Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh’ Category

►Lỗ lũy kế 2.300 tỷ đồng, Đạm Hà Bắc tiếp tục đặt kế hoạch lỗ tiếp 700 tỷ đồng trong năm 2018 (8-5-2018)

Posted by hoangtran204 trên 09/05/2018

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in kinh doanh, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►Chúa chổm: Không thể để kẻ đi vay, người khác trả nợ LĐO | 20/04/2018 |

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2018

 

 

Đọc tiếp »

Posted in kinh doanh, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Thời Sự | Leave a Comment »

►Phiên xử ngày thứ 9: Đinh La Thăng xin cho tất cả được tại ngoại, nhưng đã bị Tòa ngắt lời

Posted by hoangtran204 trên 16/01/2018

 

Đọc tiếp »

Posted in Luật Pháp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự | Leave a Comment »

►Tập đoàn Điện lực EVN mắc nợ 454760 tỷ đồng VN cuối năm 2015

Posted by hoangtran204 trên 03/01/2018

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Thời Sự | Leave a Comment »

►Nợ công 2017 tiếp tục phình to 3,2 triệu tỷ đồng, hay 137 tỷ đô la, mỗi người phải ‘gánh’ 33 triệu đồng (1-11-2017)

Posted by hoangtran204 trên 04/11/2017

Nền kinh tế VN chỉ dựa trên bán tài nguyên khoáng sản, gia công hàng hóa. 

Khi giá dầu thô từ cuối 2014 chỉ còn $44-52, so với $98-120 (2010-2014), nhà nước bị thâm hụt ngân sách: chi nhiều hơn thu.

Bội chi ngân sách kéo dài nhiều năm khiến tốc độ tăng nợ công gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP… (GDP của VN tăng trưởng khoảng 6% mỗi năm.

GDP  tăng chủ yếu do các doanh nghiệp vốn nước ngoài (FDI) đầu tư vào VN, thuê nhân công VN làm việc,  và sản xuất hàng hoá.  Thí dụ, Samsung Electronic VN mở các hãng xưởng ở Bắc Ninh và Thái Nguyên, thuê nhân công VN lắp ráp điện thoại, khoảng 30 triệu cái, làm các hàng hoá khác và xuất khẩu khoảng 30-35 tỷ USD hàng năm. Khi tính tổng sản lượng nội địa (GDP), Nhà nước VN gộp và tính luôn số tiền 30-35 tỷ USD của Samsung vào GDP.

Tháng 8/2017 đến cuối năm nay, nhà nước tung 600.000 tỷ đồng vào thị trường.

 

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nợ của Việt Nam, Ngân sách thâm thủng, Thời Sự | Leave a Comment »

►Không có ai mua, Nhà máy đóng tàu Dung Quất sẽ phải phá sản – Tập đoàn Dầu Khí PVN “mất trắng” 5.096 tỷ đồng vì đầu tư vào Dung Quất ? (28-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2017

Nhà máy đóng tàu Việt Nam khai phá sản, trong khi nhà máy đóng tàu Hàn Quốc làm không hết việc, phải thuê lao động xuất khẩu Việt Nam trả lương 2500 USD một tháng…

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Vì sao ông Đinh La Thăng bị kỷ luật? Bị đuổi khỏi Bộ chính trị- Giá dầu hạ thấp chỉ còn 1/2

Posted by hoangtran204 trên 07/05/2017

(Chuyện Dầu Khí thua lỗ, ai cũng biết, nhưng bây giờ mới khui ra và kỷ luật là lý do tại sao? Có đòi lại được nhiều tỷ đô la bị mất mát thua lỗ không?
Do giá dầu hiện nay chỉ còn $47 đô la một thùng, so với giá dầu (100-147 đô la) thời Đỗ Văn Hậu, Nguyễn Xuân Sơn và Phùng Đình Thực làm, nên nhóm cầm quyền dầu khí PVN mới lên 2016 đã không có đủ tiền chung chi tiền bán dầu cho cấp trên; bị chất vấn, chúng đưa ra chuyện tiền bạc bị mất mát hồi trước 2016!
Tính theo tổng doanh thu, thời  Đinh La Thăng làm xếp PVN 2006-2011,
Sau khi loại Thăng, 18 ủy viên Bộ chính trị còn lại đang tìm cách nói xấu và loại nhau để ngoi lên. 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Năng Lượng và Mỏ, Đảng viên đấu đá tranh giành chức vị | Leave a Comment »

►Nợ, trả nợ, và khủng hoảng-Nợ Chính Phủ và nợ doanh nghiệp: 431 tỷ USD hay 210% GDP

Posted by hoangtran204 trên 03/03/2017

Cả 2 loại nợ cộng lại 431 tỷ USD, hơn 200% GDP 2016:

-nợ chính phủ năm 2016 lên tới ít nhất 131 tỉ đô la Mỹ, bằng 63,9% GDP. Nợ chính phủ tăng quá nhanh, ở mức gần 35% năm 2015.

-năm 2016, nợ của DNNN là 324 tỉ đô la Mỹ, bằng 158% GDP.

Nợ, trả nợ và khủng hoảng

09/02/2017 | 11:33

Vũ Quang Việt*

Đọc tiếp »

Posted in Kinh Te, Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►”Nhóm cá mập” Bộ Công Thương tiếp tục hoành hành tàn phá đất nước (vị Thái tử đảng, con trai Trần Đức Lương)

Posted by hoangtran204 trên 24/10/2016

Nhóm cá mập’ Bộ Công Thương tiếp tục hoành hành

Blog VOA 

22.10.2016
Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (giữa) tại lễ đón Thủ tướng Lào tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, ngày 15/5/2016.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh (giữa) tại lễ đón Thủ tướng Lào tại Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, ngày 15/5/2016.

Chỉ “nghỉ xả hơi” khoảng 5 tháng sau Đại hội XII và giữa hai lần bầu bán cùng tuyên thệ không mệt mỏi của “tam trụ”, nhóm lợi ích Bộ Công Thương lại quẫy đạp đùng đùng khiến dư luận xã hội phải liên tưởng đến hình ảnh hàm răng sắc nhọn đặc biệt của loài cá mập trắng ăn thịt người ở vùng biển Caribê.

 

Đọc tiếp »

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nhan Vat Chinh tri, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Tư bản đỏ, Lưu manh đỏ, Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài Chính vay nóng 30 ngàn tỷ

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2015

Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính vay nóng 30 ngàn tỷ

3-10-2015

Vietnamnet

– Đại diện Bộ Tài chính vừa cho biết, khoản vay 30.000 tỷ đồng cho ngân sách từ Ngân hàng Nhà nước đã được hoàn thành và hiện, đã được chuyển vào Kho bạc Nhà nước.

Ông Đào Xuân Tuế, Phó Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước (Bộ Tài chính) cho biết như vậy tại cuộc họp báo thường kỳ quý III của Bộ Tài chính chiều 2/10.

Ông Tuế nói rằng, khoản vay này là ngắn hạn, nhằm xử lý các vấn đề về thanh khoản ngân sách và sẽ được Bộ Tài chính trả Ngân hàng Nhà nước đúng hạn vào cuối năm nay.

Trước đó, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng khẳng định, phía NHNN xem xét đề nghị vay của Bộ Tài chính là trên cơ sở mục tiêu chung ổn định kinh tế vĩ mô.

Cuối tháng 7, đầu tháng 8, thông tin Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước ứng cho vay 30.000 tỷ cho ngân sách đã làm dấy lên trong dư luận nhiều dấu hỏi về sự khó khăn, hụt thu của Ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, thứ trưởng Huỳnh Quang Hải của bộ này ngay sau đó đã phủ nhận ngân sách khó khăn và cho rằng, việc vay mượn này là bình thường, chỉ là vấn đề kỹ thuật.

Trên thực tế, ngoài khoản vay 30.000 tỷ trên, Bộ Tài chính đang phải chật vật huy động nguồn khác mà chưa đạt kế hoạch như đề nghị quay trở lại phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dưới 5 năm, mở room cho các công ty bảo hiểm kỳ hạn 20 năm, phát hành thêm tín phiếu 20.000 tỷ đồng, vay quỹ bảo hiểm xã hội…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính quý III, tốc độ chi ngân sách vẫn lớn hơn tốc độ thu ngân sách.

Trong 9 tháng qua, tổng thu ngân sách đạt 683 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán, tăng 7% so với cùng kỳ.

Chi ngân sách 9 tháng là 823,97 nghìn tỷ đồng, bằng 71,8% dự toán và tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong đó, ngân sách đã trả các khoản nợ và trả viện trợ là gần 115 nghìn tỷ đồng, bằng 18% tổng thu ngân sách.

Như vậy, bội chi ngân sách đang ở mức hơn 140 nghìn tỷ đồng, gần xấp xỉ 62,4% dự toán năm.

Phạm Huyền

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►119 trong tổng số 781 doanh nghiệp quốc doanh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, đang mắc nợ: 1.567.063 tỷ đồng

Posted by hoangtran204 trên 01/12/2015

Đây là số tiền cực lớn, nhưng mới chỉ thống kê được mỗi 119 doanh nghiệp trong tổng số 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.”

http://vef.vn/2015/11/27/vi-sao-662-…cao-tai-chinh/

 

Vì sao 662 doanh nghiệp nhà nước không báo cáo tài chính?

27-11-2015

Vì sao cả nước có 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mà báo cáo về công nợ do Bộ Tài chính công bố chỉ đề cập vỏn vẹn 119 doanh nghiệp trong số đó?

Báo cáo mang tên “Tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2014 của các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước” do Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng ký gửi Quốc hội là một tài liệu quan trọng.

Một mặt, văn bản này là để thực hiện một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, và Nghị quyết số 42/2009/QH12 của Quốc hội về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Mặt khác, văn bản này được coi như một cơ sở giúp Quốc hội thực thi chức năng giám sát đối với nguồn lực khổng lồ đang được khu vực kinh tế này nắm giữ. Đây là điều7phải làm, và làm cho nghiêm túc ở tầm vĩ mô.

Tuy nhiên, báo cáo – sau khi cho biết rất nhiều số liệu về tài sản, nợ, vốn, tình hình kinh doanh,… của nhiều DNNN – thừa nhận một thực tế đáng phải suy nghĩ: “Nhiều DNNN chưa thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo, giám sát doanh nghiệp với cơ quan đại diện chủ sở hữu và cơ quan tài chính theo quy định; do đó việc tổng hợp báo cáo Chính phủ, Quốc hội về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi cả nước còn nhiều khó khăn.”

Thừa nhận này, dù chỉ vài dòng ngắn ngủi trong báo cáo, cho thấy tình trạng đáng lo ngại: những DNNN không nộp báo cáo chẳng coi trọng cơ quan đại diện chủ sở hữu, và các cơ quan nhà nước khác; và mặt khác, chính các cơ quan đại diện chủ sở hữu, và các cơ quan nhà nước liên quan đang lơ là chức năng nhà nước của mình.

Nhận định trên là có cơ sở: việc báo cáo lẽ ra phải được thực hiện rất nghiêm túc, đầy đủ để phục vụ giải trình của Chính phủ với Quốc hội.

Từ đây có hàng loạt câu hỏi: vì sao các DNNN đó không báo cáo? Họ đã làm ăn thua lỗ nên giấu nợ? Họ không chịu trách nhiệm với số vốn được giao quản lý?

Còn các cơ quan nhà nước liên quan vì sao không có biện pháp gì khi không nhận được báo cáo? Họ vô trách nhiệm, hay có thông đồng với doanh nghiệp?

Chính vì sự không nghiêm túc đó làm nảy sinh nhiều lo ngại xung quanh hoạt động của khu vực doanh nghiệp này.

Chẳng hạn, theo báo cáo, tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2014, có 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Tuy nhiên, báo cáo chỉ nêu thực trạng tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của 119 doanh nghiệp trong số đó.

Thực trạng của 119 doanh nghiệp này như sau: tổng số nợ phải trả là 1.567.063 tỷ đồng, tổng nợ phải thu là 293.617 tỷ đồng, tổng số hàng tồn kho là 216.255 tỷ đồng. Đây là số tiền cực lớn, nhưng mới chỉ thống kê được mỗi 119 doanh nghiệp trong tổng số 781 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Vậy, những con số nợ phải thu, nợ phải trả, tồn kho, và nhiều số liệu tài chính khác của 662 doanh nghiệp còn lại là bao nhiêu?

Đó là chưa kể những số liệu còn thiếu và yếu trong các khu vực doanh nghiệp cổ phần, hay doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc các địa phương trong báo cáo.

Vì sao các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) “chưa thực hiện chế độ báo cáo” mà không ai bị khiển trách? Ai là người giám sát? Ai là người chịu trách nhiệm chính với đồng vốn mà trên nguyên tắc là của nhân dân?

Kỷ luật, kỷ cương của khu vực này cần phải siết chặt lại. Không thể kéo dài mãi tình trạng “lời ăn, lỗ dân chịu” của khu vực kinh tế này mà có chuyên gia nhận định.

Đã từng có hàng chục đoàn kiểm tra Vinashin, mà không phát hiện ra vấn đề để đến khi tập đoàn này bục ra thì tất cả mới té ngửa.

Việc giám sát các DNNN này không thể không rút ra bài học từ đó. Hơn ai hết, Quốc hội cần thực hiện chức năng giám sát tối cao của mình.

(Theo TBKTSG Online)

Posted in Kinh Te, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Sự thật về số liệu nợ công 66,4% GDP: 92 tỷ hay 110 tỷ đô la?

Posted by hoangtran204 trên 06/10/2015

Nam Nguyên, phóng viên RFA

3-10-2015

no-cong-10032015-622.jpg

Đồng hồ nợ công Thế Giới và Việt Nam hôm 03/10/2015.

Screen capture

Bộ Tài chính Việt Nam ngày 2/10/2015 phản bác số liệu nợ công 66,4% của năm 2014 vượt trần cho phép, do Bộ Kế hoạch đầu tư công bố trước đó. Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này qua ghi nhận ý kiến chuyên gia trong ngoài nước.

Nợ công quốc gia đã vượt mức báo động?

Học viện Chính sách và Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư vừa gây bất ngờ lớn khi tính toán nợ công bao gồm luôn các khoản nợ  của doanh nghiệp nhà nước và nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, trong khi theo qui định của Nhà nước nợ công quốc gia chỉ gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.

Được biết Quốc hội Việt Nam qui định trần nợ công là 65% GDP Tổng sản phẩm nội địa, nếu con số 66,4% là khả tín thì nợ công quốc gia đã vượt mức báo động. Cho tới nay Bộ Tài chính áp dụng cách tính nợ công hạn chế theo qui định Nhà nước, cho ra số liệu nợ công năm 2014 chỉ là 59,6% GDP. Trả lời Nam Nguyên sáng 2/10/2015, Tiến Sĩ Vũ Quang Việt nguyên Vụ trưởng tài khoản thống kê Liện Hiệp Quốc, từ New York nhận định:

Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những  doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm. Do đó nợ công không những phải tính nợ của chính phủ trung ương, nợ của chính quyền địa phương, nợ của doanh nghiệp nhà nước và đúng như bộ Kế hoạch Đầu tư họ nói là phải tính luôn nợ ở trong bảo hiểm xã hội nữa. Vì những người về hưu chính phủ nước nào cũng vậy có qui định người ta được hưởng bao nhiêu phần trăm lương của lương cuối cùng, tùy theo người ta làm bao nhiêu năm. Cái đó chính là nợ của nhà nước khi người ta về hưu phải trả. Hiện nay tình trạng của Việt Nam khả năng không trả được phải nói rất là lớn, mà càng ngày nó càng lớn hơn vì số người về hưu nhiều, tiền lương cao lên, số tiền người ta nhận được nhiều hơn; ngoài ra người ta còn sống già hơn trước kia nhiều. Cái đó là một phần lớn của số nợ và theo nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc thì tất cả những cái đó phải được tính vào nợ công hết.”

Theo báo chí Việt Nam hồi tháng 7 vừa qua, Ngân hàng Thế giới công bố nợ công của Việt Nam năm 2014 là 110 tỷ USD tương đương 59% GDP, xấp xỉ số liệu của Bộ Tài chính Việt Nam. Theo TS Vũ Quang Việt, người từng tham gia thiết lập chuẩn mực hệ thống tài khoản quốc gia cho Liên Hiệp Quốc, thì những chuẩn mực được qui định rất rõ ràng. Quĩ tiền tệ quốc tế IMF hay Ngân hàng thế giới World Bank đều hiểu rõ. Tuy nhiên các định chế này chấp nhận những báo cáo của chính phủ nước sở tại để công bố chính thức. Tuy nhiên họ cũng có thể có những tính toán khác dựa vào số liệu tự tìm hiểu, mặc dù không công bố cho công chúng biết. TS Vũ Quang Việt tiếp lời:

toan_canh_hop-bao-400.jpg
Trong cuộc họp báo chiều 1/10/2015 tại Hà Nội, Thứ trưởng Tài chính Vũ Thị Mai khẳng định thẩm quyền công bố số liệu nợ công thuộc về Bộ Tài chính và Bộ này tính toán nợ công quốc gia theo qui định hiện hành. Courtesy mof.gov.vn

“Đối với World Bank và IMF các nước nộp cái gì thì họ nhận cái đó thôi, giống như là khi tính GDP của Việt Nam hay GDP của Trung Quốc. Hệ thống tài khoản quốc gia đưa ra những chuẩn mực rất rõ ràng. Nhưng mà nhiều nước không theo thì Liên Hiệp Quốc, như trong trường hợp tôi có trách nhiệm tôi không được quyền tự sửa lại. Trong Liên Hiệp Quốc có hai phần, một phần tính toán do các nước nộp thì bắt buộc phải in ra; còn phần do nhân viên Liên Hiệp Quốc tự tính toán thì theo nguyên tắc khác. Thí dụ trường hợp Trung Quốc nếu mình tính lại thì có thể tốc độ tăng GDP của họ thấp hơn điều họ nói ra và tại sao chúng tôi có thể giải thích được…Nhưng về chuyên môn về pháp luật mình không được quyền đưa ra cái đó để tính thay thế con số của Trung Quốc. Các cơ quan quốc tế không có quyền làm việc này…. Trong trường hợp này về mặt nợ cũng vậy World Bank và IMF họ cũng in ra số liệu mà Việt Nam đưa cho họ thôi…trừ trường hợp họ thấy rất là sai…thì họ quyết định không in ra và họ có quyền làm việc này.”

Ít nhất đã có một én xuất hiện

Trong cuộc họp báo chiều 1/10/2015 tại Hà Nội, Thứ trưởng Tài chính Vũ Thị Mai khẳng định thẩm quyền công bố số liệu nợ công thuộc về Bộ Tài chính và Bộ này tính toán nợ công quốc gia theo qui định hiện hành. Đó là chỉ gồm nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Bà Thứ trưởng Tài chính lập đi lập lại cách tính của Bộ Kế hoạch Đầu tư là không đúng qui định.

Như vậy đã rõ ràng nợ công của Việt Nam theo qui định hiện hành là chưa thể hiện thật đầy đủ các món nợ mang tính chất nợ công. Thật ra các chuyên gia cho rằng, xác định nợ công đã vượt trần cho phép cũng chưa phải là điều quan trọng nhất, vì nhiều nước phát triển có mức nợ công quốc gia cao hơn GDP tới vài lần như Nhật 400%, Hoa Kỳ 260%.  Điều hệ trọng là khả năng trả nợ và câu hỏi đặt ra là tình hình của Việt Nam hiện nay ra sao.

Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.
-Ngô Trí Long

TS Vũ Quang Việt phân tích:

“Hiện nay Việt nam chưa gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ, hầu hết các khoản nợ đó là nợ chính phủ, nợ các tổ chức quốc tế với lãi suất thấp. Nhưng nếu tính thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước thì vấn đề sẽ gặp khó khăn mà đã từng khó khăn rồi như Vinashin đã không trả nợ được và nếu nợ ngày càng tăng là vấn đề khó. Thứ hai nữa như hiện tại giá trị của đồng tiền Việt và đặc biệt Việt Nam muốn phá giá lớn để có thể xuất khẩu được. Phá giá như vậy khả năng trả nợ sẽ giảm hẳn đi, vì phải trả nhiều hơn bằng đồng VN và như vậy họ có thể không có khả năng trả nợ nữa. Số nợ hàng năm phải trả có thể hơn 20% ngân sách quốc gia, nợ càng tăng lại phá giá đồng bạc nữa thì mất khả năng trả nợ là có.”

Tại Việt Nam, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long từng nhiều lần đề cập tới khả năng trả nợ của Việt Nam mà ông nói là quá nhiều ẩn số. Trong dịp trả lời chúng tôi Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định:

“Hiện nay thu nhập của Việt Nam phần ngân sách luôn luôn mất cân đối, thực chất làm ăn không có hiệu quả. Ví dụ trong thu ngân sách thì 75% là thu để chi còn lại là để trả nợ, như vậy thực chất không có đầu tư. Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.”

Bộ Kế hoạch Đầu tư được cho là đã làm một cuộc cách mạng khi phê phán phạm vi xác định nợ công theo Luật Quản lý nợ công hiện hành tồn tại một số bất cập và chưa tính đầy đủ nhiều khoản có bản chất là nợ công. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh được báo chí mô tả là cấp tiến và thẳng thắn, từng nói thẳng Việt Nam theo đuổi mô hình không có thật là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu ‘một con én không làm nên mùa xuân’, nhưng giới học giả trí thức từng nói rằng, ít nhất đã có một én xuất hiện chờ báo hiệu mùa xuân sắp về.

không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.
-Ngô Trí Long

TS Vũ Quang Việt phân tích:

“Hiện nay Việt nam chưa gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ, hầu hết các khoản nợ đó là nợ chính phủ, nợ các tổ chức quốc tế với lãi suất thấp. Nhưng nếu tính thêm nợ của doanh nghiệp nhà nước thì vấn đề sẽ gặp khó khăn mà đã từng khó khăn rồi như Vinashin đã không trả nợ được và nếu nợ ngày càng tăng là vấn đề khó. Thứ hai nữa như hiện tại giá trị của đồng tiền Việt và đặc biệt Việt Nam muốn phá giá lớn để có thể xuất khẩu được. Phá giá như vậy khả năng trả nợ sẽ giảm hẳn đi, vì phải trả nhiều hơn bằng đồng VN và như vậy họ có thể không có khả năng trả nợ nữa. Số nợ hàng năm phải trả có thể hơn 20% ngân sách quốc gia, nợ càng tăng lại phá giá đồng bạc nữa thì mất khả năng trả nợ là có.”

Tại Việt Nam, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long từng nhiều lần đề cập tới khả năng trả nợ của Việt Nam mà ông nói là quá nhiều ẩn số. Trong dịp trả lời chúng tôi Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định:

“Hiện nay thu nhập của Việt Nam phần ngân sách luôn luôn mất cân đối, thực chất làm ăn không có hiệu quả. Ví dụ trong thu ngân sách thì 75% là thu để chi còn lại là để trả nợ, như vậy thực chất không có đầu tư. Muốn đầu tư thì phải đi vay, trong bối cảnh làm không đủ ăn mà đầu tư lại đi vay thì nợ công là một gánh nặng. Nếu không có các giải pháp kiểm soát một cách chặt chẽ nghiêm túc, không nhìn nhận bản chất vấn đề thì hậu quả khó lường.”

