Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Lạm Phát – Vàng – Đôla’ Category

►Tết tây, Tết ta — Hàng chục máy bay chở tiền in từ nước ngoài về Venezuela- giúp nhớ lại VN thời 1990…

Posted by hoangtran204 on 09/02/2016

TẾT TÂY VÀ TẾT TA

Nguyễn Hưng Quốc

8-2-2016

Cũng giống mọi người Việt Nam sinh sống ở hải ngoại, mỗi năm tôi có đến hai cái tết: Tết Tây và Tết ta.

Tết Tây thì long trọng hơn hẳn. Thường, tôi được nghỉ đến hơn một tuần. Trước Tết, bạn bè, đồng nghiệp gửi thiệp chúc mừng năm mới và tặng quà cho nhau. Đêm giao thừa, người ta ùn ùn kéo đến khu vực trung tâm thành phố để xem pháo hoa. Sau Tết, trong trường có những cuộc họp để bàn về kế hoạch cho năm mới. Bởi vậy, dù không nghĩ đến, không khí Tết vẫn bàng bạc ở mọi nơi và mọi lúc. Vậy mà, lạ, đối với Tết Tây, tôi vẫn ơ hờ. Nghỉ, ừ, thì nghỉ. Chúc Tết, ừ, thì chúc Tết. Nhưng tự thâm tâm, tôi vẫn có cảm giác đó là cái Tết của người khác. Chứ không có gì liên hệ với mình.

Tết ta thì khác. Năm nay ngày mồng một Tết rơi vào thứ Hai, tôi vẫn đi làm và đi họp bình thường. Nếu không đến các khu chợ Việt Nam và không dự các buổi hội chợ Tết được tổ chức rải rác đây đó, người ta sẽ không thấy tết đâu cả. Gia đình tôi lại không có bàn thờ, không có thói quen cúng kiếng và không đến chùa hái lộc đón giao thừa nên càng không có không khí Tết. Ở nhà không có cành mai hay chậu cúc. Bà xã tôi chỉ làm một vài món ăn ngày Tết và mua một hai cái bánh chưng, bánh tét gọi là… Vậy mà, không hiểu sao, Tết ta vẫn cứ ám ảnh tôi mãi. Gần đến Tết, trong lòng vẫn xôn xao. Đến Tết, làm việc thì làm việc, nhưng sâu tận trong tâm khảm, vẫn có chút gì nao nao, bâng khuâng, và đặc biệt, có chút gì thật hiu hắt.

Tại sao lại hiu hắt?

Hiu hắt, tôi nghĩ, trước hết, là vì nhớ quê hương. Tôi tin tất cả mọi người hiện đang sống ở hải ngoại, với những mức độ khác nhau, đều nhớ quê hương, nhất là trong những ngày Tết, lúc, theo truyền thống, mọi người trở về quê quán để tụ tập với đại gia đình, bà con, hàng xóm. Theo giới nghiên cứu về Lưu vong học (Diaspora Studies), một trong những đặc điểm chung nhất và nổi bật của các cộng đồng lưu vong trên thế giới là lúc nào cũng đau đáu với một số ký ức tập thể về quê gốc để, dù thành công đến mấy, người ta vẫn thấy ít nhiều lạc lõng trên miền đất mới. Với người Việt Nam, vốn có truyền thống gắn bó với quê quán, những nỗi nhớ ấy càng phổ quát và càng da diết. Cứ mở các tờ báo xuân bằng tiếng Việt ở khắp nơi thì thấy. Ở đâu cũng tràn đầy nỗi nhớ. Nhớ những phong tục cũ. Những hình ảnh cũ. Những tâm tình cũ. Người ta nhớ cả những truyền thuyết và truyện cổ tích xa xưa về bánh dày, bánh chưng và dưa hấu.

Bản thân tôi, đã hơn mười một năm rồi, không được về lại Việt Nam, đến Tết, lại càng nhớ. Khái niệm quê hương, trong nỗi nhớ của tôi, rất cụ thể. Đó là ba tôi, anh em tôi, bạn bè tôi. Đó là không khí với những mùi hương và những tiếng động, từ tiếng cười đến tiếng nói, từ tiếng rao hàng đến tiếng động cơ qua lại trên đường phố. Nỗi nhớ, bình thường mênh mang và man mác, đến ngày Tết, trở thành nặng trĩu, có lúc dường như rưng rưng.
Hiu hắt còn là vì nhớ quá khứ. Hầu hết những nỗi nhớ ngọt ngào nhất của tôi liên quan đến ngày Tết là những kỷ niệm ngày thơ ấu. Gần Tết, tiếng heo kêu eng éc từ đầu thôn đến cuối xóm. Mang thịt về, mẹ tôi bày nấu đủ thứ, từ thịt kho, thịt hầm, thịt luộc đến các loại bánh nhân thịt như bánh tét và bánh ít. Có lẽ chỉ có ngày Tết là mọi người được ăn thịt thoả thuê. Nhưng trong các thứ bánh, không hiểu sao, đọng lại trong ký ức tôi nhiều nhất là bánh tổ. Đó là loại bánh cực giản dị, chỉ có bột nếp và đường, để được rất lâu. Lâu đến độ có khi bánh bị mốc. Nhưng không sao cả. Người ta chỉ cần lạn cắt lớp mốc ấy đi và bỏ bánh lên chão dầu chiên cho giòn. Là ăn được. Ngon vô cùng.

Mẹ tôi mất vào rằm tháng giêng. Rất gần Tết. Nên Tết nào tôi cũng nhớ mẹ. Nhớ bàn tay thoăn thoắt của bà những lúc chuẩn bị thức ăn ngày Tết. Nhớ cồn cào những món bà nấu. Sau này, tôi có dịp thưởng thức nhiều món ăn nổi tiếng trên thế giới, nhưng hình như không có món nào ngon như những món mẹ tôi nấu. Tôi biết, cách đánh giá ấy rất chủ quan. Nhưng việc ăn uống nào mà lại không chủ quan? Ăn, chúng ta đâu phải chỉ ăn thực phẩm. Trong cái ăn còn biết bao nhiêu là kỷ niệm. Kỷ niệm lúc càng nhỏ tuổi lại càng sâu đậm.

Nhưng cảm giác hiu hắt xuất phát nhiều hơn, nếu không muốn nói là nhiều nhất, từ nỗi bế tắc khi nghĩ đến tương lai của Việt Nam. Đại hội thứ XII vừa kết thúc. Thường, trong sinh hoạt chính trị Việt Nam, các đại hội mỗi năm năm ấy là một dấu mốc lớn. Nhưng đại hội vừa qua lại không có chút hứa hẹn thay đổi nào cả. Ông Nguyễn Phú Trọng đã từng làm tổng bí thư năm năm; suốt năm năm ấy, ông không có chút cải cách. Thêm năm năm nữa, chắc chắn ông cũng vẫn vậy. Vẫn rất giáo điều và bảo thủ. Ông vẫn quyết tâm dẫn dắt cả nước vào cuộc phiêu lưu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà ông biết chắc, như có lần ông thừa nhận, còn rất đỗi xa vời, đến tận cuối thế kỷ, chưa chắc đã thành hiện thực. Để đánh đổi cho cuộc phiêu lưu ấy, kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục trì trệ; giáo dục và đạo đức vẫn tiếp tục suy đồi; tham nhũng vẫn tiếp tục tràn lan; người dân vẫn tiếp tục khốn khổ; và, quan trọng hơn, Việt Nam vẫn đối diện với nguy cơ xâm lấn từ Trung Quốc.

Một chế độ độc tài chỉ có thể cáo chung với một trong hai nguyên nhân: tự thay đổi hoặc bị đánh đổ.

Với bộ máy lãnh đạo hiện nay, viễn ảnh thứ nhất hoàn toàn bất khả. Không hy vọng gì những người như ông Nguyễn Phú Trọng sẽ theo gót các nhà lãnh đạo ở Miến Điện để chấp nhận trao quyền lực lại cho những chính khách được dân bầu trong một cuộc bầu cử thực sự tự do và minh bạch. Mà Việt Nam cũng chưa có những nhà đối lập có tầm vóc quốc tế để có thể tập hợp lực lượng đông đảo hầu đối đầu với nhà cầm quyền.

Còn viễn tượng bị lật đổ? Tôi nghĩ khả năng này, nếu có, cũng còn xa. Lý do, giống như trên, lực lượng đối lập vẫn còn nhỏ và yếu. Dĩ nhiên, vẫn có khả năng bùng nổ cách mạng. Các cuộc cách mạng ở các nước Ả Rập vào đầu năm 2011 cũng rất bất ngờ, không ai, kể cả giới chính khách và giới tình báo Tây phương, có thể tiên đoán được.

Người Việt Nam có thói quen nuôi một số hy vọng nào đó khi đón Tết. Riêng đối với tình hình chính trị tại Việt Nam trong năm Bính Thân này, tôi chưa thấy có chút hy vọng gì cả.

Nên càng nghĩ càng thấy hiu hắt.

***

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN VOA

***

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

————

“Hàng chục máy bay chở tiền từ nước ngoài về Venezuela”

vneconomy

5-2-2016

17 năm chi tiêu không kiểm soát đã khiến ngân sách của đất nước sở hữu trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới kiệt quệ…

 

“Hàng chục máy bay chở tiền từ nước ngoài về Venezuela”

Người dân ở thủ đô Caracas của Venezuela xếp hàng chờ mua thực phẩm – Ảnh: WSJ/EPA.

An Huy

Mấy tháng gần đây, gần 40 máy bay chở hàng loại Boeing 747 xuất phát từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đã đáp xuống Venezuela, mang theo một thứ để phục vụ cho nền kinh tế đang khốn đốn của nước này.

Nguồn tin thân cận tiết lộ với tờ Wall Street Journal rằng, thứ mà những chiếc máy bay đó chở tới Venezuela không phải thực phẩm hay thuốc men, mà là một thứ khác nước này cũng đang rất thiếu: tiền mặt – loại đồng nội tệ Bolivar.

Lạm phát “vô địch”

Những chuyến hàng này là một phần trong kế hoạch nhập khẩu ít nhất 5 tỷ tờ tiền mà chính quyền Tổng thống Nicolas Maduro đặt sản xuất ở nước ngoài trong nửa cuối năm 2015. Mục tiêu của kế hoạch là tăng nguồn cung đồng Bolivar vốn đang ngày càng mất giá trầm trọng – nguồn tin cho biết.

Mọi chuyện vẫn chưa dừng ở đó. Tháng 12/2015, Ngân hàng Trung ương Venezuela bắt đầu đàm phán bí mật để đặt in thêm 10 tỷ tờ tiền nữa – nguồn tin cho hay. Số lượng tiền này sẽ tăng gấp đôi lượng tiền lưu thông ở Venezuela, đồng thời lớn hơn số 8 tỷ tờ tiền mà Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) in mỗi năm.

Chưa kể, điểm khác biệt giữa đồng Bolivar với hai đồng USD và Euro là Bolivar chỉ được sử dụng ở Venezuela còn hai đồng tiền kia là đồng tiền mạnh, được dùng trên toàn thế giới.

Theo các chuyên gia kinh tế, việc Venezuela ồ ạt in tiền có thể khiến nền kinh tế nước này suy sụp nhanh hơn: bơm một lượng tiền khổng lồ ra lưu thông nhiều khả năng sẽ đẩy lạm phát tăng vọt. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo lạm phát của Venezuela có thể lên tới 720% trong năm nay, “vô địch” thế giới.

Số liệu của Ngân hàng Trung ương Venezuela cho thấy năm 2015, lượng tiền trong lưu thông ở nước này đã tăng gấp đôi.

Ồ ạt in tiền khiến đồng nội tệ của Venezuela ngày càng yếu. Tuần này, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng Bolivar so với USD đã lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 1.000 Bolivar đổi 1 USD. Trong khi đó, mức tỷ giá chính thức thấp nhất chỉ là 6,3 Bolivar “ăn” 1 USD.

Bộ trưởng Bộ Thương mại và Đầu tư Venezuela Jesus Faria ngày 3/2 cho biết nước này sắp cải tổ chính sách quản lý tỷ giá. “Rõ ràng, hệ thống tỷ giá hiện tại đã kiệt sức”, ông Faria nói.

30 người triệu người dân Venezuela có vẻ như không thể kiếm tiền tới mức đủ nhanh. “Người dân khát tiền mặt, vì họ muốn tiêu tiền nhanh nhất có thể”, ông Steve H. Hanke, một chuyên gia về tiền tệ thuộc Đại học Johns Hopkins, Mỹ, nhận định.

Ngân sách kiệt quệ

Việc mạnh tay in tiền tiêu tốn của Chính phủ cánh tả đang kẹt ngân sách của Venezuela hàng trăm triệu USD, nguồn tin cho hay. Chi phí in tiền tốn kém trở thành gánh nặng đặc biệt lớn trong bối cảnh Venezuela đối mặt với tình trạng giá dầu giảm sâu.

 

17 năm chi tiêu không kiểm soát đã khiến ngân sách của đất nước sở hữu trữ lượng dầu lửa hàng đầu thế giới kiệt quệ.

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thuê các công ty tư nhân in tiền, bởi các nhà thầu này có thể đáp ứng các công nghệ chống giả tinh vi. Nhưng đối với Venezuela, việc thuê nước ngoài in tiền xuất phát từ khối lượng tiền “khủng” cần in gấp. Nhà máy in tiền của Ngân hàng Trung ương Venezuela ở Maracy chỉ có đủ giấy và kim loại để in một lượng tiền nhỏ mà nước này cần, theo nguồn tin.

Điều này đồng nghĩa với việc Venezuela phải mua đồng Bolivar từ nước ngoài bằng bất kỳ giá nào.

Nguồn tin cũng nói rằng, không một công ty in tiền nào đáp ứng được đơn hàng 10 tỷ tờ tiền, nên Venezuela đã chia đơn  hàng ra cho nhiều công ty khác nhau, bao gồm De La Rue của Anh, Canadian Bank Note của Canada, Oberthur Fiduciare của Pháp, và Giesecke & Devrient của Đức.

Giesecke & Devrient chính là công ty đã in tiền cho nước Đức thời những năm 1920, khi người dân phải chở hàng xe bò tiền đi mua bánh mỳ. Gần đây hơn, công ty này là nguồn cung cấp tiền giấy cho Zimbabwe trong thời gian nước này đối đầu siêu lạm phát, với giá cả tăng gấp đôi mỗi ngày vào năm 2008.

“Những tờ tiền mệnh giá lớn không gây ra lạm phát, mà chúng là kết quả của lạm phát”, ông Owen W. Linzmayer, một chuyên gia về tiền ở San Francisco, Mỹ, phát biểu. “Những tờ tiền mệnh giá lớn thực ra có thể tiết kiệm chi phí cho Ngân hàng Trung ương Venezuela, bởi thay vì phải thay thế 10 tờ tiền cũ, người ta chỉ cần 5 tờ, thậm chí là một tờ”.

Nguồn tin nói rằng, đơn đặt in tiền mới nhất của Ngân hàng Trung ương Venezuela chỉ đặt các tờ 100 và 50 Bolivar, bởi các tờ 20, 10, 5 và 2 Bolivar hiện có giá trị dưới chi phí sản xuất.

Trong một bức ảnh lan truyền trên mạng xã hội của Venezuela gần đây, đầu bếp trong một nhà hàng dùng một tờ tiền mệnh giá 2 Bolivar để lót tay khi cầm cán chảo, vì tờ tiền này không đủ để mua một tờ giấy ăn!

——–

Venezuela vẫn còn thua VN xa. Kỷ luật mà VN đã từng đạt được dưới thời Lê Duẫn và Nguyễn Văn Linh và cho đến năm 2016, vẫn chưa có nước nào theo kịp.

Lạm phát của VN trong giai đoạn 1986-1989 (theo tài liệu của LHQ) lên đến 900%. Đó là lý do sụp đổ của nền kinh tế XHCN mà đảng cộng sản VN từng huênh hoang ca ngợi. Đó cũng là lý do đảng CSVN và nhà nước CHXHCNVN phải tuân lệnh của Mỹ và Liên Hiệp Quốc rút khỏi Kampuchia trong thời hạn 36 tháng, chấm dứt vào tháng 9/1989. Giấc mơ thành lập Liên Bang Đông Dương gồm 3 nước Việt Miên Lào đã không còn nữa. Và cũng là lý do mà Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Di Niên phải bí mật qua TQ ký hiệp định Thành Đô ngày 3 và 4 tháng 9/1990, xin đặt VN dưới sự cai trị của TQ, và bán luôn hai quần đảo HS và TS, dẫn đến cuộc ký kết nhường đất tại biên giới Việt Trung  qua Hiệp định Biên giới Trên Bộ ký ngày 31-12-1999. Thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Núi Đất, nhiều vùng ở Móng Cái…đều lọt vào tay Trung Quốc. 

Tỷ giá đồng bạc VN trong tháng 2/2016 là 1 USD = 22 560 đồng, làm cho đồng tiền VN thuộc loại vô giá trị nhất thế giới trong suốt 25 năm qua, và chưa nước nào đuổi kịp!

Ồ ạt in tiền khiến đồng nội tệ của Venezuela ngày càng yếu. Tuần này, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng Bolivar so với USD đã lần đầu tiên vượt ngưỡng tâm lý 1.000 Bolivar đổi 1 USD. Trong khi đó, mức tỷ giá chính thức thấp nhất chỉ là 6,3 Bolivar “ăn” 1 USD…”

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | Leave a Comment »

►Ai có tiền đô la gởi ngân hàng nên chú ý: Sẽ có thay đổi lớn về chính sách ngoại tệ đầu năm 2016

Posted by hoangtran204 on 29/12/2015

+ gửi ngoại tệ vào ngân hàng có thể phải rút ra bằng tiền đồng.

+NHNN áp dụng mức lãi suất âm, nghĩa là người gửi ngoại tệ sẽ phải trả phí

+những ai giữ đô la Mỹ sẽ không yên vì không biết như thế nào, có thể lỗ vì lãi suất và cũng có thể lỗ tỉ giá trong ngày. 

“Nói nôm na:

1- Gửi USD lãi xuất 0% (đã thực hiện)

2- Gửi USD phải trả phí. (sắp thực hiện)
3- Gửi USD, lấy ra VNĐ.(sẽ thực hiện)

4- Gửi vàng SJC phải trả phí (đã áp dụng)
5- Bán vàng SJC 1 chữ, không thu vào (đang thực hiện)
6- Gửi vàng SJC lấy ra VNĐ (CHỈ CÒN LÀ THỜI GIAN.)”

Cướp vàng, nay cướp đô la vì nhà máy in tiền ở Hà Nội mới xây xong cuối năm 2014, đã và đang chạy hết công suất in tiền polymer ra từ nhiều tháng nay, và giờ  đây là lúc thu tiền đô vào.

———————————

Thống đốc Nguyễn Văn Bìn: “Chúng ta tôn trọng quyền nắm giữ ngoại tệ của người dân, doanh nghiệp, nhưng trên lãnh thổ VN phải sử dụng VND. Bạn có nguồn thu ngoại tệ hợp pháp, nhưng nếu tiêu xài phải rút ra bằng đồng VND. Đó là lộ trình cuối cùng phải tiến tới.”

Sẽ có thay đổi lớn về chính sách ngoại tệ

28-12-2015

TBKTSG Online) – Theo lộ trình điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì người dân, doanh nghiệp tới đây gửi ngoại tệ sẽ phải trả phí và thậm chí gửi ngoại tệ phải rút ra bằng tiền đồng.

Đó là thông điệp được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ sáng nay 28-12. Bài phỏng vấn có ba điểm quan trọng.

Thứ nhất, trong tương lai người gửi ngoại tệ vào ngân hàng có thể phải rút ra bằng tiền đồng. “Định hướng nhất quán của NHNN là chuyển từ quan hệ vay và gửi ngoại tệ sang quan hệ mua – bán… Chúng ta tôn trọng quyền nắm giữ ngoại tệ của người dân, doanh nghiệp, nhưng trên lãnh thổ Việt Nam phải sử dụng VND. Bạn có nguồn thu ngoại tệ hợp pháp, nhưng nếu tiêu xài phải rút ra bằng đồng VND. Đó là lộ trình cuối cùng phải tiến tới”, ông Bình nói.

Thứ hai, ông cho biết trước mắt người dân vẫn có quyền rút ngoại tệ, nhưng NHNN không khuyến khích việc này. Tới đây, không loại trừ khả năng NHNN áp dụng mức lãi suất âm, nghĩa là người gửi ngoại tệ sẽ phải trả phí.

Thứ ba, NHNN sẽ điều hành tỷ giá (VND/USD) bằng tỉ giá trung tâm. Tỷ giá trung tâm sẽ thay đổi thường xuyên, thậm chí hằng ngày, hôm nay NHNN có thể công bố tỉ giá này và ngày mai công bố tỉ giá khác. Khi đó, ai có nhu cầu thật mới mua, còn nếu đầu cơ thì nguy cơ thua lỗ, rủi ro rất lớn.

“Cộng với giải pháp về lãi suất như tôi nói ở trên thì những ai giữ đô la Mỹ sẽ không yên vì không biết như thế nào, có thể lỗ vì lãi suất và cũng có thể lỗ tỉ giá trong ngày. Với biện pháp này, NHNN tốn ít ngoại tệ hơn rất nhiều so với hiện nay”, ông Bình giải thích thêm.

Trao đổi với TBKTSG Online, tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cho rằng, tỷ giá trung tâm theo ông hình dung có thể tương tự như chính sách tỷ giá mà NHNN từng áp dụng trong quá khứ, tức là bằng bình quân tỷ giá của các ngân hàng quốc doanh vào cuối ngày hôm trước cộng thêm với một biên độ nhất định. Đây là một hình thức tự do hơn của tỷ giá so với hiện nay nhưng không hoàn toàn thị trường bởi thứ nhất các ngân hàng quốc doanh về bản chất là ngân hàng của nhà nước, thứ hai thị trường tiền tệ Việt Nam chưa đủ các yếu tố và điều kiện để có đủ các đặc tính của nền kinh tế thị trường.

