Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hội nghị Thành Đô 3-9-1990’ Category

►Đôi điều cùng Thiếu tướng Trương Gia Long

Posted by hoangtran204 trên 26/03/2017

Đôi điều cùng tướng Trương Gia Long

Badamxoe

Nguyễn Đăng Quang 

(Cựu Đại tá Công an)

24-3-2017

Hơn một tuần qua, nhiều bạn bè xa gần khích lệ tôi tìm đọc bài nói của Giáo sư-Tiến sỹ Thiếu tướng Trương Giang Long, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị kiêm Giám đốc Học viện Chính trị CAND thuộc Bộ Công an.

Đọc tiếp »

Advertisements

Posted in Chính Sách Đối Ngoại, Chinh Tri Viet Nam, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Quan Hệ Viêt Nam và Trung Quốc- 1990- Nay | Leave a Comment »

►Công an Hà Nội, an ninh, cựu chiến binh đánh đổ máu những người dân tưởng niệm vụ thảm sát đảo Gạc Ma 14-3-1988

Posted by hoangtran204 trên 14/03/2017

Tại sao đảng CSVN lại che dấu sự kiện chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa ngày 14-3-1988?

Ai đã ra lệnh cho 64 bộ đội công binh thuộc QĐNDVN không được nổ súng bảo vệ đảo Gạc Ma và đứng làm bia cho Trung Cộng bắn ngày 14-3-1988?

Đây là vụ thảm sát Gạc Ma,  không phải là cuộc hải chiến như báo chí trong nước và phim trên Internet mà đảng csvn hiện nay đang tìm tuyên truyền, tìm cách lái dư luận qua hướng khác để che dấu tội ác giết hại 64 bộ đội công binh và dâng cho Trung cộng biển đảo Trường Sa  của đảng và nhà nước VN.

Đọc tiếp »

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

► Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan (năm 1813): “hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy”- Năm 2000, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên ký giấy dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Posted by hoangtran204 trên 17/08/2016

>>>Năm 1813, phụng lệnh Vua Gia Long (trị vì 1802-1819), cụ Nguyễn Du (1765-1820) đi sứ qua Trung Hoa. Dịp nầy, cụ đã sáng tác 120 bài thơ, trong đó có hai bài thơ cụ viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.” …từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ (năm 1813), có hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Nhưng dưới thời cộng sản, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Trích: “Theo lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” đăng trên Tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001, “Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó,…Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000″

Kết quả của hành động bán nước của đảng CSVN, Ải Nam Quan nay thuộc về Trung Quốc! Cửa Hữu Nghị Quan hiện nay lấn sâu vào nội địa Việt Nam, và cách Ải Nam Quan 300 mét!

Đảng CSVN đã tự ý ký kết và bán Ải Nam Quan cho Trung Cộng (để đổi lấy cái gì đó), và sự mất đất đai này là bằng chứng bán nước mà đảng CSVN cố tình giấu diếm cả nước. Thậm chí, chúng không dám trưng bày bản đồ VN với chi tiết các cột mốc biên giới cho dân chúng VN biết rõ tình trạng vùng đất biên giới hiện nay ra sao.

Về biển đảo và lãnh hải, ngày 8/6/2014, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng cho thấy đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! (Xem link cuối bài).

 

Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan

Trần Gia Phụng

16-4-2002
Năm 1813 (quý dậu), Nguyễn Du (1765-1820) vừa được phong hàm Cần chánh điện học sĩ, (1) vâng lệnh vua Gia Long (trị vì 1802-1819), làm chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Hoa).  Trên đường đi sứ, ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nho và sau tập hợp lại thành sách Bắc hành tạp lục.

Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ  Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.”     

NAM QUAN ĐẠO TRUNG
“Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan,
Vạn lý đan xa độ Hán quan.
Nhất lộ giai lai duy bạch phát,
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.
Quân ân tự hải hào vô báo,
Xuân vũ như cao cốt tự hàn.
Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,
Minh Giang bắc thướng thị Trường An.”
(2) 

Dịch nghĩa:

GIỮA ĐƯỜNG NAM QUAN
“Thư ngọc [cuả vua] giao xuống từ năm sắc mây,

Muôn dặm xe đơn côi đi ngang qua cửa người Hán.

Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,

Trong 20 ngày [3] cái nhìn thấy chỉ núi xanh.

Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,

Mưa xuân bám chặt buốt vào xương.

Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc, [4]

Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.” [5]

           

TRẤN NAM QUAN

“Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,

Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).

Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,

Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.

Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,

Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..

Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,

Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.”(6)

Dịch nghĩa:

TRẤN NAM QUAN

“Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,

Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ.

Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi,

Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi.

Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,

Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày.

Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,

Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”  

Cả hai bài thơ trên cho thấy lúc đó Nam Quan rất hoang vắng, “Nhất lộ giai lai duy bạch phát,/ Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.”  (Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,/ Trong 20 ngày cái nhìn thấy chỉ núi xanh.)  Chính nơi chốn hoang vắng đó “Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm” (Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi); và từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ, trong hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Hai bài thơ nầy mô tả tâm trạng cuả Nguyễn Du trên bước đường đi sứ, nói lên nỗi lòng trung quân ái quốc cuả ông, “Quân ân tự hải hào vô báo,/ Xuân vũ như cao cốt tự hàn./ Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,/ Minh Giang bắc thướng thị Trường An.” (Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,/ Mưa xuân bám chặt buốt vào xương./ Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc,/ Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.”  Hoặc “Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,/Thiên cận tài tri giáng trạch thâm../Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,/ Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.” (Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,/ Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày./ Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,/ Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”

Đặc biệt, trong lúc cảm tác, thi sĩ Nguyễn Du nắm rất vững hoàn cảnh lịch sử nước nhà và cả lịch sử chiếc ải bằng hai câu thơ mở đầu bài “Ải Nam Quan”: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ). 

Thực vậy, ải Nam Quan nguyên có tên là ải Pha Lũy, được sử sách nói đến nhiều khi xảy ra cuộc chia tay bi hùng giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.  Nguyên khi nhà Minh đem quân đánh nước ta và bắt gia đình Hồ Quý Ly về Trung Hoa vào năm 1407, có một đại thần của Hồ Quý Ly cũng bị bắt đem theo là Nguyễn Phi Khanh, phụ thân của Nguyễn Trãi.  Nguyễn Trãi đã theo tiễn thân sinh của mình lên tận ải Nam Quan.  Chính tại đây, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên Nguyễn Trãi: “Con yêu quý! chớ xuôi lòng mềm yếu/ Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!/ Con về đi!  Tận trung là tận hiếu/ Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang.” (Thơ Hoàng Cầm).  Thế là Nguyễn Trãi lên đường trở về nam, thực hiện những điều mà ông đã hứa với cha: “Gạt nước mắt, con nguyện cùng thiên địa/  Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.”(Thơ Hoàng Cầm).

Trở lại với thi sĩ Nguyễn Du, có thể trên đường đi sứ, khi ngang qua ải Nam Quan, nhà thơ đã đọc kỹ và nắm vững nội dung bài văn bia của quan đốc trấn (đầu tỉnh) Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang đã lập vào năm 1785 (ất tỵ).  Tấm  văn bia nầy được đặt ngay tại cửa ải Nam Quan, có thể ngày nay không còn, nhưng may mắn được một nhà văn và là một học giả nổi tiếng dưới thời vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) ghi lại.

Nguyên sau khi Nguyễn Du đi sứ 36 năm, vua Tự Đức đã cử ông Nguyễn Văn Siêu,(7) sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849

Nguyễn Văn Siêu học bác uyên thâm, nghiên cứu rộng rãi.  Tương truyền rằng vua Tự Đức đã sắp ông là người đứng đầu trong bốn văn tài lỗi lạc nhất dưới triều đại mình: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,/ Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” (Văn chương mà như cuả các ông Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát làm cho văn học đời Tiền Hán không còn [làm khuông mẫu nữa],/ Thơ mà đến mức cuả các vị Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương làm cho thơ đời thịnh Đường mất luôn giá trị.) (8)

Trên đường đi sứ, ngang qua ải Nam Quan, Nguyễn Văn Siêu không cảm tác thành thơ như Nguyễn Du, mà ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia của  Đốc trấn Nguyễn Trọng Đang  lưu lại đời sau trong quyển sách về điạ lý nổi tiếng cuả ông là Phương Đình dư điạ chí (có sách viết là Phương Đình địa loại chí). 

Phương Đình dư địa chí được đề tựa vào năm 1865, gồm 5 quyển.  Trong quyển thứ 5, mục viết về tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) đề cập đến ải Nam Quan như sau:

“… ở địa phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp điạ giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khoá, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cửa Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan.  Sử ký chép: năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê [1540], (9) Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua cửa lò Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam mới thấy từ đây.)  Có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34, niên hiệu Cảnh Hưng quan Đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại có văn bia như sau đây:

Khi nước ta có cả đất Ngũ lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau nầy thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh [9] nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta) [10] đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo cũ vậy.  Nhà Lê ta trung hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 [1780], là năm canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nhà Thanh, Đang tôi làm giữ chức Đốc trấn qua 5 năm là năm giáp thìn [1784], sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng.  Trước kia Đang tôi đi sứ về, được lĩnh trấn nầy, tạ sứ trở về một lần, hạ sứ, cống sứ tiến quan hai lần, tôi thường phải đón tiếp.  Từ nghĩ nước ta, dùng lễ văn thông với Trung Quốc, hiện nay đức Đại hoàng đế, sủng mạnh thường ban, ngoài việc tuế cống sứ thần thời thường phụng mạng đi lại, nên sửa sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với tình nghi, đem việc tâu về triều, đã được phê chuẩn, mới ủy cho thập nhị hiệu phiên thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có bốn dịch trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa hạ năm giáp thìn[1784], đài cũ rồi, được cao rộng mới từ đấy, việc làm phải theo với thời thế, không dám làm hơn người trước.  Mùa đông năm ấy, Đang tôi được triệu về kinh, sau nhân sứ sang Trung Quốc khánh hạ trở về, mùa xuân năm ất tỵ [1785], vâng mệnh đón tiếp, phó sứ Nguyễn Đường Chi là cháu tôi vậy, đã may được vâng hưu mệnh, làm vinh dự cho cả chú và cháu.  Kịp đến cửa quan, thì đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá, nên mới kể ngạnh khái như trên.  Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.

Chức Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, tước Lạp Sơn Bá, Nguyễn Trọng Đang, hiệu là Thanh Chương, tự là Chú Du ký tên.

Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 [1785là năm ất tỵ, mùa xuân, trước ngày vọng [ngày 15]  ba ngày.” (11)

Tuy không phải là nhà phân định biên giới, nhưng do kinh nghiệm thực tế trong khi đi sứ, Nguyễn Du đã viết rõ, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi), tức mặt Ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa

Quan đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, sau khi mô tả cửa ải và các công trình kiến trúc do chính ông đã đứng ra trông coi xây dựng tại đây, đã ghi lại một câu vàng đá trong tấm bia lưu lại cho hậu thế đặt ở Nam Quan năm 1785: “Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.” 

Dùng bia nầy để xem xét, có nghĩa là bia nầy là chứng tích cho đời sau biết rằng cửa ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Hoa, và biên giới nầy đã đi vào lịch sử dân tộc trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm:

“…Gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta  [1533-1548]. 

Trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm còn có nghĩa là từ khi ải được chính thức biết đến trong lịch sử cho đến nay (2002) đã gần 500 năm nay.

Tiếc thay, tiếc thay, mới chỉ hơn 200 năm sau Nguyễn Trọng Đang, những kẻ giữ đất và những kẻ đi sứ Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, (12) đã bỏ qua không cần xem xét tấm bia đó nữa, và đang tâm nhượng đứt vùng đất ải Nam Quan và các công trình kiến trúc Việt Nam tại ải Nam Quan cho quân Tàu phương Bắc. 

 

Chẳng những quên đi những lời vàng đá ghi khắc trên bia, chắc chắn những kẻ vô tâm nầy cũng đã thủ tiêu luôn tấm bia Nguyễn Trọng Đang, như chính họ đã thủ tiêu lịch sử tranh đấu gian lao để bảo vệ vùng đất thiêng liêng đó của tổ tiên dân tộc Việt.  Một câu ca dao phổ thông của người Việt đã nhắc nhở rằng dù bia đá bị mòn đi hay bị mất đi, nhưng ngàn năm bia miệng, vâng, “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”….

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 16-4-2002)

 

CHÚ THÍCH:

Cần chánh điện học sĩ không phải là một chức quan, mà là một hàm tước, phong cho những người có công với triều đình. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 71.)

Bài thơ nầy trích từ mục “Bắc hành tạp lục (1813-1814)”, đăng trong Nguyễn Du toàn tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến hợp soạn, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1996, tr. 293.

Ngày xưa chia 1 tháng thành 3 tuần: thượng tuần, trung và hạ tuần.  Vì vậy nhị tuần là 20 ngày.

Vương đạo: nghĩa đen là đường cuả vua, nghĩa bóng là đạo trị nước cuả vua hoặc đạo trị nước dựa trên nhân nghĩa.

Trường An: chỉ kinh đô nhà Thanh ở Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay.

Nguyễn Du toàn tập, sđd. tr. 295.

Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, đỗ cử nhân trường thi Thăng Long năm 1825, đỗ phó bảng tại kinh đô Huế năm 1838, làm quan đến chức án sát, rồi cáo quan về quê dạy học.  Ông được vua Tự Đức cử đi sứ sang Trung Hoa năm 1849.  (Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tt. 341, 354.)

Cao Bá Quát (? – 1854), hiệu là Chu Thần, người xã Phù Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, đỗ cử nhân năm 1831, làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây).  Ông là người tài ba và rất tự hào về sở học cuả mình nên thường bị các quan trên đè nén.  Ông không bằng lòng và cáo quan về hưu trí.  Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự ở Sơn Tây, bị thất bại và bị bắt giết.  Cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự thường được gọi là “giặc châu chấu”, nhân vì trong năm đó ở Bắc Ninh và Sơn Tây bị nạn châu chấu phá hoại muà màng, nên người ta gọi như thế. 

Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con trai thứ 10 cuả vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840), em cuả vua Thiệu Trị (trị vì 1840-1847), và là chú cuả vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).

Tuy Lý Vương (1820-1897) tên thật là nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 cuả vua Minh Mạng, em cuả vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương, chú cuả vua Tự Đức.

Gia Tĩnh:  niên hiệu duy nhất của vua Trung Hoa là Minh Thế Tông (trị vì 1522-1566). 

Nguyên Hoà:  Sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh, lật đổ nhà Lê, giết vua Lê Chiêu Tông năm 1526 và em Lê Chiêu Tông là vua Lê Cung Hoàng năm 1527, lập ra nhà Mạc, thì một cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim (1468-1545) bỏ trốn qua Lào.  Nguyễn Kim tìm được người con út cuả Lê Chiêu Tông tên là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua tức Lê Trang Tông (trị vì 1533-1548), trung hưng nhà Lê.  Lê Trang Tông lấy niên hiệu là Nguyên Hoà.  Vì các nhà viết sử ngày trước xem nhà Mạc là ngụy triều, nên không dùng niên hiệu cuả nhà Mạc mà chỉ dùng niên hiệu cuả nhà Lê.

Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư điạ chí, bản dịch cuả Ngô Mạnh Nghinh, Nxb. Tự Do, Sài Gòn, 1960, tt. 268-269.  Phương Đình dư điạ chí đề tưạ năm 1862, gồm 5 quyển: quyển đầu trích lục các sách Trung Hoa viết về nước ta, quyển 2 viết về điạ lý chí nước ta thời Hậu Lê, quyển 3 đến quyển 5 chép về thời cận kim.  [Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ cử nhân Nho học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ (sinh 1897) và Ngô Thúc Địch (sinh năm 1900).  Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đã dạy Hán văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1954 đến 1960.]

Sau đây là lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” trên tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001 và đã được CSVN đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế: “Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa hiệp cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong vịnh… Trong các năm 1974 và 1977-1978, hai nước tiến hành 2 vòng đàm phán về phân định… Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên… Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000

Về biển đảo và lãnh hải, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! >>> ►Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►VN tứ bề thọ địch, nếu không liên minh với Mỹ sẽ mất nước trong nay mai

Posted by hoangtran204 trên 26/06/2016

Tác giả:

25-6-2016

Nước Nga của “đại đế” Putin đã chính thức ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, như một mũi dao đâm sau lưng “bạn vàng Việt Nam” một thuở.

Chưa hết, hai “ông em ruột” của Việt Nam là Lào và Cămphuchia cũng đứng hẳn về phía Trung Quốc, gián tiếp ( ngầm) ủng hộ đường lưỡi bò của bọn giặc Trung cộng…

Than ôi, Việt Nam từng moi ông Hunsen từ trong túi quần của bè lũ Pôn Pốt để dựng ông này lên thành “lãnh tụ” hôm nay, hi sinh cả mấy vạn sinh mạng “bộ đội tình nguyện” và tiêu tốn hàng tỉ đô la cho chế độ bạn vàng Hunsen để hôm nay ông này thọc lưỡi dao Trung Quốc vào sườn tây nam đất nước.

Việt Nam cũng đã hi sinh nhiều vạn “bộ đội tình nguyện” và hàng tỉ đô la từ kháng chiến chống Pháp đến hôm nay cho nước Lào đỏ. Nay Lào miệng thì vẫn hô Việt Nam là ruột thịt số một, nhưng đứng hẳn về phía Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, gián tiếp thọc lưỡi dao vào sườn Tây tổ quốc.

Nếu Trung Quốc phát động chiến tranh đánh cướp đảo và đất liền Việt Nam, chắc chắn hai “ông em ruột” Miên – Lào sẽ cho Trung Quốc mượn đất và hợp tác với giặc Tầu bao vây toàn diện nước ta, hòng cho Việt Nam vào rọ thép không đường thoát.

Như vậy , chiến lược ngoại giao của nhà nước Việt Nam: “làm bạn với tất cả các nước, không liên minh với nước này để chống lại nước khác” đã hoàn toàn thất bại.

Chưa bao giờ Việt Nam bị cô lập như bây giờ, hoàn toàn không có “bạn vàng” hoặc ông lớn nào giúp đỡ bảo vệ khi Trung Quốc tiến đánh.

Cũng chưa bao giờ vận mệnh dân tộc, tổ quốc nguy nan, nghìn cân treo sợi tóc như hôm nay. Buộc người dân yêu nước phải lo lắng và lên tiếng.

Rằng đúng như lời ông Lê Duẩn (kẻ chống Trung Quốc triệt để nhất) đã nói đại ý : Trung Quốc không chỉ là kẻ thù truyền kiếp của cha ông ta trong quá khứ mà còn là kẻ thù nguy hiểm nhất mãi mãi về sau vì nó không bao giờ bỏ mộng chiếm Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á…

Nhìn vào những diễn biến gần đây trên Biển Đông và trong nước, không cần nhậy cảm cũng có thể biết Trung Quốc sẽ tiến đánh Việt Nam trong nay mai, hòng chiếm tất cả các đảo Trường Sa của Việt Nam, cấm Việt Nam và thế giới bay vào vùng trời lưỡi bò của chúng vẽ ra, trong thời cơ thuận lợi Mỹ đang bận bầu cử tổng thống.

Ngày 17-2-1979 Trung Quốc đã mang hàng chục vạn quân bất ngờ đánh vào dọc tuyến biên giới phía Bắc nước ta nhưng bạn vàng Liên Xô ( ngầm ký kết liên minh quân sự với Việt Nam) vẫn bình chân như vại, không hề làm động tác giả động binh trên biên giới Xô – Trung.

Trong thời gian cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược ấy, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài báo chống Trung Quốc, vạch ra cơ man tội ác của bọn xâm lược phương Bắc với nước ta được in trên các báo : Nhân Dân, Quân Đội nhân dân, Công an nhân dân, Tiền Phong, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng…

Rằng chính Trung Quốc đã phá hỏng cuộc kháng chiến chống Pháp của ta. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp gần như phải hàng thì Trung Quốc ép ta ký hiệp định đình chiến Geneve, đến nỗi ngoại trưởng Phạm Văn Đồng phải vừa khóc vừa ký…Như vậy Việt Nam đâu phải quốc gia độc lập ? Độc lập sao được khi ta đã thắng giặc Pháp sau Điện Biên Phủ, Pháp sắp đầu hàng, lại phải khóc nghe lệnh Trung Quốc ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước?

Rằng trước ngày 30-4-1975, khi Sài Gòn bị Cộng quân bao vây tứ phía, Trung Quốc vẫn nhờ sứ quán Pháp móc nối với ông Dương Văn Minh, hứa nếu ông Minh lên tiếng yêu cầu, Trung Quốc sẽ cho triệu quân đổ bộ vào Sài Gòn cứu Việt Nam cộng hòa, đánh tan năm cánh quân Việt cộng đang bao vây đô thành…

Trung Quốc rất sợ Việt Nam thống nhất, chúng muốn bắt Bắc Việt làm lính đánh thuê cho chúng mãi mãi như lời Mao Trạch Đông : “ chúng ta sẽ đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Ông Lê Duẩn cũng từng nói toẹt ra: “Chúng ta đánh Mỹ cho Liên Xô và Trung Quốc”.

Chiến lược ngoại giao của đảng CS VN từ những năm 50 của thế kỷ trước dựa hẳn vào Liên Xô Trung Quốc, tự mình chui vào cái rọ của chúng, được chúng nuôi bằng quá nhiều tiền, dùng tiền để sai khiến, đưa máu Việt Nam ra làm phương tiện cho mục đích bá quyền của hai đế quốc Xô-Trung đã hoàn toàn thất bại.

Trung Quốc ngay từ thời “Trung Hoa Dân quốc” trước năm 1949 của Tưởng Giới Thạch đã vẽ bản đồ lưỡi bò, toan tính chiếm hết Biển Đông của mấy nước Đông Nam Á : Việt Nam, Philippin, Indonesia, Malaisia…

Năm 1949, Mao Trạch Đông chiến thắng Tưởng Giới Thạch, tiếp nhận bản đồ lưỡi bò của Tưởng, nhất quyết chiếm Biển Đông. Bọn Hán tặc mới này biết rằng nếu vẫn để Mỹ đứng chân ở miền Nam Việt Nam thì mãi mãi chúng không dám xía vào vùng biển mà chúng gọi là lưỡi bò này.

Phải tìm cách đuổi Mỹ đi nên Mao đã chọn Việt Nam làm con bài, chọn xương máu Việt Nam để thực thi ý đồ chiến lược của chúng là chiếm Việt Nam và chiếm toàn bộ Đông Nam Á, bằng cách bày ra trò “giải phóng miền Nam” để Việt Nam làm tiên phong trên bàn cờ bá quyền của chúng. Chúng viện trợ hết cỡ cho Việt Nam, bốc các ông lãnh đạo CS VN là anh hùng thời đại, dám đánh Mỹ cứu mình và cứu thế giới. Do đó Tố Hữu mới làm thơ như sau : “ Ta vì ta ba chục triệu người / Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”, “Vui sướng bao nhiêu trên tuyến đầu diệt Mỹ”…

Năm 1973 Mỹ rút quân khỏi Nam Việt Nam. Năm 1974, Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc này Mỹ đã chơi con bài Trung Quốc để bao vây Liên Xô; vì Mỹ đã thua con bài Trung Quốc là Việt Nam : đánh mãi không thắng !

Không thực hiện được việc chia đôi đất nước Việt Nam vĩnh viễn, Trung Quốc vô cùng căm thù ban lãnh đạo Việt Nam dám thống nhất đất nước, bèn dùng bọn tay sai Pôn Pốt, Iêng xa ri , sai bọn ác ôn Cămpuchia này mở cuộc chiến tranh đánh vào sườn Tây Nam đất nước gây bao tang thương chết chóc cho nhân dân Việt Nam.

Trung Quốc dìm Việt Nam trong biển máu chiến tranh với Khơ me đỏ, để năm 1979 chúng tổng tấn công, đánh toàn diện biên giới phía Bắc gây ra núi xương sông máu cho nhân dân Việt Nam. May mà cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, Việt Nam chống cự mãnh liệt, khiến Trung Quốc của Đặng Tiểu bình bị thiệt hại quá mức nên chúng phải rút.
Năm 1990, thấy tình hình cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam bí mật “hàng” Trung Quốc bằng hiệp ước Thành Đô mờ ám…Trung Quốc chỉ dùng vũ khí có tên là chủ nghĩa cộng sản mà không cần dùng xương máu đã thâu tóm được Việt Nam trong cái thòng lọng có tên là “bốn tốt và mười sáu chữ vàng”…

Năm 1988, Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma của Việt nam (là một đảo lớn trên quần đảo Trường Sa của VN)…Đoạn, Trung Quốc liên tục chiếm các đảo đá ngầm bồi đắp đất làm các đảo nhân tạo trên vùng biển của Việt Nam, đưa máy bay và vũ khí ra các đảo mới chiếm tuyên bố sẽ mở vùng nhận dạng phòng không ( ADIZ) trên biển Đông, khóa hẳn đường ra biển của Việt Nam. Mối quan hệ hữu hảo giữa Việt Cộng và Trung cộng hiện nay chỉ bằng lỗ miệng, còn thực chất vẫn là chiến tranh ngầm, chiến tranh không tuyên bố…

Giờ đây, việc Trung Quốc sắp mở vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông sẽ là lời tuyên chiến với Việt Nam.
Việt Nam không liên kết với Mỹ, sẽ mất nước trong nay mai. Nếu không có Mỹ liên tục đưa tàu đến Biển Đông để tuần tiễu, Việt Nam đã bị bạn vàng Thành Đô là bọn xâm lược Trung Quốc chiếm lâu rồi…

Sài Gòn ngày 25-6-2016

© T.M.H.

© Đàn Chim Việt

—————————————

Chú thích ảnh:

1- Con tem của Việt Nam 1954, chiến lược gắn kết VN với hai siêu cường cộng sản của đảng CS VN đã hoàn toàn thất bại, gây hiệu ứng ngược.

viettrung

2- hình Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng với bạo chúa Giang Trạch Dân, Lý Bằng ký kết hiệp định Thành Đô 1990.

thanhdo

3- Lời Mao Trạch Lươn quyết chiếm trọn biển đông và chiếm hết các nước Đông Nam Á.

mao

____

 

Posted in Chiến Lược doi pho Trung Quoc, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Lào, Trung Quốc xâm nhập Kamphuchea | Leave a Comment »

► Nhà máy giấy Lee-Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông Cửu Long?

Posted by hoangtran204 trên 23/06/2016

Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông Cửu Long?

Lê Anh Hùng

Blog VOA

22-6-2016

Vị trí 3 căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc trên bản đồ. Courtesy Photo

Vị trí 3 căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc trên bản đồ. Courtesy Photo

Trong bối cảnh vụ đại thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra từ đầu tháng Tư đến nay đang khiến hàng triệu ngư dân Miền Trung rơi vào tình cảnh sống dở chết dở, hàng chục triệu người Việt cả trong và ngoài nước cảm thấy bất an, lo lắng thì thông tin nhà máy giấy khổng lồ Lee & Man Việt Nam nằm ngay bên bờ sông Hậu sắp đi vào hoạt động vào tháng Tám tới đây lại khiến công chúng đứng ngồi không yên.

Nhà máy giấy này là của Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam (thuộc Tập đoàn Lee & Man Paper Hongkong – Trung Quốc), với tổng mức đầu tư lên tới 1,2 tỷ USD và nằm trong số 5 nhà máy giấy lớn nhất trên thế giới.

Tổng diện tích của nhà máy là 82,8ha, nằm trong Cụm Công nghiệp Phú Hữu A, thị trấn Mái Dầm, tỉnh Hậu Giang.

Tổng thầu xây dựng nhà máy là Công ty Cổ phần Kỹ thuật Hải Thành đến từ Thượng Hải, Trung Quốc. Thời gian nhà nước cho công ty này thuê đất làm dự án nhà máy giấy là 50 năm.

Mặc dù mới được khởi công tháng 3/2015, nhưng dự án đã được UBND tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận đầu tư từ ngày 27/6/2007 và lễ động thổ nhà máy đã diễn ra vào ngày 6/8/2007.

Ngay từ thời điểm đó, dự án đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của dư luận, đặc biệt là Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), khi mỗi năm nhà máy sẽ xả ra môi trường đến 28.500 tấn xút (NaOH), đe doạ hủy hoại nguồn lợi thủy sản của sông Hậu và vùng biển phía Nam, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động nuôi trồng thủy sản tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất thuỷ sản trọng điểm của cả nước.

Mới đây,VASEP lại gửi công văn tới Quốc hội và Chính phủ đề nghị “khẩn cấp chỉ đạo việc kiểm tra, rà soát công nghệ xử lý nước thải của Dự án xây dựng nhà máy giấy của Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam và chỉ đạo, yêu cầu đầy đủ và đồng bộ hoạt động giám sát xả thải của nhà máy Lee & Man bao gồm cả đầu tư thiết bị, cơ chế giám sát và thực thi.”

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là trong “Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp giấy đến năm 2010” đã được Thủ tướng CP phê duyệt lại không quy hoạch xây dựng nhà máy giấy ở Hậu Giang.

Thậm chí, Quy hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020, cũng không quy hoạch vùng nguyên liệu giấy tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).

Còn trong văn bản số 1311/CV-SDR do Cục trưởng Cục Lâm nghiệp Nguyễn Ngọc Bình ký ngày 6/9/2007 thì nêu rõ “nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong khu vực chắc chắn chỉ đáp ứng được dưới 20% công suất nhà máy.”

Trước thực tế đó, bản thân đại diện chủ đầu tư cũng cho biết là 80% nguyên liệu của nhà máy là giấy phế liệu nhập từ nước ngoài; 20% nguyên liệu là từ gỗ rừng trồng trong nước.

Hậu Giang nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung không phải là thị trường tiêu thụ chính của một nhà máy giấy với quy mô nằm trong top 5 của thế giới.

Địa điểm đặt dự án cũng không phải là vùng nguyên liệu lớn, khi vùng này chỉ có thể cung cấp chưa đầy 20% công suất cho nhà máy; hơn 80% nguyên liệu là phế liệu phải nhập từ nước ngoài, nghĩa là cũng rất bấp bênh.

Chắc chắn, hiệu quả kinh tế mà dự án đem lại cho chủ đầu tư sẽ thấp hơn rất nhiều so với khi đặt nó trong một vùng nguyên liệu dồi dào hoặc trong thị trường tiêu thụ chính.

Chưa hết, nhà máy lại nằm trong một khu vực đặc biệt nhạy cảm về môi trường, khi mà hoạt động bình thường của nó có nguy cơ rất cao là huỷ diệt môi sinh, đe doạ sinh kế của hàng triệu người.

Về phía chủ đầu tư, nếu muốn đảm bảo các yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường, họ sẽ phải đầu tư rất lớn, điều mà người ta khó lòng chờ đợi ở các ông chủ đến từ Trung Quốc. Đối với người dân và chính quyền địa phương, nếu để xẩy ra thảm hoạ môi trường thì cái giá phải trả là không thể đong đếm.

Kinh tế và môi trường là hai tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá lợi ích của một dự án, vậy mà ở đây cả hai tiêu chí này đều bị người ta xem “nhẹ tựa lông hồng”. Lý do là vì sao? Câu trả lời nằm ở phần dưới đây.

Trong bài “Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc” đăng trên VOA ngày 31/3/2016 và bài “Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu?” trên VOA ngày 11/4/2016, chúng tôi đã cảnh báo dư luận về việc người Trung Quốc đang núp bóng các công ty nước ngoài để âm mưu biến hai trung tâm nhiệt điện nằm ở những vị trí cực kỳ nhạy cảm về an ninh quốc phòng này thành những căn cứ quân sự lợi hại.

Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải nằm ở xã Dân Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, ngay bên bờ Biển Đông, còn Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu thì lại nằm ở thị trấn Mái Dầm, tỉnh Hậu Giang, tức chỉ cách Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam một vài km. Lee & Man Việt Nam cũng xây dựng một cảng quốc tế chuyên dụng ngay bên bờ sông Hậu.

Rõ ràng, Trung Quốc đang âm mưu biến Trung tâm NĐ Duyên Hải, Trung tâm NĐ Sông Hậu và Nhà máy Lee & Man Việt Nam thành 3 căn cứ quân sự liên hoàn, để từ đó vừa kiểm soát vùng biển phía nam Việt Nam vừa kiểm soát sông Hậu, tuyến giao thông đường thuỷ huyết mạch nối liền Biển Đông đến biên giới Việt Nam – Campuchia.

Một khi chiến sự giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra, lực lượng tại chỗ trong 3 căn cứ này sẽ phối hợp với lực lượng đổ bộ từ biển vào và lực lượng từ bên kia biên giới – đội quân nằm vùng của Trung Quốc hoặc quân đội của một Campuchia đang mưu toan đòi lại Nam Bộ – đánh sang để hình thành nên một gọng kìm đe doạ chia cắt và khống chế hoàn toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Không còn nghi ngờ gì, giống như Formosa Hà Tĩnh ở Miền Trung, Nhà máy Lee & Man Việt Nam thực sự là một hiểm hoạ quân sự – kinh tế – môi trường “made in China” vô cùng tai hại khác ở Miền Tây Nam Bộ.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Thay vì viếng thăm một ngôi chùa Việt Nam thuần túy, Đảng CSVN và nhà nước đã sắp xếp để TT Obama ghé Sài Gòn thăm chùa do người Trung Quốc thành lập!

Posted by hoangtran204 trên 23/05/2016

Thư của Giáo sư Tương Lai gửi Đại sứ Mỹ

BVN

Tp Hồ Chí Minh ngày 22.5.2016

Kính gửi Ngài Đại sứ Ted Osius,

Đã từng quen biết và tin tưởng ngài qua những lần tiếp xúc với Ngài và với những quan chức ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi muốn trao đổi với Ngài một vấn đề mà theo nhận thức của tôi là hết sức cấp bách và tế nhị vào dịp Tổng thống Barack Obama đến Việt Nam và thăm TP Hồ Chí Minh.

Theo bản tin của BBC ngày 21.5.2016 về “Lịch trình của Tổng thống Obama ở Việt Nam”, dẫn lời của Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes khi đến Thành phố Hồ Chí Minh thì “ngay lập tức, Tổng thống sẽ đến thăm Chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải) để bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam”.

Chúng tôi hết sức ngỡ ngàng về tin này. Vì sao các ngài lại chọn chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải tự) để Tổng thống đến thăm để “bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam“? Vậy “Chùa Ngọc Hoàng” có lai lịch ra sao?

Theo Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) thì:

Ngôi chùa vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người tên Lưu Minh (pháp danh là Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20 …Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là “Phước Hải Tự”. Chính điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Huyền Thiên Bắc Đế với các thiên binh, thiên tướng. Có phối thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và một số thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa như: Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Địa (thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Tổ (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề), Nữ Oa Thánh Mẫu, 12 bà mụ, 13 đức thầy, v.v. Ngoài ra, chùa còn thờ thần Thành hoàng.”

Một ngôi chùa như vậy liệu có tiêu biểu cho “truyền thống văn hóa Việt Nam” không?

Đành rằng trong quá trình tiếp biến văn hóa, với sự giao thoa của văn hóa tín ngưỡng, những ngôi chùa Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của những kiến trúc của các ngôi chùa Ấn Độ, Trung Hoa, song bản sắc Văn hóa Việt Nam vẫn là nét chủ đạo trong các chùa cổ của Việt Nam. “Đất vua, chùa làng”, “trẻ vui nhà già vui chùa”, từ xa xưa khi Phật giáo giữ vị trí độc tôn, thì ngôi chùa làng không chỉ tọa lạc ở nơi linh thiêng có cảnh quan đẹp nhất của một làng quê mà còn tọa lạc ngay chính trong tâm hồn cả cư dân trong làng đó.

Bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam một phần lớn, nếu chưa muốn nói là nhân tố quan trọng nhất thường được hun đúc, nuôi dưỡng và phát huy từ những ngôi chùa đó.

Trong quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa, với nhiều biến đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố, vai trò và ảnh hưởng của những điều vừa nói tuy không còn nguyên vẹn, nhưng ở những phần giá trị cốt lõi, thì những ngôi chùa muốn được xem là tiêu biểu của văn hóa Phật giáo Việt Nam vẫn phải giữ cho được. Ở giữa TP Hồ Chí Minh đương nhiên không có ngôi chùa làng, nhưng cũng không quá hiếm những ngôi chùa thuần Việt hoặc đậm sắc thái, tính cách Việt để có thể giới thiệu cho những ai muốn hiểu về “truyền thống văn hóa Việt Nam”.

Đó là thiển ý của chúng tôi muốn gửi đến ngài Đại sứ. Xin được nói thêm rằng, tôi vừa trao đổi nội dung thư này với giáo sư Cao Huy Thuần, một nhà nghiên cứu uyên bác về Phật giáo, tác giả của nhiều tác phẩm viết về đề tài này, hiện là giáo sư về ngành chính trị học tại Đại học Picardie, Pháp. Gíao sư Cao Huy Thuần đã hoàn toàn nhất trí với những ý kiến trình bày trong thư và muốn qua lá thư này, nhờ tôi chuyển đến Ngài Đại sứ ý kiến của ông.

Chúng tôi mong rằng, với trách nhiệm và sự hiểu biết khá kỹ về văn hóa Việt Nam, Ngài sẽ có sự can thiệp kịp thời về một sự kiện có thể sẽ gây nên những phản ứng khó lường. Đó là những phản ứng khi người Việt Nam cảm thấy bị xúc phạm. Đặc biệt là những Phật tử khắp cả nước sẽ hết sức bất bình dẫn đến phẫn nộ khi ngôi chùa đang được ngộ nhận là tiêu biểu cho bản sắc văn hóa truyền thống đáng tự hào của mình, ngôi chùa duy nhất được Ngài Tổng thống Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ đến thăm để “bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam” lại “vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người Quảng Đông, Trung Quốc xây, đang thờ nhiều thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa.

Sự bất bình dẫn đến phẫn nộ là điều dễ hiểu nhưng lại hoàn toàn có thể cởi bỏ chuyện đó một cách đơn giản với đầy đủ ý thức tôn trọng truyền thồng văn hóa của dân tộc Việt Nam, một dân tộc chưa hề biết cúi đầu.

Xin gửi đến Ngài Đại sứ lời chào trân trọng của chúng tôi.

Tương Lai,

Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn Võ Văn Kiệt

Tác giả gửi BVN.

Posted in Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải, Trà Vinh, sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 20/05/2016

Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc


31.03.2016
Vị trí xã Dân Thành, nơi đặt Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải, trên bản đồ. Ảnh chụp màn hình.

Vị trí xã Dân Thành, nơi đặt Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải, trên bản đồ. Ảnh chụp màn hình.

Mưu đồ thâm độc của Trung Nam Hải

Hàng ngàn năm nay, Trung Quốc chưa bao giờ nguôi dã tâm thôn tính Việt Nam. Đó là thực tế mà có lẽ người Việt Nam nào cũng nhận ra, qua những bài học lịch sử, qua những gì đã và đang diễn ra ở Biển Đông cũng như trên dải đất hình chữ S này.

Trong một bài viết gần đây, chúng tôi đã vạch rõ mưu đồ của Trung Quốc nhằm hiện thực hoá cuồng vọng thôn tính Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thế giới đầu thế kỷ 21, khi một cuộc chiến giữa Việt Nam với Trung Quốc không chỉ trên Biển Đông mà cả trên đất liền là khó tránh khỏi: tạo ra nhiều gọng kìm hòng kiềm toả và bóp nghẹt Việt Nam từ mọi phía – biên giới phía bắc, biên giới Lào – Việt, biên giới Campuchia – Việt Nam, Biển Đông và vùng duyên hải Việt Nam.

Nếu chiến lược đó được triển khai thành công, một khi chiến sự xẩy ra, Việt Nam sẽ bị chia cắt thành nhiều phần tại những vị trí xung yếu ven biển mà Trung Quốc đã chiếm lĩnh được thông qua các dự án kinh tế trá hình. Phối hợp với những căn cứ duyên hải là những căn cứ tương ứng giáp biên giới Lào – Việt và Camphuchia – Việt Nam để tạo nên những gọng kìm hòng bóp nghẹt Việt Nam.

Trong thời chiến, chống lại một đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới với âm mưu hiểm độc như thế, có thể nói, Việt Nam chưa đánh đã thua.

Trong thời bình, những căn cứ quân sự trá hình đó chẳng khác nào những mũi dao dí vào những tử huyệt trên khắp cơ thể, khiến Việt Nam rơi vào thế yếu trong các cuộc thương lượng, mặc cả với đối phương.

