Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh’ Category

►Vì sao ông Đinh La Thăng bị kỷ luật? Bị đuổi khỏi Bộ chính trị- Giá dầu hạ thấp chỉ còn 1/2

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2017

(Chuyện Dầu Khí thua lỗ, ai cũng biết, nhưng bây giờ mới khui ra và kỷ luật là lý do tại sao? Có đòi lại được nhiều tỷ đô la bị mất mát thua lỗ không?
Do giá dầu hiện nay chỉ còn $47 đô la một thùng, so với giá dầu (100-147 đô la) thời Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Xuân Sơn và Phùng Đình Thực làm, nên nhóm cầm quyền dầu khí PVN mới lên 2016 đã không có đủ tiền chung chi tiền bán dầu cho cấp trên; bị chất vấn, chúng đưa ra chuyện tiền bạc bị mất mát hồi trước 2016!
Tính theo tổng doanh thu, thời  Đinh La Thăng làm xếp PVN 2006-2011,
Sau khi loại Thăng, 18 ủy viên Bộ chính trị còn lại đang tìm cách nói xấu và loại nhau để ngoi lên. 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Năng Lượng và Mỏ, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Nợ, trả nợ, và khủng hoảng-Nợ Chính Phủ và nợ doanh nghiệp: 455 tỷ USD hay 210% GDP

Posted by hoangtran204 trên 03/03/2017

Cả 2 loại nợ cộng lại 455 tỷ USD, hơn 200% GDP 2016:

-nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.

-năm 2016, nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP.

Nợ, trả nợ và khủng hoảng

09/02/2017 | 11:33

Vũ Quang Việt*

Đọc tiếp »

Posted in Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►”Nhóm cá mập” Bộ Công Thương tiếp tục hoành hành tàn phá đất nước (vị Thái tử đảng, con trai Trần Đức Lương)

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2016

Nhóm cá mập’ Bộ Công Thương tiếp tục hoành hành

Blog VOA 

22.10.2016
Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (giữa) tại lễ đón Thủ tướng Lào tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, ngày 15/5/2016.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (giữa) tại lễ đón Thủ tướng Lào tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, ngày 15/5/2016.

Chỉ “nghỉ xả hơi” khoảng 5 tháng sau Đại hội XII và giữa hai lần bầu bán cùng tuyên thệ không mệt mỏi của “tam trụ”, nhóm lợi ích Bộ Công Thương lại quẫy đạp đùng đùng khiến dư luận xã hội phải liên tưởng đến hình ảnh hàm răng sắc nhọn đặc biệt của loài cá mập trắng ăn thịt người ở vùng biển Caribê.

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nhan Vat Chinh tri, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, tư bản đỏ, lưu manh đỏ, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài Chính vay nóng 30 ngàn tỷ

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2015

Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính vay nóng 30 ngàn tỷ

3-10-2015

Vietnamnet

– Đại diện Bộ Tài chính vừa cho biết, khoản vay 30.000 tỷ đồng cho ngân sách từ Ngân hàng Nhà nước đã được hoàn thành và hiện, đã được chuyển vào Kho bạc Nhà nước.

Ông Đào Xuân Tuế, Phó Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước (Bộ Tài chính) cho biết như vậy tại cuộc họp báo thường kỳ quý III của Bộ Tài chính chiều 2/10.

Ông Tuế nói rằng, khoản vay này là ngắn hạn, nhằm xử lý các vấn đề về thanh khoản ngân sách và sẽ được Bộ Tài chính trả Ngân hàng Nhà nước đúng hạn vào cuối năm nay.

Trước đó, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng khẳng định, phía NHNN xem xét đề nghị vay của Bộ Tài chính là trên cơ sở mục tiêu chung ổn định kinh tế vĩ mô.

Cuối tháng 7, đầu tháng 8, thông tin Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước ứng cho vay 30.000 tỷ cho ngân sách đã làm dấy lên trong dư luận nhiều dấu hỏi về sự khó khăn, hụt thu của Ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, thứ trưởng Huỳnh Quang Hải của bộ này ngay sau đó đã phủ nhận ngân sách khó khăn và cho rằng, việc vay mượn này là bình thường, chỉ là vấn đề kỹ thuật.

Trên thực tế, ngoài khoản vay 30.000 tỷ trên, Bộ Tài chính đang phải chật vật huy động nguồn khác mà chưa đạt kế hoạch như đề nghị quay trở lại phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dưới 5 năm, mở room cho các công ty bảo hiểm kỳ hạn 20 năm, phát hành thêm tín phiếu 20.000 tỷ đồng, vay quỹ bảo hiểm xã hội…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính quý III, tốc độ chi ngân sách vẫn lớn hơn tốc độ thu ngân sách.

Trong 9 tháng qua, tổng thu ngân sách đạt 683 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán, tăng 7% so với cùng kỳ.

Chi ngân sách 9 tháng là 823,97 nghìn tỷ đồng, bằng 71,8% dự toán và tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong đó, ngân sách đã trả các khoản nợ và trả viện trợ là gần 115 nghìn tỷ đồng, bằng 18% tổng thu ngân sách.

Như vậy, bội chi ngân sách đang ở mức hơn 140 nghìn tỷ đồng, gần xấp xỉ 62,4% dự toán năm.

Phạm Huyền

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►119 trong tổng số 781 doanh nghiệp quốc doanh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, đang mắc nợ: 1.567.063 tỷ đồng

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2015

Đây là số tiền cực lớn, nhưng mới chỉ thống kê được mỗi 119 doanh nghiệp trong tổng số 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”

http://vef.vn/2015/11/27/vi-sao-662-…cao-tai-chinh/

 

Vì sao 662 doanh nghiệp nhà nước không báo cáo tài chính?

27-11-2015

Vì sao cả nước có 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà báo cáo về công nợ do Bộ Tài chính công bố chỉ đề cập vỏn vẹn 119 doanh nghiệp trong số đó?

Báo cáo mang tên “Tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2014 của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước” do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng ký gửi Quốc hội là một tài liệu quan trọng.

Một mặt, văn bản này là để thực hiện một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, và Nghị quyết số 42/2009/QH12 của Quốc hội về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Mặt khác, văn bản này được coi như một cơ sở giúp Quốc hội thực thi chức năng giám sát đối với nguồn lực khổng lồ đang được khu vực kinh tế này nắm giữ. Đây là điều7phải làm, và làm cho nghiêm túc ở tầm vĩ mô.

Tuy nhiên, báo cáo – sau khi cho biết rất nhiều số liệu về tài sản, nợ, vốn, tình hình kinh doanh,… của nhiều DNNN – thừa nhận một thực tế đáng phải suy nghĩ: “Nhiều DNNN chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, giám sát doanh nghiệp với cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan tài chính theo quy định; do đó việc tổng hợp báo cáo Chính phủ, Quốc hội về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi cả nước còn nhiều khó khăn.”

Thừa nhận này, dù chỉ vài dòng ngắn ngủi trong báo cáo, cho thấy tình trạng đáng lo ngại: những DNNN không nộp báo cáo chẳng coi trọng cơ quan đại diện chủ sở hữu, và các cơ quan nhà nước khác; và mặt khác, chính các cơ quan đại diện chủ sở hữu, và các cơ quan nhà nước liên quan đang lơ là chức năng nhà nước của mình.

Nhận định trên là có cơ sở: việc báo cáo lẽ ra phải được thực hiện rất nghiêm túc, đầy đủ để phục vụ giải trình của Chính phủ với Quốc hội.

Từ đây có hàng loạt câu hỏi: vì sao các DNNN đó không báo cáo? Họ đã làm ăn thua lỗ nên giấu nợ? Họ không chịu trách nhiệm với số vốn được giao quản lý?

Còn các cơ quan nhà nước liên quan vì sao không có biện pháp gì khi không nhận được báo cáo? Họ vô trách nhiệm, hay có thông đồng với doanh nghiệp?

Chính vì sự không nghiêm túc đó làm nảy sinh nhiều lo ngại xung quanh hoạt động của khu vực doanh nghiệp này.

Chẳng hạn, theo báo cáo, tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2014, có 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Tuy nhiên, báo cáo chỉ nêu thực trạng tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 119 doanh nghiệp trong số đó.