Bộ Kế hoạch Đầu tư được cho là đã làm một cuộc cách mạng khi phê phán phạm vi xác định nợ công theo Luật Quản lý nợ công hiện hành tồn tại một số bất cập và chưa tính đầy đủ nhiều khoản có bản chất là nợ công. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh được báo chí mô tả là cấp tiến và thẳng thắn, từng nói thẳng Việt Nam theo đuổi mô hình không có thật là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu ‘một con én không làm nên mùa xuân’, nhưng giới học giả trí thức từng nói rằng, ít nhất đã có một én xuất hiện chờ báo hiệu mùa xuân sắp về.

RFA tiếng Việt

 

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nợ của Việt Nam, Tài Chánh-Thuế, Thời Sự | Leave a Comment »

►Năm 2013, Lương và tiền thưởng là 700 triệu/ 1 năm cho 16 Cán Bộ đảng viên lãnh đạo Tập Đoàn Than và Khoáng Sản

Posted by hoangtran204 trên 29/10/2014

Trong khi lương của công nhân trung bình 3- 6 triệu mỗi tháng và Tập đoàn Than Khoáng Sản và EVN là 2 con nợ lớn nhất VN tính tới cuối năm 2012.  Theo tổng kết mới nhất trong dịp cuối năm 2012, tập đoàn Than Khoáng Sản gọi tắt TKV đã công bố món nợ của tập đoàn này lên tới 25 ngàn tỷ tương đương với 1 tỷ 200 triệu đô la. Trong khi đó Tập đoàn điện lực Việt Nam gọi tắt EVN có số nợ còn lớn hơn, đó là 52.000 tỷ tương đương 2 tỷ rưỡi đô la. (Nguồn RFA Tiếng Việt, 12-1-2013)

Mức lương của thủ tướng VN được tính là 17 triệu đồng/ 1 tháng)

Chủ Tịch Tập Đoàn Than và Khoáng Sản lương thưởng gần 700 triệu / 1 năm 

29-10-2014

Ông Trần Xuân Hòa – Chủ tịch Tập đoàn Than- Khoáng mỗi tháng nhận 56,56 triệu đồng tiền lương và thưởng. Tính cả năm 2013, ông Hòa nhận được 678,72 triệu đồng.

Ngày 28/10, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin – TKV) đã có Báo cáo tiền lương, tiền thưởng bình quân năm 2013 của 7  Hội đồng thành viên, và 9 nguời trong ban giám đốc gồm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng.

Theo bảng lương được công bố này, người được nhận mức lương “khủng” nhất của tập đoàn là ông Trần Xuân Hòa, CTHĐTV của tập đoàn.

kinh-doanh, thị-trường, tài-chính, mức-lương, lãnh-đạo, Vinacomin
Bảng lương lãnh đạo TKV.

Theo đó, ông Hòa nhận mức lương 53,425 triệu đồng/tháng. Hàng tháng, số tiền thưởng ông nhận được là 3,125 triệu đồng. Như vậy, mỗi tháng ông Hòa nhận từ Vinacomin là 56,56 triệu đồng. Tính toàn năm 2013, ông nhận được 678,72 triệu đồng.

Vị trí thứ 2 là ông Lê Minh Chuẩn, Tổng Giám đốc. Ông Chuẩn có mức lương 52,2 triệu đồng/tháng và tiền thưởng bình quân 3 triệu đồng/tháng. Các vị trí khác trong HĐTV có mức lương dao động từ 47,810 triệu đồng – 48,534 triệu đồng/tháng.

Các Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng của Tập đoàn nhận lương từ 43,020 triệu đồng/tháng – 47,810 triệu đồng/tháng. Mức thưởng đạt từ 2,525 triệu đồng/ tháng – 2,808 triệu đồng/tháng.

PV

 

—————–

Năm sau cao hơn năm trước, nợ công của VN vẫn chồng chất. Chủ tịch nước qua Ấn Độ mượn tiền.

Thứ hai, 15/9/2014  

Ấn Độ cho Việt Nam mượn 100 triệu đô la

Báo vnexpress.net

Ấn Độ ký kết bản ghi nhớ về hạn mức tín dụng 100 triệu USD cho Việt Nam và nhấn mạnh rằng hợp tác quốc phòng là một trong những trụ cột của quan hệ hai nước, nhân chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee.

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp | Leave a Comment »

►Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ 62 tỷ 400 triệu đô la

Posted by hoangtran204 trên 17/11/2012

Nước Việt Nam không may đã bị cộng sản cai trị. Các lãnh đạo của đảng học hành rất kém, từ ông HCM cho đến nay là Nguyễn Tấn Dũng không ai học quá lớp 6. Lê Duẩn chỉ học lớp 3, Lê Đức Thọ thì không bao giờ công bố trình độ học vấn, Lê Đức Anh chỉ học tiểu học, Đỗ Mười lớp 5…Bởi vậy, từ 1954 cho đến nay, họ chỉ biết nhận viện trợ và đi vay mượn nước ngoài để sinh sống, và không đủ tài điều hành nền kinh tế. Tất cả đường sá, công trình công cộng hiện nay mà ta nhìn thấy là do các nước cho vay, và thực hiện công trình xây dựng. Số tiền vay mượn rất lớn như trong 2 bài dưới đây nhắc tới, nhưng số công trình xây dựng có được rất là ít. 

Tuy nợ nhiều như thế, và hàng năm vẫn tiếp tục thua lỗ, có năm 2011, 81 trong tổng số 91 tập đoàn và tổng công ty đều thua lỗ – 10 tập đoàn còn lại  lấy cớ chưa kiểm toán xong nên chưa kịp báo cáo-,  nhưng đảng vẫn chủ trương: kinh tế quốc doanh tiếp tục đóng vai trò chủ đạo! 

Thật ra, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là nơi làm việc của con cháu và phe đảng của bọn 14 đảng viên cao cấp trong bộ chính trị và 175 ủy ban trung ương đảng. Đây là các công ty để bọn này ăn chia và đục khoét tiền thuế của người dân, và đánh cắp các tài nguyên dầu hỏa, than đá,…và bán cho nước ngoài. Tiền đô la chúng thu được thì để dành chia nhau hưởng. Giá in một tờ giấy bạc polymer 500.000 đồng  là 5-6 cents, chỉ cần in 4 tờ giấy bạc 500.000 đồng, giá vốn chưa tới 25 xu hay 1/4 của 1 đô la, là các ngân hàng đổi lấy được 100 đô la của dân chúng. Lời chán. Cũng vì thế mà đồng tiền VN mất giá hàng năm. Chúng cũng in tiền polymer  ra để mua vàng, đẩy giá vàng lên cao ngất ngưỡng.

91 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh này chiếm hết tất cả các ngành nghề có ăn nhất, dễ kiếm tiền nhất trong nền kinh tế. Thậm chí các tập đoàn như PVN chỉ cần bơm dầu ở dưới đất lên và chở qua Nhật, Singapore, Nam Dương, Trung Quốc, Mã Lai để bán, mà cũng báo cáo thua lỗ. Tập đoàn Than và Khoáng Sản chỉ có đào than lên bán cho Trung Quốc mà cũng báo cáo là thua lỗ. Công ty Điện lực VN (EVN) chỉ bán điện mà cũng thua lỗ…tất cả công ty nào cũng báo cáo thua lỗ năm này qua năm khác, nhưng tiền thưởng hàng năm mà họ chia nhau vào dịp Tết thì dân chúng phát thèm.  

……………Cập nhật 23-11-2013

 »

Tập đoàn tổng công ty đang nợ 1,3 triệu tỷ đồng hay 65 tỷ USD  (16-1-2013)

>> Năm nay 2014 Việt Nam sẽ trả bao nhiêu nợ? 208.883 tỷ đồng

>>Năm nay Việt Nam sẽ vay bao nhiêu nợ? 6,3 tỷ USD cộng thêm tiền phát hành công khố phiếu bán cho nước ngoài

 

Các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà Nước nợ gần 1,3 triệu tỷ đồng

Theo VnEconomy

16-11-2012

Nhiều con số đáng chú ý về tình trạng nợ nần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ “tiết lộ”.

Tại văn bản chất vấn gửi đến Bộ trưởng, bên cạnh tình hình nợ trong, ngoài nước của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước, đại biểu Quốc hội còn muốn biết Nhà nước có phải dùng ngân sách hàng năm để trả nợ thay cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hay không, nếu có là bao nhiêu?

Tính đến thời điểm 31/12/2011, văn bản trả lời chất vấn cho hay tổng số nợ phải trả của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỷ đồng, tăng 18,9% so với 2010. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2011 là 1,77 lần.

Đặc biệt, có đến 30 tập đoàn, tổng công ty tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần. Trong đó có 8 đơn vị có tỷ lệ trên 10 lần, 10 doanh nghiệp từ 5 – 10 lần, 12 tập đoàn, tổng công ty từ 3 – 5 lần.
Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản theo báo cáo hợp nhất là 0,34 lần, tổng nợ phải trả/tổng nguồn vốn bình quân tính theo số liệu báo cáo hợp nhất là 0,62 lần.

Với tổng tài sản/tổng nợ phải trả, theo báo cáo hợp nhất bình quân năm 2011 là 1,62 lần, theo Bộ trưởng, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đang hoạt động phụ thuộc phần lớn vào nguồn vốn vay, dẫn đến chi phí tài chính lớn và khả năng thanh toán nợ đến hạn thấp.

Cụ thể hơn, ông Huệ cho biết, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang nợ quá hạn 10.149 tỷ đồng. Văn bản trả lời mở ngoặc đơn giải thích rằng, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện khoanh nợ khoản tiền mua điện của Petro Vietnam.

Trong khi đó, Tập đoàn Dầu khí vẫn đang nợ quá hạn 1.731 tỷ đồng (nợ của Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp tàu thủy Dung Quất – nhận bàn giao từ Vinashin). Rồi nợ quá hạn của Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam 467 tỷ đồng, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 là 128 tỷ đồng, Tổng công ty Rau quả nông sản 30 tỷ đồng.

Theo báo cáo của công ty mẹ, tổng số nợ phải trả là 606.606 tỷ đồng, tăng 22% so với 2010, nợ nước ngoài là 142.853 tỷ đồng, bằng 23,5% tổng nợ phải trả, tăng 14% so với năm 2010.

Đáng chú ý, Công ty mẹ – EVN nợ nước ngoài lên tới 99.260 tỷ đồng (do vay đầu tư nhà máy điện). Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng không Việt Nam là 24.027 tỷ đồng (do vay đầu tư mua máy bay mới). Có đến 18 công ty mẹ, tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu lớn hơn 3 lần, trong đó 5 công ty mẹ trên 10 lần.

Với nợ nước ngoài, Bộ trưởng Huệ cho hay, theo quy định của Luật Quản lý nợ công thì trong trường hợp doanh nghiệp khó khăn Bộ Tài chính sẽ ứng tiền từ quỹ tích lũy trả nợ để trả nợ thay, không lấy từ ngân sách hàng năm. Các doanh nghiệp phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm hoàn trả dần số tiền được ứng cho quỹ.

Cho tới thời điểm hiện tại, quỹ tích lũy trả nợ đang ứng trả thay cho Tổng công ty giấy Việt Nam, Tổng công ty xây dựng công nghiệp Việt Nam, Tập đoàn Sông Đà, Tổng công ty công nghiệp Xi măng, đều là các doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh vay và đang gặp khó khăn trong việc trả nợ với tổng số tiền là 109,7 triệu USD.

Các dự án trên hiện nay đang thực hiện tái cơ cấu và cam kết sẽ hoàn trả hết số tiền nhận tạm ứng trong 5 năm tới đây, Bộ trưởng cho biết.

Dòng cuối cùng văn bản, Bộ trưởng Huệ viết, “Bộ Tài chính xin trả lời đại biểu để thông báo cho cử tri được biết”.

Theo VnEconomy

  danluan.org (re-post)

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | 1 Comment »

Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước 20 tỷ 750 triệu đô la, bằng 20% GDP của cả nước

Posted by hoangtran204 trên 11/06/2012

Trong 4 năm qua, nhiều nhà kinh tế và tài chánh trong nước bỏ công tìm tòi xem nợ công của Nhà Nước là bao nhiêu? Nợ của các tập đoàn là boa nhiêu? Nhiều người nói rằng nhà nước cố giấu các con số nợ này. Nhưng nay thì nợ công của Nhà Nước đi vay đã “tạm” công bố một cách chính thức.

*Cập nhật

Theo bản ngày 25-3-2013,  The Economist, một tờ báo uy tín ở Anh vừa cho hay nợ công của toàn cầu liên tục tăng mạnh. Trong đó, nợ công của Việt Nam ở mức trên 71,7 tỉ USD, tương đương 49,4% GDP. 

Theo tờ The Economist, bình quân mỗi người dân Việt Nam gánh số nợ công hơn 800 USD.

http://cafef.vn/kinh-te-vi-mo-dau-tu/no-cong-717-ti-usd-nhin-sip-de-giat-minh-201303250715295709ca33.chn

*Cập nhật:

Theo bản tin đài BBC vào ngày 16-1-2013,  trong hội nghị ở Hà Nội có thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự,  Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm này là hơn 1,33 triệu tỷ đồng, tức hơn 60 tỷ đôla.

Đây là con số gây chấn động được đưa ra tại Hội nghị Chính phủ với các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì hôm thứ Tư 16/1 tại Hà Nội.  Người đứng đầu chính phủ đã phải nghe báo cáo của ông Phạm Viết Muôn, Phó Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ, về tổng quan hoạt động của doanh nghiệp nhà nước năm 2012, trong đó ông Muôn đưa ra các thống kê giật mình.

Doanh nghiệp nhà nước nợ 60 tỷ đôla

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/01/130116_state_companies_debt.shtml

*Ngày 25-5-2012, Trần Hoàng có bài: “Sự thất thoát và lỗ lả của các tập đoàn quốc doanh tiếp tục diễn ra” (nguồn). Các dự đoán trong bài ấy hôm nay thành sự thật.

Một nước có dân số đứng hàng thứ 13 của thế giới, nhưng có nền kinh tế thuộc loại nhỏ nhất, so với dân số. Tổng sản phẩm nội địa của VN hay GDP chỉ có 100 tỷ Mỹ kim, nhưng 12 tập đoàn quốc doanh đã mắc nợ lên đến gần 21% GDP.

Mấy tuần trước, chính phủ (đang in tiền ra) đưa tin là sẽ bỏ ra 100 000 tỷ đồng để mua lại nợ xấu này. Nhưng nay món nợ này là 415 000 tỷ đồng. Kế hoạch mua lại nợ xấu của các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước coi như đành…chờ in tiền thêm.

Các ngân hàng thương mại của nhà nước () cho các tập đoàn này mượn, và nay các ngân hàng này đang sa lầy. Các ngân hàng không có tiền để chi trả công nhân viên, không có tiền cho vay, …thậm chí, có ngân hàng thâm thủng quá, đã phải sáp nhập vào ngân hàng khác trong thời gian qua.

Nhưng các tập đoàn và tổng công ty là các túi rút tiền của đảng và nhà nước, nơi mà các cán bộ cao cấp và gia đình họ kiếm tiền và cất giữ tiền, vì thế bằng mọi cách, chính phủ sẽ bỏ tiền ra mua lại nợ của các tập đoàn (gọi trại đi là tái cơ cấu), và tiếp tục hoạt động, bình thường như mấy chục năm qua .

Có điều lạ là: tập đoàn Petrovietnam chỉ làm việc rất đơn giản là bán dầu và ga, là khai thác tài nguyên dầu và khí ở dưới biển đem lên bán cho nước ngoài, và dân trong nước. Nhưng hóa ra cũng mắc nợ hơn 3,6 tỷ đô la Mỹ. Đầu năm nay,  ngày 18-1-2012, Petrovietnam báo cáo doanh thu 675 000 tỷ đồng, nộp vào ngân sách nhà nước 160 000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm 2010…Hóa ra, các báo cáo ấy là dỏm? (nguồn)

———

Tái cơ cấu DNNN:

Xử lý 415 ngàn tỷ đồng nợ ra sao?

Báo Tiền Phong

4-6-2012

TP – Trong đề án tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vừa được Bộ Tài chính công bố, số nợ của các DNNN lên tới hơn 415.000 tỷ đồng.

Theo chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành (ảnh) tổng số nợ này đang là “quả bom nổ chậm” đối với các ngân hàng cho vay. Tháo ngòi “bom nổ chậm” này như thế nào?

Nợ quá lớn

Ông Bùi Kiến Thành phân tích: Hiện tổng dư nợ của các ngân hàng thương mại (NHTM) khoảng 2,5 triệu tỷ đồng (125 tỷ đô la Mỹ), trong đó có 415.000 tỷ đồng (20,75 tỷ đô la Mỹ) là nợ của các DNNN.

Trong đó, tính riêng 12 tập đoàn kinh tế nợ nhiều nhất chiếm tới 8,76% tổng dư nợ. Còn tính chung của các DNNN thì lên tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Trong số nợ của các DNNN, nợ xấu (nợ không đòi được) chiếm khoảng 20% – 30%, cũng đủ ăn mòn hết phần vốn tự có của DNNN.

Nên số tài sản ghi trên sổ sách của DNNN ảo rất lớn, muốn đánh giá đúng phải thanh tra.

Ví dụ như ụ nổi của Vinalines, trên sổ sách tổng giá mua về tới 26 triệu USD, nhưng nếu định giá thì nay chỉ là đống sắt vụn.

Cần lưu ý, phần lớn nợ của DNNN nằm trong các NHTM của nhà nước như Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank…

Theo Bộ Tài chính, số nợ của nhiều DNNN lên tới hơn 10 lần so với vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, nợ như vậy đã ở ngưỡng nguy hiểm với cả con nợ và chủ nợ chưa, thưa ông?

Trong một nền kinh tế quy mô nhỏ như Việt Nam (GDP chưa tới 100 tỷ đô la) mà tổng dư nợ tín dụng tới khoảng 2,5 triệu tỷ đồng (125 tỷ đô la Mỹ), trong đó số nợ của các DNNN lên tới 16,9% dư nợ tín dụng là cực kỳ lớn, không thể chấp nhận được rồi.

Theo tiêu chí của Thụy Sĩ, nợ xấu, nợ khó đòi của ngân hàng tối đa không được quá 2%, thậm chí dưới 1,5%. Còn theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì nợ xấu của ngân hàng ở mức 3,6% (thực tế nếu theo tiêu chí của thế giới thì tỷ lệ xấu còn cao hơn rất nhiều), cao hơn mức của thế giới khá nhiều rồi.

Nhà nước mua lại nợ xấu

Tập đoàn Điện lực VN có số nợ lên tới 62.800 tỷ đồng, chỉ đứng sau Tập đoàn Dầu khí.

Để thực hiện tái cơ cấu DNNN, thì phải giải quyết số nợ trên như thế nào, thưa ông?

Phải giải quyết nợ xấu, nợ của các DNNN trước, để kéo nợ xấu xuống dưới mức quy định của quốc tế. Phải hiểu, nợ xấu của ngân hàng có nhiều mức khác nhau.

Nợ nhóm 1, 2 là nợ quá hạn trong giai đoạn 60 – 90 ngày.

Nợ nhóm 4 là nợ ở mức khó có thể thu hồi,

còn nợ nhóm 5 là nợ coi như mất rồi, không thu hồi được.

Trong số hơn 415.000 tỷ đồng nói trên, trước tiên phải phân loại các nhóm nợ. Những khoản nợ nào không thu hồi được thì nhà nước phải tính đến việc xóa nợ.

Còn nợ nhóm 4 thì phải khoanh lại, phân tích xem có khả năng đòi được không. Nếu không đòi được thì xấu đến mức nào.

Chính phủ đã có chỉ đạo NHNN, Bộ Tài chính giải quyết các khoản nợ xấu, nợ khó đòi và có thể đứng ra tổ chức một công ty mua bán nợ đặc biệt mua lại nợ khó đòi của các ngân hàng với số vốn 100.000 tỷ, tương đương gần 5 tỷ USD.

Tuy nhiên, số tiền này không đủ để mua lại số nợ lên tới hơn 415.000 tỷ đồng của các DNNN cũng như không đủ để giải quyết toàn bộ nợ xấu của hệ thống NHTM. Muốn giải quyết, trước tiên phải đi thẩm tra lại các khoản nợ.

Nhưng làm sao để giám sát việc mua bán nợ này, tránh tiêu cực?

Phải quản lý công ty mua bán nợ đó dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân có sự tham gia của nhà nước.

Như ở Mỹ, trong những năm khó khăn của hệ thống ngân hàng với sự sụp đổ của hàng trăm ngân hàng, nhà nước cũng phải lập ra công ty mua bán nợ để giải quyết. Cái quan trọng là phải làm thế nào để không tạo ra tham nhũng cũng như tạo ra thêm nợ xấu.

Vì vậy, nếu có ý định lập đơn vị mua lại các khoản nợ xấu trên, phải có đội ngũ thẩm định độc lập gồm các chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia việc thẩm định giá trị tài sản.

Vì nếu chỉ giao cho NHNN, hay Bộ Tài chính không loại trừ việc doanh nghiệp cho tiền nhân viên thẩm định để đẩy giá lên cao, dễ xảy ra tình trạng tham ô.

Xem xét trách nhiệm cá nhân

Thế còn việc xử lý trách nhiệm của lãnh đạo các DNNN gây ra nợ xấu thì sao, thưa ông?

Phải xem lại vì sao có chuyện vay vốn ồ ạt để đầu tư ra bên ngoài, dẫn đến thua lỗ của các tập đoàn. Phải xem lại ban kiểm soát của các tập đoàn đã làm đúng trách nhiệm của mình hay chưa.

Đặc biệt, phải xem xét trách nhiệm của những nhân sự cấp cao, để xảy ra tình trạng thua lỗ, mất khả năng trả nợ. Cũng cần xem lại quản lý nội bộ của các tập đoàn, NDNN để xảy ra tình trạng đầu tư tràn lan dẫn đến bị thua lỗ.

Có ý kiến, sở dĩ các tập đoàn kinh tế nợ nần, hoạt động kém hiệu quả do chúng ta thực hiện thí điểm quá dài, dẫn tới có những lỗ hổng lớn trong quản lý, giám sát?

Ở các nước, nếu các DNNN không thích ứng và không còn phù hợp với nền kinh tế thì phải xem lại có nên để nó tiếp tục tồn tại hay không. Với những trường hợp này, họ sẽ tư nhân hóa bằng cách bán cổ phần. Vấn đề cho tồn tại hay không tồn tại của các DNNN hiện nay nên xem xét dưới góc độ, nếu tư nhân làm được thì nên cổ phần hoá nhanh, nhà nước chỉ giữ lại những DNNN đặc thù mà tư nhân không thể làm thay hoặc không muốn làm.

Cảm ơn ông.

Bảy “ông lớn” nợ hơn 10 lần vốn chủ sở hữuTheo số liệu trong đề án “Tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước” vừa được Bộ Tài chính hoàn thiện, tính đến tháng 9-2011 dư nợ vay ngân hàng của các doanh nghiệp nhà nước là 415.347 tỷ đồng, chiếm tới 16,9% tổng dư nợ tín dụng.Đáng chú ý, riêng 12 tập đoàn kinh tế của nhà nước dư nợ đã lên tới 218.738 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ ngân hàng và chiếm 52,66% dư nợ cho vay DNNN.Trong đó, dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí (Petro Vietnam) với 72.300 tỷ đồng; Tập đoàn Điện lực (EVN) đứng thứ hai với 62.800 tỷ đồng… Đề án cũng cho biết, có 30/85 tập đoàn và tổng công ty có tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu cao hơn 3 lần; đặc biệt có 7 tập đoàn, tổng công ty có tỷ lệ này trên 10 lần (như Tổng Cty Xây dựng Công nghiệp, Tổng Cty Xây dựng công trình giao thông 1, 5 và 8, Tổng Cty Xăng dầu Quân đội, Tổng Cty Thành An và Tổng Cty Phát triển đường cao tốc VN).