Hiện nay, Campuchia gần như đã trở thành đồng minh công khai của Trung Quốc; trong khi Lào thì dần hờ hững với Hà Nội và ngả về phía Bắc Kinh. Bản thân Lào cũng đang đứng trước nguy cơ bị “Hán hoá”, với nhan nhản người Tàu cùng các “dự án” của họ trên khắp đất nước, đặc biệt là dọc biên giới Lào – Việt. Trung Quốc đã mưu tính làm một con đường chạy suốt từ Vân Nam, qua Lào và Kampuchia, cho đến tận Tây Nguyên, nơi được coi là “nóc nhà Đông Dương”, một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của cả bán đảo Đông Dương.

Nhờ khai thác triệt để các nhân tố Trung Quốc trong ban lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc đã chiếm lĩnh được hoặc đang tìm cách chiếm lĩnh nhiều vị trí xung yếu nằm ở các vùng duyên hải của Việt Nam như Vũng Áng (Hà Tĩnh),Cửa Việt (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Hải Vân, Đà Nẵng hayVĩnh Tân (Bình Thuận), Binh Duong v.v., cùng 282.000 ha rừng đầu nguồn và vùng biên giới.

Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải: những dấu hiệu đáng ngờ

Mới đây, chúng tôi lại phát hiện nhiều dấu hiệu cho thấy một căn cứ ven biển vô cùng nguy hiểm khác của Trung Quốc ở Việt Nam đang dần dần lộ diện. Đó là Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải ở xã Dân Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải bao gồm 4 nhà máy nhiệt điện chạy than, nằm ngay bên bờ biển, có tổng diện tích lên tới 878,91 ha, cách Tp Trà Vinh khoảng 45km về hướng Đông Nam và cách Tp Hồ Chí Minh khoảng 250km.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 gồm 2 tổ máy, với tổng công suất 1.245 MW. Dự án do Tổng Cty Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư và Tập đoàn Điện lực Đông Phương (Dongfang Electric Corporation Ltd. – DEC) của Trung Quốc làm tổng thầu EPC. Tổng mức đầu tư của dự án vào khoảng 1,6 tỷ USD, trong đó Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc cho vay 85%, còn lại 15% là vốn đối ứng của EVN. Nhà máy khởi công ngày 19/9/2010 và chính thức đưa vào vận hành thương mại đầu tháng Hai vừa qua.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 2 gồm 2 tổ máy, với công suất 600MW mỗi tổ. Tổng mức đầu tư của dự án là 2,4 tỷ USD, do công ty Janakuasa Sdn. Bhd của Malaysia làm chủ đầu tư theo hình thức BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao). Hợp đồng thực hiện dự án giữa Bộ Công thương Việt Nam và nhà đầu tư Malaysia đã được ký kết tại Hà Nội ngày 29/12/2015.

Tờ The Star của Malaysia ngày 30/12/2015 đưa tin, công ty Huadian Engineering của Trung Quốc đã được chỉ định làm tổng thầu EPC của dự án. (Huadian Engineering là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Tập đoàn Hoa Điện – Huadian Corporation – của Trung Quốc.)

Chuyên trang tài chính CAFEF.vn ngày 20/4/2011 lại cho biết: Theo tin từ Thông Tấn Xã Malaysia, Huadian Engineering đã bảo lãnh chi trả cho Janakuasa để thực hiện dự án này. Giá trị dự án ước tính vào thời điểm đó là 1,5 tỷ USD, trong khi mức bảo lãnh chi trả của Huadian Engineering là 1,59 tỷ USD, nghĩa là Janakuasa không phải bỏ ra một xu nào cả.

Theo trang China.org.cn của Trung Quốc, hợp đồng thực hiện tổng thầu dự án Nhiệt điện Duyên Hải 2 giữa Janakuasa và Huadian Engineering đã được ký kết tại Kuala Lumpur ngày 28/4/2011 dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Malaysia Najib Razak và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 gồm 2 tổ máy, với tổng công suất 1.244MW. Tổng mức đầu tư của dự án là trên 1,5 tỷ USD, trong đó 85% là vốn vay của 3 ngân hàng Trung Quốc (Ngân hàng Trung Quốc – Bank of China, Ngân hàng Công thương Trung Quốc – ICBC, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc – CDB), 15% còn lại là vốn đối ứng của EVN. Dự án do liên danh 4 nhà thầu của Trung Quốc là CHENGDA – DEC – SWEPDI – ZEPC làm tổng thầu EPC và được khởi công vào ngày 8/12/2012.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng gồm 1 tổ máy 660MW. Dự án được khởi công ngày 13/12/2014, do EVN làm chủ đầu tư và tập đoàn Sumitomo Corporation của Nhật Bản làm tổng thầu EPC. Tổng mức đầu tư của dự án là 1,082 tỷ USD, trong đó 85% vốn vay thương mại nước ngoài và 15% vốn đối ứng của EVN.

Ngoài 4 nhà máy nhiệt điện, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải còn một dự án quan trọng nữa là cảng biển. Ngày 21/4/2013, Dự án Cảng biển Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải đã được khởi công. Theo báo Hà Nội Mới, đây là một cảng biển nước sâu, với tổng diện tích mặt nước 427,1 ha; giá trị gói thầu EPC là hơn 88,1 triệu USD và hơn 2.324 tỷ VND, bao gồm 15% giá trị vốn đối ứng do EVN thu xếp và 85% vốn dự kiến vay của Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC). Dự án do Tổng Cty Xây dựng Giao thông Trung Quốc (China Communications Construction Company Ltd.) làm tổng thầu EPC.

Như vậy, trong 5 dự án chính của Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải thì có đến 4 dự án do Trung Quốc vừa cho vay vốn vừa làm tổng thầu EPC (ba nhà máy nhiệt điện 1+2+3 và hải cảng nước sâu).

Theo quy hoạch ban đầu, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải chỉ có 3 nhà máy nhiệt điện. Dự án thứ tư, Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng, là một dự án nhỏ, công suất chỉ bằng ½ một trong ba nhà máy trên, và mới được bổ sung sau này. Lý do xem ra là vì người ta tránh bị dư luận dị nghị khi cả 3 dự án nhiệt điện cùng dự án cảng nước sâu của một trung tâm nhiệt điện quan trọng tầm cỡ quốc gia lại đều do Trung Quốc cấp vốn và làm tổng thầu.

Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán. Việc Thủ tướng Trung Quốc đích thân cho phép một doanh nghiệp nhà nước cấp số vốn lên tới hàng tỷ USD cho một doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện dự án ở một nước thứ ba rồi chính họ lại làm tổng thầu dự án đó rõ ràng là không bình thường. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì trong vụ này công ty Janakuasa hoàn toàn “tay không bắt giặc”, hoàn toàn theo sự “đạo diễn” của người Trung Quốc, bởi ngay cả người giao dự án đó cho họ – PTT Hoàng Trung Hải – cũng là người Trung Quốc nốt.

Hiểm hoạ Trung Quốc mang tên Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải

Tại sao người Trung Quốc lại phải núp bóng một công ty Malaysia để vừa cung cấp vốn vừa làm tổng thầu một dự án nhiệt điện ở Việt Nam?

Vì chính phủ Việt Nam chuộng thiết bị của Pháp (hãng Alstom của Pháp sẽ là nhà cung cấp thiết bị chính) hơn của Trung Quốc ư? Nếu vậy thì phải giải thích thế nào khi hầu hết các nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện của Việt Nam đều do Trung Quốc làm tổng thầu và cung cấp thiết bị? Hay là vì Huadian Engineering không cạnh tranh nổi với Janakuasa để được chính phủ Việt Nam giao thực hiện dự án? Lý do này lại càng khó thuyết phục, không chỉ bởi các công ty Trung Quốc là những “bậc thầy” trong việc đấu thầu “theo cách của Việt Nam” mà quan trọng hơn, như chúng tôi đã nhiều lần chỉ rõ, họ còn nhận được sự ưu ái đặc biệt của ông Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng gốc Tàu phụ trách kinh tế ngành, trong đó có ngành điện lực.

Vậy lý do khả dĩ nhất nằm ở đâu?

Xin thưa, lý do nằm ở chỗ: 3 nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, Duyên Hải 3 và Duyên Hải 3 mở rộng đều do EVN làm chủ đầu tư; các nhà thầu Trung Quốc sau khi hoàn thành hợp đồng tổng thầu sẽ bàn giao nhà máy để EVN vận hành. Trong khi đó, Duyên Hải 2 lại là dự án BOT (xây dựng – kinh doanh – chuyển giao); sau khi xây dựng xong nhà máy, nhà đầu tư sẽ tiến hành kinh doanh trong một khoảng thời gian trước khi chuyển giao nguyên trạng cho chính phủ Việt Nam. Nghĩa là, chủ đầu tư dự án Duyên Hải 2 sẽ tiếp tục ở lại khu vực dự án trong hàng chục năm sau khi hoàn tất giai đoạn xây dựng nhà máy.

Với diện tích lên tới 878,91 ha, nằm ngay bên bờ Biển Đông, cách không xa cửa sông Hậu và cửa sông Cổ Chiên, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải rõ ràng là một vị trí hết sức xung yếu về an ninh quốc phòng. Đây là khu vực thuận lợi cho lực lượng xâm nhập từ biển vào, hoặc đổ bộ hoặc theo đường thuỷ tiến vào miền Tây Nam Bộ qua hai cửa sông chính nói trên. Nếu kiểm soát được khu vực này, Trung Quốc có thể phối hợp với lực lượng nằm vùng ở khu vực Campuchia tiếp giáp biên giới tây nam Việt Nam (hoặc thậm chí với quân đội của một Campuchia đang nuôi tham vọng đòi lại Nam Bộ) để tạo thành một gọng kìm nguy hiểm uy hiếp Việt Nam.

Không còn nghi ngờ gì, vị trí chiến lược của Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải khiến Trung Quốc hết sức thèm muốn. Tuy nhiên, với một khu vực nhạy cảm như thế thì việc một công ty Trung Quốc được giao thực hiện dự án BOT rồi “cắm chốt” ở đấy trong hàng chục năm sẽ khó tránh khỏi bị dư luận dị nghị rồi bóc mẽ. Vì thế, núp bóng một công ty Malaysia để đạt được mục đích của mình là một kế sách rất quỷ quyệt, thể hiện đúng ‘thương hiệu’ “thâm như Tàu” của các ông chủ Trung Nam Hải. Điều này lại càng thuận lợi bởi ông Ti Chee Liang, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Janakuasa, đồng thời là ngườiđại diện pháp luật của Cty TNHH Janakuasa Việt Nam, là một người Hoa.

Chúng tôi cũng đã từng vạch trần âm mưu xảo quyệt của Trung Quốc là lập các công ty ma ở Mỹ hay Singapore rồi lấy pháp nhân của chúng để đầu tư vào những dự án nằm ở những vị trí xung yếu tại Việt Nam như Silver Shores ở Đà Nẵng, Lăng Cô ở Thừa Thiên – Huế, hay Bãi Chuối ở đèo Hải Vân.

Rõ ràng, nếu không có gì thay đổi, Trung Quốc sẽ trở thành chủ đầu tư thực tế của dự án Duyên Hải 2 theo ít nhất 1 trong 3 cách thức hoàn toàn hợp pháp và rất khó kiểm soát sau đây: (i) Janakuasa thành lập một liên doanh với Huadian Engineering để thực hiện dự án rồi đến lúc “rút êm” khỏi liên doanh (trên thực tế họ chẳng phải bỏ ra một cắc nào bởi tổng thầu Huadian Engineering đã bảo đảm thanh toán toàn bộ chi phí); (ii) sau khi dự án Duyên Hải 2 hoàn thành và đi vào hoạt động, Janakuasa sẽ bán dự án cho tổng thầu kiêm chủ nợ Huadian Engineering để “cấn nợ”; và (iii) Huadian Engineering mua cổ phần của Janakuasa.

Giống như Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân, khi lựa chọn một khu vực ven biển thuộc xã Dân Thành để đặt một trung tâm nhiệt điện lớn, người ta đã bỏ qua hai tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá một dự án là kinh tế và môi trường. Địa điểm đặt các nhà máy cách các trung tâm tiêu thụ điện năng chính hàng trăm km sẽ khiến tỷ lệ hao hụt điện năng cao. Hiện tượng tro bụi phát tán do gió và nguy cơ các chất độc trong xỉ than ngấm vào mạch nước ngầm sẽ khiến vùng đất và vùng biển xung quanh các nhà máy khó tránh khỏi bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng đến cả môi sinh lẫn kinh tế, đặc biệt là ngư nghiệp và du lịch.

Với tư cách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, ông Hoàng Trung Hải là người có tiếng nói quyết định đối với các dự án điện nói riêng và các công trình trọng điểm quốc gia nói chung.

Với tư cách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, ông Hoàng Trung Hải là người có tiếng nói quyết định đối với các dự án điện nói riêng và các công trình trọng điểm quốc gia nói chung.

Không chỉ trao an ninh năng lượng của Việt Nam vào tay Trung Quốc thông qua hàng loạt dự án nhiệt điện và thuỷ điện do Trung Quốc làm tổng thầu, giúp hình thành nên những “phố Tàu” nhan nhản trên khắp Việt Nam[i] . Ông Hoàng Trung Hải còn lập thêm những chiến công hiển hách hơn cho quê hương là biến các trung tâm nhiệt điện quốc gia như Vĩnh Tân hay Duyên Hải thành những căn cứ vô cùng lợi hại của Trung Quốc.

Như để “tưởng thưởng” cho những “thành tích” vô tiền khoáng hậu đó, sau Đại hội XII, ngài Phó Thủ tướng gốc Tàu này đã chễm chệ trong ban lãnh đạo tối cao của Đảng CSVN, trở thành Bí thư Thành uỷ Hà Nội, và tràn đầy cơ hội tiếp quản chiếc ghế Thủ tướng hoặc Tổng Bí thư trong những năm tới.

__________

Ghi chú:

[i] Mới đây, một loạt tờ báo chính thống đã phải lên tiếng về hiểm hoạ “phố Tàu” xung quanh Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải: VietNamNet ngày 12/3 đăng bài “‘Xóm Trung Quốc’ ở Trà Vinh”; VTC News ngày 13/3/2016 đăng bài “Lạc vào khu ‘Phố Trung Quốc’ ở Trà Vinh”; tờ Đời sống & Pháp luật ngày 19/3 đăng bài “Cận cảnh ‘Phố người Trung Quốc’ ở Trà Vinh và bài toán an ninh”, v.v.

*Bài liên quan: Thư ngỏ gửi ĐBQH Dương Trung Quốc về vụ tố cáo Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải.

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

  • 16x9 Image

    Lê Anh Hùng

    Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Tạp chí Đối Ngoại của Mỹ: Đám côn đồ gớm ghiếc cầm quyền ở Việt Nam không thực nghiệm dân chủ đâu

Posted by hoangtran204 trên 02/02/2016

Tạp chí Foreign Affairs, số tháng 1 và 2 năm 2016, đã có bài viết với tựa đề rất nặng nề và coi khinh đảng CSVN đang cầm quyền ở VN. Đây tạp chí xuất bản 6 số một năm, rất có uy tín và các chính trị gia toàn thế giới đều đọc; các thư viện, các học viện chính trị và kinh tế toàn cầu đều mua tạp chí này. Tác giả là nhà báo chuyên điều tra, và đang day tại  đại học tại NY. Ông chuyên về chính trị tại VN trong hơn mấy chục năm qua, đã xuất bản hai cuốn sách về VN, bài báo này cho thấy ông rất hiểu biết lịch sử và cách cầm quyền của đảng CSVN và nắm vững các biến cố xã hội, văn hóa, các phong trào nhân quyền, hoạt động của các blogger tại VN. Các bạn vào google.com và viết chữ Thomas A. Bass, Foreign Policy, và nhấn vào search để đọc nguyên bản tiếng Anh bài báo này.   

Đám côn đồ gớm ghiếc cầm quyền ở Việt Nam không thực nghiệm dân chủ đâu

Trà Mi dịch (Trần Hoàng có sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Trà Mi)

January 24, 2016 by Editor 

DCV Online

* Nó có thể trông giống như một vùng đất còn hoang sơ của tư bản, nhưng thực chất Việt Nam là một nhà nước công an trị.

Việt Nam là một mô hình lưỡng tính. Nheo mắt bên phải thì đó là một một xã hội đầy khát vọng tương lai. Nheo mắt bên trái, người ta lại thấy một tên cai ngục lạc hậu bỏ tù bất cứ ai từ chối theo đảng. (Để mời gọi du khách đến du lịch và các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam) Nhóm vận động của chính phủ tập trung vào những bãi biển đáng yêu, thực phẩm, và sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến du lịch. Ký giả vì nhân quyền lại quan tâm vào những sự đàn áp của chính quyền.

Đúng, Việt Nam mở cửa đón Phương Tây và đang phát triển nhanh chóng. Và –dù có tất cả những nét quyến rũ xinh tươi đó– Việt Nam là một nền văn hóa đổ nát. Kiểm duyệt đã bịt miệng hoặc lưu đầy những nhà văn hay nhất. Những tiểu thuyết gia và nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam không còn viết nữa, trừ một số đang công bố các tác phẩm của họ bằng cách xuất bản lậu sách bị cấm. Báo chí là một xí nghiệp tham nhũng do chính phủ kiểm soát. Những nhà xuất bản cũng thế. Lịch sử là một môn quá nguy hiểm để nghiên cứu. Tự do tôn giáo, tư tưởng, và ngôn luận – đã bị Bộ trưởng Thông Tin và Truyền Thông ngăn chặn tất cả.

 

Từ ngày 20 đến 28 tháng 1, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang tổ chức kỳ họp mỗi năm năm lần thứ 12 của nó được gọi là Đại hội toàn quốc. Khoảng 1.500 đảng viên sẽ tập trung tại Hà Nội để thông qua kế hoạch kinh tế năm năm và phê duyệt một liên danh ứng cử viên vào Ban Chấp hành Trung ương, 16 thành viên Bộ Chính trị, và Tổng Bí thư của đảng. Tham nhũng từ trên xuống dưới, cồng kềnh vì sự bảo trợ và dành đặc lợi cho đám thủ hạ, ĐCSVN bẻ quặt tay chính phủ, quân đội, phương tiện truyền thông của Việt Nam, và 93 triệu người Việt Nam. Người tị nạn và tác giả Nga Vladimir Nabokov nói,

“Chủ nghĩa Mác-xít cần một nhà độc tài, và một nhà độc tài cần đám công an chìm, và đó là ngày tận thế.”

Quan sát viên quốc tế theo dõi đại hội Đảng CSVN đang tìm các dấu hiệu xem phe này hay nhóm khác đang lộ diện. Trong vài tuần tới, người ta sẽ đọc những bài viết về phe có cảm tình với Phương Tây chế ngự phe theo Trung Quốc, hoặc ngược lại. Tự quá chú ý đến những khác biệt nhỏ làm người ta lệch nhãn quan. Khoảng 4,5 triệu đảng viên ĐCSVN đều muốn có phần của họ. Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về các cuộc họp kín bầu lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam,

 “Nó giống như xem bọn họ đấu đá dưới tấm thảm.

Đúng, ĐCSVN đã phát triển kể từ khi thống nhất đất nước sau chiến tranh Việt Nam từ năm 1975. Đối đầu với nạn đói ở nông thôn, Đại hội Đảng lần thứ sáu, năm 1986, đã từ bỏ nền kinh tế chỉ huy theo kiểu Liên Xô để chọn đi theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. ĐCSVN cho phép thị trường tự do phát triển mạnh ở dưới đáy xã hội và khuyến khích “tư bản đỏ” trổi lên ở khúc giữa, trong khi họ giành lấy phía trên cùng của xã hội: những ngành công nghiệp đóng tàu, ngân hàng, khai thác mỏ, và các doanh nghiệp nhà nước khác. 

Cùng với những cải cách kinh tế, đã có một giai đoạn ngắn có cải cách văn hóa. Mạng lưới theo dõi của nhà nước đã được tạm cất đi trong một khoảng thời gian đủ lâu để cho bốn tác giả lớn sau chiến tranh xuất bản những tác phẩm nổi tiếng nhất của họ: nhà văn viết truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (“Tướng về hưu”), tiểu thuyết gia Bảo Ninh (“Nỗi buồn chiến tranh”), Dương Thu Hương (“Tiểu thuyết vô đề”), và Phạm Thị Hoài (Thiên sứ”). Nhưng mạng lưới xám đó đã được đưa vào lại vị trí cũ trong năm 1991, khi công an văn hóa ập vào khám xét nhà Nguyễn Huy Thiệp và phá hủy những bản thảo của ông. Kể từ đó, Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh đã sống đời lưu đầy ngay trong nước, xuất bản những câu chuyện đã bị kiểm duyệt do nhóm bồi bút viết lại. Dương Thu Hương, sau tám tháng tù giam năm 1991,  hiện đang sống ở Paris, và Phạm Thị Hoài đang sống lưu vong ở Berlin.

Những điều chỉnh khác của ĐCSVN xảy ra sau khi đã khôi phục quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ vào năm 1995 và sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Sau 2007 vòi nước của đầu tư nước ngoài đã mở, nhưng cũng đã nhanh chóng bốc hơi ngay năm sau đó vì cuộc Đại Khủng hoảng (tài chánh 2008). Làm như không biết chuyện gì đang xẩy ra, ĐCSVN tiếp tục bơm tiền vào các doanh nghiệp nhà nước. Điều này khiến lạm phát tăng vọt lên tới 60 %/năm, bong bóng địa ốc đã vỡ một cách nhanh chóng, và sự phá sản của các doanh nghiệp nhà nước khác, gồm cả hãng đóng tàu quốc doanh, công ty Vinashin, mắc nợ lên đến 4,5 tỷ USD.

Xì căng đan này gần như đủ lớn để lật đổ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dũng đã được tay chân trong Bộ Chính trị cứu thoát và bắt đầu vận động dành ghế Tổng Bí thư ĐCSVN, nhưng dường như Dũng đã thất bại. Trong thực tế, Việt Nam vào lúc này dường như được trải qua một cuộc đảo chính chiếu chậm trong đó Nguyễn Phú Trọng, 71 tuổi, người đang đứng đầu ĐCSVN –dù đã quá tuổi về hưu– đang chạy đua để duy trì quyền lực, ít nhất là thêm một vài năm nữa.

Bên cạnh ĐCSVN, hằng số khác ở Việt Nam là ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong năm 2008, Tổng công ty Nhôm giàu xụ của Trung Quốc mua quyền khai thác mỏ bauxite của Việt Nam ở Tây Nguyên. Năm sau, Bắc Kinh cho hồi sinh chủ nghĩa bá quyền trên hầu hết vùng biển Đông. Đến năm 2014, Bắc Kinh đã đưa một giàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển ngoài khơi Việt Nam và xây dựng phi đạo cho phản lực cơ trên các đảo nhân tạo được tạo ra quanh vùng đá san hô. (Hà Nội vừa cáo buộc Bắc Kinh đã đưa giàn khoan dầu trở lại vào vùng biển Việt Nam vài ngày trước khi bắt đầu Đại hội XII.) Lực lượng công an không còn có thể kiềm chế được phong trào chống Trung Quốc đã bùng phát. Hồi tháng 5, 2014, hàng trăm nhà máy được cho là của Trung Quốc đều bị cướp hoặc bị đốt, và 21 người đã chết. Và chẳng có gì ngạc nhiên phe thân Trung Quốc ở Việt Nam đã phải đi núp.

Tuy nhiên, phong trào chống Trung Quốc chưa làm ảnh hưởng của Trung Quốc giảm đi ở Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục xây dựng đảo ở Trường Sa, Biển Đông, khai thác mỏ ở cao nguyên, và làm bất cứ điều gì khác cần thiết để giữ chú em Việt Nam nằm yên trong quỹ đạo của đại ca Trung Quốc. Vì vậy, liên minh này chặt chẽ đến nỗi một số lượng lớn đáng ngạc nhiên người Việt – luôn dẫn chứng bằng cái gọi là Hiệp định Thành Đô – để cho rằng đất nước của họ đã thực sự thuộc về Trung Quốc (Ở một cuộc họp bí mật năm 1990 tại Thành Đô, Trung Quốc, ĐCSVN đã đổi dầu khí ngoài biển, mỏ bauxite, và những khoáng sản khác của đất nước lấy món tiền hối lộ khổng lồ của Trung Quốc, v.v. và cứ thế người ta tin và tiếp tục phổ biến đi.)

Hà Nội giỏi hơn trong việc nhào nặn mối quan hệ với Hoa Kỳ hơn là uốn nắn mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ ở phía bắc. ĐCSVN sẽ có khả năng sẽ thi hành thỏa thuận Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại mà 12 nước đã ký tắt hồi tháng Mười, 2015. TPP là thiết kế của Washington dùng làm một bức tường thương mại xanh để ngăn chặn làn sóng đỏ của Trung Quốc, hiệp định này đem một vận may bất ngờ đến cho Việt Nam. Thỏa thuận này có một số quy định khó chịu về quyền lao động, nhưng Hà Nội có thể sẽ ngoảnh mặt làm ngơ – như các giao thức quốc tế khác mà họ đã ký kết và coi không ra gì. Việt Nam đứng gần cuối bảng ở tất cả những chỉ số về quyền con người. Việt Nam có số tù nhân chính trị bình quân đầu người cao nhất trong bất kỳ quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á, nhưng họ vẫn nghênh ngang như một con công ngồi vào ghế ở Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Ai sẽ quan tâm đến một vài người tổ chức nghiệp  đoàn độc lập (với công đoàn của nhà nước)  đang bị cầm tù cùng với khoảng 300 tù nhân chính trị khác của Việt Nam?

Sau khi thực hiện TPP, Việt Nam sẽ muốn Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu hủy bỏ vị trí một nền kinh tế “phi thị trường” của mình. (Một “nền kinh tế thị trường” được bảo vệ tốt hơn để chống lại các vụ kiện chống bán phá giá). Đây là một vấn đề lớn đối với Việt Nam, hy vọng rằng TPP sẽ mở ra thị trường Mỹ cho các sản phẩm của Việt Nam, trong đó có một sản phẩm mà hai nước đã tranh tụng trong vài năm qua – cá ba sa. Hồi tháng Bẩy, 2015, để bôi trơn cho hiệp định thương mại thông qua, Tổng thống Barack Obama đã mời Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tới Nhà Trắng và sau này được gọi là một “cuộc họp lịch sử”. Và tại sao chuyến thăm đầu tiên tới Nhà Trắng của người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lại là “lịch sử”? Bởi vì [cuộc viếng thăm này được đảng csvn hiểu như thế là] “Tòa Bạch Ốc đã thừa nhận cấu trúc chính trị và sự lãnh đạo của đảng CS tại Việt Nam” – do đó đã hợp pháp hóa, theo Nguyễn Phú Trọng, sự cầm quyền của Đảng CSVN!

Nhưng hãy coi lại, sự cầm quyền này giống như: Ban tuyên giáo trung ương có vòi xuyên qua Bộ Thông tin và Truyền thông, tới “cục an ninh” Phòng PA 25 – và từ đó vào mỗi tổ của ĐCSVN điều khiển tất cả các phương tiện truyền thông ở Việt Nam. Ở vị trí đứng đầu ban kiểm duyệt của Việt Nam, Trọng chịu trách nhiệm điều hành cái mà tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF), trong một báo cáo tháng 9 năm 2013, gọi là một “nhà nước xã hội đen”, có đầy đủ những “làn sóng bắt bớ, xử án, các cuộc tấn công đánh đập và sách nhiễu.” Theo một bản tin tháng 7 năm 2015 của RSF, “Chỉ riêng năm 2012,” tay sai của tư pháp của Trọng “truy tố không ít hơn 48 blogger và những người bảo vệ nhân quyền, kết án họ tổng cộng 166 năm tù giam và 63 năm quản chế.”

Nhóm vận động chính trị cho nhà nước VN nói, chuyện như thế này là gieo hoang mang. Thật vậy, nó có vẻ lỗi thời, giống như một cái gì đó thuộc thời của những năm 1950. Nhưng những tin tức từ Việt Nam thực sự đáng báo động. Đáng báo động đối với Việt Nam, một quốc gia phải đối phó với một đống văn hóa đổ nát, và nó cũng đáng báo động cho tất cả chúng ta, những người cũng đang phải đương đầu với những áp lực của kiểm duyệt, sự gia tăng của các giám sát quần chúng, và sự thống trị của các lợi ích thương mại để loại trừ tất cả các giá trị khác trong xã hội của chúng ta. Từ quan điểm này, Việt Nam không phải là một hình ảnh của thời gian của quá khứ, nhưng là một cửa sổ nhìn về tương lai của chúng ta. Có thể nào khung sườn quái đản này trở thành sự bình thường mới hay chăng?

Một điều chúng ta biết về đại hội đảng lần thứ 12 của đảng Cộng sản Việt Nam là nó sẽ không chấm dứt sự thô bạo của công an. Hồi đầu tháng 12, công an mặc thường phục đã hành hung đánh đập nhà vận động nhân quyền, Luật sư Nguyễn Văn Đài bằng một thanh sắt. Mười ngày sau đó, Ls. Đài bị bắt trên đường đi gặp đoàn đại biểu Liên minh châu Âu đang đến thăm Hà Nội trong cuộc đối thoại nhân quyền Âu Châu (EU)–Việt Nam lần thứ năm. Blogger nổi tiếng nhất là nhà báo Nguyễn Hữu Vinh (aka Anh Ba Sam) hiện đang ở trong tù, với tội danh “lợi dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước.” Phiên tòa xử Vinh, trước đây dự định sẽ khai mạc vào ngày 20 tháng 1 – cùng ngày với Đại hội XII – nên đã bị đình hoãn lại vô thời hạn.

Một nền văn hóa đổ nát trong một nhà nước công an hành hung đánh đập những người ủng hộ dân chủ bằng những thanh sắt, Việt Nam vẫn thoát được tiếng xấu trên trường quốc tế vì nhiều người muốn kinh doanh với người dân tháo vát ở đất nước này, hay tận hưởng những thú vui ở Việt Nam. Không có vấn đề gì hết, Việt Nam sẽ tiếp tục đón khách du lịch và mặc cả về tài chính toàn cầu và chủ nghĩa tư bản xuyên quốc gia. Nhưng nếu bạn muốn đến dự tiệc này, bạn hãy quên đi. (Vì những buổi tiệc này) Chỉ dành riêng cho đảng viên.

© 2016 DCVOnline

Nguồn: Thomas A. Bass, The Ugly Thugs Running Vietnam Aren’t Experimenting With Democracy . Foreign Policy, January 22, 2016.

(Trần Hoàng đã sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Trà Mi)

———-

Vi Anh, VB
28-1-2016
Cuộc bầu cử Tổng bí Thư đảng CSVN trong đại hội 12 này là một phép thử xem Đảng CSVN gọi tắt là Việt Cộng trở thành Đảng CS Trung Quốc hay gọi tắt là Trung Cộng hay Tàu Cộng hay chưa. Đã có kết quả VC thành TC rồi.

Phe giáo điều, bảo thủ, thân thiết, thần phục TC do Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng cầm đầu đã thắng trong cuộc bầu cử độc diễn, y bám lại được chức tổng bí thư với khẩu hiệu “Con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử” và với mưu ma chước quỉ truất quyền ưng cử của đối thủ là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, để độc diễn. Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người cầm đầu phe đổi mới kinh tế, phục hồi vai trò chính thông của Nhà Nước, muốn xích lại gần với Tây Phương, nhứt là để cứu biển đảo bị TC xâm lấn. Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người đã từng dưa ra khẩu hiệu “Việt Nam nhất định không chấp nhận đánh đổi độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” đươc dân chúng VN ủng hộ, nhưng bi thua trong dại hội Đảng.Trừ ra có cuộc đảo chánh từ phía quân đội hay cách mạng từ phí nhân dân VN lật đổ chế dộ CS dộc tài đảng tri toàn diện, chớ ít nhứt trong 2 năm rưởi nữa nhiệm kỳ mà Tổng Trong hứa ở lại để  thừa kế và doàn kết đang hay một nhiệm kỳ 5 năm y cố lì ở lại, tinh thần, tác phong, thái độ và hành động thần phục TC của VC có tăng chớ khó có giảm. Tức là VC trở thành TC nhiều hơn chớ không bớt. Nói cách khác tương quan giữa Hà Nội và Washington sẽ lỏng lẻo hơn, con đường phát triễn dối tác chiến lược của VNCS vói Hoa kỷ sẽ trắc trở hơn vì phải qua Bắc Kinh chơ không suông thẳng qua Mỹ như thời kỳ trước đại hội đảng lần thư 12.

Qua đại hội Đảng CSVN lần thứ 12, khi mà Nhà Nước CSVN còn gần gũi với Mỹ, TC còn coi thường Đảng CSVN không tưởng tượng nổi, như gia nô của họ vậy. Ngay trong thời kỳ Đảng CSVN, đảng cầm quyền, chuẩn bị bầu bán người cầm cán đảng nhà nước, TC còn khinh thường nhiệm vụ tối cao của đảng cầm quyền một nước là vệ chủ quyền quốc thế mà TC chẳng coi Đảng CSVN không ra gì cả.

Nào TC cho máy bay bay xuống đảo của VN, qua vùng biển VN, xâm phạm vùng báo bay FIR Saigon do quốc tế uỷ nhiêm kiểm soát không lưu của VN. Nào TC đưa giàn khoan 981 ngoài khơi Vinh Bắc Bộ, vào vùng chồng lấn giữa Việt Nam – Trung Quốc, cách đường tuyến giả định 28 hải lý. TC bắn rượt tàu cá của ngư dân VN.

TC làm thế dể áp lực phe có lập trường cứng rắn với TC và để vô nước cho gà nhà, ủng hộ phe VC thần phục TC.

TC áp lực phe TT Nguyễn tấn Dũng được lòng dân, được các siêu cường Tây Phuong nhứt là Mỹ có thiện cảm, là người đi đầu trong việc tham gia hiệp ước Thương Thế giới WTO và hiệp ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP rõ ràng là thân Hoa Kỳ, thân phương Tây hơn ông Trọng.

Trong thời gian xẩy ra va chạm với TC hồi năm 2014, khi giàn khoan dầu của Trung Quốc được kéo vào và đặt tại vùng biển mà Việt Nam khẳng định thuộc chủ quyền của mình, ông Dũng là vị lãnh đạo nói thẳng vấn đề này ra, ông có lập trường cứng rắn phù hợp với những người dân đã xuống đường biểu tình phản đối chống Trung Quốc.

Ông Dũng cầm đầu chánh phú, khét tiếng tham nhũng, nhưng đã thành công trong việc liên minh với một số nước trong vùng Á châu Thái binh dương như Nhựt, Phi, Mã, Mỷ, Úc để hoá giải bớt đà xâm lấn của TC. Ông Dũng nhỏ tuổi hơn Tổng Trọng nhưng bị Trọng loại vì tuổi tác.

Còn Tổng Trọng 71 tuổi già nua, bảo thủ, giáo điều, thần phục TC lại dùng xảo thuật lấy thế phe củ ra đi đề cử phe mới và hạn ngạch tuổi tác để không cho TT Dũng ra ứng cử. Nhờ dòn tráo bài ba lá đó Ông Trọng Tổng bí Thư duy nhứt được miển trừ tuổi để độc diễn bám chức Tổng bí Thư.

Trong tình hình mưu ma chước quỉ bầu cử của Đại Hội 12 do Tông Trọng bày ra, 1 lá phiếu triệt đường ứng cử của TT Dũng, lót đương cho Tổng Trọng tiếp tục làm Tổng Bí Thư Đảng CSVN, là biến Đảng CSVN thành Đảng Tàu Cộng gốc Việt và biến đảng viên CSVN thành đảng viên TC gốc Việt.

Bỏ thăm cho Trọng thân Tàu Cộng trong khi Tàu Cộng dùng nào tàu, nào máy bay, nào giàn khoan áp lực VN, dương oai diệu võ với đại hội Đảng CSVN, là tiếp tay cho cho áp lực của TC, là hoan nghinh sự  chi viện của Tàu Công cho nhưng gia nô, những tên Tàu Công gốc Việt nối giáo cho Tàu Công hán hoá, thôn tính đảng CSVN- không hơn không kém.

Bỏ thăm cho Trọng là đấp mô con đường phát triễn kinh tế mà Nhà Nước đã ký với các nước qua Tổ chức WTO, TPP và con đường phát triễn dối tác chiến lược với Mỹ, Ấn, Úc, Nhựt, Phi, Mã trong việc ngăn chận đà TC xâm lăng biển dảo của VN.

Đó là hành động cổng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ khi mà kinh tế VNCS quá lệ thuộc TC, chánh trị VNCS qua cuộc bầu cử này cho thấy quá lệ thuộc Tàu Cộng.

Trong suốt cả hai ba chục năm nay, càng ngày TC càng kiếm chuyện đánh chiếm, lấn chiếm biên giới, đất liền, biền đảo của VN, mà đại hội Đảng 12 để Tổng Trọng một người CSVN bảo thủ, giáo điều lại phò Tàu Cộng, tự tung tư tác, dùng xảo thuật cũ rích của CS là bô chánh trị cử ai cũng phải bầu như kiểu gạc dân Đảng cử Dân bầu trong xã hội VN thì Đảng CSVN đã hoàn toàn mất tính đấu tranh, mất tinh thần độc lập, tụ chủ Việt Nam rồi. Làm thế Đảng CSVN đã phản bội bao xương máu của những đảng viên CS bỏ mình trong hai thời ký kháng chiến mà Đảng kêu gọi là chống Pháp và chông Mỹ giành độc lập cho đất nước.

Một số đảng viên CSVN còn một phần lương tâm và tinh thần VN sẽ hoặc là  bằng mặt không bằng lòng” hoặc tim cách chống ngầm hay chánh thức chống phe thân TC. Đảng CSVN sẽ nứt bể.

Hành động của Nguyễn phú Trong và phe nhóm làm cho người dân Việt thấy Đảng CSVN chỉ hành động vì quyền lợi của Đảng CS do một vài kẻ giỏi gian ác nắm trong tay mà thôi.

Đại hội lần thứ 12 của Đảng CSVN là một băng cớ cho thấy rõ Việt Công thành Tàu Cộng. Nó mở đưòng cho TC hán hoá VN, biến Tổng bí Thư CSVN thành thái thú cho TC, mà TC không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. Làm cho người dân Việt ở Bắc, ơ Nam, ở Trung và ở hải ngoai thấy rõ nhân dân VN có hai kẻ thù: TC là ngoại xâm; VC là nội thù.

Dân tộc VN dưới thời CSVN hoàn toàn bị tước quyền bầu cử. Cả Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng đều là các lựa chọn ngoài ý toàn dân.

Dũng làm cho ngân sách VN thâm thủng 7% trong năm 2015, vì nợ ngập đầu (theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn ngày Thứ Hai, 25/1/2016, bản tin “VEPR: Thâm hụt ngân sách có thể tới 7% GDP”…

Chính Dũng là kẻ làm cho VN mang nợ quốc tế ngập đầu, tới nổi Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, lo ngại VN cạn tiền phát triển.

Chính Dũng đã gài kinh tế VN lệ thuộc vào TQ: bản tin Vietnamnet/Tiếp Thị Thế Giới ngày 10/01/2016 cho biết:

“Những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã bị lệ thuộc ngày càng nhiều hơn vào kinh tế Trung Quốc (TQ), thể hiện rõ nhất ở chỗ hơn 90% tổng thầu các công trình lớn rơi vào tay nhà thầu TQ, mức nhập siêu từ TQ liên tục tăng cao và ngày càng nặng nề.”

Lựa chọn Dũng hay Trọng đều nằm ngoài ý của dân tộc VN.

Có gì bi thảm hơn chăng?

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Chinh Tri Xa Hoi, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Mỗi năm, người Việt chi 63000 tỷ đồng uống bia, và chỉ bỏ 2000 tỷ mua sách đọc

Posted by hoangtran204 trên 25/12/2015

Bởi vậy, hôm 19-5-2015, trong diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1)

Người Việt chi tiền mua sách không bằng số lẻ tiền uống bia mỗi năm

23-12-2015

Không ngần ngại móc hầu bao chi 63 nghìn tỷ đồng uống rượu bia mỗi năm, nhưng người Việt Nam lại chỉ dám bỏ 2 nghìn tỷ đồng mua sách đọc.

 

Báo cáo tổng kết năm 2015 và chương trình công tác trọng tâm năm 2016 của Cục Xuất bản, in và phát hành (Bộ Thông tin – truyền thông) cho hay, tính đến thời điểm này, toàn Ngành đã xuất bản được hơn 24.000 cuốn sách với hơn 270 triệu bản; xuất bản 375 loại văn hóa phẩm với hơn 22 triệu bản.

