Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Kiều Hối – Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng’ Category

►Ngân sách lấy gì nuôi đảng khi các mỏ dầu suy kiệt? (16/02/2018)

Posted by hoangtran204 trên 18/02/2018

 

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

►Làm sao để thu hút kiều hối nhiều hơn? (6-12-2017)

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2018

Ngân sách VN đã thâm thủng nặng nề 9-12 tỷ đôla mỗi năm trong 4 năm qua do tiền kiều hối đã giảm chỉ còn 1/2 hoặc 1/3 so với các năm trước đầy là 12 đến 13 tỷ mỗi năm.

 

Đọc tiếp »

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng | Leave a Comment »

►Bổ sung thêm nguồn thu ngân sách: Năm 2017, Nhà Nước đã đưa 134.751 lao động đi nước ngoài làm việc (23-1-2018)

Posted by hoangtran204 trên 01/02/2018

Cái mà nhà nước nhắm tới trong việc xuất khẩu công nhân ra nước ngoài là:

“người lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước tăng dần qua các năm,…”

Mỗi công nhân lao động ở nước ngoài trung bình gởi về nước 2000 đôla/ 1 năm. 

 

Đọc tiếp »

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►Việt Nam in tiền ồ ạt, ngân hàng phải cấp tốc thúc đẩy cho dân và doanh nghiệp mượn tiền?

Posted by hoangtran204 trên 18/09/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Kinh Te, Lạm Phát - Vàng - Đôla | Leave a Comment »

►Hiện có 40.000 lao động Việt Nam tại Hàn Quốc (26-8-2017)

Posted by hoangtran204 trên 01/09/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Cong Nhan Viet Nam, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►Thái Lan dừng áp dụng luật mới sau khi lao động Việt Nam, Campuchia ồ ạt hồi hương (17-7-2017)

Posted by hoangtran204 trên 17/07/2017

 

Đọc tiếp »

Posted in Cái giá của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”., Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Kinh Te, Luật Pháp, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►Đằng sau những đồng tiền gửi về quê của người Việt khi xuất khẩu lao động sang Nhật

Posted by hoangtran204 trên 06/11/2016

Đằng sau những đồng tiền gửi về quê của người Việt khi XKLĐ sang Nhật

Rất nhiều người chịu bỏ mấy năm sang Nhật làm xây dựng, đóng gói, chăn nuôi, điện tử,… để có một phần nhỏ gửi về gia đình. Có người đủ tiền trả nợ, có người sửa được nhà, mua luôn được đất,…nhưng đằng sau những đồng tiền ấy là:

 

Ảnh: Internet
Ảnh: Internet

 

Những nỗi cực khổ trước khi được sang Nhật

Đừng nói chi chuyện ăn ở khổ sở khi sang xứ lạ quê người mà trước đó, khoảng thời gian học ở Việt Nam thôi đã vất vả vô cùng.

Muốn được sang ấy phải phỏng vấn, phỏng vấn đạt thì mới đóng tiền rồi học. Học xong lại thi, thi đạt mới được sang Nhật.

Đọc tiếp »

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►Trung Quốc hoảng hốt với lời tiên tri bi quan của tỷ phú Mỹ George Soros

Posted by hoangtran204 trên 05/02/2016

 

Có vẻ như những dự đoán bi quan của tỷ phú George Soros về tương lai của kinh tế Trung Quốc đang dần trở thành sự thực. 

Nhà đầu cơ nổi tiếng thế giới này đã dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ có một cú hạ cánh cứng và không loại trừ khả năng rơi vào một cuộc khủng hoảng, mà chìa khóa chính là tỷ giá của đồng nhân dân tệ. 

Nhưng khi mà cả thế giới vẫn còn đang bán tín bán nghi trước nhận định này của Soros thì chính phủ Trung Quốc lại tự biến nó thành một câu chuyện ngày càng đáng tin, khi hàng loạt các tờ báo lớn như Tân hoa xã hay thời báo Hoàn cầu chỉ trích Soros âm mưu chống lại kinh tế Trung Quốc thông qua việc công kích đồng nhân dân tệ. 
Sự việc này đang cho thấy Trung Quốc đang thiếu tự tin hơn bao giờ hết về vận mệnh đồng nội tệ của mình, khi mà nước này đang nối gót Nga đối mặt với nguy cơ khủng hoảng.
Ở thời điểm hiện tại, nền kinh tế Trung Quốc đang có rất nhiều điểm tương đồng với kinh tế Nga cách đây hơn 1 năm, khi các lệnh trừng phạt kinh tế được các nước phương Tây đưa ra sau khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea hồi đầu năm 2014.
Các quan hệ kinh tế và thương mại giữa Nga và các nước phương Tây gồm Mỹ và EU nhanh chóng bị cắt đứt, dẫn đến việc các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút hết vốn khỏi thị trường Nga để chuyển về nước. 
Việc một lượng lớn USD bị rút khỏi thị trường trong một thời gian ngắn đẩy Nga rơi vào cảnh lạm phát phi mã, hệ thống kinh tế bị đình đốn do quan hệ kinh tế với Mỹ và EU bị đứt đoạn, tiêu dùng giảm sút và tăng trưởng thì rơi vào trì trệ.
Trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, chính phủ Nga còn tiếp tục đổ USD từ quỹ dự trữ ngoại tệ ra thị trường để bình ổn tỷ giá đồng Rup; nhưng khi mà đồng nội tệ này mất giá quá mạnh, có lúc sụt giảm lên đến hơn 50% so với đồng USD, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quỹ dự trữ ngoại tệ của Nga, thì Ngân hàng trung ương Nga không còn cách nào khác ngoài việc cưỡng bách tăng lãi suất lên mức rất cao để kiểm soát lạm phát, từ 10,5% lên 17%. Cuộc khủng hoảng kinh tế chấm dứt, nhưng cái giá mà Nga phải trả là suy giảm tăng trưởng lên đến 3,8% trong năm 2015, tức một năm sau khi tăng lãi suất.
Trung Quốc ở thời điểm hiện tại cũng đang trải qua tình trạng tương tự. Theo thống kê, hơn 1000 tỷ USD đã được các nhà đầu tư rút khỏi thị trường Trung Quốc trong năm 2015. Chủ yếu là do nền kinh tế nước này đã tăng trưởng chậm lại, tổng cầu thị trường nội địa giảm trong khi chi phí nhân công thì đã tăng lên quá cao, gấp khoảng 3 lần so với các nước láng giềng như Việt Nam hay Myanmar, khiến các nhà đầu tư rút vốn và tìm địa điểm đầu tư mới. 
Cùng với đó là việc ngày càng có nhiều người Trung Quốc chuyển tiền ra khỏi nước này vì nhiều lý do, từ lý do đầu tư kinh doanh ra nước ngoài cho đến chuyển tiền không lý do và bất hợp pháp. Thống kê chính thức thì có khoảng 61 tỷ USD được các công ty Trung Quốc bỏ ra để thực hiện các dự án đầu tư ở nước ngoài trong năm 2015, còn con số chuyển tiền bất hợp pháp của người dân thì không thể tính toán được. 
Việc một lượng quá lớn USD bốc hơi khỏi thị trường Trung Quốc chỉ trong vòng một năm đang đẩy nền kinh tế số hai thế giới lâm vào tình cảnh tương tự như Nga hồi cuối năm 2014. 
Áp lực tỷ giá đối với đồng nhân dân tệ thời điểm hiện tại đang lớn hơn bao giờ hết, khi nó liên tục mất giá kể từ khi được quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chọn vào giỏ tiền tệ dự trữ hồi tháng 12.2015. 
Tổng cộng đến giờ đồng tiền này đã mất giá hơn 5% kể từ giữa tháng 12, và đang được dự báo sẽ còn tiếp tục sụt giá trong thời gian tới. Điều này đang tạo ra tác động ngược vào thị trường chứng khoán (TTCK) nước này, khiến chỉ số CSI 300 liên tục sụt giảm kể từ những ngày đầu năm 2016.
Tình hình hiện tại căng thẳng đến mức, thống đốc ngân hàng trung ương Nhật Bản là ông Haruhiko Kuroda đã buộc phải lên tiếng cảnh báo Trung Quốc, cần phải tìm mọi biện pháp để kiểm soát dòng vốn. 
Một phần vì sự sa sút không phanh của nền kinh tế và TTCK Trung Quốc do sự tháo chạy của dòng vốn đang ảnh hưởng đến kinh tế và TTCK của Nhật Bản. Và gần nhất chính phủ Trung Quốc đã tung ra một gói các giải pháp nhằm kiểm soát dòng vốn trên thị trường, từ việc hạn chế người dân gửi ngoại tệ ra nước, cho đến các doanh nghiệp hạn chế mua hàng và nhập khẩu bằng đồng USD, tăng cường kiểm soát việc thanh toán qua thẻ UnionPay hay triệt phá các ngân hàng ngầm trong hệ thống tài chính. 
Ở thời điểm hiện tại, mỗi người dân Trung Quốc được phép mang khoảng 50.000 USD theo người ra nước ngoài, và theo tính toán thì chỉ cần khoảng 5% dân số nước này mang chừng đó tiền theo người ra nước ngoài là đủ để bào mòn toàn bộ quỹ dự trữ ngoại tệ hiện tại của Trung Quốc.
Tính đến hiện tại, những dự đoán bi quan của George Soros về tương lai kinh tế Trung Quốc đang ngày càng có vẻ là chính xác. Tốc độ bơm tiền vào nền kinh tế để duy trì sự ổn định của thị trường và ngăn chặn đà sụt giá của đồng nhân dân tệ của chính phủ Trung Quốc đang ngày càng gia tăng, với một mức lũy tiến đáng báo động. 
Cho đến giờ, ngân hàng trung ương Trung Quốc đã có tổng cộng 3 lần bơm tiền ra thị trường chỉ trong tháng 1.2016. Lần thứ nhất vào ngày 20.1 với con số khoảng 60 tỷ USD, lần thứ hai vào ngày 26.1 với mức 67 tỷ USD, và lần thứ ba vào ngày 28.1 với mức 52 tỷ USD
Lý do chính thức được Trung Quốc đưa ra là để giải quyết nhu cầu tiền mặt gia tăng đột biến trong dịp Tết nguyên đán ở nước này, nhưng lý do chủ yếu được dự đoán là để giải quyết áp lực liên quan đến tỷ giá đồng nhân dân tệ và sự ổn định của nền kinh tế.
Việc tăng tốc độ bơm tiền để ổn định thị trường đang cho thấy Trung Quốc đang chịu những sức ép rất lớn để ổn định thị trường, thậm chí vượt ra khỏi dự đoán của các nhà kinh tế. Theo dự đoán của các chuyên gia kinh tế, quỹ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc sẽ chỉ còn khoảng 3.000 tỷ USD vào cuối năm nay từ mức 3.300 tỷ USD hồi đầu năm, nghĩa là nước này sẽ chỉ phải chi khoảng 300 tỷ USD trong cả năm 2016 để ổn định kinh tế. Nhưng khi mà Bắc Kinh đã bơm tới quá nửa con số dự kiến cả năm đó chỉ trong vòng 1 tháng đầu năm, thì áp lực đó có lẽ là lớn hơn dự đoán rất nhiều.
Tình trạng này cũng tương tự như Nga trong giai đoạn đầu cuộc khủng hoảng, khi nước này liên tục bơm tiền từ quỹ dự trữ vào thị trường để ổn định tỷ giá đồng Rup, nhưng khi nó đe dọa bào mòn quỹ dự trữ đáng kể thì Nga buộc phải tăng lãi suất lên rất cao để kiềm chế, buộc phải chấp nhận hậu quả là suy giảm tăng trưởng kinh tế. 
Trung Quốc hiện nay cũng có thể rơi vào tình trạng tương tự. Sẽ không có chuyện nước này dùng hết 3.300 tỷ USD còn lại (đã sụt mất hơn 700 tỷ USD từ tháng 8.2015) để ổn định tỷ giá đồng nội tệ. Nếu đồng nhân dân tệ tiếp tục mất giá, sẽ đến lúc chính phủ nước này phải học theo cách của Nga là tăng lãi suất. Và điều này thì cũng đồng nghĩa với việc kinh tế Trung Quốc sẽ suy giảm nặng nề, giống như Nga. Có lẽ, cú hạ cánh cứng của Trung Quốc mà George Soros nói tới chính là kịch bản này.
——-

Nghìn tỷ USD chảy khỏi Trung Quốc qua đường ‘ngầm’

10-12-2015

Trong một thập kỷ qua, dòng vốn bất hợp pháp chảy khỏi Trung Quốc đã đạt mức khoảng 1,4 nghìn tỷ USD.

Bloomberg dẫn báo cáo do Global Financial Integrity (GFI) – một công ty có trụ sở ở Washington chuyên nghiên cứu về sự di chuyển của các dòng tiền xuyên biên giới – công bố ngày 9/12 nói rằng tiền “ngầm” ra khỏi Trung Quốc thông qua nhiều kênh khác nhau, bao gồm chứng từ giả mạo và các thỏa thuận thương mại bất hợp pháp

Báo cáo này cho hay, trong vòng 10 năm từ 2004-2013, đã có tổng cộng 7,8 nghìn tỷ USD tiền bất hợp pháp chảy khỏi các quốc gia đang phát triển, chủ yếu núp dưới bóng của các hóa đơn giả. Việc sử dụng hóa đơn giả đã trở thành một vấn nạn ở Trung Quốc, khiến Chính phủ nước này vào năm 2013 phải mở một chiến dịch để chống lại.

Cũng theo báo cáo của GFI, tiền từ Trung Quốc đã đẩy giá bất động sản nhiều nơi trên thế giới, từ Sydney tới Vancouver, tăng cao trong năm nay. Triển vọng mất giá của đồng Nhân dân tệ được dự báo sẽ thúc đẩy giới nhà giàu Trung Quốc chuyển tiền ra nước ngoài mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

Trong vòng 1 năm, tính đến tháng 3/2015, người Trung Quốc rót 30 tỷ USD vào thị trường địa ốc Mỹ, trở thành nhóm khách hàng ngoại quốc mua nhà nhiều nhất ở Mỹ. Giá trung bình mỗi căn nhà mà người Trung Quốc mua ở Mỹ là 832.000 USD.

Kể từ thời điểm Trung Quốc tuyên chiến với hoạt động chuyển tiền bất hợp pháp, hãng Tân Hoa xã bắt đầu nhắc nhiều đến những thuật ngữ tương đối mới trong lĩnh vực tài chính để nói về các giao dịch ngân hàng ngầm như “hàng rào kiểm toán” hay “găng tay trắng”.

Với chiêu “găng tay trắng”, chỉ tính một vụ việc đơn lẻ ở thành phố Kim Hoa, tỉnh Chiết Giang, miền Đông Trung Quốc cũng đã chiếm gần một nửa tổng lượng tiền giao dịch bất hợp pháp được phát hiện thời gian qua.

Trong đó 10 nhân viên ngân hàng thương mại ở địa phương này đã mở dịch vụ ngân hàng ngầm trá hình với vỏ bọc giao dịch trong lĩnh vực thương mại và vận tải với hàng chục công ty ở Hồng Kông, nhưng thực chất là chuyển tiền trái phép.

Cũng với chiêu đó, một băng nhóm tội phạm ở thủ phủ Ngân Xuyên, tỉnh Ninh Hạ đã lập 12 công ty kinh doanh “ma”, trong đó giả các dữ liệu xuất nhập khẩu để che đậy các khoản tiền giao dịch ra nước ngoài.

Theo quy định của Trung Quốc, công dân nước này chỉ được chuyển tối đa 50.000 USD ra nước ngoài mỗi người mỗi năm. Tuy vậy, để lách luật, giới nhà giàu Trung Quốc sử dụng 6 cách sau: nhờ tiệm đổi tiền ở Hồng Kông; mang theo séc của một ngân hàng “ngầm”; tập trung nhiều người để chuyển tiền; giấu tiền trong hành lý; vay tiền ở nước ngoài dựa trên tài khoản tiết kiệm ở Trung Quốc; dùng thẻ tín dụng hoặc thẻ ghi nợ để mua hàng, sau đó chuyển món hàng mua được thành tiền mặt.

Khi Trung Quốc cho phép cá nhân, tổ chức mở tài khoản ở khắp thế giới, sẽ khó phong tỏa hoặc phát hiện hiện tượng chuyển nhượng vốn bất hợp pháp, đặc biệt là quan tham chuyển tiền ra nước ngoài.

An Nhiên (Tổng hợp VnE/ĐVO)

Báo Đất Việt 

—–

500 tỷ USD đã tháo chạy khỏi Trung Quốc

20-10-2015

Financial Times

Dòng vốn chạy khỏi Trung Quốc 8 tháng đầu năm nay lên đến 500 tỷ USD, theo tính toán của Bộ Tài chính Mỹ.

Riêng tháng 8, dòng tiền rút khỏi nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đạt khoảng 200 tỷ USD khi Trung Quốc bắt đầu điều chỉnh tỷ giá với việc bất ngờ phá giá nhân dân tệ, theo số liệu trong báo cáo bán niên về tình hình kinh tế toàn cầu của Bộ Tài chính trình lên Quốc hội nước này

Cũng trong báo cáo, Bộ Tài chính Mỹ không còn đánh giá nhân dân tệ “bị định giá thấp hơn đáng kể so với giá trị thực”. Thay vào đó, Bộ này cho rằng đồng nội tệ của Trung Quốc “thấp hơn giá trị thực trong trung hạn”. Sự thay đổi này cho thấy sự chào đón “thận trọng” của Mỹ đối với những nỗ lực hỗ trợ nhân dân tệ của Trung Quốc trong những tháng gần đây kể từ khi nước này bất ngờ phá giá nhân dân tệ hôm 11/8.

Đây cũng là dấu hiệu cho thấy sự thừa nhận của Washington rằng nhân dân tệ sẽ mạnh lên trong dài hạn, nhưng trong ngắn hạn, đồng tiền này vẫn chịu áp lực giảm giá do nhiều yếu tố, kể cả dòng vốn rút khỏi Trung Quốc và các thị trường mới nổi khác.

Báo cáo cũng cho thấy, Ngân hàng trung ương Trung Quốc (PBOC) đã chi ra 230 tỷ USD chỉ trong 3 tháng – từ tháng 7 đến tháng 9 – để hỗ trợ nhân dân tệ.

Động thái này của PBOC một phần nhằm ngăn chặn tình trạng dòng vốn ồ ạt rút ra khỏi nước này. Trong 6 tháng đầu năm nay, lượng tiền bốc hơi khỏi Trung Quốc, không tính đầu tư trực tiếp nước ngoài, ước đạt 250 tỷ USD, tăng đột biến so với 26 tỷ USD cùng kỳ năm ngoái.

—-

Người Trung Quốc tìm cách chuyển tiền ra nước ngoài

27-10-2015

Trong quầy đồ ăn vặt nhỏ xíu dưới khu chung cư cũ kỹ, một người đàn ông trung niên đang loay hoay tìm cách chuyển 100.000 USD cho khách hàng.

Con số này lớn gấp đôi lượng tiền người Trung Quốc được phép chuyển ra nước ngoài mỗi năm. Các ngân hàng chính thức sẽ không nhận thực hiện việc này. Nhưng những người trung gian như ông Chen thì có thể, thông qua mạng lưới chuyển tiền và đổi tiền ngầm.

“Chẳng có việc gì là chắc chắn 100% cả. Nhưng thường thì việc càng khó, phí càng cao”, ông tiết lộ trên Wall Street Journal.

Khi thị trường chứng khoán lao dốc và kinh tế trong nước yếu đi, rất nhiều người Trung Quốc đang cố chuyển tiền ra nước ngoài. Chưa có số liệu chính thức theo dõi dòng tiền ngầm, nhưng quan chức ngân hàng trung ương (PBOC) cho rằng các ngân hàng ngầm mỗi năm xử lý tới 800 tỷ NDT (125 tỷ USD), và năm nay còn nhiều hơn.

Một dấu hiệu cho thấy hoạt động ngân hàng ngầm cao bất thường là sự sụt giảm trong dự trữ ngoại hối của Trung Quốc, cho thấy nhu cầu ngoại tệ mạnh đang rất lớn. Con số này đã giảm kỷ lục 93,9 tỷ USD hồi tháng 8 và 43 tỷ USD vào tháng 9, dù một phần mức giảm này là do PBOC bán ngoại tệ để hỗ trợ nội tệ.

nguoi-trung-quoc-tim-cach-chuyen-tien-ra-nuoc-ngoai

 Một người bị bắt vì chuyển lậu tiền từ Trung Quốc  qua Hồng Kông – ảnh Reuters

Núp bóng các cửa hàng tiện lợi và quán trà, những người trung gian như ông Chen cung cấp dịch vụ cho đủ kiểu khách hàng, từ các quan chức tham nhũng đến giới trung lưu Trung Quốc muốn mua nhà nước ngoài. Tất cả họ đều tin rằng tiền chuyển ra nước ngoài sẽ an toàn hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn. Tâm lý này càng trở nên phổ biến sau khi chứng khoán Trung Quốc lao dốc hồi quý III.

Jiang Jinjin – một nhân viên môi giới bất động sản cho biết cô đã xử lý gần 2.000 thương vụ mua nhà ở năm nay cho các gia đình Trung Quốc có con học đại học ở nước ngoài. “Tôi gần như chẳng thể ngủ được hè này. Có quá nhiều sinh viên muốn tìm nhà”, cô cho biết.

Nhiều khách hàng nhờ người thân và bạn bè vận chuyển tiền mặt qua những chuyến ra nước ngoài liên tục. Một số thì mở công ty tại Mỹ. Jiang cho biết công ty của cô phải kiểm tra cả nguồn gốc tiền dùng để mua nhà nữa.

Dòng tiền chảy khỏi quốc gia đã khiến các ngân hàng ngầm tại Trung Quốc lọt vào tầm ngắm của giới chức quản lý tài chính. Các quy định kiểm soát vốn được thắt chặt để ngăn dòng tiền ra nước ngoài, trong bối cảnh nước này khát đầu tư. Giới chức lo ngại nếu còn tiếp diễn, các nền kinh tế đang phát triển có thể lại gặp cú sốc như khủng hoảng tài chính châu Á 1997. Bên cạnh đó, quá nhiều tiền rời khỏi biên giới sẽ khiến nỗ lực kích thích kinh tế thông qua giảm lãi suất càng khó.

“Đây là dấu hiệu mất niềm tin vào triển vọng kinh tế Trung Quốc, và chắc chắn việc này sẽ khiến PBOC càng khó đạt mục tiêu cải tổ”, Julian Evans-Pritchard – nhà kinh tế học tại hãng nghiên cứu Capital Economics cho biết.

nguoi-trung-quoc-tim-cach-chuyen-tien-ra-nuoc-ngoai-1

Khu phố đi bộ Xixiang nổi tiếng với dịch vụ ngân hàng phi truyền thống. Ảnh: WSJ

Từ nhiều năm nay, hệ thống ngân hàng ngầm đã rất phát triển tại Shantou và Chaozhou – các thành phố ven biển khét tiếng với nạn buôn lậu, hàng giả, súng và ma túy. Phần lớn các hoạt động này đang chuyển dần về gần biên giới với Hong Kong và Macau (Trung Quốc) – những nơi có hệ thống tài chính cởi mở hơn. Một khi tiền từ Trung Quốc chuyển được sang Hong Kong, nó có thể đi bất kỳ nơi nào trên thế giới.

Thi thoảng, các khoản lớn được chia nhỏ để hợp pháp hóa, sau đó rời khỏi Trung Quốc qua hàng trăm tài khoản ngân hàng kiểm soát bởi những người trong hệ thống tài chính ngầm. Những tổ chức này có thể khớp một lượng tiền gửi bằng NDT trong nước với khoản tương đương bằng ngoại tệ, trả vào tài khoản của khách hàng ở nước ngoài. Mạng lưới không chính thức này cũng giúp công nhân Trung Quốc làm việc tại nước ngoài chuyển tiền về quê. Do không phải ai cũng có thể mở tài khoản ngân hàng.

Một dấu hiệu khác của việc hoạt động ngầm gia tăng là đầu tư vào bất động sản thương mại ở nước ngoài sắp tăng vượt năm ngoái (10,5 tỷ USD), theo hãng tư vấn bất động sản CBRE. Hồi tháng 8, Bộ An ninh Nội địa Trung Quốc cho biết họ đang mở chiến dịch truy quét ngân hàng ngầm.