Phạm Tuyên

*Nguyên tắc duy trì tập đoàn kinh tế nhà nước

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►Nhà máy lọc dầu Dung Quất cần thêm 1,5 đến 2 tỷ đô la

Posted by hoangtran204 trên 19/02/2012

Xây dựng Nhà máy lọc dầu Dung Quất tốn 3 tỷ, mới khánh thành 6-1-2011,  vẫn đang còn trả nợ hàng tháng, nay nhà máy cần thêm tiền. Mặc dù  Nhà máy DQ lỗ mỗi ngày là 500 000 đô la, hay 120 -150 triệu đô la mỗi năm. Lọc 1 tấn dầu thô tiền công từ 5–30 đô tùy theo giá dầu ngoài thị trường cao hay thấp, Nhà máy DQ  luôn luôn báo cáo là chạy hết công suất 100%, nhưng khi tổng kết từ đầu năm 2009, đến tháng 8-2011, tổng số xăng dầu lọc được trong hơn 2 năm rưỡi qua chỉ có 3,3 triệu tấn xăng dầu các loại.

Nay nhà máy cần thêm tiền!

Để xây dựng nhà máy lọc dầu công suất 10 triệu tấn một năm, thời giá lúc xây dựng chỉ có à 1,2 đến 1,5 tỷ. Nhưng Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất đã đầu tư vào hơn 3 tỷ đô để xây dựng lọc dầu thô loại ngọt, ít lưu huỳnh, độ acid rất thấp, chỉ  dành riêng cho giếng dầu Bạch Hổ. Nhưng sau thời gian khai thác hơn 20 năm qua, giếng Bạch Hổ nay đã cạn, không còn dầu ngọt nữa, nhà máy DQ vì thế đã phải mua dầu ngọt rất đắt tiền pha trộn với dầu chua (chứa nhiều lưu huỳnh, nên độ acid rất cao), phá tan các van lọc trong hệ thống lọc của Dung Quất.

Đó là lý do tại sao nhà máy DQ hoàn thành đầu năm 2009, chạy cà ạch cà ụi, thử tới, thử lui, và khánh thành đầu năm 2011, nhưng chỉ chạy chừng 4  tháng, lại phải thay van 1 lần, vì acid trong dầu chua rất cao hơn dầu ngọt, đã phá tan hệ thống van lọc. Thực tế là phải thay van mới lọc được dầu, nhưng nhà máy phải nói tréo qua là: nghĩ bảo dưỡng…định kỳ.

Nhà máy đã thuê Nhật tới thay van và tái thiết kế lại các van để nhà máy có thể lọc dầu chua, nhưng xem ra khó có thể tiếp tục lọc lâu dài, Nếu phá bỏ nhà máy bán sắt vụn thì tiếc, và cần phải có tiền, khoảng 1,5 tỷ đô la, để xây dựng nhà máy lọc dầu chua.

Vào ngày 6-1-2011, Tổng Giám Đốc Dung Quất công bố bán 49% nhà máy, với giá 1,2 đến 1,5 tỷ đô la, nhưng không một công ty nước ngoài nào mua,  vì giá xây dựng mới của một nhà máy lọc dầu (chua)  chỉ có 1,5 tỷ đô la.

Sau một năm bán không ai mua, nay Dung Quất đổi chiến thuật,  nói trớ qua là: cần nâng công suất lọc từ 6 triệu tấn lên 10 triệu tấn mỗi năm và đang kêu gọi nhà nước bỏ thêm 2 tỷ đô la vào. 

Chú ý: dầu thô được chia thành 2 loại, dầu chua và dầu ngọt. Dầu thô có nhiều lưu huỳnh (độ acid rất cao) gọi là dầu chua. Xây dựng nhà máy lọc dầu chua giá thành hiện nay là 1,2- 1,5 tỷ đô. Và dầu thô có chứa ít lưu huỳnh gọi là dầu ngọt. Dầu ngọt giá rất đắt và lọc rất dễ, nhưng kết cấu máy móc và hệ thống van của nhà máy lọc dầu ngọt khác với nhà máy lọc dầu chua. Đem dầu chua lọc ở nhà máy lọc dầu ngọt ở Dung Quất thì van bị hỏng rất nhanh, vì acid ăn mòn hệ thống van lọc.

Để dễ hình dung sự khác biệt hãy tạm lấy thí dụ mua 1 truyền hình màu ở Mỹ, hệ NTSC đem về VN. Xem phim thì được, nhưng hình chỉ có hai màu đen trắng. Nhờ thợ gắn bộ chuyển hệ qua Pal-DK thì phải trả thêm tiền. Người xem sẽ nhìn thấy hình có đủ màu, nhưng hình không rõ nét, và  mờ. Cuối cùng, nhiều gia đình bỏ luôn và mua loai truyền hình đa hệ hay chỉ có hệ Pal-DK. Nhà máy Lọc Dầu Dung Quất hiện đang ở tình trạng chuyển hệ. Nên chỉ còn cách phá bỏ, bán sắt vụn, và xây dựng nhà máy mới. Do sản phẩm xăng giá thành cao và phẩm chất xấu, thua xăng Singapore, đó là lý do tại sao các công ty hàng không của vn không chịu mua xăng Dung Quất, mà cứ tiếp tục nhập xăng singapore.

Ngay từ năm 1993, khi đảng CSVN muốn xây dựng nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, tỉnh Quãng Ngãi, đã có nhiều công ty nước ngoài và các Việt Kiều góp ý là không nên xây dựng ở Quãng Ngãi, vì dầu thô khai thác ở ngoài khơi Vũng Tàu, vận chuyển 600 km mới về đến Quãng Ngãi (quãng đường này còn dài hơn vận chuyển tới các nhà máy lọc dầu ở Singapore), và sau khi lọc xong, thì phải chại ngược vô Nam hoặc ra Bắc…phí vận chuyển do đó sẽ tăng cao. Nói cách nào thì đảng vẫn không nghe, đảng theo đúng phương châm: đã quyết định thì phải làm, bất chấp thiệt hại! Ngày nay thì tai hại trước mắt. Dâu thô khai thác ra, phải bán hết cho Nhật, cho Singapore, và đi mua xăng của Singapore! Và khi đem về VN, các loại thuế và phí đánh vào giá xăng làm cho 1 lít xăng ở VN luôn luôn cao hơn 20-25% giá 1 lít xăng ở Mỹ. Giá này thì người dân VN phải trả, còn đa số cán bộ đảng cấp quận huyện trở lên thì được cấp  xe công, đổ xăng chùa, không phải trả tiền. 

 

Nhà máy lọc dầu Dung Quất: Cần 1,5 – 2 tỷ USD để mở rộng, nâng cấp

http://www.sggp.org.vn/dautukt/2012/2/280955/

Gần 2 giờ trò chuyện với Tổng Giám đốc Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) Nguyễn Hoài Giang (ảnh), người đang “cầm lái” con tàu khổng lồ Dung Quất (vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD) vận hành trơn tru, giúp chúng tôi cảm nhận được bầu nhiệt huyết, khát vọng trong ông với những toan tính về ngành lọc hóa dầu trong tương lai.

– PV: Ông đánh giá thế nào việc thị trường xăng dầu năm qua có nhiều biến động, trong khi công suất của nhà máy 6,5 triệu tấn/năm chưa thể điều tiết thị trường?

 

– Ông NGUYỄN HOÀI GIANG (ảnh) : Nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất hiện nay dù chạy tối đa 100% công suất cũng chỉ đáp ứng 30% nhu cầu toàn quốc nên chưa đủ sức điều tiết mạnh mẽ nhu cầu thị trường khi có biến động, bởi trên 70% lượng xăng dầu chúng ta vẫn đang phải nhập khẩu. Vì thế, ngay từ khi đi vào vận hành, chúng tôi đã có kế hoạch mở rộng, nâng công suất nhà máy lên 10 triệu tấn/năm; đồng thời có những bước chuẩn bị xây dựng NMLD số 2, số 3 để đáp ứng 100% nhu cầu xăng dầu trong cả nước. Mở rộng và nâng cấp NMLD Dung Quất là bài toán lớn, vốn khoảng 1,5-2 tỷ USD nên cần nghiên cứu chi tiết, thấu đáo và triệt để cả về công nghệ, kỹ thuật, môi trường và thị trường thương mại. Vì vậy, phải mất 5-6 năm dự án mở rộng mới xong, lúc đó bức tranh về thị trường xăng dầu toàn quốc sẽ sáng hơn bây giờ.

– Tiến độ mở rộng sản phẩm hóa dầu có khả quan?

– Chúng tôi đang tiến hành bước nghiên cứu khả thi chi tiết với nhà thầu Nhật Bản, đến tháng 3 năm nay mới kết thúc, sau đó mới tính đến các bước khác.

Hiện NMLD Dung Quất cùng với nhà máy sản xuất hạt nhựa Polypropylene (PP) đã có thể coi là tổ hợp lọc – hóa dầu rồi. Tuy nhiên, tổ hợp này vẫn còn ở quy mô nhỏ, chủng loại cũng chưa đa dạng so với các nước khác trên thế giới (mới có 8 loại sản phẩm); chưa đa dạng về mặt tổng thể để chúng ta có thể kéo theo, đầu tư các ngành công nghiệp – dịch vụ vệ tinh, công nghiệp nhẹ sử dụng đầu ra của NMLD. Vì vậy, dừng lại ở đây là thất bại, chúng ta phải bước tiếp bằng cách nâng cấp, mở rộng NMLD Dung Quất.

– Đóng góp của NMLD cho nguồn thu ngân sách Nhà nước khoảng 14.000 tỷ đồng/năm, nhưng lợi ích của người dân dường như vẫn chưa rõ?

– Hàng đêm, khi nhìn ngọn đuốc của nhà máy, những ánh đèn trong các phân khu công nghệ bật sáng lung linh, NMLD Dung Quất như một thành phố thu nhỏ nhưng trăn trở lớn của chúng tôi là làm sao ngọn lửa đó thật sự sưởi ấm cho những người dân nghèo, những người đã nhường đất cho nhà máy. Tuy nhiên, hiệu quả đó phải lan tỏa từ từ, bằng chứng là nguồn lợi của NMLD đã quay ngược lại phục vụ lợi ích của người dân Quảng Ngãi, khu vực miền Trung, giúp nâng cao tổng thể đời sống văn hóa – xã hội, lôi kéo được các nhà đầu tư nước ngoài, cơ sở hạ tầng, giao thông, dịch vụ phát triển… thu hút nhân lực, lao động, tạo thêm việc làm.

– Theo ông, chỉ nên mở rộng, nâng cấp thay vì xây mới nhà máy lọc dầu?

– Hai cái đó khác nhau, chúng ta vẫn phải xây mới, và nhu cầu đó vẫn đang được triển khai, bởi có lọc dầu mới có hóa dầu. Ở NMLD Dung Quất hiện đã có lọc dầu, hóa dầu rồi, việc nâng cấp mở rộng là bước tiếp theo để nâng cao sản lượng, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm để phát triển tiếp các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp dịch vụ ăn theo. Chúng ta đã đầu tư vào đây, đã sẵn có hạ tầng, cảng biển nước sâu, thành phố Vạn Tường, đường giao thông, cung cấp điện, xử lý chất thải, xử lý nước, dự án công nghiệp dịch vụ ăn theo (Doosan, cảng Gemadept…) nên nâng cấp, mở rộng là bước kế thừa những lợi thế của hạ tầng sẵn có, khác hẳn với việc đầu tư mới tốn kém hơn rất nhiều.

Kế hoạch nâng cấp, mở rộng vẫn đang được tiến hành và nhà nước vẫn đang kêu gọi đầu tư vào NMLD số 2, số 3, hai vấn đề này không mâu thuẫn nhau mà bổ sung, hỗ trợ nhau đưa ngành lọc hóa dầu nước ta lên tầm cao hơn.

– Việt Nam tự sản xuất xăng – dầu có khó không?

– Thật ra sản xuất xăng – dầu không khó khăn gì cả, bởi việc này các nước khác đã làm từ lâu rồi, chúng ta theo sau mà thôi, chẳng qua với chúng ta dự án này quá mới, hiện đại, phức tạp so với những dự án khác trong nước. Xây dựng NMLD Dung Quất, chúng ta tự hào đã thành công, nhưng đây mới chỉ là thành công bước đầu, còn khiêm tốn.

Ông có nghĩ đến ngày Việt Nam xuất xăng – dầu ra thế giới?

– Ước mơ thì có, nhưng đừng bao giờ mơ ước viển vông. Với tôi, ước mơ bao giờ cũng gắn với thực tế và khả thi nhất trong thời gian nhất định. Còn bây giờ, hãy đáp ứng và cung cấp đầy đủ các nhu cầu xăng dầu nội địa cho đất nước, rồi hãy nghĩ đến xuất khẩu. Để vươn ra thế giới, cạnh tranh với thế giới thì ngay bây giờ, chúng ta phải nhen nhóm và đốt lên được ngọn lửa trong trái tim; bắc những nhịp cầu, đặt những nền móng đầu tiên cho thế hệ tiếp theo, để họ có bản lĩnh, kinh nghiệm biến ước mơ đó thành hiện thực.

HÀ MINH (thực hiện)

———————

Chủ Nhật, 29/01/2012 | 11:29

http://vietstock.vn/ChannelID/761/Tin-tuc/213188-con-dao-phai-du-sac-de-cat-nhung-cuc-cung-loi-thoi.aspx

“Con dao phải đủ sắc để cắt những cục cưng lỗi thời”

“Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các doanh nghiệp nhà nước chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích. Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các doanh nghiệp khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng

Những “cục cưng” được kỳ vọng

Trên thực trạng nền kinh tế Việt Nam lâu nay, những con số thống kê ngày càng lộ diện vấn nạn “cục cưng”.

Nổi bật là những doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Các DN này chiếm tới 70% tổng số vốn đầu tư từ xã hội, 50% vốn đầu tư nhà nước, 60% vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA ở Việt Nam.

Họ được hưởng mọi loại ưu đãi về vốn, cơ chế, một số DN còn được ngồi trên các “mỏ vàng độc quyền”, như kinh doanh xăng dầu, điện… Ở dưới trông lên, kỳ vọng da diết của nhân dân là các “cục cưng” này sẽ đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đem lại phồn vinh cho xã hội.

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư từ nhóm DN này quá thấp, chỉ đóng góp vào GDP khoảng 38%. Chi phí làm ra cùng một mặt hàng, cùng một  chất lượng cao gấp hai lần so với doanh nghiệp tư nhân (DNTN) không được đầu tư đồng nào từ vốn nhà nước và không có bất cứ ưu đãi gì từ cơ chế chính sách…

Còn theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN chưa bao giờ qua được 6% trong suốt hơn 10 năm qua. Hiện nay, các “cục cưng” này chiếm tới khoảng 70% “nợ khó đòi” – nghĩa là không đòi được – của các ngân hàng thương mại. Nhiều tập đoàn, công ty độc quyền đã thua lỗ trong nhiều năm.

Nếu là lãnh đạo DNTN, họ sẽ phải cầm cố tài sản, bán tháo nhà cửa, thậm chí phải tự tử để cứu vãn danh dự cho gia đình. Nhưng vì là những “cục cưng”, nên các ông chủ này vẫn ung dung, phớt lờ dư luận, đổ trách nhiệm cho người khác, vẫn tự chia cho mình những khoản thu nhập cao chót vót, và báo lỗ vô tội vạ.

Từ năm 2009 đến nay, nhiều DNNN gây thất thoát. Không chỉ DN không được độc quyền, mà cả những DN quá được ưu đãi về cơ chế kinh doanh, như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Xăng dầu cũng luôn gánh trên mình những món nợ khổng lồ, nhưng lại đặt ra vô số nghi hoặc về nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng, bình quân bằng 1,67 lần vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, có tới 30 tập đoàn, tổng công ty nợ phải trả lớn hơn mức quy định (ba lần vốn điều lệ). Trong đó, có 7 đơn vị nợ trên 10 lần vốn, 9 tổng công ty nợ 5-10 lần vốn và 14 công ty nợ phải trả gấp 3-5 lần vốn. Sự hoang tàng của những đứa “con cưng” này đã khiến cho Chính phủ phải đau đầu để tính chuyện ứng phó.

Ứng phó, tái cơ cấu, hiệu quả đến đâu chưa biết, nhưng giải pháp đầu tiên mà Bộ Tài chính đưa ra là cho “uống thuốc bổ”. Đương nhiên, dù cách nào, cũng là bằng tiền thắt lưng buộc bụng của dân.

Theo Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ, Bộ Tài chính đang xem xét phải dành hơn 50.000 tỷ đồng nhằm tái cấu trúc nợ, cấp thêm vốn điều lệ… cho các DNNN được tái cơ cấu. “Việc sắp xếp lại DN phải có tiền. Tôi báo cáo với Chính phủ phải có bồi bổ trước, rồi mới dùng kháng sinh, chứ con bệnh đang sốt cao mà chữa ngay là không chịu được”. Ông còn cho biết, Tập đoàn Sông Đà sẽ “đi tiên phong” trong tái cơ cấu DN, song chi phí cho họ lên tới 10 triệu USD. Số tiền này vay của Ngân hàng Phát triển châu Á.

Và những “đứa trẻ” không được “uống thuốc bổ”

Có ai nghĩ đến chuyện xoa dịu vết thương và cứu giúp những DN nhỏ và vừa – hầu hết là DNTN, chẳng bao giờ được “uống thuốc bổ” không? Đó là lực lượng làm nên nền kinh tế thị trường thực sự.

Chỉ cần bớt ít chút vô cảm, nghiêng mình xuống gần đất hơn, ta sẽ phải thương khóc cho cái chết của vô số DNTN nhỏ và vừa – những đứa con sinh ra bởi kinh tế thị trường, góp phần thực sự lớn vào tài sản xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều công dân. Nhưng họ chẳng bao giờ được uống “thuốc bổ”, mà còn phải chịu đựng nhiều áp lực.

Áp lực chi phí liên tục tăng do lạm phát, do bị cạnh tranh không lành mạnh, thị trường bị thu hẹp…, khiến hệ thống DN, đặc biệt là DNTN, bị ép cả từ nhiều phía và “phần đông hầu như chỉ còn thoi thóp thở”. Khác với những “cục cưng”, những DNTN hầu hết phải tự vật lộn và xoay xở bằng chính đồng vốn và năng lực của mình.

Theo Tổng cục Thuế, mặc dù 2010 là năm có số DN phá sản tới mức báo động, nhưng vẫn không thể so sánh với tốc độ phá sản của năm 2011. Thống kê chưa đầy đủ, năm 2011, có tới khoảng 49.000 DN giải thể hoặc ngừng kinh doanh, tăng hơn 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng Hà Nội đã có tới hơn 3.000 DN phá sản hoặc ngừng hoạt động.

Họ phá sản có thể do năng lực yếu kém, do bị “chết lây” vì khủng hoảng kinh tế, vì lạm phát, vì thiếu may mắn hoặc có thể do những “giật cục” bất thường của chính sách… Khác với những DNNN, DNTN phải trả giá cho sự phá sản bằng chính sinh mạng mình và gia đình mình, mặc dù bản thân họ đã cố gắng hết sức để giảm giá thành sản phẩm và tiết kiệm tối đa mọi chi phí.

Mỗi một DN phá sản ảnh hưởng tới hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn thành viên của DN. Trong đó, mỗi thành viên này lại ảnh hưởng đến cuộc sống của cả một gia đình. Chưa kể các vụ vỡ nợ, giật hụi, lừa đảo… trị giá hàng chục, hàng trăm tỷ đồng xuất hiện ngày càng nhiều gần đây, khiến cho hàng triệu người phải khốn đốn, mất nhà cửa, tài sản, tha phương cầu thực.

Nếu họ có tài sản thế chấp và chịu chi phí “bôi trơn”, DN ngắc ngoải của họ có thể vay được vốn ngân hàng với tỷ lệ lãi suất thuộc hàng cao nhất thế giới: 18-27%/năm. Chỉ cần một khâu trục trặc của thị trường hoặc chính sách thay đổi, họ không có cách nào tránh khỏi cái chết được báo trước đối với lãi suất ấy.

Với tỷ lệ lạm phát được nhận xét là cao nhất châu Á và đứng thứ nhì thế giới. Với sự phá sản của hàng loạt DN, lại thêm gánh nặng nợ nần từ các DNNN chất lên vai, cùng với nguy cơ nợ xấu và sự đóng băng của thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán…,  làm lung lay dữ dội sự an nguy của các ngân hàng trong nước. Cộng thêm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng theo nhiều chuyên gia kinh tế, nền kinh tế nước nhà đang lâm vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ 20 năm qua.

Cần một con dao mổ sắc bén

Để khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã nhấn mạnh việc tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế.

Cả Hội nghị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã khẳng định nhiệm vụ tái cơ cấu với ba trọng tâm là tái cơ cấu đầu tư công, ngân hàng và DNNN.

Thủ tướng Chính phủ đã nêu ra một trong những mục tiêu trọng điểm của các năm tới là “đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh”.

Để thực hiện nhiệm vụ này, nhiều ngành, nhiều cấp đã có những hội thảo lớn. Nhưng nếu sửa bằng cách “cho uống thuốc bổ”, thì lại tốn thêm nhiều tỷ USD vào nền kinh tế đang vô cùng khó khăn, nợ nần quốc gia thêm chồng chất. Cho uống thuốc bổ mà không phẫu thuật “khối u phát bệnh”, thì chỉ làm bệnh càng nặng thêm.

Câu hỏi đặt ra là, đối tượng nào sẽ được lợi nhiều nhất sau những chương trình tái cấu trúc DN; và nợ của DN sẽ do ai gánh chịu?

Do đó, vấn đề cấp thiết là phải sửa từ nhận thức chiến lược, từ tư duy chỉ đạo. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, mọi sự sửa từ nhiều năm nay cuối cùng cũng chỉ là tạo mọi điều kiện để DNNN được có mọi ưu tiên để “đóng vai trò chủ đạo”. Chúng cũng là nơi vô tình sinh sôi của các nhóm đặc quyền đặc lợi, tham nhũng và bòn rút tài nguyên quốc gia. Điều này đã làm tha hoá một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức và ảnh hưởng đến lòng tin của dân chúng.

Để thực hiện mục tiêu từ cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu, cải cách DNNN đến sắp xếp lại hệ thống ngân hàng…, tất cả đều vấp phải trở lực quyết liệt từ các nhóm lợi ích đầy thế lực tìm cách ngăn cản.

Lực cản đó nằm giữa lợi ích của các bộ, ngành chủ quản, của tầng nấc lãnh đạo DNNN, của các cá nhân có trách nhiệm về sai lầm, thất thoát của DN trong quá khứ. Để tái cấu trúc ngân hàng, liệu đã ai thấy có đủ sức mạnh để triệt tiêu lợi ích của các “quyền lực ẩn” đằng sau các ngân hàng này và các DN mà sự sống chết của họ gắn liền với sự hưng vong của các ngân hàng có chức năng và quyền lợi từ “bơm máu chùa”?