Theo đó, tổng doanh thu của toàn ngành ước đạt hơn 2 nghìn tỷ đồng.

Về tình hình xuất nhập khẩu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu xuất bản phẩm năm 2015 đạt khoảng 23 triệu USD, trong đó nhập khẩu là 18,9 triệu USD, xuất khẩu là 4,1 triệu USD. Như vậy ngành xuất bản Việt Nam vẫn nhập siêu gần 15 triệu USD.

Trong khi đó, theo số liệu mới nhất từ Bộ Công Thương, tháng 11 năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 298,8 triệu lít, tăng 8,7% so với cùng kỳ. Cộng dồn 11 tháng năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 3 tỷ lít, tăng 6,8% so với cùng kỳ.

Theo các chuyên gia trong ngành, với hơn 3 tỷ lít bia tiêu thụ hàng năm, tương đương với chi 3 tỷ USD ( xấp xỉ 63 nghìn tỷ đồng), Việt Nam trở thành quốc gia tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á, đứng thứ ba châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc.

Như vậy, khoản tiền mà người Việt chi cho đọc sách (2.000 tỷ đồng) chỉ bằng 1/31 tiền phục vụ nhậu nhẹt, rượu bia (63 nghìn tỷ đồng).

Sở dĩ người Việt còn đọc sách ít, theo nhiều chuyên gia có lẽ là do giá sách hiện nay còn cao so với mức thu nhập của số đông người dân, chất lượng chưa tốt, với cộng số sách ít ỏi được phân bổ tại các thư viện (bình quân chỉ đạt 0,35 bản/người).

Mà cốt lõi nhất chính là ý thức đọc sách để tích lũy tri thức của số đông người dân vẫn còn hạn chế.

Ý thức đọc sách hạn chế, nhưng văn hóa uống bia của người Việt Nam lại tăng phi mã.

Và khoảng cách giữa 2 nghìn tỷ đồng với 63 nghìn tỷ đồng có thể được kéo dài ra khi mà các nhà đầu tư vào ngành bia đang kỳ vọng người Việt Nam dùng bia sẽ tăng lên 60 đến 70 lít bia/người/năm.

Tô Mạn, theo Trí Thức Trẻ

———

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

Nguyễn Văn Tuấn

9-6-2015

Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân. Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp. Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79). VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất? Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

===

(1) http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov

(2) http://dantri.com.vn/blog/cuoi-len-dau-nhan-dan-con-kinh-khung-hon-dia-chu-tu-san-1078048.htm

Like

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Đảng CSVN có DÁM tuyên bố đặt quyền lợi dân tộc, lợi ích đất nước lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản hay không?

Posted by hoangtran204 trên 15/12/2015

Không. Đảng CSVN luôn luôn đặt quyền lợi của đảng cao hơn quyền lợi của đất nước và trên cả cha mẹ của họ, dựa theo lịch sử hình thành của đảng kể từ lúc ra đời 1932 đến nay.  Họ muốn nắm quyền cai trị đất nước nên dẫu cho đất nước và toàn dân có nghèo đói đến đâu họ cũng không quan tâm, miễn là họ giữ được lập trường của đảng cs. Gần đây, họ mới lập lại nội dung trên qua lời phát biểu “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất SAU Cương lĩnh của Đảng. TBT Nguyễn Phú Trọng

 

ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

Blog Tễu

Nguyễn Đăng Quang

15-12-2015

Đảng CSVN hiện có 3,6 triệu đảng viên, chiếm khoảng gần 4% dân số Việt Nam. Trong số này có 200 đảng viên cao cấp chia nhau nắm giữ toàn bộ các vị trí lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương xuống tận 63 tỉnh thành trong cả 3 nhánh quyền lực quốc gia: Hành pháp, Lập pháp Hành pháp và Tư pháp, cũng như toàn bộ các tổ chức đoàn thể, ban ngành (hay còn gọi là hệ thống chính trị) của toàn xã hội.  Thủ lĩnh Đảng – người có trọng trách cao nhất – hiện là ông Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư, là nhân vật mà 92 triệu người dân Việt Nam không ai được cầm lá phiếu bầu lên nhưng ông vẫn nghiễm nhiên là lãnh tụ tối cao của cả nước, nắm trọn quyền lực trong tay và toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia.

Ông Trọng cũng như các bậc tiền nhiệm của ông chưa hề một lần tuyên thệ trước Quốc hội, chưa bao giờ thề trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Trong Đại hội ĐCSVN lần XII tới đây, nếu như ông Trọng hoặc bất cứ ai khác được chọn làm Tổng Bí thư thì mặc nhiên cũng không phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp.

Chức vụ Tổng Bí thư ĐCSVN được đặc cách không phải tuyên thệ trung thành với bất cứ ai do bởi Điều lệ Đảng và Hiến pháp mà Đảng soạn thảo không có điều nào quy định Tổng Bí thư và các Ủy viên Bộ Chính trị phải làm như vậy.

Nếu đất nước và dân tộc Việt Nam được lãnh đạo bởi những  người thực sự vì dân vì nước, luôn đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của họ và của tổ chức chính trị mà họ đại diện thì thật là may mắn và hạnh phúc cho dân tộc và đất nước. Song thực tế lại không phải như vậy. Cương lĩnh cũng như Điều lệ hiện hành của ĐCSVN không có điều nào quy định Đảng phải coi và đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên tối thượng, cao hơn lợi ích của Đảng. Chính TBT Nguyễn Phú Trọng đã xác quyết điều này cách đây không lâu khi Quốc hội thảo luận thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013.  Ông thẳng thắn tuyên bố: “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.

Đó là về văn bản và lời nói. Còn về những việc làm và hành động cụ thể thì sao? Chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực mà bạn đọc dễ phán xét và kiểm chứng, đó là về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Đã có rất nhiều đảng viên và nhân sĩ, trí thức tâm huyết trong những năm qua đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu Lãnh đạo Đảng công bố các thỏa thuận mà Đảng đã ký với Trung Quốc ở Hội nghị Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc) ngày  4/9/1990.  Nhưng cho đến nay đã trên 25 năm rồi mà Đảng vẫn giữ “quyền im lặng”, vẫn bí mật và lặng lẽ thực hiện những gì Đảng đã ký với Trung Quốc, không công bố và chẳng cần giải thích cho nhân dân và 3,6 triệu đảng viên biết, mặc cho bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc tung tin hỏa mù, “nửa đúng, nửa sai, thật giả lẫn lộn” với ý đồ lường gạt, phân hóa và gây chia rẽ nội bộ để họ dễ bề thao túng lãnh đạo nước ta.

Nếu sự thực thỏa thuận Thành Đô không có điều khoản nào bất lợi cho dân tộc và đất nước Việt Nam thì Đảng nên công bố cho toàn Đảng, toàn dân biết để nhân dân yên tâm, và sát cánh với Đảng đối phó với nguy cơ “Bắc thuộc mới” không chỉ đang thập thò, lấp ló ở ngoài biên cương, biển đảo mà đã hiển hiện ở sâu trong đất liền và ở cao trong nội bộ chúng ta.

Xâu chuỗi một vài sự kiện sau Hội nghị Thành Đô liên quan đến cuộc  xâm lược nước của 60 vạn quân Trung Quốc ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc hồi tháng 2/1979,  ta thấy hình như có một thế lực nào đó ở cả 2 nước muốn nhân dân ta quên hẳn cuộc chiến tranh này.  Người dân và đặc biệt là các Cựu Chiến Binh trong cuộc Chiến tranh 1979 luôn tự hỏi:

– Vì sao đã 36 năm rồi mà cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 1979 của quân và dân ta vẫn chưa được Bộ Quốc phòng tổng kết? Vì sao nó không được Bộ Giáo dục biên soạn, đưa vào chương trình sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên ta?  Vừa qua, thế lực đen tối nào định mưu toan xóa bỏ môn học Lịch sử qua chiêu trò “tích hợp”, nhằm làm cho thế hệ trẻ và con cháu ta sau này không biết gì về truyền thống hào hùng 1000 năm chống trả xâm lược phương Bắc của tổ tiên ta? May mà Quốc Hội đã ít nhiều cảnh giác, kịp ra Nghị quyết ngăn chặn ý đồ đen tối và nham hiểm này.

– Ngay cả các hoạt động kỷ niệm của người dân trong mấy năm qua để tưởng nhớ và vinh danh những anh hùng, liệt sỹ và thương binh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược (2/1979) và tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân ta đã bị Trung Quốc sát hại khi chúng đánh chiếm đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (14/3/1988) cũng bị một lực lượng đông đảo Dư Luận Viên có tổ chức, mặc áo đỏ in Quốc kỳ, mang cờ Đảng, dùng loa hò hét và hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” để khiêu khích, ngăn cản và phá thối(?!). (Lê Đức Anh đã ra lệnh hải quân VN không được nổ súng ở Gạc Ma 1988

– Ai đã chủ trương và làm ngơ cho Trung Quốc thuê trên 300.000 héc ta rừng đầu nguồn chiến lược ở các tỉnh biên giới phía Bắc?(Mời đọc) Tại sao lại cho Trung Quốc cắm chốt ở hàng chục địa điểm chiến lược và nhạy cảm trên khắp đất nước dưới vỏ bọc đầu tư dự án, thuê đất lâu dài (đến 70 năm như ở Vũng Áng), và đặc biệt việc Trung Quốc được mặc nhiên đóng chốt tại địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất nước ta (Nóc nhà Đông Dương) với bình phong dự án Bauxite Tây Nguyên đầy nguy hại và tai tiếng?

Cách đây chưa đầy một tuần, ngày 9/12/2015 vừa qua, trong “Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội XII và toàn thể đảng viên ĐCSVN”, (gọi tắt là THƯ 127), một trăm hai mươi bảy(127) đảng viên tâm huyết và các nhân sỹ trí thức nặng lòng với đất nước và dân tộc ở trong và ngoài nước đã mạnh mẽ, thẳng thắn và tha thiết kêu gọi Đảng phải thay đổi: “Trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và dựa hẳn vào nhân dân, tự giải thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, tự giải phóng chính mình khỏi tình trạng tha hóa của một đảng độc quyền toàn trị, dứt khoát từ bỏ đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội theo chủ thuyết Marx-Lenine, chủ động tiến hành cải cách chính trị triệt để và toàn diện theo con đường dân tộc dân chủ…”.

Người viết bài này cho rằng chẳng cần phải khảo sát xã hội hoặc tiến hành trưng cầu ý dân cũng có thể khẳng định là không chỉ đa số Đảng viên ĐCSVN mà toàn thể 92 triệu nhân dân Việt Nam đều muốn ĐCSVN phải đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích cộng sản. Vì đây là lẽ đương nhiên, hợp với triết lý, lẽ sống và đạo đức xưa nay của dân tộc Việt Nam ta. Và đây cũng là nguyên tắc bất di bất dịch của mọi đảng phái chính trị trong tất cả các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày nay.

Muốn làm được như vậy, trước hết Đảng phải tự thay đổi, phải dũng cảm đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên tối thượng, lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản. Đã đến lúc không thể không làm điều này.  Quốc gia và dân tộc là tối cao và vĩnh cửu, chứ không phải là Chủ nghĩa cộng sản!  Đảng phải tự thoát khỏi chính mình, phải dũng cảm lột xác để tiến lên cùng dân tộc. Trước hết và trên hết phải coi dân tộc và Tổ quốc Việt Nam là người sinh ra mình, nuôi dạy và bảo vệ mình, chứ tuyệt đối không phải là kẻ mà mình sinh ra, là kẻ mà mình nuôi dưỡng và ban ơn.

Quay đầu là bờ! Con cái có thể bỏ rơi cha mẹ chứ không bao gìơ cha mẹ lại chối từ con cái. Hãy ngước nhìn sang nước bạn láng giềng Myanmar để học tập và noi gương những bước đi quả cảm, đầy khôn ngoan, đầy trách nhiệm nhưng vô cùng sáng suốt của giới quân phiệt cầm quyền. Họ đã chấp nhận và thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục cho đất nước Myanmar do họ biết hy sinh quyền lợi cá nhân của các tướng lãnh, họ đã sáng suốt đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên tối thượng lên trên lợi ích của tập đoàn quân phiệt và đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển Myanmar. Cuộc chuyển đổi chính trị ở Myanmar không có kẻ thua, chỉ có người thắng, và người thắng lớn nhất là dân tộc Myanmar khôn ngoan và dũng cảm.

Hà Nội, ngày 14/12/2015.

N.Đ.Q.

*Theo luật pháp, bất cứ đảng phái, hội đoàn nào muốn hoạt động trên lãnh thổ VN đều phải xin giấy phép hoạt động của chính phủ. Đảng CSVN hoạt động tại VN, nhưng không bao giờ xin giấy phép của chính phủ để hoạt động. Sự tờn tại của đảng csvn là bất hợp pháp. 

Hiến pháp hay Đảng pháp? – BBC Tiếng Việt – BBC.com

Hiến pháp đứng sau cương lĩnh của Đảng: TBT Nguyễn …

Sau đây là những phát biểu của một trong các “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, TBT, Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây Dựng Đảng tốt nghiệp tại Liên Xô, Nguyễn Phú Trọng:

“Hiến Pháp là văn kiện chính trị, pháp lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng cộng sản”

“Ai có tư tưởng bỏ điều 4 Hiến pháp, muốn đa nguyên đa đảng, muốn tam quyền phân lập là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa!”

“Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở VN hay chưa”.

Bài liên quan:

►Hội Nghị Thành Đô Ngày 3 Và 4-9-1990- Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần 27) « Trần Hoàng Blog

 

 

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Điều gì nổi bật trong hai ngày Tập Cận Bình thăm viếng VN ?

Posted by hoangtran204 trên 08/11/2015

FB Trương Nhân Tuấn

6-11-2015

Không lẽ là sự vắng mặt của người lý ra phải có mặt, là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang? Theo lịch trình (được báo chí đăng tải) thì ông Tập sẽ có các buổi gặp mặt với TBT Nguyễn Phú Trọng, CTN Trương Tấn Sang, TT Nguyễn Tấn Dũng và CTQH Nguyễn Sinh Hùng. Báo chỉ trong nước, đến giờ phút này, chỉ đăng tin tức và hình ảnh Tập Cận Bình gặp gỡ ông Trọng, ông Dũng và ông Hùng. Không thấy bất kỳ dòng tin và hình ảnh nào về cuộc gặp gỡ giữa ông Tập và ông Sang.

Ông Tập vẫn chưa rời khỏi VN. Có quá sớm để đưa ra một kết luận ?

Ông Tập được tiếp đón với nghi thức long trọng và vinh dự nhứt của quốc gia, ngay tại phủ chủ tịch. Người ta thấy dàn đại bác bắn 21 cú chào mừng. Thấy Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình cùng đi duyệt hàng quân danh dự, mà việc này lẽ ra chủ tịch nước mới có tư cách.

Theo thông lệ quốc tế, thể thức tiếp đón quốc khách ngay lúc vị khách này đặt chân lên đất nước mình, sẽ nói lên tất cả tấm thịnh tình của chủ nhà đối với người khách.

Tiếp đón ông Tập Cận Bình, (chủ tịch nước kiêm chủ tịch đảng TQ), tại sân bay không có mặt của « tứ trụ ». Điều này nói lên một sự khác thường, nếu không nói là chưa từng có tiền lệ.

Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và ông Đinh Thế Huynh (thuộc BCT) thay mặt nhà nước và đảng CSVN để tiếp đón ông Tập và phu nhân. Ông Phạm Bình Minh vốn là con của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người nổi tiếng (và đi vào lịch sử VN) bằng hành vi ra mặt chống TQ và hội nghị Thành Đô.

Đối phó lại, phía TQ dùng chiếc Mercedes mang số 00079 để chở vợ chồng ông Tập Cận Bình. Năm 1979 là năm mà Đặng Tiểu Bình « dạy cho VN một bài học ».

Bóng ma 1979 đã che phủ bầu trời sân bay Nội Bài.

Từ lúc hai bên lập lại bang giao (đầu thập niên 90), lãnh đạo TQ đã hứa hẹn với VN vô số điều, trong đó có « 16 chữ vàng » và « quan hệ 4 tốt ». Kiểm điểm lại, đã có điều gì mà TQ hứa hẹn đã trở thành hiện thực ?

Không có gì cả để người ta hôm nay người ta có thể tin tưởng vào tương lai quan hệ VN-TQ « tiền hung hậu kiết ».

Sự vắng mặt của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có lẽ như vậy là nằm trong kịch bản của VN.

Không lẽ hồi chuông chấm dứt thời kỳ lệ thuộc bắt đầu ? (hay là mình lạc quan tếu ?)

____

FB Trương Nhân Tuấn

7-11-2015

Thông điệp của Tập Cận Bình gởi đến quốc dân VN, qua bài diễn văn tại quốc hội, ý nghĩa không đơn thuần như các bài bình luận đã thấy trên báo chí VN. Nhà nước CSVN quyết định không dịch bản văn này là có chủ ý. Nhưng đây là thông điệp của họ Tập gởi đến toàn dân VN, nhà nước không thể không có bản dịch chính thức.

Một số “đại biểu” QH tỏ ý tiếc việc họ Tập không có nói đến Biển Đông. Điều này không đúng. Tập Cận Bình có nhắc, có điều ông ta nói khéo quá các đại biểu không hiểu.

Một vài ẩn ý khác của họ Tập đã được facebookers VN giải mã, như ý nghĩa các câu thơ của Vương Bột. Các câu thơ đó, ý nghĩa trọn vẹn là kêu gọi (lãnh đạo VN) “lãng tử hồi đầu”.

Điều quan trọng hơn cả là họ Tập xem VNDCCH là một quốc gia duy nhứt đại diện cho VN từ 1954 đến nay.

Vừa rời VN đến Singapour thì Tập Cận Bình lại tuyên bố HS và TS là lãnh thổ của TQ từ thời cổ đại. Họ Tập, cũng như các viên chức cao cấp TQ, bất kỳ ở đâu, hễ gặp dịp là họ tuyên truyền việc này. Còn VN, ngoài ông Trương Tấn Sang có một thái độ ra mặt yêu cầu TQ giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế, còn lại là ngậm miệng (ăn tiền). Tập Cận Bình đọc diễn văn ở QH là cơ hội tốt nhứt để đặt vấn đề thì không thấy ai nắm cơ hội.

Họ Tập chính thức mời NT Dũng sang thăm Bắc Kinh, điều này là gì nếu không phải là thiên triều ra mặt chống lung, chỉ thị cho nhân dân VN người “lãnh đạo chính thống” trong tương lai ?

Nay mai sẽ có bài viết về các vấn đề này.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Bài diễn văn của Tập Cận Bình đọc trước Quốc hội VN

Posted by hoangtran204 trên 08/11/2015

BBC

7-11-2015

Photo: AP

Trong chuyến thăm Việt Nam từ 5 đến 6/11, Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có bài phát biểu tại Quốc hội Việt Nam.

Năm 2005, khi thăm Việt Nam, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng từng phát biểu tại Quốc hội, ở địa điểm Hội trường Ba Đình cũ.

Xin giới thiệu với quý vị toàn văn bài phát biểu của ông Tập Cận Bình:

Thưa ngài chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

Các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn!

Xin chào tất cả mọi người! Tôi rất vui mừng khi có cơ hội tới thăm Quốc hội Việt Nam, gặp gỡ với các đồng chí, các vị đại biểu. Quốc hội Việt Nam là cơ quan nhà nước cao nhất đại diện cho quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi đứng trên diễn đàn này.

Đầu tiên, tôi đại diện cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc, hơn nữa dùng danh nghĩa cá nhân tôi dùng những lời chúc tốt đẹp nhất tới Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ Việt Nam, nhân dân Việt Nam anh em! Dùng sự kính trọng lớn nhất bày tỏ sự biết ơn đối với những người bạn đã có cống hiến quan trọng trong nỗ lực giữ gìn tình hữu nghị Trung Quốc Việt Nam trong thời gian từ trước đến nay.

70 năm trước, chính tại quảng trường Ba Đình ngoài kia, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới, chính thức thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Việc này lập dấu mốc cho quá trình phấn đấu gian khổ qua hơn nửa thế kỷ, do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng cộng sản Việt Nam với truyền thống cách mạng tốt đẹp đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam, đã thực hiện thành công mục tiêu vĩ đại giành độc lập, giải phóng dân tộc. Năm nay, nhân dân Việt Nam chào đón những sự kiện quan trọng như kỉ niệm 70 năm thành lập nước, 40 năm ngày giải phóng miền Nam, 125 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh… Trung Quốc Việt Nam tình thân một nhà, nhân dân Trung Quốc cùng chung vui, hạnh phúc với nhân dân Việt Nam.

Từ thời Cận đại tới nay, hai nước chúng ta đều trải qua quá trình gian khổ đi từ thời kỳ bị bất kỳ kẻ nào áp bức bóc lột đi tới độc lập dân tộc, từ thời kỳ bế quan tỏa quốc tới cải cách mở cửa, từ nghèo đói lạc hậu đi tới phồn vinh phát triển. Từ những năm 80 của thế kỷ trước trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam vững tin vào chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, tích cực tìm cho mình con đường phát triển thích hợp với tình hình Việt Nam, tìm tới con đường cách mạng mới thuộc về nhân dân Việt Nam, giành được những thành tựu làm cho người khác phải thừa nhận trên công cuộc phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như đưa Việt Nam hội nhập với thế giới, diện mạo quốc gia cũng như đời sống người dân có sự thay đổi sâu sắc.

Ngày nay, Việt Nam đang có những bước tiến vững chắc trên con đường thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa quốc gia. Chúng tôi cảm thấy vui mừng trước những thành tựu mà các đồng chí Việt Nam đã đạt được trên con đường cách mạng Xã hội chủ nghĩa mới. Tôi tin rằng, dưới sự lãnh đạo kiên cường của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam nhất định giành được những thắng lợi không ngừng trong công cuộc cách mạng đổi mới vĩ đại. Chúng tôi nguyện ý sẽ cùng giữ gìn truyền thống cùng nhau học tập, tinh thần trao đổi kinh nghiệm, cùng dắt tay nhau nhằm phấn đấu xây dựng, phát triển sự nghiệp Chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình an hạnh phúc cho nhân dân hai nước.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Giống như nhân dân Việt Nam một mực theo đuổi giấc mơ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện mục tiêu đất nước giàu mạnh, chấn hưng dân tộc, nhân dân hạnh phúc là giấc mơ trăm năm của dân tộc Trung Hoa. Giấc mơ của nhân dân hai nước có chung nhịp đập, cùng thể hiện nguyện vọng giống nhau hướng về hòa bình, hạnh phúc và tốt đẹp.

Dân tộc Trung Hoa từ trước đến nay đều yêu hòa bình, cái gen “ hòa” của dân tộc từ trước tới nay đều không thay đổi, “ hòa” trong văn hóa được bảo lưu trường tồn, mãi mãi. Từ hơn 2400 năm trước, cổ nhân Trung Quốc đã nêu ra đường lối “ Lễ chi dụng, hòa vi quý”( sử dụng lễ nghĩa thì lấy hài hòa, hòa thuận là qúy trọng làm đầu). Nguyện vọng hòa bình được mọc rễ từ trong con tìm của mọi người Trung Quốc, hòa nhập vào trong dòng máu của dân tộc Trung Hoa. Thời cận đại Trung Quốc đã gặp phải ngọn lửa chiến tranh và bất ổn trong hơn một thế kỉ, nhân dân Trung Quốc đã phải chịu những khổ nạn đau đớn. Nhân dân Trung Quốc yêu hòa bình cuồng nhiệt cũng như biết quý trọng cục diện hòa bình mà phải đánh đổi gian khổ mới có được. Sự phát triển của Trung Quốc không thể rời xa được môi trường hòa bình, ổn định của tình hình quốc tế và các quốc gia xung quanh, sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ trở thành lực lượng giữ gìn hòa bình và ổn định trên toàn thế giới.

Đối với tình hình trước mắt, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc vĩ đại, đoàn kết dẫn dắt mọi lực lượng của Trung Quốc, xây dựng xã hội khá giả toàn diện, tiến hành cải cách sâu rộng, xây dựng quốc gia pháp trị toàn diện mọi mặt, thi hành nghiêm khắc chiến lược phát triển của Đảng, nỗ lực phấn đấu hoàn thành thực hiện mục tiêu xã hội khá giả toàn diện vào thời điểm chào mừng 100 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc, đồng thời thực hiện mục tiêu to lớn đưa Trung Quốc trở thành quốc gia Xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa, giàu mạnh, hài hòa vào thời điểm kỉ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Chúng tôi vừa tổ chức Hội nghị Toàn thể lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, đưa ra những đường nét cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc trong 5 năm tới, xác định đồng thời quán triệt tốt những tư tưởng phát triển then chốt như đổi mới, phối hợp, phát triển xanh, mở cửa, cùng chia sẻ. Đưa ra một loạt những chính sách, biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội, tổ chức và huy động mọi nguồn lực của mọi dân tộc, các tầng lớp nhân dân khắp Trung Quốc nhằm đưa mọi mặt của kinh tế, xã hội Trung Quốc phát triển lên một tầm cao mới, đưa cuộc sống của nhân dân Trung Quốc ngày càng tốt hơn, đóng góp ngày càng nhiều, càng quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển con người và hòa bình của nhân loại.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Trung Quốc Việt Nam hai nước sơn thủy tương liên, nhân dân hai nước có lịch sử giao lưu trao đổi lẫn nhau từ lâu. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước, chúng ta đã kề vai chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau, xây dựng nên tình đoàn kết hữu nghị lâu bền. Trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội giàu mạnh mang màu sắc riêng của mỗi quốc gia, chúng ta học tập lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vun trồng những kết quả phong phú, tốt đẹp. Quan hệ Việt Trung đã vượt lên trên hàm ý những mối quan hệ song phương thông thường, có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng.

Trung Quốc Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao được hơn 65 năm. Tháng 4 năm nay, trong thời gian Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có chuyến thăm Trung Quốc, tôi và ngài tổng bí thư đã tổng kết quá khứ, nhìn về tương lai. Chúng tôi đã đạt được nhận thức chung, mối quan hệ gắn bó Trung Việt đã được chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh thế hệ lão thành tiền bối hai bên xây dựng nên, là tài sản quý báu của hai đảng, nhân dân hai nước, cần được quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng. “ Tín giả, giao hữu chi bản” ( lòng tin là cái căn bản để xây dựng tình bạn). Trung Việt hai quốc gia có rất nhiều lợi ích chung, hợp tác hữu hảo trước sau chiếm đa số. Hai bên cần phải lấy quan hệ hữu hảo Trung Quốc Việt Nam cũng như đại cục phát triển hai nước làm trọng, giữ vững phương châm tôn trọng lẫn nhau, hữu hảo đàm phán, thu hẹp bất đồng, phát huy điểm chung, xử lí tốt mọi tranh chấp. Sự hợp tác đôi bên cùng có lợi đem đến những lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời giúp ích cho hòa bình ổn định và phồn vinh của khu vực, do đó cần được tăng cường về mọi mặt. Những kinh nghiệm và bài học quý giá này là nền tảng cơ bản trong phát triển quan hệ Trung Quốc Việt Nam, đồng thời cũng là điểm xuất phát và là điểm tựa trong công tác xử lí những bất đồng còn tồn tại giữa hai bên.

Huynh đệ đồng lòng, có thể chặt đứt được kim loại. Tình hình an ninh khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi đa đoan, hai đảng hai quốc gia cùng đối mặt với nhiều thách thức hoặc vấn đề mới giống nhau. Chúng ta không chỉ là bạn bè tốt láng giềng tốt sơn thủy nối liền, mà quan trọng hơn là có lợi ích gắn chặt cùng nhau, là một khối chung có cùng chung sinh mạng, chung mục tiêu. Chúng ta càng cần giúp đỡ, chiếu cố lẫn nhau, cùng cầm tay nhau đi về phía trước hơn bao giờ hết. Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển mối quan hệ song phương với Việt Nam, với phương châm toàn diện hợp tác, nguyện cùng đi chung con đường với phía Việt Nam, cùng nhau giữ gìn hòa bình ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, trên tinh thần láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt, phát triển toàn diện mối quan hệ chiến lược lâu dài Trung Quốc Việt Nam bền vững, ổn định, đưa tới càng nhiều hạnh phúc cho nhân dân hai nước.

Thứ nhất, Trung Quốc Việt Nam cần là đồng chí tốt có thể tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “ Trung Quốc Việt Nam hữu nghị tình thầm, đồng chí cộng anh em”. Chế độ chính trị của hai nước tương đồng, lí tưởng và niềm tin giống nhau, có chung lợi ích chiến lược. Trung Quốc Việt Nam kiên trì với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, kiên trì đi theo con đường Chủ nghĩa xã hội, kiên trì sự nghiệp cách mạng mới, kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, là sự lựa chọn của lịch sử, cũng là sự lựa chọn của nhân dân hai quốc gia. Trên con đường đã bước đi này, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Đi theo con đường này về phía trước, chúng ta nhất định sẽ đạt được những thành quả huy hoàng, những tương lai phát triển rực rỡ hơn.

Thực tiễn đã nói cho chúng ta, phương hướng quyết định con đường đi về phía trước, đường đi quyết định vận mệnh. Trên vấn đề quan trọng kiên trì đi trên con đường mà nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn. hai đảng, nhân dân hai nước chúng ta cần phải có lòng tin kiên định, hỗ trợ lẫn nhau, cùng dắt tay nhau đi về phía trước, kiên quyết không được để bất kì kẻ nào phá vỡ bước đi của chúng ta, kiên quyết không được để bất kì thế lực nào dao động, thay đổi bức tường bảo vệ chế độ của chúng ta.

Phía Trung Quốc hết sức ủng hộ con đường cách mạng mới của Việt Nam, chân thành mong muốn các đồng chí Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc kiến thiết xây dựng Chủ nghĩa xã hội, thành tâm nhìn thấy sự phát triển ngày càng tốt, càng nhanh chóng của Việt Nam. Chúng tôi nguyện ý cùng các đồng chí Việt Nam xây dựng niềm tin lẫn nhau, cùng giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tích cực cống hiến vì sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp phát triển của nhân loại. Phía Trung Quốc muốn cùng chia sẻ cho Việt Nam những kinh nghiệm, kiến thức phong phú, toàn diện từ lí thuyết đến thực tiễn đối với công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng Xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, Trung Quốc Việt Nam cần phải trở thành những đối tác tốt trong mối quan hệ hợp tác cùng có lợi. Nhìn lại thế giới ngày nay, tình hình quốc tế đang không ngừng có những thay đổi sâu sắc, các hệ thống quốc tế, trật tự thế giới đang phát triển theo hướng công bằng và hợp lí hơn. Đồng thời thế giới cũng không hề hòa bình, có sự hỗn loạn ở quy mô cục bộ, chủ nghĩa khủng bố như âm hồn bất tán, kinh tế thế giới thiếu động lực để phát triển, sự đan xen giữa những mối thách thức truyền thống và phi truyền thống. Duy trì hòa bình, ổn định thế giới, thúc đẩy phát triển là nhiệm vụ lâu dài. Chúng ta cần phải nắm vững xu thế quốc tế, bắt kịp trào lưu của thời đại, cùng nhau xây dựng một môi trường quốc tế, trật tự thế giới có lợi cho hòa bình, ổn định ở khu vực Châu Á cũng như trên toàn thế giới. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò và tác dụng của mình trên vũ đài khu vực cũng như thế giới, nguyện ý tăng cường hơn nữa hợp tác với Việt Nam ở những diễn đàn, cơ cấu hợp tác quốc tế và khu vực, duy trì lợi ích chung giữa hai quốc gia, thúc đẩy sự phát triển trong khu vực.

Nền kinh tế của hai nước Trung Quốc Việt Nam có sự liên hệ với nhau rất rộng, sự phụ thuộc tương hỗ lẫn nhau cũng lớn, qua đó gắn kết về lợi ích kinh tế cũng ngày càng chặt chẽ. Toàn cầu hóa, khu vực hóa về kinh tế mang lại cơ hội và thách thức tương đồng cho cả hai nước. Phía Trung Quốc đánh giá rất cao sự kết nối, phát triển chiến lược giữa hai quốc gia, đồng ý tăng cường hợp tác đầu tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng, cung ứng năng lượng trong phạm vi bộ khung “ một con đường, một vành đai”, “ hai hành lang, một vùng kinh tế” nhằm tạo động lực thúc đẩy mới cho quá trình hợp tác đối tác quan hệ toàn diện Trung Quốc Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.

Thứ ba, Trung Quốc Việt Nam cần trở thành láng giềng tốt, quan hệ hữu hảo thân tình. Cổ nhân có câu “ ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”. Giống như trong bài hát “ Việt Nam – Trung Quốc”, nhân dân Trung Việt hai nước “ uống chung một dòng nước, sớm nhìn đi, tối nhìn lại”. Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh. Tình hữu nghị giữa nhân dân hai quốc gia đã được khảo nghiệm qua lịch sử lâu dài cùng sự đổi thay của thời gian, là động lực vô tận cũng như là nền tảng quan trọng trong phát triển mối quan hệ song phương giữa hai bên. Hai bên cần phải lấy mốc 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao làm cợ hội, thắt chặt hơn phương hướng trong quan hệ giữa hai quốc gia, đảm bảo tình hữu nghị Trung Quốc Việt Nam đời đời lưu truyền.

Người Trung Quốc thường nói, người thân càng giúp nhau càng thêm thân, láng giềng càng quan tâm càng tốt. Giữa láng giềng với nhau cũng khó tránh khỏi va chạm, nhưng hai bên cần phải xuất phát từ đại cục quan hệ song phương, thông qua đàm phán hòa bình, giải quyết ổn thỏa tranh chấp, xử lí bất đồng, tránh việc quan hệ song phương giữa hai nước đi lệch khỏi quỹ đạo. Cổ nhân vốn có câu “ Người có viễn kiến thì mới có thể thu hoạch thêm càng nhiều lợi ích”. Tôi tin rằng, hai nước Trung Quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của hai đảng, hai chính phủ thì nhân dân hai nước hoàn toàn có năng lực, có trí tuệ loại bỏ mọi quấy nhiễu, cùng nhau viết nên những áng văn mới trong quan hệ láng giềng hữu hảo Trung Quốc Việt Nam. Thứ tư, Trung Quốc Việt Nam cần làm bạn bè tốt, thường xuyên thăm viếng lẫn nhau. Bà con càng đi lại càng gần, bạn bè càng đi lại càng thân. Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước là nguồn suối động lực cho quan hệ hai bên. Vào năm ngoái, Trung Quốc Việt Nam có hơn 3 triệu lượt người thăm viếng, qua lại lẫn nhau, có hơn 14000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc, đồng thời cũng có từ 3000-4000 du học sinh Trung Quốc sinh hoạt, học tập tại Việt Nam. Những con số này làm chúng ta thật sự vui mừng.

Hôm qua, trong lúc hội đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai bên đã thống nhất gia tăng thêm một bước về hoạt động trao đổi nhân viên hai phía, tăng cường các hoạt động hợp tác giao lưu văn hóa, giáo dục duc lịch…xây dựng tốt các diễn đàn cho nhân dân Trung Quốc Việt Nam, hội giao lưu hữu nghị thanh niên Trung Việt, tăng cường các hoạt động giao lưu tìm hiểu hai phía, tăng cường bầu không khí phong phú, tạo cơ hội cho các hoạt động dân gian. Trung Quốc hoan nghênh chào đón ngày càng nhiều du học sinh Việt Nam tới Trung Quốc học tập, du lịch, làm ăn, hy vọng người dân hai nước tăng cường các hoạt động qua lại lẫn nhau, tăng cường hiểu biết, tìm hiểu, vun đắp tình hữu nghị giữa hai bên.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Từ năm 1942 đến năm 1943, trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng đã viết câu thơ “Trùng san đăng đáo cao phong hậu, Vạn lý dư đồ cố miện gian, nhà thơ đời Đường là Vương Bột cũng viết “ Đăng Thái Sơn nhi lãn quần sơn, tắc cương loan chi bản mạt khả tri dã”. Quan hệ Việt Trung đã đứng trên điểm cao lịch sử mới. Chúng ta lên đỉnh núi cao, nhìn tầm mắt ra xa, cùng nhau bắt tay nỗ lực, phấn đấu mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ toàn diện Trung Quốc Việt Nam, nhằm duy trì lâu dài hòa bình ổn định, tạo dựng một Châu Á và thế giới thịnh vượng, phồn vinh, góp phần tạo nên một thế giới rộng lớn hơn!

Xin cám ơn mọi người!

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Quan Hệ Viêt Nam và Trung Quốc- 1990- Nay, Thời Sự, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Mất đảng có mất nước?

Posted by hoangtran204 trên 05/11/2015

Nguyễn Hưng Quốc

Blog VOA

4-11-2015

 

Theo báo chí trong nước, chiều ngày 22 tháng 10 vừa qua, trong một phiên họp tại Quốc hội, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có bài nói chuyện về tình hình quốc phòng và an ninh của đất nước, trong đó, ông liệt kê những thắng lợi của Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như biện hộ cho vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giữ nước. Ông nhấn mạnh: “Nếu mà mất Đảng, mất chế độ thì biển đảo cũng mất”.

Để khẳng định như vậy, ông Phùng Quang Thanh đưa ra hai lập luận chính:

Thứ nhất, sự lãnh đạo độc tôn của đảng sẽ mang lại ổn định trong xã hội và sự độc lập của đất nước. Ông lập luận: “Nếu mà trong nội bộ đất nước để xảy ra bạo loạn, biểu tình, ly khai, xảy ra tổ chức đối lập, để xảy ra lực lượng vũ trang đối lập (như một số nước đã có), mà lại phải dùng lực lượng chức năng trấn áp, để xảy ra thương vong, đổ máu thì bên ngoài sẽ lấy cớ vi phạm dân chủ, nhân quyền, dùng biện pháp này, biện pháp khác để bao vây, cấm vận, cô lập chính trị, chia rẽ nội bộ, thừa cơ đó lật đổ chế độ.”

Thứ hai, ông cho chính nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Cộng sản nên cho đến nay, Việt Nam mới vừa giữ được chủ quyền trên Biển Đông vừa duy trì được hoà bình cho đất nước. Ông cho biết trong mấy chục ngày Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến thềm lục địa Việt Nam, Bộ Chính trị đã có 12 phiên họp để bàn về kế sách đối phó. Kết quả là, sau đó, Trung Quốc cho kéo giàn khoan về nước và Biển Đông đã lặng sóng. Ông cũng nói thêm là các hòn đảo ở Trường Sa do bộ đội Việt Nam trấn giữ vẫn thuộc Việt Nam; các giếng khoan dầu ngoài khơi vẫn tiếp tục hoạt động và ngư dân vẫn tiếp tục đánh cá an toàn.

Những lập luận ấy, thật ra, hoàn toàn nguỵ biện.

Thứ nhất, liệu dân chủ hoá có dẫn đến hỗn loạn, từ đó, sự can thiệp của nước ngoài hay không? Câu trả lời rất rõ: Không. Cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản tại Nga và Đông Âu sụp đổ, không có nước nào lâm vào cảnh bạo loạn cả. Trừ Nga, tất cả các nước khác đều ngày một trở thành dân chủ hơn, và cùng với dân chủ, thịnh vượng hơn. Trong hai năm 2011 và 2012, các chế độ độc tài ở một số quốc gia Trung Đông và Bắc Phi lần lượt sụp đổ và dù gặp rất nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu, con đường dân chủ hoá cũng càng lúc càng mạnh mẽ. Sự hỗn loạn chỉ có ở Syria và Libya nhưng ở cả hai nước này, sự hỗn loạn đến từ những nguyên nhân khác: sự phân hoá về chủng tộc và, đặc biệt, tôn giáo với sự tham gia của các lực lượng Hồi giáo cực đoan. Ngay ở Á châu, từ mấy năm nay, Miến Điện cũng dần dần dân chủ hoá nhưng không gây nên bất cứ sự bất ổn nào. Bởi vậy, không có lý do gì để sợ khi chế độ Cộng sản sụp đổ, Việt Nam sẽ lâm vào khủng hoảng. Hơn nữa, khi sự thay đổi ấy xuất phát từ chính đảng Cộng sản với một lộ trình dân chủ hoá mạnh mẽ và rõ ràng, nguy cơ khủng hoảng càng giảm thiểu.

Thứ hai, liệu không còn đảng Cộng sản, biển đảo Việt Nam có bị mất? Câu trả lời cũng không.

