Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hội nghị Thành Đô 3-9-1990’ Category

►Tạp chí Đối Ngoại của Mỹ: Đám côn đồ gớm ghiếc cầm quyền ở Việt Nam không thực nghiệm dân chủ đâu

Posted by hoangtran204 on 02/02/2016

Tạp chí Foreign Affairs, số tháng 1 và 2 năm 2016, đã có bài viết với tựa đề rất nặng nề và coi khinh đảng CSVN đang cầm quyền ở VN. Đây tạp chí xuất bản 6 số một năm, rất có uy tín và các chính trị gia toàn thế giới đều đọc; các thư viện, các học viện chính trị và kinh tế toàn cầu đều mua tạp chí này. Tác giả là nhà báo chuyên điều tra, và đang day tại  đại học tại NY. Ông chuyên về chính trị tại VN trong hơn mấy chục năm qua, đã xuất bản hai cuốn sách về VN, bài báo này cho thấy ông rất hiểu biết lịch sử và cách cầm quyền của đảng CSVN và nắm vững các biến cố xã hội, văn hóa, các phong trào nhân quyền, hoạt động của các blogger tại VN. Các bạn vào google.com và viết chữ Thomas A. Bass, Foreign Policy, và nhấn vào search để đọc nguyên bản tiếng Anh bài báo này.   

Đám côn đồ gớm ghiếc cầm quyền ở Việt Nam không thực nghiệm dân chủ đâu

Trà Mi dịch (Trần Hoàng có sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Trà Mi)

January 24, 2016 by Editor 

DCV Online

* Nó có thể trông giống như một vùng đất còn hoang sơ của tư bản, nhưng thực chất Việt Nam là một nhà nước công an trị.

Việt Nam là một mô hình lưỡng tính. Nheo mắt bên phải thì đó là một một xã hội đầy khát vọng tương lai. Nheo mắt bên trái, người ta lại thấy một tên cai ngục lạc hậu bỏ tù bất cứ ai từ chối theo đảng. (Để mời gọi du khách đến du lịch và các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam) Nhóm vận động của chính phủ tập trung vào những bãi biển đáng yêu, thực phẩm, và sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến du lịch. Ký giả vì nhân quyền lại quan tâm vào những sự đàn áp của chính quyền.

Đúng, Việt Nam mở cửa đón Phương Tây và đang phát triển nhanh chóng. Và –dù có tất cả những nét quyến rũ xinh tươi đó– Việt Nam là một nền văn hóa đổ nát. Kiểm duyệt đã bịt miệng hoặc lưu đầy những nhà văn hay nhất. Những tiểu thuyết gia và nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam không còn viết nữa, trừ một số đang công bố các tác phẩm của họ bằng cách xuất bản lậu sách bị cấm. Báo chí là một xí nghiệp tham nhũng do chính phủ kiểm soát. Những nhà xuất bản cũng thế. Lịch sử là một môn quá nguy hiểm để nghiên cứu. Tự do tôn giáo, tư tưởng, và ngôn luận – đã bị Bộ trưởng Thông Tin và Truyền Thông ngăn chặn tất cả.

 

Từ ngày 20 đến 28 tháng 1, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang tổ chức kỳ họp mỗi năm năm lần thứ 12 của nó được gọi là Đại hội toàn quốc. Khoảng 1.500 đảng viên sẽ tập trung tại Hà Nội để thông qua kế hoạch kinh tế năm năm và phê duyệt một liên danh ứng cử viên vào Ban Chấp hành Trung ương, 16 thành viên Bộ Chính trị, và Tổng Bí thư của đảng. Tham nhũng từ trên xuống dưới, cồng kềnh vì sự bảo trợ và dành đặc lợi cho đám thủ hạ, ĐCSVN bẻ quặt tay chính phủ, quân đội, phương tiện truyền thông của Việt Nam, và 93 triệu người Việt Nam. Người tị nạn và tác giả Nga Vladimir Nabokov nói,

“Chủ nghĩa Mác-xít cần một nhà độc tài, và một nhà độc tài cần đám công an chìm, và đó là ngày tận thế.”

Quan sát viên quốc tế theo dõi đại hội Đảng CSVN đang tìm các dấu hiệu xem phe này hay nhóm khác đang lộ diện. Trong vài tuần tới, người ta sẽ đọc những bài viết về phe có cảm tình với Phương Tây chế ngự phe theo Trung Quốc, hoặc ngược lại. Tự quá chú ý đến những khác biệt nhỏ làm người ta lệch nhãn quan. Khoảng 4,5 triệu đảng viên ĐCSVN đều muốn có phần của họ. Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về các cuộc họp kín bầu lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam,

 “Nó giống như xem bọn họ đấu đá dưới tấm thảm.

Đúng, ĐCSVN đã phát triển kể từ khi thống nhất đất nước sau chiến tranh Việt Nam từ năm 1975. Đối đầu với nạn đói ở nông thôn, Đại hội Đảng lần thứ sáu, năm 1986, đã từ bỏ nền kinh tế chỉ huy theo kiểu Liên Xô để chọn đi theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. ĐCSVN cho phép thị trường tự do phát triển mạnh ở dưới đáy xã hội và khuyến khích “tư bản đỏ” trổi lên ở khúc giữa, trong khi họ giành lấy phía trên cùng của xã hội: những ngành công nghiệp đóng tàu, ngân hàng, khai thác mỏ, và các doanh nghiệp nhà nước khác. 

Cùng với những cải cách kinh tế, đã có một giai đoạn ngắn có cải cách văn hóa. Mạng lưới theo dõi của nhà nước đã được tạm cất đi trong một khoảng thời gian đủ lâu để cho bốn tác giả lớn sau chiến tranh xuất bản những tác phẩm nổi tiếng nhất của họ: nhà văn viết truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (“Tướng về hưu”), tiểu thuyết gia Bảo Ninh (“Nỗi buồn chiến tranh”), Dương Thu Hương (“Tiểu thuyết vô đề”), và Phạm Thị Hoài (Thiên sứ”). Nhưng mạng lưới xám đó đã được đưa vào lại vị trí cũ trong năm 1991, khi công an văn hóa ập vào khám xét nhà Nguyễn Huy Thiệp và phá hủy những bản thảo của ông. Kể từ đó, Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh đã sống đời lưu đầy ngay trong nước, xuất bản những câu chuyện đã bị kiểm duyệt do nhóm bồi bút viết lại. Dương Thu Hương, sau tám tháng tù giam năm 1991,  hiện đang sống ở Paris, và Phạm Thị Hoài đang sống lưu vong ở Berlin.

Những điều chỉnh khác của ĐCSVN xảy ra sau khi đã khôi phục quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ vào năm 1995 và sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Sau 2007 vòi nước của đầu tư nước ngoài đã mở, nhưng cũng đã nhanh chóng bốc hơi ngay năm sau đó vì cuộc Đại Khủng hoảng (tài chánh 2008). Làm như không biết chuyện gì đang xẩy ra, ĐCSVN tiếp tục bơm tiền vào các doanh nghiệp nhà nước. Điều này khiến lạm phát tăng vọt lên tới 60 %/năm, bong bóng địa ốc đã vỡ một cách nhanh chóng, và sự phá sản của các doanh nghiệp nhà nước khác, gồm cả hãng đóng tàu quốc doanh, công ty Vinashin, mắc nợ lên đến 4,5 tỷ USD.

Xì căng đan này gần như đủ lớn để lật đổ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dũng đã được tay chân trong Bộ Chính trị cứu thoát và bắt đầu vận động dành ghế Tổng Bí thư ĐCSVN, nhưng dường như Dũng đã thất bại. Trong thực tế, Việt Nam vào lúc này dường như được trải qua một cuộc đảo chính chiếu chậm trong đó Nguyễn Phú Trọng, 71 tuổi, người đang đứng đầu ĐCSVN –dù đã quá tuổi về hưu– đang chạy đua để duy trì quyền lực, ít nhất là thêm một vài năm nữa.

Bên cạnh ĐCSVN, hằng số khác ở Việt Nam là ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong năm 2008, Tổng công ty Nhôm giàu xụ của Trung Quốc mua quyền khai thác mỏ bauxite của Việt Nam ở Tây Nguyên. Năm sau, Bắc Kinh cho hồi sinh chủ nghĩa bá quyền trên hầu hết vùng biển Đông. Đến năm 2014, Bắc Kinh đã đưa một giàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển ngoài khơi Việt Nam và xây dựng phi đạo cho phản lực cơ trên các đảo nhân tạo được tạo ra quanh vùng đá san hô. (Hà Nội vừa cáo buộc Bắc Kinh đã đưa giàn khoan dầu trở lại vào vùng biển Việt Nam vài ngày trước khi bắt đầu Đại hội XII.) Lực lượng công an không còn có thể kiềm chế được phong trào chống Trung Quốc đã bùng phát. Hồi tháng 5, 2014, hàng trăm nhà máy được cho là của Trung Quốc đều bị cướp hoặc bị đốt, và 21 người đã chết. Và chẳng có gì ngạc nhiên phe thân Trung Quốc ở Việt Nam đã phải đi núp.

Tuy nhiên, phong trào chống Trung Quốc chưa làm ảnh hưởng của Trung Quốc giảm đi ở Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục xây dựng đảo ở Trường Sa, Biển Đông, khai thác mỏ ở cao nguyên, và làm bất cứ điều gì khác cần thiết để giữ chú em Việt Nam nằm yên trong quỹ đạo của đại ca Trung Quốc. Vì vậy, liên minh này chặt chẽ đến nỗi một số lượng lớn đáng ngạc nhiên người Việt – luôn dẫn chứng bằng cái gọi là Hiệp định Thành Đô – để cho rằng đất nước của họ đã thực sự thuộc về Trung Quốc (Ở một cuộc họp bí mật năm 1990 tại Thành Đô, Trung Quốc, ĐCSVN đã đổi dầu khí ngoài biển, mỏ bauxite, và những khoáng sản khác của đất nước lấy món tiền hối lộ khổng lồ của Trung Quốc, v.v. và cứ thế người ta tin và tiếp tục phổ biến đi.)

Hà Nội giỏi hơn trong việc nhào nặn mối quan hệ với Hoa Kỳ hơn là uốn nắn mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ ở phía bắc. ĐCSVN sẽ có khả năng sẽ thi hành thỏa thuận Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại mà 12 nước đã ký tắt hồi tháng Mười, 2015. TPP là thiết kế của Washington dùng làm một bức tường thương mại xanh để ngăn chặn làn sóng đỏ của Trung Quốc, hiệp định này đem một vận may bất ngờ đến cho Việt Nam. Thỏa thuận này có một số quy định khó chịu về quyền lao động, nhưng Hà Nội có thể sẽ ngoảnh mặt làm ngơ – như các giao thức quốc tế khác mà họ đã ký kết và coi không ra gì. Việt Nam đứng gần cuối bảng ở tất cả những chỉ số về quyền con người. Việt Nam có số tù nhân chính trị bình quân đầu người cao nhất trong bất kỳ quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á, nhưng họ vẫn nghênh ngang như một con công ngồi vào ghế ở Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Ai sẽ quan tâm đến một vài người tổ chức nghiệp  đoàn độc lập (với công đoàn của nhà nước)  đang bị cầm tù cùng với khoảng 300 tù nhân chính trị khác của Việt Nam?

Sau khi thực hiện TPP, Việt Nam sẽ muốn Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu hủy bỏ vị trí một nền kinh tế “phi thị trường” của mình. (Một “nền kinh tế thị trường” được bảo vệ tốt hơn để chống lại các vụ kiện chống bán phá giá). Đây là một vấn đề lớn đối với Việt Nam, hy vọng rằng TPP sẽ mở ra thị trường Mỹ cho các sản phẩm của Việt Nam, trong đó có một sản phẩm mà hai nước đã tranh tụng trong vài năm qua – cá ba sa. Hồi tháng Bẩy, 2015, để bôi trơn cho hiệp định thương mại thông qua, Tổng thống Barack Obama đã mời Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tới Nhà Trắng và sau này được gọi là một “cuộc họp lịch sử”. Và tại sao chuyến thăm đầu tiên tới Nhà Trắng của người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lại là “lịch sử”? Bởi vì [cuộc viếng thăm này được đảng csvn hiểu như thế là] “Tòa Bạch Ốc đã thừa nhận cấu trúc chính trị và sự lãnh đạo của đảng CS tại Việt Nam” – do đó đã hợp pháp hóa, theo Nguyễn Phú Trọng, sự cầm quyền của Đảng CSVN!

Nhưng hãy coi lại, sự cầm quyền này giống như: Ban tuyên giáo trung ương có vòi xuyên qua Bộ Thông tin và Truyền thông, tới “cục an ninh” Phòng PA 25 – và từ đó vào mỗi tổ của ĐCSVN điều khiển tất cả các phương tiện truyền thông ở Việt Nam. Ở vị trí đứng đầu ban kiểm duyệt của Việt Nam, Trọng chịu trách nhiệm điều hành cái mà tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF), trong một báo cáo tháng 9 năm 2013, gọi là một “nhà nước xã hội đen”, có đầy đủ những “làn sóng bắt bớ, xử án, các cuộc tấn công đánh đập và sách nhiễu.” Theo một bản tin tháng 7 năm 2015 của RSF, “Chỉ riêng năm 2012,” tay sai của tư pháp của Trọng “truy tố không ít hơn 48 blogger và những người bảo vệ nhân quyền, kết án họ tổng cộng 166 năm tù giam và 63 năm quản chế.”

