Economist

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | 2 Comments »

►Vào năm 2014, nợ công của Việt Nam sẽ lên tới 78,6 tỷ USD, theo tuần báo The Economist

Posted by hoangtran204 trên 24/11/2013

Dưới đây là 2 bài nói về nợ công và nợ của doanh nghiệp quốc doanh do chính phủ bảo lãnh.

Nợ công của Việt Nam là 70,6 tỷ đô la Mỹ (tính  tới 17-01-2013), và

Nợ của các  doanh nghiệp quốc doanh do chính phủ bảo lãnh 62,4 tỷ USD (tính tới 31/12/2011).

Như vậy, gộp 2 nguồn nợ này lại, VN đã mắc nợ trên 133 tỷ đô la.  

—————————–

Tới năm 2014, tờ The Economist cho biết là nợ công của VN sẽ là 78,6 USD. –The Economist forecast that by 2014, Vietnam’s public debt would rise to $78.6 billion, (nguồn)

29-11-2013, Chính phủ: 127 tập đoàn, tổng công ty nợ gần 1,35 triệu tỷ đồng, khoảng  67 tỷ USD,  tăng 6% so với 2011, chiếm 56% tổng nguồn vốn. 

Tổng cộng 2 nguồn nợ này sẽ là 145, 6 tỷ USD!

 

Phân tích sốc về “Tứ đại Vina” thụt két, tăng nợ công

kienthuc.net.vn

Trần Đình Bá

06-11-2013

(Kienthuc.net.vn) – “Nhìn thẳng vào sự thật nước ta có “Tứ đại Vina” là những “chủ công” làm thụt két ngân sách và làm tăng vọt nợ công nước ngoài trên 72,5 tỷ USD”, TS Trần Đình Bá nói.

Nhân kỳ họp thứ 6 – QH khóa XIII đang bàn về bội chi ngân sách và tăng vọt nợ công quốc gia lên 72,5 tỷ USD, tiến sỹ Trần Đình Bá – Hội Khoa học kinh tế VN đã có bài phân tích nguyên nhân gửi 500 đại biểu QH cảnh báo VN đang “ném tiền qua cử sổ” với các siêu dự án cảng biển, sân bay, đường sắt gây lãng phí trong ngành GTVT.

Để rộng đường dư luận, tòa soạn xin đăng bức thư phân tích của Tiến sỹ Trần Đình Bá:

Tăng vọt nợ công quốc gia đang trở thành nỗi nhức nhối của toàn dân và các đại biểu Quốc hội. Có nhiều nguyên nhân làm tăng vọt nợ công quốc gia và nợ nước ngoài, song dễ nhận biết nhất hãy nhìn vào đầu tư công trong Giao Thông Vận Tải (GTVT) là sẽ thấy ngay vấn đề. Hậu quả Vinashin và Vinalines thì tất cả 500 ĐBQH và toàn dân đều biết. Còn “Vina Đường Sắt (ĐS) – Vina Hàng Không (HK)” mang lại tổn thất không kém nhưng còn ở “hậu trường”. Nhìn thẳng vào sự thật nước ta có “Tứ đại Vina” là những “chủ công” làm thụt két ngân sách và làm tăng vọt nợ công nước ngoài trên 72,5 tỷ USD.

Sau Vinashin, Vinalines thì sẽ là Vina railways và Vina airline!

Tại kỳ họp thứ 4 (5/2012) và thứ 5 (10/2012) diễn đàn QH nóng lên câu hỏi khó: “Sau Vinashin, Vinalines thì sẽ là Vina gì?” .

Nhìn thẳng vào sự thật, với trách nhiệm của một nhà khoa học – một cử tri, một công dân yêu nước, tôi trả lời nghiêm túc – chính xác với Đoàn Chủ tịch kỳ họp thứ 6 QH khóa XIII cùng 500 đại biểu QH rằng: Sau Vinashin, Vinalines là “Vina railways” (Vina Đường sắt) và “Vina airline” (Vina Hàng không)!

 

clip_image001

 

TS Trần Đình Bá: “Hiện GTVT đang là “mắt xích yếu nhất”, là “lỗ thủng”, là “con nghiện” khổng lồ của nền kinh tế quốc dân làm tăng vọt nợ công hàng chục tỷ USD”.

Điều đặc biệt là “Tứ đại Vina” này đều tập trung vào lĩnh vực Giao Thông Vận Tải, mà chủ yếu vào 3 loại hình GTVT hiện đại chủ lực tầm chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội – quốc phòng – an ninh, có lượng tài sản quốc gia lớn nhất từ vốn vay ODA nhiều nhất, nhưng mang về tổn thất nặng nề nhất,  gây siêu lãng phí hàng chục tỷ USD làm tăng vọt nợ công quốc gia.

Theo Global debt clock (Đồng hồ báo nợ công thế giới),

trước ngày 17/1/2013, nợ công của Việt Nam ở mức trên 70,576 tỷ USD; bình quân nợ công theo đầu người là 787,9 USD; chiếm 49,5% GDP, tăng 13% so với năm 2011.

Còn trước nữa là ngày 4/9/2012, nợ công Việt Nam khoảng 67,6 tỷ USD, tương đương 50% GDP, bình quân nợ là 756,9 USD/người dân.

Tính từ ngày 4/9/2012 đến nay, (chỉ trong vòng 14 tháng), nợ công Việt Nam đã tăng vọt 4,9 tỷ USD, (đến nay, nợ công nước ngoài là 72,5 tỷ USD.  The economist dự tính rằng, cuối 2014, nợ công VN sẽ lên 78,6 tỷ USD)

bình quân mỗi người dân từ người già đến em bé mới chào đời phải “gánh” tới 826.4 USD nợ công. Đây là kỷ lục chưa từng có trong lịch sử kinh tế VN!

Từ năm 2000 trở lại đây, do đầu tư ồ ạt vào hạ tầng giao thông – đặc biệt là đường sắt, hàng không, cảng biển bằng vốn vay ODA nhưng hiệu quả mang về là thấp nhất, gây siêu lãng phí và biến Việt Nam trở thành con nợ lớn nhất về ODA .

Đường Biển: Phong trào đua nhau đầu tư tràn lan lên tới 260 cảng biển, giành kỷ lục nhiều nhất trong ASEAN, nhiều gấp 2 lần các nước liên minh EU. Trị giá tài sản công lên tới 100 tỷ USD, mà chỉ đạt 2% thị phần vận tải hàng hóa – không hề vận tải hành khách, nên hiệu quả kém xa  một cảng biển ở châu Âu, gây siêu lãng phí tới 97% tài sản công.

Hàng hải đi kèm là “công nghệ tân trang đồ cổ” Vinashin, Vinalines làm thất thoát, để lại một món nợ nước ngoài khổng lồ nhiều tỷ USD. Việc nỗ lực “tái cơ cấu” bất thành đã gây nên phá sản Vinashin để lại món nợ Chính phủ, mà thực chất là Nhà nước và nhân dân phải gánh. Hàng loạt tàu biển “Nữ hoàng” nối nhau chìm – cháy tàu cùng 7 “tàu biển triệu đô” cùng tàu Hoa Sen … bị siết nợ hoặc đang nằm chờ bán sắt vụn tại các cảng nước ngoài, gây tổn thất kép nặng nề, làm tan nát sự nghiệp mà Việt Nam vốn là nước có thế mạnh.

Đường sắt có tới 3.200 km trị giá tài sản công 30 tỷ USD với 4 vạn 2 ngàn người vận hành, mà chỉ đạt 16 triệu hành khách/năm, chỉ bằng 1/20 đường sông cũng “thi đua” lập nhiều siêu dự án ĐSCT. Sau 10 năm theo dự án công nghệ “tân trang đồ cổ” cho ĐS khổ 1 mét, mà hành trình HN – TP HCM vẫn chỉ 32 tiếng, và đã trở thành “Đường sắt cổ vật” ngốn 2 tỷ USD ngân sách thành “tiền mất tật mang”, tại kỳ họp thứ 5 (10/2012) QH duyệt chi tiếp 1.800 tỷ đồng cho đường sắt không khác gì “hòn đá tảng ném xuống ao bèo” theo kịch bản tân trang ụ tàu – tàu biển “đồ cổ” ngốn nhiều tỷ USD làm tăng vọt nợ công. Như vậy, một “Vina Đường sắt” nợ nần, đồ cổ không kém Vinashin, Vinalins liệu có chính xác.

Hàng không có tới 63 sân bay giá trị 70 tỷ USD với khoảng 3 vạn người lao động, lợi thế thị trường và khí hậu nhất khu vực, đầu tư tới 10 sân bay quốc tế gấp 3 lần Nhật Bản, 26 sân bay tầm cỡ quốc tế và khu vực đang hoạt động, tiềm năng vận chuyển là 200 triệu hành khách/năm, nhưng thực tế hiện nay chỉ đạt 12 triệu hành khách/năm, lãng phí trên 94%.

Do áp dụng “công nghệ đường bay cổ đại thời tiền sử” nên không bao giờ có lãi. Từ hàng không quốc gia VNA đến tất cả các hãng hàng không tư nhân đều thua lỗ nặng nề. Từ năm 2000 đến nay, Chính phủ đều phải ký bảo lãnh Tín dụng thư (L/C  = letter of credit) hàng trăm triệu USD/năm, bao cấp nuôi hàng không, nhưng với thực tế chỉ vận chuyển khiêm tốn 12 triệu hành khách/năm, nên không thể có lãi để đủ nuôi quân và trả nợ.

Các hãng hàng không như ICA, MCA phải thua lỗ phá sản, JPA mỗi tháng lỗ 2 triệu USD được “tái cơ cấu” dồn gánh nợ quốc gia lên VNA thành nợ công chính phủ. Nợ lũy tiến của hàng không nhiều năm lên tới nhiều tỷ USD, không còn có khả năng chi trả, và trở thành một “Vina Hàng không” là sự thật tất yếu không ai muốn!

Như vậy, tổng giá trị tài sản đường sắt, hàng không, hàng hải là 200 tỷ USD, trong đó có hàng chục tỷ USD vay từ vốn ODA để xây dựng hạ tầng mà mỗi năm chỉ vận tải 28 triệu hành khách/ năm, chỉ bằng 1/2 so với sân bay Changi – Singapore, thì lấy gì trả lương cho 150.000 cán bộ nhân viên đường sắt, hàng không, hàng hải và có lãi để trả nợ ODA.

Tại cuộc báo cáo khoa học ở bộ GTVT ngày 13/2/2013, trước 300 tiến sỹ GTVT và nhiều phóng viên, vụ trưởng Vận tải Trần Ngọc Thành công bố : “Thị phần hành khách của 3 loại cơ giới chủ lực hiện đại là đường sắt, hàng không, hàng hải chỉ đạt dưới 1%”.

[đường bộ và đường sông phải gánh trên 99,1% được coi là gây quá tải nghiêm trọng và là nguyên nhân dẫn đến thảm họa tai nạn giao thông trên bộ mỗi năm làm 12.000 người chết. – đọc bài dưới cùng-TH]

Đây là số liệu chính xác, trung thực của “người phát ngôn” Bộ GTVT trước báo giới và các nhà khoa học. Tỷ lệ dưới 1% (có như không) là thị phần “quái dị nhất” chưa từng có trong lịch sử giao thông thế giới phản ảnh sự thất bại nặng nề trong GTVT do “tứ đại Vina” gây ra. Đó là hiệu quả “cao nhất” của vốn vay ODA trong GTVT dồn gánh nợ nước ngoài lên vai nhân dân!

Đến lúc Quốc hội cẩn trọng với các siêu dự án tỷ đô

Đã (đầu tư) lãng phí tới 200 tỷ USD tài sản quốc gia vào 260 cảng biển, 63 sân bay, 3200km đường sắt, mà hiệu quả mang lại thấp nhất chỉ 1% thị phần vận tải, vậy mà hiện nay, các Thứ trưởng, Cục trưởng hàng không, đường sắt, hàng hải tiếp tục tư duy “bầy đàn đa cấp” đua nhau liên kết giữa Cục và các “Tập đoàn Vina” lập nhiều siêu dự án tỷ đô vay vốn ODA đầu tư vào cảng biển, sân bay, “đường sắt đồ cổ tân trang” có nguy cơ tiếp tục “ném nhiều tỷ USD qua cửa sổ” để trục lợi. Hàng chục dự án sân bay tỷ đô, cảng biển tỷ đô liên tục được lập và chuẩn bị đưa ra trình Quốc Hội đang làm cho 90 triệu dân ngất ngây xen lẫn hoang mang.

Từ năm 2000 trở lại đây, các thứ trưởng và các cục trưởng của 5 loại hình vận tải là người trực tiếp giúp việc, “tham mưu “ cho các đời Bộ trưởng rất nhiều siêu dự án đã để lại điển hình “Tứ đại vina”. Rõ ràng rằng, các thứ trưởng, cục trưởng GTVT là “đồng tác giả” cùng các tập đoàn vận tải tạo nên kỳ tích 1% thị phần vận tải, là những người “có thành tích” lớn nhất đưa nợ công Việt Nam “đạt đỉnh Vinh quang” 72,5 tỷ USD.

Chính các thứ trưởng, cục trưởng đường sắt, hàng không, hàng hải quản lý an toàn công nghệ các công trình trọng điểm lại là tác giả viết “Nhật ký chìm tàu “ (Vinashin Queen, Saigon Queen, Vinashin-Vinalines, Cần Giờ ) và “Nhật ký lật tàu” (Bàu Cá, S1, E1, Yên Bái, Hải Phòng ), rồi thảm họa sập đường dẫn cầu Cần Thơ, thảm họa Cầu Gềnh, cho du nhập “công nghệ đồ cổ” gây “những cơn địa chấn” PMU 18, CPI, vụ phá sản Vinashin, Vinalines, “ĐS đồ cổ thời tiền sử”, “Hàng không chúa chổm” để lại gánh nợ khổng lồ hàng chục tỷ USD vốn vay ODA cho muôn đời con cháu!

Đến lúc Quốc Hội phải cho các thứ trưởng, cục trưởng đường sắt, hàng không, hàng hải phụ trách “Tứ đại Vina” trực tiếp điều trần trước QH để đảm bảo quyền giám sát của nhân dân, ngăn chặn có hiệu quả các dự án về GTVT đang có nguy cơ làm nghèo đất nước! Tăng cường chế độ kiểm tra và truy cứu trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý Nhà nước về hậu quả gây nên từ “tứ đại Vina”.

Việc xử lý sai phạm của các tập đoàn trong lãng phí đầu tư công cần gắn trách nhiệm với các cơ quan quản lý Nhà nước là Cục Hàng Hải Việt Nam, Cục  Đường sắt Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam và các cục, vụ, viện khác trong Bộ GTVT để làm gương cho nhiều bộ ngành!

T.Đ.B.

Nguồn: kienthuc.net.vn

Trần Hoàng cung cấp nguồn

http://www.stoxplus.com/News/89972/1/186/vietnam’s-public-debts-by-numbers-on-global-debt-clock.stox

http://tuoitrenews.vn/business/6714/vietnam%E2%80%99s-official-public-debt-bulletin-to-be-released

Vietnam’s official public debt bulletin to be released

01/25/2013

According to the latest updated data of the Economist‘s global debt clock, as of January 17, 2013, Vietnam’s public debt is nearly $70.6 billion, up from $67.6 billion in September 2012 and up 13 percent compared to the same period last year.

With a population of 89 million, Vietnam’s debt per capita was at nearly $789. The public debt-to-GDP ratio is 49.5 percent.

The Economist forecast that by 2014, Vietnam’s public debt would rise to $78.6 billion, (nguồn)

 —————————————————————————-

BÀI LIÊN QUAN

►Nhiều trụ sở hoành tráng – Mặc cho nợ nần quốc gia lên đến 78 tỷ USD, và nợ DNNN do chính phủ bảo lãnh 62 tỷ USD

►Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

Chính phủ: 127 tập đoàn, tổng công ty nợ gần 1,35 triệu tỷ đồngkhoảng  67 tỷ USD,  tăng 6% so với 2011, chiếm 56% tổng nguồn vốn. (29-11-2013)

Có số nợ vay tương đối lớn là Tập đoàn Dầu khí 124.499 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 103.194 tỷ, Tổng công ty Hàng hải 31.681 tỷ…

————————————————————————

Hôm nay có bài chính phủ: 

Chính phủ: 127 tập đoàn, tổng công ty nợ gần 1,35 triệu tỷ đồng, 67 tỷ USD

Năm ngoái, ngày 17-11-năm 2012, báo đăng:

►Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ 62 tỷ 400 triệu đô la

Posted by hoangtran204 on 17/11/2012

 Tuy nợ nhiều như thế, và hàng năm vẫn tiếp tục thua lỗ, có năm 2011, 81 trong tổng số 91 tập đoàn và tổng công ty đều thua lỗ – 10 tập đoàn còn lại  lấy cớ chưa kiểm toán xong nên chưa kịp báo cáo-,  nhưng đảng vẫn chủ trương: kinh tế quốc doanh tiếp tục đóng vai trò chủ đạo!

Thật ra, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là nơi làm việc của con cháu và phe đảng của bọn 14 đảng viên cao cấp trong bộ chính trị và 175 ủy ban trung ương đảng. Đây là các công ty để bọn này ăn chia và đục khoét tiền thuế của người dân, và đánh cắp các tài nguyên dầu hỏa, than đá,…và bán cho nước ngoài. Tiền đô la chúng thu được thì để dành chia nhau hưởng. Giá in một tờ giấy bạc polymer 500.000 đồng  là 5-6 cents, chỉ cần in 4 tờ giấy bạc 500.000 đồng, giá vốn chưa tới 25 xu hay 1/4 của 1 đô la, là các ngân hàng đổi lấy được 100 đô la của dân chúng. Lời chán. Cũng vì thế mà đồng tiền VN mất giá hàng năm. Chúng cũng in tiền polymer  ra để mua vàng, đẩy giá vàng lên cao ngất ngưỡng.

91 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh này chiếm hết tất cả các ngành nghề có ăn nhất, dễ kiếm tiền nhất trong nền kinh tế. Thậm chí các tập đoàn như PVN chỉ cần bơm dầu ở dưới đất lên và chở qua Nhật, Singapore, Nam Dương, Trung Quốc, Mã Lai để bán, mà cũng báo cáo thua lỗ. Tập đoàn Than và Khoáng Sản chỉ có đào than lên bán cho Trung Quốc mà cũng báo cáo là thua lỗ. Công ty Điện lực VN (EVN) chỉ bán điện mà cũng thua lỗ…tất cả công ty nào cũng báo cáo thua lỗ năm này qua năm khác, nhưng tiền thưởng hàng năm mà họ chia nhau vào dịp Tết thì dân chúng phát thèm.

Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ gần 1,3 triệu tỷ đồng  (năm 2012)

Theo VnEconomy

16-11-2012

Nhiều con số đáng chú ý về tình trạng nợ nần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ “tiết lộ”.

Tại văn bản chất vấn gửi đến Bộ trưởng, bên cạnh tình hình nợ trong, ngoài nước của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, đại biểu Quốc hội còn muốn biết Nhà nước có phải dùng ngân sách hàng năm để trả nợ thay cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hay không, nếu có là bao nhiêu?

Tính đến thời điểm 31/12/2011, văn bản trả lời chất vấn cho hay tổng số nợ phải trả của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với 2010. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần.

Đặc biệt, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó có 8 đơn vị có tỷ lệ trên 10 lần, 10 doanh nghiệp từ 5 – 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3 – 5 lần.
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản theo báo cáo hợp nhất là 0,34 lần, tổng nợ phải trả/tổng nguồn vốn bình quân tính theo số liệu báo cáo hợp nhất là 0,62 lần.

Với tổng tài sản/tổng nợ phải trả, theo báo cáo hợp nhất bình quân năm 2011 là 1,62 lần, theo Bộ trưởng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay, dẫn đến chi phí tài chính lớn và khả năng thanh toán nợ đến hạn thấp.

Cụ thể hơn, ông Huệ cho biết, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang nợ quá hạn 10.149 tỷ đồng. Văn bản trả lời mở ngoặc đơn giải thích rằng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện khoanh nợ khoản tiền mua điện của Petro Vietnam.

Trong khi đó, Tập đoàn Dầu khí vẫn đang nợ quá hạn 1.731 tỷ đồng (nợ của Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp tàu thủy Dung Quất – nhận bàn giao từ Vinashin). Rồi nợ quá hạn của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam 467 tỷ đồng, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 là 128 tỷ đồng, Tổng công ty Rau quả nông sản 30 tỷ đồng.

Theo báo cáo của công ty mẹ, tổng số nợ phải trả là 606.606 tỷ đồng, tăng 22% so với 2010, nợ nước ngoài là 142.853 tỷ đồng, bằng 23,5% tổng nợ phải trả, tăng 14% so với năm 2010.

Đáng chú ý, Công ty mẹ – EVN nợ nước ngoài lên tới 99.260 tỷ đồng (do vay đầu tư nhà máy điện). Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng không Việt Nam là 24.027 tỷ đồng (do vay đầu tư mua máy bay mới). Có đến 18 công ty mẹ, tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó 5 công ty mẹ trên 10 lần.

Với nợ nước ngoài, Bộ trưởng Huệ cho hay, theo quy định của Luật Quản lý nợ công thì trong trường hợp doanh nghiệp khó khăn Bộ Tài chính sẽ ứng tiền từ quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ thay, không lấy từ ngân sách hàng năm. Các doanh nghiệp phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm hoàn trả dần số tiền được ứng cho quỹ.