Có hai lý do chính.

Một là, sự thật lịch sử trong mấy chục năm vừa qua chứng minh một điều ngược lại: chính chế độ cộng sản tại Việt Nam mới làm cho Việt Nam mất biển đảo vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết công hàm Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958, trong đó, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa). Ai cũng biết năm 1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, chính những người lính Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam đã liều mình để bảo vệ đảo trong khi đó, ở miền Bắc, chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo thì hoàn toàn im lặng. Ai cũng biết năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm mấy bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam chỉ phản ứng lấy lệ và cuối cùng, các bãi đá ấy đều lọt vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết từ mấy năm nay, trước các hành động lấn chiếm ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, kể cả việc bắt bớ, thậm chí giết hại ngư dân Việt Nam trên Biển Đông, Việt Nam cũng chỉ phản ứng một cách rất “ngoại giao”. Phản ứng cho có để dân chúng khỏi lên án, vậy thôi. Nói chung, trước dã tâm xâm lấn biển đảo của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam chưa hề chứng tỏ có một chiến lược đối phó nào cho thật rõ ràng trừ sự nhường nhịn. Hơn nữa, với những khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng”, dường như họ cũng không thấy hết nguy cơ đến từ Trung Quốc.

Hai là, tuyệt đối không có bằng chứng nào cho thấy một chế độ dân chủ sẽ trở thành yếu ớt hơn trong việc bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước. Nếu không muốn nói, ngược lại. Chế độ dân chủ có hai mặt mạnh mà một chế độ độc tài không có: Thứ nhất là dễ có liên minh rộng rãi và vững chắc với các nước khác trên thế giới; và thứ hai là dễ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng.

Nói tóm lại, lập luận “mất đảng, mất chế độ thì mất biển đảo” chỉ là một sự nguỵ biện. Nó không đúng. Nó chỉ biện hộ cho việc duy trì chế độ độc tài tại Việt Nam mà thôi.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

16x9 Image

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Thư ngỏ gửi Anh Phạm Bình Minh

Posted by hoangtran204 trên 05/11/2015

Thư ngỏ gửi Anh Phạm Bình Minh.

Em Đặng Xương Hùng đây. Em xin không đề chức vụ của Anh, vì thư ngỏ này em mong muốn gửi tới Anh với tư cách Anh là con trai Bác Nguyễn Cơ Thạch.

Khi Anh vào Trung ương, được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao, rồi Phó Thủ tướng, mọi người nhất là ở Bộ Ngoại giao, hết sức vui mừng, không chỉ vì Anh rất xứng đáng, mà còn vì một thầm ước quan trọng hơn, đó là : Anh là con trai của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

Anh Minh, đất nước ta đang rất cần những nhân vật Anh Minh !

Ngày mai, 5/11/2015, Tập Cận Bình sẽ sang Việt Nam. Theo thông tin bên ngoài được biết, Tập Cận Bình sẽ phát biểu trước Quốc hội Việt Nam. Đây là lịch trình mang một hậu quả hết sức tai hại cho tương lai dân tộc. Em xin được ví nó như Thành Đô 2 vậy.

Khi thăm Mỹ, Tập Cận Bình đã ngang nhiên tuyên bố trước Tổng thống Obama rằng : “Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thuộc về Trung Quốc từ thời cổ đại”. Không có lý do gì ngăn cản Tập Cận Bình phát biểu tương tự như vậy trước Quốc hội Việt Nam.

Anh Minh, Bộ Ngoại giao nên chuẩn bị một kịch bản đập lại Tập Cận Bình ngay lập tức tại diễn đàn. Theo em, người thực hiện phù hợp nhất là Anh Minh, đơn giản chỉ vì : « Tôi là con trai của Ông Nguyễn Cơ Thạch ». Các bạn ở Bộ Ngoại giao có thừa khả năng để khéo léo chuẩn bị giúp Anh một nội dung phù hợp. Miễn sao ngầm mang một thông điệp : « Cha tôi đã cảnh báo về một thời kỳ Bắc thuộc mới, thì tôi là người tuyên bố nó chấm dứt từ đây ».

Em chúc Anh và các bạn ở Bộ Ngoại giao sức khỏe và thành công.

Em thành thật xin lỗi Anh nếu những điều nói trên Anh không thích.

Đặng Xương Hùng, Genève 4/11/2015

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Quá sợ hải Trung Quốc, đảng và nhà nước Việt Nam phó mặc cho Mỹ bảo vệ chủ quyền

Posted by hoangtran204 trên 30/10/2015

Việt Nam phải tự bảo vệ chủ quyền của mình, thay vì phó mặc cho Mỹ!

Lê Minh Nguyên

29-10-2015

Nguồn ảnh: Island Tracker

Các cường quốc thường hay lấn luớt nhược tiểu và thường hay thương thảo để chia chác quyền lợi trên đầu nhược tiểu.

Khi soạn luật biển UNCLOS, các cường quốc biển mà trong đó có Hoa Kỳ muốn vùng nước chủ quyền thật nhỏ, vùng biển quốc tế thật to để tàu thuyền của họ dễ tung tăng không bị ràng buộc. Đã vậy mà HK cũng không phê chuẩn, nhưng lại tôn trọng UNCLOS trong thực tế. Ngược lại, Trung Quốc phê chuẩn nhưng không tôn trọng.

Nạn nhân rõ ràng nhất trong trò chơi quyền lực này là Việt Nam và Phi. TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974, HK lúc đó đang đứng cạnh nhưng không can thiệp vì đã làm bạn với TQ để chống Liên Xô, nên có quyền lợi chiến lược lớn hơn. Tháng Hai năm 1979 TQ đánh VN thì ngày 29/1/1979 Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, thông báo TT Carter là ông sẽ đánh VN và nhờ HK giúp thông tin tình báo qua vệ tinh quan sát biên giới Nga – Hoa xem Liên Xô có động binh hay không. Năm 1988 TQ mượn cớ giúp Liên Hiệp Quốc lập trạm thăm dò khí tượng ở Trường Sa để bắn giết 64 binh sĩ VN, chiếm Gạc Ma và các đảo mà VN sở hữu, HK và các cường quốc tây phương làm lơ để mặc.

Năm 1995 TQ chiếm Vành Khăn, Phi viện dẫn hiệp ước liên minh quân sự với HK để cầu cứu TT Clinton, nhưng HK nói hiệp ước không bao gồm Vành Khăn. Năm 2012 TQ chiếm Scarborough và HK cũng làm lơ. Hiện giờ TQ đang bao vây Cỏ Mây không cho tiếp tế để Phi bỏ đảo và HK cũng đang làm lơ.

Trong khi đó thì HK, đứng trước đòi hỏi mạnh mẽ của Nhật sau khi Nhật nghi ngờ TT Obama đâm sau lưng mình khi đi bách bộ nói chuyện riêng với ông Tập Cận Bình ở Palm Springs ngày 7/6/2013, nên cuối cùng đã chính thức lên tiếng xác nhận là Senkaku có trong liên minh quân sự Mỹ-Nhật. HK có sự khác biệt đối xử vì Nhật là cường quốc, có sức mạnh nội lực và có vai trò an ninh chiến lược ở vùng Đông Bắc Á.

Tàu Lassen đi vào Trường Sa ngày 27/10/2015 mà theo các viên chức quốc phòng HK, có lộ trình 72 hải lý đi từ phía bắc đến phía tây nam, qua vùng chủ quyền 12 (CQ12) của các đảo mà Phi và Việt Nam có chủ quyền, và vào vùng 12 hải lý của đảo Subi, nhưng không vào vùng 12 của Vành Khăn (Reuters 27/10).

Mục đích chính yếu là để khẳng định quyền tự do hàng hải theo UNCLOS và không dính líu gì cả đến vấn đề chủ quyền, có nghĩa là các đảo ấy, hay cả quần đảo là của ai thì HK cũng chấp nhận thôi!

Vấn đề thực sự là lưu thông hàng hải theo UNCLOS mà HK và TQ thông dịch luật này khác nhau.

Lưu thông vô hại (innocent passage) hay chỉ cần đường đi ngang chứ không có ý đồ gì khác thì được đi vào vùng CQ12. TQ đã sử dụng quyền này tháng 8/2015 vừa qua ở eo biển Alaska, khi đi qua vùng quần đảo Aleutian. Tàu Lassen đi vào Subi thì cũng không khác gì mấy, nhưng để tránh va chạm hai bên đã chuẩn bị cho nhau cả tháng trước đó.

Vùng nước chủ quyền 12 hải lý chung quanh chỉ áp dụng cho đá/đảo nổi khi triều dâng và thiên nhiên chứ không do nhân tạo. Subi và Vành khăn không hội đủ điều kiện này vì nửa nổi nửa chìm nên chỉ có vùng nuớc chủ quyền 500 mét. TQ muốn nó là 12 hải lý nhưng mập mờ. Vì không có UNCLOS để bảo vệ Subi nên TQ nhuờng nhịn HK, nhưng với các nước khác thì không, kể cả Nhật, như TQ đã từng tuyên bố.

Vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý thì HK cho rằng nước chủ chỉ có chủ quyền trên tài nguyên (cá, khoáng sản) và nước chủ không được ngăn cản trên các lãnh vực khác như dọ thám, tập trận, vẽ bản đồ, nên tàu/máy bay đi vào không cần phải xin phép mà chỉ cần thông báo. Ngược lại, TQ thông dịch là hoạt động của các nước khác phải xin phép và đã rất khó chịu khi HK cho máy bay và tàu vào thám thính gần Hải Nam, nơi TQ đặt căn cứ tàu ngầm.

Theo Diplomat 27/10, kể từ chuyến thăm HK của ông Tập vào cuối tháng 9/2015, các viên chức giấu tên của HK cho biết là đã liên tục và đều đặn thông tin việc tàu HK sẽ vào vùng 12 ở Trường Sa. Sự loan báo của giới truyền thông có vai trò đếm ngược (countdown) đi từ vài tuần đến vài ngày rồi đến 24 giờ. Đó là một sự cố ý, thiết kế để cung cấp cho TQ đầy đủ sự báo trước – và đầy đủ thời gian để TQ hình thành các phản ứng chính thức (hơn là để trong tay các viên chức quân sự ở thực địa phản ứng).

Việc 5 tàu chiến TQ đi vào vùng CQ12 ở Alaska mà HK không phản ứng gì cả, nhất là khi đó TT Obama có mặt ở Alaska, làm cho người ta có cảm giác đây là một vở kịch được cẩn thận dàn dựng, có tính cách sòng phẳng ‘quid pro quo’ bánh ít đi bánh quy lại. Cho nên dù TQ có vẻ không chấp nhận Điều 17 của UNCLOS về ‘quyền đi qua vô hại’, TQ cũng đáp lễ lại HK khi tàu Lassen đi vào vùng 12 của đá Subi, bằng cách chỉ phản ứng chiếu lệ cho có, bỏ qua các tranh cãi là Subi có vùng CQ12 hay không. Theo báo Economist 27/10, các tranh chấp từ trước đến nay giữa HK và TQ không nhằm vào vùng CQ12 mà là vùng EEZ.

Một quan chức quốc phòng Mỹ giấu tên nói rằng “Đây không phải là cuộc tuần tiễu cuối cùng” và có khả năng trở nên thường xuyên hơn trong tương lai (VOA 28/10). Tuy nhiên nó không có giá trị gì nhiều cho các nước khác như Việt Nam vì:

Đây là vấn đề thông thương hàng hải chứ không phải là vấn đề chủ quyền, và là việc diễn dịch UNCLOS như thế nào để các bên đều đồng ý là đảo nào có vùng CQ12, đảo nào có EEZ và những giới hạn nào ở vùng EEZ. 

TQ có một chính sách kỳ thị đối xử, dù việc đi phù hợp với UNCLOS nhưng chỉ HK mới được lưu thông bên trong quần đảo Trường Sa, còn các nước khác thì không, kể cả Nhật Bản. Hơn nữa, TQ cố tình mù mờ trong việc áp dụng UNCLOS để có thể giải thích theo ý riêng của kẻ mạnh và dùng UNCLOS làm bình phong. Thực tế là TQ áp dụng luật sức mạnh.

Nếu chỉ HK đi vào vùng và các nước khác không vào để tạo thành những tuyến qua lại thông thường thì HK chỉ cuỡi ngựa xem hoa, chủ vườn vẫn là TQ. TQ đã lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông (ADIZ), HK không công nhận, cho B-52 bay qua nhưng chỉ một lần, còn các hãng hàng không dân sự HK được chính quyền HK khuyên là nên tuân thủ các quy định của TQ. Máy bay Lào hôm 25/7/2015 bị TQ đuổi trở lại Nam Hàn. HK đã đánh trống bỏ dùi và thực tế là ADIZ có hiệu lực.

HK không vào vùng 12 từ năm 2012 tức là đã 3 năm, đủ dài để TQ làm mưa làm gió trong vùng. Việc HK hứa hẹn trở lại, dù nói là thường xuyên cũng không ai biết là bao giờ, trong khi TQ có khả năng xây mỗi năm một thành phố lớn cỡ Los Angeles thì việc xây thêm các đảo nhân tạo ở Trường Sa là chuyện nhỏ.

HK chỉ muốn kiểm tra /ngó chừng TQ đừng dùng sức mạnh quá đáng hay vũ lực khi trỗi dậy thành siêu cường, chứ không có ý ngăn chặn TQ trở thành siêu cường, cho nên khi chưa có yếu tố vũ lực thì HK có lý cớ để ngó lơ, mà hệ quả là các nước nhỏ trong vùng bị thiệt hại qua chính sách ‘lát cá’ của TQ.

HK chỉ cho cần câu để những nước nhỏ như VN, Phi, Mã tự bắt cá chứ HK không cho cá. VN và các nước phải tự bảo vệ chủ quyền của nước mình. HK có thể giúp tàu, các khí cụ bảo vệ biển đảo, hay kỹ thuật chế tạo vũ khí, chứ HK không can thiệp quân sự thế cho những nước này.

Để kết luận, có thể nói rằng sự kiện Lassen 27/10 tuy cần thiết nhưng chỉ là bước đầu muộn màng mà Nghị sĩ John McCain nói, lẽ ra phải được thực hiện từ lâu và HK nên tiến hành những hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên không, trên biển trong những tuần lễ và những tháng tới (VOA 28/10). Nó giúp kềm chế TQ trong vấn đề lập vùng kiểm soát quá lớn ở Trường Sa, vi phạm UNCLOS. Nó không cuốn lại (rollback) những gì TQ đã làm. Nó cũng không có khả năng làm TQ dừng xây dựng ở những nơi họ đã bồi đắp. Nó cũng không có khả năng ngăn chận TQ chiếm thêm trong số khoảng 209 rạn san hô chưa ai chiếm đóng và xây dựng chúng thành đảo nhân tạo.

Trong vấn đề chủ quyền, Việt Nam vẫn còn bơ vơ và càng ngày càng yếu đi khả năng bảo vệ Trường Sa, bởi do đảng CSVN không có khả năng xây dựng nội lực dân tộc.

———

Tuần tra Biển Đông, Mỹ tiến sát điểm tới hạn với Trung Quốc

28-10-2015

Vietnamexpress

VŨ HOÀNG

 

Hoạt động tuần tra ở Trường Sa của chiến hạm USS Lassen có thể là khởi đầu cho cuộc ganh đua Mỹ – Trung quyết liệt làm thay đổi diện mạo khu vực.
tuan-tra-bien-dong-my-tien-sat-diem-toi-han-voi-trung-quoc

Tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Lassen của Mỹ. Ảnh: US Navy

Giới học giả nhận định trong quan hệ giữa một cường quốc mới nổi và một cường quốc đã xác lập vị thế luôn tồn tại một điểm tới hạn mà khi vượt quá, mọi chuyện sẽ không thể trở lại như ban đầu. Theo National Interest, Mỹ và Trung Quốc dường như đang nhanh chóng tiến sát tới ngưỡng này, đặc biệt là khi Mỹ vừa thực hiện chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông.

Diễn biến mới nhất củng cố cho nhận định trên là việc Washington hôm nay điều tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Lassen tiến vào trong phạm vi 12 hải lý quanh đá Subi, nơi Bắc Kinh bồi đắp trái phép ở Biển Đông.

Các cơ quan ngoại giao Mỹ và Trung Quốc đến nay vẫn chưa làm được gì nhiều để giải quyết những vấn đề đang ảnh hưởng tới mối quan hệ hai nước. Trong khi đó, cả Bắc Kinh và Washington đều ngày càng phụ thuộc vào những chiến lược dựa trên sức mạnh quân sự và quyền lực cứng. Điều này đúng đối với những gì diễn ra ở Biển Đông, nơi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, Ryan Pickrell, chuyên gia nghiên cứu về quan hệ Mỹ – Trung, nhận xét.

Đôi bên đều nhận thức được rằng để giữ vững sự ổn định ở Thái Bình Dương, họ cần tránh đối đầu bằng mọi giá. Nhưng cả Washington và Bắc Kinh lại không thể hiện thái độ sẵn sàng thỏa hiệp. Thay vào đó, họ vạch ra những ranh giới, ông Pickrell nói.

Giải pháp mà Trung Quốc đưa ra nhằm đảm bảo thế cân bằng chiến lược trong quan hệ Mỹ – Trung là xây dựng “quan hệ nước lớn kiểu mới” với tiêu chí hạn chế đối đầu, tôn trọng hệ thống chính trị, lợi ích quốc gia của nhau và hợp tác cùng có lợi.

Tuy nhiên, Washington cho rằng mô hình “quan hệ nước lớn kiểu mới” không đem lại lợi ích cho người Mỹ, Pickrell bình luận. Nếu chấp nhận mô hình đó, Mỹ sẽ tự tạo ấn tượng về một cường quốc đang thụt lùi và yếm thế trước sức mạnh Trung Quốc trong mắt cộng đồng quốc tế.

Bên cạnh đó, giới quan chức Mỹ cũng lo ngại mô hình “quan hệ nước lớn kiểu mới” chỉ là một chiêu bài Trung Quốc dùng để khiến Mỹ phải thừa nhận yêu sách chủ quyền phi lý trên Biển Đông, thu hẹp lợi ích của các đồng minh cũng như đối tác chiến lược của Washington trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, từ đó làm suy yếu và dần thay thế cấu trúc an ninh do Mỹ dẫn dắt.

Những lo ngại này có thể là cơ sở để Mỹ quyết định điều tàu USS Lassen tuần tra gần đảo nhân tạo phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông.

“Bằng việc triển khai một khu trục hạm tên lửa dẫn đường thay vì những tàu chiến nhỏ tuần tra ở Biển Đông, Mỹ đang gửi đi một thông điệp mạnh mẽ”, Ian Storey, chuyên gia về Biển Đông tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, đánh giá. “Họ cũng tuyên bố sẽ tiếp tục thực hiện hoạt động tuần tra, vì thế mọi việc lúc này phụ thuộc vào cách Trung Quốc phản ứng”.

tuan-tra-bien-dong-my-tien-sat-diem-toi-han-voi-trung-quoc-1

Trung Quốc xây trái phép các đường băng ở Trường Sa như thế nào (chi tiết). Đồ họa: Tiến Thành

Thay đổi diện mạo khu vực

Sau chuyến tuần tra đầu tiên của USS Lassen, Trung Quốc chỉ phản ứng lại bằng các tuyên bố của Bộ Ngoại giao. Cơ quan này hối thúc Mỹ “lập tức sửa chữa sai lầm” và “không có những hành động nguy hiểm hay khiêu khích” mà họ cho là đe dọa đến cái gọi là “chủ quyền và lợi ích an ninh” của Trung Quốc.

Theo cựu chuẩn đô đốc Yang Yi, chuyên gia tại Viện nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Quốc phòng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nước đi mới của Washington sẽ chỉ góp phần phá hoại mối quan hệ Mỹ – Trung, đồng thời là cái cớ để Bắc Kinh tăng tốc xây dựng và quân sự hóa đảo nhân tạo.

“Nếu các hoạt động tuần tra này trở thành thông lệ thì xung đột quân sự trong khu vực là không thể tránh khỏi và Mỹ sẽ là bên khơi mào”, ông Yang nói.

Euan Graham, giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế tại Viện Lowy, Sydney, cũng dự đoán Trung Quốc sẽ đẩy mạnh bồi đắp và quân sự hóa các đảo nhân tạo phi pháp ở Biển Đông sau chuyến tuần tra của tàu USS Lassen. Hành động đó của Bắc Kinh sẽ khiến Mỹ càng phải duy trì những chiến dịch tuần tra để bảo vệ tự do hàng hải tại vùng biển chiến lược này.

Một số nhà phân tích cho rằng Bắc Kinh sẽ áp dụng những biện pháp liều lĩnh hơn để chống lại hoạt động tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông trong tương lai của Washington. Hải quân Trung Quốc có thể sẽ tìm cách cản đường hoặc điều tàu bao vây chiến hạm Mỹ, gia tăng nguy cơ xảy ra đụng độ, và đây chính là “điểm tới hạn” làm thay đổi vĩnh viễn quan hệ Mỹ-Trung.

Ông Pickrell cho rằng chuyến tuần tra của USS Lassen là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới trong cuộc tranh giành quyền lực địa chính trị giữa Trung Quốc và Mỹ trên Biển Đông, có ảnh hưởng rất lớn đến diện mạo tương lai của khu vực.

Mâu thuẫn về lợi ích này cho thấy những bế tắc mà Washington và Bắc Kinh đang gặp phải trong quá trình tìm kiếm sự ổn định chiến lược cho khu vực. Dù cả hai quốc gia đều đưa ra cam kết cũng như nhiều lời hứa hẹn nhằm ngăn chặn xung đột xảy ra nhưng không nước nào thực sự đề xuất được một giải pháp khả thi cho tình thế hiện tại. Chính vì vậy, cạnh tranh vẫn tiếp diễn và thế đối đầu đang dần tiến đến ngưỡng bùng phát xung đột, ông này nhấn mạnh.

Kết cục của cuộc đua tranh là một trong hai bên sẽ phải chịu nhượng bộ hoặc buộc phải nhượng bộ trên Biển Đông. Dù kết quả cuối cùng của cuộc ganh đua này như thế nào đi chăng nữa, khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ không bao giờ còn như cũ được, ông Pickrell nhận định.

tuan-tra-bien-dong-my-tien-sat-diem-toi-han-voi-trung-quoc-2

7 đá Trung Quốc cải tạo trái phép ở Trường Sa. Đồ họa: The Diplomat. (Xem chi tiết)

Vũ Hoàng

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Tính chính đáng của đảng Cộng sản…Sự thật thế nào?

Posted by hoangtran204 trên 19/09/2015

Tinh chính đáng của ĐCS

Nguyễn Hưng Quốc – VOA

07-9-2015

communist-300x199

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước; hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của đảng Cộng sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách mạng tháng Tám”, tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/ năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có đảng Cộng sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì đảng Cộng sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: những người dân bình thường rất chán ghét chế độ cộng sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như đảng Cộng sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do đảng Cộng sản thường nêu lên để biện minh cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

———-

Tính chính đáng của đảng cộng sản theo sinh viên Nguyễn Sơn phát biểu và đang được gần 1 triệu 500 ngàn người lắng nghe như sau

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Đường băng mới của Trung Quốc ở Biển Đông gần như hoàn thành

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2015

Foreign Policy

Tác giả: Isaac Stone Fish Keith Johnson

Người dịch: Huỳnh Phan

16-04-2015

H1

Ảnh vệ tinh mới cho thấy, việc Trung Quốc (TQ) xây dựng đường băng trên các đảo tranh chấp tiến triển xa hơn mọi người nghĩ trước đây.

TQ gần hoàn tất việc xây dựng đường băng trên một chỏm đất nhỏ ở Biển Đông, nâng cao khả năng triển khai sức mạnh trong khu vực từ vùng biển tranh chấp và nâng cao hơn nữa phần được mất trong một cuộc thách thức ngày càng căng thẳng giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng và Hoa Kỳ.

Ảnh vệ tinh mới cung cấp cho Foreign Policy cho thấy, những tiến bộ trong việc xây dựng một dải mặt đường trên Đá Chữ Thập. Đá này nằm gần cuối phía nam của vùng biển tranh chấp trên Biển Đông, cách Philippines vài trăm dặm. Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo mà TQ, Philippines, Malaysia, Việt Nam, Đài Loan và Brunei đòi chủ quyền toàn bộ hoặc một phần. Các ảnh, trong đó ảnh gần đây nhất vào ngày 11 tháng 4, cho thấy, khoảng 3.000 feet (tương đương 914 m) đường băng đã hoàn thành trong các sắc màu xanh lá cây, xanh dương và xám.

Các ảnh này do Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI), một chi nhánh nghiên cứu thuộc nhóm chuyên gia cố vấn ở Washington của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cung cấp.

“Khả năng bất kỳ loại máy bay nào đều có thể đáp xuống được trên rạn đá này, cải thiện đáng kể khả năng tuần tra khu vực và thực thi các yêu sách của TQ trên Biển Đông”, Giám đốc AMTI Mira Rapp-Hooper nói.

Trò xây dựng rạn đá của TQ, bao gồm nạo vét lớn để biến các rạn san hô thành đảo nhân tạo, đã được báo chí, bao gồm cả Foreign Policy, tường thuật hồi tháng 2. Ngày 16 tháng 4, tờ New York Times và các báo khác đã đăng các ảnh về việc xây dựng của TQ trên Đá Chữ Thập, chụp hồi cuối tháng 3 cho thấy, đường băng đồn đại lâu nay đang hình thành. Các ảnh vào tháng 4 do Foreign Policy thu được cho thấy, thậm chí nhiều công trình hơn đã được thực hiện trên rạn đá này, kể cả việc mở rộng sân bay.

TQ đòi chủ quyền phần lớn Biển Đông, vùng biểnn quan trọng về mặt chiến lược. Đó là một khu vực rộng 1,4 triệu dặm vuông thuộc Thái Bình Dương, phía Bắc tiếp giáp với TQ, còn phía Đông, phía Tây và phía Nam tiếp giáp một số nước Đông Nam Á. Các quan chức hàng đầu của Mỹ, kể cả Tổng thống Barack Obama và lãnh đạo cấp cao hải quân gần đây đã lên tiếng báo động về thái độ hung hăng của TQ trong khu vực, đặc biệt là những nỗ lực bồi tạo các rạn đá đã trở nên nổi bật trong vòng sáu tháng qua. Hồi đầu tháng này, TT Obama chỉ trích việc TQ rõ ràng sử dụng “kích cỡ và cơ bắp để buộc các nước vào vị trí lệ thuộc”. Đô đốc Harry Harris Jr., chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, lên án “trường thành cát” của TQ trong một bài phát biểu hồi cuối tháng 3 tại Úc.

Trong tháng 11, các ảnh do hãng phân tích IHS Jane công bố cho thấy rằng, Bắc Kinh đã bồi tạo nên một đảo lên Đá Chữ Thập đủ lớn để phục vụ một đường băng dài khoảng 10.000 feet (tương đương 3048 m). Những ảnh mới mà AMTI mua từ công ty vệ tinh thương mại DigitalGlobe, cho thấy, việc xây dựng đường băng đã thực sự bắt đầu.

Ảnh ngày 14 tháng 2 cho thấy, các dấu mốc cho một đường băng trên cát, nhưng chưa có mặt đường. Vào giữa tháng 3, mặt đường tráng đã dài ra 958 feet (tương đương 292 m) và tổng chiều dài đường băng là 1.525 feet (tương đương 465 m). Đến ngày 11 tháng 4, có thể nhìn thấy đường băng, sân đỗ, và nhiều cấu trúc phục vụ khác. “Có khả năng là đường băng sẽ hoàn thành sớm”, Rapp-Hooper nói.

Đô Đốc Samuel Locklear, người đứng đầu Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, nói trong buổi điều trần trước Quốc hội ngày 15 tháng 4 rằng các hoạt động lấn biển “hung hăng” của TQ, gồm khả năng có một sân bay mới, sẽ nâng cao khả năng quân sự của Bắc Kinh trong khu vực. Ông cũng cảnh báo khả năng TQ sẽ tuyên bố một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Đông. Hồi tháng 11 năm 2013, TQ tuyên bố thành lập một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Hoa Đông, làm tăng căng thẳng giữa TQ, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, một đồng minh thân cận của Nhật Bản. Như nhiều học giả TQ và các quan chức quân đội về hưu gợi ra, việc tuyên bố một vùng [nhận diện phòng không] bên trên Biển Đông có thể làm tăng căng thẳng với Hoa Kỳ hơn nữa. Và đường băng sẽ góp vào chuyện đó.

“Nó mở rộng khả năng hoạt động của họ trong Biển Đông, bao gồm cả giám sát khu vực và có khả năng từ chối truy cập đối với những nước khác”, một quan chức cao cấp trong chính quyền Obama gần đây đã nói với Foreign Policy.

Xây đường băng trên Đá Chữ Thập không là việc làm lần đầu của TQ trong khu vực này. Trung Quốc đã có một sân bay ít được sử dụng trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nhỏ ở Biển Đông, hoàn thành vào năm 1990. Tuy nhiên, nó có thể có tiềm năng rất quan trọng trong việc củng cố chiến lược cơ bản của TQ, giữ Hải quân Mỹ càng cách xa bờ biển TQ càng tốt nhờ vào một hỗn hợp máy bay trên đất, tàu ngầm và đội pháo tên lửa diệt tàu.

Đóng quân trên Đảo Chữ Thập và quan trọng là có thêm một đường băng đa dụng sẽ mở rộng tầm hoạt động quân sự tiềm năng của TQ: Đường băng dài 10.000 feet (3.048 m) đủ sức đáp ứng gần như tất cả các loại máy bay trong quân đội TQ.

TQ không phải là nước đầu tiên xây đường băng trên quần đảo Trường Sa – trên thực tế, ngoại trừ nước Brunei nhỏ bé, TQ là nước cuối cùng trong các bên tranh chấp làm điều này. Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Philippines đều có đường băng trên quần đảo Trường Sa, dù khác nhau rất lớn về kích thước và mức độ phức tạp, tất cả đều có vẻ ít đáng kể hơn nhiều so với đường băng của TQ.

Isaac Kardon, một học giả thuộc Viện Luật Mỹ-Á, Đại học Luật New York (NYU Law), đang nghiên cứu về vấn đề Biển Đông nói: “Việc xây dựng khả năng nhằm phô trương sức mạnh đang diễn ra. Vấn đề chỉ là TQ đang xây dựng nhiều hơn bất cứ nước nào khác”. Sở ngoại vụ tỉnh Hải Nam, tỉnh quản lý Đá Chữ Thập, đã không trả lời đề nghị bình luận, còn Hải Quân TQ thì không liên hệ được.

Philippines đã lớn tiếng kêu gọi sự hậu thuẫn nhiều hơn từ các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong việc đối đầu với điều mà họ xem là sự gây hấn của TQ ở Biển Đông. Tuần này Indonesia cho biết họ muốn có thêm các cuộc tập trận huấn luyện với Hải Quân Mỹ trong các khu vực ở Biển Đông gần nơi TQ tuyên bố chủ quyền.

Báo chí TQ đã không hề né tránh việc đăng tải dự án xây dựng trên Đá Chữ Thập, hoặc sự phát triển đảo. Cuối tháng 3, một bài báo trên các trang web tin tức iFeng của TQ tường thuật rằng, lính trên Đá Chữ Thập – mà TQ gọi là Yongshu (Vĩnh Thử) – bây giờ có thể truy cập mạng 4G, do vậy lính đóng quân trên đảo có thể “chia sẻ những phong cảnh đẹp”. Báo Tài Chính Quốc Tế của của TQ ước tính rằng TQ đã chi khoảng $12 tỉ cho việc xây dựng các phần nhân tạo của Đá Chữ Thập, chưa kể các cấu trúc trên đảo.

Trong khi Bộ Ngoại giao TQ nói rằng các đảo này sẽ được sử dụng cho các mục đích quốc phòng không xác định, họ đã tìm cách hạ thấp những tác động quân sự của các hoạt động đó. Đầu tháng 4, một người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ nói rằng việc bồi đắp thêm các rạn san hô nhằm làm cho việc tiến hành các hoạt động đáp ứng thiên tai, chẳng hạn như các chuyến bay tìm kiếm, cứu hộ và ứng phó với giông bão, dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích hoài nghi. “Đó không phải là công việc nhân đạo nhằm tạo thêm sự cơ động cho việc cứu trợ nhân đạo. Đó là một cách triển khai vành đai phòng thủ – chấm hết”, Said Bryan McGrath, Phó giám đốc Trung tâm American Seapower thuộc Viện Hudson.

Ông nói rằng nó có thể giúp TQ triển khai máy bay, tên lửa đất-đối-đất, tên lửa đạn đạo chống tàu, và các hệ thống phòng thủ trên không “Trong khi làm như vậy, họ giữ cho kỵ binh — tức Hải quân Mỹ — thậm chí ở cách xa hơn là khi chỉ đơn giản triển khai vành đai phòng thủ đó từ đại lục”, McGrath nói.

Chắc chắn một số nhà phân tích Mỹ thấy các hoạt động bồi đắp đất của TQ không đe dọa nhiều. M. Taylor Fravel, một chuyên gia về tranh chấp biển châu Á tại Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT), nghi vấn liệu các sân bay cô lập không có lớp các cấu trúc phục vụ đầy đủ như các cơ sở tiếp tế nhiên liệu và bảo trì sẽ làm được gì nhiều để làm tăng tầm hoạt động quân sự của TQ. Ông nói, chúng vẫn sẽ mong manh đối với bất kỳ cuộc tấn công nào của Mỹ. Hơn nữa, chúng cũng mong manh trước thời tiết.

“Một cơn bão lớn có thể cuốn đi hết tất cả”, Rapp-Hooper đồng ý.

Cuộc đấu khẩu về 10.000 feet (3.034 m) bê tông trên Đá Chữ Thập nhấn mạnh mức độ mà các đường băng đang và từ lâu được dùng cho việc triển khai sức mạnh trong những khoảng cách rộng lớn của Thái Bình Dương. Trong Thế chiến II, việc Nhật Bản xây dựng một sân bay trên đảo Guadalcanal đã khiến Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tung ra cuộc tập kích đầu tiên trên đất liền trong Chiến Tranh Thái Bình Dương. Tương tự như vậy, nhu cầu về các sân bay áp chế phần lớn chiến lược nhảy cóc (island-hopping) lên các đảo trung tâm Thái Bình Dương của Đô Đốc Chester Nimitz qua việc tóm lấy các bệ phóng ở chuỗi đảo Marshalls, Marianas và cuối cùng là Ryukyu để có thể giành ưu thế trên không ở khu vực, lẫn việc ném bom tầm xa vào các đảo chính của Nhật. Ngay cả ở châu Âu, các sân bay ở các vị trí chiến lược cách xa nhau như Iceland, Azores, và Malta đã đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến chống tàu ngầm của Đức và tấn công các tuyến đường tiếp liệu của Phe Trục. Gần đây hơn, Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương đã là một căn cứ quan trọng cho các cuộc không kích tầm xa của Mỹ ở Trung Đông.

Trớ trêu thay, mặc dù qua nhiều thập kỷ tiến bộ trong công nghệ quân sự, sân bay vẫn còn quan trọng như từ trước tới nay, vì máy bay phản lực ngày nay có tầm hoạt động tương đối ngắn, Đảo Hải Nam của TQ và Quần Đảo Trường Sa cách nhau gần 600 dặm, không quân TQ sẽ phải hoạt động ở mức giới hạn cuối cùng trong bất kỳ cuộc đối đầu nào trong khu vực.

Nhưng xây dựng một đường băng trên Đá Chữ Thập về cơ bản cho Bắc Kinh một tàu sân bay không thể chìm, nằm sẵn ở trung tâm Biển Đông. Theo cách đó, vành đai phòng thủ của TQ được đẩy xa bờ biển gần 600 dặm sẽ khiến cho các nhóm tấn công tàu sân bay Hải Quân Mỹ với các máy bay tầm ngắn khó can thiệp hơn nhiều mà không sợ mất đi một con tàu nhiều tỉ đô la.

nguon: anhbasam

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Lãnh đạo CSVN không phải là người Việt

Posted by hoangtran204 trên 19/04/2015

FB Trần Trung Đạo

09-04-2015

H1Tháng 5 năm ngoái, khi Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 đến sát bờ biển Việt Nam, lãnh đạo CSVN phản đối. Không chỉ phản đối riêng tại Việt Nam mà họ còn xúi giục du học sinh VN tại các nước mang cờ CS biểu tình chống Trung Cộng.

Nhiều người nghĩ rằng CSVN phản đối vì Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam.

Không phải. Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam hàng trăm lần trước đó nhưng CSVN im lặng. CSVN phản đối chỉ vì lãnh đạo Trung Cộng đã làm nhục lãnh đạo CSVN một cách công khai, lộ liễu trước dư luận Việt Nam và quốc tế, vượt qua giới hạn của những thỏa thuận ngầm giữa hai đảng. Trung Cộng rút giàn khoan và sóng gió tạm ngưng.

Trong bài “Để thắng được Trung Cộng” viết ngày 18 tháng 5, 2014, khi sự kiện HDD-981 còn nóng bỏng, tôi có viết:

“Rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981 này, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Dân tộc Việt Nam lại bị đảng dắt đi vòng vòng trong ngõ cụt tối tăm như đã và đang đi suốt 39 năm qua.”

Thực tế đang diễn ra đúng như vậy. Tuần này, TBT Nguyễn Phú Trọng dẫn một phái đoàn đông đảo sang triều cống Trung Cộng và lập lại lời thề trung thành với đảng mẹ.

Nhưng không phải hôm nay thôi, mà từ 1990 (Hội nghị Thành Đô), 1958 (Công hàm Phạm Văn Đồng), 1954 (Hội nghị Geneva), 1950 (Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận VNDCCH), 1946 (Liên Xô và Trung Cộng tổ chức huấn luyện cán bộ CSVN), và nhục nhã nhất, vào ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh, sau khi đi bộ 17 ngày, đến chính thức triều cống Trung Cộng và tháng Tư năm đó y cũng đã dâng cho Trung Cộng bốn yêu cầu trong đó có yêu cầu Trung Cộng gởi cố vấn quân sự sang Việt Nam.

Từ phái đoàn cố vấn chính trị đầu tiên do La Quý Ba cầm đầu cho đến 1973 có đến 320 ngàn quân Trung Cộng tham chiến tại Việt Nam dưới nhiều hình thức.

Quan hệ giữa Trung Cộng và CSVN được Chu Ân Lai ví như “cùng chung máu thịt”.

Máu thịt đây dĩ nhiên không phải là máu thịt của 74 anh hùng Hải Quân VNCH bảo vệ Hoàng Sa, không phải là máu thịt của 64 thanh niên Việt Nam bị thảm sát ở Trường Sa, không phải là máu thịt của hàng ngàn ngư dân Việt Nam đã chết dưới tay hải quân Trung Cộng suốt mấy chục năm qua, không phải là máu thịt của ba ngàn thanh niên Việt Nam bị thiêu xác ở Lão Sơn, không phải là máu thịt của nhiều chục ngàn thanh niên Việt Nam đã chết trong chiến tranh biên giới 1979, và không phải là máu thịt của một phần mười dân tộc Việt khắp ba miền đã chết vì tham vọng CS hóa Việt Nam của đảng CSVN và CS Quốc Tế.

“Cáo chết ba năm quay đầu về núi” nhưng lãnh đạo CSVN thì không. Lãnh đạo CSVN sẽ quay đầu về Trung Nam Hải, Bắc Kinh, vì chúng không phải là người Việt.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Thắng lợi vẻ vang của đảng: Sự thờ ơ của dân chúng trước hành động xâm lăng

Posted by hoangtran204 trên 13/03/2015

Và chính sách của Đảng đã thắng lợi hoàn toàn.

Như vậy, đảng đã thắng tuyệt đối trong chiến lược ngoại giao và nội trị trước âm mưu, hành động xâm lấn lãnh thổ của Tổ Quốc. Vấn đề là ở chỗ, thành công với tiêu chí, mục đích và ý đồ nào mà thôi.