Nhóm vận động chính trị cho nhà nước VN nói, chuyện như thế này là gieo hoang mang. Thật vậy, nó có vẻ lỗi thời, giống như một cái gì đó thuộc thời của những năm 1950. Nhưng những tin tức từ Việt Nam thực sự đáng báo động. Đáng báo động đối với Việt Nam, một quốc gia phải đối phó với một đống văn hóa đổ nát, và nó cũng đáng báo động cho tất cả chúng ta, những người cũng đang phải đương đầu với những áp lực của kiểm duyệt, sự gia tăng của các giám sát quần chúng, và sự thống trị của các lợi ích thương mại để loại trừ tất cả các giá trị khác trong xã hội của chúng ta. Từ quan điểm này, Việt Nam không phải là một hình ảnh của thời gian của quá khứ, nhưng là một cửa sổ nhìn về tương lai của chúng ta. Có thể nào khung sườn quái đản này trở thành sự bình thường mới hay chăng?

Một điều chúng ta biết về đại hội đảng lần thứ 12 của đảng Cộng sản Việt Nam là nó sẽ không chấm dứt sự thô bạo của công an. Hồi đầu tháng 12, công an mặc thường phục đã hành hung đánh đập nhà vận động nhân quyền, Luật sư Nguyễn Văn Đài bằng một thanh sắt. Mười ngày sau đó, Ls. Đài bị bắt trên đường đi gặp đoàn đại biểu Liên minh châu Âu đang đến thăm Hà Nội trong cuộc đối thoại nhân quyền Âu Châu (EU)–Việt Nam lần thứ năm. Blogger nổi tiếng nhất là nhà báo Nguyễn Hữu Vinh (aka Anh Ba Sam) hiện đang ở trong tù, với tội danh “lợi dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước.” Phiên tòa xử Vinh, trước đây dự định sẽ khai mạc vào ngày 20 tháng 1 – cùng ngày với Đại hội XII – nên đã bị đình hoãn lại vô thời hạn.

Một nền văn hóa đổ nát trong một nhà nước công an hành hung đánh đập những người ủng hộ dân chủ bằng những thanh sắt, Việt Nam vẫn thoát được tiếng xấu trên trường quốc tế vì nhiều người muốn kinh doanh với người dân tháo vát ở đất nước này, hay tận hưởng những thú vui ở Việt Nam. Không có vấn đề gì hết, Việt Nam sẽ tiếp tục đón khách du lịch và mặc cả về tài chính toàn cầu và chủ nghĩa tư bản xuyên quốc gia. Nhưng nếu bạn muốn đến dự tiệc này, bạn hãy quên đi. (Vì những buổi tiệc này) Chỉ dành riêng cho đảng viên.

© 2016 DCVOnline

Nguồn: Thomas A. Bass, The Ugly Thugs Running Vietnam Aren’t Experimenting With Democracy . Foreign Policy, January 22, 2016.

(Trần Hoàng đã sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Trà Mi)

———-

Vi Anh, VB
28-1-2016
Cuộc bầu cử Tổng bí Thư đảng CSVN trong đại hội 12 này là một phép thử xem Đảng CSVN gọi tắt là Việt Cộng trở thành Đảng CS Trung Quốc hay gọi tắt là Trung Cộng hay Tàu Cộng hay chưa. Đã có kết quả VC thành TC rồi.

Phe giáo điều, bảo thủ, thân thiết, thần phục TC do Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng cầm đầu đã thắng trong cuộc bầu cử độc diễn, y bám lại được chức tổng bí thư với khẩu hiệu “Con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử” và với mưu ma chước quỉ truất quyền ưng cử của đối thủ là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, để độc diễn. Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người cầm đầu phe đổi mới kinh tế, phục hồi vai trò chính thông của Nhà Nước, muốn xích lại gần với Tây Phương, nhứt là để cứu biển đảo bị TC xâm lấn. Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người đã từng dưa ra khẩu hiệu “Việt Nam nhất định không chấp nhận đánh đổi độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” đươc dân chúng VN ủng hộ, nhưng bi thua trong dại hội Đảng.Trừ ra có cuộc đảo chánh từ phía quân đội hay cách mạng từ phí nhân dân VN lật đổ chế dộ CS dộc tài đảng tri toàn diện, chớ ít nhứt trong 2 năm rưởi nữa nhiệm kỳ mà Tổng Trong hứa ở lại để  thừa kế và doàn kết đang hay một nhiệm kỳ 5 năm y cố lì ở lại, tinh thần, tác phong, thái độ và hành động thần phục TC của VC có tăng chớ khó có giảm. Tức là VC trở thành TC nhiều hơn chớ không bớt. Nói cách khác tương quan giữa Hà Nội và Washington sẽ lỏng lẻo hơn, con đường phát triễn dối tác chiến lược của VNCS vói Hoa kỷ sẽ trắc trở hơn vì phải qua Bắc Kinh chơ không suông thẳng qua Mỹ như thời kỳ trước đại hội đảng lần thư 12.

Qua đại hội Đảng CSVN lần thứ 12, khi mà Nhà Nước CSVN còn gần gũi với Mỹ, TC còn coi thường Đảng CSVN không tưởng tượng nổi, như gia nô của họ vậy. Ngay trong thời kỳ Đảng CSVN, đảng cầm quyền, chuẩn bị bầu bán người cầm cán đảng nhà nước, TC còn khinh thường nhiệm vụ tối cao của đảng cầm quyền một nước là vệ chủ quyền quốc thế mà TC chẳng coi Đảng CSVN không ra gì cả.

Nào TC cho máy bay bay xuống đảo của VN, qua vùng biển VN, xâm phạm vùng báo bay FIR Saigon do quốc tế uỷ nhiêm kiểm soát không lưu của VN. Nào TC đưa giàn khoan 981 ngoài khơi Vinh Bắc Bộ, vào vùng chồng lấn giữa Việt Nam – Trung Quốc, cách đường tuyến giả định 28 hải lý. TC bắn rượt tàu cá của ngư dân VN.

TC làm thế dể áp lực phe có lập trường cứng rắn với TC và để vô nước cho gà nhà, ủng hộ phe VC thần phục TC.

TC áp lực phe TT Nguyễn tấn Dũng được lòng dân, được các siêu cường Tây Phuong nhứt là Mỹ có thiện cảm, là người đi đầu trong việc tham gia hiệp ước Thương Thế giới WTO và hiệp ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP rõ ràng là thân Hoa Kỳ, thân phương Tây hơn ông Trọng.

Trong thời gian xẩy ra va chạm với TC hồi năm 2014, khi giàn khoan dầu của Trung Quốc được kéo vào và đặt tại vùng biển mà Việt Nam khẳng định thuộc chủ quyền của mình, ông Dũng là vị lãnh đạo nói thẳng vấn đề này ra, ông có lập trường cứng rắn phù hợp với những người dân đã xuống đường biểu tình phản đối chống Trung Quốc.

Ông Dũng cầm đầu chánh phú, khét tiếng tham nhũng, nhưng đã thành công trong việc liên minh với một số nước trong vùng Á châu Thái binh dương như Nhựt, Phi, Mã, Mỷ, Úc để hoá giải bớt đà xâm lấn của TC. Ông Dũng nhỏ tuổi hơn Tổng Trọng nhưng bị Trọng loại vì tuổi tác.

Còn Tổng Trọng 71 tuổi già nua, bảo thủ, giáo điều, thần phục TC lại dùng xảo thuật lấy thế phe củ ra đi đề cử phe mới và hạn ngạch tuổi tác để không cho TT Dũng ra ứng cử. Nhờ dòn tráo bài ba lá đó Ông Trọng Tổng bí Thư duy nhứt được miển trừ tuổi để độc diễn bám chức Tổng bí Thư.

Trong tình hình mưu ma chước quỉ bầu cử của Đại Hội 12 do Tông Trọng bày ra, 1 lá phiếu triệt đường ứng cử của TT Dũng, lót đương cho Tổng Trọng tiếp tục làm Tổng Bí Thư Đảng CSVN, là biến Đảng CSVN thành Đảng Tàu Cộng gốc Việt và biến đảng viên CSVN thành đảng viên TC gốc Việt.

Bỏ thăm cho Trọng thân Tàu Cộng trong khi Tàu Cộng dùng nào tàu, nào máy bay, nào giàn khoan áp lực VN, dương oai diệu võ với đại hội Đảng CSVN, là tiếp tay cho cho áp lực của TC, là hoan nghinh sự  chi viện của Tàu Công cho nhưng gia nô, những tên Tàu Công gốc Việt nối giáo cho Tàu Công hán hoá, thôn tính đảng CSVN- không hơn không kém.

Bỏ thăm cho Trọng là đấp mô con đường phát triễn kinh tế mà Nhà Nước đã ký với các nước qua Tổ chức WTO, TPP và con đường phát triễn dối tác chiến lược với Mỹ, Ấn, Úc, Nhựt, Phi, Mã trong việc ngăn chận đà TC xâm lăng biển dảo của VN.

Đó là hành động cổng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ khi mà kinh tế VNCS quá lệ thuộc TC, chánh trị VNCS qua cuộc bầu cử này cho thấy quá lệ thuộc Tàu Cộng.

Trong suốt cả hai ba chục năm nay, càng ngày TC càng kiếm chuyện đánh chiếm, lấn chiếm biên giới, đất liền, biền đảo của VN, mà đại hội Đảng 12 để Tổng Trọng một người CSVN bảo thủ, giáo điều lại phò Tàu Cộng, tự tung tư tác, dùng xảo thuật cũ rích của CS là bô chánh trị cử ai cũng phải bầu như kiểu gạc dân Đảng cử Dân bầu trong xã hội VN thì Đảng CSVN đã hoàn toàn mất tính đấu tranh, mất tinh thần độc lập, tụ chủ Việt Nam rồi. Làm thế Đảng CSVN đã phản bội bao xương máu của những đảng viên CS bỏ mình trong hai thời ký kháng chiến mà Đảng kêu gọi là chống Pháp và chông Mỹ giành độc lập cho đất nước.

Một số đảng viên CSVN còn một phần lương tâm và tinh thần VN sẽ hoặc là  bằng mặt không bằng lòng” hoặc tim cách chống ngầm hay chánh thức chống phe thân TC. Đảng CSVN sẽ nứt bể.

Hành động của Nguyễn phú Trong và phe nhóm làm cho người dân Việt thấy Đảng CSVN chỉ hành động vì quyền lợi của Đảng CS do một vài kẻ giỏi gian ác nắm trong tay mà thôi.

Đại hội lần thứ 12 của Đảng CSVN là một băng cớ cho thấy rõ Việt Công thành Tàu Cộng. Nó mở đưòng cho TC hán hoá VN, biến Tổng bí Thư CSVN thành thái thú cho TC, mà TC không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. Làm cho người dân Việt ở Bắc, ơ Nam, ở Trung và ở hải ngoai thấy rõ nhân dân VN có hai kẻ thù: TC là ngoại xâm; VC là nội thù.

Dân tộc VN dưới thời CSVN hoàn toàn bị tước quyền bầu cử. Cả Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng đều là các lựa chọn ngoài ý toàn dân.

Dũng làm cho ngân sách VN thâm thủng 7% trong năm 2015, vì nợ ngập đầu (theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn ngày Thứ Hai, 25/1/2016, bản tin “VEPR: Thâm hụt ngân sách có thể tới 7% GDP”…

Chính Dũng là kẻ làm cho VN mang nợ quốc tế ngập đầu, tới nổi Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, lo ngại VN cạn tiền phát triển.

Chính Dũng đã gài kinh tế VN lệ thuộc vào TQ: bản tin Vietnamnet/Tiếp Thị Thế Giới ngày 10/01/2016 cho biết:

“Những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã bị lệ thuộc ngày càng nhiều hơn vào kinh tế Trung Quốc (TQ), thể hiện rõ nhất ở chỗ hơn 90% tổng thầu các công trình lớn rơi vào tay nhà thầu TQ, mức nhập siêu từ TQ liên tục tăng cao và ngày càng nặng nề.”

Lựa chọn Dũng hay Trọng đều nằm ngoài ý của dân tộc VN.

Có gì bi thảm hơn chăng?

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Chinh Tri Xa Hoi, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Mỗi năm, người Việt chi 63000 tỷ đồng uống bia, và chỉ bỏ 2000 tỷ mua sách đọc

Posted by hoangtran204 on 25/12/2015

Bởi vậy, hôm 19-5-2015, trong diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1)

Người Việt chi tiền mua sách không bằng số lẻ tiền uống bia mỗi năm

23-12-2015

Không ngần ngại móc hầu bao chi 63 nghìn tỷ đồng uống rượu bia mỗi năm, nhưng người Việt Nam lại chỉ dám bỏ 2 nghìn tỷ đồng mua sách đọc.

 

Báo cáo tổng kết năm 2015 và chương trình công tác trọng tâm năm 2016 của Cục Xuất bản, in và phát hành (Bộ Thông tin – truyền thông) cho hay, tính đến thời điểm này, toàn Ngành đã xuất bản được hơn 24.000 cuốn sách với hơn 270 triệu bản; xuất bản 375 loại văn hóa phẩm với hơn 22 triệu bản.

Theo đó, tổng doanh thu của toàn ngành ước đạt hơn 2 nghìn tỷ đồng.

Về tình hình xuất nhập khẩu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu xuất bản phẩm năm 2015 đạt khoảng 23 triệu USD, trong đó nhập khẩu là 18,9 triệu USD, xuất khẩu là 4,1 triệu USD. Như vậy ngành xuất bản Việt Nam vẫn nhập siêu gần 15 triệu USD.