Chiến dịch này phần nào có hiệu quả, nhất là tại khu phố đi bộ Xixiang ở Thâm Quyến. Hồi tháng 6, cảnh sát thành phố này đã bắt 31 người và phong toả hơn 1.000 tài khoản chứa 12 tỷ NDT.

Khi việc chuyển tiền trực tiếp đang bị rà soát kỹ, biện pháp khớp tiền lại được ưa chuộng. Khách hàng chỉ cần đưa tiền cho người môi giới, và một lượng tiền tương ứng sẽ xuất hiện ở Hong Kong, trừ phí khoảng 0,3%-3%. Như vậy, tiền không cần chuyển trực tiếp hay qua máy tính. Việc khớp tiền này được thực hiện trong mạng lưới, từ cả 2 bên, và được kiểm soát bởi ngân hàng ngầm.

Mạng lưới này tận dụng triệt để mối quan hệ trong gia đình và làng xóm, một nhà nghiên cứu tại PBOC cho biết. “Người ta tạo ra hàng trăm tài khoản bằng cách đến các ngôi làng để mua chứng minh thư từ những người nghèo”, ông cho biết. Trong một vụ lừa đảo tại Hong Kong, một người đàn ông tên Yang Sigai bị kết tội mở 3 tài khoản, thực hiện hơn 1.000 giao dịch với tổng giá trị lên tới 60 triệu USD.

Hệ thống ngân hàng ngầm gần ga tài hỏa Thâm Quyến giờ đã thận trọng hơn, nhưng vẫn chưa biến mất. Khi được hỏi về khả năng đưa 100.000 USD ra khỏi Trung Quốc, chủ một cửa hàng bán thuốc lá đã nói ngay là chuyển điện tử không thể được, và gợi ý chia nhỏ để nhờ người mang trực tiếp. “Chính sách năm nay thắt chặt rồi, nên rủi ro cũng cao lắm. Trừ khi anh có quen biết thôi”, người này kết luận. (Hà Thu)

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Kinh Te, Tài Chánh-Thuế, Trung Quốc | Leave a Comment »

►Cướp là kế sách cuối cùng để tồn tại

Posted by hoangtran204 trên 06/01/2016

FB Lê Đức Minh

5-1-2016

Liên Xô, Đông Đức …sụp một phần vì hết tiền. Nền kinh tế thật sự là phồn vinh giả tạo. Tiền thì không có mà bày đặt miễn phí y tế, miễn phí giáo dục, phúc lợi xã hội…và phải nuôi một bộ máy đảng và chính quyền toàn bọn vô tài bất tướng.

Khi biết mình sắp chết, chính quyền Đông Đức trong tuyệt vọng đã tìm cách tạo ra một nguồn thu nhập ngoại tệ để kéo dài sự sống của chế độ, chờ Marx, Lenin hiện hồn về cứu.

Và bao giờ cũng vậy bản chất của cộng sản là đi cướp. Ban đầu thì chủ trương cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Nhưng khi sắp chết thì giàu nghèo gì chúng cũng cướp …láng, để cứu chế độ.

Thế là cơ quan tình báo Đông Đức vạch một kế hoạch cướp chính người dân Đông Đức. Bọn tình báo nhà nghề này biết dân Đông Đức có rất nhiều đồ cổ từ trước chiến tranh.

Sau khi thu thập đủ tin tình báo, chúng tổ chức thành những nhóm nhỏ thình lình xuất hiện trước cửa nhà người dân với các án lệnh xét nhà vì tội …trốn thuế!

Chúng giải thích bấy lâu này những món đồ cổ tăng giá trên thị trường mà người có cổ vật không chịu đóng thuế tiền lời cho chính phủ (capital gain tax). Rõ ràng người dân làm gì có tiền đóng thuế. Thế là toàn bộ cổ vật trong nhà của dân chúng Đông Đức bị bọn tình báo tịch thu hết.

Bọn này thành lập một công ty buôn bán đồ cổ tại Đông Bá Linh rồi môi giới bán các cổ vật này cho giới sưu tầm giàu có phương Tây. Chúng bán tháo bán đổ khiến người sưu tầm phương Tây đã mua được vô số món hời.

Hiện nay chính phủ liên bang Đức phải dành ngân sách rồi tìm cách mua lại những cổ vật đã mất. Chưa biết bao giờ thì thu hồi hết được.

Bọn Đông Đức mà còn như thế thì cứ thử đoán đến đường cùng mấy anh cộng Annam mít sẽ hành động như thế nào.

Mấy ảnh ở Hà Nội biết trong dân hiện còn đến từ 400 đến 500 tấn vàng.

Liệu mà giữ của lẫn giữ mạng nghe bà con.

——-

►Ai có tiền đô la gởi ngân hàng nên chú ý: Sẽ có thay đổi lớn về chính sách ngoại tệ đầu năm 2016

+ gửi ngoại tệ vào ngân hàng có thể phải rút ra bằng tiền đồng.

+NHNN áp dụng mức lãi suất âm, nghĩa là người gửi ngoại tệ sẽ phải trả phí

+những ai giữ đô la Mỹ sẽ không yên vì không biết như thế nào, có thể lỗ vì lãi suất và cũng có thể lỗ tỉ giá trong ngày. 

“Nói nôm na:

1- Gửi USD lãi xuất 0% (đã thực hiện)

2- Gửi USD phải trả phí. (sắp thực hiện)
3- Gửi USD, lấy ra VNĐ.(sẽ thực hiện)

4- Gửi vàng SJC phải trả phí (đã áp dụng)
5- Bán vàng SJC 1 chữ, không thu vào (đang thực hiện)
6- Gửi vàng SJC lấy ra VNĐ (CHỈ CÒN LÀ THỜI GIAN.)”

Cướp vàng, nay cướp đô la vì nhà máy in tiền ở Hà Nội mới xây xong cuối năm 2014, đã và đang chạy hết công suất in tiền polymer ra từ nhiều tháng nay, và giờ  đây là lúc thu tiền đô vào.

———————————

Thống đốc Nguyễn Văn Bình: “Chúng ta tôn trọng quyền nắm giữ ngoại tệ của người dân, doanh nghiệp, nhưng trên lãnh thổ VN phải sử dụng VND. Bạn có nguồn thu ngoại tệ hợp pháp, nhưng nếu tiêu xài phải rút ra bằng đồng VND. Đó là lộ trình cuối cùng phải tiến tới.”

———

Kết hôn quá dễ, coi chừng thành “cường quốc” xuất khẩu cô dâu >>>

Đảng cấy người ra nước ngoài để sau này cô dâu gởi tiền đô về VN đây mà.

3-1-2016

 

TT – Luật hộ tịch mới có hiệu lực từ 1-1-2016 đã giao quyền giải quyết đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài về cho quận huyện và bỏ thủ tục phỏng vấn khi kết hôn.

Một thực tế mà xã hội ta hàng chục năm qua phải chứng kiến là vấn nạn kết hôn vì nhu cầu xuất ngoại, nhu cầu kinh tế; hoàn toàn vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình, vi phạm thuần phong mỹ tục, xâm hại nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm người phụ nữ.

Để ngăn chặn tình trạng này, cơ quan thẩm quyền đã có những nỗ lực đáng ghi nhận.

Quy định như phỏng vấn khi xin cấp chứng nhận độc thân, phỏng vấn trước khi cấp chứng nhận kết hôn cho cô dâu Việt và người nước ngoài cùng một số quy định khác tạo cơ sở cho cơ quan thẩm quyền bác hồ sơ đương sự, xử phạt hành chính hay xử lý hình sự các trường hợp vi phạm pháp luật hôn nhân đã tạo được sự răn đe trong cộng đồng, kéo giảm đáng kể vấn nạn này.

Luật hộ tịch mới có hiệu lực từ ngày 1-1-2016 giao quyền cho UBND quận huyện nhận hồ sơ và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho người nước ngoài trong điều kiện các quận huyện, đặc biệt là những vùng sâu vùng xa, nơi vấn nạn lấy chồng ngoại phổ biến thì thiếu nguồn lực chuyên môn (nhân viên thẩm định hồ sơ, phiên dịch…); sự kết nối với sở, ban ngành (để xác minh hồ sơ);

Không có các văn bản hướng dẫn và quy trình thẩm định (phỏng vấn đương sự) để xác định đâu là hôn nhân hợp pháp, đâu là hôn nhân vì động cơ khác mà cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận kết hôn.

Quy định trước đây như đương sự người nước ngoài phải cung cấp hồ sơ về nhân thân để cô dâu Việt xin cấp chứng nhận độc thân;

Khi nộp hồ sơ tại sở tư pháp thì có việc tham gia tư vấn của hội phụ nữ, việc tham gia phỏng vấn của các ban ngành do sở tư pháp chủ trì nhằm hạn chế các cuộc hôn nhân vi phạm pháp luật, theo quy định mới thì tất cả bị bãi bỏ.

Nghĩa là cánh cửa kết hôn có yếu tố nước ngoài đã được mở tung cho công dân những nước có nhu cầu nhập khẩu cô dâu từ Việt Nam.

Nếu chúng ta không có sự điều chỉnh kịp thời Luật hộ tịch mà theo đó cô dâu Việt Nam và người nước ngoài khi kết hôn chỉ cần nộp giấy chứng nhận độc thân và các bên chỉ cần chờ không quá 15 ngày thì được UBND quận huyện cấp giấy chứng nhận kết hôn thì sẽ biến Việt Nam thành một “cường quốc” xuất khẩu cô dâu.

Luật sư ĐÀO THỊ BÍCH LIÊN (Đoàn luật sư TP.HCM)

Posted in Cướp đất và chiếm đoạt tài sản của dân, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Lưu manh đỏ, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Để không còn là giấc mơ…

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2015

Blog RFA

Song Chi

10-11-2015

Khi xảy ra sự kiện Liên Xô và hàng loạt các nước XHCN Đông Âu cũ đổ sụp như những quân bài domino vào cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ XX, nhiều người Việt trong và ngoài nước hồi hộp mơ có một ngày như vậy sẽ đến với VN.

Hơn 20 năm sau, lại một hiệu ứng dây chuyền domino khác, cuộc “cách mạng hoa nhài” hay “cách mạng màu” lần này bắt đầu từ Tunisia rồi sau đó lan ra các nước Hồi giáo Ả rập ở Bắc Phi và Trung Đông, lật đổ hàng loạt chế độ độc tài tại các quốc gia này. Người Việt khi đó cũng mơ bao giờ cho đến VN.

Và bây giờ là Myanmar (Miến Điện). Sau hơn nửa thập kỷ nằm dưới một chế độ quân phiệt nổi tiếng độc tài, không khoan dung, với thành tích tệ hại về nhân quyền, đàn áp tự do, dân chủ, và sau 25 năm từng có một cuộc bầu cử tự do, người dân đã lại được đi bầu và thể hiện ý nguyện của mình. Đảng đối lập Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (National League for Democracy) của bà Aung San Suu Kyi đã thắng lớn, đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (Union Solitary Development Party), được quân đội hậu thuẫn, đã thừa nhận thất bại.

Hành trình thay đổi vể hướng tự do dân chủ một cách hòa bình này bắt đầu từ trước đó hơn 2 năm, bởi hai con người vĩ đại, Tổng thống đương quyền Thein Sein và lãnh tụ đảng NLD Aung San Suu Kyi.

Người Việt trong và ngoài nước lại nhìn sang Myanmar. Lại vẫn câu hỏi day dứt, lại vẫn giấc mơ cũ: Bao giờ cho đến VN?

Nhưng nếu chỉ mơ không thì chẳng thay đổi được gì. Vẫn còn có rất nhiều lý do làm nên sự khác biệt giữa tình trạng của VN và Myanmar, giữa việc tại sao VN chưa làm được như Myanmar dù cả hai đều là những quốc gia độc tài, đều nằm sát Trung Cộng, đều phải chịu đựng một mối quan hệ bất cân xứng, thiệt thòi và tiềm ẩn đầy rủi ro với Trung Cộng.

Có thể nói vắn tắt như thế này:
1. Dù Myanmar phải chịu đựng một chính quyền quân sự độc tài nhưng không phải do đảng cộng sản lãnh đạo, Myanmar không bị nhiễm độc bởi hệ thống tư tưởng Marxism-Leninism, lịch sử nhân loại cho đến giờ này đã cho thấy chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản là hai học thuyết có tác hại lớn nhất mà con người nghĩ ra, và những chế độ được hình thành, xây dựng từ hai học thuyết này là những chế độ tồi tệ nhất cho đất nước, dân tộc đó.

2. Myanmar dù độc tài nhưng các đảng phái chính trị đối lập vẫn có thể ra đời và hoạt động trong một chừng mực nào đó, dù gặp vô vàn khó khăn và bị đàn áp. Từ đó những nhân vật như bà Aung San Suu Kyi đã có cơ hội hoạt động chính trị, cọ xát với thực tế, tiếp xúc với nhân dân và trưởng thành. Ngược lại, trong một môi trường hoàn toàn không có chỗ cho bất cứ một đảng phái chính trị đối lập nào, mọi khuôn mặt bất đồng chính kiến hay chính trị gia có chút tiềm năng đều bị “tiêu diệt” cách này cách khác, mọi hoạt động có tính chính trị dù ôn hòa nhất đều bị ngăn chặn từ trong trứng nước thì làm thế nào mà phong trào dân chủ có thể lớn mạnh nổi và những con người có khả năng có thể xuất hiện?

3. Đảng cộng sản như lời Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, là “một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo” (nhân dịp khánh thành đập Đồng Cam, Tuy Hòa 17.9.1955). Chế độ quân phiệt ở Myanmar dù sao đi nữa, cuối cùng đã chọn đặt quyền lợi của Tổ quốc, nhân dân lên trên quyền lợi của đảng cầm quyền. Nhưng còn đảng cộng sản, dù là đảng cộng sản Bắc Hàn, Trung Quốc hay VN thì luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên tất cả và nhất định nắm quyền đến cùng.

4. Khác với xã hội Myanmar nơi Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống, hướng dẫn con người biết sống cho tử tế, thiện lương, biết sợ nhân quả, chủ nghĩa cộng sản và đảng cộng sản đã phá nát xã hội VN, từ cấu trúc xã hội, hình thái gia đình, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, đạo đức, lương tri của con người… đều bị hủy hoại. Con người trở nên thờ ơ với chính trị, vô cảm với vận mệnh của đất nước, không quan tâm đến những khát vọng về tự do dân chủ, chỉ quan tâm đến đời sống vật chất, đến những lợi ích của bản thân và gia đình, mặc kệ đảng cộng sản đưa đất nước này, dân tộc này đi về đâu.

Còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng chỉ trong 4 nguyên nhân trên, thì ngoài cái “tội” của chủ nghĩa cộng sản, của hệ thống sai lầm, yếu tố con người vô cùng quan trọng. Chúng ta có thể chưa có một Aung San Suu Kyi, cũng chưa nhìn thấy bất cứ ai sẽ là Gorbachev hay Thein Sein trong những nhân vật chính khách thuộc bộ máy đảng và nhà nước cộng sản VN, nhưng ngay trong từng người dân VN, nếu nhu cầu về tự do dân chủ chưa thật bức thiết; hay đứng trước thực tế một Việt Nam lạc hậu, thua kém bao nhiêu nước khác và khoảng cách ngày càng rộng hơn, một hình ảnh VN trong mắt bạn bè quốc tế gắn liền với nhiều tiêu cực hơn tích cực, người Việt ra ngoài đi đâu cũng thấy nước mình, dân mình chịu thiệt thòi hơn nước người ta, dân người ta, nếu cái thực tế ấy vẫn chưa đủ để tạo nên nỗi đau nỗi nhục lớn trong mỗi người, từ đó bùng lên thành khát vọng mãnh liệt muốn thay đổi thể chế chính trị để con cháu sau này có thể sống tốt đẹp hơn, sống đúng là con người hơn…thì đó chỉ có thể là lỗi của chúng ta.

Chiến thắng của người dân Myanmar hôm nay đã phải đổi bằng máu, bằng cái chết của hàng ngàn người và hàng ngàn người khác bị cầm tù, còn người Việt có chịu trả giá như vậy? Và nếu người Việt trong nước chấp nhận xuống đường, gây sức ép với nhà cầm quyền đòi thay đổi, người Việt ở nước ngoài có đồng lòng hỗ trợ như người Ba Lan ở nước ngoài đã dồn tiền, dồn sức cho phong trào đấu tranh của Công đoàn Đoàn Kết đi đến thắng lợi?

Một ví dụ nhỏ, họ Tập sang thăm VN hứa Trung Quốc sẽ viện trợ cho VN một tỷ nhân dân tệ trong 5 năm. Nói như nhà báo Lê Đức Dục:

“1 tỷ nhân dân tệ quy đổi theo tỷ giá USD hiện nay sẽ bằng 154 triệu USD.
154 triệu USD lớn hay nhỏ?
Không nhỏ, nhưng cũng có thể là …rất nhỏ!
Ngoại hối của người Việt gửi về VN trong năm nay dự kiến là 15 tỷ USD, những năm trước bình quân là 12-14 tỷ USD,
15 tỷ USD chia cho 365 ngày, mỗi ngày người Việt gửi về nước 41 triệu USD
số tiền 154 triệu USD Tập ban ơn mưa móc ấy chưa bằng tiền Việt kiều gửi về nước trong 4 ngày
 (facebook Le Duc Duc).

Trong nhiều năm qua, người Việt ở nước ngoài chăm chỉ làm việc, gửi tiền về giúp thân nhân, làm từ thiện, đầu tư kinh doanh rồi lại thường xuyên đi về thăm quê hương, chi tiêu…Số kiều hối này cứ mỗi năm mỗi tăng, góp phần nuôi sống chế độ cộng sản dài dài. Biết rằng người Việt nặng tình với gia đình nhưng nếu mỗi người Việt ở bên ngoài chỉ cần hy sinh không gửi tiền về nước một thời gian mà dành tiền đó cho phong trào dân chủ, giúp người trong nước khi họ chấp nhận xuống đường, chấp nhận trả giá thì (đại cuộc) mới có thể thành công.

Tuy nhiên, với một quốc gia đã sống quá lâu dưới một chế độ độc tài lại do một đảng cộng sản cầm quyền như VN, mọi sự thay đổi tức thì, đột ngột, từ dưới lên sẽ dẫn đến hỗn loạn và dân chủ thực sự rất khó trở thành hiện thực. Phải có sự phối hợp thay đổi từ cả trên xuống và từ dưới lên, như Myanmar, chính phủ của Tổng thống Thein Sein đã có những bước đi cải cách chính trị, nới lỏng tự do dân chủ trong 2, 3 năm qua, góp phần vào cuộc bầu cử lịch sử của dân Myanmar ngày hôm nay.

Con đường này cũng có thể gọi là tốt đẹp nhất cho đảng cộng sản VN. Thay đổi theo chiều hướng này, chỉ trừ một thiểu số phạm tội phản quốc, bán nước hay tội ác diệt chủng cần phải trả lời trước nhân dân, trước lịch sử, còn lại những người đã từng cộng tác, làm việc cho đảng và nhà nước cộng sản từ trên xuống dưới không những giữ được sinh mạng, tài sản mà nếu có thực tâm thực tài, họ vẫn có thể tiếp tục làm việc với chế độ mới, góp phần xây dựng lại đất nước.

Chỉ có bằng cách thay đổi trong hòa bình, hòa giải hòa hợp, nhưng là một sự thay đổi triệt để, không nửa vời, bắt nguồn từ khát vọng xây dựng lại một đất nước VN tự do dân chủ hùng cường, sánh vai với các nước, người dân VN được sống trong một xã hội ngàn lần tốt đẹp hơn, mới có thể giúp cho đất nước này, dân tộc này thoát khỏi số phận nghiệt ngã cay đắng suốt nhiều thập kỷ qua. Và chỉ có như thế, từ người trong nước cho tới ngoài nước, người từng có liên quan đến chế độ VNCH cũ hay từng làm việc cho chế độ cộng sản mới có thể dốc lòng dốc sức kiến thiết lại quê hương. Và biết đâu lúc đó thế giới lại chứng kiến một dòng thác lũ người Việt tử các nước trở về lại VN, như đã từng chứng kiến một dòng lũ theo chiều ngược lại sau khi VN thống nhất, và cho tới tận bây giờ xu hướng đó vẫn đang diễn ra.

Lịch sử VN đã trải qua quá nhiều bi kịch. Dân tộc này đã quá chậm, quá thua thiệt, dân tộc này lẽ ra phải tỉnh thức mạnh mẽ hơn bất cứ dân nào khác.

Posted in Ở Miến Điện, Chinh Tri Xa Hoi, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Thời Sự, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Góp ý: ‘Chúng ta có thể làm gì cho đất nước?’

Posted by hoangtran204 trên 06/11/2015

BBC

6-11-2015

Người biểu tình hô khẩu hiệu ‘Tự do cho Việt Nam’ bên ngoài Nhà Trắng ở Washington trong lúc Tổng thống Obama tiếp Tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, ngày 7/7/2015.

Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc vừa có bài viết trên VOA «Chúng ta có thể làm gì cho đất nước?». Một bài viết đặt vấn đề rất đúng lúc, khi trong nước đang nảy nở một lọat tổ chức xã hội dân sự khá năng động, cùng xuất hiện một loạt mạng thông tin tự do, trong đó đáng kể là Văn đoàn độc lập Việt Nam» và «Hội nhà báo độc lập Việt Nam với Thời báo Việt Nam được nhiều người trong và ngoài nuớc tìm đọc mỗi ngày. Hàng loạt nhà văn, nhà thơ có tài năng, uy tín, được xã hội công nhận, quý mến và một số nhà báo trọng sự thật, yêu tư do đã công khai trả lại thẻ nhà báo và thẻ hội viên Hội nhà văn Việt Nam, chào vĩnh biệt 2 tổ chức mang chức năng phụng sự một chính đảng, quay lưng lại với sự thật và nhân dân. Khá nhiều mạng thông tin tự do thuộc lề trái đang đóng vai trò «điền thế», thay thế cho Thông Tấn Xã Việt Nam, báo Nhân Dân, báo Quân đội Nhân dân là cơ quan ngôn luận chính thức của đảng CS chuyên phục vụ cho chế độ độc đoán phản nhân dân, để mang lại cho đồng bào thức ăn tinh thần trong lành chân thực hàng ngày.

Không có gì đáng vui hơn là anh chị trong nước cho biết đã chừng 2 năm nay, đông đảo trí thức, thanh niên, cả cán bộ, viên chức đảng viên CS, mở máy vi tính là tìm đọc mê say các mạng tự do lề trái, như Thời báo Việt Nam, Đàn Chim Việt, Dân làm báo, Dân Luận, Đối thoại, Anh Ba Sàm, Diễn Đàn… cũng như các báo Thông Luận, Người Việt…ở hải ngoại. Báo nhà nước, báo đảng bị lép vế trước công luận khát khao sự thật.

Cho nên anh Nguyễn Hưng Quốc đã đặt vấn đề rất đúng lúc. Phong trào lớn mạnh từ từ mà vững chắc ở trong nước hơn bao giờ hết đang cần sự tiếp sức mạnh mẽ của hơn 3 triệu bà con ruột thịt ở hải ngoại rải ra trên một trăm nước. Bài viết của anh Quốc chỉ ra rất đúng những điều bà con ở nước ngoài có thể làm cho quê hương, đất nước thân yêu, cũng đoán trúng yêu cầu cháy bỏng của anh chị em trong nước.

Đó là trên mặt trận truyền thông, anh chị em ở hải ngoại đã viết và gửi về nước, giới thiệu những lý luận, kinh nghiệm đấu tranh của bản thân và của các nước đã thoát khỏi quốc nạn CS và kinh nghiệm xây dựng nền dân chủ mới mẻ. Anh chị em ở hải ngoại đã tích cực bền bỉ vận động các chính quyền, cơ quan dân cử, hội đoàn các nước sở tại hiểu rõ tình hình Việt Nam và yểm trợ cho phong trào trong nước có hiệu quả thiết thực. Bà con ta ở hải ngoại cũng đã góp phần không nhỏ cưu mang lẫn nhau, cứu vớt nạn nhân trên biển, còn góp tiền cho việc trùng tu các nghĩa trang, cứu giúp, hỗ trợ, mua xe lăn cho anh em thương binh Việt Nam Cộng hòa… Nhiều nhân tài xuất sắc Việt Nam xuất hiện trong cộng đồng, nhiều học sinh sinh viên học giỏi, thành những nhà nghiên cứu, giáo sư, bác sỹ, nhà phát minh, sỹ quan cao cấp, là dân biểu, nghị sỹ , làm vẻ vang cho dân Việt, sau này sẽ tham gia đắc lực vào công cuộc xây dựng đất nước.