Sự thờ ơ của dân chúng với các hành động xâm lăng

 Thời gian gần đây, những hành động của nhà cầm quyền Trung Cộng trên Biển Đông của Việt Nam ngày càng khốc liệt, trắng trợn và bất chấp tất cả mọi nguyên tắc quốc tế cũng như chính những cam kết của họ.
2-5-2014,  Sau khi đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam khảo sát xong, nhà cầm quyền Trung Cộng đã từng bước, từng bước một lấn dần theo một lộ trình và kịch bản rất rõ ràng nổi bật ý đồ xâm lược. Chúng đã xây dựng xong trên Hoàng Sa, đóng quân đồn trú rồi xây dựng đảo Gạc Ma mà chúng cướp bằng vũ lực của Việt Nam năm 1988 thành một đảo nhân tạo.
Không chỉ có vậy, sự ngang ngược của chúng tiếp tục bằng việc tiếp tục đưa quân đội ra đồn trú tại Trường Sa.Trên biển, ngư dân Việt Nam tiếp tục bị đánh đập, bị cướp và ngăn chặn khai thác hải sản. Tàu thuyền Trung Cộng kéo vào tận Đà Nẵng, chỉ cách chưa đến hai chục hải lý…
Những hành động ngang ngược của Trung Cộng diễn ra như chốn không người, như với những nơi không có chủ quyền diễn ra hàng ngày, hàng giờ trước gần 100 triệu người Việt Nam vốn được ca ngợi là yêu nước nồng nàn, sâu sắc và biết bao ngôn từ khác nữa.Nhưng, những hành động của người Việt trước những hành động kể trên của quân xâm lược, xét tổng thế chỉ là những con số không tròn trĩnh và vô nghĩa với ý đồ xâm lược của bọn bá quyền bành trướng Trung Cộng.Những thái độ, hành động, lời nói vừa nhu nhược, hèn yếu nhũn nhặn của hệ thống chính trị hiện nay đối với kẻ thù, không khác gì những hành động khi xưa kéo nhau lên biên giới tự trói tay dâng nộp sổ sách dâng cho quân xâm lược lãnh thổ của đất nước mà sử sách còn ghi chép.

Tiếng của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao như những cuộn băng rè cũ kỹ thỉnh thoảng được đưa lên kéo lại cho dân chúng nghe không có tác dụng gì hơn là chỉ làm cho dân chúng thêm chán nản trước sự hèn nhược của cả hệ thống cộng sản trước kẻ thù của đất nước, của dân tộc.

Quan chức Cộng sản, thì đua nhau sang chầu nước lớn đàn anh Trung Cộng. Quan chức đứng đầu cầm quân, thì tỏ rõ sự hèn nhát của mình bằng câu phát biểu công khai chỉ sợ dân chúng căm ghét Trung Quốc của bọn xâm lược. Chỉ bởi kẻ thù dân tộc, đất nước hiện nay, lại chính là anh bạn vàng của Đảng Cộng sản Việt Nam, một thế lực đang đè đầu cưỡi cổ đất nước này.

Cả đất nước, cả dân tộc như tê liệt trước những hành động hung hăng, trắng trợn của kẻ thù. Những thông tin về lãnh thổ mất đi dưới tay giặc đã không thể có tiếng vang bằng hành động của một cô người mẫu văng bộ phận phụ khoa vào mặt Công an và Đảng Cộng sản.

Điển hình, là những thông tin ít ỏi, rời rạc của báo chí về những hành vi xâm lấn của bọn bá quyền, đã vấp phải sự thờ ơ của người dân Việt Nam. Người dân Việt đang đua nhau vào các lễ hội cướp giết, đâm chém. Người dân Việt đang thi nhau khoe của cải, nhà cửa tráng lệ. Quan chức khoe sống trong cảnh vàng son, nhung lụa mà không cần nói thì ai cũng có thể khẳng định chỉ có thể từ nguồn cướp được của nhân dân và bán rẻ đất nước, tài nguyên cho giặc mà thôi. Nhưng, những hành đông khoa khoang của cải, nhà cửa dinh thự trước mắt dân chúng nhằm có một tác dụng như một lời khuyên bảo rằng: Hãy ngoan ngoãn làm tay sai cho Đảng, được ưu ái trọng dụng đặt vào những chiếc ghế quyền lực để cướp bóc của người dân mà vinh thân, phì gia.

Dân chúng im lặng trước bạo lực và cướp bóc, xã hội suy đồi chỉ nhăm nhăm hùa vào những lễ hội, những phong trào, những gì có thể kiếm đươc vài miếng bỏ miệng mà có thể bị cái định hướng XHCN giật ra khỏi tay bất cứ lúc nào. Thậm chí, đã hình thành những đám dân ngu đi bảo vệ đám quan lại cướp bóc và nhằm giữ cái ghế cho Đảng tha hồ cai trị để lãnh thổ tha hồ vào tay giặc.

Và tất cả im lặng trước những hành động xâm lấn của ngoại bang.

Phải chăng, đất nước này đã hết người yêu nước? Phải chăng, bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh chỉ có âm mưu thôn tính lãnh thổ của đất nước này đến thế rồi thôi?

Xin thưa, không phải thế.

Chính sách hèn với giặc, ác với dân

 

Nếu như, vào những năm 2007-2011, ai dám nói về biển đảo, về Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam, thì hắn nhiên không cần bàn cãi, Đảng cho họ vào tù hoặc ít nhất cũng thành “thế lực thù địch” và bị trăm ngàn khốn khó. Nhưng xem ra, không ai ngăn cản được sự thật rằng từ ngàn đời nay, lãnh thổ đất nước ta là thiêng liêng. Thậm chí trong một cơn cao hứng nào đó, hoặc do không nghĩ đến nơi đến chốn – hoặc do với Tàu Cộng không bao giờ ông ta coi là kẻ thù hay chăng? – mà Hồ Chí Minh đã nói rằng: “Hễ còn một tên xâm lược nào trên đất nước chúng ta, thì ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó đi”.

Dù Đảng CS đã đổ biết bao nhiêu tiền dân vào cái gọi là “Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng đạo cức Hồ Chí Minh” với muôn vàn lời lẽ ca ngợi. Dù có phong thánh cho Hồ Chí Minh đi nữa, thì câu nói này của ông ta cũng không thoát khỏi cái sot rác của đảng trong giai đoạn vừa qua. Khốn nạn hơn, tờ báo của Đảng CS còn đưa tin rằng Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Cộng rồi cũng chỉ bị phạt lấy lệ 30 triệu đồng lấy lệ là xong, trong khi trước đó, một tờ báo đã bị đình bản, chỉ vì đăng bài viết về biển đảo của Tổ Quốc?

Những cuộc biểu tình yêu nước bị đàn áp khốc liệt, những hành động chẳng cần luật pháp, bất chấp tốn tiền dân nhằm ngăn cản những cuộc biểu tình yêu nước, những luận điệu tung ra rằng thì là đã có đảng và nhà nước lo… được đảng sử dụng triệt để.

Những cuộc biểu tình bị bắt bớ, những người yêu nước bị vu cáo, giam cầm và đàn áp cũng không thể tước đi trong tâm thức người Việt rằng lãnh thổ đất nước ta đang nằm dưới gót giày của quân xâm lược. Bằng cách này hay cách khác, những âm vang như những tiếng kêu từ trong tiềm thức người dân Việt với cơ đồ đất nước trong tay người Cộng sản đang mất dần đã và vẫn vang lên trong tâm khảm mọi người.

Rồi khi những hành động ngang ngược của Trung Cộng không thể nào giấu kín, cơn giận của dân chúng tràn ra bằng những cuộc biểu tình hai đầu đất nước.

Và kế sách đã thay đổi.

Màn diễn vụng về và độc ác

Người ta không hiểu cơn cớ gì, mà những công an, cảnh sát, ngay cả những đảng viên Cộng sản bất cứ cấp nào thì cũng là người Việt, lại có hành động dã man một cách kiên quyết và khốc liệt như vậy đối với người dân yêu nước? Câu hỏi đó không dễ trả lời cho một số người vốn tin rằng người Cộng sản vẫn là những người Việt Nam. Bởi họ đã không hiểu một điều là chính Hồ Chí Minh đã dạy họ: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra”. Mà với người Cộng sản, thì Phong trào Cộng sản quốc tế mới thật sự là cái mà họ coi là “ta”, là cái mà họ phụng sự. Trong đó, CS Trung Quốc là một bộ phận của họ, là đàn anh, là quan thầy và là bạn tốt.

Như thế là đã rõ, Đảng CS không sợ kẻ thù bên ngoài xâm lấn lãnh thổ, thậm chí còn tuyên bố là bạn vàng của Đảng, mà chỉ sợ kẻ thù của họ bên trong. Khi họ đi với kẻ thù của nhân dân, thì nhân dân chính là kẻ thù bên trong của họ.

Và họ đã không hề run tay hoặc nhân nhượng với nhân dân mình. Vì thế khi họ ra tay cướp bóc trong nước bằng mọi cách, đẩy người dân thành lưu vong không cửa nhà trên chính quê hương mình, thì họ thản nhiên để lãnh thổ rơi vào tay ngoại bang.

 

Ngay khi những lời nói có vẻ mạnh bạo của một vài quan chức cộng sản trước sự xâm lược của kẻ thù được hệ thống báo chí ca ngợi, thì lập tức có những hành động đáp trả ngược lại từ những quan chức cộng sản khác còn lớn hơn, to hơn chứng tỏ sự hèn đớn, nhu nhược trước kẻ thù.

Ngay khi báo chí được nói về biển đảo, thì lập tức những cuộc biểu tình bị đàn áp không thương tiếc, tất cả những người có tinh thần yêu nước đều được liệt kê vào “thế lực thù địch” và một chiến dịch tổng hợp từ chính quy đến bẩn thỉu nhằm vào họ, thậm chí là công an giả danh côn đồ để trấn áp.

Với kẻ thù, họ chỉ tìm cách “hữu nghị” với thái độ nô lệ, chấp nhận chư hầu. Họ đón quan chức Tàu bằng cờ sáu sao, họ cung kính gặp mặt quan thầy bất chấp sự khinh bỉ và coi thường bằng hàng loạt cuộc điện thoại “đường dây nóng” không được nhấc máy.

Thế rồi, khi những hành động của quân xâm lược không thể che giấu trước mặt nhân dân với giàn khoan khổng lồ vào thềm lục địa của đất nước như chỗ không người, thì Đảng buộc phải để xảy ra một cuộc biểu tình “tự phát”. Khi đó, những “thế lực phản động” được báo chí của đảng đưa lên làm con mồi.

Và chỉ có thế. Rồi những người mới là người yêu nước hôm qua, lại tiếp tục trở thành đối tượng phản động và truy đuổi khốc liệt hơn. Người ta không hiểu vì sao Đảng chỉ để xảy ra một cuộc biểu tình lấy lệ rồi lại đàn áp?

Thì ra, đó là động tác không thể thiếu trước mắt dân chúng, rằng thì là Đảng, nhà nước vẫn có bất bình, vẫn có ý kiến phản đối đấy thôi. Nhưng chẳng làm gì được hơn và đành chịu mất lãnh thổ vào tay giặc để “Đời ta không đòi được thì để giành nợ đó cho con cháu đòi”(!) Thế là hòa, thế là chịu.

Thế rồi những trò bẩn thỉu đó được lặp đi lặp lại, cái loa rè Người phát ngôn lặp đi lặp lại, những hành động trấn cướp cứ ngang nhiên lặp đi lặp lại cùng với những câu nói ngớ ngẩn và ngu xuẩn của quan chức cộng sản cao cấp cứ diễn đi diễn lại không biết ngượng… đã làm nản lòng người dân.

Và người dân Việt trở thành vô cảm trước sự mất còn của lãnh thổ đất nước. Họ không muốn nói và thậm chí không thèm nói lại trước những lời nói, hành động ngu xuẩn và đớn hèn đó nữa. Chúng tôi đã viết về màn kịch vụng về độc ác này ngay khi nó vừa bắt đầu biểu diễn trước dân chúng Việt Nam.

Mục đích cuối cùng là tạo nên sự vô cảm trong người dân, bỏ mặc cho “đảng và nhà nước lo”, mặc cho họ bán mua, được mất với lãnh thổ của Tổ Quốc thiêng liêng.

Và chính sách của Đảng đã thắng lợi hoàn toàn.

Hà Nội, Ngày 12/3/2015. Kỷ niệm 27 năm các chiến sĩ ngã xuống trên đảo Gạc Ma.

J.B Nguyễn Hữu Vinh

 ————

 

Trung Quốc đưa quân tới đảo mới ở Hoàng Sa

(Tin tức 24h) – Từ ngày 8/3/2015, Trung Quốc đã chính thức triển khai lực lượng đồn trú tới đảo Triệu Thuật (Đảo Cây) – nơi nước này đang chiếm đóng phi pháp.

Thông tin trên được Tân Hoa xã dẫn nguồn từ lực lượng cảnh sát thuộc Chi đội công an biên phòng của cái gọi là thành phố  Tam Sa cho biết.

Mục đích chính của việc này, theo tuyên bố của phía Trung Quốc, là để bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo Triệu Thuật, các bãi đá và doi cát ở khu vực Bắc Trung Nam và vùng biển xung quanh hòn đảo này.

Đảo Cây là một đảo san hô thuộc nhóm đảo An Vĩnh trong quần đảo Hoàng Sa. Đảo Cây nằm cách đảo Phú Lâm khoảng 9,2 hải lý (17 km) về phía Bắc Tây Bắc và cách Cồn cát Tây 4 hải lý (7,4 km) về phía Đông. Hiện nay, Trung Quốc đang chiếm đóng phi pháp hòn đảo này.

Nhóm đảo có đảo Cây, nhìn từ trên không
Nhóm đảo có Đảo Cây, nhìn từ trên không

Trước đó, cũng tại Hoàng Sa của Việt Nam, đầu tháng 1/2015, Trung Quốc đã ngang nhiên cho ra đời cái gọi là “Ban Vũ trang Nhân dân” trái phép.

Theo đó, Bắc Kinh đã thành lập đồng thời 4 “Ban Vũ trang Nhân dân” nói trên, trong đó có “Ban Vũ trang Nhân dân” đảo/thị trấn Vĩnh Hưng (thực tế là đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), “Ban Vũ trang Nhân dân” Thất Liên (7 hòn đảo gần nhau, đều thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) và “Ban Vũ trang Nhân dân” quần đảo Vĩnh Lạc (thực tế là nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam).

Đây là một trong những tổ chức cơ sở của chính quyền ở Trung Quốc, thông thường được thiết lập ở cấp xã, phường, thị trấn, phụ trách công tác nghĩa vụ quân sự, quản lý quân nhân dự bị và động viên chiến tranh.

Theo CNS, việc thành lập các “Ban Vũ trang Nhân dân” này là biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển của công tác vũ trang tại cơ sở, nhằm hoàn thiện nhu cầu của hệ thống chính quyền ở Tam Sa.

Bốn “Ban Vũ trang Nhân dân” này sẽ chịu sự lãnh đạo của Thị ủy Tam Sa, chính quyền thành phố Tam Sa và Khu Cảnh bị Tam Sa.

Như vậy, Trung Quốc đã có những bước đi liên tiếp nhằm xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố khẳng định có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay những hành động sai trái đó.

Mọi hành động của phía Trung Quốc nhằm xây dựng, mở rộng trái phép công trình, đưa người tới các quần đảo này không chỉ xâm phạm nghiệm trọng chủ quyền của Việt Nam, mà còn vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN.

>>> Nhà cầm quyền Hà Nội không hề lên tiếng phản đối. Trong khi đó dân chúng COI TIN này như không ảnh hưởng gì đến họ. Họ thờ ơ về sự mất mát chủ quyền biển đảo.

 

 

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Tài liệu của Ban Tuyên Giáo: Về cuộc gặp cấp cao VN – TQ tại Thành Đô tháng 9-1990

Posted by hoangtran204 trên 12/10/2014

Cập nhật 25-10-2014

-Ông Dương Danh Dy, cựu Tổng Lãnh Sự của VN tại Trung Quốc đã vén chút màn bí mật cho biết: “Hội nghị Thành Đô đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả to lớn, cay đắng, nhục nhã…” trong bài  “Hậu quả tai hại của Hội Nghị Thành Đô”BBC 

Tài liệu của Ban Tuyên Giáo nhằm mục đích đối phó với phong trào Chúng Tôi Muốn Biết của người dân trong nước một số cán bộ đảng viên đang thắc mắc về chuyện Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Hồng Hà, Lê Khả Phiêu…đã ký mật ước ở Thành Đô có nội dung như thế nào vào ngày 3 và 4 tháng 9, 1990 tại TQ.

Theo Hiệp định Thành Đô 1990, đảng CSVN đã thần phục và nhờ TQ đỡ đầu để khỏi sụp đỗ về kinh tế và chính trị. Đổi lại, thì đảng CSVN sẽ nhường đất đai biên giới, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, núi Lão Sơn,…cho TQ, và nhường cho TQ chiếm Trường Sa và Hoàng Sa theo đúng thỏa thuận giữa hai đảng CS từ hồi 1950s và 1960s.

Đồng thời, đảng CSVN còn  hứa sẽ sáp nhập VN vào tỉnh Quãng Tây năm 2020…Việc này đã làm 20 tướng lãnh và đại tá trong Lực lượng Vũ Trang đã viết thư chất vấn Ủy Ban Trung Ương Đảng CSVN năm 2014. Do đó, Ban Tuyên Giáo Trung Ương tung tài liệu dưới đây ra cho đảng viên học tập.

Ban Tuyên giáo TW tung tài liệu Hội nghị Thành Đô, cuống cuồng đối phó chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết

12-10-2014

Theo Dân Làm Báo

 

Sau hơn một tháng im lặng, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vừa chính thức có động thái phản ứng trước chiến dịch Chúng Tôi Muốn Biết được phát động từ đầu tháng 9/2014 vừa qua. Một tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng.

Ảnh hưởng đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên?

‘Chúng Tôi Muốn Biết’ là một chiến dịch đòi hỏi quyền được tiếp cận thông tin minh bạch của người dân. Mục tiêu ban đầu là buộc đảng CSVN phải công khai các thông tin về Mật ước Thành Đô ký kết với Trung Cộng năm 1990.

Có thể thấy, sức lan tỏa rộng khắp và áp lực mạnh mẽ của phong trào đã khiến ban Tuyên giáo Trung ương cuống cuồng tìm cách ứng phó

Bắt đầu từ tháng 10/2014, các cơ quan thuộc đảng cộng sản được lệnh đồng loạt phân phát đến mọi đảng viên một tập tài liệu có tên ‘Cuộc gặp cấp cao tại Thành Đô năm 1990’ do ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn.

Theo một số bức công văn, tài liệu tiết lộ cho Danlambao, việc gửi tài liệu tuyên truyền được giải thích nhằm phản bác lại các thông tin rò rỉ về Hội nghị Thành Đô được lan truyền trên mạng interner.

“Vừa qua, trên mạng phát tán tài liệu liên quan đến cuộc gặp cấp cao tại Thành đô năm 1990 với những lời lẽ kích động, bịa đặt, xuyên tạc sự thật, ảnh hưởng đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân”, công văn này viết.

Các cấp ủy cơ sở đảng cộng sản cũng được yêu cầu phải ‘triển khai, tổ chức quán triệt, phổ biến đến cán bộ, đảng viên và người lao động ở đơn vị’ tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn.

‘Một lòng kiên quyết’ bảo vệ đảng, ‘kiên trì hữu nghị’ với TQ

Các thông tin trong tập tài liệu của ban Tuyên giáo Trung ương không có gì mới, chủ yếu lặp lại các luận điệu cũ nhằm tuyên truyền cho chế độ cộng sản.

Trong phần 3, nói về kết quả Hội nghị Thành Đô, tài liệu ban tuyên giáo viết rằng:

“Trong hội đàm, trao đổi không hề có vấn đề phía Trung Quốc gây sức ép với ta về nhân sự, không hề có cái gội là sự thỏa thuận rằng: “Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc, giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2010…”, như thông tin trên một số trang mạng, blog đã đưa. Đây là một luận điệu bịa đặt với ý đồ kích động, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và trong các tầng lớp nhân dân”.

Về vấn đề Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 cùng tàu chiến xâm phạm vùng biển Việt Nam, ban Tuyên giáo giải thích rằng: Sau chuyến đi Bắc Kinh của ông Lê Hồng Anh, đặc phái viên tổng bí thư, hai đảng cộng sản đã ‘đạt kết quả quan trọng’ và ‘khôi phục quan hệ giữa hai nước’.

Cơ quan tuyên truyền của đảng cộng sản khẳng định mối quan hệ ‘láng giềng hữu nghị’ với Trung Cộng là ‘chủ trương đối ngoại quan trọng’ trong thời điểm hiện tại.

Sau cùng, ban Tuyên giáo TW lặp lại khẩu hiệu ‘một lòng kiên quyết’ ‘giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ đảng, nhà nước, nhân dân và chế độ; bảo vệ an ninh quốc gia’ và ‘kiên trì quan hệ hợp tác hữu nghị với nhân dân Trung Quốc’.

Dưới đây là văn bản các tập tài liệu được tiết lộ cho Danlambao:

Ghi chú: Bức công văn trên đã được xóa đi một số chi tiết vì lý do an toàn.

Theo Dân Làm Báo
danlambaovn.blogspot.com

 

 

►Trần Đức Thảo và Công Hàm Phạm Văn Đồng 14-9-1958 – Triết gia và Lê Duẫn

►Đơn kiến nghị của bà Nguyễn Thị Vân (vợ thứ hai của ông Lê Duẩn) về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

 

Trên mạng hiện truyền nhau bản tin như  sau.

Chúng Tôi Muốn Biết.

Lời kêu gọi thực thi Quyền Được Biết của người dân: “Yêu cầu Quốc hội bạch hóa Hội nghị Thành Đô”

Để tiếp tục thực hiện điều “Chúng Tôi Muốn Biết”, một văn bản “Yêu cầu Quốc hội bạch hóa Hội nghị Thành Đô” sẽ được trao cho Quốc hội vào ngày:

Thứ Tư, ngày 15 tháng 10 năm 2014, tại:

Ban Dân Nguyện – 22 Hùng Vương, quận Ba Đình, Hà Nội
Văn phòng Quốc hội – 56-58 Hoàng Văn Thụ, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
Cho đến thời điểm này, tại Hà Nội và Sài Gòn đã lựa chọn ra một số đại diện để trực tiếp đi trao bản yêu cầu cho Ban Dân Nguyện và Văn Phòng Quốc Hội vào ngày 15/10 sắp tới.
Quyền Được Biết là một quyền phổ quát của mọi công dân và Hội nghị Thành Đô có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận mệnh của dân tộc. Do đó, chúng tôi xin kính mời mọi người hưởng ứng tham gia vào việc trao yêu cầu này.
Thời gian tập trung tại 2 địa điểm nêu trên là vào lúc 9 giờ sáng.

Đại diện:

Phạm Thanh Nghiên

Nguyễn Phương Uyên

Nguyễn Xuân Nghĩa

Sau đây là nội dung của bản yêu cầu:

Yêu cầu Quốc hội bạch hóa Hội nghị Thành Đô

Vào ngày 4 tháng 9 năm 1990, tại thành phố Thành Đô (Trung Quốc) những người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam và đảng cộng sản Trung Quốc đã ký kết nhiều điều khoản liên quan đến quan hệ giữa hai nước, đặc biệt đến vận mệnh của Tổ quốc Việt Nam. Đến nay, sau gần một phần tư thế kỷ, nhân dân Việt Nam vẫn hoàn toàn không biết nội dung của hội nghị này.

Tuy nhiên, kể từ sau Hội nghị Thành Đô, nhân dân Việt Nam đã chứng kiến:

Trên đất liền: Việt Nam mất vào tay Trung Quốc hàng trăm ki lô mét vuông lãnh thổ do xương máu tiền nhân để lại và hàng ngàn hecta rừng đầu nguồn chiến lược dưới các dự án cho thuê dài hạn hơn 50 năm. Bất chấp can ngăn của rất nhiều trí thức và nhà quản lý tâm huyết, đảng chỉ đạo chính phủ cố tình thực hiện dự án khai thác bauxite lỗ lã, gây hiểm họa khôn lường đối với môi trường sống Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, hàng ngàn người Tàu vào chiếm ngự vùng chiến lược hiểm yếu Tây Nguyên.

Ngoài biển Đông: Hàng ngàn ki lô mét vuông vùng biển giàu tài nguyên và huyết mạch giao thương của Việt Nam rơi vào tay Trung Quốc. Ngư dân Việt Nam mưu sinh trên ngư trường truyền thống bị lính Trung Quốc xua đuổi, bắt bớ, đánh đập, giam cầm, sát hại, cướp đoạt tàu thuyền, ngư cụ. Các đảo Gạc Ma, Chữ Thập… của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép và đang bị biến thành những căn cứ quân sự nguy hiểm, nhằm mở rộng tham vọng xâm lược của Bắc Kinh đối với biển Đông.

Về kinh tế: Kinh tế Việt Nam bị lệ thuộc sâu sắc vào Trung Quốc. Bắc Kinh nắm 90% gói thầu các dự án kinh tế trụ cột, chế ngự kinh tế Việt Nam; hiểm họa đội quân người Trung quốc đi kèm, ăn ở, lập làng, lấy vợ, sinh con đẻ cháu khắp 3 miền ngày càng gia tăng. Máy móc thiết bị lạc hậu, hàng hóa độc hại Trung Quốc tràn ngập Việt Nam.

Về chính sách đối với chiến sĩ và nhân dân: Để lấy lòng Bắc Kinh, sự kiện Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào các năm 1979 và 1988, tàn sát dã man đồng bào và chiến sĩ nước ta bị cấm đề cập trong sách vở, báo chí; mọi hoạt động tưởng niệm đều bị cấm đoán và đàn áp thô bạo; bia liệt sĩ bị chỉ đạo đục bỏ. Mọi cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, phản đối đường lưỡi bò bạo ngược, đều bị đàn áp dã man. Những người dân tập Pháp Luân công ở Việt Nam cũng bị bắt bớ, tra tấn, khủng bố.

Về ngoại giao: Nhà nước Việt Nam đã tỏ ra e ngại kiện hành vi xâm lược trắng trợn của Bắc Kinh ra các cơ quan tài phán quốc tế, kể cả vụ giàn khoan HD-981. Cờ Trung Quốc thêm sao (5+1 sao) ngang nhiên tràn ngập trong các dịp tiếp tân lãnh đạo Bắc Kinh do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức, và trình chiếu công khai trên đài truyền hình trung ương.

Hội nghị Thành Đô có những nội dung gì? Những ai đã thỏa thuận những gì để gây ra những hậu quả vô cùng tai hại trên, dẫn đến những Hiệp định phân định biên giới trên bộ Việt-Trung, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ bất bình đẳng? Còn những gì khác đã được bí mật thỏa thuận, uy hiếp sự tồn vong của dân tộc mà chúng ta chưa biết?

Nếu không có sự minh bạch thì không chính phủ nào có thể bị quy trách nhiệm. Phải chăng đây là lý do mà nhân dân bị tước đoạt quyền được biết để những người nắm quyền lãnh đạo trốn tránh trách nhiệm trước lịch sử dân tộc?
Những ai đã cam tâm bán rẻ xương máu tiền nhân và chiến sĩ đồng bào cả nước? Những ai đang rắp tâm tiếp tục mặc cả với giặc trên lưng nhân dân? Nhân dân phải được biết!

“Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra…” không thể chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền suông mà phải được thực thi. Do đó, trong vai trò những người dân làm chủ đất nước, chúng tôi yêu cầu các đại biểu Quốc hội, phải bạch hóa ĐẦY ĐỦ VÀ CHÍNH XÁC TOÀN BỘ NỘI DUNG của Hội nghị Thành Đô.
Nếu yêu sách chính đáng này của những người dân yêu nước, muốn bảo vệ quyền tự chủ và độc lập của nước nhà không được đáp ứng, thì điều đó chứng tỏ rằng quả thật Hội nghị Thành Đô đã bán đứng tài nguyên, lãnh thổ, lãnh hải và nền độc lập của Tổ Quốc. Sự im lặng của Quốc hội sẽ là câu trả lời rõ ràng nhất cho toàn thể nhân dân về nội dung tệ hại và nguy hiểm của Hội nghị Thành Đô.

Do đó, chúng tôi tin rằng Quốc hội sẽ trả lời nhanh chóng và nghiêm túc những yêu cầu bạch hóa Hội nghị Thành Đô. Chúng tôi tin rằng trong Quốc hội vẫn còn có những đại biểu chưa quên những hy sinh xương máu của những chiến sĩ đã nằm xuống ở các trận chiến biên giới Việt-Trung, Hoàng Sa, Trường Sa… để hành xử đúng lương tâm người Việt Nam yêu nước.

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN về thỏa hiệp Thành Đô 9/1990

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

Đơn gửi các vị tuyên huấn, tuyên giáo ĐCSVN

.

3-8-2014

 

 

 

189101-BuonGio-400

.

Kính thưa ông Đinh Thế Huynh, uỷ viên BCT, trưởng ban tuyên giáo trung ương ĐCSVN
Kính thưa ông Phạm Văn Linh, phó trưởng ban tuyên giáo phụ trách thông tin đối ngoại ĐCSVN
Kính thưa ông Bùi Thế Đức, phó trưởng ban tuyên giáo phụ trách tuyên truyền đối nội.
Kính thưa Nguyễn Thanh Tuấn, trung tướng ,cục trưởng cục tuyên huấn thuộc tổng cục chính trị bộ quốc phòng

Kính thưa các ông nhà báo đi đầu trên lãnh vực phòng chống diễn biến hoà bình, chủ động đấu tranh phản bác với những thông tin sai lệch là các ông Nguyễn Như Phong, Hồ Quang Lợi, Nguyễn Văn Minh, Bùi Thế Kỷ, Trần Đăng Thanh…..

Đầu tiên tôi xin đánh giá cao những thành tựu trong lĩnh vực các ông phụ trách ở các năm vừa qua. Đội ngũ phóng viên, báo chí , tuyên truyền viên đã chủ động kịp thời, cung cấp những thông tin nhanh nhạy và đối phó phản bác kịp thời những thông tin sai lệch trong dư luận.

Hiện nay trong dư luận nhân dân đang có hai bài viết của hai lão thành cách mạng đó là thiếu tướng quân đội Lê Duy Mật và đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang. Nội dung hai bài viết này đều đòi làm sáng tỏ vấn đề mà lãnh đạo ĐCS VN đã cam kết với ĐCSTQ tại Thành Đô , bài viết được đưa lên trang cá nhân của đại tá Bùi Văn Bồng có đoạn.

 “ Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….
Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”. (Hết trích) (1).”

http://bongbvt.blogspot.de/2014/08/thieu-tuong-le-duy-mat-co-hay-khong-mot.html

Đoan trích trên hiện nay đang gây hoang mang cho đại đa số quần chúng nhân dân. Dư luận rất bức xúc, đòi hỏi ĐCSVN phải trả lời rõ xem sự việc này thực hư thế nào. Trái với những phản ứng kịp thời ở nhiều vụ khác, chẳng hạn như những vụ tranh chấp đất đai tôn giáo ở Hà Nội hay Nghệ An. Hoặc gần đây vụ Hội Các nhà báo độc lập và các vụ biểu tình liên quan đến biển Đông. Trong những vụ việc này báo chí và cơ quan tuyên huấn, tuyên giáo đồng bộ cấp tốc có bài trả lời hoặc phản ảnh quan điểm của Đảng và nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Thế nhưng đến nay, một việc trọng đại thế này, có ảnh hưởng đến uy tín của Đảng lãnh đạo và tất ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước mà vẫn chưa có lãnh đạo ban, cục, vụ nào có ý kiến hồi đáp.

Nếu thông tin này là sự thật, đề nghị chính phủ đưa gấp chương trình bắt buộc học tiếng Trung Quốc vào giáo trình giảng dạy phổ thông. Chuẩn bị tốt cho nhân dân những kiến thức cơ bản để hội nhập nhanh chóng, hoà mình vào cuộc sống chung của đại gia đình các dân tộc Trung Hoa. Cùng góp sức dưới lá cờ đại nghĩa do tổng bí thư Tập Cận Bình giương cao xây dưng một nước Trung Hoa phồn thịnh, đại cường.

Trong vấn đề hội nhập có đôi chút những mâu thuẫn tư tưởng giữa hai dân tộc, vấn đề này nhìn chung đã được các ban, ngành tuyên giáo, tuyên huấn giải quyết tốt. Nhiều bài viết , thông tin, phát biểu đã định hướng nhân dân ta về mối quan hệ nồng thắm giữa hai đất nước anh em, nghĩa tình sâu đậm. Mặc dù còn đôi chút bất đồng, mâu thuẫn nhỏ trên biển Đông, nhưng cơ bản thì tư tưởng đại bộ phận dân chúng đã được thuyết phục rằng Trung Việt như anh em một nhà.

Về văn hoá nhờ sự nỗ lực phổ cập rộng rãi phim ảnh, sách báo TQ trong nhiều năm qua. Kết quả khá mỹ mãn, đại đa số nhân dân đều hiểu biết sâu sắc văn hoá Khổng Tử, lịch sử, các nhân vật kiệt xuất Trung Quốc.

Về tôn giáo, nhiều chùa chiền đã được xây dựng với kiến trúc Trung Hoa và các sư sãi được gửi đi học tập tại Trung Quốc rất nhiều, họ đã nắm được những vị trí chủ chốt trong giáo hội Phật Giáo VN và không ngừng đưa Phật Giáo Vn hoà nhập với Phật giáo Trung Hoa.

Về kinh tế, mọi hàng hoá, nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị sản xuất, đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhà thầu của TQ đã chiếm lĩnh gần trọn thị trường kinh tế VN. Người dân Vn đã hoàn toàn quen thuộc với hàng hoá TQ cũng như cung cách làm việc kiểu TQ tại các nhà máy, khu công nghiệp, khi kinh doanh.

Về quốc phòng hai bên đã gắn bó mật thiết, nhiều cuộc trao đổi, họp tập diễn ra đều đặn.

Nếu việc sát nhập vào TQ để thành một tỉnh hoặc khu tự trị là có thật, thì các vấn đề trên đã chuẩn bị tốt, đề nghị biểu dương những ban , ngành, lãnh đạo đã thực hiện. Duy có điều về ngôn ngữ đến nay bộ giáo dục vẫn chưa đưa chương trình dạy tiếng Trung Quốc vào phổ cập trong nhà trường, điều này sẽ gây khó khăn cho nhân dân VN khi gia nhập đại gia đình dân tộc Trung Hoa.

Thắc mắc này là có tính xây dựng, nếu thoả hiệp Thành Đô là có thật. Xin Đảng và Chính Phủ có những biện pháp đồng bộ hơn nữa, cụ thể hơn nữa để giúp nhân dân ta hội tụ các điều kiệp hội nhập Trung Hoa. Đủ bản lĩnh để nắm bắt vận hội mới, thời cơ mới.

Còn nếu việc thoả hiệp là không có thật, xin sớm công bố toàn văn những văn kiện đã ký kết ở Thành Đô. Để nhân dân không thụ động trông chờ , tự lực cánh sinh tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam.

Chúc các vị có sức khoẻ dồi dào, để phục vụ Đảng được lâu dài.

FB Người Buôn Gió

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô tháng 9/ 1990 cho nhân dân biết

Posted by hoangtran204 trên 07/08/2014

Đại Tá an ninh Nguyễn Đăng Quang: Phải công bố các thỏa thuận Thành Đô cho nhân dân biết

3-8-2014

Nguyễn Tường Thụy: Bài viết của Đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang, một người bạn thân thiết của anh em đấu tranh Hà Nội. Ông am hiểu nhiều nhưng luôn toát ra vẻ chân thành, khiêm tốn, bình dị. Gọi điện cho tôi, ông nhờ sửa lại cho ông lỗi chính tả, trình bày. Nhưng tôi để nguyên những gì ông viết.

(…)

Chụp ảnh lưu niệm tai Hội nghị Thành Đô 1990. Phạm Văn Đồng người đứng thứ ba từ bên trái, hàng đầu.

.

Gần 1/4 thế kỷ đã trôi qua kể từ Hội nghị Thành Đô, nhiều thành viên đoàn VN tham dự hội nghị này không còn nữa, nhưng hậu quả để lại của cuộc gặp này là khôn lường, gây ra những thiệt hai to lớn và nguy hiểm cho đất nước và nhân dân ta ở hầu hết các lĩnh vực : từ chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, văn hóa-giáo dục, chủ quyền đất nước, chính trị nội bộ đến vấn đề an ninh quốc gia trên phạm vi toàn lãnh thổ, từ biên giới phía Bắc cho đến các tỉnh miền Tây Nam bộ, từ biển Đông vào đến các tỉnh ven biển và giáp với biên giới Lào và Cămpuchia, và đặc biệt là vùng Tây Nguyên chiến lược. Không thể thống kê hết những vấn đề nói trên, chỉ xin đề cập đến một vài sự việc nổi cộm sau :

– Từ sau Hội nghị Thành Đô,cuộc chiến tranh xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc nước ta (17/2/1979) không được nhắc đến nữa, thậm chí những hoạt động của người dân tưởng niêm và vinh danh các liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến này hoặc các cuộc biểu tình yêu nước chống TQ xâm phạm biển đảo và sát hại ngư dân ta đều bị ngăn cấm và đàn áp? Hơn 35 năm đã trôi qua, tại sao cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc,chống xâm lược bành trướng phương Bắc này cũng như việc TQ dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (1974) và đảo Gac Ma của ta ở Trường Sa (1988) không được tổng kết và đưa vào lịch sử và sách giáo khoa để giáo dục lòng yêu nước cho học sinh,sinh viên và thanh niên ta?

– Tại sao ta cho phép hoặc không ngăn chặn việc TQ thuê hàng trăm ngàn héc ta rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới chiến lược phía Bắc với thời hạn lâu dài 50-70năm?

– Một khu vực có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng,rất nhạy cảm về mặt an ninh-quốc phòng là Tây Nguyên( Ai kiểm soát Tây nguyên thì có thể khống chế được toàn bộ bán đảo Đông Dương!) thì TQ lại dễ dàng được phép đưa hàng ngàn công nhân vào đây để thực hiện dự án bauxite đầy nghi ngờ và tranh cãi không những về an ninh-quốc phòng mà cả về hậu quả sinh thái-môi trường cũng như về hiệu quả kinh tế-xã hội, mặc dù có hàng ngàn cựu cán bộ lãnh đạo,nhân sỹ trí thức và các nhà khoa học lên tiếng kiến nghị Bộ Chính trị,Quốc hội và Nhà nước dừng dự án này!

-Tại sao các công ty TQ lại trúng đến 80-90% các gói thầu trọn gói EPC (thiết kế-mua sắm-xây dựng) trong các dự án về KT-XH,đặc biệt là các dự án nhiệt điện, và tại sao ta chấp nhận hàng chục ngàn lao động phổ thôngTQ(có phép và không phép)vào thực hiện các dự án này? Tại sao ta ta lại để cho thương nhân và các doanh nghiệp TQ tự tung tự tác trên khắp lãnh thổ của ta,lừa đaỏ nông dân ta,lũng đoạn và phá hoại nền kinh tế đất nước ta một cách dễ dàng như chốn không người như vậy?

– Gần đây TQ ngang ngược và trắng trợn hạ đặt giàn khoan HD.981 để khoan thăm dò dầu khí sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN mà ta lại không dám nhân cơ hội này kiện TQ ra trước tòa án quốc tế như Philippines đã làm ? Do ta chưa chuẩn bị kịp hồ sơ pháp lý hay vì một nguyên nhân nào khác? Trong vụ giàn khoan này TQ đã không chỉ chà đạp luật pháp và chủ quyền của VN mà còn vi phạm thô bạo Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) của LHQ. Dư luận rộng rãi trên toàn thế giới phản đối,lên án TQ và đồng tình,ủng hộ VN. Rất tiếc ta lại không tận dụng thời cơ và lợi thế này để vạch mặt bọn “vừa ăn cướp vừa la làng!” Trung Quốc không chỉ ngang ngược mà họ còn phi lý và trịch thượng nữa! Qua hang thông tấn chính thứcTân Hoa Xã, họ đưa ra ” 4 yêu sách VN không được làm” trong đó họ đề cập xa gần và bóng gió đến thỏa thuận Thành Đô 1990!
– v.v…

Xung quanh Hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà VN đã ký với TQ ở Thành Đô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định,thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm,bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang,bán tín bán nghi,không biết đâu là hư,đâu là thực ! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt-Trung,đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với TQ ở Thành Đô.

Là chủ nhân ông của đất nước, nhân dân có quyền được biết và phải được biết về những vấn đề trọng đại của quốc gia, trong đó có sự thật về quan hệ VN-TQ trong những năm qua, đặc biệt là các thỏa thuận đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990. Hơn nữa, Điều 4 Hiến pháp 2013 đã ghi rất rõ: “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân,phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân,chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình.” Do vậy việc Lãnh đạo Đảng và Nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối bang giao Việt-Trung và các thỏa thuận đã ký với TQ ở Thành Đô là một việc nên làm,cần làm và phải được làm vì điều này chỉ có lợi cho Nhân dân và Đất nước .