Thực trạng của 119 doanh nghiệp này như sau: tổng số nợ phải trả là 1.567.063 tỷ đồng, tổng nợ phải thu là 293.617 tỷ đồng, tổng số hàng tồn kho là 216.255 tỷ đồng. Đây là số tiền cực lớn, nhưng mới chỉ thống kê được mỗi 119 doanh nghiệp trong tổng số 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Vậy, những con số nợ phải thu, nợ phải trả, tồn kho, và nhiều số liệu tài chính khác của 662 doanh nghiệp còn lại là bao nhiêu?

Đó là chưa kể những số liệu còn thiếu và yếu trong các khu vực doanh nghiệp cổ phần, hay doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc các địa phương trong báo cáo.

Vì sao các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) “chưa thực hiện chế độ báo cáo” mà không ai bị khiển trách? Ai là người giám sát? Ai là người chịu trách nhiệm chính với đồng vốn mà trên nguyên tắc là của nhân dân?

Kỷ luật, kỷ cương của khu vực này cần phải siết chặt lại. Không thể kéo dài mãi tình trạng “lời ăn, lỗ dân chịu” của khu vực kinh tế này mà có chuyên gia nhận định.

Đã từng có hàng chục đoàn kiểm tra Vinashin, mà không phát hiện ra vấn đề để đến khi tập đoàn này bục ra thì tất cả mới té ngửa.

Việc giám sát các DNNN này không thể không rút ra bài học từ đó. Hơn ai hết, Quốc hội cần thực hiện chức năng giám sát tối cao của mình.

(Theo TBKTSG Online)

Posted in Kinh Te, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Sự thật về số liệu nợ công 66,4% GDP: 92 tỷ hay 110 tỷ đô la?

Posted by hoangtran204 trên 06/10/2015

Nam Nguyên, phóng viên RFA

3-10-2015

no-cong-10032015-622.jpg

Đồng hồ nợ công Thế Giới và Việt Nam hôm 03/10/2015.

Screen capture

Bộ Tài chính Việt Nam ngày 2/10/2015 phản bác số liệu nợ công 66,4% của năm 2014 vượt trần cho phép, do Bộ Kế hoạch đầu tư công bố trước đó. Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này qua ghi nhận ý kiến chuyên gia trong ngoài nước.

Nợ công quốc gia đã vượt mức báo động?

Học viện Chính sách và Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư vừa gây bất ngờ lớn khi tính toán nợ công bao gồm luôn các khoản nợ  của doanh nghiệp nhà nước và nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, trong khi theo qui định của Nhà nước nợ công quốc gia chỉ gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.

Được biết Quốc hội Việt Nam qui định trần nợ công là 65% GDP Tổng sản phẩm nội địa, nếu con số 66,4% là khả tín thì nợ công quốc gia đã vượt mức báo động. Cho tới nay Bộ Tài chính áp dụng cách tính nợ công hạn chế theo qui định Nhà nước, cho ra số liệu nợ công năm 2014 chỉ là 59,6% GDP. Trả lời Nam Nguyên sáng 2/10/2015, Tiến Sĩ Vũ Quang Việt nguyên Vụ trưởng tài khoản thống kê Liện Hiệp Quốc, từ New York nhận định:

Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những  doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm. Do đó nợ công không những phải tính nợ của chính phủ trung ương, nợ của chính quyền địa phương, nợ của doanh nghiệp nhà nước và đúng như bộ Kế hoạch Đầu tư họ nói là phải tính luôn nợ ở trong bảo hiểm xã hội nữa. Vì những người về hưu chính phủ nước nào cũng vậy có qui định người ta được hưởng bao nhiêu phần trăm lương của lương cuối cùng, tùy theo người ta làm bao nhiêu năm. Cái đó chính là nợ của nhà nước khi người ta về hưu phải trả. Hiện nay tình trạng của Việt Nam khả năng không trả được phải nói rất là lớn, mà càng ngày nó càng lớn hơn vì số người về hưu nhiều, tiền lương cao lên, số tiền người ta nhận được nhiều hơn; ngoài ra người ta còn sống già hơn trước kia nhiều. Cái đó là một phần lớn của số nợ và theo nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc thì tất cả những cái đó phải được tính vào nợ công hết.”

Theo báo chí Việt Nam hồi tháng 7 vừa qua, Ngân hàng Thế giới công bố nợ công của Việt Nam năm 2014 là 110 tỷ USD tương đương 59% GDP, xấp xỉ số liệu của Bộ Tài chính Việt Nam. Theo TS Vũ Quang Việt, người từng tham gia thiết lập chuẩn mực hệ thống tài khoản quốc gia cho Liên Hiệp Quốc, thì những chuẩn mực được qui định rất rõ ràng. Quĩ tiền tệ quốc tế IMF hay Ngân hàng thế giới World Bank đều hiểu rõ. Tuy nhiên các định chế này chấp nhận những báo cáo của chính phủ nước sở tại để công bố chính thức. Tuy nhiên họ cũng có thể có những tính toán khác dựa vào số liệu tự tìm hiểu, mặc dù không công bố cho công chúng biết. TS Vũ Quang Việt tiếp lời:

toan_canh_hop-bao-400.jpg
Trong cuộc họp báo chiều 1/10/2015 tại Hà Nội, Thứ trưởng Tài chính Vũ Thị Mai khẳng định thẩm quyền công bố số liệu nợ công thuộc về Bộ Tài chính và Bộ này tính toán nợ công quốc gia theo qui định hiện hành. Courtesy mof.gov.vn

“Đối với World Bank và IMF các nước nộp cái gì thì họ nhận cái đó thôi, giống như là khi tính GDP của Việt Nam hay GDP của Trung Quốc. Hệ thống tài khoản quốc gia đưa ra những chuẩn mực rất rõ ràng. Nhưng mà nhiều nước không theo thì Liên Hiệp Quốc, như trong trường hợp tôi có trách nhiệm tôi không được quyền tự sửa lại. Trong Liên Hiệp Quốc có hai phần, một phần tính toán do các nước nộp thì bắt buộc phải in ra; còn phần do nhân viên Liên Hiệp Quốc tự tính toán thì theo nguyên tắc khác. Thí dụ trường hợp Trung Quốc nếu mình tính lại thì có thể tốc độ tăng GDP của họ thấp hơn điều họ nói ra và tại sao chúng tôi có thể giải thích được…Nhưng về chuyên môn về pháp luật mình không được quyền đưa ra cái đó để tính thay thế con số của Trung Quốc. Các cơ quan quốc tế không có quyền làm việc này…. Trong trường hợp này về mặt nợ cũng vậy World Bank và IMF họ cũng in ra số liệu mà Việt Nam đưa cho họ thôi…trừ trường hợp họ thấy rất là sai…thì họ quyết định không in ra và họ có quyền làm việc này.”

Ít nhất đã có một én xuất hiện

Trong cuộc họp báo chiều 1/10/2015 tại Hà Nội, Thứ trưởng Tài chính Vũ Thị Mai khẳng định thẩm quyền công bố số liệu nợ công thuộc về Bộ Tài chính và Bộ này tính toán nợ công quốc gia theo qui định hiện hành. Đó là chỉ gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Bà Thứ trưởng Tài chính lập đi lập lại cách tính của Bộ Kế hoạch Đầu tư là không đúng qui định.

Như vậy đã rõ ràng nợ công của Việt Nam theo qui định hiện hành là chưa thể hiện thật đầy đủ các món nợ mang tính chất nợ công. Thật ra các chuyên gia cho rằng, xác định nợ công đã vượt trần cho phép cũng chưa phải là điều quan trọng nhất, vì nhiều nước phát triển có mức nợ công quốc gia cao hơn GDP tới vài lần như Nhật 400%, Hoa Kỳ 260%.  Điều hệ trọng là khả năng trả nợ và câu hỏi đặt ra là tình hình của Việt Nam hiện nay ra sao.

Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.
-Ngô Trí Long

TS Vũ Quang Việt phân tích:

“Hiện nay Việt nam chưa gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ, hầu hết các khoản nợ đó là nợ chính phủ, nợ các tổ chức quốc tế với lãi suất thấp. Nhưng nếu tính thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước thì vấn đề sẽ gặp khó khăn mà đã từng khó khăn rồi như Vinashin đã không trả nợ được và nếu nợ ngày càng tăng là vấn đề khó. Thứ hai nữa như hiện tại giá trị của đồng tiền Việt và đặc biệt Việt Nam muốn phá giá lớn để có thể xuất khẩu được. Phá giá như vậy khả năng trả nợ sẽ giảm hẳn đi, vì phải trả nhiều hơn bằng đồng VN và như vậy họ có thể không có khả năng trả nợ nữa. Số nợ hàng năm phải trả có thể hơn 20% ngân sách quốc gia, nợ càng tăng lại phá giá đồng bạc nữa thì mất khả năng trả nợ là có.”