Cho tới thời điểm hiện tại, quỹ tích lũy trả nợ đang ứng trả thay cho Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty công nghiệp Xi măng, đều là các doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh vay và đang gặp khó khăn trong việc trả nợ với tổng số tiền là 109,7 triệu USD.

Các dự án trên hiện nay đang thực hiện tái cơ cấu và cam kết sẽ hoàn trả hết số tiền nhận tạm ứng trong 5 năm tới đây, Bộ trưởng cho biết.

Dòng cuối cùng văn bản, Bộ trưởng Huệ viết, “Bộ Tài chính xin trả lời đại biểu để thông báo cho cử tri được biết”.

Theo VnEconomy

basam.info

——————————————————————-

BÀI LIÊN QUAN

Ngày 22-11-2013, báo Tuổi Trẻ đưa tin:

Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

‘Đầu tư 200 tỷ USD vận tải chỉ để thực hiện 1% thị phần’

T.S Trần Đình Bá dẫn số liệu tại cuộc báo cáo khoa học ngày 13/2/2013 cho biết, trước 300 T.S vụ trưởng Vận tải Trần Ngọc Thành công bố: “Thị phần hành khách của 3 loại cơ giới chủ lực hiện đại là đường sắt (ĐS) ,hàng không (HK) ,đường biển(HH) chỉ đạt dưới 1 % so với cả 5 loại hình vận tải”.

Theo T.S Bá, tỷ lệ dưới 1% (có như không) là “quái dị nhất” chưa từng có trong lịch sử giao thông thế giới, phản ảnh sự thất bại nặng nề nhất sau gần 3 thập kỷ đổi mới.

Cũng theo T.S Trần Đình Bá, do đường bộ và đường sông phải gánh trên 99,1% được coi là gây quá tải nghiêm trọng và là nguyên nhân dẫn đến thảm họa tai nạn giao thông trên bộ mỗi năm làm 12.000 người chết. Ngoài ra, thiệt hại về tài sản trên 2 tỷ USD cũng được coi là có nguyên nhân từ thị phần dưới 1% “có như không” này.

T.S Trần Đình Bá (Ảnh: Internet)

“Đây là “thất bại vĩ đại” của 7 tiến sỹ thứ trưởng và các cục trưởng – những “tinh hoa tiến sỹ” tham mưu tầm chiến lược, trực tiếp kế tục nhau giúp các bộ trưởng từ 1986 đến nay! “kỳ tích thảm họa quốc gia về GTVT do chính 7 T.S thứ trưởng và các cục, vụ, viện làm nên”, T.S Trần Đình Bá nhấn mạnh.

T.S Trần Đình Bá cũng dẫn nhiều số liệu cho thấy, từ 2000 trở lại đây, 7 T.S thứ trưởng và các cục, vụ, viện đã “tham mưu” cho các bộ trưởng Đào Đình Bình – Hồ Nghĩa Dũng rất nhiều siêu dự án, điển hình là đường sắt cao tốc.

Theo vị T.S này: “Rõ ràng 7 thứ trưởng, cục trưởng là “tác giả” siêu dự án đường sắt cao tốc 56 tỷ USD gây tranh cãi chia rẽ sâu sắc trong Quốc hội. Chính các T.S thứ trưởng quản lý an toàn công nghệ các công trình trọng điểm lại là tác giả viết “Nhật ký chìm tàu” ( Vinashin Queen, Saigon Queen, Vinashin – Viinalines, Cần Giờ) và “Nhật ký lật tàu” (Bàu Cá, S1, E1, Yên Bái, Hải Phòng)…”

Được biết, Việt Nam hiện có 63 sân bay giá trị 70 tỷ USD, tiềm năng vận tải 200 triệu hành khách/ năm mà chỉ đạt 12 triệu hành khách/năm lãng phí trên 94 %. Tới 260 cảng biển nhiều gấp 2 lần các nước liên minh EU trị giá 100 tỷ USD mà chỉ đạt 2% thị phần hàng hóa mà không chở được hành khách. Đường sắt 3.200 km trị giá 30 tỷ USD với 42.000 người vận hành mà chỉ đạt 16 triệu hành khách/năm chỉ bằng 1/20 đường sông. Mỗi năm giải ngân vay ODA được 1 tỷ USD thì mất 2 tỷ USD thiệt hại do tai nạn
giao thông.

“Tổng giá trị tài sản đường sắt, hàng không, hàng hải là 200 tỷ USD mà mỗi năm chỉ vận tải 28 triệu hành khách/năm chỉ bằng 1/2 so với sân bay Changi – Singapore thì lấy gì trả lương cho 150.000 cán bộ nhân viên đường sắt, hàng không, hàng hải và có lãi để trả nợ ODA”, T.S Trần Đình Bá phân tích.

Việt Nam được coi là nước đứng hàng đầu thế giới về lãng phí với trên 95% năng lực của đường sắt, sân bay, cảng biển chưa sử dụng đúng mục đích.

“1% thị phần” phản ảnh sự thất bại , bất lực của các tiến sỹ thứ trưởng và các cục, vụ, viện trưởng phó – chính là thủ phạm gây ra thảm họa tai nạn giao thông và “làm nghèo đất nước” do làm tăng vọt nợ quốc gia hàng chục tỷ USD”, T.S Trần Đình Bá nói.

P.V

http://2giaitri.com/dau-tu-200-ty-usd-van-tai-chi-de-thuc-hien-1-thi-phan.html

 

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | 3 Comments »

►Nguy cơ “vỡ trận” tài chính

Posted by hoangtran204 trên 22/10/2013

Nguy cơ “vỡ trận” tài chính

Ts Tô Văn Trường

Theo NLG 

21-10-2013

Nhiều tập đoàn kinh tế phá nát nền kinh tế, chỉ  chăm bẵm vào việc chi tiền xây dựng các công trình thiếu chất lượng, không hiệu quả, thất thoát, cho nên kích cầu sẽ chỉ đưa đến kích… tham nhũng. Cho nên không xử lý tham nhũng và xử lý tập đoàn “ăn hại” thì kinh tế Việt Nam sẽ không có tiền đồ.

Có thể nói chưa bao giờ chúng ta lại phải nghe đến từ “vỡ” nhiều như những ngày nay. Do ành hưởng của siêu bão số 10 nên suốt dải đất miền Trung nghèo khó đã xảy ra liên tiếp những vụ vỡ đê sông, đê biển, đập tràn và cả vỡ đập thuỷ điện. Từ tỉnh biên giới Lạng Sơn đến tỉnh đồng bằng Thái Bình, từ vùng núi Thái Nguyên đến đô thành Hà Nội rúng động bởi những vụ vỡ hụi, vỡ tín dụng đen hàng chục, hàng trăm tỷ đồng. Rồi những vụ vỡ nợ làm tiêu tán hàng ngàn tỷ đồng của biết bao doanh nghiệp, của nhiều “đại gia”!

Nhưng có một thứ được cảnh báo có nguy cơ cũng dễ ” vỡ”, mà hậu quả kéo theo sẽ vô cùng nặng nề, có thể bằng nhiều siêu bão cộng lại, đó là ” vỡ trận tài chính”!

Mâu thuẫn và nghịch lý

Một số thông tin trên công luận nhận định nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi biểu hiện rõ nhất qua con số tạo thêm nhiều công ăn việc làm mới. Trái lại, tại Hội thảo mùa Thu của Ủy ban kinh tế Quốc hội (26-27/9/2013) ở Huế nhận định chung là nền kinh tế đang rất xấu với nguy cơ “vỡ trận tài chính” trong năm 2014 và  triển vọng trung hạn 2013-2015 cũng không mấy sáng sủa vì việc tái cấu trúc kinh tế chưa được  triển khai bằng hành động.

Có ý kiến cho rằng  kinh tế Việt Nam đang  mò đáy, và tê liệt vì các doanh nghiệp thi nhau  phá sản hay đóng cửa từ 2011. Nạn thất nghiệp gia tăng vũ bão (tỷ lệ thất nghiệp được một số giới cho là trên 10% thay vì con số chính thức là 2%) gây ra các tệ nạn xã hội đáng báo động. Và chính sách tín dụng trong cả nước hoàn toàn nghẽn mạch- một phần vì doanh nghiệp không đủ sức hấp thụ và phần lớn vì ngân hàng không muốn cho vay (với thanh khoản yếu do nợ xấu gây ra).

Ngoài số thống kê về thất nghiệp, có nhiều nghi ngại trong hội thảo, ngay cả về các con số GDP chính xác của các tỉnh thành và cả nước để dùng trong phân tích chính sách hay nghiên cứu. Về nhu cầu chính sách trong ngắn hạn, có 02 luồng ý kiến.Thứ nhất là kích cầu từ đầu tư công, bằng cách nới mức độ bội chi ngân sách. Và thứ hai là “kiên trì” ổn định kinh tế vĩ mô. Việc “kích cầu”, qua đầu tư công thiếu hiệu quả, có thể nhất thời làm tăng GDP nhưng không bền vững và chỉ nhằm đạt “thành tích” ngắn hạn. Một vòng xoáy lạm phát – suy trầm e là sẽ lại tiếp diễn trong năm 2014 như đã xảy ra các năm trước đây. Hơn nữa trong lúc các tỉnh thành lớn đều hụt thu nội địa thì việc nâng trần bội chi ngân sách quốc gia (lên 5,3% cho năm tới) để đáp ứng việc giải quyết tăng GDP ngắn hạn là một việc không nên làm trong lúc này.

Kích cầu

J.M. Keynes đưa ra lý thuyết kích cầu khi người ta hoàn toàn mất tin tưởng vào nền kinh tế, thất nghiệp rất cao (đỉnh là 25%) và kéo dài cao hơn 15% trong hơn 15 năm, giảm  phát (deflation)  từ năm 1929-1945. Đó là kết quả của việc hệ thống ngân hàng tài chính đổ vỡ vì cho vay quá trớn, đầu cơ chứ không phải đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Như thế là vì lúc đó kinh tế Mỹ có thừa sức sản xuất cao hơn với máy móc hiện có, ngay cả nông nghiệp cũng thế,  nhưng không ai dám làm, thất nghiệp cao thì không có tiền mua cho nên bị đói. Keynes hô hào, và đã được Tổng thống Roosevelt ủng hộ bằng cách tăng chi tiêu xây đường xá, cầu cống để người ta có việc làm. Sau đó,  là sản xuất cho chiến tranh thế giới thứ hai đã lôi nước Mỹ thoát ra khỏi khủng hoảng.

Kích cầu thì cần tiền để chi. Thường thì giới kinh tế cho rằng ngưỡng thiếu hụt ngân sách ở mức 3% được coi là nghiêm trọng, cần thay chính sách. Việt Nam đã vượt ngưỡng này nhiều năm. Còn nay, Chính phủ lại đòi tăng lên đến 5,3%. Đây là  lần đầu tiên Chính phủ chính thức đặt vấn đề này, bởi vì lâu nay Chính phủ vẫn chi vượt mức  do Quốc hội quyết thì có sao đâu? Thực tế này đã xảy ra hàng năm, tỷ lệ chi ngân sách vượt mức Quốc hội quyết đã rất cao và còn đang tăng, từ 31% lên 42% trong khoảng thời gian 2007-2011.

Nếu thiếu tiền chi mà Chính phủ ra thị trường bán trái  phiếu cho dân và dùng tiền đó để chi tiêu thì ít có vấn đề. Nhưng ở Việt Nam thường có lệnh, cho Ngân hàng Nhà nước mua trái phiếu (tức là in tiền) do đó mà đẩy mạnh lạm phát. Lý do lượng tiền tăng quá mức là ở đó. In tiền kích cầu đáng lẽ phải đưa đến “trọng cung” để tạo ra sản  phẩm.

Trọng cung

Lý thuyết về “trọng cung” do hai nhà kinh tế Friedrich Hayek và Milton Friedman xây dựng theo nguyên tắc tính hiệu quả của thị trường tự do và gần như không chấp nhận bất kỳ sự can thiệp nào của nhà nước vào nền kinh tế thị trường.

“Trọng cung” thì phải giảm thuế và thay đổi các chướng ngại kiểm soát để doanh nghiệp tăng sản xuất. Như thế, “trọng cung” cũng thường đưa đến thiếu hụt ngân sách. Các chính sách “trọng cung” ở nhiều nước tuy có kết quả nhưng hiệu quả thấp vì chính sách này thường mang tính dài hạn.“Cung” phải hiều theo nhiều nghĩa, là khả năng sản xuất (khả năng cung), tức là có đầy đủ yếu tố sản xuất như nhà máy, nguyên liệu và lao động. Khả năng “cầu”: Sử dụng những yếu tố sản xuất có sẵn. Trong trường hợp “cung” không được sử dụng hết khả năng, tức là thừa, thì kích cầu mới có tác động, mà chỉ có tác động trong ngắn hạn vì nó giúp dùng hết “cung” có sẵn. Khi nền kinh tế trở lại bình thường, thì không thể kích cầu để phát triển kinh tế.

Giải pháp ở đâu?

Muốn đưa  ra giải pháp đúng, trước hết  phải nắm được thực trạng. Mặc dù phương pháp và các con sô thống kê còn nhiều bất cập nhưng dễ nhận thấy là tình trạng chi tiêu ngân sách quá đà, nhiều tập đoàn kinh tế hoạt động không hiệu quả, nợ công, nợ xấu ở mức báo động.

Tổng số nợ là lớn, trong đó có nợ xấu. Nếu nợ xấu tập trung chính vào ngân hàng quốc doanh (vì cho quốc doanh vay) không biết bao nhiêu nhưng họ có thể tự dàn xếp một cách từ từ với nhau bởi vì không thể phá sản nhau. Trong trường hợp đó, kinh tế không thể phát triển vì ngân hàng không dám cho vay như trước. Do đó, kinh tế dù chưa suy sụp ngay nhưng sẽ èo uột trong nhiều năm, không thể tạo ra niềm tin, nhất là đẩy mạnh đầu tư nước ngoài.

Người dân nhận thấy những bất cập trong chủ trương chính sách vẫn cứ bám lấy kinh tế Nhà nước là chủ đạo, đất đai là sở hữu toàn dân. Nhiều tập đoàn kinh tế phá nát nền kinh tế, chỉ  chăm bẵm vào việc chi tiền xây dựng các công trình thiếu chất lượng, không hiệu quả, thất thoát, cho nên kích cầu sẽ chỉ đưa đến kích… tham nhũng. Cho nên không xử lý tham nhũng và xử lý tập đoàn “ăn hại” thì kinh tế Việt Nam sẽ không có tiền đồ.

Một trong những minh hoạ mà  nhiều người thấy nhưng ngại không muốn nêu ra là chi cho bộ máy hành chính, bộ máy Đảng song hành là quá lớn và không hiệu quả. Rõ ràng là các tập đoàn và doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò “sân sau” phục vụ bộ máy chính trị rất cồng kềnh hiện nay. Ta mới nói về tham nhũng ở một số cá nhân ở nơi này,  nơi kia mà chưa thấy sở dĩ tham nhũng cá nhân chỉ là hiện tượng ” ăn theo” của tham nhũng mang tính thể chế nhằm nuôi dưỡng bộ máy cồng kềnh kém hiệu quả nêu trên.

Trong tình hình đó việc kích cầu chẳng khác nào cho con bệnh ung thư uống thuốc bổ để khối u phát triển nhanh hơn! Động lực để cải cách thể chế chính trị cho phù hợp với hạ tầng kinh tế hiện nay là rất yếu… Bởi vì ngay từ đầu công cuộc Đổi mới, những nhà hoạch định chính sách chắc chỉ mới suy nghĩ đến lớp lang “chính sách kinh tế mới NEP của Lê Nin” mà chưa có khái niệm gì về một thành phần quan trọng góp phần khắc chế những hậu hoạ của chính sách này, đó là thúc đẩy xã hội dân sự và cải cách thể chế chính trị.

Các học thuyết, mô hình kinh tế chỉ có thể cung cấp cho chúng ta những bài học  kinh nghiệm để từ đó vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Đồng thời cần lưu ý là vận dụng các quy luật kinh tế vào điều kiện nước ta phải xuất phát từ lợi ích của người dân chứ không phải chỉ từ lợi ích của các nhà đầu tư.

Cần rà soát các bất động sản, các “quốc doanh” làm ăn thua lỗ triền miên, cái nào đáng chết, không cứu, giành mọi nguồn lực còn lại và thuận lợi cho những sản phẩm đáng sống, sản phẩm mới. Qua phẫu thuật, vứt đi cái “hoại thư” như thế và qua nuôi các sản phẩm “sống” được và tìm cách có thêm sản phẩm mới để tái cấu trúc kinh tế, nghĩa là tái cấu trúc kinh tế phải bắt đầu bằng phẫu thuật cái “hoại thư”.

Quyết xóa hẳn “mafia” để chuyển sang kinh tế thị trường thực sự. Mafia lớn nhất  chính là nhóm lợi ích bất chính. Thế giới gọi những nhóm lợi ích này là thế lực trục lợi (Rent- seeking), và nó sẽ đẩy xã hội chúng ta đến vực thẳm trong tương lai gần.Tăng cường luật pháp, tăng cường công khai minh bạch, tiết kiệm (nhất thiết phải thắt lưng buộc bụng ở tầm quốc gia). Có những biện pháp an sinh dành cho những tầng lớp dân  nghèo dễ bị tổn thương nhất để có cái đệm an toàn cho xã hội trong khi thực hiện tất cả những biên pháp trên.

Nhất thiết phải  cải cách thể chế chính trị để có khả năng thực hiện các  biện pháp nói trên. Trước hết, là xây dưng một Hiến pháp mới cho ngon lành đúng với một quốc gia có kinh tế thị trường – Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Vĩ thanh

Tổng thu ngân sách Nhà nước giảm 30% từ năm 2000 đã xuống mức thấp nhất chưa từng có 22,8%  GDP vào năm 2012  (nguồn WB).  Do thu chi ngân sách mất cân đối trong năm 2013, dự kiến sẽ hụt thu khoảng 21.000 tỷ đồng so với dự toán, nên đến năm 2015, bội chi ngân sách kể cả trái phiếu Chính phủ khó đạt chỉ tiêu dưới 4,5% GDP.
Ở Việt Nam không thừa cung. Trong khi đó, cầu  quá nhiều vì có tiền do việc in tiền và nạn tham nhũng từ việc thất thoát, lãng phí của đầu tư công. Nếu mà tiếp tục “kích cầu”, vì tất cả cơ chế vẫn như cũ, nó sẽ tích tụ thêm các khuyết tật thì không những không thể ra khỏi “hố đen”, mà cũng không đơn thuần chỉ là nguy cơ vỡ trận tài chính! Bởi vì ông cha ta đã đúc kết rất chính xác “gieo nhân nào gặt quả nấy”!

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

►Nợ xấu bất động sản, sự thua lỗ của doanh nghiệp và Ngân hàng, nợ công của chính phủ…sẽ dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở VN

Posted by hoangtran204 trên 22/08/2013

Trần Hoàng tóm tắt bài phỏng vấn của đài RFI dành cho Tiến sĩ Phạm Chí Dũng-

Hiệp định TPP mà VN đang khao khát xin vào có các điều kiện như: không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam, thì nhà cầm quyền VN luôn luôn thiếu minh bạch, và nay họ sẽ trả giá. Thí dụ: sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp phần làm chậm bước tiến xin gia nhập Hiệp định TPP của quốc gia này.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi thống kê giả hay là “giả số liệu” từ bao nhiêu năm qua.

1./ tỉ lệ nợ xấu bất động sản so với dư nợ thuộc lãnh vực này.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Theo báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), vào năm 2013, thì lên đến 33-35%    

độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần!

Với mong ước được vào Hiệp Định TPP, Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Ở Thái Lan năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế do bất động sản gây ra- Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

2./ -Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55% của GDP; tức khoảng 75 tỷ đô la (GDP của VN năm 2012 là 136 tỷ đô la). Nhưng hiện có hai nguồn tin của các nhà chuyên môn đưa ra một con số nợ công quốc gia thật sự lớn hơn gấp 2 lần con số báo cáo của chính phủ. 

-Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95% của GDP;  mức nợ công tương ứng là 129 tỷ đô la (Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. )

-Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%; mức nợ công tương ứng là 141 tỷ đô la ( GDP của VN năm 2012 là 136 tỷ đô la) 

3./ Trong lĩnh vực bất động sản: Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn,

-Nhưng tài liệu thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều và có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp.

-Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ (200.000 căn hộ) đang tồn kho ở Việt Nam.

Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn:

_sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm;

_giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm;

_cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm.

Hiện tại, Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.   

Thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường (không mua nhà và chờ nhà xuống thấp hơn nữa). Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận, sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình.

Chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu.

…trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên địa chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, và kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Trong khoảng thời gian 20 năm qua (1993-2013), giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. 

Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic (hợp lý).

Nếu cuối năm nay, Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi-logic không thể hiểu nổi.  (phi-logic = bất hợp lý )

+Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Máy in tiền sẽ đi vào hoạt đông năm 2014…(nguồn)

Nợ xấu bất động sản có dẫn đến khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam?