Trong khi đó, theo số liệu mới nhất từ Bộ Công Thương, tháng 11 năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 298,8 triệu lít, tăng 8,7% so với cùng kỳ. Cộng dồn 11 tháng năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 3 tỷ lít, tăng 6,8% so với cùng kỳ.

Theo các chuyên gia trong ngành, với hơn 3 tỷ lít bia tiêu thụ hàng năm, tương đương với chi 3 tỷ USD ( xấp xỉ 63 nghìn tỷ đồng), Việt Nam trở thành quốc gia tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á, đứng thứ ba châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc.

Như vậy, khoản tiền mà người Việt chi cho đọc sách (2.000 tỷ đồng) chỉ bằng 1/31 tiền phục vụ nhậu nhẹt, rượu bia (63 nghìn tỷ đồng).

Sở dĩ người Việt còn đọc sách ít, theo nhiều chuyên gia có lẽ là do giá sách hiện nay còn cao so với mức thu nhập của số đông người dân, chất lượng chưa tốt, với cộng số sách ít ỏi được phân bổ tại các thư viện (bình quân chỉ đạt 0,35 bản/người).

Mà cốt lõi nhất chính là ý thức đọc sách để tích lũy tri thức của số đông người dân vẫn còn hạn chế.

Ý thức đọc sách hạn chế, nhưng văn hóa uống bia của người Việt Nam lại tăng phi mã.

Và khoảng cách giữa 2 nghìn tỷ đồng với 63 nghìn tỷ đồng có thể được kéo dài ra khi mà các nhà đầu tư vào ngành bia đang kỳ vọng người Việt Nam dùng bia sẽ tăng lên 60 đến 70 lít bia/người/năm.

Tô Mạn, theo Trí Thức Trẻ

———

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

Nguyễn Văn Tuấn

9-6-2015

Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân. Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp. Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79). VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất? Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

===

(1) http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov

(2) http://dantri.com.vn/blog/cuoi-len-dau-nhan-dan-con-kinh-khung-hon-dia-chu-tu-san-1078048.htm

Like

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Đảng CSVN có DÁM tuyên bố đặt quyền lợi dân tộc, lợi ích đất nước lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản hay không?

Posted by hoangtran204 on 15/12/2015

Không. Đảng CSVN luôn luôn đặt quyền lợi của đảng cao hơn quyền lợi của đất nước và trên cả cha mẹ của họ, dựa theo lịch sử hình thành của đảng kể từ lúc ra đời 1932 đến nay.  Họ muốn nắm quyền cai trị đất nước nên dẫu cho đất nước và toàn dân có nghèo đói đến đâu họ cũng không quan tâm, miễn là họ giữ được lập trường của đảng cs. Gần đây, họ mới lập lại nội dung trên qua lời phát biểu “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất SAU Cương lĩnh của Đảng. TBT Nguyễn Phú Trọng

 

ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

Blog Tễu

Nguyễn Đăng Quang

15-12-2015

Đảng CSVN hiện có 3,6 triệu đảng viên, chiếm khoảng gần 4% dân số Việt Nam. Trong số này có 200 đảng viên cao cấp chia nhau nắm giữ toàn bộ các vị trí lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương xuống tận 63 tỉnh thành trong cả 3 nhánh quyền lực quốc gia: Hành pháp, Lập pháp Hành pháp và Tư pháp, cũng như toàn bộ các tổ chức đoàn thể, ban ngành (hay còn gọi là hệ thống chính trị) của toàn xã hội.  Thủ lĩnh Đảng – người có trọng trách cao nhất – hiện là ông Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư, là nhân vật mà 92 triệu người dân Việt Nam không ai được cầm lá phiếu bầu lên nhưng ông vẫn nghiễm nhiên là lãnh tụ tối cao của cả nước, nắm trọn quyền lực trong tay và toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia.

Ông Trọng cũng như các bậc tiền nhiệm của ông chưa hề một lần tuyên thệ trước Quốc hội, chưa bao giờ thề trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Trong Đại hội ĐCSVN lần XII tới đây, nếu như ông Trọng hoặc bất cứ ai khác được chọn làm Tổng Bí thư thì mặc nhiên cũng không phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp.

Chức vụ Tổng Bí thư ĐCSVN được đặc cách không phải tuyên thệ trung thành với bất cứ ai do bởi Điều lệ Đảng và Hiến pháp mà Đảng soạn thảo không có điều nào quy định Tổng Bí thư và các Ủy viên Bộ Chính trị phải làm như vậy.

Nếu đất nước và dân tộc Việt Nam được lãnh đạo bởi những  người thực sự vì dân vì nước, luôn đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của họ và của tổ chức chính trị mà họ đại diện thì thật là may mắn và hạnh phúc cho dân tộc và đất nước. Song thực tế lại không phải như vậy. Cương lĩnh cũng như Điều lệ hiện hành của ĐCSVN không có điều nào quy định Đảng phải coi và đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên tối thượng, cao hơn lợi ích của Đảng. Chính TBT Nguyễn Phú Trọng đã xác quyết điều này cách đây không lâu khi Quốc hội thảo luận thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013.  Ông thẳng thắn tuyên bố: “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.

Đó là về văn bản và lời nói. Còn về những việc làm và hành động cụ thể thì sao? Chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực mà bạn đọc dễ phán xét và kiểm chứng, đó là về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Đã có rất nhiều đảng viên và nhân sĩ, trí thức tâm huyết trong những năm qua đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu Lãnh đạo Đảng công bố các thỏa thuận mà Đảng đã ký với Trung Quốc ở Hội nghị Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc) ngày  4/9/1990.  Nhưng cho đến nay đã trên 25 năm rồi mà Đảng vẫn giữ “quyền im lặng”, vẫn bí mật và lặng lẽ thực hiện những gì Đảng đã ký với Trung Quốc, không công bố và chẳng cần giải thích cho nhân dân và 3,6 triệu đảng viên biết, mặc cho bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc tung tin hỏa mù, “nửa đúng, nửa sai, thật giả lẫn lộn” với ý đồ lường gạt, phân hóa và gây chia rẽ nội bộ để họ dễ bề thao túng lãnh đạo nước ta.

Nếu sự thực thỏa thuận Thành Đô không có điều khoản nào bất lợi cho dân tộc và đất nước Việt Nam thì Đảng nên công bố cho toàn Đảng, toàn dân biết để nhân dân yên tâm, và sát cánh với Đảng đối phó với nguy cơ “Bắc thuộc mới” không chỉ đang thập thò, lấp ló ở ngoài biên cương, biển đảo mà đã hiển hiện ở sâu trong đất liền và ở cao trong nội bộ chúng ta.

Xâu chuỗi một vài sự kiện sau Hội nghị Thành Đô liên quan đến cuộc  xâm lược nước của 60 vạn quân Trung Quốc ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc hồi tháng 2/1979,  ta thấy hình như có một thế lực nào đó ở cả 2 nước muốn nhân dân ta quên hẳn cuộc chiến tranh này.  Người dân và đặc biệt là các Cựu Chiến Binh trong cuộc Chiến tranh 1979 luôn tự hỏi:

– Vì sao đã 36 năm rồi mà cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 1979 của quân và dân ta vẫn chưa được Bộ Quốc phòng tổng kết? Vì sao nó không được Bộ Giáo dục biên soạn, đưa vào chương trình sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên ta?  Vừa qua, thế lực đen tối nào định mưu toan xóa bỏ môn học Lịch sử qua chiêu trò “tích hợp”, nhằm làm cho thế hệ trẻ và con cháu ta sau này không biết gì về truyền thống hào hùng 1000 năm chống trả xâm lược phương Bắc của tổ tiên ta? May mà Quốc Hội đã ít nhiều cảnh giác, kịp ra Nghị quyết ngăn chặn ý đồ đen tối và nham hiểm này.

– Ngay cả các hoạt động kỷ niệm của người dân trong mấy năm qua để tưởng nhớ và vinh danh những anh hùng, liệt sỹ và thương binh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược (2/1979) và tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân ta đã bị Trung Quốc sát hại khi chúng đánh chiếm đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (14/3/1988) cũng bị một lực lượng đông đảo Dư Luận Viên có tổ chức, mặc áo đỏ in Quốc kỳ, mang cờ Đảng, dùng loa hò hét và hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” để khiêu khích, ngăn cản và phá thối(?!). (Lê Đức Anh đã ra lệnh hải quân VN không được nổ súng ở Gạc Ma 1988

– Ai đã chủ trương và làm ngơ cho Trung Quốc thuê trên 300.000 héc ta rừng đầu nguồn chiến lược ở các tỉnh biên giới phía Bắc?(Mời đọc) Tại sao lại cho Trung Quốc cắm chốt ở hàng chục địa điểm chiến lược và nhạy cảm trên khắp đất nước dưới vỏ bọc đầu tư dự án, thuê đất lâu dài (đến 70 năm như ở Vũng Áng), và đặc biệt việc Trung Quốc được mặc nhiên đóng chốt tại địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất nước ta (Nóc nhà Đông Dương) với bình phong dự án Bauxite Tây Nguyên đầy nguy hại và tai tiếng?

Cách đây chưa đầy một tuần, ngày 9/12/2015 vừa qua, trong “Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội XII và toàn thể đảng viên ĐCSVN”, (gọi tắt là THƯ 127), một trăm hai mươi bảy(127) đảng viên tâm huyết và các nhân sỹ trí thức nặng lòng với đất nước và dân tộc ở trong và ngoài nước đã mạnh mẽ, thẳng thắn và tha thiết kêu gọi Đảng phải thay đổi: “Trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và dựa hẳn vào nhân dân, tự giải thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, tự giải phóng chính mình khỏi tình trạng tha hóa của một đảng độc quyền toàn trị, dứt khoát từ bỏ đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội theo chủ thuyết Marx-Lenine, chủ động tiến hành cải cách chính trị triệt để và toàn diện theo con đường dân tộc dân chủ…”.

Người viết bài này cho rằng chẳng cần phải khảo sát xã hội hoặc tiến hành trưng cầu ý dân cũng có thể khẳng định là không chỉ đa số Đảng viên ĐCSVN mà toàn thể 92 triệu nhân dân Việt Nam đều muốn ĐCSVN phải đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích cộng sản. Vì đây là lẽ đương nhiên, hợp với triết lý, lẽ sống và đạo đức xưa nay của dân tộc Việt Nam ta. Và đây cũng là nguyên tắc bất di bất dịch của mọi đảng phái chính trị trong tất cả các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày nay.

Muốn làm được như vậy, trước hết Đảng phải tự thay đổi, phải dũng cảm đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên tối thượng, lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản. Đã đến lúc không thể không làm điều này.  Quốc gia và dân tộc là tối cao và vĩnh cửu, chứ không phải là Chủ nghĩa cộng sản!  Đảng phải tự thoát khỏi chính mình, phải dũng cảm lột xác để tiến lên cùng dân tộc. Trước hết và trên hết phải coi dân tộc và Tổ quốc Việt Nam là người sinh ra mình, nuôi dạy và bảo vệ mình, chứ tuyệt đối không phải là kẻ mà mình sinh ra, là kẻ mà mình nuôi dưỡng và ban ơn.

Quay đầu là bờ! Con cái có thể bỏ rơi cha mẹ chứ không bao gìơ cha mẹ lại chối từ con cái. Hãy ngước nhìn sang nước bạn láng giềng Myanmar để học tập và noi gương những bước đi quả cảm, đầy khôn ngoan, đầy trách nhiệm nhưng vô cùng sáng suốt của giới quân phiệt cầm quyền. Họ đã chấp nhận và thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục cho đất nước Myanmar do họ biết hy sinh quyền lợi cá nhân của các tướng lãnh, họ đã sáng suốt đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên tối thượng lên trên lợi ích của tập đoàn quân phiệt và đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển Myanmar. Cuộc chuyển đổi chính trị ở Myanmar không có kẻ thua, chỉ có người thắng, và người thắng lớn nhất là dân tộc Myanmar khôn ngoan và dũng cảm.

Hà Nội, ngày 14/12/2015.

N.Đ.Q.

*Theo luật pháp, bất cứ đảng phái, hội đoàn nào muốn hoạt động trên lãnh thổ VN đều phải xin giấy phép hoạt động của chính phủ. Đảng CSVN hoạt động tại VN, nhưng không bao giờ xin giấy phép của chính phủ để hoạt động. Sự tờn tại của đảng csvn là bất hợp pháp. 

Hiến pháp hay Đảng pháp? – BBC Tiếng Việt – BBC.com

Hiến pháp đứng sau cương lĩnh của Đảng: TBT Nguyễn …

Sau đây là những phát biểu của một trong các “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, TBT, Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây Dựng Đảng tốt nghiệp tại Liên Xô, Nguyễn Phú Trọng:

“Hiến Pháp là văn kiện chính trị, pháp lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng cộng sản”

“Ai có tư tưởng bỏ điều 4 Hiến pháp, muốn đa nguyên đa đảng, muốn tam quyền phân lập là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa!”

“Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở VN hay chưa”.

Bài liên quan:

►Hội Nghị Thành Đô Ngày 3 Và 4-9-1990- Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần 27) « Trần Hoàng Blog

 

 

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Điều gì nổi bật trong hai ngày Tập Cận Bình thăm viếng VN ?