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI sẽ sớm nhóm họp Hội nghị Trung ương lần thứ 10 trong thời gian tới để duyệt xét mối quan hệ VN-TQ và đưa ra các quyết sách liên quan . Nhân dân rất kỳ vọng một trong các quyết sách này là Đảng sẽ báo cáo cho toàn dân biết sự thực về mối quan hệ với TQ trong 1/4 thế kỷ qua trong đó có các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng ta đã ký với TQ ở Hội nghị Thành Đô năm 1990 kèm theo một lời tạ lỗi chân thành ! Nếu đúng thì đây sẽ là một trong các quyết định dũng cảm, hợp lòng dân và quan trọng nhất trong lịch sử tồn tại của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Mong lắm thay !

Hà Nội, 3/8/2014.

NĐQ.

FB Nguyễn Tường Thụy

 

 

 

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 1 Comment »

►Vụ án xét lại chống đảng (phần 3 và 4) – Đừng kêu oan cho người khác-Những người che mắt lịch sử

Posted by hoangtran204 trên 25/10/2013

Vụ án Xét lại Chống Đảng, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”. Vụ xét lại bắt nguồn từ Liên Xô, 1953 sau khi Stalin chết,

“Vào tháng 9 năm 1953, Khrushchyov được bầu làm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tại đại hội lần thứ 20 Đảng Cộng sản Liên Xô, ông đã đọc báo cáo về sự sùng bái cá nhân của I.V. Stalin. Ông chủ trương chung sống hòa bình với thế giới Tư bản (“Các nước không cùng lập trường chính trị có thể sống chung”)[3]. Đường lối của Khrushchyov bị Trung Quốc, dưới thời Mao Trạch Đông, chống lại và gọi là “Chủ nghĩa Xét lại”.

Tại Việt Nam, những người cộng sản phân hóa thành hai nhóm, một nhóm thân Nga chấp nhận chính sách xét lại của Khrushchev (chủ trương sống hòa bình với Việt Nam Cộng hòa), không muốn phát động chiến tranh vũ trang giải phóng miền Nam ngay, mà cho rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Họ cho rằng nếu phát động đấu tranh vũ trang sẽ khiến Hoa Kỳ nhảy vào trực tiếp tham chiến, khi đó chẳng những sẽ thất bại mà còn làm mất lòng Liên Xô. Nhóm kia ủng hộ quan điểm của Trung Quốc, muốn theo đuổi chính sách cứng rắn của ông Mao (tổ chức ngay chiến tranh giải phóng miền Nam).

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng phát biểu chỉ trích Liên Xô và nhóm “chủ hòa” rằng: “Chúng tôi không ảo tưởng và không đánh giá thấp Mỹ, có điều chúng tôi không sợ. Nếu ai đó cứ cho rằng kiên quyết chống Mỹ là sẽ thất bại và dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thì chỉ còn có cách đầu hàng chủ nghĩa đế quốc”.   (son-trung.blogspot.com)

Vụ án xét lại chống đảng khởi đầu khi Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, ra lệnh bắt nhóm cán bộ CSVN (có tư tưởng ủng hộ xét lại) kể từ năm 1956, 1964, và kéo dài tới 1969.  Năm 1957, Lê Duẩn ở trong Nam về lại miền Bắc, ông được Lê Đức Thọ hậu thuẩn, và được HCM chọn làm bí thư thứ nhất của đảng LĐVN (tên gọi của đảng CSVN lúc bấy giờ). Cuộc chiến tranh VN bùng nổ ngày càng mạnh hơn, trước khi Mỹ vào VN năm 1965. 

Những câu và chữ: cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân xâm lược Mỹ, giải phóng miền Nam vì đồng bào MN bị Mỹ Ngụy kềm kẹp không có gạo, chén bát để ăn…chỉ là sản phẩm tuyên truyền của CS mà ngày nay chỉ có người bần nông nghèo khổ, những người không theo dõi internet, những người ăn bả sự tuyên truyền của CS quá lâu…mới tin. 

Vụ án Xét lại, phần 3: Đừng kêu oan cho người khác

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-23

000_APH2001042144808(1)-305.jpg

Từ trái qua: Cựu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, TBT Nông Đức Mạnh, Cố vấn ĐCSVN Võ Văn Kiệt tại Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản VN lần thứ 9 hôm 19/4/2001
 
Chiến tranh Việt Nam chấm dứt nhưng cuộc chiến trong lòng những người bị bắt, bị lưu lạc tha phương trong vụ án xét lại chống đảng vẫn không chấm dứt. Trong lòng họ còn rất nhiều điều cần giải tỏa và cho tới nay, năm 2013, đã 46 năm trôi qua nhưng vẫn chưa thấy ai trong chính quyền lên tiếng gợi ý về một cuộc điều tra sâu rộng nhằm đưa vụ án này ra ánh sáng công luận.
 
Có lẽ vụ bắt giữ ông Lê Hồng Hà đã làm cho những đảng viên cộng sản hôm nay vẫn lấy đó làm tấm gương cảnh báo về sự nguy hiểm nếu đề nghị đem vụ án này ra ánh sáng. Ông Lê Hồng Hà, một nạn nhân khác của vụ án xét lại chống đảng bị bắt vì muốn Trung ương xét lại vụ án oan khuất này kể: Sau khi tôi đòi thanh minh cho cái vụ ấy thì một số các người lãnh đạo lúc bấy giờ như Lê Đức Anh …tức tối bởi vì thanh minh như thế là tôi muốn phê phán cái sự lãnh đạo của trung ương trước đó là sai. Họ tức tối nên khai trừ tôi và ông Nguyễn Trung Thành. Họ bịa tạo ra một việc là cái tham luận của ông Võ Văn Kiệt ở hội nghị bộ chính trị, nó chẳng phải là tài liệu tối mật gì cả mà dựng lên đấy là tài liệu tối mật. “Ông Hồng Hà có liên quan đến tài liệu tối mật ấy.” Lúc bấy giờ tôi đã về hưu rồi. Nó lấy lý do đấy là tài liệu tối mật và tôi có liên quan đến tài liệu ấy. Họ khép mình vào tội vi phạm vào bí mật nhà nước. Họ lấy lý do ấy họ xử tù tôi 2 năm.Lúc bấy giờ một số cán bộ lâu năm, lão thành cũng thừa nhận với tôi là đấy không phải là bí mật gì cả vì nếu là tối mật thì phải có những nội dung dính đến các vấn đề mà pháp lệnh nhà nước qui định. Đằng này chỉ là bản tham luận phát biểu của thủ tướng Võ Văn Kiệt trong hội nghị Bộ chính trị thôi. Nó không có liên quan gì đến các bí mật của nhà nước cả.

Cái giá của sự hối hận

Ông Lê Hồng Hà là một cán bộ công an cao cấp, lúc ấy  ông là Vụ trưởng Vụ Tổng hợp thuộc Bộ công an. Năm 1967 khi xảy ra vụ án xét lại chống đảng thì ông không có trách nhiệm điều tra hay phá vụ án này. Lúc ấy ông chỉ làm nhiệm vụ tổng hợp của Bộ công an, tuy không tham gia phá án nhưng ông biết diễn biến của nó.

Theo ông Lê Hồng Hà kể với chúng tôi thì thời gian sau này vào năm 1993, ông Nguyễn Trung Thành, Vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng của Ban Tổ chức Trung Ương nhận thấy sự oan ức của những người bị bắt và cảm thấy hối hận vì đã im lặng nên đã tới gặp ông Lê Hồng Hà và bàn bạc nên đem vụ này ra Trung ương để cứu xét lại cho các nạn nhân bị bắt, tuy nhiên Lê Đức Thọ đã cương quyết không chấp nhận. Ông Lê Hồng Hà kể:

Ông Lê Đức Thọ lúc đó là Trưởng ban Tổ chức Trung ương cùng với một số người coi như là đường lối của đảng đã định ra như thế mà anh lại khác ý kiến, anh không đồng ý, như thế anh có phần sai rồi. Và cái sai ấy là anh giữ quan điểm của anh khác với trung ương mà anh lại đi phổ biến, nói với nhiều người khác như thế là anh phạm pháp. Như thế là chống đảng. Và chống đảng thì tức là coi như phạm pháp.

Vụ án xét lại chống đảng không chỉ xảy ra trong giới chính trị và quân đội mà còn lan ra báo chí và các nhà văn. Trong số người bị bắt có Vũ Thư Hiên và Bùi Ngọc Tấn. Vũ Thư Hiên là con của Vũ Đình Huỳnh, bị bắt vì cha ông là người có dính líu xa gần với những người khác nhưng với Vũ Thư Hiên thì hoàn toàn bất ngờ, ông chỉ là một biên tập viên của Báo ảnh Việt Nam, do yêu mến văn chương Liên Xô và ảnh hưởng nền văn hóa ấy sau khi từ Moskva về nước.

Tôi bị bắt ngày 24 tháng 12 năm 1967 qua các trại giam như Hỏa Lò, trại quân pháp Bất Bạt, trại Tân Lập, trại Phong Quang tức là có cả nhà tù và trại cải tạo. Tới năm 1976 tôi là người cuối cùng của Vụ án xét lại chống Đảng được ra khỏi nhà tù.

Nhà văn ư? Anh bị bắt!

vnweblogs-250.jpg
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Photo courtesy of vnweblogs

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của Chuyện Kể Năm 2.000, cũng là một nạn nhân trong vụ bắt bớ này kể:

Tôi được nghe một anh bạn tôi cũng làm sếp được đi nghe phổ biến thông báo số hai của Lê Đức Thọ về vụ bắt bớ. Trong thông báo có câu mà tôi đã đưa vào tường trình năm 2002 “Bọn chúng từ bất mãn cá nhân đi đến bất mãn đối với đảng, đối với chế độ. Chúng nó ngưu tm ngưu, mã tầm mã”. Như vậy là có tổ chức mà không có tổ chức. Không có tổ chức lại hóa ra có tổ chức. Tinh vi lắm nhưng không che được mắt nhân dân đâu. Cái câu đấy khiến cho cái đám cao cấp ấy họ nói thì cũng sợ người rồi. Thế nhưng bọn tôi thì cũng gay go rồi.

Khác hẳn với thông báo số hai của Lê Đức Thọ những người bị bắt đều biết rõ mục đích của việc thanh trừng này, nhà văn Vũ Thư Hiên kể:

Căn cứ vào những cuộc hỏi cung thì rõ ràng rằng một trong những mục tiêu lớn là hạ bệ tướng Võ Nguyên Giáp. Ngay cả tôi chẳng liên quan gì tới ông Giáp nhưng cũng bị hỏi cung hàng tháng trời về chuyện tôi có nghe thấy những người nào tới nhà (tôi) như ông Nguyễn Lương Bằng hay ông Đặng Kim Giang…các ông ấy có ai đến (nhà tôi) nói về chuyện Võ Nguyên Giáp thế này thế kia không?   (Ông Bằng và ông Giang là bạn của ông Vũ Đình Huỳnh, cha của ông Hiên; ông Huỳnh là thư ký của ông HCM 1945-1967).

Thật sự ông Giáp không có biểu hiện gì về cái gọi là chống Đảng cả. Ông ấy hình như chỉ có vài lời phát biểu không đồng tình với chủ trương chống lại xu hướng cùng tồn tại hòa bình của Khrushchyov và chống lại việc sùng bái cá nhân. Võ Nguyên Giáp có thể nói với những người gần gụi với ông ấy nên cái tin này lan ra chứ thực sự ông Giáp không hề quan hệ trực tiếp với ông cụ tôi hay ông Đặng Kim Giang trong thời gian đó.

Nếu nhà văn Vũ Thư Hiên bị bắt vì cha thì nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị bắt vì một lý do hết sức phi lý: vì ông ở Hải Phòng! Nhà văn kể:

Nếu tôi ở Hà nội thì tôi đã không bị bắt. Còn người bắt tôi là ông Trần Đông là vì ông muốn lấy tôi làm bậc thang để ông đi lên. Về sau ông lên được chức thứ trưởng bộ Công an chứ lúc ấy ông đang làm giám đốc công an Hải phòng.

Tôi bị giam ở 176 Trần Phú, trại tạm giam Hải phòng ở khu biệt giam. Giam xà lim khoảng chừng một năm thì họ chuyển tôi sang phòng giam chung ở bên 175 Trần Phú. Đến mùa xuân năm 70 thì đi trại cải tạo Hàng Bồ với lệnh tập trung cải tạo 3 năm vì tội là “phần tử nguy hiểm cho cách mạng chứ không phải tuyên truyền phản cách mạng” nữa. Sau 16 tháng 4 năm 72 tức là sau khi B52 đánh trở lại thì họ chuyển tôi lên trại Vĩnh quang thuộc Vĩnh Phú. Đến tháng 4 năm 73 thì được tha. Tức là chưa đến 5 năm nhưng mà tôi đếm 5 cái tết.

Những cuộc bắt bớ này cho thấy vụ án xét lại chống đảng được phát động quy mô và xuyên suốt tới địa phương chứ không khoanh vùng ở các vị trí quan trọng. Tuy nhiên khi việc chú ý tới địa phương chỉ mới manh nha thì phe thân Trung Quốc phải lo đối phó với chuyện khác quan trọng hơn khi thời cơ nổi dậy tại Miền Nam đã chín muồi, bắt đầu một cuộc chiến tranh mà miền Bắc gọi là chiến tranh chống Mỹ.

Quý vị vừa theo dõi phần ba của Vụ án xét lại chống đảng, mới quý vị theo dõi tiếp phần thứ tư cũng là phần cuối có tựa “Những người che mắt lịch sử” sẽ phát vào chương trình kế tiếp.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-anti-party-revisio-case-3-ml-10232013133916.html

Vụ án xét lại chống đảng ở VN bắt đầu từ 1956. Lúc ấy đã có người bị bắt lai rai (theo ông Bùi Tín trả lời phỏng vấn (trong phần 1 và 2). Cuộc truy lùng bắt bớ tiếp diễn làm ông Nguyễn Minh Cần, thượng tá Văn Doãn, đại tá…. phải tị nạn ở Liên Xô 1964. Và và đỉnh cao của việc bắt bớ người hàng loat  là 1967, (khoảng 300 người đã bị Lê Đức Thọ bắt giữ, giam tù nhiều năm,  với sự hậu thuẩn của Lê Duẩn, và Trần Quốc Hoàn (bộ trưởng công an). Lúc ấy, ông HCM biết có nhiều người bị bắt giam tù, trong đó có người cựu thư ký của ông, nhưng ông đã không can thiệp. Người báo tin cho ông Hồ chuyện ông Vũ Đình Huỳnh bị Lê Đức Thọ bắt giam là … (coi phần 1 và 2)

Vụ án xét lại chống đảng, phần 4 – Những người che mắt lịch sử

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-24

ldt-305.jpg

Hàng ngồi từ trái sang: Ông Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.
File photo

Trong tập hai của Bên Thắng Cuộc mang tên Quyền Bính, trong chương “Tướng Giáp”, Huy Đức ghi lại lời kể của Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn nói về thành phần bị bắt thời gian này: “Những người không tán thành đường lối chống xét lại của Đảng, một số cán bộ cao cấp và trung cấp theo học ở trường Đảng cao cấp Liên Xô và trường quân sự cao cấp Liên Xô bàn kế hoạch chống lại đường lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận động thành lập một tổ chức lấy việc thay đổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào những người không đồng tình với Nghị quyết 9, trước hết là những sĩ quan cao cấp trong quân đội và những ủy viên trong Trung ương”.

Thật ra đây chỉ là một mối nhỏ trong guồng chỉ rất lớn của vụ án chính trị nổi tiếng này. Những người bị bắt, bị lưu đày sau gần 50 năm vẫn chưa bao giờ được chính quyền chứng minh hành vi kết tội của họ đối với người bị bắt. Hầu hết nạn nhân của vụ án là người yêu chuộng sự đổi mới hợp lý khi chủ nghĩa tôn sùng cá nhân bị chỉ trích tại Liên Xô cũng chính là lúc Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn củng cố địa vị của họ bằng sức mạnh theo kiểu Mao Trạch Đông chủ trương.

Nghị quyết 9, sự kết giao nguy hiểm

Nghị quyết 9 cho thấy khuynh hướng theo Trung Quốc và ai không đồng tình với khuynh hướng này thì bị thanh trừng. Quyền lực sẽ bị lu mờ nếu hào quang của Tướng Giáp vẫn còn tỏa sáng trên sân khấu chính trị Việt Nam khiến bằng mọi cách phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ phải thực hiện cho được sự ám toán ông qua một vụ án chính trị là cách hay nhất.

Ông Hoàng Minh Chính bị bắt đầu tiên, vợ của ông là bà Lê Hồng Ngọc kể lại nỗi gian truân trong thời gian ấy:

Đang làm người lãnh đạo tập đoàn thanh niên được đảng tín nhiệm đưa đi học nước ngoài rồi về sẽ cho chức nọ chức kia. Anh tưởng là anh nói như vậy để giúp đảng nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được gì hết mà còn bị tù tội. Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh, không ai đến, không ai dám hỏi thăm. Bản thân anh thì hoàn toàn là biệt lập vì cái tội như thế nên cũng nhiều nỗi đau khổ lắm.

Những người vợ

Là vợ của một người thân cận với Chủ tịch Hồ Chí Minh bà Phạm Thị Tề không thể chịu đựng nỗi sự im lặng của người từng được gia đình mình phục vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại thái độ gan góc của mẹ mình khi không chịu vào Phủ Chủ tịch đề nhờ sự can thiệp của ông Hồ Chí Minh:

IMG-2447-250.jpg
Nhà văn Vũ Thư Hiên và Blogger Người Buôn Gió tại Paris, ảnh chụp năm 2010. Courtesy Blog Người Buôn Gió.

“Không! Mặc dù bà cụ tôi là người gần gũi ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Lúc ông ấy mới về Hà Nội thì ông ấy rất ốm. Ông ấy lúc bấy giờ bị lao phổi, ngoài thuốc chữa thì bà cụ tôi phải nấu thức ăn bổ dưỡng để cận vệ mang vào cho ông ấy. Thế nhưng khi đã bắt ông cụ tôi thì bà bảo cái người đó không còn tin được nữa thế nên bà cụ tôi không liên hệ. Sau này tôi gặp ông Hoàng Quốc Thịnh, lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại thương ông ấy nói có một lần ông ấy vào báo cáo với ông Hồ Chí Minh vào giai đoạn ông cụ tôi bị bắt, ông hỏi là tai sao lại bắt những người như anh Huỳnh, cả cuộc đời theo cách mạng như thế? Thì ông ấy (HCM) tỏ vẻ ngạc nhiên hay đóng kịch như là: Tại sao bắt anh Huỳnh? Sao lại bắt?… đại khái như thế? Đấy là lời ông Hoàng Quốc Thịnh nói với tôi.”

Những người đàn bà không bị bắt còn khổ sở hơn chồng của họ. Bà Lê Hồng Ngọc kể lại chuyện ba người đàn bà vợ của các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh và Đặng Kim Giang:

Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy. Thăm nuôi tiếp tế thì rất lâu mới được đi một lần. Trong tình cảnh ấy tôi nghĩ là rất nhiều chị em như tôi như bà Vũ Đình Huỳnh, bà Đặng Kim Giang. Ba chị em hay đi với nhau lắm. Chúng tôi lên tận trên trại Bất Bạt, trên ấy xa xôi lắm. Họ đánh kẻng mới được đi vào, vào thăm mấy tiếng thì phải đi về.

Theo thư gửi cho nhiều cơ quan chính quyền vào năm 1994, bà Phạm Thị Tề nhắc lại sau Đại hội VI của Đảng, chồng bà là ông Vũ Đình Huỳnh lúc ấy đã được thả ra, có thư gửi tới nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, một lần nữa yêu cầu ông Linh đưa vụ này ra ánh sáng. Thế nhưng không riêng gì ông Huỳnh mà tất cả những người bị bắt hay đã chết, yêu cầu chính đáng ấy không bao giờ được giải quyết.

Sự im lặng đồng lõa

Ông Lê Hồng Hà một trong những nạn nhân của vụ án cho biết:

Những năm sau này, từ năm 9091 trở đi họ bắt đầu thấy một số các vấn đề không thỏa đáng. Thế thì họ có giải quyết theo kiểu những người bị tù nhiều năm thì tha rồi. Một số các người bị thiệt hại quyền lợi thì được cho khôi phục lại quyền lợi. Ví dụ một số những ông như Lê Trọng Nghĩa, Hoàng Minh Chính thì người ta khôi phục lại mức lương khá khá hơn thôi. Tuy nhiên họ cũng không tuyên bố là sửa sai. Họ sửa nhưng không tuyên bố.

Ông Hoàng Minh Chính, người trực tiếp mang tinh thần xét lại từ Liên Xô về Việt Nam xứng đáng là người tiên phong vì đã đề nghị đảng cộng sản Việt Nam thay đổi phương hướng trong chính sách của mình nhưng ông đã phải trả một giá rất đắt cho ý tưởng này. Theo lời thuật lại của vợ ông là bà Lê Hồng Ngọc, tên thật Nguyễn Thị Thanh Yến cho biết chồng bà gia nhập đảng cộng sản rất sớm, vào năm 19 tuổi. Người ký giấy giới thiệu cho ông vào đảng là Lê Đức Thọ và cũng chính ông này ký lệnh bắt giam Hoàng Minh Chính vào năm 1967.

Ông bị tù cả thảy 11 năm và 9 năm quản chế, khởi đầu từ 1967 kéo dài đến năm 1990.

Hoàng Minh Chính mất ngày 7 tháng 2 năm 2008. Nói về vụ yêu cầu xét xử những bản án oan sai, trước đó trong một lần trả lời Đài Á Châu Tự Do ông nói:

“Từ trước tới nay tất cả những cái đơn kiện của công dân thực ra họ có trả lời đâu? Mà ở trong nước người ta thường dọi là ‘kiện củ khoai’. Vấn đề này khi kiện thì đối với phương diện pháp lý nói lên rằng có những vu khống như thế và tôi yêu cầu tòa án Việt Nam phải đưa vụ án này ra xét xử. Đấy là nguyên tắc về pháp lý nhưng tin tưởng thì tôi không hề tin tưởng bởi vì từ trước tới nay họ đều im lặng hết.”

Vụ án xét lại chống đảng có thể là vụ án chính trị cuối cùng và lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam tuy nhiên nó sẽ chẳng bao giờ biến mất hay lãng quên bởi sự lẫn trốn trách nhiệm của những nhân vật cao cấp nhất trong đảng qua nhiều đời Tổng bí thư. Minh oan và trả lại sự thật cho các nạn nhân của vụ án là việc làm hoàn toàn có lợi cho đảng.

Mặc dù nếu công khai những sự kiện này ra thì rất nhiều khuôn mặt đang đứng phía sau hậu trường chính trị khó thoát khỏi sự truy cứu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, tuy nhiên việc làm này sẽ giúp Đảng cộng sản được tiếng là dũng cảm, dám nhận trách nhiệm trước dân chúng để bắt đầu một giai đoạn mới hòa nhập vào dòng chảy dân chủ thật sự với  thế giới.

Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/the-anti-party-revisionist-case-p4-ml-10242013113207.html

——————-

Các bài được đọc nhiều nhất trong chủ đề này:

 »

Hôm nay là đúng 59 năm, kỷ niệm ngày chia đôi đất nước 20-7-1954 Hiệp Định Geneve 

►Trong cuốn Đèn Cù, Trần Đĩnh tiết lộ: Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra

——-

Các bài đọc thêm về Vụ án Xét lại Chống Đảng, có tên chính thức là “Vụ án Tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài”

http://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BB%A5_%C3%A1n_X%C3%A9t_l%E1%BA%A1i_Ch%E1%BB%91ng_%C4%90%E1%BA%A3ng

http://son-trung.blogspot.com/2013/01/vu-xet-lai-chong-ang-bach-khoa-toan-thu.html

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Tagged: | Leave a Comment »

►Những kẻ đã làm mất biển đảo và đẩy Việt Nam vào con đường nô lệ cho Trung Quốc

Posted by hoangtran204 trên 25/02/2013

Hội nghị  Thành Đô, 3 và 4 tháng 9, năm 1990

Hậu họa “giải pháp đỏ” của Nguyễn

Văn Linh

Hội nghị Thành Đô, 2-9- 1990

Ông Võ Trần Chí, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nói Nguyễn Văn Linh là người “Lội ngược dòng  lịch sử !”. Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng bản thân mình từng “Lên bờ xuống ruộng!”. Nguyễn Văn Linh còn là người “bước lỡ nhịp” và tên tuổi ông được gắn với một khái niệm đầy tai tiếng là  “Giải pháp đỏ”.

Trong tiểu sử Nguyễn Văn Linh, ghi tên thật của ông là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 1-7-1915, tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ngày 1-5-1930, ông bị thực dân Pháp kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo.

Hình như có sự nhầm lẫn năm sinh, hoặc năm ông bị bắt đi tù, bởi điều luật của nước Pháp không xử tù tuổi vị thành niên. Ví dụ ông Nguyễn Hữu Đang, sinh năm 1913, hoạt động trong tổ chức Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, bị bắt 1930. Năm 1931, khi ra tòa đã 17 tuổi, vẫn được tha bổng vì còn vị thành niên. Nguyễn Văn Linh khi ra tòa mới 14 tuổi 10 tháng, mà bị xử tù chung thân thì vô lý?

Trong tiểu sử cùa Nguyễn Văn Linh, không ghi ông học ở trường nào, trình độ văn hóa ra sao, hầu như cả cuộc đời ông dấn thân hoạt động cách mạng, vào tù ra tội, gắn bó với phong trào quần chúng, ở những nơi ác liệt.

Từ năm 1957 đến năm 1960, Nguyễn Văn Linh đã từng làm Bí  thư đặc khu ủy Sài Gòn – Gia Định. Năm 1960, tại Đại hội Đảng lần thứ III, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương, làm Bí thư (1961-1964), rồi Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Hình như từ những năm tháng đó,  Nguyễn Văn Linh đã “lên bờ xuống ruộng” rồi.

Ngày  10-4-1975, tại Trung ương cục miền Nam, Lê Đức Thọ, từ Hà Nội vào công bố quyết định thành lập Bộ tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, trao quyết định Bí thư đặc khu Sài Gòn-Gia Định cho Võ Văn Kiệt, Mai Chí  Thọ lảm Phó bí thư. Nguyễn Văn Linh không còn là Phó bí thư nữa, mà chỉ phụ trách mảng phong trào nổi dậy.

Cũng như các lần thay đổi trước, tổ chức không nêu ra lý do, và Nguyễn Văn Linh cũng không băn khoăn, ông chấp hành sự phân công một cách bình thản. Ông Võ Văn Kiệt và Võ Trần Chí cho rằng, đó là một trong những phẩm chất đặc biệt của Nguyễn Văn Linh.

Ông Lê Duẩn cho rằng Nguyễn Văn Linh quá nhẹ tay trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhẽ ra  phải xóa bỏ triệt để tư sản lại kêu gọi họ tự cải tạo, hòa nhập vào xã hội mới, đem tài lực góp phần xây dựng đất nước. Có lần Nguyễn Văn Linh nói với tôi và Đình Khuyến, Trưởng cơ quan Thường trú Thông tấn xã Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh: “Anh Ba, cũng như chúng tôi đã từng được những nhà tư sản Sài Gòn cưu mang trong thời kỳ hoạt động bí mật, bây giờ biến họ thành nạn nhân sao đành!”.

Ý thức “đền ơn đáp nghĩa” của Nguyễn Văn Linh bị Đỗ Mười cho là hữu khuynh, không “không Bôn – sê – vích”.  Đã sảy ra những  cuộc  tranh luận căng thẳng giữa Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười. Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt bảo vệ quan điểm cải tạo từng bước, phân biệt đối tượng cụ thể, tận dụng kinh nghiệm thương trường cùa giới công thương chế độ cũ, đặc biệt đối với những người có công với cách mạng để xây dựng và phát triển thành phố.  Đỗ Mười  bảo vệ quan điểm của Lê Duẩn, phải xóa sạch tư sản. Kết quả, đầu năm 1978, Nguyễn Văn Linh mất chức Trưởng ban Cải tạo xã hội chủ nghĩa.

Cũng trong thời gian đó, có người bới lại chuyện Nguyễn Văn Linh sang Campuchia tháng 6-1975, đi suốt 200 km, qua ba 3 tỉnh mà không phát hiện ra những thay đổi bất thường của Khmer đỏ, để  sảy ra những biến cố bất ngờ!

Đó là thời kỳ bĩ cực nhất của Nguyễn Văn Linh.

Ông đã xin rút ra khỏi Bộ chính trị vào cuối nhiệm kỳ.

Vốn là người hết sức trầm tĩnh, kín đáo, nhưng Nguyễn Văn Linh đã  tâm sự với Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên xin rút!”.

Đỗ Mười mang tinh thần “Bôn – sê – vích” và  “bàn tay sắt” vào miền Nam đánh tư sản. Ông ta thực hiện y trang  như những gì mình từng làm ở Hải Phòng năm 1955, Hà Nội 1960, xóa sạch tàn dư tư bản chủ nghĩa, đề  xây đựng nền kinh tế xã hội, với tham vọng 15 năm sau theo kịp Nhật Bản, như Tổng bí thư Lê Duẩn tuyên bố ngày 2-7-1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI.

Thực tế ngược lại hoàn toàn với tham vọng ngông cuống và siêu thực đó. Sau cải tạo thành phố Hồ Chí Minh  kiệt quệ, các nhà máy xí nghiệp không có nguyên liệu sản xuất phải đóng cửa, hàng triệu công nhân thất nghiệp, hệ thống giao thông vận tải ngưng trệ, lưu thông phâm phối tắc nghẽn, chợ búa gần như ngừng hoạt động, đời sống của cán bộ nhân dân cùng cực. Tài liệu chính của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lúc đó công bố “Kế hoạch năm năm không đạt, tăng trưởng âm, lạm phát phi mã, gần ba triệu dân thành phố thiếu đói”.

Đỗ Mười đã đẩy Sài Gòn “tiến” kịp Hà Nội, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Hòn than bùn xó bếp” như cách nói cùa nhà báo Ba Dân lúc đó. Thật mỉa mai khi các nhà khoa học nổi tiếng như Chu Phạm Ngọc Sơn, Châu Tâm Luân, được động viên nghiên cứu những công trình khoa học như “Bo bo giàu dinh dưỡng hơn gạo”,  “Khoai lang bổ hơn bột mì”, “Thành phần đạm trong rau muống”…

Trước kia Hà Nội có thơ  “Gia công gai quy, lộn cổ sơ mi, bơm ruột bút bi, vá ni lon rách”, bây giờ Sài Gòn cũng nổi tiếng không kém với  “Nuôi lợn trên gác, phục hồi bu gi, gia công cán mì, tái chế dép xốp!”.

Tháng 12 năm 1976, tại Đại hội Đảng lần thứ IV ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương, giữ chức Trưởng ban Cải tạo Xã hội Chủ nghĩa của Trung ương, Trưởng ban Dân vận Mặt trận Trung ương, Chủ tịch Tổng công đoàn Việt Nam đến năm 1980. Trước Đại hội Đảng lần thứ V,  Nguyễn Văn Linh xin rút ra khỏi Bộ Chính trị, trở lại làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (1981), thay ông Võ Văn Kiệt ra Trung ương. Về sau, ông giải thích với ông Võ Trần Chí: “Bởi vì mình thấy các anh ấy không muốn mình ở đó nên mình xin rút” …. Ông trở thành một nhân vật quan trọng trong lịch sử của thành phố này.

Phải nói, nếu hơn mười năm trước Kim Ngọc,  Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú đã dũng cảm tìm lối thoát cho nông dân bằng biện pháp “khoán chui”, thì những năm đầu thập niên 80 TK 20, Nguyễn Văn Linh đã cứu công nhân và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bằng  “xé rào” thoát ra khỏi cơ chế quan liêu bao cấp.

Nguyễn Văn Linh đã tập hợp chung quanh mình một đội ngũ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng móc nối với tư bản nước ngoài để phá thế bị bao vây cô lập. Những công ty Cholimex, Dereximco, Imexco lần lượt ra đời, trực tiếp làm ăn với một số công ty Hồng Kong, Đài Loan, như Globai, Thai Hing Long, nhập khẩu sợi dêt, xăng dầu, thuốc lá, men bia, xuất khẩu đậu phộng, vừng, tôm khô, mực khô. Thực hiện việc trao đổi hàng hóa, khoán sản phẩm, mua nguyên liệu bán sản phẩm v,v.

Nhờ việc xé rào này, 20.000 công nhân ngành dệt có việc làm, ngành giao thông vận tải có xăng dầu hoạt động, và bộ mặt Sài Gòn khởi sắc trở lại.

Cũng như “khoán chui” của Kim Ngọc, việc “xé rào” cùa Nguyễn Văn Linh lọt tới “thiên đình” và cuồng phong nổi lên,  bắt đầu bằng cuộc ra quân của Bộ Tài chính.

Ngày 12- 3- 1982, đoàn thanh tra 28 thành viên từ Hà Nội hùng hổ tiến vào Công ty Direximco, tuyên bố nội bất xuất, ngoại bất nhập. Hơn ba tháng liên tục, moi móc hết 50 mặt hàng và  đến từng đơn vị làm ăn với Dereximco, kiểm tra từng tờ hóa đơn. Ngày 25-6- 1983, Đoàn thanh tra kết luận việc xé rào của thành phố Hồ Chí  Minh vi phạm nghiêm trọng chủ trương đường lối của đàng, chính phủ, chỉ có  1 công  nhưng 7 tội, cần phải xử lý nghiêm khắc. Ông Đỗ Mười  lên tiếng: “Làm bí thư Thành ủy mà để xảy ra như thế sao không từ chức!”.

May cho Nguyễn Văn Linh, lần này Lê Duẩn không vội nghe theo Đỗ Mười.

Tháng 3-1983, khi Lê Duẩn sang Liên Xô chữa bệnh, các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công vào Đà Lạt nghỉ mát. Tranh thủ điều kiện thuận lợi, Nguyễn Văn Linh, Mai Chí Thọ và các lãnh đạo chủ chốt của thành phố Hồ Chí Minh  khéo léo tổ chức “Hội nghị Đà Lạt” thành công.

Nguyễn Văn Linh bố trí một số giám đốc nhà máy, xí nghiệp làm ăn được nhờ xé rào như Nguyễn Thị Đồng, Nhà máy dệt Thành Công, Bùi Văn Long, Tổng công ty dệt may, Nguyễn Văn Thụy, Công ty thuốc lá, lên Đà Lạt trực tiếp gặp ba nhà lãnh đạo đảng, nhà nước.

Tôi còn nhớ  buổi sáng hôm ấy ở khách sạn Palass, ông Nguyễn Văn Linh nói với bà Nguyễn Thị  Đồng và  Bùi Văn Long: “Phải khéo léo thuyết phục các anh! Mời bằng được anh Năm xuống thăm cơ sở thì mới thấy hết cái việc mình làm!”.

Bà Nguyễn Thị Đồng với giọng nói rổn rảng,  không biết ngán ai bao giờ, bởi gia đình bà có tới hơn 10 người là bộ đội, thương binh, liệt sỹ.  Bà nói với ông Trường Chinh: “Anh hãy xuống nhà máy gặp công nhân, người ta vừa mới sống lại đấy. Rồi anh để họ sống thì để bóp chết thì bóp!?

Trước thái độ cương trực của bà Đồng, ông Trường Chinh đã phải mỉm cười gật đầu, thực hiện một chuyến đi thực tế ý nghĩa nhất, và đó là tiền đề cho sự thay đổi tư duy, từ nền kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường của ông.

Đại hội đảng toàn quốc lần VI, với bài diễn văn đúc kết từ thực tế  “xé rào” ở thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Linh đã nhận được sự ủng hộ của tuyệt đại đa số đại biểu, ông trở thành Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam. Có lẽ đây là một trường hợp hãn hữu, một người được bầu làm Tổng bí thư của đảng, nhận được sự đồng thuận của dân.

Sau đại hội đảng VI, Nguyễn Văn Linh đã tiến hành nhiều cải cách quan trong. Ông chọn  khâu  lưu thông phân phối làm đột phá khẩu  đổi mới.  Ông nói: “Giải quyết  vấn đề phân phối lưu thông vì nó là cái gốc liên quan đến quá trình sản xuất, tới  tổng thề  cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân”.

Những chính sách nổi bật trong thời kỳ này là: Tách tài chính ra khỏi ngân hàng. Lập kho bạc nhà nước. Bơm tiền lưu thông. Xóa bỏ ngăn sông cấm chợ. Lấy khoán 100 làm cơ sở khoán 10, giao quyền tự chủ cho nông dân.

Chỉ trong một thời gian ngắn đã kéo lạm phát từ 240% xuống 61%. Từ chỗ cả nước không đạt 21 triệu tấn lương thực, phải nhập mỗi năm 500.000 tấn lương thực, năm 1989 đã dư 1 triệu tấn gạo.

Về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh muốn phá thế bao vây của các nước phương Tây và Trung Quốc. Tại hội nghị Bộ chính trị ngày 20 -5 -1988, đã ra Nghị quyết 13 về điều chỉnh đường lối đối ngoại, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, giữ môi trường hòa bình, phát triển kinh tế. Trả lời phòng vấn trên tờ Thời báo New Yok, Nguyễn Văn Linh nói về mối quan hệ với Mỹ: “Việt Nam luôn luôn muốn có quan hệ với nhân dân và chính phủ Mỹ. Chiến tranh kết thúc 15 năm rồi mà chưa có quan hệ bình thường là quá chậm. Việt Nam sẵn sàng giải quyết mọi trở ngại trên con đường bình thường hóa quan hệ với Mỹ”.

Ngoài việc đổi mới về kinh tế, và đổi mới về đối ngoại, Nguyễn Văn Linh còn đổi mới về văn hóa xã hội, dân sinh, dân chủ. Chủ trương cởi trói cho văn nghệ sĩ nói riêng, trí thức nói chung, ông  đã  vén  bức màn đen tối, minh oan cho những nạn nhân bị oan ức, đọa đày trong vụ “Nhân văn giai phẩm” và đã khích lệ giới cầm bút viết những tác phẩm chân thực.

Ngày 25- 5-1987, Nguyễn Văn Linh  cho ra đời mục “Những việc cần làm ngay” trên báo Nhân dân, từ đó những bài viết của ông ký bút danh NVL liên tục xuất hiện trên mặt báo. Ông nói: “Chống tiêu cực là đã thành nhiệm vụ quan trọng, dọn đường cho việc thực hiện Nghị quyết đại hội VI, và các Nghị quyết của đảng, nhằm đưa nước nhà ra khỏi khó khăn đến ổn định tình hình mọi mặt, làm dân bớt khổ”. Ông yêu cầu: “Nhà báo phải có tấm lòng cương trực, yêu người làm đúng, làm tốt để ca ngợi, ghét kẻ làm xấu để lên án”. Nguyễn Văn Linh xác định lấy báo chí làm vũ khí, nhà báo là lực lượng nòng cốt chống tiêu cực tham những. Ông nói đánh giặc ngoại xâm chủ yếu bằng súng đạn, đánh giặc nội xâm phải dùng vũ khí ngôn luận.  Báo chí  là sức mạnh, là thứ  bọn tiêu cực sợ nhất!”, Nguyễn Văn Linh chỉ thị tất cà các cơ quan đảng, chính quyền phải trả lời chất vấn cùa báo chí, phải xử  thật nghiêm những trường hợp tham nhũng, ăn hối lộ, ức hiếp dân mà báo chí đã nêu. Nhiều vụ án tưởng đã chìm vào quên lãng đã được đưa ra xét xử.

Ông thường xuyên gặp gỡ anh em làm báo, ngoài hành lang các hội nghị, hoặc kêu tới nhà ông uống cà phê, ăn sáng nói chuyện. Ông không phân biệt báo lớn, báo nhỏ, báo đảng báo đoàn thể, nhưng rất coi trọng những nhà báo viết bài trung thực, có sức lan tỏa. Khi gặp  chúng tôi, ông thường hỏi: “Dân đang nghĩ gì, đang làm gì, và cần gì?”. Khi chúng tôi nói cho ông nghe những bức xúc của dân ông hỏi: “Nếu dân nghĩ vậy thì mình làm sao?”.