Nếu không khống chế và triệt tiêu được các lực ẩn này, thì quy định được ghi trong văn bản đại hội Đảng: “Các thành phần kinh tế đều bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh…” đã bị vô hiệu hóa. Và mục tiêu của Chính phủ đề ra sẽ không thực hiện được.

Ai cũng hiểu rằng, tái cơ cấu là sửa lại cơ cấu hiện có. Nhưng một khi còn chưa rõ ràng về quan điểm, nhất là về vai trò của DNNN trong nền kinh tế, thì đường hướng sẽ bị ách tắc.

Thủ tướng Chính phủ phân định: muốn đổi mới DNNN thành công, khung thể chế đóng vai trò quyết định.

Nhiều chuyên gia cho rằng, việc tiếp tục duy trì một cách duy ý chí các DNNN chỉ làm sai lệch chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.

Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Phó trưởng ban Chỉ đạo đổi mới DNNN Phạm Viết Muôn nói rằng, khó khăn lớn nhất trong cải cách DNNN là thống nhất tư duy. Ông nói: “Chúng ta nói nhiều mà làm chưa được bao nhiêu. Tôi cho khó khăn lớn nhất là chính sách cần để đổi mới thì làm quá lâu, khi có thì không còn phù hợp với thực tế. Đi bắt con thỏ mà huy động nhân lực cả tháng, ra đến nơi thì nó chạy mất rồi”.

Tiến sĩ Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nói: “Cải cách DNNN đến nay tư duy còn đầy tranh cãi”. “Trong quá trình cải cách sẽ có người mất… Nhóm lợi ích đã trở nên rất hùng hậu, mà nay vượt qua không dễ”.

Trong các ý kiến thảo luận về tái cơ cấu, có nhiều chuyên gia kinh tế đề xuất rằng, các DNNN chỉ thật sự cần thiết được duy trì trong những lĩnh vực dịch vụ công ích.

“Nếu chúng lỗ hoặc vỡ nợ, thì chúng nên được phá sản như các DN khác. Nhà nước không nên có hình thức đảm bảo hoặc trả nợ nào cho chúng” (theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương).

Đó là những ý kiến hợp lý và đầy trách nhiệm. Chính phủ nên sử dụng “con dao mổ sắc bén” ấy cho một cuộc đại phẫu thuật cắt bỏ khối u và làm lành vết thương cho nền kinh tế.

Võ Thị Hảo

đầu tư chứng khoán

————

Mời các bạn coi thêm ở đây về Petrovietnam và  Dung Quất: http://wp.me/po94e-1×5

——————–

Ở Việt Nam, 100 tập đoàn và tổng công ty quốc doanh nắm 70% nền kinh tế cả nước (khoảng 90 tỷ). Theo báo cáo báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 của PVNCPetrovietnam có tổng doanh thu năm 2011 về bán dầu thô và khí là 675,3 nghìn tỷ đồng (hay 34 tỷ đô la), chiếm 40% GDP. Nhân sự điều hành 100 công ty quốc doanh và tập đoàn là con cháu, bà con thân thích của 14 ủy viên Bộ Chính Trị và 174 ủy viên trung ương Đảng.  Đây là sân sau, là nơi vừa làm vừa chơi và thua lỗ hàng năm, vừa là nơi hút tiền cho các nhân vật cao cấp trong chính quyền.

Bộ tài Chánh báo cáo đầu năm 2012: tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty là trên 1 triệu tỷ đồng hay 50 tỷ đô la Mỹ!

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Cán bộ yếu kém chuyên môn- thiếu trách nhiệm-Thoái hóa, Chính Sách Kinh Tế-Tài Chánh, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Tagged: | Leave a Comment »

►Nợ Công năm 2010, và 2011 – Nợ của các Tập đoàn và Tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh 2010

Posted by hoangtran204 trên 12/10/2011

Nhà nước dấu rất kỷ số nợ công và nợ của doanh nghiệp nhà nước. Các nhà kinh tế và tài chánh trong nước cứ phải dựa vào các nguồn tin do quốc hội, bộ tài chánh đưa ra mỗi lần một mảnh nhỏ, và đúc kết thành các bài báo sau đây:

Đài BBC năm 2006 có bài viết như sau:  Suốt hơn thập kỷ qua, năm sau cao hơn năm trước, các nước cấp viện trợ  đã dành cho Việt Nam nguồn vốn cam kết hàng  chục tỷ đô la. (nguồn)

5 năm sau, vào 28-11-2011, báo chí quốc tế tiếp tục cho biết:
CHXHCN Việt Nam là 1 trong 5 nước lâu nay nhận viện trợ nhiêù nhất thế giới
(nguồn)
Vietnam is one of five countries receiving the biggest ODA (Official Development Assistance) capital in the world.

Các nhà tài chánh và kinh tế trong nước gần đây có viết chút ít về nợ nần của Việt Nam. 5-6 bài báo dưới đây nói về nợ công, và nợ của các tập đoàn và tổng Công Ty do nhà nước bảo lãnh… Mời các bạn đọc và tìm hiểu.

“Ông (Bùi Kiến) Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-201032,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009; trong đó, nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh (4,6 tỷ đô la).

Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD,  nợ của doanh nghiệp được chính phủ bảo lãnh là 3,98 tỷ USD, tổng cộng là 28 tỷ USD, chiếm 41,9% GDP;  (GDP của VN năm 2009 là 90 tỷ. (nguồn)  và ở đây

Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

————————————————————————-

*Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia,

Nợ công năm 200733,8% của GDP, hay 21 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 61 tỷ  (nguồn)

2008 nợ công là 36,2% của GDP, hay 29 tỷ USDGDP của VN vào năm này là 85 tỷ

2009 nợ công là 41,9%  của GDP, hay 37 tỷ USD; và GDP của VN vào năm này là 91 tỷ (nguồn)

2010 nợ công là 56,7% của GDP, hay 54 tỷ USD ; GDP của VN vào năm này là 97 tỷ

Dự kiến nợ công năm 2011 khoảng 58,7%của GDP, hay 61 tỷ USD; GDP của VN vào năm 2011 là 104 tỷ (nguồn).

Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.”

Các con số trên là chưa tính đến nợ Doanh Nghiệp Nhà Nước, do chính phủ bảo lãnh. 

Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

++++++++++++++++++++++++++++

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng

(Dân trí) – Thứ Bẩy, 09/07/2011.  Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng (= 56,1 tỉ đô la Mỹ), tương đương 56,7% GDP năm 2010, và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng (69 tỷ  US đô la) , bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng (42 tỷ US đô la), bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý ( gần13 tỷ  US đô la), đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn… ( theo Sơn Ngọc)

***************************************

Trong bài báo 3 Rủi Ro Lớn từ  Nợ Công của Việt Nam (ở cuối bài nầy)

Nếu như vào năm 2001, nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD. Trong giai đoạn này nợ Chính phủ tăng trung bình khoảng 20%/năm, gấp ba lần tăng trưởng GDP. Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước (100 tập đoàn và tổng công ty)  còn tăng nhanh hơn, nhất là trong vòng 5 năm trở lại đây, từ khi hàng loạt tập đoàn nhà nước ra đời.”

Trong một bài báo khác có tựa để Cảnh Báo Nợ của Doanh Nghiệp Nhà Nước, tác giả Vũ Thành Tự An, nguồn  Theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

“…Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng (41 tỉ đô la), tương đương với 49% GDP.

Theo Uỷ Ban Tài Chính quốc gia, nợ của DNNN năm 2009 có hơi khác một chút. Trích: Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ (4,3 tỉ đô la), thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn và tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”, GDP của năm 92 tỷ USD, vậy nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD.  (bài của Vũ Thành Tự An)

Tổng cộng   Nếu như vào năm 2001 nợ Chính phủ mới chỉ là 11,5 tỉ USD, thì đến 2010 đã lên tới 55,2 tỉ USD +  nợ DNNN năm 2009 là 50 tỷ USD  = 105,2 tỷ USD 


*********************************


3 rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam

Tác giả: Nguyên Hằng (thực hiện)

Bài đã được xuất bản: 03/10/2011

Nợ công của Việt Nam hiện có nhiều rủi ro: do chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được thống kê và nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao – TS. Vũ Thành Tự Anh, cảnh báo.

Chi tiêu quá mức nhưng đầu tư lại kém hiệu quả đã khiến nợ công của VN tăng nhanh. Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (ảnh), Giám đốc nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, trao đổi với báo giới.

– Tăng trưởng giảm nhưng nợ công của Việt Nam vẫn tăng liên tục trong những năm qua, ông lý giải thế nào về nghịch lý này?

TS. Vũ Thành Tự Anh: Khi đầu tư của Chính phủ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách thì sẽ phải đi vay. Tỷ lệ đầu tư của VN trong những năm qua trung bình từ 40-42% GDP, trong đó khu vực công chiếm khoảng 45%. Tỷ lệ đầu tư lớn, tăng liên tục nhiều năm trong khi ngân sách luôn ở tình trạng thâm hụt “báo động đỏ” (trên 5% GDP) khiến Chính phủ phải đi vay nợ. Điều đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ công ngày càng tăng.

Nhiều ý kiến cho rằng con số thống kê nợ công của ta chưa đầy đủ, quan điểm của ông về việc này?

Cái gọi là nợ công ở ta hiện thực chất mới chỉ là nợ của Chính phủ. Theo thông lệ quốc tế, nợ công phải bao gồm cả nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Sở dĩ nhiều nước có nợ Chính phủ và nợ công gần như đồng nhất vì khu vực DNNN của họ rất nhỏ. Còn ở VN, nợ của DNNN có quy mô xấp xỉ với nợ của Chính phủ nên không được phép loại nó ra khỏi nợ công. Vì suy cho cùng, nếu DNNN không trả được nợ thì ngân sách cũng phải gánh.

Ví dụ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, đầu tư dự kiến của 22 trên tổng số gần 100 tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong năm này là 350.000 tỉ đồng, tương đương 17% GDP. Nếu tính tất cả gần 100 tập đoàn, tổng công ty thì quy mô đầu tư là khổng lồ, mà một tỷ lệ lớn trong số này là đi vay. Có nghĩa là số liệu nợ công theo công bố thấp hơn thực tế.

– Vậy nếu thống kê đầy đủ, nợ công của ta có nằm trong vùng rủi ro?

Theo tôi, nợ công của ta hiện nay có nhiều rủi ro. Rủi ro lớn nhất xuất phát từ việc chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả. Rủi ro thứ hai là một bộ phận rất lớn nợ công của các DNNN chưa được đưa vào trong các thống kê về nợ công. Khi không đo lường được và không hiểu hết “tảng băng chìm” này thì cũng không thể quản lý rủi ro mà nó có thể gây ra. Rủi ro thứ ba là nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức rất cao. Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công, đó là nợ ngày hôm nay phải được trang trải bằng thặng dư ngân sách ngày mai.

– Nhưng không thể phủ nhận vai trò quan trọng của vay nợ với một nước đang phát triển như Việt Nam?

Một nước đang phát triển thường có nhu cầu đầu tư rất lớn, trong khi tỷ lệ tiết kiệm lại hạn chế nên việc vay nợ là điều bình thường. Vấn đề là đầu tư như thế nào để phát huy hiệu quả, đồng thời không ảnh hưởng tiêu cực tới ổn định vĩ mô.

Về ổn định vĩ mô, có thể nói chính sách tài khóa của chúng ta trong một thời gian dài đã mắc vào một sai lầm cơ bản, đó là “thuận chu kỳ”. Nghĩa là khi cả nền kinh tế hào hứng đầu tư, thay vì điềm tĩnh giảm bớt đầu tư công thì Chính phủ cũng lại hào hứng theo. Vì thế, khi kinh tế suy giảm, Chính phủ không có đủ nguồn lực để kích thích vì túi đã thủng quá sâu. Khi ấy, kích thích kinh tế phải trả cái giá rất đắt, đó là nền kinh tế lún sâu vào thâm hụt ngân sách, đồng tiền mất giá, lạm phát rình rập.

Ví dụ, lượng hàng thực tế qua hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép hiện chưa đến 20% công suất thiết kế nhưng Nhà nước vẫn đầu tư tới bốn cảng, trong đó ba cảng là liên doanh của Saigon Port, cảng còn lại do PMU 85 của Bộ Giao thông vận tải làm đại diện chủ đầu tư với vốn vay ODA khoảng 330 triệu USD. Câu hỏi đặt ra là, khi tư nhân hào hứng bỏ tiền vào cảng, Nhà nước có cần thiết phải đầu tư xây cảng để cạnh tranh? Lẽ ra, thay vì cạnh tranh với tư nhân, Nhà nước nên xây đường dẫn và hệ thống logistic.

– Vậy ông đánh giá thế nào về kết quả của việc cắt giảm đầu tư công tính đến thời điểm này?

Chính phủ đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế đầu tư công vẫn tăng cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước trong 9 tháng đầu năm 2011 là 131.364 tỉ đồng, tăng gần 24% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, kỷ luật đầu tư công hiện đang rất lỏng.

Một vấn đề nữa là cắt giảm trong nhiều trường hợp không đúng ưu tiên. Có những dự án rất quan trọng, sắp hình thành nhưng lại bị cắt giảm đột ngột. Ví dụ như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương.

– Tại sao có tình trạng cái cần cắt thì ưu tiên, cái cần đẩy nhanh tiến độ lại bị cắt?

Vấn đề là ưu tiên thường chạy theo mối quan hệ lợi ích hay ưu ái người có tiếng nói. Trong trường hợp vừa kể trên thì tiếng nói của người nông dân hay doanh nghiệp ở ĐBSCL không thể so được với các tập đoàn nhà nước hay các nhóm khác. Cần hiểu, nếu để xảy ra và tồn tại mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhóm đặc quyền đặc lợi và những người làm chính sách thì sẽ dẫn đến các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi.

– Vậy làm thế nào để cắt giảm đầu tư công hiệu quả, và rộng hơn, làm thế nào để chính sách tài khóa thực sự đóng góp vào chống lạm phát?

Đầu tiên là cần phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa. Thứ hai, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu (hay tận thu) như hiện nay mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu. Thứ ba, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách. Thứ tư, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trợ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

(Theo Thanh Niên)

***************************************

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.  (813.435 tỉ đồng VN = 41 tỷ đô la Mỹ)

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

(ghi chú của TH:  tạm cho hối suất 1 đô la Mỹ = 20000 đồng VN, thì  86.000 tỷ đồng VN = 4,3 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, đến năm 2009,  nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là 41 tỷ + 4,3 tỷ  = 45,3 tỷ đô la Mỹ)

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

85530_91.jpg

GDP của năm 2008 là  85 tỷ USD  ;   GDP của năm 92 tỷ USD

Nợ của doanh nghiệp nhà nước từ 23,9 %  (20 tỷ USD), lên 54,2% (50 tỷ USD);  2008 đến 2009.

Nợ công, hay nợ của chính phủ từ 36,2% (38 tỷ USD), lên 44.75%  (41 tỷ USD)

——————————————————————————————————–

Tổng cộng nợ trong năm 2008 là 58 tỷ USD  và qua đến  2009 là    91 tỷ USD
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro.

Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/8129

—–

Việt Nam xếp thứ 9 trong danh sách 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung Đông đang làm thay đổi khẩu vị của các nhà đầu tư, buộc họ tăng cường nghiên cứu và mua bảo hiểm tại các quốc gia có mức độ rủi ro lớn.

Khảo sát mới nhất của Business Insider dựa trên dữ liệu lấy từ hãng CMA Datavision và Bloomberg, cho thấy các nước châu Âu vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ bày tỏ rất ít sự tin tưởng vào việc lãnh đạo các nước Eurozone sẽ tìm ra được giải pháp ổn định tình hình cho khu vực.

Trong khi châu Âu và Trung Đông đang là tâm điểm chú ý tại thời điểm này, thì một vài nguy cơ vẫn còn hiện hữu ở các quốc gia khác, bao gồm cả các đại gia vùng Nam Mỹ.

Các quốc gia trong danh sách này được sắp xếp theo phí đảm bảo cho các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS). CDS là một dạng chứng khoán phái sinh, tương tự với một hợp đồng bảo hiểm. Khi tham gia vào CDS, người mua CDS trả cho người bán một khoản phí để được bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ tín dụng xảy ra khi một bên thứ ba rơi vào trường hợp vỡ nợ. Thị trường giao dịch CDS dựa trên những gói quy chuẩn là 10 triệu USD cho một hợp đồng.

18. Tây Ban Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 245,91 (điểm)

Sự việc gần đây nhất: Tây Ban Nha tiếp tục là trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và hiện đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

17. Bungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 248,28

Sự việc gần đây nhất: Bungary vừa phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong một cuộc chiến nhằm chống lại thâm hụt tài chính.

16. Iceland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 254,46

Sự việc gần đây nhất: Iceland vẫn còn đang vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính gây ra bởi cuộc khủng hoảng ngân hàng.

15. Lithuania

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 260,00

Sự việc gần đây nhất: Sau sự suy thoái tồi tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính, Lithuania đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 4,8% trong quý 4/2010.

14. Rumani

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 285,00

Sự việc gần đây nhất: Suy thoái kinh tế tại Rumani vẫn còn tiếp tục trong năm 2010 với GDP giảm 1,3%.

13. Croatia

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 286,32

Sự việc gần đây nhất: Croatia đang phải hứng chịu làn sóng biểu tình chống chính phủ trong khi vẫn còn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính.

12. Hungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 304,19

Sự việc gần đây nhất: Hungary đã bị hạ mức tín nhiệm vào tháng 12/2010 và vẫn đang phải đấu tranh với các vấn đề tài chính. Chính phủ Hungary cũng vừa tuyên bố những kế hoạch mới vào tuần trước.

11. Bahrain

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 313,65

Sự việc gần đây nhất: Bahrain cũng đang phải hứng chịu các cuộc biểu tình phản đối như các nước Trung Đông và phải giải quyết với số đông cộng đồng người Shiite lãnh đạo phong trào biểu tình này.

10. Li-băng

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 360,00

Sự việc gần đây nhất: Li-băng hiện cũng đang chứng kiến nhiều vụ biểu tình chống đối và chính biến.

9. Việt Nam

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 365.00 (điểm)

Biến động gần đây nhất: Việt Nam đã buộc phải phá giá tiền đồng của mình trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề nợ của mình.

8. Ai Cập

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 370,00

Sự việc gần đây nhất: Người dân Ai Cập vừa lật đổ tổng thống và hiện nước này đang được lãnh đạo bởi lực lượng quân đội.

7. Dubai

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 455,00

Sự việc gần đây nhất: Nguồn cung bất động sản thừa thãi tại Dubai hiện đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của toàn quốc gia này.

6. Ukraine

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,75

Sự việc gần đây nhất: Ukraine tăng trưởng chậm chạp trong quý 4/2010 nhưng dự kiến mức này sẽ đạt 4 – 5% trong năm 2011.

5. Bồ Đào Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,88

Sự việc gần đây nhất: Bồ Đào Nha có lẽ sẽ thiếu đến 20 tỉ euro để trả cho các chi phí năm 2011.

4. Ireland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 569,88

Sự việc gần đây nhất: Ireland tiếp tục phải vật lộn với cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng với hệ quả là gánh nặng về những khoản vay không phát huy được hiệu quả và gói cứu trợ của EU-IMF đang đè nặng lên chính phủ.

3. Argentina

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 646,47

Sự việc gần đây nhất: Nhiều năm sau khủng hoảng, Argentina vẫn còn đang phải chịu mức lạm phát cao (gần 11% cho tháng 12/2010).

2. Hy Lạp

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 956,27

Sự việc gần đây nhất: Hy Lạp gần đây lại chịu thêm một làn sóng phản đối nữa do các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.

1. Venezuela

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 1.170,92

Sự việc gần đây nhất: Sản xuất dầu mỏ tại Venezuela đang bị suy giảm và đe dọa đến khả năng trả nợ của chính phủ nước này.

(Ghi chú: Bài viết trên đây có nguồn từ báo VnExpress trong nước, dịch lại từ Business Insider, nhưng VnExpress đã bỏ tên nước Việt Nam ra khỏi danh sách 18 nước. Dân Luận đã dịch bổ sung đoạn về Việt Nam.)

—-

Xem bài viết http://www.businessinsider.com/count…ch-2011-3?op=1

Link trên là bài gốc, tựa: The 18 Countries Most Likely To Default, trong bài đó, nước CHXHCNVN chình ình ở vị trí thứ 9, với minh họa là rừng cờ đỏ và hình bác kính yêu.

Còn đây là bài dịch của vnexpress:

coi ở đây :

Những quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/q…nhat-the-gioi/ (link nầy đã bị xóa)

Trong bài báo gốc có 18 nước có khả năng vỡ nợ, sau khi VNExpress  xào nấu, thì chỉ còn 17 quốc gia có khả năng vỡ nợ;  nước Việt Nam không nằm trong danh sách đó!

trích   http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=358&page=1081

*Việc bỏ bớt tên nước VN ra khỏi danh sách có thể  là cách luồn lách của một số báo chí VN nhằm đưa các tin quan trọng đến bạn đọc mà không bị kiểm duyệt. Xin nhớ rằng báo chí trong nước đang nằm dưới sự kiểm duyệt và chỉ đạo của bộ Thông Tin và Tuyên Truyền. Một số nhà báo VN rất có lòng, nhưng họ cần có tiền để nuôi gia đình. Làm công việc lọc bỏ như vậy là không lương thiện, họ cũng biết đó là việc làm đáng xấu hổ lắm, nhưng dịch đúng sự thật thì bài báo sẽ không được đăng. Tổng Biên Tập sẽ loại ngay bài ấy.

Có người nói rằng: Muốn nhận ra sự thật trên báo chí, chỉ cần tin ngược lại với những gì báo chí đang viết…và cố gắng tìm bài báo gốc (ở báo nước ngoài).

——–

Bổ Sung:

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu? In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16

Phải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.

Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.

Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)!

Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

  2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

 

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

*****************************************************

10-2011

Nợ công thành đại họa, nếu…

Báo Tiền Phong  phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế

TP – “Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Quản lý yếu kém không những khiến nợ công thất thoát, không phát huy hiệu quả mà còn đẩy quốc gia đến nguy cơ mất chủ quyền vì phụ thuộc bên ngoài”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.

Nợ tăng, khó trả

Nợ công tăng cao và tăng nhanh gần đây. Điều đó nói lên vấn đề gì, thưa ông?

Điều đó nói lên Việt Nam muốn đầu tư phát triển kinh tế và những dự án đầu tư vượt ngân sách của Nhà nước. Mỗi năm Việt Nam đầu tư 42-43% GDP, trong khi tiết kiệm nội địa chỉ khoảng chừng 30% GDP, có nghĩa là mình đầu tư trên khả năng tiết kiệm 13-14%. Muốn có phương tiện để đầu tư cao hơn tiết kiệm nội địa thì một là vay nước ngoài, hai là vay trong nước.

Nhà nước đi vay để đầu tư vào những vấn đề mà người dân không thể đầu tư như phát triển hạ tầng mềm như giáo dục, y tế… hay hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, bến cảng… Mỗi ngày kinh tế của mình phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu về vốn tăng cao để đầu tư vào những lĩnh vực mà người dân không thể đầu tư được nên nợ công tăng nhanh cũng là dễ hiểu.

Nợ công đang ở mức độ nào và đã đến mức cảnh báo chưa?

Nợ công hiện nay của Việt Nam ở mức hơn 52% GDP, nhưng điều đó không nói lên vấn đề gì. Vay về để làm gì và có đủ khả năng trả nợ hay không mới là vấn đề đáng nói. Nếu mình vay 52% GDP mà GDP của mình mỗi năm tăng 5-7% và tạo ra các nguồn thu ngân sách, và trả được nợ công thì không thành vấn đề.