Posted by hoangtran204 on 08/11/2015

FB Trương Nhân Tuấn

6-11-2015

Không lẽ là sự vắng mặt của người lý ra phải có mặt, là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang? Theo lịch trình (được báo chí đăng tải) thì ông Tập sẽ có các buổi gặp mặt với TBT Nguyễn Phú Trọng, CTN Trương Tấn Sang, TT Nguyễn Tấn Dũng và CTQH Nguyễn Sinh Hùng. Báo chỉ trong nước, đến giờ phút này, chỉ đăng tin tức và hình ảnh Tập Cận Bình gặp gỡ ông Trọng, ông Dũng và ông Hùng. Không thấy bất kỳ dòng tin và hình ảnh nào về cuộc gặp gỡ giữa ông Tập và ông Sang.

Ông Tập vẫn chưa rời khỏi VN. Có quá sớm để đưa ra một kết luận ?

Ông Tập được tiếp đón với nghi thức long trọng và vinh dự nhứt của quốc gia, ngay tại phủ chủ tịch. Người ta thấy dàn đại bác bắn 21 cú chào mừng. Thấy Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình cùng đi duyệt hàng quân danh dự, mà việc này lẽ ra chủ tịch nước mới có tư cách.

Theo thông lệ quốc tế, thể thức tiếp đón quốc khách ngay lúc vị khách này đặt chân lên đất nước mình, sẽ nói lên tất cả tấm thịnh tình của chủ nhà đối với người khách.

Tiếp đón ông Tập Cận Bình, (chủ tịch nước kiêm chủ tịch đảng TQ), tại sân bay không có mặt của « tứ trụ ». Điều này nói lên một sự khác thường, nếu không nói là chưa từng có tiền lệ.

Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và ông Đinh Thế Huynh (thuộc BCT) thay mặt nhà nước và đảng CSVN để tiếp đón ông Tập và phu nhân. Ông Phạm Bình Minh vốn là con của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người nổi tiếng (và đi vào lịch sử VN) bằng hành vi ra mặt chống TQ và hội nghị Thành Đô.

Đối phó lại, phía TQ dùng chiếc Mercedes mang số 00079 để chở vợ chồng ông Tập Cận Bình. Năm 1979 là năm mà Đặng Tiểu Bình « dạy cho VN một bài học ».

Bóng ma 1979 đã che phủ bầu trời sân bay Nội Bài.

Từ lúc hai bên lập lại bang giao (đầu thập niên 90), lãnh đạo TQ đã hứa hẹn với VN vô số điều, trong đó có « 16 chữ vàng » và « quan hệ 4 tốt ». Kiểm điểm lại, đã có điều gì mà TQ hứa hẹn đã trở thành hiện thực ?

Không có gì cả để người ta hôm nay người ta có thể tin tưởng vào tương lai quan hệ VN-TQ « tiền hung hậu kiết ».

Sự vắng mặt của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có lẽ như vậy là nằm trong kịch bản của VN.

Không lẽ hồi chuông chấm dứt thời kỳ lệ thuộc bắt đầu ? (hay là mình lạc quan tếu ?)

____

FB Trương Nhân Tuấn

7-11-2015

Thông điệp của Tập Cận Bình gởi đến quốc dân VN, qua bài diễn văn tại quốc hội, ý nghĩa không đơn thuần như các bài bình luận đã thấy trên báo chí VN. Nhà nước CSVN quyết định không dịch bản văn này là có chủ ý. Nhưng đây là thông điệp của họ Tập gởi đến toàn dân VN, nhà nước không thể không có bản dịch chính thức.

Một số “đại biểu” QH tỏ ý tiếc việc họ Tập không có nói đến Biển Đông. Điều này không đúng. Tập Cận Bình có nhắc, có điều ông ta nói khéo quá các đại biểu không hiểu.

Một vài ẩn ý khác của họ Tập đã được facebookers VN giải mã, như ý nghĩa các câu thơ của Vương Bột. Các câu thơ đó, ý nghĩa trọn vẹn là kêu gọi (lãnh đạo VN) “lãng tử hồi đầu”.

Điều quan trọng hơn cả là họ Tập xem VNDCCH là một quốc gia duy nhứt đại diện cho VN từ 1954 đến nay.

Vừa rời VN đến Singapour thì Tập Cận Bình lại tuyên bố HS và TS là lãnh thổ của TQ từ thời cổ đại. Họ Tập, cũng như các viên chức cao cấp TQ, bất kỳ ở đâu, hễ gặp dịp là họ tuyên truyền việc này. Còn VN, ngoài ông Trương Tấn Sang có một thái độ ra mặt yêu cầu TQ giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế, còn lại là ngậm miệng (ăn tiền). Tập Cận Bình đọc diễn văn ở QH là cơ hội tốt nhứt để đặt vấn đề thì không thấy ai nắm cơ hội.

Họ Tập chính thức mời NT Dũng sang thăm Bắc Kinh, điều này là gì nếu không phải là thiên triều ra mặt chống lung, chỉ thị cho nhân dân VN người “lãnh đạo chính thống” trong tương lai ?

Nay mai sẽ có bài viết về các vấn đề này.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Bài diễn văn của Tập Cận Bình đọc trước Quốc hội VN

Posted by hoangtran204 on 08/11/2015

BBC

7-11-2015

Photo: AP

Trong chuyến thăm Việt Nam từ 5 đến 6/11, Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có bài phát biểu tại Quốc hội Việt Nam.

Năm 2005, khi thăm Việt Nam, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng từng phát biểu tại Quốc hội, ở địa điểm Hội trường Ba Đình cũ.

Xin giới thiệu với quý vị toàn văn bài phát biểu của ông Tập Cận Bình:

Thưa ngài chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

Các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn!

Xin chào tất cả mọi người! Tôi rất vui mừng khi có cơ hội tới thăm Quốc hội Việt Nam, gặp gỡ với các đồng chí, các vị đại biểu. Quốc hội Việt Nam là cơ quan nhà nước cao nhất đại diện cho quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi đứng trên diễn đàn này.

Đầu tiên, tôi đại diện cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc, hơn nữa dùng danh nghĩa cá nhân tôi dùng những lời chúc tốt đẹp nhất tới Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ Việt Nam, nhân dân Việt Nam anh em! Dùng sự kính trọng lớn nhất bày tỏ sự biết ơn đối với những người bạn đã có cống hiến quan trọng trong nỗ lực giữ gìn tình hữu nghị Trung Quốc Việt Nam trong thời gian từ trước đến nay.

70 năm trước, chính tại quảng trường Ba Đình ngoài kia, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới, chính thức thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Việc này lập dấu mốc cho quá trình phấn đấu gian khổ qua hơn nửa thế kỷ, do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng cộng sản Việt Nam với truyền thống cách mạng tốt đẹp đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam, đã thực hiện thành công mục tiêu vĩ đại giành độc lập, giải phóng dân tộc. Năm nay, nhân dân Việt Nam chào đón những sự kiện quan trọng như kỉ niệm 70 năm thành lập nước, 40 năm ngày giải phóng miền Nam, 125 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh… Trung Quốc Việt Nam tình thân một nhà, nhân dân Trung Quốc cùng chung vui, hạnh phúc với nhân dân Việt Nam.

Từ thời Cận đại tới nay, hai nước chúng ta đều trải qua quá trình gian khổ đi từ thời kỳ bị bất kỳ kẻ nào áp bức bóc lột đi tới độc lập dân tộc, từ thời kỳ bế quan tỏa quốc tới cải cách mở cửa, từ nghèo đói lạc hậu đi tới phồn vinh phát triển. Từ những năm 80 của thế kỷ trước trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam vững tin vào chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, tích cực tìm cho mình con đường phát triển thích hợp với tình hình Việt Nam, tìm tới con đường cách mạng mới thuộc về nhân dân Việt Nam, giành được những thành tựu làm cho người khác phải thừa nhận trên công cuộc phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như đưa Việt Nam hội nhập với thế giới, diện mạo quốc gia cũng như đời sống người dân có sự thay đổi sâu sắc.

Ngày nay, Việt Nam đang có những bước tiến vững chắc trên con đường thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa quốc gia. Chúng tôi cảm thấy vui mừng trước những thành tựu mà các đồng chí Việt Nam đã đạt được trên con đường cách mạng Xã hội chủ nghĩa mới. Tôi tin rằng, dưới sự lãnh đạo kiên cường của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam nhất định giành được những thắng lợi không ngừng trong công cuộc cách mạng đổi mới vĩ đại. Chúng tôi nguyện ý sẽ cùng giữ gìn truyền thống cùng nhau học tập, tinh thần trao đổi kinh nghiệm, cùng dắt tay nhau nhằm phấn đấu xây dựng, phát triển sự nghiệp Chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình an hạnh phúc cho nhân dân hai nước.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Giống như nhân dân Việt Nam một mực theo đuổi giấc mơ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện mục tiêu đất nước giàu mạnh, chấn hưng dân tộc, nhân dân hạnh phúc là giấc mơ trăm năm của dân tộc Trung Hoa. Giấc mơ của nhân dân hai nước có chung nhịp đập, cùng thể hiện nguyện vọng giống nhau hướng về hòa bình, hạnh phúc và tốt đẹp.

Dân tộc Trung Hoa từ trước đến nay đều yêu hòa bình, cái gen “ hòa” của dân tộc từ trước tới nay đều không thay đổi, “ hòa” trong văn hóa được bảo lưu trường tồn, mãi mãi. Từ hơn 2400 năm trước, cổ nhân Trung Quốc đã nêu ra đường lối “ Lễ chi dụng, hòa vi quý”( sử dụng lễ nghĩa thì lấy hài hòa, hòa thuận là qúy trọng làm đầu). Nguyện vọng hòa bình được mọc rễ từ trong con tìm của mọi người Trung Quốc, hòa nhập vào trong dòng máu của dân tộc Trung Hoa. Thời cận đại Trung Quốc đã gặp phải ngọn lửa chiến tranh và bất ổn trong hơn một thế kỉ, nhân dân Trung Quốc đã phải chịu những khổ nạn đau đớn. Nhân dân Trung Quốc yêu hòa bình cuồng nhiệt cũng như biết quý trọng cục diện hòa bình mà phải đánh đổi gian khổ mới có được. Sự phát triển của Trung Quốc không thể rời xa được môi trường hòa bình, ổn định của tình hình quốc tế và các quốc gia xung quanh, sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ trở thành lực lượng giữ gìn hòa bình và ổn định trên toàn thế giới.

Đối với tình hình trước mắt, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc vĩ đại, đoàn kết dẫn dắt mọi lực lượng của Trung Quốc, xây dựng xã hội khá giả toàn diện, tiến hành cải cách sâu rộng, xây dựng quốc gia pháp trị toàn diện mọi mặt, thi hành nghiêm khắc chiến lược phát triển của Đảng, nỗ lực phấn đấu hoàn thành thực hiện mục tiêu xã hội khá giả toàn diện vào thời điểm chào mừng 100 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc, đồng thời thực hiện mục tiêu to lớn đưa Trung Quốc trở thành quốc gia Xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa, giàu mạnh, hài hòa vào thời điểm kỉ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Chúng tôi vừa tổ chức Hội nghị Toàn thể lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, đưa ra những đường nét cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc trong 5 năm tới, xác định đồng thời quán triệt tốt những tư tưởng phát triển then chốt như đổi mới, phối hợp, phát triển xanh, mở cửa, cùng chia sẻ. Đưa ra một loạt những chính sách, biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội, tổ chức và huy động mọi nguồn lực của mọi dân tộc, các tầng lớp nhân dân khắp Trung Quốc nhằm đưa mọi mặt của kinh tế, xã hội Trung Quốc phát triển lên một tầm cao mới, đưa cuộc sống của nhân dân Trung Quốc ngày càng tốt hơn, đóng góp ngày càng nhiều, càng quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển con người và hòa bình của nhân loại.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Trung Quốc Việt Nam hai nước sơn thủy tương liên, nhân dân hai nước có lịch sử giao lưu trao đổi lẫn nhau từ lâu. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước, chúng ta đã kề vai chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau, xây dựng nên tình đoàn kết hữu nghị lâu bền. Trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội giàu mạnh mang màu sắc riêng của mỗi quốc gia, chúng ta học tập lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vun trồng những kết quả phong phú, tốt đẹp. Quan hệ Việt Trung đã vượt lên trên hàm ý những mối quan hệ song phương thông thường, có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng.

Trung Quốc Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao được hơn 65 năm. Tháng 4 năm nay, trong thời gian Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có chuyến thăm Trung Quốc, tôi và ngài tổng bí thư đã tổng kết quá khứ, nhìn về tương lai. Chúng tôi đã đạt được nhận thức chung, mối quan hệ gắn bó Trung Việt đã được chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh thế hệ lão thành tiền bối hai bên xây dựng nên, là tài sản quý báu của hai đảng, nhân dân hai nước, cần được quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng. “ Tín giả, giao hữu chi bản” ( lòng tin là cái căn bản để xây dựng tình bạn). Trung Việt hai quốc gia có rất nhiều lợi ích chung, hợp tác hữu hảo trước sau chiếm đa số. Hai bên cần phải lấy quan hệ hữu hảo Trung Quốc Việt Nam cũng như đại cục phát triển hai nước làm trọng, giữ vững phương châm tôn trọng lẫn nhau, hữu hảo đàm phán, thu hẹp bất đồng, phát huy điểm chung, xử lí tốt mọi tranh chấp. Sự hợp tác đôi bên cùng có lợi đem đến những lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời giúp ích cho hòa bình ổn định và phồn vinh của khu vực, do đó cần được tăng cường về mọi mặt. Những kinh nghiệm và bài học quý giá này là nền tảng cơ bản trong phát triển quan hệ Trung Quốc Việt Nam, đồng thời cũng là điểm xuất phát và là điểm tựa trong công tác xử lí những bất đồng còn tồn tại giữa hai bên.