Thụy My thực hiện

Theo Đài RFI

Chia sẻ bài viết này

19-8-2013

Gần đây báo chí trong nước đã tỏ ra bất ngờ về tỉ lệ nợ xấu bất động sản, có thể lên đến 33-35% dư nợ thuộc lãnh vực này. Các con số thống kê của nhiều cơ quan khác nhau đưa ra chênh lệch cho đến nỗi, dư luận hết sức lo ngại nếu không đánh giá đúng tình hình, thì không thể nào đưa ra quyết sách đúng đắn, dẫn đến những hậu quả nặng nề cho đất nước.

RFI Việt ngữ đã trao đổi với Tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề trên.

RFI: Xin chào Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã vui lòng dành thì giờ cho RFI Việt ngữ. Anh nhận xét như thế nào về tỉ lệ dư nợ bất động sản có nhiều con số khác nhau, mà theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) thì lên đến 33-35% dư nợ ?

TS Phạm Chí Dũng: Con số của UBGSTCQG là một con số bất ngờ và đột biến, tức là đến 33-35% là nợ xấu trong dư nợ thuộc lĩnh vực bất động sản. Con số này được công bố lần đầu tiên, phát lộ vào năm 2013. Điểm hết sức đặc biệt là con số của ủy ban này lại hoàn toàn trái ngược với số báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 5/2013 chỉ là 5,68%.

Như vậy là, ngay giữa hai cơ quan quản lý mà độ chênh biệt của hai con số đã lên đến 6 lần. Sự khác biệt chưa từng thấy này nói lên điều gì? Nó làm cho người ta có cảm giác Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt của những vấn đề nhạy cảm kinh tế – chính trị đang có chiều hướng bắt buộc bị bạch hóa dưới ánh sáng mặt trời.

Những quan chức can đảm của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia đã bạch hóa thế này: dư nợ bất động sản và và nợ xấu bất động sản thực chất cao hơn nhiều so với số liệu báo cáo của các tổ chức tín dụng. Và khi một tổ chức của chính phủ phải công bố điều đó, tức tình hình tài chính – bất động sản đang rất nguy ngập rồi.

Cần nhắc lại, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng đã có một báo cáo rất chi tiết về các ngân hàng dính dáng đến nợ xấu và nợ xấu bất động sản vào cuối năm 2011. Song khi đó, con số nợ xấu ở nhiều ngân hàng mới chỉ dừng ở mức 10-15% thôi – như vậy đã gọi là cao rồi. Tất nhiên, nhiều ngân hàng vẫn cố giấu kín thực chất nợ xấu của họ. Những gì còn lẩn khuất trong bóng tối vẫn cố thu mình.

Nhưng sau công bố của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã làm cho công luận cùng giới bất động sản trong nước kinh ngạc và cho là sát thực tế hơn nhiều các cơ quan khác, bầu không khí số liệu lại trở về thói quen khép miệng của nó. Vào tháng 8/2013, Bộ Xây dựng lại nêu ra một con số mới về tỉ lệ nợ xấu bất động sản chỉ có 6,5% – tức là có cao hơn báo cáo của Ngân hàng Nhà nước gần 1%. Rõ ràng, người ta vẫn quyết tâm phong tỏa số liệu nhằm bưng bít một cuộc khủng hoảng bất động sản – ngân hàng rất có thể sẽ xảy ra.

RFI: Năm 1997, Thái Lan cũng đã bị khủng hoảng tài chính và cũng có nợ xấu như Việt Nam bây giờ. Liệu Việt Nam có đang tái lập kịch bản của người Thái?

TS Phạm Chí Dũng: Có thể. Không khí trái ngược giữa các con số báo cáo và con số thực về nợ xấu ở Việt Nam rất dễ làm người ta nhớ lại trường hợp Thái Lan năm 1997. Trước khủng hoảng, tỉ lệ nợ xấu bất động sản tại quốc gia này được báo cáo chỉ có 5%, nhưng đến khi xảy ra khủng hoảng thì tỉ lệ này đã tăng vọt đến 50%, tức gấp đúng 10 lần.

Chính người Anh đã cung cấp cho giới điều hành mơ màng của Việt Nam cái minh chứng không hề mơ màng đó. Vào đầu năm 2013, John Sheehan – thành viên của tổ chức giám định bất động sản Hoàng gia Anh (FRICS), đã có một chuyến thăm Việt Nam, và đã cung cấp một kinh nghiệm là tỉ lệ nợ xấu thực bao giờ cũng cao gấp ít nhất 4 lần con số báo cáo.

Trong thực tế điều hành và của điều được gọi là “minh bạch hóa” số liệu ở Việt Nam, tỉ lệ nợ xấu được báo cáo thường dao động chỉ từ 6-10%. Nhưng vào cuối năm 2011, trong khi giới chuyên gia bất động sản bắt đầu nói toạc ra rằng có đến 50% nợ bất động sản là nợ khó đòi hoặc không thể đòi được, thì giới ngân hàng cũng bắt đầu thầm thì về chuyện có đến phân nửa nợ xấu ở các ngân hàng A, B nào đó là không thể đòi được.

Có đến hàng chục ví dụ cho những lời phát ngôn hoặc báo cáo mang tính bất nhất hoặc thiếu trung thực của các bộ ngành liên quan ở Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, khiến người dân và giới bình luận kinh tế quốc tế hầu như không thể có nổi một chút niềm tin bền vững vào cái thực trạng mà người ta gọi là “giả số liệu”.

Người Thái hay người Philippines trong cùng khu vực Đông Nam Á là những bài học nhãn tiền cho Việt Nam. Do phủ nhận sự minh bạch trong kiểm soát thị trường, họ đã phải nhận lãnh tai họa.

RFI Việc thiếu minh bạch thì lâu nay Việt Nam vẫn bị chỉ trích. Không biết là có mối liên hệ nào giữa tính minh bạch ấy với việc Việt Nam đang chuẩn bị tham gia Hiệp định TPP?

TS Phạm Chí Dũng: Chắc chắn là có, vì tính minh bạch là một trong những điều kiện đầu tiên để Việt Nam có thể tham gia TPP. Nhưng ở Việt Nam thì thái độ thiếu minh bạch đã phải trả giá. Sự chênh lệch giữa các số liệu của nền kinh tế Việt Nam đã góp một phần rất ấn tượng làm chậm bước tiến vào vòng chung kết TPP của chính nền kinh tế quốc gia này.

Chẳng hạn, trong khi số liệu báo cáo của chính phủ Việt Nam về nợ công quốc gia chỉ là 55%, thì các phản biện của giới chuyên gia độc lập lại lộ liễu hơn nhiều. Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013 tại Nha Trang, một số chuyên gia phản biện người Việt ở Ba Lan đã tính toán tỷ lệ nợ công quốc gia lên đến 95%. Ngay lập tức con số này nhận được sự đồng cảm của khá nhiều chuyên gia và cả quan chức Việt Nam. Trước đó vào cuối năm 2012, phản biện đối với báo cáo nợ công của chính phủ, ông Vũ Quang Việt, cựu chuyên viên tài chính của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán về tiêu chí nợ nần này lên đến 106%.

Minh bạch lại là một trong những điều kiện tiên quyết để Việt Nam được tham dự vào bàn ăn TPP. Cho dù lộ trình thông qua TPP đối với Việt Nam đã được nước chủ nhà là Hoa Kỳ hứa hẹn “có thể sớm nhất vào cuối năm 2013”, nhưng giới quan sát quốc tế có lẽ đã thừa trải nghiệm để hiểu rằng TPP không chỉ gắn với điều kiện minh bạch về thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, mà còn liên hệ mật thiết với các điều kiện về dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam.

Còn trong lĩnh vực bất động sản, vẫn có thêm những minh họa khác về tính bất nhất. Trong khi những báo cáo được công bố hầu như liên tục của Bộ Xây dựng chỉ cho thấy con số tồn kho căn hộ vào khoảng 40.000 căn, thì con số thống kê của một số hãng tư vấn bất động sản quốc tế có văn phòng ở Việt Nam như CBRE hay Savills lại xác thực hơn nhiều. Nhìn chung, có thể đang tồn đến 200.000 căn hộ thuộc các phân khúc, trong đó có đến 70% thuộc về phân khúc cao cấp và trung cấp. Một số chuyên gia và doanh nhân bất động sản cũng xác nhận có đến chừng đó căn hộ đang tồn kho ở Việt Nam.

Một lần nữa, tính chênh lệch của số liệu báo cáo đã lộ diện: con số tồn kho nhà đất thực tế cao gấp 5 lần số báo cáo. Nếu so lại hai con số chênh nhau đến 6 lần về nợ xấu bất động sản giữa Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia với Ngân hàng Nhà nước thì mọi chuyện đều rất logic.

Logic đến nỗi mà nếu cuối năm nay Việt Nam được gia nhập TPP với tính minh bạch tồi tệ như hiện thời, nhiều người dân và giới bình luận sẽ nhìn rõ một sự phi logic không thể hiểu nổi.

RFI: Khi các con số khác biệt quá lớn như vậy thì thị trường bất động sản Việt Nam thực chất đang trong tình trạng như thế nào?

TS Phạm Chí Dũng: Tôi xin nêu một minh họa để đối chứng. Chuyên gia người Anh John Sheehan đã dành cho thị trường bất động sản Việt Nam một lời bình đặc biệt: “Tôi chia thị trường thành ba giai đoạn: sau khi xảy ra khủng hoảng gọi là giai đoạn phủ nhận, thường khoảng 2 năm; giai đoạn xử lý vấn đề nợ xấu mất khoảng 4 năm; cuối cùng là khi thị trường phục hồi, mất chừng 6 năm. Việt Nam đang ở nấc “phủ nhận””.

Một cách chính xác, thị trường Việt Nam đang trong giai đoạn “phủ nhận” với việc người tiêu dùng mất niềm tin và quay lưng với thị trường. Nếu không vượt qua được hai năm 2013-2014 và không giải quyết được ít nhất một nửa núi hàng tồn kho căn hộ cao cấp và trung cấp, chưa cần hết giai đoạn phủ nhận sẽ có không biết bao nhiêu đại gia bất động sản phải chính thức ký vào “bản án tử hình” dành cho mình. Sông Đà, Vinaconex, Hoàng Anh Gia Lai, Quốc Cường Gia Lai, Phát Đạt… đều là những cái tên một thời danh giá, nhưng cho đến giờ đều thật khó để hình dung về thân phận của họ sẽ ra sao nếu thị trường không được “giải cứu”.

Muốn giải phóng núi căn hộ tồn kho đến 200.000 căn hộ, thị trường bất động sản Việt Nam có thể phải kiên tâm chờ đợi đến hàng chục năm, nếu quả thực nó muốn chờ và có thể làm được điều đó.

Nhưng kết quả thời gian đến hàng chục năm như vậy lại hoàn toàn có thể khiến thị trường… tự sát.

Bởi nửa đầu của năm 2013 đã trôi qua mà hệ số tiêu thụ căn hộ vẫn hầu như không nhích lên được bao nhiêu. Nếu vào năm 2012 hệ số này chỉ khoảng 5-10% theo thống kê của những hãng tư vấn bất động sản có uy tín, tình hình trong nửa đầu năm 2013 tuy có chuyển biến đôi chút song vẫn là quá ít so với những kích thích tố được tung ra từ phía Nhà nước và sự cố gắng của các doanh nghiệp bất động sản.

Các ngân hàng cũng vì thế đang rơi vào chính cái bẫy do họ giương ra từ năm 2011. Họ đã bắt các doanh nghiệp sản xuất và cả nền kinh tế trở thành con tin, nhưng cuối cùng chính họ cũng không thoát khỏi cái vòng kim cô tham lam vô cùng tận.

RFI: Như vậy số phận của các ngân hàng sẽ như thế nào, liệu có chết theo lãnh vực bất động sản hay không ?

TS Phạm Chí Dũng: Rất có thể. “Trạng chết, Chúa cũng băng hà”, ngân hàng sẽ không thoát khỏi nghiệp chướng mà họ là một tác nhân gây ra.

Giữa năm 2013, Ngân hàng Nhà nước đã bắt buộc phải một lần nữa “tái cơ cấu nợ vay” cho các doanh nghiệp bất động sản, chuyển nhóm nợ từ xấu sang nhóm đỡ xấu hơn, và do vậy các ngân hàng vẫn còn thời gian để thu xếp việc thanh toán với con nợ đến giữa năm 2014, chứ không nhất thiết phải siết nợ thẳng thừng.

Dù cố giấu diếm, nhưng từ gần giữa năm 2012, khối ngân hàng thương mại cổ phần đã bắt đầu phải tiết lộ về những con số nợ vay bất động sản, và sau đó vấn đề này trở thành một làn sóng rộng khắp các ngân hàng, biến thành tiếng kêu cứu ai oán của nhóm lợi ích đậm đặc này.

Vào thời điểm tháng 4/2012, số nợ vay được tái cơ cấu là 250.000 tỉ đồng. Nhưng mà trong hơn một năm qua, điều đáng buồn là chẳng ai làm được phần “hậu sự” cho các ngân hàng lẫn con nợ. Thậm chí nợ vay còn tăng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng, đưa con số hiện thời lên khoảng 272.000 tỉ đồng.

Nếu ngân hàng – chủ nợ lớn nhất của bất động sản – còn phải lâm vào vòng túng quẫn, người ta có thể hình dung tình thế đã trở nên bĩ cực đến mức nào. Những con số và tỉ lệ nợ xấu về bất động sản cho đến nay vẫn liên tiếp nhảy múa mà chưa chịu dừng chân. Cái chết đã lộ hình ở phía trước con đường.

RFI: Theo anh hậu quả sẽ ra sao?

TS Phạm Chí Dũng: Hậu quả chưa hẳn xảy ra tức thì đối với giới ngân hàng, nhưng đã hiện hữu đối với giới chủ đầu tư. Vào cuối năm 2011, hàng loạt vụ bể tín dụng đen bất động sản đã xảy ra ở Hà Nội, sau đó lan ra một số tỉnh thành khác. Vào giữa năm 2013, giám đốc doanh nghiệp Vĩnh Hưng, được xem là một trong những đại gia kinh doanh bất động sản ở Hà Nội, đã bị bắt liên quan đến những bê bối về nợ nần, và đây là một vụ rúng động.

Câu hỏi đang được rốt ráo đặt ra là sau vụ Vĩnh Hưng, liệu có xảy ra những cú đổ vỡ nào khác? Và liệu có xảy ra một làn sóng dây chuyền đổ vỡ liên quan đến nhiều doanh nghiệp bất động sản, tất yếu kéo theo một số nhà băng liên quan về nợ vay?

Dĩ nhiên với nhiều chủ đầu tư bất động sản ở Việt Nam, đây là một thời buổi kinh hoàng, thời buổi mà họ chỉ “mong một cuộc sống không nợ nần”.

Vào năm 2011, báo chí bắt đầu đề cập những câu chuyện về đại gia chứng khoán phải tự tử hoặc nhập viện tâm thần vì thiếu nợ hoặc phá sản. Còn đến năm 2012, câu chuyện tương tự được tiếp nối với một số đại gia bất động sản. Hiện tượng xã hội đặc thù này đang như khuấy động một cơn khủng hoảng sắp tới ở Việt Nam.

Còn giờ đây, hiện tượng đang trở thành bản chất khi khó có thể kềm giữ những gì sẽ phải phát nổ.

Khác nhiều với thị trường bất động sản Mỹ và cũng khác khá nhiều với thị trường nhà ở Irland với nguồn cung tồn kho hạn chế, bất động sản Việt Nam đã ở vào thời kỳ cầm cự cuối cùng. Theo rất nhiều dự báo, thời kỳ đó sẽ không thể kéo dài đến hết năm 2014.

RFI: Không biết so sánh có khập khiễng không, nhưng anh có thể nêu vài so sánh giữa thị trường bất động sản Việt Nam và Mỹ?

TS Phạm Chí Dũng: Có một “đồng pha” rất rõ trong “quan hệ bang giao” giữa hai thị trường bất động sản Mỹ và Việt Nam. Phất lên vào năm 2006 và đạt đỉnh vào năm 2007, thị trường nhà ở Mỹ đã có mức giá cao gấp đôi so với năm 2000. Còn với Việt Nam, tuy sóng nhà đất cũng đồng pha với Mỹ về thời gian và kể cả thời điểm, nhưng chuyện tăng giá thì hơn Mỹ nhiều, và có thể nói là theo đuôi…Trung Quốc. Đó chính là việc giá nhà ở tại Bắc Kinh đã tăng đến 800% chỉ trong 5 năm từ 2003 đến 2007. Trong khi đó, giá nhà đất ở Việt Nam cũng không hề kém cạnh, bốc lên tương đương với mức tăng chẵn một chục lần của giá vàng trong nước từ năm 2000 đến 2011.

Một “đồng dạng” khác là từ năm 2007 đến nay, chỉ số giá nhà đất S&P/Case-Shiller của Mỹ đã giảm khoảng 25-30%, trong khi mức giảm này cũng được các quan chức ngành xây dựng Việt Nam “định giá” cho mặt bằng giá nhà đất tại đây. Và gần đây hãng tư vấn bất động sản Saville ở Việt Nam cũng đã tính là giảm khoảng 30%. Dĩ nhiên với trường hợp thị trường ở Việt Nam, phần lớn các con số thống kê chỉ mang tính tương đối, thậm chí nặng về cảm tính và độ tin cậy là rất đáng nghi ngờ. Hiện tượng “loạn số liệu tồn kho bất động sản” diễn ra trong thời gian gần đây là một minh chứng hùng hồn.

Đúng ra, thị trường nhà ở Mỹ đã hồi sinh trước thị trường bất động sản Việt Nam ít nhất một năm rưỡi, tính đến giờ phút này. Từ cuối năm 2011, cùng với việc nền kinh tế Mỹ tiếp nhận những kết quả bắt đầu khả quan, số lượng nhà phát mãi của Mỹ cũng bắt đầu xuất hiện tín hiệu giảm, trong khi số nhà khởi công mới dần tăng lên. Đà tăng răng cưa này đã diễn biến lặng lẽ trong suốt năm 2012, để đến cuối năm ngoái, giới phân tích Mỹ đã chính thức xác nhận rằng thị trường nhà ở quốc gia này đã chính thức “thoát khỏi suy thoái”.

Khác hẳn với Việt Nam, thị trường nhà ở Mỹ không hề có bong bóng, cho dù các đảng phái ở quốc gia này thỉnh thoảng vẫn nhắc lại từ ngữ bóng bẩy đó như một ẩn ý chính trị đối với đảng cầm quyền. Bất chấp số nhà ở bị niêm phong và đưa vào diện phải phát mãi là “khủng khiếp” trong năm 2008, chính sách tài chính hơn 900 tỉ USD của chính phủ Mỹ đã bắt đầu tỏ ra hiệu nghiệm. Tình trạng trì trệ lui dần.

Tới nay, 87% các thành phố ở Mỹ có giá nhà tăng, dẫn đầu là Sacramento thuộc bang California và Atlanta thuộc bang Georgia với mức tăng 39%, tiếp đó là Fort Myers thuộc bang Florida 36%, Reno thuộc bang Nevada tăng 33%, và Las Vegas thuộc bang Nevada tăng 31%. Đó cũng là lý do vì sao các chỉ số chứng khoán Mỹ tăng tiến không ngưng nghỉ trong thời gian gần đây.

Nhưng với thị trường bất động sản Việt Nam lại hoàn toàn khác. Khoảng thời gian cuối năm 2011 chỉ là khởi đầu cho tan vỡ. Còn nguyên năm 2012 lại chứng kiến sự thê thảm không khác gì tình trạng vỡ bong bóng. Tuy không phải tất cả các phân khúc, nhưng chỉ riêng chuyện gần 200.000 căn hộ các loại tồn kho từ Bắc vào Nam đã là một cái gì đó không thể cứu vãn nổi.

Lúng túng và chậm lụt, các cơ quan và chính sách “giải cứu” thị trường bất động sản ở Việt Nam đã không làm được một việc gì có ý nghĩa từ năm 2010, khi tình trạng nợ xấu bất động sản vẫn chưa quá xấu, và cho đến nay – vào lúc mọi chuyện đã trở nên cám cảnh đến mức có giám đốc công ty kinh doanh nhà đất phải ra đường bán trà đá.

Tình hình như thế đã cho thấy thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng và nền kinh tế của nước này nói chung đã bị lệch pha rất lớn so với đà phục hồi thị trường nhà đất và nền kinh tế Mỹ. Điều đó cũng cho thấy sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam đã rất yếu ớt, như một người bệnh thâm căn cố đế và không còn sức đề kháng trước cơn ung thư di căn đang hoành hành.

Nếu không giải quyết được nợ xấu bất động sản, nền kinh tế Việt Nam sẽ không có khả năng nào đối ứng với hiệp định TPP, cho dù có được chấp nhận tham dự vào bàn tiệc này.

RFI: Như vậy theo anh thị trường bất động sản Việt Nam mất bao lâu mới có thể phục hồi được?

TS Phạm Chí Dũng: Như phân tích của một tổ chức nghiên cứu quốc tế, thị trường nhà ở Mỹ đã phải mất hơn 6 năm kể từ khi khủng hoảng để phục hồi trở lại, cũng như phải mất hơn 4 năm kể từ khi các chính sách giải cứu được áp dụng rộng rãi để thị trường tăng trưởng trở lại.

RFI: Còn với thị trường và cơ chế ở Việt Nam thì sao?