Tại Việt Nam, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long từng nhiều lần đề cập tới khả năng trả nợ của Việt Nam mà ông nói là quá nhiều ẩn số. Trong dịp trả lời chúng tôi Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định:

“Hiện nay thu nhập của Việt Nam phần ngân sách luôn luôn mất cân đối, thực chất làm ăn không có hiệu quả. Ví dụ trong thu ngân sách thì 75% là thu để chi còn lại là để trả nợ, như vậy thực chất không có đầu tư. Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.”

Bộ Kế hoạch Đầu tư được cho là đã làm một cuộc cách mạng khi phê phán phạm vi xác định nợ công theo Luật Quản lý nợ công hiện hành tồn tại một số bất cập và chưa tính đầy đủ nhiều khoản có bản chất là nợ công. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh được báo chí mô tả là cấp tiến và thẳng thắn, từng nói thẳng Việt Nam theo đuổi mô hình không có thật là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu ‘một con én không làm nên mùa xuân’, nhưng giới học giả trí thức từng nói rằng, ít nhất đã có một én xuất hiện chờ báo hiệu mùa xuân sắp về.

không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.
-Ngô Trí Long

TS Vũ Quang Việt phân tích:

“Hiện nay Việt nam chưa gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ, hầu hết các khoản nợ đó là nợ chính phủ, nợ các tổ chức quốc tế với lãi suất thấp. Nhưng nếu tính thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước thì vấn đề sẽ gặp khó khăn mà đã từng khó khăn rồi như Vinashin đã không trả nợ được và nếu nợ ngày càng tăng là vấn đề khó. Thứ hai nữa như hiện tại giá trị của đồng tiền Việt và đặc biệt Việt Nam muốn phá giá lớn để có thể xuất khẩu được. Phá giá như vậy khả năng trả nợ sẽ giảm hẳn đi, vì phải trả nhiều hơn bằng đồng VN và như vậy họ có thể không có khả năng trả nợ nữa. Số nợ hàng năm phải trả có thể hơn 20% ngân sách quốc gia, nợ càng tăng lại phá giá đồng bạc nữa thì mất khả năng trả nợ là có.”

Tại Việt Nam, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long từng nhiều lần đề cập tới khả năng trả nợ của Việt Nam mà ông nói là quá nhiều ẩn số. Trong dịp trả lời chúng tôi Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định:

“Hiện nay thu nhập của Việt Nam phần ngân sách luôn luôn mất cân đối, thực chất làm ăn không có hiệu quả. Ví dụ trong thu ngân sách thì 75% là thu để chi còn lại là để trả nợ, như vậy thực chất không có đầu tư. Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.”

Bộ Kế hoạch Đầu tư được cho là đã làm một cuộc cách mạng khi phê phán phạm vi xác định nợ công theo Luật Quản lý nợ công hiện hành tồn tại một số bất cập và chưa tính đầy đủ nhiều khoản có bản chất là nợ công. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh được báo chí mô tả là cấp tiến và thẳng thắn, từng nói thẳng Việt Nam theo đuổi mô hình không có thật là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu ‘một con én không làm nên mùa xuân’, nhưng giới học giả trí thức từng nói rằng, ít nhất đã có một én xuất hiện chờ báo hiệu mùa xuân sắp về.

RFA tiếng Việt

 

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nợ của Việt Nam, Tài Chánh-Thuế, Thời Sự | Leave a Comment »

►Năm 2013, Lương và tiền thưởng là 700 triệu/ 1 năm cho 16 Cán Bộ đảng viên lãnh đạo Tập Đoàn Than và Khoáng Sản

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2014

Trong khi lương của công nhân trung bình 3- 6 triệu mỗi tháng và Tập đoàn Than Khoáng Sản và EVN là 2 con nợ lớn nhất VN tính tới cuối năm 2012.  Theo tổng kết mới nhất trong dịp cuối năm 2012, tập đoàn Than Khoáng Sản gọi tắt TKV đã công bố món nợ của tập đoàn này lên tới 25 ngàn tỷ tương đương với 1 tỷ 200 triệu đô la. Trong khi đó Tập đoàn điện lực Việt Nam gọi tắt EVN có số nợ còn lớn hơn, đó là 52.000 tỷ tương đương 2 tỷ rưỡi đô la. (Nguồn RFA Tiếng Việt, 12-1-2013)

Mức lương của thủ tướng VN được tính là 17 triệu đồng/ 1 tháng)

Chủ Tịch Tập Đoàn Than và Khoáng Sản lương thưởng gần 700 triệu / 1 năm 

29-10-2014

Ông Trần Xuân Hòa – Chủ tịch Tập đoàn Than- Khoáng mỗi tháng nhận 56,56 triệu đồng tiền lương và thưởng. Tính cả năm 2013, ông Hòa nhận được 678,72 triệu đồng.

Ngày 28/10, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin – TKV) đã có Báo cáo tiền lương, tiền thưởng bình quân năm 2013 của 7  Hội đồng thành viên, và 9 nguời trong ban giám đốc gồm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng.

Theo bảng lương được công bố này, người được nhận mức lương “khủng” nhất của tập đoàn là ông Trần Xuân Hòa, CTHĐTV của tập đoàn.

kinh-doanh, thị-trường, tài-chính, mức-lương, lãnh-đạo, Vinacomin
Bảng lương lãnh đạo TKV.

Theo đó, ông Hòa nhận mức lương 53,425 triệu đồng/tháng. Hàng tháng, số tiền thưởng ông nhận được là 3,125 triệu đồng. Như vậy, mỗi tháng ông Hòa nhận từ Vinacomin là 56,56 triệu đồng. Tính toàn năm 2013, ông nhận được 678,72 triệu đồng.

Vị trí thứ 2 là ông Lê Minh Chuẩn, Tổng Giám đốc. Ông Chuẩn có mức lương 52,2 triệu đồng/tháng và tiền thưởng bình quân 3 triệu đồng/tháng. Các vị trí khác trong HĐTV có mức lương dao động từ 47,810 triệu đồng – 48,534 triệu đồng/tháng.

Các Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng của Tập đoàn nhận lương từ 43,020 triệu đồng/tháng – 47,810 triệu đồng/tháng. Mức thưởng đạt từ 2,525 triệu đồng/ tháng – 2,808 triệu đồng/tháng.

PV

 

—————–

Năm sau cao hơn năm trước, nợ công của VN vẫn chồng chất. Chủ tịch nước qua Ấn Độ mượn tiền.

Thứ hai, 15/9/2014  

Ấn Độ cho Việt Nam mượn 100 triệu đô la

Báo vnexpress.net

Ấn Độ ký kết bản ghi nhớ về hạn mức tín dụng 100 triệu USD cho Việt Nam và nhấn mạnh rằng hợp tác quốc phòng là một trong những trụ cột của quan hệ hai nước, nhân chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee.

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ 62 tỷ 400 triệu đô la

Posted by hoangtran204 trên 17/11/2012

Nước Việt Nam không may đã bị cộng sản cai trị. Các lãnh đạo của đảng học hành rất kém, từ ông HCM cho đến nay là Nguyễn Tấn Dũng không ai học quá lớp 6. Lê Duẩn chỉ học lớp 3, Lê Đức Thọ thì không bao giờ công bố trình độ học vấn, Lê Đức Anh chỉ học tiểu học, Đỗ Mười lớp 5…Bởi vậy, từ 1954 cho đến nay, họ chỉ biết nhận viện trợ và đi vay mượn nước ngoài để sinh sống, và không đủ tài điều hành nền kinh tế. Tất cả đường sá, công trình công cộng hiện nay mà ta nhìn thấy là do các nước cho vay, và thực hiện công trình xây dựng. Số tiền vay mượn rất lớn như trong 2 bài dưới đây nhắc tới, nhưng số công trình xây dựng có được rất là ít. 