Nguyễn Văn Linh tỏ thái độ đồng tình với Trần Xuân Bách về cơ chế dân chủ và đổi mới chính trị. Có lần ông nói với anh em báo chí: “Anh Trần Xuân Bách nói rất đúng. Dân chủ  không phải là ban ơn, là mở rộng dân chủ, mà đó là quyền của dân với tư cách người làm chủ lịch sử, không phải là ban phát, do tấm lòng của người lãnh đạo này hay người lãnh đạo kia. Dân chủ là khởi động trí tuệ dân để tháo gỡ khó khăn đưa đất nước theo kịp thời đại!” .

Nửa đầu của nhiệm kỳ Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh là một con người như vậy. Đất nước đổi mới từng ngày, nhà cừa mọc lên khang trang, nụ cười xuất hiện trên môi người, Việt kiều về quê rất đông, và hầu như không có những vụ khiếu kiện tập thể…Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam xóa quan liêu bao cấp, thực hiện đổi mới và mở rộng quan hệ đối ngoại, nhất là với Mỹ và phương Tây, đã làm Trung Quốc rất khó chịu, tìm cách phá ngang.

Gần cuối nhiệm kỳ, Nguyễn Văn Linh bị Trung Quốc cài bẫy. Trong bài  này, sự tác động do Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và vai trò của Đỗ Mười thế nào chưa bàn đến. Nhưng đó là nguyên nhân chính đã làm cho Nguyễn Văn Linh thay đổi hẳn quan điểm, dẫn tới dân-nước và bạn bè quốc tế bị bất ngờ và thất vọng.

Có thể nói cái mốc ấy bắt đầu từ Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc từ 3 đến 5- tháng 9, 1990 đến bây giờ, dù những người tư liệu còn hạn chế, nhưng nhìn lại một cách khách quan, vẫn vừa tiếc, vừa buồn, vừa trách Nguyễn Văn Linh.

Theo ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ngày 29-8-1990, đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy, gặp Nguyễn Văn Linh ở Hà Nội, chuyển thông điệp của Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc,  và Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc, mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng sang Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) ngày 30-8-1990 để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia và vấn đề bình thường hòa quan hệ hai nước.

Trương Đức Duy nói mập mờ rằng, Đặng Tiểu Bình có thể gặp Phạm Văn Đồng, và lấy cớ Bắc Kinh đang tổ chức Á vận hội ASIAD, sợ lộ bí mật nên phải gặp nhau ở Thành Đô.

Đây là chuyện rất đột ngột, bởi mới 5 ngày trước, Trung Quốc khăng khăng không muốn bàn chuyện bình thường hóa, mà đòi phải giải quyết vấn đề Campuchia trước, tại sao bây giờ họ lại  bàn vấn đề bình thường hóa?

Ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao nhận định: Sự thay đổi đột ngột của Trung Quốc là do họ cần thực hiện 4 hiện đại hóa, nhưng bị Mỹ, Nhật, Liên Xô và các nước cấm vận sau vụ đàn áp Thiên An Môn, nên phải tìm cách thoát ra.

Bên cạnh đó, Trung Quốc thấy Mỹ, Nhật, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với  Việt Nam, nên muốn phá ta.

Quan điểm của Nguyễn Văn Linh lại khác.

Ông triệu tập họp Bộ chính trị và nếu ý kiến: “Tranh thủ Trung Quốc, hợp tác với Trung Quốc, để bảo vệ Xã hội chủ nghĩa” (!?).

Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, đặc biệt là Rumani mà Nguyễn Văn Linh vừa thăm đã tác động rất lớn tới ông, lảm cho ông mất bình tĩnh.

Mặc dù Nguyễn Cơ Thạch,  Võ Chí Công, Trần Xuân Bách can ngăn, nhưng Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm: “Hợp tác với Trung Quốc, bảo vệ XHCN chống đế quốc!”. Quan điểm của Nguyễn Văn Linh được Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng… ủng hộ.

Và thế là, ngày 2-9-1990, dù đang kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 45 năm, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng vẫn đi Thành Đô, với sự tháp tùng của Hồng Hà, Chánh văn phòng Trung ương đảng và Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng ngoại giao. Nguyễn Văn Linh không cho Nguyễn Cơ Thạch đi, vì Nguyễn Cơ Thạch không đồng quan điểm, Trung Quốc không thích Nguyễn Cơ Thạch.

Theo Trần Quang Cơ, Trung Quốc đã đánh lửa Việt Nam một cách trắng trợn. Họ nói Đặng Tiểu  Bình sẽ  gặp Phạm Văn Đồng nhưng Đặng không xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt nói: “Nhẽ ra anh Tô không nên đi!”. Mà Đặng Tiểu Bình là gì mà chính Phạm Văn Đồng cũng muốn gặp để rồi bị dính chùm trong vụ tham dự Hội nghị Thành Đô? Tù đó Trung Quốc thêm vinh danh và đạt được ý đồ thâm hiểm lâu dài là kìm hãm, phá ngang đường lối đổi mới và kéo Việt Nam đi theo quỹ đạo của Trung Quốc. Cũng từ quan điểm đưa ra đầy thỏa hiệp Trung-Việt này mà cái ‘bào thai’ đẻ ra con ngáo ộp “Diễn biến hòa bình” và sau này củ cà rốt đỏ chót “16 chữ vàng”, “4 tốt”  trở thành “khẩu hiệu hành động, khẩu khí ngoại giao” rất mất lòng dân của lãnh đạo Việt Nam…

Vấn đề Campuchia, Trung Quốc vẫn giữ thái độ như  ngày 24-8-1990, đòi cấu trúc thành phần chính phủ hòa hợp dân tộc Campuchia theo công thức: 6 +2+2+2+1 (6 người phe chính phủ Hun sen , 2 người phe Khmer đỏ, 2 người phe Hoàng gia, 2 người phe đảng dân chủ, và Siha Nouk). Điều này hoàn toàn trái với công thức: 6 +2 +2 +2 mà Hun Sen và Siha Nouk đã thỏa thuận tại Tokyo.

Ông Trần Quang Cơ  viết: “Hội nghị Thành Đô có 8 điểm, hai điểm về quốc tế, 5 điểm về Campuchia, chỉ có một điểm về Việt Nam. Nguyễn Văn Linh nêu ‘Giải pháp Đỏ’, Trung Quốc hoan nghênh nhưng không mặn mà !”.

Cái gọi là “Giải pháp Đỏ” của Nguyễn Văn Linh là “Kéo Trung Quốc lại, thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vũng chắc bảo vệ phe Xã hội chủ nghĩa!”. Nguyễn Văn Linh mê muội phe chủ nghĩa xã hội, tìm mọi cách bảo vệ phe xã hội chủ nghĩa, quên quyền lợi và danh dự của dân tộc mình và  làm mất niềm tin của bạn bè !

Khi Trung Quốc đưa công thức 6+2+2+2+2+1 ra, ông Phạm Văn Đồng nhắc Nguyễn Văn Linh thận trọng. Phía Trung Quốc liền mời Phạm Văn Đồng ra chỗ khác để Nguyễn Văn Linh ký. Ông Phạm Văn Đồng đã thấy nguy, nhắc Nguyễn Văn Linh sửa sai, nhưng Nguyễn Văn Linh nói: “Không sao đâu!”.

 

Từ Thành Đô về, Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh sang Campuchia gặp Henh Somrin và Hunsen trao đổi về Hội nghị Thành Đô. Nhưng Campuchia không chấp nhận công thức ấy và nói thẳng Việt Nam và Trung Quốc không có quyền can thiệp vào Campuchia. Xương máu cùa hàng  ngàn  cán bộ chiến sĩ quân đội ta đổ  trên chiến trường Campuchia đã bị  Nguyễn Văn Linh bán rẻ cho Trung Quốc!

Trung Quốc nói giữ bí mật Hội nghị Thành Đô, nhưng chính họ thông báo cho thế giới biết toàn bộ nội dung cuộc “họp bí mật” đó. Tờ Bangkok Post và tờ Tạp chí kinh tế Viễn Đông, ngày 4-10-1990, đăng bài bình luận “Củ cà rốt và chiếc gậy” nói Việt Nam đã nhượng bộ nhiều hơn làm vừa lòng Trung Quốc.

Nguyễn Văn Linh đã thất bại trong sách lược “Giải pháp Đỏ”, bị Trung Quốc tách ra khỏi các mối quan hệ với phương Tây với nhiều mở hướng tốt đẹp cho sự nghiệp đổi mới, chỉ vì nghe Trung Quốc xúi cho bùi tai là làm thành trì bảo vệ Xã hội chủ nghĩa. Nói đúng hơn Nguyễn Văn Linh đã bị Trung Quốc lừa một vố đau.

Theo ông Trần Quang Cơ: “Sở dĩ ta bị mắc lừa ở Thành Đô vì chính ta lừa ta! Ta ảo tưởng Trung Quốc giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa, thay thế Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và XHCN thế giới, chống lại hiểm họa “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Sai lầm đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm “Giải pháp Đỏ”.

Ông Nguyễn Cơ Thạch nói: “Trung Quốc đã sử dụng Hội nghị Thành Đô để phá mối quan hệ Việt Nam với các nước, chia rẽ nội bộ ta, kéo lùi tiến trình đổi mới của ta!”

Phạm Văn Đồng tỏ ra ân hận vì không ngăn được Nguyễn Văn Linh ký thỏa thuận Thành Đô. Nguyễn Văn Linh tránh trớ: “Anh Tô nhớ lại xem! Không phải tôi đồng ý. Tôi chỉ nói nghiên cứu xem xét và bây giờ tôi vẫn nghĩ thế là đúng”.

Cái gọi là “đúng” của Nguyễn Văn Linh là từ luận điểm câu nhử, đe dọa của Trung Quốc: “Âm mưu đế quốc Mỹ chống phá xã hội chủ nghĩa ở châu Á, cả Cu Ba. Nó đã phá Trung Quốc trong vụ Thiên An Môn rồi, nay chuyển sang phá ta!”. Và, không hiểu Trung Quốc làm cách nào mà nó như thứ bùa mê thuốc lú để Nguyễn Văn Linh lý giải: “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước Xã hội chủ nghĩa!”.

Từ Hội nghị Thành Đô trở về hình như Nguyễn Văn Linh là một con người khác. Ngày 28-8-1990, tuyên bố chấm dứt “Những việc cần làm ngay”. Ông nói “Bận quá! Vả lại tôi viết để “mồi” cho các nhà báo viết tiếp để đấu tranh kiên quyết liên tục!”. Ông còn viết: Không nên đi xe ngoại, rằng: “Ta về ta tắm ao ta”…

Đó là một lời nói dối, bởi sợi dây trói vừa được cởi ra trong khoảng thời gian 3 năm 4 tháng đã bị thít lại chặt hơn, và chính ông là người đầu tiên đã liên kết với Đào Duy Tùng, Nguyễn Hà Phan, Đỗ Mười đánh dập vùi Trần Xuân Bách, một người được coi là có trí tuệ nhất trong Bộ chính trị lúc đó.

Nguyễn Văn Linh đã đưa Việt Nam tiến lên một bước, nhưng rồi chính ông lại kéo Việt Nam lùi lại, ông mở cái cửa nhỏ thoát ra khỏi một ngõ cụt nhưng rồi chính ông lại đóng sập cánh cửa ra biển lớn của dân tộc vì ý thức bảo thủ và giáo điều cùa ông !

Nguyễn Văn Linh đã tự lội xuống ruộng, đúng hơn tự dìm mình vào vũng bùn Thành Đô, và để mất sự kính trọng nhẽ ra ông được hưởng.

© Minh Diện

Nguồn: bvbong.blogspot.com

 

* Từ hội nghị Thành Đô 1990, đã dẫn đến các mối quan hệ họp hành bí mật khác giữa các Ủy viên BCT của  đảng CSVN với Trung Quốc, và dẫn đến Hiệp định Biên giới Trung Việt ký kết 31-12-1999. Theo HĐ này, VN đã bị mất thêm nhiều vùng đất ở biên giới phía Bắc, núi Lão Sơn, Móng Cái, vịnh Bắc Bộ…Và hiện nay, Trung Quốc chính thức vào Vịnh Bắc Bộ khai thác dầu khí.

“QĐND Online –Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chiều 22-6, tại Đà Nẵng, hai tàu HQ 011 và HQ 012 của Hải quân nhân dân Việt Nam đã xuất phát, bắt đầu tham gia chuyến tuần tra liên hợp lần thứ 15 với Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc…

“Chuyến tuần tra chung và thăm, giao lưu với hải quân Trung Quốc của tàu HQ 011 và HQ 012 nhằm tăng cường mối quan hệ hữu nghị, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau về chính trị giữa quân đội, hải quân hai nước Việt Nam – Trung Quốc; đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động, thực hiện thỏa thuận về quy chế tuần tra liên hợp với hải quân Trung Quốc duy trì trật tự, an ninh trên Vịnh Bắc Bộ và trên các vùng biển của Việt Nam,… ( http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/75…1/Default.aspx )

 

————————————————————————————————–

Bài liên quan:

Vào năm 1989, khi Liên Xô bị vở ra thành 15 nước, và các nước Đông Âu đồng loạt giải tán đảng cộng sản, lúc ấy các đảng viên cao cấp nhất của đảng CSVN đã run lên vì sợ hải, họ nhận ra đang ở trong tình thế: không còn ai đỡ đầu để nương tựa  (cái thực chất của khẩu hiệu “Đảng CSVN quang vinh”  lúc này mới hiện ra trần truồng).

Lo sợ bị sụp đổ như các nước cộng sản Đông Âu, đảng CSVN vội vã bắn tiếng xin bắt tay với Trung Quốc,  xin TQ  đỡ đầu để tiếp tục tồn tại.

Trung Quốc đã bắt bí bằng cách ra điều kiện: đảng CSVN phải nhượng thêm đất đai biên giới, biển đảo, và vịnh Bắc Việt cho Trung Quốc. (Kết quả của Hiệp ước Thành Đô 1990 chính là  Hiệp Định Biên Giới 31-12-1999.).

1990, Trung Quốc đã chơi khăm, họ chọn đúng ngày họp là ngày 3 tháng 9, nghĩa là các đảng viên cao cấp nhất của Đảng CSVN phải khăn gói quả mướp và bí mật đi qua TQ vào ngày 2-9, để kịp buổi họp hôm 3-9-1990.     

Hội nghị ở Thành Đô, Trung Quốc, ngày 3-5 tháng 9, 1990. 

►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

—————————–

Đỗ Mười

►Chiến dịch X-3: đánh tư sản thương nghiệp 1978

Trich:

…Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng  đổ mồ hôi sôi nước mắt  kiếm miếng ăn …”. (Đỗ Mười).

…Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi  không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải.

        
 X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu.
 
…Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.
 
Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn
 
Cướp đất của Hội Đồng Công luật Công Án Bia Sơn ở ngoài Nha Trang cũng chỉ là phiên bản mới của vụ cướp trong Chiến Dịch X-3: Đánh Tư sản Thương nghiệp 21-3-1978 va`Cải Tạo Tư Sản – Công Thương Nghiệp Miền Bắc năm 1954 do Đỗ Mười thực hiện.
 
Vụ 1978 do đảng CSVN chỉ đạo  cướp tài sản của dân chúng miền Nam, Đỗ Mười thực hiện. Nhờ vụ này mà về sau ĐM trở thành Tổng Bí Thư của đảng CSVN 1991-1997. 
 
DCM  building của Đỗ Mười,  DCM là viết tắt của chữ Đỗ Mười Center!  Hàng xóm ở chung quanh tòa nhà này cho biết  building này  do con rễ của Đỗ Mười đứng tên! (Vì sao tôi viết” cuốn sách Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) –Và, những ý …)

Ông Đỗ Mười đẻ ra Lý Mỹ*

MINH DIỆN

200px-Do_Muoi_cropped
 

     Chiều 21-3-1978, Hội trường của trường đảng Nguyễn Ái Quốc II, Thủ Đức, như nghẹt thở. Mấy trăm cán bộ cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố phía Nam được triệu tập về đây từ hai, ba ngày trước. Ăn, ngủ ngay tại đây, nội bất xuất, ngoại bất nhập, công an giám sát chặt chẽ. Tôi là phóng viên báo Tiền Phong, Trung ương Đoàn trưng dụng làm “nhiệm vụ đặc biệt” cũng  nằm trong số đó.

      Nhiệm vụ đặc biệt gì không ai được biết. Qua vài thông tin rò rỉ, các “quân sư quạt mo” nhận định chuẩn bị đánh tư sản thương nghiệp, mật danh X-3,  dưới sự chỉ huy của “Bàn tay sắt” Đỗ Mười và giờ G đã điểm! Khi đó, ông Đỗ Mười là Phó Thủ tướng kiêm nhiệm Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp Xã hội chủ nghĩa, phụ trách vấn đề cải tạo Công thương nghiệp XHCN tại miền Nam.

      Hôm đó, ông Đỗ Mười mặc chiếc quần Kaki màu cà phê đậm, chiếc áo Sơ mi ngắn tay cùng màu, chân đi dép. Ông có khổ người khệnh khạng, mặt chữ “nãi”, trán ngắn đầy nếp nhăn, miệng cá trê, bờm tóc dựng trông rất dữ. Tôi đã được nghe nói nhiều về tính bốc đồng, nóng nảy của ông Đỗ Mười, hôm  đó được giáp mặt, quả đúng vậy.       

      Đúng như mọi người dự đoán, chiến dịch X-3 đã bắt đầu.

Ông  Đỗ Mười đọc Quyết định của Thủ tướng, đọc Chỉ thị 100 – CP, và triển khai kế hoạch cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.  

     Ông nói: “Từ sau giải phóng chúng ta đã thực hiện X-1, tập trung bọn ngụy quân, ngụy quyền học tập cải tạo. Đã thực hiện X-2 đánh bọn tư sản mại bản. Bây giờ chiến dịch X-3, quyết liệt nhất, nhằm tiêu diệt tận gốc rễ chủ nghĩa tư bản, tay sai  đế quốc Mỹ…     “Đánh rắn phải đánh dập đầu, ta đã đánh dập đầu rồi, nhưng con rắn tư bản đánh dập đầu nó chưa chế, cái đuôi nó còn nguy hiểm hơn cái đầu. Không giần cho nát cái đuôi của nó, thì nó vẫn tác oai tác quái phá chúng ta.

     Vừa qua kẻ nào vơ vét mì chính (bột ngọt), vải vóc, đường, sữa đầu cơ trục lợi, rồi lại đổ tội cho nhà nước ta chuyển ra Bắc nên thị trường khan hiếm? Chính là bọn tư sản thương nghiệp!

     Kẻ nào tích trữ thóc gạo để dân ta đói? Chính là bọn đầu nậu lúa gạo. Tôi hỏi các đồng chí, kẻ nào cung cấp lương thực, thực phẩm cho tổ chức phản động trên Lâm Đồng chống phá cách mạng? Kẻ nào? Chính là bọn tư sản đấy!

    Bọn gian thương đầu cơ, phá hoại, bọn ngồi mát ăn bát vàng, rút rỉa máu xương đồng bào ta, ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của đảng ta …”.

    Ông Đỗ Mười nói say sưa, hùng hồn, quyết liệt. Mép ông sủi bọt. Tay ông vung vẩy. Mồ hôi trán đầm đìa.

    Lúc đầu ông mặc quần áo nghiêm chỉnh, sau một hồi diễn thuyết khoa chân múa tay, ông bật nút áo sơ mi phanh ngực ra. Cuối cùng cởi phăng cái áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi, trên người ông chỉ còn mỗi chiếc áo may ô ba lỗ.

    Ông vẫn hăng nói: “Cho nên chúng ta phải róc thịt chúng ra. Bắt chúng lao động sản xuất, tự làm lấy mà ăn. Phải biết cày ruộng, cấy lúa, trồng ngô. Đất hoang còn nhiều, bắt chúng  đổ mồ hôi sôi nước mắt  kiếm miếng ăn …”.

     Bầu không khí ngột ngạt và kích động muốn nổ tung  hội trường. Sức nóng từ Đỗ Mười truyền đến từng người. Tiếng vỗ tay rào rào, tiếng cười tiếng nói hả hê. Những gương mặt hừng hực khí thế “xung trận”.

    Xin đừng ở vị trí hôm nay phán xét những người trong cuộc ba mươi lăm năm trước, thời điểm đó tư duy của mọi người khác bây giờ, nhất là tư duy của những cán bộ đảng viên vốn tin tưởng tuyệt đối vào đường lối chính sách của đảng. Những người mà Đảng bảo sao cứ làm đúng phắc như vậy. Hãy bình tĩnh nhìn lại một cách trung thực, khách quan, để thấy một phần nỗi đau của mình, bạn bè mình, dân tộc mình, nỗi đau từ sự ấu trĩ, nóng vội, làm ào ào, đặt trái tim không đúng chỗ ngay từ  khởi đầu!

      Ông Đỗ Mười kết thúc buổi triển khai chiến dịch X-3, bằng một mấy cái chém tay như có ‘thượng phương bảo kiếm’: “Anh nào, chị nào nhụt ít chí thì lui ra một bên. Kẻ nào tỏ ra nhân nhượng với bọn tư sản là phản bội giai cấp, không phải Bôn – sê- vích, có tội với đảng với dân, sẽ bị trừng trị!”.

      Chúng tôi  ra về với một tâm trạng nặng nề, mang theo lời cảnh tỉnh “Tyệt đối bí mật”.

      Nhưng hình như linh tính đã báo điềm chẳng lành cho thành phố Sài Gòn.  Đó là cảm giác của tôi khi chạy xe máy từ cầu Công Lý lên cảng Bạch Đằng vòng qua Chợ Lớn. Người dân đổ ra đường nhiều hơn, vội vã, tất tưởi, gương mặt thất thần,  nhiều tốp người tụm nhau bàn tán. Người ta nháo nhào đi mua từng cân muối ký gạo, như sắp chạy càn. Người dân thành phố vốn nhạy cảm và đó lại là cảm giác đúng: Thủ tướng nào thì chưa biết, nhưng trước hết phải lo thủ lấy miếng ăn!

      Bảy giờ sáng hôm sau, ngày 23-3-1978, tất cả các cửa hàng kinh doanh to nhỏ, đủ mọi ngành nghề, ngóc ngách, đóng cửa, án binh bất động theo lệnh của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một bản thông báo ngắn gọn do ông Vũ Đình Liệu thay mặt UBND thành phố ký được ban hành ngay sau  đó, xác nhận “Chiến dịch X-3”, bắt đầu ở thành phố mang tên Bác.

     Tất cả các cơ sở kinh doanh, buôn bán, nhà hàng, cửa hàng, kho tàng, trung tâm dịch vụ bị niêm phong. Danh sách đã được lên từ trước. Họ làm bí mật lâu rồi. Như một trận đánh giặc đã được trinh sát, điều nghiên tỉ mỉ, chính xác. Các tổ công tác ập vào từng điểm bất ngờ, nhanh chóng niêm phong  tài sản, khống chế mọi người trong gia đình nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mỗi điểm niêm phong có tối thiểu một tổ ba người, không cùng cơ quan, không quen biết nhau. Họ là thanh niên xung phong, thanh niên công nhân các nhà máy, sinh viên các trường đại học, cả những thanh niên các phường được huy động vào chiến dịch.                 

     Ngay buổi chiều hôm ấy một cuộc mít tinh tuần hành từ  Nhà văn hóa thanh niên do Thành đoàn tổ chức. Hàng ngàn học sinh, sinh viên rầm rộ xuống đường, diễu hành khắp các phố chính Sài gòn, Chợ Lớn, hoan nghênh chính sách cải tạo công thương nghiệp của đảng, đả đảo bọn gian thương. Suốt đêm Câu lạc bộ thanh niên vang lên bài ca “Tình nguyện”, “Dậy mà đi”. Khi chống Mỹ sinh viên học sinh hát những bài hát ấy, giờ cũng hát những bài hát ấy để tăng bầu nhiệt huyết  đánh tư sàn!

    Ngày 26-3-1978, cô công nhân Nguyễn Thị Bé B.  ở nhà máy dệt Phong Phú được kết nạp đoàn vì từ chối nhận một món quà của một cơ sở kinh doanh mà cô canh giữ. Tiếp theo một trường hợp tương tự, anh thanh niên Vũ Ngọc Ch.  ở nhà máy dệt Thắng Lợi. 

     Mấy ngày sau tiếng trống ở trường Trần Khai Nguyên quận 5, vang lên, như trống trận. Đó là nơi tập trung của 1.200 thanh niên học sinh người Hoa xuống đường ủng hộ chính sách cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, người  dẫn đầu là cô học sinh lớp 11, có gương mặt búp bê, mái tóc cắt ngằn: Lý Mỹ.

     Lý Mỹ là con gái một gia đình kinh doanh buôn bán, có một cửa hàng ở đường Cách mạngTháng Tám, quận 10. Khi X-3 nổ ra, Lý Mỹ mới 17 tuổi,  được tổ chức đoàn tuyên truyền giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, được kết nạp đoàn khóa 26-3, được nghe đích thân ông  Đỗ Mười nói chuyện về chính sách cải tạo công thương nghiệp. Trái tim non trẻ của cô học sinh mười bảy tuổi như sôi sục bầu máu nóng đấu tranh giai cấp,  cô đã chọn đối tượng để đấu tranh, đó chính là cha mẹ mình.

     Lý Mỹ vận động thuyết phục cha mẹ kê khai tài sản, cha mẹ chần chừ, cô trực tiếp đứng ra kê khai. Cô theo dõi bố mẹ cất giấu vàng bạc, của cải, báo cho tổ kê khai moi móc ra bằng hết. Lý Mỹ phát biểu trên báo: “Tinh thần Pavel Corsaghin sáng chói trong trái tim tôi! Tôi không cần vàng bạc, của cải, cha mẹ tôi bóc lột của nhân dân. Từ hôm nay tôi  từ bỏ giai cấp bóc lột, bước sang cuộc sống mới, hòa vào dòng người lao động vinh quang  xây dựng xã hội chủ nghĩa” (Báo Tiền Phong số 40 ,1978).

    Khi cha mẹ vật vã than khóc, và dọa ra nước ngoài,  Lý Mỹ tuyên bố nếu cha mẹ xuất cảnh, cô sẽ ở lại một mình, chấp nhận  cuộc sống cô đơn để cống hiến cho lý tưởng cộng sản !

     Không phải chỉ có một Lý Mỹ, mà hàng trăm “Lý Mỹ” như vậy. Những “Lý Mỹ” được sinh ra nóng hổi dưới lá cờ  Đoàn thanh niên cộng sản Hổ Chí Minh.

     Khi cải cách ruộng đất ở miền Bắc tôi là đứa trẻ sáu tuổi đi xem đấu tố như xem hội hè, khi cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam, tôi ba mươi tuổi, là người trong cuộc. Trước con mắt tôi, cuộc cách mạng sau chỉ khác cuộc cách mạnh trước là  không bắn giết,  còn  giống hệt  nhau. Cũng con tố cha mẹ, vợ tố chồng, bạn bẻ tố nhau. Những cán bộ từng hoạt động bí mật trong  chiến tranh, được những gia đình  buôn bán , giàu có bao bọc, giờ quay ngoắt lại tịch thu tài sàn ân nhân của mình.  Những tính từ bọn, đồng bọn, “tên tư sản”, “con buôn” thay danh từ  ông, bà, anh, chị. Gần ba chục năm trước, người bị quy là địa chủ, phú nông xấu xa thế nào, thì 1978,  người bị gọi là  tư sản, con buôn  xấu xa  như vậy. Người ta  đã phủ nhận một tầng lớp tiên tiến của xã hội, nhục mạ tầng lớp đó, đào hố ngăn cách giữa các tầng lớp nhân dân, và kéo lùi sự phát triển của đất nước, đó là một sự thật lịch sử cần ghi nhận.    

     Chiến dịch X-3 thành phố Hồ Chí Minh, đã đánh gục  28.787 nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, hộ buôn bán.

      Ông Nguyễn Văn Linh nói: “ Khi tôi làm Trưởng ban cải tạo trung ương,  tìm hiểu và dự kiến Sài Gòn, Chợ Lớn có khoảng 6.000 hộ kinh doanh buôn bán lớn. Khi anh Đỗ Mười thay tôi, anh ấy áp dụng theo quy chuẩn cuộc cải tạo tư sản Hà Nội từ năm 1955, nên con số mới phồng to lên như vậy” (Nguyễn Văn Linh, Những trăn trở trước đổi mới). 

     Ông  Đỗ Mười  đưa  hàng ngàn hộ tiểu thương, trung lưu  vào diện cài tạo, gộp luôn những hộ sản xuất vào đối tượng đó.

      Ông Nguyễn Văn Linh nói: “Anh Mười không trao đổi với chúng tôi. Anh ấy có ‘thượng phương bảo kiếm’ trong tay, toàn quyền quyết định”  (Nguyễn Văn Linh  trăn trở cuộc đổi mới).     

     Ông Đỗ Mười thay ông Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban cải tạo ngày 16-2-1978. Trong chiến dịch X-3, Đỗ Mười không sử dụng  người cùa Nguyễn Văn Linh, mà đưa hầu hết cán bộ từ miến Bắc vào nắm giữ những vị trí quan trọng. Đồng thời ông bố trí  cán bộ  các ngành thương nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp nhẹ, kho hàng vào tiếp quản. Ông đóng đại bản doanh ở Thủ Đức, trực tiếp chỉ đạo, không tham khảo bất cứ ý kiến  ai trong cơ quan lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh.  

    Kết quả X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi  không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải.

    X-3, cú đòn trời giáng cuối cùng, biến “Hòn ngọc Viễn Đông” thành “Thành phố chết”, đẩy thêm dòng người bỏ đất nước ra đi bất chấp hiểm nguy, bao nhiêu số phận  đã rã rời trên biển sâu. Năm 2005, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhìn nhận:

“Trong các chiến dịch cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp, nhiều nhân sĩ yêu nước, nhiều nhà kinh doanh có công với cách mạng đã không được coi như bạn nữa, gây những tổn thất lớn về chính trị và kinh tế”.      

Có lần chúng tôi hỏi nhà báo Trần Bạch Đằng: “Hình như trong  63 năm tham gia cách mạng và làm lãnh đạo, ông Đỗ Mười không đề lại một tác phẩm nào?”.  Ông Trần Bạch Đằng chớp mắt nhếch cái miệng méo xẹo:  “Cha ấy để lại cho đời  tác phẩm cải tạo công thương nghiệp !” .

     Ông Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917 tại Thanh Trì, Hà Nội. Ông làm rất nhiều chức vụ quan trọng, từng làm Tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam 1991-1997.

     Tôi không muốn viết chân dung ông bởi chẳng có gỉ đáng viết, chỉ ghi lại vài dòng những người đồng chí của ông, nhận xét về ông.  

     Ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Thủ tướng chính phủ kề: “Một lần anh Mười xuống Hải Phòng, tôi và anh Nguyễn Dần  dẫn anh ấy đi thăm nhà máy đóng tàu. Đi ngang Quán Toan thấy cái nhà hai tầng, anh Mười hỏi: “Nhà ai đây?”  tôi trả lời: “Dạ nhà anh Bút lái xe”, anh Mười nói: “Nếu tôi mà là bí thư , chủ tịch thành phố tôi sẽ tịch thu ngay cái nhà này làm nhà mẫu giáo!” .

     Ông Đỗ Mười là người đố kỵ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, không biết vì ghen ghét tài năng hay nguyên nhân gì. Ông Đoàn Duy Thành kể: “Chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, anh Mười gọi tôi tới, nêu vấn đề anh Văn năm 16 tuổi được thực dân Pháp cho sang Pháp học 6 tháng. Rồi anh Mười bảo, về nói cho  đoàn đại biểu Hải Phòng biết, và những ai quen biết ở các đoàn khác cũng nói cho các đồng chí ấy biết. Tôi hỏi anh Trường Chinh, anh Trường Chinh bảo: “Võ Nguyên Giáp năm 1941-1942, kể cả việc làm con nuôi Martin trùm mật thám Đông Dương là chuyện bịa hết!”  (Làm người là khó).

     Ông Nguyễn Văn Linh trong một lần hội nghị ở T78 đã nói thẳng với ông Đỗ Mười: “Anh Mười tưởng rằng làm Uỷ viên Bộ chính trị là to lắm, muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn phê bình ai cũng được… Anh Mười đứng dậy nói: “Tôi nói đó là tinh thần Bôn-sê-vich” (Làm người là khó).

      Ông Đoàn Duy Thành kể tiếp: “Có lần tôi hỏi anh Tô (Phạm Văn Đồng): “Còn Đỗ Mười thì sao?”.  Anh Tô suy nghĩ hai ba phút rồi nói:  “Chỉ có phá !”.

      Nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rất đúng với trường hợp cải tạo công thương nghiệp.

       Năm nay ông Đỗ Mười hơn chín chục tuổi rồi. Nghe nói ông vẫn phải nuôi con mọn. Tôi không biết có đúng không, và nếu đúng, tương lai nó sẽ ra sao? Cầu trời, nó đừng như những “đứa con” sinh ra từ cuộc cải tạo công thương nghiệp 1978 như Lý Mỹ!

 

M.D

Theo blog BVB

………….

*Lý Mỹ là một nhân vật trong cuốn Bên thắng cuộc, nữ thanh niên “bôn sệt”, sản phẩm của lối tuyên truyền nhồi sọ.

————————————————————
Bai Lien Quan

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | 3 Comments »

►đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng vì muốn tiếp tục nắm quyền lãnh đạo VN

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2012

 

Vào những ngày cuối tháng 8- 1990, Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh ở Hà Nội đã quyết định phải quay đầu trở lại, xin hợp tác với đảng Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng).

Kết quả là hội nghị Thành Ðô, ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990, mà Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu gọi là “Cái thòng lọng thứ hai” buộc vào cổ đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cái thòng lọng thứ nhất, là quyết định “khai thông biên giới Việt Trung” vào năm 1950 để Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng) nhận được viện trợ và đón các cố vấn Trung Quốc sang chỉ đạo. Hà Sĩ Phu viết: “Do vị trí địa-chính trị nênViệt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Ðại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía Nam…” Chủ nghĩa cộng sản đã cho Trung Quốc “một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn ‘Quốc tế đại đồng’ che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân.”

Khi đảng Cộng Sản Việt Nam tự tìm đến Thành Ðô 1990 để chui vào cái thòng lọng thứ hai, Hà Sĩ Phu nhận định: Xét trong quan hệ lịch sử giữa hai kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hòa này chính là “tuyên bố đầu hàng.”

Nếu biết rõ hơn về hội nghị Thành Ðô, chúng ta sẽ thấy quả thật đó là một “cuộc tuyên bố đầu hàng.” (của đảng CSVN trước Trung Quốc) . Những sự kiện và ngày tháng kể sau đây dựa trên hồi ký của Trần Quang Cơ (1), là thứ trưởng Ngoại Giao vào lúc đó, với một tài liệu do Trung Cộng công bố, đã được Lý Nguyên dịch từ mạng Hà Bắc tân văn võng ngày 30 tháng 10, 2007, đăng trên mạng Talawas.

Tháng 10 năm 1989, trùm cộng sản Lào Kaysone Phomvihane thăm Bắc Kinh, xin gặp Ðặng Tiểu Bình với lý do bí mật. Phomvihane chuyển lời Nguyễn Văn Linh xin được làm hòa với Trung Cộng, 10 năm sau khi Ðặng Tiểu Bình đã cho quân sang “dạy một bài học” cho Cộng Sản Việt Nam. Ðặng Tiểu Bình đặt một điều kiện: Trước hết, phải rút hết, rút triệt để quân đội khỏi Cămpuchia. Và Bình còn nói rõ ông không thích Nguyễn Cơ Thạch, lúc đó là ngoại trưởng.

Năm đó, Việt Cộng đã rút hết quân về. Ngày 5 tháng 6 năm 1990, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư Cộng Sản Việt Nam, gặp Trương Ðức Duy, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội, nhưng cuộc họp có cả Nguyễn Cơ Thạch, chưa nói hết ý.

Theo bên Trung Quốc kể lại, ngày 16 tháng 8 năm 1990, Nguyễn Văn Linh sai Hoàng Nhật Tân gặp Trương Ðức Duy, đưa một “mật thư,” và nói miệng gửi lời nhắn riêng: “Không cần đi qua Nguyễn Cơ Thạch,” mặc dù đại sứ một nước chỉ được tiếp xúc qua bộ trưởng Ngoại Giao nước chủ nhà. Trương Ðức Duy quyết định liên lạc bí mật qua Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Lê Ðức Anh.

Ngày 21 tháng 8, 1990 Trương Ðức Duy ngồi trên một chiếc ôtô du lịch không cắm cờ Trung Quốc theo nghi thức ngoại giao, lén đến Bộ Quốc Phòng bàn riêng với Lê Ðức Anh. Và lúc 7 giờ rưỡi, sáng sớm ngày hôm sau, Nguyễn Văn Linh gặp Trương Ðức Duy tại nhà khách Bộ Quốc Phòng, cả hai bên đều không mang phiên dịch. Linh đề nghị Trương Ðức Duy đổi ngồi một chiếc xe khác hôm qua, và vẫn không cắm quốc kỳ. Một tuần sau, Nguyễn Văn Linh (tổng bí thư) và Ðỗ Mười (thủ tướng) cũng hội kiến Trương Ðức Duy. Chắc đây là buổi họp quyết định. Vì hôm sau, 30 tháng 8, 1990, Bộ Chính Trị họp, Linh đưa ra ý kiến hợp tác với Trung Quốc “để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc,” tiến tới bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

Những diễn biến trên cho thấy ba người chủ chốt trong vụ này là Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười. Nhưng Lê Ðức Anh có vẻ được Trung Cộng tin cậy hơn cả. Nhưng tại sao bộ ba này thuyết phục được cả Bộ Chính Trị đồng ý với cuộc đầu hàng không điều kiện này? (Chỉ có cố vấn Võ Chí Công không đồng ý). Nguyễn Văn Linh giải thích: Cần hợp tác với Trung Quốc “để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc.”

Thực tế là chế độ cộng sản tại Việt Nam đang lâm nguy. Kinh tế suy sụp vì thiếu viện trợ vốn cũng như kỹ thuật của các nước Ðông Âu và Nga Xô, sau khi cộng sản Ðông Âu sụp đổ, Liên Xô đang bị cùng kiệt về kinh tế. Mấy năm trước dân nhiều nơi miền Trung đã chết đói. Cả thế giới đang tẩy chay Việt Cộng, từ năm 1978. Cộng Sản Việt Nam biết không còn nương tựa vào đâu, phải cầu cứu tới một nước đã từng gọi là “kẻ thù truyền kiếp.”

Trung Cộng không tiếp phái đoàn Việt Cộng tại thủ đô Bắc Kinh mà chỉ mời đến Thành Ðô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Họ giải thích là cần giữ bí mật cho cuộc gặp gỡ này, không cho thế giới biết. Trước khi lên đường, Trương Ðức Duy còn yêu cầu phải có mặt Phạm Văn Ðồng, cố vấn của Bộ Chính Trị, nhìn bên ngoài có địa vị tương đương với “bố già” Ðặng Tiểu Bình. Ðồng chịu đi vì tưởng sẽ được gặp Bình. Nhưng tới nơi thì không (gặp Bình). Sự có mặt của Phạm Văn Ðồng có ý nghĩa. Vì trong cuộc họp Trung Cộng có thể đem lá thư ông ta gửi Chu Ân Lai năm 1958, công nhận lập trường của Trung Cộng về Trường Sa, Hoàng Sa. Những gì được ký kết giữa hai bên tới nay vẫn còn giữ bí mật; nhưng chắc phía Trung Cộng họ không dại gì mà không nhắc tới vụ các đảo, sau khi hải quân hai bên mới tử chiến năm 1988, biển vẫn còn tanh mùi máu.

Theo các tài liệu chính thức công bố thì hai bên chỉ bàn chuyện Campuchia. Lúc đầu Việt Cộng đề nghị trong hội nghị đình chiến ở xứ Chùa Tháp, phe Hun Sen và phe chống Việt Cộng, trong đó có Pol Pot, mỗi bên sẽ có 6 người dự vào chính quyền lâm thời ở Campuchia. Trung Cộng đòi có thêm cựu hoàng Sihanouk cho thành 6+6+1, mà ai cũng biết ông hoàng này là người được Trung Cộng nuôi nấng từ 20 năm rồi. Nguyễn Văn Linh cố “bán” ý kiến “Giải pháp đỏ” cho Trung Cộng. Tức là cho hai đảng Cộng sản Campuchia hợp tác đủ rồi, bỏ các phe của Sihanouk ra ngoài. Nhưng Linh thất bại, cuối cùng, bên Việt Cộng không dám cãi, mà cũng không dám đòi hỏi gì; đồng ý sẽ thuyết phục phe Hun Sen chịu “hòa giải” với Pol Pot. Hai bên hứa sẽ giữ bí mật cuộc hội nghị, để các nước khác như Nga, Mỹ, không biết hai chính quyền cộng sản Á Châu toa rập. Giang Trạch Dân nói ở Thành Ðô: “Các nước phương Tây rất chú ý tới quan hệ của chúng ta. Các đồng chí đến đây, cho đến nay các nước không ai biết, cũng không cho các bên Campuchia biết. Chúng tôi cảnh giác vấn đề này.”