TS Phạm Chí Dũng: Một số nhà phân tích nêu ra một cách nhìn lạc quan hơn, căn cứ vào tính chu kỳ trong lịch sử vận động của thị trường bất động sản Việt Nam tính từ năm 1995. Khởi phát từ năm đó, thị trường này đã sôi trào vào năm 1997, để sau đó lần đầu tiên rơi vào suy thoái trong khoảng 4 năm. Đến năm 2001, bất động sản Việt Nam lại một lần nữa bật dậy. Chu kỳ tiếp theo chìm lắng suốt từ năm 2002 đến năm 2006. Như vậy, tính bình quân cho khoảng lắng giữa các đợt tạo sóng là thời gian khoảng 5 năm.

Cho đến nay, đã 6 năm trôi qua kể từ năm 2007, vượt hơn cả một chu kỳ suy thoái trong dĩ vãng. Nếu theo cách suy diễn này, thị trường tất nhiên có đầy đủ cơ sở để phục hồi.

Tuy thế, làm sao để tạo “sóng” lại là một câu chuyện hoàn toàn lạ lùng và có lẽ còn trở nên dị hợm trong bối cảnh đương đại, khi trong 20 năm qua, giá nhà đất tại những thành phố lớn trên cả nước đã tăng đến 100 lần. Như vậy những người có nhu cầu thực tế về nhà ở sẽ nhìn vào cái cấp số nhân đó để tính toán cho phép thử cung – cầu trên thị trường hiện nay.

Đó cũng là tất cả những gì mà hệ quả của nợ xấu đang tác động, và trở thành tác động có tính quyết định.

Với tất cả những gì bất cập đến mức không thể chấp nhận trong lịch sử tồn tại của thị trường bất động sản, không ai có thể trả lời được câu hỏi sẽ mất bao lâu để phục hồi nó.

Chỉ biết rằng nếu bất động sản không được “siêu thoát” trong năm nay và cùng lắm trong năm sau, không biết nền kinh tế còn bị “phủ nhận” đến bao giờ.

RFI: Nếu dùng từ của anh là nền kinh tế bị “phủ nhận”, liệu xã hội Việt Nam liệu có lâm vào một cuộc khủng hoảng?

Rất có thể. Hiện thời, giới điều hành đầy quan liêu cùng các nhóm lợi ích ở Việt Nam đang phải đối diện với một phương trình có quá nhiều ẩn số.

Muốn giải quyết nợ xấu nói chung và nợ xấu bất động sản nói riêng thì phải xử lý tồn kho nói chung và tồn kho bất động sản nói riêng; muốn xử lý tồn kho bất động sản lại phải làm tăng tổng cầu và niềm tin tiêu dùng cho nền kinh tế. Nhưng ai cũng biết rằng muốn tăng tổng cầu kinh tế thì phải bơm tiền, trong khi nguồn tiền đang có dấu hiệu cạn kiệt do bị tồn kho và không giải quyết được nợ xấu. Chưa tính tới yếu tố bơm tiền hoàn toàn có thể sinh ra lạm phát…

Đây chính là một cái vòng luẩn quẩn mà sẽ dẫn tới “thời điểm Minsky” – tức thời điểm nền kinh tế phải chịu cảnh đổ vỡ dây chuyền, bắt đầu từ khối doanh nghiệp con nợ và ngân hàng chủ nợ không thu hồi được các món nợ, dẫn tới khả năng sụp đổ kinh tế.

Theo một số chuyên gia phản biện độc lập như Bùi Kiến Thành và Nguyễn Trí Hiếu, triển vọng giải quyết tồn kho bất động sản sẽ rất chậm và phải kéo dài ít nhất 4-5 năm. Nhưng ngay trong ngắn hạn năm 2013 và năm 2014, tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp bất động sản lại luôn có thể tạo nên sang chấn bùng vỡ cho giới ngân hàng chủ nợ, mà có thể kéo theo một làn sóng sụp đổ dây chuyền giữa một số ngân hàng lớn.

Nếu không thể giải quyết núi tồn kho bất động sản vào thời hạn “Minsky” giữa năm 2014, hoặc chậm lắm đến cuối năm 2014, rất nhiều khả năng nợ xấu bất động sản sẽ làm bùng vỡ nợ xấu quốc gia và đẩy các ngân hàng vào thế tồn vong. Thế tồn vong đó cũng có thể gây tác động tiêu cực không nhỏ đến chân đứng của một nền chính trị vốn đang chịu nhiều xáo động.

Nếu không tự thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của mình, nền kinh tế Việt Nam sẽ có nhiều triển vọng rơi vào một cơn khủng hoảng mới còn ghê gớm hơn cả khủng hoảng 2008 và đợt suy thoái kéo dài suốt ba năm qua. Khủng hoảng kinh tế lại rất dễ dẫn đến khủng hoảng xã hội – một phạm trù vốn đã tiềm ẩn nhiều mầm mống được thể hiện trên nhiều đường phố. Khi đó, liệu một chính khách cao cấp nào – tổng bí thư, chủ tịch nước hay thủ tướng – có thể dám chắc là không xảy ra một cơn địa chấn về chính trị?

RFI: Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

►Việt Nam che giấu núi nợ xấu khổng lồ

Posted by hoangtran204 trên 06/04/2013

 

NHA TRANG (NV) – Kinh tế Việt Nam ngày càng tồi tệ có thể dẫn đến khủng hoảng vì nhà cầm quyền che giấu sự thật về núi nợ xấu khổng lồ trong hệ thống ngân hàng.

 


Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, báo động kinh tế Việt Nam đang chờ khủng hoảng tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 do Ủy ban Kinh tế Nhà nước CSVN tổ chức trong hai ngày 5 và 6/4 tại Nha Trang. (Hình: VNEconomy). 

Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, cảnh cáo như vậy tại “Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2013 do Ủy ban Kinh tế” nhà nước CSVN tổ chức trong hai ngày 5 và 6/4/2013 tại Nha Trang.

Con số nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam là bao nhiêu, không ai biết rõ vì không mấy ai tin các con số được công bố trước đây là con số thật, qua tường thuật của báo điện tử VNEconomy.

Theo ông Thiên, có những thứ “còn xấu hơn cả nợ xấu” bởi vì không có những con số chính xác, đáng tin cậy thì “không thể xây dựng chiến lược đúng để giải quyết vấn đề”.

Ông cho biết nhiều doanh nghiệp chủ lực của lực lượng tăng trưởng kinh tế “đã chết”.

“Hiện tượng số doanh nghiệp đóng cửa của quý một năm nay ngang bằng với số doanh nghiệp đăng ký mới được ông Thiên cho là sự kiện mang tính lịch sử. Bởi chênh lệch của hai số liệu này thường ở khoảng 10 nghìn, nghiêng về số doanh nghiệp mới”, ông được VNEconomy kể lại.

Theo ông Trịnh Quang Anh của Tập đoàn Đầu Tư Phát Triển Việt Nam phát biểu trong diễn đàn nói trên, “nếu cộng cả những khoản nợ xấu tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780/QĐ-NHNN và nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ngân hàng được ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng.” (hay khoảng $23 tỉ 825 triệu).

Nếu như ông nói, con số vừa kể “tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống, hay khoảng 17% GDP” mà theo ông Anh nhấn mạnh là “đáng sợ”, và “rất có thể còn trầm trọng hơn trong thời gian tới”.

Cuối năm ngoái, Ngân Hàng Nhà Nước CSVN đưa ra con số nói tính đến 30/9/2012, tỷ lệ nợ xấu chiếm 8.82% tổng dư nợ toàn hệ thống. Nếu tính tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng hiện nay vào khoảng 2.8 triệu tỷ đồng, thì nợ xấu vào khoảng 280,000 tỷ đồng (hay khoảng $13 tỉ 342 triệu).

Nhưng đầu Tháng Ba vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước lại hoan hỉ báo tin nợ xấu chỉ còn 6% hay dưới $10 tỉ. Nhiều viên chức nhà nước ở các cơ quan khác nhau cũng phải công nhận cái sự “làm đẹp” con số nợ xấu đó “đáng sợ và đáng ngờ”.

Con số do ông Trịnh Quang Anh đưa ra có vẻ gần với sự thật nhất và khác xa các con số do Ngân Hàng Nhà Nước công bố.

Chế độ Hà Nội đã đưa ra một số đề án giải quyết cái núi nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Trong đó có cả việc lập một công ty để giải quyết nợ xấu nhưng ngày 30/3/2013 mới đây, báo Đất Việt nói “không được thông qua ở kỳ họp chính phủ Tháng Ba.”

Điều này xác nhận nhà cầm quyền Việt Nam vẫn đang rất lúng túng, không biết giải quyết như thế nào để cứu nền kinh tế và một số không nhỏ những công ty quốc doanh chủ lực đang chờ chết nếu không được bơm tiền thêm. Tập đòan đóng tàu Vinashin, tổng công ty tàu thủy Vinalines, nhiều công ty sản xuất xi măng hay thép nợ đầm đìa, sản phẩm bán không được mà đúng ra phải phá sản từ lâu nhưng nằm đó “chết lâm sàng”. (TN)

_______________________

‘Nửa triệu tỷ đồng nợ xấu ngân hàng’

Quy mô nợ xấu có thể vượt nửa triệu tỷ đồng nếu cộng cả những khoản nợ tiềm tàng, nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines – theo tính toán của Tiến sĩ Trịnh Quang Anh.

Tại Diễn đàn kinh tế Mùa xuân đang diễn ra ở Nha Trang, phần lớn các diễn giả đều cho rằng vẫn nợ xấu vẫn chưa có con số thống nhất, trong đó không ít ý kiến hoài nghi về số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố.

Nợ xấu toàn hệ thống theo báo cáo từ các tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2012 là 120.000 tỷ đồng, chiếm 4,1% tổng dư nợ tín dụng. Còn theo công bố mới nhất của đại diện Chính phủ, quy mô tính đến cuối tháng 2/2013, đã giảm xuống còn khoảng 6% thay vì mức hơn 8,8% Thống đốc công bố năm ngoái.

 


Nợ xấu có thể lớn hơn nhiều con số công bố. Ảnh: HoàngHà. 

Ông Trịnh Quang Anh cho rằng thực tế nợ còn “xấu” hơn rất nhiều. Trong cuốn kỷ yếu Diễn đàn kinh tế Mùa xuân năm 2013, Tiến sĩ Trịnh Quang Anh – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam đưa ra những ước tính về quy mô nợ xấu hiện nay.

Theo ước tính của ông, nếu cộng cả những khoản nợ tiềm tàng, gồm nợ khoanh, nợ được cơ cấu lại theo Quyết định 780 và nợ được cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines, tổng nợ xấu ước tính sẽ vọt tới tầm nửa triệu tỷ đồng. Con số này tương đương 18% tổng dư nợ tín dụng, gần 10% tổng tài sản toàn hệ thống hay khoảng 17% GDP danh nghĩa năm 2012. Con số nợ xấu thực của nhóm khách hàng doanh nghiệp Nhà nước tiếp tục được nhân lên nếu bóc tách phần nợ thực chất đã “chết” đang còn “ẩn nấp” trong nhóm “nợ cần chú ý” để hạch toán sang đúng nhóm nợ. [lưu ý, nợ xấu là nợ không đòi được, do con nợ đã bị phá sản, hoặc  không có tiền trả nợ- Trần Hoàng]

Bình luận về việc nợ dưới chuẩn giảm mạnh (hơn 2%) theo công bố mới đây của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Tiến sĩ Tô Ánh Dương cho rằng không loại trừ khả năng nhiều khoản đã được làm đẹp bằng những hợp đồng vay mới để trả nợ cũ quá hạn.

“Tỷ lệ nợ xấu giảm nhanh chỉ là giảm số liệu, không phải là bản chất, giảm thật sự. Nói cách khác, trích lập dự phòng rủi ro là một trong những biện pháp làm giảm nợ xấu phần nào trên bảng cân đối kế toán”, ông Dương thẳng thắn cho biết. Trên thực tế, khi xử lý rủi ro bằng dự phòng không có nghĩa là khoản nợ đã được xóa cho khách hàng.

Các chuyên gia cũng đưa ra những số liệu theo chính ông gọi là “đáng sợ” về cơ cấu của nợ xấu. Theo ông Quang Anh, xét con số tuyệt đối, nợ xấu nằm chủ yếu ở nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, trước hết là Agribank rồi đến BIDV – chiếm tới gần 1/3 tổng nợ xấu toàn hệ thống. Tại khối cổ phần, nhóm ngân hàng yếu kém nằm trong diện phải tái cơ cấu năm 2012 – chiếm tới gần 1/5 tổng nợ xấu toàn hệ thống (chưa tính Habubank do đã được sáp nhập vào SHB).

Một đặc điểm nữa về cơ cấu nợ xấu theo Tiến sĩ Tô Ngọc Hưng Giám đốc Học Viện Ngân Hàng là thống kê của Bộ Tài chính cho hay, các địa phương có công trình xây dựng cơ bản hiện nợ các doanh nghiệp liên quan đến dự án khoảng 90.000 tỷ đồng. “Đây là khoản nợ xấu phải thuộc trách nhiệm các địa phương xử lý, chứ không thể là các ngân hàng”, ông Hưng cho biết.

Nợ xấu cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản và chứng khoán (trước đây được tính vào lĩnh vực phi sản xuất, bị hạn chế tăng trưởng tín dụng) chỉ chiếm 8% tổng nợ xấu. Theo nhiều diễn giả, đây là một con số rất đáng ngờ. “Sự thực, rất nhiều khoản cấp tín dụng dưới các danh nghĩa khác nhau, được ‘luồn’ vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán hay có liên quan đến lĩnh vực phi sản xuất này. Nợ xấu từ số dư nợ cho vay trên, hiển nhiên sẽ được che giấu kỹ nhất”, ông Quang Anh cho biết.

Thanh Thanh Lan
Theo VnExpress

——–

Bài Liên Quan:

nguon danluan.org  (repost)
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/…014179ca34.chn

Mọi việc chuẩn bị đổ bể rồi đây 

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu…348374ca33.chn

Đây có lẽ là chuyên gia thật ???? 

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu…139010ca33.chn

hihi , bằng đúng chỉ số ICOR của VN

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »

Thành quả mà đảng đem lại cho con người và xã hội là rất lớn

Posted by hoangtran204 trên 27/03/2012

Vấn đề “thể chế”

BS Ngọc

Hai chữ “thể chế” đang trở thành một danh từ thời thượng. Những bất cập, những tiêu cực, suy thoái trong kinh tế, suy đồi đạo đức … đều là những vấn đề mang thể chế. Nhưng thể chế là ai? Dường như ai cũng biết nhưng không nói ra.

Bây giờ đi đâu cũng nghe người ta nói đến “thể chế”. Những buổi liên hoan cuối năm, những buổi họp, những trao đổi quanh bàn cà phê, thậm chí trên bàn nhậu, người ta bàn đến thể chế. Nói chính xác hơn là “vấn đề thể chế”. Nói ngược lại, thể chế có vấn đề. Vấn đề thể chế có thể giải thích được tại sao đất nước này đang trong thời kỳ suy thoái nghiêm trọng.

Trước hết, chúng ta hãy điểm qua những vấn đề mà dư luận xã hội và giới trí thức đánh giá là suy thoái.

Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ nhiễu nhương, tao loạn. Người dân cảm thấy bất an khi ra ngoài đường, thậm chí cảm thấy bất an ngay trong nhà mình. Trộm cướp nổi lên như rươi. Chúng càng ngày càng táo tợn và dã man. Những cảnh chận xe giữa đường để cướp giựt xảy ra hầu như hàng ngày ở các thành phố lớn. Báo chí cho biết nạn cướp cũng rất phổ biến ở các vùng nông thôn vốn từng là những nơi an bình. Có thể nói rằng không nơi nào trên đất nước này là an bình. Không an bình vì những người đáng lý ra bảo vệ an ninh lại chính là những kẻ cướp. Lực lượng an ninh mà cũng cướp bóc! Công an cướp tiền người dân ngay giữa ban ngày, hơn cả cướp cạn như một bài báo bức xúc viết “Ghê hơn cướp cạn”.

Không chỉ công an mà các quan chức cũng ăn cướp. Đi bất cứ cơ quan công quyền nào người dân cũng phải “bôi trơn”. Người dân nói hay hơn: ăn. Ăn ở đây là ăn cướp. Hành vi ăn cướp của họ được núp dưới những cái tên mang tính hành chánh. Ai cũng ăn. Ăn hối lộ. Cán bộ lớn ăn lớn, cán bộ nhỏ ăn nhỏ. Bởi thế mà người ta có câu vè:

Ai ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan

Vì ăn quá nên họ làm giàu nhanh. Làm giàu không dựa vào mồ hôi nước mắt của mình nên họ tiêu tiền như nước. Họ gởi con em ra nước ngoài học, nhưng họ bảo con em người dân nuôi họ nên học ở trong nước. Họ thừa tiền nên bày ra những cảnh xa xỉ lố lăng, không hề biết tự trọng là gì.

Không phải vô cớ mà mới đây người đứng đầu Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng nhận định rằng một số không nhỏ đảng viên cấp cao có vấn đề về đạo đức. Nói thẳng hơn là suy đồi đạo đức. Những hành vi tham nhũng, hối lộ, mua chức quyền, mua bằng cấp không còn là chuyện bí mật nữa. Ai cũng biết ngay từ cấp thấp nhất đến cấp cao nhất, các cán bộ của chính quyền có được chức quyền là nhờ mua bán chứ không phải do tài năng. Ai cũng biết bằng cấp thật của họ thực chất là dỏm. Thật là trớ trêu cho một hệ thống giáo dục cấp bằng thật nhưng học giả. Điều khôi hài nhất là cũng chính những người này hàng ngày đang rao giảng về đạo đức!

Một xã hội không có người gương mẫu thì đừng trách sao cả xã hội đang suy đồi.

Những quan chức chính quyền và Đảng CSVN đang hành xử như là những ông quan thời thực dân mà chính họ hoặc cha ông họ đã đổ xương máu để giành quyền cai trị. Đi khắp đất nước, những khu đất đẹp, những tài sản kếch xù, những tập đoàn xuyên các quốc gia, những căn biệt thự hoành tráng … là của ai? Của các quan, đảng viên đảng CSVN. Cha ông họ ra sức đánh đổ chế độ thực dân kiểu cũ, chế độ thức kiểu mới, để dựng lên một chế độ thực dân kiểu cộng sản.

Những ông quan thực dân kiểu cộng sản đã cướp công lý và tạo nên nhiều tội ác. Cải cách ruộng đất và Huế tết Mậu Thân là chuyện cũ. Chuyện ngày nay là người dân bị cướp đoạt công lý. Một thiếu nữ tát vào cái nón của công an lãnh 6 tháng tù. Trong khi đó công an dùng nhục hình với người dân vô tội thì được hướng án treo. Công an giết người thì sự việc hoặc là bị “chìm xuồng” hoặc là xử nhẹ và … lên chức. Tướng công an có công trong việc chống tham nhũng thì bị đày đoạ và trù dập. Nói tóm lại, trong xã hội hiện nay ác lấn thiện. Trong xã hội nhiễu nhương như thế thì người lương thiện và chân chính là những người được xem là “bất bình thường”.

Và dối trá. Chưa bao giờ lịch sử Việt Nam có nạn dối trá như hiện nay. Trên khắp đất nước mà tìm cái thật từ câu nói của các quan thì bao giờ có được. Quan chức nói dối. Trí thức sống hai mặt. Khoa học chỉ thấy dối trá. Giáo dục dối trá. Thật là một xã hội quái đản.

Đất nước này không có tương lai. Thử hỏi chế độ hiện hành để lại gì cho thế hệ mai sau. Nói đến tài nguyên thì đã cạn. Có còn chăng chỉ là đống nợ nước ngoài và những con người như ông bộ trưởng Thăng.

Nhưng thể chế là gì mà có thể giải thích cho tình trạng trên? Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thể chế như sau: “Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo”. Ở đất nước này ai là người đặt ra những quy định, luật lệ? Đảng CSVN. Chính họ đặt ra luật lệ. Chính họ đẻ ra chính quyền. Chính họ lập ra toà án để xử những người “vi phạm luật pháp”. Chính họ bổ nhiệm quan toà. Tất cả đều là đảng CSVN. Vậy nên nói thể chế là nói đến đảng CSVN.

——————-

Trong bài nói trên, BS Ngọc nhắc đến nợ của VN. Nợ VN có 2 loại, nợ công hay nợ chính phủ đi vay mượn của nước ngoài, và nợ của các tổng công ty và tập đoàn quốc doanh (VN có 100 tập đoàn QD). 

Nợ công hay nợ của chính phủTheo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP (nguồn)

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia:

Nợ công năm 200733,8% của GDP; GDP của VN vào năm này là 61 tỷ  (nguồn)

2008 nợ công là 36,2% của GDP;  GDP của VN vào năm này là 71 tỷ

2009 là 41,9%  của GDP; và GDP của VN vào năm này là 90 tỷ (nguồn)

2010  nợ công là 56,7% của GDP; GDP của VN vào năm này là 97 tỷ

tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010 (nguồn)

2011  Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7%của GDP (nguồn); GDP của VN vào năm 2011 là 104 tỷ (nguồn)

2013:  Doanh nghiệp nhà nước nợ 60 tỷ đôla  (nguồn)

16-1-2013


Nợ của các tập đoàn quốc doanh. Theo tiến sĩ Vũ Thành Tự An, trong bài “Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước” (nguồn), Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”
Một năm sau, “Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”
Vậy là chỉ trong vòng 12 tháng, các tập đoàn quốc doanh này mượn  nợ thêm là 54,2 – 23,9 = 30,3% GDP; khoảng 30 tỷ (tạm cho là GDP của hai năm này bằng nhau và bằng 90 tỷ.)