Huynh đệ đồng lòng, có thể chặt đứt được kim loại. Tình hình an ninh khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi đa đoan, hai đảng hai quốc gia cùng đối mặt với nhiều thách thức hoặc vấn đề mới giống nhau. Chúng ta không chỉ là bạn bè tốt láng giềng tốt sơn thủy nối liền, mà quan trọng hơn là có lợi ích gắn chặt cùng nhau, là một khối chung có cùng chung sinh mạng, chung mục tiêu. Chúng ta càng cần giúp đỡ, chiếu cố lẫn nhau, cùng cầm tay nhau đi về phía trước hơn bao giờ hết. Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển mối quan hệ song phương với Việt Nam, với phương châm toàn diện hợp tác, nguyện cùng đi chung con đường với phía Việt Nam, cùng nhau giữ gìn hòa bình ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, trên tinh thần láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt, phát triển toàn diện mối quan hệ chiến lược lâu dài Trung Quốc Việt Nam bền vững, ổn định, đưa tới càng nhiều hạnh phúc cho nhân dân hai nước.

Thứ nhất, Trung Quốc Việt Nam cần là đồng chí tốt có thể tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “ Trung Quốc Việt Nam hữu nghị tình thầm, đồng chí cộng anh em”. Chế độ chính trị của hai nước tương đồng, lí tưởng và niềm tin giống nhau, có chung lợi ích chiến lược. Trung Quốc Việt Nam kiên trì với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, kiên trì đi theo con đường Chủ nghĩa xã hội, kiên trì sự nghiệp cách mạng mới, kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, là sự lựa chọn của lịch sử, cũng là sự lựa chọn của nhân dân hai quốc gia. Trên con đường đã bước đi này, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Đi theo con đường này về phía trước, chúng ta nhất định sẽ đạt được những thành quả huy hoàng, những tương lai phát triển rực rỡ hơn.

Thực tiễn đã nói cho chúng ta, phương hướng quyết định con đường đi về phía trước, đường đi quyết định vận mệnh. Trên vấn đề quan trọng kiên trì đi trên con đường mà nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn. hai đảng, nhân dân hai nước chúng ta cần phải có lòng tin kiên định, hỗ trợ lẫn nhau, cùng dắt tay nhau đi về phía trước, kiên quyết không được để bất kì kẻ nào phá vỡ bước đi của chúng ta, kiên quyết không được để bất kì thế lực nào dao động, thay đổi bức tường bảo vệ chế độ của chúng ta.

Phía Trung Quốc hết sức ủng hộ con đường cách mạng mới của Việt Nam, chân thành mong muốn các đồng chí Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc kiến thiết xây dựng Chủ nghĩa xã hội, thành tâm nhìn thấy sự phát triển ngày càng tốt, càng nhanh chóng của Việt Nam. Chúng tôi nguyện ý cùng các đồng chí Việt Nam xây dựng niềm tin lẫn nhau, cùng giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tích cực cống hiến vì sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp phát triển của nhân loại. Phía Trung Quốc muốn cùng chia sẻ cho Việt Nam những kinh nghiệm, kiến thức phong phú, toàn diện từ lí thuyết đến thực tiễn đối với công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng Xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, Trung Quốc Việt Nam cần phải trở thành những đối tác tốt trong mối quan hệ hợp tác cùng có lợi. Nhìn lại thế giới ngày nay, tình hình quốc tế đang không ngừng có những thay đổi sâu sắc, các hệ thống quốc tế, trật tự thế giới đang phát triển theo hướng công bằng và hợp lí hơn. Đồng thời thế giới cũng không hề hòa bình, có sự hỗn loạn ở quy mô cục bộ, chủ nghĩa khủng bố như âm hồn bất tán, kinh tế thế giới thiếu động lực để phát triển, sự đan xen giữa những mối thách thức truyền thống và phi truyền thống. Duy trì hòa bình, ổn định thế giới, thúc đẩy phát triển là nhiệm vụ lâu dài. Chúng ta cần phải nắm vững xu thế quốc tế, bắt kịp trào lưu của thời đại, cùng nhau xây dựng một môi trường quốc tế, trật tự thế giới có lợi cho hòa bình, ổn định ở khu vực Châu Á cũng như trên toàn thế giới. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò và tác dụng của mình trên vũ đài khu vực cũng như thế giới, nguyện ý tăng cường hơn nữa hợp tác với Việt Nam ở những diễn đàn, cơ cấu hợp tác quốc tế và khu vực, duy trì lợi ích chung giữa hai quốc gia, thúc đẩy sự phát triển trong khu vực.

Nền kinh tế của hai nước Trung Quốc Việt Nam có sự liên hệ với nhau rất rộng, sự phụ thuộc tương hỗ lẫn nhau cũng lớn, qua đó gắn kết về lợi ích kinh tế cũng ngày càng chặt chẽ. Toàn cầu hóa, khu vực hóa về kinh tế mang lại cơ hội và thách thức tương đồng cho cả hai nước. Phía Trung Quốc đánh giá rất cao sự kết nối, phát triển chiến lược giữa hai quốc gia, đồng ý tăng cường hợp tác đầu tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng, cung ứng năng lượng trong phạm vi bộ khung “ một con đường, một vành đai”, “ hai hành lang, một vùng kinh tế” nhằm tạo động lực thúc đẩy mới cho quá trình hợp tác đối tác quan hệ toàn diện Trung Quốc Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.

Thứ ba, Trung Quốc Việt Nam cần trở thành láng giềng tốt, quan hệ hữu hảo thân tình. Cổ nhân có câu “ ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”. Giống như trong bài hát “ Việt Nam – Trung Quốc”, nhân dân Trung Việt hai nước “ uống chung một dòng nước, sớm nhìn đi, tối nhìn lại”. Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh. Tình hữu nghị giữa nhân dân hai quốc gia đã được khảo nghiệm qua lịch sử lâu dài cùng sự đổi thay của thời gian, là động lực vô tận cũng như là nền tảng quan trọng trong phát triển mối quan hệ song phương giữa hai bên. Hai bên cần phải lấy mốc 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao làm cợ hội, thắt chặt hơn phương hướng trong quan hệ giữa hai quốc gia, đảm bảo tình hữu nghị Trung Quốc Việt Nam đời đời lưu truyền.

Người Trung Quốc thường nói, người thân càng giúp nhau càng thêm thân, láng giềng càng quan tâm càng tốt. Giữa láng giềng với nhau cũng khó tránh khỏi va chạm, nhưng hai bên cần phải xuất phát từ đại cục quan hệ song phương, thông qua đàm phán hòa bình, giải quyết ổn thỏa tranh chấp, xử lí bất đồng, tránh việc quan hệ song phương giữa hai nước đi lệch khỏi quỹ đạo. Cổ nhân vốn có câu “ Người có viễn kiến thì mới có thể thu hoạch thêm càng nhiều lợi ích”. Tôi tin rằng, hai nước Trung Quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của hai đảng, hai chính phủ thì nhân dân hai nước hoàn toàn có năng lực, có trí tuệ loại bỏ mọi quấy nhiễu, cùng nhau viết nên những áng văn mới trong quan hệ láng giềng hữu hảo Trung Quốc Việt Nam. Thứ tư, Trung Quốc Việt Nam cần làm bạn bè tốt, thường xuyên thăm viếng lẫn nhau. Bà con càng đi lại càng gần, bạn bè càng đi lại càng thân. Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước là nguồn suối động lực cho quan hệ hai bên. Vào năm ngoái, Trung Quốc Việt Nam có hơn 3 triệu lượt người thăm viếng, qua lại lẫn nhau, có hơn 14000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc, đồng thời cũng có từ 3000-4000 du học sinh Trung Quốc sinh hoạt, học tập tại Việt Nam. Những con số này làm chúng ta thật sự vui mừng.

Hôm qua, trong lúc hội đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai bên đã thống nhất gia tăng thêm một bước về hoạt động trao đổi nhân viên hai phía, tăng cường các hoạt động hợp tác giao lưu văn hóa, giáo dục duc lịch…xây dựng tốt các diễn đàn cho nhân dân Trung Quốc Việt Nam, hội giao lưu hữu nghị thanh niên Trung Việt, tăng cường các hoạt động giao lưu tìm hiểu hai phía, tăng cường bầu không khí phong phú, tạo cơ hội cho các hoạt động dân gian. Trung Quốc hoan nghênh chào đón ngày càng nhiều du học sinh Việt Nam tới Trung Quốc học tập, du lịch, làm ăn, hy vọng người dân hai nước tăng cường các hoạt động qua lại lẫn nhau, tăng cường hiểu biết, tìm hiểu, vun đắp tình hữu nghị giữa hai bên.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Từ năm 1942 đến năm 1943, trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng đã viết câu thơ “Trùng san đăng đáo cao phong hậu, Vạn lý dư đồ cố miện gian, nhà thơ đời Đường là Vương Bột cũng viết “ Đăng Thái Sơn nhi lãn quần sơn, tắc cương loan chi bản mạt khả tri dã”. Quan hệ Việt Trung đã đứng trên điểm cao lịch sử mới. Chúng ta lên đỉnh núi cao, nhìn tầm mắt ra xa, cùng nhau bắt tay nỗ lực, phấn đấu mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ toàn diện Trung Quốc Việt Nam, nhằm duy trì lâu dài hòa bình ổn định, tạo dựng một Châu Á và thế giới thịnh vượng, phồn vinh, góp phần tạo nên một thế giới rộng lớn hơn!

Xin cám ơn mọi người!

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Quan Hệ Viêt Nam và Trung Quốc- 1990- Nay, Thời Sự, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Mất đảng có mất nước?

Posted by hoangtran204 on 05/11/2015

Nguyễn Hưng Quốc

Blog VOA

4-11-2015

 

Theo báo chí trong nước, chiều ngày 22 tháng 10 vừa qua, trong một phiên họp tại Quốc hội, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, có bài nói chuyện về tình hình quốc phòng và an ninh của đất nước, trong đó, ông liệt kê những thắng lợi của Việt Nam trong nỗ lực bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như biện hộ cho vai trò lãnh đạo của đảng trong sự nghiệp giữ nước. Ông nhấn mạnh: “Nếu mà mất Đảng, mất chế độ thì biển đảo cũng mất”.

Để khẳng định như vậy, ông Phùng Quang Thanh đưa ra hai lập luận chính:

Thứ nhất, sự lãnh đạo độc tôn của đảng sẽ mang lại ổn định trong xã hội và sự độc lập của đất nước. Ông lập luận: “Nếu mà trong nội bộ đất nước để xảy ra bạo loạn, biểu tình, ly khai, xảy ra tổ chức đối lập, để xảy ra lực lượng vũ trang đối lập (như một số nước đã có), mà lại phải dùng lực lượng chức năng trấn áp, để xảy ra thương vong, đổ máu thì bên ngoài sẽ lấy cớ vi phạm dân chủ, nhân quyền, dùng biện pháp này, biện pháp khác để bao vây, cấm vận, cô lập chính trị, chia rẽ nội bộ, thừa cơ đó lật đổ chế độ.”

Thứ hai, ông cho chính nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của đảng Cộng sản nên cho đến nay, Việt Nam mới vừa giữ được chủ quyền trên Biển Đông vừa duy trì được hoà bình cho đất nước. Ông cho biết trong mấy chục ngày Trung Quốc mang giàn khoan HD-981 đến thềm lục địa Việt Nam, Bộ Chính trị đã có 12 phiên họp để bàn về kế sách đối phó. Kết quả là, sau đó, Trung Quốc cho kéo giàn khoan về nước và Biển Đông đã lặng sóng. Ông cũng nói thêm là các hòn đảo ở Trường Sa do bộ đội Việt Nam trấn giữ vẫn thuộc Việt Nam; các giếng khoan dầu ngoài khơi vẫn tiếp tục hoạt động và ngư dân vẫn tiếp tục đánh cá an toàn.

Những lập luận ấy, thật ra, hoàn toàn nguỵ biện.

Thứ nhất, liệu dân chủ hoá có dẫn đến hỗn loạn, từ đó, sự can thiệp của nước ngoài hay không? Câu trả lời rất rõ: Không. Cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, tất cả các chế độ cộng sản tại Nga và Đông Âu sụp đổ, không có nước nào lâm vào cảnh bạo loạn cả. Trừ Nga, tất cả các nước khác đều ngày một trở thành dân chủ hơn, và cùng với dân chủ, thịnh vượng hơn. Trong hai năm 2011 và 2012, các chế độ độc tài ở một số quốc gia Trung Đông và Bắc Phi lần lượt sụp đổ và dù gặp rất nhiều gập ghềnh và khúc khuỷu, con đường dân chủ hoá cũng càng lúc càng mạnh mẽ. Sự hỗn loạn chỉ có ở Syria và Libya nhưng ở cả hai nước này, sự hỗn loạn đến từ những nguyên nhân khác: sự phân hoá về chủng tộc và, đặc biệt, tôn giáo với sự tham gia của các lực lượng Hồi giáo cực đoan. Ngay ở Á châu, từ mấy năm nay, Miến Điện cũng dần dần dân chủ hoá nhưng không gây nên bất cứ sự bất ổn nào. Bởi vậy, không có lý do gì để sợ khi chế độ Cộng sản sụp đổ, Việt Nam sẽ lâm vào khủng hoảng. Hơn nữa, khi sự thay đổi ấy xuất phát từ chính đảng Cộng sản với một lộ trình dân chủ hoá mạnh mẽ và rõ ràng, nguy cơ khủng hoảng càng giảm thiểu.