Nhưng tôi thiển nghĩ anh Nguyễn Hưng Quốc đã bỏ qua hay quên đi một lĩnh vực yểm trợ tối cần thiết cho phong trào yêu nước, đòi nhân quyền, công bằng và dân chủ trong nước. Đó là tiền, vâng tiền, ngân quỹ yểm trợ rất cần thiết cho phong trào.

Xin thưa với anh Quốc và bà con hải ngoại, chúng tôi có liên lạc chặt chẽ thường xuyên với anh chị em trong nước. Chúng tôi suốt 20 năm qua, rất quan tâm đóng góp, thu góp ít tiền cho những anh chị em bị tù đầy, ốm đau, cô đơn, cho phong trào lao động đòi quyền công đoàn, dạy tiếng Anh, tiếng Pháp cho vài em có triển vọng hoạt động đối ngoại.

Thế nhưng tất cả đều ít ỏi quá, ba cọc ba đồng, mới như muối bỏ biển, kiểu ky cóp của nông dân nghèo, có hiệu quả chút ít, nhưng còn rất xa so với yêu cầu của cuộc đấu tranh đang mở rộng.

Nhìn lại chúng tôi còn có tư duy tiểu nông, tầm nhìn hẹp, nông cạn, lại vướng phải cái tư duy lẩm cẩm có thể gọi là bệnh quân tử Tàu, coi khinh tiền nong, xa lánh tiền bạc, sống theo kiểu bần Nho thanh bạch nhưng thanh tao của người quân tử.

Chúng tôi nghĩ tiền góp cho phong trào cứu nước là tiền cao quý, rất cần. Chúng tôi đã gặp ở Berlin một nhóm anh chị Do Thái và ở Varsawa một số trí thức Ba Lan.

Họ kể rằng trong Chiến tranh Thế giới II cũng như trong thời Chiến tranh lạnh họ đã vận động lòng yêu nước, yêu dân chủ của bà con ở hải ngoại lập ra Quỹ Cứu Dân tộc, Quỹ Yêu Dân chủ lên đến hàng tỷ đô la của dân Ba Lan, lên đến chục tỷ của bà con Do Thái. Có những nhà yêu nước có uy tín, được tin cậy đứng ra vận động thành lập quỹ.

Sự vận động phải rất khéo, nhằm vào đông đảo bà con, vì ai cũng có tiềm năng yêu nước và tiềm năng kinh tế, trọng điểm là vận động tốt các nhà doanh nghiệp thành đạt, giàu có nhưng rộng lòng trắc ẩn, các chủ ngân hàng, đại công ty,nhà buôn, người có bất động sản, vừa quyên góp ngay, vừa yêu cầu định kỳ đóng góp – hằng tháng, ba tháng, hằng năm, lâu dài, như trích 1, 2 ngày lương tháng. Các giáo sư, bác sỹ, dược sỹ luôn có thái độ sẵn sàng chia sẻ, miễn rằng họ hiểu là tiền quyên được gửi đúng chỗ, đúng người, đúng việc cần. Nhiều buổi nói chuyện, trình diễn văn nghệ, thể thao, ra mắt sách, lập công ty kinh doanh…sẽ làm tăng thêm quỹ. Các bạn cho biết bà con gốc Do Thái ở Hoa Kỳ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, Brazil, Liên Xô, Ba Lan, Anh, Thụy Sỹ đã tạo nên Quỹ Do Thái năm đầu lên đến 2 tỷ đô-la, rồi 10 tỷ chỉ trong có hơn 2 năm. Nhiều cụ già hiến nguyên cả gia tài trước khi mất. Các bạn Ba Lan cho biết trong Chiến tranh lạnh đã quyên góp của bà con Ba Lan ở hải ngoại, đặc biệt là ở New York , London, Paris, Sydney, Toronto, Bắc Âu và Nam Mỹ được hơn 1 tỷ đô-la La gửi về nước, rất có tác dụng.

Bà con Việt Nam ở nước ngoài hằng năm gửi về nước từ 10 đến 12 tỷ đô-la giúp người thân. Chúng tôi tin rằng nếu được vận động bền bỉ, thông minh khôn khéo thì Quỹ Việt Nam có thể lên đến hàng tỷ đô-la.

Ở hải ngoại hiện đã có những gương mặt tiêu biểu đáng tin cậy từ trong nước ra, như Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, Luật sư Cù Huy Hà Vũ, nhà báo Điếu Cày và Tạ Phong Tần…có thể tham gia việc vận động và việc quản trị, sử dụng Quỹ Việt Nam rất quý và rất cần này.

Chúng ta không thể để cho thời cơ ngàn năm có một, đảng CS mất hết uy tín, sâu xé nhau, phong trào xã hội dân sự lên cao, lòng dân đã chín, quốc tế đồng tình hơn lúc nào hết, mà chỉ vì phong trào đấu tranh quá nghèo thiếu tiền mà trượt mất thời cơ lớn. Sự thiếu thốn này bà con hải ngoại lại thừa sức sẵn sàng bù đắp xứng đáng.

Mong rằng đề xuất của tôi nhân bài báo của anh Nguyễn Hưng Quốc sẽ được chú ý và mong anh Quốc và đông đảo bà con ta lên tiếng góp ý thêm để sớm thực hiện một việc làm cao quý rất cần thiết này. Hơn 3 triệu bà con hải ngoại, tuyệt đại đa số đang nung nấu việc sớm giải thể chế độ phi pháp tàn ác độc đảng trong nước, mang lại nhân quyền, bình đẳng, tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam chung hưởng.

Đây là thiển ý của một nhà báo tự do xin được là một đóng góp nhỏ bé trả lời câu hỏi tâm huyết “Chúng ta có thể làm gì cho đất nước? » của nhà giáo – nhà báo Nguyễn Hưng Quốc mà tôi rất quý trọng.

* Blog của nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

    Nguyễn Hưng Quốc ►Chúng ta có thể làm được gì cho đất nước?

  • 16x9 Image

    Bùi Tín

    Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Tự Do ngôn Luận | Leave a Comment »

Các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đòi tăng giá

Posted by hoangtran204 trên 10/09/2015

Các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đang đề nghị chính phủ cho phép họ phân bổ hàng chục ngàn tỉ đồng do những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính họ vào giá thành các sản phẩm, rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng!!!

Giá dầu thế giới hạ thấp chỉ còn 45 đô/ 1 thùng. Giá dầu đã và đang xuống thấp nhiều tháng qua, và sẽ tiếp tục xuống thấp trong khoảng 40-45 đô 1 thùng cho đến năm 2016.

Quá vô lý mà vẫn đề nghị tăng giá là sao?

Tuổi Trẻ-

8-9-2015

Thật vô lý khi DN có thể hạch toán thoải mái những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính mình vào giá thành rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng…

Ông Trần Ngọc Thơ - Ảnh: Đình Dân
Ông Trần Ngọc Thơ – Ảnh: Đình Dân

Việc các tập đoàn Than – khoáng sản, Điện lực và Dầu khí đề nghị Chính phủ cho phép họ phân bổ hàng chục ngàn tỉ đồng vào giá bán có nhiều vấn đề ẩn sâu dưới đó cần phải được nhận diện đúng mức. 

Trên thế giới này không có doanh nghiệp nào có thể hạch toán thoải mái những sai lầm trong quản trị doanh nghiệp của chính mình vào giá thành rồi tính hết vào giá bán cho người tiêu dùng, ngoại trừ họ muốn phá sản vì bị các địch thủ khác cạnh tranh.

Ở Việt Nam, yếu tố ngoại trừ này đã được Nhà nước bảo hiểm cho các doanh nghiệp độc quyền rồi. Trong câu chuyện này vẫn còn nhiều điều cần được làm rõ.

Đầu tiên là vấn đề minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của các tập đoàn. Tại sao tỉ giá tăng thì đòi tăng giá, còn những lúc tỉ giá giảm và thậm chí giảm rất sâu như năm 2006-2007, sao không thấy Tập đoàn Điện lực đề xuất giảm giá bán?

Thậm chí lãi suất, lạm phát và giá cả nguyên liệu thế giới thời gian qua giảm rất sâu, tại sao giá điện lại không giảm mà ngày càng có xu hướng tăng thêm? Đây là điều không sòng phẳng với người tiêu dùng chút nào.

Các tập đoàn cho rằng vay ngoại tệ nên lỗ do tỉ giá là điều vô lý ngay từ cái nhìn đầu tiên. Do các tập đoàn được Chính phủ bảo lãnh vay nợ bằng USD nên lãi suất đi vay rất thấp, chỉ khoảng 4 – 5%.

Trong khi đó lãi suất vay bằng VND hiện tại khoảng 10%, chưa kể có những thời điểm trước đây mức lãi suất VND còn lên đến 20%, như vậy mức lãi suất trung bình năm năm qua khoảng 15%. Như vậy so lãi suất VND với USD, bình quân năm năm qua các tập đoàn đã có lợi nhuận tăng thêm mỗi năm khoảng 15% trên tổng số vốn vay bằng ngoại tệ. Nay chỉ mới có tháng 8 vừa qua tỉ giá USD/VND tăng khoảng 5% đã kêu lỗ là điều hết sức phi lý.

Đến đây, câu hỏi được đặt ra: liệu đề xuất tính cả chục ngàn tỉ đồng tỉ giá vào giá điện lần này có thật sự đến từ nguyên nhân tỉ giá? Hay các tập đoàn đã mất mát phần nào sức đề kháng trước các cú sốc xảy ra nên chỉ còn cách khả dĩ đưa những sai lầm trong quá khứ vào giá bán. Có khả năng đề xuất bù lỗ tỉ giá vừa qua chỉ là cái cớ, là giọt nước cuối cùng làm tràn ly lỗ lã triền miên tích tụ bấy lâu nay.

Đã đến lúc Chính phủ phải làm rõ các bí mật này và tiến tới thị trường hóa mạnh mẽ các lĩnh vực điện lực, xăng dầu, nếu không trong tương lai chẳng cần đến cú sốc gì cả, giá các mặt hàng độc quyền này muốn tăng thì sẽ cứ tăng mà không ai biết thực hư ra sao.

TRẦN NGỌC THƠ

Ba “ông lớn” điện, than, dầu khí đòi người tiêu dùng gánh lỗ

8-9-2015

TT – Ba tập đoàn lớn là Điện lực (EVN), Công nghiệp than – khoáng sản (TKV), Dầu khí (PVN) đồng loạt kêu lỗ hàng ngàn tỉ đồng do điều chỉnh tỉ giá, đề nghị… tính vào giá thành điện.

Trong khi đó, đại diện Bộ Tài chính, Bộ Công thương và chuyên gia cho rằng không thể đưa vào giá thành và tăng bao nhiêu cũng được, phải tính toán kỹ tránh kích hoạt làn sóng tăng giá.

Phải trông vào… tăng giá

Phân tích nguyên nhân khoản lỗ do chênh lệch tỉ giá, ông Hồ Công Kỳ, chủ tịch HĐQT Tổng công ty Điện lực dầu khí (PV Power – thuộc PVN), giải thích hầu như tất cả các nhà máy điện khi đầu tư (vốn cần đến cả tỉ USD – PV) đều phải đi vay khoảng 70%, nhiều nhà máy phải vay cả tỉ USD.

Khi giá 1 USD là 21.000 VND thì vay 1 tỉ USD được quy đổi là 21.000 tỉ VND, nhưng khi tỉ giá tăng, 1 USD đổi được 22.000 VND thì nợ của doanh nghiệp tăng ngay lên thành 22.000 tỉ VND (tăng 1.000 tỉ VND). Nghĩa vụ trả nợ tăng, đồng nghĩa chi phí tăng, giá bán không tăng thì hiệu quả doanh nghiệp giảm, thậm chí lỗ.

Về khoản “lỗ” 1.200 tỉ đồng vừa được đề nghị tính vào giá điện của TKV, ông Nguyễn Anh Tuấn, phó tổng giám đốc tập đoàn này, cho biết thực chất ông không cho rằng đó là TKV “bị lỗ”.

TKV chỉ đề xuất Bộ Công thương cho phép điều chỉnh tỉ giá theo diễn biến thực tế theo đúng quy định mà thông tư của Bộ Công thương đã quy định.

Ông Tuấn cho rằng hiện các doanh nghiệp phát điện của TKV vẫn phải tính theo tỉ giá cũ, trong khi đó nếu căn cứ theo tỉ giá mới, mức chênh lệch tới 1.200 tỉ đồng (điều này đồng nghĩa 1.200 tỉ đồng chưa được tính vào chi phí phát điện của TKV – PV). Nên theo ông Tuấn, TKV đề nghị tính theo tỉ giá mới “cho đúng bản chất kinh tế”.

Ông Tuấn cũng cho rằng các nhà máy phát điện đầu tư để phát điện, nếu chênh lệch tỉ giá không tính vào giá điện thì… không phân bổ đi đâu được.

Ông nhấn mạnh hiện các doanh nghiệp tư nhân, nhiều nhà máy điện theo hình thức BOT (xây dựng, vận hành, chuyển giao) đều đã có cơ chế được tính vào giá thành ngay khi có phát sinh chênh lệch bởi điều chỉnh tỉ giá. Riêng một số doanh nghiệp nhà nước như TKV lại chưa được. “Điều này là không công bằng” – ông Tuấn nói.

Điều chỉnh tỉ giá không chỉ EVN, PVN, TKV bị ảnh hưởng, mà doanh nghiệp cả nước, người dân cũng bị 
ảnh hưởng

Ông TRẦN VIẾT NGÃI (chủ tịch Hiệp hội 
Năng lượng)

Các doanh nghiệp cần đánh giá tổng thể tác động từ việc điều chỉnh tỉ giá chứ không thể cứ nói nâng tỉ giá là báo cáo khó khăn và xin tăng giá bán, nhất là các mặt hàng thiết yếu như điện

Ông ĐẶNG QUYẾT TIẾN (cục phó Cục Tài chính doanh nghiệp)

“Không phù hợp”

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trương Văn Phước, phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cho rằng việc doanh nghiệp kêu lỗ hàng nghìn tỉ đồng do chênh lệch tỉ giá là phiến diện. Bởi doanh nghiệp có vay ngoại tệ với lãi suất thấp chỉ 5%/năm, trong khi đó lãi suất vay tiền đồng bình quân 10%/năm. Chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền này đã bị doanh nghiệp bỏ qua.

Phần chênh lệch lãi suất tiền đồng và USD đã được doanh nghiệp tính vào lợi nhuận các năm. Nay giá trị phải trả cho việc vay ngoại tệ tăng lên thì doanh nghiệp lại kêu lỗ. Do đó, cần phải phân bổ sao cho hợp lý chứ không thể kêu lỗ được.

Ở góc độ Bộ Tài chính, ông Đặng Quyết Tiến, cục phó Cục Tài chính doanh nghiệp, phân tích theo quy định, khoản lỗ do chênh lệch tỉ giá sẽ được đưa vào chi phí sản xuất, khoản lỗ này được phân bổ trong năm năm.

Từ những năm trước, EVN lỗ hàng chục ngàn tỉ đồng do điều chỉnh tỉ giá, và khoản lỗ này đang để phân bổ dần vào những năm sau. Được biết hiện nay EVN vẫn còn mấy nghìn tỉ đồng lỗ do chênh lệch tỉ giá.

Nhưng theo ông Tiến, bản thân việc các tập đoàn kêu lỗ do chênh lệch tỉ giá để hạch toán vào giá thành điện là chưa được hiểu đúng. Vì hạch toán lỗ do chênh lệch tỉ giá vào giá điện như thế nào thì phải được Bộ Công thương và Bộ Tài chính xem xét phê duyệt cụ thể.

Đơn cử như trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế – xã hội, mục tiêu tăng trưởng kinh tế… từ đó quyết định mức phân bổ lỗ do chênh lệch tỉ giá là bao nhiêu vì giá điện đang được Nhà nước kiểm soát. Do đó, doanh nghiệp không thể muốn đưa bao nhiêu thì đưa được.

Mặt khác, nói việc vay ngoại tệ để đầu tư công trình, dự án bị lỗ do nới tỉ giá là không phù hợp.

Ông Tiến khẳng định lỗ trong quá trình thi công công trình thì đã được vốn hóa vào trong giá trị công trình rồi. Chỉ có điều kinh doanh hằng ngày khi phát sinh các khoản mua bán vật tư, thiết bị mà thanh toán bằng USD thì có thể sẽ bị ảnh hưởng mà thôi.

Ông Tiến cho rằng các doanh nghiệp cần đánh giá tổng thể tác động từ việc điều chỉnh tỉ giá chứ không thể cứ nói nâng tỉ giá là báo cáo khó khăn và xin tăng giá bán, nhất là các mặt hàng thiết yếu như điện.

Cần xem xét kỹ khả năng tăng giá điện

Trả lời Tuổi Trẻ, một lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực, Bộ Công thương cho biết khoản lỗ phát sinh do tỉ giá là bất khả kháng, theo quy định hiện nay có thể được xem xét tính vào giá điện. Tuy nhiên, không có nghĩa nó sẽ được tính vào giá điện ngay mà sẽ được xem xét quyết định.

Điều này không phải bây giờ mới xảy ra vì theo vị lãnh đạo Cục Điều tiết điện lực, EVN từng phát sinh khoản lỗ 26.000 tỉ đồng cũng do điều chỉnh tỉ giá và đã phải phân bổ trong nhiều năm, đến tận bây giờ cũng chưa hẳn đã hết.

Ông Trần Viết Ngãi, chủ tịch Hiệp hội Năng lượng, cũng đồng tình phải xem xét nhiều yếu tố chi phí của các nhà máy điện. “Điều chỉnh tỉ giá không chỉ EVN, PVN, TKV bị ảnh hưởng, mà doanh nghiệp cả nước, người dân cũng bị ảnh hưởng”, vì vậy theo ông Ngãi, EVN cần tính toán chính xác xem tỉ giá khiến tăng chi phí bao nhiêu.

Với kinh nghiệm hàng chục năm trong ngành điện, ông Ngãi cho biết tỉ giá tăng sẽ phải hạch toán vào giá điện, bởi quy định cho phép, thực tế cũng đã thực hiện rồi. Tuy nhiên, Bộ Công thương đã cho tăng giá điện vào ngày 16-3 vừa qua, giờ tăng giá điện nữa sẽ “không hay”, bởi dù lạm phát thấp nhưng theo ông Ngãi, “giá ở thị trường, cái gì cũng đắt chứ không rẻ đi bao nhiêu”.

Cùng kêu lỗ

Theo thông tin từ Bộ Công thương, trong cuộc họp giao ban trực tuyến tháng 8-2015 ngày 3-9, phó tổng giám đốc TKV Vũ Anh Tuấn cho biết chênh lệch tỉ giá đã làm các nhà máy nhiệt điện TKV đầu tư phát sinh khoản lỗ đến 1.200 tỉ đồng. Do vậy, TKV đã kiến nghị Bộ Công thương xem xét cho tính khoản chênh lệch tỉ giá này vào giá thành điện.

Lãnh đạo PVN cũng cho rằng chênh lệch tỉ giá ảnh hưởng rất nhiều đến PVN.

Ông Ngô Sơn Hải – phó tổng giám đốc EVN – cũng “kêu” chênh lệch tỉ giá ảnh hưởng đến lĩnh vực điện rất lớn, riêng TKV lỗ khoảng 1.200 tỉ đồng. “Nếu cộng tất cả các con số mà cả TKV và PVN lỗ do tỉ giá thì có thể gấp hơn 10 lần con số 1.200 tỉ đồng” – ông Hải nói.

Ông Hải nhấn mạnh EVN đang thống kê số liệu để báo cáo Bộ Công thương nhằm có hướng giải quyết và cảnh báo “nếu tất cả các đơn vị điện của TKV, PVN đưa hết lỗ tỉ giá vào giá điện sẽ tác động rất lớn tới bức tranh tài chính của EVN”.

Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải kết luận diễn biến tỉ giá trong thời gian qua đã tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp. Tuy nhiên, với những kiến nghị tính vào giá thành sản xuất điện, ông Hải cho biết bộ sẽ trình Chính phủ xem xét.

CẦM VĂN KÌNH – LÊ THANH (dangdv@tuoitre.com.vn;, lethanh@tuoitre.com.vn)

Posted in Dầu Hỏa và Khí đốt, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Tập Đoàn-Tổng công Ty quốc doanh | Leave a Comment »

►Cá Hồi Đỏ

Posted by hoangtran204 trên 21/02/2015

Cá Hồi Đỏ

Năm 2014 Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong 10 nước nhận được kiều hối nhiều nhất trên thế giới.
Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc NHNN, chi nhánh TP HCM

Trang Câu Lạc Bộ Kỹ Thuật Việt Kiều đăng tải một bài viết (“Cuộc Di Cư Lớn Nhất Của Cá Hồi Đỏ Trong 100 Năm”) khá thú vị. Xin ghi lại toàn văn:

Khoảng 15.000 người đã đổ về tỉnh British Columbia của Canada để chứng kiến một trong những hiện tượng bí ẩn của tự nhiên: cuộc di cư khổng lồ của cá hồi đỏ, được cho là lớn nhất trong 1 thế kỷ trở lại đây.

Dự kiến, khoảng từ 6-8 triệu con cá hồi đỏ sẽ di cư tới sông Adams thuộc khu vực Shuswap của tỉnh British Columbia trong năm nay và đây được xem là cuộc di cư lớn nhất của cá hồi đỏ kể từ năm 1913.

Cá hồi đỏ là một trong các loại cá sống ở nước mặn và sinh sản ở nước ngọt. Cá hồi đỏ thường đẻ trứng trong vùng nước nông trên sông Adams vào tháng 10 hàng năm. Sau khi phát triển trong vùng nước ngọt khoảng 1 năm, những con cá nhỏ nở ra từ trứng sẽ di cư ra biển và sống ở đó khoảng 3 năm rồi quay trở lại chính nơi chúng được sinh ra.

Loài cá hồi khi di chuyển định hướng bằng mùi. Mỗi con cá nhớ đều nhớ mùi của dòng sông nơi nó sinh ra. Khi di chuyển qua đại dương trở về con sông sinh sản, con cá sẽ tìm thấy đường của nó một cách hoàn toàn bản năng vì mùi vị thân quen càng gần càng trở nên rõ rệt.

Khi vào lại vùng nước ngọt, cá hồi sẽ không ăn và chuyển sang màu đỏ sáng.

Cá hồi có khả năng bơi ngược sông, vượt qua các dòng nước chảy xiết trong hành trình dài gần 500km từ biển tới sông Adams. Sau khi đã trở về nhà, chúng đẻ trứng rồi cuối cùng kiệt sức và chết. Trứng sau đó nở ra con non và con non lại hành trình ra biển.

Hiện tượng di cư bí ẩn của cá hồi luôn thu hút sự quan tâm của du khách đến với sông Adams. Tại công viên Roderick Haig-Brown cạnh sông Adams – địa điểm quan sát cá hồi đẻ trứng tốt nhất, bầu không khí tại khu vực vốn yên tĩnh này đã trở nên nhộn nhịp giống lễ hội đường phố.

Brian Riddell, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Quỹ cá hồi Thái Bình Dương, gọi cuộc di cư khổng lồ lần này là “điều bất ngờ thú vị” khi số cá hồi đỏ di cư nhiều gấp đôi so với dự đoán trước đó.

Nguồn ảnh: ovsclub.com.vn

Cá hồi Dại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” đuợc từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào…hộp !

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ  bắt chiếc. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là vài triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số mấy triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Ảnh: wikipedia

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như  vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi !

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.

“Lượng kiều hối nhiều khả năng đạt 12 tỷ USD năm 2014,” theo như tin loan của  Đài Tiếng Nói Việt Nam –  nghe được vào hôm 30 tháng 11 năm 2014. Cùng thời điểm này, Nguyễn Hoàng Minh, (Phó Giám đốc NHNN – chi nhánh TP HCM) cho biết:“Năm 2014 Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong 10 nước nhận được kiều hối nhiều nhất trên thế giới.

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nuớc những con nguời cùng quẫn và sôi xục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.

Thiệt khoẻ !