___________________

“Xã hội quay cuồng theo tiền, ai

kiếm được là anh hùng!”

Phỏng vấn Vương Trí Nhàn – Huyền Biển (Thực hiện)

Đời sống) – Ở đây tôi thấy một vấn đề nữa là không phải chỉ lỗi của người đó mà lỗi của cả những người giúp cho họ giàu có được. Tôi không tin những người trong xã hội ta có thể giàu thế nếu không có sự tiếp tay của một bộ phận công quyền… – Nhà Nghiên cứu văn hóa (NCVH) Vương Trí Nhàn chia sẻ với Phunutoday.

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn

Con người chỉ lo đi kiếm tiền mà không lo mình làm người như thế nào

PV: – Thưa ông, dường như càng ngày chúng ta càng chứng kiến nhiều hành vi khiến chúng ta đau lòng như: vì mảnh đất mà con gái, con rể đẩy mẹ già ra đường ăn bờ, ngủ bụi; muốn có tiền trả nợ vợ đang tâm giết người chồng đầu gối tay kề hòng chiếm đoạt tài sản; rồi vì không muốn mất danh dự mà có kẻ không dám nhận tình thân, máu mủ nghèo… Lối ứng xử như vậy có trái ngược với đạo lý làm người của dân tộc ta, một dân tộc tự hào với lịch sử ngàn năm văn hiến? Ông có thể lý giải nguyên nhân của hiện tượng này?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Theo tôi, con người Việt Nam trong xã hội ở thời điểm này đang bước vào giai đoạn phát triển chưa từng có trong lịch sử – giai đoạn mà ông cha ta chưa bao giờ gặp phải, chưa bao giờ có cách sống, cách nghĩ bị ảnh hưởng như thế.

Tôi nghĩ, giá kể một người già nào đấy quay trở lại nhìn chúng ta thì họ sẽ không hiểu là tại sao chúng ta lại sống như thế? Cái đó không chỉ trên phương diện từ chuyện làm ăn, sản xuất đến quan hệ với thiên nhiên mà quan hệ giữa người với người nó cũng nằm trong cái mạch đó.

Ví dụ, người ta làm ăn thấy một nhà bên cạnh bán cái giàn máy này đắt thì lập tức người bây giờ là cũng học theo, mua tranh bán cướp rồi có khi lấy rẻ hơn để bán cho mọi người. Điều đó ở ngày xưa không bao giờ con người được phép làm như thế cả. Không ai làm trò ăn cướp của nhau giữa đường sá như thế.

Tức là, chúng ta có một sự phát triển của thế kỷ 20 này, từ sau năm 45, sau chiến tranh, do đời sống kinh tế thị trường có những cái bài vào, nói chung là do hoàn cảnh chúng ta sống làm cho con người bây giờ mà tôi cảm tưởng như trâu bị nứt mũi.

Tức là họ muốn làm gì thì làm, không còn một ràng buộc gì nữa, không biết sợ thần, sợ thánh. Nói dối tràn lan không biết sợ gì cả.

Ngày xưa chúng tôi đi học cũng có copy, nhưng bần cùng mới phải copy, bí quá và xấu hổ lắm. Còn bây giờ chuẩn bị từ ở nhà để copy mà không phải riêng mình mà hàng loạt những người khác cũng làm một cách trâng tráo, không biết xấu hổ, ra khỏi phòng thi là vứt ngay giấy ra mà không cần sợ hãi gì cả.

Chúng ta có một xã hội con người phát triển hết sức hư hỏng, tùy tiện muốn làm gì thì làm, trâng tráo và liều lĩnh khinh thường không những pháp luật, quan hệ giữa người với người, mà khinh thường ngay cả thần thánh.

Tôi đặt vấn đề quan hệ giữa người với người nó nằm trong bối cảnh đó. Nó từ các gia đình vỡ ra do chiến tranh.

PV: – Cụ thể là như thế nào thưa ông?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Tôi có cảm giác rằng, ngày trước tôi còn nhỏ, tôi sống trong gia đình nhiều lắm, mọi người sống với nhau gắn bó lắm. Nó cũng có một cái lạ là mọi người sống rất yên lặng, không nói nhiều như bây giờ.

Còn nay, thử hỏi một người sống trong gia đình mình bao nhiêu phút? Thực ra là suốt ngày đi lang thang ngoài đường sá. Không ở trong nhà thì ra quán, hoặc đi học hay làm một cái gì đấy. Còn nếu không ở ngay trong nhà mình nhưng cũng không ở, tức là xem ti vi.

Rất ít đứa con nào hỏi bố mẹ ngày xưa sống ra làm sao? Ngày trước ông bà mình như thế nào? Tại sao nhà mình lại đến đây? Tại sao nhà mình làm nghề đó? Tức là con người bây giờ kỳ lạ lắm, không có sự gắn bó với nguồn gốc gia đình của mình.

Gia đình tôi sống ở Hà nội trước năm 1954 và chúng tôi cũng không phải là gia đình giàu có gì nhưng ít nhất chúng tôi có một cuộc sống là hằng ngày đi làm.

Trong bữa cơm chúng tôi được bố mẹ dạy bảo là ăn uống như thế này, ăn trông nồi, ngồi trông hướng thế nọ, bát canh rau không được để cho tí mỡ bám vào. Cái cuộc sống nó tinh khiết chứ không pha tạp như bây giờ.

Ngày trước, không bao giờ một cửa hàng vừa bán bún rồi lại bán phở, bán thì phở gà ra phở gà, phở bò ra phở bò, không ai dùng chung nước dùng cho hai loại đó cả. Nhưng bây giờ con người tạp nham lắm, và những mối quan hệ trong gia đình cũng thế.

Tôi nghĩ bây giờ ít người nhắc đến những câu mà hồi nhỏ chúng tôi hay nói là: Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Tôi đoán rằng bảo đọc một câu mà em thuộc trong ca dao thì không bao giờ nhắc được câu ấy cả.

Tức là sự giáo dục trong gia đình như thế và người ta sống không nghĩ đến cội nguồn, chỉ nghĩ đến hưởng thụ. Trong cuộc sống hàng ngày lo đi kiếm tiền thôi mà không nghĩ rằng mình sống như thế nào đã, mình làm người thế nào đã, sau đó mình kiếm tiền mới là chuyện sau.

Và lúc nào cũng chỉ nghĩ sống cho bằng người, sống như bên Tây rồi phát cuồng theo họ; còn không nghĩ rằng mình sống với quá khứ, sống với ngày hôm nay của mình, trong phạm vi này được phép như thế nào?

Con người bị lôi ra khỏi gia đình, ra khỏi môi trường, và tất cả các chuẩn mực thấp, họ thả lỏng cho cái bản năng chi phối. Mà bản năng là gì, muốn cái gì được cái đó, không khuyến khích sự suy nghĩ, không có sự chín chắn, từ tốn, biết điều.

Thấy người nào làm bậy thì mình mặc kệ người ta, cái mà người ta gọi là sự vô cảm ấy bắt nguồn từ sự hạ thấp các chuẩn mực. Và không cảm thấy rằng người khác hư hỏng rồi sẽ ảnh hưởng đến nhà mình, rồi sẽ ảnh hưởng đến con cái mình.

Tôi cũng thấy làm lạ là chưa có bao giờ người ta chiều trẻ con như bây giờ. Ví dụ như chuyện mừng tuổi, người ta nói rằng dịp Tết mừng tuổi trẻ con là yêu quý trẻ con, thực chất đấy là một cách vô nguyên tắc để chứng tỏ quyền với con cái, như một cách hối lộ với người đối tác là bố mẹ nó để muốn làm ăn với nó, muốn thế nọ, thế kia.

Còn tối thiểu ra thì chứng tỏ bố mẹ giàu lắm đây mà không nghĩ rằng đó là trao con dao sắc cho trẻ con, biến nó thành một đứa dùng tiền mà không ai dạy nó dùng tiền cả.

Như vậy, trong xã hội cũ con người ta học làm người trong nếp gia đình, vấn đề đó hiện nay không được đặt ra.

Còn tại sao lại có chuyện giết người thì tôi thấy thế này, gần đây trong các chương trình văn, người ta chỉ chú ý đến văn ở cấp II, cấp III, chứ thực ra cấp I rất quan trọng. Và những bài văn ấy tôi thấy rất ít bài nói về tình nghĩa trong gia đình, tình thiên nhiên.

Chúng ta có rất nhiều bạo lực trong cách sống, không chỉ chồng vợ đánh nhau, mà giữa người với người cũng vậy. Đối với thiên nhiên chúng ta cũng bạo lực, đánh cá bằng điện, và không có nước nào giết nhiều cá con như nước mình cả. Tất cả những cách sống bạo lực ấy nó chi phối chúng ta, nó ẩn sâu, nằm trong máu lớp trẻ rồi. Và bây giờ nó dễ sinh ra những thứ đó.

Ở mình không có cái lối suy nghĩ trước khi làm, mà thích cái gì làm cái đó, giữa đám bạn bè với nhau thằng nào làm liều thằng ấy được. Với tất cả những thứ đó tôi cho rằng xã hội chúng ta là một xã hội không chú ý đến đạo đức, không chú ý đến giáo dục, không chú ý đến những mối quan hệ bình thường.

Những khuôn khổ đạo đức được lặp đi lặp lại thì nó có hai kiểu: một là đơn giản quá. Nói lấy được, nói đi nói lại trong đó không đi vào thực tế cụ thể.

Thêm vào đó, chúng ta không có một nền đạo đức, nó được lưu truyền lâu dài trong lịch sử và cái đó phần lớn đều ở điểm áng áng, nói trong văn học dân gian. Nên tôi không đồng ý với nhiều người nói rằng là chúng ta đánh mất đạo lý của dân tộc. Không phải đâu. Chính là một phần cũ của chúng ta mỏng. Đến thời điểm hiện nay có quá nhiều cái mới vào và cái mỏng đó mất rất nhanh.

Nếu tôi nói đó là sợi trâu nứt mũi thì sợi dây kia nó cũng rất là mỏng manh nên nó vỡ, tan ra rất nhanh. Chính cái đó, nó khiến cho con người bây giờ trở nên hung hãn, càn rỡ, vô thiên, vô pháp hơn bao giờ hết. Tôi thấy đó là những cái nó quy định cho tất cả những việc mà chúng ta thấy.

Chưa kể là trong thời đại hiện nay, chúng ta đi tiếp nhận những thứ nước ngoài vào. Và nước mình tôi thấy cái hay người ta không học, cái dở là học ngay. Toàn học những cái hình thức thôi.

Con người hiện nay đang được thả lỏng bản năng!

PV: – Không thể không nhận thấy đời sống kinh tế có khá giả lên trông thấy nhưng đồng thời cũng không thể phủ nhận con người vô tình, vô cảm với đồng loại hơn trước nhiều. Thậm chí có những giá trị bị đảo ngược hoặc thay đổi hoàn toàn như từ chỗ trọng tình trọng nghĩa, nhân ái khoan hòa sang phía trọng tiền tài địa vị, thậm chí chỉ biết mình mà không cần biết đến người bên cạnh, lấy đồng tiền làm thước đo cho một phạm trù khác biệt với nó là tinh thần. Thậm chí, trong dân còn lan truyền những câu như “Tiền là tiên là phật, là sức bật của thanh niên….”. Là một nhà nghiên cứu, ông kiến giải điều này như thế nào?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Đúng vậy. Hay người ta còn có câu con là nợ, vợ là thù, ngủ là thần tiên, tiền là trên hết. Vừa rồi chúng ta có truyện Sát thủ đầu mưng mủ, theo tôi nó chứng tỏ một lớp người bây giờ cơ sở đạo đức bị phá hoại, sống vô nguyên tắc, không có biết sợ thần thánh là gì cả.

Tất cả những thứ đó, tất cả những việc mà chúng ta thấy ngày hôm nay là kết quả của một quá trình lâu dài mấy chục năm nay chứ không chỉ riêng ngày hôm nay nữa. Và việc sửa chữa không thể nào đơn giản được. Tôi thấy vụ Lê Văn Luyện vừa rồi là rõ ràng và sau đó là nhiều vụ khác nữa.

PV: – Ông bà ta thường nói “giấy rách phải giữ lấy lề”, “đói cho sạch, rách cho thơm”, “lời chào cao hơn mâm cỗ”…nhưng với xã hội hôm nay thì đó là những thứ xa xỉ và xa lạ, thay vào đó có lẽ phải nói “đồng tiền cao hơn nhân cách”, vì đồng tiền mà người ta bất chấp mọi thứ, miễn là có được nó còn chuyện có bằng cách nào thì không cần biết như những ví dụ vừa nói đến ở trên.

Giả sử, vì mạng sống hoặc đẩy vào bước đường cùng nên trong hoàn cảnh hiểm nghèo ấy, bản năng sống chi phối, lấn át hoặc làm mờ lý trí, nhận thức thì có thể hiểu được phần nào nhưng đây lại là chuyện bình thường xảy ra hàng ngày, nghĩa là nó trở nên phổ biến cứ như một quy tắc sống hiện đại. Xin ông cho biết, tại sao con người lại có khả năng tự hạ thấp mình đến như thế?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Theo tôi, điều đơn giản rằng người ta không có giáo dục. Có đâu mà mất, có được giáo dục đạo đức gì đâu. Thử nghĩ lại xem từ lúc mình đi học có được giáo dục gì đâu, có được bố mẹ dạy gì đâu, có bao giờ ngồi nghe một cách tỉ mỉ mà toàn ngồi xem ti vi chứ có được nghe ông bà sống thế nào?

Tôi cho một trong những điều mà các bạn trẻ bây giờ nhiều khi hành động hư hỏng là họ không biết rằng con người ngày xưa đã tốt như thế nào? Tôi có một đám bạn chơi với nhau hay kể cho nhau nghe ngày xưa các cụ sống tử tế lắm.

Có một ông bạn kể với tôi thế này: ông của ông ấy có một lần đi ăn giỗ từ Đông Anh lên Hà Nội, ở nhà thấy cụ đi mà mãi cụ không về, thế là đi tìm. Đi xe đạp lên quãng Gia Lâm thì mới thấy cụ đứng lại ở đường. Hỏi sao cụ không về? Cụ bảo có người đánh rơi tiền.

Cái thứ nhất là cụ không nhặt. Người nhà mới bảo kệ người ta nhưng cụ nói: Thế thì không được, để đây nhỡ người khác lấy thì sao? Nghĩa là cụ không lấy tiền nhưng cũng không để cho ai lấy được đồng này mà phải đứng ở đấy, chờ ở đấy để người ta quay lại trả cho người ta. Bây giờ thì chẳng ai nghĩ như thế cả. Đốt đuốc đi tìm soi 7 ngày cũng không tìm ra. May lắm là ông mặc kệ thôi.

Trong cuốn sách Quốc văn giáo khoa thư hồi nhỏ tôi có được học một câu chuyện: Trời nhá nhem trạng vạng tối rồi có câu chuyện ông già ngồi vần cái tảng đá. Hỏi sao thì ông bảo tôi vừa đi đến đây bị vấp, tôi phải vần nó vào để người sau đi khỏi vấp.

Một người già người ta còn nghĩ như thế, còn bây giờ chính các cụ gì còn tham lam, hư hỏng hơn bao giờ hết, chưa bao giờ các cụ già tham sống như bây giờ. Chứ ngày trước người ta sống rất nhẹ nhàng. Tôi cũng thấy các cụ già chưa bao giờ tham lam như bây giờ.

Theo tôi trong một thời gian dài xã hội ta buông lỏng đạo đức, chúng ta là một xã hội sống không có nghiên cứu. Làm kinh tế bây giờ cũng chẳng nghiên cứu gì cả. Bây giờ cứ than thổ phỉ mà đào, đào vội đào vàng bán lấy tiền được là chia nhau, phát triển phải làm đường thế nào rồi mới làm khu dân cư nhưng cũng mặc kệ.

Con người là một thực thể vô cùng phức tạp và anh đã có một quan niệm quá đơn giản về con người, cứ dễ dãi và cứ luôn luôn nịnh nọt con người, không giúp con người làm chủ bản thân. Con người hiện nay đang được thả lỏng bản năng. Ngày trước người ta coi việc diệt dục là quan trọng, lấy sự kiềm chế là quan trọng. Ở chiếc xe thì cái phanh là quan trọng thì bây giờ động cơ bên trong là quan trọng.

Và bây giờ chúng ta không để lớp trẻ học làm người mà nó sống thực dụng sớm và với quan niệm lấy hiệu quả làm chính, kiếm đồng tiền nuôi được, thế là xong rồi. Một đứa trẻ được thả lỏng như thế thì cuối cùng sẽ làm ra rất nhiều chuyện hư hỏng mà không thể nào không có được.

Cả xã hội quay cuồng theo đồng tiền, ai kiếm được là anh hùng

PV: – Thưa ông, thời gian gần đây, chúng ta lại thấy những biểu hiện quái lạ không kém: những kẻ lắm tiền, nhiều của tặng nhà trăm tỷ làm quà cho con, chi triệu đô để tổ chức đám cưới siêu khủng, mượn máy bay để rước dâu hoành tráng vì họ thương miền quê nghèo khổ, nơi họ sinh ra và lớn lên, quanh năm không biết đến một sự hưởng thụ nào! Rất nhiều trí thức đã lên án, coi đây là biểu hiện trọc phú, hợm tiền…. Bản thân đồng tiền không có tội nhưng thông qua cách kiếm tiền, cách sử dụng đồng tiền thì sẽ bộc lộ nhân cách con người. Ông nghĩ gì về điểu này trong tình trạng xã hội hiện nay?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Thực ra những người này chỉ biểu hiện xu thế của xã hội ta, cả xã hội ta hiện nay là trọng đồng tiền. Tôi thấy có những người chả có nghề nghiệp gì cả chỉ thấy kiếm tiền không ít và người ta đánh giá nhau giờ đây cũng chỉ lấy đồng tiền là chính.

Những người kia chẳng qua là đỉnh cao của nền chung trong xã hội hiện nay. Cả xã hội quay cuồng theo đồng tiền và coi ai kiếm được đồng tiền thì người đó là anh hùng. Cho nên trông vào những người đấy, chúng ta thấy được sự suy đồi chung của xã hội, và chúng ta vẫn thấy được cái mầm vẫn có trong tôi, trong anh, trong rất nhiều người khác, nếu nó chưa nảy ra cũng là vì nó chưa có điều kiện thôi, chứ thật ra không phải riêng người đó có lỗi.

Điều đó chứng tỏ chúng ta sống trong một cái xã hội nó tùy tiện, ba lăng nhăng, chả ai biết ai là thế nào và nó như là bóng tối.

Đợt vừa qua chỉ có bà Tổng giám đốc Vinamilk là người được tôn vinh thôi. Rất nhiều người khác giàu hơn bà ấy nhiều nhưng vì người ta có rất nhiều cái mờ ám. Bà ấy vượt qua được những chuyện ấy thì bà mới được như thế.

Như vậy, chứng tỏ trong xã hội chúng ta cái bóng tối nó nhiều quá, nó đầy quá. Những dạng nảy lên, trồi lên như thế báo động tình hình chung của xã hội ta.

Còn một điểm nữa, những người giàu như thế bao giờ cũng chứng tỏ một điều: người giàu là tinh hoa của xã hội, người ta phải giỏi thì mới làm giàu được.

Tôi không phải người giàu nhưng tôi nghĩ rằng thực ra những người giàu đều là người giỏi cả. Nhưng tôi thấy những người giỏi của xã hội cũ người ta rất tử tế, hiểu biết, còn nhiều người giàu ở xã hội ta hiện nay là làm ăn uẩn khúc, và chọn những con đường nếu được minh bạch ra thì tôi nghĩ có lẽ là làm ăn phi pháp.

Ở đây tôi thấy một vấn đề nữa là không phải chỉ lỗi của người đó mà lỗi của cả những người giúp cho họ giàu có được. Tôi không tin những người trong xã hội ta có thể giàu thế nếu không có sự tiếp tay của một bộ phần công quyền.

Khi ông giúp những người kia thì ông lại được ăn lại bao nhiêu? Sự thực ra cả một xã hội chỉ mới biết lo kiếm tiền chứ chưa biết sống có văn hóa.

PV: – Cá nhân ông tiêu tiền và sử dụng đồng tiền như thế nào?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Tôi quan niệm cái xã hội tôi kiếm được đồng tiền theo đúng những cái lao động của tôi. Tất nhiên xã hội hiện nay lao động rất lung tung, có nhiều việc vớ vẩn, lương lại rất cao và ngược lại.

Tôi có nói với con mình rằng không được chộp giật, không được làm một cú rồi chộp. Điều đó sẽ làm hỏng con người đi mà hãy làm thế nào nay một ít, mai một ít. Tôi có đọc tài liệu của Trung Quốc, người ta có triết lý rất ghê. Tức là người ta làm việc gì người ta mang sức lao động, mang trí tuệ của người ta vào nên người ta mới khá giả lên nhưng bằng những con đường rất chân chính.

Và tôi nghĩ rằng chỉ có đồng tiền kiếm bằng chính sức lao động của mình mới lâu dài được. Các cụ có nói: của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ.