Tuy nợ nhiều như thế, và hàng năm vẫn tiếp tục thua lỗ, có năm 2011, 81 trong tổng số 91 tập đoàn và tổng công ty đều thua lỗ – 10 tập đoàn còn lại  lấy cớ chưa kiểm toán xong nên chưa kịp báo cáo-,  nhưng đảng vẫn chủ trương: kinh tế quốc doanh tiếp tục đóng vai trò chủ đạo! 

Thật ra, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là nơi làm việc của con cháu và phe đảng của bọn 14 đảng viên cao cấp trong bộ chính trị và 175 ủy ban trung ương đảng. Đây là các công ty để bọn này ăn chia và đục khoét tiền thuế của người dân, và đánh cắp các tài nguyên dầu hỏa, than đá,…và bán cho nước ngoài. Tiền đô la chúng thu được thì để dành chia nhau hưởng. Giá in một tờ giấy bạc polymer 500.000 đồng  là 5-6 cents, chỉ cần in 4 tờ giấy bạc 500.000 đồng, giá vốn chưa tới 25 xu hay 1/4 của 1 đô la, là các ngân hàng đổi lấy được 100 đô la của dân chúng. Lời chán. Cũng vì thế mà đồng tiền VN mất giá hàng năm. Chúng cũng in tiền polymer  ra để mua vàng, đẩy giá vàng lên cao ngất ngưỡng.

91 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh này chiếm hết tất cả các ngành nghề có ăn nhất, dễ kiếm tiền nhất trong nền kinh tế. Thậm chí các tập đoàn như PVN chỉ cần bơm dầu ở dưới đất lên và chở qua Nhật, Singapore, Nam Dương, Trung Quốc, Mã Lai để bán, mà cũng báo cáo thua lỗ. Tập đoàn Than và Khoáng Sản chỉ có đào than lên bán cho Trung Quốc mà cũng báo cáo là thua lỗ. Công ty Điện lực VN (EVN) chỉ bán điện mà cũng thua lỗ…tất cả công ty nào cũng báo cáo thua lỗ năm này qua năm khác, nhưng tiền thưởng hàng năm mà họ chia nhau vào dịp Tết thì dân chúng phát thèm.  

……………Cập nhật 23-11-2013

 »

Tập đoàn tổng công ty đang nợ 1,3 triệu tỷ đồng hay 65 tỷ USD  (16-1-2013)

>> Năm nay 2014 Việt Nam sẽ trả bao nhiêu nợ? 208.883 tỷ đồng

>>Năm nay Việt Nam sẽ vay bao nhiêu nợ? 6,3 tỷ USD cộng thêm tiền phát hành công khố phiếu bán cho nước ngoài

 

Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ gần 1,3 triệu tỷ đồng

Theo VnEconomy

16-11-2012

Nhiều con số đáng chú ý về tình trạng nợ nần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ “tiết lộ”.

Tại văn bản chất vấn gửi đến Bộ trưởng, bên cạnh tình hình nợ trong, ngoài nước của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, đại biểu Quốc hội còn muốn biết Nhà nước có phải dùng ngân sách hàng năm để trả nợ thay cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hay không, nếu có là bao nhiêu?

Tính đến thời điểm 31/12/2011, văn bản trả lời chất vấn cho hay tổng số nợ phải trả của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với 2010. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần.

Đặc biệt, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó có 8 đơn vị có tỷ lệ trên 10 lần, 10 doanh nghiệp từ 5 – 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3 – 5 lần.
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản theo báo cáo hợp nhất là 0,34 lần, tổng nợ phải trả/tổng nguồn vốn bình quân tính theo số liệu báo cáo hợp nhất là 0,62 lần.

Với tổng tài sản/tổng nợ phải trả, theo báo cáo hợp nhất bình quân năm 2011 là 1,62 lần, theo Bộ trưởng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay, dẫn đến chi phí tài chính lớn và khả năng thanh toán nợ đến hạn thấp.

Cụ thể hơn, ông Huệ cho biết, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang nợ quá hạn 10.149 tỷ đồng. Văn bản trả lời mở ngoặc đơn giải thích rằng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện khoanh nợ khoản tiền mua điện của Petro Vietnam.

Trong khi đó, Tập đoàn Dầu khí vẫn đang nợ quá hạn 1.731 tỷ đồng (nợ của Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp tàu thủy Dung Quất – nhận bàn giao từ Vinashin). Rồi nợ quá hạn của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam 467 tỷ đồng, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 là 128 tỷ đồng, Tổng công ty Rau quả nông sản 30 tỷ đồng.

Theo báo cáo của công ty mẹ, tổng số nợ phải trả là 606.606 tỷ đồng, tăng 22% so với 2010, nợ nước ngoài là 142.853 tỷ đồng, bằng 23,5% tổng nợ phải trả, tăng 14% so với năm 2010.

Đáng chú ý, Công ty mẹ – EVN nợ nước ngoài lên tới 99.260 tỷ đồng (do vay đầu tư nhà máy điện). Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng không Việt Nam là 24.027 tỷ đồng (do vay đầu tư mua máy bay mới). Có đến 18 công ty mẹ, tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó 5 công ty mẹ trên 10 lần.

Với nợ nước ngoài, Bộ trưởng Huệ cho hay, theo quy định của Luật Quản lý nợ công thì trong trường hợp doanh nghiệp khó khăn Bộ Tài chính sẽ ứng tiền từ quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ thay, không lấy từ ngân sách hàng năm. Các doanh nghiệp phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm hoàn trả dần số tiền được ứng cho quỹ.

Cho tới thời điểm hiện tại, quỹ tích lũy trả nợ đang ứng trả thay cho Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty công nghiệp Xi măng, đều là các doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh vay và đang gặp khó khăn trong việc trả nợ với tổng số tiền là 109,7 triệu USD.

Các dự án trên hiện nay đang thực hiện tái cơ cấu và cam kết sẽ hoàn trả hết số tiền nhận tạm ứng trong 5 năm tới đây, Bộ trưởng cho biết.

Dòng cuối cùng văn bản, Bộ trưởng Huệ viết, “Bộ Tài chính xin trả lời đại biểu để thông báo cho cử tri được biết”.

Theo VnEconomy

  danluan.org (re-post)

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | 1 Comment »

Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước 20 tỷ 750 triệu đô la, bằng 20% GDP của cả nước

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2012

Trong 4 năm qua, nhiều nhà kinh tế và tài chánh trong nước bỏ công tìm tòi xem nợ công của Nhà Nước là bao nhiêu? Nợ của các tập đoàn là boa nhiêu? Nhiều người nói rằng nhà nước cố giấu các con số nợ này. Nhưng nay thì nợ công của Nhà Nước đi vay đã “tạm” công bố một cách chính thức.

*Cập nhật

Theo bản ngày 25-3-2013,  The Economist, một tờ báo uy tín ở Anh vừa cho hay nợ công của toàn cầu liên tục tăng mạnh. Trong đó, nợ công của Việt Nam ở mức trên 71,7 tỉ USD, tương đương 49,4% GDP. 

Theo tờ The Economist, bình quân mỗi người dân Việt Nam gánh số nợ công hơn 800 USD.

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/no-cong-717-ti-usd-nhin-sip-de-giat-minh-201303250715295709ca33.chn

*Cập nhật:

Theo bản tin đài BBC vào ngày 16-1-2013,  trong hội nghị ở Hà Nội có thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự,  Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.  Người đứng đầu chính phủ đã phải nghe báo cáo của ông Phạm Viết Muôn, Phó Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, về tổng quan hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2012, trong đó ông Muôn đưa ra các thống kê giật mình.

Doanh nghiệp nhà nước nợ 60 tỷ đôla

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/01/130116_state_companies_debt.shtml

*Ngày 25-5-2012, Trần Hoàng có bài: “Sự thất thoát và lỗ lả của các tập đoàn quốc doanh tiếp tục diễn ra” (nguồn). Các dự đoán trong bài ấy hôm nay thành sự thật.

Một nước có dân số đứng hàng thứ 13 của thế giới, nhưng có nền kinh tế thuộc loại nhỏ nhất, so với dân số. Tổng sản phẩm nội địa của VN hay GDP chỉ có 100 tỷ Mỹ kim, nhưng 12 tập đoàn quốc doanh đã mắc nợ lên đến gần 21% GDP.

Mấy tuần trước, chính phủ (đang in tiền ra) đưa tin là sẽ bỏ ra 100 000 tỷ đồng để mua lại nợ xấu này. Nhưng nay món nợ này là 415 000 tỷ đồng. Kế hoạch mua lại nợ xấu của các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước coi như đành…chờ in tiền thêm.