Thứ hai, liệu không còn đảng Cộng sản, biển đảo Việt Nam có bị mất? Câu trả lời cũng không.

Có hai lý do chính.

Một là, sự thật lịch sử trong mấy chục năm vừa qua chứng minh một điều ngược lại: chính chế độ cộng sản tại Việt Nam mới làm cho Việt Nam mất biển đảo vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết công hàm Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958, trong đó, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa). Ai cũng biết năm 1974, khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, chính những người lính Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam đã liều mình để bảo vệ đảo trong khi đó, ở miền Bắc, chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo thì hoàn toàn im lặng. Ai cũng biết năm 1988, khi Trung Quốc đánh chiếm mấy bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam chỉ phản ứng lấy lệ và cuối cùng, các bãi đá ấy đều lọt vào tay Trung Quốc. Ai cũng biết từ mấy năm nay, trước các hành động lấn chiếm ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, kể cả việc bắt bớ, thậm chí giết hại ngư dân Việt Nam trên Biển Đông, Việt Nam cũng chỉ phản ứng một cách rất “ngoại giao”. Phản ứng cho có để dân chúng khỏi lên án, vậy thôi. Nói chung, trước dã tâm xâm lấn biển đảo của Trung Quốc, chính quyền Việt Nam chưa hề chứng tỏ có một chiến lược đối phó nào cho thật rõ ràng trừ sự nhường nhịn. Hơn nữa, với những khẩu hiệu “4 tốt” và “16 chữ vàng”, dường như họ cũng không thấy hết nguy cơ đến từ Trung Quốc.

Hai là, tuyệt đối không có bằng chứng nào cho thấy một chế độ dân chủ sẽ trở thành yếu ớt hơn trong việc bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước. Nếu không muốn nói, ngược lại. Chế độ dân chủ có hai mặt mạnh mà một chế độ độc tài không có: Thứ nhất là dễ có liên minh rộng rãi và vững chắc với các nước khác trên thế giới; và thứ hai là dễ nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của dân chúng.

Nói tóm lại, lập luận “mất đảng, mất chế độ thì mất biển đảo” chỉ là một sự nguỵ biện. Nó không đúng. Nó chỉ biện hộ cho việc duy trì chế độ độc tài tại Việt Nam mà thôi.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

16x9 Image

Nguyễn Hưng Quốc

Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Thư ngỏ gửi Anh Phạm Bình Minh

Posted by hoangtran204 on 05/11/2015

Thư ngỏ gửi Anh Phạm Bình Minh.

Em Đặng Xương Hùng đây. Em xin không đề chức vụ của Anh, vì thư ngỏ này em mong muốn gửi tới Anh với tư cách Anh là con trai Bác Nguyễn Cơ Thạch.

Khi Anh vào Trung ương, được cử làm Bộ trưởng Ngoại giao, rồi Phó Thủ tướng, mọi người nhất là ở Bộ Ngoại giao, hết sức vui mừng, không chỉ vì Anh rất xứng đáng, mà còn vì một thầm ước quan trọng hơn, đó là : Anh là con trai của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch.

Anh Minh, đất nước ta đang rất cần những nhân vật Anh Minh !

Ngày mai, 5/11/2015, Tập Cận Bình sẽ sang Việt Nam. Theo thông tin bên ngoài được biết, Tập Cận Bình sẽ phát biểu trước Quốc hội Việt Nam. Đây là lịch trình mang một hậu quả hết sức tai hại cho tương lai dân tộc. Em xin được ví nó như Thành Đô 2 vậy.

Khi thăm Mỹ, Tập Cận Bình đã ngang nhiên tuyên bố trước Tổng thống Obama rằng : “Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) thuộc về Trung Quốc từ thời cổ đại”. Không có lý do gì ngăn cản Tập Cận Bình phát biểu tương tự như vậy trước Quốc hội Việt Nam.

Anh Minh, Bộ Ngoại giao nên chuẩn bị một kịch bản đập lại Tập Cận Bình ngay lập tức tại diễn đàn. Theo em, người thực hiện phù hợp nhất là Anh Minh, đơn giản chỉ vì : « Tôi là con trai của Ông Nguyễn Cơ Thạch ». Các bạn ở Bộ Ngoại giao có thừa khả năng để khéo léo chuẩn bị giúp Anh một nội dung phù hợp. Miễn sao ngầm mang một thông điệp : « Cha tôi đã cảnh báo về một thời kỳ Bắc thuộc mới, thì tôi là người tuyên bố nó chấm dứt từ đây ».

Em chúc Anh và các bạn ở Bộ Ngoại giao sức khỏe và thành công.

Em thành thật xin lỗi Anh nếu những điều nói trên Anh không thích.

Đặng Xương Hùng, Genève 4/11/2015

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Quá sợ hải Trung Quốc, đảng và nhà nước Việt Nam phó mặc cho Mỹ bảo vệ chủ quyền

Posted by hoangtran204 on 30/10/2015

Việt Nam phải tự bảo vệ chủ quyền của mình, thay vì phó mặc cho Mỹ!

Lê Minh Nguyên

29-10-2015

Nguồn ảnh: Island Tracker

Các cường quốc thường hay lấn luớt nhược tiểu và thường hay thương thảo để chia chác quyền lợi trên đầu nhược tiểu.

Khi soạn luật biển UNCLOS, các cường quốc biển mà trong đó có Hoa Kỳ muốn vùng nước chủ quyền thật nhỏ, vùng biển quốc tế thật to để tàu thuyền của họ dễ tung tăng không bị ràng buộc. Đã vậy mà HK cũng không phê chuẩn, nhưng lại tôn trọng UNCLOS trong thực tế. Ngược lại, Trung Quốc phê chuẩn nhưng không tôn trọng.

Nạn nhân rõ ràng nhất trong trò chơi quyền lực này là Việt Nam và Phi. TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974, HK lúc đó đang đứng cạnh nhưng không can thiệp vì đã làm bạn với TQ để chống Liên Xô, nên có quyền lợi chiến lược lớn hơn. Tháng Hai năm 1979 TQ đánh VN thì ngày 29/1/1979 Đặng Tiểu Bình viếng thăm HK, thông báo TT Carter là ông sẽ đánh VN và nhờ HK giúp thông tin tình báo qua vệ tinh quan sát biên giới Nga – Hoa xem Liên Xô có động binh hay không. Năm 1988 TQ mượn cớ giúp Liên Hiệp Quốc lập trạm thăm dò khí tượng ở Trường Sa để bắn giết 64 binh sĩ VN, chiếm Gạc Ma và các đảo mà VN sở hữu, HK và các cường quốc tây phương làm lơ để mặc.

Năm 1995 TQ chiếm Vành Khăn, Phi viện dẫn hiệp ước liên minh quân sự với HK để cầu cứu TT Clinton, nhưng HK nói hiệp ước không bao gồm Vành Khăn. Năm 2012 TQ chiếm Scarborough và HK cũng làm lơ. Hiện giờ TQ đang bao vây Cỏ Mây không cho tiếp tế để Phi bỏ đảo và HK cũng đang làm lơ.

Trong khi đó thì HK, đứng trước đòi hỏi mạnh mẽ của Nhật sau khi Nhật nghi ngờ TT Obama đâm sau lưng mình khi đi bách bộ nói chuyện riêng với ông Tập Cận Bình ở Palm Springs ngày 7/6/2013, nên cuối cùng đã chính thức lên tiếng xác nhận là Senkaku có trong liên minh quân sự Mỹ-Nhật. HK có sự khác biệt đối xử vì Nhật là cường quốc, có sức mạnh nội lực và có vai trò an ninh chiến lược ở vùng Đông Bắc Á.

Tàu Lassen đi vào Trường Sa ngày 27/10/2015 mà theo các viên chức quốc phòng HK, có lộ trình 72 hải lý đi từ phía bắc đến phía tây nam, qua vùng chủ quyền 12 (CQ12) của các đảo mà Phi và Việt Nam có chủ quyền, và vào vùng 12 hải lý của đảo Subi, nhưng không vào vùng 12 của Vành Khăn (Reuters 27/10).

Mục đích chính yếu là để khẳng định quyền tự do hàng hải theo UNCLOS và không dính líu gì cả đến vấn đề chủ quyền, có nghĩa là các đảo ấy, hay cả quần đảo là của ai thì HK cũng chấp nhận thôi!

Vấn đề thực sự là lưu thông hàng hải theo UNCLOS mà HK và TQ thông dịch luật này khác nhau.

Lưu thông vô hại (innocent passage) hay chỉ cần đường đi ngang chứ không có ý đồ gì khác thì được đi vào vùng CQ12. TQ đã sử dụng quyền này tháng 8/2015 vừa qua ở eo biển Alaska, khi đi qua vùng quần đảo Aleutian. Tàu Lassen đi vào Subi thì cũng không khác gì mấy, nhưng để tránh va chạm hai bên đã chuẩn bị cho nhau cả tháng trước đó.

Vùng nước chủ quyền 12 hải lý chung quanh chỉ áp dụng cho đá/đảo nổi khi triều dâng và thiên nhiên chứ không do nhân tạo. Subi và Vành khăn không hội đủ điều kiện này vì nửa nổi nửa chìm nên chỉ có vùng nuớc chủ quyền 500 mét. TQ muốn nó là 12 hải lý nhưng mập mờ. Vì không có UNCLOS để bảo vệ Subi nên TQ nhuờng nhịn HK, nhưng với các nước khác thì không, kể cả Nhật, như TQ đã từng tuyên bố.

Vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý thì HK cho rằng nước chủ chỉ có chủ quyền trên tài nguyên (cá, khoáng sản) và nước chủ không được ngăn cản trên các lãnh vực khác như dọ thám, tập trận, vẽ bản đồ, nên tàu/máy bay đi vào không cần phải xin phép mà chỉ cần thông báo. Ngược lại, TQ thông dịch là hoạt động của các nước khác phải xin phép và đã rất khó chịu khi HK cho máy bay và tàu vào thám thính gần Hải Nam, nơi TQ đặt căn cứ tàu ngầm.

Theo Diplomat 27/10, kể từ chuyến thăm HK của ông Tập vào cuối tháng 9/2015, các viên chức giấu tên của HK cho biết là đã liên tục và đều đặn thông tin việc tàu HK sẽ vào vùng 12 ở Trường Sa. Sự loan báo của giới truyền thông có vai trò đếm ngược (countdown) đi từ vài tuần đến vài ngày rồi đến 24 giờ. Đó là một sự cố ý, thiết kế để cung cấp cho TQ đầy đủ sự báo trước – và đầy đủ thời gian để TQ hình thành các phản ứng chính thức (hơn là để trong tay các viên chức quân sự ở thực địa phản ứng).

Việc 5 tàu chiến TQ đi vào vùng CQ12 ở Alaska mà HK không phản ứng gì cả, nhất là khi đó TT Obama có mặt ở Alaska, làm cho người ta có cảm giác đây là một vở kịch được cẩn thận dàn dựng, có tính cách sòng phẳng ‘quid pro quo’ bánh ít đi bánh quy lại. Cho nên dù TQ có vẻ không chấp nhận Điều 17 của UNCLOS về ‘quyền đi qua vô hại’, TQ cũng đáp lễ lại HK khi tàu Lassen đi vào vùng 12 của đá Subi, bằng cách chỉ phản ứng chiếu lệ cho có, bỏ qua các tranh cãi là Subi có vùng CQ12 hay không. Theo báo Economist 27/10, các tranh chấp từ trước đến nay giữa HK và TQ không nhằm vào vùng CQ12 mà là vùng EEZ.

Một quan chức quốc phòng Mỹ giấu tên nói rằng “Đây không phải là cuộc tuần tiễu cuối cùng” và có khả năng trở nên thường xuyên hơn trong tương lai (VOA 28/10). Tuy nhiên nó không có giá trị gì nhiều cho các nước khác như Việt Nam vì:

Đây là vấn đề thông thương hàng hải chứ không phải là vấn đề chủ quyền, và là việc diễn dịch UNCLOS như thế nào để các bên đều đồng ý là đảo nào có vùng CQ12, đảo nào có EEZ và những giới hạn nào ở vùng EEZ. 

TQ có một chính sách kỳ thị đối xử, dù việc đi phù hợp với UNCLOS nhưng chỉ HK mới được lưu thông bên trong quần đảo Trường Sa, còn các nước khác thì không, kể cả Nhật Bản. Hơn nữa, TQ cố tình mù mờ trong việc áp dụng UNCLOS để có thể giải thích theo ý riêng của kẻ mạnh và dùng UNCLOS làm bình phong. Thực tế là TQ áp dụng luật sức mạnh.

Nếu chỉ HK đi vào vùng và các nước khác không vào để tạo thành những tuyến qua lại thông thường thì HK chỉ cuỡi ngựa xem hoa, chủ vườn vẫn là TQ. TQ đã lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Hoa Đông (ADIZ), HK không công nhận, cho B-52 bay qua nhưng chỉ một lần, còn các hãng hàng không dân sự HK được chính quyền HK khuyên là nên tuân thủ các quy định của TQ. Máy bay Lào hôm 25/7/2015 bị TQ đuổi trở lại Nam Hàn. HK đã đánh trống bỏ dùi và thực tế là ADIZ có hiệu lực.

HK không vào vùng 12 từ năm 2012 tức là đã 3 năm, đủ dài để TQ làm mưa làm gió trong vùng. Việc HK hứa hẹn trở lại, dù nói là thường xuyên cũng không ai biết là bao giờ, trong khi TQ có khả năng xây mỗi năm một thành phố lớn cỡ Los Angeles thì việc xây thêm các đảo nhân tạo ở Trường Sa là chuyện nhỏ.