Ba ông Phúc, Lộc, Thọ bao giờ người ta cũng thờ ông Phúc trước tiên trong đó người ta cầu phúc và tôi cũng mong cái cầu phúc. Tôi tin rằng trong một xã hội hiện nay nếu anh có trình độ tay nghề cao, anh chuyên nghiệp hóa về nghề nghiệp, anh thông minh thì không thể nào không sống được. Cuộc sống đừng có yêu cầu cao quá.

Có lần tôi đọc cuốn từ điển của Trung Quốc và Việt Nam giải nghĩa chữ buôn bán là gì? Việt Nam giải nghĩa chữ buôn là buôn vào, bán ra, có lợi như thế là buôn bán. Trung Quốc thì người ta hỏi thương nghiệp là gì, tức là phát hiện ra một nhu cầu thì mới thỏa mãn nhu cầu đó, tổ chức sản xuất, lưu thông để thỏa mãn nhu cầu đó.

Như vậy nghĩa là, việc họ làm là có lợi cho cả xã hội, anh phải mua của tôi và cám ơn tôi chứ không như ở Việt Nam buôn bán là bắt chẹt nhau, bán giá thật cao, rồi hối lộ mấy ông bên chính sách Nhà nước và thế là giá nào cũng bán. Tôi thấy những người làm ăn phi pháp như thế đang đánh vào cái xấu, cái kém của mọi người. Không bao giờ tôi khuyên con tôi làm những thứ ấy cả.

Đồng tiền nó chỉ chứng tỏ sự thông minh, cái suy nghĩ của mình, sức lao động của mình chứ không phải là tôi đi ăn cướp và tôi bắt chẹt người khác. Và với đồng tiền như thế, tôi nghĩ rằng đó là dấu hiệu của phúc đức và sự tử tế mà cái đó sẽ duy trì cho dòng họ nhà mình, con cái nhà mình.

PV: – Cảm giác của ông thế nào khi những điều ông quan niệm, cách ông dạy con cháu đi ngược lại với những gì trong xã hội chúng ta diễn ra hiện nay?

NNCVH Vương Trí Nhàn: – Rất lạc lõng. Bây giờ nhìn lại tôi mới thấy của đáng tội chả ai người ta làm như tôi cả. Lúc tôi vẫn đang làm ở cơ quan thì mới đầu người ta bảo tôi làm Trưởng phòng, khi được hỏi tại sao tôi bảo tôi không làm được vì tôi không hơn những người nhân viên của tôi, tôi không làm.

Sau đó, họ bảo tôi làm Phó giám đốc, tôi cũng bảo tôi không làm được, bởi nếu tôi làm Phó giám đốc thì tôi phải làm được rất nhiều cho cơ quan và với đồng lương như thế nào, thảo nào tôi cũng phải ăn cắp thôi. Thứ hai là tôi đuổi hết. Các cán bộ mình có học hành gì đâu, đánh máy không biết đánh cho nên tôi thấy thế này tôi không làm được.

Cách sống cũng thế, tôi cũng có cảm thấy lạc lõng và tôi cũng công nhận được một điều là tôi may trong sự tính toán của tôi. Tôi nghĩ rằng có nhiều người ở trong hoàn cảnh cực khổ quá rồi cuối cùng làm bậy, làm bậy một lần rồi sau đó không giữ được nữa.

Tôi có cái may là không bị những thói quen, thói xấu chi phối. Và với những giá trị chân chính mà mình có được và mình lo thực của gia đình nhà cửa. Mình cố gắng chữ lương thiện, cái đó cảm tưởng rằng mình đang cố theo, mình không theo được hay không là chuyện khác nhưng mình có cái đó.

Và trong sự phấn đấu làm người của mình, tôi có được may mắn là tôi làm về văn học, nhất là văn học tiền chiến nói rất nhiều những đau khổ, sự cam chịu của con người và vượt lên những đau khổ ấy.

Ví dụ, Chí Phèo chẳng hạn, hắn còn tử tế chán. Chí Phèo còn hỏi ai cho tao lương thiện, bây giờ có ông nào dám nghĩ như thế không? Làm bao nhiêu chuyện làm bậy làm bạ rồi nói rằng đây là hoàn cảnh đẩy mình tới, mình phải thế thôi, chứ có nghĩ rằng bây giờ mình không làm chủ được mình nữa không?

Cái may mắn của tôi là ở chỗ đó. Tôi được biết đến một xã hội dân sự trước đó, nó có cuộc sống riêng đông đủ, phong phú và phức tạp. Con người ngày trước họ có niềm tin vào người ta. Còn bây giờ mọi người thấy mình giống đám đông chỗ nào mà mình cứ giống đám đông là yên tâm lắm rồi.

Và tôi nghĩ rằng có một cái nghề làm văn học là rất tốt đẹp nhưng nền văn học của mình rất vớ vẩn. Bây giờ các nhà văn thi nhau đi viết về sex. Tôi nghĩ rằng, đó cũng là cái bất hạnh của lớp trẻ hiện nay, nó yếu đuối, nó mỏng manh lắm. Các bạn trẻ bây giờ già hơn, hỏng hơn xưa quá.

Tôi nghĩ bản thân tôi năm nay 70 tuổi nhưng tôi vẫn nghĩ còn những việc tôi muốn làm, và tôi vẫn nghĩ là tôi có thể làm tốt hơn những gì tôi đã làm.

Và ở đây: danluan.org

**************

Con người và xã hội VN đạ được đảng sản sinh, nhào nặn như hai bài báo nói trên. Còn bản thân của đảng thì như thế nào?

Mời các bạn đọc qua thư của ông Hồ Cương Quyết. Ông này người Pháp, xin nhập quốc tịch Việt Nam lâu rồi, và hiện đang đấu tranh chống lại Trung Quốc chiếm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông làm phim về ngư dân ở Hoàng Sa và Trường Sa, đem chiếu ở Sai Gòn thì bị công an ngăn chận, cúp điện,…ông gởi thư phản đối các cán bộ cộng sản cao cấp thì không ai trả lời. Ông đem phim qua Pháp và Âu Châu chiếu thì bị các thế lực ngoại giao của đảng kết hợp với Trung Quốc ngăn chận… như dưới đây. 

Sẽ làm cho tan tành bức tường lặng im xấu hổ!

André Menras Hồ Cương Quyết
Phạm Toàn dịch

Gửi các ngư dân bị cầm tù tại Phú Lâm, Hoàng Sa,

Tôi ra đi từ Bobigny, ngôi làng của tình đoàn kết, nơi đây chúng tôi bán được 400 đồng euro sản phẩm thủ công nghiệp Việt Nam để ủng hộ trẻ em nghèo được Hội ADEP (Hội Xúc tiến Hợp tác Sư phạm) Pháp-Việt hỗ trợ …

Tôi đã gặp những nhà hoạt động của Đảng Cộng sản, các cán bộ Liên hiệp Công đoàn Pháp, đều là những con người tiến bộ cả: nay thì họ đã đựoc biết là có cuốn phim và họ đã được biết là có vấn đề ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc xâm hại. Có người đã khóc, họ thấy bị sốc, họ thấy phẫn nộ.

Khi đi đó đi đây trên đất Pháp, tôi vô cùng ngạc nhiên thấy đâu đâu người ta cũng lặng im trước vấn đề này. Thật kinh khủng khi thấy người ta đã có thể tảng lờ, thậm chí bóp nghẹt các thông tin tại một quốc gia tự cho mình là dân chủ!

Tuy nhiên, từ nhiều tháng nay, tôi đã gửi các bài viết, các bản dịch bài báo, những lá thư của các ngư dân và những tài liệu khác nữa tới những người có trách nhiệm của mấy tổ chức nói trên! Giờ thì họ chẳng thể nào nói được nữa là họ không biết chuyện gì đã xảy ra!

Vậy thì, họ đã ký kết với nhau những gì và như thế nào để khoá chặt các thông tin kia? Ai là người yêu cầu họ giữ lặng im? Đại sứ quán Việt Nam tại Paris, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tất cả mọi điều trong phạm vi quyền hạn của họ để lên án những tội ác xâm lược của Tàu hay là ngược lại họ đã phối hợp kết hợp nhau để ngăn chặn thông tin?

Ta buộc phải nhận thấy một điều rõ ràng là kết quả của sự đồng loã Pháp-Việt đó đã phục vụ cho ý đồ của Trung Hoa và khuyến khích nước này tiếp tục mọi chuyện!

Tôi những muốn rằng những người lãnh đạo các tổ chức tôi đã trao đổi và trò chuyện với họ sẽ nhận ra trách nhiệm phải phát động một chiến dịch truyền thông lớn để huy động công luận ủng hộ chính nghĩa của ngư dân Việt Nam!

Kể từ tháng mười hai năm ngoái (12/2011) và từ khi người ta ngăn cấm chiếu phim tại Sài Gòn, trong cuộc đấu tranh của mình, tôi đã nhận thấy cái hiện thực đau buồn này: công chiếu phim của tôi, phổ biến các chứng cứ chứa đựng trong phim đó, lên án bọn tội phạm Trung Hoa, làm những điều đó là một hành động phản kháng không chỉ chống lại bọn theo chủ nghĩa bành trướng và bạo lực Trung Hoa mà còn là chống lại những hành động của những nhà lãnh đạo chính trị của “đảng anh em”, chống lại những đối tác kinh doanh của Bắc Kinh, chống lại nỗi sợ của những nhà lãnh đạo những tổ chức nhân đạo nào đó đang hợp tác với những nhà cầm quyền Trung Hoa…

Cho tới nay, không một tổ chức nào trong số đó đã giúp tôi một tay. Vậy là, đứng trước chủ nghĩa bất động tội ác của họ, tôi đã cùng với những bạn bè càng ngày càng đông đảo cùng chống lại họ. Một cuộc chống đối mà khởi đầu chỉ là những phương tiện ít ỏi, được trụ đỡ bởi những sáng kiến cá nhân, bao dung, ái quốc, kết đoàn. Mỗi lần đem phim ra chiếu, mỗi lần tranh luận vấn đề, mọi người nêu ra câu hỏi: tại sao có chuyện đó mà từ mười năm rồi chẳng có ai nói với chúng tôi sất? Tại sao lại không hề có một phóng sự lớn nào về đề tài này trên (báo của Đảng Cộng sản Pháp) tờ l’Humanité, cũng chẳng có gì trên báo Le Monde Diplomatique cũng như trên báo Libération? Mọi người hết sức ngạc nhiên.

Nhưng chính vì họ ngạc nhiên như thế nên lại càng thúc đẩy họ phản ứng mạnh hơn để làm cho mọi người xung quanh cùng lên tiếng, để quyên góp quỹ hỗ trợ. Có những người đã đề nghị tôi tổ chức ký kháng nghị tới Đại sứ quán Trung Quốc. Đó là một ý kiến có khả năng thực hiện và có khả năng mở ra nhiều hành động khác. Tôi có đôi chút kinh nghiệm về những phong trào đấu tranh khi mới ra đời và hình thành dần dần trong không khí mọi người chưa nhất trí với nhau. Khi các phong trào đó mở màn rồi thì không có ai ngăn chặn chúng nữa. Tôi tin tưởng chắc chắn là với sự ủng hộ hoặc mặc dù có sự kìm hãm của nhà cầm quyền, chúng ta sẽ xây dựng nhẹ nhàng nhưng vững vàng cả một mặt trận đối kháng quốc tế ủng hộ ngư dân Việt Nam và bệnh vực chủ quyền quốc gia của Việt Nam. Phong trào đó cũng sẽ phát triển khẩn trương nhanh chóng tương ứng với sự nhanh chóng từ phía nhà cầm quyền Trung Hoa khi họ cố tình chọn lựa triển khai sức mạnh nào và tần suất những cuộc xâm lấn đánh vào ngư dân Việt Nam tại Hoàng Sa và đặc biệt trên cả vùng biển Đông Nam Ấ.

Chúng ta sẽ làm rạn nứt bức tường lặng im xấu hổ và cuối cùng chúng ta sẽ làm cho nó phải tan tành. Chiều nay, 23 tháng giêng, tôi bay tới Berlin với niềm tin này, và trong tim cũng như trong đầu là một ý nghĩ ngập tràn tình cảm đối với 21 ngư dân của chúng ta đang bị cầm tù ở Phú Lâm cùng với gia đình họ đang đau lòng chờ đợi tại Lý Sơn.

A. M. – H. C. Q.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Xã Hội và các vấn nạn (Social Problems) | 2 Comments »

►Nợ Công năm 2010, và 2011 – Nợ của các Tập đoàn và Tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh 2010

Posted by hoangtran204 trên 12/10/2011

Nhà nước dấu rất kỷ số nợ công và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Các nhà kinh tế và tài chánh trong nước cứ phải dựa vào các nguồn tin do quốc hội, bộ tài chánh đưa ra mỗi lần một mảnh nhỏ, và đúc kết thành các bài báo sau đây:

Đài BBC năm 2006 có bài viết như sau:  Suốt hơn thập kỷ qua, năm sau cao hơn năm trước, các nước cấp viện trợ  đã dành cho Việt Nam nguồn vốn cam kết hàng  chục tỷ đô la. (nguồn)

5 năm sau, vào 28-11-2011, báo chí quốc tế tiếp tục cho biết:
CHXHCN Việt Nam là 1 trong 5 nước lâu nay nhận viện trợ nhiêù nhất thế giới
(nguồn)
Vietnam is one of five countries receiving the biggest ODA (Official Development Assistance) capital in the world.

Các nhà tài chánh và kinh tế trong nước gần đây có viết chút ít về nợ nần của Việt Nam. 5-6 bài báo dưới đây nói về nợ công, và nợ của các tập đoàn và tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh… Mời các bạn đọc và tìm hiểu.

“Ông (Bùi Kiến) Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-201032,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009; trong đó, nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh (4,6 tỷ đô la).

Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD,  nợ của doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh là 3,98 tỷ USD, tổng cộng là 28 tỷ USD, chiếm 41,9% GDP;  (GDP của VN năm 2009 là 90 tỷ. (nguồn)  và ở đây

Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

————————————————————————-

*Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia,

Nợ công năm 200733,8% của GDP, hay 21 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 61 tỷ  (nguồn)

2008 nợ công là 36,2% của GDP, hay 29 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 85 tỷ

2009 nợ công là 41,9%  của GDP, hay 37 tỷ USD; và GDP của VN vào năm này là 91 tỷ (nguồn)

2010 nợ công là 56,7% của GDP, hay 54 tỷ USD ; GDP của VN vào năm này là 97 tỷ

Dự kiến nợ công năm 2011 khoảng 58,7%của GDP, hay 61 tỷ USD; GDP của VN vào năm 2011 là 104 tỷ (nguồn).

Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.”

Các con số trên là chưa tính đến nợ Doanh Nghiệp Nhà Nước, do chính phủ bảo lãnh. 

Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

++++++++++++++++++++++++++++

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng

(Dân trí) – Thứ Bẩy, 09/07/2011.  Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng (= 56,1 tỉ đô la Mỹ), tương đương 56,7% GDP năm 2010, và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng (69 tỷ  US đô la) , bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng (42 tỷ US đô la), bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý ( gần13 tỷ  US đô la), đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn… ( theo Sơn Ngọc)

***************************************

Trong bài báo 3 Rủi Ro Lớn từ  Nợ Công của Việt Nam (ở cuối bài nầy)

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước (100 tập đoàn và tổng công ty)  còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

Trong một bài báo khác có tựa để Cảnh Báo Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước, tác giả Vũ Thành Tự An, nguồn  Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

Theo Uỷ Ban Tài Chính quốc gia, nợ của DNNN năm 2009 có hơi khác một chút. Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn và tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”, GDP của năm 92 tỷ USD, vậy nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD.  (bài của Vũ Thành Tự An)

Tổng cộng   Nếu như vào năm 2001 nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD +  nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD  = 105,2 tỷ USD 


*********************************


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

***************************************

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.  (813.435 tỉ đồng VN = 41 tỷ đô la Mỹ)

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

(ghi chú của TH:  tạm cho hối suất 1 đô la Mỹ = 20000 đồng VN, thì  86.000 tỷ đồng VN = 4,3 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, đến năm 2009,  nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là 41 tỷ + 4,3 tỷ  = 45,3 tỷ đô la Mỹ)

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

85530_91.jpg

GDP của năm 2008 là  85 tỷ USD  ;   GDP của năm 92 tỷ USD

Nợ của doanh nghiệp nhà nước từ 23,9 %  (20 tỷ USD), lên 54,2% (50 tỷ USD);  2008 đến 2009.

Nợ công, hay nợ của chính phủ từ 36,2% (38 tỷ USD), lên 44.75%  (41 tỷ USD)

——————————————————————————————————–

Tổng cộng nợ trong năm 2008 là 58 tỷ USD  và qua đến  2009 là    91 tỷ USD
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro.

Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/8129

—–

Việt Nam xếp thứ 9 trong danh sách 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung Đông đang làm thay đổi khẩu vị của các nhà đầu tư, buộc họ tăng cường nghiên cứu và mua bảo hiểm tại các quốc gia có mức độ rủi ro lớn.

Khảo sát mới nhất của Business Insider dựa trên dữ liệu lấy từ hãng CMA Datavision và Bloomberg, cho thấy các nước châu Âu vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ bày tỏ rất ít sự tin tưởng vào việc lãnh đạo các nước Eurozone sẽ tìm ra được giải pháp ổn định tình hình cho khu vực.

Trong khi châu Âu và Trung Đông đang là tâm điểm chú ý tại thời điểm này, thì một vài nguy cơ vẫn còn hiện hữu ở các quốc gia khác, bao gồm cả các đại gia vùng Nam Mỹ.

Các quốc gia trong danh sách này được sắp xếp theo phí đảm bảo cho các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS). CDS là một dạng chứng khoán phái sinh, tương tự với một hợp đồng bảo hiểm. Khi tham gia vào CDS, người mua CDS trả cho người bán một khoản phí để được bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ tín dụng xảy ra khi một bên thứ ba rơi vào trường hợp vỡ nợ. Thị trường giao dịch CDS dựa trên những gói quy chuẩn là 10 triệu USD cho một hợp đồng.

18. Tây Ban Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 245,91 (điểm)

Sự việc gần đây nhất: Tây Ban Nha tiếp tục là trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và hiện đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

17. Bungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 248,28

Sự việc gần đây nhất: Bungary vừa phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong một cuộc chiến nhằm chống lại thâm hụt tài chính.

16. Iceland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 254,46

Sự việc gần đây nhất: Iceland vẫn còn đang vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính gây ra bởi cuộc khủng hoảng ngân hàng.

15. Lithuania

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 260,00

Sự việc gần đây nhất: Sau sự suy thoái tồi tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính, Lithuania đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 4,8% trong quý 4/2010.

14. Rumani

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 285,00

Sự việc gần đây nhất: Suy thoái kinh tế tại Rumani vẫn còn tiếp tục trong năm 2010 với GDP giảm 1,3%.

13. Croatia

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 286,32

Sự việc gần đây nhất: Croatia đang phải hứng chịu làn sóng biểu tình chống chính phủ trong khi vẫn còn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính.

12. Hungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 304,19

Sự việc gần đây nhất: Hungary đã bị hạ mức tín nhiệm vào tháng 12/2010 và vẫn đang phải đấu tranh với các vấn đề tài chính. Chính phủ Hungary cũng vừa tuyên bố những kế hoạch mới vào tuần trước.

11. Bahrain

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 313,65

Sự việc gần đây nhất: Bahrain cũng đang phải hứng chịu các cuộc biểu tình phản đối như các nước Trung Đông và phải giải quyết với số đông cộng đồng người Shiite lãnh đạo phong trào biểu tình này.

10. Li-băng

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 360,00

Sự việc gần đây nhất: Li-băng hiện cũng đang chứng kiến nhiều vụ biểu tình chống đối và chính biến.

9. Việt Nam

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 365.00 (điểm)

Biến động gần đây nhất: Việt Nam đã buộc phải phá giá tiền đồng của mình trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề nợ của mình.

8. Ai Cập

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 370,00

Sự việc gần đây nhất: Người dân Ai Cập vừa lật đổ tổng thống và hiện nước này đang được lãnh đạo bởi lực lượng quân đội.

7. Dubai

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 455,00

Sự việc gần đây nhất: Nguồn cung bất động sản thừa thãi tại Dubai hiện đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của toàn quốc gia này.

6. Ukraine

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,75

Sự việc gần đây nhất: Ukraine tăng trưởng chậm chạp trong quý 4/2010 nhưng dự kiến mức này sẽ đạt 4 – 5% trong năm 2011.

5. Bồ Đào Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,88

Sự việc gần đây nhất: Bồ Đào Nha có lẽ sẽ thiếu đến 20 tỉ euro để trả cho các chi phí năm 2011.

4. Ireland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 569,88

Sự việc gần đây nhất: Ireland tiếp tục phải vật lộn với cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng với hệ quả là gánh nặng về những khoản vay không phát huy được hiệu quả và gói cứu trợ của EU-IMF đang đè nặng lên chính phủ.

3. Argentina

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 646,47

Sự việc gần đây nhất: Nhiều năm sau khủng hoảng, Argentina vẫn còn đang phải chịu mức lạm phát cao (gần 11% cho tháng 12/2010).

2. Hy Lạp

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 956,27

Sự việc gần đây nhất: Hy Lạp gần đây lại chịu thêm một làn sóng phản đối nữa do các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.

