Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hồi Ký’ Category

►Ngô Nhân Dụng – Giới thiệu “ÐÈN CÙ, Số Phận Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản” của TRẦN ÐĨNH (Tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh)

Posted by hoangtran204 trên 07/10/2017

tác giả đã viết về xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản… Quý vị sẽ cười, sẽ khóc, sẽ thắc mắc, sẽ dằn vặt, thao thức, kinh tởm, giận dữ, sót thương, khi bị cuốn theo Đèn Cù.”

(Mời các bạn đọc lại Đền Cù)

 

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Hồi Ký | Leave a Comment »

►HỒI KÝ của Một Người Hà Nội 1954…

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2013

HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI

Ông Hòa là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng sản bắt đi tù năm 1975, sang Mỹ theo diện HO. Tôi gặp ông tại một tiệc cưới, trở thành bạn, thường gặp nhau bởi cùng sở thích, nói chuyện văn chương, thời thế, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc. 

Một lần tới thăm, cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi, “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à…?” 
Nghe hỏi tự nhiên nên tôi chỉ cười, “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi, …nữa là bác!”

Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam. Rồi thêm nhiều lần nữa và 2 lần “vượt biển”, vẫn không thoát. Chịu đủ các “nạn” của chế độ cộng sản trong 27 năm ở lại miền Bắc, tôi không tị nạn, mà đi tìm Tự Do, trở thành thuyền nhân, đến nước Mỹ năm 1982.

Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt . Thời gian rồi cũng hiểu nhau. 

Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những giòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội xưa, tặng thế hệ trẻ, và riêng cho những người Hà Nội di cư. 

Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hà Nội, thời người cộng sản chưa vận com-lê, đeo cà-vạt, phụ nữ không mặc áo dài. 

Hiệp định Geneva chia đôi nước Việt. Cộng sản, chưa lộ mặt là Cộng sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đã “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt lại thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là …Vẹm!

Khi họ tiếp quản Hà Nội, tôi đang ở Hải phòng. Dân đông nghịt thành phố, chờ tầu há mồm để di cư. 

Trước Nhà Hát Lớn, vali, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lại. Hiệp định Geneva ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “Tổng tuyển cử” thống nhất. Ai ngờ cộng sản miền Bắc “tổng tấn công” miền Nam! 

Gia đình lớn của tôi, không ai làm cho Pháp, cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu, nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lại. Tôi phải về Hà Nội học. 

Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá, nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựa. Người xuống Hải phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam, người đi Hà Nội là con buôn, mang xăng về bán. Những toa tầu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tầu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn … 

Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nội. Tầu lắc lư, người va chạm người. Thằng bé ù chạc 15 tuổi, quắc mắt nhìn tôi, “Ðề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường tư tưởng!” Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm, “ngoại ngữ cộng sản”: đấu tranh, cảnh giác, căm thù và … tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này ghi trong ngoặc kép). 

Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành. “Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải mầu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “Bình Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”. Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau, vì “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hãn hữu, như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì “cả nước” không có xà phòng. 

Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số “lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”. Số học sinh “lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu đoàn”, nhận “chỉ thị của Thành đoàn” rồi “phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!” Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn “kiểm tra”, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang “tập trung” tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. 

Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm “phấn khởi”, lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và “phát biểu của bí thư Thành đoàn”: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Ðoàn là … “cực kỳ phản động!” Vào lớp học với những “phê bình, kiểm thảo…cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip, “tự nguyện “ mang ra “đồn công an”, thế là hết, gia tài của tôi! 

Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem, phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Ðây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường”, miền rừng núi xa xôi. Tôi chỉ bám Hà Nội được 2 năm là bị “cắt hộ khẩu”, …đi tù! 

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về tiếp quản chiếm nhà người Hà Nội di cư. Người Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”. 

Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội. Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam”, để rồi bị đấu tố là phong cách tiểu tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua”, bị kết tội thành “tề ngụy”, hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ.

Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán”, chẳng ai còn dám gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”. 

“Chỉ thị Ðảng và Ủy ban Thành” “phổ biến rộng rãi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó”, từ thành thị đến “nông thôn”. Gậy gộc, giây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”. Lý do giết chó, nói là trừ bệnh chó dại, nhưng đó là “chủ trương”, chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an rình mò, “theo dõi”, “nắm vững tình hình” không bị lộ bởi chó sủa. Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở đợi chờ thảm họa. 

Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”. Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động “ thì con nít cởi truồng. Người thành thị, làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị quy là “tư sản bóc lột”? nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”. 

Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị quy là “địa chủ bóc lột, cường hào ác bá ”!

Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập”, đã nhẩy lầu, tự tử. 

“Tư sản Hà Nội” di cư vào Nam hết , chẳng còn bao nhiêu nên “công tác cải tạo được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển hình”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, còn thì “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” vì “ngoan cố, chống lại cách mạng!” 

Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng, “bắt rễ” “bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc lòng “từng điểm”: tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển hình” thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ sặc máu …! 

Một vài vụ, do “Ðảng lãnh đạo”, “vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực” “tố cáo tội ác” của cha mẹ . Cảnh tượng này thật não nùng! Lời Bác dạy suốt mấy mươi năm: “Trung với Ðảng, hiếu với dân …” là vậy! 

“Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì phải “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”. 

“Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xã hội chủ nghĩa là… nói dối! Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những gì Ðảng nói. Nói dối để sống còn, tránh bị “đàn áp”, lâu rồi thành “nếp sống”, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được “rèn luyện” trong xã hội ngục tù, lấy “công an” làm “nòng cốt” chế độ. 

Ở Mỹ, ai hỏi bạn: “How are you?”, bạn trả lời: “I’m fine, thank you”. Ở miền Bắc, thời đại Hồ chí Minh, “cán bộ” hỏi: “công tác” thế nào? Dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời, “…rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng… các nước anh em!”

Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị “bộ đội biên phòng”giong về Lệ Thủy, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đò về Ðồng Hới. Trải 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp, xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”. 
Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiến kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”! Ðối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “luôn luôn cảnh giác”. Hà Nội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy xụp tinh thần vì danh từ “đồng chí”! 

Nằm trong xà lim, không có ngày đêm, giờ giấc, nghe tiếng động mà suy đoán “tình hình”. Ánh điện tù mù chiếu ô cửa sổ nhỏ song sắt, cao quá đầu, tôi đứng trên xà lim, dùng ngón tay vẽ chữ lên tường, “liên lạc” được với Thụy An ở xà lim phía trước. 

Thụy An là người Hà Nội ở lại, “tham gia hoạt động “Nhân Văn Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hà Nội. Bà phẩn uất, đã dùng đũa tre chọc mù một mắt, nói câu khí phách truyền tụng: “Chế độ này chỉ đáng nhìn bằng nửa con mắt!” 

Người du lịch Việt Nam, ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung lũng sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột”, nấc lên nức nở, tiếng gà gô, thức giấc, sương mù quanh năm. 

Phố Hàng Ðào Hà Nội, vốn là “con đường tư sản”, có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut. Học trường Tây thì phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Ðảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau này. Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Ðào “bất mãn” trở thành Kim Cụt, bị chặt đứt cánh tay đến vai, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết.

Phố Nguyễn công Trứ gần Nhà Rượu, phía Nam Hà Nội, người thanh niên đẹp trai, có biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Ðoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì “lãng mạn tiểu tư sản”. Không hành lý nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì “tiểu tư sản”, không “tiến bộ”, không có ngày về…! Ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời cao vút, gió núi mây ngàn, thì tiêu tan giấc mơ Tình nghệ sĩ!

Người già Hà Nội chết dần, thế hệ thứ hai, “xung phong”, “tình nguyện” hoặc bị “tập trung” xa rời Hà Nội. Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động”, nên chỉ còn người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những gì Ðảng … nói dối! 

Tôi may mắn sống sót, dù mang lý lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, 10 năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn vì “trình báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. “Kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt qua bao khó khăn, gian khổ”, số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi sống tại Hải phòng, vùng biển. 

Hải phòng là cơ hội “ngàn năm một thuở” cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tầu, xua đuổi “người Hoa” ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân” tị nạn. 

Năm 1980, tôi vào Sài Gòn, thành phố đã mất tên sau “ngày giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi, nhưng vẫn còn dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đây. Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sài gòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đã đổi thay sau 1954 vì “cán ngố” cai trị.

Dân chúng miền Nam “vượt biển” ào ạt, nghe nói dễ hơn nên tôi vào Sài Gòn, tìm manh mối. Gặp cha mẹ ca sĩ Thanh Lan tại nhà, đường Hồ Xuân Hương, gặp cựu sĩ quan Cộng Hòa, anh Minh, anh Ngọc, đường Trần Quốc Toản, tù từ miền Bắc trở về. Ðường ra biển tính theo “cây”, bảy, tám cây mà dễ bị lừa. Chị Thanh Chi (mẹ Thanh Lan) nhìn “nón cối” “ngụy trang” của tôi, mỉm cười: “Trông anh như cán ngố, mà chẳng ngố chút nào!” 

“Hà Nội, trí thức thời Tây, chứ bộ…!. Cả nước Việt Nam, ai cũng sẽ trở thành diễn viên, kịch sĩ giỏi!”

Về lại Hải Phòng với “giấy giới thiệu” của “Sở giao thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Saigòn, tôi đã tìm ra “biện pháp tốt nhất” là những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Ðã đến lúc câu truyền tụng “Nếu cái cột điện mà biết đi….”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên. 

Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được Tự Do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá, nhưng nói tiếng Việt với đồng hương, vẫn còn pha chút “ngoại ngữ Việt cộng” năm xưa. 

Cuộc sống của tôi ở Việt Nam đã đến “mức độ” khốn cùng, nên tan nát, thương đau. Khi đã lang thang “đầu đường xó chợ” thì mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lý lịch có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”. Tôi mang nhẫn nhục, “kiên trì” sang Mỹ, làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ! 

Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xã hội”, còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ Cộng sản. 

Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ rồi. Cộng sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng “đổi” và “đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hòa bình”. Chế độ Việt cộng “nhất định phải đổ”, đó là “quy luật tất yếu của lịch sử nhân loại”. 

Ôi! “đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ …! 

Tigon, nhận từ tác giả : tự do Nguyễn Văn Luận

http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?t=2520&page=154

*Sau khi Bác vả Đảng vào tiếp thu Hà Nội vào năm 1954, thì tất cả những gì đã xảy ra ở Hà Nội như: tịch thu nhà cửa, bắt những công chức Hà Nội đưa đi tù cải tạo, đốt hết sách báo xuất bản từ trước 1954, cải tạo công thương nghiệp hay tịch thu tài sản, đưa những người dân Hà Nội đi kinh tế mới để chiếm đoạt các căn nhà mặt tiền và cấp phát cho cán bộ cao cấp của cách mạng được ở…đều được lập lại sau khi cộng sản chiếm được Miền Nam 30-4-1975.

Đặc biệt, ông Đỗ Mười, người thực hiện kế hoạch cải tạo tư sản ở Hà Nội năm 1954, đã được cấp trên giao cho nhiệm vụ cải tạo tư sản ở Sài Gòn năm 1978…Cuộc cải tạo này thực chất là cướp hết nhà cửa đất đai, hàng hóa, kho bãi, hãng xưởng… của các nhà tư sản miền Nam,  cào cho nghèo bằng miền Bắc…còn tất cả các tài sản này sau đó được cán bộ cao cấp chia chát cho nhau…gọi là bán hóa giá nhà cửa…và cả bọn họ tự  gọi nhau là chính quyền cách mạng! 

Đỗ Mười và

►Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978

Posted in Hồi Ký | 4 Comments »

► Những người vượt biên từ miền Bắc cũng ra đi sau ngày 30-4-1975 để trốn thoát khỏi chế độ cộng sản

Posted by hoangtran204 trên 29/04/2012

Vào thời gian này của  37 năm về trước, the Fall of Saigon, Miền Nam Việt Nam đã rơi vào tay cộng sản, đã chấm dứt chế độ dân chủ còn son trẻ duy nhất của Á châu thời bấy giờ. Sài gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông cũng đã xóa tên từ dạo ấy.

Đọc “Đường Phía Bắc” của Lê Đại Lãng

Tác giả điểm sách:

Ngay sau chiến thắng của phe cộng sản tại Việt Nam tháng Tư năm 1975, một sự kiện bi tráng đã xảy ra và kéo dài liên tục trong hơn 15 năm: đó là cuộc vượt biên của nhân dân Việt Nam nhằm đào thoát ra khỏi chế độ cộng sản.

Cuộc đào thoát thoạt tiên xảy ra tại vùng đất thua trận miền Nam. Từ lâu, dân miền Nam là “bà con gần” với thế giới tự do, cho nên trong cơn hoạn nạn ngay trên đất nước của mình, thì phản ứng tự nhiên là chạy tới tìm nhờ bà con. Cũng từ lâu, khi nói tới vượt biên, hầu hết chúng ta chỉ nghe nói những địa chỉ tới của các con thuyền lén lút ra khơi là Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Phi Luật Tân, Úc. Từ các bến bãi miền Nam, thuyền tị nạn tìm đến các bến bờ vùng Nam Á ấy là lẽ tự nhiên – về địa lý cũng như về sự tin cậy. Thế nhưng đường tị nạn còn một hướng nữa, về phía Bắc, mà hầu hết đều tấp vô bến Hồng Kông. Một số người vượt biên từ các tỉnh cực bắc của VNCH cũ, như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi có khuynh hướng chạy ngược lên hướng Bắc vì đường gần hơn. Nhưng xem kỹ lại thì đa số người tị nạn trong các trại Hồng Kông có vẻ là những người ra đi từ miền Bắc Việt Nam, là miền đất thuộc phe thắng trận năm 1975.

Có cái gì như là nghịch lý ở đây. Dân thua trận, bị đối xử tàn tệ không sống nổi phải chạy trốn, cái đó hiểu được. Nhưng dân của phe thắng trận cũng chạy trốn là tại làm sao? Câu hỏi này có lẽ được giải đáp lâu rồi: vì chế độ chính trị. Cuộc thắng trận năm 1975 như một trái pháo bông nổ tung sáng rực trong chốc lát, sau đó tắt ngóm và màn đêm lại bao trùm như cũ, kể cả trên miền Bắc chiến thắng. Và lầm than khắp nơi, không kể nam hay bắc. Và có lẽ “theo gương” dân miền Nam, dân miền Bắc cũng ra đi để tìm một cuộc đời đáng sống hơn.

“Đường Phía Bắc” (*) là một cuốn sách thu góp nhiều mẩu chuyện của người vượt biên từ đất Bắc, ghi lại trong cung cách tiểu thuyết hóa để thành một câu truyện mạch lạc các nhân vật có liên kết với nhau. Gọi là đường phía bắc, tác giả có dụng ý đưa ra một hình ảnh đối ngược với đường phía nam là những chuyến hải hành tỏa ra nhắm đến các nước Đông Nam Á, vốn gần với phần phía dưới của nước Việt Nam. Ngược lại, đích đến của đường phía bắc chỉ có một: Hồng Kông.