© Tưởng Năng Tiến

nguon: 

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng | Leave a Comment »

►Nổi buồn xuất khẩu lao động: Giấc mơ không trọn của Trịnh Đăng Trường

Posted by hoangtran204 trên 21/09/2014

Ca Dao – Lao Động Việt

.

Đài Loan, Nam Hàn, Mã Lai… những cái tên xa lạ dần dần đã trở thành quen thuộc trong các hang cùng, ngõ hẻm, trên các ruộng đồng, làng núi xa xôi. Và những cô bé, những trai làng trẻ tuổi đã tưởng tượng, đã mơ mộng đến một vùng đất hứa. Vùng đất mà ta có thể kiếm ra tiền không mấy cực nhọc, vùng đất sẽ đưa chị, đưa em, đưa cha đưa mẹ ra khỏi cảnh nghèo đói triền miên ở làng mạc xác xơ.

Thế rồi, lần lượt người ta bỏ đất ra đi. Đi với một món nợ kếch xù trên vai, món nợ mà nếu còn ở Việt Nam, chắc không bao giờ người ta dám mượn. Mượn nợ để có ngày thoát nợ, họ nghĩ như thế! Anh đi vào miền Nam kiếm ăn, chị tham gia chương trình xuất khẩu lao động để xóa đói giảm nghèo của nhà nước… Ngôi làng bỗng chốc trở thành hoang vắng, chỉ còn ông bà già và trẻ em ở lại giữ gìn mảnh ruộng đìu hiu.

Chỉ hơn 1 giờ bay, một trong những thiên đường mơ ước đó đã hiện ra trước mắt: Mã Lai!!!. Cũng nắng miền nhiệt đới, cũng hàng dừa, cũng lũy tre, cũng biển mặn như quê hương… và một tương lai đầy hứa hẹn! Sau chuyến bay đầu tiên trong đời, những gương mặt mệt mỏi nhưng hân hoan nghĩ đến ngày mai, đến những cổ máy hiện đại mà nay mai đây mình sẽ là người điều khiển. Được ra nước ngoài đã là một sự kiện lớn trong đời, lại còn kiếm được nhiều tiền cho thằng cu, cái bé, xây lại ngôi nhà, bốc lại nắm mộ. Chỉ nghĩ tới là lòng đã lâng lâng…

Cái lạnh của máy điều hòa trong phi trường KLIA cũng không lạnh bằng cái lạnh trong lòng của họ sau khi ngồi hơn 3 tiếng đồng hồ trong phi trường mà không thấy một ai ra đón. Những gương mặt hân hoan đã biến sang ngỡ ngàng và chuyển nhanh thành sợ hãi. Họ như những con thú xa bầy, đang bơ vơ trước một cánh rừng xa lạ. Họ bám chặt lấy hành lý và bám chặt lấy nhau như tìm chút nương tựa nơi kẻ cùng cảnh ngộ. Trong một thoáng, họ cảm thấy hối hận đã đến đây và sợ hãi nghĩ đến món nợ to còn đợi ở quê nhà…

Sau những giờ phút chờ đợi dài đằng đẵng, thế rồi cũng có người đến đón họ. Không phải là chị Hai, anh Ba nói cùng ngôn ngữ. Mà là những khuôn mặt xa lạ, tiếng nói cũng xa lạ. Họ không hiểu gì hết, chỉ biết răm rắp đi theo. Đi đâu? không biết! đủ xa để họ có thể ngắm một phần xứ sở mà họ sẽ phải làm quen trong 3 năm sắp tới.

Nhóm của họ bị chia ra thành nhiều mảnh, thôi thì phận ai nấy lo. Vẫn là cái ngôn ngữ xa lạ ấy, Họ bảo ký giấy, ừ thì ký, họ bảo đưa hộ chiếu cho họ giữ, ừ thì đưa. Hỏi làm gì, mà biết làm thế nào để mà hỏi. Cái sợ nó đã ngấm vào xương tủy rồi. Từ nhỏ đến lớn, chỉ học mỗi cái vâng lời; Vâng lời là yên chuyện. Vã lại, hỏi han lôi thôi, họ đuổi về nước thì khốn!

Rồi mọi chuyện cũng đâu vào đấy, những bước bỡ ngỡ lúc đầu cũng qua. Ở quê nhà, ngủ đất đã quen, sang đây chủ cho 8 người ngủ trong 1 container, mỗi người được 1 ngăn khoảng 1 mét ngang 2 mét dài đã là hạnh phúc. Ngày làm việc 12- 14 tiếng, khuya về lọc cọc xách nồi nấu ăn, hôm nào mệt quá thì ngủ luôn đỡ tốn cơm, sáng sớm hôm sau đi làm tiếp. Một tuần làm 6-7 ngày. Chẳng cần biết mặt trời Mã Lai tròn hay méo. Bệnh ư? cứ nghỉ, họ chỉ trừ lương thôi, trừ lương có nghĩa là kéo dài nợ, thế thì đi làm vậy. Nó mắng chửi ư? cứ giả vờ điếc, gục mặt xuống tiếp tục làm như con đà điểu chui đầu vào cát. Ức quá, đình công ư, họ kêu cảnh sát Mã Lai đến bắt và trừ lương. Tìm công ty môi giới để than phiền ư? môi giới đã biến mất như tuyết dưới mặt trời nhiệt đới. Thôi thì tiếp tục đi làm mặc mọi bất công, khốn khó. Ngày lại qua ngày. Cuộc đời công nhân xuất khẩu lao động quả là thần tiên.

Đời công nhân trên đất khách buồn nhiều hơn vui. Cái buồn còn có thể phôi pha, nhưng có nhiều nỗi bất hạnh đã ghi lại những vết thương không thể nào lành bằng cả nghĩa bóng lần nghĩa đen.

Trong những ngày lang thang trên đất Mã, tôi đã gặp Trường, một trong những công nhân có số phận không may, với Trường là tuyệt cùng bất hạnh. Những vết thẹo kinh khiếp trên người Trường ám ảnh tôi trên suốt chuyến trở về. Câu chuyện thương tâm bắt đầu vào 1 tối giao thừa:

Tết Nguyên Đán năm 2010, Tại Melacca, Trường và các bạn lại ăn thêm 1 cái Tết xa nhà. Đêm giao thừa, trong container nóng bức, các anh em bày biện bánh kẹo, hạt dưa ra ăn uống. Cũng có vài bạn trổ tài nấu thịt đông, tuy không đúng cách nhưng cũng tạm để có 1 món gì đó gọi là hương vị quê hương, hưởng ké tiếng pháo từ xa vọng về để thêm nỗi nhớ gia đình. Rồi cũng xong 1 cái Tết xa quê.

Hơn 1 giờ khuya, khi mọi người chìm vào giấc ngủ, thì bỗng có tiếng la lớn: “cháy, cháy…!!!” Trường chưa kịp hiểu ra chuyện gì đang xảy ra thì đã nhìn thấy những tấm vải treo làm màn trong “phòng” đang phựt cháy. Trường vội chạy ra ngoài. Ra đến ngoài thì đã thấy một số anh em đang ở ngoài sân. Những container nơi hãng sử dụng làm chổ ở cho các công nhân đang tiếp tục cháy dữ dội. Trường sực nhớ mình để quên cái điện thoại di động trong “phòng”. Điện thoại di động là vật bất ly thân của bất cứ công nhân Việt Nam nào, nó là vật cần thiết hơn cả cơm ăn nước uống, mất nó là đứt mọi sợi dây liên lạc, nó đáng giá bằng mấy tháng lương của Trường. Không kịp suy nghĩ Trường lao trở lại chiếc container đang ngùn ngụt lửa để cứu chiếc điện thoại. Khi vào đến bên trong, Trường không biết nơi nào là chổ ở của mình, khắp nơi là lửa, tìm không được, Trường chạy trở ra thì đã quá trễ, lửa đang bao vây tứ phía, những thanh sắt ngã xuống chấm dứt lối thoát của Trường, chấm dứt một đời trai.

Công nhân Trịnh Đăng Trường những ngày mới bị cháyNhững ngày sau đó của Trường là những ngày chịu đựng sự đau đớn khủng khiếp. Sau thời gian ở nhà thương, Trường được về nhà, em của Trường đang làm ở Penang phải nghỉ việc để lo cho Trường. Cách vài ngày, Trường phải vào nhà thương để “tắm”. Một bên lỗ tai bị mất, miệng chưa lành nên Trường không ăn uống và nói chuyện được, tay chân vẫn còn băng kín. Chủ hãng của công ty chỉ trả 1 phần tiền nhà thương. Phần còn lại họ cho Trường nợ. Ngoài ra còn tiền mua những loại băng đặc biệt để băng những vết phỏng, tiền nhà thương, tiền thuốc men, tiền ăn uống cho 2 anh em…v.v Nhưng với tình trạng này, không mong gì Trường có thể hồi phục lại để đi làm, còn mong gì trả nổi nợ???

Trong lúc khó khăn mới thấy tình đồng hương là quý: Anh em công nhân đến thăm hỏi và chia sẻ. Các anh em trong Hội Thánh Tin Lành đến cầu nguyện cho Trường. Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam cho người đến tặng tiền, đóng góp phần nào vào chi phí nhà thương mà hiện giờ đã lên đến hàng chục ngàn tiền Mã.

Cho đến ngày hôm nay, Trường và em của Trường cũng không dám cho gia đình ở Việt Nam biết. Bà mẹ già bị bệnh cao huyết áp của Trường vẫn còn nghĩ con mình đang lao động đâu đó ở Mã Lai.

Công nhân Trường hai tháng sau khi bị cháySau hơn 6 tháng điều trị, vết phỏng đã lành nhưng hậu quả của nó để lại thật rõ nét trên thân thể Trường: Một lỗ tai đã mất, những ngón tay đã rút lại, thịt lồi lên như một tảng băng nổi, những vết thẹo kinh khiếp trên lưng như mảnh ruộng nứt nẻ vào mùa khô.

Như chưa đủ khổ, cái nóng của Mã Lai đã tiếp tay hành hạ người công nhân bạc phước này: do da đã thành thẹo, không có lỗ chân lông nên mồ hôi không thể thoát ra ngoài, do đó cái nóng không giảm đi, nó tồn đọng lại trong người, làm trong người Trường lúc nào cũng bị nóng bức khủng khiếp, suốt ngày Trường phải ngồi trước chiếc quạt máy.

Trịnh Đăng Trường 8 tháng sau khi bị cháy (tháng 10 năm 2010)Rời Việt Nam với ước vọng kiếm tiền giúp đỡ gia đình, nhưng than ôi, ngọn lửa tàn ác đã đốt cháy mộng ước đơn giản của Trường, ngọn lửa đêm giao thừa đã thiêu rụi tương lai của người thanh niên. Bây giờ, bên cạnh nỗi đau thể xác, Trường chỉ quay quắt với ý nghĩ: làm sao để trả món nợ khổng lồ? Nỗi đau của chính mình Trường có thể chịu đựng được, nhưng liệu Mẹ mình có thể chịu đựng được không khi nghe tin con mình bị nạn? Làm sao báo tin cho Mẹ? Làm sao có tiền trả nợ???

———————

Đảng CSVN làm kinh tế quá giỏi nên không thể tạo được công ăn việc làm cho người dân trong nước. Các cán bộ đảng bèn nghĩ cách xuất khẩu lao động, gởi công nhân VN ra nước ngoài làm việc. Những người này nhận lương sẽ gởi tiền ngoại tệ về giúp cho gia đình ở VN, và để trả lại số nợ khi mượn tiền làm thủ tục xuất khẩu lao động…Thân nhân đổi ngoại tệ lấy tiền VN. Thế là nhà nước in tiền polymer và lấy ngoại tệ rất dễ dàng. (Tiền vốn in 1 tờ 500.000 đồng polymer là 4-6 xu Mỹ kim. Tiền công in 20 tờ 500.000 đồng khoảng 1 đô la Mỹ, và đổi lấy gần 500 đô la.).  Đây là cách kiếm tiền nhanh nhất và lời nhất của nhà nước. Theo ngân hàng trong nước cho biết, số tiền ngoại tệ do các công nhân lao động xuất khẩu gởi về là 1,5- 2 tỷ đô la. 

Hiện đang có hơn 700.000 nguời VN đang xuất khẩu lao động tại 40 quốc gia. Họ làm đủ thứ việc gì mà người công nhân ở các nước đó chê lương ít và không muốn làm.

Posted in Nong Dan Viet Nam, xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►’Nếu không có kiều hối, Việt Nam phá sản rồi’ – Chuyên gia KT Bùi Kiến Thành:

Posted by hoangtran204 trên 16/07/2014

Chuyên gia Bùi Kiến Thành: ‘Nếu không có kiều hối, Việt Nam phá sản rồi’ 

Chuyên gia cũng cho rằng dự trữ ngoại hối 35 tỷ USD “chưa ăn thua gì”, vẫn yếu so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế. 

Ngày 18/06 vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) đã nâng tỷ giá VND/USD bình quân liên ngân hàng thêm 1%. Việc điều chỉnh tỷ giá này có thực sự hỗ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu? Cùng với việc tín dụng ngoại tệ tăng trưởng khá cao trong 6 tháng đầu năm, liệu có khiến cho tình hình ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng trở nên căng thẳng và đẩy lãi suất huy động ngoại tệ lên?

Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành về những vấn đề này.

* Thưa ông, ông đánh giá thế nào về động thái điều chỉnh tỷ giá vừa rồi của NHNN?

Chuyên gia Bùi Kiến Thành: Trước hết là tỷ giá cũng không có tăng gì nhiều, chỉ 1% thôi. NHNN đã nghiên cứu về giá trị thật của đồng tiền Việt Nam. Nhiều chuyên gia đánh giá là đồng Việt Nam đang không đúng giá trị thật, giá trị thật thấp hơn nhiều.

Chính sách tỷ giá của Việt Nam hiện đang có 2 vấn đề. Một là giá trị thật của đồng VND cần được điều chỉnh. Chủ trương mỗi năm điều chỉnh khoảng 2- 3%, năm nay, sau nửa năm điều chỉnh 1% thì cũng là bình thường thôi, không có gì là ngoài dự đoán của những người theo dõi tỷ giá Việt Nam.

Vấn đề thứ hai là làm sao để các nhà xuất khẩu không thiệt hại quá nhiều khi chuyển đồng USD sang nội tệ, thêm nữa là giúp cho xuất khẩu mạnh hơn. Đối với các nhà xuất khẩu, điều chỉnh tỷ giá thì họ được lợi thêm 1% khi chuyển đổi ra nội tệ. Điều này cũng hỗ trợ doanh nghiệp phần nào, nhưng đó chỉ là một chuyện nhỏ mà nhà nước phải làm thôi.

Việt Nam có đặc thù là xuất khẩu nhưng tỷ lệ nội hóa của mình không có bao nhiêu, nguyên liệu hầu hết là nhập từ nước ngoài về. Ví dụ như năm vừa rồi, 68% kim ngạch xuất khẩu đến từ các Doanh nghiệp FDI nhưng các DN này phần lớn là nhập khẩu nguyên liệu. Trong 68% ấy có đến 40 – 50 % là hàng nhập về. Tính ra “tinh” của nó chả có bao nhiêu.

Khi hạ giá trị đồng VND xuống thì mình cũng phải trả tiền nguyên liệu cao hơn. Vì thế nó cũng không phải lợi thế cho mình xuất khẩu vì nó không làm cho hàng hóa Việt Nam rẻ hơn nhiều so với DN nước ngoài.

* Theo thông tin từ NHNN, tính đến tháng 6/2014, tín dụng ngoại tệ tăng 12,03% trong khi tín dụng VND chỉ tăng 2,17%. Ông đánh giá như thế nào về mức tăng trưởng tín dụng ngoại tệ mạnh như vậy?

Trước đây theo nguyên tắc doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ về mới được vay ngoại tệ, tức là Doanh nghiệp xuất khẩu là chính nhưng vừa rồi Nhà nước có chính sách mới cho phép các DN thuộc 5 lĩnh vực được vay ngoại tệ. Đây có thể là một nguyên nhân khiến cho tín dụng ngoại tệ tăng mạnh.

Tuy nhiên, theo tôi, chính sách muốn tạo ưu đãi đối với các lĩnh vực đó nhưng đi ngược nguyên tắc có ngoại tệ mới được vay, và nó có thể ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ và tỷ giá nếu thị trường không có đủ ngoại tệ để bán. Lãi suất cho vay VND quá cao, người ta ít vay tiền VND. Tự nhiên mình tạo ra cầu về ngoại tệ như thế, sau này không quản lý nổi. Chính sách tỷ giá như thế là mầm tạo căng thẳng sau này.

Còn về phía người đi vay, tôi muốn nói rằng lãi suất huy động ngoại tệ thấp hơn lãi suất huy động VND, huy động cao thì cho vay cao, huy động thấp thì cho vay thấp. Nhưng người đi vay cần phải cẩn thận xem xét trong mối quan hệ với chính sách tỷ giá để tính toán xem lãi suất đi vay thật của mình là bao nhiêu?

Ngoài ra, cũng có những Doanh nghiệp có quan hệ với Ngân hàng, vay USD rồi chuyển sang VND gửi vào Ngân hàng hưởng lãi suất. Việt Nam có nạn cho vay mà không kiểm soát giám định luồng tiền có đi đúng hướng hay không cho nên người ta có thể thực hiện điều này.

* Theo báo cáo của UBGS Tài chính quốc gia, tỷ lệ cho vay/tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng đã tăng lên mức 95,5% trong tháng 5/2014. Thưa ông, việc nâng tỷ giá VND/USD để hỗ trợ DN xuất khẩu có thể làm tăng trưởng tín dụng ngoại tệ cao thêm và gây ra căng thẳng ngoại tệ cho hệ thống hay không?

Có căng thẳng ngoại tệ là vì nhà nước mở rộng đối tượng được vay ngoại tệ và Ngân hàng đã cho vay ngoại tệ đến mức gần 100% tiền gửi, không còn có đủ ngoại tệ để cho vay. Thế thì phải đi mua. Mua nhiều làm đẩy giá ngoại tệ lên. Mà mua ở đâu? Mua trên thị trường liên Ngân hàng. Không có thì mua của tư nhân, từ đó mà đẩy lãi suất huy động ngoại tệ lên. Cho nên tôi mới nói là phải thận trọng. Không phải là nhà nước quyết định một cái, mở thêm ra cho 5 lĩnh vực được vay ngoại tệ là được yên. Cho nhiều đối tượng được vay ngoại tệ thì sẽ khan hiếm thôi.

Có một vấn đề quan trọng mà ít người quan tâm. Đó là con số mỗi năm lượng kiều hối gửi về gần 11 tỷ USD. Đây là số tiền rất quan trọng. Nếu không có khoản tiền này thì dự trữ ngoại hối của mình được bao nhiêu đâu? Tính sơ sơ, 10 năm nay kiều hối gửi về là hơn 100 tỷ USD, không có khoản này thì Việt Nam đã phá sản rồi, làm gì có ngoại tệ để chi khi mà anh xài nhiều hơn làm ra. Vấn đề nhập siêu cũng là nhờ kiều hối chứ lấy đâu ra mà trả.

Nói rõ hơn, cán cân thương mại của Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu. Nhưng cán cân thanh toán thì cân bằng được là nhờ kiều hối và đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, xét lại các khoản đầu tư nước ngoài thì thực tế họ có cho không mình đâu. “Nó” vào rồi “nó” đi ra. ODA cũng vậy, không phải là khoản cho không. Khi sử dụng các khoản vốn này, Việt Nam đều phải mua hàng hóa, nguyên liệu của các nước cho vay. Họ cho vay nhưng chính ra là tìm cách bán hàng cho mình. Họ ưu đãi lãi suất nhưng không ưu đãi giá cả bán hàng. Vào cuộc là họ lấy mất 20% lợi nhuận của mình rồi. Thế nhưng mình coi ODA là ghê gớm lắm, thậm chí coi như tiền chùa xài thoải mái. Trong khi chỉ có kiều hối là đồng bào mình cho không đất nước.

* Thưa ông, trong những ngày vừa qua, đồng USD liên tục xuống giá so với VND. Có ý kiến cho rằng điều này là do cầu ngoại tệ không nhiều hay nói cách khác là doanh nghiệp nhập khẩu đang yếu nên giảm nhu cầu ngoại tệ để mua hàng hóa. Xin ông cho biết ý kiến của mình?

Người ta nói mò thế thôi. Con số mỗi ngày lên xuống là chuyện mưa nắng thất thường trên thị trường mua bán ngoại tệ. Phải nhìn xu hướng lâu dài thế nào chứ đừng nhìn 1, 2 ngày. Giờ Ngân hàng đang cho vay nhiều ngoại tệ, mà muốn tiếp tục cho vay thì phải đi mua như tôi đã nói ở trên. Nếu chính sách là mở rộng cho vay bằng ngoại tệ mà cung ngoại tệ không theo kịp thì giá ngoại tệ sẽ lên. Về dài hạn là như thế.

Theo thị trường nếu cung thiếu thì giá lên. Lãi suất huy động đồng USD sẽ cũng phải lên mà thôi.

* Có thêm ý kiến cho rằng con số dự trữ ngoại hối “kỷ lục” 35 tỷ USD cũng có thể là một biểu hiện của sức cầu ngoại tệ không lớn?

Thế nào là kỷ lục? Chưa bao giờ mình đạt được mức ấy nhưng không có nghĩa nó là lớn. Lúc trước có 1000 đồng trong túi, lúc sau có 1 tỷ. 1 tỷ đồng đó là kỷ lục, nhưng nó có đủ không? Có đáp ứng được nhu cầu của mình không? Có 35 tỷ USD đấy nhưng nhu cầu của đất nước lúc này là bao nhiêu? Chúng ta vẫn phải đi vay ngân hàng thế giới, vay các tổ chức quốc tế, vay các nước phát triển… Kỷ lục nhưng vẫn yếu so với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.

* Vậy ông đánh giá thế nào về khoản dự trữ ngoại tệ 35 tỷ USD này? Khoản này có đảm bảo thị trường không thiếu hụt nguồn cung hay không?

35 tỷ ăn thua gì, có 12 tuần lễ nhập khẩu, sao gọi là an toàn được. Nhỡ có sự kiện gì làm người ta ùa đi mua ngoại tệ, ngân hàng nhà nước phải đứng ra bình ổn bằng cách bán USD thì không có đủ mà bán được. Nhất là khi cán cân thương mại lại bị nhập siêu. Mình chỉ dựa vào ODA được chút ít. Họ nói giải ngân 7 tỷ, 8 tỷ nhưng có giải ngân thế đâu. Vừa rồi phó thủ trướng Hoàng Trung Hải nói còn 21 tỷ USD chưa giải ngân được trong số 57 tỷ ODA cam kết tức là gần 40%. Khi chúng ta không đáp ứng yêu cầu của người cho vay vì họ bắt mình mua giá này, bắt đưa ra chương trình nọ kia để họ phê duyệt giải ngân, mình không đồng ý thì họ không giải ngân thôi. Khi đó chúng ta lại không giải quyết được nguồn vốn để đầu tư các dự án.

35 tỷ chỉ là một nguồn mà cũng không dùng được nguồn đấy, vì nó là dự trữ, chỉ đáp ứng nhu cầu mười mấy tuần nhập khẩu. Cho nên tới đây vẫn phải làm sao để tăng dự trữ ngoại hối hơn nữa. Bằng cách nào? Từ nguồn trong nước, vay nước ngoài, từ nguồn vô hạn định của Ngân hàng trung ương là tạo ra tín dụng cho Doanh nghiệp phát triển…

Chúng ta phải xem chính sách tiền tệ là như thế nào? Các nước như Mỹ, Nhật khởi đầu như thế nào, từ đâu mà họ lớn mạnh lên? Phải xem ngân hàng trung ương của các quốc gia khác họ làm thế nào để xây dựng một hệ thống tài chính ngân hàng hiệu quả! Có đi vay thì cũng phải biết cách sử dụng vốn vay cho hiệu quả chứ không phải là tiêu xài hoang phí, rút ruột công trình…

Xin cảm ơn ông rất nhiều!

Hải Minh

Theo Trí Thức Trẻ
http://vinacorp.vn/news/chuyen-gia-b…-roi/ct-563666

 

Việt kiều đã gởi về nước hơn 73 tỷ đô la, trong khoảng thời …2000-2013

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Kinh Te | Leave a Comment »

►Việt kiều đã gởi về nước hơn 73 tỷ đô la, trong khoảng thời gian 2000-2013

Posted by hoangtran204 trên 03/07/2014

Con số 73  tỷ đo là là chưa tính tiền mặt mà Việt kiều bỏ trong túi, trong vali, đem vào Việt Nam. Hàng năm, có hưn 500.000 Việt kiều về VN. Họ đem theo một lượng tiền mặt rất lớn. Các thống kê dưới đây là lấy từ ngân hàng, tức là Việt kiều gởi về nước theo con đường “chính thức”. Các công ty kiều hối chuyển tiền  do con cái các cán bộ đảng viên tổ chức và thiết lập ở các nước ngoài. Những ai khác nhận tiền gởi về VN chỉ là các CÒ trung gian làm việc cho đám cán bộ đảng viên mở đường dây làm ăn. 

Đảng CSVN tồn tại được hiên nay là do Việt kiều nuôi dưỡng. Đảng và nhà nước mở nhà máy in tiền ở Hà Nội chỉ để mua lại tiền đô do Việt kiều gởi về. Hiện nay, mỗi tháng Việt kiều gởi về 1 tỷ đô la (tính trung bình toàn năm). Gía in 1 tờ giấy bạc 500.000 đồng VN là 5 cents, hay nhà nước bỏ ra 1 đô thì in được 20 tờ 500.000 đồng, và đổi được 500 đô. ( 1 dô tiền vốn, mà lời 499 đô.)

Vì nhà nước  in quá nhiều tiền polimer (tiền đồng) để đổi lấy tiền đô la hàng năm (và in tiền để trả lương, để cứu nề kinh tế VN lụn bại vì  các tổng công ty và tập đoàn làm ăn thua lỗ năm này qua năm khác), nên đồng bạc VN mất giá, vô giá trị trên thị trường quốc tế, và được xem là đồng tiền  ÍT có giá trị nhất trên thế giới, chỉ đứng sau nước Somalia ở Phi Châu.  

>>>>Lạm Phát ở Việt Nam: Tiền Đồng VN 3 lần đoạt giải nhất thế giới

Apr 30, 2011 – Sau 36 năm giải phóng miền Nam, và hơn 60 năm miền Bắc trải qua chủ …Hiện nay thì tiền đồng Việt Nam chỉ đứng dưới 1 nước, Somali, và trên 279 nước … và trở thành tiền tệ có ít giá trị nhất trên thị trường trao đổi tiền tệ (ở thị … Tờ Telegraph của Anh đưa tin: Tiền tệ có giá trị thấp nhất thế giới –

Vai trò của kiều hối trong Kinh tế Việt Nam

Tác giả: 

1-7-2014

Hình Ngân hàng thế giới

Kiều hối là ngoại tệ chuyển về Việt Nam do những người sinh sống ở nước ngoài như những người tị nạn Cộng Sản hay những người làm việc ở nước ngoài như những công nhân xuất khẩu lao động. Kiều hối giúp cải thiện mức sống của người dân và giữ một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế sở tại.

Bài phân tách này sẽ lần lượt trình bầy về một số vấn đề như số lượng kiều hối Việt Nam nhận được và tầm quan trọng của kiều hối trong nền kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, bài viết này cũng sẽ phân tách lý do giúp cho số lượng kiều hối gia tăng và việc sử dụng kiều hối ở Việt Nam.

Số lượng kiều hối

Số lượng kiều hối tăng không ngừng trong hơn 10 năm qua, từ 1.3 tỉ Mỹ kim vào năm 2000 lên đến 11 tỉ Mỹ kim vào năm 2013, ngoại trừ năm 2009 bị sút giảm 11.5% so với năm trước do cuộc khủng hoảng tài chánh 2008-2009 theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới. Trong ba năm vừa qua, số lượng kiều hối vào Việt Nam tăng khoảng 1 tỉ Mỹ kim mổi năm. Theo một dự đoán của chi nhánh Ngân Hàng Nhà Nước tại Saigon, kiều hối sẽ có thể gia tăng 20% trong năm 2014. 1/ Hiện nay có 4.5 triệu người Việt đang sinh sống tại trên 100 quốc gia trên thế giới. Ngoài ra có khoảng nửa triệu công nhân Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là Mã Lai, Đài Loan, Nhật và Đại Hàn qua chương trình xuất khẩu lao động.

Phần lớn số lượng kiều hối Việt Nam nhận được phát xuất từ Hoa Kỳ, Canada, và Pháp và chuyển về cho những người sanh sống ở thành thị, đặc biệt là Saigon. 2/ Một nghiên cứu khác cho thấy rằng khoảng trên 50% số lượng kiều hối gửi về Việt Nam phát xuất từ Hoa Kỳ. 3/ 4/

Phần đông công nhân xuất khẩu lao động xuất thân từ thôn quê. Do đó, số lượng kiều hối do công nhân gửi từ các nước Á châu về thôn quê tương đối ít so với số lượng kiều hối do Việt kiều chuyển từ các nước Tây phương về thành thị. Nhưng số lượng này có khuynh hướng gia tăng. Các vùng nhận kiều hối được mở rộng đến các tỉnh nhỏ và khu vực thôn quê nơi tập trung gia đình có công nhân xuất khẩu lao động như Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, v.v.

Tầm quan trọng của kiều hối

Trong 12 nước có số lượng kiều hối từ 10 tỉ Mỹ kim trở lên vào năm 2013, Ấn Độ dẫn đầu với 70 tỉ Mỹ kim, tiếp theo là Trung Quốc với 60 tỉ Mỹ Kim, Phi Luật Tân với 25 tỉ Mỹ Kim. Việt Nam đứng hạng 10 với 11 tỉ Mỹ kim, tương đương khoảng 7.1 % của tổng sản phẩm nội địa, bằng 1/3 số lượng ngoại hối dự trữ của Việt Nam vào năm 2013 (33 tỉ Mỹ kim), lớn hơn cả vốn đầu tư nước ngoài (10.5 tỉ Mỹ kim) và tiền viện trợ chinh thức để phát triển ODA thực (net official Development Assistance) (4.1 tỉ Mỹ kim cho năm 2012). 5/ Số lượng kiều hối xem ra nhập vào Việt Nam đều đặn hơn là vốn đầu tư nước ngoài. Kiều hối một nguồn ngoại tệ quan trọng, một số tiền viện trợ lớn không phải hoàn lại và không phải chịu một chi phí nào cả.

Hình (CAMSA): Công nhân bị bóc lột ở Jordan trở về Việt Nam.

Vào năm 2011, cán cân vãng lai (current account balance) của Việt Nam từ tình trạng thiếu hụt lần đầu tiên trở nên trở nên thặng dư với con số khiêm nhường là 236 triệu Mỹ kim. Con số này đã tăng lên đến 2.6 tỉ Mỹ kim vào năm 2013. Một phần nhỏ nhờ vào thặng dư về cán cân thương mại (trade balance) 3.3 tỉ Mỹ kim, nhưng phần lớn hơn nhờ thặng dư về tài khoản chuyển nhượng vãng lai dòng (net current transfer) 9.1 tỉ Mỹ kim trong đó có 11 tỉ kiều hối chuyển vào Việt Nam. 6/

Số lượng ngoại tệ do kiều hối mang về rất cần thiết đối với Việt Nam để thanh toán hàng hóa nhập khẩu và các dịch vụ thương mại. Ngoài ra nó còn giúp ổn định tỷ giá (hối suất). Nếu ngoại tệ khan hiếm, đồng bạc Việt Nam sẽ mất giá, tỷ giá của VNĐ đối với ngoại tệ sẽ lên cao và làm tăng lạm phát.

Mặc dầu ngoại tệ có giá trị hơn đồng Việt Nam, nhưng không phải những người nhận đều lãnh ngoại tệ. Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam cho biết, tỉ lệ kiều hối chuyển sang VNĐ tại ngân hàng này lên đến 25% trong 2013, một phần vì tỷ giá của VNĐ ổn định.

Lý do giúp cho kiều hối gia tăng

Một yếu tố giúp cho sự gia tăng kiều hối là số người Việt vẫn tiếp tục ra nước ngoài qua chương trình đoàn tụ gia đình và qua chương trình xuất khẩu lao động. Số công nhân Việt Nam làm việc ở nước ngoài từ khoảng 30,000 người vào năm 2000 đã lên đến 500,000 người vào năm 2013. Kể từ năm 2015, công nhân trong các nước thuộc khối Động Nam Á (Association of South East Asian Nations – ASEAN) có thể tự do đi lại và làm việc ở trong vùng, do đó sẽ làm số kiều hối tăng lên. 7/

Một yếu tố quan trọng khác là sau nhiều năm đầu thử nghiệm Việt Nam đã rút tỉa ra một chính sách cởi mở nhắm thu hút kiều hối bao gồm một số biện pháp cần thiết như không hạn chế số lượng kiều hối, cho phép nhận và trả bằng ngoại tệ. Người nhận không bị bắt buộc phải gửi vào chương mục tiết kiệm hay bán ngoại tệ cho ngân hàng và không phải trả thuế thu nhập trên số kiều hối. Ngoài ra, sự chênh lệch về lãi suất áp dụng đối với tiền Việt Nam và ngoại tệ ở Việt Nam cũng là một yếu tố thu hút kiều hối.

Yếu tố thứ ba là người Việt ở nước ngoài về thăm Việt Nam, mua nhà ở hay đầu tư được dễ dàng hơn trước. Dịch vụ chuyển tiền phát triển rộng rãi ở trong nước cũng như ở hải ngoại với nhiều công ty và chi nhánh chuyển tiền với sự cộng tác của các ngân hàng, một phần nhờ chánh sách cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia vào việc chuyển tiền. Thủ tục chuyển tiền khá giản di và nhanh chóng. Thông thường chỉ trong vòng 24 giờ là người ở Việt Nam nhận được tiền kể cả ở vùng quê. Chi phí chuyển tiền qua công ty thương mại và ngân hàng tiếp tục giảm do cạnh tranh rất cao. Thí dụ lệ phí chuyển 100 Mỹ kim từ Hoa Kỳ qua một công ty chuyển tiền ở vủng Virginia về Việt Nam là 2 Mỹ kim và từ 300 Mỹ kim lệ phí là 1.5 Mỹ kim cho mỗi 100 Mỷ kim chuyển đi.

Kiều hối được sử dụng như thế nào?

Theo cuộc nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường và Daniel Mont xuất bản vào 2012 đã đề cập đến ở trên, phần lớn kiều hối chuyển vào Việt Nam được dùng vào việc mua bán nhà, đất, trả nợ và tiết kiệm. Một phần nhỏ được dùng để mua những sản phẩm công nghiệp. Ngoài ra, cuộc nghiên cứu tìm thấy rằng kiều hối không được dùng vào việc sản xuất cũng như tiêu thụ hàng ngày và ảnh hưởng đối với giảm nghèo về mặt tiêu thụ rất giới hạn, ít nhất trong ngắn hạn.

Một cuộc nghiên cứu khác của Vân Phượng Hoàng và Elisabetta Magnani thuộc University of New South Wales xuất bản vào 2012 cũng có một kết luận tương tự rằng số lượng kiều hối từ nước ngoài do Việt kiều gửi về không có ảnh hưởng đến việc phát triển thương mại. Trái lại, những số tiền của công nhân sống ở Việt Nam nhưng xa gia đình hay làm việc ở nước ngoài trong chương trình xuất khẩu lao động gửi về quê quán đã giúp cho thân nhân xây dựng cơ sở làm ăn. 8/

Một phúc trình của Ủy Ban Giám Sát Tài Chánh Quốc Gia dựa trên việc khảo sát 4,000 hộ nhận kiều hối vào năm 2011 cho thấy 52% lượng kiều hối được đầu tư vào bất động sản. Tiếp theo là tiết kiệm và tiêu dùng. Theo thống kê của chi nhánh Ngân Hàng Nhà Nước tại Saigon, số lượng kiều hối đầu tư vào bất động sản đã giảm xuống 23% vào năm 2012 và 21% trong 10 tháng của năm 2013. Ngược lại, tỉ lệ kiều hối đầu tư vào lãnh vực kinh doanh gia tăng. 9/

Kết luận

Kiều hối là một nguồn ngoại tệ tương đối ổn định, ngay cả khi có cuộc khủng hoảng kinh tế, so với những nguồn tài chánh khác như đầu tư ngoại quốc trực tiếp và tiền viện trợ. Kiều hối chứng tỏ là một yếu tố quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Nó giúp cân bằng cán cân vãng lai, tăng cường ngoại tệ dự trữ, và giúp cải thiện đời sống của người nhận.

Việt Nam cần phải tiếp tục duy trì chánh sách cởi mở về kiều hối. Cải thiện chính sách xuất khẩu lao động là một ưu tiên để có sự cạnh tranh lành mạnh trong việc tuyển dụng nhân công ra nước ngoài và giảm lệ phí tham gia chương trình xuất khẩu lao động. Việt Nam cần tiếp tục gửi công nhân đi nhiều nước khác nhau, thay vì một vài nước, để tránh những biến động địa phương bất ngờ.

Công nhân làm việc ở nước ngoài cần phải được bảo vệ đầy đủ chống lại sự bóc lột của giới chủ nhân. Nhiều trường hợp như vậy đã xẩy ra trong quá khứ trước sự làm ngơ của các sứ quán Việt Nam hoặc tệ hơn với sự tiếp tay của các viên chức này như trong trường hợp 1,600 công nhân Việt Nam ở Malaysia và gần 200 công nhân Việt Jordan vào 2008. Gần đây hơn vào đầu năm 2013 tại Nga, 15 nữ công nhân Việt Nam bị lường gạt và bán vào ổ mãi dâm với sự tiếp tay của một công ty xuất khẩu lao động ở Việt Nam và nhân viên của Tòa Đại Sứ của Việt Nam tại thủ đô Moskova. 10/ Vậy nhà nước có trách nhiệm phải kiểm tra những công ty xuất khẩu lao động và phải có biện pháp trừng phạt nặng nề những kẻ chủ mưu ám hại ngay cả người đồng hương thân cô thế cô ở xứ người.

Việc sử dụng kiều hối ở Việt Nam chưa được thỏa đáng. Việt Nam cần phải hoạch định một chính sách để khuyền khích việc sử dụng kiều hối vào những dự án đầu tư sản xuất ngắn hạn và dài hạn và vào công việc kinh doanh thay vì vào thị trường địa ốc và tiêu thụ.

Tiềm năng đầu tư của người Việt ở nước ngoài rất đáng kể. Để khai thác được tiềm năng này, nhà nước Việt Nam không những phải cải tổ môi trường kinh doanh ở trong nước để có sự bình đẳng, minh bạch, và tự do thông tin đa chiều mà còn phải loại bỏ tệ nạn tham nhũng. Cải tổ chính trị cần phải thực hiện song song với cải tổ kinh tế. Có tự do dân chủ mới có thể tận diệt được tham nhũng và giảm thiểu những lãng phí tài nguyên quốc gia như hiện nay. Trong chính trị cũng cần có cạnh tranh như trong thị trường kiều hối và trong kinh tế nói chung mới có sự trong sạch và tiến bộ.

Ông Nguyễn Quốc Khải nguyên là tham vấn và chuyên viên nghiên cứu kinh tế tại Ngân Hàng Thế Giới. Ông cũng từng làm tham vấn cho Đài Á Châu Tự Do và là giáo sư thỉnh giảng (professorial lecturer) tại Johns Hopkins University.

——————————————————————

Chú thích:

1/ Thùy Vinh, “Kiều Hối Năm 2014 Dự Báo Tăng 20%.” Báo Đầu Tư, 27-1-2014.
2/ Nguyen Viet Cuong, Daniel Mont, “Economic Impacts of International Migration and Remittances on Vietnam’s Development,” Emerald Group Publishing, United Kingdom, 2012.
3/ Hải Nguyễn, “Kiều Hối Là Gì?,” http://www.truclamyentu.info.
4/ Pfau Wade Donald & Giang Long Thanh, “The Growing Role of International Remittances in the Vietnamese Economy: Evidence from the Vietnam (Household) Living Standard Surveys,” 2010.
5/ Tuổi Trẻ, “ODA năm 2013 đạt trên 7 tỷ USD.” 18-10-2013.
6/ Theo thống kê của Ngân Hàng Phát Triển Á châu (Asian Development Bank – ADB).
7/ Hà Thu & Anh Quân, “Việt Nam thuộc top nhận kiều hối nhiều nhất thế giới,” VNExpress, 15-4-2014.
8/ Van Phuong Hoang, Elisabetta Magnani, “Remittances and Household Business Start-Ups in Vietnam: Evidence from Vietnam Household Living Standard Surveys,” Uiversity of New South Wales, Sydney, 2012.
9/ Tô Hà, “Kiều Hối Tăng Mạnh, Chuyển Động,” Người Lao Động, 24-1-2014.
10/ CAMSA, “Để giải cứu nạn nhân ở Nga,” Mạch Sống, 7-4-2013.

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng | 1 Comment »

►Công đoàn tỉnh Aichi dọa kiện đại sứ quán Việt Nam tại Nhật

Posted by hoangtran204 trên 12/06/2014

http://www.conongviet.com/ChinhTri/web271208-chua%20bao%20gio%20nguoi%20viet%20nam%20mang%20nhuc%20voi%20the%20gioi%20nhu%20bay%20gio.htm

Công đoàn tỉnh Aichi dọa kiện đại sứ quán Việt Nam tại Nhật

Sau nhiều vụ việc làm ăn bẩn thỉu, gian lận, trộm cắp của cơ quan chức quyền Việt Nam tại nhật như:

– Vụ PCI (một tập đoàn chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn của Nhật phải đưa hối lộ để được trúng thầu các dự án thực hiện bằng tiền viện trợ của Nhật tại Việt Nam)

– Vụ nhân viên, tiếp viên và phi công của Vietnam Airlines, tổ chức trộm cắp hàng hóa trong các trung tâm mua sắm tại Nhật để vận chuyển hàng gian về Việt Nam tiêu thụ

– Vụ “tu nghiệp sinh” Việt Nam bị các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của chính quyền CSVN bóc lột như nô lệ

– Vụ lãnh sự quán CSVN tại Osaka tại Nhật bán passport Việt Nam cho tất cả mọi người

– Vụ đại sứ quán CSVN bị một công đoàn địa phương tại Nhật kiện

Trên nhiều diễn đàn điện tử tại Nhật, nhiều người Nhật cực đoan đang kêu gọi tẩy chay người Việt, đuổi hết người Việt về nước, cắt vĩnh viễn các khoản viện trợ cho Việt Nam.

Có người so sánh viện trợ cho Việt Nam uổng hơn là đổ tiền vào… cống, bởi tiền thuế của họ đang được dùng để nuôi bọn “giòi bọ” ở Việt Nam…

Cảnh sát Nhật khám xét toàn bộ các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật.

Người phát ngôn của Vietnam Airlines vừa chính thức xác nhận: Tất cả các văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật vừa bị cảnh sát Nhật lục soát để tìm kiếm hàng hóa bị ăn cắp.

Vụ tai tiếng liên quan tới Vietnam Airlines bắt đầu từ ngày 10 tháng 8, sau khi cảnh sát quận Kumamoto bắt quả tang hai “tu nghiệp sinh” người Việt đang ăn cắp hàng hóa của một trung tâm mua sắm. Hai “tu nghiệp sinh” này đến Nhật để làm việc cho một công ty xây dựng hồi tháng 2. Mỗi tháng họ nhận được 70,000 Yen nhưng bị các doanh nghiệp “xuất khẩu lao động” của chính quyền CSVN “trấn lột” 50,000 Yen/tháng nên không đủ sống và được một nhân viên của Vietnam Airlines tại Nhật tuyển mộ để đi ăn cắp mỹ phẩm…

Báo chí Nhật cho biết, cảnh sát Nhật đã xác định có tới 85 người Việt liên quan tới tổ chức trộm cắp này. Ðồng thời, cảnh sát Nhật tuyên bố, việc đưa “tu nghiệp sinh” Việt Nam sang Nhật làm việc có dấu hiệu buôn người nên đã đề nghị cảnh sát hình sự quốc tế hợp tác điều tra.

Hôm 17 tháng 12, cảnh sát Nhật đã bắt quả tang Ðặng Xuân Hợp, phi công của Vietnam Airlines đang vận chuyển hàng gian về Việt Nam. Cảnh sát xác định có khoảng 50 nhân viên (bao gồm cả phi công lẫn tiếp viên hàng không) của Vietnam Airlines dính líu đến tổ chức trộm cắp và vận chuyển hàng gian đang bị điều tra. Vì các nghi can cùng cho biết những Văn phòng đại diện của Vietnam Airlines tại Nhật là nơi cất giấu hàng trộm cắp nên một đợt khám xét những văn phòng này vừa được thực hiện.

Theo báo điện tử VnExpress, người phát ngôn của Vietnam Airlines chỉ xác nhận cảnh sát Nhật đã khám xét các văn phòng của hãng này và đã “làm việc” với một số tiếp viên, phi công. Phía Vietnam Airlines từ chối bình luận trước khi giới hữu trách ở Nhật công bố thông tin.

“Tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật – một loại nô lệ

Vụ bê bối liên quan tới Vietnam Airlines tại Nhật không chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức-vận chuyển-tiêu thụ hàng ăn cắp. Báo chí Nhật và một số du học sinh tại Nhật đã cung cấp thêm nhiều thông tin để lý giải vì sao “tu nghiệp sinh” Việt Nam tại Nhật phải tham gia vào các tổ chức trộm cắp do nhân viên Vietnam Airlines tổ chức.

Về lý thuyết, “tu nghiệp sinh” là một dạng học nghề nên dù sang Nhật để làm thuê song không được trả lương mà chỉ được hưởng “trợ cấp”. Ðó là sự bất công thứ nhất mà người nghèo ở Việt Nam phải gánh chịu khi chập nhận sang Nhật làm thuê.

Bất công thứ hai là muốn được đi sang Nhật làm “tu nghiệp sinh”, những người nghèo ở Việt Nam phải đóng khoảng 1 triệu Yen/người cho Sovilaco hoặc Suleco (những doanh nghiệp quốc doanh, độc quyền xuất khẩu lao động sang Nhật). Vì sợ “tu nghiệp sinh” bỏ trốn, Nguyễn Gia Liêm – đại diện của Bộ Lao Ðộng Thương Binh Xã Hội CSVN được cử sang Nhật để “giám sát, bảo vệ quyền lợi cho người lao động Việt Nam” đã yêu cầu giới chủ ở Nhật thu giữ passport, thẻ ngoại kiều của “tu nghiệp sinh” nhằm bảo vệ quyền lợi cho Sovilaco hoặc Suleco. Ða số chủ hãng của Nhật chỉ dám giữ passport của “tu nghiệp sinh” vì thu giữ giấy tờ tùy thân của người khác là vi phạm luật pháp của Nhật.

Gần như tất cả “tu nghiệp sinh” tại Nhật phải làm việc khoảng 20 tiếng/ngày và 7 ngày/tuần nhưng chỉ được trả “trợ cấp” 70,000 Yen/tháng (khoản thu nhập chỉ bằng một nửa mức thu nhập tối thiểu) vì là… “tu nghiệp sinh”. Bất công thứ ba là 50% khoản trợ cấp 70,000 Yen/tháng đó được giới chủ Nhật chuyển vào tài khoản của Sovilaco hoặc Suleco tại Nhật, để Sovilaco hoặc Suleco khống chế “tu nghiệp sinh”: Một mặt ngăn ngừa họ bỏ trốn do lao động cực nhọc, lương thấp, mặt khác để hưởng tiền lời. Nếu “tu nghiệp sinh” đau bệnh, xin trở về nguyên quán sớm hoặc có lỗi lầm dẫn tới bị sa thải trước khi “hợp đồng gửi đi làm tu nghiệp sinh” hết hạn, Sovilaco hoặc Suleco sẽ tịch thu toàn bộ số tiền 50% đã giữ mỗi tháng để “bồi thường các thiệt hại do vi phạm hợp đồng”. Ðó là chưa kể, mỗi tháng, một tu nghiệp sinh còn phải trả cho Sovilaco hoặc Suleco 10,000 Yen “quản lý phí”.

Một blogger người Việt có nickname là “Minh T”, sống tại Nhật khẳng định: “Với 25,000 Yen còn lại, phải dành 10,000 Yen trả tiền nhà/tháng, 15,000 Yen để trả các loại chi phí ăn, uống, điện, nước, ga,… gái không làm điếm, trai không ăn cắp cho bọn hàng không Việt Nam mới là chuyện lạ vì họ đã bị bóc lột đến tận xương tủy. Mong sao cảnh sát Nhật phối hợp với ICPO (Hình cảnh Quốc tế), điều tra,hốt hết bọn bất lương trong các đường dây buôn người của chính phủ Việt Nam như họ đã tuyên bố”.

Viên chức ngoại giao Việt Nam tại Nhật: Bẩn thỉu và thô lỗ

Bên cạnh các scandal “PCI”, “Vietnam Airlines”, “Tu nghiệp sinh”,… các viên chức ngoại giao của Việt Nam tại Nhật cũng đang tạo ra vô số tai tiếng.

Từ dư luận, báo chí Nhật đã cử phóng viên điều tra việc các cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Nhật bán giấy tờ giả. Một phóng viên Nhật đã thử liên lạc và cuối cùng mua được một passport từ lãnh sự quán CSVN tại Osaka với giá chỉ có 30,000 Yen, dù anh ta hoàn toàn không phải là công dân Việt Nam và không biết nói tiếng Việt.

Ngoài vụ “Quốc tịch Việt Nam trị giá 30,000 Yen”, tòa đại sứ CSVN tại Tokyo cũng đang nằm trong tầm ngắm do bị nghi chuyên chứng thực các bằng lái xe giả (để người sử dụng được miễn thi lấy bằng lái xe tại Nhật). Sở Cảnh sát Tokyo đã ban hành một chỉ thị, theo đó, những giấy tờ do tòa đại sứ CSVN chứng thực chỉ có giá trị sử dụng sau khi đã được Bộ Ngoại Giao Nhật chứng thực lại, rằng con dấu của Tòa Ðại sứ CSVN trên giấy tờ là dấu… thực.

Vụ mới nhất, đang khiến dân chúng Nhật phẫn nộ đó là việc một viên chức của tòa đại sứ CSVN tại Nhật lăng mạ công đoàn tỉnh Aichi (Airoren), một chi nhánh thuộc Tổng Công Ðoàn Nhật. Trước đó, Airoren đã nhận sự ủy thác của tổ chức công đoàn đại diện cho các công nhân làm việc cho Toyota, yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho 64 “tu nghiệp sinh” Việt Nam, vốn đang bị Sovilaco, Suleco của phía chính quyền CSVN và các công ty trung gian ở Nhật bóc lột.

Sau khi Airoren liên lạc với 64 “tu nghiệp sinh” này để làm các thủ thục thay mặt họ nộp đơn kiện đòi quyền lợi, cả 64 người đã bị viên chức của tòa đại sứ CSVN tại Nhật gọi lên “làm việc”. Trong buổi “làm việc” đó, “tu nghiệp sinh” được yêu cầu chấm dứt quan hệ với Airoren bởi Airoren là một “tổ chức phi pháp” hoạt động như “Mafia”. Ai đó trong số 64 “tu nghiệp sinh” đã bí mật ghi âm và sau khi băng ghi âm được chuyển cho Airoren, Airoren đã gửi văn bản phản kháng cho chính quyền CSVN, yêu cầu thủ tướng CSVN phải xin lỗi, nếu không, họ sẽ kiện đại sứ quán CSVN ra tòa án Nhật.

Trước sự kiện này, blogger có nickname “Minh T” nhận xét: “Chắc chắn những nhân viên của tòa đại sứ là đảng viên cộng sản. Họ phải hiểu rằng Ðảng cộng sản là đại diện của giai cấp công nhân nhưng họ đã không đứng về phía công nhân mà còn sỉ nhục người ta. Họ là nhân viên ngoại giao nhưng quên mất nghiệp đoàn lao động là biểu tượng của nhân dân lao động Nhật”. Cũng blogger “Minh T” kể tiếp: “Tanaka Masao – một cảnh sát viên của tỉnh Gunma đang tham gia điều tra vụ hàng không Việt Nam, có cha từng là cố vấn quân sự cao cấp của Việt Minh, nói như thế này với báo chí Nhật: Tôi không thể tưởng tưởng và hiểu được, tại sao một dân tộc có 4,000 năm văn hiến, dũng cảm, lại để thế hệ con cháu phải đi làm nô lệ ở xứ người như vậy”.

Gia Ðịnh

 

2 công ty SOVILACO và SULECO là 2 trong số hàng ngàn công ty dịch vụ của sở lao động của 64 tỉnh thành, và 600 phòng lao động quận /huyện, các cán bộ đương chức đương quyền thành lập. Giám đốc các công ty dịch vụ là  các đảng viên đảng CSVN và con cái của họ. Họ lo giấy xuất cảnh, mua vé máy bay, làm giấy tờ cho người đi lao động cầm thế nhà đất cho ngân hàng để lấy tiền trả cho 2 công ty dịch vụ kiếm việc làm nầy. 

Hiện nay, VN có khoảng 500.000 – 750.000 lao động xuất khẩu đang làm việc cho các nước ngoài. Người VN lao động xuất khẩu có mặt trên 40 quốc gia. 

Chính phủ VN xuất khẩu người vì có nhiều điều lợi cho họ. Một, nhà nước CS  không đủ khả năng tạo công ăn việc làm cho người dân. Và điều quan trọng nhất là những người nầy đi làm việc ở nước ngoài và dành dụm GỞI TIỀN ĐÔ về cho thân nhân ở VN, và sau cùng NHÀ NƯỚC in tiền ra để thu đổi tất cả số ngoại tệ nầy vào tay họ. (giá in 1 tờ 500.000 đồng tiền polimer là 5 cents tiền Úc. Nhà nước chi 1 đô Úc, mua được 20 tờ 500.000 đồng VN polimer. Sau đó, dùng 20 tờ giấy 500.000 đồng nầy để đổi lấy 500 đô la Mỹ. Đến đầu năm 2015, thì VN trực tiếp mua giấy, và in tiền ở Hà Nội, không cần thuê Úc in tiền polimer nữa.)

Posted in xuất khẩu lao động - du sinh -con nuôi | Leave a Comment »

►Kiều Hối – Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng: Với 11 tỷ đô la kiều hối năm 2013, Việt kiều đã gởi về Việt nam tổng cộng 84 tỷ đô la trong khoảng thời gian 20 năm qua, 1993-2013

Posted by hoangtran204 trên 06/01/2014

Theo giá cả hiện nay mà VN đang thuê Úc in tiền polimer, chỉ cần bỏ ra 25-30 xu để trả tiền công in 4-5 tờ giấy bạc 500.000 đồng, các ngân hàng nhà nước có thể đổi được 1 tờ giấy 100 đô la của gia đình thân nhân Việt kiều đang sống trong nước.

Trong khi đa số xuất khẩu của VN có lợi nhuận rất thấp. Cụ thể ngành dệt may xuất khẩu hàng gia công (như áo quần may sẵn, hàng dệt may) năm nay là 20 tỷ đô la, nhưng mức lợi nhuận chỉ quanh quẩn nhỉnh hơn 750 triệu đô la. Mục đích chủ yếu của ngành xuất khẩu gia công là tạo công ăn việc làm lương thấp (150-200 đô/ 1 tháng) cho công nhân trong khi chờ chính phủ có kế hoạch kinh tế tốt hơn, chờ kỹ thuật cải tiến để chuyển lực lượng nhân công này qua một ngành khác, tựa như Mỹ đã làm trước 1960, và Nhật đã từng làm hồi 1946-1970, để người lao động có việc làm, giảm tình trạng thất nghiệp…(mức lương của công nhân TQ làm cùng ngành này là 276-466 đô la/ tháng).

Tiền kiều hối là tiền tươi. Ở trên trời rớt xuống, không gây ô nhiễm môi trường, không gây áp lực chính trị, và làm thúc đẩy nền kinh tế trong nước chạy theo hướng tích cực. Phải nói rằng: Kiều Hối – Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng.

84 tỷ đô la kiều hối trong thời gian 20 năm qua là con số quá lớn để làm đòn bẩy xây dựng nền kinh tế và thiết kế nền công nghiệp. Nhưng tiếc thay, số tiền này rơi vào tay nhà Sản nên dân chúng vẫn còn lầm than.

Thử so sánh sổ tiền này với sổ tiền mà các nước ngoài đầu tư vào TQ. Trong 10 năm, từ 1980-1990, Mỹ, Châu âu và Châu Á đổ vào Trung Quốc 500 tỷ đô la để xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, nhà máy điện, hải cảng, và xây dựng các công ty sản suất hàng hóa cho cả thế giới tiêu thụ trong hơn 25 năm qua, tạo công ăn việc làm và sự thịnh vượng cho 300 triệu người TQ.  

Việt Nam nhận 11 tỷ đôla kiều hối năm 2013-

Chủ nhật, 05/01/2014

VOA Tiếng Việt

Kiều hối năm 2013 của Việt Nam đạt 11 tỷ đô-la trong năm 2013, khiến nước này đứng vào danh sách một trong 9 quốc gia trên thế giới nhận được luợng kiều hối nhiều nhất.

Thông tin từ Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ Ngoại giao Việt Nam, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong năm qua tăng cao, khoảng 4,7% so với năm ngoái.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban người Việt ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn nói rằng kiều hối đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của kinh tế Việt Nam.

Ông Nguyễn Thanh Sơn cũng nói việc kiều bào đầu tư vào trong nước là bước đi hai chân vững chắc vừa về mặt tình cảm với quê hương vừa có thể củng cố vị thế của mình ở quốc gia sở tại.

Thống kê từ các cơ quan tài chính của Việt Nam cho thấy lượng kiều hối chuyển về Việt Nam liên tục tăng lên mỗi năm. Con số tổng cộng từ năm 1993 đến 2013 là khoảng 84 tỷ đô-la.

Nguồn: Bernama, Ðất Việt

—————————————————

►Nợ công và nợ xấu sẽ tiếp tục đè nặng lên những thế hệ tương lai của Việt Nam ?

Posted by hoangtran204 on 27/11/2013

Nhà nước cộng sản chỉ sụp đổ bởi lý do tài chánh, lạm phát, kinh tế suy thoái. Sự cai trị của đảng cộng sán chỉ chấm dứt khi nhà nước không còn tiền chi trả lương cho công nhân viên, quân đội, công an nhân dân, và hàng triệu các đảng viên. Liên Xô và các 16 nước XHCN ở Âu châu-đã sụp đổ theo cách ấy vào năm 1989-1991- mặc dầu đã nhiều lần in tiền đưa vào nền kinh tế như nhà Sản ở VN đang làm trong thời gian qua.   

Nhà nước đang trả lương cho gần 9 triệu công nhân viên chức, và 8,8 triệu người có công với cách mạng. 

————————————–

Trong khi đó, đảng chỉ đạo kinh tế như thế nào mà nợ quá xá chừng như thế này

►Nợ công và nợ xấu sẽ tiếp tục đè nặng lên những thế hệ tương lai của Việt Nam ?

Thụy My& Phạm Chí Dũng

Theo RFI 

Đếm tiền tại một ngân hàng ở Hà Nội.

Reuters

Theo các con số chính thức, nợ công của Việt Nam hiện nay chiếm khoảng 55,4% tổng sản phẩm nội địa (GDP) nghĩa là còn trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên hiện nay ngay báo chí nhà nước cũng đã đặt dấu hỏi về con số này, và đưa ra tỉ lệ nợ công lên đến 95% GDP. Trong khi đó, vừa rồi Chính phủ đã đề nghị Quốc hội cho nâng trần bội chi ngân sách lên 5,3% và phát hành thêm 170.000 tỉ đồng trái phiếu. Theo tính toán của một tờ báo trong nước, cứ mỗi ba tháng Việt Nam phải trả nợ một tỉ đô la. 

Phải chăng ngân sách Việt Nam đang cạn kiệt, và hậu quả sẽ như thế nào khi nợ nần tứ phía, tham nhũng lan tràn ? Trong tạp chí kinh tế hôm nay, RFI Việt ngữ đã trao đổi về vấn đề này với tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng ở Việt Nam.  (GDP Việt Nam năm 2012 ước đạt 136 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.540 USD)

RFI : Như anh đã biết, nợ của Việt Nam nếu tính cả những doanh nghiệp mà chủ yếu là của nhà nước thì lên tới 95% GDP, có nghĩa là vượt ngưỡng an toàn mà ngưỡng này được xem là 60%. Anh nhận xét tình hình này như thế nào ? 

TS Phạm Chí Dũng : Tôi xin nói trước về vấn đề ngưỡng an toàn so với GDP của Việt Nam. Hiện nay theo một số quan chức Việt Nam thì ngưỡng an toàn nằm ở mức 70% chứ không phải 60%. Trong khi đó theo ngưỡng an toàn tiêu chuẩn quốc tế về nợ công trên GDP, thì nợ công là 65%. Nhưng thật ra hiện nay đang có mâu thuẫn rất lớn về đánh giá giữa hai luồng quan điểm, khác nhau hoàn toàn về vấn đề nợ công trên GDP.

Luồng quan điểm thứ nhất thuộc về chính phủ Việt Nam với màu sắc luôn luôn tô hồng, theo như các báo cáo của chính phủ. Đó là tỉ lệ nợ công trên GDP hiện nay chỉ chiếm 55,4%, mà nếu vay nợ thêm thì tỉ lệ nợ công trên GDP cũng chỉ khoảng 60% tức là vẫn còn an toàn, dưới mức 70% cho phép. (nợ công hiện nay là 78 tỷ USD/ GDP của VN là 136 tỷ USD)

Trong khi đó theo một quan điểm độc lập khác thì tỉ lệ nợ công quốc gia trên GDP Việt Nam hiện nay tới 95%. Đánh giá này được nêu ra tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân tại Nha Trang vào tháng 4/2013. Một số chuyên gia phản biện độc lập – tôi nhớ là ở Ba Lan, và kể cả ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã rất bức bối, và lần đầu tiên nêu ra tỉ lệ nợ công hiện nay lên tới 95% GDP.Với điều kiện tính luôn cả nợ và nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước – hiện nay lên tới 1,3 triệu tỉ đồng Việt Nam, tức là khoảng 65 tỉ đô la – lại không được tính vào nợ công quốc gia của Việt Nam.

Nghịch lý là như vậy. Mà khi không tính vào thì tất nhiên tỉ lệ nợ công/GDP của Việt Nam chỉ có 55,4% thôi. Nhưng nếu tính tất cả nợ công của kinh tế nhà nước thì tỉ lệ đó phải lên tới ít nhất 95% GDP.

Còn theo đánh giá của một chuyên gia quốc tế nữa thì tỉ lệ nợ công/GDP không phải là 95% nữa mà là 106%. Đó là một con số khủng khiếp, và điều đó nhắc chúng ta nhớ lại tỉ lệ nợ công/GDP của Philippines trước đây. Nợ công của Philippines vào thời Tổng thống Marcos – được coi là một trong những đời tổng thống tham nhũng nhất của Philippines – lúc đó là 120%, tương đương 120 tỉ đô la, và toàn bộ GDP hàng năm của Việt Nam hiện nay.

Và nếu như mâu thuẫn ở Việt Nam không thể giải quyết được thì người ta đành phải chấp nhận là có một sự chênh biệt tới 50%, giữa báo cáo chính phủ với những đánh giá phản biện về thực tế, hiện tồn ở Việt Nam hiện nay. Do đó cần phải xem lại rất kỹ, rất sâu về nguyên nhân gây ra ung họa ở đâu. Chính là do các tập đoàn nhà nước, chẳng hạn như Vinashin, Vinalines…Mà bản thân những tập đoàn như Vinashin thì chúng ta đã biết họ nợ ít nhất là 84.000 tỉ đồng Việt Nam, tương đương 4 đến 5 tỉ đô la, tức khoảng 6% GDP của Việt Nam.

Đó chỉ mới là một tập đoàn. Còn nhiều tập đoàn khác – chẳng hạn đã xuất hiện những cái tên như Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, kể cả Tập đoàn Điện lực Việt Nam nữa. Tập đoàn này cho tới nay trở thành quán quân về nợ ngân hàng, với tổng số 118.000 tỉ đồng, là tập đoàn nhà nước được các ngân hàng ưu ái vô cùng, thuộc loại được ưu ái nhất Việt Nam.

RFI : Thưa anh, trong tình hình nợ công đã cao như vậy mà còn phải gánh thêm những món nợ – dù Nhà nước không bảo lãnh. Theo luật quản lý nợ công thì những khoản nợ này không được tính vào nợ công quốc gia, nhưng nếu chính phủ phát hành trái phiếu thì cũng là một cách làm tăng nợ lên ?

Thực chất việc phát hành trái phiếu chỉ là dùng giấy để mua nợ chứ không phải là dùng tiền thật mua nợ. Cho nên đó là một thủ pháp mà tục ngữ Việt Nam gọi là « đánh bùn sang ao », mà thực tế không giải quyết bất kỳ vấn đề nào, một nội dung nào về vấn đề nợ xấu. Có nghĩa là nợ xấu vẫn y nguyên ! Vậy thì phát hành trái phiếu là cho ai ?

Có hai kênh để phát hành trái phiếu. Một là kênh phát hành nội địa cho dân chúng, cho các doanh nghiệp, ngân hàng. Thứ hai là kênh phát hành quốc tế. Chẳng hạn trường hợp tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin, chính phủ đã có quyết định cho tập đoàn này phát hành 600 triệu đô la trái phiếu quốc tế.

Như vậy là cũng dùng giấy để giải quyết nợ. Nhưng vấn đề còn lại là có bán được trái phiếu hay không. Tôi không cho là có nhiều hy vọng lắm về việc doanh nghiệp và các tập đoàn nước ngoài kỳ vọng vào việc Vinashin có thể phục hồi một cách vững chắc, để họ có thể mua trái phiếu quốc tế của Vinashin.

Điều đó cho thấy kênh phát hành trong nước hiện nay cũng đang bế tắc, vì gần như tiền không vào lưu thông và tình trạng găm giữ tiền trong dân chúng rất phổ biến, thị trường bất động sản đóng băng. Đó là một minh chứng cực kỳ điển hình. Cho nên việc phát hành trái phiếu nội địa có nhiều khả năng không thành công, các ngân hàng cũng như vậy.

Vấn đề còn lại là nếu tính đúng tính đủ theo năm tiêu chí của Liên Hiệp Quốc về nợ công thì phải cộng luôn cả nợ của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước không xử lý được vào nợ công. Lúc đó tỉ lệ nợ công sẽ không phải là 55% nữa mà sẽ lên ít nhất là 95% GDP.

Nếu như Nhà nước Việt Nam với chính sách hiện nay cứ tiếp tục vay những nguồn vốn được coi là tài trợ quốc tế, chẳng hạn như ODA từ Nhật Bản v.v…dù với lãi suất ưu đãi, vẫn là một gánh nặng đổ lên đầu con cháu. Đời con, đời cháu sẽ tiếp tục phải trả, chứ không phải là thế hệ lãnh đạo hiện nay.

RFI Ngay cả trong trường hợp trái phiếu phát hành để hỗ trợ cho những tập đoàn quốc doanh lỗ lã có bán chạy đi nữa, nhưng đây không phải là dòng vốn rót vào sản xuất – doanh nghiệp tư nhân không vay được – thì đây có phải là hiện tượng lành mạnh không ?

Đó không phải là một hiện tượng lành mạnh đối với khu vực sản xuất, và đối với thực lực của nền kinh tế Việt Nam. Vì đó chẳng qua, tôi nhắc lại, là một thủ pháp để chuyển nợ thành một tờ giấy nào đó mà thôi. Và giấy xét cho cùng cũng chỉ là giấy, vì trái phiếu không có ý nghĩa gì ; trong trường hợp phát hành quá nhiều trái phiếu thì vô hình chung lại đẩy mạnh lạm phát. Và nếu không phát hành trái phiếu mà in thêm tiền cũng là lạm phát.

Cho nên ở đây chính phủ buộc phải chọn một phương cách tạm gọi là tương đối an toàn là phát hành trái phiếu. Nhưng tôi muốn nói thêm một khía cạnh thế này : việc phát hành trái phiếu mà không phải dùng tiền mặt để mua nợ xấu cho thấy ngân quỹ Việt Nam đã eo hẹp, và có nhiều dấu hiệu cạn kiệt đến mức như thế nào !

Trong cuộc suy thoái từ năm 2008 đến đầu 2009, tháng 3/2009 chính phủ Việt Nam đã tung ra một gói kích cầu khoảng 143.000 tỉ đồng, tương đương 8 tỉ rưỡi đô la theo tỉ giá hối đoái vào thời điểm đó. Đây là một con số khổng lồ và đã vực dậy nền kinh tế, nhưng đặc biệt vực dậy các thị trường đầu cơ như chứng khoán và bất động sản, còn nền kinh tế chỉ ăn theo những thị trường này mà thôi.

Tuy nhiên trong suốt ba năm suy thoái vừa qua, điều đáng ngạc nhiên là tiền đi đâu ? Cuối cùng thì các doanh nghiệp đã không thể kỳ vọng là Nhà nước có thêm một gói kích cầu nào nữa. Gói kích cầu đó đã được hy vọng vào năm 2012, khi nền kinh tế quá khó khăn. Nhưng đến năm nay thì gần như đã chấm dứt hy vọng, vì không có bất kỳ một tín hiệu nào về việc chính phủ có thể tung ra một gói kích cầu. Từ đó người ta mới đánh giá thế này : Chính phủ hết tiền rồi !

Các doanh nghiệp nói như vậy, và thực chất là nguồn tiền quá eo hẹp. Huy động mãi mới chỉ được gói kích thích 30.000 tỉ đồng để hỗ trợ cho thị trường bất động sản mà thôi.

Điều đó cho thấy việc tung ra trái phiếu là một kênh chẳng đặng đừng. Một kênh bất đắc dĩ mà chính phủ phải thực hiện, và cuối cùng cũng chỉ là một việc gần như vô nghĩa, tức là không giải quyết thực chất vấn đề nợ xấu.

Liên quan đến việc này, tôi cũng muốn nói thêm là công ty Quản lý Tài sản Quốc gia, viết tắt là VAMC được thành lập vào đầu năm 2013, có nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là xử lý nợ xấu đang tồn đọng tại các doanh nghiệp và ngân hàng. Nhưng sau một hồi bàn thảo rất gay cấn, cuối cùng vốn điều lệ của VAMC chỉ có 500 tỉ mà thôi. Trong khi nhiệm vụ của VAMC là phải giải quyết ít nhất 100.000 tỉ đồng nợ xấu, theo con số báo cáo !

Với vốn điều lệ chỉ có 500 tỉ mà phải giải quyết gấp hai chục lần số nợ xấu thì làm sao có thể được ? Thế là cuối cùng người ta cũng đành ngã sang một phương án như chính phủ đang thực hiện hiện nay. Có nghĩa lại tiếp tục phát hành trái phiếu. VAMC sẽ có một loại trái phiếu đặc biệt, và dùng loại trái phiếu đó để trả lại cho các ngân hàng – những ngân hàng đang ôm nợ xấu. Và các ngân hàng đó phải chuyển lại một số tài sản thế chấp và nợ xấu cho VAMC.

Cho nên trong mấy tháng vừa rồi, có những báo cáo đánh giá là tổ chức này (VAMC) đã mua được 30 đến 35.000 tỉ đồng nợ xấu. Nhưng điều đó có ý nghĩa như thế nào ? Hay chỉ thuần túy là một việc diễn ra trên giấy và chuyển từ tài khoản này sang tài khoản kia. Còn thực chất nợ xấu vẫn là một hằng số, nếu không muốn nói là tăng lên theo thời gian và không hề thay đổi.

Thậm chí theo một báo cáo mới nhất của Ngân hàng Nhà nước – buộc phải báo cáo trước Quốc hội kỳ họp thứ 6 khóa 13, thì Ngân hàng Nhà nước đã phải làm một động tác, một văn bản được coi là « đảo nợ » và chuyển 300.000 tỉ đồng từ nợ xấu lên nhóm nợ đỡ xấu hơn. Như vậy trái phiếu không giải quyết được gì cả.

RFI Mới đây ông Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã đánh giá chuyện anh vừa nói là xử lý nợ xấu bằng cách « ngậm sâm ». Tức là tổ chức VAMC chỉ « cấp cứu » thôi, chứ không phải là xử lý nợ xấu triệt để. Muốn triệt để phải chờ sự phục hồi của nền kinh tế, mà theo ông là khoảng hai, ba năm tới. Theo anh vấn đề này có thể giải quyết thế nào ?