Chúng ta phải xem xét nợ công đang được đầu tư vào lĩnh vực gì và hiệu quả tới đâu thì mới biết 52% là nhiều hay ít. Nếu đầu tư vào những Cty phát triển tốt và chỉ số ICOR thấp thì hiệu quả kinh tế cao sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nước bị lỗ ICOR là 8, 9 thậm chí 14, tức là không có hiệu quả kinh tế và như vậy thì rất nguy hiểm.

Theo ông, khả năng trả nợ công của nền kinh tế hiện nay như thế nào?

Chúng ta đang rất khó khăn. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 30% doanh nghiệp đứng trước tình trạng phá sản và 50% doanh nghiệp đứng trước tình trạng khó khăn. Nếu tình hình kinh tế cứ đình đốn thế này thì lấy đâu nguồn thu để trả nợ công.

Tham nhũng, rút ruột kéo dài

Ngoài việc sử dụng vào mục đích đầu tư, nợ công còn được đem cho vay lại?

Thì đấy, Nhà nước phát hành trái phiếu vay hàng trăm triệu USD về cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Mỗi năm, Nhà nước đều cấp tiền cho các doanh nghiệp Nhà nước, một là dưới hình thức cấp vốn, hai là dưới hình thức cho vay lại. Nhiều trường hợp cho vay xong rồi lỗ thì khoanh nợ, khoanh xong rồi xóa nợ…

Theo ông, việc sử dụng nợ công hiệu quả tới đâu?

Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công. Ví dụ mình vay tiền về xây dựng xa lộ với mục đích là bền vững, hiện đại, nhưng vì rút ruột công trình nên nền móng của con đường không có chất lượng, mới mấy năm đã trồi lên trụt xuống.

Một lần làm không xong, không đủ chất lượng phải phá ra làm lại, nhưng làm lại vẫn bị rút ruột. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Nếu cứ tiếp tục như thế thì nợ công chồng chất.Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Theo tôi được biết từ báo cáo của Chính phủ, tình trạng rút ruột công trình rất nhiều mà không giải quyết được. Một mặt, mình đầu tư vào những dự án không có hiệu quả kinh tế; mặt khác do quản lý kém nên để xảy ra tiêu cực, tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công.

Mình sử dụng nợ công vào việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp. Chẳng hạn, mình làm con đường thì là có ích chứ, bởi nó giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hội hai bên con đường đó phát triển. Nhưng lẽ ra hiệu quả phải gấp 2-3 lần. Tức là hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa.*

“Những người đại diện Nhà nước sử dụng tiền Nhà nước vay nước ngoài về để làm những việc ích nước lợi dân mà không làm, mà làm thất thoát nghiêm trọng nợ công thì tội rất lớn.Những người có trách nhiệm mà rút ruột công trình thì không phải chỉ mắc tội ăn cắp mà còn là tội làm mất chủ quyền quốc gia vì khiến quốc gia bị lệ thuộc nước ngoài. Tội đó là cực kỳ nghiêm trọng.Không phải chỉ 5, 10 hoặc 20 năm nữa các thế hệ sau phải trả những khoản nợ đó mà khiến quốc gia rơi vào nguy cơ mất chủ quyền như bài học của Hy Lạp thì cái đấy mới là nguy hiểm”- Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Theo ông, làm thế nào để giảm nợ công?

Trước nhất, Nhà nước phải xem lại tất cả các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa phương đua nhau làm sân bay…

Anh nào cũng muốn làm nhà máy xi măng, nhà máy đường kể cả làm nhà máy đường ở nơi không có mía, làm xong để đó cho hư hỏng hoặc xin ngân sách để chuyển đi nơi khác có mía… Mình phải rà soát lại và muốn nợ công được sử dụng tốt thì phải xem lại nợ công dùng để làm gì. Nếu thật sự cần thiết thì phải làm hết sức tốt, nếu không cần thiết thì dứt khoát cắt giảm.

Có thể vỡ nợ như Hy Lạp

Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì?

Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Hệ lụy của nợ công, nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổ chức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ. Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấp nhận được.

Hiện Việt Nam không có lý do gì phải đi vay nợ công 100%, thậm chí 200% GDP như một số nước, nhưng nếu cần thiết để phát triển kinh tế thì nợ công ở mức 50, 60 hay 70% GDP mà mình có khả năng để hoàn trả thì không có vấn đề gì.

Theo ông vấn đề quan trọng là phải giảm nợ công hay quản lý nợ công có hiệu quả?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất vẫn là quản lý có hiệu quả, và quản lý cái gì thì phải xem lại đầu tư vào những cái gì, chứ không phải đầu tư vào những công trình mà mình chưa cần dùng. Mình có chừng đó tiền thì phải làm những cái gì cho nó tốt nhất chứ không phải là cắt giảm.

Mục đích không phải là giảm nợ công mà là sử dụng hiệu quả để đất nước phát triển. Mà muốn sử dụng cho tốt thì phải rà soát lại tất cả dự án đầu tư công và phải có những nhân sự cần thiết để quản lý cho hiệu quả.

Ông Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-2010 là 32,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009, trong đó nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD.Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nợ công năm 2007 là 33,8% GDP, 2008 là 36,2%, 2009 là 41,9% và 2010 là 56,7% GDP. Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.

Đại Dương

nguồn

Nợ công năm 2011 của Việt Nam tiếp tục tăng
(Dân trí) – Theo báo cáo của Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56,7% GDP năm 2010 và dự kiến tổng số nợ công sẽ ở mức khoảng 1.375 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 58,7% GDP năm 2011.

Cũng theo báo cáo này, ước tổng số dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 835 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP năm 2010 và dự kiến nợ nước ngoài của quốc gia sẽ ở mức 44,5% GDP năm 2011.

Như vậy, các chỉ số trên vẫn trong giới hạn an toàn như theo Quyết định số 211/2004/QĐ-TTg ngày 14/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng phát triển tài chính Việt Nam đến năm 2010.

Ngoài ra, theo khuyến cáo của một số nhà kinh tế và kinh nghiệm của một số nước thì nợ công ở mức 60% GDP là giới hạn an toàn.

Mặc dù vậy, xu hướng gia tăng các khoản nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia là đáng lưu ý, đặc biệt khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp trong những tháng đầu năm 2011 do chính sách tiền tệ, tín dụng trong nước thắt chặt, huy động vốn trong nước khó khăn.

Cũng theo Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại,  đơn vị này đã và đang chủ động nghiên cứu để xây dựng khuôn khổ pháp lý, có các đề xuất về hoạt động quản lý rủi ro nhằm kiểm soát nợ công và nợ nước ngoài một cách hiệu quả.

Sơn Ngọc

—————————————————————————————————————————————–

Thứ Hai, 24/10/2011, 14:31 (GMT+7)

Cuối năm 2011, nợ nước ngoài khoảng 41,5% GDP

* Cần đầu tư vùng kinh tế động lực

TTO – Sáng 24-10, 2011,  Quốc hội thảo luận ở tổ về tình hình thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2012.

>> Quốc hội thảo luận về kinh tế – xã hội

Miền Trung được xem là một trong những vùng kinh tế động lực. Trong ảnh: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi – Ảnh: KH.NGỌC

Tại đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM, nhiều ý kiến đề nghị bên cạnh việc bảo đảm chi cho an sinh xã hội, cần quan tâm đầu tư cho các vùng kinh tế động lực có khả năng thu ngân sách lớn. Đại biểu Trần Hoàng Ngân nói: “Các đô thị lớn là nơi có khả năng đóng góp cho GDP, vì vậy cần có sự đầu tư thỏa đáng, từ đây mới có nguồn thu để thực hiện các nhu cầu chi khác”.

Đại biểu Đỗ Văn Đương cho rằng một trong những điều quan trọng nhất của chi tiêu ngân sách là “bỏ đồng tiền đúng địa chỉ để phát huy hiệu quả”.

Theo ông Đương, vừa qua có tình trạng nhiều sân bay, bến cảng rất ít máy bay, tàu thuyền qua lại, chợ xây xong không có người mua bán, làm đường rộng lớn nhưng không có người qua lại, trong khi đó “có những nút giao thông nhỏ ở thành phố gây ùn tắc lâu nay thì không được tháo gỡ, tạo nên điểm nghẽn trong phát triển”.

Đại biểu Trần Du Lịch đề nghị nên tránh cách phân bố ngân sách giống như: “Tôi có từng đó dầu, nếu cấp cho một chiếc tàu thì đủ chạy ra Côn Đảo, nhưng vì tôi có ba chiếc tàu nên phải cấp cho ba chiếc. Tàu nào cũng chạy nhưng không ra được đến Côn Đảo mà phải chờ năm sau được cấp dầu để chạy tiếp”.

Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải đặt vấn đề chi ngân sách năm 2012 cũng như năm năm 2011-2015 cần quán triệt và thể hiện được nhiệm vụ chính trị trong thời gian tới, trong đó có việc tái cấu trúc nền kinh tế. Trong cơ cấu chi ngân sách thì chi cho tái cấu trúc nền kinh tế chưa được làm rõ. “Chúng ta nêu quan điểm, chủ trương nhưng không thể hiện trong chi đầu tư này thì không ra vấn đề được. Muốn tái cấu trúc nền kinh tế thì phải có đầu tư và cơ chế chính sách đi kèm” – ông Lê Thanh Hải nói.

Chính phủ dự kiến mức bội chi ngân sách nhà nước năm 2012 là 140.200 tỉ đồng (bằng 4,8% GDP), tuy nhiên ông Trần Hoàng Ngân cho rằng cần quyết liệt cắt giảm bội chi hơn nữa. Ông Ngân nói: “Bội chi ngân sách liên tục nhiều năm đã dẫn đến nợ công, trong đó có nợ nước ngoài ở mức báo động. Ước tính đến cuối năm 2011 nợ công54,6% GDP, nợ nước ngoài 41,5% GDP.

Nếu so với dự trữ ngoại hối của nước ta hiện nay thì nợ nước ngoài lớn hơn nhiều. Nhìn sang các nước trong khu vực, ví dụ như Thái Lan nợ công là 44,1% GDP, nhưng dự trữ ngoại hối của Thái Lan là 176 tỉ USD. Nhiều nước xuất siêu, nghĩa là có dư để trả nợ, còn mình nhập siêu liên tục. Do đó, Quốc hội và Chính phủ cần tiếp tục các chính sách để đảm bảo ổn định vĩ mô thật bền vững”.

V.V.THÀNH

Tập trung vào chất lượng đầu tư

Phát biểu tại tổ (đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Định), Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ nói: “Sở dĩ trong các năm 2010, 2011 nợ công tăng nhanh như vậy thì ngoài nhu cầu phải huy động vốn để phát triển kinh tế – xã hội còn có yếu tố về chênh lệch tỉ giá. Ví dụ năm 2011 khi chúng ta điều chỉnh tỉ giá thì có nghĩa là nợ nước ngoài cũng tăng lên như thế. Tức là không có một đồng ngoại tệ nào vay thêm thì bản thân tổng nợ công đã tăng.

Thứ hai nữa là bản thân mức GDP của chúng ta trong mấy năm vừa rồi không được như mong muốn. Nếu tổng GDP tăng khá thì tổng nợ trên GDP sẽ giảm. Nợ công của chúng ta hoàn toàn là để bổ sung vốn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chúng ta vay để tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng, ví dụ như quốc lộ 1A… Nhờ các khoản vay để đầu tư như vậy nên GDP năm năm vừa rồi chúng ta tăng cao. Tất nhiên là chúng ta nói tăng trưởng GDP dựa vào tăng trưởng vốn đầu tư.

Thế nên từ năm 2012 chúng ta mới xác định tập trung vào chất lượng đầu tư, năng suất lao động. Không phải là mình tự khen mình đâu, các tổ chức quốc tế như WB, IMF… họ nói riêng với mình, rồi nói trên các diễn đàn thông tin đại chúng rằng VN là một trong những nước sử dụng ODA tốt nhất thế giới.

Theo tính toán của Chính phủ thì nợ nước ngoài sau năm 2015 sẽ xuống mức 64 hoặc 63,5% GDP”.

L.KIÊN ghi

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/461911/Cuoi-nam-2011-no-nuoc-ngoai-khoang-415-GDP.html

                              —————————————————————————————

Ngân Sách

Duyệt chi 59.000 tỷ đồng để tăng lương năm 2012

Trích:

Cùng với việc nâng lương tối thiểu hơn 200.000 đồng theo đề xuất của Chính phủ, Quốc hội cũng chốt việc nâng phụ cấp công vụ với cán bộ, công chức lên 25%. Lương hưutrợ cấp ưu đãi người có công cũng tăng bằng tốc độ tăng lương tối thiểu.

Ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng/903.100 tỷ đồng tổng chi ngân sách được duyệt cho năm sau. Tổng số thu cân đối ngân sách Quốc hội giao ở mức 740.500 tỷ đồng.

Hết trích.

-Tăng 200.000 đồng, làm gia tăng ngân sách dành chi cho việc tăng lương là 59.300 tỷ đồng. Vậy số người nhận được sự tăng lương là khoảng  24.708.334 người (?), bao gồm những  công nhân viên nhà nước có mức lương ít hơn 830 000 đồng tháng, những người lãnh lương hưu, và diện trợ cấp ưu đãi người có công) sẽ được hưởng thêm 200 000 đồng/ 1 tháng, hay 2.400.000 đồng/ 1 năm.

-Ngân sách 903.100 tỷ đồng cho năm 2012, với hối suất năm 2012 sẽ là 22000 đồng/ 1 đô la, ngân sách chính phủ là 41 tỷ đô la Mỹ.

Posted in Nợ công và Nợ doanh nghiệp, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | 1 Comment »

Sau khi không trả được nợ vào tháng 4-2011, Vinashin đang yêu cầu các chủ nợ xóa bớt 90% các khoản nợ

Posted by hoangtran204 trên 03/06/2011

Ha Ha các công ty tài chánh của nước ngoài đã và đang bắt đầu nếm mùi Công  Ty Quốc Doanh của nhà nước VN là gì.

Năm 2007, Vinashin mượn tiền (qua việc bán trái phiếu cho các công ty nước ngoài), và nay thì đã đên lúc trả nợ 9% của 3000 tỉ đồng, tức khoảng 270 tỉ (= 13,5 triệu đô la). Nhưng Vinashin đã không trả được món tiền nầy vào tháng 4 vừa qua. Nay thì Vinashin đành nói thật là xin các công ty xóa bỏ hết 90% các khoảng nợ. Nếu các chủ nợ đồng ý, thì coi như họ sẽ bị mất 90% số tiền mà họ đã cho Vinashin mượn qua việc mua trái phiếu.

Năm 2010, Vinashin cũng không trả nổi 60 triệu đô la tiền trả góp trong khoản tiền bán trái phiếu 600 triệu đô la cũng vào năm 2007. Sau khi bị chủ nợ thúc hối, Vinashin đã khất đến cuối năm sẽ trả. Đến 22-12-2010, Vinashin cũng không trả được số tiền nói trên, nên Vinashin đã khất đến mùa Hè năm nay.   Món nợ nhỏ (13,5 triệu đô la) nói trên mà không trả được, thì chắc Vinashin cũng sẽ xù đẹp món nợ (60 triệu đô la) đến hạn phải trả vào mùa hè nầy cho mà xem.

Vậy mà phó thủ tướng  Nguyễn Sinh Hùng lên truyền hình hôm 23-11-2010, xoen xoét: đến năm 2013, Vinashin sẽ có lời.

Quả là một sự rối loạn giữa các lời tuyên bố mâu thuẩn nhau khi nói về sự thua lỗ của công ty đóng tàu Vinashin.

Vào 7-4-2011, báo chí ở Việt Nam đưa tin TT Nguyễn Tấn Dũng đang ra lệnh điều tra coi có tham nhũng trong công ty Vinashin hay không.

Nhưng điều tra để làm gì vì  chỉ 1 tháng trước đó, hôm 11-3-2011, báo lại đăng:  Vụ Vinashin: Bộ Chính trị quyết định không xử lý kỷ luật

(Dân trí) – Căn cứ kết quả kiểm phiếu và theo quy định của Điều lệ Đảng, Bộ Chính trị đã quyết định không xử lý kỷ luật đối với các tập thể và cá nhân, yêu cầu nghiêm túc rút kinh nghiệm, tiếp tục chỉ đạo tái cơ cấu Vinashin.

Được lời như cởi tấm lòng, bởi vậy công ty Vinashin họp báo tuyên bố: không có tiền trả đâu, xóa nợ 90% đi...Thử hỏi trên cõi đời ô trọc nầy, vào thời đại của internet, có ai bỏ ra 10 đồng cho mượn, mà nay người đi mượn lại bảo: nè, tui chỉ trả lại 1 đồng thôi, còn 9 đồng thì cứ việc coi như đã mất gồi. Ông  Phạm Việt Bắc và các chủ nợ khác bây giờ mới thấm thía: Bắt thang lên hỏi ông trời, đem tiền cho gái có đòi được không.

Thử hỏi có một tổ chức nào mà các thành viện của nó tự viết báo, viết khẩu hiệu dán đầy đường, tự đi ca ngợi mình, tự xưng nào là “quang vinh”, nào là “bách chiến bách thắng”, nào là “còn đảng, còn mình”, chưa hết “quân đội là để bảo vệ đảng”…nghe nổ nhiều quá mà ngay cả đến vợ thằng Đậu giờ đây cũng thấy phát mệt. Nghe nhiều qua đến nổi các chị em bán buôn ngoài chợ nhỏ ví von rằng: các nhân vật ấy cứ như một đám phường tuồng, ra bãi đất trống hươ tay, múa chân, và mồm lải nhải phát biểu như đang diễn tập.

Số khác nói thẳng không cần ví von gì cho mệt: không thể điều hành nền kinh tế theo kiểu chụp giựt, ngắn hạn, theo kiểu “đi tắt đón đường”, rồi cho rằng “làm công tác điều hành cũng như người ra trận. Đánh lâu cũng thắng…”, hoặc: nhờ ơn đảng, ơn bác, ơn chính phủ, em làm y tá lâu năm nên bây giờ đã lên bác sĩ.

——-

Sau khi không trả được nợ vào tháng 4-2011, Vinashin đang yêu cầu các chủ nợ xóa bớt 90% các khoản nợ

Bởi Bloomberg News – 2 tháng 6, 2011 02:24 ET
Tập đoàn Vinashin, công ty của nhà nước đang mắc nợ hơn 4 tỷ đô la, đã yêu cầu  những chủ trái phiếu nội tệ- mà Vinashin đã không thể trả tiền vào tháng 4 vừa qua- xóa 90 phần trăm của số tiền mà Vinashin đã mắc nợ, theo tin của một người đang nắm giữ trái phiếu đã gặp mặt với các giới chức của vinashin tại Hà Nội vào tuần trước đã cho biết.

Các giới chức của Vinashin đã nói với chủ nợ của nhà máy đóng tàu này rằng họ không thể thực hiện bất kỳ khoản tiền thanh toán nào cho đến năm 2015 là sớm nhất, Phạm Việt Bắc, Tổng giám đốc của Quỹ quản lý Sabeco có văn phòng ở tp. HCM, đang nắm giữ 30 tỷ đồng (1,5 triệu USD) trái phiếu của Vinashin, đã cho biết trong một cộc điện thoại phỏng vấn vào ngày hôm qua.

Các khó khăn tài chính của Vinashin  đã đấy lên các câu hỏi về mức độ mà chính phủ Việt Nam sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước ở mức độ nào, và đang đe dọa làm suy yếu lòng tin của nhà đầu tư  vào VN, khi quốc gia nầy đang có nhằm mục đích vào việc thúc đẩy tư nhân hoá (các công ty).

Vinashin đã không thanh toán được khoản tiền ma lẻ ra nó phải trả góp cho những nhà cho vay quốc tế vào tháng Mười Hai (2010) đã cho thấy rằng việc chính phủ VN hỗ trợ cho các công ty quốc doanh là không có gì được bảo đảm, Moody’s Investors Service (Công ty dịch vụ đánh giá trị tài chánh dành cho các nhà  đầu tư) đã cho biết trong một  báo cáo ra ngày 20 tháng 4, 2011.

“Chính phủ Việt Nam phải mất một thời gian rất lâu để khôi phục lại uy tín của họ với các nhà đầu tư”, ông Christian de Guzman, một phụ tá cho phó chủ tịch của Moody có trụ sở tại Singapore. “Những biến chuyển nầy cho thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài sẽ phải cảnh giác để đối phó với chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp nhà nước.”

Tổng Giám đốc Trương Văn Tuyên của Vinashin đã từ chối bình luận về lời chỉ trích nầy khi công ty truyền thông Blooberg gọi điện thoại đến văn phòng của ông ngày hôm qua. Các cuộc gọi điện thoại đến Chủ tịch công ty Vinashin Nguyễn Ngọc Sự cũng không được trả lời.
Các món nợ của Vinashin

Công ty Vinashin, có đại bản doanh đặt tại Hà Nội, đã gần như sụp đổ với khoản nợ 86 ngàn tỷ đồng vào Tháng Sáu năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã cho biết ngày 4 tháng 8.

Chính phủ VN đã cho biết công ty Vinashin hiện nay cần phải thu hẹp lại trọng tâm làm ăn của nó. Trong các năm trước đây Công ty Vinashin đã đa dạng hóa các lãnh vực làm ăn vượt ra ngoài việc đóng tàu để nhảy vào các việc kinh doanh như buôn bán chứng khoán và du lịch.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu cảnh sát điều tra xem có bất kỳ dấu hiệu tham nhũng nào tại công ty, báo Tuổi Trẻ đã tường thuật vào tháng tư, 2011. Vinashin hiện chiếm tới 80 phần trăm của năng lực đóng tàu trong nước Việt Nam.

Vào ngày 13-4-2011, Vinashin đã không trả được 9% (khoảng 270 tỉ) của món tiền 3000 tỉ đồng, thuộc trái phiếu đáo hạn 10 năm, được phát hành vào  năm 2007, theo lời ông Bắc, tổng giám đốc của công ty tài chánh Sabeco cho biết.

Công ty đóng tàu Vinashin đã yêu cầu các nhà cho vay nước ngoài gia hạn một năm sau khi Vinashin đã không trả nổi 60 triệu đô la vào tháng 12 -2010, đây là tiền trả góp của một khoản vay vốn 600 triệu USD, Chủ tịch Vinashin Nguyễn Ngọc Sự đã cho biết trong tháng Hai.

Kiểm toán “Đã phân loại”

Công ty đóng tàu Vinashin đã tích lũy được tổng số nợ  96,7 ngàn tỉ đồng, trong khi tổng tài sản 92,6 ngàn tỉ đồng, tính tới 31 tháng 12 năm 2009, báo Lao Động đã đăng tin ngày hôm nay, báo nầy trích lời một kiểm toán của Thanh tra Chính phủ.

Vinashin đã nói với sở hữu trái phiếu tại cuộc họp rằng Vinashin sẽ không cung cấp một bản sao của kiểm toán mới nhất của nó như là tài liệu được “phân loại”, ông Bắc cho biết.