Thảm cảnh của những chuyến vượt biên thì quá nhiều, nam cũng như bắc. Nhưng từ trước đến nay người ta ít biết cảnh thực của những chuyến vượt biên từ miền Bắc, vì, như tác giả giải bày trong lời giới thiệu đầu sách:

“Con đường ngược bắc của những cá nhân ấy lại được kể thì thầm như tội đồ xưng tội, tội tổ tông, tội bỏ nước, tội đi tìm chỗ sống, chỉ dành riêng cho kẻ muốn nghe, không có tiếng mõ nhịp, chỉ có những bàn chân xếp thành dấu chấm in trên đất trên nước qua vạn dặm hành trình.”

Là người từng làm việc thiện nguyện tại các trại tiếp người vượt biên tại Hồng Kông, tác giả có nhiều dịp được nghe những “lời kể thì thầm” của biết bao là mảnh đời về chuyến hải hành không dài lắm từ vịnh Bắc Bộ đến Hồng Kông. Không dài nhưng không phải là không gian nan  và nhiều thảm cảnh, đặc biệt khác hẳn những gì chúng ta vẫn nghe từ các người vượt biên miền Nam, đi “đường phía Nam”.

Cuốn sách mở đầu với một hoạt cảnh đầy kịch tính của một người còn trẻ đóng vai bộ đội đi phép trở về đơn vị đóng ở vùng ven biển, phải đóng thật khéo để có thể vượt qua vô số trạm kiểm soát của công an nhằm bắt giữ bất cứ ai trên các chuyến xe đò có vẻ khả nghi là đi về vùng biển để vượt biên. Với một bút pháp rất nghệ thuật, tác giả đã cho Hải, người thanh niên ấy, có những ngôn ngữ cùng hành vi y hệt một anh bộ đội dày dạn bất cần đời, khiến đám công an đâm “nể” và cho anh ta đi thoát, để câu chuyện vượt biên về phía bắc của anh ta có thể bắt đầu. Và cũng chính hiện tượng canh phòng kỹ lưỡng này của công an cho thấy vào thời điểm kể truyện này chuyện vượt biên đã xảy ra khá nhiều ở các vùng biển miền Bắc rồi.

Chuyến hải hành của con thuyền chở 60 người ra đi trót lọt. Nó đi về hướng bắc một cách chậm chạp hơn người ta tưởng: dự tính bảy ngày sẽ tới Hồng Kông, nhưng hơn mười ngày hãy còn ven biển đảo Hải Nam. Lâu lâu lại tìm cách đổ bộ vào bờ, công an Trung Quốc bắt gặp thì không làm khó dễ gì, trái lại sẵn sàng đi mua hộ dầu và thức ăn, chỉ tuyệt đối cấm người trên thuyền lên bờ. Lần nào họ cũng đếm và ghi lại số người trên thuyền, rồi ra lệnh cho đi tiếp. Vào cuối thập niên 1980, Trung Quốc và Việt Nam còn kình chống nhau, nên họ có vẻ có cảm tình với người tị nạn vượt thoát khỏi Việt Nam. Nhưng họ không nhận người tị nạn, và người tị nạn cũng nhắm tới một nơi khác chứ không phải một nước Trung Quốc cộng sản: họ chỉ cần tới Hương Cảng.

Nhưng đoạn đường không xa ấy cũng có lắm tai ương, và chiếc thuyền vượt biên của Hải đi đã không bao giờ đến đích. Nó bị một cơn bão biển đánh giạt vào bờ và vỡ tan tành. Chuyện kỳ lạ là Hải và đứa con gái còn nhỏ của anh sống sót cùng với vài người bạn thân của anh, và họ lại gắng “mưu sinh” bằng cách đi ăn xin. Rồi đứa nhỏ chết, rồi cơ may lại tới, bọn họ lại nhập vào một đám khác có thuyền, rồi lại lên đường.

Chúng ta ít khi nghe được lời mô tả những hãi hùng của một trận bão biển, vì người đã trải qua thì ít khi còn trở về được để kể cho chúng ta nghe. Thảng hoặc có sống sót trở về thì cũng khó có đủ ngôn từ để diễn tả cơn thịnh nộ của biển khơi, vì nó vượt khỏi các ý niệm và ngôn ngữ thông thường của con người ở trên mặt đất.

 “Cái hình rẽ quạt từ trên trời càng lúc càng tỏa rộng, như năm ngón tay quái thú úp chụp xuống những con người bơ vơ bé nhỏ. Trong tích tắc, thuyền bị sóng nhồi lên đến tuyệt đỉnh cao, cao đến mức không thể cao nữa, rồi từ đỉnh cao ấy, vụt xuống một thung lũng bốn bề là nước đen dựng thành tường. Tiếng ré kinh hoàng của tất cả bị hút ngay vào bức tường đen, mất biệt, như sự thẩm âm tuyệt hảo nhất do tạo hóa cấu thành. Từ đỉnh sóng xuống vực sâu, rồi từ vực sóng thuyền tung lên đỉnh sóng, Hải nghe tiếng hét thất thanh của lão Mục:

– Con…ơi ơi…!

Tiếng hét xoáy tít vào tiếng nước reo hăm hở, ác độc. Thần biển đang hể hả xoa tay, chờ từng sinh mạng nạp mình. Trong giây phút ấy, lạ thay bé Ngọc vẫn trừng mở mắt, nhìn chằm chằm bức tường nước sùng sục quanh thuyền. Hải ôm chặt con, chàng nhìn thấy bóng dáng Đức Phật, chàng nhìn thấy thánh giá của Chúa Giê su, chàng nhìn thấy hồn thiêng của cha mình sừng sững trên sóng, dưới vực thẳm, đang nắm tay nhau kết thành vòng tròn lớn, cùng ca hát bài ca luân hồi sinh tử. Hải trừng mắt. Chàng muốn thấy kỹ cái tích tắc vô thường mà đời người không tránh khỏi. Chàng sắp dắt con xuống yết kiến thủy thần. Chàng sẽ cười khà vào mặt lão già có chòm râu bạc lướt thướt và đôi mắt buồn thăm thẳm:

– Ông đã thắng!

– Ta lúc nào cũng thắng.

– Trẻ thơ có tội gì?

– Trót sinh ra làm người.

– Tôi đi tìm đất sống.

– Đất nào sống được nói ta nghe.

– Không phải nơi tôi được sinh ra. Nơi tôi có quyền ca khi hoa nở, nơi tôi có quyền khóc khi tôi muốn và nơi không có lão già râu bạc như ông.

– Ha…ha…ngươi tưởng không có người như ta là ngươi sống được ư…ha…ha…ta cho ngươi thấy.

Thủy thần vụt tan ra thành xoáy nước, vỗ tay reo. Lão cong mình thành một ngọn sóng, ngọn sóng dài hơn chiều dài của chiếc thuyền chở Hải. Lão trườn lên lặn xuống không biết bao nhiêu lần. Đột nhiên, lão đổi trò chơi, lão xoay tít trên không gian đen như vũng nước trâu nằm, hất tung cả chiếc thuyền lao vào hư vô nín lặng…”

 

Nhưng qua các tai biến với vô số tình cờ, chúng ta biết thêm được một số điều, không phải chỉ trên biển cả, mà ở trong nước Tàu. Trước hết là thảm cảnh của cuộc “nạn kiều” xảy ra cho số người Hoa Kiều bị nhà nước Việt Nam đuổi về Tàu mươi năm trước. Họ là những người Tàu sinh sống ở Việt Nam đã lâu đời, bỗng vì sự xích mích giữa hai nước mà phải biến thành nạn kiều, phải dứt bỏ sản nghiệp lẫn đời sống tinh thần tình cảm đã xây dựng trên đất nước Việt Nam để về cố quốc, một thứ “nước cũ” nghèo nàn nay đã thành xa lạ đối với họ và cũng chẳng hào hứng gì để đón họ trở về. Vì thế nên mới có cảnh:

“Cái vẻ trù phú của cảng Hải Bắc chỉ làm tăng nỗi bơ vơ lạc lõng của nạn dân nạn kiều sống trên bãi biển. Ngoại trừ một nhà thương thí do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thành lập năm 1979, các nạn kiều bị đuổi về nước năm 78 chẳng được hưởng một quy chế gì rõ ràng. Đầu tiên, họ được bố trí lên các nông trường ở tỉnh Quảng Tây. Chịu không nổi đời sống ở đó họ trốn về miền biển và cắm lều sống trên bãi cát bằng nghề đánh cá. Họ làm vệ sinh cá nhân ngay trên bãi, lấy cát lấp lại chờ sóng lên dọn sạch. Nhóm nạn kiều sống ở Bắc Hải đã bị lãng quên hoàn toàn. Không ai cần biết đến họ và họ cũng chẳng trông chờ vào ai. Lương thực của họ là biển cả mênh mông (tê tái) ngoài xa kia. Trung Quốc coi họ là nạn dân người Việt, nhà nước Việt Nam lại coi họ là nạn Kiều. Sức ép của hai thể chế đẩy những người này ra tận mé nước và không thể ra xa hơn được nữa. Những đứa trẻ sinh ra trên cát nóng chờ ngày theo cha mẹ ra khơi bắt cá. Không một ngôi trường nào chịu chứa những đứa trẻ sinh nhầm đất nước ấy.”

Không đi vượt biên về hướng Bắc thì làm sao đám người Việt này gặp được một cái thành phố ma với bốn kỳ nhân ở trong đó từ thời cách mạng Vệ Binh Đỏ, những chuyện lạ lùng đã xảy ra giữa thế kỷ 20. Từ thuyền họ thấy có một thành phố trên bãi biển bèn tấp vào kiếm ăn. Nhưng khi bước lên bờ họ mới nhận ra đó là một thành phố không có người ở. Và khi “thám hiểm” vào trong, họ gặp một cái nhà với bốn người ở, có thể gọi là bốn quái nhân, những linh hồn sống duy nhất của thành phố bỏ hoang này. Một người tương đối còn lành lặn nhất là Hồng lão, hồi 1966 là giáo sư đại học Thanh Hoa, bị vệ binh đỏ hành hạ rồi đưa đi tập trung lao động, cuối cùng về đây, một công trường cải tạo, nhưng về sau mọi người bỏ đi hết, chỉ còn lại bốn người không biết về đâu. Người thứ hai là một bác sĩ y khoa, với một câu chuyện ly kỳ, tàn khốc:

“Tôi ngồi trong nhà mà run sợ. Vì tôi là trí thức hành nghề theo học thuật phương Tây thì ắt là hữu khuynh tư bản rồi. Thình lình, cánh cửa nhà cha mẹ tôi bị đạp tung, một đội Vệ binh Đỏ tay cầm gậy gộc xông vào. Chúng dõng dạc tuyên bố gia đình tôi thuộc thành phần trí thức tư sản, rồi xông vào đập phá đồ đạc. Chúng giựt tranh treo tường, đập tủ chén, xô ngã bàn thờ, không còn một thứ gì còn gọi là nguyên vẹn. Thậm chí chiếc áo có thêu kim tuyến của mẹ tôi cũng bị kết là tư sản, chúng lấy kéo cắt nát. Cha mẹ tôi, em trai tôi và tôi nữa bị chúng bắt quì gối ngay giữa phòng trước. Sau đó, chúng xởn hết tóc chúng tôi, còng tay và dẫn đi diễu phố. Hết ngày, chúng dẫn về, lấy roi da đánh đập chúng tôi ngất đi rồi mới bỏ đi, không quên khóa trái cửa căn nhà. Gia đình tôi là kẻ thù của nhân dân.”

Ở một đất nước mà từ nghìn xưa đã có những hiền triết nêu cao chữ Nhân như một khám phá bản chất cao đẹp của con người, mà nay lại được điều hành bởi một bạo chúa mác-xít hoàn toàn vô nhân, đẩy con người vào những trạng thái không thể tưởng tượng nổi:

“Trong suốt bốn ngày, chúng tôi không có gì để ăn. Chén bát đã bể hết. Chỉ còn ít mì gói nhai sống. Chúng tôi sợ hãi và đói khát. Sáng sớm hôm sau chúng nó lại tới, lại hành hạ, lại đi diễu phố, lại bị đánh bằng roi da. Trời ơi, đảng ơi…!

Điện đã bị cúp hết. Căn nhà tối mù. Bên ngoài mưa rơi nức nở. Chúng tôi ngồi nghĩ đến cái chết. Phải rồi, sao không chết đi để hết nhục, để bớt đau khổ thấy mình thua cả chó. Chắc là đã quá nửa đêm. Tiếng mưa rơi tê tái quá! Làm sao để tự ải đây? Cha tôi suy nghĩ, mẹ tôi suy nghĩ, còn tôi thì nát óc. Đứa em trai trên gác thượng chắc cũng đang suy nghĩ. Thình lình tôi nhìn thấy con dao rọc giấy ở chân bàn. Bọn Vệ binh Đỏ hẳn đã làm rơi nó. Trời đã gửi thiên sứ xuống. Tạ ơn trời. Tôi là bác sĩ. Tôi biết là nếu động mạch cổ bị cắt thì các mạch máu sẽ ngưng hoạt động và người ta chết tức khắc, chết tức khắc, chắc chắn như thế. Đây là cách chết nhanh nhất và vô phương cứu chữa. Cha mẹ tôi chưa tin hẳn vào lời giải thích của tôi. Người hỏi có đúng là chết dễ như thế không? Tôi phải lấy bằng bác sĩ ra để đảm bảo với người là chắc chắn như thế. Cuối cùng mẹ tôi bảo: ‘Tạ ơn trời, sao lại dễ thế được. Tạ ơn trời đã ban cho tôi đứa con học ngành y’. Người nói hoài như thế, mắt long lanh sung sướng. Cha tôi bảo: ‘Con là người duy nhất biết việc, vậy hãy cắt cổ cha mẹ trước rồi hãy tự cắt cổ con’.”

Kể ra, đi vượt biên mà có những cuộc gặp gỡ ly kỳ, mang lại những hiểu biết lạ lùng như thế này thì cũng… đáng công khó. Trên thế giới giữa thế kỷ 20 hẳn không ở đâu có được những chuyện tương tự như thế của nước Tàu.

Trải qua tất cả những thảm cảnh cùng cực cho một đời người, cuối cùng Hải cũng đến được vùng đất hứa, là thành phố Hương Cảng. Trong trí tưởng tượng của người vượt biên, đó là tự do, là thiên đường, nhưng đầu tiên họ phải vô các trại tiếp cư, mà thực chất là nhà tù. Sống dưới chế độ nghèo khổ và bị tước đoạt hết quyền làm người của chủ nghĩa cộng sản, người ta háo hức ra đi để tìm một đời đáng sống hơn, và tưởng rằng phần nhân loại còn lại có bổn phận “phải” lo toan mọi việc cho họ. Đúng là có những tổ chức để lo toan, nhưng không xuể, vì lo được một thì người ta kéo đến mười. Tiếng réo gọi của Tự Do thật là thần bí. Tiếng réo gọi của một đời sống sung túc xứng đáng với phẩm giá cũng mạnh mẽ lạ thường. Cũng làm thân con người, sao ở nơi kia người ta sung sướng, còn tôi thì quá nhục nhằn? Sao tôi không thể chuyển đổi đời sống của tôi? Cái bến bờ xa xa kia đã hớp hồn bao nhiêu người Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 20, miền Nam thì có đường phía nam, miền Bắc thì có đường phía bắc.

Tác giả Lê Đại Lãng đã có công và có lòng ghi lại các câu chuyện, các hoạt cảnh của con đường vượt biên của đồng bào miền Bắc, miền đất đã chiến thắng trong cuộc chiến vừa là tương tàn giữa những người con cùng một mẹ, vừa là giữa hai ý thức hệ chia đôi thế giới trong thế kỷ 20. Văn tài của ông đã tạo dựng lại biết bao số phận, biết bao thảm cảnh, biết bao nỗi hy vọng lẫn thất vọng của những con người Việt Nam bao năm chôn vùi trong chế độ toàn trị vừa hé mắt nhìn thấy ánh sáng của tự do xa xa ở phía chân trời, và đã nung nấu cái khát vọng phải đến cho được nơi chân trời đó. Con thủy lộ không dài giữa vịnh Bắc Bộ đến Hồng Kông cũng ngầm chứa bao hiểm nguy chết người, và quả đã giết vô số người sử dụng nó với những phương tiện quá mỏng manh. Cuốn Đường Phía Bắc là một kho chứng liệu sống của ý chí vượt khỏi địa ngục với tất cả thảm cảnh của nó.

Người điểm cuốn sách này biết là mình chưa làm hết công việc giới thiệu toàn bộ tác phẩm trong bài viết này, vì chỉ mới nói chuyện đi đường mà chưa đề cập chuyện đến nơi. Khi đến nơi thì câu chuyện đã có một không gian khác, tinh thần khác, và chất chứa những cái ly kỳ khác. Vậy đành khất với độc giả trong một bài viết khác.

Thứ Sáu 13 tháng 4, 2012.

P.X.Đ

(*)  Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:

Toà soạn báo Trẻ

3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com

Nguồn danchimviet.info

Posted in Hồi Ký | 4 Comments »

Truyện Ngắn

Posted by hoangtran204 trên 31/07/2011

Cũng Một Kiếp Người

Tác giả: Đỗ Trường
» Thể lọai: Truyện ngắn
» Số lần xem: 6490

nguồn

Bây giờ hắn nằm đó bất động như một xác mướp khô. Hai chân hắn co quắp,khẳng khưu, đầu gối vồng lên như những mắt tre bị ai đó chặt chém nham nhở .Da của hắn chùng xuống nhăn nheo, đeo thêm những cục sẹo trong chiến tranh và bị đánh trong tù, to tướng nặng nề lệch hẳn sang một bên, đung đưa đung đưa, mỗi khi hắn co chân lên như những hòn đọi của mấy ông thợ xây.

Đầu hắn trọc lốc, hai mắt đờ dại, sâu hoắn vô hồn. Miệng hắn chẳng còn cái răng nào dúm lại ,méo mó .Tiếng thở của hắn phì phà,phì phò, nhiều lúc rít lên như tiếng nhị, môi hắn tím ngắt,phập phà phập phùng,nhìn vào như da trống rách của mấy lão thợ cúng gần nhà hắn. Hai tay hắn quờ quạng,và hắn đang sờ soạng vào bóng của mình trên tường, dưới ánh đèn dầu lúc chạng vạng tối.

Hắn đã đi qua hết cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trên quê hương hắn. Nhà tù của chế độ Việtnam cộng hòa, rồi nhà tù Thanh hóa sau 30-4-75 hắn cũng đã vượt qua. Ấy vậy mà căn bệnh ung thư phổi đã quật ngã hắn, hắn đang nằm chờ chết,một cái chết đau đớn về thể xác lẫn tâm hồn.

Vì là con ông chú, nên hắn phải gọi tôi bằng anh, nhưng hắn lớn hơn tôi đến chục tuổi. Ông nội hắn là người giầu có tiếng tăm ở Nam Định.

Ông hắn mua rất nhiều ruộng đất ở vùng hạ sông Đáy. Ông hắn bắt vợ chồng bác cả và bố hắn về ở hẳn đó trông coi. Để trói chân bố hắn ở đó lâu dài, ông hắn lập mưu cưới vợ cho bố hắn là người địa phương . Lúc đầu bố hắn phản đối quyết liệt, nhưng sau đó không rõ thế nào , hay vì mẹ hắn nết na ,hiền thục ,chăm chỉ ,nên dần dà bố hắn cũng chịu.

Hắn là con thứ hai, sau hắn lóc nhóc còn sáu em nữa. Đến tuổi vào học lớp vỡ lòng (lớp 1),là lúc đội cải cách về thu ruộng đất của gia đình hắn . Bác cả của hắn sợ quá chạy một mạch ra Qủang yên. Vì còn vướng đàn con nhỏ ,bố hắn không kịp chạy nên bị bà con bần cố nông bắt giữ.

Bố hắn bị giam vào chuồng lợn của chính gia đình hắn. Nhà chính của bác cả và gia đình hắn bị chia cho bà con bần cố.Gia đình hắn phải chuyển xuống nhà bếp.

Hàng ngày hắn phải mang cơm cho bố ( nói là cơm cho sang vậy thôi ,thực ra chỉ là cháo bí ngô đỏ, hoặc khoai lang luộc mà thôi ) phải đi qua sân trước nhà cũ của hắn,hắn sợ lắm. Bọn bạn cũ con bần cố nông ,từ trong nhà hắn réo tên hắn chửi :  –  Thằng địa chủ con, đại gian đại ác, chúng ông không chơi với mày nữa.

Hắn lầm lũi cúi mặt bước đi. Hắn cũng nghe lỏm được, bác Âm chị gái bố hắn bị bà con bần cố nông và cô con gái nuôi đấu tố làm nhục,  ức quá thắt cổ tự tử.

Ông hắn ở trên quê, cũng bị nhốt vào chuồng trâu,tự bóp cổ mấy lần,  mặt xưng to như cái cơi trầu, bà nội hắn biết được nên cứu sống. Hôm đội mang ông hắn ra xử bắn,thì có lệnh dừng lại -sửa sai- thóat chết.

Bố hắn may mắn cũng được thả , vì ruộng đất trên giấy tờ vẫn là của ông hắn được hạ thành phần xuống trung nông.

Mới chín, mười tuổi, hắn đã phải lao động cật lực như một lão nông thực sự. Hắn và bố hắn hàng ngày phải cầy cầy,bừa bừa,lăn lộn, trên chính mảnh đất của cha ông hắn, để tính công điểm với hợp tác xã.

Chằng chuộc mãi hắn cũng học qua được bậc tiểu học. Mười bảy tuổi mà hắn còi cọc nhỏ thó như đứa trẻ mười bốn,mười lăm.Người hắn gầy như cây sậy,da xanh rớt như tầu lá.Cái đói thường trực trong con người hắn,có lẽ cả năm chỉ có ngày mùng một tết là hắn được ăn no.

Cái ngày ấy đi bộ đội tức là đi vào chỗ chết,người ta cũng phải xét lý lịch. Thành phần ông địa chủ, bố không cùng với giai cấp bần cố, lại có chú theo ngụy quân, ngụy quyền vào nam, muốn đi bộ đội còn lâu nhé. – Cho mày đi ,mày theo chú mày chống lại chúng ông à. Người ta bảo hắn thế,khi hắn viết đơn xung phong vào bộ đội.

Bố hắn thì chì chiết:

_Đi bộ đội, mày định mang súng vào Nam để giết chú mày hay sao? Đồ mất dậy.

Mặc xác mọi người,hắn vẫn quyết tâm xin đi. Cũng may bên ngọai hắn có mấy ông bác, ông cậu làm việc ngòai xã, cậy cục mãi ,người ta cũng chấp nhận cho hắn đi khám sức khỏe. Hôm khám,hắn phải đeo thêm mấy cục đá mới đủ cân.

Nhìn cái dáng loắt choắt của hắn có người thương tình hỏi:– Còn bé tý ,sao lại muốn lăn vào chỗ chết như vậy ?. Hắn hồn nhiên trả lời:– Đi bộ đội cháu sẽ được ăn no.

Cuối năm 1980 hay 81, nhà tôi lúc này còn ở trong ngõ chợ Khâm thiên. Không ngủ được, mẹ tôi thường đi chợ sớm.

Sáng hôm ấy trời nắng ráo ,có mưa gió gì đâu, lại có một người đàn ông ăn mặc kỳ cục, áo mưa kín mít như đàn bà đẻ, chân đi đôi guốc tự đẽo, lọet quẹt theo mẹ tôi vào nhà. Tôi nghệt mặt ra nhìn.

Mẹ tôi hỏi :– Không nhận ra ai sao ? tôi lắc đầu  —  Đam con chú Khôi ,vừa ở tù ra. Thì ra ông trời đánh này, nghe đã nhiều hôm nay mới gặp.

Ngày hắn đi bộ đội, tôi mới có năm, sáu tuổi, không nhớ được.  Nếu như mọi người trong gia đình không thường xuyên nhắc đến hắn, có lẽ tôi chẳng biết  còn có hắn ở trên cõi đời này.

Năm ấy hắn mới ngòai ba chục, ấy vậy nhìn hắn như ông già sáu mươi. Răng hắn cái mất cái còn ,vàng khè,ngỡ từ lúc sinh ra đến giờ,hắn chưa bao giờ biết đánh răng vậy. Da hắn bủng beo,xám xịt ,có lẽ hắn vừa trải qua trận sốt rét rừng ? Tóc hắn bết lại thành từng khóm ,tỏa mùi khét lẹt. Hai má hắn tóp lại, xương cằm chồi ra làm đôi môi đen xì của hắn hơi bị sole.

Hắn chỉ còn đôi mắt ngầu ngầu hơi đục, thi thỏang tóat lên sự sống. Chân hắn đi lại cà nhắc cà nhắc. Hắn bảo chân hắn ba lần bị thương, lần đầu dính đạn của lính VNCH, lần sau trúng đạn của bộ đội. Một lần nữa hắn bị quản giáo vụt gẫy chân, vì can tội đào trộm sắn ăn sống khi ở trong trại cải tạo.

Mẹ tôi phân công hắn ngủ cùng giường với tôi. Nhưng mấy đêm đầu hắn như bị ma ám. Đang ngủ ,hắn dựng người dậy ,nói mê lảm nhảm

_Lạnh quá,lạnh quá, tôi chết mất…

Tôi ấn người hắn xuống

_Đây là nhà mình rồi,không phải ở tù nữa đâu. Hắn đổ cả mồ hôi hột,

_Vậy hả, giời đất ơi, em cứ tưởng đang bị đứng dưới hố nước chứ. Nghĩa là thế nào ? tôi hỏi hắn.

_Trong trại có một cái hố sâu đầy nước, người ta bỏ một tấm ván gỗ trên mặt nước. Vào mùa đông ,thằng nào bị phạt phải đứng ngâm mình trên tấm ván đó ,nước tới cổ,trong tư thế cân bằng ,nếu không tấm ván sẽ bị lật, uống no nước bẩn.

Nghe hắn kể những lần sốt rét rừng không có thuốc ,phải nuốt giun đất sống ,làm tôi rùng mình. Hắn bảo nghĩ thì sợ ,nhưng trong hòan cảnh đó phải chấp nhận thôi, nhưng cái anh giun đất trị sốt rét tốt ra phết đấy.

Tôi hỏi hắn : Ông đang là bộ đội ,làm thế quái nào ông chuyển thành lính VNCH ?. Hắn lặng người đi, dường như hắn đang xúc động lắm. ….

Vào bộ đội được ba tháng, đơn vị hắn được lệnh hành quân vào Nam. Hắn được huấn luyện sơ sài . Hắn thú thật ,lúc đó chưa sử dụng súng đạn thuần thục.

Mấy tháng ròng, luồn rừng,trèo đèo, lội suối, đơn vị hắn mới đến được nơi tập kết, nhưng rơi rụng hết một phần ba. Hắn được bổ xung vào một đơn vị mới đóng sát biên giới Campuchia.

Hắn chưa được tham gia những trận đánh lớn, ngòai mấy trận đụng độ lẻ tẻ. Hắn bị bắt trong một trận như vậy ,khi hắn bị thương ở chân, và lạc đơn vị .

Hắn được đưa về Sài gòn điều trị vết thương,và tạm giam. Lúc đầu hắn cũng lớn tiếng ,hung hăng đả đảo chế độ VNCH, đúng như lời đồng chí chính trị viên căn dặn. Nhưng dần dần hắn cũng hiểu ra ,họ không hòan tòan như đồng chí chính trị viên đã nói.

Hắn được đối xử ở bệnh viện quân đội ,như những người lính VNCH. Khi vết thương đã lành, hắn phải vào nhà tù, từ đây hắn trở thành tù nhân của chiến tranh. Hắn được ăn uống đầy đủ,hắn không bị đói- Ôi! hắn sợ đói lắm,dường như cái đói cứ ám ảnh cả cuộc đời hắn. Hắn sợ đói ngay cả lúc hắn no.

Hắn biết ,hắn chỉ là thằng lính tò te, ít học ,lại còn ngốc nghếch nữa, chẳng có gì để họ quan tâm ,khai thác cả. Nhưng hiện tại hắn đang mất tự do, ngày ngày trôi qua, hắn cảm thấy vô vị.

Năm sau, hắn cùng một số bạn tù khác xin hồi chánh. Biết hắn ít học,lại còn trẻ,nên chính phủ cho hắn vào trường học nghề, nhưng hắn không chịu ,hắn muốn đi làm ngay để kiếm tiền. Vật lộn mấy năm làm thuê, lúc ở Sàigòn, khi ở Biênhòa,hắn đâm chán nản.

Đầu năm 1970,gặp lại mấy ông bạn tù cũ cùng cảnh ,rủ vào lính biệt kích không số quân, do Mỹ trả lương,vì họ đang cần tuyển những người tứ cố vô thân như hắn.

Tôi hỏi hắn: – Ông có ông chú ruột lúc đó đang là sĩ quan VNCH, và là dân biểu tỉnh Bìnhđịnh sao ông không tìm đến ?

Hắn bảo khi bị bắt ,hắn đã khai không có ai quen biết,họ hàng nào ở miền nam cả, sau này sợ phiền ,nên hắn không tìm chú hắn. Khi hắn là lính biêt kích- đóng ở Hòai nhơn,Bìnhđịnh, đó là quê vợ của chú hắn, cũnglà địa bàn đóng quân của ông.

Hắn thường xuyên thấy hình ông chú trên báo,nhưng hắn quyết tâm không tìm. Điều tất nhiên ông chú không biết hắn đang ở cạnh ông.

Dù hắn có giải thích,hoặc bằng bất kỳ lý do nào ,cũng không làm cho tôi thỏa mãn. Tôi bảo hắn; Nếu như  gặp ông chú có lẽ số phận ông sẽ đổi khác. Hắn im lặng không nói gì. Tôi còn giữ cả số lính- 76.106619- (đã lâu không biết còn chính xác không?)đơn vị sau năm 1972,

Khi Mỹ rút, hắn chuyển sang quân đội VNCH.  Số là năm 1993 em gái út lấy chồng, tôi có về Hànội. Công việc xong xuôi,tôi về thăm quê,và thăm hắn. Lúc này hắn đang đói lắm.

Nghe đâu hắn theo người ta ra mãi Quảngninh làm thợ xây. Chẳng hiểu các bố lắp đặt giàn giáo thế nào chạm vào vào dây điện chạy ngang, hắn bị giật cháy xém cả mảng da,ngã lộn cổ. Hắn không chết, nhưng bị thương nặng ,chuồn về quê tĩnh dưỡng.

Gặp hắn tôi hỏi , đã tởn chưa?  Hắn chống tay ngồi dậy ,tựa lưng vào tường ,với điếu cầy bắn liền tù tì hai ,ba phát,rồi vỗ vào miệng điếu kêu đồm độp.Hắn nuốt khói thuốc lào ừng ực ,cứ như người ta uống bia vậy. Lim dim một lúc hắn trả lời nhát gừng :

_Sợ có mà chết đói à.

Tôi hỏi:

_Sao không làm đơn sang Mỹ theo diện HO, để vợ con nheo nhóc như thế này. Hắn cười buồn

_Ở đây tù mù quá, em không biết thủ tục như thế nào ,ghi cho bác số lính, đơn vị,nhờ bác hỏi giúp.

Ngày đó Mỹ chưa có sứ quán ở Hànội,tôi cầm sang Đức nhờ anh Trần hữu Phúc biên tập báo HướngViệt,nơi tôi thường xuyên gửi bài. Anh Phúc hướng dẫn tỷ mỉ,bảo hắn phải vào Sàigòn nộp. Chẳng hiểu lý do gì hắn không vào.

Mãi đến năm 2007 hắn mới chịu làm tiếp hồ sơ. Người ta gọi khám sức ,căn bệnh ung thư phổi của hắn đã đến giai đọan cuối, chuẩn bị ngồi trên nóc tủ rồi ,còn đi với đứng gì nữa.

Có một câu chuyện hắn kể đã lâu ,có thể hắn phịa ra,hoặc thêm mắm thêm muối vào,làm tôi ám ảnh mãi. Là thám báo,nên  hắn thương phải họat động riêng lẻ. Chuyến đi đông người nhất là vụ nhảy dù xuống nhà tù nhốt phi công Mỹ ở Sơntây. Hắn làm nhiệm vụ tiếp ứng ngòai tầu biển. Sau mỗi phi vụ ,bọn hắn được xả láng cả tháng. Người Mỹ cũng vậy ,nhàn cư bất thiện. Hết trò,có vài lính Mỹ thuê các cô gái điếm vào trại cho chó đến kỳ động đực chơi. Động đến tự trọng dân tộc,bọn hắn vác súng đến sống chết với lính dù Mỹ.Chuẩn bị đánh đấm đến nơi, các cấp chỉ huy phải hỏa tốc đến , điều đình ,can thiệp mã mới ổn. Rù rà ,rù rì hắn kể đại lọai rất nhiều chuyện như vậy. Tôi không tin nhũng chuyện đó là thật, nhưng không hiểu tại sao tôi lại thích nghe.

Năm 1972, hắn chuyển về làm tiểu đội trưởng thuộc trung đội 3, đại đội 3,tiểu đoàn3,trung đòan 48,sư đoàn 18 bộ binh, với cái tên mới Nguyễn tấn Tước,( vì nhiệm vụ bảo mật nên hắn thay đổi tên tuổi ,ngày tháng năm sinh khi đổi đơn vị)cho đến ngày hắn bị bắt tại Xuânlộc.

Sau 30-4-75, hắn bị giải ra bắc. Tòa án quân khu 3 tại KiếnAn xử hắn gần sáu năm tù. Hắn ghé vào tai tôi nói nhỏ, em không khai báo thời gian đi lính biệt kích  cho Mỹ,  không thì có lẽ em khó có ngày về. Tôi hỏi lại hắn:

_Ông không phải là sỹ quan , mà sao người ta phải đưa ông ra bắc , mà tù lâu đến như vậy.

Hắn giải thích:

_Em nguyên là bộ đội xuất thân từ Nam định,nên họ xử em về tội chiêu hồi . Họ đánh giá thành phần bọn em còn nguy  hiểm hơn cả sỹ quan.

Từ đó đến nay, thời gian qua đã lâu,hắn cũng xắp tới cầu Nại hà,nên tôi mới dám viết điều này. Trông hắn cũ người như vậy ,thế mà có duyên ra phết. Ở Xuânlộc hắn cũng có vợ, chẳng biết có cưới xin gì hay không, nhưng đẻ cho hắn hai thằng con trai .Từ ngày hắn đi tù,vợ hắn cũng mất tích luôn, có lẽ đã lấy chồng khác.

Ngày mãn tù, người ta bắt hắn phải về quê để quản thúc, chứ không cho xuôi Nam.  Với cái bộ mặt dúm dó,và cái lý lịch đen như mực , ây vậy mà về quê có ít ngày ,hắn cưa đổ cô hàng xóm xinh đẹp ,nết na ra phết về làm vợ. Con cái cứ năm một ra đời, cái đói không bao giờ buông tha hắn .

Hôm trước, tôi có gọi điện về hỏi thăm, qua điện thoại người hàng xóm nhà hắn, hắn nói năng nặng nhọc lắm rồi.Tôi hỏi còn nguyện vọng gì nữa không. Hắn bảo:

_Ước nguyện thì nhiều,nhưng lúc xắp phải về thế giới bên kia, chỉ muốn được gặp đồng đội cũ  sư đoàn 18 bộ binh. Ước muốn là như vậy,nhưng khó lắm phải không bác…

Sau vài giây im lặng ,tôi nghe thấy tiếng… nấc nghẹn nghẹn…ở đầu dây bên kia.

Câu chuyện này, tôi viết ra đều theo lời kể của hắn, chẳng biết đúng sai thế nào, vì tôi chưa bao giờ trải qua gian khổ  éo le như hắn. Nhưng không hiểu tại sao, viết xong đọc lại, tôi cứ thấy rờn rợn ./.

Posted in Hồi Ký, Truyện Ngắn | Leave a Comment »

►Hồi Ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh viết về cuộc sống thuyền nhân di tản qua Hồng Kong, qua Anh, và đặc biệt cuộc sống ở miền Bắc trước 1979

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Bác sĩ Lâm Hoàng  Mạnh tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Hà Nội trước năm 1972. Ông hành nghề ở  ngoài Bắc cho đến năm 1979 thì phải nghĩ việc vì vụ trục xuất người gốc  Hoa ra khỏi Việt Nam.

Ông đi vượt biên qua Hồng  Kong, và sau đó được định cư ở Anh…Tác giả thường viết và đăng bài trên Talawas.org, với lối hành văn sáng sủa và câu văn rất ngắn gọn đã làm độc giả đọc say mê các bài hồi ký của ông. Các bạn có thể vào google.com và viết chữ “Bác sĩ Lâm  Hoàng  Mạnh” và search để tìm các bài viết về miền Bắc trước năm 1979.

Hồi ký của bác sĩ Lâm Hoàng Mạnh là tuyển tập đầy đủ của nhiều bài  được đăng trên talawas.

Đọc “Buồn Vui Đời Thuyền Nhân” của Lâm Hoàng Mạnh (I)

Uyên Thao

Lâm Hoàng Mạnh là một thuyền nhân và tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân kể về cảnh ngộ mà bản thân người viết đã trải. Do đó, tác phẩm chỉ ghi lại một phần hình ảnh cực nhỏ của khu rừng có tên Thuyền Nhân mà Michelle Tauriac từng than dài trong tác phẩm Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism: “Biết đến bao giờ người ta mới hiểu hết những bất hạnh đã xẩy ra quanh danh từ đó.”

Nhà văn Pháp Michelle Tauriac thông thạo tiếng Việt, sống nhiều năm tại Việt Nam, từng gặp gỡ nhiều thành phần xã hội từ các cấp lãnh đạo hai miền đến người vơ vất trên vỉa hè các thành phố, người lưu lạc tại các vùng đất xa xôi ở trời Tây nên có cả một kho dữ liệu so với số vốn thực tế trong giới hạn bản thân của Lâm Hoàng Mạnh. Với tầm mức đó, Michelle Tauriac vẫn cất tiếng than như vậy thì không thể đòi hỏi Lâm Hoàng Mạnh phải lấp biển vá trời để vẽ lại mọi nét vui buồn của hàng triệu thuyền nhân.

Nhưng Lâm Hoàng Mạnh có ưu thế trải nghiệm thực tế Việt Nam, kể cả chịu dập vùi giữa biển cả để không chỉ cất lên tiếng nói chứng nhân mà còn là tiếng nói nạn nhân. Vì thế, qua Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, ngưởi đọc không chỉ tới với các cảnh đời lưu lạc mà còn nhiều lần đối diện với đời sống Việt Nam — cũng chính là lời minh giải trực tiếp một phần nguồn cội đưa đến tấn thảm kịch thuyền nhân không riêng trong lịch sử Việt Nam mà là lịch sử chung của nhân loại.

Tác phẩm của Lâm Hoàng Mạnh đã đưa người đọc về với nhiều cảnh sống mà chỉ người từng sống tại Việt Nam mới tin nổi là chuyện thực. Chẳng hạn chuyện rất nhỏ xẩy ra tại các cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh:

“… Ở thị xã Thái Bình, cửa hàng ăn mậu dịch quốc doanh rất khang trang. Một Chủ Nhật hè năm 1963, sau khi dạo chơi, hai thằng chúng tôi rẽ vào, mua mỗi thằng một tô phở 5 hào.
Tôi vừa bưng ra đặt xuống bàn, một lỏi tỳ khoảng 6 hay 7 tuổi nhổ ngay bãi nước bọt vào bát phở.Tát nó à? Nó bé quá, không nỡ. Thôi, xin biếu bố trẻ.Thằng bạn tôi, số phận chẳng hơn gì.Vừa lấy thìa húp tí nước dùng, ba ngón tay đen ngòm, toàn đất cát thò ngay vào, bốc luôn miếng thịt bò trong bát, bỏ mồm.Cũng đành đứng dậy, thôi nhường bố trẻ luôn.Chiêu này diễn lại đều đều, các chị các cô phục vụ đuổi không xuể vì chúng khá đông…
Cửa hàng ăn phố Hoàng Văn Thụ, thành phố Nam Định cũng có lũ lỏi tỳ kiếm ăn… Chúng tụ tập trước cửa, mỗi đứa một cái vung nồi đất, vừa làm bát xin ăn vừa chơi trò xoay vung coi vung nồi đứa nào xoay lâu nhất…Khách mua bát phở, hai đứa kèm hai bên, chìa hai vung nồi, “anh ơi, chú ơi, ông ơi, chị ơi… cho cháu xin một tí, nước không cũng được.”

Làm thế, bố ai nuốt nổi. Thôi nhường cho mấy bố trẻ.

Kiếp trước chắc nợ các bố, vừa bảnh mắt đã bị ám.”

Thực tế khó tin này đã là chuyện bình thường và phổ biến vì toàn xã hội bị kiểm soát nghiệt ngã về cả chuyện ăn uống hàng ngày của mọi người với tên gọi chế độ tem phiếu.

“Nếu tôi nhớ không nhầm, chế độ tem phiếu bắt đầu từ 1959 hay 1960. Hè năm ấy, bọn học sinh Hải Phòng chúng tôi được thành phố trưng dụng đi làm sổ gạo …Mỗi ngày đi làm, ủy ban hành chính phường trả công 6 hào, ăn bữa cơm trưa tập thể mất 5 hào, còn dư 1 hào chỉ đủ mua 1 que kem hay 2 bát nước chè xanh. Lương mạt hạng, mặt mũi vẫn phải vui và tươi roi rói. Không đi có mà ăn đất! Đừng có mơ vào đại học hay trung cấp chuyên nghiệp. Lý lịch sẽ ghi: Có tư tưởng và hành động chống đối chủ nghĩa xã hội! Đời mờ! Đời tàn liền!”
Lâm Hoàng Mạnh kể lại chế độ tem phiếu chia người dân làm ba loại tuyệt đối tuân theo các tiêu chuẩn quy định.
Loại 1 gồm cán bộ, viên chức có tiêu chuẩn mua mỗi năm 5 mét vải, mỗi tháng từ 13 ký rưỡi gạo tới 25 ký và từ nửa ký thịt tới 2 ký rưỡi tuỳ chức vụ.
Loại 2 gồm người dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng … có tiêu chuẩn mua đồng đều mỗi năm 4 mét vải, mỗi tháng 13 ký rưỡi gạo và 100 gram thịt.
Tiêu chuẩn dành cho cán bộ cao cấp được giữ kín,
còn nông dân và người dân tại các thị trấn được xếp vào loại 3 không có tiêu chuẩn, kể cả trẻ em.

“Tất cả những người này là con số không tròn trĩnh.
Họ bị coi như công dân hạng 2 trong xã hội …Nhiệm vụ và quyền hạn của họ cũng như toàn dân Việt Nam, có thể tóm tắt trong 7 chữ vàng:
Đóng thuế – Đi lính – Câm cái mồm!Không tem phiếu, kể cả phiếu vải — động vật nên không cần quần áo?Mỗi xã có một cửa hàng Hợp Tác Xã Nông Nghiệp … chẳng có mặt hàng gì quý giá, chỉ có: cày, cuốc, mai, thuổng, bát đĩa loại phế phẩm, vài phong thuốc lào hạng bét. Thuốc lào Tiên Lãng, Hải Phòng không đến lượt. Đôi khi có nước mắm loại khắm và mặn chát, thỉnh thoảng có cá khô … mua về muối nhiều hơn cá vì nhân viên bán hàng trộn thêm muối để ăn cắp cá …Năm 1967, chúng tôi sang giảng cho lớp y sĩ xã, thấy các em ăn 1 phần cơm 3 phần sắn khô, có hôm ăn ngô răng ngựa — loại ngô dành cho gia súc, bung lên nở to gần bằng ngón tay cái — với canh rau muống nấu muối …”
Với cảnh sống đó, không có gì ngạc nhiên khi xuất hiện khắp nơi những đám trẻ nhỏ 5, 7 tuổi đã có mọi mánh khoé trộm cắp để kiếm miếng ăn. Thực ra, người lớn cũng không thể giữ nếp sống bình thường và ngay các thành phần được ưu đãi như giáo viên, bác sĩ … cũng phải tìm đủ cách kiếm thêm tiền để có thể mua chui một số thực phẩm:

“Thị xã tôi, Hoà Bình, thời ấy có 4 nghề kiếm tiền:
1– Vào rừng chặt gỗ, bương, nứa, cây chít (làm chổi quét), kiếm củi…
2 – Trồng rau, nuôi lợn.
3 – Đan cót.
4 – Cạo nứa.
Chủ nhật, đàn ông, thanh niên vào rừng như chảy hội. Đàn bà ở nhà lột cật nứa, bện chổi chít. Trẻ con đan cót. Ngày thường, hết giờ làm việc, cơm xong cả nhà làm cật lực cho đến khuya. Bốn nghề thật vất vả, nhưng vào rừng chặt gỗ, cạo tinh nứa, theo tôi, khốn khổ nhất …
Tiếng dao cạo vào tinh nứa, két két, ghê tai, sợ lắm, răng như muốn rụng. Đàn ông phải khỏe, dai sức mới làm nổi nghề này. Người ngả về phía trước, hai tay cầm lưỡi dao nghiêng 35-40 độ, kéo cật lực về phía sau, tinh nứa mới bong ra từng phoi xanh xanh cuộn tròn rơi xuống đất. Giống hệt anh thợ bào gỗ. Mùa hè, may-ô quần đùi, “của quý” trong quần các bố cứ lắc lư, lên xuống, ngang dọc theo nhịp kéo dao. Có anh bác sĩ, gia đình ở quê Thái Bình, lương gửi về nuôi vợ con, cũng tham gia hội cạo nứa. Trông thấy anh cạo, có người đùa, phong chức trưởng khoa Đầu Gật Gù, Dái Lắc Lư…”
Sự ngột ngạt không chỉ ở mức cùng cực của đời sống áo cơm mà trùm phủ đời sống tinh thần và tình cảm mọi người, ngay giữa các đồng nghiệp trong cùng một cơ quan:

“Năm 2004, chúng tôi về Việt Nam … nhân tiện lên thăm anh em bệnh viện cũ … Bác sĩ Đinh Tất Thắng, đồng nghiệp cũ mời chúng tôi bữa cơm mừng tái ngộ sau một phần tư thế kỷ xa cách.
Trong buổi hàn huyên, Thắng cười, kể:
– Anh chị còn nhớ y tá Tiêm không?
– Nhớ chứ. Cô Tiêm, phòng Đón Tiếp khu Đa Khoa, gần nhà mình chứ gì?
– Phải. Hè 1980, công đoàn tổ chức lợp nhà giúp Tiêm, trong lúc rỡ mái, em nhặt được túi vải buộc kỹ lắm, giấu ở xà ngang. Mọi người tán “Chết nhá, phen này giàu to.” Ai cũng tưởng quỹ đen giấu chồng, ai ngờ, sổ tay của y tá Tiêm theo dõi gia đình anh chị năm 1978, 1979. Cuốn sổ ghi, ai đến chơi, ngày giờ, cả biển số xe đạp. Anh chị biết không, có cả biển số xe đạp của em và bác sĩ Đắc…
Thắng cười, tiếp:
– Hồi anh chị đi Hong Kong, cả bệnh viện đồn ầm, anh là gián điệp nhị trùng của Mỹ – Trung Quốc nằm vùng. Cô Tuyển bên Nhà Trẻ, cô Thoan bên Kế Toán, cô Lan bên Dược kể nhiều đêm trước đó đã nấp trong bụi chuối sau nhà, rình anh chị bị muỗi đốt quá chừng vẫn phải ngồi im không dám động đậy, sợ lộ.”
Cùng với chuyện nghe qua lời kể đó là chuyện đã xẩy ra với bản thân mà Lâm Hoàng Mạnh còn nhớ cả ngày giờ:

“Sáng sớm ngày 9 tháng 4 năm 1979, phòng tổ chức mời vợ tôi lên. Cuộc gặp mặt gồm Bùi Đình Phảng, bí thư đảng ủy, Nguyễn Đình Mão, phó bí thư kiêm bệnh viện phó, Nguyễn Gia Hòa, đảng ủy viên, trưởng phòng Tổ Chức Hành Chính cùng một số nhân viên …
Sau vài lời rào đón, Nguyễn Đình Mão bảo vợ tôi:– Việt Nam và Trung Quốc đã xảy ra chiến sự, Chúng ta đang chống quân bá quyền, bành trướng Trung Quốc. Chị là người Việt, nhưng chồng chị là người Hoa. Chúng tôi đang giải quyết anh ấy nghỉ chế độ mất sức. Còn chị muốn tiếp tục công tác, chị phải làm đơn ly dị và trả lại 3 cháu cho anh ấy, nộp cho chúng tôi.Vợ tôi bàng hoàng … Thấy vợ tôi im lặng, trưởng phòng tổ chức Nguyễn Gia Hòa an ủi:– Chúng tôi muốn giúp đỡ, cho chị lối thoát chứ không có ý gì khác.
Huỳnh Như Thùy, nhân viên phòng tổ chức, nhắc:Chị nghĩ kỹ đi, đừng để mất cơ hội. Viết xong nộp cho tôi.”
Tôi bỗng nhớ tới một cô gái thuyền nhân Việt Nam đã có 30 năm định cư tại Đức qua nhắc nhở của tạp chí Del Spiegel nhân dịp kỷ niệm ngày các thuyền nhân Việt Nam xuất hiện tại đất nước này — ngày 3 tháng 12 năm 1978.
Vào một ngày tháng 10 năm 1978, cô gái vừa tròn 18 tuổi phải gạt nước mắt rời cha mẹ, rời thành phố Sài Gòn bước lên chiếc thuyền cũ nát không biết sẽ đưa mình tới đâu. Dù vậy, nếu không kể nỗi buồn gia đình chia lìa do cha mẹ phải hy sinh ở lại thì cô gái vẫn gặp nhiều may mắn. Trước hết, cô may mắn ra đi trong tư thế hợp pháp do có gốc người Hoa và cha mẹ gom nổi số vàng 60 lượng theo đòi hỏi để cô có bốn anh chị em cùng đi. May mắn hơn là vào lúc con thuyền bị nghiêng ngả giữa biển cả lại gặp một con tàu tỵ nạn lớn hơn. Nhờ thế anh chị em cô thoát chết và tìm được một góc trú ẩn, dù thêm số người từ con thuyền nhỏ, con tàu phải chở tới 2054 người.
May mắn lớn nhất là khi hơn hai ngàn thuyền nhân trở thành tù nhân trong căn nhà tù nổi ngoài cảng Kelang Mã Lai đang chờ chết do đói khát và đã chịu đựng quá dài cảnh ban ngày nắng như đổ lửa, ban đêm lạnh buốt thấu xương thì cảnh ngộ của họ được loan truyền qua nửa địa cầu.
Một chính khách Đức đã vận động chính quyền gấp rút chấp thuận đưa họ tới Đức định cư, đồng thời gấp rút chuyển cho họ các điều kiện tối thiểu để duy trì hơi thở.
Do đó, 7 giờ sáng ngày 3-12-1978, cô gái có mặt trong số 163 thuyền nhân Việt Nam đầu tiên bay tới Hanover. Khi cô run rẩy đặt chân xuống sân bay Langenhagen giữa cái lạnh mùa Đông, nhân viên tiếp cứu choàng lên vai cô tấm mền dạ cũ màu nâu của Hội Hồng Thập Tự Đức có in 3 chữ DRK. Tấm mền mỏng sờn cũ này kể từ ngày 3-12-1978 trở thành vật bất ly thân của cô và có thể sẽ ở bên cô tới phút cuối đời. Vì cho tới năm 2008, khi kỷ niệm 30 năm định cư tại Đức với cuộc sống vững vàng và đang bước qua tuổi về chiều, cô vẫn không rời tấm mền đã thực sự mòn cũ. Cô không bao giờ giải thích, nhưng tôi nghĩ tới làn hơi ấm từ tấm mền thấm vào cơ thể cô và cảm giác bình an dấy lên giữa phút giây đầu tiên đối diện với cuộc sống chan chứa yêu thương. Có lẽ suốt 45 ngày dài quằn quại thoi thóp vì nắng mưa đói khát trên biển cả lạnh lùng, cô đã triền miên ước có một phút giây êm ả nồng đượm tình người. Ao ước đó trở thành hiện thực khi một bàn tay xa lạ choàng lên vai cô tấm mền sờn cũ. Tấm mền với làn hơi ấm đã là biểu tượng cụ thể của tình người nên cô không dám từ bỏ. Bởi thực tế đã cho cô thấy cuộc sống tàn khốc ra sao khi tình người vắng thiếu.
Tự nhiên tôi gặp lại cảm giác từng có khi đón nhận vòng tay, nụ cười của bằng hữu, của người thân vào những lần tôi rời khỏi nhà tù. Kể cả khi đặt hai bàn chân trần trên mặt đường nhựa nóng cháy, tôi vẫn thấy toàn thân mát dịu với một cảm giác êm ả tuyệt vời trùm phủ. Những lúc đó, tôi không thể nào lên tiếng, chỉ có nổi nụ cười lặng lẽ trước mọi cử chỉ, mọi lời chia vui, trong khi một ý nghĩ luôn hiện đến là đoá hoa tình người đang toả hương cực độ và trấn áp hết thẩy mọi lo buồn, mọi hiểm hoạ vẫn hiện diện đầy rẫy khắp nơi. Từ đây, một ước mong và một nỗi ray rứt đã hiện hình để trở thành gánh nặng triền miên. Tôi ước mong có thể kéo dài được thời gian toả hương cực độ của những đoá hoa kia, đồng thời không thể ngừng thắc mắc về những cảnh sống cay nghiệt đang tiếp diễn.
Quyết định không bỏ tấm mền cũ của cô gái khiến tôi nghĩ cô cũng có cùng ước mong tôi đã có và lập tức khơi dậy thắc mắc đã trở thành gánh nặng của tôi.Đã nhiều đêm, tôi không chợp mắt nổi vì tấm bia tại Jakarta tưởng niệm các nạn nhân vùi thây giữa biển cả bị đục vỡ. Tấm bia không còn là tấm bia mà hiện ra trong hình vóc một con người với phần bia bị đục vỡ trở thành cặp mắt mở lớn hướng về phía trước trống rỗng mịt mù. Cặp mắt như hố thẳm với cái nhìn khẩn nài đau đớn từ một chiều sâu vô tận đặt tôi vào giữa vùng âm vang thảm thiết của những tiếng gào tuyệt vọng.
Tôi không dập xoá nổi âm vang những lời cuối trong một lá thư tuyệt mệnh gửi cho người chị gái: “Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tỵ nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu.” Người viết là Nguyễn Văn Hai 27 tuổi, treo cổ tại Trại Cấm Whitehead Hong Kong đêm 16 tháng 2 năm 1990.Âm vang những lời cuối ấy trở thành dòng suối cuồn cuộn dồn lên không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu nấc nghẹn, bao nhiêu con người đột ngột hiện ra … Đây là Lâm Văn Hoàng với hình vóc còn chưa hết nét trẻ thơ vì chỉ vừa 22 tuổi. Cái hình vóc ấy đã từ đỉnh cao một vách đá trại Pulau Bidong, Mã Lai lao thẳng xuống biển khơi vào tháng 1-1991. Ngọn sóng cuốn trôi thân xác chàng trai lại bùng lên ngọn lửa cuồng loạn thiêu đốt những thân xác quằn quại với những cái tên Trịnh Thị Kim Hương, Lưu Thị Hồng Hạnh … Kim Hương 28 tuổi tự thiêu tại Trại Galang, Nam Dương ngày 30-8-1991. Hồng Hạnh 16 tuổi tự thiêu tháng 2-1993 với chi tiết “không có ai là thân thích” nên Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ không cho hưởng quy chế tỵ nạn. Ngay cạnh trường hợp Hồng Hạnh là trường hợp Hoàng Thị Thu Cúc hoàn toàn trái ngược. Thu Cúc có cha bị chết trong trại tù, gia đình bị tịch thu nhà cửa, cưỡng bách đi Khu Kinh Tế Mới nên 5 anh chị em phải tìm đường vượt biên. Các chi tiết cụ thể đó vẫn bị gạt bỏ khiến Thu Cúc đã tự treo cổ tại trại Sikiew Thái Lan tháng 12-1992 khi vừa 26 tuổi.

Cảm giác đến với tôi vào những đêm khuya đối diện tấm bia bị đục vỡ luôn là cảm giác ngộp thở. Vì dòng suối âm vang cuồn cuộn khiến tôi bị vây nghẹt giữa không biết bao nhiêu cái tên, bao nhiêu tiếng gọi cất lên từ nhiều địa phương Thái Lan, Mã Lai qua Nam Dương đến Hong Kong …

Tôi không thể nhớ hết những cái tên, những trường hợp xẩy ra, nhưng luôn dừng lại với mấy lời cuối của người thanh niên 25 tuổi tên Nguyễn Ngọc Dũng. Ngày 3-5-1993, Nguyễn Ngọc Dũng tới trước văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ trại Sungei Mã Lai tự tay đâm mũi dao nhọn vào giữa trái tim mình và gục chết bên dòng chữ: “Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng mà vì muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.” Nguyễn Ngọc Dũng tự huỷ mình để tạo một tiếng gào kêu gọi sự cảm thông với cảnh ngộ bị đoạ đày của đồng loại trong cảnh sống vắng thiếu tình người.

Lời kêu gào vẫn cất lên, nhưng được đáp ứng ra sao?

Ngày 22-8-2007, tại đại hội Cựu Chiến Binh Mỹ ở Kansas Missouri, tổng thống Bush nhắc đến cuộc chiến Việt Nam qua một câu tóm gọn: “Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam đã hỉển lộ vẫn chính là cái giá phải trả cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…(1)

Phát biểu ngắn gọn gợi nhắc thực tế Việt Nam sau ngày 30-4-1975 cũng bày tỏ nỗi tiếc xót về hậu quả một hành động sai lầm di hoạ cho những con người nhỏ bé vô tội, và ý muốn cảnh báo về một sai lầm tương tự. Dù là người xa lạ, ông Bush cho thấy không hoàn toàn vô cảm trước những thống khổ mà người dân Việt Nam gánh chịu quanh hai tiếng “thuyền nhân” — bao gồm cảnh ngộ buộc mọi người phải rời bỏ quê hương và những thảm nạn trên biển cả mênh mông luôn chứa đầy tai hoạ bão táp, hải tặc và cả thái độ lạnh lùng của những người ngoại cuộc nhẫn tâm…

Nhưng sự bày tỏ một chút tình đồng loại ấy đã lập tức bị phản bác bởi những người đang ở vị thế quyết định số phận mọi con dân Việt Nam. Ngay sau ngày 22-8 cho tới cuối tháng 9-2007, báo chí Việt Nam liên tiếp phổ biến nhiều bài viết và phát biểu chê bai ông Bush sai lầm và xuyên tạc. Trên báo Quân Đội Nhân Dân ngày 31-8-2007, tướng Nguyễn Đình Ước viện trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam phát biểu “nạn thuyền nhân là chuyện có thật” nhưng nguyên nhân vì “sau chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề mà Việt Nam còn bị bao vây, cấm vận về kinh tế.” Viên tướng này diễn tả xã hội Việt Nam hoàn toàn tốt đẹp, không có chuyện bức chế bất kỳ ai, không có nỗi thống khổ nào và khẳng định nạn thuyền nhân là “âm mưu hậu chiến của Mỹ”, bởi sau khi cấm vận gây khó khăn kinh tế cho Việt Nam, “họ lại kích động, đưa ra viễn cảnh thiên đường ở bên ngoài gây nên tình trạng có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.”

Nguyễn Đình Ước và những cây bút cuồng nhiệt đả kích lời phát biểu của ông Bush đã cho thấy họ không hề động tâm trước sự việc xẩy ra cho chính đồng bào của mình mà ngược lại còn kết buộc các nạn nhân tự chuốc tai hoạ bởi nghe lời ngoại nhân kích động, bỏ đất nước ra đi. Nếu cứ giả dụ những người này nói đúng thì phải biện giải ra sao về lý do Việt Nam viện dẫn để đòi phá bỏ tấm bia tưởng niệm tại Jakarta, khi tờ Jakarta Post ngày 20-6-2005 loan báo Chủ Tịch Nước CHXHCNVN (CSVN) Trần Đức Lương yêu cầu Nam Dương “khẩn cấp đập tượng đài” trên vì “nó xúc phạm tới Việt Nam.” Tấm bia xúc phạm Việt Nam như thế nào khi chính quyền Việt Nam khẳng định các nạn nhân chết thảm chỉ vì “chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài?” Vả lại, bày tỏ tình cảm xót thương nhớ tiếc những người cùng huyết mạch đã khuất có thể là hành vi gây tổn hại uy danh dân tộc chăng?

Mọi nguyên tắc đạo lý trên trái đất này đều không chứng minh cho kiểu suy diễn đó, nhất là khi hết thẩy người đã khuất đều là nạn nhân vô tội đáng thương, trong số có không ít trẻ thơ và những người vợ, người mẹ chân yếu tay mềm. Bằng cách nhìn nào thì cũng phải khẳng định tấm bia đó chỉ gợi nhắc tội ác của những kẻ đã biến hàng loạt người vô tội thành nạn nhân trong tấn thảm kịch thuyền nhân, và bất kể là ai, nếu còn mang trái tim con người sẽ không bao giờ tránh khỏi xót xa trước cảnh tượng ngọn lửa điên cuồng trùm phủ thân hình nhỏ nhoi yếu đuối của một cô bé mới 16 tuổi như ngọn lửa hoả thiêu thân xác cô bé có tên Lưu Thị Hồng Hạnh.

Bỏ qua mọi lý lẽ để chỉ nhìn vào thực tế xảy ra quanh hai tiếng “thuyền nhân” sẽ không thể quên trường hợp con thuyền mắc cạn tại một hòn đảo trong quần đảo Trường Sa và trường hợp chấm dứt binh nghiệp của một hạm trưởng hải quân Mỹ.

Theo Washington Post ngày 29-03-1989, hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque cho biết sẽ rời Hải Quân sau 26 năm phục vụ, dù ước nguyện của ông là được sống trọn đời với biển cả. Ông phải chọn điều này vì ngày 24-02-1989, toà án quân sự Mỹ đã tuyên xử ông thiếu xót trách nhiệm và ông tin rằng bản án thực sự chấm dứt binh nghiệp của ông. Trên thực tế, ông bị ngưng chức hạm trưởng, bị truy tố ra toà từ ngày 27-08-1988, và các phiên xử kéo dài 2 tuần lễ khởi từ trung tuần tháng 2-1989 đã kết thúc với bản án trên. Lý do là ngày 9-06-1988, hải vận hạm USS Dubuque gặp một thuyền tỵ nạn Việt Nam lênh đênh giữa biển. Các thuyền nhân cho biết thuyền bị hư máy trôi giạt đã 18 ngày khiến có hơn 20 người bị chết. Còn lại trên thuyền lúc đó có 83 người gồm nhiều phụ nữ, trẻ em, hết thẩy đều kiệt sức. Nhưng lời khẩn cầu hải vận hạm USS Dubuque cứu vớt bị từ chối. Vị hạm trưởng chỉ hạ lệnh chuyển qua con thuyền một số thực phẩm và nước uống đủ dùng mấy ngày rồi tiếp tục ra đi, bỏ mặc con thuyền bập bềnh tại chỗ.

19 ngày sau, ngày 28-06-1988, con thuyền được một tàu đánh cá Phillipines cứu đưa vào bờ thì đã có thêm 31 người bị chết và số người sống sót kể lại phải qua những ngày khủng khiếp là duy trì hơi thở bằng cách nhai nuốt chính thân xác các bạn đồng thuyền đã chết. Tin về cảnh ngộ 52 thuyền nhân sống sót loan truyền khắp mặt báo chí và Bộ Quốc Phòng Mỹ tức khắc ra lệnh truy tố vị hạm trưởng.

Trước toà, vị hạm trưởng viện lý do cần hoàn tất nhiệm vụ nên không dám bỏ thời gian cho việc tiếp cứu. Nhưng quan điểm của toà là không có lý do nào biện giải cho hành vi làm ngơ trước cảnh lâm nguy của đồng loại.

Bản án đã khẳng định vị thế tột cùng của tình người và gợi nhắc một trường hợp từng xẩy ra 10 năm trước đó. Một ngày tháng 4-1979, con tàu là chiếc ghe đi biển mà ngư dân gọi là “3 lốc đầu bạc” chở 130 thuyền nhân rời đảo Hòn Tre ngoài khơi Nha Trang vượt Biển Đông. Sau ba ngày êm ả, một cơn bão bất ngờ ập tới giữa đêm. Cơn bão khiến con tàu điên đảo quay cuồng, sau đó hoàn toàn mất phương hướng. Giữa lúc nguy cấp, người trên tàu bỗng thấy có ánh đèn loé lên từ một khoảng không xa. Tài công lập tức hướng về phía đó với hy vọng là một hòn đảo Philippines.

Không may, con tàu mắc kẹt đá ngầm lúc tới cách hòn đảo chỉ hơn trăm thước. Lâm cảnh vô phương tiến thoái, một nhóm người quyết định lội vào đảo tìm sự tiếp cứu. Vừa đặt được chân lên bãi cát, nhóm người bỗng nghe tiếng loa phóng thanh bằng tiếng Việt ra lệnh: “Tất cả đứng lại!”

Cả nhóm chết sững đứng im, nhưng thầm an ủi nhau nếu bị bắt trở về đất liền thì dù phải đi tù vẫn bình yên, khỏi vùi xác giữa biển cả. Ý nghĩ đó không thành thực tế. Vì nhóm người đứng thẳng hàng với hai tay đưa lên trời đã lập tức trở thành những tấm bia cho hàng loạt đạn từ trong bờ xối xả bắn tới. Gần 20 mạng người gục ngã trong chớp mắt, chỉ còn ba người thoát chạy trở lại được con tàu.

Do mắc kẹt đá ngầm, con tàu không thể nhúc nhích nên đành đưa hết đàn bà trẻ nít lên mui, hướng vào đảo quỳ khóc xin tha mạng. Cảnh tượng đó diễn ra lúc trời đã rạng sáng giúp mọi người thấy rõ trên đảo nhiều toán bộ đội tới lui nhộn nhịp và vợ con họ đứng chen lấn nhìn ra con tàu.

Đám đàn bà trẻ nít trên tàu la khóc lớn hơn xin cứu giúp. Nhưng đó cũng là lúc mà đủ loại súng nối nhau nhả đạn vào đám đàn bà trẻ nít đang uốn mình cúi lạy trên mui tàu…

Các chi tiết về giây phút cuối cùng của con tàu do một nhân chứng sống sót kể lại:

– “Chúa ơi cứu con với!”
Tiếng thét đau đớn, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt khiến tôi phải lấy tay vuốt mặt và bàng hoàng nhận ra toàn là máu. Máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng đầu lên một chút để nhìn. Người phụ nữ oằn oại với vết thương bên đùi vỡ toác, máu tuôn xối xả …Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng la hét, kêu gào của những người bị trúng đạn quyện thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người … Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe, thây người nằm la liệt … Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn thúc tôi phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu.”

Kẻ may mắn được sóng cuốn đi, sau đó được xô tới bên một chiếc thuyền câu cũng đang dật dờ trên mặt biển:

“Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ, tôi nhận ra chiếc thuyền hoàn toàn im lặng, không có sự di động của bất cứ người nào trên thuyền. Tôi hơi vững tâm, cố bơi lại gần. Nắm được be thuyền và leo lên thì tôi thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên, họ sụp lạy, xin tha mạng. Tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động …Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau, tôi mới vỡ ra họ cũng trôi giạt vào đây và cũng bị bắn. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, có 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị 9 tuổi, cậu em 6 tuổi. Cha của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát phần vai hai bên, đang nằm thoi thóp dưới hầm máy.”

Con thuyền là một thuyền câu dài vỏn vẹn 6 thước, rộng 2 thước cứ dật dờ trôi nhưng tiếp đó đã nhận thêm 4 người khác thoát chết từ con tàu bị mắc cạn để ấp ủ 16 mạng người, sau khi anh thanh niên bị thương trút hơi thở cuối. Điều kỳ lạ là 16 người trong số có hai đứa trẻ đều còn thoi thóp tới ngày thứ 30 lênh đênh trên biển khi được một tàu buôn Nhật Bản phát hiện. Vị thuyền trưởng người Đại Hàn từng được nhắc nhở sẽ bị đuổi việc nếu vớt người vượt biên. Nhưng trước chiếc thuyền câu nhỏ với 16 túi da bọc xương đang hấp hối, ông đã chọn chấp nhận mọi hậu quả, lệnh cho thủy thủ đưa họ lên thuyền cấp cứu rồi chở họ tới cảng Okinawa.Hơn 30 ngày trước, hai con thuyền chở 143 người lúc này chỉ còn vỏn vẹn 16 người. Nỗi gian khổ của họ được báo chí Nhật Bản và quốc tế kể lại nhiều ngày kèm theo hình ảnh những con người chỉ là những bộ xương với hộp sọ nhô cao.

Hành động quay lưng không cứu người lâm nạn của vị hạm trưởng hải vận hạm USS Dubuque gây ra cái chết cho 31 người đã khiến Bộ Quốc Phòng Mỹ lập tức quyết định đưa ra toà xét xử ngay sau khi báo chí loan tin. Trong khi đó, những kẻ nhẫn tâm tàn sát 120 mạng người vô tội gồm nhiều phụ nữ và trẻ thơ đang khốn đốn giữa sóng gió cho tới nay hơn 30 năm sau vẫn hoàn toàn thoải mái.

Không biết bao nhiêu thắc mắc đã được đưa ra nhưng đều rơi vào hư vô. Nhưng, những thắc mắc đó chắc chắn vẫn sẽ vang lên mỗi khi có ai nhắc đến hai tiếng “thuyền nhân” để gom lại thành một thắc mắc cuối cùng: Những kẻ đã ra lệnh bắn giết người ra đi và những kẻ thản nhiên thi hành lệnh bắn giết đó còn có thể gọi là con người được không?

Trong Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Lâm Hoàng Mạnh lập lại cùng thắc mắc khi kể về một tai hoạ tương tự đe doạ con thuyền trên đó có gia đình tác giả:

“Trưa ngày 18-6-1979, vợ con tôi cũng như nhiều phụ nữ và trẻ con khác say sóng, nôn mửa, nằm bệt dưới khoang. Tôi đang loay hoay lau chùi dọn dẹp, lấy thuốc chống say cho vợ con, bỗng nhiên nghe tiếng loa phóng thanh oang oang:– Không được vi phạm hải phận của chúng tôi.

Tất cả mọi người choàng tỉnh. Tôi vội lên sạp thuyền xem sự thể ra sao. Một tàu chiến hải quân Trung Quốc đang dần dần áp sát thuyền chúng tôi. Trên boong tàu, thủy thủ Trung Quốc trong quân phục hải quân, lăm lăm tiểu liên, một dàn đại liên, đại bác chĩa nòng vào thuyền. Một sĩ quan tay cầm loa phóng thanh nói bằng hai thứ tiếng Việt và Quảng rất rành rọt:

– Yêu cầu thuyền không được xâm phạm hải phận chúng tôi. Phải rời ngay hải phận, không sẽ bị tiêu diệt.

Tôi không thể tin được tai mình.

Đây là đồng bào, đồng chí của tổ quốc Trung Hoa vĩ đại của chúng tôi ư?

Mới ngày 15-6 khi chưa rời bến Máy Chai, chúng tôi vẫn được chính quyền Đặng Tiểu Bình trên đài phát thanh Bắc Kinh khoác cho chiếc áo “Hoa kiều yêu nước” với biết bao mỹ từ tươi đẹp, kêu gọi hồi hương. Giờ đây thuyền chúng tôi mới mấp mé hải phận “tổ quốc vĩ đại, thân yêu”, chính hải quân của Đặng Tiểu Bình đe dọa nổ súng, tiêu diệt nếu thuyền không rời xa lãnh hải.
Hơn 200 người trên thuyền là người dân vô tội, đàn bà trẻ con, không tấc sắt trong tay.

Khi tàu hải quân Trung Quốc áp sát, chúng tôi già trẻ lớn bé hơn 200 người đứng lố nhố trên sàn thuyền. Tất cả đăm đăm nhìn bọn họ. Những mũi súng máy của lính hải quân chĩa thẳng vào chúng tôi như sẵn sàng nhả đạn.

Trước khi ra đi, chúng tôi thường nghe BBC Việt ngữ, anh Đỗ Văn đưa tin, rất nhiều thuyền tỵ nạn gặp tàu nước ngoài đuợc cứu trợ, đưa đến nơi an toàn. Không ngờ, thuyền chúng tôi gặp tàu hải quân Trung Quốc, họ không cứu giúp lại tìm cách đẩy chúng tôi ra xa hơn giữa trùng dương nguy hiểm.

Họ là ai? Họ chính là người Trung Quốc, là đồng bào, trong huyết quản họ và chúng tôi có chung dòng máu Trung Hoa. Sao họ tàn ác đến như vậy?
Họ là người hay loài mãnh thú?”

Thắc mắc mà Lâm Hoàng Mạnh lập lại có lẽ không còn cần trả lời. Nhưng từ đây lại dấy lên một thắc mắc rất cần được trả lời: Tại sao loài mãnh thú có thể tồn tại lâu như vậy ở vị thế đè đầu cưỡi cổ con người?Tôi không tin có một loài thú nào dù hung dữ tới đâu lại đủ sức khống chế một cộng đồng dân tộc từng đạp bằng mọi hiểm hoạ gian nguy cùng cực để tồn tại suốt hơn bốn ngàn năm. Quá trình đó đã biểu hiện cụ thể một ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống gọi là cuộc sống con người. Ý chí và truyền thống đó chắc chắn không bao giờ tàn lụi. Vậy do đâu cả một cộng đồng dân tộc đã phải khoanh tay gục đầu trước nanh vuốt của chỉ một bày ác thú?

Hàng loạt dấu hỏi quay cuồng với hàng loạt giải đáp nhưng mỗi giải đáp lại khơi thêm nỗi hoang mang ngờ vực khiến trước mắt tôi bỗng hiển hiện một rừng dấu hỏi nhảy múa điên loạn và chập chờn chuyển hoá thành đủ thứ hình thù. Dù chưa từng vượt biển, chưa từng đặt chân đến một hòn đảo nào, tôi bỗng thấy mình đang đứng giữa quần đảo Trường Sa và những dấu hỏi mịt mù đã biến thành một đám người say mê nhả đạn với nét mặt hả hê trước những thân hình nạn nhân gục ngã. Rồi tôi lại nghe vẳng lên giọng kể trĩu nặng ưu tư của Lâm Hoàng Mạnh về vài cảnh sống của một số thuyền nhân khi đã rời xa hẳn những con thuyền:

“Chuyện ly hôn của người Việt trở thành đề tài nóng bỏng. Tôi quen một số gia đình cũng bị hút vào vòng xoáy này. Đến chơi, khi hỏi chuyện thật hư, có gia đình, không những không ngượng, cô vợ còn cười tươi, bảo “quanh đây ai cũng đều thế cả, chỉ có gia đình anh chị chưa làm thôi. Em á, không những làm, em còn xúi người ta. Tội gì không làm, chết ai đâu? Đây này, chúng em ra tòa ly dị. Có giấy ly hôn hẳn hoi, ông xã lấy cớ thăm con, vẫn ngủ ở nhà đấy chứ. Chỉ khi nào council cho người đến kiểm tra mới “tạm sơ tán” thôi…Đấy, ông xã nhà này vẫn đi làm đều, chỉ phải đóng thêm chút thuế, theo diện độc thân, còn em và tụi trẻ bây giờ khỏe re, lĩnh tiền trợ cấp single parent cao, tiền nhà khỏi phải đóng, các cháu được miễn phí bữa trưa. Sướng chưa! Anh chị còn chần chừ gì nữa mà không làm….”

Tôi ngán ngẩm ra về và từ đó ít giao lưu. Chỉ vì một chút lợi ích vật chất, họ đã cắt luôn dây thần kinh xấu hổ, làm những điều không thể chấp nhận đối với lương tâm, đạo đức của người bình thường …”

Lâm Hoàng Mạnh không chỉ ưu tư trước cảnh sống này mà còn đưa người đọc tới nhiều vùng đất Việt Nam cũng như Anh quốc cùng nỗi trăn trở về khoảng thời gian tồn tại khó biết ra sao của những câu ca dao đã có từ hàng ngàn năm như:Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con …

Tôi không còn theo kịp mức chuyển hoá của khu rừng dấu hỏi nữa, dù vẫn tin chắc ý chí bất khuất và truyền thống bảo toàn các giá trị tất yếu của cuộc sống con người chẳng bao giờ rời xa tim óc mọi người Việt Nam ở bất kỳ nơi đâu. Mọi nguyên do thống khổ dẫn tới hai chữ “thuyền nhân”, mọi tai ương thảm nạn khắc hoạ thành hai chữ đó có thể ghi dấu mãi một đoạn đường ngập tràn những não bộ tối tăm, những con tim dã thú, nhưng trong diễn trình lịch sử, mọi đoạn đường luôn chỉ là một bước thăng trầm không thể kéo dài mãi mãi.

Tôi bỗng nhớ tới giọng ca từng là thần tượng một thời của lớp tuổi chúng tôi từ thập niên 1950, nữ ca sĩ Hy Lạp Nana Mouskouri. Nana Mouskouri cuốn hút không chỉ do giọng ca mà còn qua nhiều lời ca vẫn thường bất ngờ vẳng lại:

Quand tu chantes je chante avec toi, liberté
Dans la joie ou les larmes je t’aime
Les chansons de l’espoir ont ton nom et ta voix
La chemin de l’histoire nous conduira vers toi
Liberté, liberté …
(2)

Tôi rời những trang hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh trong ước mong được nghe lời ca trên vang dội mọi nẻo đường Việt Nam qua một dàn đồng ca, dù dư âm giọng ca của Nana Mouskouri vẫn ngọt ngào quyến rũ.

Virginia May 20, 2011.

© DCVOnline

Buồn Vui Đời Thuyền Nhân, Hồi ký của Lâm Hoàng Mạnh

Tủ sách Tiếng Quê Hương xuất bản. Phát hành tháng 7/2011. Địa chỉ liên lạc: Tiếng Quê Hương, P.O Box 4653, Falls Church – VA 22044


(1) “… Whatever your position is on that debate, one unmistakable legacy of Vietnam is that the price of America’s withdrawal was paid by millions of innocent citizens whose agonies would add to our vocabulary new terms like ‘boat people,’ ‘re-education camps,’ and ‘killing fields’.” President Bush’s speech to the Veterans of Foreign Wars National Convention in Kansas City, August 22, 2007.
“Bất kể bạn ở vị thế nào trong cuộc tranh luận thì cái di sản Việt Nam để lại mà ta không thể nhầm lẫn được là: cái giá  cho cuộc triệt thoái quân đội Mỹ đã được trả bởi hàng triệu người vô tội mà những nỗi bi kịch và thống khổ của họ đã tạo thêm cho ngôn ngữ chúng ta các từ mới như “thuyền nhân”, “trại cải tạo” và những “cánh đồng chết”…
(HT dịch)

Posted in Hồi Ký | Leave a Comment »

►Bút Ký Đêm Cao Miên

Posted by hoangtran204 trên 23/07/2011

Tưởng Năng Tiến

Lời thưa đầu: Cách đây đúng 13 năm (TNT viết bài này năm 2001), vào tháng 7 năm 1988, người viết theo chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giữa vùng biên giới Thái-Miên.

Mới đây, vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là V. H.) đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã hy sinh, nhưng – vì hoàn cảnh – họ đã «không thể thông báo sớm hơn»! Bút ký ngắn ngủi này xin được phổ biến như một nén hương lòng (muộn màng) để gửi đến những người đã khuất.

Khi chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng hạn này lại là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.

Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của «mìn hộp gỗ» -một loại mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.

Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là «sân banh cộng sản». Lý do: người ta ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất cũng phải có vài trăm cặp giò của «cầu thủ bộ đội» phải để lại nơi đây. Đó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửi thấy ngay mùi tử khí.

Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít… Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị Phan Thị Trọng Tuyến: «…vườn ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt nước…»

Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây ăn trái, với «những mương tôm đầy tăm mặt nước…» – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không?

Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Điều «kỳ diệu» là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer Đỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc- tương phản với nhau rõ rệt.

Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Xô.

Thêm vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự «không thể nào tin nổi» của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà Hà Nội và Khmer Đỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau đôi ba lần trong một ngày. Điểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Đỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển hình.

Đơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân quay lại nói nhỏ:
– Đây là bộ chỉ huy tiền phương của sư đoàn… thuộc lực lượng Para (Son Sann).

Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.

Đọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:
– Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.

Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là trông vô cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có vỏ.

Để che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt «tỉnh như ruồi» cùng với thái độ «ai tới đâu tui tới đó» và «muốn tới đâu thì tới». Hiện tại thì tôi đã «tới» Cao Miên và đây còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa? Tôi vẫn giữ lập trường «ai tới đâu tui tới đó» nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng… Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với hai kháng chiến quân Kampuchia có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:

– Đêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.

Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi, trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắc chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.

Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột miệng nói sung sướng như reo:
– Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.

Đất Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện «bên chùa có chợ» được kìa? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ «nước đá». Tôi ngắm kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu lảng xẹc:
– Em sinh năm mấy ?
– 68.
– Như vậy là em vừa đúng hai mươi há?
– Dạ, tháng tới anh.

Em trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà? Nó mới vừa còn loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai mươi năm trước.

Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như thế này? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha. Chắc đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.

Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu vơ. Đi loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.

Bắt đầu là sân chùa lát đá với cái được gọi là «chợ trời» nằm chình ình trên đó. Thực tại vốn phong phú, da dạng và… lộn xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giới hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ «chợ», chỉ thêm được chữ «trời», để mô tả một cách gắng gượng về cảnh “thị tứ” nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và… chấm hết!

Câu «trăm người bán vạn người mua» xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ mini mà tôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên.Tôi đếm được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng phần «tham quan» hơn là có ý định mua bán thật.

Sự xuất hiện bất ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá… đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.

Sau khi biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai «lemonade» với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:
– Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.
– Mắc là bao nhiêu ?
Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:
– Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai «baht» lận. Mắc gấp đôi bên kia.

Mười hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền «tical» mà chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em… tắm bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:
– Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.
– Để em xin phép đã.

Tôi chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tất cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình. Hiểu như thế nên tôi nói vội:
– Để anh xin phép cho.

Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.

Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi già, một ông sư Cao Miên, cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.

Bên cạnh ông là hai vị sãi con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã phát ngôn rằng «cửa thiền luôn rộng mở».

Khi đi qua mặt ba vị sãi, hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán, theo đúng như tập tục chào hỏi của người… Thái. Tôi không tin là người Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc làm theo y như mọi người cho nó…chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ, chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.

Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện «xâm nhập chùa chiền» khi bước vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã sập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây rậm rạp lại có một ngôi chùa.

Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?
Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:
– Hồi 85 tụi nó mang tăng vô tới tận đây đó anh.
– T 54 hả?
– Dạ.
– Thứ này tôi có biết. Đại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu. Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.
– Tụi nó pháo mà.
– Em nói ai? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng?
– Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.
Tôi gật đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao giờ thấy «vững lắm» kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.
– Ông vô trong này lễ Phật không?
Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.
Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng… ái ngại. Vì nóc chùa đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài, trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang liêu cô tịch nơi đây, tôi nghe rõ có tiếng… muỗi vo ve! Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản chuối… khiến Phật thêm buồn. Đến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!
Chu đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được giải thích liền:
– Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.
Sự thực thì anh bạn không chỉ «tỏ ra» mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần… luôn luôn phải ở rất gần.

Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.

Được miễn gác nên tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Đêm nhiệt đới dường như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.
Nếu có dịp làm cố vấn cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Đỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực lượng Khmer Đỏ đang cố tạo một bộ mặt «hiền hậu» và «dễ mến», bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa -cho nó chắn ăn.

Còn muỗi mòng ở Kampuchia thì có thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Đã vậy, trong lúc ngủ, tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay…

Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ, tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lại nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng «trời đất ơi» đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng nói của Thạch T.

Trong số những kháng chiến quân Khrom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, «những chuyện tình không may», và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù giọng nói của Thạch T. có «accent», tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.

Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:
– Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.
Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:
– Muỗi quá há!

Rõ ràng là không ai quan tâm đến chuyện «vu vơ» đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười thích thú nói:
– Em nói anh từ Mỹ tới đây.
Giọng Thạch T. hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ… một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu từng người:
– Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.
– Chào em.
Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:
– Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ tức thì.
Người thứ hai vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:
– Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.
Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim «The Killing Field» bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và…bóp cò cái bộp!

Tôi mở mắt thật lớn nhìn, thoáng một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và ngây thơ. Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà răng em trắng quá, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn «âm thầm» gửi đến em một lời xin lỗi.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng… rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này hay phe nọ để cầm súng giết nhau.

Tình trạng ở quê hương tôi cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải, là Quốc… những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giới thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi, các em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ này. Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn «không» là bộ đội.

Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:
– Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không?
– Không.
Vậy chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả «đại diện» của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Đỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía Heng Samrin trước:
– Em ở với Heng Samrin bao lâu rồi?
– Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.
– Sao bỏ đi ?
– Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là «tay sai» của Việt Nam mà.

– Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa?
– Cực lắm, chịu không nổi.
– Rồi hai em có tính ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?
– Không, bên Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.

– Mấy em tính đi Mỹ hả ?
– Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.
– Vậy vô đó làm chi ?
– Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.
– Mấy em có biết là Việt Cộng đã rút quân không?
– Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.
– Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không?
– Làm sao biết được nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.
– Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không ?
– Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.
– Sao Khmer Đỏ lại đánh giặc giỏi như vậy?
– Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.
– Nếu bây giờ được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?
Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.
– Lấy vợ nữa chớ ?
– Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.
– Còn không về được thì sao ?
– Cũng chưa biết tính sao nữa ?

Tôi cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. Ngọn nến tàn dần. Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi mgười trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:
– Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi «hóc» lắm chứ không phải chơi đâu.

Ngọn nến tắt hẳn. Đêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Đỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:
– Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.
Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng «tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.» Lẫn trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng – cũng ở xa xa. Chắc mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.

Tưởng Năng Tiến

——————————————————–

Mời các đọc giả qua đây đọc thêm một bài khác để nhìn thấy chính quyền ta tươi đẹp, khoan hồng và nhân đạo ra sao:

Cảm Nghĩ về Người  tù Bất Tử , bài của nữ  sinh viên Trần Mỹ Hạnh, tưởng niệm về một người vừa mới khuất.

Đây

———

Và nhân vật Võ Hoàng, người mà tác giả TNT đi tìm ở Cao Miên, được một người khác viết bài tưởng niệm như sau:

Võ Hoàng, kẻ dám sống trước nhân vật

Đêm 10/8/2001
tac_gia_le_thi_hue.jpg
tác giả Lê Thị Huệ
…Đi đi anh
nào phải chúng ta là kẻ ra đi một mình
sa trường đã ngập lụt
máu và nước mắt
triệu triệu tiếng chân người đồng hành
hoặc tất cả chúng ta cùng sống
hoặc tất cả chúng ta cùng chết
Đi đi anh
có em sẽ chờ anh nơi bờ đê
mùa gió lên rơm rạ nở đầy trời
mảnh đất đã thấm đẫm oan khiên
vẫn thơm mùi lúa khoai mới gặt
em sẽ vốc lấy một nhúm và buộc chặt
vào bâu áo
làm bùa chú tặng anh
có anh linh của người nằm xuống
có bóng hình của kẻ đang sống
chỉ còn niềm tin này
là bùa hộ mệnh của đôi ta
những lân tinh hào sảng của nó
sẽ thổi hết đài đài búa liềm
sẽ bẻ cong quặp hết những gọng súng
thắt nơ đỏ
chúng ta phải tin và phải tin
vào mặt đất
đầy bùa phép của chính nó
thổi dạt hết thảm hoạ này
kế tiếp thảm hoạ nọ…
    Lúc đó, tôi vào độ tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi mà tri thức và cảm tình đòi hỏi phải được phát biểu một cách độc lập. Cái tuổi đủ chững chạc để lên tiếng về một lập trường của đời sống mình. Cái tuổi khoẻ mạnh nhất để suy xét, ta và tha nhân cuộc đời nên hỗ trợ nhau như thế nào, đặng còn chung vốn làm ăn những năm tháng trước mặt. Nói tóm lại, những năm đầu ba mươi là những năm những chàng và những nàng tuổi trẻ mới thực sự dấn thân hành động trong cái ý thức sáng tỏ có chọn lựa nhất.
    Tôi đã gặp Võ Hoàng trong những năm đầu tuổi ba mươi xuân sắc ấy.
    Thật sự chúng tôi chạm mặt và nhìn sâu vào mắt nhau chỉ một lần. Đó là lần ở tiệm in của Vũ Tiến Thủy góc đường The Amaden lộng gió. Tôi nhớ tối hôm ấy tôi đến trao cho Vũ Tiến Thủy tâp truyện ngắn Bụi Hồng để anh ấy đưa lên bàn in.
     Cuộc gặp gỡ ấy xảy ra trong một buổi tối hoàng hôn, ngày hè êm dịu ở San Jose. Tôi mặc một chiếc váy hái hoa mỏng manh phất phơ, trang điểm điệu nghệ nhởn nhơ xuân thì, lái xe một mình, đến địa chỉ của một nhà in nho nhỏ rất văn nghệ Việt Nam, dưới phố San Jose.
     Khi tôi mở cánh cửa thì thấy một bầy mấy tên đàn ông đứng lô nhô sau cái quầy gỗ theo nhòm tôi từ từ đi vào. Nhìn lên cái đám đàn ông xôn xao ong bướm đó, tôi đụng cái cốp ngay khuôn mặt đáng yêu của một cố nhân của tôi. Tôi không ngờ là kể từ ngày tôi rời bỏ New York có mấy tháng chung sống thơ mộng, về lại San Jose, cố nhân cũng bỏ lớp bỏ trường Columbia đi lang bạt Cali, Hawaii; năn nỉ mấy tôi cũng nhất định không ngoảnh mặt lại. Vậy mà giờ đây bất ngờ gặp hắn tại nơi này. Chỉ nhìn thấy cố nhân tối hôm ấy, cũng đã đủ làm cho lòng tôi giao động. Nhưng tôi cũng rán nhìn lên điểm mặt, ngoài hắn ra còn những ai. Tôi chỉ nhớ ngoài anh Thủy ra, có ba tên nữa. Tên cao lồng ngồng không thể lẫn vào đâu được là Tưởng Năng Tiến. Tên thứ hai thì đã có lần đi uống cà phê chung là Hoàng Phủ Cương. Còn tên thứ ba thì tôi biết tỏng, đấy là Võ Hoàng.
   Dĩ nhiên cố nhân của tôi thì cười mỉm rạng ngời, vì biết trước sau gì cũng sẽ bắt chẹt được tôi sau khi tôi công tác với ông chủ nhà in về quyển sách. Còn người chào hỏi tôi vồn vã nhất lúc đó là Tưởng Năng Tiến. Rất ư là lịch sự và nhẹ nhàng, Tưởng Năng Tiến một chị Huệ hai chị Huệ ngọt ơi là ngọt. Đó là cái cảm tưởng lần đầu tiên tôi gặp Tưởng Năng Tiến. Y nhìn thì biết mình làm sao là chị Hai của y được. Nhưng Tưởng Năng Tiến có cái khí hậu trò chuyện khéo léo nghệ thuật thiệt là trớ trêu, với tướng mạo ngang tàng, và một giọng văn sòng phẳng sắc sảo chinh phục độc giả. Đúng là điển hình một thứ đàn ông văn nghệ sĩ có nhiều bẫy ngầm.
     Và trong cái buổi tối đáng nhớ ấy tôi không bao giờ quên được ánh mắt của Võ Hoàng mỗi lúc nhìn qua vai những người bạn trai trẻ ấy để thăm hỏi tôi. Suốt khoảng ba mươi phút tối mùa hè đáng nhớ đó, Võ Hoàng im lặng từ đầu đến cuối. Anh nhìn tôi rất vui, rất thân mật, rất mừng rỡ, nhưng tuyệt nhiên anh im lặng giữa những câu chọc ghẹo cười đùa nhẹ nhàng của đám đàn ông con trai xôn xao với một đứa con gái rập rượng.
     Sự im lặng và tia mắt nhìn rất vui mừng thân mật của Võ Hoàng dành cho tôi tối hôm ấy là điều gì rất mạnh mẽ mà tôi không bao giờ quên được. Tôi không bao giờ quên ánh mắt như chợt loé lên một gửi trao dường như đã là một thoả thuận ngầm, chúng ta sẽ cùng chiến đấu nhé. Điều này là một xác tín đã trở lại với tôi trong một chiều sau đó, khi ngồi với cố nhân ở một quán nước, hắn đã nhẹ nhàng báo cho tôi hay hắn đang ở trong cùng một tổ chức với Võ Hoàng. Và sau đó trong một tờ báo rất đầu tiên của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam của tướng Hoàng Cơ Minh, lúc Lê Thiệp còn làm chủ báo Kháng Chiến, tôi đã ký tên khác viết một tâm bút “Thư Gửi Người Đi” cảm động lắm đi lận
Trong tập truyện Bụi Hồng tôi giao cho nhà in của Vũ Tiến Thủy tối hôm ấy, có chuyện ngắn “Cơn Sốt” của tôi. Chuyện đã được đăng trước đấy trên báo Văn của ông Mai Thảo vào năm 1981. Chuyện ngắn lấy bối cảnh cơn ốm nhớ thương đất nước của một cặp tình nhân trẻ ở khung trời náo nhiệt New York. Đoạn cuối của chuyện mô tả người tình nam ám ảnh bởi một công cuộc giải phóng đất nước, cách mạng quốc gia đã đặt lên môi người tình nữ một nụ hôn nồng nàn hứa hẹn.
     “Cho đến khuya khi Ngữ tỉnh dậy, chàng trở người sang và gặp nàng đang nằm cạnh.
      -Anh biết em đã nằm cạnh anh rất lâu.
       Mồ hôi toát  ra ướt đẫm trán chàng và nhỏ từng giọt xuống ngực nàng. Ngữ hất tung đống chăn cuộn trên mình. Tấm biểu ngữ rơi xuống đất.
      Thoa trăn trở.
      -Em nhớ nhà quá.
      Ngữ đặt lên môi nàng một nụ hôn, nụ hôn nóng của hai bờ môi ốm sốt.
    -Anh sẽ đi. Mai một anh sẽ đưa em về. Chàng nói.”
    Thuở ấy, Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đang là một đôi văn sáng như sao trên vòm trời văn học hải ngoại. Tập chuyện Măng Đầu Mùa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng là một ngọn hải đăng trong đám những nhà văn trẻ hải ngoại đầu thập niên 1980. Không biết ở đâu ra mà có một đôi bạn văn sáng sủa như vậy. Tự nhiên xuất hiện đôi song ca có một lối viết hết sức thân mật với đời sống. Đó là cách viết rất văn chương di truyền lớn lên trong nước Việt Nam Cọng Hoà của hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu. Cách viết của những con người yêu văn chương, phơi phới tình người, và rất hào sảng cho văn chương và đời sống những tiếng nói róc rách trong tác phẩm. Cái cõi văn chương rất thoải mái chia sớt tận tình với đời đó không thể nào kiếm thấy ở những con người lớn lên ngoài Miền Bắc áp bức nghẹt cầu nghẹt đường đời Cọng Sản của Bác Hồ Chí Minh và bác Lê Duẩn.
Lật những trang chữ của Võ Hoàng và Tưởng Năng Tiến đọc sẽ thấy khác những trang viết của Trần Đăng Khoa, Nguyễn Huy Thiệp. Chữ nghĩa của Tưởng Năng Tiến và Võ Hoàng chân hơn, sáng hơn, tự tin hơn, gần với con người quanh ta hơn. Trong khi chữ nghĩa của Nguyễn Huy Thiệp và Trần Đăng Khoa mánh hơn, đểu hơn, vẹo hơn, để luồn lèn lớn lên trong một xã hội mà cứ bốn người là có một anh công an dòm ngó. Hai cõi tác phẩm xiển dương hai thế sống khác từ nhừng xã hội mà hắn được nuôi dưỡng. Tuyên dương cõi này mà bỏ lơ cõi khác là hội chứng chậm tiến của hành trình tiêu hoá những tác phẩm.
     Cái điều sáng tỏ của Võ Hoàng, nhà văn vào thời điểm đó, chính là thái độ chọn lựa. Võ Hoàng không chỉ viết. Võ Hoàng dám hiện thực điều chàng viết bằng hành động.
      Sau một trận lột xác và lột hồn vì cơn địa chấn bị vứt ra khỏi quê hương, là một kẻ mẫn cảm, thông minh, tràn đầy nghị lực, có tất cả thời gian của tuổi trẻ vào thời điểm sau 1975 ấy, Võ Hoàng dám xông xáo đi tìm một phương hướng giải quyết những thôi thúc trong người.  Cái thôi thúc lãng mạn phục vụ quê hương có thể là thừa kế của người quân nhân lính thủy Võ Hoàng Oanh của mấy năm binh nghiệp trước đó; nhưng cái bi kịch hùng tráng của Võ Hoàng ở đây chính là chính hành động lựa chọn sứ mệnh chiến đấu để chứng nghiệm đời sống, thay vì tưởng tượng đời sống qua ngòi bút.
       Cái chân dung mà tôi không thể nào không bị khích động, là lúc ấy Võ Hoàng đang ở vào một vị trí ăn ảnh đời người nhất. Võ Hoàng có tuổi trẻ, y chỉ là tên đàn ông vừa ngoài ba mươi. Võ Hoàng có tự do, y vừa mới đến xứ sở Hoa Kỳ nơi mà Nữ Thần Tự Do đã ban tặng cho y một quyền tự do sống hoàn toàn thảnh thơi theo bất cứ cách thế nào y muốn nhất. Võ Hoàng có mái ấm, vợ con vừa sang đoàn tụ. Võ Hoàng có danh vọng, y vừa mới là nhà văn nổi tiếng. Một trang thanh niên tài hoa hiểu ra mình đang ở vào một vị thế có hào sảng, tư trang của cải, căn cước tuổi trẻ, sinh lực, tài năng nhất. Thế mà trong cái huy hoàng của thời thế tuổi trẻ rực rỡ ấy, y đã chọn một con đường chiến đấu cho một siêu hình niềm tin vào danh tự có tên gọi là Quê Hương.
      Nỗi đau bị bứng vứt ra khỏi quê hương như một thứ nha phiến làm cho giấc mơ trở về quê hương là một mời gọi vô cùng hấp dẫn. Tình yêu quê hương là một nguồn sống còn mãnh liệt hơn cả chính tình yêu. Nhà văn Ai Cập Naguib Mahfouz trong chuyện dài Sugar Street đã viết một câu bất hủ “Perhaps patriotism, like love, is a force to which we surrender, whether or not we believe in it.” Mặt đất này đã thấm đẫm những giòng máu nuôi danh tự Quê Hương. Ngày đó chúng tôi ra đi từ những địa danh Rạch Giá, Vũng Tàu, Nha Trang, Hà Tiên. Điểm xuất phát trở thành điểm trở về. Chúng tôi cũng chỉ là những đứa con mọn của một thứ mặt đất tham lam luôn luôn đòi chúng tôi trở về phục vụ nó. Mặt đất hay Quê Hương như một bà mẹ khắc nghiệt không muốn bứt rời đứa con của bà. Võ Hoàng ra đi từ Phú Quốc, chắc là chàng cũng bị cái tiếng gọi của bà mẹ Phú Quốc kêu riết nên chàng mới tìm đường trở về.
Con đường trở về bằng ngôn ngữ Phú Quốc của một nhà văn Võ Hoàng hình như chưa đủ. Những sáng tác của Võ Hoàng trong mấy năm ngắn ngủi lìa xứ, 1979-1984, là những chuyện tràn đầy tính chất Nam Bộ. Giọng văn Nam Kỳ là một nét đặc sắc của văn chương Việt Nam khởi đi từ những cái tên như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Trường An…Với tôi, chỉ trong vài truyện ngắn đầu tay, Võ Hoàng đã lấp lánh một tài năng lớn của văn chương Nam Kỳ. Lối dựng chuyện của anh không thừa thãi, lấy chữ đè chuyện. Văn vẻ của Võ Hoàng rất tươi rói như vừa mới vốc ra từ Phú Quốc. Đọc chuyện của Võ Hoàng cứ như thấy những con người Nam Kỳ dẻo miệng của anh đang gõ gàng trước mặt mình.
Thế nhưng cõi viết không thôi hình như không đủ chỗ để dung chứa sức sống tràn trề của một đứa con trai yêu của quê hương là Võ Hoàng Oanh. Cho nên chàng thanh niên tên là Võ Hoàng Oanh đã vứt bỏ danh vọng đang lên của nhà văn trẻ Võ Hoàng, ném trả cho xứ người lạ hoắc chút tài sản văn chương mà chàng vừa cắm dùi được . Chàng chọn lựa phiêu lưu vào lịch sử, thách thức lịch sử, với ước muốn giành lại và chiến đấu cho quê hương mà người ta đã chiếm đoạt mất của chàng.
Có thể nói đứa con yêu của tổ quốc Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa vai trò kẻ chiến đấu để thí nghiệm con người văn chương tên là Võ Hoàng. Võ Hoàng Oanh đã ra sa trường chiến đấu dũng cảm với mặt trận đất đá súng đạn và kẻ thù ở Nam Lào, vào cái lúc mà tên tuổi nhà văn Võ Hoàng đang lên cao rực rỡ nhất. Sự chiến đấu bằng võ lực là một cách chiến đấu chẳng đặng đừng vào thời điểm ấy. Lúc mà khối Cọng Sản còn chắc nịch như một thứ đế quốc không ai xuyên phá được. Sự chọn lựa con đường đi sang Lào để về chiếm lại quê hương vào bối cảnh đó là một hình ảnh đẹp tuyệt vời trong lòng mọi người Việt lưu vong. Võ Hoàng Oanh con chim trống cũng chỉ muốn khoe đôi cánh vạm vỡ của mình để biểu dương sự chiến đấu bảo vệ lấy quê hương của nhiều người đang bị bọ hung, chuột, dán, bọ chét hút máu. Một nhóm đàn ông con trai đã đi làm anh hùng, lịch sử. Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Trần Thiện Khải, Lê Hồng… là những anh hùng của chúng tôi vào thời điểm đấy. Nhất là trước đấy đã có vị anh hùng trí thức dấn thân như sinh viên Trần Văn Bá đã cũng xuống xuồng đi về phía Quê Hương và đã gục ngã.
Cái chết của Trần Văn Bá (Đường Trần Văn Bá, thơ Lê Thị Huệ) đã càng bồi đắp cái hình tượng cái chết nào của những đứa con của Quê Hương cũng đều là những cái chết đẹp và hiển hách hơn cái chết bệnh tật già lụm khụm nơi quê người. Võ Hoàng Oanh đã chọn lựa theo con đường xuống xuồng chèo về phía Quê Hương dù biết là phía trước mình có người anh sinh viên trí thức Trần Văn Bá vừa ngã gục. Một thái độ chọn lựa hết sức ngạo mạn, lãng mạn, phiêu lưu, thách đố chỉ xảy ra cho những con người dám sống theo tính cách huyền thoại trên bia đá, trong lịch sử, trong truyện và trong kịch. Con người nhỏ nhẻ im im, nghiêng nghiêng nụ mỉm cười thân mật ấy lại chọn lựa một cách chiến đấu bão bùng khốc liệt.
Hoặc tất cả chúng ta cùng sống hoặc tất cả chúng ta cùng chết (thơ Lê Thị Huệ) thì đúng là con người nhà văn Võ Hoàng đã muốn bảo vệ, đã muốn chiến đấu dùm cho những nhân vật huyền thoại. Cái dũng của con người nhà văn Võ Hoàng là muốn chứng minh và chiến đấu điều mình tin bằng chính hành động chèo xuồng đi về phía Quê Hương trước khi cầm bút mô tả lại sự việc. Cái hách của nhà văn Võ Hoàng là trước khi y vung bút múa cho đời một điệu văn thì y đã dám thử nghiệm bằng chính con người và cuộc đời y trước. Thật là khác xa với những tay sống thì không dám sống nhưng chỉ mơ ước vẽ vời rồi để cho kẻ lạ sống dùm hoặc mời gọi người khác sống theo sự tưởng tượng của tác phẩm bày ra. Với tất cả những nét đặc biệt nêu trên, con người này đã thiết lập được một huyền thoại cao ngạo, quyến rũ, tài hoa của riêng danh tiếng Võ Hoàng.
LTH
Đêm 10/8/2001

nguồn

Posted in Hồi Ký, Kampuchea | Leave a Comment »