Nhưng ngay sau đó, cả nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thấy ngay mình bị lừa. Khi Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh sang thuyết phục phe Hun Sen thì bị đám đàn em chống, vì phe này bị lép vế với tỷ số 6/7. Nguyễn Cơ Thạch kể lại: “Trung Quốc đã đưa cả băng ghi âm cuộc nói chuyện với lãnh đạo ta ở Thành Ðô cho Phnom Penh. Hun Xen nói là trong biên bản viết là “hai bên đồng ý thông báo cho Campuchia phương án 6+2+2+2+1.”

Trung Cộng đã tiết lộ kết quả cuộc họp cho cả thế giới. Báo Bangkok Post ngày 19 tháng 9 đã đăng công khai Thỏa thuận Thành Ðô, viết rõ Việt Nam đã đồng ý với Trung Quốc về thành phần chính phủ lâm thời là 6 cộng 7, có Sihanouk! Tạp chí Kinh tế Viễn Ðông (FEER) số ngày 10 tháng 10 viết về cuộc gặp gỡ “thượng đỉnh” Trung-Việt ở Thành Ðô.

Nhưng cay cú nhất là Trung Cộng còn thông báo cho cả Mỹ biết (hội nghị Thành Ðô). Ngoại Trưởng Mỹ James Baker còn nói với Nguyễn Cơ Thạch rằng Trung Quốc khoe với Mỹ là họ đã “bác bỏ đề nghị của lãnh đạo cấp cao nhất Việt Nam là Việt Nam với Trung Quốc đoàn kết bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội chống âm mưu của đế quốc Mỹ xóa bỏ Chủ nghĩa Xã hội.” Ông Trần Quang Cơ than: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Ðô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ Chủ nghĩa Xã hội, thay thế cho Liên Xô, làm chỗ dựa.”

Trong cuộc họp Bộ Chính Trị vào tháng 5 năm 1991, đủ mặt 12 người và hai cố vấn, họ bắt đầu than thở và chỉ trích lẫn nhau. Võ Văn Kiệt phê bình việc để Phạm Văn Ðồng cùng đi: “Chỉ để gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng, không có Ðặng Tiểu Bình. Mình bị nó lừa nhiều cái quá! Tôi nghĩ Trung Quốc chuyên là cạm bẫy!” Phạm Văn Ðồng than: “Mình hớ, mình dại rồi mà còn nói sự nghiệp cách mạng là trên hết,… Sau chuyến đi Thành Ðô, tôi vẫn ân hận sao lại mời thêm tôi… Anh Mười cho là họ mời rất trang trọng, cơ hội lớn, nên đi!”

Nguyễn Văn Linh lại biện hộ tại sao phải theo Tầu, vì “Âm mưu của đế quốc Mỹ chống phá chủ nghĩa xã hội ở Châu Á, cả ở Cuba… dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.”

Lê Ðức Anh mở rộng thêm: “Mỹ và phương Tây muốn cơ hội này để xóa cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu. Nó tuyên bố là xóa cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc!”

Rõ ràng, tất cả nhóm người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa cả nước “chui vào cái thòng lọng” của Trung Cộng, vì muốn “bảo vệ Chủ nghĩa Xã hội.”

Trong thực tế, là bảo vệ ngôi vị độc quyền cai trị nước Việt Nam!

Hà Sĩ Phu không kể các chi tiết trên đây trong bài tham luận mới “Giải Cộng Nhi Thoát,” nhưng ông đã mô tả “cái thòng lọng Thành Ðô” rất cụ thể: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho Việt Nam yên vị theo chế độ cộng sản, không được dân chủ hóa, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.”

Khi hiểu rõ “cái thòng lọng Thành Ðô” thì chúng ta cũng hiểu được các hành động của đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1990 đến giờ.

© Ngô Nhân Dụng

http://www.diendantheky.net/2012/08/ngo-nhan-dung-chui-au-vao-cai-thong.html

(1) Hồi Ký Trần Quang Cơ 

http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/hoi-ky-tran-quang-co/

http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=236879&mpage=1&key=&#236879

http://vietsuky.wordpress.com/hoi-ky-tran-quang-co/

http://www.wattpad.com/370830-h%E1%BB%93i-k%C3%BD-tr%E1%BA%A7n-quang-c%C6%A1

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | 1 Comment »

►Rước voi giày mã tổ và cõng rắn cắn gà nhà

Posted by hoangtran204 trên 21/08/2012

Câu “rước voi về giày mã tổ” và “cõng rắn cắn gà nhà” rất là chính xác để chỉ hành động của ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rước quân Tàu vào Việt Nam từ 1951 và  rước 320.000 bộ đội Trung Quốc vào đóng quân ở Miền Bắc 1965-1975.  

(Chứng tích là các bài báo và mồ mã của hơn 4400 quân Trung Quốc đã chết đã được đảng Cộng Sản VN xây lăng thờ phụng ở ngoài miền Bắc hiện nay vẫn còn đó.

Trích Trên 4400 bộ đội Trung Cộng đã bị tử thương trong lúc giúp đỡ Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Pháp và chiến tranh chống Mỹ. Hiện có 1446 lính Trung Quốc, (trong số  4400 nói trên), đã được chôn trong 40 nghĩa trang dành cho Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Chúng ta hãy kêu gọi chính quyền  mang những vị anh hùng của chúng ta về lại Trung Quốc, chúng ta không nên để họ yên nghĩ trong một miền đất không thân thiện.  https://hoangtran204.wordpress.com/2012/04/25 )

Khi ông Hồ Chí Minh qua Tàu cầu cứu Mao Trạch Đông năm 1950 để xin quân đội Trung Quốc qua giúp đỡ và xin vũ khí, quân trang, quân dụng, thực phẩm cho quân cộng sản VN đánh Pháp, ông Hồ Chí Minh phải trả công cho Mao bằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng các vùng đất biên giới phía Bắc.

Bởi vậy, ngay sau khi giúp đảng của ông HCM đánh chiếm Điện Biên Phủ 5-1954 và chiếm được Miền Bắc qua Hiệp Định Geneve 20-7-1954, Trung Quốc lấy công lần đầu thông qua Công Hàm Phạm Văn Đồng 1958 (http://www.flickr.com/photos/tientrung/2108319111/). Bức thư của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 bán Hoàng sa và Trường Sa cùng các vùng đất biên giới phía Bắc cho giặc Tàu đổi lấy viện trợ.

1973, biết rõ quân Mỹ sẽ rút ra khỏi VN và chiến tranh VN sắp kết thúc, ngày 19-1-1974 quân Trung Cộng đã chiếm lấy Hoàng Sa (sau khi bị Hải Quân VNCH tấn công và đánh một trận để đời.) 

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Lợi dụng xây đường sá để đem 320.000 quân qua giúp Miền Bắc trong chiến tranh VN 1954-1975, quân Trung Cộng đã dời cột mốc biên giới để chiếm hàng ngàn km vuông ở các vùng đất biên giới phía Bắc, chiếm Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, Móng Cái, Hà Giang, Núi Lão Qua, và Vịnh Bắc Bộ.

Bài báo sau đây của tác giả Ngô Nhân Dụng cho ta nhìn thấy các khía cạnh của việc rước voi về giày mã tổ, cõng rắn cắn gà nhà của đảng CSVN và ông HCM.

 

Ai chui vào cái thòng lọng đầu tiên?

Ngô Nhân Dụng

Tại hội nghị Thành Ðô (1990) giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh và Ðỗ Mười đã “tuyên bố đầu hàng,” tình nguyện đem cả đảng và nhà nước “chui đầu vào thòng lọng” cho Trung Cộng thao túng, lũng đoạn.

http://www.youtube.com/watch?v=QoU8I3HsKEo&feature=player_embedded#!

Hà Sĩ Phu nhận định: “Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam, tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy.”

Thực ra, đảng Cộng sản Trung Hoa đã nắm lấy cái đầu của Cộng sản Việt Nam từ năm 1950. Sau đó, họ tiếp tục nắm cái đầu “bằng con đường đi qua bao tử” trong suốt thời chiến tranh xâm chiếm miền Nam.

Trong thời gian đó, mỗi năm ông Lê Thanh Nghị sang Bắc Kinh đưa một danh sách những món cần “chi viện” kinh tế; từ cơm sấy, cá khô cho đến từng cây kim, sợi chỉ. Bởi vậy khi Lê Duẩn trở mặt quay sang thần phục Liên Xô hoàn toàn, chống “Trung Quốc xâm lược,” gọi Ðặng Tiểu Bình là “Ðặng Lưu Manh,” thì Bắc Kinh nổi giận, cho “bọn phản phúc” một bài học năm 1979. Bài học đó được trả bằng xương máu của dân và bộ đội (70.000 nguoi) bị quân Tàu giết.

Lê Duẩn đã gieo tai họa cho đám đàn em, cả bọn bơ vơ sợ hãi khi nhìn cảnh Liên Xô trên đà sụp đổ (1990) cùng với các đảng cộng sản chư hầu Ðông Âu. Vì thế, sau cùng họ phải quay đầu 180 độ, quy phục Trung Cộng. Nước cờ ngoại giao liều lĩnh và tai hại của Lê Duẩn có thể được thúc đẩy vì chứng kiến “Bác” lúi cúi theo Trung Cộng quá đáng cũng cảm thấy nhục lây; lại vì ông ta muốn chứng tỏ mình giỏi hơn họ Hồ.

Sở dĩ Hồ Chí Minh trung thành với các đường lối của Mao Trạch Ðông từ năm 1950 cho tới khi chết là vì ông muốn chứng tỏ mình là một người cộng sản trung kiên. Từ thập niên 1930, Hồ Chí Minh về Moscow (MatxCơva) đã bị Stalin nghi ngờ, và suýt bị xử tử, thì mối lo lớn nhất của Hồ Chí Minh là sợ bị ông Trùm Ðỏ thanh trừng.

Hồ đã có kinh nghiệm cá nhân: Chính mình lập ra đảng Cộng sản Việt Nam nhưng ngay lập tức bị Stalin bắt đổi tên, và đặt Trần Phú lên thay làm tổng bí thư. Những năm 1930, Hồ Chí Minh ở thủ đô Nga cũng chứng kiến cảnh Stalin đã lần lượt giết hết các đồng chí trong Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô. Và sau đó, còn biết Stalin đã cho tay chân đuổi theo Trotsky khắp thế giới, sau cùng ám sát được nhà lãnh tụ Cộng sản Ðệ tứ Quốc tế. Năm 1946 sở dĩ Hồ Chí Minh phải sai giết những nhà cách mạng Cộng sản Ðệ tứ Việt Nam như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, vân vân, cũng vì nếu để cho những người yêu nước này sống thì lại lo sẽ bị Stalin nghi ngờ ăn ở hai lòng.

Cho nên, năm 1950, khi Stalin nói giao đảng Cộng sản Việt Nam cho Mao Trạch Ðông chỉ đạo, thì từ đó Hồ Chí Minh hoàn toàn tuân theo chỉ thị này. Ðến lúc Stalin chết, năm 1953, thì Mao Trạch Ðông đã nắm được cái đầu của đảng Cộng sản Việt Nam trong thòng lọng từ lâu rồi.

Tháng Giêng năm 1950, Hồ Chí Minh sang Bắc Kinh; thấy Mao Trạch Ðông đã đi Moscow rồi, nên xin Lưu Thiếu Kỳ giúp đỡ di chuyển sang Nga. Ở thủ đô Nga, Hồ Chí Minh bị Stalin tỏ vẻ khinh thường: Không đến dự tiệc do ông Hồ tổ chức khoản đãi; không có một hình thức tiếp đón chính thức để chụp hình. Stalin lại từ chối không viện trợ, và lắc đầu khi Hồ Chí Minh xin cho ký một thỏa hiệp hữu nghị, như Stalin đã ký với Mao Trạch Ðông. Hồ Chí Minh chỉ xin được Stalin ký tên trên một bức hình xé từ một tạp chí hình ảnh làm kỷ niệm. Stalin ký tên cho, nhưng sau đó sai mật vụ KGB bí mật đến tận phòng, lục va li, lấy lại. Mỗi lần Hồ Chí Minh ngỏ ý xin chi viện, Stalin đều nói: các đồng chí Trung Quốc hiểu rõ người Châu Á hơn; mọi việc hãy hỏi họ, tôi sẽ ủng hộ. Stalin đã gán Hồ Chí Minh cho Mao Trạch Ðông từ đó.

Trên xe lửa trở về Bắc Kinh, Hồ đã nhắc với Mao về việc bị Stalin bỏ rơi, và nói: Chúng tôi chỉ còn dựa vào Trung Quốc. Từ năm đó, các đoàn cố vấn Trung Cộng bắt đầu xâm nhập nước ta từ trên xuống dưới, trong chiến trận cũng như trong chính trị, đặc biệt là cuộc cải cách ruộng đất(1953-1956) đẫm máu hoàn toàn theo khuôn mẫu của các cố vấn  Trung Quốc.

Khi tái lập đảng Cộng sản dưới tên mới là đảng Lao Ðộng VN, Hồ Chí Minh cố chứng tỏ mình là một con người cộng sản hoàn toàn. Tạp chí Học tập Liên khu 4, Tháng Tư năm 1951 đã viết (trang 1 đến trang 8) bài tường thuật “Ðại hội Ðảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập ghi lại.

Hồ Chí Minh tán dương các chiến sĩ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp lúc đó; nhưng ông không đề cao lòng yêu nước của họ mà lại giải thích họ hy sinh chỉ vì chủ nghĩa Cộng sản. Bài báo ghi nguyên văn lời ông Hồ giải thích các hành động anh dũng của các người lính Việt Nam:

“Ðó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Ðảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

Sau khi chỉ tay lên hình Staline (tên viết theo lối Pháp), Hồ lại ca ngợi công ơn đảng Cộng sản Trung Quốc “đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine…” Hồ Chí Minh biện minh: “Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc! (Ðại hội vỗ tay dài). Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx-Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?” (Ðại hội vỗ tay).”

Hồ Chí Minh lại giải thích tiếp: “Chúng ta lại nhờ có ông anh này! (Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Mao-Trạch-Ðông) (Ðại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn đồng chí Mao-Trạch-Ðông muôn năm!)

Ðó là nguyên văn những lời ông Hồ đã nói. Không nói gì đến lòng yêu nước của người Việt Nam; không hề nói đến Tổ tiên đã noi gương tranh đấu chống xâm lăng. Chỉ biết ơn ông Xít (Staline), ông Mao. Hồ Chí Minh nộp dân Việt Nam lên bàn thờ chủ nghĩa cộng sản.

Muốn chứng tỏ công ơn của MaoTrạch-Ðông đối với cuộc kháng chiến của người Việt Nam, Hồ Chí Minh kể lể: “Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm… Ông theo dõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…”

Như các cố vấn Trung Cộng ở Việt Nam lúc đó thuật lại, thì Mao-Trạch-Ðông đã chỉ thị đến từng chi tiết các trận đánh; vì Mao cũng là một lý thuyết gia quân sự, và ông rất thích điều khiển để thí nghiệm các khẩu hiệu trong binh pháp của ông.

Tinh thần lệ thuộc của Hồ Chí Minh đối với Cộng sản Trung Quốc đã rõ ràng, không ai chối cãi được. Sau đó, những gì xẩy ra thì chúng ta đã biết. Năm 1958, khi Phạm Văn Ðồng ký văn thư đồng ý với chính phủ Bắc Kinh về vấn đề lãnh hải, mặc nhiên công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc, lúc đó Hồ Chí Minh vẫn còn nắm toàn quyền, sau khi Trường Chinh đã mất chức, mà Lê Duẩn thì mới lên.

Năm 1961, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Chí Minh viết một bài ca tụng “40 năm vẻ vang, 40 năm thắng lợi”… “viết những trang lịch sử vĩ đại của Ðảng Cộng sản Trung Quốc,” đăng trên nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội ngày 1 Tháng Bảy năm 1961.

Trong bài báo đó (in lại trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập X, NXB Chính Trị Quốc Gia, năm 2000, trang 365-368), Hồ Chí Minh đã kể rõ công ơn của Cộng sản Trung Quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam. Công ơn đầu tiên là “Ảnh hưởng Cách Mạng Tháng Mười Nga và lý luận Mác-Lênin phần lớn kinh qua Trung Quốc mà truyền đến Việt Nam.” Nói cách khác, ngay trên mặt lý thuyết căn bản, cộng sản nước ta chịu ơn của cộng sản Tầu dạy dỗ.

Trong Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76, có đăng bốn bài diễn văn của Hồ Chí Minh khi đón tiếp Lưu Thiếu Kỳ tới Hà Nội năm 1963. Trong lời chào đón phái đoàn Lưu Thiếu Kỳ và Trần Nghị ở sân bay Gia Lâm, Hồ Chí Minh đã đọc hai câu thơ: “Mối tình thắm thiết Việt-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em.” Trong bài diễn văn tại buổi tiệc chiêu đãi phái đoàn nước đàn anh, ông Hồ đã nhắc lại một câu ngạn ngữ của người Tầu để nói tới “…tình đoàn kết như môi mới răng giữa hai nước và hai đảng chúng ta…” Ðây là những bản văn chính thức được Hồ viết ra, đăng trên báo Nhân Dân, đặt tiền lệ cho các khẩu hiệu “đồng chí-anh em” và “như môi với răng.”

Hai khẩu hiệu đó được hai đảng cộng sản dùng mãi sau này, chỉ ngưng dùng mươi năm sau cuộc chiến biên giới 1979 khi răng cắn môi chẩy máu. Nhưng sau cuộc đầu hàng ở Thành Ðô năm 1992, các khẩu hiệu đó lại được các đồng chí Trung Quốc nhắc nhở. Vì chính ông Hồ đã nói những khẩu hiệu đó trước, cho nên đảng Cộng sản Việt Nam không thể từ chối được! Trung Cộng bèn “triển khai” ra 16 cái chữ vàng để cái thòng lọng thắt chặt hơn.

Hiện nay ở trong nước, các tay đầu sỏ trong đảng cũng không mấy khi nhắc đến Hồ Chí Minh nữa, trừ mấy dịp lễ lạc. Các “cháu” chắc cũng biết cái bùa đó hết thiêng rồi. Hà Sĩ Phu tiết lộ:

“Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là ‘Ku Nghệ’ mà không bị khiển trách; thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì.”

Vì họ biết Ku Nghệ (An) là người đầu tiên dẫn cả đảng, cả nước chui đầu vào cái thòng lọng Tân Ðại Hán.

Nguồn: Người Việt

http://www.x-cafevn.org/node/3710

———————————-

Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam

HONG KONG (Reuters) 16 tháng 5, 1989 – Lần đầu tiên Trung Quốc thú nhận đã gửi hơn 300.000 lính chiến đến Việt Nam để chiến đấu chống lại lực lượng Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam.

Hãng Thông tấn bán chính thức của Trung Quốc (China News Service) trong một bài báo cho biết Trung Quốc đã gởi 320.000 lính sang Việt Nam trong những năm 1960. 

Trung Quốc cũng đã chi trên 20 tỷ USD để viện trợ quân đội chính quy Bắc Việt của Hà Nội và các đơn vị quân du kích Việt Cộng. Bài báo trích “Lịch Sử Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” do Nhà Xuất bản Văn khố Nhà nước phát hành, cho biết có hơn 4.000 binh sĩ Trung Quốc đã thiệt mạng trong chiến tranh.Cuộc chiến đã kết thúc khi xe tăng Bắc Việt ủi xập cổng tiến vào khuôn viên Dinh Độc Lập ở Sài Gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975.

Trong suốt cuộc chiến, Trung Quốc đã nhiều lần phủ nhận cáo buộc của Mỹ rằng binh sĩ của họ đang tham chiến tại Việt Nam.

Báo cáo của tình báo Mỹ vào lúc đó đã cho hay về các về đơn vị chiến đấu Mỹ đã thấy những binh sĩ trong quân phục và vũ trang của Trung Quốc cùng mang phù hiệu của Trung Quốc…

China admits it sent troops to fight the U.S. in Vietnam. Desert News. Published: Tuesday, May 16 1989 12:00 a.m. MDT

http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=article&sid=9296

** Mãi cho đến năm 1967, tôi được đưa về trại Phú Sơn Thái Nguyên. Trên đường đi từ Hà Giang về tôi gặp quân Tàu nhập Việt trùng trùng điệp điệp kéo đi (*). Lúc ấy tôi mới biết là có chiến tranh.  (►Trại Cổng Trời- Hà Giang)        

***

►Lập trường của Đảng CSVN về Hoàng Sa khi Trung Cộng xâm chiếm vào ngày 19-1-1974

Tướng Ngô Du nói gì với tướng Lê Quang Hòa và Lê Đức Thọ vào ngày 21-1-1973

Tướng Ngô Du, đại diện cho VNCH tại Ủy Ban Quân Sự 4 bên

Tướng Lê Quang Hòa, đại diện cho VN DC CH

Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị của Đảng  CSVN, (tức đảng LĐVN),

Chuyện dưới đây do sĩ quan bảo vệ an ninh của đoàn do tướng Lê Quang Hòa cầm đầu phái đoàn, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại.

1. Quế Lâm

Quế Lâm, một trong những địa danh du lịch nổi tiếng nhất Trung quốc thuộc tỉnh Quảng Tây. Tại đây có một bệnh viện nằm ngoại ô thành phố, chuyên điều trị cho những thương binh nặng hay cán bộ trung cấp Việt nam bệnh nặng. Anh chị em bệnh nhân dự định  ngày  Chủ nhật 20-1-1974  sẽ cùng nhau vào thành phố và đi thăm một số nơi đã cưu mang giúp đỡ các thiếu sinh quân Việt nam.

Sáng  đó trời nắng đẹp, nhưng tất cả các hành lang đều có các bác sỹ và y tá án ngữ : Không ai được ra khỏi phòng bệnh. Điều này cũng xảy ra tại Quảng châu, nơi các cán bộ cao cấp đang an dưỡng. Điều lạ lùng này xảy ra giống hệt hai năm trước, năm 1972 khi Tổng thống Nixon đang thăm Bắc kinh. Nhưng hôm đó, không một ai trong số các bệnh nhân đó biết rằng : Trung quốc đã xâm chiếm quần đảo Hoàng sa. Do vậy họ quản chặt bệnh nhân Việt nam vì sợ nổi loạn.

Tôi đã gặp ông N. đại tá ,thương binh thành cổ  Quảng trị và ông C. cựu cán bộ Đài Phát thanh Truyền hình Việt nam kể lại ngày ấy. Hành động của họ mạnh tới mức, bà H., một người xu nịnh Trung quốc bằng cách luôn mang sách đỏ Mao tuyển, nghĩ rằng mình được lòng Bệnh viện xưa nay, cứ xin ra ngoài, nói tiếng Tàu ba xí, ba tú , liền bị hai người mặc quân phục kèm lên Văn phòng Khoa ngồi suốt ngày.

2. Sài gòn      

Hôm sau, phiên họp của Phái đoàn Liên hợp quân sự 4 bên về việc Giám sát thi hành Hiệp định Paris do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, trưởng phái đoàn Việt nam Dân chủ Cộng hòa chủ trì tại Sài gòn. Trong phiên họp này,phía Việt nam Cộng hòa đã đưa văn bản đề nghị chính thức Chính phủ VN Dân Chủ Cọng Hòa cùng với mình ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ-lãnh hải của Việt nam.

Đề nghị này còn lên kế hoạch chi tiết, trong đó yêu cầu quân Bắc Việt nam và quân của Chính Phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam giảm áp lực tại quân đoàn 2 của VNCH. Trong đó đề nghị cụ thể không tiến công quấy rối Đà nẵng, Nha trang và các sân bay ở khu vực này để quân lực VNCH có thể rảnh tay tập trung tái chiếm quần đảo Hoàng sa.

Theo lời kể lại của  ông H., nguyên sỹ quan bảo vệ an ninh cho đoàn, ông Thiếu tướng Lê Quang Hòa đã điện về xin ý kiến Trung ương.

Đích thân ông Lê Đức Thọ phê bình “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Trung quốc, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Sau đó, phía VNCH đề nghị họp bất thường. Lần này,Trung tướng Ngô Du chủ trì phiên họp. Mở đầu, ông ta nói :

-Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định nữa. Trung cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ  tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này.

Cũng như đề nghị bằng văn bản, tướng Ngô Du ngoài sáng kiến giảm bớt áp lực quân sự thuộc quân đoàn 2 ra,ông ta còn đòi phía VNDCCH  gửi công hàm lên án tại Liên hiệp quốc, vận động phe XHCN  cũng như Thế giới lên tiếng phản đối (Trung Quốc).

Phái đoàn Mỹ, người bảo trợ cho tất cả các hoạt động quân sự của VNCH im lặng, không có ý kiến gì.

Ông Lê Quang Hòa cũng tảng lờ, không đáp lại đề nghị này. Ông biết tướng Ngô Du, một thời cũng là cựu đồng ngũ, đã là cán bộ tiểu đoàn thuộc Vệ quốc đoàn, sau đó đảo ngũ và sang phía bên kia , cũng đã một vài lần nói chuyện có vẻ ‘’hòa hợp dân tộc’’. Ông Hòa tưởng tảng lờ đề nghị đó cho qua chuyện,, nhưng ông Ngô Du nổi đóa. Ông chửi tục, nói chúng mày tảng lờ , là tiếp tay cho Trung Cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của ông cha.

Cáu đến đỉnh điểm, ông Ngô Du vớ lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt ông Lê Quang Hòa. Ông Hòa né được, gạt tàn đập vào tường vỡ tung tóe.

Sỹ quan bảo vệ, ông H. lao đến, định chộp cổ ông Ngô Du, nhưng bị mấy người lính cận vệ phía bên kia khóa tay.

Cũng trong mấy ngày đó, đài Sài gòn và BBC liên tục đưa tin về sự kiện Hoàng sa. Những người nghe lén đài địch phát rất rõ đã rỉ tai nhau về việc này tại Hà nội. Nhưng giải thích mơ hồ, ngây ngô  và vắn tắt từ trên đưa xuống tới  các chi bộ  Tiểu khu (cấp phường) là bạn giải phóng giúp, sẽ trả lại sau này làm dư luận bớt xầm xì.

Hơn một năm sau, lúc Hải quân Việt nam (VNDCCH) giải phóng các đảo thuộc phía bên kia, sự ngây thơ trên bị đáp lại phũ phàng bẳng việc trả lời đanh thép của phía Trung quốc trước đề nghị cho nhận lại  quần đảo của Việt nam.

Có ai đồng tình lên án hành động xâm lăng đó ?

Sau biến cố đau thương đó, chỉ có Liên xô là nước duy nhất lên án hành động xâm lược trắng trợn, dã man của Trung quốc với một nước nhỏ phía Nam. Họ cũng đã nếm trải hành động này 15 năm trước đó. Hai hòn đảo thuộc cù lao Damansky trên song Usuri bị chiếm đóng, dân cư bị sát hại /2/. Từ đó, các đảo này bị Trung quốc sáp nhập vào lãnh thổ. Vết nhục này đến nay chưa phai trong lòng người Nga. Cuộc chiến trả đũa lớn  dự kiến đánh vào Lopno và khắp miền  bắc Trung quốc vì sao không xảy ra sẽ được viết trong bài sau.

Cũng như với Damansky, rồi gần đây có bài viết tự nhận Siberia của mình,Trung quốc luôn cố chứng minh, họ đã là chủ Biển Đông từ 2 ngàn năm trước.

Cần tránh lối mòn nhàm, chán    

Rất buồn, nhiều người Việt nam cũng luôn dựa vào sự  chiếm hữu lịch sử  như trên là luận điểm cơ bản mong thuyết phục. Nhưng cả Tàu lẫn Việt không hiểu tâm tính người phương Tây và không quan tâm gì đến những quy ước mới về đất biển. Tôi rất đồng tình với /1/ cho rằng  Công pháp quốc tế mới đòi hỏi phải hội đủ 4 điều kiện sau đây mới được coi là có quyền sở hữu, chấp hữu đảo và lãnh hải : (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch; (2) Sự chấp hữu phải hoà bình; (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn và (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ.

Để giải thích thêm điều này ta hãy quan sát thái độ người châu Âu, nơi mà đường biên giới thay đổi  trong suốt nửa đầu Thế kỷ trước. Lãnh thổ của Hungari thành của Rumani và nước khác. Lãnh thổ Balan thành của Ucraina và Bạch Nga, Lãnh thổ Ý thành một phần của Nam Tư, v.v. Vậy nên, việc sở hữu lịch sử không phải là chứng cứ họ quan tâm nhiều. Điển hình như Israel, nước luôn nêu lãnh thổ lịch sử từ trên 2000 năm trước, được cả Thế giới công nhận, cũng không thể là cớ để xâm lược các nước Ả rập đang chiếm hữu mảnh đất đó được.

Theo tình hình đó,chủ trương của Việt nam cũng như người Việt nói chung phải thay đổi. Thay vì cày xới chứng minh sở hữu lịch sử, chúng ta cần nghiên cứu và công bố trước Thế giới việc chấp hữu công khai, minh bạch, liên tục, hòa bình và  sở hữu chủ. Về điểm này,Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu đúng/3/.

 Như vậy,việc củng cố vị trí của các đảo còn lại chưa bị xâm lược trên quần đảo Trường sa là rất quan trọng. Việc tăng cường phòng ngự không chỉ là việc của chính quyền mà còn là nhiệm vụ của mỗi người dân. Người dân Nga trước kia ăn khoai tây, bán bột mỳ đi lấy tiền cá nhân góp nhau mua tặng Hồng quân máy bay, xe tăng thì người Việt nam cũng có thể có nhiệt tình như thế. Tôi rất xúc động khi thấy thanh niên ở một số Diễn đàn trên Internet không chỉ đến thăm, ủy lạo các gia đình lính đảo mà còn gửi quà, động viên gia đình dân thường sinh sống ở các đảo đó. Hành động nhỏ bé hơn ngàn lần nói suông. Hoàng sa mất rồi, Trường sa cố giữ.

38 năm qua,việc thua trận hải chiến  Hoàng sa 1974 không lúc nào không nhức nhối trong lòng người Việt. Đứng vững tại địa điểm chiến lược, Trung quốc  tung thòng lọng chín khúc thít chặt vào cổ Việt nam và mấy nước nhỏ bé khác.

Phải làm gì đây ?

Tác giả gửi cho Quê choa

(Bài vở gửi đăng QC là chủ kiến riêng của tác giả, không hẳn là chủ kiến của QC)

*nguồn blog của nhà văn  Nguyễn Quang Lập

*Short link của bài này

http://wp.me/po94e-2tW

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | 2 Comments »

►Bí Mật lịch sử Trung-Việt 1990 (1)

Posted by hoangtran204 trên 07/01/2012

Thời kỳ ‘Bắc thuộc mới’

Bùi Tín, viết riêng cho đài VOA

19-7-2011

Đầu năm 1979, tại khu vực biên giới Việt-Trung đã nổ ra một cuộc xung đột khốc liệt được nhà báo Mỹ Nayan Chanda gọi là «cuộc chiến tranh giữa những người anh em thù địch».

Nhưng chỉ 11 năm sau đó, vào tháng 10-1990, một bước ngoặt lớn đã được mở ra, đưa quan hệ Hà Nội-Bắc Kinh chuyển hẳn sang thời kỳ liên minh thân thiết, tiêu biểu bởi «16 chữ vàng» và phương châm «4 tốt».

Cái mốc chuyển từ kẻ thù truyền thống (như được ghi trong Hiến pháp Việt Nam) thành bạn thân thiết là cuộc gặp gỡ bí mật cấp cao Trung – Việt ở Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, vào 2 ngày, 3 và 4 tháng 9 năm 1990, theo sáng kiến của đại mưu sĩ Đặng Tiểu Bình.

Đại diện cho phía Việt Nam tại cuộc gặp gỡ này là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và cố vấn Phạm Văn Đồng, còn phía Trung Quốc là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Có rất ít thông tin chính xác về nội dung thật sự của cuộc gặp này được tiết lộ, nhưng ý đồ đen tối của những người lãnh đạo Bắc Kinh đến phó hội đối với tương lai của đất nước ta đã không che mắt được ai. Đến nỗi ngoại trưởng Việt Nam lúc bấy giờ, ông Nguyễn Cơ Thạch, người bị gạt ra ngoài rìa của cuộc họp lịch sử này, đã phải than thở: «Thế là một cuộc Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu!».(*)

Rất nhiều diễn biến và sự kiện đã chứng minh sự chính xác của nhận xét có tính tiên tri đó của người đứng đầu ngành ngoại giao Hà Nội. Tính đến nay, «cuộc Bắc thuộc mới» đã kéo dài được 22 năm, với biết bao thiệt thòi, tủi nhục cho đất nước và nhân dân ta trên tất cả các lĩnh vực – từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa, từ lãnh thổ, lãnh hải, hải đảo đến tài nguyên và an ninh, chủ quyền. Đây là thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam ta, mà những thành tựu kinh tế, đổi mới, xây dựng, phát triển khá cao vẫn không sao khỏa lấp được.

Đến nay, khi nhóm lãnh đạo ở Bắc Kinh đã khống chế được gần như hoàn toàn những người cầm quyền ở Hà Nội, họ liền trở mặt, gây sự ở vùng Biển Đông của ta, với thái độ trịch thượng kẻ cả dùng sức mạnh áp đảo cùng với những thủ đoạn vừa ăn cướp vừa la làng.

Hiện nay Bộ Chính trị Đảng CS Việt Nam đang bị kẹt cứng giữa 2 gọng kìm, một bên là sự chất vấn đầy phẫn nộ chính đáng và sự phản kháng của nhân dân, một bên là những hành động xâm lược cực kỳ ngang ngược của thế lực bành trướng hung hãn.

Nhóm lãnh đạo Bắc Kinh là những người chưa hề chùn tay trước một thủ đoạn thâm độc nào. Ai có thể độc ác hơn những kẻ dám đem đương kim Chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ ra đấu tố hạ nhục trên đường phố? Ai có thể tàn bạo hơn những kẻ mang đương kim Nguyên soái Bành Đức Hoài ra hỏi tội, bắt đội mũ lừa, bắt liếm bát mỳ sợi trong chảo, hành hạ cho đến khi chết không có một người thân vuốt mắt? Ai có thể bất nhân, phản dân tộc hơn những kẻ vui mừng khi đặt 200 tên lửa, rồi nay là 600 tên lửa đạn đạo chĩa thẳng vào đồng bào ruột thịt của mình ở Đài Loan, dọa dẫm không chút hổ thẹn là sẵn sàng dìm trong biển máu cả 23 triệu dân mà họ từng leo lẻo là anh chị em chí thiết, còn là một nguồn đầu tư lớn cho lục địa.

Và mới đây ai ngang nhiên vu cáo ngược là «Việt Nam chiếm nhiều đảo nhất, tỏ ra hung hăng nhất, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu nhất trong vùng biển Trung Hoa thuộc chủ quyền không thể bàn cãi của Trung Quốc», «bọn Việt Nam giết ngư dân Trung Quốc», «cần dạy cho Việt Nam vô ân bạc nghĩa một bài học lớn hơn trước đây». Vậy mà báo chí chính thức trong nước vẫn im lặng, không cất lên được một tiếng nói dõng dạc nào để bác bỏ những luận điệu vu khống trắng trợn của thế lực bành trướng và bảo vệ thanh danh dân tộc.

Khi Tân Hoa xã đưa tin là «Hai bên đã thỏa thuận không để nước thứ ba ở bên ngoài can thiệp vào vùng biển Trung Hoa», ngụ ý gạt hẳn Hoa Kỳ ra ngoài, báo chí Việt Nam cũng không dám cải chính. Cho nên việc giới trí thức, giới truyền thông lề trái và công luận quốc tế hoài nghi dai dẳng là 2 bên đã đi đêm với nhau là hoàn toàn có cơ sở.

Mong rằng những người lãnh đạo Việt Nam sớm nhìn ra sự thật để chủ động thoát khỏi ách Bắc thuộc cực kỳ nguy hiểm đã kéo dài 22 năm, trước khi quá muộn. Mong rằng họ sớm tỉnh táo nhận ra sai lầm của lập luận cho rằng do vị trí địa lý và cũng vì cùng chung chế độ XHCN, Việt Nam buộc phải gắn bó keo sơn với nước láng giềng Trung Quốc (xem các Nghị quyết Đại Hội đảng từ khóa VII đến khoá XI).

Họ hãy tỏ ra tự tin hơn để thấy rằng nương tựa hoàn toàn vào Bắc Kinh không phải là một kế tồn tại lâu dài, bền vững, an toàn và đáng tin cậy cho chính bản thân họ, và lại càng không phải cho tiền đồ của tổ quốc và dân tộc ta. Họ chớ nên quên rằng, theo đánh giá của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc hung hăng nhưng không mạnh, kỹ thuật quân sự lạc hậu đến 20 năm so với Hoa Kỳ, chính trị cực yếu do chà đạp nhân quyền, kinh tế tài chính tuy có dự trữ ngoại tệ lớn nhưng rất bấp bênh, có nguy cơ đổ vỡ, dựa vào họ như dựa vào cột mục.

Gắn bó với thế giới dân chủ rộng lớn, hùng mạnh, văn minh, với các nước châu Á khác ở quanh ta như Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, với các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, và giữ quan hệ bình đẳng với Trung Quốc là đường lối đối ngoại sáng suốt duy nhất hiện nay.

Điều quan trọng nhất là những người lãnh đạo Việt Nam có đủ sáng suốt để nhìn ra bản chất độc ác của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán hay không.

(*) Ông Thạch lập tức bị gạt ra khỏi cương vị phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng, và mất luôn chiếc ghế ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

.

.

Cuộc gặp Thành Đô giữa lãnh đạo Trung-Việt (3-9-1990).
Hàng trước từ trái sang: Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư.(1), Phạm Văn Đồng,
cố vấn BCHTƯ (3), Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư (4), Giang Trạch Dân (5), Lý Bằng (6), Đỗ Mười (7), Hồng Hà (9)
.

http://www.trinhanmedia.com/2012/09/oc-lai-ho-so-ban-nuoc-hoi-nghi-thanh-o.html

 

——————-

 

Bối cảnh dẫn đến cuộc Họp Mặt ở  Thành Đô  (Bắc Kinh) 1990 – Vì sao đảng và nhà nước ngoan ngoãn thần phục Bắc Kinh

Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988?
.
Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ cái thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”. Từ đó, Việt Cộng bắt đầu xáp lại và đi theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được.
.
Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh giễu võ giương oai của “Cộng Hoà Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức.
.
Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy”. Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!“Trước tình hình ấy”, Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản ViệtNam “nổi lên một ý kiến… phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. .Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức.
.
Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tàu.
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế (1980-1986 và hoàn toàn cắt đứt viện trợ cuối năm 1986), mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xoá bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”.
.
Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hoà trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, và tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc đểbảo vệ chủ nghĩa xã hội”; vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội!”. Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau:“Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội… Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc… Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin…”. Lúc đó Nguyễn Văn Linh là người lãnh đạo cao nhất nước mà tự hạ mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!

Hội nghị thành đô năm 1990.

Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể:
Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc…” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công.

Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ: “Mỹ muốn cơ hội này xoá bỏ cộng sản. Nó đang xoá ở Ðông Âu… Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc”.

Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”

Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết:

“Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là ‘người tốt, sáng suốt, có tài’; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh…”.

Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Mặc dù không ai biết chủ nghĩa đó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an trị và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!

Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể: “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hoà Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: ‘Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa…’”

Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam”. Trần Quang Cơ thuật lại: “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị… ‘Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội…’” mà giới lãnh đạo cao cấp của ViệtNam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!

Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tàu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam,Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!

Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?

Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.

Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến lên chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?

Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.

Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!

Nguồn: on the net

 

Bài Liên Quan:

►Hội Nghị Thành Đô ngày 3 và 4-9-1990- Những sự thật cần phải biết (Phần 27)

 Bối cảnh dẫn tới hội nghị Thành Đô 1990

 

Hồi ký Trần Quang Cơ — Diễn Đàn Forum

 

 

 

 

—————-

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Lịch Sử | 13 Comments »