Ông Bắc, đã tham dự cuộc họp tại trụ sở của Vinashin cùng với khoảng 20 chủ nợ khác, nói “Tôi rất lấy làm thất vọng. Tôi muốn công ty Vinashin minh bạch (chuyện nầy) cho các chủ nợ của họ. Chúng tôi có quyền được biết. ”

Trái phiếu của Việt Nam đã giảm mạnh vào cuối năm 2010 khi công ty đánh giá tài chánh Moody’s và Standard & Poor’s cắt giảm xếp hạng tín dụng của Việt Nam vào tháng 12 năm ngoái, với một viễn cảnh tiêu cực. Moody’s, đánh giá Việt Nam tụt bốn cấp dưới ở vào hạng B1, Moody trích dẫn các nguy cơ của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán (thiếu tiền trả nợ), và dự trữ ngoại tệ của VN đã giảm trong khi lạm phát gia tăng và tiền đồng VN đang bị mất giá.

S & P đã lo ngại về hệ thống ngân hàng Việt Nam và xếp hạng Việt Nam vào hạng BB-, mức thứ ba bậc cao nhất không đầu tư.

Nợ chính phủ tăng điểm khi chính phủ chấp thuận một kế hoạch trong tháng hai để chặn đứng lạm phát đang gia tăng nhanh chóng bằng việc  gia tăng lãi suất cao hơn, và thực hiện các biện pháp khác để làm gia tăng giá trị tiền đồng. Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam (năm này qua năm khác) vào tháng 5-2011 đã đạt tới 19,78 phần trăm, cao nhất trong hơn hai năm gần đây, theo Tổng cục Thống kê ở Hà Nội.

Trái phiếu của Việt Nam được đăng trên các báo tài chánh là  tốt nhất ở châu Á năm nay, lời 6,1 phần trăm, theo các chỉ số đã được ghi nhận của ngân hàng HSBC Holdings Plc.

Để liên hệ với phóng viên bài báo này: K. Oanh Ha tại Hà Nội tại oha3@bloomberg.net

Để liên lạc với chủ bút chịu trách nhiệm về bài báo này: Edward Johnson tại ejohnson28@bloomberg.net

Bản dịch 2011@Tran Hoang

Báo Mới ở Hà Nội cũng đăng ở đây

*Nguồn tích dẫn:

Thứ Tư, 24/11/2010, 08:07 (GMT+7)

Tái cơ cấu để Vinashin phục hồi và phát triển

TT – Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã khẳng định như trên trong phần giải trình về vấn đề Vinashin trước Quốc hội chiều 23-11.

Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng – Ảnh: Việt Dũng

Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng khẳng định đến thời điểm này, “tư tưởng của toàn bộ công nhân Vinashin đã ổn định từ trên xuống dưới”. Ông cho biết: hiện Ủy ban Kiểm tra trung ương đang tiếp tục làm rõ trách nhiệm của Thủ tướng, các phó thủ tướng, các bộ trưởng trong vụ việc ở Vinashin và kết quả kiểm điểm trách nhiệm sẽ công bố trước công luận.

“Chúng ta sẽ thành công”

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng nói như vậy khi kết thúc phần giải trình. Theo ông, VN phát triển ngành công nghiệp đóng tàu là phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển và Vinashin đã phát triển nhanh chóng về quy mô trong giai đoạn 2005-2006 – là thời kỳ hoàng kim của ngành hàng hải và ngành đóng tàu, nhưng “không ngờ rằng đến năm 2008-2009 Vinashin lâm vào tình trạng phá sản”.

“Khi Vinashin lâm vào tình trạng phá sản và chúng ta chọn phương án tái cơ cấu, đây là thời điểm hết sức khó khăn. Nhưng nếu không tái cơ cấu thì có nghĩa là cơ bản cơ sở vật chất đó trở thành đống sắt vụn, còn nếu tái cơ cấu thì nó sẽ phục hồi, phát triển và tự trả được nợ” – ông Hùng nói. Sau nửa năm tái cơ cấu và đặc biệt là ba tháng gần đây – theo Phó thủ tướng – các hợp đồng được hồi phục và công nhân đã có việc làm trở lại với thu nhập từ 2,8 triệu đồng/tháng trở lên.

“Năm nay sẽ đóng được 66 con tàu, doanh thu khoảng 600 triệu USD, cộng với thu từ công nghiệp phụ trợ nữa là có doanh thu khoảng 14.000 tỉ đồng. Sang năm có thể ký thêm được 110 hợp đồng đóng tàu. Tất cả 26 con tàu chuyển sang Vinalines thì 23 con đã hoạt động, có thể thu được 1.400 tỉ đồng trong năm nay. Còn lại ba tàu nữa, một con đã tháo dỡ và bán một phần rồi, một con sẽ sửa chữa được, còn tàu Hoa Sen đang cho thuê mỗi năm thu được khoảng 4 triệu USD vì nếu bán bây giờ sẽ lỗ nặng” – ông Hùng sơ bộ tình hình.

Về khả năng trả nợ, Phó thủ tướng nói: “Sản xuất kinh doanh phục hồi, đóng được tàu, tàu bán được thì có tiền trả nợ, trả nợ ngắn hạn, trả nợ dài hạn… Còn lại khoảng 20% các công ty phải tái cơ cấu bằng nhiều phương pháp, hoặc là cổ phần hóa, hoặc là bán, hoặc là bán nợ, hoặc là cho thuê để thu hồi vốn nhưng không bán đổ bán tháo. Tôi tin là có khoản sẽ mất, có khoản sẽ có lời nhưng về tổng thể là có lời. Nếu thị trường vận tải biển phục hồi, giá vận tải tăng lên, giá đóng tàu tăng lên thì phục hồi nhanh. Nếu chúng ta quản trị tốt và làm ăn có hiệu quả thì trước mắt năm nay lỗ, năm sau lỗ ít, năm 2012 có thể giảm lỗ và không lỗ nữa, năm 2013 có thể có lãi. Như vậy Vinashin có khả năng trả nợ. Con số 104.000 tỉ đồng tài sản và 86.000 tỉ đồng nợ thì đường đi của nó là như thế”.

Đối với những sai phạm và trách nhiệm trước vụ việc Vinashin, ông Hùng nêu rõ người làm trái, vi phạm sẽ phải xử lý theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra đang làm.

Sẽ xem lại cơ chế quản lý tập đoàn

Trước đó, trả lời các chất vấn về vụ Vinashin nợ 86.000 tỉ đồng, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Hồ Nghĩa Dũng cho biết trước năm 2007 Vinashin hoạt động vẫn hiệu quả, ký được hợp đồng đến 12 tỉ USD. Hai bộ trưởng đều dẫn các quy định pháp luật, khẳng định tập đoàn được tự chủ trong huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu và phải tự chịu trách nhiệm hoàn trả, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.

Luật cũng khẳng định nhiều quyết định đầu tư tập đoàn không phải báo cáo với bộ chủ quản, bộ chức năng. Vì vậy trả lời việc đầu tư dàn trải của Vinashin, ông Ninh và ông Dũng cùng cho rằng “Bộ không phải là người duyệt phương án đầu tư nên quyết định cụ thể về đầu tư, vay vốn của doanh nghiệp không phải thẩm quyền của chúng tôi”.

Ông Ninh cho hay Bộ Tài chính đã phát hiện, lập biên bản yêu cầu thực hiện kiến nghị thanh tra nhưng “có việc Vinashin thực hiện, có việc chỉ thực hiện một phần, cũng có những việc chưa hoặc không thực hiện”. Nhận thấy đã làm đúng với Luật thanh tra, nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng khẳng định luật này có bất cập vì “phát hiện nhưng không thể buộc doanh nghiệp phải thực thi kiến nghị. Chúng tôi đang nghiên cứu để kiến nghị bổ sung”.

Sáng nay, Thủ tướng trả lời chất vấnTheo chương trình làm việc của Quốc hội, sáng nay (24-11) Quốc hội sẽ nghe Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng làm rõ thêm một số vấn đề trong các phiên chất vấn bốn bộ trưởng hai ngày qua, đồng thời Thủ tướng sẽ trực tiếp trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội. Trước đó, theo tổng hợp của đoàn thư ký kỳ họp, đã có gần 30 câu hỏi chất vấn Thủ tướng. Phiên chất vấn sẽ được truyền hình và phát thanh trực tiếp, bắt đầu từ 8g.Về phiên chất vấn, trả lời chất vấn hôm 23-11, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhận định các bộ trưởng nắm được rất kỹ, chắc và trả lời các câu hỏi cặn kẽ, tỉ mỉ, chu đáo “nhưng Bộ trưởng Vũ Văn Ninh trả lời hơi dài”. Ông đánh giá “Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng trả lời rất chân thành”. Riêng về phần của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng khi giãi bày kế hoạch phục hồi Vinashin, ông Trọng nói “nếu được làm như vậy thì rất tốt”.Nói chung về việc điều hành của các bộ trưởng, ông bày tỏ: đương nhiên Quốc hội cũng như nhân dân hết sức chia sẻ, thông cảm những khó khăn chung của cả nước cũng như của các ngành.

K.H. – V.V.T.

LÊ KIÊN – CẦM VĂN KÌNH

——–

—-

Vinashin Asks Bondholders to Write Off 90% of Debt After Default in April

By Bloomberg News – Jun 2, 2011 2:24 AM ET

Vietnam Shipbuilding Industry Group, the state-owned company with more than $4 billion of debt, asked holders of a local-currency bond it defaulted on in April to write off as much as 90 percent of the money owed, according to a bondholder who met with company officials inHanoi last week.

Officials told creditors the shipyard is unable to make any payments until 2015 at the earliest, Pham Viet Bac, general director of Ho Chi Minh City-based Sabeco Fund Management, which holds 30 billion dong ($1.5 million) of Vinashin bonds, said in a phone interview yesterday.

The shipbuilder’s financial difficulties have raised questions about the extent Vietnam’s government will support state-owned enterprises, threatening to undermine investor confidence in the nation as it aims to accelerate privatization. A missed payment by Vinashin to international lenders in December showed government support for state companies isn’t guaranteed, Moody’s Investors Service said in an April 20 report.

“The Vietnamese government has a long way to go in terms of restoring its credibility with investors,” said Christian de Guzman, a Singapore-based assistant vice president at Moody’s. “Investors will be wary of dealing with the government and state-owned enterprises, given these developments.”

Vinashin Chief Executive Officer Truong Van Tuyen declined to comment when reached by phone at his office yesterday. Calls to Chairman Nguyen Ngoc Su weren’t answered.

Vinashin Debts

The Hanoi-based company almost collapsed with debts of 86 trillion dong as of June last year,Vietnam’s government said Aug. 4. The government has said the company needs to narrow its focus after diversifying beyond shipbuilding into businesses including securities and tourism.

Vietnam's Prime Minister Nguyen Tan Dung

Nguyen Tan Dung, Vietnam’s prime minister, has asked police to investigate whether there are any signs of corruption at the shipbuilder. Photographer: Nelson Ching/Bloomberg

Prime Minister Nguyen Tan Dung asked police to investigate whether there are any signs of corruption at the company, Tuoi Tre newspaper reported in April. Vinashin accounts for as much as 80 percent of Vietnam’s domestic shipbuilding capacity.

Vinashin failed to pay a 9 percent coupon due April 13 on a 3 trillion dong, 10-year bond issued in 2007, according to Sabeco’s Bac.

The shipbuilder asked foreign lenders for a one-year extension after missing a $60 million principal payment in December on a $600 million syndicated loan, Chairman Su said in February.

‘Classified’ Audit

The shipbuilder has amassed total debts of 96.7 trillion dong, while total assets were 92.6 trillion dong as of Dec. 31, 2009, Lao Dong newspaper reported today, citing an audit by the Government Inspectorate.

Vinashin told bondholders at the meeting it wouldn’t provide a copy of its latest audit as the document is “classified,” said Bac.

“I’m very disappointed,” said Bac, who attended the meeting at Vinashin’s headquarters along with about 20 other creditors. “I want the company to be transparent to its creditors. We have the right to know.”

Vietnam’s bonds slumped at the end of 2010 as Moody’s and Standard & Poor’s cut the nation’s credit rating in December with a negative outlook. Moody’s, which rates Vietnam four levels below investment grade at B1, cited the risk of a balance of payments crisis and a drop in foreign reserves as inflation accelerates and the currency weakens.

S&P has concerns over Vietnam’s banking system and ranks the country at BB-, the third highest non-investment grade level.

Government debt rallied as the government approved a plan in February to tackle quickening inflation with higher interest rates and implemented measures to boost the local currency’s value. Vietnam’s year-on-year inflation rate in May reached 19.78 percent, the highest in more than two years, according to the General Statistics Office in Hanoi.

Vietnam’s dollar bonds are posting the best performance in Asia this year, returning 6.1 percent, according to indexes compiled by HSBC Holdings Plc.

To contact the reporter on this story: K. Oanh Ha in Hanoi at oha3@bloomberg.net

To contact the editor responsible for this story: Edward Johnson at ejohnson28@bloomberg.net

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Đảng CSVN | 9 Comments »

Nợ Việt Nam đã thật sự lên đến hơn 54% Tổng sản lượng quốc gia năm 2009

Posted by hoangtran204 trên 13/03/2011

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh

Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.  (813.435 tỉ đồng VN = 41 tỉ đô la Mỹ)

Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

(86.000 tỷ đồng VN = 4,3 tỉ đô la Mỹ. Như vậy, đến năm 2009,  nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước là 45,3 tỷ đô la Mỹ)

Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

85530_91.jpg
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường – chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động… quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

___________________________________

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

http://danluan.org/node/8129

—–

Việt Nam xếp thứ 9 trong danh sách 18 quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

Bất ổn chính trị ở Trung Đông đang làm thay đổi khẩu vị của các nhà đầu tư, buộc họ tăng cường nghiên cứu và mua bảo hiểm tại các quốc gia có mức độ rủi ro lớn.

Khảo sát mới nhất của Business Insider dựa trên dữ liệu lấy từ hãng CMA Datavision và Bloomberg, cho thấy các nước châu Âu vẫn còn nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, họ bày tỏ rất ít sự tin tưởng vào việc lãnh đạo các nước Eurozone sẽ tìm ra được giải pháp ổn định tình hình cho khu vực.

Trong khi châu Âu và Trung Đông đang là tâm điểm chú ý tại thời điểm này, thì một vài nguy cơ vẫn còn hiện hữu ở các quốc gia khác, bao gồm cả các đại gia vùng Nam Mỹ.

Các quốc gia trong danh sách này được sắp xếp theo phí đảm bảo cho các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng (Credit Default Swap – CDS). CDS là một dạng chứng khoán phái sinh, tương tự với một hợp đồng bảo hiểm. Khi tham gia vào CDS, người mua CDS trả cho người bán một khoản phí để được bảo hiểm cho rủi ro vỡ nợ tín dụng xảy ra khi một bên thứ ba rơi vào trường hợp vỡ nợ. Thị trường giao dịch CDS dựa trên những gói quy chuẩn là 10 triệu USD cho một hợp đồng.

18. Tây Ban Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 245,91 (điểm)

Sự việc gần đây nhất: Tây Ban Nha tiếp tục là trung tâm của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và hiện đang trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.

17. Bungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 248,28

Sự việc gần đây nhất: Bungary vừa phải áp dụng các biện pháp thắt lưng buộc bụng trong một cuộc chiến nhằm chống lại thâm hụt tài chính.

16. Iceland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 254,46

Sự việc gần đây nhất: Iceland vẫn còn đang vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính gây ra bởi cuộc khủng hoảng ngân hàng.

15. Lithuania

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 260,00

Sự việc gần đây nhất: Sau sự suy thoái tồi tệ trong cuộc khủng hoảng tài chính, Lithuania đã bắt đầu tăng trưởng trở lại với tốc độ 4,8% trong quý 4/2010.

14. Rumani

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 285,00

Sự việc gần đây nhất: Suy thoái kinh tế tại Rumani vẫn còn tiếp tục trong năm 2010 với GDP giảm 1,3%.

13. Croatia

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 286,32

Sự việc gần đây nhất: Croatia đang phải hứng chịu làn sóng biểu tình chống chính phủ trong khi vẫn còn đang phải vật lộn với cuộc khủng hoảng tài chính.

12. Hungary

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 304,19

Sự việc gần đây nhất: Hungary đã bị hạ mức tín nhiệm vào tháng 12/2010 và vẫn đang phải đấu tranh với các vấn đề tài chính. Chính phủ Hungary cũng vừa tuyên bố những kế hoạch mới vào tuần trước.

11. Bahrain

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 313,65

Sự việc gần đây nhất: Bahrain cũng đang phải hứng chịu các cuộc biểu tình phản đối như các nước Trung Đông và phải giải quyết với số đông cộng đồng người Shiite lãnh đạo phong trào biểu tình này.

10. Li-băng

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 360,00

Sự việc gần đây nhất: Li-băng hiện cũng đang chứng kiến nhiều vụ biểu tình chống đối và chính biến.

9. Việt Nam

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 365.00 (điểm)

Biến động gần đây nhất: Việt Nam đã buộc phải phá giá tiền đồng của mình trong một nỗ lực giải quyết các vấn đề nợ của mình.

8. Ai Cập

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 370,00

Sự việc gần đây nhất: Người dân Ai Cập vừa lật đổ tổng thống và hiện nước này đang được lãnh đạo bởi lực lượng quân đội.

7. Dubai

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 455,00

Sự việc gần đây nhất: Nguồn cung bất động sản thừa thãi tại Dubai hiện đang đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định của toàn quốc gia này.

6. Ukraine

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,75

Sự việc gần đây nhất: Ukraine tăng trưởng chậm chạp trong quý 4/2010 nhưng dự kiến mức này sẽ đạt 4 – 5% trong năm 2011.

5. Bồ Đào Nha

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 460,88

Sự việc gần đây nhất: Bồ Đào Nha có lẽ sẽ thiếu đến 20 tỉ euro để trả cho các chi phí năm 2011.

4. Ireland

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 569,88

Sự việc gần đây nhất: Ireland tiếp tục phải vật lộn với cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng với hệ quả là gánh nặng về những khoản vay không phát huy được hiệu quả và gói cứu trợ của EU-IMF đang đè nặng lên chính phủ.

3. Argentina

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 646,47

Sự việc gần đây nhất: Nhiều năm sau khủng hoảng, Argentina vẫn còn đang phải chịu mức lạm phát cao (gần 11% cho tháng 12/2010).

2. Hy Lạp

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 956,27

Sự việc gần đây nhất: Hy Lạp gần đây lại chịu thêm một làn sóng phản đối nữa do các chính sách thắt lưng buộc bụng của chính phủ.

1. Venezuela

Phí bảo hiểm vỡ nợ cho hợp đồng 5 năm: 1.170,92

Sự việc gần đây nhất: Sản xuất dầu mỏ tại Venezuela đang bị suy giảm và đe dọa đến khả năng trả nợ của chính phủ nước này. 

(Ghi chú: Bài viết trên đây có nguồn từ báo VnExpress trong nước, dịch lại từ Business Insider, nhưng VnExpress đã bỏ tên nước Việt Nam ra khỏi danh sách 18 nước. Dân Luận đã dịch bổ sung đoạn về Việt Nam.)

—-

Xem bài viết http://www.businessinsider.com/count…ch-2011-3?op=1

Link trên là bài gốc, tựa: The 18 Countries Most Likely To Default, trong bài đó, nước CHXHCNVN chình ình ở vị trí thứ 9, với minh họa là rừng cờ đỏ và hình bác kính yêu.

Còn đây là bài dịch của vnexpress:

coi ở đây :

Những quốc gia có khả năng vỡ nợ cao nhất thế giới

http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/q…nhat-the-gioi/ (link nầy đã bị xóa)

Sau khi xào nấu, 18 nước thì chỉ còn 17, nước Việt Nam không nằm trong danh sách đó…

trích   http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=358&page=1081

*Việc bỏ bớt tên nước VN ra khỏi danh sách có thể  là cách luồn lách của một số báo chí VN nhằm đưa các tin quan trọng đến bạn đọc mà không bị kiểm duyệt. Xin nhớ rằng báo chí trong nước đang nằm dưới sự kiểm duyệt và chỉ đạo của bộ Thông Tin và Tuyên Truyền. Một số nhà báo VN rất có lòng, nhưng họ cần có tiền để nuôi gia đình. Làm công việc lọc bỏ như vậy là không lương thiện, họ cũng biết đó là việc làm đáng xấu hổ lắm, nhưng dịch đúng sự thật thì bài báo sẽ không được đăng. Tổng Biên Tập sẽ loại ngay bài ấy.

Có người nói rằng: Muốn nhận ra sự thật trên báo chí, chỉ cần tin ngược lại với những gì báo chí đang viết…và cố gắng tìm bài báo gốc (ở báo nước ngoài).

——–

Bổ Sung:

Việt Nam nợ nước ngoài bao nhiêu? In Email
Thứ hai, 14 Tháng 3 2011 09:16

Phải nói ngay rằng bài này không có mục đích bàn về kinh tế, nhưng chỉ mượn bài viết của bác Vũ Thành Tự Anh để bàn về cách trình bày con số thống kê kinh tế và ý nghĩa của những con số đó.  Đọc bài của Tự Anh mấy lần, nhưng tôi không cách gì hiểu được bởi vì những con số trong đó cứ nhảy nhót tứ tung cả.

Giới kinh tế gia là bậc thầy của thống kê. Họ nói cái gì cũng có con số kèm theo.  Họ rất thích con số phần trăm.  Phần trăm tăng trưởng.  Phần trăm GDP.  Nhưng thú thật, nhiều khi đọc qua những con số quá lớn, tôi không có cảm giác gì cả.  Chẳng hạn như có con số nói rằng các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam đang nợ 300,000 tỉ đồng (chỉ là ví dụ), thì làm sao tôi có thể hình dung ra qui mô đó lớn như thế nào.  Thành ra, phải qui ra con số phần trăm của GDP thì dễ hiểu hơn.  Hóa ra, con số tỉ trọng nợ trên GDP là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá nguy cơ một quốc gia sẽ vỡ nợ.  Do đó, con số của nhà kinh tế rất quan trọng, cần phải xem xét cho thật kĩ để hiểu vấn đề.

Theo báo chí thì Việt Nam là nước có nguy cơ cao bị vỡ nợ vì các doanh nghiệp thuộc Nhà nước quản lí thiếu nợ nhiều quá.  Một cách để biết qui mô thiếu nợ là thể hiện số tiền thiếu nợ nước ngoài như là một tỉ lệ của GDP. Tuy nhiên, đọc bài báo trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn thì tôi vẫn chẳng biết Việt Nam thiếu nợ bao nhiêu, vì cách trình bày con số quá rối rắm, và có khi không hợp lí.  Dưới đây là vài lí giải tại sao có những con số không hợp lí:

1.  Chúng ta thử đọc xem năm 2008, các doanh nghiệp Nhà nước nợ bao nhiêu.  Vào đầu, Tự Anh viết “[…] tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.”  Câu này thì tôi hiểu như sau: đến cuối năm 2008, số tiền mà các DNNN nợ chiếm xấp xỉ 24% GDP của Việt Nam.  Nhưng 24% là bao nhiêu USD?  Theo nguồn này thì GDP của Việt Nam năm 2008 là 84.98 tỉ USD.  Như vậy, tính đến cuối năm 2008 các DNNN nợ 20.31 tỉ USD.

2.  Bây giờ chúng ta xem qua con số của năm 2009.  Bài báo cho biết: “Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.”

Tôi hiểu câu này như sau: đến cuối năm 2009, số tiền mà các tập đoàn DNNN nợ là 813,435 + 86,000 = 899,435 tỉ đồng, chiếm 54.2% GDP của Việt Nam.  Suy ra, GDP của Việt Nam trong năm 2009 là 1,659,474 tỉ đồng (hay khoảng 83 tỉ USD, tính theo 1 USD = 20,000 đồng), thấp hơn 2008 (84.98 tỉ USD)!