À, đây là một ẩn số cực kỳ lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Nợ xấu hiện nay đang là vấn đề cốt tử để quyết định vận mệnh của nền kinh tế Việt Nam, và có thể cả vận mệnh của nền chính trị Việt Nam trong tương lai không quá xa !

Ông Trương Văn Phước trước đây từng là Tổng giám đốc Eximbank. Nhận định của ông theo tôi độ khách quan chỉ khoảng một nửa thôi ,vì ông vẫn là một quan chức.

Muốn đánh giá một cách thực chất vấn đề nợ xấu của Việt Nam và thời gian để giải quyết nợ xấu, có lẽ phải dựa vào những ý kiến độc lập hơn nhiều. Nhưng dù sao tôi cho là ý kiến của ông Trương Văn Phước từ trước tới nay vẫn là một trong những ý kiến tương đối sâu sắc và có thể tham khảo được.

Vấn đề ông đưa ra là từ hai tới ba năm có thể giải quyết được nợ xấu, theo tôi là quá lạc quan. Đó là theo lộ trình của Nhà nước và những điều mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố trước Quốc hội, đến khoảng năm 2014-2015 có thể giải quyết được nợ xấu.

Nhưng theo một chuyên gia khác là ông Bùi Kiến Thành, một chuyên gia Việt kiều và có thể nói là một người khách quan nhất trong lãnh vực tài chánh ngân hàng, thì thời gian để giải quyết nợ xấu phải mất ít nhất 5 năm, tính từ năm 2012. Đánh giá của ông Bùi Kiến Thành được đưa ra vào năm 2012. Có nghĩa là sớm nhất phải đến 2017 mới có thể giải quyết được.

Như vậy đã có một sự chênh biệt khá đáng kể, ít nhất hai, ba năm giữa đánh giá của một chuyên gia phản biện độc lập với khối ngân hàng nhà nước về thời gian giải quyết nợ xấu. Còn giải quyết như thế nào, thực chất hiện nay VAMC không thể gọi là một phép mầu, một cây đũa thần.

Và đúng là như ông Trương Văn Phước đã dùng từ bóng bẩy nhưng ý nhị, là chỉ cho ngậm sâm. Đối với những cơ thể đã ốm o, dặt dẹo và thường là mang trọng bệnh thì mới cho ngậm sâm. Nhưng ngậm sâm chỉ có tác dụng trong một thời gian ngắn, sau đó nếu không giải quyết được gì nữa, lúc đó cơ thể sẽ lờn thuốc. Sẽ không có bất kỳ một loại sâm, một loại thuốc quý nào có thể làm cơ thể hồi phục. Lúc đó sẽ lụn bại, sụp xuống rất nhanh.

RFI : Thưa anh, báo cáo kinh tế vĩ mô 2013 mang tiêu đề « Thách thức còn ở phía trước » kêu gọi cổ phần hóa triệt để doanh nghiệp nhà nước, mở rộng tham gia của tư nhân, đưa ra lộ trình doanh nghiệp nhà nước hiện giờ 25-27% GDP xuống dưới 10% vào năm 2020. Anh thấy việc này có khả thi không ?

Thực ra tôi không quan tâm lắm tới chính sách cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước cho tới thời điểm này. Vì việc đó đã làm từ lâu và không có kết quả, chỉ theo tính chất phong trào mà thôi, và cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước không mấy quan trọng. Còn những doanh nghiệp quan trọng thì Nhà nước vẫn nắm. Cho nên điều đó không tạo ra ý nghĩa nhiều lắm trong chiến dịch cổ phần hóa suốt mười mấy năm vừa rồi.

Chẳng hạn những lãnh vực như xăng dầu, điện lực độc quyền đến như thế nhưng Nhà nước vẫn không cổ phần hóa. Mà không cổ phần hóa thì giá chỉ có tăng mà không có giảm. Còn những lãnh vực cổ phần hóa như bưu chính thì như chúng ta đã thấy, trong thời gian khá dài giá đã giảm đáng kể, chẳng hạn giá cước sử dụng internet.

Nếu không bỏ độc quyền thì việc cổ phần hóa sẽ không có ý nghĩa lắm. Thành thử việc cổ phần hóa sẽ diễn ra như thế nào trong thời gian sắp tới, theo tôi không quan trọng bằng việc phải cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách thực chất bằng việc xóa bỏ, hoặc ít nhất là cũng xóa dần thế độc quyền của một số doanh nghiệp, chẳng hạn như những doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu, điện, nước thì mới có ý nghĩa. Chứ còn vẫn mãi độc quyền, không có một cải cách nào cả, thì sẽ khó thể tham gia vào những định chế đa phương thương mại quốc tế, và cũng không phát huy được nội lực của khối doanh nghiệp tư nhân trong nước.

RFI : Thưa anh, vừa rồi một nhà kinh tế kiêm blogger là Alan Phan cho biết ông không tin vào một chính sách nào của Nhà nước nữa, vì thật ra các tập đoàn lợi ích đã lũng đoạn rồi. Ông cho rằng với những gánh nặng doanh nghiệp nhà nước, nợ xấu ngân hàng, ngân sách, thì Việt Nam dù có tham gia TPP đi nữa thì cũng không thể trở thành một con rồng trong thời gian tới…
Có hai vấn đề. Một là lòng tin, và hai là hiệu quả TPP.

Thứ nhất là lòng tin, thì đánh giá của ông Alan Phan theo tôi cơ bản là đúng. Tại vì hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đã than thở về chuyện mất lòng tin hoàn toàn vào thị trường, và chẳng còn mấy lòng tin vào Nhà nước. Theo thăm dò chính thức, có ít nhất 50-60% doanh nghiệp đã không còn lòng tin vào những chính sách của Nhà nước nữa rồi.

Nhưng theo tôi thì tỉ lệ này vẫn còn rất khiêm tốn. Vì khi nói chuyện với một số doanh nghiệp thì tôi nhận ra rằng nếu đưa ra những tiêu chí rõ ràng để khảo sát tâm lý, thăm dò ý kiến của họ và phân tích cho rõ ràng, thì có thể nói họ hầu như không có niềm tin. Tôi cho rằng ít nhất 80-85% doanh nghiệp và người dân không còn tin vào những chính sách kinh tế của Nhà nước nữa.

Nhất là sau ba năm suy thoái và để cho các nhóm lợi ích, đặc biệt là nhóm lợi ích ngân hàng, bất động sản, chứng khoán và vàng bạc lũng đoạn hoàn toàn thị trường. Cho nên bây giờ mới để xảy ra một trận lũ, hậu quả, dư chấn của một cuộc khủng hoảng gần như là ngổn ngang, phơi bày tất cả những gì trần trụi ra và đang phải giải quyết mà chúng ta vừa đề cập tới. Hậu quả lớn nhất của nó là vấn đề nợ xấu.

Vấn đề thứ hai là TPP. Tôi còn nhớ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có đề cập về lòng tin chiến lược. Lòng tin chiến lược là gì ? Điều đó đã được sách vở nói đến, kể cả một cuốn sách mô tả về hội nghị Shangri-la và những lời phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rất là chi tiết. Nhưng ở đây lại liên quan đến lòng tin đối với Chính phủ, với chính sách của Nhà nước.

Khi mà lòng tin của các doanh nghiệp và người dân không còn bao nhiêu, thì liệu có nổi một lòng tin chiến lược bền vững hay không ? Hay đó chỉ là một câu sáo rỗng và rất xa vời ? Nói chung là một ảo ảnh hoàn toàn không thể hiện thực hóa.

Mà không hiện thực hóa thì chúng ta cần phải nhìn lại điều đang muốn nhấn sâu vào : TPP. Việt Nam tham gia vào TPP để làm gì ? Để có thể đạt được lợi thế nhiều nhất chăng ? Hay là chúng ta phải nhìn lại cả một quá trình nền kinh tế Việt Nam tham gia vào định chế WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) suốt bảy năm, nhưng đã gần như không có hiệu quả, ngoài một số chỉ tiêu xuất khẩu.

Mà xuất khẩu tăng về lượng nhưng lại không tăng giá, và thực chất vẫn tạo ra một sự phân hóa rất lớn về mặt thu nhập giữa các tầng lớp người dân Việt Nam. Đặc biệt là người nông dân Việt Nam cho đến nay đang phải lãnh hậu quả, dù sản lượng lúa đạt nhưng giá lúa vẫn thấp.

Tôi cho là trong thời gian sắp tới có nhiều khả năng Việt Nam sẽ được chấp nhận tham gia vào Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương, xuất phát từ tín hiệu Nhà nước Việt Nam được chấp nhận vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên, tham gia vào TPP nhưng vẫn còn vướng khá nhiều rào cản kỹ thuật do quốc tế quyết định. Đó là những rào cản kỹ thuật về xuất xứ hàng hóa của hàng xuất khẩu ra nước ngoài – phải mang tính chất nội khối chứ không phải ngoại khối TPP. Thứ hai là những rào cản kỹ thuật về nhãn mác, về sở hữu trí tuệ, kể cả vấn đề nghiệp đoàn lao động mà người Mỹ và phương Tây đang đặt ra cho Việt Nam như một điều kiện để tham gia TPP.

Nghiệp đoàn lao động lại liên quan mật thiết với vấn đề nhân quyền như đã được quy định trong điều 69 của Hiến pháp Việt Nam, nhưng chưa bao giờ được luật hóa một cách cụ thể.

Do vậy theo tôi đánh giá chung, trong vòng từ ba đến bốn năm tới dù có được tham gia TPP, nền kinh tế Việt Nam vẫn không nhận lãnh được những kết quả tương xứng như mong muốn, mà tiếp tục suy thoái, tiếp tục phân hóa dày đặc giữa các giai tầng ở Việt Nam.

RFI : Tóm lại là tình hình có vẻ u ám, quốc doanh không hiệu quả thậm chí làm ra thêm nợ nần, thị trường chứng khoán gần như bế tắc, bất động sản đóng băng. Doanh nghiệp tư nhân chết rất nhiều, những doanh nghiệp còn sống thì ngân hàng có cho vay cũng ít dám vay. Trở lại vấn đề nợ công, liệu có một lối thoát nào khả dĩ, theo anh ?

Lối thoát khả dĩ nhất hiện nay có lẽ là phải chống tham nhũng một cách triệt để, thu hồi tài sản do tham nhũng để trả nợ nước ngoài. Không còn cách nào khác ! Tại vì không còn nguồn tiền nào khác để trả nợ cho nước ngoài, trong bối cảnh ngân sách cạn kiệt như thế này, các thị trường đầu cơ gần như đóng băng, và trong tương lai gần không có gì triển vọng hơn.

Chỉ còn cách lôi những tập đoàn tham nhũng, những cá nhân tham nhũng ra mà xử. Tại vì họ đã ăn đủ, ăn dày, ăn sâu, ăn đậm quá nhiều năm rồi, đã làm cho người dân quá khốn khổ rồi ! Nay cần phải làm những vụ lớn như Bạc Hy Lai ở Trung Quốc, lấy tài sản tham nhũng bù đắp gánh nặng nợ nần của quốc gia, trả nợ cho nước ngoài. Còn việc phát hành trái phiếu quốc tế, tôi không tin là hiện thực hóa thành công.

RFI RFI Việt ngữ xin rất cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Việt Nam, đã vui lòng nhận lời tham gia tạp chí kinh tế hôm nay của chúng tôi

————————————————————————

BÀI LIÊN QUAN

►Nhiều trụ sở hoành tráng – Mặc cho nợ nần quốc gia lên đến 78 tỷ USD, và nợ DNNN do chính phủ bảo lãnh 62 tỷ USD

►Cứ mỗi 3 tháng, Việt Nam trả nợ 1 tỉ USD – Nợ công của VN lên tới 1,6 triệu tỷ đồng (2012)

 ►Chính phủ: 127 tập đoàn, tổng công ty nợ gần 1,35 triệu tỷ đồng, tăng 6% so với 2011, chiếm 56% tổng nguồn vốn. (29-11-2013)

Có số nợ vay tương đối lớn là Tập đoàn Dầu khí 124.499 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 133.194 tỷ, Tổng công ty Hàng hải 31.681 tỷ…

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng | 1 Comment »

►Đại sứ quán VN ở Nga, Công an nhân dân, Bà chủ nhà thổ gốc Nghệ An, lừa gạt đem 15 cô gái Việt Nam sang Nga làm nhà hàng, nhưng thật ra là vào động mãi dâm của bà Thúy An ở Moscow

Posted by hoangtran204 trên 11/03/2013

Dụ dỗ 15 gái quê có hoàn cảnh gia đình nghèo khổ sang Nga  “qua bển làm nhà hàng”, nhưng rồi các cô này đã bặt tin từ tháng 4-2012.

Nay được biết, một cặp vợ chồng người Nghệ An, tên là Thúy An và Nguyễn Anh Huy đã đánh đập, bắt ép các cô gái này tiếp khách làm gái mãi dâm từ năm ngoái đến nay. Dân mua dâm đa số là người VN đang sinh sống ở Nga. (Bọn mua dâm này là sản phẩm CON NGƯỜI MỚI của nước CHXHCN VN…)

Khi các cô gái đáng thương này tìm cách trốn thoát khỏi động mãi dâm và đến cầu cứu Đại sứ quán VN ở Moscow (Nga) để xin giúp đỡ, thì nhân viên của đại sứ quán là ông Nguyễn Đông Triều đã gọi điện thoại cho bà  chủ nhà thổ Thúy An và chồng là Nguyễn An Huy đến bắt các nạn nhân về nhà, đánh đập…

Mời các bạn đọc 3 bài dưới đây được đài Á Châu Tự Do tường trình trong suốt 3 tuần qua. 

ĐSQ Việt Nam ở Moscow giúp gì cho công dân Việt?

Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok

27-02-2013

4 thiếu nữ Việt Nam, trong đó có một em vị thành niên, trốn khỏi một nhà thổ ở Moscow nhưng sau đó bị chủ chứa bắt lại. Tin đã được loan đi hồi đầu tháng này nhưng tới giờ các nạn nhân vẫn còn bị khống chế và ngay cả thân nhân ở Việt Nam cũng bị đe dọa đến phải lên công an xin rút đơn kiện.

Kêu cứu đại sứ quán cũng như không

Đó là bốn trong số 15 thiếu nữ sang Nga kiếm việc nhưng đã bặt tin từ tháng Tư  2012. Đến tháng Giêng 2013 thì bốn cô trốn được khỏi nơi mà các cô bị bà Nguyễn Thúy An, còn được gọi là An Ột, buộc các cô phải hành nghề mãi dâm.

Những người đã đưa các cô sang Nga để kiếm việc làm rồi bán vào động mãi dâm của bà Thúy An là bà Nữ, có chồng tên Sơn, hiện đã bỏ trốn khỏi Kiên Giang.

Ngay sau khi thoát được và gọi điện về nhà, mặt khác các cô gọi cho ông Nguyễn Đông Triều trong đại sứ quán Việt Nam ở Moscow để xin được giúp đỡ. Riêng cô Huỳnh Thị Bé Hương vì có chị đang ở Mỹ nên đã gọi điện báo tin và kể lại cho chị nghe mọi chuyện.

Rất không may là vài tiếng đồng hồ sau khi báo với đại sứ quán Việt Nam cả bốn cô đều bị bà Thúy An tức An Ột bắt trở lại. Bà Thúy An đã đe dọa, buộc các cô gọi về Việt Nam bảo người nhà lên công an rút đơn thưa kiện lại.

Lúc đó, trên đường dây viễn liên, ông Nguyễn Đông Triều của đại sứ quán Việt Nam ở Moscow trả lời:

Bà quan hệ thế nào với những người đó, bây  giờ bà nói tình trạng những người đó như thế nào với tôi cái, nói thẳng thông tin đi.

Thưa ông tôi là nhà báo..

Nhà báo thì tôi không nói chuyện với bà.

Và từ Hà Nội, bà Nga, Interpol Việt Nam (thuộc Bộ Công An Nhân Dân), quả quyết:

Việc mà các cô bị bắt lại thì bên chúng tôi đã biết hết rồi, bây giờ chúng tôi đang xử lý thông tin theo nhiều kênh để tìm cách giải cứu các cô ấy ra và bắt đối tượng. Chúng tôi đang cố gắng hết sức tìm mọi cách giúp đỡ để đưa được các cô trở về Việt Nam.

Rất không may là vài tiếng đồng hồ sau khi báo với đại sứ quán Việt Nam  (thì nhân viên của đại sứ quán là ông Nguyễn Đông Triều đã gọi điện thoại báo tin cho bà  chủ nhà thổ Thúy An biết) cả bốn cô đều bị bà Thúy An tức An Ột bắt trở lại. Bà Thúy An đã đe dọa, buộc các cô gọi về Việt Nam bảo người nhà lên công an rút đơn thưa kiện lại.

Bây giờ tất cả các cơ quan đều đang vào cuộc, kể cả đại sứ quán của Việt Nam ở bên Nga đang cố gắng hết sức giải cứu các cô, cũng như Interpol Việt Nam cũng đã phối hợp với các Interpol bạn để có những biện pháp cần thiết. Nếu có thông tin gì mới nhất liên quan đến các cô hoặc liên quan đến sự việc chúng tôi cũng sẵn sàng chia sẻ thôi….

Vận động quốc tế vào cuộc

Trong khi đó thì cô Danh Hui, chị ruột của Bé Hương, vì lo âu trước tình cảnh em mình nên đã tìm cách báo với CAMSA Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Châu Á có văn phòng chính tại BPSOS ở Hoa Kỳ  http://www.machsongmedia.com/:

Chú Ngyễn Đình Thắng hướng dẫn em làm tất cả những gì để cứu em gái em, hướng dẫn em viết thư cho ông dân biểu Al Green và bà dân biểu Sheila  Jackson Lee. Em có được ông dân biểu gọi đến gặp và ông cũng có hứa  ông sẽ cố gắng tìm cách giúp em gái em được trở về sớm nhất.

Còn tại Gò Quao, Kiên Giang, Rạch Giá, mẹ của Huỳnh Thị Bé Hương và mẹ của Lê Thị Thu Linh đã lên công an rút đơn sau khi bị bà Thúy An buộc con gái gọi về .

Ông công an tên Phước, người đã nhận đơn thưa, cho biết :

Cái đó là do gia đình tới rút mình cũng hỏi mà người ta nói lý do con nó điện về biểu rút đơn để con người ta về. Trong đơn  người ta tố cáo cái dạng như là nghi vấn đưa con người ta ra nước ngoài để bán. Còn chuyện giải quyết như thế nào thì còn chờ ý kiến lãnh đạo.

Như vậy đã gần một tháng trôi qua mà bốn cô gái ở Kiên Giang vẫn còn ở trong tay bà Thúy An. Cô Danh Hui, chị của Bé Hương, cho hay bà Thúy An đã  gọi điện thẳng cho cô từ Moscow:

Bà Thúy An: Em là An Ột đây, em làm ăn đàng hoàng, em sống ở đây mấy chục năm rồi, em không muốn tai tiếng ầm ĩ lên. Nếu như chị nghĩ tình người chị dừng lại đi, bởi câu chuyện liên quan đến rất nhiều thứ.

Cô Danh Hui: Dạ chi An Ột ơi,  bây giờ em chỉ muốn đưa nó về an toàn với lại con bạn của nó, hai đứa cùng đi sang, em chỉ muốn đưa nó về an toàn.

 

Cô Huỳnh Thị Bé Hương khi còn ở Việt Nam. Source machsongmedia
Cô Huỳnh Thị Bé Hương khi còn ở Việt Nam. Source machsongmedia   http://www.machsongmedia.com/

 

Bà  Thúy An: Để mà hại được em sẽ không hại được, chỉ là câu chuyện nó rùm beng tai tiếng thôi.

Tiếp lời bà Thúy An, cô Danh Hui kể:

Bả nói  em phải viết thư xin lỗi bả rồi bả thả em gái em về, còn nếu không thì bả sẽ thưa ngược lại là em gái mê trai và ăn cắp tiền bỏ trốn, rồi bả thưa em tội vu khống, đe dọa gia đình em. Bà có cho người xuống Kiên Giang tìm mẹ với cháu em.

Vẫn theo lời cô Danh Hui, bà Thúy An còn làm áp lực buộc  Huỳnh Thị Bé Hương viết một là đơn nhận hết tội rồi nạp lên đại sứ quán Việt Nam ở Moscow. Người tiếp đơn và gọi Bé Hương đến hỏi chuyện là ông Nguyễn Đông Triều:

Bé Hương lên gặp đúng ông Nguyễn Đông Triều đó. Bé Hương nói với em rằng ông bảo là bên Nga làm gái là công khai chứ không cấm như ở Việt Nam hay các nước khác, ông nói theo kiểu cách là ông không muốn giúp giải cứu cho Bé Hương… – Cô Danh Hui.,

Bé Hương lên gặp đúng ông Nguyễn Đông Triều đó. Bé Hương nói với em rằng ông bảo là bên Nga làm gái là công khai chứ không cấm như ở Việt Nam hay các nước khác, ông nói theo kiểu cách là ông không muốn giúp giải cứu cho Bé Hương cho nên Bé Hương không có dám nói gì ngoài chuyện nhận tội theo như bà An yêu cầu tại nó sợ người phỏng vấn nó cũng là người của bả rồi. Hôm trước nó bị bắt lại cũng do nó gọi cho ông đó sau vài tiếng thì nó bị bắt lại thành nó sợ lắm nó chỉ làm những gì theo bả yêu cầu thôi và nó không tin tưởng ai hết.

Để biết rõ sự việc, hôm nay đường dây lại  được nối qua số máy của ông Nguyễn Đông Triều:

Thanh  Trúc: Thưa ông Nguyễn Đông Triều, tôi là Thanh Trúc , trước có kêu cho ông mà ông bảo nếu là nhà báo thì ông không nói chuyện với tôi. Ông Nguyễn Đông Triều noí rằng ở bên Nga mãi dâm là công khai, vì thế các em này qua bên Nga và bị bán vào mãi dâm thì toà đại sứ không giải quyết?

Ông Nguyễn Đông Triều: Đấy là lời bà nói thôi và tôi không nói như thế. Và hai nữa tôi khẳng định này, những công việc mà đại sứ quán đã làm, đã trao đổi với các cơ quan trong nước, cho nên là chúng tôi… bà có muốn biết thì hỏi cơ quan trong nước còn tôi xin lỗi không trả lời bà. Tôi xin nhắc lại như thế.

Đó là cách trả lời của ông Nguyễn Đông Triều từ tòa đại sứ Việt Nam ở Moscow.

Tiếp xúc với bà Nga, Interpol Viet Nam ở Hà Nội ngày hôm nay để tìm hiểu tiến trình điều tra và làm việc tới đâu, bà Nga trả lời:

Xin lỗi chị tôi đang bận chị có thể gọi lại sau nhé, tôi cũng chưa biết, độ khoảng trong ngày đi. Còn bây giờ tôi đang bận chị nhé.

Chúng tôi đã gọi lại cho bà Nga nhiều lần trong ngày nhưng rất tiếc bà đã không bắt máy. Trên đường dây gọi về CAMSA thuộc văn phòng BPSOS, giám đốc điều hành BPSOS là tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng trình bày kế hoạch mà CAMSA có thể làm được bảo toàn anh ninh cho bốn cô gái mà ông gọi là bốn con tin đang bị cầm giữ:

Chúng tôi đang vận động báo chí Hoa Kỳ, các giới chức dân cử Hoa Kỳ và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để làm lớn chuyện này. Nỗ lực thứ hai là vận động cảnh sát Liên Bang Nga để cứu không những bốn nạn nhân mà cho tất cả mười lăm nạn nhân hiện đang nằm trong tay của bọn buôn người.

Riêng trường  hợp cô Bé Hương thì có người chị ở Houston thì chúng tôi đã sắp xếp để tờ báo lớn nhất là Houston Chronicle đã phỏng vấn và đã chạy tin. Bà thị trưởng Houston của vùng mà cô chị đang sống cũng đã lên tiếng với Toà Tổng Lãnh Sự Việt Nam .

Bên cạnh đó, tiến sĩ Thắng trình bày tiếp, CAMSA đã truy ra được là hai trong số các nạn nhân bị giam giữ có một người dì ở Canada, vì thế BPSOS đang vận động Liên Hội Người Việt Canada và bộ phận CAMSA ở Canada vào cuộc trong chuyện này.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/no-sig-auth-resc-tra-vic-02272013090604.html

——————————————————————————————————————————-

Cập nhật thông tin về 4 cô gái Việt bị lừa qua Nga

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-03-03

Một người được thả

“Chị Ba, chị gọi lại em cái, em đang ngồi phòng chờ chuẩn bị lên máy bay nè, gọi lại em nghen.”

Đó là tiếng của Huỳnh Thị Bé Hương, người mà bà chủ chứa Thúy An coi là chủ mưu dẫn dắt Lê Thị Thu Linh, Lê Thị Ngân Giang và Nguyễn Phạm Thái Hà cùng với cô trốn khỏi nhà chứa của bà ta ở Moscow.

Từ Gò Quao, Kiên Giang, mẹ của Bé Hương, bà Lệ Thủy, cho biết:

“Nó về rồi, lên máy bay hôm qua, mới tới hồi đâu 11 giờ sáng này nè, sáng thứ Bảy.”

Trong khi đó, từ Houston Texas, chị Bé Hương là cô Danh Hui, người đã báo cho CAMSA Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Châu Á ở Mỹ biết tin em mình bị bán làm gái mãi dâm và đang bị bà Thúy An không chế, cũng xác nhận Bé Hương đã về được tới Việt Nam:

“Nhưng mà Bé Hương rất là sợ, tại vì bà Thúy An đã có hăm dọa về đến Việt Nam là sống không yên với bả.  Cho nên hiện tại Bé Hương vẫn ở Sài Gòn. Cả mẹ ẳm cháu lên ở với Bé Hương luôn, và lẫn trốn ở Sài Gòn chứ không dám về nhà vì bả cũng có cho người tìm đến ở tận quê đó, cho nên rất là sợ trong thời gian này.”

Bà thả Bé Hương là do bên đây chú Thắng đã nhờ báo chí truyền thông làm rùm beng lên với lại những cuộc phỏng vấn trên đài. Bả gọi điện thoại cho em năn nỉ.
Cô Danh Hui

Không chỉ 4 cô vừa nói mà 11 cô khác cũng trong hoàn cảnh tương tự nhưng không thể trốn đi để rồi bị bắt lại, sau khi quyết định gọi điện cầu cứu với đại sứ quán Việt Nam ở Moscow trước đó vài tiếng.

Trước khi bị bắt lại thì các cô đã gọi điện về gia đình, kể hết sự thật về chuyện bị buộc làm gái mãi dâm trong động của bà Thúy An, bảo người nhà làm đơn lên công an thưa vợ chồng bà Nữ ông Sơn đã lừa gạt họ, bảo là sang Moscow làm trong nhà hàng nhưng lại bán họ cho bà Thúy An tức An Ột, một người mà các cô mô tả là quen lớn và rất có thế lực ở Moscow.

Ngay sau khi bị bắt lại, cả 4 cô bị bà Thúy An đã liên tục hăm dọa, bắt các cô gọi về Việt Nam bảo thân nhân lên đồn công an rút đơn thưa lại.

Theo cô Danh Hui, chị cô Bé Hương, lý do em cô được bà An Ột thả cho về là:

“Bà thả Bé Hương là do bên đây chú Thắng đã nhờ báo chí truyền thông làm rùm beng lên với lại những cuộc phỏng vấn trên đài. Bả gọi điện thoại cho em năn nỉ.”

Phần ghi âm lời bà An Ột: ” Em là An Ột đây …”

Bị đánh đập, hăm dọa

 

ha-thi-my-duyen-150.jpg
Cô Hà Thị Mỹ Duyên. Hình do gia đình cung cấp.

Nhưng vẫn theo lời cô Danh Hui, Bé Hương em cô đã kể là ngoài Bé Hương, Thu Linh, Ngân Giang và Thái Hà là cô nhỏ nhất trong bốn, thì vẫn còn mười mấy cô khác trong đó một cô tên Hà Thị Mỹ Duyên, qua Nga trước các cô kia, bị bà Thúy An đánh đập nặng nhất:

“Nghe nói bé Duyên bị đánh gãy cái sống mũi luôn mà bà ta không cho đi khám bác sĩ. Em nó đau nhức, nó gọi về khóc lóc nói gia đình gởi tiền, gởi tám trăm đô mua vé máy bay về. Bé Hương cũng vậy, bên gia đình em cũng nhờ vả mượn tiền chạy chọt được tám trăm đô gởi qua cho nó mua vé về chứ bả đâu có lo vé máy bay về cho nó, mà bên phía Lãnh Sự Quán Việt Nam cũng không hỗ trợ một đồng nào để đưa bé Hương về cả.”

Trên đường dây viễn liên về Việt Nam, mẹ của Duyên trình bày đầu đuôi sự việc Duyên sang Nga trước rồi đến Thu Linh sau này:

“Em là mẹ của bé Duyên, Linh, cháu em với Duyên là cô cậu ruột. Chị chồng em thấy cháu Duyên đi như vậy rồi mới cho cháu Linh đi. Cháu Linh qua bển rồi trốn, gọi về, thì em mới biết là qua bển làm gái mãi dâm.

Rồi từ ngày cháu Hà đi qua bển, cháu Hà là còn nhỏ, mười tám tuổi, ba nghèo lắm, em mới giới thiệu cho đi.

Từ ngày cháu Hà qua bển thì cháu Duyên nói chị An bắt cháu Duyên phải săn sóc cháu Hà. Săn sóc cháu Hà không đàng hoàng thì cháu Duyên bị đánh như vậy đó. Cháu Duyên nói chị An đánh con, mũi con nhức lắm, trời lạnh là con chịu không có nỗi. Mà cháu Duyên không nói ra hết sự thật, trong lúc em nghĩ cháu Hà không chịu làm gái mãi dâm bởi vậy cháu Duyên bị đánh.”

Như vậy, sau khi Bé Hương, Thu Linh, Ngân Giang và Thái Hà bỏ trốn, mẹ cô Duyên trình bày tiếp, bà Thúy An đỗ trách nhiệm lên đầu Duyên, mặt khác gọi về gây áp lực và hăm dọa gia đình các cô ở Việt Nam:

“Cháu Duyên điện về cho em nói mẹ ơi chị Linh trốn đi, trong vòng hai ngày mẹ phải đem chị Linh về. Mẹ không đem chị Linh về là mẹ không còn thấy mặt con đâu; mẹ cứ bám sát cô Năm, cô Năm là chị chồng em tức mẹ ruột Lê Thị Thu Linh đó. Cháu An cũng có điện, biểu em khi cháu Linh gọi điện cho chị chồng em thì em phải báo cho nó biết đặng nó tìm cách bắt cháu Linh lại.

Nghe vậy em chạy vô báo cho chị chồng em biết. Em không hợp tác với cháu Duyên cũng không cho nó biết là cháu Linh đã điện cho mẹ nó, cũng không cho cháu An biết luôn. Bà An nói nếu mà cháu Linh không về thì cháu Duyên bên đây tui sẽ đưa nó ra ngoài tuyết lạnh, tui sẽ cho công an bắt nó. Bà An nói kêu mẹ Thu Linh và mẹ Hương lên công an rút đơn lại. Duyên đang nằm trong tay bà An thì em không rút đơn.”

Bà dùng những vật cứng hay điện thoại đập vào ngực Bé Hương, bả nắm đầu, nắm tóc là cứ vốc thẳng vào tường, đập liên tục vào tường. Nói chung gần đó có vật cứng gì là bả cứ vớ hết bả đập, rồi bả dùng tay bả tát, dùng chân đạp lên đầu, lên cổ, lên người, rồi nắm đầu kéo lê la ở dưới nền nhà.
Cô Danh Hui

Văn phòng CAMSA Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Châu Á ở Hoa Kỳ, nơi cô Danh Hui liên lạc nhờ giúp đỡ Bé Hương và Thu Linh cũng như hai cô kia, đã tiếp xúc với người nhà của Thu Linh và Mỹ Duyên ở Canada. Từ Vancouver, bà Trương Mỹ Huệ, chị ruột bà Mỹ Linh, tức mẹ cô Duyên, cho hay:

“Cháu ruột của tôi là Mỹ Duyên, còn Thu Linh là cháu  họ. Tại vì hồi trước gia đình quá nghèo, ba cháu đang bịnh, cháu xin đi làm nói là qua bển đi tiếp nhà hàng. Nhưng khi nghe Mỹ Linh là mẹ của bé Duyên khóc nói chị ơi cháu Thu Linh nó trốn rồi. Hỏi tại sao trốn thì nói, từ bấy lâu qua bển nó điện về toàn nói tốt nhưng giờ chịu không nỗi tụi nó trốn đi bốn đứa, giờ bị bắt lại rồi mà bị đánh đập dữ lắm.

Bên đây không biết đường nào, nhờ cô Danh Hui điện qua nói em cổ cũng trong tình trạng đó, rồi cho điện thoại của hội BPSOS. Thành ra tôi mới liên lạc được chú Thắng, điện qua chỉ tôi làm đơn kêu cứu dân biểu.

Cháu Thu Linh trước điện về chỉ nói làm công chuyện tốt. Gia đình bên nay cứ tưởng là tốt nhưng không ngờ Thu Linh với Bé Hương trốn ra, giờ mới vỡ lẻ là con cháu tôi bển bị đánh dữ lắm. Tại vì lúc trước nói là đi làm nhà hàng nhưng thực tế là không phải, nó đưa qua bển để bán người để bắt con cháu tôi làm mãi dâm, tôi nghe tôi đau quá….”

Để hiểu rõ thêm cách cư xử của bà chủ chứa Thúy An, tức An Ột, nhằm khống chế tinh thần các cô gái trẻ mà bà bỏ tiền ra mua vào động mãi dâm của mình, mời nghe cô Danh Hui thuật lại sau khi nghe em là Bé Hương kể:

“Nghe Bé Hương nói bà ta rất ác. Bà dùng những vật cứng hay điện thoại đập vào ngực Bé Hương, bả nắm đầu, nắm tóc là cứ vốc thẳng vào tường, đập liên tục vào tường. Nói chung gần đó có vật cứng gì là bả cứ vớ hết bả đập, rồi bả dùng tay bả tát, dùng chân đạp lên đầu, lên cổ, lên người, rồi nắm đầu kéo lê la ở dưới nền nhà. Bé Hương chịu đựng những đòn roi như vậy một năm mấy nay chứ không phải chỉ mới đây.

Kể cả cô quản lý của bả mà không xong việc thì bả cũng đánh kiểu đó. Vừa tra tấn tâm lý mà vừa tra tấn bằng vũ lực cho nên các em rất khủng hoảng tinh thần. Về Việt Nam rồi nhưng Bé Hương vẫn chưa hết bàng hoàng, vẫn còn lo sợ lắm.”

Hiện CAMSA trực thuộc BPSOS ở Mỹ đang vận động dư luận từ nhiều phía trong mục đích cứu mười bốn cô gái còn lại thoát khỏi tay bà Thúy An cùng những người trong đường dây mãi dâm của bà ta ở Moscow.

Nguồn:  rfa.org/vietnamese

—————————————————————————————————————————————

Chân dung bà chủ nhà chứa ở Nga

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2013-03-10

Trong số 15 cô gái Việt Nam bị gạt sang Nga vào động mãi dâm của bà Thúy An ở Moscow, mà bốn cô trốn đi rồi bị bắt lại, thì đã có hai cô về đến Việt Nam.

Trong một tháng qua đài Á Châu Tự Do đã cập nhật vụ việc trên nguyên tắc không đưa tiếng nói của nạn nhân lên đài. Hôm nay, đã an toàn ở Việt Nam, cô Bé Hương cho biết cô phải lên tiếng, trước hết cho mười ba người bạn còn lại trong nhà chứa của bà Thúy An, thứ hai là đính chính về lá thư mà cô bị buộc phải viết và ký tại đại sứ quán Việt Nam ở Liên Bang Nga như một điều kiện trước khi về nước.

Bé Hương: Mười lăm đứa, trốn đi bốn đứa thì còn mười một. Bắt về thì giờ bà đã thả em với lại Nguyễn Phạm Thái Hà thì còn mười ba là hai chị em ruột ở Cà Mau, rồi ở Long Xuyên, Tây Ninh, Sóc Trăng. Ở Sài Gòn cũng có và có một cô quê ở Hà Nội.

Mục đích của bà là bà biết chị em bên Mỹ có nhờ đến phóng viên nhà báo đài Á Châu Tự Do, bả muốn em đính chính lại là mọi việc không có sự thật như vậy, bả muốn em viết thư có lời cảm ơn bà và yêu cầu nhà báo đài Á Châu Tự Do phải đính chính lại mọi việc, bắt em phải ký. Em đã ký và đã cam kết sẽ đính chính lại mọi việc.

Bây giờ em đã về Việt Nam rồi thì em cũng xin nói những lời đó, những thư đơn ký đó đối với em không còn giá trị nữa, bằng mọi giá em phải đính chính sự thật của bà là đúng người đúng tội, lúc đó em bị bà bắt giữ và khống chế, bắt buộc em phải làm điều đó.

Xa xích chưởng

Thanh Trúc: Bây giờ em có thể tả về bà An được không?

Bé Hương: Bà là người Nghệ An, khoảng bốn ba bốn mươi bốn tuổi. Bà sắc sảo lắm, cứng cỏi lắm. Lúc nóng giận lên thì bà xưng lúc thì “bố mày” lúc thì “mẹ mày”. Không có lời văng tục nào mà bà không nói được hết.

Lúc nóng giận lên thì bà xưng lúc thì “bố mày” lúc thì “mẹ mày”. Không có lời văng tục nào mà bà không nói được hết.
Cô Bé Hương

Khi mà đưa sang bà đón em ở sân bay về đến nhà thì em mới biết sự thật em đã bị bán vào động mãi dâm rồi, không cách nào thoát hết. Một năm mấy qua thật sự em cũng có chờ đợi nhiều lắm nhưng không có cơ hội. Lúc nào bà cũng có người giám sát bọn em hết, những người mới sang bà không thả ra ngoài đâu, ai cũng phải làm việc cả. Bên đó chỉ có công việc là làm gái mãi dâm thôi, chỉ là một cái “cờ va” ba buồng, khách vào thì cứ trải chỗ liên tiếp liên tiếp theo đó mà làm, không có gì khác ngoài gái mại mãi dâm hết.

Phần lớn là khách Việt Nam, tuần này họ đến tuần sau họ lại đến thì trở thành khách quen của bà. Thỉnh thoảng em có nghe là khách Việt Nam đón ra ngoài để tiếp Tây, người Nga đó chị, Tây rồi Tàu… Em không có được ra ngoài.

Tiếp khách là tính điểm, cộng vào sổ, cuối tháng chia đôi bà phân nửa tụi em phân nửa. Nếu không ngoan làm việc bà sẽ phạt, phạt cho đến khi nào không ngóc đầu lên nỗi, không có tiền gởi về nhà luôn giống như em đây. Một năm hai tháng hơn em vẫn không có đồng nào mà vẫn phải tiếp khách, coi như công cốc, không có đồng nào, tay trắng luôn.

Tất cả các cô kia có người làm được việc, tiếp khách giỏi hơn em, làm một tháng mấy nghìn đô. Có chia nhưng mà bà giữ lại hết, muốn gởi về nhà thì bà sẽ gởi, năm trăm, một nghìn, hai nghìn đô bà sẽ gởi, còn nhiều hơn nữa bà sẽ không gởi.

 

thai-ha-250.jpg
Cô Thái Hà. Hình do gia đình cung cấp.

Thanh Trúc: Ngoài bị chửi mắng thì các cô còn bị đánh phải không, nhất là cả ba cô cùng trốn với em trong đó có một cô còn nhỏ.

 

Bé Hương: Bà đánh thì tụi em hay gọi là “xa xích chưởng”, tụi em bị đánh quá thì cũng có nói ở trong tù thì nghe nói một đám đánh một đứa, còn ở đây tại sao có một đứa mà lại đánh tới một đám lận.

Lúc mới qua thì con bé chưa được mười bảy tuổi, nó nói thực với em là chị ơi em mới có mười sáu, trong giấy của em là người ta làm cho em đủ tuổi đi làm, nói qua đây làm nhà hàng. Bả cứ bắt em kêu ba mẹ em gởi tiền qua để chuộc về nếu mà không làm việc được. Mà con nhỏ đó cũng xấu, nhìn không dễ coi lắm, cho nên không có khách chọn. Bả cũng đánh bà nói “Mày qua đây làm gì, tại sao người đưa qua cũng khốn nạn lắm, như vầy mà cho đi làm gái là sao, tiếp ai bây giờ, người ta ngồi người ta còn không nhìn nữa thì làm sao mà làm”. Những ngày tháng con bé đó bị hành hạ đánh đập em cũng nóng ruột lắm.

Linh thì bà bảo là “Con Linh có cặp mắt đĩ thỏa đâm giai”, bà cho Linh mở cửa đón khách. Bữa đó chồng bà, là ông Huy, về đến thì Linh ra mở cửa. Ông Huy lấy tay quẹt cái mũi nó làm bà ghen bà đánh nó xém mù hai mắt.

Bà lấy dây nịt bà quất con Linh bò lết bầm khắp người luôn mà đôi mắt là nặng nhất. Còn cái Duyên thì có thời gian nó bị đánh bầm sống mũi. Em thì đã chịu quá nhiều bây giờ kể ra em không biết kể bao nhiêu cho hết. Bên đó luật của bà là không ai được thân với ai hết, bệnh hoạn tự lo.

Bà lấy dây nịt bà quất con Linh bò lết bầm khắp người luôn mà đôi mắt là nặng nhất. Còn cái Duyên thì có thời gian nó bị đánh bầm sống mũi. 
Cô Bé Hương

Thanh Trúc: Em có biết gì về ông Huy chồng bà An này không?

Bé Hương: Ông Huy đó tên Nguyễn Anh Huy. Khi qua thì em có nghe kể lại là hồi trước, cái tốp đi trước đó, ông đã đánh một người tới nỗi xém mất mạng. Từ đó đến bây giờ bà không cho ông Huy đánh nữa, chỉ có bà đánh thôi.

Thanh Trúc: Xin kể tiếp lúc em cùng ba cô kia trốn đi và bị bắt lại ?

Bé Hương: Trốn ra được thì em có nhờ công an Việt Nam liên lạc đại sứ quán Việt Nam ở Liên Bang Nga, được số điện thoại của ông Nguyễn Đông Triều làm bên an ninh của đại sứ quán. Em có gọi mà ông từ chối thẳng không giúp. Em cũng nhờ có người chị ở Mỹ là Danh Hui, cũng bên đó nhờ được chú Thắng.

Sau khi gọi cho ông Nguyễn Đông Triều khoảng hai ngày thì chính bà An, ông Huy và một người đàn ông, đến nơi thì tụi em chỉ biết về thôi. Hơn một năm bị bà đánh đập em cũng biết bà ghê gớm cỡ nào, tụi em lúc đó bó tay, kháng cự cũng bằng không. Bà có nói “Mày biết tao canh mày bao nhiêu ngày tao mới bắt được mày không, mày làm cho bố mày mất ăn mất ngủ cả mười ngày nay, mày to gan lắm mày dám hại bố mày hả…”.

Cô bé Thái Hà lúc sang chưa đủ tuổi đó, rồi Thu Linh, Ngân Giang, đều bị đánh sưng mặt, bầm mắt. Bả không đánh em, chỉ đập đầu em vô tường thôi. Bà nghĩ đánh em bầm mắt thì nếu như đại sứ quán gọi em lên người ta sẽ thấy. Còn đánh lên đầu em thì người ta không thấy mà em cũng không dám nói.

Quen biết lớn

Thanh Trúc: Khi bà Thúy An đưa em lên đại sứ quán để về Việt Nam thì chuyện gì xảy ra?

Bé Hương: Bà làm giấy cho em về Việt Nam, bảo là “Mày làm không được thì tao cho mày về chứ không phải chị mày bên Mỹ làm ầm ỉ mà tao cho mày về đâu”. Bả tính là thứ Hai cho em bay, nhưng tối thứ Bảy thì bả nói em chuẩn bị đồ rồi bà đưa em lên đại sứ quán.

Lên sứ quán thì trên đó có một ông tên là Kiên, cũng ở trong đại sứ quán mà em không biết rõ ông làm cái gì.. Ông Kiên đó hỏi ai đây thì bà mới nói “Đây, nhân vật chính đây anh”. Ông Kiên mới bắt em viết một cái đơn là “Cảm ơn chị An đã giúp đỡ và đại sứ quán ở Liên Bang Nga đã can thiệp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em được về Việt Nam. Và xin có lời nói với nhà báo RFA ở Mỹ đã nói về bà An là không phải sự thật thì em xin đính chính lại là những lời đó đã nói sai về chị An, và em hoàn toàn chịu trách nhiệm.”

Lên đó lúc này mày biết mày nên làm thế nào, gây bất lợi cho tao thì mười mạng mày cũng không còn, ba đời mày tao cũng đào lên tao chôn sống chứ đừng nói một mình mày.
Bà Thúy An

Lúc đó em chỉ biết làm để bà thả em về thôi, về tới Việt Nam là bằng mọi giá em phải đính chính lại sự thật, tại vì lúc đó em bị bà không chế mà, nếu không làm như vậy em đâu biết bà đưa em đi đâu.

Thanh Trúc: Theo em kể thì có vẻ bà An khá quen biết với người trong đại sứ quán Việt Nam ở Nga?

Bé Hương: Em viết xong thì ông Kiên mới đi về. Em ngủ lại đó vì sáng mai ra sân bay. Đêm đó thì có một người đàn ông nữa xuất hiện là tên Tuấn Anh. Bà nói với em “Ông Tuấn Anh đó là anh của anh Huy mày, còn vợ của ông Tuấn Anh, làm ở bên đại diện cộng đồng người Việt Nam mình ở Liên Bang Nga, vợ ông Tuấn Anh là cháu ruột của ông Nguyễn Đông Triều.” Thì có lúc bà An kêu ông Nguyễn Đông Triều bằng chú, có lúc kêu bằng anh.

Trước đó khi bắt em về, khi em chưa biết sự thật, bà bắt em lên đại sứ quán, bả nói “Lên đó lúc này mày biết mày nên làm thế nào, gây bất lợi cho tao thì mười mạng mày cũng không còn, ba đời mày tao cũng đào lên tao chôn sống chứ đừng nói một mình mày”.

Thanh Trúc: Đến lúc này, khi nói với đài Á Châu Tự Do, em còn sợ điều gì không?

Bé Hương: Một phần là em có sợ, nhưng mà tâm nguyện của em là muốn giải cứu những người còn lại ở bên đó cho nên tất cả em đều có thể làm. Những lời nói của em đều là sự thật và em tin tưởng pháp luật sẽ trừng trị bà, trả lại tự do cho những bạn gái của em còn lại bên đó.

Thanh Trúc: Cảm ơn cô Bé Hương, chúc cô một cuộc sống tốt đẹp.

nguồn: rfa.org

**Bạn nghĩ gì về mối liên hệ giữa nhân viên đại sứ quán Nga và cặp vợ chồng Thúy An và Ng Anh Huy?

Đặc biệt, công an nhân dân VN dù biết rõ nội vụ, do gia đình ở VN đến khai báo, nhưng họ đã không tham dự vào cuộc điều tra!

Đảng và nhà nước quá cần tiền, nên phải xuất khẩu người ra nước ngoài ” làm việc”, đặng những người đi lao động xuất khẩu gởi tiền đô, tiền rúp, về cho thân nhân ở VN, và sau cùng số tiền ngoại hối này được người nhà bán lại cho ngân hàng lấy tiền đồng VN để chi tiêu, sau cùng nhiều tỷ đô la chui vao tay nhà nước.

Theo website của công ty in tiền polymer VN ở bên Úc, giá in 1 tờ giấy bạc 500 ngàn đồng VN là 4-7 cents, và chỉ cần dùng 4 tờ giấy 500 ngàn (giá in chưa đến 1/3 của 1 đô la), là ngân hàng nhà nước VN có thể mua được 100 đô la Mỹ.  

Mua được tờ bạc 100 đô mà chỉ tốn 30 xu,  là món lời rất lớn. Nên nhà nước cứ xuất khẩu người lao động VN qua làm việc ở  nước ngoài là thế đấy. Theo website của Bộ Lao Động và Thương Binh Xã Hội, hiện nay có 450 ngàn lao động xuất khẩu VN hiện đang làm việc ở 18 nước. và hàng năm, số ngoai hối do nhóm này gởi về khoảng 1- tỷ đô la. 

Posted in Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng | Leave a Comment »