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | 1 Comment »

►Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài Chính vay nóng 30 ngàn tỷ

Posted by hoangtran204 on 01/12/2015

Ngân hàng Nhà nước cho Bộ Tài chính vay nóng 30 ngàn tỷ

3-10-2015

Vietnamnet

– Đại diện Bộ Tài chính vừa cho biết, khoản vay 30.000 tỷ đồng cho ngân sách từ Ngân hàng Nhà nước đã được hoàn thành và hiện, đã được chuyển vào Kho bạc Nhà nước.

Ông Đào Xuân Tuế, Phó Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước (Bộ Tài chính) cho biết như vậy tại cuộc họp báo thường kỳ quý III của Bộ Tài chính chiều 2/10.

Ông Tuế nói rằng, khoản vay này là ngắn hạn, nhằm xử lý các vấn đề về thanh khoản ngân sách và sẽ được Bộ Tài chính trả Ngân hàng Nhà nước đúng hạn vào cuối năm nay.

Trước đó, Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng khẳng định, phía NHNN xem xét đề nghị vay của Bộ Tài chính là trên cơ sở mục tiêu chung ổn định kinh tế vĩ mô.

Cuối tháng 7, đầu tháng 8, thông tin Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước ứng cho vay 30.000 tỷ cho ngân sách đã làm dấy lên trong dư luận nhiều dấu hỏi về sự khó khăn, hụt thu của Ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, thứ trưởng Huỳnh Quang Hải của bộ này ngay sau đó đã phủ nhận ngân sách khó khăn và cho rằng, việc vay mượn này là bình thường, chỉ là vấn đề kỹ thuật.

Trên thực tế, ngoài khoản vay 30.000 tỷ trên, Bộ Tài chính đang phải chật vật huy động nguồn khác mà chưa đạt kế hoạch như đề nghị quay trở lại phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn dưới 5 năm, mở room cho các công ty bảo hiểm kỳ hạn 20 năm, phát hành thêm tín phiếu 20.000 tỷ đồng, vay quỹ bảo hiểm xã hội…

Theo báo cáo của Bộ Tài chính quý III, tốc độ chi ngân sách vẫn lớn hơn tốc độ thu ngân sách.

Trong 9 tháng qua, tổng thu ngân sách đạt 683 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán, tăng 7% so với cùng kỳ.

Chi ngân sách 9 tháng là 823,97 nghìn tỷ đồng, bằng 71,8% dự toán và tăng 7,8% so với cùng kỳ. Trong đó, ngân sách đã trả các khoản nợ và trả viện trợ là gần 115 nghìn tỷ đồng, bằng 18% tổng thu ngân sách.

Như vậy, bội chi ngân sách đang ở mức hơn 140 nghìn tỷ đồng, gần xấp xỉ 62,4% dự toán năm.

Phạm Huyền

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Nợ của các Tập Đoàn quốc doanh | Leave a Comment »

►Kinh tế Mỹ tuy đang phục hồi, nhưng tốc độ tăng trưởng sẽ dậm chân tại chỗ 1%, hoặc tiếp tục yếu kém trong các năm sắp đến…

Posted by hoangtran204 on 24/07/2012

Lời Tựa: Ý nghĩa và tựa của bài báo cho thấy nền kinh tế Mỹ tuy phục hồi, nhưng mức tăng trưởng rất thấp. Từ đây ta có thể suy ra rằng các quốc gia trên toàn thế giới sẽ tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế, hoặc đi vào khủng hoảng trong các năm sắp tới.

Các nhà kinh tế Mỹ cho biết là kinh tế Mỹ tuy đã hồi phục, nhưng sự hồi phục rất chậm và kéo dài rất lâu. Mức tăng độ tăng trưởng chắc chỉ vào khoảng 1% cho các năm sắp tới. Giấc mơ và ước vọng về kinh tế Mỹ phục hồi và tăng trưởng mạnh mẻ sẽ còn ở đâu đó (trên trời).

Vậy là chúng ta, ai có vàng thì giữ vàng, ai có đô la thì giữ đô la. Đừng đổi ra tiền VN, vì sắp đến, nhà nước sẽ tiếp tục in tiền ra, tung vào thị trường để cứu vãn nền kinh tế đang trên đà sụp đổ. Giá một 1 US chắc sẽ lên nhiều trong vòng 2-4 năm sau. Vật giá cũng sẽ gia tăng 50-200% vì việc in tiền đồng tung vào thị trường.

Cuộc sống của người dân VN bình thường sẽ khốn khổ hơn. Công nhân có khả năng sẽ bị thất nghiệp nhiều hơn vì kinh tế Mỹ và Châu Âu đã, đang, và sẽ gặp khó khăn kéo dài trong các năm sắp đến.  Trong khi nền kinh tế VN là gia công hàng hóa cho các nước nói trên. Khi nhu cầu tiêu dùng của dân chúng ở các nước giài giảm, thì hàng hóa nhập cảng từ VN và Trung Quốc vào các quốc gia ấy sẽ giảm, hậu quả là kinh tế của VN và Trung Quốc sẽ tiếp tục te tua thêm, và gặp khó khăn hơn hiện nay.

American Pie in the Sky

20-7-2012

Tác giả: Nouriel Roubini, a professor at NYU’s Stern School of Business and Chairman of Roubini Global Economics, was one of the few economists to predict the recent global financial crisis.

Bản dịch của Trần Hoàng

NEW YORK – Trong khi nguy cơ của một cuộc khủng hoảng có tính chất không kiểm soát được trong khu vực châu Âu đang được ghi nhận rõ, một cái nhìn lạc quan hơn về (kinh tế) Hoa Kỳ đã và đang diễn ra mạnh mẻ hơn. Trong ba năm qua, sự đồng thuận (giữa những nhà kinh tế) đã cho rằng nền kinh tế Mỹ đang trên bờ vực của sự phục hồi mạnh mẽ và tự tiếp tục đi lên, khôi phục lại tiềm năng ở trên mức tăng trưởng. Nhưng điều đó hóa ra là sai, trong khi mà  quá trình làm giảm nợ rất khó– phản ánh khu vực nợ của doanh nghiệp và nợ của ngân hàng rất là nhiều, và rồi các món nợ này lây lan sang khu vực nợ công — ngụ ý rằng sự hồi phục sẽ vẫn còn duy trì và có xu hướng thấp trong nhiều năm sắp đến.
Ngay cả năm nay, sự đồng thuận (của các nhà kinh tế) đã sai, họ hy vọng một sự hồi phục (kinh tế ở Mỹ) trên xu hướng tăng trưởng GDP hàng năm – nhanh hơn 3%. Nhưng tỷ lệ tăng trưởng trong nửa đầu năm chỉ gần bằng 1,5%, thậm chí còn thấp hơn mức ảm đạm 1,7% của năm 2011. Và bây giờ, sau khi nhận ra rằng việc tiên đoán của họ về mức tăng trưởng nửa đầu năm 2012 là sai, nhiều người đang lặp đi lặp lại câu chuyện cổ tích rằng một sự kết hợp giữa giá dầu thô thấp hơn, số lượng xe bán được gia tăng, giá nhà đất phục hồi, và sự hồi sinh của Mỹ sản xuất sẽ thúc đẩy tăng trưởng trong nửa cuối của năm và nuôi dưỡng tiềm năng tăng trưởng cao hơn vào năm 2013.

Comments Thực tế hiện nay cho thấy là ngược lại: vì nhiều lý do, tốc độ tăng trưởng sẽ chậm hơn trong nửa cuối năm 2012, và thậm chí thấp hơn vào năm 2013 – gần với tốc độ đứng yên một chỗ. Thứ nhất, tăng trưởng trong quý II đã giảm xuống từ mức dưới 1,8% vào quãng thời gian từ tháng Giêng-Tháng Ba, trong khi mức công ăn việc làm –trung bình 70.000 một tháng– giảm mạnh.

Thứ nhì, những mong đợi của mức thâm thủng ngân sách giảm cùng lúc với giảm tiêu xài và nguồn thu (thuế) gia tăng – nguồn thu thuế gia tăng và cắt giảm chi tiêu cho đến cuối năm nay– sẽ kềm giữ mức chi tiêu và mức tăng trưởng sẽ thấp hơn vào nửa sau của năm 2012. Vì vậy, sẽ không chắc chắn ai sẽ là Tổng thống vào năm 2013; về các mức thuế suất và mức độ chi tiêu; về mối đe dọa sẽ có chuyện các cơ quan chính phủ không có tiền trả lương nên sẽ đóng cửa trong khi thảo luận về trần nợ (việc này xảy gần như đã ra vào năm 2010), và về nguy cơ của một hạ cấp xếp hạng nếu như chính trị bế tắc tiếp tục diễn ra để chặn một kế hoạch  vay trung hạn hạn tài chính hợp nhất nào đó. Dưới ảnh hưởng của các điều kiện đó, (dự đoán phản ứng của) hầu hết các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ thận trọng về chi tiêu – một giá trị tùy chọn chờ đợi- do đó tiếp tục làm suy yếu nền kinh tế.

CommentsThird mức thâm thủng ngân sách giảm cùng lúc với giảm tiêu xài và nguồn thu (thuế) gia tăng sẽ lên đến 4,5% của GDP sẽ kéo theo tăng trưởng vào năm 2013 nếu tất cả các cắt giảm thuế và các khoản thanh toán chuyển giao được đồng ý cho phép hết hạn  và cắt giảm chi tiêu mạnh mẻ đã được kích hoạt. Tất nhiên, sức kéo sẽ nhỏ hơn nhiều, khi gia tăng thuế và cắt giảm chi tiêu nhẹ hơn nhiều. Nhưng, fiscal cliff  (mức thâm thủng ngân sách giảm cùng lúc với giảm tiêu xài và nguồn thu (thuế) gia tăng) hóa ra là một mức tăng trưởng nhẹ – chỉ 0,5%  của GDP– và tăng trưởng hàng năm vào cuối năm chỉ là 1,5%,  dường như chắc chắn là vậy, lực kéo tài chính này (fiscal cliff) sẽ đủ để làm chậm nền kinh tế tới tốc độ đứng yên: tốc độ tăng trưởng của chỉ 1%.

CommentsFourth, tiêu dùng tư nhân tăng trưởng trong những quý gần đây không phản ánh sự tăng trưởng trong tiền lương thực tế (lương thực sự đang giảm xuống). Thay vào đó, sự gia tăng trong mức lương sau khi đóng thuế (và do đó mức tiêu thụ) đã được giữ nguyên kể từ năm ngoái bởi 1,4 ngàn tỉ đô la trong cắt giảm thuế và các khoản thanh toán chuyển giao mở rộng, số tiền này có nghĩa là $ 1,4 ngàn tỉ đô la nợ- công. Không giống như khu vực châu Âu và Vương quốc Anh, nơi một cuộc suy thoái kép đang thực sự xảy ra, do thắt chặt tài chính được nạp trước, Mỹ đã ngăn chặn một số hộ gia đình giảm nợ thông qua tái chuyển nợ vào khu vực công – điều đó nghĩa là, bằng cách đánh cắp một số tăng trưởng từ tương lai.

Trong năm 2013, các khoản thanh toán chuyển giao được loại bỏ, tuy nhiên việc này xảy ra dần dần, và khi một số cắt giảm thuế được cho phép hết hạn (Busch giảm thuế cho nhà giàu trong năm làm TT, mục đích của việc này là làm cho giới giàu đầu tư và chi tiêu nhiều hơn, và như thế là làm cho kinh tế phát triển, nhiều người có việc làm, dù làm thế thì sẽ làm nợ công gia tăng, chính phủ sẽ phải mượn tiền thêm để chi tiêu trả lương…nay Obama không chịu ký gia hạn sự miễn thuế nữa), mức gia tăng lương sau khi đã đóng thuế và sự gia tăng mức tiêu dùng sẽ chậm lại. Hoa Kỳ sau đó sẽ phải đối mặt với không chỉ các ảnh hưởng trực tiếp của sức kéo tài chính, mà còn ảnh hưởng gián tiếp đến chi tiêu tư nhân.

Bốn ngoại lực sẽ tiếp tục cản trở tăng trưởng Hoa Kỳ: một cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro ngày càng tồi tệ, hạ cánh ngày càng khó khăn của Trung Quốc, một sự suy giảm tổng quát của các nước có nền kinh tế thị trường mới nổi do yếu tố chu kỳ (sự phát triển yếu kém của quốc gia tiên tiến như Mỹ, và Âu châu) và các nguyên nhân có tính cấu trúc (một nhà nước- mô hình tư bản chủ nghĩa mà làm giảm tiềm năng tăng trưởng); và nguy cơ giá dầu tăng cao trong năm 2013 khi mà các cuộc đàm phán và trừng phạt không thuyết phục được Iran từ bỏ chương trình hạt nhân của họ.

Các phản ứng sẽ có hiệu quả rất hạn chế trong việc ngăn chặn giảm tốc của nền kinh tế Mỹ đang hướng tới tốc độ tăng trưởng đứng nguyên tại chỗ (1%): ngay cả với chỉ một thao tác lực kéo tài chính tăng trưởng nhẹ, đồng đô la Mỹ chắc chắn có khả năng tăng trong khi các cuộc khủng hoảng khu vực đang làm suy yếu đồng euro và sự bất lợi có nguy cơ quay trở lại toàn cầu. Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ sẽ thực hiện tung tiền ra kích thích nền kinh tế trong năm nay, nhưng việc này sẽ không hiệu quả: tỷ lệ lãi suất dài hạn hiện nay rất thấp, và hạ thấp hơn nữa sẽ không làm gia tăng chi tiêu. Thật vậy, các kênh tín dụng (mượn tiền) đang bị đóng băng và tốc độ vay mượn đã và đang bị sụp đổ, với việc các ngân hàng đang tăng tích trữ trong tiền cơ sở dưới các hình thức dự trữ dư thừa. Hơn nữa, đồng USD chắc chắn là không suy yếu trong khi các chính phủ các nước khác cũng thực hiện việc tung tiền vào thị trường để kích thích việc tiêu dùng.

Tương tự, lực hấp dẫn của sự tăng trưởng yếu kém chắc chắn sẽ vượt qua hiệu ứng gia tăng về giá cổ phần từ chính sách tung tiền ra để kích thích nền kinh tế, đặc biệt là định giá vốn chủ sở hữu ngày nay không phải là thấp như chúng đã từng có trong năm 2009 hoặc 2010. Thật vậy, sự tăng trưởng trong thu nhập và lợi nhuận hiện đang bốc hơi hết rồi, trong khi hiệu ứng của nhu-cầu yếu làm cho doanh thu ít, làm cho lợi nhuận kiếm được thấp.

Một sự điều chỉnh giá vốn chủ sở hữu có thể, trên thực tế, là một lực mà vào năm 2013  đẩy nền kinh tế Mỹ vào thế co rúm lại. Và nếu Mỹ (vẫn đang là nền kinh tế lớn nhất thế giới) bắt đầu hắt hơi một lần nữa, phần còn lại của thế giới – miễn dịch của nó đã bị suy yếu do tình trạng bất ổn của châu Âu và đang phát triển chậm lại nước – sẽ bị viêm phổi. (bệnh trầm trọng)

Bản dịch @Trần Hoàng 2012

____________________________________________________________________________________________

Bài báo gốc:  American Pie in the Sky, project-syndicate.org

_________________________________________

Chú thích của Trần Hoàng:

Tác gia chọn tựa đề An American Pie, trùng hợp với một bài ca nửa dân ca, nửa là nhạc rock,  rất nổi tiếng, được sáng tác bởi Don Mclean vào năm 1971 ở Mỹ, trình diễn lần đầu tiên ở trường Temple University, và sau đó trở thành một bản nhạc được ưa thích nhất của người Mỹ. Lời của bản nhạc là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận trên đài phát thanh AM và FM vào dạo ấy, gây sự tò mò của hầu hết người nghe nhạc. Ngay cả tác giả (khi được phỏng vấn hỏi về ý nghĩa của bài hát) cũng không nói ý nghĩa. Ban đầu, tác giả cho rằng “bài hát có nghĩa là tôi sẽ không bao giờ đi làm việc nữa”. Về sau, tác giả  nói là “Các bạn sẽ tìm thấy và diễn dịch bài ca này có rất nhiều ý nghĩa, nhưng không có một ý nghĩa nào là của tôi…”. Tuy lời của bản nhạc  ám chỉ cái chết lần lượt của 3 nhạc sĩ trong tai nạn rớt máy bay vào 1959 và 1969, Buddy Holy, Ritchie Valens, và J. P. Richardson. Nhưng lời nhạc không nhắc nhở  trực tiếp gì đến tên của các nhạc sĩ này, mà chỉ dựa vào các câu và các chữ  mà 3 nhạc sĩ này đã từng dùng. Nhiều người ái mộ bản nhạc này thì lại phiên dịch ý nghĩa của lời ca là ám chỉ đến các ban nhạc nổi tiếng khác như to The Beatles (đặc biệt là ca sĩ John Lennon), The Rolling Stones (đặc biệt là ca sĩ Mick Jagger), The Byrds, ca sĩ Bob Dylan và Janis Joplin.

*”American Pie” is a folk rock song by singer-songwriter Don McLean.

Recorded and released on the American Pie album in 1971, the single was a number-one U.S. hit for four weeks in 1972. The song is an abstract story of his life that starts with the deaths of Buddy Holly, Ritchie Valens, and J. P. Richardson (The Big Bopper) in a plane crash in 1959, and ends in 1970; in the song he called the plane crash “the day the music died”. The importance of “American Pie” to America’s musical and cultural heritage was recognized by the Songs of the Century education project which listed the song performed by Don McLean as the number five song of the twentieth century. It’s also the longest #1 Billboard Hot 100 hit of all time at more than eight and a half minutes, though some Top 40 stations initially played only side 1 of the single, but the song’s popularity eventually forced stations to play the entire song.

The song’s lyrics are the subject of much curiosity. Although McLean dedicated the American Pie album to Buddy Holly, none of the singers in the plane crash are identified by name in the song itself. When asked what “American Pie” meant, McLean replied, “It means I never have to work again.”Later, he more seriously stated “You will find many ‘interpretations’ of my lyrics but none of them by me… sorry to leave you all on your own like this but long ago I realized that songwriters should make their statements and move on, maintaining a dignified silence.”[2] McLean has generally avoided responding to direct questions about the song, except to acknowledge that he did first learn about Buddy Holly’s death while folding newspapers for his paper route on the morning of February 4th, 1959 (referenced in the song with the line “with every paper I deliver”). Despite this, many fans of McLean, amongst others, have attempted an interpretation; most agree that many lines make reference to The Beatles (John Lennon particularly), The Rolling Stones (also, possibly, Mick Jagger in particular), The Byrds, Bob Dylan and Janis Joplin. At the time of the song’s original release in late 1971, many American AM & FM rock radio stations devoted entire shows discussing and debating the song’s lyrics, resulting in both controversy and intense listener interest in the song.

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | Leave a Comment »

►Bơm tiền cứu bất động sản, hậu quả là vật giá sẽ gia tăng

Posted by hoangtran204 on 11/06/2012

Lời tựa: Ở Việt nam, đất đai là thuộc quyền sở hữu toàn dân; chữ toàn dân ở đây có nghĩa là đất đai thuộc sở hữu của nhà nước (đảng có cách dùng chữ lươn lẹo như thế nên nhiều người theo đảng chính vì hiểu lầm các từ ngữ này).

Nói trắng ra thì đất đai thuộc sở hữu của các đảng viên cao cấp. Thực tế cho thấy từ hơn 20 năm qua, họ muốn chiếm lấy đất ở đâu để làm của, chờ giá cao để bán, hoặc lấy đất để xây dựng dùng vào mục tiêu gì trong thời gian sắp tới…thì họ dùng mọi cách để chiếm đoạt mà không ai có thể ngăn cản nổi (vụ cướp đất huyện Tiên Lãng, huyện Văn Giang).

Kể từ 2008 cho đến này, nhà cửa, đất đai của họ và gia đình bị đóng băng. Nhà xây xong mà không bán được kể từ 4 năm qua nên làm họ đang ở thế kẹt. (ở đây), và (ở đây) [từ khóa tìm các bài báo hình ảnh về đề tài này trong google.com là: các khu đô thị nhà cửa để hoang]

Hiện nay các ông chủ cộng sản đang bơm tiền vào cứu bất động sản của họ. Việc cứu ứng này sẽ thất bại, vì dân chúng quá nghèo không phải là đối tượng có đủ tiền để mua các căn nhà của các đảng viên và viên chức nhà nước xây lên chờ bán cho người dân mua. Việt kiều không đủ sức mua, còn các nhà đầu tư nước ngoài thì chỉ thích mua đất đai và xây dựng lên, chứ họ không bao giờ mua các nhà cửa đã xây sẵn (của các đảng viên và các viên chức trong chính quyền).

Nhưng việc tung tiền 200 000 tỷ đồng vào cứu bất động sản sẽ dẫn đến các hậu quả xấu mà những người dân sẽ phải gánh chịu trong thời gian 7 tháng tới và tiếp theo sau, đó là:

1./ Sẽ có lạm phát rất lớn, vật giá sẽ leo thang trong 3 tháng tới và thời gian cuối năm nay. Đồng tiền sẽ mất giá 30-40%, đỉnh điểm là sau thời gian 7 tháng, kể từ khi có một món tiền lớn bơm dần dần và lan vào thị trường.

2. Nhà cửa sẽ lên giá cao hơn nữa vì lạm phát. 90% dân chúng trong nước sẽ không thể mua nhà mà họ rất cần. Các cuộc cướp đất sẽ gia tăng. Giá thuê nhà sẽ gia tăng. Tiền điện, nước, đồ ăn và đồ tiêu dùng sẽ gia tăng.

Ôn cố tri tân:

Gói kích cầu 8 tỷ đô la năm 2008 của nhà nước gây lạm phát 28% vào năm 2010 đã làm cho dân chúng lao đao vì tất cả vật giá lên cao chưa từng có.