1. Venezuela

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 1.170,92

Sự việc gần đây nhất: Sản xuất dầu mỏ tại Venezuela đang bị suy giảm và đe dọa đến khả năng trả nợ của chính phủ nước này.

(Ghi chú: Bài viết trên đây có nguồn từ báo VnExpress trong nước, dịch lại từ Business Insider, nhưng VnExpress đã bỏ tên nước Việt Nam ra khỏi danh sách 18 nước. Dân Luận đã dịch bổ sung đoạn về Việt Nam.)

—-

Xem bài viết http://www.businessinsider.com/count…ch-2011-3?op=1

Link trên là bài gốc, tựa: The 18 Countries Most Likely To Default, trong bài đó, nước CHXHCNVN chình ình ở vị trí thứ 9, với minh họa là rừng cờ đỏ và hình bác kính yêu.

Còn đây là bài dịch của vnexpress:

coi ở đây :

Những quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/q…nhat-the-gioi/ (link nầy đã bị xóa)

Trong bài báo gốc có 18 nước có khả năng vỡ nợ, sau khi VNExpress  xào nấu, thì chỉ còn 17 quốc gia có khả năng vỡ nợ;  nước Việt Nam không nằm trong danh sách đó!

trích   http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=358&page=1081

*Việc bỏ bớt tên nước VN ra khỏi danh sách có thể  là cách luồn lách của một số báo chí VN nhằm đưa các tin quan trọng đến bạn đọc mà không bị kiểm duyệt. Xin nhớ rằng báo chí trong nước đang nằm dưới sự kiểm duyệt và chỉ đạo của bộ Thông Tin và Tuyên Truyền. Một số nhà báo VN rất có lòng, nhưng họ cần có tiền để nuôi gia đình. Làm công việc lọc bỏ như vậy là không lương thiện, họ cũng biết đó là việc làm đáng xấu hổ lắm, nhưng dịch đúng sự thật thì bài báo sẽ không được đăng. Tổng Biên Tập sẽ loại ngay bài ấy.

Có người nói rằng: Muốn nhận ra sự thật trên báo chí, chỉ cần tin ngược lại với những gì báo chí đang viết…và cố gắng tìm bài báo gốc (ở báo nước ngoài).

——–

Bổ Sung:

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu? In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16

Phải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.

Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.

Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)!

Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

  2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

 

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

*****************************************************

10-2011

Nợ công thành đại họa, nếu…

Báo Tiền Phong  phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế

TP – “Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Quản lý yếu kém không những khiến nợ công thất thoát, không phát huy hiệu quả mà còn đẩy quốc gia đến nguy cơ mất chủ quyền vì phụ thuộc bên ngoài”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.

Nợ tăng, khó trả

Nợ công tăng cao và tăng nhanh gần đây. Điều đó nói lên vấn đề gì, thưa ông?

Điều đó nói lên Việt Nam muốn đầu tư phát triển kinh tế và những dự án đầu tư vượt ngân sách của Nhà nước. Mỗi năm Việt Nam đầu tư 42-43% GDP, trong khi tiết kiệm nội địa chỉ khoảng chừng 30% GDP, có nghĩa là mình đầu tư trên khả năng tiết kiệm 13-14%. Muốn có phương tiện để đầu tư cao hơn tiết kiệm nội địa thì một là vay nước ngoài, hai là vay trong nước.

Nhà nước đi vay để đầu tư vào những vấn đề mà người dân không thể đầu tư như phát triển hạ tầng mềm như giáo dục, y tế… hay hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, bến cảng… Mỗi ngày kinh tế của mình phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu về vốn tăng cao để đầu tư vào những lĩnh vực mà người dân không thể đầu tư được nên nợ công tăng nhanh cũng là dễ hiểu.

Nợ công đang ở mức độ nào và đã đến mức cảnh báo chưa?

Nợ công hiện nay của Việt Nam ở mức hơn 52% GDP, nhưng điều đó không nói lên vấn đề gì. Vay về để làm gì và có đủ khả năng trả nợ hay không mới là vấn đề đáng nói. Nếu mình vay 52% GDP mà GDP của mình mỗi năm tăng 5-7% và tạo ra các nguồn thu ngân sách, và trả được nợ công thì không thành vấn đề.

Chúng ta phải xem xét nợ công đang được đầu tư vào lĩnh vực gì và hiệu quả tới đâu thì mới biết 52% là nhiều hay ít. Nếu đầu tư vào những Cty phát triển tốt và chỉ số ICOR thấp thì hiệu quả kinh tế cao sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nước bị lỗ ICOR là 8, 9 thậm chí 14, tức là không có hiệu quả kinh tế và như vậy thì rất nguy hiểm.

Theo ông, khả năng trả nợ công của nền kinh tế hiện nay như thế nào?

Chúng ta đang rất khó khăn. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 30% doanh nghiệp đứng trước tình trạng phá sản và 50% doanh nghiệp đứng trước tình trạng khó khăn. Nếu tình hình kinh tế cứ đình đốn thế này thì lấy đâu nguồn thu để trả nợ công.

Tham nhũng, rút ruột kéo dài

Ngoài việc sử dụng vào mục đích đầu tư, nợ công còn được đem cho vay lại?

Thì đấy, Nhà nước phát hành trái phiếu vay hàng trăm triệu USD về cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Mỗi năm, Nhà nước đều cấp tiền cho các doanh nghiệp Nhà nước, một là dưới hình thức cấp vốn, hai là dưới hình thức cho vay lại. Nhiều trường hợp cho vay xong rồi lỗ thì khoanh nợ, khoanh xong rồi xóa nợ…

Theo ông, việc sử dụng nợ công hiệu quả tới đâu?

Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công. Ví dụ mình vay tiền về xây dựng xa lộ với mục đích là bền vững, hiện đại, nhưng vì rút ruột công trình nên nền móng của con đường không có chất lượng, mới mấy năm đã trồi lên trụt xuống.

Một lần làm không xong, không đủ chất lượng phải phá ra làm lại, nhưng làm lại vẫn bị rút ruột. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Nếu cứ tiếp tục như thế thì nợ công chồng chất.Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Theo tôi được biết từ báo cáo của Chính phủ, tình trạng rút ruột công trình rất nhiều mà không giải quyết được. Một mặt, mình đầu tư vào những dự án không có hiệu quả kinh tế; mặt khác do quản lý kém nên để xảy ra tiêu cực, tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công.

Mình sử dụng nợ công vào việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp. Chẳng hạn, mình làm con đường thì là có ích chứ, bởi nó giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hội hai bên con đường đó phát triển. Nhưng lẽ ra hiệu quả phải gấp 2-3 lần. Tức là hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa.*

“Những người đại diện Nhà nước sử dụng tiền Nhà nước vay nước ngoài về để làm những việc ích nước lợi dân mà không làm, mà làm thất thoát nghiêm trọng nợ công thì tội rất lớn.Những người có trách nhiệm mà rút ruột công trình thì không phải chỉ mắc tội ăn cắp mà còn là tội làm mất chủ quyền quốc gia vì khiến quốc gia bị lệ thuộc nước ngoài. Tội đó là cực kỳ nghiêm trọng.Không phải chỉ 5, 10 hoặc 20 năm nữa các thế hệ sau phải trả những khoản nợ đó mà khiến quốc gia rơi vào nguy cơ mất chủ quyền như bài học của Hy Lạp thì cái đấy mới là nguy hiểm”- Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Theo ông, làm thế nào để giảm nợ công?

Trước nhất, Nhà nước phải xem lại tất cả các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa phương đua nhau làm sân bay…

Anh nào cũng muốn làm nhà máy xi măng, nhà máy đường kể cả làm nhà máy đường ở nơi không có mía, làm xong để đó cho hư hỏng hoặc xin ngân sách để chuyển đi nơi khác có mía… Mình phải rà soát lại và muốn nợ công được sử dụng tốt thì phải xem lại nợ công dùng để làm gì. Nếu thật sự cần thiết thì phải làm hết sức tốt, nếu không cần thiết thì dứt khoát cắt giảm.

Có thể vỡ nợ như Hy Lạp

Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì?

Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Hệ lụy của nợ công, nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổ chức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ. Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấp nhận được.

Hiện Việt Nam không có lý do gì phải đi vay nợ công 100%, thậm chí 200% GDP như một số nước, nhưng nếu cần thiết để phát triển kinh tế thì nợ công ở mức 50, 60 hay 70% GDP mà mình có khả năng để hoàn trả thì không có vấn đề gì.

Theo ông vấn đề quan trọng là phải giảm nợ công hay quản lý nợ công có hiệu quả?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất vẫn là quản lý có hiệu quả, và quản lý cái gì thì phải xem lại đầu tư vào những cái gì, chứ không phải đầu tư vào những công trình mà mình chưa cần dùng. Mình có chừng đó tiền thì phải làm những cái gì cho nó tốt nhất chứ không phải là cắt giảm.

Mục đích không phải là giảm nợ công mà là sử dụng hiệu quả để đất nước phát triển. Mà muốn sử dụng cho tốt thì phải rà soát lại tất cả dự án đầu tư công và phải có những nhân sự cần thiết để quản lý cho hiệu quả.

Ông Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-2010 là 32,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009, trong đó nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD.Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nợ công năm 2007 là 33,8% GDP, 2008 là 36,2%, 2009 là 41,9% và 2010 là 56,7% GDP. Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.

Đại Dương

nguồn

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng
(Dân trí) – Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010 và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý, đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn.

Cũng theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại,  đơn vị này đã và đang chủ động nghiên cứu để xây dựng khuôn khổ pháp lý, có các đề xuất về hoạt động quản lý rủi ro nhằm kiểm soát nợ công và nợ nước ngoài một cách hiệu quả.

Sơn Ngọc

—————————————————————————————————————————————–

Thứ Hai, 24/10/2011, 14:31 (GMT+7)

Cuối năm 2011, nợ nước ngoài khoảng 41,5% GDP

* Cần đầu tư vùng kinh tế động lực

TTO – Sáng 24-10, 2011,  Quốc hội thảo luận ở tổ về tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2012.

>> Quốc hội thảo luận về kinh tế – xã hội

Miền Trung được xem là một trong những vùng kinh tế động lực. Trong ảnh: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi – Ảnh: KH.NGỌC

Tại đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, nhiều ý kiến đề nghị bên cạnh việc bảo đảm chi cho an sinh xã hội, cần quan tâm đầu tư cho các vùng kinh tế động lực có khả năng thu ngân sách lớn. Đại biểu Trần Hoàng Ngân nói: “Các đô thị lớn là nơi có khả năng đóng góp cho GDP, vì vậy cần có sự đầu tư thỏa đáng, từ đây mới có nguồn thu để thực hiện các nhu cầu chi khác”.

Đại biểu Đỗ Văn Đương cho rằng một trong những điều quan trọng nhất của chi tiêu ngân sách là “bỏ đồng tiền đúng địa chỉ để phát huy hiệu quả”.

Theo ông Đương, vừa qua có tình trạng nhiều sân bay, bến cảng rất ít máy bay, tàu thuyền qua lại, chợ xây xong không có người mua bán, làm đường rộng lớn nhưng không có người qua lại, trong khi đó “có những nút giao thông nhỏ ở thành phố gây ùn tắc lâu nay thì không được tháo gỡ, tạo nên điểm nghẽn trong phát triển”.

Đại biểu Trần Du Lịch đề nghị nên tránh cách phân bố ngân sách giống như: “Tôi có từng đó dầu, nếu cấp cho một chiếc tàu thì đủ chạy ra Côn Đảo, nhưng vì tôi có ba chiếc tàu nên phải cấp cho ba chiếc. Tàu nào cũng chạy nhưng không ra được đến Côn Đảo mà phải chờ năm sau được cấp dầu để chạy tiếp”.

Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải đặt vấn đề chi ngân sách năm 2012 cũng như năm năm 2011-2015 cần quán triệt và thể hiện được nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, trong đó có việc tái cấu trúc nền kinh tế. Trong cơ cấu chi ngân sách thì chi cho tái cấu trúc nền kinh tế chưa được làm rõ. “Chúng ta nêu quan điểm, chủ trương nhưng không thể hiện trong chi đầu tư này thì không ra vấn đề được. Muốn tái cấu trúc nền kinh tế thì phải có đầu tư và cơ chế chính sách đi kèm” – ông Lê Thanh Hải nói.

Chính phủ dự kiến mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2012 là 140.200 tỉ đồng (bằng 4,8% GDP), tuy nhiên ông Trần Hoàng Ngân cho rằng cần quyết liệt cắt giảm bội chi hơn nữa. Ông Ngân nói: “Bội chi ngân sách liên tục nhiều năm đã dẫn đến nợ công, trong đó có nợ nước ngoài ở mức báo động. Ước tính đến cuối năm 2011 nợ công54,6% GDP, nợ nước ngoài 41,5% GDP.

Nếu so với dự trữ ngoại hối của nước ta hiện nay thì nợ nước ngoài lớn hơn nhiều. Nhìn sang các nước trong khu vực, ví dụ như Thái Lan nợ công là 44,1% GDP, nhưng dự trữ ngoại hối của Thái Lan là 176 tỉ USD. Nhiều nước xuất siêu, nghĩa là có dư để trả nợ, còn mình nhập siêu liên tục. Do đó, Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục các chính sách để đảm bảo ổn định vĩ mô thật bền vững”.

V.V.THÀNH

Tập trung vào chất lượng đầu tư

Phát biểu tại tổ (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định), Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ nói: “Sở dĩ trong các năm 2010, 2011 nợ công tăng nhanh như vậy thì ngoài nhu cầu phải huy động vốn để phát triển kinh tế – xã hội còn có yếu tố về chênh lệch tỉ giá. Ví dụ năm 2011 khi chúng ta điều chỉnh tỉ giá thì có nghĩa là nợ nước ngoài cũng tăng lên như thế. Tức là không có một đồng ngoại tệ nào vay thêm thì bản thân tổng nợ công đã tăng.

Thứ hai nữa là bản thân mức GDP của chúng ta trong mấy năm vừa rồi không được như mong muốn. Nếu tổng GDP tăng khá thì tổng nợ trên GDP sẽ giảm. Nợ công của chúng ta hoàn toàn là để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta vay để tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng, ví dụ như quốc lộ 1A… Nhờ các khoản vay để đầu tư như vậy nên GDP năm năm vừa rồi chúng ta tăng cao. Tất nhiên là chúng ta nói tăng trưởng GDP dựa vào tăng trưởng vốn đầu tư.

Thế nên từ năm 2012 chúng ta mới xác định tập trung vào chất lượng đầu tư, năng suất lao động. Không phải là mình tự khen mình đâu, các tổ chức quốc tế như WB, IMF… họ nói riêng với mình, rồi nói trên các diễn đàn thông tin đại chúng rằng VN là một trong những nước sử dụng ODA tốt nhất thế giới.

Theo tính toán của Chính phủ thì nợ nước ngoài sau năm 2015 sẽ xuống mức 64 hoặc 63,5% GDP”.

L.KIÊN ghi

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/461911/Cuoi-nam-2011-no-nuoc-ngoai-khoang-415-GDP.html

                              —————————————————————————————

Ngân Sách

Duyệt chi 59.000 tỷ đồng để tăng lương năm 2012

Trích:

Cùng với việc nâng lương tối thiểu hơn 200.000 đồng theo đề xuất của Chính phủ, Quốc hội cũng chốt việc nâng phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức lên 25%. Lương hưutrợ cấp ưu đãi người có công cũng tăng bằng tốc độ tăng lương tối thiểu.

Ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng/903.100 tỷ đồng tổng chi ngân sách được duyệt cho năm sau. Tổng số thu cân đối ngân sách Quốc hội giao ở mức 740.500 tỷ đồng.

Hết trích.

-Tăng 200.000 đồng, làm gia tăng ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng. Vậy số người nhận được sự tăng lương là khoảng  24.708.334 người (?), bao gồm những  công nhân viên nhà nước có mức lương ít hơn 830 000 đồng tháng, những người lãnh lương hưu, và diện trợ cấp ưu đãi người có công) sẽ được hưởng thêm 200 000 đồng/ 1 tháng, hay 2.400.000 đồng/ 1 năm.

-Ngân sách 903.100 tỷ đồng cho năm 2012, với hối suất năm 2012 sẽ là 22000 đồng/ 1 đô la, ngân sách chính phủ là 41 tỷ đô la Mỹ.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | 1 Comment »

Ngân hàng VN: nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước

Posted by hoangtran204 trên 10/10/2011

Sau gần một năm đổ thừa cho các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là nguồn gốc gây ra bất ổn nền kinh tế, làm xáo trộn bất động sản, gây việc tăng lãi suất từ 14-22%, gây lạm phát (đồng tiền mất giá, vật giá leo thang)…để rồi có kế hoạch dẹp bớt các ngân hàng này.

(Trong thời gian qua, các ngân hàng TMCP tăng lãi suất lên 22% để thu hút người dân bỏ tiền vào ngân hàng, vì các ngân hàng cần có vốn đạt đủ mức 3000 tỉ để tiếp tục đăng ký hoạt động chiếu theo nghị định của chính phủ  141/2006. )

Nay có tin:

Nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã lên đến 75.000 tỷ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước” – ông Nghĩa nói.

Ngân hàng Việt Nam chỉ bảo hiểm 50 triệu đồng. Ai gởi vào ngân hàng dưới số tiền nầy (thí dụ gởi 30 triệu đồng) và sau đó nếu ngân hàng có bị sụp đổ, thì người ấy chỉ được bồi hoàn 30 triệu đồng. Có người khác gởi vào ngân hàng 80 triệu đồng, nếu ngân hàng này bị phá sản, thì người này chỉ được bồi hoàn 50 triệu, và mất trắng tay 30 triệu đồng. Có dư tiền, cứ  mua đô la Mỹ và vàng để giữ là an toàn.

********************************************

Sẽ mở sàn vàng quốc gia

Thứ Sáu, 07/10/2011

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng giải pháp kinh doanh vàng tài khoản sẽ rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá

Ngày 7-10 tại Hà Nội, đã diễn ra hội thảo về triển vọng thị trường chứng khoán Việt Nam.

Liên thông với thị trường quốc tế

Quan điểm chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) là chỉ cho phép một số NH có lựa chọn huy động vốn bằng vàng và NHNN sẽ quản lý số vàng này. NHNN cho phép các NH trên phát hành chứng chỉ vàng, chứng chỉ này được mua bán trên thị trường. NHNN cũng có thể trả phí nhất định để sử dụng vàng của các NH thương mại nhằm phục vụ mục đích dự trữ, can thiệp thị trường khi cần thiết.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết cơ quan này đang mắc kẹt với nhiệm vụ cân bằng giá vàng trong nước với quốc tế, trong khi không có nguồn vàng sản xuất trong nước.

Theo ông Nghĩa, giải pháp cho kinh doanh vàng tài khoản sẽ có hiệu ứng tốt, phù hợp xu thế hiện nay vì tạo được sự liên thông giữa thị trường vàng trong nước với thế giới một cách nhanh nhất, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giá.
Bên cạnh đó, cho mở lại vàng tài khoản cũng có nhiều lợi ích như không tốn thêm ngoại tệ cho việc nhập vàng nhưng vẫn có thể đáp ứng nhu cầu của dân; tiết kiệm được chi phí xã hội khi tận dụng nguồn lực vàng trong dân; triệt tiêu cơ hội làm giá, đầu cơ của giới kinh doanh vàng; hạn chế tình trạng nhập lậu vàng; kiểm soát được số lượng vàng xuất, nhập thông qua hạn mức giao dịch trên tài khoản…

“Lãnh đạo của NHNN đã trình bày các giải pháp trong đề án quản lý, kinh doanh vàng với Chính phủ. Theo đó, sẽ cho mở sàn vàng quốc gia để mua bán vàng chứng chỉ và vàng tài khoản” – ông Nghĩa nói.

Thanh lọc ngân hàng: Không dọa!

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết Chính phủ đã đồng ý với đề xuất của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia về việc lập kế hoạch tái cấu trúc hệ thống NH để có thể triển khai ngay trong những tháng cuối năm.
Nhiệm vụ này được xem là cấp thiết vì nợ xấu của hệ thống NH đã lên đến 75.000 tỉ đồng, vượt quá sức chịu đựng và can thiệp của ngân sách Nhà nước. Hiện nay, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đang gấp rút xây dựng đề án này” – ông Nghĩa nói.
Đây là đợt tái cấu trúc lần thứ 2 của hệ thống NH Việt Nam. Theo đề án của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, tái cấu trúc NH lần này vẫn như trước nhưng nhấn mạnh vấn đề giám sát và quản trị rủi ro.
Đây là điểm yếu nhất của hệ thống NH vì hiện nay, nhiều hệ thống giám sát rủi ro của các NH thương mại chỉ là “hàng mã”, lập ra để đối phó với quy định của NHNN.
NHNN chủ trương tăng trưởng tín dụng trong những năm tới không quá 20%, tổng phương tiện thanh toán không quá 16% nên chắc chắn các NH nhỏ sẽ gặp khó khăn và có nguy cơ lặp lại hiện tượng xé rào đi đêm lãi suất.
“Tôi đã đề nghị Chính phủ phải làm thật chứ không dọa. Muốn kinh tế đi lên vững chắc, dứt khoát phải có hệ thống NH sạch. Giai đoạn trước đã loại bỏ 16 NH yếu kém, lần này số lượng chắc chắn sẽ không dừng ở con số đó” – ông Nghĩa nói.