Con số GDP [83 tỉ USD] này xem ra không hợp lí, bởi vì chúng ta biết rằng kinh tế Việt Nam tăng trưởng hàng năm từ 6 đến 8%. Thật vậy, theo số liệu của Bộ Ngoại giao Mĩ GDP của VN năm 2009 là 92.6 tỉ USD. Con số có vẻ hợp lí hơn là 83 tỉ USD, vì nó thể hiện tăng 9% so với 2008. Nhưng chúng ta vẫn phải dè dặt vì con số này không xuất phát từ nguồn chính thức của Việt Nam.

Vấn đề do đó đặt ra là con số nợ là đúng hay con số GDP sai? Giả dụ như con số về nợ là đúng thì tính đến năm 2009, các doanh nghiệp Nhà nước nợ 44.97 tỉ USD.  Thử đặt vào một bảng số liệu để dễ hiểu:

2008 2009 Tỉ lệ tăng trưởng
GDP (tỉ USD) 84.98 92.60 9 %
Nợ của DNNN (tỉ USD) 20.31 44.97 122 %

Như vậy, chỉ trong vòng 1 năm mà số tiền nợ của DNNN tăng hơn 2 lần. Có lẽ chính vì thế mà giới tài chính quốc tế đánh giá Việt Nam là một trong 18 nước có nguy cơ vỡ nợ cao.

3.  Bài báo có kèm theo một biểu đồ để minh họa, nhưng cách trình bày dữ liệu thì rất rối rắm.  Trục tung của biểu đồ là phần trăm (tỉ trọng GDP).  Trục hoành là năm.  Mỗi bar có 2 phần: phần dưới thể hiện nợ của DNNN, và phần trên là “Nợ của chính phủ”. Con số nợ của DNNN trong năm 2008 và 2009 (23.9% và 54.2%) được đề cập trong bài viết. Nhưng con số nợ của Chính phủ (36.2% bà 44.7%) thì hoàn toàn không được đề cập trong bài viết! Trình bày con số trong biểu đồ mà không có diễn giải là một “đại kị” trong khoa học.

Tôi không hiểu được biểu đồ này nói lên điểm gì.  Con số 36.2% và 44.7% đề cập cụ thể đến cái gì?  Nếu cộng 2 con số nợ của DNNN và nợ của chính phủ lại thì năm 2009, tổng số nợ chiếm 98.9% GDP sao? Nợ đến mức đó thì vỡ nợ rồi!  Khó hiểu quá.

Ngoài ra, đường nối giữa hai con số có nghĩa là gì?  Cần nói thêm rằng một qui ước chung trong khoa học là không ai dùng biểu đồ để thể hiện những con số đã đề cập trong văn bản cả, vì làm như thế là thừa.

Bài viết còn có một thông tin mà tôi không cách gì hiểu nổi.  Đó là đoạn “Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Phần tô đậm là phần tôi không hiểu nổi.  “Tổng tín dụng nợ nội địa” là gì?  Chắc chắn phải có một cách viết để thường dân có thể hiểu, chứ đâu cần đến cái cụm từ dài như thế.  Ngoài ra, mới nói ở phía trên rằng trong năm 2009 nợ của các doanh nghiệp Nhà nước chiếm 54.2% tổng GDP, vậy mà đoạn này nói rằng “không dưới 60% tổng tín dụng nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế”.  Mẫu số của 60% là cái gì?

Nói tóm lại, một bài báo ngắn có nhiều ảnh hưởng, nhưng thông tin thì quá mù mờ.  Mù mờ là do cách trình bày và cách dùng những thuật ngữ kinh tế làm cho thông tin càng thêm khó hiểu.  Tuy nhiên, nói gì thì nói, Việt Nam nợ quá nhiều.  Chỉ riêng doanh nghiệp của Nhà nước mà đã nợ gần 45 tỉ USD, chưa biết doanh nghiệp tư nhân nợ bao nhiêu.  Điều đáng chú ý hay quan tâm hơn là chỉ trong vòng 12 tháng mà số nợ của DNNN tăng hơn 2 lần.  Có thể xem đó là khủng hoảng?

*****************************************************

10-2011

Nợ công thành đại họa, nếu…

Báo Tiền Phong  phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế

TP – “Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Quản lý yếu kém không những khiến nợ công thất thoát, không phát huy hiệu quả mà còn đẩy quốc gia đến nguy cơ mất chủ quyền vì phụ thuộc bên ngoài”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nhận định.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành.

Nợ tăng, khó trả

Nợ công tăng cao và tăng nhanh gần đây. Điều đó nói lên vấn đề gì, thưa ông?

Điều đó nói lên Việt Nam muốn đầu tư phát triển kinh tế và những dự án đầu tư vượt ngân sách của Nhà nước. Mỗi năm Việt Nam đầu tư 42-43% GDP, trong khi tiết kiệm nội địa chỉ khoảng chừng 30% GDP, có nghĩa là mình đầu tư trên khả năng tiết kiệm 13-14%. Muốn có phương tiện để đầu tư cao hơn tiết kiệm nội địa thì một là vay nước ngoài, hai là vay trong nước.

Nhà nước đi vay để đầu tư vào những vấn đề mà người dân không thể đầu tư như phát triển hạ tầng mềm như giáo dục, y tế… hay hạ tầng cứng như đường sá, cầu cống, bến cảng… Mỗi ngày kinh tế của mình phát triển mạnh, đòi hỏi nhu cầu về vốn tăng cao để đầu tư vào những lĩnh vực mà người dân không thể đầu tư được nên nợ công tăng nhanh cũng là dễ hiểu.

Nợ công đang ở mức độ nào và đã đến mức cảnh báo chưa?

Nợ công hiện nay của Việt Nam ở mức hơn 52% GDP, nhưng điều đó không nói lên vấn đề gì. Vay về để làm gì và có đủ khả năng trả nợ hay không mới là vấn đề đáng nói. Nếu mình vay 52% GDP mà GDP của mình mỗi năm tăng 5-7% và tạo ra các nguồn thu ngân sách, và trả được nợ công thì không thành vấn đề.

Chúng ta phải xem xét nợ công đang được đầu tư vào lĩnh vực gì và hiệu quả tới đâu thì mới biết 52% là nhiều hay ít. Nếu đầu tư vào những Cty phát triển tốt và chỉ số ICOR thấp thì hiệu quả kinh tế cao sẽ không có vấn đề gì. Nhưng nếu đầu tư vào những doanh nghiệp Nhà nước bị lỗ ICOR là 8, 9 thậm chí 14, tức là không có hiệu quả kinh tế và như vậy thì rất nguy hiểm.

Theo ông, khả năng trả nợ công của nền kinh tế hiện nay như thế nào?

Chúng ta đang rất khó khăn. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, 30% doanh nghiệp đứng trước tình trạng phá sản và 50% doanh nghiệp đứng trước tình trạng khó khăn. Nếu tình hình kinh tế cứ đình đốn thế này thì lấy đâu nguồn thu để trả nợ công.

Tham nhũng, rút ruột kéo dài

Ngoài việc sử dụng vào mục đích đầu tư, nợ công còn được đem cho vay lại?

Thì đấy, Nhà nước phát hành trái phiếu vay hàng trăm triệu USD về cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng. Mỗi năm, Nhà nước đều cấp tiền cho các doanh nghiệp Nhà nước, một là dưới hình thức cấp vốn, hai là dưới hình thức cho vay lại. Nhiều trường hợp cho vay xong rồi lỗ thì khoanh nợ, khoanh xong rồi xóa nợ…

Theo ông, việc sử dụng nợ công hiệu quả tới đâu?

Ở Việt Nam đang có vấn đề cực kỳ nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công. Ví dụ mình vay tiền về xây dựng xa lộ với mục đích là bền vững, hiện đại, nhưng vì rút ruột công trình nên nền móng của con đường không có chất lượng, mới mấy năm đã trồi lên trụt xuống.

Một lần làm không xong, không đủ chất lượng phải phá ra làm lại, nhưng làm lại vẫn bị rút ruột. Một công trình bị rút ruột ba, bốn lần. Nếu cứ tiếp tục như thế thì nợ công chồng chất.Theo báo cáo của Quốc hội, công trình nào cũng bị rút ruột 5, 10, 20%, thậm chí đến 30%. Theo tôi được biết từ báo cáo của Chính phủ, tình trạng rút ruột công trình rất nhiều mà không giải quyết được. Một mặt, mình đầu tư vào những dự án không có hiệu quả kinh tế; mặt khác do quản lý kém nên để xảy ra tiêu cực, tham nhũng và rút ruột các công trình đầu tư từ nợ công.

Mình sử dụng nợ công vào việc có ích, nhưng hiệu quả rất thấp. Chẳng hạn, mình làm con đường thì là có ích chứ, bởi nó giúp cho việc thông thương hàng hóa, đời sống kinh tế, xã hội hai bên con đường đó phát triển. Nhưng lẽ ra hiệu quả phải gấp 2-3 lần. Tức là hiệu quả không xứng với đồng tiền bỏ ra và chỉ hiệu quả tức thời. Ví như con đường người ta làm chạy được 20-30 năm thì mình làm chỉ chạy được 3-4 năm đã phải đào lên sửa chữa.*

“Những người đại diện Nhà nước sử dụng tiền Nhà nước vay nước ngoài về để làm những việc ích nước lợi dân mà không làm, mà làm thất thoát nghiêm trọng nợ công thì tội rất lớn.Những người có trách nhiệm mà rút ruột công trình thì không phải chỉ mắc tội ăn cắp mà còn là tội làm mất chủ quyền quốc gia vì khiến quốc gia bị lệ thuộc nước ngoài. Tội đó là cực kỳ nghiêm trọng.Không phải chỉ 5, 10 hoặc 20 năm nữa các thế hệ sau phải trả những khoản nợ đó mà khiến quốc gia rơi vào nguy cơ mất chủ quyền như bài học của Hy Lạp thì cái đấy mới là nguy hiểm”- Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành

Theo ông, làm thế nào để giảm nợ công?

Trước nhất, Nhà nước phải xem lại tất cả các công trình đầu tư, cái nào cần và cái gì chưa cần. Vừa qua phân cấp, phân quyền cho các địa phương nhưng địa phương làm vì quyền lợi của địa phương chứ không phải vì quyền lợi của toàn quốc gia. Dẫn đến mỗi địa phương lại có một cái cảng, địa phương đua nhau làm sân bay…

Anh nào cũng muốn làm nhà máy xi măng, nhà máy đường kể cả làm nhà máy đường ở nơi không có mía, làm xong để đó cho hư hỏng hoặc xin ngân sách để chuyển đi nơi khác có mía… Mình phải rà soát lại và muốn nợ công được sử dụng tốt thì phải xem lại nợ công dùng để làm gì. Nếu thật sự cần thiết thì phải làm hết sức tốt, nếu không cần thiết thì dứt khoát cắt giảm.

Có thể vỡ nợ như Hy Lạp

Nợ công liên tục tăng cao sẽ dẫn đến hệ lụy gì?

Nếu nợ công tăng cao mà không có khả năng trả nợ thì có thể dẫn đến vỡ nợ như Hy Lạp bây giờ. Hệ lụy của nợ công, nếu không trả được sẽ dẫn đến lệ thuộc nước ngoài, lệ thuộc các quốc gia hay những tổ chức tài chính nào đó, bởi mình không có quyền kiểm soát mà phải nghe theo họ. Thậm chí phải chấp nhận những việc mà bình thường một quốc gia không thể chấp nhận được.

Hiện Việt Nam không có lý do gì phải đi vay nợ công 100%, thậm chí 200% GDP như một số nước, nhưng nếu cần thiết để phát triển kinh tế thì nợ công ở mức 50, 60 hay 70% GDP mà mình có khả năng để hoàn trả thì không có vấn đề gì.

Theo ông vấn đề quan trọng là phải giảm nợ công hay quản lý nợ công có hiệu quả?

Theo tôi, vấn đề quan trọng nhất vẫn là quản lý có hiệu quả, và quản lý cái gì thì phải xem lại đầu tư vào những cái gì, chứ không phải đầu tư vào những công trình mà mình chưa cần dùng. Mình có chừng đó tiền thì phải làm những cái gì cho nó tốt nhất chứ không phải là cắt giảm.

Mục đích không phải là giảm nợ công mà là sử dụng hiệu quả để đất nước phát triển. Mà muốn sử dụng cho tốt thì phải rà soát lại tất cả dự án đầu tư công và phải có những nhân sự cần thiết để quản lý cho hiệu quả.

Ông Thành nói: Theo báo cáo của Bộ Tài chính vừa công bố, nợ nước ngoài của Việt Nam tính đến tháng 12-2010 là 32,5 tỷ USD, tăng từ 27,9 tỷ USD cuối năm 2009, trong đó nợ trực tiếp của Chính phủ là 27,9 tỷ USD, còn lại là nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Năm 2009, nợ trực tiếp của Chính phủ là 23,9 tỷ USD, bảo lãnh là 3,98 tỷ USD.Theo Bộ Tài chính dự kiến, nợ công năm 2011 khoảng 58,7% GDP.
Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nợ công năm 2007 là 33,8% GDP, 2008 là 36,2%, 2009 là 41,9% và 2010 là 56,7% GDP. Những con số này cho thấy tỷ lệ nợ công tăng cao và tốc độ tăng nợ công mỗi năm khoảng 5%.

Đại Dương

nguồn

Chú thích:

*Ở Mỹ, Pháp và Miền Nam Việt Nam, đường sá xây dựng thì 50 năm sau cũng chưa hư. Xa lộ Sài Gòn- Biên Hòa xây dựng vào thời TT Ngô Đình Diệm 1963 là một điển hình.

Xa lộ Biên Hòa dài 30 cây số, nối liền ba đường giao thông chính, từ Sài Gòn lên cao nguyên (Đà Lạt), ra miền Trung (Nha Trang, Huế), và ra miền Đông (Vũng Tàu). Xa lộ nầy được xây dựng với mục đích phát triển kinh tế. Hai bên Xa lộ Sài Gòn Biên Hòa là Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa với khu liên hợp của rất nhiều ngành kỹ nghệ của miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa.

Trong khu kỹ nghệ Biên Hòa có Nhà máy Xi Măng Hà Tiên, Hãng xe hơi Citroen đầu tiên của Việt Nam, Hãng lắp ráp Radio Sonny, lắp ráp Truyền Hình hiệu National, Xí nghiệp Thịt  Nissan, xí nghiệp dệt, nhà máy Bột Ngọt, Nhà máy Thép Biên  Hòa, Nhà máy sản suất sợi dây điện và đồ điện, khu sản suất thức ăn gia súc, các hãng sản suất dược phẩm…Sau khi chiếm được miền Nam, Lê Duẫn và bộ chính trị  thăm Khu Kỹ Nghệ Biên  Hòa, họ đã tận mắt nhìn thấy quá hiện đại hơn miền Bắc và các nước XHCN rất xa, họ đi thang máy, nhìn thấy các nhà máy tự động hóa các công đoạn sản suất, bởi thế, ông ta tự tin và tuyên bố là 10 năm sau sẽ đuổi kịp Mỹ.

Lúc mới xây Xa lộ Sài gòn  Biên Hòa rất rộng rãi, không cho nhà dân xây dọc theo xa lộ, vì được kế hoạch sẽ mở rộng xa lộ sang hai bên trong 10-20 năm tới. Đường thẳng, rộng rãi, mặt đường phẳng phiu, nền móng đường là 40-50 cm (gần nửa thước). Xe chạy với tốc độ cao, làm cắt ngắn thời gian mỗi chuyến khoảng 15-30 phút, và tiết kiệm được 4-5 lít xăng. Chỉ cần nhân số chuyến xe mỗi ngày đi về ba miền đó, mỗi xe tiết kiệm 5 lít xăng, thì có thể thấy, số tiền tiết kiệm hàng năm khỏi nhập xăng dầu là bao nhiêu, và nếu thu phí, thì có thể chỉ vài năm là lấy lại được tiền vốn bỏ ra rồi. Xa lộ Sài gòn  Biên Hòa được nâng cấp bởi hảng RMK sau khi Mỹ đổ quân vào VN vì một phần xa lộ nầy dẫn vào căn cứ Long Bình.

“Xa Lộ Biên Hoà nhằm phục vụ cho sự di chuyển kinh tế của dân từ SG và Miền Tây lên Miền Đông. Nó được thực hiện song song với KHU CHẾ XUẤT BIÊN HOÀ, để lưu thông thương mại từ SG với khu kỹ nghệ Biên Hoà được dễ dàng hơn. Hoàn toàn là mục đích kinh tế chứ không có mục đích gì chính trị hay quân sự như sách vở VC mô tả.Thời TT Diệm làm gì có nhu cầu quân sự ở Biên Hoà với SG.”

Xa lộ Đại Hàn xây dựng năm 1966 đến nay là gần 45 năm vẫn chưa hư. Xa lộ Đại Hàn là đường nối liền xa lộ miền Đông và Miền Tây. Xa Lộ Đại Hàn hay đường vành đai mới thực sự có mục đích chiến lược, để dễ phòng thủ Thủ Đô Sài Gòn. Xa Lộ Đại Hàn được mở đường trước tết Mậu Thân khoảng vài năm, là đường chiến lược chạy từ Đông qua Tây, đi vòng đai phía Bắc và phía Tây của SG, nối  Quốc Lộ 4 (đi Cần Thơ) vô Xa Lộ Biên Hoà, chạy qua Thủ Đức, căn cứ Sóng Thần, An Phú Đông…

—————————

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh, Nợ của Việt Nam | Leave a Comment »

Những món nợ giấu kín

Posted by hoangtran204 trên 20/01/2011

Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA

Nguồn ở đây

2010-08-04

Khi dư luận tại Việt Nam bàng hoàng vì vụ tập đoàn quốc doanh Vinashin bị ngập nợ thì ở bên ngoài, thế giới lại chú ý đến một hiện tượng bất ngờ không kém.

AFP PHOTO/HOANG DINH Nam 

Logo của tập đoàn Vinashin tại trụ sở chính ở Hà Nội hôm 19/07/2010

Đó là những khoản nợ vĩ đại của các chính quyền địa phương tại Trung Quốc, nơi mà người ta cứ tưởng là có dự trữ ngoại tệ dồi dào và còn đem tiền cho người khác vay. Nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng hai hiện tượng Vinashin và Trung Quốc mắc nợ đều có chung một số nguyên do. Ông trình bày sự việc và giải thích như sau với Việt Long trong mục Diễn đàn Kinh tế tuần này…

Cùng hệ thống – cùng hậu quả

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trước hết, chúng ta nói qua về vụ tập đoàn quốc doanh Vinashin bị mắc nợ có thể đến hơn bốn tỷ đô la, là một biến cố đang gây chấn động tại Việt Nam khiến ông Chủ tịch Tổng giám đốc đã bị ngưng chức. Sau đó thì mình sẽ tìm hiểu vì sao mà người ta có thể đi vay dễ dàng như vậy…

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi lại xin nói ngược và nêu lên một vấn đề khác vì hiện tượng Vinashin không là hãn hữu. Vấn đề khác là Trung Quốc thật ra cũng ngập nợ mà dư luận bên ngoài không biết. Các Công ty Đầu tư Địa phương của xứ này được chính quyền địa phương lập ra để đi vay tiền vô tội vạ và tính đến đầu năm nay thì mắc nợ ít ra là một ngàn bảy trăm tỷ đô la, bằng một phần ba tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc. Y như Vinashin tại Việt Nam, họ hồn nhiên vay tiền để thổi vào các dự án vô giá trị về kinh tế và không thể sinh lời nên sẽ vỡ nợ.

Khi ấy, chính quyền Bắc Kinh sẽ giải quyết ra sao? Người ta cứ nói rằng với hơn hai ngàn tỷ đô dự trữ ngoại tệ, Trung Quốc đang là một quốc gia chủ nợ của thế giới mà ít khi nhìn ra khối nợ bị che giấu đó. Đấy là “hiện tượng Vinashin”, nhưng với màu sắc và kích thước Trung Quốc! Và nguyên nhân vì sao thì tất nhiên là cũng giống nhau.

Việt Long: Ông vừa nêu ra một con số gây giật mình là 1.700 tỷ đô la nợ nần của các Công ty Đầu tư Địa phương của Trung Quốc. Các công ty này là gì mà có thể vay mượn đến như vậy?

Tôi xin đề nghị là mình hãy nhìn sâu vào cơ chế và hệ thống kinh tế của Trung Quốc thì có khi thấy ra những nguyên nhân đã dẫn tới vụ Vinashin ở Việt Nam. Cùng một hệ thống thì cũng dẫn tới một hậu quả.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi xin đề nghị là mình hãy nhìn sâu vào cơ chế và hệ thống kinh tế của Trung Quốc thì có khi thấy ra những nguyên nhân đã dẫn tới vụ Vinashin ở Việt Nam. Cùng một hệ thống thì cũng dẫn tới một hậu quả. Tôi xin trình bày sự kiện, rồi mới phân tích nguyên do trước khi ta rút kết luận về hiện tượng Vinashin.

Trước hết, các chính quyền địa phương tại Trung Quốc thường thiếu hụt ngân sách nên phải vay tiền. Nhưng theo luật lệ có dời đổi liên miên, mức vay của họ bị trung ương hạn chế. Vì vậy, chính quyền các tỉnh, huyện hay thành phố mới lập ra Công ty Đầu tư Địa phương để thay mặt vay tiền từ các ngân hàng cũng là quốc doanh. Chính quyền trung ương có thấy việc đó, nhưng từ hai năm nay lại khuyến khích – như chính quyền Việt Nam đã khuyến khích Vinashin dù rằng tập đoàn này đã bị trễ nợ khi đáo hạn từ hai năm nay rồi. Lý do khiến Bắc Kinh khuyến khích chuyện đó vì tin rằng nhờ vậy mà tiền sẽ sớm được giải ngân thực hiện các dự án ở địa phương.

Kết quả thì có hơn 8.000 Công ty Đầu tư Địa phương đã ra đời và vay tiền các ngân hàng của nhà nước ở địa phương, với sự ủng hộ của chính quyền địa phương, để thực hiện các dự án cho địa phương, như cầu đường, nhà máy điện hay khách sạn, văn phòng, sân vận động, v.v… đôi khi với đất đai do chính quyền địa phương cấp cho các công ty đầu tư này làm tài sản thế chấp và thường thì với điều kiện tín dụng ưu đãi vì là dự án của địa phương.

yuan-dollar-euro.jpg-250.jpg
Hình minh họa. AFP photo

Việt Long: Ông vui lòng xác định với thính giả một bản sơ đồ toàn cảnh trước khi nói đến sự vận hành của hệ thống đó.  Như quý thính giả có thể hiểu: trung ương cho địa phương lập ra công ty đầu tư thực tế là quốc doanh ở địa phương, đi vay tiền của ngân hàng cũng quốc doanh ở địa phương, với đất đai, tiếng là tài sản của toàn dân nhưng do nhà nước quản lý ở địa phương để đưa vào dự án của địa phương. Tức là một hệ thống kinh tế của nhà nước, mà ở cấp bộ địa phương, có phải vậy không? Nhưng chắc ông không quên rằng Vinashin là tập đoàn mang tầm cỡ quốc gia, kinh doanh một ngành chiến lược cho quốc gia?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về việc lập ra tập đoàn gọi là có tầm cỡ quốc gia như Vinashin thì chỉ là sáng kiến dại dột năm 2006, học lại từ các “chaebol” Nam Hàn mà quên mất hậu quả là khủng hoảng năm 1997 khiến nhiều “chaebols” vỡ nợ và phải cải cách sau đó. Mà “chaebols” Nam Hàn đều là tư doanh đi lên sau mấy chục năm tích lũy, học hỏi chứ các tập đoàn Việt Nam chỉ là con ếch muốn sớm to bằng con bò, được nhà nước thổi lên bằng tiền đi vay. Nói chung, tập đoàn nhà nước hay công ty đầu tư địa phương, tất cả chỉ là hệ thống do nhà nước ban xuống, bên trong là do đảng lập ra và chỉ đạo vì nếu không là đảng viên thì chẳng thể ngồi vào các vị trí quyết định ấy. Ông Chủ tịch Vinashin cũng thế, là bí thư đảng trong tập đoàn này, và thi hành chiến lược quốc gia bằng cách mua hàng đồng nát và kinh doanh bừa phứa qua mấy trăm chi nhánh.