Gói kích cầu vào tháng 8/ 2011, mỗi tháng bơm 59 000 tỷ đồng trong thời gian 5 tháng tiếp theo, là 300 000 tỷ đồng để cứu ngân hàng…làm vật giá gia tăng khủng khiếp từ cuối năm 2011 cho đến nay.

Tung tiền cứu bất động sản đang bắt đầu vào tháng 6-2012, số tiền bơm vào  tối thiểu là 200 000 tỷ đồng (10 tỷ đô la), tức vào khoảng 10% GDP sẽ làm cho vật giá gia tăng vào cưới năm nay và đầu năm tới.

Gần như mỗi năm, nhà nước đều bơm tiền vào thị trường để cứu các doanh nghiệp của nhà nước, cứu ngân hàng, và cứu bất động sản. Đó là lý do tại sao 1 đô la đổi thành tiền VN là 20 955 đồng vào hôm nay. Với tỷ giá này, tiền đồng VN đứng hàng thứ nhì  trong bảng xếp hạng đồng tiền nào ít giá trị nhất thế giới. Nước có đồng tiền mất giá nhất thế giới là Somalia.  (nguồn)

Dồn sức cứu BĐS: Những hệ quả nguy hiểm

(VEF.VN) – Khi đối diện với khủng hoảng, cá nhân con người hay doanh nghiệp hay bộ máy công quyền thường chọn một trong hai phản ứng:

hoặc sửa đổi toàn diện để thích nghi với hoàn cảnh mới;

hoặc quay về với những thói quen xưa cũ mà họ cho rằng đã giúp họ đạt được quyền và lợi hiện nay.

Tầm cỡ của gói cứu trợ

Sau gói kích cầu 8 tỷ đô la năm 2008, Việt Nam đã chứng kiến lạm phát phi mã hơn 22% và việc kém hiệu quả khi kích cầu đầu tư công đã tạo một phản ứng dây chuyền từ nhập siêu, dự trữ ngoại tệ sụt giảm, nợ công gia tăng, tiền đồng mất giá… Chính sách siết chặt tiền tệ sau đó để giữ cương con ngựa kinh tế đã tạo nên sự suy thoái đình đốn hiện nay. Dư vị còn đắng cay thì các nhà điều (hành) kinh tế (hiện nay) lại đang áp dụng biện pháp cũ này để chữa bệnh mới.

Sau khi đổ tiền cứu ngân hàng và chứng khoán, Chính phủ đang dồn nỗ lực để cứu bất động sản. Thay vì gọi là gói kích cầu, lần này chúng ta sử dụng một tên khác: tái cấu trúc, gói hỗ trợ… hay gói từ thiện?

Phát pháo đầu tiên, ông Vũ Xuân Thiện, Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường BĐS tuyên bố chắc nịch là “Có tiền lúc này tôi sẽ mua nhà”. Sau đó, Thứ trưởng Nguyễn Trần Nam cho biết, trong số 180.000 tỷ đồng đầu tư công dành riêng cho năm 2012, Chính phủ mới dùng 60.000 tỷ đồng. Vì thế trong 7 tháng còn lại của năm, 120.000 tỷ đồng nữa sẽ được bơm vào thị trường.

Theo ông Nam, gói đầu tư công, cộng thêm 38.000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ, tạm ứng trước vốn năm 2013 thì trong 7 tháng cuối năm thị trường có thể đón nhận khoảng 200.000 tỷ đồng. Vì thế, Thứ trưởng Nam hy vọng, dòng tiền này khi được lưu thông chắc chắn sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến nhiều ngành nghề khác, trong đó có địa ốc.

Lãnh đạo Bộ Xây dựng dự báo thêm, nền kinh tế còn có dòng tiền trong dân đang đầu tư vào vàng, USD, gửi tiết kiệm. Tiền của người dân sớm muộn cũng sẽ chảy vào bất động sản khi lãi suất hạ nhiệt và các kênh đầu tư còn lại bắt đầu mất dần tính hấp dẫn. Như vậy, trực tiếp và gián tiếp, tổng cộng gói cứu trợ BĐS có thể lên đến 400 ngàn tỷ đồng (20 tỷ USD).

Những hệ quả xa gần

Tôi không biết có bao nhiêu đại gia BĐS trên toàn quốc đang “đắp chiếu”? Con số chắc không hơn vài ngàn. Dĩ nhiên, nếu giá BĐS xuống quá thấp thì các đại gia ngân hàng, chứng khoán và các nhà đầu cơ thứ cấp cũng bị vạ lây, vì như ông Lê Mạnh Hà (Phó chủ tịch UBND TP.HCM) đã công nhận, giá BĐS là tiền đề cho bài toán kinh tế và chính trị của Việt Nam. Nhưng mọi người dân sẽ phải chịu chung những hệ quả xấu tốt, xa gần mà giải pháp cứu trợ này sẽ đem lại:

Khi một số tiền khủng như vậy đổ vào thị trường BĐS thì ảnh hưởng trên giá cả sẽ phải có, dù chỉ tạm thời. Bong bóng sẽ không nổ tung vào cuối 2012 như nhiều người tiên đoán vì Chính phủ đang hết sức thổi hơi cho BĐS. Nhưng một căn nhà mơ ước cho đại đa số người dân sẽ vẫn nằm ngoài tầm tay trong 5, 10 năm tới vì mức giá vẫn là một ảo tưởng dựng lên bởi những thế lực ngoài thị trường. Con bệnh sẽ trầm trọng hơn vì cuộc giãi phẩu cần thiết đã được dời lại cho đến khi không còn gì để mổ trong đợt điều chỉnh sẽ đến.

Cái giá phải trả (không có bữa ăn nào miễn phí) cho lượng tiền 400 ngàn tỷ trong một thời gian ngắn là giá trị thực sự của đồng tiền VN sẽ phải giảm dù tỷ giá chính thức có thể được duy trì qua các biện pháp hành chính (chắc chắn sẽ có lạm phát rất cao, tối thiểu là 40%, vì món lạm phát 28% năm 2009 đã xảy ra sau khi gói kích cầu do chính phủ tung ra).

Để tránh lạm phát phi mã, chính phủ sẽ phải thực hiện việc kiểm soát giá cả trên một bình diện sâu rộng. Ngoài xăng dầu, gạo, điện nước… , các món hàng như dược phẩm, vận chuyển công cộng, các hàng tiêu dung thông dụng… sẽ không được tăng giá (vậy là sẽ chính phủ sẽ bù lỗ cho các công ty dầu, điện, nước…thời bao cấp tái diễn). Đây là một bước lùi khá sâu cho nền kinh tế thị trường.

Trong môi trường của nền kinh tế chỉ huy, các doanh nghiệp tư nhân với mục tiêu kiếm lời (profit-seeking) sẽ khổ sở vì chi phí tăng mà giá bán bị kiểm soát chặt chẽ. Trong khi đó, doanh nghiệp nhà nước hay các công ty có liên hệ sâu xa với nhà nước sẽ có hai vũ khí bén nhọn: đặc quyền và tiền người khác (OPM) qua ngân hàng. Mô hình kinh doanh thâu tiền chỗ này (rent-seeking) sẽ lên ngôi và sẽ có thêm một loạt đại gia mới là bản sao của các đại gia hiện hữu.

Trên hết, khi hy sinh quyền lợi của đại đa số người dân để cứu vài nhóm lợi ích, và những “sai trái về đầu tư sẽ được bảo vệ”. Người Mỹ gọi đây là một “rủi ro về đạo đức” (moral hazard) và sẽ khuyến khích những hành xử tương tự trong tương lai.

Sau 2 gói kích cầu rưỡi và gần 2.000 tỷ đô la trong 3 năm qua, Cơ quan Dự trữ Trung ương Mỹ (FED) đã thất bại trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp hay kích cầu một nền kinh tế tư nhân và năng động của Mỹ. Thành quả duy nhất họ có thể hãnh diện là cứu nguy và tạo lợi nhuận khủng cho các ngân hàng thương mại. Dự đoán lạc quan nhất là GDP Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2% trong năm nay. Dù không thể bị thay thế, đồng USD vẫn chịu nhiều áp lực vì nợ công tăng vọt sau các gói kích cầu này.

Khi đối diện với khủng hoảng, cá nhân con người hay doanh nghiệp hay bộ máy công quyền thường chọn một trong hai phản ứng: hoặc sửa đổi toàn diện để thích nghi với hoàn cảnh mới; hoặc quay về với những thói quen xưa cũ mà họ cho rằng đã giúp họ đạt được quyền và lợi hiện nay. Tôi đoán là các thế hệ trẻ sẽ phải chờ thêm vài ba thế hệ nữa

___________________________

Alan Phan – Chuyện người và chuột

Một bạn BCA từ Pháp gởi 1 bài báo về chuyện chánh phủ Đan Mạch ngừng ba dự án viện trợ ODA cho Việt Nam vì nghi ngờ tham nhũng và lãng phí. Đây là chuyện bình thường nếu bạn sống ở Việt Nam một thời gian, thuộc loại tin ít người để ý. Tin một cô người mẫu gì đó bán dâm chắc chắn được theo dõi gấp trăm lần. Vả lại các dự án này thuộc loại tép riu nếu so với các xì căng đan khác như Vinashin, Vinalines, Vina…bananas…Các cách tham nhũng như thổi giá máy móc, dụng cụ, hợp đồng thuê ngoài, nhân viên ma, kế toán bịp bợm, gởi con đi du học bằng tiền viện trợ… thì quả là cũ như trái đất, ai mà chẳng biết.

Tuy nhiên, kỳ này, công ty kiểm toán KPMG hạch toán lại tất cả nhũng lạm rất chi tiết, bài bản và cho thấy tổng số tiền …cuốn theo chiều gió lên đến 23% (lập lại: hai mươi ba phần trăm).

Xứ nào cũng có tham nhũng. Tôi có đọc một tư liệu từ Nhật Bản cho thấy tiền bôi trơn phỏng định cho các dự án đầu tư tại nước ngoài dao động từ 1.2% tại Singapore đến 18% tại Lào. Tỷ lệ cho Việt Nam là 14% và tôi đã suýt xa vì quá cao (với các bạn tò mò, Trung Quốc là 8%, Thái Lan là 9% và Indonesia là 12%). Bây giờ, con số 23% là một kỷ lục có thể dành cho Guinness Book.

Tôi nhớ một Quỹ Đầu Tư của Đan Mạch cũng đã bơm 10.6 triệu USD vào công ty Thủy Sản Bình An 4 tháng trước khi bong bong nợ nổ tung. Có lẽ con người Đan Mạch quen với cái lạnh băng giá nhưng tinh khiết của một môi trường không có côn trùng sâu bọ; nên khi qua đây, họ bị đau đầu với cái nắng chói chang của miền nhiệt đới?

Nhưng dù Đan Mạch hay nơi đâu, cái phí 23% là lý do chính tại sao mọi hàng hóa Việt đã có một giá thành cao nghịch lý với mọi định luật thị trường về sản xuất, dù nhân công và thuế thu nhập rất rẻ. Cái giá mọi công dân phải trả còn cao hơn giá trị kinh tế của con số 23%; nó còn là một soi mòn về niềm tin của các nhà đầu tư ngoại, các doanh nhân trong nước, các công nhân trên mọi công trường và các bạn sinh viên vừa bắt đầu khởi nghiệp.

Người Mỹ có câu ngạn ngữ, ”Khi các bệnh nhân tâm thần cai quản nhà thương điên…” (when the inmates took over the asylum)…Thực ra, nó ít nguy hiểm hơn là khi lũ chuột nắm quyền kiểm soát kho gạo…

Theo Góc nhìn Alan Phan

Phản hồi:

*

Khách JLN (khách viếng thăm) gửi lúc 10:00, 07/06/2012 – mã số 59997

Xin góp thêm.

Ông Alan Phan viết bài này rất đúng nhưng rất tiếc chỉ nhìn được 1 nửa vấn đề, từ bên ngoài, và các hệ quả nguy hiểm ông Phan chỉ ra mới chỉ là suy luận gián tiếp.

Từ bên trong, chúng ta có thể và nên chỉ rõ cho độc giả biết tại sao chính phủ CSVN hiện nay lại phải ra sức dốc toàn lực ra cứu BĐS? Nói cách khác, chúng ta phải chỉ ra họ sẽ được những lợi lộc to lớn nào khi cứu BĐS và tại sao thế?

Có nghĩa là, chúng ta cần phải chỉ ra ai đang là chủ nhân thực sự của các khối tài sản khổng lồ chính trên thị trường BĐS VN hiện nay và những ai đang thực sự chi phối thị trường này?

Tôi xin góp câu trả lời cho các câu hỏi cốt lõi trên như sau:

Thị trường BĐS sơ khai của VN gồm hai khu vực chính như mọi thị trường BĐS ổn định của các nước phát triển khác, là
thượng nguồn và hạ nguồn (upstreams và downstreams), nhưng với tỷ lệ đảo ngược hoàn toàn. Tỷ lệ thị trường BĐS VN Upstreams to Downstreams là 9:1 thay vì 1:9.

Upstreams là thị trường chuyển từ BĐS phi thương mại (đất nông nghiệp, thủy sản, đất dự phòng, đất ở của dân, đát của nhà nước cho mục đích khác…) sang BĐS thương mại (các khu kinh tế và công nghiệp cho thuê, khu dân cư để kinh doanh, khu chợ búa và các BĐS thương mại khác…). Thị trường này là kênh đưa tài sản quốc gia vào nền kinh tế và không có chiều ngược lại (trừ khi chính phủ thay đổi), nên có tỷ lệ lãi cực lớn (thường từ 100 đến 1000 lần), thường là nguồn lực tài chính quan trọng của của các quốc gia, do quốc hội có luật riêng bảo vệ và điều phối.

Rất tiếc là Luật BĐS của nước ta không có phần luật này riêng ra nên chính phủ toàn quyền quyết định, và các nhóm lợi ích của CSVN đã chia nhau chiếm đoạt và chi phối hoàn toàn thị trường này (chia và tranh nhau cắt chia tài sản quốc gia tài sản dân tộc Việt đã tích góp cả mấy ngàn năm thành đất dự án và “làm chủ” các dự án đó). Vì vậy, tất cả các dự án BĐS ở VN đều có chủ chính là các nhóm lợi ích bạch tuộc đỏ của CSVN, đại diện bởi: các đại gia “sân sau” của quan CS hay các nhóm lợi ích đỏ, các công ty TNHH của gia đình con cháu quan CS, các công ty “nhà nước” do các quan CS tham nhũng nắm, các công ty nước ngoài cấu kết với các công ty “san sau” đỏ…

Thị trường này cũng cần vốn tài chính rất lớn và vững (lâu dài) để triển khai, nhưng điều đó dễ giải quyết nếu “chủ đất đỏ”, chủ dự án đỏ chia sẻ một phần lợi nhuận đỏ khổng lồ (máu đất nước) với các nhà đầu tư tài chính quốc tế hay với chính các ngân hàng đỏ của nhà nước CSVn này- những nhóm lợi ích đỏ khác. Và họ đã làm vậy sau một thời gian “đổi đất lấy hạ tầng” khó ăn chia mà dễ bị lộ.

Làm dự án thì từ nhỏ đến lớn đều không bị lộ (có chính sách của đảng) và quá dễ dàng chia nhau “lợi ích”, nếu cần thì dùng cả quân đội, công an để cướp đất dân (Tiên Lãng, Ecopark Văn Giang, Vụ Bản, Cần thơ…), nên chục năm qua thị trường BĐS Thượng nguồn của VN phình to như bong bóng, ễnh ương trong khi nhu cầu thực sự của dân và của nền kinh tế lại không được đáp ứng…

Thị trương BĐS Hạ nguồn (Downstreams) của VN rất nhỏ (chỉ khoảng 10%) do hai lý do: nó chỉ huy động được vốn thứ cấp của các nhà đầu tư BĐS tư nhân nhỏ lẻ ăn theo các dự án đỏ, và nó chỉ nhầm vào đối tượng có tiền trong nước – mà đó không phải đại đa số dân Việt mà là số ít tư bản đỏ và gia tộc họ (chiếm khoảng 5-7% dân số, nhưng nhóm này lại không thiếu BĐS được nhà nước CS “cấp cho” để ở và sử dụng mà chỉ đầu cơ BĐS thương mại để kiếm lời tiếp), và số rất ít cá nhân làm kinh doanh nhỏ và tạm thời vươn lên thành công (số này chỉ chiếm dưới 3% dân số)…

Khủng hoảng hiện nay ở VN là khủng hoảng tất yếu của sự bất cân đối toàn cục trên của thị trường BĐS VN dồn nến từ hàng chục năm nay, đến khi mà các nguồn tài chính nuôi các dự án của thị trường BĐS Thượng nguồn VN đều “tắc” và không đủ cho vô số các dự án BĐS đỏ trên khắp cả nước (chỉ riêng các khu công nghiệp, khu kinh tế để quan CS bán và cho thuê đã lên đến trên 500 khi nền kinh tế 100 tỷ GDP chỉ cần 30-40 KCN/KKT như thế – Ví dụ: nền kinh tế trên 260 tỷ USD của Singapore chỉ có khoảng 16 KCN kể cả 10 cái ở nước ngoài, Thailand có 40 KCN và GDP là trên 350 tỷ USD…).

Thế cho nên, cứu BĐS là cứu các nhóm lợi ích đỏ, là bảo vệ thành quả cướp được từ tài sản quốc gia và nên kinh tế quốc dân của các nhóm lợi ích đỏ suốt hàng chục năm qua. Không cứu BĐS bây giờ là hầu như tất cả quan CSVN đều sẽ mất rất nhiều và giấc mơ hạ cánh như là các nhà “tư bản dân tộc yêu nước” của họ sẽ bị sứt mẻ lớn hay kéo dài thêm nhiều năm… là điều không thể chấp nhận!

Nếu chính phủ không làm được việc này (cứu BĐS, hay chính là cứu tài sản của các quan đảng, hay chính là cứu đảng), thì chính đảng CSVN sẽ đứng ra chỉ đạo làm việc này, “vì lợi ích sống còn của đảng”.

Đó là vài ý tôi xin góp thêm với ông Alan Phan về quan hệ giữa khủng hoảng BĐS và các quan CSVN hiện nay, để nhân dân Việt Nam cùng thấy rõ.

JLN

*unknown

Phân tích của bác (JLN) đúng và rất hay! Tuy nhiên, tôi không đồng ý kiến về việc bác cho rằng ông Alan Phan không biết hay mới nhìn được một nửa vấn đề. Ông Alan vẫn còn muốn đóng góp viết bài cho báo trong nước, nên không thể hoạch toẹt ra như bác hay những người anonymous như tôi, bác, hay những người khác.

Dĩ nhiên, chúng ta đều biết phỏng các đại gia đỏ BDS thì ngoài ai khác là đa số sân sau của các quan nhà ta, một số mafia từ Nga về (bác Vượng VinPearl) và chỉ một ý là các tay ăn theo như HAGL hay QCGL.

Cũng như đảng mafia CSVN đã từng cứu Chứng Khoán VN mà thực ra là cứu các quan đỏ bị kẹt tiền trong thị trường này, thì việc này cũng tương tự vậy thôi! Quan tư bản đỏ ăn ốc, chỉ có 80 triệu dân VN thì tiếp tục đổ vỏ…

*Visiteur

Tay bộ trưởng này hoặc mắc bệnh tâm thần hoặc đạo đức giả hoặc hắn không có quyền gì cả trong một tập đoàn mafia tham lam

Lúc nào cũng hô hoán cưỡng chế đất đúng “luật” nhưng lại làm dân khổ và chỉ có lợi cho các tập đoàn tư bản đỏ và các quan chức CSVN. Điển hình là con trai của bí thư tỉnh Hải Dương, hắn chỉ là cán bộ một sở mà xây dựng biệt thự hơn 20 tỷ thì hắn còn giàu hơn hẳn hai vợ chồng tôi, cùng cày từ 20 năm nay. Bọn quan chức CSVN, lợi dụng chức quyền và khe hở của luật do chúng đặt ra, để làm giàu bất minh trên xương máu người dân, vơ vét tài nguyên đất nước

*Kang

Miền Trung, ở Tuy Hòa, tỉnh Phú yên có một người đàn bà; lúc trước là người buôn bán ở chợ trời; sau này nhờ kết nối với mấy ổng, mấy ổng bơm tiền cho làm ăn; mở công ty Thuận Thảo, làm lên như bão. Nhưng cũng vì khả năng có hạng, bây giờ thua lỗ rất nhiều. Có lẽ mấy ổng cũng đang lo và chờ ‘chính phủ’ cứu ngân hàng, bất động sản.

Nếu mọi người né vào các nơi do họ làm ăn, thì họ sẽ bị ế. Tôi tự giữ mình không đưa chân đến thăm khu Vinpearl hay các khu do tư bản đỏ làm ăn, chỉ tổ giúp họ giàu hơn. Cái cầu giây của Vinpearl giống như giây thắt cổ thành phố Nha Trang.

* JLN

@Bác Unknown,

Bác đã đúng khi chỉ ra tôi đã vội khi nói rằng ông Alan Phan chỉ chỉ ra 1 nửa vấn đề bên ngoài của thị trường BĐS VN hiện nay. Lẽ ra tôi nên nói: bài viết của ông Phan chỉ chỉ ra 1 nửa vấn đề bên ngoài của thị trường BĐS VN hiện nay.

Lý do ông Phan có thể nhìn thấy hết nhưng không nói ra được vì con muốn “đóng góp viết bài cho báo trong nước”, có vẻ không thuyết phục lắm. Tôi đã đọc vài bài của ông Phan trên DL này và báo trong nước, và cả 1 cuốn sách của ông Phan nữa, và tôi thây ổng đã nói hết những gì mình nghĩ đấy chứ?

Nhưng thôi, đó là phỏng đoán của bác và tôi thôi. Chuyện ổng biết gì, nghĩ gì sau bài viết không phải của chúng ta. Chúc ông Phan thành công trên con đường đóng góp chính danh cho nước nhà.

@Bác “Vẫn phải cứu”,

Khi con người đã hỏng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ đạo đức đến năng lực, thì mọi mục tiêu, chính sách, đường lối… dù có đúng đắn đến đâu cũng sẽ bị vô hiệu và méo mó dị dạng đi, như chúng ta đã nhìn thấy hiệu quả của gói hỗ trợ doanh nghiệp trên 6 tỷ USD của chính phủ năm 2008-2010 chỉ làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp VVN phá sản.

Thế nên, chỉ có nhân dân hãy tự cứu mình được mà thôi.

JLN

Bộ trưởng Tài nguyên: ‘Đau xót vì tham nhũng đất đai’

“Chúng tôi là những người trong ngành cũng cảm thấy hết sức đau xót khi nhìn thực trạng khiếu kiện và tham nhũng, tiêu cực nóng bỏng trong lĩnh vực này. Phải nói sai phạm, tiêu cực là khá phổ biến”, Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang nói.

– Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội, có đại biểu đánh giá, đất đai là tài nguyên quan trọng nhất nhưng cũng là lĩnh vực phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhiều nhất hiện nay. Ông đánh giá thế nào về nhận định này?

– Ý kiến này đã nhiều lần được nêu. Đất đai nói thật là có giá. Hiện nay, chúng tôi là những người trong ngành cũng cảm thấy hết sức đau xót khi nhìn thực trạng khiếu kiện và tham nhũng, tiêu cực nóng bỏng trong lĩnh vực này. Sai phạm, tiêu cực khá phổ biến. Thời kỳ bao cấp thì không được quan tâm lắm nhưng trong cơ chế thị trường phát triển kinh tế đất trở nên rất có giá, rất quan trọng.

Vấn đề chính là luật pháp, quy định nhiều điểm chưa chặt chẽ, phân cấp thẩm quyền, giám sát, thực thi công vụ của cán bộ địa phương cũng có nhiều vấn đề. Bộ chủ yếu làm thể chế, còn thực thi trực tiếp là địa phương. Các lần họp tôi cũng luôn nhắc nhở cán bộ công chức cơ sở không nên lợi dụng tài nguyên đất nước để làm giàu cho bản thân.

– Hạn chế nào trong vấn đề đất đai dẫn đến tiêu cực, tham nhũng?

– Hiện tượng tiêu cực, tham nhũng liên quan chủ yếu đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, ví dụ chuyển từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, tạo ra kẽ hở. Hoặc là thay đổi quy hoạch sử dụng đất, cấp đất cho các dự án đô thị, thời gian qua lớn quá, dễ dàng quá…

Với những diện tích đất chuyển đổi sai mục đích, để hoang hóa, các cấp phải có trách nhiệm kiểm tra, xử lý, không có cách nào khác. Hiện rất nhiều doanh nghiệp, cả nhà nước lẫn tư nhân, đều có tình trạng nhận đất rồi để đấy…

– Theo Bộ trưởng, hướng xử lý đối với tình trạng này như thế nào?

– Chúng tôi đã giao cho các tỉnh kiểm tra, tổng hợp và báo cáo Thủ tướng để tìm hướng xử lý. Hướng là dựa trên quy hoạch sử dụng đất để đấu giá đất, các doanh nghiệp chỉ là những nhà đầu tư thứ cấp, không còn chuyện giao đất trắng cho doanh nghiệp.

– Trong các cuộc thảo luận, giá đền bù đất là vấn đề được các đại biểu rất quan tâm. Nhưng trong những dự án thương mại mà đền bù cho dân chỉ 500.000 đồng một mét vuông thì làm sao tránh được khiếu kiện kéo dài?

– Giá đang là vấn đề rất cơ bản, chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn. Các loại khung giá, bảng giá, giá cụ thể không, giá thị trường như thế nào, không đơn giản. Thị trường bình thường không nói làm gì, nhưng thị trường ở các đô thị thời gian qua là nóng ghê gớm. Vậy xác định giá trên cơ sở gì, phân cấp thế nào, nhà nước có tiếp tục nắm khung giá không…

Chúng tôi đang có ý kiến, nhà nước vẫn giữ khung giá, nhưng tăng các điểm lên, hiện quy định khung giá theo 3 vùng đồng bằng, trung du, miền núi, tính đại diện thấp. Ta có 63 tỉnh thành, để tăng tính chính xác có thể chia thành các cụm tỉnh tương đối giống nhau, theo tôi như thế sẽ hợp lý.

– Ông nghĩ thế nào về định hướng xây dựng một cơ quan định giá độc lập?

– Theo tôi có một cơ quan định giá độc lập là tốt nhất. Tới đây phân công có lẽ nên chỉ một bộ chịu trách nhiệm, hiện nay khung giá bảng giá do Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm, nhưng giá cụ thể ở từng mảnh đất để đền bù lại do Bộ Tài chính. Nên chỉ có một cơ quan định giá và nằm ở Bộ Tài chính.

– Có đại biểu đề nghị xây dựng luật riêng về đền bù thu hồi đất tái định cư, trong hoàn cảnh bức xúc như hiện nay. Quan điểm của ông ra sao?

– Không cần thiết vì vấn đề là nội dung chứ không phải chung hay riêng. Tất nhiên nếu riêng thì sẽ được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nhưng vấn đề bồi thường liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau.

Trong vấn đề thu hồi đất, theo tôi chủ yếu vẫn là vấn đề giá. Hiện có hai hình thức thu hồi đất, một là nhà nước thu hồi đất phục vụ quốc phòng an ninh, văn hóa xã hội và các dự án phát triển kinh tế lớn, hai là thu hồi đất theo thỏa thuận, chính trong những trường hợp thỏa thuận này phát sinh những chênh lệch, khiến dân thắc mắc. Nhưng theo tôi, nhà nước không thể đứng ra thu hồi đất cho tất cả các dự án được. Trong những dự án nhỏ, doanh nghiệp và dân thỏa thuận là chuyện rất bình thường, không thể lấy cớ đó để thắc mắc được, dân phải hiểu điều đó.

Nguyễn Hưng ghi
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/06/bo-truong-tai-nguyen-dau-xot-vi-tham-nhung-dat-dai/

*

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | Leave a Comment »

Sau khi dành độc quyền mua bán tiền đô (ngoại hối) 2011, nay nhà nước thông báo sẽ chính thức độc quyền sản xuất mua bán vàng miếng từ 25/5/2012

Posted by hoangtran204 on 09/04/2012

Sau khi ra nghị định độc quyền mua bán đô la (ngoại hối) -xem thông báo về một số quy định mới trong Nghị định 95/11/NĐ-CP ngày 20-10-2011 (nguồn)- giá đô la có vẻ ổn định, giá đô la biến động chung quanh  20 800 đồng/ 1 đô la.

Nhưng thật sự  thị trường mua bán đô la hiện nay là giả tạo. Hơn ai hết mọi  người biết rõ, lạm phát gia tăng hàng ngày, tiền đồng VN bị mất giá 30-40%; điển hình đi chợ mua đồ ăn mỗi ngày thấy vật giá càng gia tăng từ trước Tết tới nay, giá xăng tăng, giá điện tăng, giá thuốc tây và trả tiền bệnh viện tăng 26%…). 

Giá cả qui đổi tiền đô ra tiền đồng trong ngân hàng hiện nay chỉ nhằm mục đích ép người bán đô phải bán với giá ngân hàng quy định. Nếu họ bán chỗ khác, sẽ bị phạt tiền. Nhưng nếu có ai cần vài ngàn đô để chuyển ngân cho con em du sinh đang học ở nước ngoài, cứ thử đem tiền đồng ra ngân hàng mua đô, thì ngân hàng sẽ trả lời là không có đô la để bán ra.

Hối suất mua cưỡng ép này sẽ có giá trị trong một thời gian nào đó, một khi có can qua, có sự thay đổi, số tiền nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu ngày càng tăng, khi tiền đô do Việt kiều gởi về vào mua hè này và cuối năm càng nhiều, hay một lúc nào đó nhà đầu tư ngoại quốc bỏ tiền vào VN, thì nhà nước phải tung tiền đồng ra mua, lượng tiền đồng trên thị trường ngày càng nhiều, kết quả là làm gia tăng lạm phát, thì giá 1 đô sẽ lên 25 000 – 30 000 đồng trong thời gian ngắn trước mắt. 

“Nếu NHNN tiếp tục kìm giữ tỷ giá bằng sự thặng dư tạm thời của cán cân thanh toán trong khi lạm phát liên tục ở mức cao thì tiền đồng sẽ tiếp tục lên giá thực so với ngoại tệ, và do đó khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng (việc bán hàng hóa ra nước ngoài sẽ không có lời, xuất khẩu các mặt hàng của VN sẽ giảm-TH). Điều này sớm hay muộn sẽ làm thâm hụt thương mại tăng cao trở lại (xuất ít, nhập nhiều), các dòng vốn nước ngoài cũng sẽ tháo chạy (thực tế FDI giảm từ 2011 chỉ còn chừng 1  tỷ rưỡi, so với 7-9 tỷ trong các năm trước; và 3 tháng vừa qua của năm 2012 thì, FDI chỉ có vài ba trăm triệu, các công ty  ngoại quốc đã và đang ngưng đầu tư vào VN- TH) và cán cân thanh toán sẽ thâm hụt, lúc đó tiền đồng sẽ nhanh chóng bị phá giá một cách mạnh mẽ.” (nguồn)  và tỷ giá tiền đô sẽ lên cao 25000- 30 000 đồng/ 1 đô là điều thấy rõ trong tương lai gần.

Ai hưởng lợi từ việc độc quyền mua bán tiền đô, và ngoài mục đích này còn có mục đích nào khác nữa? Nhưng các mục đích ấy có nguy cơ gì? Mời các bạn đọc tiếp: “

Tỷ giá ổn định, tất nhiên Ngân hàng Nhà nước được hưởng lợi đầu tiên. Theo cập nhật của nhóm nghiên cứu, từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước mua vào một lượng lớn ngoại tệ. Có những ngày, nhà điều hành mua vào từ 60 – 70 triệu USD. Xu hướng này kéo dài cho tới nay, khi có những ngày nhà điều hành mua hơn 100 triệu USD. Và khi dự trữ ngoại hối tương đối rủng rỉnh, nhà điều hành còn “đỏng đảnh” trước những lời gạ bán của ngân hàng thương mại.

Một chuyên gia phân tích: tỷ giá ổn định như hiện nay thực ra được hưởng lợi khá nhiều từ chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát và giảm tổng cầu. Bởi thế, những người điều hành tỷ giá rất lo nếu phải nới lỏng tiền đồng.

Sự lo lắng này không phải không có lý khi giới phân tích đang hình thành những xu hướng trái ngược nhau.

Một bên cho rằng, Chính phủ nên tiếp tục kiên định thực hiện Nghị quyết 11: giảm tổng cầu để ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát; còn bên kia là sự la ó lãi suất cao, khó tiếp cận vốn, nhất là giữa lúc Tổng cục Thống kê công bố GDP quý 1/2012 chỉ đạt 4%, giảm 2% so với quý 4/2011 và giảm 1,6% so với cùng kỳ 2011.

Vị cán bộ chuyên kinh doanh ngoại tệ nói trên cho rằng, nền kinh tế đã đổi mới được 20 năm và đã đến lúc phải cơ cấu lại. Vấn đề không chỉ ở con số tăng trưởng 4% hay bao nhiêu mà chính là tăng trưởng thực chất.

“Đừng nhìn vào mấy chục nghìn doanh nghiệp phá sản mà loạn cả lên. Thà chấp nhận số lượng doanh nghiệp ít đi nhưng chất lượng tốt hơn”, ông này nói.

Mối lo thứ hai đến từ dòng tiền nóng. Theo giới phân tích, kinh tế vĩ mô hiện nay đang duy trì được đà ổn định: lạm phát được kiềm chế mức thấp, tỷ giá bình lặng, trong khi chênh lệch lãi suất “đô, đồng” gần 10% là những tiền đề cần thiết để dòng tiền nóng từ các nhà đầu tư nước ngoài dần trở lại Việt Nam thông qua các quỹ đầu tư, mặc dù lưu lượng của chúng hiện mới chỉ dăm triệu USD mỗi ngày.

Lý giải hiện tượng này, một số cán bộ kinh doanh ngoại tệ ở các ngân hàng phân tích: trong khi lãi suất USD chỉ 2%/năm, lãi suất trái phiếu Chính phủ khoảng trên 11%/năm, những nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng bỏ tiền mua trái phiếu Chính phủ trên thị trường thứ cấp và rút nhanh sau vài ba tháng.

Điều nguy hiểm là khi dòng ngoại tệ nóng chảy vào, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải mua vào và cung tiền đồng ra thị trường. Và đến khi họ rút nhanh, tỷ giá lập tức chao đảo; đồng thời, thị trường trái phiếu sẽ sụt giảm theo, ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của nền kinh tế.

Giữ tiền đô và vàng là an toàn so với việc giữ tiền đồng, đừng bán và đừng cho ai vay, mà hãy cố gắng giữ trong các ngân hàng ngoại quốc ở SG hay HN, gởi ở các ngân hàng ngoại quốc tuy lời ít, nhưng các bạn sẽ không mất trắng tay vì trộm cướp và ngân hàng phá sản khi “can qua”.

Nay Khi Nhà nước Việt Nam thông báo độc quyền sản suất và buôn bán vàng

Nhu cầu phòng thân của người dân bị tước đoạt

Báo Người-Việt.com

SÀI GÒN – Sau cơn bão bất thường giữa mùa Hè, sự việc làm choáng váng dư luận Việt Nam là chuyện Ngân Hàng Nhà Nước chế độ cộng sản tuyên bố độc quyền sản xuất và kinh doanh vàng miếng.

 

Vàng miếng trên thị trường Việt Nam kể từ tháng 5, 2012 sẽ do nhà nước độc quyền sản xuất và kinh doanh. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Gettty Images)

Khác với chuyện thường xuyên dự báo bão trật lất, chuyện đại sự vàng miếng đã được các quan lớn ngân hàng dọn đường dư luận từ trước và không thay đổi chính sách.

Ở một quán cà phê thuộc quận 1, Sài Gòn. Nhà báo TC nói: “Ở đất nước này, chế độ cầm quyền không còn lắng nghe ý dân nữa. Họ khinh dân. Họ chỉ nghe đảng của họ và các băng nhóm lợi ích bu quanh đảng cộng sản.”

Bà V., một nhà báo kinh tế khác góp chuyện rằng, “Ðây là lần đầu tiên trong suốt lịch sử Việt Nam, một chế độ cầm quyền độc quyền vàng miếng.”

Bây giờ chuyện khai thác khoáng sản vàng có giấy phép hoặc cấp giấy phép bằng miệng để nhận tiền lót tay đã không còn là món béo bở với các tầng lớp cán bộ tham nhũng.

Cái mỏ vàng được đánh giá có trữ lượng hàng ngàn tấn đang nằm trong tủ để phòng thân của hàng triệu người Việt mới là cái họ quyết chiếm đoạt và trục lợi cho bằng được.

Nhiều người nhớ lại rằng từ sau biến cố 1975 đến nay, chế độ này đã tìm cách thâu tóm nhiều lần cái mỏ vàng của lương dân. Ðánh tư sản 3 đợt. Những câu chuyện dân giấu vàng trong hũ chôn cạnh cầu tiêu cũng bị moi lên, sơn đen vàng làm khung thờ tổ tiên cũng bị tước đoạt… Ðau đớn nhất là hốt vàng của những lương dân mong cầu tự do quyết tìm đường vượt biển.

Ngày 5 tháng 4, Thống Ðốc Ngân Hàng Nguyễn Văn Bình nói trên tivi với phóng viên kinh tế của kênh truyền hình chính thống rằng: “Nhà nước chỉ độc quyền vàng miếng, như độc quyền phát hành tiền. Hiện nay, thị trường vàng miếng Việt Nam hơn 90% là vàng miếng nhãn hiệu SJC. Thế nên việc ngân hàng độc quyền vàng miếng nhãn hiệu SJC, những nhãn vàng khác không có thị phần đáng kể.”

Tuyên bố này của ông thống đốc lập tức gây ra cảnh hỗn loạn ở thị trường vàng Hà Nội. Người ta đổ xô đi bán rẻ vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc để mua mắc vàng miếng của SJC. Như vậy chỉ riêng ở Hà Nội những lương dân lâm cảnh bán rẻ mua mắc đã mất trắng số tiền khổng lồ từ mồ hôi nước mắt. Không giống như ở Hà Nội, lương dân có vàng miếng ở các tỉnh phía Nam và Sài Gòn bình tĩnh hơn. Họ chửi rủa chuyện độc quyền vàng nhưng ít cầm vàng miếng có nhãn hiệu quen thuộc đi bán rẻ.

Hỏi một ông chủ cho thuê nhà trọ ở quận Tân Bình. Ông nói: “Lo chi cho mệt, vài bữa là thị trường vàng chợ đen mọc lên như nấm. Cấm, tịch thu hả! Ðừng có mà mơ. Có việc cần, thà bán rẻ cho chợ đen còn hơn là làm giàu cho mấy thằng đó.”

So với thị trường chợ đen các loại thì Sài Gòn không tinh vi bằng Hà Nội, nhưng riêng cái chuyện chữ tín của thị trường chợ đen thì Hà Nội không thể sánh bằng Sài Gòn. Một bà bán quán nhậu nói: “Ông có vàng bán tôi kêu giùm cho. Tới tận nhà mua luôn nghe, bảo mật, uy tín, không ép giá.”

Với từng gia đình, việc chuẩn bị mọi phương cách để tự vệ trước bàn tay tham lam muốn khai thác vàng phòng thân đã bắt đầu. Nhiều người tin rằng bóng ma quản lý kinh tế thời bao cấp đã quay trở lại. Nhiều người còn nhìn thấu đáo hơn khi lướt qua một số chuyện cho thấy sự cùng quẫn của chính quyền tham nhũng hiện nay. Những bộ trưởng cộm cán của chính quyền Hà Nội đã bắt đầu “tham lam sinh đạo tặc.” Bộ trưởng Giao Thông thì thèm thuồng nguồn thu phí từ hàng chục triệu xe gắn máy. Bộ trưởng Y Tế thì ngớ ngẩn đòi tăng giá viện phí để giảm tải bệnh viện. Cục Thuế thì tha hồ hốt tiền lót tay khi gia hạn thuế cho các tổng công ty nhà nước và các đại gia máu mặt…

Trở lại chuyện thống đốc ngân hàng đang hăm hở độc quyền nguồn vàng phòng thân của hàng triệu gia đình. Một chuyên gia kinh tế muốn giấu tên nói, đây là một chính sách động chạm trực tiếp đến tầng lớp trung lưu Việt Nam. Nếu giới trung lưu trước đây an phận làm ăn, hưởng thụ thì chính sách độc quyền vàng sẽ làm họ hiểu là ngay cả của để dành cũng không an toàn. Ðe dọa đến nguồn vàng tư hữu phòng thân là đánh thức sự chống trả của tầng lớp công dân đông đảo.

Những ngày tới, chuyện gì sẽ xảy ra khi nhà nước tuyên bố độc quyền kinh doang vàng miếng. Người dân, nhất là giới trung lưu Việt Nam sau những thoáng mất bình tĩnh thì xuất hiện một bầu không khí im lắng bất thường và chính sự im lắng này là giai đoạn họ chuẩn bị sẵn sàng gây bão lớn.

************************************************

Nhà nước chính thức độc quyền sản xuất vàng miếng từ 25/5/2012

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

Theo Nghị định 24, quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.

Các quy định trong Nghị định 24 không áp dụng đối với hoạt động khai thác và tinh luyện vàng của doanh nghiệp khai thác vàng.

Nghị định 24 nêu rõ: Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.

Nghị định cũng cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán. Các hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng.

Doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 5 điều kiện:

1. Là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

2.  Có vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lên;

3. Có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh mua, bán vàng từ 2 năm trở lên;

4. Có số thuế đã nộp của hoạt động kinh doanh vàng từ 500 triệu đồng/năm trở lên trong 2 năm liên tiếp gần nhất (có xác nhận của cơ quan thuế);

5. Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Ngày 3/4/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản yêu cầu ACB, Sacombank, Techcombank, Eximbank, Dong A Bank và Công ty TNHH một thành viên Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) báo cáo về việc triển khai mạng lưới mua, bán vàng miếng. Báo cáo gửi về Vụ Quản lý ngoại hối (NHNN) trước ngày 9/4/2012.

Trong khi đó, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 3 điều kiện gồm có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên; Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng; Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên.

Về xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ và cung – cầu vàng trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước tổ chức thực hiện việc xuất khẩu vàng nguyên liệu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp theo quy định và cấp giấy phép xuất khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có Giấy phép khai thác vàng theo quy định.

Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ cho doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Doanh nghiệp kinh doanh vàng có hợp đồng gia công vàng trang sức, mỹ nghệ với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm. Việc xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu dưới dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và các loại vàng trang sức dưới dạng bán thành phẩm được thực hiện theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước là cơ quan thay mặt Chính phủ thống nhất quản lý các hoạt động kinh doanh vàng theo Nghị định này. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/5/2012.

—————–

Nghị Định 24 chấm hết với đầu cơ vàng

nguồn

“Tuy nhiên trên tất cả và quan trọng nhất vẫn là quy định “không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán”. Về tinh thần này, cùng với chủ trương Nhà nước độc quyền trong sản xuất vàng miếng và xuất khẩu vàng nguyên liệu cũng như nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, giới đầu tư của 12.000 cơ sở kinh doanh vàng và cả những người dân quen mua vàng tích trữ đã biết từ lâu. Vấn đề còn lại là bản nghị định này sẽ tác động ra sao đối với thị trường kinh doanh vàng.”

“Ngay sau khi nghị định 24 được ban hành, giám đốc một doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh vàng tiếp tục đặt vấn đề: Tại sao cùng vào ngày 3/4/2012, cùng thời điểm với nghị định 24 được ký, lại xuất hiện một công văn của NHNN gửi cho 5 ngân hàng và Công ty SJC liên quan đến mạng lưới phân phối vàng? Tại sao chỉ có nhóm “G5+1” mà không hiện ra thêm thành viên nào khác? Và tại sao tất cả những thương hiệu vàng “Phi SJC” lại bị loại thẳng thừng trong nghị định 24?”

“Trên thị trường, giá vàng niêm yết hàng ngày hầu hết được “tham chiếu” bởi Công ty SJC chứ chẳng phải ai khác. Mà những dấu hiệu từ SJC khi đặt giá niêm yết cao hơn hẳn giá thế giới lại đã luôn trở thành một nghi vấn lớn lao nhưng chưa bao giờ được giải thích cặn kẽ.

Từ đó, hiển nhiên các cơ sở kinh doanh vàng – những nơi bị chuyển từ kinh doanh vàng miếng sang vàng nữ trang, sẽ không thể không hoài nghi về ý nghĩa thực chất của nghị định 24 trong thực tế triển khai, nhất là khi thương hiệu vàng SJC vẫn đóng vài trò độc tôn và Công ty SJC vẫn được NHNN “bảo trợ”.

“Tương tự, Bảo Tín Minh Châu đã trở thành “nạn nhân” đầu tiên trong số các thương hiệu có tiếng lâu đời bị gạt ra rìa. Vào cuối năm 2011, khi lần đầu tiên giá vàng Bảo Tín Minh Châu thấp hơn giá vàng SJC đến 1,2 triệu đồng/lượng, cơn khủng hoảng  của vàng “phi quốc doanh” đã bắt đầu.”

“Trong khoảng thời gian gần đây nhất, bất chấp “barem” của thống đốc NHNN về “nếu giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 400.000 đồng là có dấu hiệu đầu cơ”, độ chênh cao của giá vàng trong nước so với giá quốc tế vẫn luôn duy trì ở mức 2-4 triệu đồng/lượng trong suốt 5 tháng cuối năm 2011, kể cả cho đến những ngày gần đây mức chênh đó vẫn duy trì ở mức trên 2 triệu đồng/lượng.”

“SJC công bố giá vàng hàng ngày hầu nhu độc quyền- Yêu cầu Ngân hàng Nhà nước giải thích tại sao giá của SJC bao giờ cũng cao hơn giá thế giới từ 01-3 triệu đồng.Ông thống đốc NHNN từng tuyên bố sẽ giữ giá vàng trong nước chỉ cao hớn giá vàng thế gioi 500.000,đồng mà sao bây giờ… “

Thực chất của nghị định 24 là nhà nước dành độc quyền kinh doanh vàng, vì món này rất có lời. Cứ bán 1 lượng vàng, thì nhà nước lời tối thiểu 2 triệu đồng.  SJ C và 5 công ty kinh doanh vàng là của nhà nước và các tập đoàn quốc doanh, và do con cái các cán bộ cao cấp nắm giữ.

Thực chất của độc quyền mua bán đô la là mua rẻ tiền đô của Việt kiều và công nhân lao động xuất khẩu (gởi tiền về trả nợ chi phí xin di XKLĐ và giúp đỡ gia đình.)

Mời các bạn đọc bài dưới đây để hiểu tải sao lạm phát gia tăng trước tết cho đến nay của việc tung tiền VN ra đổia ấy tiền đô:

“Bị thâm hụt 12 tỷ đô la, Chính phủ VN tung 300.000 tỷ đồng vừa giải cứu ngân hàng, vừa mua lại 9 tỷ đô la do Việt Kiều gởi về, nhưng tiền đồng trên thị trưởng quá nhiều đã và đang làm gia tăng lạm phát (dân lãnh đủ). Việc độc quyền mua rẻ đô la, không cho tỷ giá vượt mức 22.000 đồng, có mục đích là chính phủ hưởng lợi” (nguồn)

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 2 Comments »

►Lạm Phát ở Việt Nam: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước

Posted by hoangtran204 on 30/04/2011

Chú ý! Các nước khác nên học hỏi. Sau 36 năm giải phóng miền Nam, và hơn 60 năm miền  Bắc trải qua chủ nghĩa xã hôi, các đỉnh cao trí tuệ của loài người đã đưa tiền Đồng VN đạt được các danh hiệu cao quí nầy: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới là đồng tiền ít có giá trị nhất vào năm 2006, 2008, và 2009. Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước

Mời các bạn thưởng thức bài dịch sau đây.

Tiền Đồng  Việt Nam có giá trị ra sao trong 5 năm vừa qua

Vào ngày 1 Tháng tám 2006, tiền Đồng Việt Nam đã trở thành đơn vị tiền tệ trị giá thấp nhất trong nhiều tháng của năm 2006 sau khi Zimbabue đánh giá lại  tiền của họ.

Tiếp đó, vào ngày 21 tháng 3 năm 2007,  Zimbabwe đánh giá lại tiền tệ của họ, và trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất trên thị trường trao đổi tiền tệ (ở thị trường chợ đen); đến ngày  07 tháng 9 năm 2007 tiền Zimbabue  có giá trị thấp nhất về tỷ giá trao đổi chính thức so với tiền đô la Mỹ.

Nhưng rồi trong khoảng thời gian từ 1-8-2008  đến ngày 11 tháng 9 năm 2008, tiền Đồng Việt Nam lại một lần nữa trở thành đơn vị tiền tệ có ít giá trị nhất thế giới.

Zimbabwe định giá lại của tiền Zimbabwe,  tiền Zimbabwe lại một lần nữa vượt qua mặt tiền Đồng VN và vào khoảng ngày 20 tháng 10, 2008, tiền Zimbabwe  trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất thế giới.

Ngày 17 tháng 11 năm 2008, tỷ giá chính thức của tiền Zimbabwe đã giảm xuống thấp hơn tiền Đồng VN.

Ngày 03-2-2009, tiền Đồng VN đã dành lại danh hiệu (khỏi tay Zimbabue) và trở thành đồng tiền có ít giá trị nhất trên thế giới một lần nữa khi tiền Zimbabwe tái đánh giá lại; mặc dù vào tháng ba năm 2009, tiền Đồng VN đã mất danh hiệu nầy trong một thời gian ngắn vào tay 2 đảo quốc São Tomé và Príncipe dobra.

Tính đến 02 -1- 2011, các shilling Somali chiếm danh hiệu tiền có giá trị thấp nhất thế giới, và tiền Đồng Việt Nam hiện nay đứng hạng nhì sau Zimbabue.

nguồn 1

nguồn 2    Lịch sử tiền Đồng Việt Nam, bao nhiêu lần đổi tiền, đổi theo tỉ giá nào…tài liệu rất quí và chính xác.
After the revaluation of the Zimbabwean dollar on 1 August 2006,[12] the đồng became the least valued currency unit for months. Around 21 March 2007, the revalued Zimbabwean dollar regained least valued currency status (in terms of black market exchange rate), and on 7 September 2007 in terms of official exchange rate. Since the revaluation of the Zimbabwean dollar on 1 August 2008 the đồng was again the least valued currency unit until 11 September 2008, when the Zimbabwean dollar once again surpassed it and on about 20 October in terms of cash rate. On 17 November 2008, the official rate of the Zimbabwean dollar fell below the đồng.

On 3 February 2009, the đồng had this title again as Zimbabwean dollar redenominated, although in March 2009 the title was briefly held by São Tomé and Príncipe dobra.

As of January 2, 2011, the Somali shilling holds the title of least valued currency, with the đồng being the second least valued.

Cập nhật 14-8-2013,

Tờ Telegraph của Anh đưa tin:  Tiền tệ có giá trị thấp nhất thế giới – The world’s least valuable currencies.  Tiền đồng VN có ít giá trị ; bạn cần có khoảng 33.000 đồng tiền Việt để đổi một đồng bảng Anh
http://www.telegraph.co.uk/finance/personalfinance/9672926/The-worlds-least-valuable-currencies.html

———-

Các vụ đổi tiền ở Việt Nam sau 30-4-1975. 

Dean Nguyen

Nguồn Vietlandnews.net

Lần 1:

Sau khi xâm chiếm miền nam tháng 4, 1975 thì chỉ sau 4 tháng, bọn Việt cộng đã ăn cướp và tàn sát nền kinh tế miền Nam bằng cách gọi là đổi tiền. Chính xác là vào ngày 21 tháng 9, 1975.

Ngày 6/6/1975. Năm tuần sau ngày xâm lăng, Bọn được gọi là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Nghị định số 04/PCT – 75 về thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam do Trần Dương làm Thống đốc. Đến ngày 22/ 9/1975, dưới sự lãnh đạo của Bộ chính trị và Trung Ương đảng lao động Việt Nam, CP Cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của Việt cộng đã cho phát hành loại tiền gọi là tiền Ngân hàng VN(còn gọi là “tiền giải phóng”) dùng để đổi toàn bộ tiền của miền nam VNCH.

Thông báo đổi tiền có thể tóm tắt như dưới đây:

1. 500 đồng tiền VNCH Sàigon cũ lấy 1 đồng mới Ngân hàng Việt Nam.

2. Mỗi gia đình được đổi 100.000 đồng cũ (200 đồng mới) cho tiêu dùng hàng ngày.

3. Những gia đình có buôn bán được phép làm đơn xin đổi thêm 100.000 đồng cũ

4. Những nhà buôn lớn có thể làm đơn xin đổi thêm tiền từ 100.000 đến 500.000 (tối đa) đồng cũ nếu có nhu cầu thực sự.

5. Tất cả số tiền còn lại từ 100.000 đến 1 triệu đồng cũ phải đến nhà băng đổi và gởi vào trương mục.

6. Cuộc đổi tiền sẽ chấm dứt vào 11 giờ đêm ngày 22 tháng Chín.

7. Vi phạm những điều nêu trên sẽ bị truy tố trước pháp luật.

“Với lý luận ngu xuẩn hàng hóa làm ra ít, kinh tế sẽ không tăng trưởng nhưng nếu in tiền sẽ bị lạm phát. Vì tiền tệ nằm trong tay dân chúng quá nhiều không phải do sản xuất thì ngân sách nhà nước thất thu. Vì thất thu nên buộc phải in thêm tiền để tiêu dùng nhưng sẽ gây lạm phát (vòng lẫn quẫn). Cho nên đổi tiền là cách giải quyết hoàn hão nhứt vì sẽ phân chia đồng tiền của toàn bộ người dân trong xã hội bằng nhau sẽ làm cân bằng ngân sách nhà nước”.

Điều buồn cười là nhà nước Việt cộng “quên” in tiền lẻ nên phải “xài ké” tiền lẻ của miền nam VNCH cho đến đợt II vào tháng 5 hay tháng 6 năm 1978.

Trước tin đổi tiền bị lộ, người dân đã đổ xô đi mua tất cả những gì …có thể mua để tích trữ đã làm giá cả leo thang vô cùng khũng khiếp. Hậu quả cuộc đổi tiền này đã giết chết nền kinh tế miền nam, và toàn bộ người dân miền nam đã rơi vào thãm cảnh vô cùng nghèo khổ một cách tức tưỡi, vô lý đầy uất ức của bao nhiêu năm trời cực khổ làm ăn để dành nay chỉ là 200 đồng.

Việt cộng đã thành công trong công cuộc “vô sãn miền nam 100%” như đúng chủ nghĩa Cộng sản giãng dạy.

Lần 2:
Đổi tiền toàn quốc (thống nhứt tiền tệ) vào ngày 2 tháng 5, 1978.

Mặc dù gọi là đổi tiền toàn quốc nhưng đã có sự khác nhau giữa 2 miền bắc và nam.
Miền bắc đổi 1 đồng tiền củ bằng 1 đồng tiền mới, miền nam đổi 80 xu bằng 1 đồng tiền mới.

Cũng như sự khác nhau về đổi tiền giữa thành thị và nông thôn. Dân thành thị được đổi tối đa:

– 100 đồng cho gia đình 1 người.

– 200 đồng cho gia đình 2 người.

– Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người.

– Tối đa cho mọi gia đình trong thành thị bất kể số người là 500 đồng.

Dân vùng nông thôn được phép đổi tối đa:

– 100 đồng cho mỗi gia đình 2 người (50 đồng mỗi người).

– Gia đình trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người.

– Tối đa cho mọi gia đình vùng nông thôn bất kể số người là 300 đồng.

Cứ sau mỗi lần đổi tiền là tất cả các loại hàng hóa đều tăng giá ghê gớm, dân đã chết nay càng chết khỏi…đầu thai.

Cả xã hội VN đến TẬN CÙNG của sự bần cùng, tận cùng của nghèo đói đến nỗi nước Nga phải viện trợ thức ăn của ngựa cho người dân Việtnam đếm ăn từng bửa.
Gạo biến mất tiêu, khan hiếm…như vàng. Dân phải ăn cơm độn với khoai mì, khoai lang…hoặc chỉ có ăn…khoai, củ và cây cỏ…

Việt cộng đã “giải phóng” miền Nam từ con người ăn cơm ăn thịt, nay chuyển sang trâu ngựa ăn cỏ, ăn bobo.

Sự “thành công” của cuộc đổi tiền lần này là đám lãnh đạo Việt cộng biết đúng về chính mình hơn là…ngu xuẫn và sai lầm.

“Từ ấy nước tôi tràn lũ lụt
Màn trời, chiếu nước, khắp muôn nơi
Làng tôi là một đồi hoang hoá
Hết sạch lương và bặt tiếng chim ca …” *(dân gian)
………………………… …………

“Từ ấy trong tôi bừng uất hận
Mặt trời nung nóng nỗi hờn căm
Hồn tôi là cả trời mơ ước
Gạo, cá thịt tuơi mỗi bữa đều…” *(Dean Nguyen)

Lần 3:

Lại 1 nỗi kinh hoàng, trời tru đất diệt ập lên cổ nữa cho người VN. Sự đau khổ, tiếc nuối của bao nhiêu dành dụm lại tan theo mây khói với những căm hờn, uất hận đè nén tiếp diễn. Lần đổi tiền kỳ này vào ngày 14 tháng 9, 1985 đã được gọi 1 cách mỹ miều là ” Cải cách giá-lương-tiền”:

– Phát hành tiền mới
– Thu đổi tiền: 10đ tiền cũ=1đ tiền mới

Điều buồn cười nữa là sau khi qui định 10 đồng củ=1 đồng mới thì sau đó nhà nước quyết định nâng giá lên trở lại 10 lần. Cuộc cải cách giá-lương-tiền đã bị thất bại. Không biết đây là cái ngu hay cái mánh khoé gian xão của Việt cộng (?).

[thật ra, khi đổi 10 đồng cũ = 1 đồng mới, thì nhà cầm quyền Hà Nội đã cướp đi những tiền bạc tích lũy do dân chúng đã tiết kiệm. Kế đó, nhà nước quyết định nâng giá đồng tiền mới  lên trở lại 10 lần: nhà nước có rất nhiều đồng tiền mới trong tay, nay tự nâng giá lên gấp 10 lần là để làm cho họ có sức mạnh tài chánh gấp 10 lần để tha hồ mua vàng của dân chúng. Đây là một hình thức ăn cướp tráo trở khác).

Lần đổi tiền này mặc dù có tên gọi khác nhưng vẫn như những lần đổi tiền trước đây là san bằng tất cả sự giàu nghèo, cộng với chủ trương không để ai giàu hơn hoặc có tiền nhiều hơn nhà nước. Không 1 người nào được cho phép có số tiền quá mức qui định do nhà nước chỉ định.

Mặc dù gọi là CC Giá-Lương-Tiền nhưng đám ngu này làm ngược lại là Tiền-Lương-Giá do 3 tên tội đồ dốt nát và hoàn toàn mù tịt về kinh tế là Tố Hữu, Trần Phương, Trần Quỳnh gây ra. Được dân gian móc là Tố Hữu nâng lương-Trần Phương tăng giá.

Trong cương vị Phó Thủ tướng (?), nhà “văn vần” Tố Hữu từng ký vào quyết sách in tờ tiền 30 đồng, tự nó không thành hệ thập phân, gọi là độc nhất vô nhị, hiếm thấy trong lịch sử tiền tệ.

Trong khi mỗi gia đình chỉ được phép đổi 2.000 đồng, phần còn lại nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xem xét, kết quả là mất trắng. Năm 1986, lạm phát đến 774,7%, kinh tế kiệt quệ.

Hiện nay, theo như sự tìm kiểm của tôi thì hình như chưa có tài liệu nào rõ ràng, chi tiết về các cuộc đổi tiền của Việt cộng.
Tất cả tài liệu này được viết từ trí nhớ và thâu thập trên net, nên có thể sẽ có nhiều thiếu sót. Quí vị nào có thêm tài liệu xin vui lòng bổ sung thêm.

Dean Nguyen Nguồn Vietlandnews.net

————-

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 4 Comments »

►Vàng, Đô la ở Việt Nam 2009, 2010, và đầu năm 2011 ra sao

Posted by hoangtran204 on 13/01/2011

Hôm nay giá vàng là 35.780.000 đồng/ 1 lượng, tương đương với 1696 đô la.

Giá 1 đô la= 21.100 đồng.

Giá vàng tăng 9,51 triệu đồng/lượng, tương đương 35,7% trong năm 2010

Tỷ giá đôla Mỹ tại Hà Nội ở mức 20.980 – 21.080 đồng Việt Nam/USD, tăng 1.880 – 1.880 đồng Việt Nam/USD (mua vào – bán ra) tương đương với tăng 9,79% so với cuối năm 2009.

Phiên giao dịch cuối cùng của năm 2009, giá vàng SJC giao dịch tại mức 26,51 – 26,61 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,36 – 26,55 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở mức 26,50 – 26,60 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá đôla Mỹ phiên cuối cùng của năm 2009 ở mức 19.100 – 19.200 đồng Việt Nam/USD.

Cuối quý 1/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 26,13 – 26,19 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,08 – 26,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở mức 26,05 – 26,15 triệu đồng/lượng.

Cuối quý 2/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 28,54 – 28,62 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 28,54 – 28,62 triệu đồng/lượng.

Ngày giao dịch ấn tượng của quý 2/2010: Ngày 02/05/2010, người dân đổ xô đi mua vàng sau khi giá vàng hạ 1,5 triệu đồng/lượng chỉ sau 1 đêm. Yếu tố khác khiến giá vàng giảm sâu trong thời điểm này còn là bởi Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp lớn tăng cung vàng.

Tuy nhiên giá vàng chỉ giảm được 3 ngày, lực mua quá lớn khiến giá vàng lên lại mức 26,48 triệu đồng/lượng vào ngày 11/02.

Tỷ giá đôla Mỹ vào ngày 11/02/2010 cũng lên cao và đến 11h trưa cùng ngày ở mức 19.800 đồng Việt Nam/USD.

Cuối quý 3/2010, giá vàng SJC giao dịch tại mức 31,21 – 31,25 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SBJ tại Sacombank ở mức 26,08 – 26,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu ở mức 31,17 – 31,23 triệu đồng/lượng.

Tỷ giá đôla Mỹ tại Hà Nội ở mức 19.640 – 19.690 đồng Việt Nam/USD, trong ngày giao dịch đã có lúc giá đôla Mỹ vượt mức 19.700 đồng Việt Nam/USD.

Diễn biến giá vàng SJC trong năm 2010 (Nguồn:SJC)

Quý 4/2010, sự hỗn loạn trên thị trường vàng bắt đầu từ ngày 08/11/2010 khi người dân đổ xô nhau đi mua vàng, phiên giao dịch ngày 09/11/2010 lịch sử, giá vàng lập đỉnh cao chưa từng có. Giá vàng SBJ giao dịch ở mức 37,00 – 37,40 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra). Giá vàng SJC ở mức 36,50 – 37,02 triệu đồng/lượng. Giá vàng rồng Thăng Long ở mức 36,90 – 37,30 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chốt ngày thấp hơn khoảng 800 nghìn đồng/lượng so với mức đỉnh 38,2 triệu đồng/lượng đã thiết lập trong ngày.

Tỷ giá đôla Mỹ tại một số điểm quy đổi ở Hà Nội trong ngày tại mức 21.000 – 21.200 đồng Việt Nam/USD (mua vào – bán ra), mức đỉnh cao được thiết lập trong ngày là 21.500 đồng Việt Nam/USD.

Tại Hà Nội, có hiện tượng một số cửa hàng ngừng giao dịch ngoại tệ vì không còn đôla để bán ra. Chênh lệch giữa giá mua và bán vàng nhiều lúc lên tới hơn 1 triệu đồng/lượng. Đến cuối ngày kỷ lục 09/11, các doanh nghiệp kinh doanh vàng vẫn thận trọng giữ mức chênh lệch lớn giữa giá mua và bán vàng, mức chênh lệch phổ biến từ 400.000-500.000 đồng mỗi lượng.

Cùng thời gian này năm 2009, giá vàng lập kỷ lục. Ngày 11/11/2009, giá vàng lên kỷ lục 29 triệu đồng/lượng. Trưa ngày 11/11/2009, Ngân hàng Nhà nước công bố cho phép nhập vàng, giá vàng hạ sâu xuống dưới 25 triệu đồng/lượng.

Chốt phiên giao dịch ngày 30/12/2010, giá vàng SJC ở mức 36,04 – 36,12 triệu đồng/lượng. Giá vàng SBJ cuối ngày 30/12/2010 ở mức 36,07 – 36,10 triệu đồng/lượng.

Như vậy so với cuối năm 2009, giá vàng SJC đã tăng 9,53 – 9,51 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra).

Tỷ giá đôla Mỹ tại một số điểm quy đổi ở Hà Nội tại mức 20.980 – 21.080 đồng Việt Nam/USD, tăng 1.880 – 1.880 đồng Việt Nam/USD so với cuối năm 2009, tương đương 9,79%.

Chính sách quan trọng tác động đến thị trường vàng trong nước năm 2010:

Trong năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra hàng loạt biện pháp để bình ổn thị trường vàng. Khởi đầu năm 2010 là thông tin mọi hoạt động sàn vàng, kinh doanh vàng trên tài khoản bị cấm, thời hạn sau đó đã được lùi đến ngày 30/03 và 31/07.

Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần cấp quota nhập khẩu vàng, các biện pháp lập tức phát huy tác dụng giúp bình ổn thị trường vàng, đưa giá vàng trong nước gần với giá thế giới.

Thời điểm 10 ngày đầu tháng 11/2010, Ngân hàng Nhà nước còn thực hiện bán can thiệp ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu nhập khẩu thiết yếu. Quyết định trên giúp bình ổn tỷ giá đôla trên thị trường tự do. Đặc biệt ở thời điểm cơn sốt vàng khoảng ngày 09/11, tỷ giá đôla Mỹ đến ngày 12/11 rơi xuống 21.100 đồng Việt Nam/USD từ mức 21.500 đồng Việt Nam vào ngày 09/11.

Chiều tối ngày 28/10, Ngân hàng Nhà nước còn ban hành Thông tư 22 quy định chặt chẽ hoạt động huy động và sử dụng vốn bằng vàng của các ngân hàng. Kể từ ngày 29-10, tổ chức tín dụng sẽ chỉ được phép huy động vốn bằng vàng thông qua phát hành giấy tờ có giá, thay vì hình thức phát hành sổ tiết kiệm vàng trước đây. Ngoài ra, ngân hàng sẽ chỉ được phép cho khách hàng vay vốn bằng vàng để sản xuất (chế tác) và kinh doanh vàng trang sức. Việc cho vay để sản xuất và kinh doanh vàng miếng hoàn toàn bị cấm.

Bộ Tài chính ngoài ra còn đưa ra 2 quyết định về thuế vàng. Từ ngày 12/11/2010, thuế nhập khẩu vàng giảm từ 1% xuống 0% còn từ đầu năm 2011 thuế xuất vàng từ 0% lên 10% (đối với một số loại mặt hàng nhất định).

Từ 1/1/2011, các loại vàng nguyên liệu, vàng trang sức có hàm lượng cao sẽ chịu thuế xuất khẩu 10% theo quy định do Bộ Tài chính vừa ban hành, thay cho mức 0% cũ.

Theo thông tư 184 từ Bộ Tài chính, các loại vàng nguyên liệu thuộc nhóm 8718 sẽ áp dụng thuế suất 10%, thấp hơn so với mức 20% trước đó mà cơ quan này đề xuất áp dụng. Các loại vàng trang sức khác có hàm lượng cao; vàng miếng vàng thỏi, vàng bột có hàm lượng dưới 99,99% cũng chịu thuế suất 10% so với mức 0% hiện hành.

Thị trường vàng sau các quyết định trên lập tức được bình ổn.

Khánh Ly
nguồn ở đây
——————————

Năm 2011, dự báo của các hãng địa ốc cho biết: năm 2011, các ngân hàng  Mỹ sẽ tịch thu nhà cửa nhiều hơn 2010.  Năm 2010, các ngân hàng đã tịch thu 1 triệu căn nhà.

Sau khi tịch thu nhà, các ngân hàng thường treo bảng trước căn nhà ấy và để cho các nhà địa ốc liên lạc với người mua, thường là họ bán đổ bán tháo căn nhà ấy để lấy lại tiền mặt. Giá trị căn nhà mua được theo lối nầy thường chỉ còn 60% hoặc 70% giá trị thật sự của căn nhà ấy trên thị trường vào ngay thời điểm đó.

Banks repossess 1 million homes in 2010

http://news.yahoo.com/s/ap/20110113/ap_on_bi_ge/us_foreclosure_rates

——————–
Nguyên nhân giá vàng gia tăng suốt từ đầu năm 2011 tới cuối năm là do các nước mua vàng vào để dự trữ, vì tiền đô và tiền Euro bị lạm phát, mất giá, và do stock gần như không ổn định.
Bài báo dưới đây nói về vàng thế giới 2011 và vàng Việt Nam 2012.
Thư mục các bài viết tác gia Jan Skoyles
http://therealasset.co.uk/author/jan-skoyles/

Central banks buy 571% more gold

Posted Feb 16 2012 by Jan Skoyles in ,

At The Real Asset Co we frequently discuss the factors which drive people to buy gold. Recently we have discussed the dangerous actions of central banks to devalue currencies which is driving more people to gold investment. Today the World Gold Council released their report ‘Gold demand trends: Full year 2011’.

The Real Asset Co take a look at the report which illustrates the pace at which people are turning to gold in response to the changing economic climate. Gold investment demand is expected to go from strength to strength in 2012. More individuals, along with central banks, are turning to gold as a hedge against inflation and currency devaluation.

2011 was a ‘tricky’ year for gold according to the WGC. During the year the yellow metal reached new highs of $1,895/oz but finished the year at $1,531/oz. Many speculators believed this was the end of gold’s 11-year bull-run. However the average price in 2011, of $1,571.52/oz was 28% higher than the equivalent in 2010. This doesn’t seem to be the end of the bull market to us.

The majority of gold investment was within physical bars and coins. The increased strength in gold demand appears to be due to uncertainty in the global markets, particularly as the two major reserve currencies are teetering dangerously at present.

Central Banks buy gold

Late in 2011 we wrote of Central Banks becoming net buyers of gold for the first time since the 1960s. 2011 proved to be a big investment year for the central banks who, along with official institutions, increased their purchases by 571%, from 77 tonnes in 2010 to 440 tonnes in 2011.

According to the WGC, ‘this activity reflected a continued desire among central banks to diversify their sizeable reserves in light of credit downgrades which have brought into question the safety of holding massive amounts of US dollar and euro-denominated reserves.’

In 2011, Mexico dominated the Central Bank purchases, buying 100 tonnes. This was closely followed by Russia. This is not surprising news. Earlier this month we discussed the increasing moves by countries to abandon the dollar for gold. Mexico’s proximity to the US may well have left it feeling vulnerable in the snowballing economic crisis. Whilst in Russia there are rumours of gold payments for oil, something which has been discussed for many years.

Gold Investment Demand

The World Gold Council looked at gold demand in three separate categories: Technology, jewellery and investment. Of the three, investment demand has seen the greatest increase in the last year. It reached a 14-year high in 2011. The other categories saw a decrease in demand; jewellery, for instance, saw a 15% year on year decline. However this huge increase in investment demand “helped to counterbalance declining demand in the jewellery and technology sectors.”

Annual demand for bars and coins in 2011 reached a record-high of 1,486.7 tonnes, 24% higher than in 2010. Physical bar demand saw a 29% increase compared to ETFs which saw a decrease of 58%. Perhaps the concerns about counterparties and ETFs are having an effect on market participants?

In regard to where this investment demand for bars and coins originates it appears to be a global movement. The WGC state that, during 2011 “net-investment demand was the result of a mixture of liquidity-driven selling and store of wealth buying and speculation on either side of the equation”.

The demand for bars and coins appears to be geographically widespread, with the exception of the US, Egypt and Japan reporting a decline in gold investment demand. A number of countries saw an ‘upsurge’ in physical bar demand in allocated accounts, particularly in Turkey and German speaking European markets.

China and the high gold price

China is set to usurp India as the world’s biggest buyer of gold in 2012. The Chinese seem to prefer to buy an ‘established rising trend,’ so when the price dropped slightly in Q4 of 2011, so did Chinese demand. However early reports show that it has picked up once again in 2012 as the gold price makes a speedy recovery.

Regardless of low buying levels in Q4 of 2011, the overall annual demand of 258.9 tonnes ‘eclipsed 2010 levels as the first 9 months of the year were dominated, ‘by rising gold prices, which in turn fuelled positive price expectations, high inflation, poor performance of alternative assets and an increased availability of gold retail investment products.’

Gold – the inflation hedge

Many countries’ gold buying activities are remarked upon in the report. However one which is particularly worth noting is Vietnam. Vietnam is a country which is frequently noted for its belief in gold, it acts as a third currency in the country preferred over both the dong and the US dollar. According to the WGC, the Vietnamese ‘continued to clamour for gold bars’ seeing a 50% increase in Q4 compared to the average for Q4 2008-2010.

This 30% increase to 87.3 tonnes in physical gold demand and gold investment in Vietnam, is fuelled by ‘persistent high inflation’.

The gold standard of a safe haven

Turkey also saw increased demand for gold bars, which they are increasingly choosing as ‘their investment vehicle of choice’. The World Gold Council states this is due to ‘Turkish investors who are increasingly troubled by the on-going crisis in the euro area’ therefore they are turning to gold for its ‘insurance properties’.

In Europe, the centre of much mistrust and insecurity, gold investment demand registered its 7th annual gain, reporting purchases of a record 374.8 tonnes. Germany accounted for the largest proportion of investment in the European region, something which we expected after last year’s reports. Demand reached record levels and was 26% above those in 2010.

The WGC report also made a point of shining a light on the ‘other Europe” category. These countries, ‘now account for a considerable proportion of investment in the region.’ Like the rest of Europe, a ‘substantial amount of this new demand has been generated by countries with previously no or very little interest in gold investment, including the UK and a number of Eastern Europe countries.’

Whilst there was far more discussion in the WGC report, we believe the most important points to come from the report are the one-way street which is gold investment. There is little disagreement as to why and how both individuals and governments decide to buy gold. They buy as an insurance against the toppling economy and they buy physical bars due to its distance from the banking system and it’s historically proven worth.

Posted in Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 1 Comment »

►Lạm Phát của Việt Nam từ 1980-2010 – Thống Kê của IMF

Posted by hoangtran204 on 12/01/2011

Cập nhật thêm 2 bài mới:

Lạm phát của VN từ 1990 tới 2012, tài liệu của ADB (Asia Development Bank

!

Các bài liên quan tới bài Lạm Phát của Việt Nam…

*Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước

Và năm nay, 2011, các nhà kinh tế viết trên tờ Tạp Chí Kinh Tế (The Economist) nổi tiếng toàn cầu đã hoàn toàn thất vọng  sau mấy thập niên VN đã và đang được điều hành bởi các  “đỉnh cao của trí tuệ”:

“Việt nam hiện bị thâm thủng ngoại tệ rất lớn và thiếu hụt tiền bạc trầm trọng, vì chính phủ chỉ dựa chủ yếu vào việc xuất khẩu các món hàng hóa có giá trị thấp như gạo, xuất khẩu dệt may, và hải sản đông lạnh”, những thiếu hụt ngoại tệ làm cho chính phủ in tiền khoảng 200 000 tỷ -300.000 đồng vào thị trường để mua  10 tỷ  đô la của Việt Kiều gởi về, và in tiền ra để trả lương cho cán bộ công chức quân đội,…đã làm tiền đồng VN mất giá.  Nạn lạm phát đã lên cao tới 11,8% năm ngoái, và làm cho tiền đồng càng giảm giá trị; một món hàng năm trước mua 20.000 đồng, thì năm nay giá món hàng ấy là 23.000- 32.000 đồng.

Trong 14 tháng vừa qua, chính phủ VN đã đánh sụt giá tiền đồng 3 lần. Vì thế nhiều người VN đã đổ xô nhau vội vã mua vàng và đô la vì họ không tin vào giá trị của tiền đồng nữa. Chính quyền VN lại hứa hẹn thay đổi tình thế. Nhưng việc chạy  đuổi theo để phát triển (kinh tế) 7% một năm mà không thay đổi thế chế thì sẽ còn gây ra nhiều khó khăn khác nữa…”

Theo bảng số liệu của IMF (ở cuối bài này), vào năm 1986 và 1987, mức lạm phát lên đến 453% và 360%. Nhiều nguồn tin gần đây của chính phủ VN cho biết là mức lạm phát của 1986 và 1987 lên đến 900%, chứ không phải 453% và 360% như số liệu của IMF công bố; số liệu 453% và 360% là do nhà cầm quyền VN báo cáo với IMF. Vì muốn mượn tiền của IMF nên VN phải thu nhỏ con số lại, và để cho khỏi mắc cở với giới kinh tế tài chánh; lâu nay, nhà cầm quyền VN vẫn tự ca ngợi là “các đỉnh cao của trí tuệ loài người”, là có tài lãnh đạo sáng suốt,…và vẫn kiên định tiến lên XHCN. Vào 23-10- 2013 ông TBT đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng băn khoăn nói: Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. (Dự thảo chưa vang vọng như lời hiệu triệu)

1976-1989: vì chính sách ngoại giao và kinh tế sai lầm (Rơi vào ván bài nước lớn, Việt Nam lỡ bước), đã đẩy cả nước ở bên lề nạn đói. Khắp nơi, dân chúng đã bắt đầu chống đối lại chính quyền. Vì nạn đói (giáp hạt) xảy ra hàng năm vào đợt cuối năm và vào khoảng tháng 2 và tháng 3 trong khi chờ vụ mùa, Nông dân ở huyện Quỳnh  Lưu,  Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tỉnh…đã đánh lại công an.

Cũng trong khoảng thời gian sau 1975, Trung Quốc đã tiến chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng  Sa và giúp Pôn Pốt đánh bộ đội VN đang chiếm đóng Kampuchea. Khi ấy, suốt thời gian dài từ 1979-1987, các nước phương Tây bảo: nếu  VN mở cửa để dân chúng VN đỡ khổ, thay đổi nền kinh tế tiến tới kinh tế thị trường, và rút bộ đội VN đang chiếm đóng  Kampuchea về nước, thì Mỹ và Âu Châu sẽ viện trợ, và sẽ bảo các nước  Thái, Đài Loan, Singapore đầu tư tiền bạc và mở hảng xưởng ở VN. Nhưng Lê Duẫn, Lê Đức Thọ…đã khăng khăng không chịu. (Vì bọn này đang say máu vơ vét vàng trong các đình chùa lăng tẩm của Kampuchea chở về VN. 16 tấn vàng của chính phủ VNCH cũng bị đảng viên cộng sản chia nhau nhưng đổ thừa cho ông TT Thiệu mang ra nước ngoài. Nhưng báo Tuổi Trẻ đã cho đăng bài phỏng vấn Ts Nguyễn Văn Hảo, và ông này thuật lại chuyện đã giao 16 tấn vàng cho đảng CSVN vào tháng 5-1975 “Ông cũng được biết đầu tháng 5-1975 ngoài Hà Nội đã cho riêng 1 chuyến chuyên cơ vào tiếp nhận hơn 16 tấn vàng và chở ra Hà Nội. Đầu tháng 5-1975 tôi cũng được tướng Đào Đình Luyện, chỉ huy không quân, cho biết nguyên một chuyến chuyên cơ IL 18 đã chở số vàng thu được từ Sài Gòn ra Hà Nội. Nhân ngày 30-4: Câu chuyện về 16 tấn vàng, đảng đút túi ...).

Sau 10 năm cứng đầu, không thi hành các đòi hỏi của các nước phương Tây và vì đang bận rộn chuyện cướp vàng trong các chùa chiền, nhà dân ở bên kampuchea, mặc cho bị cấm vận, không có ngoại tệ để mua xăng dầu, nên cả nước bị cúp điện 5-6 ngày mỗi tuần. Dân chúng không có thuốc men nên đảng chỉ đạo các bác sĩ dùng lá cây xuyên-tâm-liên để trị các bệnh nhiễm trùng. Lương thực thiếu trầm trọng vì chính sách nông nghiệp đi theo đường lối hợp tác xã (của Mác Lê Nin) là cướp đất của nông dân để  hoàn thành cái gọi  sở hữu quốc dân (tức là tất cả đất đai của cả nước do nhà nước sở hữu, làm chủ và quản lý), và ép nông dân miền Nam vào hợp tác xã nông nghiệp; nông dân đi làm ruộng của hợp tác xã, đến mùa thì được lãnh lúa về đủ ăn trong tháng ấy, tương tự  như 1 “công nhân” nông nghiệp.

Nông dân miền Nam quá tức giận vì sự ham hố quá độ của đảng, họ đã bỏ đất cho hợp tác xã muốn làm gì thì làm, riêng họ chỉ làm lúa đủ sống cho gia đình họ. Kết quả là cả nước ở bên lề nạn đói từ 1976-1988. Dân chúng ở 3 tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, và Hà Tỉnh nổi lên chống lại chính quyền địa phương vào các năm này.

Khi VN ở  vào thế cùng, cũng là lúc Lê Duẫn chết 1986.

Vào năm 1987, nhà cầm quyền VN trong cơn bỉ cực quá nên phải tuân theo các đòi hỏi của phương Tây (phải rút quân ra khỏi Kampuchea trước 1990, phải thả 300 000  sĩ quan VNCH và nhân viên hành chánh còn lại ra khỏi trại cải tạo và đồng ý để Mỹ cho họ đi định cư  kể từ 1990), thay đổi nền kinh tế quốc doanh thành kinh tế thị trường. Đây là thời gian nắm quyền của ông Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười.

Vì các biến đổi sâu rộng liên quan tới kinh tế nên học thuyết kinh tế tập trung của chủ nghĩa CS không còn được áp dụng nữa, và vì quá mắc cở với sự thay đổi nầy, không biết gọi tên nền kinh tế là gì, nên nhà cầm quyền Hà Nội  phải gọi chệch qua là “đổi mới”, và nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ra đời, giống như Trung Quốc đã gọi.

Cuối năm nay, 2010, theo báo cáo của VN, số ngoại tệ của  Việt Kiều gởi về cho người thân ở trong nước là 8 tỉ đô la. (Bổ sung: Cuối năm 2011, số ngoại tệ gởi về theo ngân hàng là 9 tỷ đô la. Cuối năm 2013, số ngoại tệ gởi về là 11 tỷ đô la; không tính tiền mà 500.000 Việt kiều bỏ túi cầm về VN để chi tiêu và giúp cho gia đình. Hiện nay, trung bình là 1 tỷ đô mỗi tháng.)

Tiền ngoại tệ do Việt kiều gởi về đã giúp cho đảng CSVN tồn tại, và thoát khỏi nạn lạm phát kể từ năm 1993.

Riêng việc bán dầu thô ngoài Biển Đông chắc sẽ không thu được 10 tỉ đô la như hồi năm 2008. (năm 2010-2011, Petrovietnam cho biết, tổng doanh thu số tiền bán dầu và khí đốt, cùng chế biến sản phẩm là 34-37 tỉ đô la mỗi năm, giá 1 thùng dầu thô hiện là 90-100 đô. Và mỗi ngày VN khai thác được 387.000 đến 430.000 thùng dầu và 9 tỷ mét khối khí đốt/ năm

Theo báo cáo ngày 20 tháng 1/2012  của Petrovietnam “Tổng doanh thu đạt 675,3 nghìn tỉ đồng, tăng 41,2% so với năm 2010.” Số tiền bán dầu và ga của năm 2011 tương đương 34 tỷ đô la.  Mời đọc bài Tăng Trưởng bằng tài nguyên Khoáng sản là Sai Lầm). Điểm đáng nói là VN nhập khẩu 70% số lượng xăng dầu tiêu dùng. (nguồn)

Việc bán than đá cho Trung Quốc trên 10-30 triệu tấn hàng năm trong suốt hơn mười mấy năm qua đã làm cạn kiệt các mỏ than ở VN. Vì thế hiện nay, VN đang dự tính đi mua lại than của các nước khác vào năm 2013. Giá bán 1 tấn than dao động từ 55-65 đô * Coi phần Phụ Lục ở cuối bài này.

Và mời các bạn đọc bài này để thấy đảng ta, “các đỉnh cao trí tuệ của loài người” ký kết hợp đồng mỏ than ra sao mà mới đây, báo chí phát hiện và kêu trời:

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 10/90

—-

Trích từ: http://www.economist.com/node/17859425?story_id=17859425

The country now also runs big trade and current-account deficits, as it relies too heavily on exporting low-value stuff like processed seafood and rice. These deficits, added to inflation, which rose to 11.8% last year, have put the currency under pressure. Three times in the past 14 months the government has been forced to devalue, hence the rush among Vietnamese to hoard dollars and gold as they lose faith in the dong. The government has pledged to improve all these gloomy figures. Yet chasing growth rates of 7% a year or more without commensurate structural change will only generate more

Vietnam Inflation average

The Average Inflation in Vietnam was reported at 6.72 percent change in 2009, according to the International Monetary Fund (IMF). In 2015, Vietnam’s Average Inflation is expected to be 5.00 percent change. Data for inflation are averages for the year; not end-of-period data. In 2009, Vietnam’s economy share of world total GDP, adjusted by Purchasing Power Parity, was 0.37 percent. In 2015, Vietnam’s share of world total GDP is forecasted to be 0.42 percent. This page includes a chart, historical data and forecast for Vietnam’s Average Inflation.

chú ý: 1980, lạm phát là 25,156% làm tròn số là 25,2%.

Năm 2011, lạm phát là 18, 12% , IMF dự đoán là 10,25%

1980      25.156 1988   374.354 1995     16.926 2002   4.079 2009     6.717
1981       69.6 1989     95.77 1996       5.593 2003   3.303 2010     12
1982      95.401 1990     36.031 1997       3.095 2004   7.895 2011     10.25
1983      49.487 1991      81.817 1998      8.11 2005    8.394 2012      6.5
1984      64.897 1992     37.705 1999      4.108 2006     7.503 2013       5
1985      91.602 1993       8.379 2000    -1.768 2007    8.349 2014       5
1986   453.538 1994       9.483 2001     -0.31 2008   23.115 2015       5
1987   360.357        

IMF Data Specifications

Country Vietnam
Subject Descriptor Inflation; average consumer prices
Subject Notes Data for inflation are averages for the year; not end-of-period data.
Units Percent change
Scale  
Country/Series-specific Notes See notes for: Inflation; average consumer prices (Index; 2000=100).
Estimates Start After 2009
Title Vietnam Inflation average
Keywords Vietnam Inflation average, Vietnam Inflation average data,Vietnam Inflation average chart,Vietnam Inflation average historical data,Vietnam Inflation average graph,Vietnam Inflation average forecast.