HK chỉ muốn kiểm tra /ngó chừng TQ đừng dùng sức mạnh quá đáng hay vũ lực khi trỗi dậy thành siêu cường, chứ không có ý ngăn chặn TQ trở thành siêu cường, cho nên khi chưa có yếu tố vũ lực thì HK có lý cớ để ngó lơ, mà hệ quả là các nước nhỏ trong vùng bị thiệt hại qua chính sách ‘lát cá’ của TQ.

HK chỉ cho cần câu để những nước nhỏ như VN, Phi, Mã tự bắt cá chứ HK không cho cá. VN và các nước phải tự bảo vệ chủ quyền của nước mình. HK có thể giúp tàu, các khí cụ bảo vệ biển đảo, hay kỹ thuật chế tạo vũ khí, chứ HK không can thiệp quân sự thế cho những nước này.

Để kết luận, có thể nói rằng sự kiện Lassen 27/10 tuy cần thiết nhưng chỉ là bước đầu muộn màng mà Nghị sĩ John McCain nói, lẽ ra phải được thực hiện từ lâu và HK nên tiến hành những hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên không, trên biển trong những tuần lễ và những tháng tới (VOA 28/10). Nó giúp kềm chế TQ trong vấn đề lập vùng kiểm soát quá lớn ở Trường Sa, vi phạm UNCLOS. Nó không cuốn lại (rollback) những gì TQ đã làm. Nó cũng không có khả năng làm TQ dừng xây dựng ở những nơi họ đã bồi đắp. Nó cũng không có khả năng ngăn chận TQ chiếm thêm trong số khoảng 209 rạn san hô chưa ai chiếm đóng và xây dựng chúng thành đảo nhân tạo.

Trong vấn đề chủ quyền, Việt Nam vẫn còn bơ vơ và càng ngày càng yếu đi khả năng bảo vệ Trường Sa, bởi do đảng CSVN không có khả năng xây dựng nội lực dân tộc.

———

Tuần tra Biển Đông, Mỹ tiến sát điểm tới hạn với Trung Quốc

28-10-2015

Vietnamexpress

VŨ HOÀNG

 

Hoạt động tuần tra ở Trường Sa của chiến hạm USS Lassen có thể là khởi đầu cho cuộc ganh đua Mỹ – Trung quyết liệt làm thay đổi diện mạo khu vực.
tuan-tra-bien-dong-my-tien-sat-diem-toi-han-voi-trung-quoc

Tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Lassen của Mỹ. Ảnh: US Navy

Giới học giả nhận định trong quan hệ giữa một cường quốc mới nổi và một cường quốc đã xác lập vị thế luôn tồn tại một điểm tới hạn mà khi vượt quá, mọi chuyện sẽ không thể trở lại như ban đầu. Theo National Interest, Mỹ và Trung Quốc dường như đang nhanh chóng tiến sát tới ngưỡng này, đặc biệt là khi Mỹ vừa thực hiện chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông.

Diễn biến mới nhất củng cố cho nhận định trên là việc Washington hôm nay điều tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS Lassen tiến vào trong phạm vi 12 hải lý quanh đá Subi, nơi Bắc Kinh bồi đắp trái phép ở Biển Đông.

Các cơ quan ngoại giao Mỹ và Trung Quốc đến nay vẫn chưa làm được gì nhiều để giải quyết những vấn đề đang ảnh hưởng tới mối quan hệ hai nước. Trong khi đó, cả Bắc Kinh và Washington đều ngày càng phụ thuộc vào những chiến lược dựa trên sức mạnh quân sự và quyền lực cứng. Điều này đúng đối với những gì diễn ra ở Biển Đông, nơi căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, Ryan Pickrell, chuyên gia nghiên cứu về quan hệ Mỹ – Trung, nhận xét.

Đôi bên đều nhận thức được rằng để giữ vững sự ổn định ở Thái Bình Dương, họ cần tránh đối đầu bằng mọi giá. Nhưng cả Washington và Bắc Kinh lại không thể hiện thái độ sẵn sàng thỏa hiệp. Thay vào đó, họ vạch ra những ranh giới, ông Pickrell nói.

Giải pháp mà Trung Quốc đưa ra nhằm đảm bảo thế cân bằng chiến lược trong quan hệ Mỹ – Trung là xây dựng “quan hệ nước lớn kiểu mới” với tiêu chí hạn chế đối đầu, tôn trọng hệ thống chính trị, lợi ích quốc gia của nhau và hợp tác cùng có lợi.

Tuy nhiên, Washington cho rằng mô hình “quan hệ nước lớn kiểu mới” không đem lại lợi ích cho người Mỹ, Pickrell bình luận. Nếu chấp nhận mô hình đó, Mỹ sẽ tự tạo ấn tượng về một cường quốc đang thụt lùi và yếm thế trước sức mạnh Trung Quốc trong mắt cộng đồng quốc tế.

Bên cạnh đó, giới quan chức Mỹ cũng lo ngại mô hình “quan hệ nước lớn kiểu mới” chỉ là một chiêu bài Trung Quốc dùng để khiến Mỹ phải thừa nhận yêu sách chủ quyền phi lý trên Biển Đông, thu hẹp lợi ích của các đồng minh cũng như đối tác chiến lược của Washington trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, từ đó làm suy yếu và dần thay thế cấu trúc an ninh do Mỹ dẫn dắt.

Những lo ngại này có thể là cơ sở để Mỹ quyết định điều tàu USS Lassen tuần tra gần đảo nhân tạo phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông.

“Bằng việc triển khai một khu trục hạm tên lửa dẫn đường thay vì những tàu chiến nhỏ tuần tra ở Biển Đông, Mỹ đang gửi đi một thông điệp mạnh mẽ”, Ian Storey, chuyên gia về Biển Đông tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, đánh giá. “Họ cũng tuyên bố sẽ tiếp tục thực hiện hoạt động tuần tra, vì thế mọi việc lúc này phụ thuộc vào cách Trung Quốc phản ứng”.

tuan-tra-bien-dong-my-tien-sat-diem-toi-han-voi-trung-quoc-1

Trung Quốc xây trái phép các đường băng ở Trường Sa như thế nào (chi tiết). Đồ họa: Tiến Thành

Thay đổi diện mạo khu vực

Sau chuyến tuần tra đầu tiên của USS Lassen, Trung Quốc chỉ phản ứng lại bằng các tuyên bố của Bộ Ngoại giao. Cơ quan này hối thúc Mỹ “lập tức sửa chữa sai lầm” và “không có những hành động nguy hiểm hay khiêu khích” mà họ cho là đe dọa đến cái gọi là “chủ quyền và lợi ích an ninh” của Trung Quốc.

Theo cựu chuẩn đô đốc Yang Yi, chuyên gia tại Viện nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Quốc phòng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nước đi mới của Washington sẽ chỉ góp phần phá hoại mối quan hệ Mỹ – Trung, đồng thời là cái cớ để Bắc Kinh tăng tốc xây dựng và quân sự hóa đảo nhân tạo.

“Nếu các hoạt động tuần tra này trở thành thông lệ thì xung đột quân sự trong khu vực là không thể tránh khỏi và Mỹ sẽ là bên khơi mào”, ông Yang nói.

Euan Graham, giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế tại Viện Lowy, Sydney, cũng dự đoán Trung Quốc sẽ đẩy mạnh bồi đắp và quân sự hóa các đảo nhân tạo phi pháp ở Biển Đông sau chuyến tuần tra của tàu USS Lassen. Hành động đó của Bắc Kinh sẽ khiến Mỹ càng phải duy trì những chiến dịch tuần tra để bảo vệ tự do hàng hải tại vùng biển chiến lược này.

Một số nhà phân tích cho rằng Bắc Kinh sẽ áp dụng những biện pháp liều lĩnh hơn để chống lại hoạt động tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông trong tương lai của Washington. Hải quân Trung Quốc có thể sẽ tìm cách cản đường hoặc điều tàu bao vây chiến hạm Mỹ, gia tăng nguy cơ xảy ra đụng độ, và đây chính là “điểm tới hạn” làm thay đổi vĩnh viễn quan hệ Mỹ-Trung.

Ông Pickrell cho rằng chuyến tuần tra của USS Lassen là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới trong cuộc tranh giành quyền lực địa chính trị giữa Trung Quốc và Mỹ trên Biển Đông, có ảnh hưởng rất lớn đến diện mạo tương lai của khu vực.

Mâu thuẫn về lợi ích này cho thấy những bế tắc mà Washington và Bắc Kinh đang gặp phải trong quá trình tìm kiếm sự ổn định chiến lược cho khu vực. Dù cả hai quốc gia đều đưa ra cam kết cũng như nhiều lời hứa hẹn nhằm ngăn chặn xung đột xảy ra nhưng không nước nào thực sự đề xuất được một giải pháp khả thi cho tình thế hiện tại. Chính vì vậy, cạnh tranh vẫn tiếp diễn và thế đối đầu đang dần tiến đến ngưỡng bùng phát xung đột, ông này nhấn mạnh.

Kết cục của cuộc đua tranh là một trong hai bên sẽ phải chịu nhượng bộ hoặc buộc phải nhượng bộ trên Biển Đông. Dù kết quả cuối cùng của cuộc ganh đua này như thế nào đi chăng nữa, khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ không bao giờ còn như cũ được, ông Pickrell nhận định.

tuan-tra-bien-dong-my-tien-sat-diem-toi-han-voi-trung-quoc-2

7 đá Trung Quốc cải tạo trái phép ở Trường Sa. Đồ họa: The Diplomat. (Xem chi tiết)

Vũ Hoàng

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Chinh Tri Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Tính chính đáng của đảng Cộng sản…Sự thật thế nào?

Posted by hoangtran204 on 19/09/2015

Tinh chính đáng của ĐCS

Nguyễn Hưng Quốc – VOA

07-9-2015

communist-300x199

Lâu nay, để biện hộ cho vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng Cộng sản tại Việt Nam (một điều được ghi trong hiến pháp), nhà cầm quyền thường nêu lên ba lý do chính: Một, họ đã có công trong việc giành độc lập cũng như thống nhất đất nước; hai, chỉ có họ mới đủ khả năng lãnh đạo; và ba, họ được sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân. Theo họ, ba lý do ấy tạo nên tính chính đáng (legitimacy) của chế độ.

Sự thật thế nào?

Về điểm thứ nhất, liên quan đến công trạng của đảng Cộng sản trong việc giành lại độc lập và thống nhất đất nước, trong bài “70 năm sau Cách mạng tháng Tám”, tôi đã bàn qua. Xin tóm tắt hai luận điểm chính: Một, tôi thừa nhận công của họ trong việc giành lại độc lập cho đất nước từ tay của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng tôi lại không thừa nhận công của họ trong việc thống nhất đất nước. Đã đành sau năm 1975, đất nước đã thống nhất. Điều đó không ai có thể phủ nhận được. Nhưng cái giá phải trả cho sự thống nhất ấy lại quá đắt với hơn ba triệu người dân từ cả hai miền bị giết chết và với sự ly tán đầy đau đớn của hàng triệu người khác sau khi chiến tranh kết thúc. Hai, tôi cho song song với những công trạng họ lập được, đảng Cộng sản đã vấp phải quá nhiều sai lầm gây nên những hậu quả thảm khốc cho cả nước.

Hơn nữa, việc giành độc lập và thống nhất với việc lãnh đạo và quản trị đất nước là hai điều khác nhau. Trong lịch sử thế giới, không hiếm trường hợp những người được xem là anh hùng trong các cuộc chiến giành độc lập, sau đó, lên cầm quyền, đã trở thành những tên độc tài chỉ làm được một việc duy nhất là phá nát đất nước của chính họ. Kim Nhật Thành cũng có công chống Nhật và góp phần quan trọng trong việc giành lại độc lập cho Bắc Hàn đấy chứ? Nhưng sau đó, điều gì đã xảy ra? Chỉ có ba điều: Một, cuộc nội chiến giữa hai miền Nam và Bắc Hàn; hai, ách độc tài man rợ ở Bắc Hàn kéo dài đến tận ngày nay; và ba, như là hậu quả của chế độ độc tài man rợ ấy, Bắc Hàn trở thành một trong những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Ở Zimbabwe, Robert Mugabe cũng có công giành lại độc lập cho nước ông, nhưng sau đó, ông cũng lại làm cho đất nước ông tan tành với tỉ lệ nghèo đói lên đến trên 80% và tỉ lệ thất nghiệp có khi lên đến 90% dân số, mức độ lạm phát có khi lên đến cả chục ngàn, thậm chí, 100.000 phần trăm/ năm khiến, có lúc, cả trăm triệu đồng Zimbabwe mới đổi được một Mỹ kim.