Các ngân hàng thương mại của nhà nước () cho các tập đoàn này mượn, và nay các ngân hàng này đang sa lầy. Các ngân hàng không có tiền để chi trả công nhân viên, không có tiền cho vay, …thậm chí, có ngân hàng thâm thủng quá, đã phải sáp nhập vào ngân hàng khác trong thời gian qua.

Nhưng các tập đoàn và tổng công ty là các túi rút tiền của đảng và nhà nước, nơi mà các cán bộ cao cấp và gia đình họ kiếm tiền và cất giữ tiền, vì thế bằng mọi cách, chính phủ sẽ bỏ tiền ra mua lại nợ của các tập đoàn (gọi trại đi là tái cơ cấu), và tiếp tục hoạt động, bình thường như mấy chục năm qua .

Có điều lạ là: tập đoàn Petrovietnam chỉ làm việc rất đơn giản là bán dầu và ga, là khai thác tài nguyên dầu và khí ở dưới biển đem lên bán cho nước ngoài, và dân trong nước. Nhưng hóa ra cũng mắc nợ hơn 3,6 tỷ đô la Mỹ. Đầu năm nay,  ngày 18-1-2012, Petrovietnam báo cáo doanh thu 675 000 tỷ đồng, nộp vào ngân sách nhà nước 160 000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2010…Hóa ra, các báo cáo ấy là dỏm? (nguồn)

———

Tái cơ cấu DNNN:

Xử lý 415 ngàn tỷ đồng nợ ra sao?

Báo Tiền Phong

4-6-2012

TP – Trong đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vừa được Bộ Tài chính công bố, số nợ của các DNNN lên tới hơn 415.000 tỷ đồng.

Theo chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (ảnh) tổng số nợ này đang là “quả bom nổ chậm” đối với các ngân hàng cho vay. Tháo ngòi “bom nổ chậm” này như thế nào?

Nợ quá lớn

Ông Bùi Kiến Thành phân tích: Hiện tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại (NHTM) khoảng 2,5 triệu tỷ đồng (125 tỷ đô la Mỹ), trong đó có 415.000 tỷ đồng (20,75 tỷ đô la Mỹ) là nợ của các DNNN.

Trong đó, tính riêng 12 tập đoàn kinh tế nợ nhiều nhất chiếm tới 8,76% tổng dư nợ. Còn tính chung của các DNNN thì lên tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Trong số nợ của các DNNN, nợ xấu (nợ không đòi được) chiếm khoảng 20% – 30%, cũng đủ ăn mòn hết phần vốn tự có của DNNN.

Nên số tài sản ghi trên sổ sách của DNNN ảo rất lớn, muốn đánh giá đúng phải thanh tra.

Ví dụ như ụ nổi của Vinalines, trên sổ sách tổng giá mua về tới 26 triệu USD, nhưng nếu định giá thì nay chỉ là đống sắt vụn.

Cần lưu ý, phần lớn nợ của DNNN nằm trong các NHTM của nhà nước như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank…

Theo Bộ Tài chính, số nợ của nhiều DNNN lên tới hơn 10 lần so với vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, nợ như vậy đã ở ngưỡng nguy hiểm với cả con nợ và chủ nợ chưa, thưa ông?

Trong một nền kinh tế quy mô nhỏ như Việt Nam (GDP chưa tới 100 tỷ đô la) mà tổng dư nợ tín dụng tới khoảng 2,5 triệu tỷ đồng (125 tỷ đô la Mỹ), trong đó số nợ của các DNNN lên tới 16,9% dư nợ tín dụng là cực kỳ lớn, không thể chấp nhận được rồi.

Theo tiêu chí của Thụy Sĩ, nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng tối đa không được quá 2%, thậm chí dưới 1,5%. Còn theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì nợ xấu của ngân hàng ở mức 3,6% (thực tế nếu theo tiêu chí của thế giới thì tỷ lệ xấu còn cao hơn rất nhiều), cao hơn mức của thế giới khá nhiều rồi.

Nhà nước mua lại nợ xấu

Tập đoàn Điện lực VN có số nợ lên tới 62.800 tỷ đồng, chỉ đứng sau Tập đoàn Dầu khí.

Để thực hiện tái cơ cấu DNNN, thì phải giải quyết số nợ trên như thế nào, thưa ông?

Phải giải quyết nợ xấu, nợ của các DNNN trước, để kéo nợ xấu xuống dưới mức quy định của quốc tế. Phải hiểu, nợ xấu của ngân hàng có nhiều mức khác nhau.

Nợ nhóm 1, 2 là nợ quá hạn trong giai đoạn 60 – 90 ngày.

Nợ nhóm 4 là nợ ở mức khó có thể thu hồi,

còn nợ nhóm 5 là nợ coi như mất rồi, không thu hồi được.

Trong số hơn 415.000 tỷ đồng nói trên, trước tiên phải phân loại các nhóm nợ. Những khoản nợ nào không thu hồi được thì nhà nước phải tính đến việc xóa nợ.

Còn nợ nhóm 4 thì phải khoanh lại, phân tích xem có khả năng đòi được không. Nếu không đòi được thì xấu đến mức nào.

Chính phủ đã có chỉ đạo NHNN, Bộ Tài chính giải quyết các khoản nợ xấu, nợ khó đòi và có thể đứng ra tổ chức một công ty mua bán nợ đặc biệt mua lại nợ khó đòi của các ngân hàng với số vốn 100.000 tỷ, tương đương gần 5 tỷ USD.

Tuy nhiên, số tiền này không đủ để mua lại số nợ lên tới hơn 415.000 tỷ đồng của các DNNN cũng như không đủ để giải quyết toàn bộ nợ xấu của hệ thống NHTM. Muốn giải quyết, trước tiên phải đi thẩm tra lại các khoản nợ.

Nhưng làm sao để giám sát việc mua bán nợ này, tránh tiêu cực?

Phải quản lý công ty mua bán nợ đó dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân có sự tham gia của nhà nước.

Như ở Mỹ, trong những năm khó khăn của hệ thống ngân hàng với sự sụp đổ của hàng trăm ngân hàng, nhà nước cũng phải lập ra công ty mua bán nợ để giải quyết. Cái quan trọng là phải làm thế nào để không tạo ra tham nhũng cũng như tạo ra thêm nợ xấu.

Vì vậy, nếu có ý định lập đơn vị mua lại các khoản nợ xấu trên, phải có đội ngũ thẩm định độc lập gồm các chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia việc thẩm định giá trị tài sản.

Vì nếu chỉ giao cho NHNN, hay Bộ Tài chính không loại trừ việc doanh nghiệp cho tiền nhân viên thẩm định để đẩy giá lên cao, dễ xảy ra tình trạng tham ô.

Xem xét trách nhiệm cá nhân

Thế còn việc xử lý trách nhiệm của lãnh đạo các DNNN gây ra nợ xấu thì sao, thưa ông?

Phải xem lại vì sao có chuyện vay vốn ồ ạt để đầu tư ra bên ngoài, dẫn đến thua lỗ của các tập đoàn. Phải xem lại ban kiểm soát của các tập đoàn đã làm đúng trách nhiệm của mình hay chưa.

Đặc biệt, phải xem xét trách nhiệm của những nhân sự cấp cao, để xảy ra tình trạng thua lỗ, mất khả năng trả nợ. Cũng cần xem lại quản lý nội bộ của các tập đoàn, NDNN để xảy ra tình trạng đầu tư tràn lan dẫn đến bị thua lỗ.

Có ý kiến, sở dĩ các tập đoàn kinh tế nợ nần, hoạt động kém hiệu quả do chúng ta thực hiện thí điểm quá dài, dẫn tới có những lỗ hổng lớn trong quản lý, giám sát?

Ở các nước, nếu các DNNN không thích ứng và không còn phù hợp với nền kinh tế thì phải xem lại có nên để nó tiếp tục tồn tại hay không. Với những trường hợp này, họ sẽ tư nhân hóa bằng cách bán cổ phần. Vấn đề cho tồn tại hay không tồn tại của các DNNN hiện nay nên xem xét dưới góc độ, nếu tư nhân làm được thì nên cổ phần hoá nhanh, nhà nước chỉ giữ lại những DNNN đặc thù mà tư nhân không thể làm thay hoặc không muốn làm.