View More Indicators for VIETNAM |   View More Countries

*Chú ý: lạm phát của VN từ năm 2011-2015 là các con số của IMF, mức lạm phát thực sự như thế nào phải chờ tới các năm đó mới biết được.

Lạm phát của VN từ 1990 tới 2012, tài liệu của ADB (Asia Development Bank)

Mối Quan hệ Giữa Tăng trưởng Kinh tế, Thâm hụt Ngân Sách với Lạm Phát ở Việt Nam (29-5-2013)

———————————————–

Phụ Lục:

Nhập than

Sau nhiều năm ra sức đẩy mạnh xuất khẩu than với quy mô hàng chục triệu tấn/năm, vừa qua, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) đã quyết định thành lập tổ công tác về nhập khẩu than để tìm kiếm đối tác, xây dựng các phương án nhập than. TKV cũng mới soạn thảo xong đề án thành lập một ban chỉ đạo nhập khẩu than cho tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam.

Chuyện phải nhập than, ngay từ khi được lãnh đạo TKV công bố, đã khiến nhiều người phải ngỡ ngàng vì vẫn tưởng rằng, nước ta còn rất giàu vàng đen. Nhưng nay, chuyện nhập than đã là thực tế. Từ năm 2012 trở đi, hàng năm Việt Nam sẽ phải nhập than với số lượng rất lớn và với giá chắc chắn đắt hơn rất nhiều so với giá than đang được xuất khẩu.

Cái khó của kẻ đến sau

Theo đề án nhập than do TKV lập, nhu cầu tiêu thụ than chỉ riêng cho sản xuất điện theo quy hoạch điện VI là vô cùng lớn mà ngành than không còn khả năng đáp ứng đủ. Theo bảng cân đối cung cầu, đến năm 2012, than cho các dự án (nhiệt điện chạy than) đã xác nhận của TKV sẽ bị thiếu 8,2 triệu tấn; năm 2015 sẽ thiếu 12,8 triệu tấn. Số than thiếu này, đương nhiên phải nhập khẩu, nếu không hàng chục nhà máy nhiệt điện chạy than sẽ đắp chiếu. Nhưng không chỉ các nhà máy điện than thiếu than mà nhiều ngành khác cũng thiếu. TKV tính rằng việc nhập than phải thực hiện từ năm 2012, tăng dần đến 28 triệu tấn vào năm 2015, 66 triệu tấn vào năm 2020 và 126 triệu tấn vào năm 2025.

Nhưng nhập than có dễ không? Chính TKV cũng cho rằng không dễ. Bởi từ 2012 trở đi, tức từ thời điểm Việt Nam phải nhập than, TKV thừa nhận rằng than năng lượng sẽ trở nên khan hiếm. Thị phần nhập khẩu than năng lượng của các cường quốc xuất khẩu than như Úc, Indonesia chủ yếu đã do Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… nắm giữ nên Việt Nam sẽ rất khó đàm phán mua được than với số lượng lớn. “Việc xác định thời hạn hợp đồng dài hạn, cơ chế tính giá than theo thị trường, sự biến động của chi phí vận chuyển… là những khó khăn lớn khi tiến hành nhập khẩu than”, TKV nhận định.

Đáng lo hơn là cuộc cạnh tranh để nhập khẩu than ngày càng gay gắt. Chỉ xét ở châu Á, nhiều quốc gia đã lên kế hoạch lớn phát triển các nhà máy nhiệt điện chạy than nên nhu cầu nhập khẩu than rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc đã tăng quy mô phát điện bằng nguồn điện than lên 249.000MW giai đoạn 2008 – 2020; Ấn Độ nâng lên 77.000MW từ năm 2008 – 2017. Việt Nam tăng 116.000MW đến năm 2025. Các nhà hoạch định chính sách nhiều nước đã sớm thấy sự khan hiếm về than nên đã tranh thủ đàm phán, ký kết mua than dài hạn từ các nước giàu tài nguyên vàng đen. Đã sớm có làn sóng đầu tư của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Ấn Độ… vào các mỏ than của Úc, Indonesia, Nam Phi. Nhưng Việt Nam, đã không biết tiết kiệm tài nguyên, nay mới chuẩn bị gia nhập thị trường nhập khẩu thì những khó khăn để ký được các hợp đồng mua than dài hạn là vô cùng khó.

Theo một số chuyên gia thì để có thể nhập khẩu than ổn định và lâu dài, Việt Nam cần chọn phương thức mua mỏ (mua quyền khai thác) hoặc đầu tư, mua cổ phần mỏ than ở các nước. TKV cho rằng, đây là hình thức đầu tư mới với ngành than – khoáng sản nhưng cơ sở pháp lý, các văn bản hướng dẫn thực thi luật Đầu tư nước ngoài còn thiếu nên chưa có cơ sở để triển khai.

Một thách thức lớn nữa cho việc nhập than chính là các cảng biển, hệ thống kho bãi chứa và phân phối than nhập khẩu về cũng chưa sẵn sàng (trong khi Trung Quốc đã xây dựng được những mỏ than nhân tạo lớn để chứa than nhập khẩu từ Việt Nam sang). Người ta tính rằng, để phục vụ cho nhu cầu nhập than cho các nhà máy điện ở Việt Nam với số lượng đã dự kiến thì cần có cảng biển có khả năng cho tàu có kích cỡ Cape Sire (mớn nước sâu trên 20m) hoặc tối thiểu là cỡ tàu Panama max (trọng tải 70.000 tấn, mớn nước sâu trên 15m) đi vào được. Nhưng hiện nay, như ở các tỉnh phía Nam, chưa có cảng nào có khả năng tiếp nhận tàu đến cỡ Panama max. Chỉ có khu vực Sơn Dương/Vũng Áng hay Vân Phong là có mức nước sâu tự nhiên để tiếp nhận tàu trọng tải trên 100.000 DWT nhưng vấn đề là hiện nay còn chưa có cảng nước sâu nào được xây dựng.

Cái giá của việc xuất khẩu ồ ạt

Với những khó khăn lớn như vậy thì nếu không sớm có sự chuẩn bị, chắc chắn việc nhập khẩu than có muốn thực hiện sẽ rất khó khăn. Cho nên, TKV đã đưa ra đề án thành lập ban chỉ đạo nhập khẩu than cho riêng tổng sơ đồ phát triển điện VI (còn nhập than để luyện thép, thuỷ tinh, sản xuất hoá chất… thì chưa biết). Thành phần ban chỉ đạo dự kiến đề xuất gồm một Phó thủ tướng làm trưởng ban, phó trưởng ban là bộ trưởng bộ Công thương, các thành viên khác là thứ trưởng hoặc cấp tương đương ở một số bộ, ngành liên quan. Ban này sẽ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc nhập than; trực tiếp quyết định hoặc đề xuất với Thủ tướng về cơ chế, chính sách nhập khẩu than…

Chắc rằng, ban chỉ đạo về nhập khẩu than sẽ sớm được chính thức thành lập theo đề nghị của TKV. Nhưng với sự tham gia muộn màng vào đội ngũ các nước nhập khẩu, có thể hình dung việc nhập khẩu than từ năm 2012 là không hề dễ dàng. Và nếu than không nhập về kịp thời, đầy đủ, liệu sẽ có bao nhiêu nhà máy điện, nhà máy thép, nhà máy sản xuất kính… phải ngưng hoạt động?

Như vậy, đến lúc này có thể khẳng định, cái giá phải trả cho việc xuất khẩu than ồ ạt trong nhiều năm qua (hiện nay và năm 2010, 2011 còn tiếp diễn) là quá đắt. Nhưng cho đến hết năm 2009, TKV dự kiến cả năm vẫn xuất khẩu được độ 22,5 triệu tấn than. TKV cho rằng do tổng sản lượng than khai thác cả năm đạt khoảng 40 triệu tấn, tiêu dùng trong nước hết 19,5 triệu tấn, nên các doanh nghiệp mỏ phải tìm cách xuất khẩu phần còn lại đề bù cho việc bán than trong nước với giá thấp hơn giá xuất khẩu. Theo TKV, một khi giá than còn chậm “thị trường hoá” thì ngành than sẽ còn khó khăn về tài chính để đầu tư, thăm dò, khai thác mỏ… và như thế, “sự thiếu hụt than sẽ càng trở nên trầm trọng hơn”. Chính vì đến năm 2009, thậm chí sang năm 2010, 2011 TKV vẫn tích cực xuất khẩu than nên việc phải nhập than càng đến nhanh, cho dù sắp tới có thể phải khai thác một số mỏ hầm lò của bể than đồng bằng sông Hồng (được cho là có trữ lượng đến 210 tỉ tấn) ở khu vực Bình Minh – Khoái Châu (Hưng Yên) và Tiền Hải (Thái Bình).

Xin trích lại một đoạn trong một bài viết về vấn đề này của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc công ty Năng lượng sông Hồng, một công ty thành viên của TKV: “Nếu trong vòng 13 năm qua, thay vì tích cực xuất khẩu than, TKV đẩy mạnh đầu tư theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và chỉ tập trung tiềm lực đầu tư cho ngành than (thay vì đầu tư vào các lĩnh vực khác mà không có hiệu quả), thì nguy cơ phải nhập khẩu than của Việt Nam đã có thể được đẩy lùi hàng chục năm”.

Mạnh Quân

http://vn.360plus.yahoo.com/jw!pjXr6C6CGBYDG0ZN8yuMdVr.asmSfg–/article?mid=1731&fid=-1

nguồn: sgtt.com.vn

http://www.atpvietnam.com/vn/thongtinnganh/44470/index.aspx

*http://sct.quangninh.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=116&news_id=7967

—–

Xuất khẩu tài nguyên thô: Biết nguy, vẫn không dừng

Mặc dù đã có nhiều tiếng nói từ Quốc hội đề nghị hạn chế xuất khẩu khoáng sản, ngay cả Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tại kỳ họp Quốc hội cuối năm trước đã đề nghị “chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thô” nhưng từ tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho đến bộ Công thương gần đây vẫn dường như vẫn lao theo quán tính, thói quen cũ. Khoáng sản nhiều loại vẫn được xuất khẩu với số lượng lớn bất chấp thực tế chính nhiều loại khoáng sản đó đã dần trở nên khan hiếm với chính các doanh nghiệp cần dùng đến chúng ở trong nước.

Như SGTT đã đưa tin, từ cuối năm 2009, Bộ Công thương đã có văn bản đề nghị  Thủ tướng Chính phủ cho xuất khẩu thêm 400 ngàn tấn tinh quặng sắt, 84 ngàn tấn tinh quặng magnetit, 18 ngàn tấn mangan, 44 ngàn tấn kẽm…Cho đến đầu năm nay, riêng hậu quả của tình trạng xuất khẩu số lượng lớn các loại tinh quặng khoáng sản kéo dài trong nhiều năm đõ đã được thấy rõ. Theo ông Phạm Chí Cường,chủ tịch hiệp hội Thép Việt Nam, vừa qua, một số doanh nghiệp sản xuất thép, đang có các dự án luyện thép lò cao qui mô lớn đã đồng loạt gửi nhiều văn bản đến bộ Công thương, hiệp hội Thép bày tỏ ý kiến phản đối việc cho phép xuất khẩu quặng sắt và nhiều loại khoáng sản khác. Theo các doanh nghiệp này, số lượng tinh quặng sắt xuất khẩu năm 2009 thực tế nhiều hơn báo cáo của Tổng cục Hải quan 600 ngàn tấn. Theo số liệu của Hải quan Trung Quốc, lượng tinh quặng sắt nhập từ Việt Nam là 1,81 triệu tấn do họ thống kê cả số lượng hàng xuất theo đường tiểu ngạch, trốn thuế từ Việt Nam sang. Ông Cường cũng cho biết, về phía hiệp hội Thép Việt Nam cũng có môt văn bản đề nghị chấm dứt xuất khẩu quặng sắt để dành nguồn quặng này cho các nhà máy trong nước khai thác lâu dài.

Đại diện một doanh nghiệp sản xuất thép,  ông Huang Tony, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thép Đình Vũ cho biết, chỉ tính nhu cầu quặng sắt của 3 công ty sản xuất thép trong nước (có đơn kiến nghị) trong đó có công ty của ông thì mỗi năm, lượng tinh quặng thép cần là hơn 2 triệu tấn. Ông này cho rằng, nếu tình hình xuất khẩu quặng sắt vẫn tiếp tục thì nguy cơ các dự án luyện thép lò cao đã được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng sẽ phải đắp chiếu do không có nguyên liệu để hoạt động bởi việc nhập khẩu nguyên liệu ngày càng đắt đỏ, khó khăn.

Nhưng chưa dừng lại ở đấy, mới đây nhất, ngày 27.2, tổng công ty Khoáng sản Việt Nam (trực thuộc TKV_ lại có đề nghị cho xuất khẩu 20.000 tấn tinh quặng đồng quy khô với lý do là để ổn định tình hình tài chính, duy trì sản xuất của tổ hợp khai thác Sin Quyền (Lào Cai)…Sau đó, TKV lại có đề nghị lên bộ Công thương để bộ xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận đề nghị của tổng công ty Khoáng sản.

Nếu tiếp tục đà xuất khẩu này, có lẽ trong năm nay, lượng tinh quặng khoáng sản: đồng, sắt, kẽm, mangan…có thể vượt xa năm 2009. Theo số liệu của tổng cục Hải quan, không kể than, dầu mỏ, năm 2009, số lượng quặng và khoáng sản xuất khẩu lên tới 2,15 triệu tấn, đạt kim ngạch gần 135 triệu USD. Nước nhập khẩu nhiều nhất các nguồn quặng này của Việt Nam vẫn là Trung Quốc. Chỉ trong năm ngoái, Trung Quốc nhập 1,67 triệu tấn các loại trong đó có 1,2 triệu tấn tinh quặng sắt của Việt Nam với giá trị 103 triệu USD. 2 tháng đầu năm nay, theo số liệu của bộ Công thương, riêng xuất khẩu than đá, quặng và một số loại khoáng sản khác (chưa tính dầu thô) đã lên tới khoảng 2 triệu tấn trị giá 89 triệu USD.

Riêng nguồn khoáng sản được xuất khẩu lớn nhất trong nhiều năm qua là than thì năm nay có giảm xuống chút ít. Sau khi đã thực hiện xuất khẩu 24 triệu tấn than trong năm 2009, năm nay, TKV  đề nghị xuất khẩu thêm 18 triệu tấn nữa và dự tính tiếp tục giảm vào năm 2011 để đến năm 2013 và 2014 chỉ còn xuất khẩu 3-4 triệu tấn than/năm. Nhưng đáng nói, chính ông Trần Xuân Hoà, tại hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cuối tuần trước đã đề nghị Chính phủ cho phép ngay từ năm nay thí điểm việc nhập than cho một số hộ sản xuất trong nước bởi trong những năm tới, việc nhập khẩu than sẽ trở lên rất khó khăn. Biết trước việc nhập than (từ năm 2013) trở đi là rất lớn và  sẽ khó khăn như vậy mà TKV vẫn đề nghị và bộ Công thương vẫn cho phép thực hiện xuất khẩu than với số lượng còn lớn như vậy thì đây chỉ có thể hiểu là một việc làm cạn kiện tài nguyên, làm nghèo đất nước.

Còn nhớ, từ tháng 6.2008, bộ Công thương đã ban hành thông tư hướng dẫn số 08/2008/TT-BCT trong đó quy định rõ: kể từ 30.9.2008, khoáng sản khai thác được phải ưu tiên cho chế biến sâu trong nước; nếu xin phép xuất khẩu phải đạt tiêu chuẩn, hàm lượng chế biến cao. Nhưng với việc tiếp tục xem xét, kiến nghị Chính phủ chấp thuận các đề nghị cho xuất khẩu khoáng sản, tinh quặng như vậy rõ ràng bộ này đã làm trái với chính thông tư, quy định do ngành mình ban hành. Phải chăng vẫn đang có một sức ép lớn để đạt các chỉ tiêu tăng trưởng GDP, đạt thành tích xuất khẩu đã khiến bộ Công thương phải làm trái cả quy định của mình như vậy ? Còn nếu cứ viện những lý do cũ : do khai thác dư thừa, có trong nước chưa có cơ sở chế biến sâu, do thiếu vốn đầu tư…thì đó đều là những cách giải thích không hợp lẽ, khó thuyết phục.

Mạnh Quân

Nguồn Sgtt.com.vn

Báo: http://www.tinkinhte.com/cong-nghiep/mo-khai-khoang/xuat-khau-tai-nguyen-tho-biet-nguy-van-khong-dung.nd5-dt.87812.136143.html

Blog:  http://vn.360plus.yahoo.com/quan5791/article?mid=633

—————————————-

Congressional Research Service

http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL33534.pdf

Trang 12:  Figure 6. Average Monthly Wages for Selected Countries: 2000-2012

—————————————

Lạm Phát của Việt Nam thời 2006-2013:

 »

———————————–

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách với lạm phát ở Việt Nam

Thứ tư 29/05/2013 13:00

NGUYỄN THÀNH NAM

(Tài chính) Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng chậm lại (mức bình quân 8,2% giai đoạn 2004 – 2007, giảm xuống khoảng gần 6% giai đoạn 2008 – 2011), thâm hụt ngân sách lớn (khoảng trên 5% GDP) và tỷ lệ lạm phát tăng cao ở mức hai con số (bình quân khoảng gần 13% trong giai đoạn 2007 – 2012).

Xem xét các nguyên nhân dẫn đến những bất ổn này, chúng ta thấy rằng bên cạnh những tác động bên ngoài từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu bùng phát năm 2008; phải kể đến các nguyên nhân chủ quan như quản lý tài khóa chưa đạt hiệu quả cao, từ phương pháp tính toán, hạch toán ngân sách không theo thông lệ quốc tế, quá trình quản lý phân bổ các khoản chi tiêu công nhiều bất cập đến công tác huy động, gia tăng nguồn thu ngân sách chưa bền vững.Trước bối cảnh trên của nền kinh tế, trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ tổng hợp lại toàn bộ thực trạng tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ năm 1990 đến nay để đưa ra một góc nhìn toàn diện về tăng trưởng kinh tế, thâm hụt ngân sách trong mối quan hệ với lạm phát cả trên phương diện lý thuyết cũng như thực tế. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm giảm thâm hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.Tăng trưởng kinh tếNhững cải cách kinh tế quan trọng vào năm 1986 chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp Việt Nam đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, GDP thực tế Việt Nam tăng nhanh hơn các quốc gia khác với mức tăng trưởng trung bình giai đoạn 1990 – 2009 là 7,32% (Bảng 1).Vào những năm đầu thập kỷ 1990, kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng cao, đặc biệt những năm 1992 và 1997 gần 9%. Tuy nhiên, đà tăng trưởng chậm lại vào cuối thập kỷ này do những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Kết thúc năm 1999, tăng trưởng chỉ còn là 4,8% kèm theo hiện tượng giảm phát những năm sau đó. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng và kích thích mở rộng đầu tư từ năm 2000, đồng thời ký kết quan hệ trao đổi thương mại song phương Mỹ 7/2000. Kết quả là kinh tế đã phục hồi trên đà tăng trưởng cao, nhưng đi kèm là tỷ lệ lạm phát tăng lên. (Bảng 1)

Hơn nữa, sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) tháng 11/2006 đã mở đường cho sự tự do hóa thị trường lớn hơn và làm dấy lên làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, lượng ngoại tệ đầu tư trực tiếp, gián tiếp, vay nợ nước ngoài đã tăng đỉnh điểm gấp 13 lần năm 2000. Lúc này, để duy trì khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu, ổn định tương đối tỷ giá và hạn chế gia tăng nghĩa vụ nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp quy đổi bằng VND, Ngân hàng Nhà nước đã cung lượng tiền VND để mua một lượng ngoại tệ vào, gây áp lực lạm phát tăng cao ở mức 2 con số vào năm 2007 (12,6%) và năm 2008 (19,89%).

Thêm vào đó, khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào năm 2008 ảnh hưởng tới sự ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam, cụ thể là bội chi ngân sách lớn, nợ công tăng cao, thâm hụt cán cân vãng lai, tốc độ tăng trưởng chậm lại 6,78% năm 2010 và 5,9% năm 2011 mặc dù Chính phủ đã có những biện pháp kích cầu để thúc đẩy tăng trưởng, chống suy giảm kinh tế. Đồng thời với đó là lạm phát tăng cao, kết thúc năm 2010 và 2011, lạm phát lần lượt ở mức 11,75% và 18,58%.

Năm 2012, tăng trưởng kinh tế ở mức 5,03%, đã giảm khoảng 0,87% so với năm 2011. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ suy giảm tổng cầu do chính sách tiền tệ thắt chặt kiềm chế lạm phát của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2011, hàng tồn kho tăng cao đặc biệt là tồn kho bất động sản, nhiều doanh nghiệp phá sản (theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trên 50.000 doanh nghiệp phá sản từ đầu năm 2011 đến cuối quý I/2012), nhiều tập đoàn Nhà nước thua lỗ lớn tại Vinalines, Vinashin, EVN, Tổng công ty Xi măng Việt Nam Vicem, tập đoàn Sông Đà,…

Ngoài ra, do đà giảm kinh tế toàn cầu khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm xuống (thu hút đầu tư nước ngoài từ đầu năm 2012 đến ngày 20/4/2012 chỉ bằng 68,5% so với cùng kỳ năm trước, vốn thực hiện giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước), xuất khẩu Việt Nam cũng giảm mạnh do nhu cầu tiêu thụ của nước ngoài giảm, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô giảm 3,1%; cà phê giảm 7,9%; cao su giảm 8,3%; than đá giảm 12,2%; gạo giảm 27,8%…

Năm 2012, cũng là năm mà mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô được đặt lên hàng đầu. Theo đó, Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách; Ngân hàng Nhà nước thực hiện điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt và linh hoạt; Bộ Tài chính tiếp tục lộ trình quản lý, điều hành giá theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ giá độc quyền, chống bán phá giá, đảm bảo cân đối cung – cầu hàng hóa…

Kết thúc năm, chúng ta đã thành công khi giữ mức lạm phát ở mức một con số 6,81 %. Mặc dù mức tăng trưởng thấp, nhưng theo đánh giá của Tổng cục Thống kê trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát thì đây được xem là mức tăng hợp lý.

Mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Xem xét về mặt lý thuyết, lạm phát vừa có tác động tích cực và thiếu tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Một tỷ lệ lạm phát thấp có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng. Theo nghiên cứu của Tobin (1965), Mundell (1965) mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là tỷ lệ thuận. Các nghiên cứu này cũng trùng với quan điểm của trường phái Keynes và trường phái tiền tệ khi cho rằng trong ngắn hạn, các chính sách nhằm hỗ trợ tăng trưởng của Chính phủ sẻ làm gia tăng lạm phát.

Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động tiêu cực lên tăng trưởng. Lạm phát gây giảm sút tổng cầugia tăng thất nghiệp, nó gây ra sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội, làm thông tin trong nền kinh tế bị bóp méo, khiến các quyết định đầu tư, tiêu dùng, tiết kiệm trở nên khó khăn hơn; lạm phát được xem như một loại thuế đánh vào nền kinh tế.

Một số nghiên cúu của Rscher (1993), Barro (1995), Bruno và Easterly (1998) đều chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát mang dấu âm. Còn nghiên cứu của Khan và Senhadji (2001) ở 140 nuớc giai đoạn 1960 – 1998 đã tìm thấy “ngưỡng” lạm phát từ 11-12% đối với các nước đang phát triển và khoảng 1-3% đối với các nước công nghiệp. Nếu nền kính tế ở dưới ngưỡng này, mối quan hệ tăng trưởng – lạm phát mang dấu dương và ngược lại.

Thực tế ở Việt Nam, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng cũng phù hợp về mặt lý thuyết. Với mức lạm phát cao thì lạm phát tác động tiêu cực đến tăng trưởng (giai đoạn trước 1992). Còn nền kinh tế duy trì một tỷ lệ lạm phát thấp có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng (giai đoạn 1992 – 2007).

Có quan điểm cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng thì chấp nhận một tỷ lệ lạm phát cao. Khi nền kinh tế chưa đạt đến sản luợng tiềm năng, các chính sách thúc đẩy tổng cầu như gia tăng tiêu dùng, đẩy mạnh đầu tư trong khu vực công và khu vực tư nhân, khuyến khích xuất khẩu sẽ góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế và phải chấp nhận mặt bằng giá cả hàng hóa dịch vụ cao hơn.

Chính điều này làm cho các nhà hoạch định chính sách tin rằng lạm phát có lợi hơn là có hại cho nền kinh tế (đặc biệt tỷ lệ lạm phát ở mức một con số), đó là khi lạm phát tăng khiến các chủ thể giảm thói quen giữ tiền mặt, thay vào đó sẽ chi tiêu, đầu tư nhiều hơn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, hỗ trợ tăng truởng nhanh.

Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã đạt sản luợng tiềm năng, sự gia tăng tổng cầu sẽ chỉ làm giá tăng lên mà không làm tăng sản lượng nền kinh tế. Điều này bởi vì, tỷ lệ lạm phát cao làm đình trệ sản xuất thông qua kênh đầu tư, tín dụng, tiêu dùng, về phía người tiết kiệm không dám gửi tiền vì lãi suất thực âm, gửi tiền kỳ hạn càng dài càng lỗ. Về phía nguời đi vay phải chịu lãi suất cao, với chi phí vốn cao họ sẽ e ngại vay vốn, không có động lực để đầu tư, hay sản xuất kinh doanh. Kết quả là kênh tín dụng bị thu hẹp.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mức dư nợ tín dụng 10 tháng đầu năm 2008 chỉ tăng hơn 19,6%, thấp hơn mức tăng 37,73% so vớí cùng kỳ năm 2007, tỷ lệ lạm phát cao tháng 10/2008 là 22,14% cũng làm cho thu nhập của hộ gia đình giảm 22% so với cuối năm 2007. Thu nhập giảm dẫn tới tiêu dùng giảm đầu tư cũng giảm vì rủi ro cao tất yếu làm chậm tăng truởng kinh tếNhư vậy, quan điểm sử dụng lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có tác dụng giúp kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững (còn gọi là giải pháp tăng trưởng “bong bóng”), gây hậu quả tiêu cực đến đời sống dân cư, đặc biệt là tầng lớp thu nhập thấp.

Trong nhiều năm trở lại đây, lạm phát Việt Nam luôn ở mức cao, câu hỏi đặt ra là phải chăng sản lượng nền kinh tế đã vượt mức tiềm năng, nên các chính sách kích thích kinh tế của Chính phủ (gói kích cầu thứ nhất hỗ trợ lãi suất trị giá 1 tỷ USD và gói kích cầu 2 trị giá 8 tỷ USD nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế vào cuối năm 2008 – 2009) khiến lạm phát tăng mạnh trong khi sản lượng không đạt mục tiêu? Theo đánh giá của IMF (2006) thì kể từ năm 2005, kinh tế Việt Nam có dấu hiệu sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng (những năm trước đó, mối quan hệ này thể hiện không nhất quán và rõ nét).

Qua thực tế chứng minh rằng, Chính phủ muốn đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững bằng các gói kích thích kinh tế thì yêu cầu phải dựa trên nền tảng mức lạm phát thấp, giá trị đồng nội tệ ổn định. Thật vậy, khi lạm phát thấp các nhà đầu tư có thể dự tính được cơ hội đầu tư, mức rủi ro của dự án. Từ đó, có các quyết định đầu tư hiệu quả, còn nguời tiêu dùng có thể yên tâm chi tiêu, không lo ngại, cân nhắc mua các mặt hàng thay thế vì giá tăng, kỳ vọng lạm phát của dân chúng không xảy ra giúp kích thích tăng trưởng kinh tế. Vậy mức lạm phát thấp ở đây là bao nhiêu?

Hiện nayở các nước phát triển, lạm phát được chọn gần 2% là ngưỡng tối ưu cho tăng trưởng, còn theo nghiên cứu của IMF (2006) chỉ ra ngưỡng lạm phát tối ưu cho tăng trưởng ở các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam là 3,6%. Tuy nhiên, cần phải hiểu thêm rằng, lạm phát thấp và ổn định chỉ là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là các chính sách, chủ trương, định hướng của Chính phủ trong việc phát triển con người, nguồn lực tài nguyên, vốn, khoa học công nghệ…

Như vậy, xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát giai đoạn 1990 đến 2012 có thể thấy rằng kinh tế Việt Nam chứng kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại, đi kèm với tỷ tệ lạm phát tăng cao vào những năm đầu và những năm gần cuối của giai đoạn này.

Ngân sách Nhà nước

Ngân sách nhà nước (NSNN) luôn trong tình trạng thâm hụt ở mức cao. Nhìn lại giai đoạn trước năm 1986, thu không đủ cho chi ngân sách, mức chi tiêu Chính phủ chủ yếu nhờ vào viện trợ nước ngoài. Giai đoạn sau đó 1986 – 1990, Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã cắt dần viện trợ cho Việt Nam, bội chi Ngân sách càng trầm trọng, nguồn thu lúc này chủ yếu dựa vào vay nợ trong nước, ngoài nước và phát hành tiền. Đây cũng là nguyên nhân gây lạm phát cao thời kỳ này.

Bước sang giai đoạn 1991 – 1996, kinh tế đất nước có nhiều dấu hiệu tốt như siêu lạm phát được đẩy lùi nhờ Chính phủ thắt chặt chi tiêu cùng với thay đổi cơ cấu chi ngân sách, chi tập trung vào đúng đối tượng tạo hiệu quả phát triển kinh tế, nguồn thu đã đủ cho chi thường xuyên, thâm hụt ngân sách giai đoạn trước được bù đắp bằng vay nợ. Do vậy, thời kỳ này bội chi ngân sách đã giảm đáng kể, bội chi chỉ ở mức trung bình 2,56 % GDP trong khi giai đoạn 1985 – 1990 bội chi khoảng 7% GDP (Bảng 2)

Giai đoạn 1997 – 2001, nguồn thu NSNN đáp ứng cho cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Bội chi ở mức thấp trung bình 3,87% GDP từ năm 1996 – 2000, nợ công cũng giảm đáng kể do kết quả của cơ cấu lại các khoản nợ công qua câu lạc bộ Paris. Vào cuối những năm 1990, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế châu Á, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, tốc độ tăng đầu tư của Nhà nước giảm, hiện tượng thiểu phát xuất hiện vào năm 2000, 2001. Đây cũng là hai năm có tỷ lệ bội chi NSNN cao nhất chiếm gần 5% GDP, nhưng điều này được xem như một tín hiệu tốt trong bối cảnh nền kỉnh tế giảm phát, sản lượng chưa đạt đến sản lượng tiềm năng, các chính sách tăng chi tiêu của Chính phủ chẳng những sẽ không gây ra lạm phát, mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế những năm tiếp theo.

Giai đoạn từ năm 2002 đến nay, thu và chi ngân sách đều tăng mạnh, theo thống kê giai đoạn 2002 – 2009 tốc độ tăng thu hàng năm bình quân là 20%, tốc độ tăng chi bình quân là 20,2%. Bội chi NSNN ở mức trên dưới 5% GDP, tăng cao hơn so với các giai đoạn trước. Đây là kết quả của chính sách tài khóa nới lỏng theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, đặc biệt là năm 2009 với chính sách kích cầu nhằm hạn chế suy giảm kinh tế từ ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008, đã làm cho bội chi ở mức cao 6,9% GDP.

Những năm tiếp theo, Chính phủ nỗ lực trong việc tăng thu ngân sách, giảm bội chi, giảm nợ công. Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ được ban hành nhằm thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sách tài khóa cắt giảm chi tiêu công nhằm giảm bội chi và kiềm chế lạm phát. Nhờ đó, tình hình bội chi NSNN đã giảm chỉ còn 5,8% GDP năm 2010, 4,9% GDP năm 2011 và 4,8% GDP năm 2012 (Biểu đồ 2).

Mối quan hệ giữa bội chi Ngân sách nhà nước và lạm phát

Bội chi NSNN ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ, đều gây nên nguy cơ lạm phát tăng.

Thứ nhất, việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường sẽ gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh tế phải trải qua lạm phát cao và kéo dài như giai đoạn 1986 – 1990. Sự gia tăng cung tiền có thể không làm tăng lạm phát nếu nền kinh tế đang đà tăng trưởng, mức cầu tiền giao dịch tăng lên phù hợp với mức tăng của cung tiền. Tuy nhiên, trong trường hợp khu vực tư nhân đã thỏa mãn với lượng tiền họ đang nắm giữ (mức cầu tiền tương đối ổn định) thì sự gia tăng của cung tiền làm cho lãi suất thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng về hàng hóa dịch vụ, nhu cầu đầu tư sẽ tăng lên kéo theo sự tăng của tổng cầu nền kinh tế, mặt bằng giá cả sẽ tăng lên gây áp lực lạm phát. Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách tăng cung tiền là hiện tượng chính phủ đang thu “thuế lạm phát” từ những người đang nắm giữ tiền.

Thứ hai, bù đắp thâm hụt bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước ngoài, việc vay nợ trong nước bằng cách phát hành trái phiếu ra thị trường vốn, nếu việc phát hành diễn ra liên tục thì sẽ làm tăng lượng cầu quỹ cho vay, do dó, làm lãi suất thị trường tăng. Để giảm lãi suất, Ngân hàng Trung ương phải can thiệp bằng cách mua các trái phiếu đó, điều này làm tăng lượng tiền tệ gây lạm phát. Hay vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi ngân sách bằng ngoại tệ, lượng ngoại tệ phải đổi ra nội tệ để chi tiêu bằng cách bán cho Ngân hàng Trung ương, điều này làm tăng lượng tiền nội tệ trên thị trường tạo áp lực lên lạm phát. 

Thực tế những năm qua, thâm hụt ngân sách Việt Nam được tài trợ phần lớn bằng cách vay nợ thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ. Lượng trái phiếu này có thể được mua bởi Ngân hàng Nhà nước (hình thức cấp tín dụng trực tiếp cho Chính phủ) sẽ làm tăng lượng tiền cơ sở. Hoặc lượng trái phiếu được mua bởi các ngân hàng thương mại, sau đó các ngân hàng thương mại đem cầm cố chúng tại Ngân hàng Nhà nước thông qua nghiệp vụ thị trường mở hoặc nghiệp vụ tái cấp vốn (cấp tín dụng gián tiếp cho Chính phủ). Điều này cũng làm tăng lượng tiền cơ sở và tăng cung tiền gây lạm phát. Theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), khối lượng trái phiếu Chính phủ và Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đang lưu hành có giá trị lên tới 336.000 tỷ đồng, tương đương hơn 13% GDP danh nghĩa và gần 12% cung tiền M2 năm 2011. Ngoài ra, bên cạnh việc vay nợ trong nước, Việt Nam còn vay nợ nước ngoài để tài trợ thâm hụt, số tiền vay nợ nước ngoài chiếm 1/3 thâm hụt NSNN, tương đương 1,5 – 1,7% GDP. Đây chính là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm 2007 – 2008 và 2010 – 2011.

Một số gợi ý chính sách

Một , Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát đảm bảo an sinh xã hội, làm tiền đề đạt mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Qua những phân tích ở trên thấy rằng một mức lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế (giai đoạn trước năm 1992 và giai đoạn từ năm 2007 đến nay). Trong khi đó, nền kinh tế duy trì tỷ lệ lạm phát thấp sẽ giống như một “thứ dầu bôi trơn” hỗ trợ tăng trưởng (giai đoạn năm 1992 đến 2007). Nhưng cũng cần hiểu rằng, điều này không có nghĩa là kìm lạm phát xuống quá thấp, bởi hệ quả của các chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa thắt chặt quá mức là đầu tư nền kinh tế giảm, không khuyến khích doanh nghiệp mở rộng sản xuất tăng sản lượng, không kích thích tiêu dùng của dân cư…, dẫn đến tăng trưởng sẽ chậm lại.

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang nghiên cứu áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu. Đây là bước đi cần thiết nhằm kiềm chế lạm phát về mức một con số trong trung, dài hạn. Tuy nhiên, để cơ chế này được áp dụng một cách hiệu quả cần phải lưu ý một số vấn dề sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần tăng cường quyền hạn và tính độc lập hơn cho Ngân hàng Nhà nước trong việc xây dựng, thực thi, điều hành chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước sẽ thiết lập và tự chịu trách nhiệm về mức lạm phát mục tiêu trong trung hạn, chủ động sử dụng các công cụ chính sách để đạt được mục tiêu đó.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét đưa ra mức lạm phát mục tiêu trong ngắn hạn hàng năm. Việc thực hiện mức mục tiêu trong ngắn hạn sẽ tạo tiền đề để thành công chính sách lạm phát mục tiêu trong trung hạn. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng cần đưa ra “ngưỡng” lạm phát tối ưu cho kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp tỷ lệ lạm phát của Việt Nam ở dưới ngưỡng này, Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp để tăng lạm phát đạt xấp xĩ ngưỡng lạm phát mà không sợ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Còn nếu tỷ lệ lạm phát vượt ngưỡng này thì sẽ tác động tiêu cực (ảnh hưởng ngược chiều) đến tăng trưởng, Chính phủ phải tìm cách giảm lạm phát để hỗ trợ tăng trưởng. 

Hai , giảm thâm hụt ngân sách để kiềm chế lạm phát và duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô. Bởi lẽ, thâm hụt ngân sách tăng lên làm giảm tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. Đồng thời, ngân sách thâm hụt cao và kéo dài làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ, làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của ngưởi dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.

Do đó, thâm hụt ngân sách cao kéo dài sẽ đe dọa sự ổn định vĩ mô, gây lạm phát. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh điều này, thâm hụt ngân sách cao được bù đắp phát hành tiền và vay nợ khiến lạm phát tăng cao (giai đoạn trước năm 1990). Sau đó nhờ nỗ lực của Chính phủ trong việc thắt chặt chi tiêu đã góp phần kiềm chế lạm phát (giai đoạn 1991 – 2006), ngoại trừ giai đoạn 1999 – 2001 là thời kỳ kinh tế suy thoái, thậm chí thiểu phát nên mức bội chi NSNN hầu như không ảnh hưởng đến lạm phát, mà còn có tác động tích cực hỗ trợ kinh tế đi lên. Trong những năm gần đây, chính sách tài khóa nới lỏng kích cầu đầu tư khiến tỷ lệ bội chi hàng năm khoảng 5% GDP, sức ép tăng cung tiền vào lưu thông không nhỏ đã khiến lạm phát tăng cao trở lại (giai đoạn 2007 đến nay). 

Do vậy, kiểm soát bội chi ngân sách là điều hết sức cấp thiết. Liên quan đến vấn đề này cần thực hiện một số yêu cầu sau: 

Thứ nhất, phương pháp tính, hạch toán ngân sách phải được thực hiện công khai, minh bạch theo chuẩn mực quốc tế. Hiện nay, có nhiều khoản chi ngân sách từ nguồn trái phiếu Chính phủ tài trợ cho lĩnh vực y tế, giáo dục, các khoản cho vay, cho vay lại của Chính phủ… để ngoại bảng cân đối ngân sách, không tính đầy đủ vào thâm hụt ngân sách và nợ công như thông lệ quốc tế. Nhiều khoản chi vào những dự án lớn dài hạn được phân bổ dần vào quyết toán ngân sách trong nhiều năm thay vì tính cả vào năm trái phiếu được phát hành để vay nợ… Ngoài ra, sự không thống nhất trong cách hạch toán ngân sách khiến cho các con số thống kê không phản ảnh chính xác thực trạng nợ công của Việt Nam, gây nhiễu loạn thông tin cho các chủ thể nền kinh tế, và gây trở ngại cho việc so sánh, đánh giá, quản lý rủi ro nợ công giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Do vậy, Việt Nam phải có phương pháp tính đúng, đầy đủ ngân sách theo chuẩn quốc tế nhằm phản ánh chính xác tình trạng tài khóa, làm cơ sở cho sử dụng chính sách kinh tế vĩ mô hợp lý nhằm giảm bội chi và kiểm soát lạm phát.

Thứ hai, cắt giảm các khoản chi tiêu công chưa thật cần thiết và kém hiệu quả bằng cách đề ra các tiêu chí, tiêu chuẩn để cắt bỏ, đình hoãn những công trình đầu tư kém hiệu quả hoặc chưa khởi công. Tuy nhiên, cần phải có cách đánh giá toàn diện hiệu quả chi tiêu công theo các lĩnh vực khác nhau, không nên cắt giảm đồng loạt các chi tiêu theo một tỷ lệ cố định nào đó, thực hiện rà soát, đánh giá chuyển vốn từ các công trình chưa khởi công, khởi công chậm, thủ tục chưa hoàn thành sang các công trình cấp bách, hiệu quả kinh tế cao hoặc hướng tới các lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể tham gia cùng. Ngoài ra, các khoản chi tiêu thường xuyên cũng cần được tra soát lại tất cả các khâu hoạt động để tổ chức lại bộ máy cho hợp lý hơn, cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết.

Thứ ba, kiểm soát các khoản đầu tư công của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) bằng cách thành lập một Hội đồng thẩm định đầu tư của DNNN độc lập, nhiệm vụ của Hội đồng sẽ đánh giá, thẩm định toàn diện khách quan các dự án đầu tư của DNNN. Các kết luận của Hội đồng sau đó sẽ được công bố rộng rãi. Đồng thời, Hội đồng cũng đánh giá hiệu quả của DNNN theo các tiêu chí về lợi nhuận, công nghệ, tạo công ăn việc làm, đóng góp vào ngân sách… dựa trên nguyên tắc công khai, minh bạch các thông tin về hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, Chính phủ cần tiếp tục cổ phần hóa, tái cấu trúc các DNNN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn cho các doanh nghiệp tư nhân trên thị truờng.

Thứ tư, cải thiện nguồn thu ngân sách một cách bền vững hiệu quả. Hiện nay, theo lộ trình cam kết WTO Việt Nam phải cắt giảm thuế nhập khẩu với các nước trong khu vực và trên thế giới nên nguồn thu ngân sách tập trung chủ yếu vào thuế trong nước. Tuy nhiên, nếu tăng thuế để gia tăng nguồn thu sẽ không khuyến khích doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (nếu tăng thuế thu nhập doanh nghiệp) và không khuyến khích tiêu dùng của cá nhân hộ gia đình (nếu tăng thuế thu nhập cá nhân), làm giảm tổng cầu và tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, gánh nặng thuế cao sẽ khiến hệ thống thuế hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến tình trạng trốn thuế, phân bổ nguồn lực bị bóp méo. 

Vì vậy, để gia tăng nguồn thu cần việc thực hiện khâu cải cách hệ thống thuế, đặc biệt thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở các nền kinh tế phát triển đều lớn hơn 20%). Thực hiện đánh thuế vào một số nguồn thu nhập từ đầu tư như thuế thu nhập bất động sản, thuế thu nhập vàng, thuế thu nhập chứng khoán… Đây là những nguồn thu nhập lớn, sẽ góp phần tăng nguồn thu cho NSNN. Ngoài ra, muốn nguồn thu ngân sách tăng lên cần thực hiện triệt để nguồn thu, chống tình trạng trốn lậu thuế, tăng cường công tác kiểm tra nhằm chống và ngăn chặn hiện tượng khai báo thuế sai sự thật của các doanh nghiệp, cá nhân. 

Theo Tạp Chí Ngân hàng

http://www.tapchitaichinh.vn/Thi-truong-Gia-ca/Moi-quan-he-giua-tang-truong-kinh-te-tham-hut-ngan-sach-voi-lam-phat-o-Viet-Nam/25965.tctc

Posted in Lạm Phát - Vàng - Đôla, Tài Chánh-Thuế | 11 Comments »