Ông Lê Xuân Nghĩa cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một NH trong khi luật chỉ cho phép 5%. “Việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra” – ông Nghĩa nói.

*

Khu vực ngân hàng đang yếu đi

TS Lê Xuân Nghĩa cho biết khu vực NH đang yếu đi với tỉ lệ nợ xấu tính đến hết tháng 6-2011 là 75.000 tỉ đồng, ở mức 3,13%, cao hơn nhiều so với mức 2,16% vào cuối năm 2010 và đang tiếp tục tăng nhanh.

Đáng lo ngại là nợ nhóm 5 (nợ mất vốn) chiếm tới 47%. Gần đây, NH có tổng tài sản lớn là NN-PTNT đã công bố số nợ xấu 6,7%, các NH lớn khác cũng đều báo cáo con số nợ xấu cao.*

                                                                          ***********************************************

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

29-7-2011

*TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng “các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống“. Hóa ra, lãi suất ngân hàng gia tăng tới 14% rồi 20% là do các ngân hàng thượng mại không có vốn( hay vốn ảo) đã cần tiền của người dân, nên đã nâng cao lãi suất.

Khi được hỏi: * Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay? ông Khiêm trả lời như sau

_Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm, hay làm nửa vời.

*Vốn ảo: vào tháng 10, 2011, “Ông (Nghĩa) cũng cho biết Thanh tra Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã nhận thấy có dấu hiệu vốn ảo, một cá nhân sở hữu đến 70% cổ phần tại một ngân hàng trong khi luật chỉ cho phép 5%. Theo ông Nghĩa, việc này vượt quá quyền hạn của thanh tra ủy ban nên sẽ đề nghị công an điều tra.”

*hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần 2010

—————

Không “nuông chiều” các ngân hàng yếu kém

Nguyễn Hoài

20-4-2010

Một chuyên gia nhận định, nếu thực hiện nghiêm Nghị định 141/CP thì qua 2010, chỉ còn 20 ngân hàng thương mại cổ phần được phép tồn tại với mức vốn điều lệ trên 3.000 tỷ đồng.

Đó là cơ hội tốt để gạt bỏ những cơ thể ốm yếu, nhưng liệu Nhà nước có “làm nghiêm”?

Tại hội thảo “Tái cấu trúc khu vực tài chính, ngân hàng sau khủng hoảng – Xu  thế thế giới và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” do Viện Kinh tế và Chính trị thế giới phối hợp với Thời báo Ngân hàng tổ chức tuần trước, các chuyên gia đã gióng lên những cảnh báo về nguy cơ gây mất an toàn hệ thống của những ngân hàng nhỏ, tiềm lực yếu nhưng không chịu sáp nhập hoặc mua bán lại (M&A).

Chỉ thích “riêng một góc trời”

Tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả (Bộ Tài chính), cho biết, tính đến tháng 3/2010, trong số 39 ngân hàng thương mại cổ phần, nếu xét theo quy mô vốn điều lệ thì có 21/39 ngân hàng thương mại cổ phần dưới 2.000 tỷ đồng; 30/39 dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9/39 có vốn trên 3.000 tỷ đồng.

Đứng đầu “câu lạc bộ trên 3.000 tỷ đồng” là Vietcombank với 12.100 tỷ đồng (650 triệu USD) nhưng có thể bị VietinBank “qua mặt” vì vốn điều lệ của ngân hàng này đang là 11.252 tỷ đồng và dự kiến hết 2010, VietinBank sẽ phát hành thêm 3 đợt, nâng vốn điều lệ lên mức 18.731 tỷ đến 19.833 tỷ đồng. Tiếp theo là Eximbank (8.800 tỷ đồng), ACB (7.814 tỷ đồng), Sacombank (6.700 tỷ đồng), LienVietBank (3.300 tỷ đồng)…

Tuy nhiên, nếu theo quy định tại Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 thì cả Vietcombank lẫn VietinBank không được xếp vào “nhóm cổ phần” vì nhà nước vẫn nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và số ngân hàng có mức vốn trên 3.000 tỷ đồng rất ít. “Rõ ràng, quy mô các ngân hàng thương mại cổ phần quá nhỏ bé trong khi số lượng lại tương đối nhiều so với quy mô nền kinh tế chỉ khoảng 100 tỷ USD của năm 2009”, ông Ánh nhận xét.

Trở lại với Nghị định 141/2006/NĐ-CP, ngay từ 2006, Nhà nước đã sớm nhìn thấy tình trạng “nhiều nhưng yếu” trong ngành ngân hàng nên đã đưa ra rào cản vốn điều lệ nhằm mục tiêu nâng cao tiềm lực tài chính cho số ngân hàng quy mô nhỏ.

Theo đó, hết năm 2008, các ngân hàng thương mại cổ phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, hết năm 2008, mới chỉ có 28 đơn vị vượt “ba rie” và có tới gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một năm so với quy định tại Nghị định 141.

Ngân hàng Nhà nước nói gì?

Đáng lẽ, về nguyên tắc, nếu không đảm bảo mức vốn này thì phải giải thể, hoặc thực hiện các thương vụ M&A, nhưng xem ra, điều này là chưa thể và cội nguồn của vấn đề lại xuất phát từ cả hai phía: ngân hàng và cơ quan quản lý.

Trước hết, quan điểm “riêng một góc trời” vẫn còn ngự trị rất lớn trong cách hành xử của nhiều ngân hàng. Điều này được nhận thấy rất rõ, hiện có gần 40 ngân hàng thương mại cổ phần nhưng yếu tố “ngoại” mới chỉ có ở một số ngân hàng như Techcombank, ABBank, SeABank…, trong khi chưa hề có một vụ M&A nào trong ngành ngân hàng trong nhiều năm gần đây.

Thứ hai là vấn đề liên quan đến trách nhiệm của cơ quan quản lý. Mặc dù gần 10 ngân hàng bị chậm trễ tăng vốn điều lệ theo lộ trình gần một năm như nói trên, nhưng cơ quan quản lý vẫn nương tay và liệu điều này có tiếp tục đối với mức vốn 3.000 tỷ đồng hay không thì vẫn là dấu hỏi.

Đem vấn đề này trao đổi với Ngân hàng Nhà nước, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu thẳng thắn: “Nếu không tăng được vốn theo quy định thì phải xử lý thôi, vì đã là pháp luật thì phải chấp hành. Ngân hàng Nhà nước sẽ có nhiều biện pháp xử lý theo pháp luật hiện hành và không nuông chiều những trường hợp này. Không phải khi giá cổ phiếu gấp 10 lần thì hăng hái nhảy vào lập ngân hàng, còn khi thị trường chững lại thì lại kêu khó”.

Một điểm đáng lưu ý khác, theo Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009 về “tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại” thì tỷ lệ góp vốn của thể nhân và pháp nhân lần lượt là 10% và 20% vốn điều lệ. Từ 2010, vốn điều lệ tối thiểu mỗi ngân hàng được nâng lên 3.000 tỷ đồng và có ý kiến rằng, nếu chất lượng hoạt động của một ngân hàng nào kém cỏi thì mức độ ảnh hưởng đến hệ thống sẽ rất khó lường.

Đã có một tình huống được giả định rằng, một “đại gia” nào đó gửi vốn cho các thể nhân đứng tên ở vài ba ngân hàng. Sau đó, “đại gia” này dùng các cổ đông “hờ” gây áp lực cho hội đồng quản trị và ban điều hành phải giải ngân cho các dự án của mình. Trong điều kiện thị trường ổn định thì có thể “chưa làm sao” nhưng chẳng may “đại gia” mất thanh khoản thì thử hỏi hậu họa sẽ như thế nào?

Cũng theo Thống đốc thì mức vốn góp theo Nghị định 59 sẽ giảm còn một nửa khi Luật Ngân hàng nhà nước và Luật Các tổ chức tín dụng được thực thi. Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ bắt buộc cổ đông ngân hàng phải chứng minh nguồn gốc vốn góp, thay vì chỉ chung chung “không vi phạm pháp luật” như lâu nay. Những cổ đông có tỷ lệ vốn góp nhiều hơn mức luật cho phép thì phải rút bớt hoặc sang nhượng lại.

Như vậy, mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ đồng, sự minh bạch và giảm tỷ lệ đối với nguồn vốn góp được coi là cơ hội tốt để nhà nước sàng lọc, loại bỏ những cơ thể ốm yếu trong hệ thống ngân hàng.

Nhưng giả sử, hết năm 2010, có ngân hàng không đủ khả năng tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng thì cơ quan quản lý có thêm một lần “nới tay” như năm ngoái?

———-

Ngân hàng yếu kém, xử lý thế nào?

4-10-2011

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng, để tái cấu trúc ngân hàng nên được bắt đầu từ việc thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

– Thưa ông, thực tế cho thấy hiện nay số lượng ngân hàng trong nước quá nhiều, trong đó nhiều ngân hàng năng lực yếu kém làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế?

Theo báo cáo của NHNN sau khi họp với 12 ngân hàng lớn cho biết, 12 ngân hàng này chiếm 85% tổng số tín dụng ở Việt Nam. Như vậy, còn khoảng hơn 30 ngân hàng Việt Nam và gần 50 ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam chỉ chiếm có 15% tổng dư nợ trên thị trường. Do vậy, có thể thấy, hơn 30 ngân hàng trong nước của chúng ta ở quy mô rất nhỏ.

Các ngân hàng nhỏ này do không huy động được nhiều vốn trong dân, buộc phải tìm cách đẩy lãi suất huy động lên để thu hút người gửi tiền. Vì ngân hàng này không có dịch vụ đặc biệt, không có phương pháp quản lý tốt cho khách hàng, nên đem lãi suất ra để làm dụng cụ huy động vốn. Do vậy, chính những ngân hàng nhỏ khởi động cho cuộc đua tăng lãi suất huy động. Ngân hàng lớn do lo sợ khách hàng rút vốn để gửi sang nơi có lãi suất cao hơn nên cũng phải tăng lãi suất để giữ khách hàng.

Việc cạnh tranh bằng lãi suất thế này sẽ khiến dòng vốn chạy vòng quanh, từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao rồi lại tiếp tục chạy sang nơi có lãi suất cao hơn nữa… chứ không có tác dụng huy động thêm được nguồn vốn trong nhân dân. Hậu quả là lãi suất cao đẩy chi phí, giá tiêu dùng lên, đẩy lạm phát lên… Đó là vấn đề ở Việt Nam, nó trái ngược với một số chuyên gia nước ngoài cho rằng, ở Việt Nam lạm phát cao nên phải đẩy lãi suất cao để kìm chế lạm phát. Theo tôi, chính lãi suất cao đã góp phần đẩy giá tiêu dùng tăng lên, làm tăng lạm phát.

– Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nên được xem xét bắt đầu từ đâu?

Trong số hơn 30 ngân hàng nhỏ cần sàng lọc ra ngân hàng nào quản lý tốt, ngân hàng nào quản lý không tốt. Nếu ngân hàng quản lý tốt, phải giúp đỡ cho họ lớn mạnh hơn về công nghệ, con người, năng lực quản lý… Vấn đề còn lại là những ngân hàng quản lý không tốt, cần phân tích xem không tốt chỗ nào? Ví dụ như cho vay bất động sản quá nhiều, gây rủi ro cao, thu hồi tiền không được, thiếu thanh khoản thanh toán cho các chủ tài khoản…

Ngay cả trường hợp một số ngân hàng chưa thể tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng cũng cần lưu ý, nếu như vận động ít rủi ro, thanh khoản tốt thì vẫn là ngân hàng hoạt động tốt, nhưng cho dù ngân hàng có vốn điều lệ 5.000 hay 6.000 tỷ đồng mà hoạt động nhiều rủi ro có thể đi đến tình trạng không đủ thanh khoản để giải quyết hoạt động thì vẫn nguy hiểm như thường. Cho nên cần phải thanh lọc những ngân hàng quản lý rủi ro không tốt.

Vậy với những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, quản lý rủi ro không tốt nên tái cấu trúc lại theo hướng nào?

NHNN cần phải tăng cường thanh kiểm tra xem ngân hàng nào khó khăn đến đâu để có hướng giải quyết đến đó.

Trước hết, cần giải quyết với những ngân hàng không có khả năng để thu hồi nợ. Tôi được biết, các nước trên thế giới, trong khi thanh tra, kiểm tra phát hiện ngân hàng đang đứng trên bờ phá sản, không đủ thanh khoản để giải quyết vấn đề hoạt động hàng ngày, ví dụ như ở Mỹ, ngân hàng trung ương đến đóng cửa ngân hàng và cơ quan bảo hiểm tài khoản sẽ trả cho mỗi chủ tài khoản 200.000 USD. Ở Việt Nam thì mỗi chủ tài khoản được chi trả 50 triệu đồng. Trường hợp này, NHNN là cơ quan quản lý nhà nước áp dụng luật bảo hiểm ngân hàng để thanh toán cho các chủ tài khoản được bảo hiểm theo luật pháp.

Nếu ngân hàng nhỏ cho những nhà vay nợ có đủ tài sản và có khả năng thanh toán được, nhưng tạm thời không có tiền mặt thì NHNN có thể cho ngân hàng nhỏ này vay tiền để giải quyết thanh khoản. Sau này, những khoản nợ thu lại được đem trả lại cho Nhà nước.

Để tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng, giải pháp cho ngân hàng nhỏ sát nhập với các ngân hàng lớn có là giải pháp khả thi?

Việc để các ngân hàng nhỏ sát nhập vào ngân hàng lớn không phải là điều dễ làm. Các ngân hàng lớn nếu muốn sát nhập các ngân hàng nhỏ thì cũng sẽ lựa chọn những ngân hàng đang hoạt động tốt để sát nhập. Họ không việc gì phải sát nhập những ngân hàng đang ở mức nguy hiểm để mang cục nợ vào mình. Bởi sát nhập những ngân hàng này nghĩa là ngân hàng lớn phải lãnh cả những khoản nợ khó đòi và nợ xấu của ngân hàng nhỏ. Cho nên, rất khó để nói đến vấn đề sát nhập đối với các ngân hàng đang ở mức nguy hiểm vào ngân hàng lớn đang hoạt động tốt.

Trường hợp phải sát nhập là các ngân hàng nhỏ không còn con đường nào khác, nếu không sát nhập thì cũng tự chết. Lúc đó, các ngân hàng đang hoạt động xấu thương lượng với các ngân hàng lớn khác, nhưng sẽ là với mức giá thực chất hiện tại. Ví dụ như ngân hàng này có vốn là 5.000 tỷ nhưng cho vay không đòi được, nợ xấu… chỉ còn đáng giá vài tỷ đồng thôi. Hoặc không muốn bị hậu quả về hình sự trong khi hoạt động có sai phạm…  lúc đó thương lượng với ngân hàng lớn, nếu có lợi thì có thể các ngân hàng lớn có thể sát nhập theo hướng có lợi cho mình.

Thưa ông, vậy thì có nên để các ngân hàng nhỏ sát nhập lại với nhau?

Hiện nay, chúng ta đang có hơn 30 ngân hàng nhỏ, nếu ngân hàng nào tự đứng một mình phát triển được thì cứ tự đứng mà phát triển. Còn nếu các ngân hàng nhỏ, mặc dù hoạt động còn tốt nhưng lường trước những khó khăn sắp tới có thể hội nhau lại tạo thành lực lượng mạnh hơn thì cũng nên sát nhập với nhau.

Tuy nhiên, những ngân hàng đang khó khăn, ốm yếu như nhau mà lại sát nhập với nhau thì lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, vấn đề này, NHNN cần phải có sự thanh tra, giám sát khách quan, nếu ngân hàng nào không thể hoạt động được nữa thì không nên để tồn tại làm ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Còn những trường hợp ngân hàng sát nhập lại mà có thể mạnh hơn thì NHNN cần có sự tư vấn, giúp đỡ cho các ngân hàng này sát nhập.

Theo tôi, có một số ngân hàng cần phải ngồi với nhau bàn bạc xem nợ xấu, nợ tốt sau khi cân đối có còn sống được hay không? NHNN sẽ là người tư vấn cho nhóm ngân hàng đó nhập lại với nhau, xem xét xem nhiều chi nhánh quá thì bỏ bớt, nhiều nhân viên quá thì giảm bớt nhân viên, nhiều nợ xấu quá thì tìm cách đòi. Trong lộ trình 5 năm, 10 năm, nếu ngân hàng mới này thiếu thanh khoản nhưng vấn có nợ tốt thì NHNN có thể cho vay thanh khoản để hoạt động…

Có ý kiến cho rằng, NHNN có thể bỏ vốn mua cổ phần của ngân hàng nhỏ đang trong tình trạng nguy hiểm để nắm quyền quản lý?

Tôi cho rằng, NHNN không nên mua lại các ngân hàng kiểu này. Bởi không việc gì NHNN phải bỏ vốn ra để mua ngân hàng yếu. NHNN nên đi giám sát “sức khỏe” của các ngân hàng thương mại. Nếu ngân hàng nào yếu kém thì NHNN có biện pháp xử lý  theo luật định để giúp các ngân hàng trở nên mạnh khỏe. Còn nếu ngân hàng quá yếu kém không “cứu chữa” được thì NHNN xử lý theo theo cách cho phá sản, đóng cửa…

Xin cảm ơn ông!

————————

Mạnh tay loại bỏ ngân hàng yếu kém

Thứ Sáu, 29/07/2011

TS Cao Sỹ Kiêm, đại biểu Quốc hội, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, cho rằng các ngân hàng thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống

* Phóng viên: Ông bình luận gì trước đánh giá rằng hệ thống ngân hàng (NH) thương mại đang đối diện với nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro nợ xấu, rủi ro chéo… trong 10 kiến nghị ổn định kinh tế vĩ mô mà Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (QH) khóa XII gửi QH khóa XIII?– TS Cao Sỹ Kiêm: Đúng là có hiện tượng này nhưng không phải tất cả các NH đều như vậy. Những rủi ro này chủ yếu rơi vào các NH mới, phát triển nghiệp vụ chưa cao và công nghệ kém, chất lượng và nguồn lực thấp… Khả năng huy động và sử dụng vốn kém sẽ làm cho thanh khoản luôn báo động và khi ra thị trường vốn sẽ làm rối loạn thị trường này. Những rủi ro trên chưa tới mức báo động nhưng đối với một số NH thương mại là thật sự khó khăn. Hiện có khoảng 7-8 NH luôn trong tình trạng khó khăn, nếu không được củng cố kịp thời sẽ rất phức tạp.

Kiến nghị mạnh tay loại bỏ những NH thương mại yếu kém của Ủy ban Kinh tế của QH khóa XII là chuẩn xác. Trong kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế cũng có nội dung sắp xếp lại hệ thống ngân hàng, đặc biệt là với những NH thương mại thời gian vừa qua đã bộc lộ khả năng yếu kém. Việc sắp xếp lại này vừa bảo đảm sự lành mạnh của từng NH, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa NH với các lĩnh vực trong thị trường vốn như thị trường bất động sản, chứng khoán, các nghiệp vụ tiền gửi… để bảo đảm sự an toàn của hoạt động hệ thống.

* Ông có cho rằng các NH thương mại yếu kém là tác nhân gây ra cuộc đua lãi suất và bất ổn trên toàn hệ thống hiện nay?

– Đúng vậy. Đua lãi suất phần lớn do các NH đua với nhau chứ bên ngoài làm sao có thể đua được. Khi các NH thương mại yếu kém sẽ dẫn tới mất khả năng thanh khoản. Khi mất thanh khoản lại bị khống chế bởi mức dự trữ bắt buộc thì những NH này không còn cách nào là phải ra thị trường huy động. Huy động vốn bằng bất cứ giá nào sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, dẫn tới cuộc đua lãi suất tiền gửi thời gian qua.

* Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nếu loại bỏ những NH thương mại yếu kém có thể dẫn tới phản ứng dây chuyền?

– Mỗi NH yếu kém phải có cách xử lý khác nhau. Như vậy sẽ không xảy ra phản ứng dây chuyền mà còn làm cho hệ thống NH lành mạnh hơn. Muốn vậy, cần tiến hành rà soát lại toàn hệ thống, để nếu NH nào yếu thì có sự trợ giúp; NH nào yếu kém quá, mất khả năng thanh toán lâu dài thì cũng cần sắp xếp lại, thậm chí phải xóa sổ.

* Ông nghĩ sao trước ý kiến cho rằng quy mô nền kinh tế nước ta còn nhỏ nhưng có quá nhiều NH thương mại ?

– Số lượng NH hiện nay so với yêu cầu nền kinh tế và sự phát triển chưa phải là nhiều. Tuy nhiên, điều quan trọng là chất lượng phục vụ, như chất lượng tín dụng, chất lượng thanh toán và tính an toàn chưa cao, vốn cũng chưa lớn. Cần sắp xếp lại hệ thống NH để giảm thiểu tối đa rủi ro và đủ sức cạnh tranh.

* Theo ông, NH Nhà nước đã đủ mạnh tay để loại bỏ những NH thương mại yếu kém?

– Đã làm đâu mà biết mạnh tay hay không! Muốn NH hoạt động có kỷ cương cần phải làm rõ ràng và dứt khoát, không thể nói mà không làm hay làm nửa vời.

Phạm Dương (thực hiện)

—————–

trích bài báo dưới đây:

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của DNNN còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

 

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước (tác giả Vũ Thành Tự An) Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

 

 

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

 

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

Posted in Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ công và Nợ doanh nghiệp | Leave a Comment »