Cảm ơn ông.

Bảy “ông lớn” nợ hơn 10 lần vốn chủ sở hữuTheo số liệu trong đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước” vừa được Bộ Tài chính hoàn thiện, tính đến tháng 9-2011 dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng.Đáng chú ý, riêng 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước dư nợ đã lên tới 218.738 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay DNNN.Trong đó, dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) với 72.300 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực (EVN) đứng thứ hai với 62.800 tỷ đồng… Đề án cũng cho biết, có 30/85 tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần; đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần (như Tổng Cty Xây dựng Công nghiệp, Tổng Cty Xây dựng công trình giao thông 1, 5 và 8, Tổng Cty Xăng dầu Quân đội, Tổng Cty Thành An và Tổng Cty Phát triển đường cao tốc VN).

Phạm Tuyên

*Nguyên tắc duy trì tập đoàn kinh tế nhà nước

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►Nhà máy lọc dầu Dung Quất cần thêm 1,5 đến 2 tỷ đô la

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2012

Xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất tốn 3 tỷ, mới khánh thành 6-1-2011,  vẫn đang còn trả nợ hàng tháng, nay nhà máy cần thêm tiền. Mặc dù  Nhà máy DQ lỗ mỗi ngày là 500 000 đô la, hay 120 -150 triệu đô la mỗi năm. Lọc 1 tấn dầu thô tiền công từ 5–30 đô tùy theo giá dầu ngoài thị trường cao hay thấp, Nhà máy DQ  luôn luôn báo cáo là chạy hết công suất 100%, nhưng khi tổng kết từ đầu năm 2009, đến tháng 8-2011, tổng số xăng dầu lọc được trong hơn 2 năm rưỡi qua chỉ có 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại.

Nay nhà máy cần thêm tiền!

Để xây dựng nhà máy lọc dầu công suất 10 triệu tấn một năm, thời giá lúc xây dựng chỉ có à 1,2 đến 1,5 tỷ. Nhưng Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất đã đầu tư vào hơn 3 tỷ đô để xây dựng lọc dầu thô loại ngọt, ít lưu huỳnh, độ acid rất thấp, chỉ  dành riêng cho giếng dầu Bạch Hổ. Nhưng sau thời gian khai thác hơn 20 năm qua, giếng Bạch Hổ nay đã cạn, không còn dầu ngọt nữa, nhà máy DQ vì thế đã phải mua dầu ngọt rất đắt tiền pha trộn với dầu chua (chứa nhiều lưu huỳnh, nên độ acid rất cao), phá tan các van lọc trong hệ thống lọc của Dung Quất.

Đó là lý do tại sao nhà máy DQ hoàn thành đầu năm 2009, chạy cà ạch cà ụi, thử tới, thử lui, và khánh thành đầu năm 2011, nhưng chỉ chạy chừng 4  tháng, lại phải thay van 1 lần, vì acid trong dầu chua rất cao hơn dầu ngọt, đã phá tan hệ thống van lọc. Thực tế là phải thay van mới lọc được dầu, nhưng nhà máy phải nói tréo qua là: nghĩ bảo dưỡng…định kỳ.

Nhà máy đã thuê Nhật tới thay van và tái thiết kế lại các van để nhà máy có thể lọc dầu chua, nhưng xem ra khó có thể tiếp tục lọc lâu dài, Nếu phá bỏ nhà máy bán sắt vụn thì tiếc, và cần phải có tiền, khoảng 1,5 tỷ đô la, để xây dựng nhà máy lọc dầu chua.

Vào ngày 6-1-2011, Tổng Giám Đốc Dung Quất công bố bán 49% nhà máy, với giá 1,2 đến 1,5 tỷ đô la, nhưng không một công ty nước ngoài nào mua,  vì giá xây dựng mới của một nhà máy lọc dầu (chua)  chỉ có 1,5 tỷ đô la.

Sau một năm bán không ai mua, nay Dung Quất đổi chiến thuật,  nói trớ qua là: cần nâng công suất lọc từ 6 triệu tấn lên 10 triệu tấn mỗi năm và đang kêu gọi nhà nước bỏ thêm 2 tỷ đô la vào. 

Chú ý: dầu thô được chia thành 2 loại, dầu chua và dầu ngọt. Dầu thô có nhiều lưu huỳnh (độ acid rất cao) gọi là dầu chua. Xây dựng nhà máy lọc dầu chua giá thành hiện nay là 1,2- 1,5 tỷ đô. Và dầu thô có chứa ít lưu huỳnh gọi là dầu ngọt. Dầu ngọt giá rất đắt và lọc rất dễ, nhưng kết cấu máy móc và hệ thống van của nhà máy lọc dầu ngọt khác với nhà máy lọc dầu chua. Đem dầu chua lọc ở nhà máy lọc dầu ngọt ở Dung Quất thì van bị hỏng rất nhanh, vì acid ăn mòn hệ thống van lọc.

Để dễ hình dung sự khác biệt hãy tạm lấy thí dụ mua 1 truyền hình màu ở Mỹ, hệ NTSC đem về VN. Xem phim thì được, nhưng hình chỉ có hai màu đen trắng. Nhờ thợ gắn bộ chuyển hệ qua Pal-DK thì phải trả thêm tiền. Người xem sẽ nhìn thấy hình có đủ màu, nhưng hình không rõ nét, và  mờ. Cuối cùng, nhiều gia đình bỏ luôn và mua loai truyền hình đa hệ hay chỉ có hệ Pal-DK. Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất hiện đang ở tình trạng chuyển hệ. Nên chỉ còn cách phá bỏ, bán sắt vụn, và xây dựng nhà máy mới. Do sản phẩm xăng giá thành cao và phẩm chất xấu, thua xăng Singapore, đó là lý do tại sao các công ty hàng không của vn không chịu mua xăng Dung Quất, mà cứ tiếp tục nhập xăng singapore.

Ngay từ năm 1993, khi đảng CSVN muốn xây dựng nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, tỉnh Quãng Ngãi, đã có nhiều công ty nước ngoài và các Việt Kiều góp ý là không nên xây dựng ở Quãng Ngãi, vì dầu thô khai thác ở ngoài khơi Vũng Tàu, vận chuyển 600 km mới về đến Quãng Ngãi (quãng đường này còn dài hơn vận chuyển tới các nhà máy lọc dầu ở Singapore), và sau khi lọc xong, thì phải chại ngược vô Nam hoặc ra Bắc…phí vận chuyển do đó sẽ tăng cao. Nói cách nào thì đảng vẫn không nghe, đảng theo đúng phương châm: đã quyết định thì phải làm, bất chấp thiệt hại! Ngày nay thì tai hại trước mắt. Dâu thô khai thác ra, phải bán hết cho Nhật, cho Singapore, và đi mua xăng của Singapore! Và khi đem về VN, các loại thuế và phí đánh vào giá xăng làm cho 1 lít xăng ở VN luôn luôn cao hơn 20-25% giá 1 lít xăng ở Mỹ. Giá này thì người dân VN phải trả, còn đa số cán bộ đảng cấp quận huyện trở lên thì được cấp  xe công, đổ xăng chùa, không phải trả tiền. 

 

Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Cần 1,5 – 2 tỷ USD để mở rộng, nâng cấp

http://www.sggp.org.vn/dautukt/2012/2/280955/

Gần 2 giờ trò chuyện với Tổng Giám đốc Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) Nguyễn Hoài Giang (ảnh), người đang “cầm lái” con tàu khổng lồ Dung Quất (vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD) vận hành trơn tru, giúp chúng tôi cảm nhận được bầu nhiệt huyết, khát vọng trong ông với những toan tính về ngành lọc hóa dầu trong tương lai.

– PV: Ông đánh giá thế nào việc thị trường xăng dầu năm qua có nhiều biến động, trong khi công suất của nhà máy 6,5 triệu tấn/năm chưa thể điều tiết thị trường?

 

– Ông NGUYỄN HOÀI GIANG (ảnh) : Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất hiện nay dù chạy tối đa 100% công suất cũng chỉ đáp ứng 30% nhu cầu toàn quốc nên chưa đủ sức điều tiết mạnh mẽ nhu cầu thị trường khi có biến động, bởi trên 70% lượng xăng dầu chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu. Vì thế, ngay từ khi đi vào vận hành, chúng tôi đã có kế hoạch mở rộng, nâng công suất nhà máy lên 10 triệu tấn/năm; đồng thời có những bước chuẩn bị xây dựng NMLD số 2, số 3 để đáp ứng 100% nhu cầu xăng dầu trong cả nước. Mở rộng và nâng cấp NMLD Dung Quất là bài toán lớn, vốn khoảng 1,5-2 tỷ USD nên cần nghiên cứu chi tiết, thấu đáo và triệt để cả về công nghệ, kỹ thuật, môi trường và thị trường thương mại. Vì vậy, phải mất 5-6 năm dự án mở rộng mới xong, lúc đó bức tranh về thị trường xăng dầu toàn quốc sẽ sáng hơn bây giờ.

– Tiến độ mở rộng sản phẩm hóa dầu có khả quan?

– Chúng tôi đang tiến hành bước nghiên cứu khả thi chi tiết với nhà thầu Nhật Bản, đến tháng 3 năm nay mới kết thúc, sau đó mới tính đến các bước khác.

Hiện NMLD Dung Quất cùng với nhà máy sản xuất hạt nhựa Polypropylene (PP) đã có thể coi là tổ hợp lọc – hóa dầu rồi. Tuy nhiên, tổ hợp này vẫn còn ở quy mô nhỏ, chủng loại cũng chưa đa dạng so với các nước khác trên thế giới (mới có 8 loại sản phẩm); chưa đa dạng về mặt tổng thể để chúng ta có thể kéo theo, đầu tư các ngành công nghiệp – dịch vụ vệ tinh, công nghiệp nhẹ sử dụng đầu ra của NMLD. Vì vậy, dừng lại ở đây là thất bại, chúng ta phải bước tiếp bằng cách nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất.

– Đóng góp của NMLD cho nguồn thu ngân sách Nhà nước khoảng 14.000 tỷ đồng/năm, nhưng lợi ích của người dân dường như vẫn chưa rõ?

– Hàng đêm, khi nhìn ngọn đuốc của nhà máy, những ánh đèn trong các phân khu công nghệ bật sáng lung linh, NMLD Dung Quất như một thành phố thu nhỏ nhưng trăn trở lớn của chúng tôi là làm sao ngọn lửa đó thật sự sưởi ấm cho những người dân nghèo, những người đã nhường đất cho nhà máy. Tuy nhiên, hiệu quả đó phải lan tỏa từ từ, bằng chứng là nguồn lợi của NMLD đã quay ngược lại phục vụ lợi ích của người dân Quảng Ngãi, khu vực miền Trung, giúp nâng cao tổng thể đời sống văn hóa – xã hội, lôi kéo được các nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở hạ tầng, giao thông, dịch vụ phát triển… thu hút nhân lực, lao động, tạo thêm việc làm.

– Theo ông, chỉ nên mở rộng, nâng cấp thay vì xây mới nhà máy lọc dầu?

– Hai cái đó khác nhau, chúng ta vẫn phải xây mới, và nhu cầu đó vẫn đang được triển khai, bởi có lọc dầu mới có hóa dầu. Ở NMLD Dung Quất hiện đã có lọc dầu, hóa dầu rồi, việc nâng cấp mở rộng là bước tiếp theo để nâng cao sản lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm để phát triển tiếp các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dịch vụ ăn theo. Chúng ta đã đầu tư vào đây, đã sẵn có hạ tầng, cảng biển nước sâu, thành phố Vạn Tường, đường giao thông, cung cấp điện, xử lý chất thải, xử lý nước, dự án công nghiệp dịch vụ ăn theo (Doosan, cảng Gemadept…) nên nâng cấp, mở rộng là bước kế thừa những lợi thế của hạ tầng sẵn có, khác hẳn với việc đầu tư mới tốn kém hơn rất nhiều.

Kế hoạch nâng cấp, mở rộng vẫn đang được tiến hành và nhà nước vẫn đang kêu gọi đầu tư vào NMLD số 2, số 3, hai vấn đề này không mâu thuẫn nhau mà bổ sung, hỗ trợ nhau đưa ngành lọc hóa dầu nước ta lên tầm cao hơn.

– Việt Nam tự sản xuất xăng – dầu có khó không?

– Thật ra sản xuất xăng – dầu không khó khăn gì cả, bởi việc này các nước khác đã làm từ lâu rồi, chúng ta theo sau mà thôi, chẳng qua với chúng ta dự án này quá mới, hiện đại, phức tạp so với những dự án khác trong nước. Xây dựng NMLD Dung Quất, chúng ta tự hào đã thành công, nhưng đây mới chỉ là thành công bước đầu, còn khiêm tốn.

Ông có nghĩ đến ngày Việt Nam xuất xăng – dầu ra thế giới?

– Ước mơ thì có, nhưng đừng bao giờ mơ ước viển vông. Với tôi, ước mơ bao giờ cũng gắn với thực tế và khả thi nhất trong thời gian nhất định. Còn bây giờ, hãy đáp ứng và cung cấp đầy đủ các nhu cầu xăng dầu nội địa cho đất nước, rồi hãy nghĩ đến xuất khẩu. Để vươn ra thế giới, cạnh tranh với thế giới thì ngay bây giờ, chúng ta phải nhen nhóm và đốt lên được ngọn lửa trong trái tim; bắc những nhịp cầu, đặt những nền móng đầu tiên cho thế hệ tiếp theo, để họ có bản lĩnh, kinh nghiệm biến ước mơ đó thành hiện thực.

HÀ MINH (thực hiện)

———————

Chủ Nhật, 29/01/2012 | 11:29

http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/213188-con-dao-phai-du-sac-de-cat-nhung-cuc-cung-loi-thoi.aspx

“Con dao phải đủ sắc để cắt những cục cưng lỗi thời”

“Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các doanh nghiệp nhà nước chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích. Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các doanh nghiệp khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng

Những “cục cưng” được kỳ vọng

Trên thực trạng nền kinh tế Việt Nam lâu nay, những con số thống kê ngày càng lộ diện vấn nạn “cục cưng”.

Nổi bật là những doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các DN này chiếm tới 70% tổng số vốn đầu tư từ xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA ở Việt Nam.

Họ được hưởng mọi loại ưu đãi về vốn, cơ chế, một số DN còn được ngồi trên các “mỏ vàng độc quyền”, như kinh doanh xăng dầu, điện… Ở dưới trông lên, kỳ vọng da diết của nhân dân là các “cục cưng” này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đem lại phồn vinh cho xã hội.

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%. Chi phí làm ra cùng một mặt hàng, cùng một  chất lượng cao gấp hai lần so với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không được đầu tư đồng nào từ vốn nhà nước và không có bất cứ ưu đãi gì từ cơ chế chính sách…

Còn theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua. Hiện nay, các “cục cưng” này chiếm tới khoảng 70% “nợ khó đòi” – nghĩa là không đòi được – của các ngân hàng thương mại. Nhiều tập đoàn, công ty độc quyền đã thua lỗ trong nhiều năm.

Nếu là lãnh đạo DNTN, họ sẽ phải cầm cố tài sản, bán tháo nhà cửa, thậm chí phải tự tử để cứu vãn danh dự cho gia đình. Nhưng vì là những “cục cưng”, nên các ông chủ này vẫn ung dung, phớt lờ dư luận, đổ trách nhiệm cho người khác, vẫn tự chia cho mình những khoản thu nhập cao chót vót, và báo lỗ vô tội vạ.

Từ năm 2009 đến nay, nhiều DNNN gây thất thoát. Không chỉ DN không được độc quyền, mà cả những DN quá được ưu đãi về cơ chế kinh doanh, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Xăng dầu cũng luôn gánh trên mình những món nợ khổng lồ, nhưng lại đặt ra vô số nghi hoặc về nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Ứng phó, tái cơ cấu, hiệu quả đến đâu chưa biết, nhưng giải pháp đầu tiên mà Bộ Tài chính đưa ra là cho “uống thuốc bổ”. Đương nhiên, dù cách nào, cũng là bằng tiền thắt lưng buộc bụng của dân.

Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính đang xem xét phải dành hơn 50.000 tỷ đồng nhằm tái cấu trúc nợ, cấp thêm vốn điều lệ… cho các DNNN được tái cơ cấu. “Việc sắp xếp lại DN phải có tiền. Tôi báo cáo với Chính phủ phải có bồi bổ trước, rồi mới dùng kháng sinh, chứ con bệnh đang sốt cao mà chữa ngay là không chịu được”. Ông còn cho biết, Tập đoàn Sông Đà sẽ “đi tiên phong” trong tái cơ cấu DN, song chi phí cho họ lên tới 10 triệu USD. Số tiền này vay của Ngân hàng Phát triển châu Á.

Và những “đứa trẻ” không được “uống thuốc bổ”

Có ai nghĩ đến chuyện xoa dịu vết thương và cứu giúp những DN nhỏ và vừa – hầu hết là DNTN, chẳng bao giờ được “uống thuốc bổ” không? Đó là lực lượng làm nên nền kinh tế thị trường thực sự.

Chỉ cần bớt ít chút vô cảm, nghiêng mình xuống gần đất hơn, ta sẽ phải thương khóc cho cái chết của vô số DNTN nhỏ và vừa – những đứa con sinh ra bởi kinh tế thị trường, góp phần thực sự lớn vào tài sản xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều công dân. Nhưng họ chẳng bao giờ được uống “thuốc bổ”, mà còn phải chịu đựng nhiều áp lực.

Áp lực chi phí liên tục tăng do lạm phát, do bị cạnh tranh không lành mạnh, thị trường bị thu hẹp…, khiến hệ thống DN, đặc biệt là DNTN, bị ép cả từ nhiều phía và “phần đông hầu như chỉ còn thoi thóp thở”. Khác với những “cục cưng”, những DNTN hầu hết phải tự vật lộn và xoay xở bằng chính đồng vốn và năng lực của mình.

Theo Tổng cục Thuế, mặc dù 2010 là năm có số DN phá sản tới mức báo động, nhưng vẫn không thể so sánh với tốc độ phá sản của năm 2011. Thống kê chưa đầy đủ, năm 2011, có tới khoảng 49.000 DN giải thể hoặc ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng Hà Nội đã có tới hơn 3.000 DN phá sản hoặc ngừng hoạt động.

Họ phá sản có thể do năng lực yếu kém, do bị “chết lây” vì khủng hoảng kinh tế, vì lạm phát, vì thiếu may mắn hoặc có thể do những “giật cục” bất thường của chính sách… Khác với những DNNN, DNTN phải trả giá cho sự phá sản bằng chính sinh mạng mình và gia đình mình, mặc dù bản thân họ đã cố gắng hết sức để giảm giá thành sản phẩm và tiết kiệm tối đa mọi chi phí.

Mỗi một DN phá sản ảnh hưởng tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn thành viên của DN. Trong đó, mỗi thành viên này lại ảnh hưởng đến cuộc sống của cả một gia đình. Chưa kể các vụ vỡ nợ, giật hụi, lừa đảo… trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xuất hiện ngày càng nhiều gần đây, khiến cho hàng triệu người phải khốn đốn, mất nhà cửa, tài sản, tha phương cầu thực.

Nếu họ có tài sản thế chấp và chịu chi phí “bôi trơn”, DN ngắc ngoải của họ có thể vay được vốn ngân hàng với tỷ lệ lãi suất thuộc hàng cao nhất thế giới: 18-27%/năm. Chỉ cần một khâu trục trặc của thị trường hoặc chính sách thay đổi, họ không có cách nào tránh khỏi cái chết được báo trước đối với lãi suất ấy.

Với tỷ lệ lạm phát được nhận xét là cao nhất châu Á và đứng thứ nhì thế giới. Với sự phá sản của hàng loạt DN, lại thêm gánh nặng nợ nần từ các DNNN chất lên vai, cùng với nguy cơ nợ xấu và sự đóng băng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…,  làm lung lay dữ dội sự an nguy của các ngân hàng trong nước. Cộng thêm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước nhà đang lâm vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ 20 năm qua.

Cần một con dao mổ sắc bén

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã nhấn mạnh việc tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế.

Cả Hội nghị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã khẳng định nhiệm vụ tái cơ cấu với ba trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và DNNN.

Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra một trong những mục tiêu trọng điểm của các năm tới là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều ngành, nhiều cấp đã có những hội thảo lớn. Nhưng nếu sửa bằng cách “cho uống thuốc bổ”, thì lại tốn thêm nhiều tỷ USD vào nền kinh tế đang vô cùng khó khăn, nợ nần quốc gia thêm chồng chất. Cho uống thuốc bổ mà không phẫu thuật “khối u phát bệnh”, thì chỉ làm bệnh càng nặng thêm.

Câu hỏi đặt ra là, đối tượng nào sẽ được lợi nhiều nhất sau những chương trình tái cấu trúc DN; và nợ của DN sẽ do ai gánh chịu?

Do đó, vấn đề cấp thiết là phải sửa từ nhận thức chiến lược, từ tư duy chỉ đạo. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mọi sự sửa từ nhiều năm nay cuối cùng cũng chỉ là tạo mọi điều kiện để DNNN được có mọi ưu tiên để “đóng vai trò chủ đạo”. Chúng cũng là nơi vô tình sinh sôi của các nhóm đặc quyền đặc lợi, tham nhũng và bòn rút tài nguyên quốc gia. Điều này đã làm tha hoá một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức và ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng.

Để thực hiện mục tiêu từ cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu, cải cách DNNN đến sắp xếp lại hệ thống ngân hàng…, tất cả đều vấp phải trở lực quyết liệt từ các nhóm lợi ích đầy thế lực tìm cách ngăn cản.

Lực cản đó nằm giữa lợi ích của các bộ, ngành chủ quản, của tầng nấc lãnh đạo DNNN, của các cá nhân có trách nhiệm về sai lầm, thất thoát của DN trong quá khứ. Để tái cấu trúc ngân hàng, liệu đã ai thấy có đủ sức mạnh để triệt tiêu lợi ích của các “quyền lực ẩn” đằng sau các ngân hàng này và các DN mà sự sống chết của họ gắn liền với sự hưng vong của các ngân hàng có chức năng và quyền lợi từ “bơm máu chùa”?

Nếu không khống chế và triệt tiêu được các lực ẩn này, thì quy định được ghi trong văn bản đại hội Đảng: “Các thành phần kinh tế đều bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh…” đã bị vô hiệu hóa. Và mục tiêu của Chính phủ đề ra sẽ không thực hiện được.

Ai cũng hiểu rằng, tái cơ cấu là sửa lại cơ cấu hiện có. Nhưng một khi còn chưa rõ ràng về quan điểm, nhất là về vai trò của DNNN trong nền kinh tế, thì đường hướng sẽ bị ách tắc.

Thủ tướng Chính phủ phân định: muốn đổi mới DNNN thành công, khung thể chế đóng vai trò quyết định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc tiếp tục duy trì một cách duy ý chí các DNNN chỉ làm sai lệch chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới DNNN Phạm Viết Muôn nói rằng, khó khăn lớn nhất trong cải cách DNNN là thống nhất tư duy. Ông nói: “Chúng ta nói nhiều mà làm chưa được bao nhiêu. Tôi cho khó khăn lớn nhất là chính sách cần để đổi mới thì làm quá lâu, khi có thì không còn phù hợp với thực tế. Đi bắt con thỏ mà huy động nhân lực cả tháng, ra đến nơi thì nó chạy mất rồi”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói: “Cải cách DNNN đến nay tư duy còn đầy tranh cãi”. “Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các DNNN chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích.

“Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các DN khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng” (theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương).

Đó là những ý kiến hợp lý và đầy trách nhiệm. Chính phủ nên sử dụng “con dao mổ sắc bén” ấy cho một cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ khối u và làm lành vết thương cho nền kinh tế.

Võ Thị Hảo

đầu tư chứng khoán

————

Mời các bạn coi thêm ở đây về Petrovietnam và  Dung Quất: http://wp.me/po94e-1×5

——————–

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la), chiếm 40% GDP. Nhân sự điều hành 100 công ty quốc doanh và tập đoàn là con cháu, bà con thân thích của 14 ủy viên Bộ Chính Trị và 174 ủy viên trung ương Đảng.  Đây là sân sau, là nơi vừa làm vừa chơi và thua lỗ hàng năm, vừa là nơi hút tiền cho các nhân vật cao cấp trong chính quyền.

Bộ tài Chánh báo cáo đầu năm 2012: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng hay 50 tỷ đô la Mỹ!

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Tagged: | Leave a Comment »