Nhìn chung thì trong hệ thống kinh tế nhà nước, mọi người đều tin là có nhà nước yểm trợ nên nảy sinh tâm lý ỷ thế mà bất cẩn. Cụ thể tại Trung Quốc nếu dự án không có đất làm tài sản thế chấp thì ngân hàng địa phương đòi chính quyền ký giấy đảm bảo rồi cho vay. Ấn tín nhà nước là yếu tố an toàn cho hệ thống, nhưng theo kiểu “cha chung không ai khóc”.

Bây giờ, nói về sự vận hành của hệ thống thì yếu tố chính trị thực tế là quan hệ giữa đảng viên và quan chức địa phương với nhau trong các địa hạt hành chính, ngân hàng và đầu tư. Yếu tố tiền tài thực tế là sự chia chác đỉnh chung cho từng hợp đồng tín dụng, từng dự án. Đều là của công mà do cán bộ phân bố cho nhau và báo cáo lên trên là đã có dự án này dựa án kia được thực hiện, rồi cắt băng khánh thành hay hạ thủy…

Hệ thống kinh tế – chính trị

vinashin2-250.jpg
Một cửa hàng kinh doanh ôtô, xe máy tại Hà Nội thuộc Công ty cổ phần Công nghiệp tàu thủy và xe máy – một trong 200 công ty của Vinashin. Photo courtesy of tuoitre.vn

Việt Long: Bây giờ, ta nói qua kết quả của chuỗi hiện tượng đó. Các Công ty Đầu tư và ngân hàng cùng chính quyền địa phương tại Trung Quốc đã làm được những gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Kết quả của sự vận hành sáng tạo ấy là người ta lấy quyết định kinh tế mà bất kể rủi ro lời lỗ, nhưng đảng viên cán bộ thì đều có lợi. Trước hết là tín dụng ngân hàng của nhà nước được cấp dễ dàng cho các dự án đầu tư hay đầu cơ về bất động sản ở địa phương. Dân thì mất đất, nhưng quan chức có lợi và ngân hàng ôm vào một núi nợ khi bong bóng đầu cơ bị bể. Thế giới đang chờ đợi một vụ khủng hoảng ngân hàng vô cùng vĩ đại tại Trung Quốc vì khoản nợ lên tới một phần ba tổng sản lượng quốc gia lại là nợ thối, không sinh lời và sẽ mất. Các trương chủ bỏ tiền tiết kiệm vào ngân hàng sẽ trắng tay và nổi loạn nếu nhà nước không đứng ra trả nợ đậy.

Thứ hai, người ta thực hiện các dự án vĩ đại mà vô dụng, không kém gì các dự án của tập đoàn Vinashin đang được phanh phui ở nhà. Một thí dụ được giới nghiên cứu quốc tế nhắc tới là tại thành phố Ngân Xuyên, thủ phủ của Khu tự trị Ninh Hạ, gọi là Hồi Ninh Hạ.

Ninh Hạ là tỉnh nghèo vào hạng thứ ba của cả Hoa lục – chỉ có hai tỉnh hay khu hành chính nghèo hơn – cần trung ương cấp cho 70% số thu ngân sách mà lại đang mắc nợ 15 tỷ đô la, bằng 75% sản lượng kinh tế của cả địa phương. Lý do là họ vay tiền thực hiện các dự án quy mô và vô dụng, như một cao ốc có kích thước và dáng vẻ của tòa nhà Empire State Building tại Mỹ, hơn 100 tầng, cao gần 400 thước. Hoặc một viện bảo tàng nguy nga, một thư viện khổng lồ, một trung tâm khoa học và công nghệ tân tiến, cái nào cũng lớn bằng mấy sân banh, mà trống không, chưa nói đến sân vận động thênh thang và nhiều biệt thự tráng lệ cho tiêu chuẩn triệu phú. Cư dân nơi đó thưa thớt, đa số thuộc tộc Hồi, và quá nghèo để sử dụng loại phương tiện công ích hoành tráng như vậy. Mà địa phương không thể thu được tiền thì làm sao bảo trì và trả nợ?

Việt Long: Vì sao người ta lại thực hiện loại công trình như vậy ở giữa một khu vực khô cằn của sa mạc trong một địa phương thật ra vẫn còn rất nghèo? Người ta không biết tính hay sao?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Như trong vụ Vinashin, người ta có biết tính cả đấy. Nhưng là ai tính và tính cho ai, vì mục đích gì? Trong ngần ấy dự án phi lý này, cái hợp lý là mối lợi của đảng viên quan chức khi ký hợp đồng cho vay và thực hiện công trình, rồi phó mặc tất cả cho người khác.

Cấp lãnh đạo địa phương thì viện dẫn lý do rất phải đạo rằng họ thi hành chỉ thị của trung ương, là góp phần phát triển các khu vực lạc hậu nghèo đói ở miền Tây. Cấp lãnh đạo tại trung ương thì té ngửa, rồi đành tự an ủi và tuyên truyền rằng tộc Hồi được nâng đỡ và Ninh Hạ đang nhảy vọt vào thế kỷ 21. Nó cũng tương tự như lời quảng cáo về Vinashin đã xuất hiện từ năm 2008 là có công nghiệp đóng tàu tiên tiến nhất, có thể vượt qua cả nước Anh về tính hiện đại!

000_Hkg3832193-250.jpg
Trụ sở Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (ABC) tại Bắc Kinh hôm14 tháng 7 năm 2010. AFP Photo

Thực tế thì Bắc Kinh có thấy ra mối nguy nên từ tháng Sáu vừa qua, Quốc vụ viện Trung Quốc đã ra chỉ thị. Rằng thứ nhất, các chính quyền địa phương phải đảm bảo là mọi cơ sở đầu tư của địa phương đều có khả năng trả được nợ. Nếu sau này không trả được thì sự việc sẽ ra sao, chúng ta chưa biết. Thứ hai, địa phương phải hoàn tất các dự án dang dở trước khi khởi công dự án mới. Nếu đang thi công mà không vay thêm được tiền thì các dự án lưng chừng này sẽ đổ xuống đâu, người ta cũng chưa biết, nhưng chắc chắn đang là nỗi đau đầu cho địa phương.

Trong khi ấy, thực tế phũ phàng của kinh tế và chính trị khiến chính quyền trung ương vẫn không thể đạp thắng được vì cần tạo ra việc làm. Và họ phải tiếp tục Chương trình Phát triển miền Tây trong 10 năm tới, với ngân khoản hơn một trăm tỷ đô la riêng cho năm nay, vì sợ động loạn xuất phát từ nông dân nghèo, từ đám “dân công” là công nhân di động đang đi kiếm việc, từ dân thiểu số sắc tộc. Vì vậy, Bắc Kinh đang gặp thế lưỡng nan là bị khủng hoảng ngân hàng với kích thước vĩ đại của Trung Quốc, hoặc bị suy trầm kinh tế và động loạn xã hội.

Trong khi núi nợ vẫn chồng chất hàng ngày, lãnh đạo đòi kích thích kinh tế cho hồ hởi để chuẩn bị Đại hội đảng và thế giới thì hạ mức khả tín của Việt Nam khi vay tiền.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa

Việt Long: Tổng kết lại câu chuyện kinh hoàng này và nhớ tới vụ Vinashin, ta rút tỉa ra những bài học gì?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Về Trung Quốc, lãnh đạo xứ này phải quan niệm lại vai trò và trách nhiệm ngân sách của các địa phương và phải kiểm soát được sự chi tiêu hay gọi là đầu tư của các địa phương. Nếu không, trung ương è cổ lãnh nợ chứ không thể huênh hoang được nữa.

Thứ hai, chuyện này đưa ta trở về Việt Nam, cần giải tỏa hệ thống kinh tế thực tế là nhà nước, khi thì đội mũ tập đoàn quốc doanh, khi thì khoác áo tổng công ty nhà nước, hay ngân hàng của nhà nước, và khi nào cũng có thể lấy quyết định mờ ảo và mờ ám mà thị trường và luật pháp không kiểm soát được trong khi vẫn được ở trên bao che vì cái gọi là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây không chỉ là vụ đảng viên cán bộ tham ô làm thất thoát tài sản quốc gia. Tham nhũng hay tệ nạn đưa thân nhân gia đình vào chốn bẻo bở này chỉ là hậu quả. Nguyên nhân nằm trong hệ thống kinh tế và chính trị ở trên.

Chuyện Vinashin kinh doanh sai trái và vỡ nợ về pháp lý vì trễ hạn trả nợ đã xảy ra từ cuối năm 2008. Vậy mà sau đó chính nhà nước, là Chính phủ và Thủ tướng, vẫn bao che vì lý do này lý do nọ để Vinashin vay thêm và thực hiện các dự án quái đản và hoang phí cho tới ngày phá sản. Khi ta mới chỉ thấy Vinashin vỡ mủ thì nhiều doanh nghiệp nhà nước khác vẫn đang mưng mủ mà dân chúng không biết. Trong khi núi nợ vẫn chồng chất hàng ngày, lãnh đạo đòi kích thích kinh tế cho hồ hởi để chuẩn bị Đại hội đảng và thế giới thì hạ mức khả tín của Việt Nam khi vay tiền.

Việt Long: Ông nhắc đến việc công ty lượng cấp tín dụng là Fitch vừa hạ trái phiếu Việt Nam xuống bốn nấc dưới cấp đầu tư, tức là có giá trị của giấy lộn, của junk bond. Câu hỏi cuối, thưa ông, trong hoàn cảnh hôm nay đâu là những rủi ro của Việt Nam, và ông có thấy gì sáng sủa đôi chút không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Hạ tầng cơ sở vật chất và luật pháp lạc hậu lẫn giáo dục tồi tệ khiến xứ này khó phát triển lành mạnh, bền vững và cân đối được, cho dù bất cứ ai lên lãnh đạo vào lúc này hay vào những năm tới. Đó là rủi ro từ trung hạn đến trường kỳ. Trước mắt, tham nhũng làm vẩn đục môi trường đầu tư và nản chí doanh gia quốc tế, và khả năng trả nợ rất yếu khiến Việt Nam vay tiền khó hơn, trả nợ càng đắt hơn. Mà nếu lại vay tiền theo kiểu Ninh Hạ thì khủng hoảng sẽ là tất yếu: vốn liếng của Việt Nam chi đủ cho hai tháng nhập khẩu thôi!

Việt Long: Xin cảm ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

————–


Posted in Kinh Te Viet Nam Trung Quoc ...affairs, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

Tập đoàn Điện Lực VN (EVN) đang ở chân tường, mắc nợ hơn 1 tỉ 140 triệu đô la, không thể mượn được tiền mua dầu…

Posted by hoangtran204 trên 13/01/2011

Tập đoàn Điện Lực  VN (EVN )đang ở chân tường vì phải đối phó với nhiều khó khăn về tài chánh, và sẽ cắt điện nhiều hơn trong năm 2011 vì thiếu tiền mua dầu, vì mức nước trong các hồ thủy điện quá thấp so với năm trước, và quan trọng nhất EVN đang măc nợ hơn 1 tỉ 140 triệu đô la.

Công ty Điện VN đề nghị:

1./ xin Chính phủ, Bộ Công thương cho tăng giá điện.

2./ EVN đề nghị Chính phủ chỉ đạo Quỹ bảo hiểm xã hội cho EVN vay 15.000 tỉ đồng để đầu tư nguồn điện, chỉ đạo các bộ ngành sớm hỗ trợ,

3./ bảo lãnh để EVN vay qua phát hành trái phiếu quốc tế 1 tỉ USD.


EVN đang ở “chân tường”!

Theo www.vinacorp.vn – 2 ngày trước

Ngày 10-1, phát biểu tại lễ tổng kết năm 2010 và triển khai kế hoạch năm 2011, lãnh đạo Tập đoàn Điện lực VN (EVN) cho biết EVN đang đứng ở “chân tường”, điện năm nay có thể thiếu nhiều hơn năm ngoái, muốn không cắt điện phải có 12.000 tỉ đồng để mua dầu cho các nhà máy nhiệt điện.

EVN đang ở “chân tường”!
Thuỷ điện Sơn La sẽ vận hành tổ máy số 2 và số 3 nhưng vẫn không thể giúp hết thiếu điện – Ảnh: C.V.K.

Không thấy EVN đề cập giải pháp nào mới cho tình hình thiếu điện năm nay ngoài kiến nghị tăng giá và cắt điện.

Lỗ 8.000 tỉ đồng

Lãnh đạo EVN và các đơn vị thành viên đều khẳng định tình hình tài chính rất khó khăn và kiến nghị phải kiên quyết tăng giá điện.

Theo ông Đào Văn Hưng – chủ tịch hội đồng thành viên EVN, tổng cộng đã lỗ khoảng 8.000 tỉ đồng trong năm ngoái do phải huy động nguồn điện giá cao vào mùa khô để giảm thiếu hụt điện năng do các nhà máy thuỷ điện thiếu nước.

Về bức tranh tài chính của EVN, ông Hưng đầy “tâm trạng” khi nói “EVN nói thật đã ở sát chân tường”. Theo ông Hưng, ngoài khoản lỗ 8.000 tỉ đồng, EVN còn thêm gánh nặng trên 10.000 tỉ đồng do các khoản nợ, các nghĩa vụ tài chính… tăng do tỉ giá thay đổi. Tổng các khoản này đã lên tới 24.000 tỉ đồng. ( hơn 1 tỉ 140 triệu đô la)

Sẽ thiếu điện gấp 2-3 lần! 

Về khả năng cung ứng điện mùa khô sắp tới, lãnh đạo EVN báo trước viễn cảnh có khả năng xấu hơn năm ngoái. Ông Đào Văn Hưng cho biết mùa khô năm 2010 chỉ thiếu hụt trên 1 tỉ kWh mà đã phải cắt điện gây bức xúc, trong khi năm nay khả năng thiếu hụt có thể lên đến 3-4 tỉ kWh, tức gấp 2-3 lần.

Ông Nguyễn Phúc Vinh – tổng giám đốc Tổng công ty điện miền Bắc, đơn vị trực tiếp bán điện cho các tỉnh miền Bắc đến Hà Tĩnh – rất quan tâm đến khả năng cung ứng điện nhưng “quả thật chưa nhìn thấy khả năng cung ứng đủ cho mùa khô ở đâu”.

Theo ông Vinh, năm nay miền Bắc phải chịu thiếu điện trực tiếp, nghiêm trọng vì “năm trước nước các hồ thuỷ điện cùng thời điểm này nhiều hơn năm nay mà vẫn thiếu”.

Trong khi đó, theo ông Vinh, với việc xả nước cho nông nghiệp, thuỷ điện Hoà Bình chỉ chạy đến cỡ tháng 3 là hết sạch nước, các thuỷ điện lớn khác như Thác Bà cũng vậy.

Ông Vinh cho rằng năm nay nếu muốn chống thiếu điện, sẽ cần trên 12.000 tỉ đồng để mua dầu đổ vào các nhà máy nhiệt điện mới giảm được thiếu hụt điện. “Riêng mùa khô năm 2011 cũng cần khoảng 5.400 tỉ đồng”. Ông Vinh nói hiện số tiền này không biết kiếm ở đâu ra vì đi vay thì ngân hàng không cho vay bởi khoản này chắc chắn không tạo ra lợi nhuận mà còn tạo ra lỗ. Ông Vinh đề nghị Chính phủ cần hỗ trợ bù khoản tiền trên.

Tổng giám đốc Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia Lê Mạnh Hùng cũng kêu tổng công ty của ông “nguy cấp đến nơi rồi”. Ông Hùng phân tích giá điện thấp, tổng công ty của ông chỉ được trả chưa đến 70 đồng để truyền tải 1kwh điện nên hiện không có tiền để đầu tư.

Ông Hùng đề nghị nếu cho độc quyền truyền tải thì chỉ xin độc quyền khâu vận hành, chứ đầu tư thì đề nghị các công ty điện lực phải chung tay gánh vác. Ông Hùng cảnh báo “các anh cứ đầu tư nguồn phát điện mà không có đường dây truyền tải điện thì cũng vô nghĩa”.

Tăng giá và cắt điện

Trong báo cáo tổng kết của EVN, tập đoàn này thừa nhận hạn chế lớn nhất là chưa đảm bảo đủ điện, phải cắt điện gây bức xúc cho nhân dân và tổn thất điện năng còn cao hơn kế hoạch định ra. Đề cập giải pháp cho năm 2011, các lãnh đạo của EVN khi phát biểu đều chung một đề nghị:

xin Chính phủ, Bộ Công thương cho tăng giá điện.

EVN đề nghị Chính phủ chỉ đạo Quỹ bảo hiểm xã hội cho EVN vay 15.000 tỉ đồng để đầu tư nguồn điện, chỉ đạo các bộ ngành sớm hỗ trợ,

bảo lãnh để EVN vay qua phát hành trái phiếu quốc tế 1 tỉ USD.

Đặc biệt, báo cáo của EVN đề nghị Chính phủ cần tháo gỡ để EVN có gần 13.000 tỉ đồng để huy động khoảng 3,8 tỉ kWh điện chạy dầu phục vụ sáu tháng mùa khô năm nay. EVN cũng đề nghị các tỉnh thành lập ban chỉ đạo điều hành cung ứng điện và thực hiện tiết kiệm điện trên địa bàn nhằm công khai minh bạch khi cắt điện. Ban này sẽ do chủ tịch UBND làm trưởng ban, thành viên có cả đoàn đại biểu Quốc hội, sở công thương…

Ông Nguyễn Phúc Vinh thừa nhận ban chỉ đạo các địa phương không muốn “dây” vì phải chịu trách nhiệm khi cắt điện. Theo ông Vinh, hô hào tiết kiệm điện thực chất không được bao nhiêu nên đề nghị phải tính đến chuyện cắt điện các công ty ximăng, thép. Ông Vinh thừa nhận giải pháp chống thiếu điện năm 2011 chưa có gì mới, điện thì thiếu hơn nên phải có giải pháp cho tình huống “tai nạn”, nếu không thì không cách gì đảm bảo điện cho nhu cầu thiết yếu.

Ông Vinh cho biết điện dùng cho ximăng, thép rất lớn, riêng miền Bắc chiếm tới 10% tổng tiêu thụ điện của toàn bộ các ngành công nghiệp khác và điện sinh hoạt. Trong khi sản lượng thép, ximăng đã được nói đến vượt nhu cầu, ông Vinh đề nghị chỉ cần cắt giảm điện cho ximăng, thép 30% thì sẽ bớt phải dùng 5.400 tỉ đồng mua dầu để phát điện cho mùa khô 2011.

Phát biểu chỉ đạo, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cho biết Bộ Công thương sẽ sớm trình Chính phủ đề án giá điện mới, theo đó giá điện năm 2011 sẽ tiệm cận theo giá thị trường.

Tuổi Trẻ

http://tintuc.xalo.vn/00-1229898013/EVN_dang_o_chan_tuong.html?id=45295b&o=2494

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/01/110111_evn_in_debt.shtml

EVN nợ 24 ngàn tỷ đồng

Tập đoàn Điện lực Việt Nam nói họ đang nợ khoảng 24.000 tỷ đồngTập đoàn Điện lực Việt Nam nói họ đang nợ khoảng 24.000 tỷ đồng.

Thêm một tập đoàn kinh tế nhà nước gặp khó khăn về vốn và phương hướng kinh doanh.

EVN, Tập đoàn Điện lực Việt Nam thừa nhận họ đang nợ khoảng 24.000 tỷ đồng, một phần ba số tiền này do kinh doanh bị lỗ khi bán điện dưới giá thành.

Còn lại là tiền lãi suất, nghĩa vụ tài chính phải trả cho ngân hàng, liên quan đến nhiều khoản vay mượn trong các năm qua.

Tình hình tài chính của EVN bi đát đến mức lãnh đạo tập đoàn tìm mọi cách thúc ép chính phủ tăng giá điện, tin trên báo Tuổi Trẻ đưa.

Ông Đào Văn Hưng – Chủ tịch hội đồng thành viên EVN thừa nhận tập đoàn điện lực quốc doanh vừa thiếu vốn, vừa cạn tiền.

Trong khi giám đốc công ty điện lực cấp vùng dự đoán mùa khô năm 2011 tình hình thiếu điện sẽ tồi tệ hơn năm ngoái.

Ông Nguyễn Phúc Vinh – Tổng giám đốc Tổng công ty điện miền Bắc dự đoán ngành điện cần thêm 12.000 tỷ đồng để mua dầu chạy máy phát nhằm giảm cắt điện trong năm nay.

Cạnh đó ông Vinh thừa nhận “không biết tìm số tiền này ở đâu” vì ngân hàng không cho vay. Bên ngân hàng quan niệm đổ tiền vào ngành điện coi như bị lỗ, ông Vinh nói.

Ông Đào Văn Hưng dự đoán năm 2011 có thể Việt Nam sẽ thiếu điện ‘trầm trọng’ hơn 2010.

“Mùa khô năm 2010 chỉ thiếu hụt trên 1 tỉ kWh mà đã phải cắt điện gây bức xúc, trong khi năm nay khả năng thiếu hụt có thể lên đến 3-4 tỉ kWh, tức gấp 2-3 lần.” báo Tuổi Trẻ đưa tin.

Giải pháp

Theo lãnh đạo EVN, giải pháp để giảm thiếu điện, cắt điện trong năm 2011 là…tăng giá điện.

Cạnh đó là vay thêm tiền và phát hành trái phiếu quốc tế.

EVN muốn chính phủ cho vay 15.000 tỷ đồng, lấy từ Quỹ bảo hiểm xã hội. Cạnh đó lãnh đạo điện lực muốn phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 1 tỷ USD.

Một trong các giải pháp được nhắc tới của EVN trong 2011, nếu thiếu điện, là…cắt điện các công ty sản xuất xi măng, sắt thép.

Theo dự tính của ngành điện chỉ cần giảm 30% nguồn điện cấp cho xi măng sắt thép, EVN có thể tiết kiệm được 5.400 tỷ đồng tiền mua dầu.

Lý do là điện dùng cho xi măng sắt thép chiếm 10% tổng tiêu thụ điện của công nghiệp và sinh hoạt. Hai ngành này hiện đang ‘vượt’ nhu cầu tiêu thụ của xã hội.

Tại Việt Nam, chính phủ quyết định giá điện, tuy nhiên tăng giảm bao nhiêu cần được Bộ Chính trị thông qua.

Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng cho hay ông sẽ sớm trình chính phủ đề án giá điện mới.

Posted in Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »