Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Đổi Mới’ Category

►Trung Quốc trải thảm đỏ cho bà Suu Kyi để nắm chặt Miến Điện- Xung đột sắc tộc Miến Điện : Aung San Suu Kyi nhờ Bắc Kinh giúp

Posted by hoangtran204 trên 23/08/2016

Trung Quốc lo sợ bị bao vây ở Biển Đông, bị chận ở eo biển Malacca ở Singapore, nên tìm đường thông thương ra Ấn Độ dương. Muốn được vậy, TQ phải nắm được chính phủ Miến và làm đường đi ngang qua Miến Điện ra Ấn độ dương. Hơn 50 năm qua, TQ  bán vũ khí, lương thực, thuốc men, thậm chí đánh thuê cho các nhóm sắc tộc ở vùng biên giới Miến- Trung để các nhóm nầy đòi quyền tự trị, tạo bất ổn, và chống lại chính phủ Miến Điện. “Các nhóm thiểu số đã quản lý lãnh địa của họ từ nhiều thập kỷ qua, tha hồ buôn lậu đủ loại tài nguyên, mang lại thu nhập rất lớn nên họ không có lợi lộc gì khi thỏa hiệp với chính quyền”. Bằng cách kết hôn, thương mại, gài gián điệp, TQ đã cắm được người của họ vào trong các gia đình của các thủ lãnh sắc tộc. Bởi vậy, các nhóm sắc tộc này đều nghe lệnh Trung Quốc. 

Xung đột sắc tộc Miến Điện : Aung San Suu Kyi nhờ Bắc Kinh giúp

Trọng Thành

20-8-2016

media

Bà Aung San Suu Kyi và ông Tập Cận Bình tại Bắc Kinh ngày 19/08/2016. REUTERS/Rolex Dela Pena/Pool

Hôm qua 19/08/2016, trong chuyến công du Trung Quốc, ngoại trưởng Miến Điện Aung San Suu Kyi đã gặp chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Bà Aung San Suu Kyi yêu cầu chính quyền Trung Quốc hỗ trợ trong việc tìm ra giải pháp chấm dứt các xung đột với nhiều sắc tộc tại vùng biên giới, giáp với Trung Quốc.

 

Thông tín viên Rémy Favre tường trình từ Rangoon:

« Trong chuyến công du mang tính chuẩn bị này, Aung San Suu Kyi cần được hậu thuẫn. Hiện tại, nhiều nhóm sắc tộc nổi dậy Miến Điện đang chống lại quân đội tại các vùng biên giới, đặc biệt là phía bắc, suốt dọc theo biên giới với Trung Quốc. Một số thủ lĩnh nổi dậy thậm chí còn ẩn náu trên đất Trung Quốc. Kể từ đầu tháng đến nay, các đụng độ giữa lực lượng nổi dậy Kachin và quân đội, tại các khu vực không xa đất Trung Quốc, đã buộc khoảng 1.500 người phải bỏ nhà ra đi. Nhà lãnh đạo Miến Điện Aung San Suu Kyi biết rằng chìa khóa để giải quyết các xung đột này một phần do Bắc Kinh.

Sự ủng hộ mà bà Aung San Suu Kyi tìm kiếm trong chuyến công du tuần này ở nước láng giềng hùng mạnh lại càng trở nên quan trọng hơn, vào lúc Aung San Suu Kyi vừa khởi động tiến trình hòa bình trong tháng 8 này. Mười ngày nữa sẽ diễn ra một hội nghị lớn về hòa bình, với các bên tham gia là các nhóm nổi dậy tại Miến Điện, quân đội và chính phủ. 

Về phần mình, chủ tịch Trung Quốc hứa hẹn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này. Đại sứ Trung Quốc tại Miến Điện cũng đã cam kết ủng hộ về tài chính và vật lực cho các nỗ lực hòa bình tại Miến Điện ».

Trong chuyến công du của ngoại trưởng Miến Điện, Trung Quốc một mặt tuyên bố ủng hộ tiến trình hòa bình tại Miến Điện, mặt khác cũng gây áp lực để chính phủ Miến Điện phải cho khởi động lại dự án xây đập thủy điện khổng lồ Myitsone, bị đình chỉ từ năm 2011, do sự phản đối mạnh mẽ trong công luận Miến Điện.

AFP hôm nay, 20/08, trích nhận định trên tờ Hoàn Cầu Thời Báo Trung Quốc, theo đó, « việc tái khởi động dự án này chỉ còn là vấn đề thời gian ».

Đập Myitsone : Trung Quốc gây áp lực

Nếu được xây dựng, dự án đập Myitsone, công suất 6.000 MW – dự kiến cung cấp 90% lượng điện sản xuất sang Trung Quốc – sẽ làm ngập hơn 700 km², ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người dân, chưa kể các tác động hết sức lớn đến địa chất, làm tăng nguy cơ động đất, núi lở.

Nhiều phương tiện truyền thông Miến Điện gần đây cảnh báo : Chấp thuận dự án Myitsone là hành động « tự sát về chính trị » đối với tân chính quyền Miến Điện. Trong chuyến công du vừa qua tại Trung Quốc, ngoại trưởng Aung San Suu Kyi tuyên bố một ủy ban sẽ xem xét dự án đập Myitsone, nhưng không cho biết cụ thể.

Theo Reuters, hôm qua 19/08, một nhóm gồm 60 tổ chức xã hội dân sự Miến Điện tại Rangoon đã gửi thư đến chủ tịch Trung Quốc, thông qua đại sứ quán Trung Quốc tại Miến Điện. Bức thư nhấn mạnh với phía Trung Quốc rằng, kể từ khi dự án đập thủy điện khổng lồ nói trên được khởi công, nhân dân Miến Điện « đã chưa bao giờ thực sự được hỏi ý kiến ».

 

 

Trung Quốc trải thảm đỏ cho bà Suu Kyi để nắm chặt Miến Điện

Thụy My

22-8-2016

media

Lãnh đạo Miến Điện được Bắc Kinh trang trọng đón tiếp. Trong ảnh: bà Aung San Suu Kyi và thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, 18/08/2016. REUTERS/Jason Lee

 

Từ khi Miến Điện giành độc lập năm 1948, các nhóm nổi dậy vũ trang có tiếng là gần gũi với chính quyền cộng sản Trung Quốc, luôn chống đối quân đội chính phủ. Lãnh đạo Miến Điện có thể cảm ơn Bắc Kinh đã gây áp lực trên nhiều nhóm để họ chịu tham gia hội nghị hòa giải lịch sử ngày 31/8 tới. Hôm thứ Sáu, ông Tập Cận Bình đã khẳng định muốn « đóng một vai trò xây dựng nhằm xúc tiến tiến trình hòa bình ».

Đối với Trung Quốc, nhiều nhà quan sát ghi nhận, đây là nhằm đảm bảo cho Miến Điện không thoát khỏi vùng ảnh hưởng của mình. Từ nay nắm trọn quyền lực, thần tượng đấu tranh dân chủ có nguy cơ xích lại gần các cường quốc phương Tây.

Nhưng chuyến đi kết thúc hôm qua cho thấy bà Aung San Suu Kyi đã coi trọng quan hệ với Bắc Kinh như thế nào. Bà không hề chỉ trích Trung Quốc vi phạm nhân quyền, tỏ ra trung lập trong tranh chấp Biển Đông. Hơn nữa, bà dành chuyến công du đầu tiên bên ngoài Đông Nam Á cho Trung Quốc, còn Hoa Kỳ thì để đến tháng Chín.

Trên lãnh vực kinh tế, để giảm áp trong hồ sơ đập thủy điện Myitsone trị giá 3,6 tỉ đô la bị chính quyền ông Thein Sein cho ngưng lại do dân chúng chống đối vì tác hại đến môi trường, trước chuyến công du này bà Aung San Suu Kyi đã cho thành lập một ủy ban nghiên cứu giải quyết. Sáng kiến này được Trung Quốc hoan nghênh, nhưng ít có nhà quan sát nào cho rằng dự án sẽ được tiếp tục, mà có lẽ Miến Điện sẽ tính đến việc bồi thường.

Lính Trung Quốc đánh thuê cho quân nổi dậy Miến Điện ?

Cũng về chủ đề quan hệ Miến Điện-Trung Quốc, chuyên gia Tôn Vân (Yun Sun) của Centre Stimson tại Washington trong bài trả lời phỏng vấn báo Le Monde có cùng nhận định « Bắc Kinh sẽ hỗ trợ tiến trình hòa giải Miến Điện ». Sau khi xích lại gần phương Tây, Miến Điện chăm chút cho quan hệ với nước láng giềng hùng mạnh, vì Trung Quốc đang nắm trong tay chiếc chìa khóa về các nhóm thiểu số nổi dậy.

Bà Tôn Vân – đã từng đến gặp quân đội Wa (UWSA) hồi tháng Bảy – cho biết bà không thấy các trực thăng chiến đấu Trung Quốc như tạp chí Jane’s Defense Weekly đã nêu, nhưng thấy UWSA có cơ xưởng sản xuất vũ khí riêng. Họ cũng tuyển mộ cả lính đánh thuê Trung Quốc, trả lương cao – bà cũng đã trực tiếp nói chuyện với những người này.

Chuyên gia này cho rằng một hội nghị Panglong sắp tới với các phe nổi dậy không thể giải quyết được lập tức mọi vấn đề, hòa bình không thể có ngay. Các nhóm thiểu số đã quản lý lãnh địa của họ từ nhiều thập kỷ qua, tha hồ buôn lậu đủ loại tài nguyên, mang lại thu nhập rất lớn nên họ không có lợi lộc gì khi thỏa hiệp với chính quyền. Tiến trình sẽ còn kéo dài.

Bắc Kinh đã hết sức cố gắng để thuyết phục nhóm thiểu số Wa (Ngõa Bang) tham gia hội nghị – đây là một đóng góp cụ thể của Trung Quốc, gởi một đặc sứ đi dự hội nghị thượng đỉnh liên sắc tộc do nhóm Kachin tổ chức cuối tháng Bảy, và bí mật cấp 3 triệu đô la cho chính quyền Miến Điện để hỗ trợ tiến trình hòa bình.

Theo nhà phân tích, Trung Quốc có khu vực biên giới với Miến Điện an toàn, không muốn chiến sự xảy ra. Nhưng đặc biệt là « Con đường tơ lụa mới » – mô hình đắc ý của Tập Cận Bình, chạy xuyên qua châu Á nối với phần còn lại của thế giới – đi qua các vùng đất bất ổn là bang Rakhine và bang Shan. Trung Quốc đã nhắn nhủ với các nhóm nổi dậy trong khu vực này là nếu đụng đến cơ sở hạ tầng của dự án sẽ là tự sát.

____________

Thông cáo chung Miến Điện-Trung Quốc tránh đề cập đến Biển Đông

media
Bà Aung San Suu Kyi trong chuyến công du Bắc Kinh, ngày 18/08/2016. Reuters

21-8-2016

Cố vấn Nhà nước Miến Điện Aung San Suu Kyi kết thúc chuyến công du Trung Quốc hôm nay 21/08/2016. Thông cáo chung của đôi bên không hề nhắc đến vấn đề Biển Đông. Đây là “một thắng lợi” của Bắc Kinh, hiện đang làm mọi cách để tránh né các nhận xét tiêu cực từ các quốc gia thành viên ASEAN về vấn đề này.

 

Theo báo Ấn The Hindu, thông cáo chung được đưa ra sau cuộc gặp của bà Aung San Suu Kyi với chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không hề đề cập đến tranh chấp Biển Đông.

Thông cáo cho biết Miến Điện hoan nghênh sáng kiến « Một vành đai, một con đường » của Trung Quốc, và hành lang kinh tế Bangladesh-Trung Quốc-Ấn Độ- Miến Điện (BCIM) chạy dài hơn 2.000 km nối liền Vân Nam của Trung Quốc với Mandalay của Miến Điện, đi ngang qua Bangladesh và kết thúc tại Ấn Độ. Phía Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của Miến Điện « vì hòa bình và hòa giải dân tộc thông qua đối thoại »

Trước chuyến đi, báo chí Miến Điện nhấn mạnh việc bà Suu Kyi tìm kiếm sự hỗ trợ của Bắc Kinh trong việc hòa giải với các nhóm nổi dậy mà từ hơn nửa thế kỷ qua vẫn được nuôi dưỡng bằng việc buôn lậu ma túy, gỗ và cẩm thạch qua ngõ Trung Quốc.

Hồ sơ rất được chú ý là dự án đập thủy điện Myitsone 3,6 tỉ đô la do Trung Quốc đầu tư, đã bị chính quyền Thein Sein trước đây cho ngưng vì gây thiệt hại cho môi trường, không thấy nhắc đến trong thông cáo. Trong một thư ngỏ gởi đến ông Tập Cận Bình, 60 nhóm xã hội dân sự tại Rangun nhấn mạnh rằng « Nhân dân Miến Điện chưa bao giờ được tham khảo ý kiến kể từ khi dự án đập Myitsone được khởi thảo ».

Báo The Irrawaddy cho biết 26 tổ chức xã hội dân sự của người Shan và nhóm bảo vệ môi trường kêu gọi cho ngưng ngay lập tức các dự án xây đập ở sông Salween. Một thư ngỏ khác gởi cho bà Aung San Suu Kyi cảnh báo dự án đập thủy điện gây tranh cãi có thể làm trầm trọng thêm tình hình tại các khu vực nổi dậy.

_________________

Phong trào nhạc rop độc lập đang hấp hối tại Bắc Kinh

Trên lãnh vực văn hóa ở Trung Quốc, Le Figaro chú ý đến tình trạng « Bị chính quyền trấn áp, phong trào nhạc rock độc lập đang hấp hối tại Bắc Kinh ». Các vụ cấm các nhóm trình diễn, đóng cửa các câu lạc bộ chơi nhạc live liên tục diễn ra, đe dọa vị trí thủ đô văn hóa mà Bắc Kinh đang mơ đến.

Thông tín viên của Le Figaro tại Bắc Kinh nêu ra trường hợp nhóm nhạc hip-hop IN3. Năm ngoái, nhóm này là mục tiêu chính bị một chỉ thị của bộ Văn hóa chiếu cố : cấm 120 bài hát. Trong khi mức độ dữ dội, tính phản kháng trong lời các bản nhạc của IN3không thể nào so sánh được với các nhóm rap Mỹ hay Pháp. Nhóm tránh mọi chỉ trích các lãnh đạo Trung Quốc, nhưng chế độ không hề ưa chất xã hội trong lời hát, mô tả cuộc sống thường nhật của giới trẻ Bắc Kinh.

Bài Beijing Evening News đứng thứ ba trong danh sách bị cấm thuật lại những chuyến dạo chơi ban đêm ở thủ đô Trung Quốc, với những cuộc đua xe mà người cầm lái say rượu, tán gái, đánh nhau với các chủ quán bar…Nhưng nhất là nói về những bất công và bất bình đẳng. « Một số người ngủ trong hầm xe điện ngầm, trong khi những kẻ khác phung phí tiền công quỹ cho những bữa tiệc linh đình ».

Chủ câu lạc bộ Mao Livehouse đã bị đóng cửa cho rằng, Trung Quốc đã bỏ lỡ cơ hội sử dụng quyền lực mềm, dùng văn hóa để cải thiện hình ảnh của đất nước.

Ấn Độ : Người khổng lồ dân số, chú lùn thế vận

Cũng liên quan đến châu Á nhưng trên lãnh vực thể thao, Le Monde nhận định « Ấn Độ : Người khổng lồ dân số, chú lùn Olympic ». Đất nước có dân số đông thứ nhì thế giới từ năm 1900 đến nay chỉ giành được có 28 huy chương thế vận, trong đó có 2 huy chương tại Rio lần này.

Tại Ấn Độ, người ta chỉ chú ý đến các vận động viên khi nào họ lọt vào vòng bán kết hay chung kết. Giáo dục được đặt lên trên hết, thể thao chỉ là thứ yếu, trong lúc hãy còn nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng. Môn thể thao được yêu thích nhất tại Ấn Độ là cricket thì từ một thế kỷ qua đã biến mất khỏi chương trình thi đấu thế vận.

Trong hơn 100 năm tham gia Olympic, tổng số huy chương mang về chỉ vỏn vẹn có 9 vàng, 7 bạc và 12 đồng. Để gia tăng cơ may, lần này Ấn Độ gởi sang Rio de Janeiro đến 123 vận động viên, nhưng tất cả đều bằng vé hạng tiết kiệm.

Người Anh đã « mua huy chương vàng » như thế nào ?

Nhìn sang Luân Đôn, Le Monde giải thích « Người Anh đã mua ‘vàng’ như thế nào ». Quốc gia đứng thứ nhì trong bảng tổng sắp huy chương đã tăng gấp năm lần ngân sách dành cho thể thao.

Bí mật thành công made in Britainlà gì ? « Rất đơn giản, đó là tiền » –Steve Haake, giám đốc Advanced Wellbeing Research Centre của trường đại học Sheffield Hallam trả lời ngay. Từ hai chục năm qua, Anh quốc ồ ạt đầu tư vào thể thao đỉnh cao : 274 triệu bảng Anh (316 triệu euro) chỉ trong vòng bốn năm nay.

Để rửa nỗi nhục xếp tận hạng 37 trong Thế vận hội Atlanta 1996 chỉ với một huy chương, thủ tướng lúc đó là John Major ra lệnh dành một số lớn tiền từ National Lottery (xổ số quốc gia) đầu tư cho thể thao. Kết quả thấy ngay : Anh ngoi lên hạng 10 trong Thế vận hội Sydney 2000.

Khi Luân Đôn được chọn làm thành phố thế vận năm 2012, tốc độ đã được đẩy nhanh hơn ngay từ năm 2007. Tài chính bỗng chốc được tăng lên gấp ba, nhưng không dành cho nghiệp dư mà tập trung cho chuyên nghiệp, mỗi bộ môn được ấn định chỉ tiêu cụ thể.Thế là Anh quốc leo lên hàng thứ 4 tại Olympic Bắc Kinh 2008 và bốn năm sau đó trên sân nhà đã đạt kỷ lục 65 huy chương.

Với Olympic Rio 2016, trái với nhiều nước đã buông tay sau khi Thế vận hội được tổ chức tại nước mình đã trôi qua, Anh vẫn tăng 3% hỗ trợ tài chính, nhưng tập trung vào mục tiêu : chỉ có 20 bộ môn nhiều hy vọng nhất là nhận được. Tiền được tuôn như nước giúp các vận động viên đỉnh cao chuyên tâm vào tập luyện. Những người xuất sắc nhất được lãnh đến 28.000 bảng Anh (32.000 euro) một năm, chưa kể số tiền liên đoàn nhận được để chi cho huấn luyện viên và thiết bị.

Cánh tả Pháp tan tác : Hồ sơ chính nhiều tờ báo

Trên lãnh vực chính trị nước Pháp, Libération đưa tựa trang nhất « Hamon, Duflot, Montebourg…Cánh tả tan rã ». Còn tám tháng nữa là đến kỳ bầu cử tổng thống, những chính khách hàng đầu của cánh tả mạnh ai nấy hành động để đạt được mục đích. Với tuyên bố ứng cử của ông Arnaud Montebourg hôm qua, nay đã có đến tám ứng viên cánh tả ra tranh cử.

Nhật báo cánh hữu Le Figaro chạy tựa trang nhất « Montebourg, Duflot, Hamon…Tất cả đều chống lại Hollande ». Tổng thống sắp mãn nhiệm ngày càng bị bao vây bởi nhiều ứng cử viên hơn, và tất cả đều chỉ trích mạnh mẽ chính sách và kết quả của nhiệm kỳ ông François Hollande.

Về kinh tế, La Croix quan tâm đến tình hình căng thẳng giữa các nhà chăn nuôi và giới kỹ nghệ xung quanh giá sữa, trong bối cảnh sản xuất thừa trên thế giới, với hồ sơ mang tên « Sản phẩm từ sữa, lý do của cuộc khủng hoảng ».

Les Echos nhận định « Thuế : Vòng đấu cuối của ông François Hollande ». Lời hứa không tăng thuế của tổng thống Pháp có vẻ khó thực hiện khi tăng trưởng dậm chân tại chỗ, và ông Hollande chỉ còn 100 ngày nữa để khẳng định việc tái ứng cử hay không.

Le Monde nói về « Những cuộc cách mạng của thị trường xe hơi thế giới » : Kỹ nghệ xe hơi đang chuyển đổi vô cùng nhanh chóng, với những thay đổi trong công nghệ và tiến triển của việc sử dụng. Sản xuất xe hơi tự hành tăng nhanh, cạnh tranh về động cơ điện tăng cao, bên cạnh đó các công ty truyền thống còn đầu tư vào thị trường mới, trước khuynh hướng dùng chung xe đang lan rộng.

Advertisements

Posted in Á, Ở Miến Điện, Chinh tri Trung Quoc, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Miến Điện chấp dứt 53 năm chế độ quân sự. Bao giờ Việt Nam chấm dứt chế độ độc đảng toàn trị?

Posted by hoangtran204 trên 15/11/2015

8-11-2015

Luật sư Nguyễn Văn Đài

Hôm nay, ngày 8 tháng 11 năm 2015, một lần nữa Nhân dân Miến Điện tiến hành cuộc bầu cử tự do dân chủ đa đảng lần thứ hai tính từ năm 1990. Năm 1990, đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi đã giành thắng lợi tuyệt đối. Nhưng giới quân sự đã không chấp nhận kết quả bầu cử, không chuyển giao quyền lực và tiến hành quản thúc bà tại gia trong suốt 20 năm.

Nhân dân Miến Điện dưới sự lãnh đạo của đảng NLD, bà Aung San Suu Kyi và các đảng đối lập khác đã kiên trì đấu tranh trong suốt hơn 20 năm. Hàng ngàn thành viên của các đảng đối lập bị bắt giữ, bị cầm tù, nhiều người bỏ mạng trong lao tù.

Nỗ lực đấu tranh của Nhân dân Miến Điện, cùng với áp lực từ cộng đồng quốc tế đã đem lại kết quả tuyệt vời. Đó là tập đoàn quân sự cầm quyền của Miến Điện đã thay đổi nhận thức. Họ đã lấy lợi ích của quốc gia và của Nhân dân Miến Điện làm đại cục thay vì lợi ích của một nhóm nhỏ giới quân sự.

Họ đã cải cách Hiến pháp, cho phép các đảng đối lập ra tranh cử. Kết quả bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử bổ sung năm 2012. Mở đường cho Miến Điện tham gia hội nhập khu vực và thế giới.

Rõ ràng lương tâm, lương tri, quyền lợi của Nhân dân và quốc gia đã thức tỉnh tập đoàn quân sự Miến Điện. Và điều đó đã mở ra một kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên tươi sáng cho Nhân dân Miến Điện.

Đảng cộng sản Việt Nam thì sao? Bao giờ lương tâm, lương tri, quyền lợi của Nhân dân và Tổ quốc mới chấm dứt được tham vọng quyền lực, quyền lợi tuyệt đối của họ?

Chỉ khi nào Việt Nam chấm dứt được chế độ độc đảng toàn trị, xây dựng chế độ dân chủ đa đảng, tôn trọng các quyền con người thì khi đó một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tươi sáng và rực rỡ mới đến với đất nước và dân tộc Việt Nam.

Chỉ trong chế độ tự do dân chủ, mọi người dân Việt Nam mới có quyền và cơ hội bình đẳng để cùng tham gia đóng góp xây dựng đất nước. Khi đó những người có tài năng, có đạo đức, đảng chính trị có uy tín, năng lực mới được Nhân dân lựa chọn thông qua bầu cử để lãnh đạo đất nước. Và khi đó, Việt Nam sẽ bước vào một kỷ nguyên mới.

Vậy câu hỏi đặt ra là làm thế nào để chấm dứt chế độ độc đảng toàn trị?

Điều này thì một nhóm công dân, một vài tổ chức XHDS, chính trị không thể làm được. Mà để thay đổi được đất nước, chúng ta cần nỗ lực, công sức đóng góp mọi thành phần trong xã hội, mọi người dân.

Nếu hôm nay, tất cả mọi người dân cùng lên tiếng đòi hỏi thay đổi. Ngày mai Việt Nam sẽ có tự do dân chủ!

———————————-

Vu Hai Tran added 3 new photos.

November 10 at 8:10am · Edited

Những cặp đôi vĩ đại.

1. Jaruzelski – Walesa của Ba lan. Đại tướng Jaruzelski, lãnh tụ cuối cùng (từ 1981 đến 1990) của cộng sản Ba lan đã từng bước trao lại quyền lực thông qua những hội nghị “bàn tròn”, những cuộc bầu cử hoà bình và trật tự trong những năm 1989, 1990 cho Công đoàn Đoàn Kết của người thợ Walesa, từng bị cầm tù nhiều lần, giải thưởng Nobel hoà bình năm 1983, tổng thống đầu tiên của Ba lan hậu cộng sản.

2. De Klerk – Mandela của Nam phi. Ngay sau khi được bầu làm tổng thống cuối cùng của Nam phi Apartheid (1989), de Klerk đã trả tự do cho lãnh tụ da đen Mandela ( ngồi tù 27 năm ), đàm phán cùng Mandela và đảng ANC để hình thành một nước Nam phi mới không phân biệt chủng tộc. Cả hai cùng đoạt giải thưởng Nobel hoà bình năm 1993, trước khi Mandela được bầu làm tổng thống Nam phi năm 1994, còn de Klerk trở thành phó tổng thống .

3. Thein Sein – Aung San Suu Kyi của Myanmar. Đại tướng, tổng thống Thein Sein (thủ tường từ 2007, tổng thống từ 2010 ) đã kiến tạo đường lối mở cửa, cải cách cho Myanmar với sự hậu thuẫn của bà Aung San Suu Kyi, người cùng đảng NLD đã thắng cử tuyệt đối năm 1990 nhưng bị giới quân sự tước bỏ chiến thắng, năm 1991 bà được giải thưởng Nobel hoà bình, bị quản thức và bắt giữ nhiều lần cho đến 2010. Tổng thống Thein Sein đã tuyên bố chấp nhận kết quả bầu cử ngày 8/11/2015 với bất cứ kết quả nào. Hiện kết quả bầu cử cho thấy bà Aung San Suu Kyi cùng NLD đang thắng tuyệt đối.

bà Aung San Suu Kyi cùng NLD đang thắng tuyệt đối.

Posted in Ở Miến Điện, Dân Chủ và Nhân Quyền, Thời Sự, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Để không còn là giấc mơ…

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2015

Blog RFA

Song Chi

10-11-2015

Khi xảy ra sự kiện Liên Xô và hàng loạt các nước XHCN Đông Âu cũ đổ sụp như những quân bài domino vào cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ XX, nhiều người Việt trong và ngoài nước hồi hộp mơ có một ngày như vậy sẽ đến với VN.

Hơn 20 năm sau, lại một hiệu ứng dây chuyền domino khác, cuộc “cách mạng hoa nhài” hay “cách mạng màu” lần này bắt đầu từ Tunisia rồi sau đó lan ra các nước Hồi giáo Ả rập ở Bắc Phi và Trung Đông, lật đổ hàng loạt chế độ độc tài tại các quốc gia này. Người Việt khi đó cũng mơ bao giờ cho đến VN.

Và bây giờ là Myanmar (Miến Điện). Sau hơn nửa thập kỷ nằm dưới một chế độ quân phiệt nổi tiếng độc tài, không khoan dung, với thành tích tệ hại về nhân quyền, đàn áp tự do, dân chủ, và sau 25 năm từng có một cuộc bầu cử tự do, người dân đã lại được đi bầu và thể hiện ý nguyện của mình. Đảng đối lập Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (National League for Democracy) của bà Aung San Suu Kyi đã thắng lớn, đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết Phát triển (Union Solitary Development Party), được quân đội hậu thuẫn, đã thừa nhận thất bại.

Hành trình thay đổi vể hướng tự do dân chủ một cách hòa bình này bắt đầu từ trước đó hơn 2 năm, bởi hai con người vĩ đại, Tổng thống đương quyền Thein Sein và lãnh tụ đảng NLD Aung San Suu Kyi.

Người Việt trong và ngoài nước lại nhìn sang Myanmar. Lại vẫn câu hỏi day dứt, lại vẫn giấc mơ cũ: Bao giờ cho đến VN?

Nhưng nếu chỉ mơ không thì chẳng thay đổi được gì. Vẫn còn có rất nhiều lý do làm nên sự khác biệt giữa tình trạng của VN và Myanmar, giữa việc tại sao VN chưa làm được như Myanmar dù cả hai đều là những quốc gia độc tài, đều nằm sát Trung Cộng, đều phải chịu đựng một mối quan hệ bất cân xứng, thiệt thòi và tiềm ẩn đầy rủi ro với Trung Cộng.

Có thể nói vắn tắt như thế này:
1. Dù Myanmar phải chịu đựng một chính quyền quân sự độc tài nhưng không phải do đảng cộng sản lãnh đạo, Myanmar không bị nhiễm độc bởi hệ thống tư tưởng Marxism-Leninism, lịch sử nhân loại cho đến giờ này đã cho thấy chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản là hai học thuyết có tác hại lớn nhất mà con người nghĩ ra, và những chế độ được hình thành, xây dựng từ hai học thuyết này là những chế độ tồi tệ nhất cho đất nước, dân tộc đó.

2. Myanmar dù độc tài nhưng các đảng phái chính trị đối lập vẫn có thể ra đời và hoạt động trong một chừng mực nào đó, dù gặp vô vàn khó khăn và bị đàn áp. Từ đó những nhân vật như bà Aung San Suu Kyi đã có cơ hội hoạt động chính trị, cọ xát với thực tế, tiếp xúc với nhân dân và trưởng thành. Ngược lại, trong một môi trường hoàn toàn không có chỗ cho bất cứ một đảng phái chính trị đối lập nào, mọi khuôn mặt bất đồng chính kiến hay chính trị gia có chút tiềm năng đều bị “tiêu diệt” cách này cách khác, mọi hoạt động có tính chính trị dù ôn hòa nhất đều bị ngăn chặn từ trong trứng nước thì làm thế nào mà phong trào dân chủ có thể lớn mạnh nổi và những con người có khả năng có thể xuất hiện?

3. Đảng cộng sản như lời Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, là “một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo” (nhân dịp khánh thành đập Đồng Cam, Tuy Hòa 17.9.1955). Chế độ quân phiệt ở Myanmar dù sao đi nữa, cuối cùng đã chọn đặt quyền lợi của Tổ quốc, nhân dân lên trên quyền lợi của đảng cầm quyền. Nhưng còn đảng cộng sản, dù là đảng cộng sản Bắc Hàn, Trung Quốc hay VN thì luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên tất cả và nhất định nắm quyền đến cùng.

4. Khác với xã hội Myanmar nơi Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống, hướng dẫn con người biết sống cho tử tế, thiện lương, biết sợ nhân quả, chủ nghĩa cộng sản và đảng cộng sản đã phá nát xã hội VN, từ cấu trúc xã hội, hình thái gia đình, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, đạo đức, lương tri của con người… đều bị hủy hoại. Con người trở nên thờ ơ với chính trị, vô cảm với vận mệnh của đất nước, không quan tâm đến những khát vọng về tự do dân chủ, chỉ quan tâm đến đời sống vật chất, đến những lợi ích của bản thân và gia đình, mặc kệ đảng cộng sản đưa đất nước này, dân tộc này đi về đâu.

Còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa, nhưng chỉ trong 4 nguyên nhân trên, thì ngoài cái “tội” của chủ nghĩa cộng sản, của hệ thống sai lầm, yếu tố con người vô cùng quan trọng. Chúng ta có thể chưa có một Aung San Suu Kyi, cũng chưa nhìn thấy bất cứ ai sẽ là Gorbachev hay Thein Sein trong những nhân vật chính khách thuộc bộ máy đảng và nhà nước cộng sản VN, nhưng ngay trong từng người dân VN, nếu nhu cầu về tự do dân chủ chưa thật bức thiết; hay đứng trước thực tế một Việt Nam lạc hậu, thua kém bao nhiêu nước khác và khoảng cách ngày càng rộng hơn, một hình ảnh VN trong mắt bạn bè quốc tế gắn liền với nhiều tiêu cực hơn tích cực, người Việt ra ngoài đi đâu cũng thấy nước mình, dân mình chịu thiệt thòi hơn nước người ta, dân người ta, nếu cái thực tế ấy vẫn chưa đủ để tạo nên nỗi đau nỗi nhục lớn trong mỗi người, từ đó bùng lên thành khát vọng mãnh liệt muốn thay đổi thể chế chính trị để con cháu sau này có thể sống tốt đẹp hơn, sống đúng là con người hơn…thì đó chỉ có thể là lỗi của chúng ta.

Chiến thắng của người dân Myanmar hôm nay đã phải đổi bằng máu, bằng cái chết của hàng ngàn người và hàng ngàn người khác bị cầm tù, còn người Việt có chịu trả giá như vậy? Và nếu người Việt trong nước chấp nhận xuống đường, gây sức ép với nhà cầm quyền đòi thay đổi, người Việt ở nước ngoài có đồng lòng hỗ trợ như người Ba Lan ở nước ngoài đã dồn tiền, dồn sức cho phong trào đấu tranh của Công đoàn Đoàn Kết đi đến thắng lợi?

Một ví dụ nhỏ, họ Tập sang thăm VN hứa Trung Quốc sẽ viện trợ cho VN một tỷ nhân dân tệ trong 5 năm. Nói như nhà báo Lê Đức Dục:

“1 tỷ nhân dân tệ quy đổi theo tỷ giá USD hiện nay sẽ bằng 154 triệu USD.
154 triệu USD lớn hay nhỏ?
Không nhỏ, nhưng cũng có thể là …rất nhỏ!
Ngoại hối của người Việt gửi về VN trong năm nay dự kiến là 15 tỷ USD, những năm trước bình quân là 12-14 tỷ USD,
15 tỷ USD chia cho 365 ngày, mỗi ngày người Việt gửi về nước 41 triệu USD
số tiền 154 triệu USD Tập ban ơn mưa móc ấy chưa bằng tiền Việt kiều gửi về nước trong 4 ngày
 (facebook Le Duc Duc).

Trong nhiều năm qua, người Việt ở nước ngoài chăm chỉ làm việc, gửi tiền về giúp thân nhân, làm từ thiện, đầu tư kinh doanh rồi lại thường xuyên đi về thăm quê hương, chi tiêu…Số kiều hối này cứ mỗi năm mỗi tăng, góp phần nuôi sống chế độ cộng sản dài dài. Biết rằng người Việt nặng tình với gia đình nhưng nếu mỗi người Việt ở bên ngoài chỉ cần hy sinh không gửi tiền về nước một thời gian mà dành tiền đó cho phong trào dân chủ, giúp người trong nước khi họ chấp nhận xuống đường, chấp nhận trả giá thì (đại cuộc) mới có thể thành công.

Tuy nhiên, với một quốc gia đã sống quá lâu dưới một chế độ độc tài lại do một đảng cộng sản cầm quyền như VN, mọi sự thay đổi tức thì, đột ngột, từ dưới lên sẽ dẫn đến hỗn loạn và dân chủ thực sự rất khó trở thành hiện thực. Phải có sự phối hợp thay đổi từ cả trên xuống và từ dưới lên, như Myanmar, chính phủ của Tổng thống Thein Sein đã có những bước đi cải cách chính trị, nới lỏng tự do dân chủ trong 2, 3 năm qua, góp phần vào cuộc bầu cử lịch sử của dân Myanmar ngày hôm nay.

Con đường này cũng có thể gọi là tốt đẹp nhất cho đảng cộng sản VN. Thay đổi theo chiều hướng này, chỉ trừ một thiểu số phạm tội phản quốc, bán nước hay tội ác diệt chủng cần phải trả lời trước nhân dân, trước lịch sử, còn lại những người đã từng cộng tác, làm việc cho đảng và nhà nước cộng sản từ trên xuống dưới không những giữ được sinh mạng, tài sản mà nếu có thực tâm thực tài, họ vẫn có thể tiếp tục làm việc với chế độ mới, góp phần xây dựng lại đất nước.

Chỉ có bằng cách thay đổi trong hòa bình, hòa giải hòa hợp, nhưng là một sự thay đổi triệt để, không nửa vời, bắt nguồn từ khát vọng xây dựng lại một đất nước VN tự do dân chủ hùng cường, sánh vai với các nước, người dân VN được sống trong một xã hội ngàn lần tốt đẹp hơn, mới có thể giúp cho đất nước này, dân tộc này thoát khỏi số phận nghiệt ngã cay đắng suốt nhiều thập kỷ qua. Và chỉ có như thế, từ người trong nước cho tới ngoài nước, người từng có liên quan đến chế độ VNCH cũ hay từng làm việc cho chế độ cộng sản mới có thể dốc lòng dốc sức kiến thiết lại quê hương. Và biết đâu lúc đó thế giới lại chứng kiến một dòng thác lũ người Việt tử các nước trở về lại VN, như đã từng chứng kiến một dòng lũ theo chiều ngược lại sau khi VN thống nhất, và cho tới tận bây giờ xu hướng đó vẫn đang diễn ra.

Lịch sử VN đã trải qua quá nhiều bi kịch. Dân tộc này đã quá chậm, quá thua thiệt, dân tộc này lẽ ra phải tỉnh thức mạnh mẽ hơn bất cứ dân nào khác.

Posted in Ở Miến Điện, Chinh Tri Xa Hoi, Kiều Hối - Nguồn Ngoại tệ cứu nền Kinh tế và nuôi đảng, Thời Sự, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Myanmar lại làm người Việt ngạc nhiên

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2015

BBC

Nguyễn Giang

11-11-2015

H1

Tướng Thein Sein chúc mừng đối thủ là bà Aung San Suu Kyi. Photo: EPA

Tổng thống Myanmar, ông Thein Sein vừa chúc mừng đảng ̣đối lập của bà Aung San Suu Kyi thắng lợi trong kỳ bầu cử vừa qua (90% phiếu sơ bộ).

Lời chúc là chỉ dấu quân đội Myanmar, được đảm bảo 25% ghế trong Quốc hội, chấp nhận cuộc chơi chuyển quyền qua lá phiếu.

Nhưng họ sẽ vẫn muốn ‘bảo kê’ chính trị, hay chuyển đổi thành quân đội chuyên nghiệp thì chúng ta còn phải chờ xem.

NLD thắng lớn nhưng gần 90 đảng phái khác cũng muốn có vai trò của họ, nhất là ở các vùng sắc tộc.

Dù sao thì Myanmar đã bước qua ngưỡng đầu của quá trình dân chủ hóa mà cả ông Thein Sein và bà Suu Kyi đều có vai trò quan trọng.

Có người bạn của tôi mới viết trên Facebook rằng “Việt Nam cần một Aung San Suu Kyi nhưng còn cần hơn là một Thein Sein”.

Quả vậy, dù có khác biệt phe phái, quân đội Myanmar đã đồng ý ‘dấn thân’ vào cuộc chuyển đổi hòa bình với ông Thein Sein là một biểu tượng.

Chuyện Myanmar không xảy ra bất chợt mà đã có đó cả 5-10 năm nay.

Nhưng nhìn chung, người Việt Nam theo mọi xu hướng lại một lần nữa tỏ ra ngạc nhiên, thậm chí bất ngờ trước biến chuyển ngoạn mục tuần qua.

Các nhà lãnh đạo cao nhất hình như chưa từng tiếp xúc và cũng chưa thấy phát biểu gì mấy ngày qua về bà Aung San Suu Kyi.

Một lần nữa, dù cùng trong ASEAN với Myanmar, Việt Nam lại đi sau Trung Quốc trong chính trị khu vực.

Hồi tháng 6, ông Tập Cận Bình đã mời bà Aung San Suu Kyi sang Bắc Kinh trong giao lưu hai đảng vì bà chỉ mới là dân biểu không có chức danh nhà nước.

Giao lưu lãnh đạo hai đảng CSTQ và NLD tại Bắc Kinh. Photo: AP

Giao lưu lãnh đạo hai đảng CSTQ và NLD tại Bắc Kinh. Photo: AP

Trước đó, Đảng đoàn Trung Quốc cũng mời Đoàn Thanh niên của NLD sang thăm, điều chưa thấy xảy ra với Đảng và Đoàn Thanh niên Cộng sản ở Việt Nam.

Photo: Getty

Photo: Getty

Báo chí ‘cách mạng’ Việt Nam cũng tránh nói đến cách mạng dân chủ Myanmar.

Báo Đảng Trung Quốc khôn ngoan hơn, đã qua bài trên Global Times khẳng định “dân chủ hóa tại Miến Điện không phải là Cách mạng Màu”.

Trên thực tế, màu hay không màu thì cũng là chuyển đổi lớn ngay biên giới phía Nam khiến báo Trung Quốc phải phù phép về ngôn từ để mở đường giao lưu một khi NLD lên nắm quyền.

Quyền lợi kinh tế Trung Quốc tại Myanmar lâu nay dựa trên ‘guanxi’ với quân đội và bị phê phán là “gắn chặt với tham nhũng”, theo ông Moe Myint Kyaw, Tổng thư ký Phòng thương mại và công nghiệp Myanmar nói với BBC Tiếng Trung.

Ai sẽ lo các quyền lợi kinh tế của Việt Nam tại Myanmar khi chính quyền Nay Pyi Daw thay đổi?

Đi sau và chỉ nhìn phần ngọn?

Nụ cười cả gia đình người Myanmar mùa bầu cử. Photo: EPA

Nụ cười cả gia đình người Myanmar mùa bầu cử. Photo: EPA

Hai sinh viên Pimwipa Chantrawat, Duangkamol Sinchaikij từ ĐH Chulalongkorn, Bangkok sang quan sát bầu cử Myanmar. Photo: Thai Students

Hai sinh viên Pimwipa Chantrawat, Duangkamol Sinchaikij từ ĐH Chulalongkorn, Bangkok sang quan sát bầu cử Myanmar. Photo: Thai Students

Nhưng người Việt Nam ở hải ngoại và giới vận động dân chủ nhân quyền trong nước cũng không nhanh và đi xa hơn chính quyền bao nhiêu trước chủ đề Myanmar.

Trước bầu cử, nhiều nhóm xã hội dân sự từ Indonesia, Singapore, Thái Lan…đã tự tổ chức đoàn sang Myanmar làm quan sát viên.

Xin nhắc họ cứ đi với tư cách cá nhân, hội đoàn sinh viên, NGO chứ không đại diện cho các chính phủ, không phải quan sát viên của EU hay ASEAN.

Còn người Việt Nam thì sao?

Theo những gì tôi biết thì không có nhóm nào như vậy từ Việt Nam sang Myanmar.

Sau cuộc bỏ phiếu lịch sử, các ý kiến thể hiện ra trên mạng xã hội tiếng Việt cũng không có gì mới mẻ, chủ yếu nói theo báo chí quốc tế.

Một số nhà vận động nhân đây đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải thay đổi tương tự.

Nhưng cũng chỉ là đòi hỏi chung chung, ai nghe?

Thậm chí không ít người Việt còn coi nước này còn nghèo – thu nhập bình quân chừng 1200 USD, thấp hơn Việt Nam (2000 USD -2013), nên không có gì đáng học.

Đây là tư duy rất ngắn hạn, khiến ta không hiểu vì sao bà Aung San Suu Kyi và Myanmar được quốc tế ngưỡng mộ đến thế.

Một cử tri Myanmar. Photo: Reuters.

Một cử tri Myanmar. Photo: Reuters.

Chính sự hình thành của dân chủ từ nền tảng kinh tế lạc hậu, chia rẽ sứ quân, xung đột sắc tộc như Myanmar mới đáng nói.

H1

Photo: AFP

Khi các lý thuyết xã hội, các giá trị cơ bản bị thử thách mà vẫn thắng lợi, bài học dân chủ Myanmar có ý nghĩa hơn nhiều cho loài người, so với dân chủ ở các nơi ổn định, thịnh vượng lâu đời như Na Uy, Canada, Iceland…

Nó cũng bác bỏ thuyết rằng phải có dân trí thật cao hoặc thu nhập đến mức nào đó mới có thể bầu cử dân chủ.

Công dân Myanmar ở nước ngoài cũng có quyền bỏ phiếu trong khi một số nước khác thì không.

Chưa rõ cuộc bầu cử có tạo ra động lực mới cho ASEAN vốn thường tập trung bảo vệ ‘status quo’ sao cho chính giới yên thân mọi bề.

Nhưng tại Myanmar, những gương mặt tươi trẻ, đầy hy vọng đang toát ra độ tự tin của thế hệ ‘tôi nghèo nhưng tôi là ông chủ’ quyết định vận mệnh dân tộc.

Họ khiến những người dân Đông Nam Á khác thấy tự hào lây.

Posted in Ở Miến Điện, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Thời Sự, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Miến Điện và Quá Trình Dân Chủ Hóa

Posted by hoangtran204 trên 12/11/2015

Viet-studies

Nguyễn Huy Vũ

9-11-2015

Những ngày còn là sinh viên đại học ở Singapore, khoảng những năm 2004, khi đi làm thêm ở khách sạn, các bạn của tôi chủ yếu là người Miến Điện. Tò mò muốn xem thử dân Miến Điện nghĩ gì về Aung San Suu Kyi và tình hình dân chủ, tôi hỏi các bạn người Miến. Bạn e dè gọi Aung San Suu Kyi là Madam; khi hỏi bạn có dấn thân cho phong trào dân chủ không, bạn lắc đầu: họ có súng. Với rất nhiều người Miến Điện lúc bấy giờ, tình hình chẳng mấy khả quan, và dân chủ theo nghĩa được có tự do báo chí và tự do bầu chọn ra những người lãnh đạo bất kể đảng phái nhằm dẫn dắt đất nước là một điều gì đó xa vời. 

Cuối năm 2007, cuộc biểu tình của các nhà sư bùng nổ, bắt nguồn từ việc chính phủ Miến Điện giảm trợ cấp xăng dầu. Chính quyền quân sự quyết định đàn áp cuộc biểu tình và bắt giữ những người cầm đầu. Cuộc biểu tình dẹp yên và Miến Điện lại trở nên yên bình. Những diễn biến cho thấy phe quân sự nắm giữ mọi phương tiện và dễ dàng xử lý phong trào dân chủ Miến Điện. Một lần nữa hẳn nhiều người sẽ thấy con đường dân chủ còn xa lắm. 

Năm 2009, lúc tôi ở Thụy Điển, thông qua một người bạn quen một anh người Miến Điện, là con quan chức trong chính quyền và qua Thụy Điển học, tôi nghe được thông tin rằng anh sẽ về Miến Điện và sắp tới sẽ có cải cách lớn. Một thông tin thú vị nhưng khó tin vì mới cách đây không lâu chính quyền thẳng tay đàn áp biểu tình. Tôi nghe với mục đích lưu giữ thông tin. 

Bốn năm sau, đến năm 2011 thì chính quyền quân sự Miến Điện hoãn dự án xây đập của Trung Quốc và mạnh dạn bắt đầu những cải cách chính trị.  

Nối kết những sự kiện trên cho thấy rằng chính quyền Miến Điện lúc đầu thực chất không muốn cải cách, vì cải cách đồng nghĩa với quyền lực bị giảm đi. Họ cũng đã tìm đến Trung Quốc như một phao cứu sinh cho nền kinh tế khủng hoảng của mình, nhưng cuối cùng cảm thấy con bài Trung Quốc cũng không thể cứu vãn được, và do đó quyết định chọn lựa cải cách chính trị có kiểm soát. Giới cầm quyền quân nhân Miến Điện đã chơi một ván bài đặt nhiều cửa khác nhau. Vậy đâu là thách thức to lớn khiến giới  quân đội Miến Điện bắt buộc cải cách? Không gì hơn, đó là những thách thức và lợi ích về kinh tế, vì về quyền lực cách đây không lâu họ sẵn sàng và dễ dàng ra tay đàn áp các cuộc chống đối.  

Sau khi độc lập khỏi Anh năm 1948, Miến Điện trở thành một nước dân chủ. Dưới sự dẫn dắt của thủ tướng U Nu theo mô hình phúc lợi xã hội chủ nghĩa, Miến Điện từ một nước thịnh vượng dưới sự bảo hộ của Anh bước vào một cuộc khủng hoảng kinh tế. Hàng hóa khan hiếm, ngân sách không đủ, chính phủ giải quyết khủng hoảng bằng cách in thêm tiền khiến lạm phát tăng và khủng hoảng thêm trầm trọng. 

Khủng hoảng kinh tế kéo theo khủng hoảng chính trị. Tướng Ne Win đảo chính năm 1948 và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa trên toàn Miến Điện kể từ đó. Dưới quyền tướng Ne Win, chính quyền quốc hữu hóa tất cả các doanh nghiệp và ngành công nghiệp, chỉ trừ nông nghiệp.  

Đói khổ và vô vọng dẫn đến các cuộc biểu tình liên tiếp. Chính quyền phản ứng lại bằng cách đàn áp đẫm máu.

Năm 1962, sinh viên trường Rangoon biểu tình, bị đàn áp khiến 15 người chết. Gần mười năm sau, nhân đám tang U Thant — cựu Tổng Thư Kí Liên Hiệp Quốc người Miến Điện — năm 1975, biểu tình lại một lần nữa diễn ra và lại bị đàn áp. Các cuộc biểu tình sau đó lần lượt diễn ra trong các năm 1975, 1976, 1977 và đều bị dập tắt.

Tuy vậy, các cuộc biểu tình là một môi trường tốt đã rèn luyện và gắn bó những người dấn thân cho dân chủ của Miến Điện lại với nhau. Để rồi mười năm sau, năm 1988, phong trào phản kháng của sinh viên Rangoon một lần nữa lan ra toàn quốc và qui tụ mọi thành phần xã hội. Do bắt đầu từ ngày 8/8/1988, cuộc phản kháng được lấy tên gọi là 8888. Cuộc phản kháng kéo dài được chừng một tháng thì đảo chính quân sự xảy ra, chính quyền quân nhân thiết lập và như mọi lần ra tay dập tắt.  Cuộc phản kháng bị dập tắt nhưng một hệ quả to lớn của nó là sự hình thành một đảng chính trị, với các thành viên nòng cốt được tôi luyện từ các phong trào biểu tình trước đây: đảng Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ (NLD) hình thành với Aung San Suu Kyi đóng vai trò một biểu tượng. 

Sự hình thành một tổ chức đối lập ở Miến Điện cùng với các áp lực quốc tế khiến giới cầm quyền Miến Điện lúc bấy giờ phải tìm một giải pháp thoát hiểm. Họ mạo hiểm tổ chức một cuộc tổng tuyển cử nhằm chọn ra các thành viên cho một ủy ban soạn thảo hiến pháp. Trong tổng số 492 ghế, đảng NLD của Aung San Suu Kyi chiếm 392 ghế. 392/492 hay 80% một tỉ số áp đảo thể hiện sự phẫn nộ của nhân dân với giới cầm quyền. Chính quyền quân nhân không công nhận kết quả bỏ phiếu và đặt NLD ra ngoài vòng pháp luật. Các lãnh tụ NLD tiếp tục bị bắt giam và Aung San Suu Kyi bị giam lỏng tại gia.

Đàn áp chính trị ở Miến Điện khiến chính phủ các nước phương Tây gia tăng cấm vận và nền kinh tế Miến Điện trở nên bi đát hơn. Hàng hóa khan hiếm cùng với quản lý kinh tế yếu kém khiến kinh tế ngày càng lún sâu vào khủng hoảng. Trong khoảng những năm 1990 đến 2007, mức lạm phát trung bình ở Miến Điện là 25%. Đi kèm với nó là thiếu hụt ngoại tệ. Tỉ giá hối đoái niêm yết chính thức của chính phủ thường thấp hơn mức giá chợ đen đến khoảng 200 lần.

Nghèo đói, vô vọng và các cuộc phản kháng không đủ để làm chùn bàn tay đàn áp của chính quyền quân nhân cho đến khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2009 diễn ra. Lúc bấy giờ giới quân nhân mới lựa chọn cửa thứ hai của ván bài: cải cách có kiếm soát, thay cho tiếp tục đàn áp.

Dù bị cấm vận và cô lập bởi các nước phương Tây, Miến Điện vẫn có những trao đổi và đầu tư từ một số nước châu Á như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Ấn Độ và Hàn Quốc. Các công ty giao dịch của Miến Điện chủ yếu nằm trong tay các gia đình tướng lĩnh. Thu nhập của Miến Điện chủ yếu đến từ xuất khẩu gỗ, đá quý, du lịch và một phần đáng kể kiều hối. Cuộc khủng hoảng kinh tế sâu đậm 2007-2009 do đó không những làm cho các khoản thu của chính quyền suy giảm mạnh mà còn làm cho thu nhập của giới doanh nghiệp trong tay gia đình các tướng lĩnh trở nên điêu đứng. Và chỉ khi có sự đồng thuận của hội đồng tướng lĩnh, tướng Than Shwe và người kế nhiệm Thein Sein mới có thể nhanh chóng triển khai các cải cách một cách có kiểm soát một cách trôi chảy. Gọi là các cải cách có kiểm soát vì giới quân nhân vẫn còn nắm trong tay quân đội và tự cho mình quyền giữ 25% tổng số ghế trong quốc hội.

Dù cuộc cải cách dân chủ Miến Điện chưa trọn vẹn, những tiến triển trong quá trình dân chủ hóa Miến Điện đã đi những bước dài và khó có thể quay trở lại. Tuy vậy, vẫn còn rất lâu trước khi NLD và giới quân nhân tạo được sự tin tưởng chính trị với nhau. Chỉ khi NLD có thể trấn an giới cầm quyền quân nhân rằng quá khứ là quá khứ và hòa giải là con đường phía trước cho một quốc gia thì Miến Điện mới có thể tiến gần hơn đến một thể chế dân chủ đầy đủ. Mà một cuộc hòa giải có khi phải mất cả thế hệ.

Nếu có một bài học rút ra từ cuộc cải cách dân chủ ở Miến Điện thì đó hẳn là các cuộc phản kháng là môi trường gắn kết các cá nhân dấn thân cho đất nước. Cuộc gắn kết đó cuối cùng dẫn đến sự hình thành một tổ chức đối lập qui tụ đủ mọi thành phần. Và cuối cùng, đối diện với một chính quyền độc tài đang chơi bài nhiều cửa, đối lập áp lực và thuyết phục chính quyền rằng cải cách dân chủ hóa hòa bình là con đường thoát hiểm của giới cầm quyền và cũng là con đường đem lại lợi ích của dân tộc.

 

Minneapolis9/11/2015

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 9-11-15

Posted in Ở Miến Điện, Chinh Tri Xa Hoi, Dân Chủ và Nhân Quyền, Thời Sự, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Sự tái thiết lập quan hệ Mỹ – Miến Điện là điều TQ không ngờ tới

Posted by hoangtran204 trên 19/03/2013

Miến Điện cung cấp cho Trung Quốc tài nguyên, năng lượng và đường ra Ấn Độ Dương nên khi mối quan hệ của Miến Điện và Trung Quốc trở chiều gió, “TQ đã mất rất nhiều, cả về chính trị và chiến lược. “Trung Quốc hoàn toàn không thấy trước được điều này.”

Miến Điện và Mỹ là điều TQ không ngờ tới?


BBC – Cập nhật: 16:38 GMT – thứ ba, 19 tháng 3, 2013


Việc trả tự do cho lãnh đạo đảng đối lập, bà Aung San Suu Kyi đã khởi đầu cho hàng loạt cải cách tại Miến Điện

Cây bút Chris Horton ngày 19/3 đã có bài viết nói về ảnh hưởng của sự mở rộng quan hệ giữa Miến Điện với Phương Tây đối với Trung Quốc.
Bài viết được đăng trên trang Thealantic.com, với tựa đề “Điều Trung Quốc không lường trước” (China didn’t see this coming).
BBC Vietnamese xin được giới thiệu với bạn đọc những ý chính của bài này.

‘Đồng minh thân cận’

Bài viết mở đầu bằng việc nhìn lại mối quan hệ Miến Điện – Trung Quốc.
Chỉ trong thời điểm từ 2010 đến 2011, đầu tư từ Trung Quốc vào Miến Điện đã vượt mức 12 tỷ đôla, gấp 8 lần tổng vốn đầu tư của Trung Quốc vào nước này trong thời điểm từ 1988 tới 2009, theo thống kê của báo JETRO của Nhật.
Phần lớn số tiền đầu tư này tập trung vào năng lượng và khai thác khoáng sản.
Những điểm chung trong cách đàn áp người dân để bảo vệ giới cầm quyền, theo Chris Horton đã đẩy hai nước lại với nhau gần hơn.
Đó là một mối quan hệ giữa một Miến Điện – nước từng là điểm sáng kinh tế của Châu Á, nay bị cấm vận bởi sự đàn áp bạo lực của quân đội với các cuộc biểu tình năm 1988 và Trung Quốc – nước bị xa lánh bởi cuộc thảm sát Thiên An môn chỉ 1 năm sau đó.
Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang của Miến Điện lúc đó đã cử phái đoàn đứng đầu bởi Phó Chủ tịch Than Shwe sang Trung Quốc nhằm tìm kiếm viện trợ quân sự và kinh tế từ nước này.
Trong suốt thập niên 90, Trung Quốc cử kỹ sư sang Miến Điện để giúp xây dựng cảng dân sự và căn cứ hải quân. Ngoài ra, nước này còn là ô dù cho Miến Điện ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp quốc.
Đổi lại, Miến Điện cung cấp cho Trung Quốc tài nguyên, năng lượng và đường ra Ấn Độ Dương thông qua những dự án lớn.

Vào tháng 5 năm 2011, khi Hiệp ước hợp tác chiến lược được Chủ tịch Trung Quốc, ông Hồ Cẩm Đào ký với Tổng thống Miến Điện, ông U Thein Sein, người ta tưởng rằng quan hệ giữa hai nước đã ‘chắc như đá’.

Tiếng nói của người dân

“Giới lãnh đạo Miến Điện đã rút kinh nghiệm từ Mùa xuân Ả rập và tiếng hành các cải cách để tránh phải đối mặt với một cuộc nổi dậy tương tự.”

Vào tháng Chín năm 2011, Thein Sein làm Trung Quốc bất ngờ khi đình chỉ dự án đập Myitsone trị giá 3,6 tỷ đôla của Trung Quốc. Điều này được nhiều người cho rằng sự phụ thuộc của Miến Điện vào Trung Quốc đang có dấu hiệu rạn vỡ.

Thein Sein nói lý do cho quyết định này, là vì ý muốn của người Miến Điện phải được tôn trọng. Hay nói cách khác, người dân Miến Điện không phải chứng kiến cảnh tài nguyên của nước mình bị đưa hết sang Trung Quốc nữa.

“Có một tâm lý chống Trung Quốc ở Miến Điện bởi nhiều người cho rằng nước này quá gần với Trung Quốc, và bản chất Trung Quốc thì quá hiển nhiên,” David Steinberg, một chuyên gia về quan hệ Trung Quốc – Miến Điện nói.

“Trung Quốc có hàng chục dự án đập thủy điện ở Miến Điện. Tuy nhiên với dự án Myitsone, 90% điện sẽ được chuyển về Trung Quốc, và đó là vấn đề.”

Cũng từ khi kiểm duyệt báo chí ở Miến Điện bị bãi bỏ tháng Tám năm 2011, truyền thông Miến Điện đã tận dụng tối đa quyền tự do của mình nhằm nói lên tiếng nói của người dân.

Tất nhiên, sự cải cách vẫn còn mong manh khi không phải ai trong chính phủ Miến Điện cũng có cái nhìn tích cực về nó. Dự thảo của Bộ Thông tin gửi lên Quốc hội hồi đầu tháng Ba đòi đảo ngược lại nhiều thay đổi gần đây là một ví dụ.

Mở đầu quan hệ với Mỹ


Chuyến thăm của các lãnh đạo cấp cao của Mỹ tới Miến Điện là điều mà cả chính phủ ông Thein Sein cũng không ngờ tới

Tự do báo chí đang cho thấy một nền dân chủ thực sự ở Miến Điện là hoàn toàn có thể.

Bãi bỏ kiểm duyệt báo chí chỉ là một phần trong hàng loạt cải cách khác như việc trả tự do cho lãnh đạo đảng đối lập bà Aung San Suu Kyi cũng như các tù chính trị khác và việc phi tội phạm hóa các công đoàn.

Tất cả các điều kiện đang dẫn đến một điều mà hàng thập kỷ qua không ai dám nghĩ tới: Sự tái thiết lập quan hệ Mỹ – Miến Điện.

Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Clinton vào năm 2011 và Tổng thống Obama vào năm 2012 có lẽ không chỉ khiến Trung Quốc phải bất ngờ.
“Chính phủ Thein Sein cũng chưa bao giờ lường trước được đối thoại ở cấp độ này với Mỹ,” một quan chức cấp cao giấu tên tại Bộ Ngoại giao Miến Điện bình luận.
Người này cũng cho rằng giới lãnh đạo Miến Điện đã rút kinh nghiệm từ Mùa xuân Ả rập và tiến hành các cải cách để tránh phải đối mặt với một cuộc nổi dậy tương tự.
“Họ muốn an toàn, nhất là Than Shwe”, ông này nói.
“Thein Sein là người đã cứu mạng Than Shwe và luôn là một trong những người được ông này tin cậy. Các lãnh đạo quân đội muốn một chiến lược rút lui tốt, nếu không muốn bị lãnh hậu quả khi cải cách chính trị thức sự xảy ra.”

Quan ngại của Trung Quốc

“Về mặt kinh tế, Trung Quốc không mất nhiều từ vụ Myitsone. Tuy nhiên nước này đã mất rất nhiều, cả về chính trị và chiến lược”

David Steinberg, chuyên gia quan hệ Miến Điện – Trung Quốc

Tất cả các phát ngôn chính thức của Trung Quốc đều ủng hộ sự cải cách tại Miến Điện, tuy nhiên có một điều ai cũng biết là Bắc Kinh lo lắng về các dự án đầu tư của mình sẽ bị tinh thần người Miến Điện làm ảnh hưởng.
Dự án khai thác mỏ Wanbao – dự án hợp tác giữa hai tập đoàn Nhà nước khổng lồ, Norinco của Trung Quốc và Tập đoàn Kinh tế Miến Điện là một ví dụ.
Ngay sau tuyên bố của Norinco nói dự án sẽ giúp “tăng cường nguồn dự trữ đồng ở nước chúng ta, cũng cũng như tăng cường ảnh hưởng của chúng ta lên Miến Điện,” 3 tháng sau, dự án này đã gây sự nên sự giận dữ đối với người Miến Điện vì nhiều lý do:
Ép buộc giải tỏa, phá hoại đến chùa cổ, ô nhiễm nguồn nước và tâm lý bất mãn trước tài nguyên Miến Điện bị Trung Quốc lấy đi.
Nhiều cuộc biểu tình đã bùng nổ từ tháng Sáu năm ngoái khi các nhà sư, nông dân và những nhà hoạt động bảo vệ môi trường cùng diễu hành yêu cầu hủy bỏ dự án hàng tỷ đôla này.
Miến Điện đã luôn trấn an Bắc Kinh rằng đầu tư của nước này là an toàn, tuy nhiên Trung Quốc vẫn giữ thái độ thận trọng.

Lá bài dân tộc thiểu số


Giới lãnh đạo quân đội Miến Điện muốn một lối ra an toàn trong trường hợp cải cách chính trị thực sự nổ ra?

Xung đột giữa các dân tộc thiểu số cũng là một điều có thể gây phức tạp thêm cho mối quan hệ giữa hai nước.
Hậu quả từ xung đột của của Quân đội Độc lập Kachin (KIA), Tổ chức Độc lập Kachin (KIO) và quân đội Miến Điện đang lan dần đến Trung Quốc. 90 nghìn dân di cư hay bốn quả tên lửa rơi trung lãnh thổ Trung Quốc ở khu vực biên giới hồi tháng 12 là một ví dụ.
Với hơn 1 triệu người Kachin sống ở phía Miến Điện của biên giới, và 130 nghìn người Jinpo (người Kachin sống ở gần Ruili), đây chỉ là một trong số những nhóm dân tộc thiểu số có thể gây ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.
Giới chức trách ở Côn Minh ( thành phố chính tỉnh Vân Nam) và ở Bắc Kinh đã tỏ ý kiến muốn ủng hộ chiến lược với các nhóm phiến quân phía Bắc Miến Điện, vốn có quan hệ với Trung Quốc.
Hồi tháng Một, Trung Quốc bác bỏ báo cáo của Jane’s Intelligence Review rằng nước này đã cung cấp hai xe chống tăng cho Quân đội bang Wa thống nhất.
Dù điều này có thật hay không, thì nỗi ám ảnh về một biên giới ổn định sẽ sớm đẩy Trung Quốc lún quá sâu vào phía Bắc Miến Điện

Mỹ: Cơ hội và rủi ro


Ông Thein Sein thăm Hoa Kỳ trong năm ngoái.

Quan hệ gần gũi với Miến Điện giúp Washington có một cơ hội vàng để đạt các mục tiêu kinh tế và chiến lược ở Châu Á.
Tuy nhiên, nước này cũng cần phải cẩn thận không làm gia tăng quan ngại của Bắc Kinh rằng Washington đang thực hiện chính sách ngăn chặn đối với Trung Quốc mà kết quả là sự thay đổi chế độ như Chiến Tranh lạnh đã làm đối với Liên Xô.
“Trung Quốc coi Đông Nam Á là sân sau của mình, và họ muốn duy trì tầm ảnh hưởng lớn,” ông Steinberg nói.
“Họ sẽ cảm thấy lo ngại nếu Miến Điện tiến quá gần về phía Mỹ. Tôi nghĩ họ sợ rằng đây sẽ là chiến lược ngăn chặn Trung Quốc lần hai của Mỹ.”
Tuy nhiên ông này cũng cho rằng Miến Điện sẽ muốn đi theo một con đường cân bằng giữa Washington và Bắc Kinh.
“Họ không muốn trở thành nước lệ thuộc vào Mỹ cũng giống như họ không muốn lệ thuộc vào Trung Quốc.”
Một cựu quan chức ngoại giao Miến Điện cho rằng, dù sự đổ vỡ hoàn toàn quan hệ Miến Điện – Trung Quốc là khó có, sự quay lại của mối quan hệ ‘anh em’ ngày xưa là không thể.
“Miến Điện sẽ cố giữ cho Trung Quốc hài lòng, trong lúc mở cửa để phương Tây hiện diện nhiều hơn,” ông nói.
“Về mặt kinh tế, Trung Quốc không mất nhiều từ vụ Myitsone. Tuy nhiên nước này đã mất rất nhiều, cả về chính trị và chiến lược.”
“Trung Quốc hoàn toàn không thấy trước được điều này.”

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

►Chính phủ Miến Điện bổ nhiệm bà Aung San Suu Kyi làm Trưởng Ban điều tra vụ Mỏ Đồng

Posted by hoangtran204 trên 04/12/2012

*Chính phủ Miến Điện bổ nhiệm bà Aung San Suu Kyi làm Trưởng Ban điều tra vụ Mỏ Đồng. Mỏ này do Trung Quốc và 1 công ty của quân đội Miến hùn hạp và cùng nhau khai thác, nhưng đã gây ô nhiễm môi trường sống của người dân chung quanh.

Bà Suu Kyi sẽ điều tra mỏ đồng do Trung Quốc làm chủ đầu tư ở Myanmar

MANDALAY, Myanmar December 1, 2012 (AP)

Chính phủ Myanmar đã bổ nhiệm một ủy ban được nhà lãnh đạo phe đối lập bà Aung San Suu Kyi cầm đầu nhằm tiến hành điều tra cuộc trấn áp những người biểu tình ôn hòa ở một mỏ đồng vừa xảy ra mới đây, và ủy ban này sẽ khuyến cáo chính phủ nên hay không nên cho dự án này được tiếp tục.

Truyền hình nhà nước thông báo hôm thứ Bảy ngày 2 tháng Mười Hai rằng một ủy ban gồm 30 thành viên được thành lập theo lệnh của tổng thống.

Lực lượng an ninh hôm thứ Năm trục xuất những người biểu tình ở mỏ đồng Letpadaung gần Monywa nằm ở phía tây bắc Myanmar. Hằng chục người dân làng và tu sĩ Phật giáo bị thương, đa số bị bỏng mà theo họ, bị gây nên bởi những dụng cụ gây thương tích do lực lượng an ninh sử dụng. Cuộc trấn áp này dùng vũ lực quy mô, lớn lao nhất chống người biểu tình kể từ khi chính phủ cải cách của Tổng thống Thein Sein nhậm chức vào năm rồi.

Người biểu tình nói mỏ đồng gây nên nhiều vấn đề môi trường, xã hội và sức khỏe. Dự án này là một sự hợp doanh giữa một công ty Trung Quốc và một công ty khác của quân đội Myanma.

Sự bổ nhiệm bà Suu Kyi, một người từng được giải Nobel hòa bình, cầm đầu cuộc điều tra này sẽ cho ủy ban này nhiều uy tín, là cái mà chính phủ được quân đội hậu thuẩn không có, mặc dù cuộc đổi mới kinh tế và chính trị của chính quyền do ông Thein Sein lãnh đạo đã được các chính phủ phương Tây ca ngợi, giúp làm giảm sự cấm vận áp đặt lên chính phủ quân phiệt trước đây vì vi phạm nhân quyền và dân quyền trắng trợn.

Nhiều người Myanmar vẫn hoài nghi về giới quân đội và họ xem Trung Quốc như một nước đầu tư vừa hung hăng vừa mang tính bóc lột đứng đằng sau giúp cho sự cầm quyền của giới quân đội.

Bà Suu Kyi vừa viếng thăm khu vực này sau cuộc trấn áp, bà gặp gỡ viên chức của mỏ đồng, những nhà hoạt động chống sự hoạt động của mỏ cũng như nhiều người biểu tình bị thương và viên chức an ninh. Trong bài diễn văn nói với cư dân trong vùng này, bà nói sự việc dùng vũ lực là không bào chữa được, nhưng bà cũng gợi ý với người biểu tình là họ cũng sẽ phải nhượng bộ phần nào vì Myanmar phải tôn trọng các hợp đồng đã được ký kết, ngay cả những hợp đồng được ký bởi chế độ quân phiệt trước đây. Viên chức nhà nước đã lập đi lập lại nhiều lần là đóng cửa dự án này sẽ làm cạn kiệt nguồn đầu tư từ ngoại quốc mà Myanmar rất cần hiện nay.

Ủy ban điều tra bao gồm hai sinh viên tranh đấu được nhiều người biết đến trước đây, Min Ko Naing và Ko Ko Gyi, nhiều dân biểu , đại diện của nhiều đảng phái chính trị khác nhau, dân làng từ khu vực mỏmột số viên chức chính phủ.

Bản thông báo cho hay ủy ban điều tra được giao nhiệm vụ tìm hiểu lý do đưa đến những cuộc biểu tình chống đối dự án mỏ đồng, cách hành xử của lực lượng an ninh đối với người biểu tình và xem xét liệu mỏ đồng có nên được tiếp tục hoạt động. Ủy ban sẽ nộp kết qủa điều tra vào ngày 31 tháng Mười Hai này.

Nguon © DCVOnline


Nguồn:

(*Myanmar’s Suu Kyi to Head Probe Into Copper Mine. The Associated Press, 2 December 2012
——–

Posted in Đổi Mới | Leave a Comment »

Những bài học từ Miến Điện

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Những bài học từ Miến Điện

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, Hillary Clinton và Tổng thống Miến Điện Thein Sein

Trong cuộc bầu cử ngày 1-4-2012 để bổ sung 45 ghế tại Quốc Hội Miến Điện, Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ do Bà San Suu Kyi lãnh đạo đã thắng 43 ghế. Đó là một thành công to lớn không riêng cho Bà San Suu Kyi và đảng của bà mà là của toàn thể 60 triệu dân Miến Điện.

Biến cố đó xảy ra như một phép lạ đã làm thế giới ngạc nhiên thán phục. Sau ngót 50 năm bị quân phiệt thống trị, Miến Điện đã lột xác để tiến lên dân chủ. Việt Nam cũng đang bị độc tài, tham nhũng và bất công như Miến Điện. Chín mươi triệu dân Việt cũng mong sớm thoát khỏi ách thống trị của CSVN để dân tộc để dân tộc có thể tiến nhanh trên con đường dân chủ, phú cường và không còn bị Trung Cộng khống chế như hiện nay.

Nhân dịp nầy, chúng ta thử tìm xem đâu là những bài học từ Miến Điện?

Muốn cho một cuộc đấu tranh đạt được thắng lợi, tối thiểu cần phải có đủ ba điều kiện, đó là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Trong trường hợp Miến Điện, chúng ta sẽ xét đến các yếu tố đó qua hai mặt khách quan và chủ quan.

Trước hết, về mặt khách quan, chúng ta thấy gì?

Trong khi thế giới ngày càng dân chủ, giàu mạnh, thì Miến Điện, sau 50 năm dưới chế độ quân phiệt độc tài, dân chúng ngày càng cơ cực và đất nước ngày càng suy yếu. Vì bị các nước Tây phương trừng phạt và cấm vận, Miến Điện phải sống nhờ viện trợ Trung Cộng, nhưng người Hoa ngày càng kiêu căng, ức hiếp Miến Điện, dân chúng hết sức lo âu và bất mãn . Các tướng lãnh yêu nước đã thuyết phục Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đưa ông Thein Sein, một tướng lãnh đã về hưu ra tranh cử Tổng Thống nhằm thực hiện cải cách, mở đường dân chủ hóa Miến Điện để cứu nguy tổ quốc.

Sau hơn 30 năm canh tân, kinh tế phát triển không ngừng, ngày nay Trung Cộng đã trở thành một cường quốc kinh tế, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Trung Cộng ngày càng hống hách, tuyên bố chủ quyền trên biển Đông theo hình lưỡi bò, gồm hết các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Thế giới rất quan ngại trước mộng bá quyền của Trung Cộng và quyền tự do lưu thông trên Biển Đông. Năm ngoái, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Clinton tuyên bố Hoa Kỳ đã trở lại Á Châu và duy trì vai trò siêu cường tại vùng nầy. Hoa Kỳ đã tăng cường thế liên minh với Nhật Bản, Phi Luật Tân, Ấn Độ và Châu và tăng cường hợp tác thương mãi và quân sự với Đài Loan và Việt Nam.

Các cuộc cách mạng thành công tại Tunisia, Ai Cập và Libya từ Bắc Phi và Trung Đông đã góp phần đẩy mạnh trào lưu dân chủ khắp nơi. Nhà cầm quyền Miến Điện thấy rõ chế độ độc tài  không thể kéo dài mãi, và các chế độ đó chỉ tồn tại nhờ sự trấn áp của lực lượng an ninh và sự sợ hãi của dân chúng. Khi bị áp bức quá đáng không thể chịu nỗi, dân chúng sẽ đứng lên đạp đổ vì không còn gì để sợ.

Miến Điện cũng đang vận động để được bầu vào chức vụ Chủ Tịch Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2014 và kêu gọi các nước Tây phương bãi bỏ cấm vận, vì thế họ phải chứng tỏ cho thế giới thấy thiện chí cải thiện nhân quyền và dân chủ của Miến Điện. Ngoài ra, các Tướng lãnh cũng thực tâm muốn thực hiện dân chủ từng bước trong ôn hòa và trật tự để giúp đất nước không bị bạo loạn và bảo toàn được tánh mạng cũng như tài sản của họ.

Về mặt chủ quan, chúng ta thấy những điểm sau đây.

Trước hết là sự hy sinh cao cả, tinh thần đấu tranh kiên cường, không khiếp sợ bạo lực và niềm tin sắt đá về sự tất thắng vào cuộc đấu tranh bất bạo động của bà San Suu Kyi và Liên Minh của bà.

Năm 1988, bà rời Anh quốc, về Miến Điện chăm sóc mẹ già đang điều trị tại bệnh viện. Nhưng chỉ vài tuần sau khi bà hồi hương, ngày 8-8-1988 đã xảy ra biến cố sinh viên biểu tình đòi dân chủ, quân đội Miến Điện đã thẳng tay đàn áp, bắn chết gần 5 ngàn người. Xúc đông và căm phẩn trước hành dộng dã man của quân phiệt, bà đã cùng với các đồng chí thành lập Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ để đấu tranh chống độc tài quân phiệt. Vì nhu cầu hoạt động, bà đã không về đoàn tụ với chồng con tại Anh. Dù bị cầm tù hơn 15 năm và được hứa sẽ trả tự do nếu chịu xuất ngoại, bà đã nhất quyết ở lại tiếp tục cuộc đấu tranh. Ngay cả lúc chồng bà bị bệnh sắp chết mà chính phủ không cho phép sang Miến Điện gặp bà nhưng họ lại khuyên bà nên sang Anh quốc thăm chồng. Bà đã từ chối vì tin rằng nếu ra đi, bà sẽ không được hồi hương. Do đó, chồng bà đã qua đời mà không được thấy mặt vợ trước khi nhắm mắt. Sư hy sinh của bà ít có ai theo kịp!

Không những thế, sự đàn áp và đe dọa của bạo lực không làm bà run sợ. Trái lại, bà đã xem đó là thử thách và cơ hội rèn luyện tinh thần can đảm. Bà không oán hận những người đã gây nên tội ác với đồng bào và cá nhân bà, vì bà nghĩ rằng họ cũng là nạn nhân của thời cuộc. Bà chủ trương lấy tâm từ bi làm trọng điểm cho cuộc đấu tranh và bà đã khuyên các đồng chí từng bị tù đày như bà: “Chúng ta không thể quên quá khứ, nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù”.

Chính vì vậy, khi bà tuyên bố không trả thù và sẽ tôn trọng tài sản của những viên chức chế độ cũ, các Tướng lãnh tin lời bà cũng như chính bà đã tin vào thực tâm đẩy mạnh dân chủ hóa của Tổng Thống Thein Sein. Hai bên tin tưởng lẫn nhau, đó là một yếu tố hết sức quan trọng.

Tổng Thống Thein Sein đã trả tự do cho bà San Suu Kyi và hàng ngàn tù nhân chính trị, đồng thời ban hành sắc lệnh cho phép công nhân được quyền tổ chức đình công, báo chí hết bị kiểm duyệt và Internet khỏi bị kiểm soát nên dân chúng hết sức vui mừng. Các tổ chức xã hội dân sự được tự do sinh hoạt trở lại, tạo nên không khí cởi mở và dân chủ trước ngày bầu cử.

Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ là một tổ chức có thực lực, hoạt động kiên trì và được dân chúng tin tưởng. Vì thế, dù đảng nầy đã bị chính quyền ngăn cấm và hàng ngàn đảng viên, trong đó có bà San Suu Kyi đã nhiều lần bị khủng bố và cầm tù trong nhiều năm, nhưng Liên Minh vẫn âm thầm hoạt động nên đến khi hoàn cảnh cho phép, dù chỉ trong vài tháng ngắn ngũi, với sự lãnh đạo khôn khéo và uy tín của bà San Suu Kyi, đảng đã có thể huy động quần chúng ủng hộ và đạt được thắng lợi vẻ vang trong cuộc bầu cử vửa qua.

Chắc chắn cuộc đấu tranh của nhân dân Miến Điện vẫn còn nhiều khó khăn trước mặt, nhưng đến nay, chúng ta vẫn có thể học được nhiều kinh nghiệm từ Miến Điện, và chúng ta phải quyết tâm kiên trì đẩy mạnh công cuộc đấu tranh cứu nguy dân tộc và tổ quốc trong tinh thần vô úy, bao dung và bất bạo động.

Nguồn: Chuyenhoa

danchimviet.info

Một số hình ảnh về cuộc hòa giải giữa chính quyền Miến Điện và bà Aung San Suu Kyi, người đã hoạt động chính trị và thành lập đảng đối lập để tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của Miến Điện. Bà đã bị bỏ tù và quản chế kể từ 1991 cho đến khi được trả lại tự do vào tháng 11/2011.

Aung San Suu Kyi talks with Border Affairs Minister, Major General Thein Htay on August 20, 2011.

Bà Aung San Suu Kyi vói Bộ Trưởng Biên Giới, Thiếu tướng Thein Htay, ngày 20-8-2011

https://i1.wp.com/lh3.ggpht.com/-6pXNjI3SjIE/Tnp8dQbvtxI/AAAAAAAAAsE/mxzSMumdAb4/Aung%252520San%252520Suu%252520Kyi%252520Thein%252520Sein%25255B2%25255D.jpg

Bà Aung San Suu Kyi và Cựu tướng lãnh Thein Sein, nay là Tổng Thống. Ông được nhóm tướng lãnh quân phiệt đưa ra tranh cử chức tổng thống trong 1 cuộc bầu cử được nhiều người Miến Điện cho là không công bằng.

…”Trước đây có ai dám nghĩ rằng tình hình Miến Điện thay đổi như ngày hôm nay. Lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi, 66 tuổi, vừa được dân chúng Myanmar bầu vào Quốc Hội Miến Điện vào ngày Chủ Nhật 1 tháng 4. Một người phụ nữ can trường, liên tục tranh đấu cho tự do và dân chủ cho người Miến, bị chính phủ quân nhân nhốt tù bao nhiêu năm trời và vẫn giữ vững kiên trì, không sợ chết, tiếp tục đương đầu với mọi trở ngại từ cái nhóm lãnh đạo độc tài quân phiệt đến độ nhóm lãnh đạo Miến đã phải trả tự do cho bà. Và nay kết quả là một tù nhân lương tâm của thế giới trở thành đại diện dân cử hơp pháp của Miến Điện, dọn đường cho vai trò tổng thống của bà trong tương lai gần vào năm 2015 sắp tới.

Có ai ngờ là cái nhóm quân phiệt Miến ngoan cố dường ấy chỉ mới trong khoảng một năm nay đã thay đổi ngoạn mục như thế. Họ thả hết tù nhân chính trị, ngưng chiến với phe đối lập, nới lỏng kiểm duyệt báo chí và đồng ý nói chuyện với bà Suu Kyi, người mà trước đây họ chỉ muốn giết cho xong. Và rồi chính các quân nhân này đã tham gia sinh hoạt chính trị bắng cách cởi bỏ bộ đồng phục, mặc quần áo dân sự, ra tranh cử vào Quốc Hội Miến giống như các công dân khác!”…(Ng Văn Huy)

***********************************

Dân biểu Aung San Suu Kyi & tương lai của Myanmar

Trong cuộc bầu cử bổ túc 45 ghế dân biểu (cho các đơn vị tân lập) ngày 1 tháng 4 vừa qua, Liên minh Quốc gia Vì Dân chủ – LMQG/DC (National League for Democracy –NLD) của bà Aung San Suu Kyi đã

đề cử 44 đại diện ra tranh cử tại 44 đơn vị toàn quốc, và đã thắng lớn tại 43 đơn vị. Bà Suu Kyi là một trong những dân biểu đắc cử. Có nhiều đơn vị đảng viên LMQG/DC thắng với 90% số phiếu đi bầu. Chính quyền của tổng thống Thein Sein đã công nhận kết quả bầu cử.

Không ai ngạc nhiên về kết quả của cuộc bầu cử. Nhưng nếu nhân dân toàn quốc phấn khởi, không phải thành phần nào cũng phấn khởi. Tại thủ đô Naypyidaw, các ký gỉa nước ngoài ghi nhận sự than phiền của một số quân nhân ngoài đường phố, bày tỏ sự lo ngại của họ trước thắng lợi quá to lớn này của LMQG/DC.

Tuy nhiên người ta không biết sự lo ngại của thành phần sĩ quan và quân nhân cấp thấp có phải là mối lo của các tướng lãnh đang thật sự cầm quyền không.

Theo dõi tiến trình dân chủ trong hai năm qua, nguời ta có lý do để yên tâm, vì những nhân vật liên hệ – các tướng lãnh cầm quyền và bà Aung San Suu Kyi – đều trải qua một qúa trình đấu tranh dai dẳng cho đến khi nhận ra rằng quốc gia đang bị một thế lực khổng lồ bên cạnh khống chế  (chứ không phải là các đế quốc Tây phương),  họ đã tìm cách làm hòa với nhau để cứu nước.

Quá trình tranh chấp quyền lực tại Myanmar  khởi đầu từ năm 1990 sau khi LMQG/DC thắng lớn chiếm 80% ghế quốc hội trong một cuộc bầu cử toàn quốc, nhưng không được các tướng lãnh trong Hội đồng Lãnh đạo công nhận. Bà Suu Kyi bị quản thúc tại gia nhiều lần – khi bắt khi thả – dai dẳng trong gần 20 năm. Cho đến cuối năm 2010 bà được tân tổng thống Thein Sein, một tướng lãnh hồi hưu trả tự do.  Bà dùng uy tín cá nhân vận động thế giới Tây phương giải tỏa dần sự bao vây kinh tế và chính trị đối với Myanmar. Đổi lại tổng thống Thein Sein thả tù nhân chính trị, nới lỏng sự tự do ngôn luận và cho phép các đảng chính trị, trong đó có LMQG/DC của bà Aung San Suu Kyi hoạt động. 

Đắc cử dân biểu, từ nay bà Aung San Suu Kyi và LMQG/DC có tiếng nói tại quốc hội. Và tiếng nói của bà là tiếng nói uy tín được chính quyền và nhân dân lắng nghe, và quốc tế theo dõi. Tuy nhiên sức mạnh nghị trường, nếu có, sẽ do ảnh hưởng cá nhân của bà hơn là sức mạnh của lá phiếu. Với 43 ghế dân biểu LMQG/DC chiếm 6.7% trong hơn 664 ghế trong cả hai viện quốc hội. Theo Hiến pháp Hội đồng Quân nhân Quốc Phòng (Commander-in-Chief of Burma’s Defence Services) đề cử 25% đại biểu (166 người) trong giới quân nhân tại chức hay đã nghỉ hưu. Số 68.3% còn lại  đều là đảng viên của đảng Đoàn kết Xây Dựng (ĐKXD – Union Solidarity and Development Party -USDP), đắc cử từ cuộc bầu cử do các tướng lãnh đạo diễn năm 2010.  LMQG/DC đã tẩy chay cuộc bầu cử này.

Tuy nhiên thế chính trị giữa các tướng lãnh và LMQG/DC có thể thay đổi một cách căn bản trong cuộc bầu cử toàn quốc năm 2015 tới. Với sự ủng hộ của dân chúng như trong cuộc bầu cử vừa qua, LMQG/DC sẽ thắng dễ dàng và có thể chiếm hầu hết trong số 75 % ghế trong hai viện quốc hội.

Với đa số đó LMQG/DC có thể kiểm soát nghị trình quốc hội và làm lu mờ thế của Hội đồng Quân nhân Quốc Phòng. Theo Hiến pháp 2008 bà Aung San Suu Kyi không đủ điều kiện để ứng cử tổng thống (Hiến pháp đòi hỏi chồng/vợ và con cái không được mang quốc tịch nước ngoài trong khi chồng và các con bà đều có quốc tịch Anh). Nhưng LMQG/DC  có đủ phiếu để bầu một ứng viên khác của Liên Minh làm tổng thống.

Các tướng lãnh và đảng ĐKXD có chịu nhường quyền hành một cách dễ dàng như vậy không? Câu hỏi là một vấn nạn lớn của Myanmar trong thời gian tới. Vấn đề ổn định chính trị của Myanmar sẽ tùy thuộc vào sự khéo léo và tế nhị của bà Aung San Suu Kyi và thái độ của các nước Tây Phương. Tại trụ sở của LMQG/DC trong đêm chiến thắng 1/4 bà nói với đảng viên và dân chúng nhu cầu của tự chế.

Âu châu và Hoa Kỳ cũng cần thận trọng vì nắm trong tay chìa khóa của cấm vận. Trong hai lĩnh vực kinh tế và quốc phòng cần ưu tiên giải tỏa kinh tế để đời sống của nhân dân Myanmar sau nhiều thập niên thiếu thốn được cải thiện nhanh chóng. Phần quân sự đi sau sẽ làm cho các tướng lãnh bị ràng buộc đôi chút đồng thời không làm cho Trung quốc lo ngại. Sự đóng góp ảnh hưởng của bà Aung San Suu Kyi đối với chương trình giải tỏa cấm vận cũng cần được bà Suu Kyi cân nhắc kỹ lưỡng.

Nhìn con đường tiến tới dân chủ trước mắt của Myanmar qua hai nhân vật: tướng Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi chúng ta có quyền hy vọng mặc dù vẫn chưa cất bỏ hoàn toàn được sự lo âu…(www.tranbinhnam.com)

Trần Bình Nam

Burma- perestroika or ploy?

Miến Điện đang Đổi Mới

Giữa một loạt các phát triển kỳ lạ có (còn tiếp)

Amongst a strange combination of developments there is one question on the minds of all Burma watchers and activists right now: what is the regime up to?

Aung San Suu Kyi Thein SeinOn the one hand is a seemingly historic shift: Aung San Suu Kyi, released last year, has held an unprecedented face-to-face meeting with President Thein Sein; she has stated that she is happy with the outcome and a senior official has reportedly surmised that “we see her as a potential partner, not an adversary.”  Meanwhile, bans have been lifted on websites such as BBC Burmese, Radio Free Asia and Democratic Voice of Burma; exiles have been promised leniency and invited to return home; and the military-controlled parliament has passed a motion calling for a mass release of political prisoners.

Yet at the same time journalists are being locked up and media outlets shut down, political prisoners are being denied adequate medical treatment; and brutal attacks against ethnic minority villages, most likely amounting to Crimes Against Humanity, are continuing unabated.

We could of course, be witnessing something a slow transformation from a low base.  Indeed, democracy campaigners would be unwise to write off the apparent progress in some areas because of a failure to move on on in others.  There are certainly changes to be welcomed and it should always be borne in mind that any transition will never occur overnight.  The regime, following revolution in 2007 and huge international pressure in the wake of Cyclone Nargis in 2008, recognising that Aung San Suu Kyi remains enormously popular and watching dictators across the Arab World topple, may have genuinely decided that the time has come for gradual liberalisation.

Equally, it would be naive to view developments without scepticism and appreciation that we could instead be witnessing a cynical government ploy rather than a Burmese perestroika.  There is just too much that does not add up: why would a liberalising government launch fresh attacks on ethnic minority groups?  Why would a government seeking to engage Aung San Suu Kyi, ruthlessly evict patients from an HIV/AIDS hospital in response to her visit there? Why would a political elite with their eyes on transition go to such pains to rig an election?  And why, if they were easing up on political prisoners, would they carry out a sham amnesty, branded a ‘sick joke’ by human rights organisations?

The regime certainly stands to gain from appearing to give ground: it has its sights set on the Chair of ASEAN in 2014 and holds out hope of weakening the international sanctions regime that it currently faces.  There is also the ominous possibility that the apparent relaxation is designed to ‘lure out’ opponents: Reporters Without Borders noted surveillance in internet cafes was upped just before opposition sites were unblocked, whilst the call for exiles to return would leave them vulnerable to re-arrest or worse.  It would not be the first time that a dictatorship has apparently relaxed its stance, only to crack down hard on those taking advantage of political breathing space.

The third possibility is that this is neither Naypyidawan opening up nor a calculated scheme but simply the latest in the regime’s long line of bizarre and irrational moves.  General Then Shwe, who held power since 1992 and still pulls the strings behind the nominally civilian government, constructed a new capital city in the jungle surrounded by stone statues of worrier gods, apparently at the advice of fortune tellers or out of a paranoid fear that the USA would invade.  His government transferred Suu Kyi from house arrest to Insein Jail-one of the most notorious in the world, just eighteen months before going on to release her from detention altogether.  And they recklessly jeopardised relations with China, their patron and one of their only allies, by launching a sudden attack on the Kokang region and driving ten thousand refugees across the Chinese border.

These are not the acts of rational men, but rather of eccentric and somewhat unstable tyrants.  It is perfectly conceivable therefore, that this latest round of apparent liberalisation may not fit into any kind of structured plan at all but simply be a continuation of the kind of political idiocy Burma has suffered under for decades.

Nevertheless, whatever the rationale (or lack of) behind these moves, Aung San Suu Kyi and the democracy movement will soon face a tough choice:

They could continue with dialogue and risk legitimising or easing the lot of a regime that may go on persecuting the Burmese people.

Or they could demand the release of all political prisoners and an end to attacks on ethnic minorities as a pre-requisite to talks continuing; but in doing so risk jeopardising, perhaps permanently, any chance of further conversation.

All the while, the duty of activists around the world should be to follow democracy campaigner Ben Roger’s advice of ‘work and see’ not ‘wait and see’.  With so little certainty and so much at stake we must do what we can for the Burmese people right now: by financially and practically supporting the democracy movement, protecting refugees and encouraging international pressure against the regime. 

This could be a historic time – it is up to campaigners inside and outside Burma to make it historic for all the right reasons.

Suu Kyi

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

Chỉ có chế độ dân chủ là ổn định

Posted by hoangtran204 trên 08/04/2012

Ngô Nhân Dụng

Miến Ðiện được dư luận người Việt chú ý vì ở gần nước Việt Nam. Vì vậy, chúng ta đang chia mừng với 60 triệu dân Miến Ðiện, khi thấy chính quyền quân phiệt có vẻ thành thật muốn nước họ được sống trong tự do dân chủ. Nếu tình trạng này tiếp tục, trong ba, bốn năm nữa, quyền hành sẽ được chuyển giao cho một chính phủ do dân Miến Ðiện bầu lên.

Nhưng có một quốc gia khác ở tận Phi Châu cũng rất đáng quan sát và đáng khen ngợi, không thua gì Miến Ðiện. Ðó là Sénégal, một cựu thuộc địa của Pháp với 13 triệu dân, nằm bên bờ Ðại Tây Dương. Ðiều đáng khen ngợi ở Sénégal là họ vừa thực hiện một cuộc chuyển giao quyền hành trong hòa bình, nhiều người ở bên ngoài phải kinh ngạc. Trước khi dân Sénégal bỏ phiếu ngày 25 Tháng Hai, nhiều tòa đại sứ Tây phương đã khuyên kiều dân của họ hãy tạm rời xứ này, đi đâu thì đi chớ không nên ở lại. Họ tiên đoán sẽ có hỗn loạn sau cuộc bỏ phiếu. Ông tổng thống cũ thế nào cũng đắc cử vì ông rất nhiều thủ đoạn. Ứng cử viên đối lập chắc chắn sẽ tố cáo gian lận. Hai phe sẽ đổ ra đường đánh nhau, giết nhau. Có hỗn loạn thì có cướp bóc. Dân Sénégal cũng lo. Họ đã được người Pháp trao trả độc lập từ 1960. Ông tổng thống đầu tiên Léopold Senghor nổi tiếng là một thi sĩ viết tiếng Pháp, đã tạo được truyền thống tương đối dân chủ khi sau 20 năm ông tự rút lui khỏi cái ghế tổng thống, về hưu thật sự để làm thơ!

Nhưng kết quả khiến nhiều người kinh ngạc. Cựu Tổng Thống Abdoulaye Wade quả nhiên có tham quyền cố vị thật. Ông đã làm hai nhiệm kỳ rồi, đáng lẽ theo Hiến Pháp không được ứng cử nữa. Năm ngoái Quốc Hội bù nhìn của ông tu chính Hiến Pháp, cho phép ông tranh cử thêm. Ông Putin sửa Hiến Pháp Nga để kéo dài nhiệm kỳ, ông Abdoulaye Wade đâu kém gì? Ðiều ông Abdoulaye Wade không ngờ là dân chúng Sénégal đã chán chế độ tham nhũng, bất lực của ông quá rồi. Ông chỉ được 34% số phiếu trong vòng đầu, đến vòng thứ hai thì thua đối thủ, Macky Sall, một cựu thủ tướng. Ông Wade sau cùng đã hành động một cách đáng khen ngợi, ông công nhận mình đã bị dân cách chức! Ông muốn đóng vai một chính khách về hưu còn đầy đủ tư cách, hơn là một bạo chúa tham lam ngu ngốc.

Chuyển giao quyền hành là một cuộc trắc nhiệm cho tính chất ổn định của một chế độ. Nó cũng là một thử thách cho sự trưởng thành của một quốc gia. Nước Sénégal mới vượt qua được thử thách quan trọng đó; ít nhất trong năm 2012 này. Nước Miến Ðiện cũng mới vừa đi qua cuộc thử thách khác. Người dân Miến Ðiện đã dám bỏ phiếu theo lựa chọn của họ, không sợ hãi. Những người cầm quyền ở Miến Ðiện cũng đáng khen, không khác gì cựu Tổng Thống Wade ở Senegal. Họ chấp nhận kết quả phản ảnh ý nguyện của người dân.

Năm nay, bên Trung Quốc cũng sẽ diễn ra một cuộc chuyển giao quyền hành. Không phải dân chúng chọn một lớp lãnh đạo mới, vì dân Trung Hoa chưa có quyền đó. Họ sẽ phải chờ Ðại hội thứ 18 của đảng Cộng Sản Trung Quốc chọn lựa, rồi toàn dân sẽ được vỗ tay hoan hô. Cộng Sản Trung Quốc muốn tập trung quyền hành trong tay đảng của họ, lấy lý do là làm như vậy để bảo đảm sự ổn định, không để xáo trộn chính trị làm cho kinh tế chậm phát triển. Nhiều người Trung Quốc đã lên tiếng bác bỏ lý luận đó, họ đều bị bịt miệng hết.

Nhưng thật sự nền chính trị ở Trung Quốc có ổn định hay không? Qua những tin tức được lọt ra ngoài, dù đảng Cộng Sản đã kiểm soát chặt chẽ, thì không thể nói là có ổn định. Mọi người đều biết trong kỳ đại hội tới, Cộng Sản Trung Quốc sẽ chọn ông Tập Cận Bình làm chủ tịch đảng, chủ tịch nước thế chỗ Hồ Cẩm Ðào; còn ông Lý Khắc Cường sẽ lên ghế thủ tướng thay Ôn Gia Bảo. Nhưng guồng máy quyền lực ở Trung Quốc còn rất nhiều ghế mà người ta đã và đang giành giật. Nhưng ai theo dõi tin tức đều biết, trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc đang diễn ra một cuộc đấu đá giữa hai phe, bên ngoài coi bộ êm đềm nhưng bên trong không biết những cơn sóng ngầm nào sẽ bất ngờ nổi lên từ nay cho đến cuối năm. Phe thứ nhất là những “vương tôn” vào hùa với nhau vì là con cháu của những lãnh tụ đảng thời trước; họ được cựu Chủ Tịch Giang Trạch Dân và nhóm lãnh tụ Thượng Hải hỗ trợ; họ chú trọng đến việc bảo vệ các quyền lợi với các khẩu hiệu tả phái mị dân. Phe thứ hai thường gọi là “Ðoàn Phái” vì từng tập trung trong Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản thời Hồ Cẩm Ðào cầm đầu, có khuynh hướng muốn cải cách nhanh hơn. Họ giành nhau ngồi vào những chiếc ghế trong Thường Vụ Bộ Chính Trị; trong Ban Bí Thư, trong Quân Ủy Trung Ương, vân vân.

Chúng ta đã chứng kiến cảnh một lãnh tụ phe Vương Tôn là Bạc Nhất Ba, bí thư Trùng Khánh bất ngờ mất chức. Sau đó, có tin đồn trên Internet là xe tăng kéo ra đường phố Bắc Kinh để ngăn đảo chính. Tin đảo chính bị bác bỏ, nhưng cuộc đấu lại diễn ra trên các mạng Internet. Ngay sau khi họ Bạc thất thế, một mạng tả khuynh ở Trung Quốc gọi là Utopia đã viết rất nhiều bài bênh vực ông ta (http://www.wyzxsxcom). Trên mạng này, họ tố cáo Ôn Gia Bảo vận động hạ bệ Bạc Nhất Ba theo chỉ thị của Mỹ quốc! Mạng này còn nhận định: Nếu cuộc tranh chấp quyền lực không khéo giải quyết thì “Ðảng Cộng Sản Trung Quốc có thể sẽ tách làm hai!”

Ngày hôm qua, mạng Utopia bị công an mạng ra lệnh đóng cửa trong một tháng. Lý do được đưa ra là Utopia đã nói xấu giới lãnh đạo, dèm pha đại hội đảng thứ 18 sắp tới. Người quản đốc mạng là Phạm Cảnh Cương (Fan Jinggang), hỏi bằng cớ thì công an mạng không đưa bằng cớ nào cả. Nhà nước muốn đóng là đóng, không được thắc mắc.

Nhưng cuộc tranh chấp giữa hai nhóm Ðoàn Phái và Vương Tôn không phải do vấn đề chủ trương, chính sách khác nhau. Thực chất là họ tranh giành quyền hành và lợi lộc do quyền hành đem lại. Bạc Nhất Ba tuy tự quảng cáo các chiến dịch chống băng đảng tham nhũng, và hô hào trở lại các khẩu hiệu và bài hát thời Mao Trạch Ðông làm một “Mô hình Trùng Khánh,” nhưng trong thực tế lại cầm đầu một mạng lưới tham nhũng khổng lồ. Những tin tức mới được tiết lộ sau khi Bạc mất chức cho thấy bà vợ của ông ta là Cốc Khai Lai (Gu Kailai). bị nghi ngờ liên can đến cái chết của Neil Heywood, một thương gia người Anh quốc; cái chết ở Trùng Khánh được giải thích là vì uống rượu quá chén, nhưng bị đem thiêu xác ngay.

Viên giám đốc công an Trùng Khánh Vương Lập Quân đã đặt câu hỏi về vụ này với Bạc Nhất Ba, nên bị cất chức. Quân sợ mất mạng, đã xin hẹn gặp lãnh sự Anh ở Trùng Khánh, rồi lại đổi ý, xin tị nạn với tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Thành Ðô, cho nó xa hơn. Hành động đó đưa tới những biến cố dây chuyền khiến Bạc Nhất Ba bị cách chức.

Nhưng phe Ðoàn Phái đã chặt chân tay của họ Bạc từ trước. Một người em vợ Bạc Nhất Ba là Thiếu Tướng Cốc Tuấn San (Gu Junshan) đã bị cất chức và bị bắt vì tội tham nhũng. Cốc Tuấn San từng đứng đầu Cục Hậu Cần, lo về tiếp liệu trong quân đội, một chức vụ tha hồ rút ruột các dự án. Người đã điều tra và truy tố San là Lưu Nguyên, một con trai của Lưu Thiếu Kỳ. Nguyên được Ðặng Tiểu Bình cứu, đưa về học ở Bắc Kinh, sau khi Lưu Thiếu Kỳ bị Mao Trạch Ðông làm nhục đến chết. Năm ngoái Lưu Nguyên (Liu Yuan) mới được Hồ Cẩm Ðào đích thân thăng lên hàng tướng, và đang hy vọng sẽ được vào Quân Ủy Trung Ương trong nhiệm kỳ tới. Việc bắt giam Cốc Tuấn San xẩy ra vài ngày trước khi Bạc Nhất Ba mất chức, là một “công trạng” giúp Lưu Nguyên lên cao hơn.

Khác với những vụ điều tra và truy tố tham nhũng ở các nước dân chủ tự do, các biến cố ở Trung Quốc diễn ra hoàn toàn thầm lặng, theo truyền thống “thâm cung bí sử.” Người dân Trung Quốc chỉ được biết tin tức sau khi một phe đã hoàn toàn chịu thua phe bên kia. Việc thay bậc đổi ngôi trong hàng ngũ lãnh đạo chỉ những lãnh tụ trong đảng biết với nhau mà thôi. Từ khi thành lập nhà nước Cộng Sản Trung Quốc, chỉ có hai lần việc chuyển quyền diễn ra một cách êm thấm, là khi Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào lên. Nhưng cả hai người này đều do một tay của Ðặng Tiểu Bình chỉ đích danh chọn lựa!

Dân Trung Hoa, với dân số đông gấp 100 lần nước Sénégal, vẫn chưa có quyền quyết định chọn người lãnh đạo đất nước họ, như những người dân ở nước Phi Châu nhỏ bé kia. Ðiều khiến những người như Ôn Gia Bảo lo lắng là nếu không dân chủ hóa sớm, thì xã hội Trung Quốc sẽ bất ổn, gây chướng ngại cho việc phát triển kinh tế. Ông Ôn Gia Bảo hô hào cải tổ chính trị, không chắc đã vì ông ta yêu dân chủ tự do. Các nhà độc tài muốn dân chủ hóa, lý do chính là họ cần bảo vệ ngay địa vị và quyền lợi của gia đình, của con cháu họ. Một chế độ với những tranh chấp quyền lực trong hậu trường như ở Bắc Kinh không bảo đảm tương lai, những những kẻ có tiền thấy đầy rủi ro. Bất cứ ai, sau bao năm lo tích lũy của cải, cũng có thể bị mất, như Lưu Thiếu Kỳ, như Giang Thanh, hay Bạc Nhất Ba, Cốc Tuấn San! Chỉ có một xã hội sống trong pháp luật và mọi người bình đẳng trước pháp luật mới bảo đảm được sinh mạng và tài sản cho mọi người.

Ðó cũng là lý do chính khiến chính quyền Miến Ðiện chịu trả tự do cho người dân, chấp nhận các luật chơi dân chủ. Vì chỉ chế độ Dân Chủ mới bảo đảm được đời sống ổn định, cho tất cả mọi người. Trong chế độ dân chủ, quyền hành của cả guồng máy nhà nước, của chính phủ, của công an hay quân đội, luôn luôn bị ràng buộc bởi những hạn chế ghi rõ trong Hiến Pháp, trong luật lệ. Bất cứ ai đóng vai trò lãnh đạo đều phải chịu trách nhiệm, có chức trách (accountability) do vai trò mà họ phụ trách. Nếu thiếu các yếu tố này, xã hội không thể nào ổn định.

Nguồn: báo nguoi-viet.com

nguồn: http://danluan.org/node/12256

Posted in Ở Miến Điện, Dân Chủ và Nhân Quyền, Đổi Mới | Leave a Comment »

Miến Điện: Tự do không sợ hãi

Posted by hoangtran204 trên 05/04/2012

Tự do không sợ hãi

Tác giả Ngô Nhân Dụng

Nguồn: báo Người Việt

Tại cố đô Pagan xứ Miến Ðiện (Myanmar), giữa hàng chục ngàn bảo tháp, ngôi tháp Manuha có một sự tích đặc biệt. Vua Anawrahta trị vì vương quốc Pagan hùng mạnh nhất trong thời đó đã quy y đạo Phật theo truyền thống Bắc Tông.

Ông yêu cầu Manuha, một vị vua người Môn ở phía Nam phải thần phục và cống tiến tam tạng kinh điển Nam Tông; nhưng không toại nguyện. Anawrahta tấn công, bắt Manuha cầm tù, vẫn đối đãi như hàng vương giả. Mấy năm sau Manuha đã xin phép Anawrahta cho mình xây một bảo tháp mới làm nơi thiền định và được chấp thuận. Ngày nay du khách vào thăm di tích Bảo Tháp Manuha tại Pagan được chiêm ngưỡng một tượng Phật nằm rất đẹp. Nhưng ai cũng phải ngạc nhiên là gian phòng bên trong ngôi tháp quá nhỏ, pho tượng Phật như bị bó chặt giữa mấy bức tường kín bưng.

Năm 1059 Vua Anawrahta được mời tới khánh thành ngôi bảo tháp, ông bước vào, chắc cũng phát sinh cảm giác đó. Và ông hiểu ngụ ý của Manuha: Phật cũng như người ta, không thể sống trong tù ngục, không được tự do.

Tổng Thống Thein Sein chắc còn nhớ và muốn bắt chước bài học của vua Anawrahta, cho nên ông cũng bắt đầu thả các tù nhân của ông, 60 triệu dân Myanmar, cho họ được sống tự do hơn. Cuối tuần qua, dân Miến Ðiện đã bỏ phiếu bầu bổ túc 45 ghế đại biểu Quốc Hội. Họ thật sự được tự do chọn lá phiếu, cho nên đảng đối lập Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (National League for Democracy, NLD) thắng hầu hết các đơn vị; trong đó có bà Aung Sang Suu Kyi. Ðảng NLD thắng cả 4 ghế đại biểu ở thủ đô mới lập Naypyitaw, là nơi hầu hết dân cư là công chức lãnh lương chính phủ, và gia đình họ. Nếu chính quyền Thein Sein giả dối vì còn nuôi tham vọng kéo dài chế độ độc tài quân phiệt thì khó có kết quả như vậy.

Dân Myanmar như đã sống lại. Người ta reo hò mừng rỡ. Tại trụ sở đảng NLD, vào buổi tối Chủ Nhật nóng bức, các thanh niên nhẩy múa ngoài đường, đầu tóc họ cũng nhuộm mầu mè như giới trẻ khắp nơi. Các nhà sư đứng ngắm mỉm cười, tay phe phẩy cái quạt. Nhiều gia đình mang theo cả con nhỏ đến ăn mừng: Dân Chủ đã thắng Ðộc Tài!

Ðây là lần thứ ba dân dân Myanmar đi bầu trong nửa thế kỷ. Năm 1962 các tướng lãnh đã cướp chính quyền, dẫn cả nước đi theo một thứ Chủ Nghĩa Xã Hội bế tắc, như các nước xã hội chủ nghĩa khác. Năm 1990 họ cho dân bỏ phiếu lần đầu, và đảng NLD đã thắng lớn, chiếm 59% số phiếu bầu và 392 trong số 485 ghế đại biểu; mặc dù bà Suu Kyi đã bị bắt giam từ năm trước. Bà từng sống ở ngoại quốc nhiều năm, chỉ về nước năm 1988 để trông nom mẹ già đang bệnh nặng. Ðứng trước cảnh nghèo đói và áp bức do chế độ độc tài gây ra cho dân, bà quyết định ở lại cùng đồng bào đứng lên đòi tự do dân chủ. Bà bị giam cầm hơn 15 năm; chính quyền mặc cả sẽ trả tự do nhưng bà phải đi ngoại quốc, bà từ chối. Cứ như thế, chính quyền quân phiệt tiếp tục cai trị Myanmar với một guồng máy tham nhũng và những chính sách ngu dốt, bất lực thêm 20 năm nữa, trong khi đảng NLD bị cấm hoạt động, các người lãnh đạo bị bắt giam. Dưới chế độ độc tài dân Myanmar không có tự do báo chí, không được tự do hội họp; bị cả thế giới văn minh tẩy chay, nhóm người cầm quyền chỉ trông cậy Trung Quốc ủng hộ. Năm 2010, Tướng Thein Sein cởi bỏ áo lính, trở thành vị tổng thống “dân sự” đầu tiên. Chính quyền tổ chức bầu cử lần thứ nhì, nhưng đảng NLD tẩy chay không dự vì bà Suu Kyi vẫn bị cấm tranh cử.

Thein Sein đã bày tỏ thiện chí dân chủ hóa bằng nhiều bước, để thuyết phục phe đối lập và thế giới là tiến trình dân chủ hóa là một sự thực, chứ không phải chỉ có bề ngoài để được các nước Tây phương bãi bỏ phong tỏa kinh tế. Ông đã trả tự do cho bà Suu Kyi và các lãnh tụ đối lập. Cho báo chí được tự do, ngưng kiểm soát cả Internet. Làm luật cho dân được phép biểu tình; công nhân được phép đình công, và được tự do thành lập công đoàn. Mỗi bước của chính quyền Thein Sein được bà Suu Kyi và các nước Tây phương đáp lại bằng hành động hợp tác tương ứng.

Từ năm ngoái, Myanmar bắt đầu sống trong một không khí chính trị mới, trong tinh thần tin cậy và hợp tác. Bà Suu Kyi xứng đáng là người lãnh đạo khi thẳng thắn và thành tâm cộng tác với những kẻ đã giam cầm mình. Bà nói với các đồng chí đã bị tù đầy: “Chúng ta không thể quên quá khứ. Nhưng không nên chỉ nhớ về quá khứ để nuôi hận thù.” Bà công nhận trong chính quyền quân phiệt cũng “có những người muốn làm điều có ích lợi cho quốc gia.” Không phải ai trong bọn họ cũng muốn dân chủ hóa, “Nhưng trong phong trào dân chủ có phải ai cũng muốn cộng tác với họ đâu? Ðó là điều bình thường trong chính trị.”

Thái độ ngay thẳng, chân thành và đức độ của bà Suu Kyi là nền tảng giúp cho dân tộc Myanmar bắt đầu xây dựng dân chủ. Ðiều gì đã khiến bà sẵn lòng cộng tác với một chế độ đã bỏ tù mình và đàn áp dân như vậy? Vì bà không sợ hãi. Năm 1990, Suu Kyi đã viết một bài chính luận: Tự do không sợ hãi.

Suu Kyi nhìn lại các đồng bào của mình, bà nói: Người dân Miến Ðiện nào cũng biết có bốn con đường lầm lạc, a-gati. Thứ nhất là Chanda-gati, sai lầm do lòng Tham. Dosa-gati do Sân hận. Moga-gati do Ngu si. Nhưng tai hại nhất là sai lầm vì Sợ: Bhaya-gati. (Bốn đường tà này cũng tương tự “Bốn mũi tên độc” trong truyền thống Bắc Tông: Tham, Sân, Si và Mạn). Suu Kyi ca ngợi Thánh Gandhi: Cống hiến lớn lao nhất của Gandhi cho dân tộc ông là khơi dậy tấm lòng không sợ hãi. Gandhi đã tìm học lại truyền thống Ấn Ðộ, và nhận ra, “Thiên khiếu lớn nhất của một cá nhân hay một dân tộc là abhaya, tấm lòng không sợ hãi.”

Áp dụng vào hoàn cảnh dân tộc Miến Ðiện đang chịu cách áp bức, bất công, bà nói: “Chúng ta có thể đều có những hạt giống không sợ hãi, nhưng đáng quý hơn nữa là có được tấm lòng can đảm nhờ rèn tập, không để cho lòng sợ hãi chi phối các hành vi của mình… Trong một chế độ từ chối không công nhận các quyền căn bản của con người, sợ hãi dễ trở thành một thói quen bình thường. Tai hại nhất là người ta che đậy lòng sợ hãi của mình, biến thành một thái độ thường tình, có khi lại coi là khôn ngoan. Người ta sẽ chê bai những người dũng cảm là khờ dại, là liều lĩnh, khi họ biểu lộ những hành động can đảm, dù nhỏ nhặt, để bảo vệ phẩm giá con người và lòng tự trọng.”

Suu Kyi ca ngợi các sinh viên biểu tình trong những năm 1988, 89, vì họ muốn xã hội phải có luật pháp công bằng. “Pháp luật công bình không phải chỉ ngăn không cho người dân bị đối xử oan ức. Chúng còn giúp nuôi dưỡng một xã hội trong đó mọi người có thể được hưởng những điều kiện căn bản tối thiểu để bảo vệ phẩm giá con người…” Cuộc cách mạng quan trọng nhất, Suu Kyi nói, là một cuộc cách mạng tinh thần; do “Một cuộc cách mạng nếu chỉ nhắm thay đổi các chính sách và định chế chính trị để cải thiện đời sống vật chất thì khó thành công đích thực.”

Cuộc cách mạng mà Suu Kyi theo đuổi đang bắt đầu. Ðảng cầm quyền của các vị tướng và tướng về hưu vẫn chiếm đa số trong Quốc Hội gồm 664 ghế; trong đó Hiến Pháp dành một phần tư số đại biểu cho các ông tướng chọn. Ðảng NLD sẽ đóng vai đối lập với một số ghế rất nhỏ. Nhưng đây vẫn là một thắng lợi. Không riêng gì cho bà Suu Kyi mà cho toàn thể 60 triệu dân. Bước đầu tiên trên tiến trình dân chủ hóa đã thành công. Ba năm nữa, Quốc Hội sẽ được bầu lại, và lúc đó hy vọng sẽ dân chủ hóa thực sự.

Một điểm đáng khen ngợi phe các tướng lãnh là họ đã ý thức được là không thể nào kéo dài chế độ độc tài mãi mãi. Khi ngay ở thế giới Á Rập cách mạng cũng bùng lên thì phong trào dân chủ sẽ còn lan rộng mãi. Họ nhận ra quyền lợi của chính họ và gia đình họ chỉ được bảo đảm lâu dài nếu mọi người Miến Ðiện được sống trong một xã hội với luật pháp công bằng. Mà muốn được như vậy, chỉ có một cách là mở con đường xây dựng một thể chế dân chủ tự do.

Giới quân phiệt cũng chỉ thay đổi thái độ dưới áp lực của dân chúng biểu tình chống Trung Quốc. Trung Quốc đã lôi kéo được chính quyền quân phiệt rơi vào quỹ đạo của họ. Các công ty Trung Quốc tha hồ khai thác mỏ, rừng, đá quý của Myanmar. Họ mở các hải cảng và quân cảng trong vùng vịnh trông qua Ấn Ðộ. Họ khai thác dầu, khí của Myanmar, lại đặt ống dẫn dầu kéo qua xứ này để chuyên chở dầu nhập cảng từ Trung Ðông và Phi Châu về thẳng Vân Nam, khỏi qua eo biển Malacca. Dân Myanmar bất mãn đã đặt bom phá đập thủy điện Myitsone vào tháng 10 năm 2010. Năm sau, chính quyền quân phiệt phải đình chỉ dự án trị giá 3.6 tỷ đô la này, để chứng tỏ họ biết chiều theo ý dân. Ðó cũng là một tín hiệu đưa ra để được bà Suu Kyi tin tưởng rằng họ cũng là những người yêu nước. Chế độ quân nhân ở Myanmar tuy cũng đàn áp dân nhưng họ không phá hủy nền văn hóa cổ truyền. Các lãnh tụ quân phiệt vẫn đi lễ chùa, cùng dường chư tăng, chứ họ không tôn thờ một chủ nghĩa duy vật ngoại lai nào. Vì vậy, người ta còn sẵn lòng tin nhau.

Nhưng điều đáng lo ngại là hiện nay cả diễn trình dân chủ hóa tùy thuộc vào hai cá nhân. Bà Suu Kyi đã 66 tuổi, mới bị xỉu ba lần trong thời gian đi vận động tranh cử. Ông Thein Sein cũng 67 tuổi, đang bị bệnh tim. Vì hai người này tin ở thiện chí và tình yêu nước của người kia, cho nên mọi việc tiến hành tốt đẹp. Nếu một trong hai người qua đời trong năm, ba năm sắp tới thì không biết con đường dân chủ hóa sẽ ra sao? Trong hàng ngũ tướng lãnh vẫn có những người bảo thủ, ngoan cố. Như Suu Kyi nói năm 1990: “Không phải quyền hành làm người ta thối nát, mà là lòng sợ hãi. Những người đang nắm quyền sợ mất quyền. Những người đang run sợ trước cường quyền cũng bị nỗi sợ làm đồi trụy.” Cho nên, bà công nhận: “Con đường trước mặt còn đầy khó khăn. Con đường dân chủ hóa sẽ rất dài.”

Xây dựng một đất nước là con đường rất dài. Vào thế kỷ thứ 11, Vua Anawrahta đã hòa giải với Vua Manuha. Sau đó sắc dân dựng lên vương quốc Pagan, gốc Tầy Thái từ Vân Nam tới, đã chung sống hòa hợp với dân Môn, một sắc tộc Nam Á vốn chung gốc rễ với người Khmer, người Mã Lai (và một phần cả người Việt Nam thời cổ). Họ đã xây dựng một nền văn minh mới, tổng hợp các thành tựu của nhiều giống dân, tất cả cùng theo Phật Giáo Nam Tông, tạo thành dân tộc Miến Ðiện sau này. Tương lai dân tộc Miến Ðiện trong thế kỷ 21 sẽ là con đường dân chủ hóa. Ðường còn xa, nhưng chắc họ không sợ, vì đã có một nền tảng tinh thần vững chắc.

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

Bà Aung San Suu Kyi thắng cử ở Miến Điện

Posted by hoangtran204 trên 03/04/2012

Chính trị gia từng đoạt giải Nobel về hòa bình của Miến Điện, Aung San Suu Kyi, đã “thắng lớn” trong cuộc bầu cử bổ sung tranh 45 ghế ở Quốc hội vào hôm Chủ

Chính trị gia từng đoạt giải Nobel về hòa bình của Miến Điện, Aung San Suu Kyi, đã “thắng lớn” trong cuộc bầu cử bổ sung giành 45 ghế ở Quốc hội vào hôm Chủ Nhật, theo đảng của bà cho biết.

Liên đoàn Dân tộc vì Dân chủ (NLD) cho biết lãnh tụ của họ, bà Suu Kyi, đã thắng dễ dàng ở Kawhmu, mặc dù kiểm phiếu chính thức chưa hoàn tất.

Đây là lần đầu tiên đảng đối lập NLD tham gia bầu cử kể từ năm 1990.

Cuộc bầu cử hôm Chủ Nhật là một thử nghiệm quan trọng về hứa hẹn cải cách chính trị của Chính phủ Miến Điện, mặc dù đảng cầm quyền được quân đội hậu thuẫn vẫn còn chiếm ưu thế.

Trong quá trình vận động bầu cử, báo chí nước ngoài và quan sát viên quốc tế được phép tác nghiệp tại Miến Điện với một số lượng khá lớn trong nhiều năm qua.

Liên minh châu Âu gợi ý rằng khối này có thể giảm bớt một số biện pháp trừng phạt nếu cuộc bầu cử diễn ra trôi chảy.

“Chúng tôi hy vọng ngày bầu cử diễn ra một cách hòa bình và chúng tôi sẽ có đánh giá dựa trên tất cả các cuộc bỏ phiếu mà chúng tôi chứng kiến,” quan sát viên EU Ivo Belet nói.

Phóng viên BBC Rachel Harvey từ trong Miến Điện nói rằng đảng NLD đã cáo buộc một số hiện tượng “bất thường” trong bầu cử tại thủ đô, Naypyidaw.

Một phát ngôn viên của NLD nói với hãng tin AFP rằng ông đã gửi một thư khiếu nại đến Ủy ban bầu cử cáo buộc về một số hiện tượng gian lận trong cuộc bỏ phiếu.

‘Vẫn còn chi phối

Chính phủ hiện nay của Miến Điện vẫn còn chịu sự chi phối của giới quân sự và nhiều thành viên từ chế quân sự cũ vốn cai trị nước này trong nhiều thập niên và đồng thời đang chịu nhiều cáo buộc về lạm dụng quyền lực tràn lan.

Từ năm 2010, khi xuất hiện cuộc chuyển đổi thế hệ các nhà lãnh đạo mới, chính phủ Miến Điện đã gây ấn tượng với giới quan sát về tốc độ thay đổi trong cải cách nhiều mặt.

Hầu hết các tù nhân chính trị đã được trả tự do, các hạn chế với báo chí, truyền thông đã được nới lỏng và, đặc biệt bà Aung San Suu Kyi và đảng NLD đã được thuyết phục để tái tham gia tiến trình chính trị.

Họ đã không được thừa nhận vai trò trong tiến trình chính trị Miến Điện từ năm 1990, khi đảng đối lập NLD giành chiến thắng vang dội trong cuộc tổng tuyển cử nhưng lại bị quân đội từ chối không chấp nhận kết quả.

Bà Aung San Suu Kyi trong phần lớn giai đoạn 20 năm sau đó đã bị quản thúc và bà đã từ chối tham gia cuộc bầu cử năm 2010, một động thái mở ra những cải cách hiện nay.

NLD là một trong 17 đảng đối lập tham gia cuộc bầu cử Quốc hội bổ sung hôm Chủ nhật.

Chỉ một phần nhỏ số ghế tại Quốc hội sẽ được chia sẻ qua cuộc bỏ phiếu hôm Chủ Nhật và đảng cầm quyền được quân đội hậu thuẫn sẽ vẫn áp đảo đa số.

Bà Aung San Suu Kyi, 66 tuổi, đã tranh cử ở một hạt cử tri cấp thấp hơn tại Kawhmu, bên ngoài Rangoon.

Vào ngày Chủ Nhật, bà đã đến thăm khu vực bỏ phiếu tại Kawhmu trước khi trở lại Rangoon.

‘Quyết tâm đi tới’

Bà Aung San Suu KyiĐảng của bà Suu Kyi là một trong 17 đảng phái đối lập tham gia tranh 45 ghế tại cuộc bầu cử bổ sung Quốc hội kỳ này

Trước đó, bà Suu Kyi mô tả chiến dịch tranh cử năm nay là không “thật sự tự do và công bằng” và cảnh báo rằng những cải cách là “không thể đảo ngược”.

Nhưng bà cũng nói rằng bà và đảng NLD “không hối tiếc” khi tham gia cuộc bầu cử.

“Chúng tôi quyết tâm đi tới bởi vì đây là những gì mà mọi người mong muốn,” bà nói.

Phóng viên BBC, Rachel Harvey, nói bất luận kết quả của cuộc bầu cử ra sao, cán cân quyền lực của Miến Điện sẽ không thay đổi qua đêm và dân chủ đầy đủ vẫn còn là một chặng đường dài với quốc gia Nam Á này.

Phóng viên của chúng tôi nói tất cả các nhóm dân tộc thiểu số của Miến Điện phải được thể hiện để cảm thấy họ có tiếng nói trong hệ thống chính trị.

Một số ít đại diện từ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cùng với EU và Hoa Kỳ, đã được mời đến quan sát cuộc bỏ phiếu.

Hơn 100 nhà báo nước ngoài cũng được cho là đã nhận được giấy phép đưa tin bài tại chỗ về cuộc bầu cử.

nguồn BBC

Posted in Ở Miến Điện, Bầu cử Ứng Cử Tự Do- Kêu Gọi Thể Chế Dân Chủ -, Đổi Mới | Leave a Comment »

Thêm một dấu hiệu cho thấy chính phủ Miến Điện mở cửa đón nhận dân chủ: bà Aung San Suu Kyi sẽ tiếp nhà hoạt động dân chủ, tỷ phú Mỹ George Soros, vào thứ Hai 02/01/2012

Posted by hoangtran204 trên 02/01/2012

Miến Điện: Lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi sẽ gặp tỷ phú Mỹ George Soros

Thêm một dấu hiệu Miến Điện mở cửa: Theo phát ngôn viên của bà Aung San Suu Kyi vào hôm qua, 30/12/2011, lãnh tụ đối lập Miến Điện sẽ tiếp nhà tỷ phú Mỹ George Soros vào thứ Hai 02/01/2012 tới đây tại tư dinh của bà ở Rangoon. Nội dung cuộc gặp không được tiết lộ, nhưng nhà tỷ phú nổi tiếng nằm trong một loạt nhân vật tầm cỡ thế giới ghé Miến Điện, tiếp xúc với người từng đoạt giải Nobel Hòa bình từ khi bà được chính quyền trả tự do.

Năm nay 81 tuổi, tỷ phú Soros trong thời gian qua đã được biết đến trong tư cách là một nhà hảo tâm, rất quan tâm đến việc tài trợ cho các sáng kiến nhằm phát huy dân chủ trên thế giới thông qua Hội Open Society Foundation do ông thành lập.

Đối với Miến Điện, hiệp hội của ông Soros hàng năm chi khoảng 2 triệu đô la vào các dự án ở trong cũng như ngoài nước nhằm khuyến khích tiến trình dân chủ hóa. Sự kiện một nhân vật như ông được chính quyền Miến Điện bật đèn xanh cho gặp lãnh tụ đối lập là thêm một dấu hiệu phản ánh tiến trình mở cửa tại quốc gia Đông Nam Á này từ một năm nay.

Dù thông tin về chuyến ghé thăm Miến Điện của ông Soros được hoàn toàn giữ kín, nhưng các nguồn thạo tin tại Rangoon đã xác định với nhật báo Anh Financial Times rằng nhà tỷ phú Mỹ đã đến Miến Điện bằng phi cơ riêng từ ngày 26/12. Ông đã được nhân viên hiệp hội của ông tại Miến Điện tháp tùng theo trong chuyến thăm.

Theo các nhà quan sát, ngoài vấn đề phát huy dân chủ tại Miến Điện, cuộc tiếp xúc giữa ông Soros và bà Suu Kyi chắc chắn sẽ đề cập đến lãnh vực kinh tế và triển vọng nước này được Hoa Kỳ và châu Âu gỡ bỏ trừng phạt. Là công dân Mỹ, nhà tỷ phú Soros không thể đầu tư vào Miến Điện do việc Washington còn duy trì cấm vận. Tuy nhiên, trong thời gian tới đây, các biện pháp ngặt nghèo này có rất nhiều khả năng được bãi bỏ.

Từ khi được trả tự đo, lãnh tụ đối lập Miến Điện đã được rất nhiều thượng khách quốc tế ghé thăm, từ Ngoại trưởng Mỹ, Indonesia, hay là Nhật, cho đến thủ tướng Thái Lan và nhiều quan chức cao cấp khác.

Nguồn: Trọng Nghĩa (RFI)

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

Miến Điện đã đi những bước thay đổi ngoạn mục chỉ trong vòng 14 tháng qua

Posted by hoangtran204 trên 09/12/2011

Dù dân số Miến Điện là 54 triệu dân, có chung đường biên giới với Trung Quốc, bị Trung Quốc xâm lấn vùng biên giới phía Bắc, và “Bắc Kinh chi phối gần trọn nền kinh tế sản xuất của xứ này, xâm nhập khắp các mặt văn hóa, nhân công, đất đai, tài nguyên và cả an ninh.

Điển hình là Trung Quốc đặt hai đường ống dầu khí dài trên 1100 cây số nối liền từ biên giới TQ ra tận bờ biển Myanmar, xây dựng vô số đập thủy điện khắp nước để sản suất điện bán cho Trung Quốc, cùng một dự phóng tân trang thiết lộ và xây dựng 1 cảng nước sâu ngó ra vịnh Bengal. TQ có tổng vốn đầu tư lên tới 16 tỷ mỹ kim hiện nay, cộng thêm kim ngạch giao thương gần 5 tỷ mỹ kim trong năm 2010, nghiễm nhiên đã là bầu sữa “đối tác thương mại” lớn nhất của lãnh đạo Myanmar.”

Ngược lại, dàn lãnh đạo quân phiệt của Myanmar cũng nhìn về Bắc Kinh như một điểm tựa địa chính trị duy nhất, một mô hình cai trị mẫu mực cần noi… nên đã từng công khai thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối, kể cả sự tán đồng quyết định tàn sát sinh viên Thiên An Môn 1989.

Nói chung, Myanmar, dưới các triều độc tài quân phiệt, từng được coi là một chư hầu gương mẫu của TQ”, giống y hệt Việt Nam hiên nay.

Nhưng,  mọi chuyện đã thay đổi nhanh chóng ở Miến Điện chỉ trong vòng 14 tháng qua.  Trước hết là Miến Điện quăng vào thùng rác “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Myanmar”, để trở thành “Cộng Hòa Liên Bang Myanmar”, và tổ chức bầu cử.

Kế đến, Tân Tổng Tư Lệnh Quân đội Miến, tướng Min Aung Hlaing, đi thăm VN tháng 3/2011 thay vì sang cúi đầu lãnh ấn ở Bắc Kinh.

Cách đây 1  tháng, Miến Diện đá đít Trung Quốc và Ra lệnh cho công nhân Trung Quốc quay trở về nước, không được xây đập thủy điện nữa.

Trung Quốc làm được gì? Trung Quốc chẳng dám làm gì hết!

Ở Việt Nam thì sao? Luận điệu của đảng ta là: “chúng ta phải nhân nhượng Trung Quốc vì TQ là nước lớn, ta là nước bé, chiến tranh VN vừa chấm dứt, ta cần có ổn định chính trị để phát triển kinh tế…Rồi nào là: trình độ dân trí Việt Nam còn thấp, không nên dân chủ hóa sớm…” Nhưng khi so sánh với việc làm của Miến Điện trong 14 tháng qua, các luận điệu nói trên “của ban tuyên giáo trung ương bổng chốc trở thành giẻ rách.”

Đúng là đồ chết nhát! Chỉ được tài võ trang hùng hậu, dùng số đông đi ăn hiếp dân lành VN vô tội, nhưng sợ  Trung Quốc đến ướt quần.  Bởi vậy  cứ hay đi nhát ma người khác woài!

Kép Chánh Đột Biến Thành Nhắc Tuồng

Đinh Tấn Lực

Triển khai hiệu quả Lộ trình dân chủ, vì hòa giải và hòa hợp dân tộc, tổ chức bầu cử công bằng, dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái. Qua đó, sớm ổn định và tập trung phát triển đất nước Myanmar” – Nguyễn Tấn Dũng.

* * *Nói theo tay tiền nhiệm của Tư Sang thì đúng là bầu bạn Myanmar đang… ”tự sát” [*].

Mà đã vậy thì, suy ra, Ba Dũng có công lớn trong việc góp phần vừa “động viên” lại vừa “phân hóa nội bộ” để giật sập một thể chế hữu nghị [**].

Tháng 4-2010, trong cuộc họp thượng đỉnh ASEAN tại Hà Nội, Ba Dũng ở cương vị chủ nhà kiêm chủ tịch luân phiên của Hiệp Hội này, đã có những phát biểu “chỉ đạo xử lý” tình hình Myanmar, rồi lặp lại lần nữa, rốt ráo và chi tiết hơn, khi sang thăm Myanmar sau đó. Nghe cứ như hồi 1987, ông Reagan đòi Gorbachev giật sập bức tường Bá Linh.

Bức tường độc tài độc đảng ở Ngưỡng Quảng hiện đang hóa bùn từng mảng lớn.

Còn ở đây, Ba Dũng đang ra sức chữa cháy trước các mồi lửa củi đậu nấu đậu của bọn Tư Sang.

Sự thể thế nào?

* * *Sau Brunei-1984 và VN-1995, ASEAN kết nạp thêm 3 thành viên sau cùng là Lào-1997, Miến-1997, và Miên-1999. Cả 3 đều do phần lớn công sức vận động của Việt Nam, với ý đồ (có chỉ đạo từ đâu đó để) tạo dựng một cõi liên kết độc tài Đông Dương mở rộng ngay giữa lòng chảo Hiệp hội Các nước Đông Nam Á. Trong đó, Lào và Miến có chung biên giới ở vùng Tam giác vàng. Còn Lào và Miên thì đã có duyên (Pháp định) gắn kết hữu cơ với Việt Nam từ 1887, bằng tên gọi Union Indochinoise.

Riêng Miến Điện, tức Burma, hay đương danh chính thức là Cộng hòa Liên bang Myanmar, bất kể từ lâu vẫn là thành viên khối Phi Liên Kết, đã kinh qua thực tiễn mồi chài lẫn thử thách để mối quan hệ với VN được “nâng lên một tầm cao mới”, dù chỉ là mức chạm sàn, tít mù bên dưới tầm cao quan hệ với TQ từ bấy đến nay.

Myanmar có diện tích gấp đôi, tài nguyên gấp đôi, nhưng dân số chỉ hơn phân nửa của VN đôi chút, và từng là một trong các quốc gia giàu có hàng đầu Đông Nam Á vào thời còn là thuộc địa của Anh (1885-1948), với lượng gạo xuất khẩu đứng đầu thế giới bấy giờ.

Trước đó nữa, vào thời 1100, vương quốc Pagan này còn được gọi là Đế chế Miến Điện, và kể từ thời 1364, vương quốc Ava này có một nền văn minh vang danh khu vực.

Còn sau giai đoạn Anh thuộc, vào thời 1961, Đại biểu Thường trực U-Thant của Miến Điện là người đầu tiên của phương Đông được bầu làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, với một nữ nhân viên xuất chúng có tên là Daw Aung San Suu Kyi.

Đến năm 1962, tướng Ne-Win đảo chính, lên cầm quyền, rồi đổi tên nước (nghe khá quen tai) là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Myanmar. Hệ quả 26 năm dưới triều đại độc tài độc đảng của Ne-Win là vào năm 1987, tương ứng với thời VN rã họng kêu gọi thế giới cứu đói, Myanmar được xếp vào thứ hạng các nước kém phát triển nhất hành tinh.

Năm 2006, giới lãnh đạo quân nhân của Myanmar dời đô từ Ngưỡng Quảng (Rangoon) về một khu vực yên tĩnh ở gần Pyinmana, đặt tên chính thức cho thủ đô mới là Naypyidaw, có nghĩa là “vùng đất của những ông vua”.

Trong suốt nửa thế kỷ, qua nhiều triều đại của các ông vua tập thể nhiều tiền lắm đạn này, Myanmar lâm vào cảnh đất nước bị cô lập thành ốc đảo, kinh tế bị cấm vận đến kiệt quệ, còn nhân dân bị cưỡng bức lao động/bóp nghẹt thông tin/hạn chế giáo dục/tràn ngập buôn người/thường trực đói cơm… và bao phen tắm máu, tiêu biểu là vụ đàn áp long trời lở đất 8-8-88, một khi lòng dân không như ý đảng. Đó là chưa kể các đạo luật “không được khoan dung” đối với các nhân vật bất đồng chính kiến. Không ai rõ chúng có được đánh thứ tự trong khoảng giữa các con số 79 tới 88 chăng, nhưng rõ ràng vị khôi nguyên Nobel Hòa Bình Daw Aung San Suu Kyi đã được nhân loại biết tới như một nạn nhân bi hùng của chế độ suốt nhiều chục năm qua.

Khẩu hiệu đại trà đâu đâu cũng thấy trong suốt thời này là “đất nước chỉ mạnh khi nào quân đội mạnh”, với tỷ lệ ngân sách quốc phòng so với GDP đứng hàng top-15 của thế giới, hiện to gấp 4 lần ngân sách y tế và giáo dục gộp lại, nhưng vẫn không giúp cho Myanmar đủ mạnh để thoát khỏi móng vuốt của người anh em XHCN Trung Quốc.

Bắc Kinh chi phối gần trọn nền kinh tế sản xuất của xứ này, xâm thực đều khắp các mặt văn hóa, nhân công, đất đai, tài nguyên và cả an ninh. Điển hình là hai đường ống dầu khí dài trên 1100 cây số nối liền từ biên giới TQ ra tận bờ biển Myanmar, với vô số đập thủy điện khắp nước, cùng một dự phóng tân trang thiết lộ và xây dựng 1 cảng nước sâu ngó ra vịnh Bengal. TQ có tổng vốn đầu tư lên tới 16 tỷ mỹ kim hiện nay, cộng thêm kim ngạch giao thương gần 5 tỷ mỹ kim trong năm 2010, nghiễm nhiên đã là bầu sữa “đối tác thương mại” lớn nhất của lãnh đạo Myanmar.

Ngược lại, dàn lãnh đạo quân phiệt của Myanmar cũng nhìn về Bắc Kinh như một điểm tựa địa chính trị duy nhất, một mô hình cai trị mẫu mực cần noi… nên đã từng công khai thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối, kể cả sự tán đồng quyết định tàn sát sinh viên Thiên An Môn 1989.

Nói chung, Myanmar, dưới các triều độc tài quân phiệt, từng được coi là một chư hầu gương mẫu của TQ (trên trường đua, có chăng, đau đớn thay, chỉ là VN ta). Mà điều đó không nhất thiết chỉ là nhận định riêng của Bắc Kinh.

* * *Dưới tán lọng bảo bọc “tận tâm tận lực” đó của TQ, mấy ai dám nghĩ hội đồng quân nhân lãnh đạo Myanmar sẽ không còn cơ hội cưỡng lại lòng dân và các loại áp lực quốc tế?

Thế mà, phép lạ chăng, lãnh đạo Myanmar đã có cách ngẩng mặt nói không với TQ và gật đầu với nhân dân Miến Điện:

  • Tháng 10/2010, tên chính thức của nước này được cắt ngắn bớt mấy từ khóa: “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Myanmar” trở thành “Cộng Hòa Liên Bang Myanmar”, chỉ 2 tuần trước khi xứ này tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên sau 20 năm người dân không thấy mặt lá phiếu.
  • Tháng 3/2011, tân Tổng tư lệnh Quân đội Min Aung Hlaing đi thăm VN thay vì sang khấu đầu lãnh ấn ở Bắc Kinh.
  • Tháng 8/2011, tân Tổng thống Thein Sein đã gặp, trao đổi và nhất trí với lãnh tụ đối lập Aung San Suu Kyi bốn điểm: 1) Cùng nhau nỗ lực vì hoà bình, ổn định và phát triển của đất nước theo nguyện vọng của nhân dân; 2) Hợp tác vì phát triển kinh tế, xã hội và xây dựng hệ thống dân chủ; 3) Nỗ lực hợp tác trên cơ sở cùng có lợi; 4) Tiếp tục thúc đẩy mạnh đối thoại.
  • Tháng 9/2011, Tổng thống Thein Sein công bố ngưng xây đập thủy điện Myitsone trên sông Irrawaddy, một dự án đầu tư hàng chục tỷ mỹ kim của tập đoàn điện lực China Power Investment, mà nếu hoàn thành, sẽ dẫn 90% công suất về phục vụ mẫu quốc thiên triều.
  • Tháng 10/2011, tân chính phủ Myanmar quyết định trả tự do cho 6000 tù nhân, trong đó có hơn 200 tù nhân chính trị (trong tổng số 2000 người bị giam về tội bất đồng chính kiến).
  • Giữa tháng 11/2011, Hội nghị các Ngoại trưởng của ASEAN ra nghị quyết chuẩn thuận cho Myanmar giữ chức Chủ tịch Luân phiên của ASEAN vào năm 2014.
  • Cuối tháng 11/2011, Quốc hội Myanmar thông qua đạo luật bảo đảm quyền biểu tình thông thoáng cho người dân xứ này. Lãnh tụ đối lập Daw Aung San Suu Kyi cho biết sẽ ra tranh cử đại biểu quốc hội kỳ tới.
  • Đầu tháng 12/2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton thực hiện chuyến thăm viếng kéo dài 3 ngày để trao đổi với chính giới Myanmar cùng Daw Aung San Suu Kyi, và cam kết rằng Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ tiến trình cải cách dân chủ nhiều hơn nữa ở xứ này.
  • Trong tuần đầu tháng 12/2011, hình ảnh và bài viết về Daw Aung San Suu Kyi, lần đầu tiên, đã xuất hiện trên dàn báo chính quy của Myanmar…

Tiếp theo ba trái bon tấn cắt bỏ cụm từ chết tiệt “XHCN”, cất dẹp dự án mông muội Myitstone và chấp nhận Sinh Hoạt Chính Trị Đa Nguyên, hầu hết những nút thắt cổ dân đã lần lượt được tháo gỡ. Không ai chắc bao nhiêu phần trăm nỗ lực này đến từ lời phán hữu nghị ở mức chạm sàn dẫn trên của Nguyễn Tấn Dũng.

Nếu còn nhớ đến vó câu của Hốt Tất Liệt và bốn lần quân Mãn Thanh từng hằn vết trên lãnh thổ Myanmar từ nhiều thế kỷ trước, cộng với hàng chục vạn công nhân TQ đang thi công khạc nhổ khắp nơi trên đất nước này hiện nay, mọi người đều rõ là chính cái bóng đè của TQ lên trên “những ông vua tập thể” xứ này là nguyên nhân của lụn bại mà nhân dân Myanmar muốn vượt qua.

Nếu còn nhớ đến thông điệp nhậm chức của tân Tổng thống Thein Sein, người ta đều rõ là Myanmar

  • cần hòa nhập vào sân chơi rộng thoáng và bình đẳng của thế giới trong trào lưu dân chủ hóa toàn cầu;
  • cần giải tỏa các thứ lệnh cấm vận và áp lực quốc tế; và
  • cần tự thân vượt thoát ra khỏi cái bóng đổ tàn khốc của TQ, như lòng dân nước này từ lâu mong mỏi, cùng một khối lớn sĩ quan trung niên thúc đẩy ngay trong quốc hội, để đất nước có cơ cất cánh.

Cái gốc chuyển hóa vẫn là khát vọng nhân dân chứ không phải duy trì quyền bính.

Chủ đích sau cùng vẫn là canh tân đất nước chứ không phải ổn định chính trị.

* * *Những cải cách êm thắm tại Myanmar đang dấy lên một triều sóng tại Á Châu, không khác gì hương hoa Nhài lan tỏa ở Bắc Phi & Trung Đông hồi đầu năm.

Hình ảnh TQ hiện giờ là một bức tranh thu điếu đã bị đóng khung cô lập.

Ngay cả Nhật Bản cũng hiển lộ mối quan tâm sâu sắc hơn về hiểm họa TQ trong khu vực. Hội Nghị Dân Chủ Hóa Á Châu đã được tổ chức hoành tráng tại Nhật Bản, trong bối cảnh thời sự thế giới đặc biệt của năm 2011: 1) Sự kiện Hoa Lài tại Bắc Phi; 2) Hoa Kỳ tích cực trở lại vùng Á Châu Thái Bình Dương; 3) Những chuyển hóa chính trị tại Miến Điện.

Tham dự diễn đàn hội nghị là các các diễn giả Tin Win (Miến Điện); Lý Thái Hùng (Việt Nam); Pima Gyalpo (Tây Tạng); Ilhaqm Mahmut (Ngô Duy Nhĩ); Olhunud Daichin (Mông Cổ); Thừa Văn Lập (Hoa Lục). Họ đã cùng với 3 nhân vật khác trong ban tổ chức của Nhật Bản đồng thành lập một Hội Đồng Liên Đới Tự Do Dân Chủ Á Châu, và công bố bản Tuyên Ngôn Dân Chủ Hóa Á Châu 2011.

* * *Những cải cách êm thắm đó của Myanmar có ảnh hưởng gì tới VN ta?

Đầy!

Lời phán đóng khung ở đầu bài, quất ngược vào mặt phán quan, và trở thành cây thước đo mức độ tệ hại về tình hình nhân quyền, dân chủ, báo chí, quyền biểu tình và tù chính trị ở VN.

Nó còn là cây thước đo chuẩn xác về độ ươn hèn của lãnh đạo xứ ta, một khi đảng viên các cấp từ thủ đô Hà Nội xuống tới vùng sâu vùng xa đều thấy như nhau là: Với một loạt ứng xử can trường của tân chính phủ Myanmar, Bắc Kinh chắc chắn là không thể kìm nén nỗi mày nhăn mặt nhó, nhưng rồi …làm gì nhau? Vậy thì, hà cớ chi Bắc bộ Phủ nhà ta cố bập bùng thắp đuốc mà vẫn ướt đũng …sợ ma?

Nó khóa cổ ban Tuyên giáo Trung ương, khiến cho nỗ lực ngáng chân tiến trình dân chủ hóa VN bằng một loạt ngụy luận rổn rảng (vì ổn định chính trị / vì phát triển kinh tế / vì trình độ dân trí v.v…) bổng chốc trở thành giẻ rách.

Nội bộ đảng viên, và cả quần chúng ngoài đảng, dạo này quên khuấy các bản tin lộ hàng hay nữ sinh lột áo nhau trên báo. Họ bận khoan nhặt kháo nhau về thông điệp cân bằng ở Úc của Tổng thống Mỹ Barack Obama, và các cam kết nức lòng ở Miến của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Cấn sườn hơn, họ thấy rõ, cũng như cả thế giới thấy rõ, VN ta lệt bệt sau lưng Miến Điện là nước mình đã cất công vận động ASEAN mấy năm trước, bởi lẽ, vở kịch đổi mới của ta vẫn quanh năm xài lại mớ tuồng tích cổ/đạo diễn xưa/đào kép cũ:

Trong lúc Luật biểu tình Miến Điện đã được nhanh chóng thông qua thì Luật biểu tình Việt Nam chỉ được đưa ra quốc hội để tranh cãi có nên bàn trong khóa này hay bỏ ra vô thời hạn, với hàng loạt đại biểu được Ban Tuyên giáo Trung ương cho dựng rạp diễn hài. Đại biểu Hoàng Hữu Phước được giao và đã làm tốt vai hài chính.

Trong lúc Miến Điện thả hàng trăm tù chính trị, và đang chuẩn bị thả thêm hàng ngàn người bất đồng chính kiến khác, thì VN vận công bắt cóc hàng loạt người ở Vinh, ở Thái Hà, ở Sài Gòn… tự tiện đưa vào trại phục hồi nhân phẩm hoặc tù cải tạo… Rồi sau đó diễn màn thả đúng 1 người là anh Trương Quốc Huy, giảm án 1 người là thầy Phạm Minh Hoàng, và lục đục lên phương án trục xuất Ls. Lê Công Định.

Nghĩa là, nói chung, bàn thắng đẹp của Myanmar đè bẹp bóng ma TQ hết đường cựa quậy đã quăng lưới giao thông vây khốn Bộ chính trị Hà Nội tứ bề.

Ngay bên trong thượng tầng đảng, đám Tư Sang đang nhịp đùi nhắp rượu bất chiến tự nhiên thành, một khi Ba Dũng đang bị bọn Tử Cấm Thành tới tấp dí vào mặt một câu hỏi gây ngọng cấp tính:

– Hà cớ gì lại tài khôn xúi dại Myanmar cho nó bứt rời thiên triều đế chế? Đang là Kép Chánh lại muốn rơi tòm xuống phường Nhắc Tuồng đấy phỏng?

09-12-2011- Nhân mùa Quốc Tế Nhân Quyền 2011.

Blogger Đinh Tấn Lực

Chú thích

(*) và (**) đều là lời của “Triết” gia.

Posted in Ở Miến Điện, Đổi Mới | Leave a Comment »

Ý kiến chúng tôi: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2011

Trich’:

    Văn bản này không phải là một bản kiến nghị, cũng không phải đưa ra để lấy chữ ký, mà cốt chia sẻ suy nghĩ về cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Văn bản đã được gửi đến các ủy viên trong Bộ Chính trị cách đây khoảng một tháng và đến Quốc hội cùng Chính phủ gần đây hơn. Nay xin trân trọng gửi đến bạn đọc.

Hồ Tú Bảo, Nguyễn Tiến Dũng, Trần Hữu Dũng, Giáp Văn Dương, Nguyễn Ngọc Giao, Ngô Vĩnh Long, Vĩnh Sính, Nguyễn Minh Thọ, Trần Văn Thọ, Cao Huy Thuần, Nguyễn Văn Tuấn, Hà Dương Tường, Vũ Quang Việt, Phạm Xuân Yêm

Lời giới thiệu

Văn bản dưới đây được soạn thảo trong mùa hè vừa qua, khi Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Là người Việt Nam, không ai không khỏi giật mình tự đặt câu hỏi: làm sao đối phó với hiểm họa ngoại xâm khi nội lực của chúng ta đang có nhiều vấn đề đáng lo ngại: kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy đồi, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước thiếu hiệu quả.

Qua trao đổi giữa các đồng nghiệp trong giới đại học và nghiên cứu làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, văn bản này được viết ra, nhằm phân tích những yếu kém của nội lực Việt Nam và đề nghị những biện pháp cải cách. Xuất phát từ nhiều chỗ đứng khác nhau, nhưng cùng bức xúc như nhau trước tình hình nghiêm trọng của đất nước, những người soạn thảo đã làm việc trên tinh thần đồng thuận. “Bản Ý Kiến” này là kết quả của vài trăm điện thư trao đổi, đúc kết nhiều quan điểm khác nhau để đi đến một “mẫu số chung”: Sự cần thiết của cải cách thể chế, con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất để tăng cường nội lực, thực hiện đoàn kết, bảo vệ đất nước, và phát triển bền vững.

Văn bản này không phải là một bản kiến nghị, cũng không phải đưa ra để lấy chữ ký, mà cốt chia sẻ suy nghĩ về cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Văn bản đã được gửi đến các ủy viên trong Bộ Chính trị cách đây khoảng một tháng và đến Quốc hội cùng Chính phủ gần đây hơn. Nay xin trân trọng gửi đến bạn đọc.

Nội dung

Lời giới thiệu

· Tóm tắt

· A. Mở đầu

· B. Việt Nam nhìn từ thế giới bên ngoài

· C. Việt Nam hiện nay: Thực trạng và nguyên nhân

· D. Cải cách vì một nước Việt Nam giàu mạnh và tự chủ

· E. Kết luận

Tóm tắt

Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Theo dõi những diễn tiến của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, chúng tôi thật sự lo âu về tương lai của đất nước. Bản ý kiến này không nêu lại những thành tựu Việt Nam đã đạt được, mà tập trung vào vấn đề nội lực Việt Nam đang suy yếu: Kinh tế bấp bênh, giáo dục và y tế xuống cấp, khoa học và công nghệ non yếu, đạo đức xã hội suy thoái, tham nhũng tràn lan, bộ máy nhà nước nhiều bất cập. Trong lúc đó, kinh tế ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và đe dọa về an ninh từ nước láng giềng phương Bắc ngày càng rõ nét.

Năm 2008 lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp. Nhưng ta đã mất gần 35 năm kể từ khi đất nước thống nhất, nếu kể từ khi đổi mới cũng gần một thế hệ mới đạt được thành quả còn khiêm tốn này. Trong cùng thời gian đó, nhiều nước ở châu Á đã đạt thành quả được cả thế giới ngưỡng mộ. So với các nước trong vùng và trên thế giới có cùng điều kiện phát triển trước đây, nước ta hiện nay vẫn còn ở vị trí rất thấp trong hầu hết mọi lĩnh vực, từ kinh tế, giáo dục đến khoa học. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra vẫn còn rất xa. Hiện nay chưa có dấu hiệu cho thấy Việt Nam có thể đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020.

Khi phân tích vấn đề, chúng tôi thấy có hai nguyên nhân sâu xa, liên quan đến thể chế nói chung, và cơ chế tuyển chọn người lãnh đạo và quản lý nhà nước nói riêng.

Thứ nhất, thể chế còn thiếu dân chủ. Có thể nói rằng thể chế hiện nay là di sản của thời chiến tranh, bao cấp và chủ nghĩa xã hội kiểu Lênin-Stalin, với đặc điểm cơ bản là hạn chế dân chủ, hạn chế tự do tư tưởng, thiếu tinh thần thượng tôn pháp luật. Hệ quả là xã hội suy giảm tính năng động và hiệu quả, hạn chế sáng tạo trong khoa học và giáo dục, không chống được suy thoái giá trị đạo đức và văn hóa, bất công và cách biệt xã hội tăng lên, và không khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Chế độ tiền lương bất hợp lí trong cơ chế “xin cho” đã đẩy nhiều công chức vào con đường tham nhũng, và làm cho nhiều nhà giáo, bác sĩ, nhà khoa học,… không chuyên tâm với nghề nghiệp và không giữ được đức tính cao đẹp vốn có từ xưa. Hoàn toàn đáng lo ngại khi thể chế hiện nay đang hạn chế sức mạnh của đất nước và làm lung lay nền tảng của xã hội.

Thứ hai, là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất, trong thành phần lãnh đạo đất nước chưa có nhiều người tài giỏi, bản lĩnh, chịu trách nhiệm cao và quy tụ được bên mình những trí thức và cộng sự chân chính. Từ trung ương đến địa phương, nhiều quan chức thiếu cả năng lực và đạo đức cần thiết. Tình trạng bằng cấp giả và chạy chức chạy quyền đã trở thành vấn nạn nhức nhối. Việc lợi dụng vị trí công quyền để trục lợi cá nhân đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều cán bộ nhà nước.

Theo chúng tôi, phải có một cuộc cải cách mang tính cách mạng về thể chế mới giải quyết được hai vấn đề này. Chúng tôi nghĩ rằng trách nhiệm này trước hết thuộc về đảng cầm quyền và trên thực tế hiện nay cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đảm nhận được vai trò này.

Vì vậy, chúng tôi đề nghị Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét thực hiện 8 điểm sau:

1. Kiên quyết xây dựng nhà nước dân chủ pháp quyền.

Không có ai và tổ chức nào đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Để thực hiện được điều này, cần triệt để tôn trọng Hiến pháp và đảm bảo sự thực thi Hiến pháp theo tinh thần hiến pháp là trên hết. Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát quyền lực, cần có hệ thống tòa án độc lập để chế tài được các hành vi lạm dụng quyền hành, tham nhũng, làm giàu bất chính và ức hiếp dân chúng.

Triệt để dân chủ hóa, đúng như mục tiêu mà Hiến pháp đề ra. Đảng cần chứng minh bằng hành động thực tế rằng đó không phải là khẩu hiệu mà chính là thao thức thường xuyên của lãnh đạo, của các cơ quan công quyền. Để thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp lý hiện nay, cần thật sự triển khai và áp dụng nội dung của Hiến pháp. Trước hết, phải thật sự tôn trọng các quyền mà Hiến pháp đã ghi rõ, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, và được quyền lập hội, quyền biểu tình trong khuôn khổ pháp luật, và quyền bình đẳng trước pháp luật.

Pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do của người này không xâm phạm đến quyền tự do của người khác chứ không phải nhằm hạn chế hoặc triệt tiêu tự do. Tất nhiên, tự do cá nhân phải tôn trọng lợi ích tập thể, nhưng không nên viện lợi ích tập thể với mục đích triệt tiêu tự do. Cụm từ “theo quy định của pháp luật” phải được hiểu trong tinh thần đó để các quyền được Hiến pháp công nhận có giá trị thực sự chứ không phải chỉ có tính cách lý thuyết. Hiện nay, không thiếu thí dụ luật được viết nhằm hạn chế quyền công dân được ghi trên Hiến pháp. Thí dụ điển hình là luật bầu cử và Quyết định 97. Luật bầu cử hạn chế quyền ứng cử của công dân vì đòi hỏi người tự ứng cử phải được Mặt trận Tổ quốc thông qua. Quyết định 97 của Thủ tướng nhằm hạn chế quyền phản biện chính sách của trí thức. Thật ra, tất cả các quyền của công dân đều đã nằm trong Hiến pháp Việt Nam, chỉ cần triển khai và thật sự áp dụng.

Cần bảo đảm nền móng của dân chủ: đó là tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận mà Hiến pháp đã ghi rõ cần đi vào thực chất với việc bảo đảm tính công khai và minh bạch của các hoạt động công quyền và quyền tranh luận của xã hội và công dân đối với những hoạt động đó. Những hạn chế cần thiết của tự do ngôn luận, như các bí mật quốc gia (thuộc phạm vi hình sự) hay bí mật kinh doanh, đời tư của công dân (dân sự), phải được ghi rõ trong các đạo luật (được quốc hội thông qua) chứ không phải là qua các nghị định, quyết định của hành pháp.

2. Tiếp thu các tư tưởng tiến bộ nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Không nên tự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ biết học thuyết Mác-Lênin, không tiếp thu mọi tư tưởng tiến bộ của thế giới thì đã không viết được bản Tuyên ngôn độc lập gói ghém những giá trị phổ quát của nhân loại. Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là rất hợp lòng dân. Các hệ tư tưởng là công cụ nhằm giúp đạt mục tiêu trên. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy một xã hội muốn phát triển cần có tự do tư tưởng và tự do ngôn luận do đó cần thoát khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ duy nhất. Ra khỏi sự ràng buộc vào ý thức hệ đó cũng sẽ cho thấy Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt tư tưởng và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế.

3. Xây dựng một nhà nước vững mạnh bằng cách minh bạch hóa việc bổ nhiệm các chức vụ cao cấp, thực hiện việc tuyển chọn công chức theo qui trình khách quan dựa trên khả năng, cải cách chế độ tiền lương cho hợp lý.

Nêu cao trách nhiệm cá nhân trong hệ thống công quyền. Tất cảcông chức và người lãnh đạo trong hệ thống nhà nước phải chịu trách nhiệm cá nhân về nhiệm vụ của mình, không được ẩn náu dưới danh nghĩa trách nhiệm tập thể. Cơ chế tập trung dân chủ khi đem áp dụng trong việc điều hành chính phủ đã bị nhiều người lợi dụng để bao biện cho thói vô trách nhiệm, ỷ lại, đổ lỗi cho tập thể, cơ hội, bè phái, “cha chung không ai khóc”. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế tách bạch sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước để tránh sự chồng chéo, áp đặt, kém hiệu quả.

Minh bạch hóa trong bổ nhiệm tất cả các chức vụ, kể cả vị trí cao cấp. Tạo cơ chế công khai và dân chủ hóa để có thể tuyển chọn những nhà lãnh đạo tài đức và đáp ứng được đòi hỏi của dân tộc, được dân tin tưởng và được thế giới nể trọng. Không nên tiếp tục cách làm hiện nay là dàn xếp trong nội bộ Đảng rồi đưa ra Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm. Những người đủ tài đức nhưng không phải đảng viên cũng cần được xem xét bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng. Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng Tháng tám cũng đã có phương châm này.

Xây dựng bộ máy công chức làm việc có trách nhiệm và hiệu quả, và có cơ chế tuyển chọn khách quan dựa trên tài năng chuyên môn. Hiệu suất của bộ máy công quyền là điều kiện tối cần thiết để kinh tế, giáo dục, văn hóa phát triển nhanh và lành mạnh. Cho nên, việc tuyển chọn công chức phải dựa trên tiêu chí chuyên môn và đạo đức, độc lập với quan điểm chính trị ở nhiều loại công việc.

Cải cách chế độ tiền lương nhằm bảo đảm người công chức có thể sống bằng đồng lương của mình. Công chức phải được bảo đảm sống bằng đồng lương để tập trung vào công việc. Chế độ tiền lương cần hợp lí và phù hợp với khả năng, cống hiến thực của công chức để có thể thu hút được những người có khả năng nhất trong xã hội vào bộ máy công quyền. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi cần đặt thành mục tiêu ưu tiên phải thực hiện ngay.

4. Phát triển kinh tế theo hướng bền vững trong đó ưu tiên hàng đầu là tạo công ăn việc làm và nhanh chóng cải cách việc điều hành và quản lý doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn kinh tế.

Về việc phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động cần được đặt thành ưu tiên hàng đầu. Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn.

Đề nghị lập một hội đồng tư vấn chiến lược phát triển để giúp chính phủ vạch ra chiến lược phát triển có trọng điểm, không dàn trải và dẫm chân lên nhau, kết hợp thỏa đáng lợi ích quốc gia và lợi ích vùng nhằm phát triển nền kinh tế có chất lượng. Hội đồng này tập trung những chuyên gia có trình độ, có chức năng xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức. Bộ phận chuyên trách này sẽ có tiếng nói quan trọng trong việc quyết định các dự án lớn, trong quy hoạch phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng.

Cải cách chế độ sở hữu ruộng đất và tạo cơ hội có việc làm ngoài nông nghiệp là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn. Cần có chiến lược về đất đai, qui hoạch rõ rệt các vùng chuyên canh nông nghiệp và vùng có thể phát triển công nghiệp, cải cách để xác định rõ đâu là đất tư hữu và đâu là đất công hữu, tiến tới xóa bỏ hẳn chính sách coi đất đai là sở hữu toàn dân như hiện nay. Tư hữu hóa sẽ là cơ sở để giải quyết việc tập trung ruộng đất manh mún hiện nay để thực hiện sản xuất lớn nông nghiệp và phục vụ công nghiệp hóa nông thôn. Mặt khác, như nhiều người đã chỉ ra, đất đai là một nguồn tham nhũng rất lớn, gây hàng ngàn vụ khiếu kiện của dân trong những năm qua, tệ nạn này sẽ được hạn chế rất nhiều nếu người dân trên nguyên tắc được toàn quyền sở hữu (thay vì chỉ có quyền sử dụng) đất đai của mình.

Cần xóa bỏ chế độ hộ khẩu để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn.

Cần nhanh chóng cải cách việc điều hành và quản lý doanh nghiệp quốc doanh đặc biệt là các tập đoàn kinh tế. Thời gian qua tập đoàn kinh tế đã trở thành nơi hội tụ của các nhóm lợi ích và người có quyền chức, gây ra bất ổn cho nền kinh tế và tình trạng tham nhũng bành trướng. Vì thế, cần đặt các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, trong khung pháp lý chung của luật pháp; xóa bỏ việc hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh và thay vào đó là Hội đồng quản trị độc lập có nhiệm kỳ, do Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân bổ nhiệm, nhằm tránh biến tập đoàn thành một phần của các nhóm lợi ích. Ngoài ra, cần xóa bỏ các ưu đãi đặc biệt (về tín dụng, thuế, bảo lãnh nợ,…) cho doanh nghiệp quốc doanh; và không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh.

5. Ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức xã hội.

Văn hóa và đạo đức xã hội đang xuống cấp nghiêm trọng. Kỷ cương phép nước và nhân phẩm của con người đang bị coi thường. Chưa bao giờ cái xấu, cái giả và cái ác, biểu hiện ở nhiều dạng nhiều mặt, lại xuất hiện nhiều như bây giờ. Các giá trị văn hóa tốt đẹp của nhân loại chưa kịp nuôi dưỡng và bén rễ thì đã bị những cái xấu, cái giả lấn át. Thói háo danh, hình thức phô trương, mê tín dị đoan lại càng được dịp lên ngôi. Vì thế, cần quảng bá, khuyến khích những giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái, pháp quyền… và khôi phục những tinh hoa văn hóa truyền thống để làm nền tảng cho mọi sinh hoạt của xã hội. Cần nghiêm khắc xử lý cán bộ ở các cấp cao khi có hiện tượng sai phạm đạo đức để làm gương. Đặc biệt quan trọng là việc sử dụng hiệu quả vai trò tích cực của công luận để phê phán và ngăn chặn sự suy thoái của đạo đức và văn hóa.

6. Thực sự làm cho giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu.

Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Vì thế, chiến lược phát triển cần phải xây dựng theo hướng chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng và khả năng làm chủ công nghệ cao. Chiến lược phát triển cũng cần phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng nhiều hơn nữa. Do đó, phải có biện pháp hiệu quả nhằm cụ thể hóa các chính sách về giáo dục, khoa học và công nghệ. Đồng thời, lãnh đạo phải cho thấy quyết tâm chăm lo sức khỏe của người dân qua các cải cách về y tế.

Cần tránh chính trị hóa học đường. Thay vào đó, cần giáo dục đạo đức, khích lệ tinh thần yêu nước, trách nhiệm công dân, và ý chí phấn đấu của tuổi trẻ. Điều tối quan trọng là cần đảm bảo tự do học thuật, tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.

Do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn.

7. Thực hiện đoàn kết dân tộc

Chấp nhận và dung hòa với những người bất đồng chính kiến nhưng cùng mục tiêu phát triển đất nước. Đặc biệt trước những diễn biến phức tạp và nguy hiểm ở biển Đông, hòa hợp hòa giải dân tộc cũng có nghĩa là cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân không phân biệt chính kiến, quá khứ. Chúng tôi đặc biệt đề nghị nên có hình thức ghi nhận và biểu dương sự dũng cảm hy sinh của những quân nhân Việt Nam Cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa năm 1974.

8. Triển khai một đường lối ngoại giao độc lập, dựa trên một thể chế dân chủ, chú trọng hơn đến quan hệ chiến lược với ASEAN và Hoa Kỳ, trong khi tiếp tục coi trọng quan hệ hữu nghị và bình đẳng với Trung Quốc.

Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc cần được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng, nhưng không xem đó là quan hệ đặc biệt, càng không thể coi đó là đồng chí tốt. Việt Nam không thể “hợp tác toàn diện” với một nước lớn và mạnh hơn mình hàng chục lần và có những quan hệ phức tạp về lịch sử và địa chính trị, nhất là đang thể hiện rõ tham vọng và đã có những hành động bành trướng, xâm hại chủ quyền và an ninh quốc gia của Việt Nam.

Về Biển Đông, Quốc hội Việt Nam cần ra một tuyên cáo đặc biệt về Công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958, khẳng định đó không phải là sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Công hàm Phạm Văn Đồng chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Tuyên cáo này vừa để làm rõ quan điểm của Việt Nam trước dư luận quốc tế, vừa xóa bỏ những ngờ vực của không ít người Việt Nam ở trong và ngoài nước, góp phần tăng thêm tình đoàn kết dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm.

Cần đoàn kết với Philippines, Malaysia và Brunei trong việc chống lại tuyên bố “Đường Lưỡi Bò” của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Việt Nam đưa ra đề án với ASEAN đặt tên vùng biển Đông nước ta (mà Trung Quốc và nhiều nước gọi là biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông Nam Á.

Trước bước ngoặt lịch sử của đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam mang một trách nhiệm nặng nề đối với tiền đồ dân tộc. Chúng tôi mong thấy một cuộc cách mạng mới về thể chế để Việt Nam có thể phát triển thành một nước giàu mạnh và tự chủ.

Trở về mục lục

A. Mở đầu

Việt Nam chúng ta đang đứng ở đâu trên bản đồ kinh tế và trên cục diện chính trị của khu vực và thế giới? Đất nước chúng ta sẽ thụt lùi về nhiều mặt, hay là sẽ phát triển mạnh mẽ, bền vững, đáp ứng khát vọng của dân tộc là mong thấy một nước Việt Nam giàu mạnh, phát triển hài hòa với thiên nhiên và xã hội, chia sẻ được những giá trị phổ quát của thế giới văn minh và giữ vững độc lập về kinh tế, chính trị, văn hóa? Nền tảng xã hội, văn hóa, giáo dục và thể chế của ta hiện nay có tạo đủ những điều kiện cơ bản để đất nước phát triển theo hướng tích cực không?

Theo dõi những diễn tiến của xã hội Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, chúng tôi thật sự lo âu khi thử trả lời những câu hỏi nêu trên.

Từ gần 20 năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục tiêu phát triển đất nước là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây là mục tiêu đúng đắn, có giá trị phổ quát và nước nào cũng muốn nhắm tới. Thế nhưng, hiện thực cho thấy Việt Nam không luôn tiến được theo hướng đó, nếu không nói là trên nhiều mặt Việt Nam đã đi ngược lại. Một bộ phận nhỏ giàu một cách bất hợp pháp, sinh hoạt xa hoa trong khi đa số dân chúng hằng ngày phải vật lộn với cơm áo, với chi phí cho giáo dục, y tế trong cơn lạm phát. Tham nhũng ngày càng trầm trọng, len lách vào mọi ngõ ngách của xã hội làm ảnh hưởng đến ý chí phấn đấu, tinh thần hướng thượng của người dân, và ngày càng có nhiều trường hợp công chức làm mất thể diện quốc gia. Bộ máy công quyền ở các cấp nổi lên quá nhiều người thiếu cả tài lẫn đức đến nỗi một lãnh đạo cấp cao của Đảng phải thừa nhận là bây giờ có quá nhiều “sâu”. Do tham nhũng, thiếu người tài đức gánh vác việc nước nên bộ máy nhà nước có nhiều bất cập. Tiếng nói của trí thức, của các nhà báo chân chính ngày càng mất hiệu quả. Đạo đức xã hội xuống cấp trầm trọng, bắt đầu lan tràn vào cả trong học đường, trong viện nghiên cứu khoa học, là những nơi lẽ ra phải đi đầu về đạo đức.

Năm 1996 Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa, chủ trương phấn đấu làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Từ đó đến nay đã 15 năm, đã đi gần 2/3 đoạn đường dự định mà cái đích còn quá xa vời. Việt Nam chưa có được một ngành công nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới. Chúng ta chủ yếu vẫn còn xuất khẩu hàng công nghiệp gia công, dùng nhiều lao động giản đơn và tùy thuộc sản phẩm trung gian nhập khẩu. Doanh nghiệp nhà nước nhất là tập đoàn kinh tế được dành mọi ưu đãi về vốn và đất nhưng cho đến nay chẳng những không đóng được vai trò chủ đạo như nhà nước chủ trương mà còn gây ra gánh nặng nợ nần và bất ổn cho toàn nền kinh tế.

Nền kinh tế yếu cùng với bộ máy nhà nước nhiều bất cập đã đưa đến một hậu quả nghiêm trọng là Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc. Về kinh tế thì đã quá rõ: Hàng công nghiệp của Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, nhập siêu từ Trung Quốc cao ở mức dị thường, vừa gây bất ổn kinh tế vĩ mô vừa cản trở khả năng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Doanh nghiệp Trung Quốc chiếm phần lớn các gói thầu xây dựng, mua quyền sử dụng lâu dài rừng và bờ biển Việt Nam, đưa lao động vào Việt Nam dưới nhiều hình thức – kể cả bất hợp pháp – và nhiều nơi hình thành cộng đồng người Hoa mới… Về chính trị và tư tưởng, tuy không rõ ràng và dễ nhận biết như trong kinh tế, nhưng sự phụ thuộc là có. Cũng vì gắn bó với Trung Quốc về ý thức hệ, về thể chế chính trị mà ta không triển khai được đường lối ngoại giao khôn ngoan hiệu quả, không tận dụng được sức mạnh thời đại để làm cho dân giàu nước mạnh. Chẳng những thế, lệ thuộc về kinh tế và ngoại giao sẽ dễ dàng dẫn đến việc mất chủ quyền. Điều này đưa đến một thực tế nghiêm trọng: An ninh quốc gia bị đe dọa!

Từ tháng 5 năm nay (2011), vấn đề biển Đông trở nên nổi cộm. Ảnh hưởng của Trung Quốc đến an ninh của ta đã thấy rõ. Thật ra, chuyện Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông lần này không đáng lo bằng sự thâm nhập của họ ngày càng mạnh và sâu vào kinh tế, chính trị và văn hóa của ta. Khi kinh tế ta yếu, bộ máy nhà nước yếu, nền tảng đạo đức xã hội lung lay, Trung Quốc có thể thực hiện được mục tiêu biến Việt Nam thành một nước lệ thuộc toàn diện vào họ.

Chúng tôi, những người có tên trong danh sách dưới đây, vô cùng lo lắng, bức xúc trước nguy cơ Việt Nam bị thụt lùi trong tiến trình phát triển của thế giới mà hậu quả là Việt Nam có thể mất độc lập và tự chủ dưới hình thức này hay hình thức khác. Để tránh nguy cơ này, Đảng Cộng sản Việt Nam, với trọng trách đối với tiền đồ của đất nước, cần cải cách và triệt để đổi mới thể chế, nhằm củng cố và phát huy cao nhất sức mạnh của dân tộc, tận dụng thời cơ quốc tế, để mở ra con đường phát triển mới cho đất nướcNhững nhận định về thực trạng và đề nghị cải cách dưới đây là xuất phát từ bức xúc về nguy cơ hiện nay đối với Việt Nam và ước vọng của chúng tôi về một nước Việt Nam thực sự giàu mạnh, văn minh và tự chủ. Chúng tôi tin rằng, đây cũng chính là ước vọng của toàn dân Việt Nam nói chung.

Trở về mục lục

B. Việt Nam nhìn từ thế giới bên ngoài

Nhìn kinh tế thế giới trong nửa thế kỷ gần đây ta thấy nhiều nước, nhất là những nước ở châu Á, đã phát triển nhanh, rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước, thậm chí có nước đã tiến lên ngang hàng với các nước tiên tiến. Có mấy khi chúng ta xét xem một cách khách quan, nghiêm túc những yếu tố cơ bản, những đặc trưng chung nhất làm cho các nước ấy thành công? Cho đến nay, Việt Nam có nghiên cứu kinh nghiệm các nước nhưng chủ yếu là những chính sách, chiến lược cụ thể, còn những yếu tố thuộc nền tảng thể chế và xã hội, nền tảng văn hóa, giáo dục…, tức là những tiền đề để cho các chính sách, chiến lược cụ thể ấy thành công, thì hầu như không được chú trọng nghiên cứu, hoặc có nghiên cứu nhưng không được thực thi, áp dụng.

Ta thử lấy trường hợp Hàn Quốc làm thí dụ: Hàn Quốc vào đầu thập niên 1960 là nước kém phát triển nhưng sau đó vượt qua giai đoạn phát triển ban đầu và thành công trong giai đoạn phát triển bền vững, trở thành nước tiên tiến trong thời gian rất ngắn. Quá trình công nghiệp hóa của nước này bắt đầu từ năm 1961 nhưng chỉ sau một thế hệ, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp phát triển đáng kể trên thế giới và đến năm 1996 được kết nạp vào Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) là tổ chức của các nước tiên tiến. Từ một nước nhận viện trợ nhiều vào các thập niên 1960 và 1970, Hàn Quốc bắt đầu chuyển sang vị trí của nước đi viện trợ từ cuối thập niên 1980. Hiện nay, nhiều công ty của Hàn Quốc trong các ngành công nghệ cao như điện tử, xe hơi đã vươn lên hàng đầu thế giới.

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về sự thành công của Hàn Quốc ta có thể nêu lên mấy nguyên nhân chính. Thứ nhất là tố chất của người lãnh đạo. Đó là những nhà chính trị mà tinh thần yêu nước vượt qua những niềm tin ý thức hệ, luôn trăn trở về con đường đưa đất nước đuổi kịp các nước tiên tiến. Họ cũng là những người thức thời, biết học hỏi ở đâu, tham khảo thể chế, cơ chế nào và du nhập công nghệ gì để phát triển nhanh. Và họ cũng biết rằng để xây dựng chiến lược phát triển trên cơ sở hiểu rõ nội lực và ngoại lực không thể không dựa vào người tài thật sự. Bởi vậy, chung quanh lãnh đạo toàn người tài giỏi, nhất là nhiều người đã du học và làm việc ở các nước tiên tiến. Thứ hai, với ý thức rằng bộ máy hành chính mạnh, hiệu suất cao mới vạch ra được các chính sách cụ thể và thực thi có hiệu quả các chính sách ấy, Hàn Quốc từ rất sớm đã có cơ chế thi tuyển công chức nghiêm ngặt để có được đội ngũ quan chức tài giỏi, mang trong mình sứ mệnh lo việc nước. Thứ ba, trong quá trình phát triển, Hàn Quốc xây dựng được quan hệ lành mạnh, hiệu quả giữa nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước yểm trợ để doanh nghiệp vươn ra thị trường thế giới nhưng có cơ chế để doanh nghiệp không ỷ lại vào nhà nước như buộc doanh nghiệp phải có thành quả xuất khẩu mới tiếp tục được hỗ trợ. Thứ tư, giáo dục, nghiên cứu khoa học và công nghệ được quan tâm hàng đầu. Vào giữa thập niên 1980, nghĩa là chỉ sau khoảng 25 năm từ khi bắt đầu quá trình phát triển, Hàn Quốc đã có những đại học, những viện nghiên cứu đạt chất lượng thuộc đẳng cấp quốc tế.

Những đặc trưng trên hầu như xuyên suốt trong quá trình phát triển, kể cả giai đoạn đầu, dưới thể chế độc tài chính trị (1961-1987). Hàn Quốc không phải không có tham nhũng, nhưng không tràn lan trong xã hội mà chỉ giới hạn ở một vài chính trị gia và một số ít tập đoàn kinh tế. Đặc biệt hầu như không có hiện tượng bòn rút của công, rút ruột công trình xây dựng, càng không dám lạm dụng, lãng phí tiền viện trợ.

Trong 50 năm qua, những nền kinh tế khác tại châu Á phát triển nhanh trong thời gian dài như Đài Loan, Malaysia, Thái Lan cũng đều có những đặc trưng giống Hàn Quốc, tuy nội dung chi tiết có khác và thành quả ít ấn tượng hơn.

Bây giờ nhìn lại trường hợp Việt Nam. Năm 2008, lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới. Nhưng ta đã mất gần 35 năm kể từ khi đất nước thống nhất, nếu kể từ khi đổi mớicũng gần một thế hệ mới đạt được thành quả khiêm tốn đó. Mặt khác, cơ chế, chính sách trong thời gian qua, đặc biệt trong 4-5 năm gần đây, đã làm cho kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào vốn, hiệu quả đầu tư giảm và kéo theo lạm phát, lãng phí. Chất lượng phát triển cũng giảm nghiêm trọng: môi trường xuống cấp, phân hóa giàu nghèo tăng nhanh. Từ thành quả khiêm tốn và chất lượng phát triển thấp này, liệu từ nay Việt Nam có thể bắt đầu giai đoạn phát triển bền vững và kéo dài trong nhiều thập niên để thực sự có dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, có vị trí xứng đáng trong khu vực châu Á và trên thế giới?

Cũng theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới, tính theo giá năm 2009, thu nhập đầu người 4.000 USD là cái mốc của nước thu nhập trung bình cao và 12.000 USD là mốc vượt lên hàng các nước thu nhập cao. Ở châu Á, Hàn Quốc từ một nước nghèo đã vươn lên hàng các nước thu nhập cao chỉ trong 4 thập niên (thu nhập đầu người năm 2009 là 17.000 USD). Malaysia (7.000 USD) và Thái Lan (4.000 USD) đang nỗ lực tạo điều kiện để trở thành nước tiên tiến, có thu nhập cao trong vòng hai thập niên tới.

Chỉ kể từ thời kỳ sau đổi mới, Việt Nam đã nhận viện trợ gần 20 năm rồi mà chưa thấy lãnh đạo Việt Nam đưa ra kế hoạch tới bao giờ sẽ không còn nhận viện trợ. Ngược lại, ở Hội nghị các nhà tài trợ mới đây, chính phủ còn nhấn mạnh Việt Nam vẫn là nước nghèo, cần thế giới tiếp tục quan tâm, giúp đỡ! Sang Seoul gặp sinh viên ta đang du học ở đấy sẽ nghe họ buồn rầu nói về hình ảnh Việt Nam tại Hàn Quốc. Trong khoảng 95.000 người Việt Nam tại đây thì 60.000 là lao động xuất khẩu và 30.000 là phụ nữ sang lấy chồng vì lý do kinh tế. Vậy thì hình ảnh Việt Nam ở đây làm sao tốt được? Trí thức nước ngoài hiện nay khi nói về Việt Nam ít có ai lạc quan về tương lai kinh tế nước ta. Đó là họ mới chỉ thấy tình trạng tham nhũng, trình độ của quan chức mà họ tiếp xúc và những chính sách bất cập mà họ thấy được.

Phân tích trong phần tiếp theo cho thấy thực trạng đáng lo ngại về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học & công nghệ và đối ngoại, cũng như những nguyên nhân chính đã đưa đến trình trạng đó.

Trở về mục lục

C. Việt Nam hiện nay: Thực trạng và nguyên nhân

Phân tích hiện trạng Việt Nam, chúng tôi thấy có quá nhiều vấn đề đang làm cho nền tảng xã hội bị lung lay, đất nước suy yếu. Hầu hết những vấn đề đó bắt nguồn từ thể chế và cơ chế.

1. Về kinh tế

Hiện nay trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam tuy hàng công nghiệp chiếm khoảng 60% nhưng chủ yếu vẫn là những ngành dùng nhiều lao động giản đơn. Thêm vào đó, sản xuất các mặt hàng này phải phụ thuộc vào nguyên liệu và sản phẩm trung gian nhập khẩu. Các loại máy móc, những sản phẩm có hàm lượng kỹ năng lao động cao chỉ chiếm khoảng 10% tổng xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào nông sản, nguyên liệu. Từ năm 2002 nhập siêu của Việt Nam tăng nhanh và gần đây khuynh hướng này càng mạnh hơn. Nhập siêu quá lớn đang gây ra bất ổn vĩ mô.

Trong 5 năm qua, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đi theo hướng hầu như mở toang cửa nền kinh tế mà không kèm theo việc thiết lập một hệ thống pháp lý cần thiết nhằm giám sát các mặt trái của nền kinh tế thị trường. Kết quả là Việt Nam đã vô tình xây dựng và củng cố một nền kinh tế tư bản hoang dã phục vụ các nhóm lợi ích (nhất là các tập đoàn kinh tế), phá hoại tài nguyên thiên nhiên, bòn rút của công làm giàu cho cá nhân trong khi lao động chân chính phải khổ sở với đồng lương thấp trước sự leo thang của vật giá.

Từ năm 2006 Việt Nam cho phép lập các tập đoàn kinh tế nhưng không đi kèm quy định giám sát cần thiết cũng như điều kiện buộc phải xác lập hệ thống quản lý doanh nghiệp, minh định rõ trách nhiệm và quyền hạn của lãnh đạo công ty. Điều này đã đưa đến hậu quả nghiêm trọng, trở thành một trong những nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng hiện nay. Sự đổ vỡ của Vinashin cho thấy bản chất của các tập đoàn kinh tế.

Chính sách phân quyền xuống địa phương đã không phát huy được sức sáng tạo và cạnh tranh để phát triển mà ngược lại, mở cửa cho những người có chức có quyền ở địa phương lợi dụng cơ hội đào khoét tài nguyên đất nước để làm giàu cá nhân, kể cả việc giao đất và tài nguyên cho nước ngoài khai thác ở những nơi trọng yếu về an ninh và quốc phòng. Luật Đất đai coi đất đai là sở hữu công, do đó dành cho chính quyền quyền thu hồi đất của bất cứ ai. Luật lại giao quyền này cho Ủy ban Nhân dân ở mọi cấp, xuống tận cấp quận, huyện, với giá do chính Ủy ban Nhân dân quyết định nhằm mục đích “phát triển kinh tế”. Đây chính là lý do nhiều đất đai mầu mỡ của nhân dân bị thu hồi để làm khu phát triển công nghiệp, sân gôn, hay xây nhà kinh doanh. Do được phân quyền, nhiều địa phương giao đất rừng, hầm mỏ cho công ty Trung Quốc khai thác trong 50 năm, kể cả những vùng nhạy cảm về an ninh mà trung ương không biết. Ngoài ra, tình trạng thu hồi đất có tính cách cưỡng chế đã giải thích tại sao có quá nhiều vụ dân oan liên quan đến đất đai.

Chính sách phân quyền hoàn toàn hợp lý để tạo sự chủ động, sáng tạo cũng như nhằm giải quyết các vấn đề riêng của địa phương, kể cả tạo cạnh tranh giữa địa phương này và địa phương khác. Nhưng thực tế các yếu tố tích cực đó đã không phát huy tác dụng, ngược lại chỉ làm nảy sinh các mặt tiêu cực. Tại sao như vậy? Đó là do năng lực yếu kém và thiếu tinh thần trách nhiệm của nhiều lãnh đạo địa phương như sẽ nói dưới đây.

Quy hoạch phát triển cũng là vấn đề đáng lo ngại của ta. Nhìn chung, cho đến nay quy hoạch nặng tính chất áp đặt, nóng vội, duy ý chí, thiếu thiết kế tổng thể và nhiều khi thiếu tính chuyên nghiệp. Những yếu kém này thể hiện ở nhiều lĩnh vực. Trong phát triển đô thị thì đó là việc quy hoạch vội vã, thiếu khoa học dẫn đến tình trạng ùn tắc giao thông liên tục và kéo dài, ngập úng do mưa, đào đường, đắp đường, chắn lô cốt … ở khắp mọi nơi. Trong đầu tư thì đó là tình trạng đầu tư theo phong trào, tràn lan kém hiệu quả như việc đầu tư trong nhiều dự án về kết cấu hạ tầng, về nhiều dự án phát triển công nghiệp và dịch vụ kém hiệu quả. Việc quy hoạch phát triển yếu kém dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên cạn kiệt, ồ ạt, chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không tính đến hiệu quả lâu dài; không xét đầy đủ đến tất cả các khía cạnh liên quan đến hiệu quả kinh tế, văn hóa, môi trường, v.v. Nhiều cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hóa bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đặc biệt môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Điển hình của việc này là nhiều dòng sông đã và đang bị các công ty đua nhau “bức tử”. Nguồn nước sinh hoạt, nước trong các ao hồ từ các thành phố lớn đến nông thôn cũng bị ô nhiễm ở rất nhiều nơi. Chính do ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, ở nhiều vùng đã xuất hiện những “làng ung thư”. Điều này gióng lên hồi chuông cảnh báo cấp bách và đòi hỏi chính quyền phải có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa trong việc bảo vệ môi trường và chất lượng nguồn nước. Ngoài ra, ô nhiễm không khí cũng ở trạng thái báo động và ô nhiễm ở các làng nghề cũng ở mức nguy hiểm.

Nguyên nhân của tình trạng này là do thiếu nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của quy hoạch, do khả năng hạn chế của chính quyền địa phương, và không loại trừ những toan tính tư lợi hoặc lợi ích cục bộ của những người có trách nhiệm.

Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình hình kinh tế như hiện nay? Chúng tôi cho là có ba nguyên nhân sâu xa.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì phương châm xây dựng “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trong đó chủ trương vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước, của kinh tế nhà nước. Từ khi có phương châm này (1991), do sự thuyết phục của những người có tư tưởng cải cách, nội dung có thay đổi một phần nhưng cái cốt lõi vẫn giữ nguyên mà hiện thân của nó là các tập đoàn kinh tế do nhà nước lập ra. Nhiều tập đoàn kết nối với một số lãnh đạo làm thành những nhóm lợi ích chi phối chính sách kinh tế. Khi có sai phạm các lãnh đạo đó bám theo phương châm nói trên của Đảng để trốn trách nhiệm.

Thứ hai, trong cơ quan nhà nước, trách nhiệm cá nhân không rõ ràng và thiếu động cơ để quan chức, lãnh đạo các bộ phấn đấu để bộ mình giải quyết các vấn đề lớn của đất nước. Ngược lại, ta thấy nhiều trường hợp họ chạy theo những hoạt động ngoài công việc mình phụ trách, lãng phí thì giờ và công quỹ. Có bộ trưởng phụ trách kinh tế trong lúc kinh tế khủng hoảng lại dành thời gian hướng dẫn nghiên cứu sinh viết luận án tiến sĩ, vốn là việc của giáo sư đại học. Có cục trưởng phụ trách vấn đề giá cả trong lúc lạm phát người dân khốn đốn lại bỏ đi đóng phim! Suốt trong hơn 10 năm qua, ai cũng thấy rõ công nghiệp Việt Nam thiếu sức cạnh tranh, hàng hóa của Trung Quốc ào ạt tràn vào nước ta, doanh nghiệp nhỏ và vừa không phát triển được, v.v. Cũng đã có rất nhiều đề án, chiến lược được trí thức trong và ngoài nước đưa ra, kể cả phân tích của học giả nước ngoài và các cơ quan quốc tế, nhưng tất cả đều bị xếp lại, không được chuyển thành chính sách để thực hiện.

Thứ ba, một phần liên quan đến vấn đề thứ hai vừa đề cập, trình độ, năng lực, tư cách của rất nhiều quan chức các cấp ở trung ương và địa phương không đạt yêu cầu. Rất tiếc chúng ta chưa chứng kiến những hình tượng lý tưởng của nhà cầm quyền “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, còn người ngược lại thì quá nhiều. Trong cơn bão giá làm dân chúng điêu đứng mà trách nhiệm chính ở những bộ liên quan, nhưng tiền mua xe hơi của quan chức cao cấp được tăng lên và được giải thích đó là chính sách đối phó với giá cả leo thang! Thí dụ tương tự về sự vô cảm, vô trách nhiệm của quan chức thì quá nhiều. Hậu quả tiêu cực của chính sách phân quyền đã nói phần lớn là do trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn và tư chất đạo đức của các chức trách địa phương. Chúng ta nghe nhiều về các hiện tượng tiêu cực ở địa phương hơn là những điển hình tiên tiến, ít thấy những lãnh đạo dấn thân vì dân giàu nước mạnh ở địa phương mình. Hiện tượng đưa người thân quen vào bộ máy công quyền rồi trang bị thêm bằng cấp đạt được bằng con đường bất minh cũng làm suy yếu bộ máy hành chính ở rất nhiều nơi

Trở về mục lục

2. Về văn hóa

Văn hóa, đạo đức xã hội đang suy thoái trầm trọng. Chưa khi nào tin tức về tệ nạn xã hội lại có mật độ dày đặc như hiện nay. Dường như, cái xấu và cái ác đang hoành hành ngoài xã hội và tràn lên mặt báo mỗi ngày. Kỷ cương, phép nước bị coi thường, tính tự giác tôn trọng pháp luật và các quy ước xã hội và văn hóa rất thấp. Mê tín dị đoan lên ngôi, không chỉ ở tầng lớp đại chúng mà ngay ở cả một số cán bộ cao cấp ở các cơ quan công quyền. Hiện tượng “buôn thần bán thánh” trở thành phổ biến. Những chuẩn mực về văn hóa, những giá trị phổ quát như chân-thiện-mỹ đã bị sự giả dối, cái xấu và cái ác bóp nghẹt không nhân nhượng.

Hệ quả của điều này là các thang giá trị trong xã hội bị đảo lộn. Sự tự trọng, danh dự đã bị sự giảo hoạt, gian dối lấn át. Người ta sẵn sàng làm đồ giả để dâng cúng Quốc tổ, Quốc mẫu; sẵn sàng tranh cướp trong các lễ hội hoa; sẵn sàng túc trực chen lấn xô đẩy đến hỗn loạn trong lễ hội phát ấn.

Chưa bao giờ, nhân phẩm của con người có thể bị xúc phạm dễ dàng và tính mạng của con người có thể bị coi rẻ như vậy. Những vụ đánh giết nhau với hung khí xảy ra thường xuyên, nhiều khi chỉ vì những nguyên nhân không đâu. Không chỉ giữa những người dân bình thường với nhau, mà còn cả giữa đại diện của cơ quan công quyền với dân chúng. Vốn văn hóa dân tộc trở nên mỏng manh hơn bao giờ hết trước sự tấn công của văn hóa ngoại, đặc biệt là văn hóa Trung Quốc dưới mọi hình thức, thể loại.

Một điều hết sức đáng băn khoăn là thế hệ thanh thiếu niên đang lớn lên trong một môi trường thiếu hình mẫu cá nhân về lý tưởng và đạo đức, do vậy dễ quen một cách tự nhiên với các thói xấu như quay cóp, gian lận thi cử, đạo văn, hối lộ… Tính vị kỷ được đề cao, đi liền cùng sự thờ ơ với các vấn đề của xã hội, của đất nước.

Nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng suy thoái đạo đức, văn hóa này là sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan chức năng; sự băng hoại, tha hóa của nhiều công chức qua việc tham nhũng và hối lộ; và sự kiểm soát báo chí và truyền thông, – vũ khí mạnh nhất để chống lại tham nhũng, bất công, giả dối, ác độc – đã làm cho công luận bị hạn chế và vô hiệu hóa.

Trở về mục lục

3. Về giáo dục

Giáo dục là vấn đề được toàn xã hội Việt Nam quan tâm nhất từ nhiều năm nay. Từ cuối thập niên 1990 nhà nước đã đưa giáo dục lên quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế thì tình hình giáo dục ngày càng tụt hậu, sa sút, nhất là trong những năm gần đây. Một vài điểm nổi bật dễ thấy của giáo dục Việt Nam trong những năm qua như sau.

Một là chất lượng đào tạo sút kém, từ bậc phổ thông đến đại học và càng lên cao chất lượng càng yếu. Nhìn tổng thể, giáo dục Việt Nam chưa đào tạo đủ những người có kiến thức và năng lực để đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước. Nhân lực đào tạo ra ở cuối bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề còn ở khoảng cách xa với đòi hỏi thực tế của các ngành nghề và xã hội.

Hai là hệ thống giáo dục phổ thông gây ra nhiều hiện tượng làm bức xúc trong xã hội như tổ chức quá nhiều kỳ thi, lãng phí sức người, sức của; dạy thêm, học thêm tràn lan; chương trình giáo dục và sách giáo khoa luôn thay đổi nhưng chất lượng không được cải thiện. Ngoài ra, bệnh thành tích và các tệ nạn tham nhũng trong giáo dục hết sức phổ biến.

Ba là giáo dục đại học có chất lượng nói chung còn thấp, gần đây lại phát triển hỗn loạn với nhiều trường tư chạy theo lợi nhuận lại được cấp phép bừa bãi, không đáp ứng một quy hoạch có cân nhắc nào. Tình trạng nói trên dẫn đến hiện tượng “tị nạn giáo dục”, khi những người giàu có ở Việt Nam, kể cả các quan chức trong Đảng và chính phủ, đều tìm cách cho con em ra nước ngoài học, thậm chí từ cấp phổ thông.

Bốn là bằng cấp trở thành mục đích, là cứu cánh của cả xã hội, và các tệ nạn học vẹt, học tủ, bằng giả, gian lận trong thi cử, … không hề được bài trừ một cách kiên quyết. Nhiều quan chức bị tố cáo trên báo chí về việc dùng bằng giả hay gian lận thi cử rồi cũng được bỏ qua, thậm chí được bổ nhiệm chức vị cao hơn. Hiện tượng mua bằng, sao chép luận án, thuê viết luận án, v.v. đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức học đường nói riêng và toàn xã hội nói chung.

Năm là chế độ phong chức danh phó giáo sư và giáo sư ở đại học còn nhiều bất cập. Các tiêu chuẩn phong chức danh hiện nay không khuyến khích nhà giáo đại học hướng đến những nghiên cứu khoa học đích thực, có ý nghĩa mà thường làm những việc để dễ có “điểm” theo quy định không đâu có của việc phong chức danh. Ngoài ra, các chức danh này lẽ ra chỉ dành cho người giảng dạy đại học hoặc nghiên cứu khoa học, nay được phong ở nhiều ngành cho nhiều người vốn không có vị trí giảng dạy đại học hay nghiên cứu ở cơ quan khoa học, làm cho nhiều quan chức hành chính nhảy vào tham gia công việc của đại học một cách không thích đáng.

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa sút của giáo dục đã được bàn luận rộng rãi, chúng tôi cho rằng các nguyên nhân sau đây là chính yếu.

Một là giáo dục của Việt Nam trong những năm qua thiếu một tầm nhìn chiến lược tổng thể; thiếu kiên quyết theo đuổi một triết lý giáo dục xác định; thiếu kế hoạch đồng bộ từ cơ cấu tổ chức đến triển khai các hoạt động giáo dục; ở rất nhiều nơi, sự cứng nhắc và áp đặt của hệ thống chính trị đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động giáo dục. Thêm nữa là nội dung giáo dục nặng nề, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi mới; và trên hết là thiếu những người lãnh đạo ngành giỏi cùng một đội ngũ quản lý giáo dục hiệu quả. Những cố gắng thay đổi của ngành giáo dục trong những năm qua thường mang tính vụn vặt, chắp vá, nhiều khi do quyết định vội vã của một vài cá nhân và càng làm tình hình thêm rối.

Hai là lương của giáo viên quá thấp làm họ không thể vô tư toàn tâm toàn ý với công việc. Do giáo viên phải tự bươn chải trong một xã hội cha mẹ sẵn sàng làm mọi việc cho sự học của con cái, nhiều tiêu cực đã nảy sinh, ảnh hưởng đến tư cách và hình ảnh người thầy, vốn là điều kiện tiên quyết cho thành bại của giáo dục.

Trở về mục lục

4. Về y tế

Tình trạng bệnh tật và y tế của nước ta thật hết sức đáng lo.

Số người chết vì tai nạn giao thông làm nhức nhối xã hội, nhưng nguyên nhân tử vong trong các bệnh viêm phổi, viêm họng, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn, cúm, sốt rét còn cao hơn nhiều. Mẫu số chung của các bệnh này là tình trạng thiếu dinh dưỡng vì nghèo khó, là môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, là sự bất cập trong chính sách về y tế và thiếu đạo đức nghề nghiệp của người thầy thuốc.

Dịch vụ y tế ở Việt Nam có phát triển trong những năm vừa qua (số lượng cán bộ nhà nước làm về y tế tăng xấp xỉ 40% trong giai đoạn 1995-2009, và có thêm nhiều cơ sở y tế tư nhân xuất hiện), nhưng tình trạng quá tải ở các bệnh viện công, với hiện tượng 2-3 người phải nằm chung một giường bệnh ở nhiều nơi, không giảm đi mà thậm chí có phần tăng lên. Lý do là, tuy dịch vụ y tế tăng lên, nhưng bệnh tật ở Việt Nam còn tăng nhanh hơn. Ví dụ, nếu năm 2000 cứ 100 nghìn người có 242 ca ung thư, thì đến năm 2010 con số này đã tăng lên thành 315 ca, so với trung bình trên thế giới là dưới 200 ca. Nếu như trong giai đoạn 2002-2006 cứ 100 người thì có 9 lượt nhập viện trong năm, thì đến năm 2009 con số đó đã tăng hơn 30% thành 12 lượt nhập viện, thuộc loại cao nhất trên thế giới. Tỷ lệ bệnh tật tăng nhanh là cái giá mà Việt Nam đang phải trả cho kiểu phát triển kinh tế thiếu bền vững, thói làm ăn giả dối dẫn đến môi trường bị ô nhiễm và thực phẩm độc hại.

Tương tự như đối với ngành giáo dục, nhà nước ở trung ương và địa phương chưa chú tâm đầu tư đúng mức đến ngành y tế, trong khi tiếp tục lãng phí trong việc xây dựng nhiều công trình không hoặc chưa cần thiết. Tỷ lệ chi phí mà nhân dân phải tự bỏ ra cho dịch vụ y tế tăng lên nhanh. Nhiều người nghèo có bệnh không được nhập viện, hay phải trốn viện vì không có tiền đóng viện phí. Lương chính thức trả cho các y bác sĩ không đủ sống và không xứng đáng với địa vị của họ. Những điều này góp phần làm cho các tệ nạn tiêu cực, sự suy đồi về đạo đức lan tràn vào trong ngành y tế. Người thầy giáo và người thầy thuốc vốn là những người được xã hội ta tôn trọng từ xưa, nhưng sự suy thoái về đạo đức đã làm phai nhạt đi truyền thống tốt đẹp này.

Trở về mục lục

5. Về khoa học và công nghệ

Có thể nói những đặc điểm chính của khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam trong mấy chục năm qua là sự đóng góp còn rất hạn chế của KH&CN vào công cuộc phát triển đất nước; lực lượng làm KH&CN được đào tạo nhiều nhưng không làm việc hiệu quả; các chính sách và cách thức tổ chức hoạt động KH&CN còn nhiều bất cập.

Có thể tóm tắt những điểm nổi bật của bức tranh tổng quát về tình trạng khoa học và công nghệ của Việt Nam hiện nay, như sau:

Thứ nhất, có thể nói hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN ở Việt Nam còn mờ nhạt: hoạt động nghiên cứu KH&CN có chất lượng thấp và KH&CN chưa có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển đất nước.

Chất lượng thấp này có thể thấy rõ qua các thước đo khách quan như số lượng các công trình công bố trên các tập san khoa học quốc tế uy tín và số bằng phát minh sáng chế. Trong 10 năm qua, số lượng công bố của các nhà khoa học Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Thái Lan và 2/5 của Malaysia. Hơn nữa, ở nhiều lĩnh vực, phần lớn những nghiên cứu này là do hợp tác với nước ngoài, tức còn phụ thuộc vào “ngoại lực” quá nhiều. Trong giai đoạn 2000-2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng phát minh, trong khi cùng thời gian này Malaysia có 901 bằng phát minh. Thái Lan (310), Philippines (256) và Indonesia (85) cũng đều có số bằng phát minh nhiều hơn Việt Nam nhiều lần.

Ứng dụng và sáng tạo KH&CN trong sự phát triển của Việt Nam còn mờ nhạt, chưa tương xứng với lực lượng đông đảo cán bộ KH&CN được đào tạo và chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội. Kinh phí đầu tư, chính sách và cách quản lý chưa cho thấy KH&CN khó có thể trở thành yếu tố quyết định để Việt Nam thoát ra khỏi nhóm quốc gia chủ yếu chỉ sản xuất sản phẩm đơn giản hay gia công hàng hóa. Hiện tại, phần lớn doanh nghiệp làm ăn chưa dựa trên KH&CN và hầu hết không có liên kết chặt chẽ với các cơ sở KH&CN.

Thứ hai là số người được đào tạo để hoạt động KH&CN tuy rất đông với nhiều bằng cấp, nhưng phần lớn không thật sự hoạt động KH&CN, mà lay lắt hoặc “chân trong chân ngoài” với danh nghĩa làm KH&CN.

Có thể nêu ra một số nguyên nhân chính của tình trạng trên:

Một là, Việt Nam thiếu một chiến lược KH&CN thích hợp nên chưa xác định được lộ trình của KH&CN, và tập trung vào những hướng quan trọng rất cần cho phát triển đất nước và có thể tạo ra thành quả ý nghĩa. Hạn chế này có phần do việc thiếu các chuyên gia đầu đàn ở mức độ am hiểu sâu sắc lĩnh vực chuyên môn, có kinh nghiệm và uy tín quốc tế, có thể lãnh đạo được những tập thể khoa học. Một nguyên nhân của tình trạng trên là: Tuy số lượng cán bộ KH&CN của ta được đào tạo nhiều, nhưng hầu hết chỉ ở mức vừa xong giai đoạn học việc (như có bằng tiến sĩ mới là xong giai đoạn học để thành người làm nghiên cứu), thường không được rèn luyện thêm trong môi trường KH&CN phát triển để thành nhà khoa học trưởng thành.

Hai là, các nhà khoa học Việt Nam chưa có được môi trường KH&CN thích hợp để có thể làm việc và sáng tạo. Môi trường này gồm ba yếu tố cơ bản: điều kiện làm việc đủ tốt, lương đủ sống để tập trung cho công việc, các chính sách hợp lý có tác dụng kích thích tinh thần sáng tạo, dấn thân vì khoa học. Điều kiện làm việc ở phần lớn các đại học và các viện nghiên cứu của Việt Nam nói chung còn thiếu thốn, chưa đủ để tiến hành nhiều đề tài quan trọng và tiên tiến trong khoa học. Một số nơi có trang thiết bị tốt, lại không giải quyết được vấn đề tiền lương. Tiền lương của người làm khoa học thấp vừa ảnh hưởng đến nội dung, chất lượng nghiên cứu vừa gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, người có năng lực nghiên cứu cũng không chuyên tâm với nghề mà phải xoay xở tìm thêm thu nhập ngoài lương.

Nhiều chính sách và cách quản lý đề tài KH&CN chưa hợp lý cũng góp phần làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của nghiên cứu. Thí dụ tiêu biểu như cách tổ chức đề tài khoa học còn nặng tính xin-cho, làm nhiều người làm nghiên cứu mất nhiều thì giờ chạy dự án; việc tuyển chọn và nghiệm thu đề tài thiếu nghiêm túc nên rất nhiều đề tài không có ý nghĩa và giá trị khoa học. Những quy định, tiêu chuẩn hiện nay về việc phong các chức danh giáo sư, phó giáo sư không khuyến khích các nhà khoa học hướng đến những nghiên cứu quan trọng và thách thức, có giá trị khoa học cao hoặc cần cho sự phát triển, mà dễ hướng đến những nghiên cứu dễ làm, những nơi dễ công bố để có đủ “điểm” thỏa mãn các tiêu chuẩn phong chức danh, vốn không có ở bất kỳ nước nào khác. Đây thật sự là những điều rất không hợp lý đã được nhiều nhà khoa học góp ý gần hai chục năm, nhưng không được thay đổi.

Người làm nghiên cứu trong ngành khoa học xã hội còn luôn nỗi ám ảnh sợ “chệch hướng”, mất lập trường, nên nói chung sáng tạo bị hạn chế, khoảng cách so với cộng đồng khoa học thế giới càng lớn. Ngoài ra, ngược với yêu cầu rất cao về sự bình đẳng, sự tự do tư duy của môi trường khoa học, việc mất dân chủ ở các cơ quan khoa học thường rất lớn, nhiều trường hợp nội bộ mâu thuẫn, giành giật địa vị, hoàn toàn không xứng đáng với phẩm vị của người làm khoa học.

Trở về mục lục

6. Về quan hệ đối ngoại

Sau khi gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Việt Nam mở rộng quan hệ ngoại giao, kinh tế và giao lưu văn hóa với hầu hết các nước. Sau năm 2000, quan hệ đó được đẩy mạnh thêm một bước bằng Hiệp định thương mại Việt Mỹ và gia nhập WTO. Cùng với trào lưu toàn cầu hóa, kinh tế Việt Nam hội nhập mạnh mẽ vào dòng chảy của thế giới, các quan hệ đối ngoại khác cũng nhộn nhịp hơn trước.

Có thể ghi nhận nhiều mặt tích cực của hiện tượng đó. Chẳng hạn xuất khẩu sang thị trường lớn nhất thế giới (Mỹ) được đẩy mạnh, cơ hội du học của sinh viên Việt Nam tăng nhanh, giành được vị trí trong các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC, WTO. Nhưng nhìn kỹ ta thấy những mặt tiêu cực lớn hơn nhiều, rất đáng lo ngại.

Theo chúng tôi, so với thời mới đổi mới, mở cửa (đầu thập niên 1990), hình ảnh Việt Nam trên thế giới xấu đi nhiều. Tham nhũng lan ra cả trong các quan hệ quốc tế. Chỉ kể những sự kiện lớn (như dự án ODA của Nhật, vụ in tiền polymer ở Úc,…) cũng thấy thể diện đất nước bị tổn thương nhiều. Các vụ nhỏ hơn thì nhiều vô kể, chỉ cần gặp những doanh nhân nước ngoài có kinh nghiệm làm việc ở Việt Nam là biết rõ. Điều đáng nói là nhà nước Việt Nam đã không có thái độ thích đáng, không xử lý nghiêm những sự kiện bị nước ngoài chỉ trích. Điển hình là vụ in tiền polymer, báo chí nước ngoài nhiều lần nêu tên thật của cựu thống đốc ngân hàng nhà nước mà cả đương sự và chính phủ đều giữ im lặng. Là người Việt Nam có ý thức dân tộc ai cũng thấy hổ thẹn về sự kiện này.

Nhìn sang lĩnh vực đầu tư nước ngoài, ta thấy nổi bật lên sự hiện diện rất lớn của Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và gần đây là Trung Quốc. So với các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật, Pháp,.. thì những nước mới nổi, mới phát triển chưa có nhiều những công ty đa quốc gia tầm cỡ; chưa có công nghệ cao; chưa coi trọng sự minh bạch, hoạt động đúng theo luật và nhất là giữ thanh danh đã được xác lập của mình. Không ít trường hợp các công ty của những nước mới nổi tạo những quan hệ bất chính với quan chức nhà nước Việt Nam, nhất là với chính quyền địa phương, để được cấp các dự án béo bở. Chúng tôi rất lo ngại khi thấy nhà nước Việt Nam quá dễ dãi để cho tư bản nước ngoài đầu tư ồ ạt vào việc xây dựng các khu nhà ở quy mô lớn, các khu du lịch, sân gôn, v.v. và hình thành những cộng đồng người Hàn, người Hoa trên đất nước mình. Trong khi giới doanh nhân trong nước còn non yếu, chưa có khả năng làm chủ đất nước và cuộc sống của tuyệt đại đa số người dân còn nhiều khó khăn, liệu có nên để cho nước ngoài xây dựng những vùng đặc biệt như vậy? Trong nhiều năm qua, đầu tư nước ngoài triển khai ồ ạt ở Việt Nam mà cơ cấu công nghiệp không chuyển dịch lên cao hơn, không tạo ra được những mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao.

Trong chiều hướng chung ấy, quan hệ với Trung Quốc là đáng lo nhất. Đầu tư của Trung Quốc chưa nhiều bằng những nước nói trên nhưng sự hiện diện của Trung Quốc trong những hình thái khác đang làm Việt Nam mất dần chủ quyền trong nhiều lĩnh vực. Nếu tình hình hiện tại không thay đổi thì đầu tư trực tiếp từ Trung Quốc sẽ tăng nhanh, không bao lâu sẽ chiếm vị trí số một tại Việt Nam.

Hiện nay, quan hệ ngoại thương Việt Trung gây ra bất ổn kinh tế vĩ mô của Việt Nam, tiềm ẩn nguy cơ về an ninh kinh tế và gây khó khăn trên con đường công nghiệp hóa của ta. Mậu dịch giữa hai nước tăng nhanh từ năm 2000 nhưng ngày càng mất quân bình. Do nhập khẩu tăng nhanh, nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc ngày càng mở rộng. Hiện nay nhập siêu của Việt Nam đối với thế giới chủ yếu là nhập siêu với Trung Quốc.

Nhìn cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc ta thấy nguyên liệu và nông sản phẩm chiếm vị trí áp đảo. Cơ cấu này hầu như không thay đổi trong 10 năm qua. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc thì hầu hết là hàng công nghiệp. Các loại máy móc và các sản phẩm trung gian như sắt thép, thậm chí các loại vải để dệt may là những mặt hàng nhập khẩu chính. Theo Hiệp định thương mại ASEAN – Trung Quốc, đến năm 2015 Việt Nam sẽ bãi bỏ hàng rào quan thuế trên hầu hết các mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, tình hình sẽ càng bi đát hơn nữa. Con đường công nghiệp hóa của Việt Nam sẽ rất khó khăn. Nhưng chính phủ Việt Nam không thấy nguy cơ đó dù đã được trí thức trong và ngoài nước cảnh báo nhiều lần. Ngược lại nhà nước còn cho tiến hành khai thác bô-xit để xuất khẩu sang Trung Quốc làm cho cơ cấu ngoại thương hiện nay đã bất lợi càng trở nên bất lợi hơn. Cần nói thêm rằng tính chất của ngoại thương Việt Trung hiện nay là quan hệ của một nước tiên tiến với một nước chậm phát triển. Tính chất này vừa tạo ra khó khăn cho kinh tế Việt Nam vừa làm hình ảnh Việt Nam trên thế giới xấu đi nhiều.

Thách thức từ Trung Quốc không chỉ trong ngoại thương. Các công ty Trung Quốc thắng thầu phần lớn các dự án trọng điểm quốc gia của Việt Nam. Trung Quốc với lối làm ăn không minh bạch, sẵn sàng mua chuộc, lại quả, nên dễ thắng phần lớn các gói thầu lớn ở Việt Nam. Theo ước tính, Trung Quốc chiếm khoảng 50% giá trị thầu trong vòng 10 năm nay, đặc biệt Trung Quốc thắng thầu tới 90% các dự án trọng điểm về điện, dầu khí, viễn thông, cơ khí, hóa chất và 100% dự án khai khoáng. Trong việc thực hiện các dự án này, Trung Quốc đưa nhiều lao động đi theo, kể cả các hình thức bất hợp pháp, thậm chí hình thành những khu cư trú đặc biệt cho người Hoa. Ngoài ra, nhiều chính quyền địa phương còn cho công ty Trung Quốc thuê rừng, thuê bờ biển hàng nửa thế kỷ, kể cả những nơi nhạy cảm nhìn từ góc độ an ninh quốc gia.

Một vấn đề nữa là Việt Nam ngày càng vay nợ từ Trung Quốc. Theo số liệu chính thức của Bộ Tài chính Việt Nam, nợ từ Trung Quốc tăng rất nhanh, gấp 10 lần trong 4 năm gần đây (1,4 tỉ USD năm 2009). Nếu khuynh hướng này tiếp tục, chẳng bao lâu Trung Quốc sẽ trở thành chủ nợ lớn nhất và lớn áp đảo đối với Việt Nam.

Quan hệ Việt Trung cũng ảnh hưởng nhiều đến đường lối đối ngoại của Việt Nam. Vấn đề này sẽ được bàn riêng trong một mục ở phần D.

Trong thời đại hội nhập, quan hệ đối ngoại của Việt Nam như được trình bày trên đây hoàn toàn không lành mạnh, ảnh hưởng đến con đường phát triển sắp tới của Việt Nam và tiềm ẩn nguy cơ mất chủ quyền. Yếu tố nào gây ra tình trạng đáng lo này? Có thể kể hai nguyên nhân chính:

Thứ nhất, nội lực của Việt Nam quá yếu nên khi hội nhập với thế giới không hoặc ít tranh thủ được thời cơ từ ngoại lực để phát triển, ngược lại bị ngoại lực chi phối. Thị trường Trung Quốc lớn và rộng nhưng hàng hóa của Việt Nam không chen vào được. Nội lực yếu vì sao? Vì trình độ của nhiều lãnh đạo và quan chức có hạn, không ít trường hợp họ không vì dân vì nước mà vì lợi ích riêng, sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài dù thấy bất lợi cho xã hội, cho đất nước. Mở tung cửa thị trường cho hàng hóa và tư bản nước ngoài mà không định hướng để phát triển những ngành mới và có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, không đi kèm các luật lệ, quy định cần thiết để giám sát cũng là một biểu hiệu yếu kém của nội lực.

Thứ hai, trong lúc nội lực của Việt Nam còn quá yếu, quan hệ “đặc biệt” với Trung Quốc càng làm cho Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào nước này. Kinh tế Trung Quốc lớn, mạnh áp đảo, phát triển nhanh, và lại ở cận kề Việt Nam, trong khi kinh tế Việt Nam nhỏ yếu, phát triển chậm hơn mà Việt Nam lại sẵn sàng đồng ý “hợp tác toàn diện” (4 trong 16 chữ vàng), tạo mọi điều kiện để hợp tác toàn diện thì dẫn đến kết quả như đã thấy.

Trở về mục lục

7. Tổng kết: Đâu là những nguyên nhân sâu xa?

Trên đây chúng tôi đã điểm qua thực trạng kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và đối ngoại của Việt Nam hiện nay và trình bày một số nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng đó. Nổi lên trên hết là hai nguyên nhân cơ bản, chung cho tất cả các mặt của xã hội:

Thứ nhất, thể chế còn thiếu dân chủ. Có thể nói rằng thể chế hiện nay là di sản của thời chiến tranh, bao cấp và chủ nghĩa xã hội kiểu Lênin-Stalin, với đặc điểm cơ bản là hạn chế dân chủ, hạn chế tự do tư tưởng, thiếu tinh thần thượng tôn pháp luật. Hệ quả là xã hội suy giảm tính năng động và hiệu quả, hạn chế sáng tạo trong khoa học và giáo dục, không chống được suy thoái giá trị đạo đức và văn hóa, bất công và cách biệt xã hội tăng lên, và không khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển. Chế độ tiền lương bất hợp lí trong cơ chế “xin cho” đã đẩy nhiều công chức vào con đường tham nhũng, và làm cho nhiều nhà giáo, bác sĩ, nhà khoa học, … không chuyên tâm với nghề nghiệp và không giữ được đức tính cao đẹp vốn có từ xưa. Hoàn toàn đáng lo ngại khi thể chế hiện nay đang hạn chế sức mạnh của đất nước và làm lung lay nền tảng của xã hội.

Thứ hai, là hệ quả của nguyên nhân thứ nhất, trong thành phần lãnh đạo đất nước chưa có nhiều người tài giỏi, bản lĩnh, chịu trách nhiệm cao và quy tụ được bên mình những trí thức và cộng sự chân chính. Từ trung ương đến địa phương, nhiều quan chức thiếu cả năng lực và đạo đức cần thiết. Tình trạng bằng cấp giả và chạy chức chạy quyền đã trở thành vấn nạn nhức nhối. Việc lợi dụng vị trí công quyền để trục lợi cá nhân đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều cán bộ nhà nước.

Trở về mục lục

D. Cải cách vì một nước Việt Nam giàu mạnh và tự chủ

1. Cải cách thể chế là quan trọng nhất

Có thể nói Việt Nam chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Phải có cuộc cách mạng về thể chế mới tránh được nguy cơ này và đưa đất nước phát triển bền vững. Ai sẽ đảm nhận cuộc cách mạng mới này và nội dung cốt lõi của cuộc cách mạng là gì?

Chúng tôi cho rằng ở thời điểm này chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới thực hiện được cuộc cách mạng này. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tự thay đổi để lãnh đạo dân tộc bước vào một thời đại mới, thời đại củng cố và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để đất nước trở nên giàu mạnh, tự chủ. Đó cũng chính là sức mạnh to lớn mà Đảng cộng sản Việt Nam (trước đây là Đảng Lao động Việt Nam) đã phát huy, đã phấn đấu, hy sinh trong suốt lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng thể chế này, theo chúng tôi, bao gồm những khía cạnh sau:

Thứ nhất, không áp đặt một hệ tư tưởng, một ý thức hệ duy nhất vào thể chế chính trị, vào đời sống của dân, vào các hoạt động kinh tế – giáo dục – văn hóa – báo chí, để tạo điều kiện cho người dân, nhất là giới trẻ tiếp cận được những tinh hoa, những tiến bộ của thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nếu chỉ biết Mác-Lênin, không tiếp thu mọi tư tưởng tiến bộ của thế giới thì đã không viết được bản Tuyên ngôn độc lập gói ghém những giá trị phổ quát của nhân loại. Trên thực tế, chính Đảng Cộng sản đã từ bỏ nhiều khẩu hiệu phi lý một thời đã được cường điệu. Chẳng hạn “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” từng là một trong những khẩu hiệu được phổ biến rộng rãi (sau năm 1975) nhưng đã dần dần biến mất. Đó là một sự thay đổi tích cực cần ghi nhận. Mong rằng Đảng Cộng sản tiến thêm một bước tránh dùng các cụm từ như “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” để các thế lực bảo thủ vì lợi ích riêng không thể dựa vào đó để làm cho đất nước trì trệ, lạc hậu. Chúng tôi cho rằng Đảng Cộng sản chỉ giữ mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là hợp lòng dân.

Ra khỏi sự ràng buộc vào một ý thức hệ cũng sẽ giúp cho Việt Nam độc lập với Trung Quốc về mặt này và đi trước Trung Quốc về cải cách thể chế. Làm được điều này, Đảng Cộng sản vừa được lòng dân vừa tạo được uy tín trên thế giới.

Thứ hai, phải triệt để thực hiện dân chủ, đúng như quy định của Hiến pháp và đúng như trong Cương lĩnh mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra. Đảng phải làm thế nào để nhân dân thấy rằng đó không phải là khẩu hiệu mà chính là khát khao, trăn trở thường xuyên của lãnh đạo, của nhà cầm quyền để mọi người dân thật sự được tham gia bàn bạc và quyết định việc chung. Để thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp lý hiện nay, chỉ cần triển khai và thật sự áp dụng nội dung của Hiến pháp.

Trước hết, phải thực sự tôn trọng các quyền mà Hiến pháp đã ghi rõ, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và quyền bình đẳng trước pháp luật. Đầu tiên là quyền tự do báo chí. Muốn biết một nước có dân chủ hay không, chỉ cần nhìn tình trạng báo chí là thấy. Mà tình trạng báo chí trong nước ta thì nhân dân thấy rõ là chưa làm được nhiệm vụ thông tin trung thực và soi sáng được dư luận. Tiếp theo là quyền bình đẳng trước pháp luật. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa rằng luật pháp là ở trên cao nhất, tối thượng, ai cũng ngang nhau và đều ở dưới pháp luật. Vậy mà nhân dân thấy quá nhiều người có quyền chức tự cho mình quyền đứng cao hơn người khác, thậm chí cao hơn cả pháp luật. Như vậy là ta chưa tiến được bước nào, thậm chí còn đi lùi, trên con đường “nhà nước pháp quyền” mà chính Hiến pháp đã đề xuất. Bình đẳng trước pháp luật bao hàm bình đẳng trước công vụ như một hệ quả tất nhiên. Do đó, những phân biệt đối xử như lý lịch, đảng viên hay không, đều là trái với Hiến pháp. Bình đẳng trước công vụ, ai cũng có quyền bầu cử, ứng cử như nhau, ai cũng phải được tuyển dụng vào các cơ quan hành chính trên cơ sở duy nhất là năng lực và tinh thần trách nhiệm. Chỉ với biện pháp đó, thực hiện triệt để, nền hành chính của ta, từ trung ương đến địa phương, mới có thể tuyển dụng được người tài giỏi xứng đáng.

Thứ hai, triệt để tôn trọng nguyên tắc “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất”. Đảng Cộng sản phải thực sự thực hiện nguyên tắc đó để làm nhân dân tin rằng lá phiếu của mình chắc chắn góp phần vào việc xây dựng một cơ quan xứng đáng là đại diện toàn dân.

Thứ ba, bảo đảm có hệ thống tòa án độc lập là sự phân quyền vô cùng quan trọng. Để có được sự độc lập và bảo đảm khả năng chuyên môn về luật pháp, các thẩm phán cần phải được tuyển dụng như công chức, được bổ nhiệm theo một quy chế riêng có mục đích bảo vệ tính độc lập của họ. Thẩm phán ở cấp cao có trách nhiệm bổ nhiệm thẩm phán cấp dưới, cần có nhiệm kỳ dài, chỉ bị truất quyền giữa nhiệm kỳ nếu vi phạm luật pháp.

Cần nhấn mạnh điều này: Nếu Đảng đứng trên hiến pháp và quyết định thay cho Quốc hội và tòa án thì tình trạng mãi kéo dài như hiện giờ: Nhiều sai phạm lớn của cán bộ, đảng viên chỉ được xử lý nội bộ, được bao che, nên không phòng chống được tham nhũng, và kết quả là mất lòng dân và bộ máy nhà nước kém hiệu lực.

Thứ tư, cần tạo cơ chế công khai, minh bạch, thực sự dân chủ, trước hết là trong Đảng để có thể chọn lựa và làm xuất hiện những nhà lãnh đạo xứng tầm với trí tuệ của dân tộc, được dân tin tưởng và được thế giới kính trọng. Không nên tiếp tục cách làm hiện nay là dàn xếp trong nội bộ Đảng rồi đưa ra Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm.

Chúng tôi thẳng thắn nêu những vấn đề này chỉ với mong muốn Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là tổ chức lãnh đạo đất nước, không bị trói buộc bởi những giáo điều, những mô hình đã bị thực tế lịch sử loại bỏ. Những giấc mơ, những lý tưởng tốt đẹp cần được chứng minh từng bước bằng thực tế, bằng kết quả hiện thực chứ không chỉ bằng duy ý chí, và bị lợi dụng bởi một nhóm người cầm quyền, dùng giáo điều, dùng khẩu hiệu để củng cố quyền lực và lợi ích phe nhóm mà hậu quả là đất nước tụt hậu và tha hóa…

Nếu bốn điểm nói trên được thực hiện, dân chúng sẽ tin tưởng ở Đảng Cộng sản, tin tưởng ở người lãnh đạo và hy vọng về một đất nước tốt đẹp hơn. Do đó dân chúng nếu có bất mãn và phê phán lãnh đạo hay quan chức thì chỉ là đối với cá nhân chứ không phải đối với Đảng Cộng sản. Ngược lại, dân chúng được tự do sử dụng các quyền chính đáng của mình thì chính là giúp Đảng phát hiện ra những người không đủ tư chất đảm trách công việc lãnh đạo hay quản lý. Thực hiện dân chủ cũng là biện pháp hữu hiệu để phòng chống tham nhũng.

Ngoài ra, Đảng Cộng sản cần quan tâm hơn đến vấn đề đoàn kết dân tộc. Nếu những điểm nói trên được thực hiện thì kết quả là gắn bó được dân với Đảng và thực hiện được đoàn kết. Tuy nhiên, cần đưa ra các chính sách cụ thể, chẳng hạn nghiêm cấm việc lạm dụng quyền lực để đề bạt người thân, có quy chế luật lệ nghiêm khắc để xử lý các trường hợp sai phạm. Việc cất nhắc, đề bạt không dựa trên lý lịch chính trị mà theo năng lực và tư chất đạo đức. Đảng và Nhà nước cần nghiêm chỉnh thực hiện chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc đối với cựu quan chức và quân nhân của chế độ cũ ở Miền Nam, nhất là trong bối cảnh cần đoàn kết dân tộc trước yêu cầu tăng nội lực để phát triển đất nước và trước nguy cơ ngoại xâm. Đặc biệt trong tình hình phức tạp ở biển Đông, để cổ vũ lòng yêu nước của mọi người dân không phân biệt chính kiến, quá khứ, chúng tôi đề nghị nên có hình thức biểu dương sự dũng cảm hy sinh của quân đội Việt Nam Cộng hòa ở Hoàng Sa năm 1974.

Trong việc thúc đẩy sự hòa giải và hòa hợp dân tộc, cần có biện pháp hữu hiệu để người Việt ở nước ngoài hợp tác với các cơ sở trong nước, nhất là trong nghiên cứu khoa học, trong giáo dục và phát triển kinh tế, để cùng làm cho đất nước giàu mạnh.

Trở về mục lục

2. Củng cố bộ máy nhà nước.

Một chính phủ mạnh và hiệu quả là điều kiện tối cần thiết để kinh tế phát triển nhanh và có chất lượng cao. Để củng cố bộ máy nhà nước, cần cải cách chế độ tiền lương và thực hiện việc thi tuyển quan chức. Đây là vấn đề cốt lõi của nhiều vấn đề.

Cải cách chế độ tiền lương là một việc tuy khó nhưng cấp bách và không thể trì hoãn, vì nếu không sẽ không thể giải quyết được vấn đề nào khác. Thiết nghĩ, đây là vấn đề nan giải nhưng không hẳn là không có giải pháp nếu nhà nước thực lòng quyết tâm. Trước mắt, chúng tôi đề khởi một số nội dung cải cách như sau:

Thứ nhất, hiện tượng phổ biến hiện nay là tiền lương chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập của quan chức, công chức, thầy giáo, v.v.. Do đó, trước tiên phải minh bạch hóa các nguồn thu nhập này và lần lượt đưa vào lương.

Thứ hai, cải cách thuế để tăng thu ngân sách. Đặc biệt cần đánh thuế lưu thông bất động sản, đánh thuế suất cao đối với những người sở hữu nhiều bất động sản, và đánh thuế thừa kế tài sản.

Thứ ba, tăng tỉ lệ tiền lương trong tổng thu ngân sách. Trước mắt giảm tỉ lệ đầu tư công lấy từ ngân sách, hoãn những dự án đầu tư lớn cần nhiều vốn nhưng chưa thật cần thiết..

Thứ tư, tinh giảm bộ máy công quyền ở trung ương và địa phương.

Chúng tôi đề nghị nhà nước lập ra ngay một ban chuyên trách về cải cách tiền lương gồm các chuyên gia kinh tế, tài chính, hành chánh. Ban chuyên trách này sẽ khẩn trương nghiên cứu, xem xét 4 nội dung cải cách nói trên, để trong thời gian ngắn đưa ra đề án cải cách khả thi.

Quan chức, công chức phải là những người được tuyển chọn nghiêm túc qua các kỳ thi định kỳ và cuộc sống của họ và gia đình họ phải được bảo đảm bằng tiền lương. Tiền lương cũng phải đủ sức hấp dẫn người có năng lực vào bộ máy công quyền. Nội dung các kỳ thi tuyển cho quan chức cấp trung trở xuống cũng cần chú trọng trình độ văn hóa và sự hiểu biết về luật pháp và cơ cấu hành chánh. Quan chức cấp trung ương, cũng với nội dung ấy nhưng ở trình độ cao cấp hơn và thêm các chuyên môn cần thiết. Trình độ văn hóa và sự khó khăn phải vượt qua các cửa thi tuyển sẽ nâng cao khí khái và lòng tự trọng của quan chức, tránh hoặc giảm được tệ nạn tham nhũng. Việc thi tuyển quan chức còn có tác dụng tạo niềm tin và động lực học tập trong giới trẻ vì ai cũng có cơ hội bình đẳng thi thố tài năng cho việc nước. Chế độ tiền lương và việc thi tuyển quan chức cần được thực hiện trong vòng 3-4 năm tới.

Trở về mục lục

3. Về chiến lược, chính sách phát triển kinh tế

Đây là vấn đề khá rộng và lớn, ở đây chỉ xin nói đến mấy điểm chúng tôi cho là quan trọng nhất.

Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Chiến lược phát triển phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng và chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng cao qua giáo dục và đào tạo, qua khả năng làm chủ công nghệ.

Hiện nay xuất khẩu lao động và phụ nữ lấy chồng nước ngoài vì lý do kinh tế đang là hiện tượng làm bức xúc người dân và ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên thế giới. Chúng tôi đề nghị nhà nước đưa ra mục tiêu đến năm 2020 phải thực hiện toàn dụng lao động, không còn ai phải miễn cưỡng ra nước ngoài chỉ vì sinh kế.

Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn. Cho đến nay trí thức trong và ngoài nước đã đề xuất nhiều chiến lược, chính sách về các vấn đề này nhưng không được nhà nước quan tâm thực hiện. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đề nghị nhà nước cần tập trung những chuyên gia có trình độ, thành lập một bộ phận chuyên trách để xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức. Việt Nam hiện nay cũng có những cơ quan như Bộ Kế hoạch & Đầu tư hay Bộ Công thương nhưng quyền hạn liên quan tới vấn đề này bị phân tán, ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ với cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước, vì vậy thường khó có thể đề xuất được những chính sách hiệu quả, hoặc do phải cân nhắc lợi ích của quá nhiều đối tượng nên những nội dung thống nhất được cũng mang tính thỏa hiệp, chung chung.

Về xây dựng kết cấu hạ tầng, chúng tôi đề nghị hoãn kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc vì chưa cần thiết, tốn kém lớn và đã được chứng minh bằng các phân tích khoa học là không có hiệu quả. Thay vào đó, cần tu bổ nâng cấp đường sắt Thống Nhất, mở rộng mạng lưới đường sắt phổ thông đến vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Bắc, đồng thời xây dựng đường bộ cao tốc Bắc Nam và xây dựng các tỉnh lộ, huyện lộ nối nông thôn với đường sắt và đường cao tốc này, nhất là nối nông thôn với các đô thị gần đường cao tốc. Kết cấu hạ tầng như vậy mới thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn.

Liên quan đến phát triển nông thôn, việc cải cách chế độ hạn điền, tư hữu hóa sở hữu ruộng đất cần được đẩy mạnh. Chế độ hộ khẩu đã được cải thiện nhiều nhưng mỗi đô thị lại có các quy chế riêng, cần cải cách theo hướng tự do hóa việc thay đổi chỗ ở hơn nữa để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn. Với sự phân tán, manh mún của ruộng đất hiện nay, việc tăng năng suất nông nghiệp gặp khó khăn. Tăng năng suất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.

Đối với hoạt động của doanh nghiệp, thị trường lao động hiện nay có vấn đề không ăn khớp giữa cung và cầu: Ở các khu công nghiệp tại các thành phố lớn bắt đầu có hiện tượng thiếu lao động, doanh nghiệp khó tuyển dụng số lao động cần thiết, mặc dù ở nông thôn vẫn còn lao động dư thừa. Nguyên nhân là do thị trường lao động chưa phát triển, cung và cầu không gặp nhau. Một nguyên nhân nữa là chất lượng lao động (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khả năng tiếp thu tri thức về hoạt động của doanh nghiệp,…) không đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Biện pháp để cung cấp lao động một cách ổn định phải bao gồm chính sách ngắn hạn (phát triển thị trường lao động) và chính sách trung dài hạn (nâng cao chất lượng lao động, tăng cường giáo dục nghề nghiệp). Chính quyền địa phương ở nông thôn cần tích cực hơn nữa trong lĩnh vực này.

Nhà nước cần lắng nghe chuyên gia, trí thức về việc quyết định các dự án lớn. Đặc biệt, chúng tôi đề nghị tạm ngưng kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Ninh Thuận vì những lý do chúng ta đã biết và các chuyên gia của ta cũng đã có những phân tích cho thấy dự án này quá tốn kém và chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn. Nhiều người trong chúng tôi cũng đã đề nghị ngưng kế hoạch khai thác bô-xit ở Tây nguyên vì các lý do về môi trường, an ninh, hiệu quả kinh tế, và sự lệ thuộc vào nước ngoài.

Vấn đề cuối cùng là cải cách doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn. Cần đặt các doanh nghiệp đó trong khung cảnh chung của luật pháp, xóa bỏ việc để hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh – dù dưới dạng Thủ tướng quản hay Bộ trưởng quản – và thay vào đó là Hội đồng quản trị độc lập và có nhiệm kỳ, do Quốc hội hay Hội đồng Nhân dân bổ nhiệm, nhằm hạn chế sự thao túng của các nhóm lợi ích. Doanh nghiệp quốc doanh dùng tiền của dân và nhằm phục vụ dân, do đó phải có tiếng nói của đại diện nhân dân. Hội đồng quản trị có đại diện của dân do các tổ chức hội chuyên nghiệp và Mặt trận Tổ quốc đề cử, có đại diện của người tiêu dùng chính do các ngành sử dụng đề cử, có các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp do các hội chuyên gia đề cử. Hội đồng quản trị sẽ bổ nhiệm chủ tịch công ty hay tập đoàn. Để cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực sự phục vụ nhân dân thì phải có các tổ chức chỉ đạo, kiểm tra nghiêm túc. Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp phải hạn chế, không thể để cho chính quyền các cấp tự do lập ra như hiện nay. Đặc biệt, phải công khai, minh bạch trong việc cấp vốn, việc cấp và sử dụng các nguồn lực quốc gia cho các doanh nghiệp nhà nước. Ngoài những trường hợp đặc biệt ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước đã được công khai, minh bạch, chính sách cần bảo đảm công bằng cơ hội, bảo đảm hiệu quả sử dụng và không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, không phân biệt giữa các công ty, kiểm soát và hạn chế việc hỗ trợ các nguồn lực quốc gia theo kiểu chủ nghĩa tư bản thân hữu.

Trở về mục lục

4. Về văn hóa, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và công nghệ

Chúng tôi có mấy đề nghị cụ thể sau:

a) Cần có chính sách ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa và đạo đức xã hội. Tăng cường quảng bá và khuyến khích những giá trị phổ quát, tiến bộ của nhân loại như tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ, quyền con người,… Đồng thời, phục hồi những giá trị văn hóa truyền thống tích cực để làm nền tảng cho các ứng xử văn hóa, các chuẩn mực đạo đức trong sinh hoạt xã hội. Song song với việc này cần tích cực bảo tồn các di tích văn hóa, lịch sử của dân tộc và ngăn chặn sự xâm thực không chọn lọc của văn hóa ngoại lai, đặc biệt là từ Trung Quốc.

b) Cần giảm các hình thức thi đua, tuyên dương, trao huân chương như hiện nay: Các cơ quan, các đoàn thể tổ chức quá nhiều lễ kỷ niệm những mốc hoạt động (20 năm, 30 năm, v.v.) và vận động để được nhận huân chương. Đây là hình thức tốn kém thì giờ, ngân sách mà không có hiệu quả, chưa kể đến những tiêu cực trong quá trình xin-cho vốn rất phổ biến. Phong trào học tập đạo đức Hồ Chí Minh cũng không thật sự hiệu quả vì dân chúng thấy tình trạng tham nhũng ngày càng trầm trọng, người cần học tập đạo đức Hồ Chí Minh (cần kiệm liêm chính chí công vô tư, …) trước hết phải là những người ở cấp lãnh đạo và quản lý nhà nước. Tổ chức học tập nghị quyết của Đảng sau các kỳ đại hội như cách làm hiện nay cũng tốn kém và làm ảnh hưởng đến việc quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương. Thay vào đó nên áp dụng các hình thức khác thích hợp và ít tốn kém thì giờ, ngân sách.

c) Việc cải tổ giáo dục được bàn quá nhiều trong thời gian qua nhưng không đưa lại kết quả. Do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn.

Một trong những nội dung cải cách cấp bách phải là nâng cao vị thế của người thầy, bắt đầu từ đồng lương đủ sống và nuôi gia đình. Từ đó tiến đến việc thiết lập lại sự trung thực trong học tập và thi cử, trả lại tính trong sáng của tuổi trẻ cho học trò, tạo điều kiện cho những tài năng nảy nở.

Một nội dung nữa là tôn trọng quyền tự do học thuật và tư tưởng ở đại học cũng như trong các hoạt động trí thức, văn hoá nghệ thuật, tạo ra sức thu hút đối với tuổi trẻ và qua đó giúp thế hệ trẻ có động lực phấn đấu mạnh mẽ, có ý thức công dân cao và hoài bão phát triển đất nước. Nhân đây chúng tôi cũng đề nghị Thủ tướng hủy bỏ Quyết định 97 đòi hỏi trí thức chỉ được góp ý riêng với các cơ quan có thẩm quyền.

d) Cụ thể hóa các biện pháp làm cho giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Triệt để thực hiện miễn phí bậc tiểu học và trung học cơ sở (chậm nhất là đến năm 2015) và trung học phổ thông (đến năm 2020). Song song với việc nâng cấp các đại học đang có, cần có ngay kế hoạch xây dựng một hoặc hai đại học chất lượng cao, trong đó nội dung giảng dạy, cơ chế quản lý, và trình độ giáo sư cũng như tiêu chuẩn đãi ngộ tương đương với các đại học tiên tiến ở châu Á. Về các đại học và trường cao đẳng ngoài công lập, cần có biện pháp chấn chỉnh giải quyết ngay những nơi không đủ chất lượng và có quy chế để ngăn ngừa hiện tượng kinh doanh giáo dục hiện nay. Ngoài ra, cần ban hành các sắc thuế khuyến khích doanh nghiệp và những cá nhân có tài sản đóng góp vô vị lợi (chủ yếu là tặng không) cho sự nghiệp giáo dục. Những vấn đề này cũng cần có kế hoạch thực hiện cụ thể trước năm 2015.

Cần tăng cường mở rộng và xây dựng thêm các trường, các khoa liên quan khoa học tự nhiên và công nghệ, xây dựng nhiều trường cao đẳng công nghệ để cung cấp đủ lao động cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới. Hiện nay, một mặt, trong nhiều ngành, sinh viên tốt nghiệp ra truờng không có việc làm, trong khi một số ngành về công nghệ tin học, điện tử, hoá học, kế toán, nông cơ, v.v.. thì nguồn cung cấp thiếu hoặc không đủ chất lượng. Chính sách sắp tới cần chú trọng đầu tư xây dựng thêm các ngành ở các lĩnh vực này và cải thiện chương trình, nội dung giảng dạy để nâng cao chất lượng. Mặt khác, nhu cầu về lao động có trình độ trung cấp và cao đẳng kỹ thuật, cao đẳng kế toán,… đang và sẽ tăng nhanh nhưng khả năng cung cấp còn rất hạn chế. Tâm lý coi thường bậc trung cấp và cao đẳng trong xã hội Việt Nam rất lớn. Cần có chính sách khuyến khích học tập trong các bậc học này, chẳng hạn tăng cường chế độ cấp học bổng và quan tâm giới thiệu việc làm cho học viên sau khi ra trường. Tóm lại, cần đổi mới thể chế giáo dục và đào tạo hiện nay mới có thể thực hiện toàn dụng lao động và đẩy mạnh công nghiệp hoá trong thập niên 2010.

Nhiều cải cách trong giáo dục cũng nên được áp dụng trong y tế: tăng đầu tư xây dựng bệnh viện, xây dựng các cơ sở y tế ở nông thôn và phổ cập bảo hiểm y tế để người nghèo có thể tiếp cận dịch vụ y tế với phụ phí thấp. Nên có chính sách miễn phí khám bệnh và phí nhập viện cho người dân nghèo hoặc cận nghèo.

e) Tăng cường đầu tư và cải thiện việc sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa học: Một trong những lý do thành quả nghiên cứu khoa học của ta còn khiêm tốn là do thiếu đầu tư. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2006 chẳng hạn chỉ có 428 triệu USD, chiếm khoảng 0,17% GDP. Trong cùng năm, Thái Lan đầu tư 1,79 tỉ USD (0,3% GDP) và Malaysia 1,54 tỉ (0,5% GDP). Đáng chú ý là Trung Quốc đầu tư 1,4% GDP cho khoa học và công nghệ trong năm 2010 và đặt mục tiêu đầu tư 4% GDP vào năm 2015. Ngân sách đầu tư cho khoa học công nghệ ở Việt Nam có đặc tính là tập trung vào việc xây dựng cơ sở vật chất thay vì chi tiêu cho việc thực hiện các dự án nghiên cứu khoa học. Ngoài việc tăng đầu tư, cần phải xem xét lại việc sử dụng ngân sách khoa học. Theo cách làm hiện nay thì chúng ta có thể có những thiết bị khoa học tinh vi, nhưng không có người sử dụng hiệu quả những thiết bị này. Trong thực tế, tình trạng “thiết bị trùm chăn” đó đã trở nên phổ biến. Như đã phân tích ở trên, nền khoa học nước ta hiện nay còn lệ thuộc quá lớn vào các đồng nghiệp nước ngoài vì thiếu chuyên gia có trình độ cao. Do đó, thay vì đầu tư xây thêm phòng thí nghiệm, cần chú trọng đầu tư vào đào tạo chuyên gia có trình độ chuyên sâu.

Chẳng những cần tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ, chúng ta cần phải cải cách hệ thống phân phối ngân sách cho nghiên cứu khoa học và quản lý khoa học. Hiện nay, các đề tài nghiên cứu cơ bản ở cấp nhà nước do các nhà khoa học xây dựng đã được quản lý khá tốt bởi Quỹ KH&CN quốc gia (Nafosted). Nhưng với các loại đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản xuất ở các cấp – do cơ quan chủ quản ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu nộp đơn xin và các cơ quan chủ quản xét duyệt và thẩm định – lại chưa có sự tham gia đúng mức của các nhà chuyên môn. Vì lý do này nhiều đề tài nghiên cứu của các bộ ngành, địa phương đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu thực tế.

Trở về mục lục

5. Chiến lược đối ngoại

Trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam hiện nay, Trung Quốc, Mỹ và ASEAN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

“Đường lối ngoại giao của Việt Nam là thân thiện với mọi nước”: nguyên tắc đó luôn luôn là lý tưởng. Nhưng lý tưởng đó cũng luôn luôn va chạm với một thực tế mà không nước nào tránh khỏi: đó là thực tế chiến lược mà vị trí địa dư là yếu tố then chốt.

Chẳng hạn quan hệ của ta với Trung Quốc. Dù Việt Nam muốn chân thành làm bạn với Trung Quốc đến đâu đi nữa, vị trí địa dư của Việt Nam cũng bắt buộc ta phải đồng thời nhìn Trung Quốc như một vấn đề an ninh cốt tủy và thường xuyên. Không việc gì ta phải giấu diếm quan tâm sinh tồn đó bằng 16 chữ vàng. Càng giấu, ngôn từ và hành động ngoại giao của ta lại càng để lộ yếu kém, sợ hãi, khiếp nhược. Chỉ bằng cách nói thẳng với Trung Quốc: “Nam quốc sơn hà nam đế cư”, ta mới có thể làm bạn với Trung Quốc trên một vị thế không phải là khúm núm, thần phục. Ngày xưa, chỉ có ta với Trung Quốc thôi, ngoài trứng với đá không có ai khác, vậy mà tổ tiên ta vẫn có thể hiên ngang nói thẳng như thế, huống hồ bây giờ, thế giới đổi khác, quan hệ chiến lược có thể mở rộng với nhiều nước khác, cho phép Việt Nam lập hàng rào chiến lược bằng những quan hệ đặc biệt với nhiều nước.

Trung Quốc chắc phải hiểu cái thế tất yếu đó của Việt Nam. Cho nên họ vừa dụ dỗ, vừa uy hiếp để Việt Nam không thiết lập quan hệ đặc biệt với Mỹ và ngay cả không mơ tưởng đến một sách lược cân bằng lực lượng như nhiều nước trong khối ASEAN công khai áp dụng. Việt Nam có gì khác với các nước ASEAN khác khiến Trung Quốc có thể uy hiếp được? Không phải vì cái vị thế “núi liền núi sông liền sông” trong địa dư mà chính vì “núi liền núi sông liền sông” trong tư tưởng. Chẳng có ai phản đối: văn hóa Trung Quốc đã từng sáng chói cả một vùng trời Đông Á, ta chịu ảnh hưởng không phải là chuyện lạ, chuyện dở. Chuyện dở là chịu ảnh hưởng mà không biết sáng tạo như Nhật Bản. Chuyện dở là chịu ảnh hưởng đến cái mức phải làm cho giống nguyên bản để khỏi bị xem là man di. Từ trong tư tưởng, Trung Quốc đã là cái khuôn để rập theo. Họ Khổng giáo thế nào, ta Khổng giáo thế ấy. Họ Mao, ta cũng đã từng Mao. Họ đang là gì, ta cũng đang thế ấy. Suốt cả thế giới châu Á, có lẽ ngoài Việt Nam và Bắc Triều Tiên, không có nước nào làm cái bóng dưới mặt trời tư tưởng của họ. Trung Quốc biết rõ như thế, việc gì họ chẳng nắm cái điểm yếu đó để dụ và đe? Họ biết rõ ta sẽ không nghĩ đến cái thế cân bằng lực lượng, vì từ trong tư tưởng ta đã không có ý niệm cân bằng, đã lựa chọn nghiêng về một phía, đã nhượng bộ họ trên khắp lĩnh vực.

Họ lại còn tha hồ nắm cái điểm yếu đó vì biết chắc rằng không ai muốn sát cánh với ta thực sự khi quan hệ thân sơ của ta không rõ ràng. Về ngoại giao, dĩ nhiên ta cần giao hảo thân thiết với Trung Quốc như với Nhật, với ASEAN, nhưng về chiến lược, cả lịch sử lẫn thực tế ngày nay không cho phép ta xây dựng an ninh trường kỳ trên tư tưởng trụ cốt “Trung Quốc là bạn đặc biệt”. Ta không minh bạch trên điểm đó, ai sẽ tin ta? Ai sẽ liên minh chiến lược với ta để ngăn chận kẻ mà ta vẫn nhận là “bạn đặc biệt”? Thế nhưng trên thực tế ta lại không thể minh bạch được vì một đằng quyền lợi quốc gia đòi hỏi ta phải cảnh giác Trung Quốc, một đằng tư tưởng chính thống lại xem Trung Quốc là bạn đặc biệt. Mâu thuẫn đó phải chấm dứt thì quan hệ chiến lược mới phân minh.

Vậy ai là đồng minh chiến lược với ta? Đồng minh ở đây không có nghĩa là gia nhập vào một liên minh quân sự mà bao gồm các trường hợp những nước có cùng quan tâm chiến lược trong các quan hệ ngoại giao. Trong định nghĩa rộng đó, thực tế ngày nay cho thấy dù muốn dù không chỉ có Hoa Kỳ mới có thể trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam trong việc thiết lập thế cân bằng lực lượng để ta giữ nước. Câu hỏi duy nhất còn có thể đặt ra là: nước Mỹ có sát cánh với ta để cùng ta bảo vệ những quyền lợi thiết thân nhất của ta? Cụ thể, nước Mỹ có thể cùng ta ngăn chận bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông?

Nước Mỹ không dại gì trả lời câu hỏi đó rành rọt và công khai. Câu hỏi đó, chính ta phải trả lời, và chỉ ta mới trả lời rành rọt được mà thôi. Nếu ta làm cho người Mỹ thấy rằng quyền lợi của họ và quyền lợi của ta là một, không những chỉ trên Biển Đông mà cả trong chiến lược lâu dài của họ ở Đông Á và cả Á châu thì hai nước sẽ sát cánh với nhau. Hơn nữa, nếu ta giúp củng cố các thể chế ASEAN để vừa tăng đoàn kết và ổn định trong khu vực vừa tạo cho Mỹ cơ hội vận động nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới ủng hộ sự hiện diện của Mỹ tại Đông Nam Á thì ta lại càng thắt chặt quyền lợi của Mỹ với quyền lợi của ta hơn.

Nhưng quyền lợi mà thôi chưa đủ để xây dựng một quan hệ chiến lược bền vững, trường kỳ. Bởi vì đe dọa của Trung Quốc là trường kỳ, giải pháp đối phó cũng phải trường kỳ để quan hệ đồng minh (theo nghĩa rộng nói trên) không phải là quan hệ giai đoạn, chiến thuật. Cái gì tạo ra chất lượng cho một quan hệ chiến lược bền vững? Địa-chính trị ngày nay nói rõ: tư tưởng, văn hóa là yếu tố chiến lược cùng với vị trí địa dư. Chính thể dân chủ ở Đài Loan là yếu tố chiến lược gắn kết thêm với yếu tố quyền lợi trong quan hệ giữa Mỹ và xứ ấy. Nước Nhật quân phiệt phải dứt khoát viết lại hiến pháp để trở thành đồng minh chiến lược bền vững nhất của Mỹ trên thế giới. Do đó, cải cách thể chế theo hướng dân chủ hóa như đã trình bày ở trên ngoài mục đích tăng nội lực còn là điều kiện để mở rộng chiến lược ngoại giao.

Ai cũng biết: thực chất của ý thức hệ hiện nay ở Trung Quốc là chủ nghĩa dân tộc nước lớn. Dưới lớp áo xã hội chủ nghĩa, trái tim của Trung Quốc ra lệnh cho dân tộc họ phải trả thù nhục nhã của thế kỷ 19, nhanh chóng chiếm lĩnh địa vị đại cường, ngự trị như bá chủ trên vùng Đông Á. Làm sao ta đồng chí với họ được? Ngược lại, đó là tư tưởng mà ta phải triệt để chống như một đe dọa đè nặng trên sự sống còn của dân tộc. Tư tưởng chính trị của Việt Nam là tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng trên quan tâm duy nhất là độc lập của dân tộc. Vì độc lập, ta phải đoàn kết dân tộc, lấy đoàn kết làm tư tưởng, lấy dân tộc làm mục tiêu chứ không phải một lý thuyết nào xa lạ với thực tế mà người dân đang thấy trước mắt. Vì yếu tố tư tưởng quan trọng như vậy, chúng tôi đề nghị Việt Nam hãy dứt khoát cắt rốn tư tưởng với Trung Quốc. Ta đã có một Hồ Chí Minh đặt nền móng dân chủ cho một nước Việt Nam độc lập khác hẳn nền móng mà Mao đã đặt cho Trung Quốc năm 1954. Ta đã lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo. Tư tưởng độc lập đó cần phải được vun xới sâu hơn trong bối cảnh ngày nay. Cần suy nghĩ rằng: một phần lớn tư tưởng đó đã được thoát thai từ tình trạng chiến tranh, hết chiến tranh thuộc địa đến chiến tranh chia cắt trong một thế giới chia hai theo lằn ranh ý thức hệ. Bây giờ nước ta không còn chiến tranh nữa, đã bắt đầu phát triển lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lại hội nhập vào một thế giới hoàn toàn đổi khác trong đó ý thức hệ tranh chấp ngày xưa đã biến mất rồi. Bối cảnh hoàn toàn đổi khác, tất nhiên tư tưởng của lãnh tụ cũng phải được hiểu theo một tinh thần mới, phải được chắt lọc lại, chỗ nào là tinh túy trường kỳ, chỗ nào là chiến thuật giai đoạn, chỗ nào thích hợp cho dân chủ ngày nay, chỗ nào đã đáp ứng xong rồi những nhu cầu trong quá khứ. Toàn dân sẽ tham gia thực hiện nền móng dân chủ mà lãnh tụ đã đặt viên gạch đầu tiên từ thuở khai sinh nhà nước. Ngôi nhà sẽ xây kết hợp hài hòa tư tưởng Hồ Chí Minh với những tư tưởng dân chủ của thế giới, vạch ra một mô hình dân chủ thích hợp với hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam. Mô hình đó cũng sẽ không chối bỏ nguyên tắc căn bản của chính thể hiện nay là “đảng lãnh đạo”. Vấn đề là phải thiết lập cho kỳ được dân chủ thật sự trong đảng và định nghĩa lại cho minh bạch thế nào là “lãnh đạo” theo ý kiến của toàn dân.

Không khó khăn gì để thể chế hóa hai vấn đề đó. Nhân dân và trí thức Việt Nam không thiếu óc sáng tạo. Thách thức là có ý muốn hay không. Từ lâu, vấn đề đã được đặt ra, nhưng chẳng bao giờ giải quyết. Thời cuộc ngày nay không cho phép trì hoãn nữa. Không những lòng tin của nhân dân có hạn mà an ninh của đất nước bắt buộc phải thế. Đe dọa từ phương Bắc buộc ta phải từ giã con đường cụt trong tư tưởng. Hoặc ta không có đồng minh, hoặc có đồng minh thì phải minh bạch, không ai hứng đạn cho ta nếu không tin ta.

Tất nhiên ai cũng có thể chất vấn: đồng minh (trong ý nghĩa cùng một quan tâm chiến lược) với Mỹ, ta có mất độc lập chăng? Trong lịch sử thế giới từ sau 1945, có hai kinh nghiệm đồng minh trong đó một bên là siêu cường, một bên là nước bại trận, mất cả chủ quyền, mất cả tiềm năng kinh tế, mất cả quân đội: đó là nước Đức và nước Nhật. Cả hai nước đều trở thành cường quốc. Nước Đức liên minh chiến lược với Mỹ nhưng không mất độc lập ngoại giao với Liên Xô. Nước Nhật liên minh với Mỹ nhưng không mất độc lập ngoại giao với Trung Quốc. Quan hệ chiến lược có ảnh hưởng trên quan hệ ngoại giao, nhưng không trùng hợp. Ngay cả Hàn Quốc, liên minh với Mỹ, họ có mất độc lập ngoại giao với ai đâu?

Tại sao họ không mất? Tại vì hai lẽ. Thứ nhất, họ biết vận dụng nội lực, xây dựng ở bên trong một thể chế lành mạnh, hữu hiệu, đưa đất nước họ từ tình trạng lệ thuộc, độc tài, lên tình trạng dân chủ, cường quốc. Sức mạnh bên trong là yếu tố không thể không có để độc lập với thế giới. Chính vì vậy mà toàn thể nhân dân ta khát vọng một cải cách toàn diện để lãnh đạo cùng với toàn dân đưa đất nước lên địa vị độc lập, độc lập với Trung Quốc, dĩ nhiên, và độc lập với cả Mỹ.

Thứ hai, họ biết vận dụng thời cuộc quốc tế để không trở thành chư hầu của một cực. Hiện nay, ai cũng tưởng chừng như Mỹ và Tây Âu đang trên đà đi xuống, Trung Quốc đang ở thế thượng phong bất khả cưỡng. Đúng vậy. Nhưng tình hình đó lại có một mặt tích cực khác cho ta mà chính ta cần phải thấy rõ: cái thế thượng phong trịch thượng, ngạo mạn, thủ đoạn của Trung Quốc hiện nay là vấn đề của cả thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, chứ không phải riêng gì của ta. Việt Nam đang có một cái thế rất lớn, lớn hơn cả thời 1945, là đứng chung với cả thế giới đó trong một mặt trận chung. Chúng tôi nói “đồng minh” hoặc “quan tâm chiến lược” là nói trong ý nghĩa đó. Việt Nam “đồng minh” với cả thế giới đó chứ không phải với riêng ai. Việt Nam “đồng minh” với cả những lực lượng tiến bộ, dân chủ, trong lòng xã hội Trung Quốc. Vấn đề là ta có đủ quyết tâm làm như thế hay không, thế giới có xem ta như vậy hay không mà thôi. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở, là quốc sách để cứu nước, chưa bao giờ có.

Việt Nam sẽ không bao giờ là chư hầu của ai nếu ta vận dụng được sức lực của toàn dân. Chọn dân tộc và chọn thế giới dân chủ, hòa bình, tự do, tôn trọng môi trường thì mới thoát ra được cái ách của Trung Quốc, hiện nay và mai sau.

Dĩ nhiên, dù đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, ta vẫn coi trọng quan hệ với Trung Quốc trên nguyên tắc bình đẳng. Vì là láng giềng gần, sự giao lưu mật thiết giữa các tầng lớp dân chúng, nhất là giữa giới trí thức và lớp trẻ để tạo sự tương kính, hiểu biết nhau. Đó cũng là yếu tố góp phần gìn giữ hòa bình. Tuy nhiên, Việt Nam là nước nhỏ hơn nhiều về nhiều mặt, không thể theo phương châm “hợp tác toàn diện”, mà phải chọn lựa lĩnh vực và mức độ.

Riêng về vấn đề Biển Đông, chúng tôi có hai đề nghị: Một là, Quốc hội Việt Nam cần ra một tuyên cáo, một nghị quyết đặc biệt về Công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958, khẳng định đó không phải là sự thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ là thiện chí của Việt Nam ủng hộ Trung Quốc trong việc tranh chấp với Mỹ về an ninh ở vùng biển gần Đài Loan. Trung Quốc đã phản bội Việt Nam khi dùng công hàm đó để chủ trương chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa. Tuyên cáo này vừa để thanh minh trước dư luận quốc tế vừa xóa bỏ những ngờ vực trong không ít người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng thêm tình đoàn kết dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm. Thứ hai, trên thực tế Việt Nam không làm chủ hết cả quần đảo Trường Sa nên cần đoàn kết với Philippines, Malaysia và Brunei trong việc gìn giữ quần đảo này và chống lại Đường Lưỡi Bò của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị Việt Nam chủ động đưa ra đề án với ASEAN đặt tên Biển Đông nước ta (mà Trung Quốc và nhiều nước khác gọi là biển Nam Trung Hoa) là Biển Đông Nam Á.

Trở về mục lục

E. Kết luận

Trên đây là phân tích sơ lược về thực trạng của Việt Nam và đại cương về các giải pháp nhằm cải cách toàn diện để phát triển đất nước. Những nội dung chi tiết hơn không được đề cập để tránh loãng thông tin. Tuy nhiên, qua đó cũng có thể rút ra kết luận:

Việt Nam chúng ta đang đứng trước một khúc ngoặt lịch sử. Kinh tế, văn hóa giáo dục, khoa học đều suy thoái, nền tảng đạo đức xã hội lung lay và trên nhiều mặt ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phương Bắc. Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam cần làm một cuộc cách mạng mới để cứu đất nước khỏi nguy cơ này và mở ra con đường mới để dân tộc tiến nhanh về phía trước, để đất nước phát triển nhanh chóng, giàu mạnh và tự chủ. Cốt lõi của cuộc cách mạng mới là dứt khoát từ bỏ sự ràng buộc của một chủ nghĩa, một học thuyết đã không còn sức sống ở cả Việt Nam và trên thế giới. Gắn chặt với học thuyết ấy, chủ nghĩa ấy cũng làm nước ta ngày càng lệ thuộc vào quỹ đạo của phương Bắc ngày càng nặng.

Trí tuệ, khí khái, bản lĩnh và lòng yêu nước của tiền nhân ta là những bài học vô cùng phong phú, quý giá. Bây giờ là lúc phải học lại, học hơn nữa tầm nhìn chiến lược “khoan thư sức dân” của Trần Hưng Đạo, “khai dân trí, chấn dân khí” của Phan Châu Trinh, tư tưởng dân chủ, đoàn kết dân tộc và tinh thần học tập phóng khoáng của Hồ Chí Minh. Và hơn bao giờ hết chúng ta phải kế thừa khí phách Nguyễn Trãi “… Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương, tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”.

Mong rằng với sự sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước chúng ta sẽ nhanh chóng ra khỏi thời kỳ khó khăn nghiêm trọng hiện nay và bước vào một kỷ nguyên phát triển mới./.

Trở về mục lục

Đồng ký tên:

Hồ Tú Bảo Giáo sư Tin học, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản, Nhật Bản.
Nguyễn Tiến Dũng Giáo sư Toán học, Đại học Toulouse, Pháp.
Trần Hữu Dũng Giáo sư Kinh tế học, Đại học Wright State, Hoa Kỳ.
Giáp Văn Dương Nhà nghiên cứu (Vật lý), Đại học Quốc gia Singapore.
Nguyễn Ngọc Giao Nhà báo, nguyên Giảng viên Toán, Đại học Paris VII, Pháp.
Ngô Vĩnh Long Giáo sư Sử học, Đại học Maine, Hoa Kỳ.
Vĩnh Sính Giáo sư danh dự (Sử học), Đại học Alberta, Canada.
Nguyễn Minh Thọ Giáo sư Hóa học, Đại học Leuven, Bỉ.
Trần Văn Thọ Giáo sư Kinh tế học, Đại học Waseda, Nhật Bản.
Cao Huy Thuần Giáo sư danh dự (Chính trị học), Đại học Picardie, Pháp.
Nguyễn Văn Tuấn Giáo sư Y khoa, Đại học New South Wales, Úc.
Hà Dương Tường Giáo sư danh dự (Toán học), Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp.
Vũ Quang Việt Chuyên gia tư vấn Thống kê Kinh tế cho Liên Hiệp Quốc, Myanmar, Philippines và Lào; nguyên chuyên viên cao cấp Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ.
Phạm Xuân Yêm Nguyên Giám đốc nghiên cứu Vật lý, Đại học Paris VI và Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học, Pháp.

Nguồn: boxitvn

Nguồn: Diễn đàn: diendan.org

Viet-studieshttp://viet-studies.info/kinhte/BanYKien.htm

Blog Nguyễn Văn tuấnnguyenvantuan.net

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Đề nghị ĐCSVN đổi mới để phát triển | Leave a Comment »