Về điểm thứ hai, chỉ có đảng Cộng sản mới đủ tài năng để lãnh đạo đất nước, chỉ là một khẳng định vu vơ và sai lầm. Vu vơ vì đảng Cộng sản chưa bao giờ cho phép một chính đảng nào khác được tự do hoạt động và thi thố khả năng cả. Bằng quyền lực tuyệt đối trong tay, họ dẹp tan mọi nỗ lực hình thành các đảng đối lập. Có thể nói họ chưa bao giờ chấp nhận sự canh tranh với các đảng khác. Trong cái thế thiếu cạnh tranh như thế, nói không có đảng nào đủ sức lãnh đạo đất nước chỉ là một điều vô nghĩa, hơn nữa, nhảm nhí. Nhưng quan trọng nhất, lời khẳng định ở trên hoàn toàn sai lầm. Từ khi hoà bình lập lại đến nay, đảng Cộng sản chưa bao giờ chứng tỏ là họ có khả năng quản trị đất nước. Nhiều nhà bình luận quốc tế thường nhận xét: đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết cai trị chứ không biết quản trị. Đó là hai khía cạnh khác nhau. Cai trị chỉ nhằm đập tan mọi sự phản biện và phản đối trong khi quản trị nhằm làm cho đất nước ngày một giàu mạnh. Cai trị nhằm duy trì nguyên trạng; quản trị nhằm thay đổi và tiến bộ. Cai trị chỉ cần súng đạn và ngục tù, quản trị cần trí tuệ và viễn kiến. Trước phong trào đổi mới, họ sai lầm; sau phong trào đổi mới, đến tận ngày nay, họ vẫn tiếp tục vấp những sai lầm khác làm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trên trường quốc tế càng lúc càng suy yếu và mức độ phát triển càng lúc càng chậm chạp, trong khi đó nợ nần càng lúc càng chồng chất thêm lên.

Cuối cùng, thứ ba, lời khẳng định về sự ủng hộ của nhân dân là một lời khẳng định hàm hồ, hơn nữa, dối trá. Hàm hồ bởi tính chất mơ hồ của ý niệm nhân dân. Nhân dân là ai? Là trên 90 triệu công dân Việt Nam đang sống trong nước. Có bằng chứng nào cho thấy trên 90 triệu người ấy ủng hộ đảng Cộng sản Việt Nam? Ở các quốc gia khác, để thấy được ý nguyện của nhân dân, người ta tổ chức các cuộc bầu cử tự do thường kỳ trong mỗi ba, bốn hay năm năm. Nhưng ở các nước dân chủ, không có đảng nào lên cầm quyền với sự ủng hộ của toàn thể nhân dân cả. Họ chỉ nhận được sự ủng hộ của đa số, có khi chỉ hơn 50% một tí. Khi đã lên cầm quyền, để thay đổi một chính sách quan trọng nào đó, người ta thường tổ chức các cuộc trưng cầu dân ý, hoặc, một cách thường xuyên và không chính thức, qua các cuộc điều tra dư luận để biết được ý kiến của người dân.

Ở Việt Nam, không những không có bầu cử tự do, người ta cũng không hề tổ chức bất cứ một cuộc trưng cầu dân ý, hay thậm chí, bất cứ một cuộc điều tra dư luận nào cả. Trong hoàn cảnh như thế, nói đến sự ủng hộ của nhân dân chỉ là một sự dối trá. Người ta nói đến nhân dân nhưng lại bất cần ý kiến của nhân dân. Hơn nữa, chỉ cần lắng nghe các cuộc đàm thoại hàng ngày của người dân, người ta cũng sẽ thấy rõ một điều: những người dân bình thường rất chán ghét chế độ cộng sản. Họ đặt ra vô số các câu chuyện tiếu lâm cũng như những câu ca dao mới để chế giễu giới lãnh đạo cũng như đảng Cộng sản nói chung.

Nói một cách tóm tắt, cả ba lý do đảng Cộng sản thường nêu lên để biện minh cho tính chính đáng của chế độ do họ lãnh đạo đều là những sự nguỵ biện, hoàn toàn không có sức thuyết phục.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

———-

Tính chính đáng của đảng cộng sản theo sinh viên Nguyễn Sơn phát biểu và đang được gần 1 triệu 500 ngàn người lắng nghe như sau

https://m.youtube.com/watch?v=xnWxFIH4_dE

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình..., Đảng CSVN: Các hạt giống đỏ- Cha truyền con nối | Leave a Comment »

►Đường băng mới của Trung Quốc ở Biển Đông gần như hoàn thành

Posted by hoangtran204 on 19/04/2015

Foreign Policy

Tác giả: Isaac Stone Fish Keith Johnson

Người dịch: Huỳnh Phan

16-04-2015

H1

Ảnh vệ tinh mới cho thấy, việc Trung Quốc (TQ) xây dựng đường băng trên các đảo tranh chấp tiến triển xa hơn mọi người nghĩ trước đây.

TQ gần hoàn tất việc xây dựng đường băng trên một chỏm đất nhỏ ở Biển Đông, nâng cao khả năng triển khai sức mạnh trong khu vực từ vùng biển tranh chấp và nâng cao hơn nữa phần được mất trong một cuộc thách thức ngày càng căng thẳng giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng và Hoa Kỳ.

Ảnh vệ tinh mới cung cấp cho Foreign Policy cho thấy, những tiến bộ trong việc xây dựng một dải mặt đường trên Đá Chữ Thập. Đá này nằm gần cuối phía nam của vùng biển tranh chấp trên Biển Đông, cách Philippines vài trăm dặm. Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa, một quần đảo mà TQ, Philippines, Malaysia, Việt Nam, Đài Loan và Brunei đòi chủ quyền toàn bộ hoặc một phần. Các ảnh, trong đó ảnh gần đây nhất vào ngày 11 tháng 4, cho thấy, khoảng 3.000 feet (tương đương 914 m) đường băng đã hoàn thành trong các sắc màu xanh lá cây, xanh dương và xám.

Các ảnh này do Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI), một chi nhánh nghiên cứu thuộc nhóm chuyên gia cố vấn ở Washington của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) cung cấp.

“Khả năng bất kỳ loại máy bay nào đều có thể đáp xuống được trên rạn đá này, cải thiện đáng kể khả năng tuần tra khu vực và thực thi các yêu sách của TQ trên Biển Đông”, Giám đốc AMTI Mira Rapp-Hooper nói.

Trò xây dựng rạn đá của TQ, bao gồm nạo vét lớn để biến các rạn san hô thành đảo nhân tạo, đã được báo chí, bao gồm cả Foreign Policy, tường thuật hồi tháng 2. Ngày 16 tháng 4, tờ New York Times và các báo khác đã đăng các ảnh về việc xây dựng của TQ trên Đá Chữ Thập, chụp hồi cuối tháng 3 cho thấy, đường băng đồn đại lâu nay đang hình thành. Các ảnh vào tháng 4 do Foreign Policy thu được cho thấy, thậm chí nhiều công trình hơn đã được thực hiện trên rạn đá này, kể cả việc mở rộng sân bay.

TQ đòi chủ quyền phần lớn Biển Đông, vùng biểnn quan trọng về mặt chiến lược. Đó là một khu vực rộng 1,4 triệu dặm vuông thuộc Thái Bình Dương, phía Bắc tiếp giáp với TQ, còn phía Đông, phía Tây và phía Nam tiếp giáp một số nước Đông Nam Á. Các quan chức hàng đầu của Mỹ, kể cả Tổng thống Barack Obama và lãnh đạo cấp cao hải quân gần đây đã lên tiếng báo động về thái độ hung hăng của TQ trong khu vực, đặc biệt là những nỗ lực bồi tạo các rạn đá đã trở nên nổi bật trong vòng sáu tháng qua. Hồi đầu tháng này, TT Obama chỉ trích việc TQ rõ ràng sử dụng “kích cỡ và cơ bắp để buộc các nước vào vị trí lệ thuộc”. Đô đốc Harry Harris Jr., chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, lên án “trường thành cát” của TQ trong một bài phát biểu hồi cuối tháng 3 tại Úc.

Trong tháng 11, các ảnh do hãng phân tích IHS Jane công bố cho thấy rằng, Bắc Kinh đã bồi tạo nên một đảo lên Đá Chữ Thập đủ lớn để phục vụ một đường băng dài khoảng 10.000 feet (tương đương 3048 m). Những ảnh mới mà AMTI mua từ công ty vệ tinh thương mại DigitalGlobe, cho thấy, việc xây dựng đường băng đã thực sự bắt đầu.

Ảnh ngày 14 tháng 2 cho thấy, các dấu mốc cho một đường băng trên cát, nhưng chưa có mặt đường. Vào giữa tháng 3, mặt đường tráng đã dài ra 958 feet (tương đương 292 m) và tổng chiều dài đường băng là 1.525 feet (tương đương 465 m). Đến ngày 11 tháng 4, có thể nhìn thấy đường băng, sân đỗ, và nhiều cấu trúc phục vụ khác. “Có khả năng là đường băng sẽ hoàn thành sớm”, Rapp-Hooper nói.

Đô Đốc Samuel Locklear, người đứng đầu Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương, nói trong buổi điều trần trước Quốc hội ngày 15 tháng 4 rằng các hoạt động lấn biển “hung hăng” của TQ, gồm khả năng có một sân bay mới, sẽ nâng cao khả năng quân sự của Bắc Kinh trong khu vực. Ông cũng cảnh báo khả năng TQ sẽ tuyên bố một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Đông. Hồi tháng 11 năm 2013, TQ tuyên bố thành lập một khu vực nhận diện phòng không trên Biển Hoa Đông, làm tăng căng thẳng giữa TQ, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, một đồng minh thân cận của Nhật Bản. Như nhiều học giả TQ và các quan chức quân đội về hưu gợi ra, việc tuyên bố một vùng [nhận diện phòng không] bên trên Biển Đông có thể làm tăng căng thẳng với Hoa Kỳ hơn nữa. Và đường băng sẽ góp vào chuyện đó.

“Nó mở rộng khả năng hoạt động của họ trong Biển Đông, bao gồm cả giám sát khu vực và có khả năng từ chối truy cập đối với những nước khác”, một quan chức cao cấp trong chính quyền Obama gần đây đã nói với Foreign Policy.

Xây đường băng trên Đá Chữ Thập không là việc làm lần đầu của TQ trong khu vực này. Trung Quốc đã có một sân bay ít được sử dụng trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo nhỏ ở Biển Đông, hoàn thành vào năm 1990. Tuy nhiên, nó có thể có tiềm năng rất quan trọng trong việc củng cố chiến lược cơ bản của TQ, giữ Hải quân Mỹ càng cách xa bờ biển TQ càng tốt nhờ vào một hỗn hợp máy bay trên đất, tàu ngầm và đội pháo tên lửa diệt tàu.

Đóng quân trên Đảo Chữ Thập và quan trọng là có thêm một đường băng đa dụng sẽ mở rộng tầm hoạt động quân sự tiềm năng của TQ: Đường băng dài 10.000 feet (3.048 m) đủ sức đáp ứng gần như tất cả các loại máy bay trong quân đội TQ.

TQ không phải là nước đầu tiên xây đường băng trên quần đảo Trường Sa – trên thực tế, ngoại trừ nước Brunei nhỏ bé, TQ là nước cuối cùng trong các bên tranh chấp làm điều này. Đài Loan, Việt Nam, Malaysia và Philippines đều có đường băng trên quần đảo Trường Sa, dù khác nhau rất lớn về kích thước và mức độ phức tạp, tất cả đều có vẻ ít đáng kể hơn nhiều so với đường băng của TQ.

Isaac Kardon, một học giả thuộc Viện Luật Mỹ-Á, Đại học Luật New York (NYU Law), đang nghiên cứu về vấn đề Biển Đông nói: “Việc xây dựng khả năng nhằm phô trương sức mạnh đang diễn ra. Vấn đề chỉ là TQ đang xây dựng nhiều hơn bất cứ nước nào khác”. Sở ngoại vụ tỉnh Hải Nam, tỉnh quản lý Đá Chữ Thập, đã không trả lời đề nghị bình luận, còn Hải Quân TQ thì không liên hệ được.

Philippines đã lớn tiếng kêu gọi sự hậu thuẫn nhiều hơn từ các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong việc đối đầu với điều mà họ xem là sự gây hấn của TQ ở Biển Đông. Tuần này Indonesia cho biết họ muốn có thêm các cuộc tập trận huấn luyện với Hải Quân Mỹ trong các khu vực ở Biển Đông gần nơi TQ tuyên bố chủ quyền.

Báo chí TQ đã không hề né tránh việc đăng tải dự án xây dựng trên Đá Chữ Thập, hoặc sự phát triển đảo. Cuối tháng 3, một bài báo trên các trang web tin tức iFeng của TQ tường thuật rằng, lính trên Đá Chữ Thập – mà TQ gọi là Yongshu (Vĩnh Thử) – bây giờ có thể truy cập mạng 4G, do vậy lính đóng quân trên đảo có thể “chia sẻ những phong cảnh đẹp”. Báo Tài Chính Quốc Tế của của TQ ước tính rằng TQ đã chi khoảng $12 tỉ cho việc xây dựng các phần nhân tạo của Đá Chữ Thập, chưa kể các cấu trúc trên đảo.

Trong khi Bộ Ngoại giao TQ nói rằng các đảo này sẽ được sử dụng cho các mục đích quốc phòng không xác định, họ đã tìm cách hạ thấp những tác động quân sự của các hoạt động đó. Đầu tháng 4, một người phát ngôn Bộ Ngoại giao TQ nói rằng việc bồi đắp thêm các rạn san hô nhằm làm cho việc tiến hành các hoạt động đáp ứng thiên tai, chẳng hạn như các chuyến bay tìm kiếm, cứu hộ và ứng phó với giông bão, dễ dàng hơn.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích hoài nghi. “Đó không phải là công việc nhân đạo nhằm tạo thêm sự cơ động cho việc cứu trợ nhân đạo. Đó là một cách triển khai vành đai phòng thủ – chấm hết”, Said Bryan McGrath, Phó giám đốc Trung tâm American Seapower thuộc Viện Hudson.

Ông nói rằng nó có thể giúp TQ triển khai máy bay, tên lửa đất-đối-đất, tên lửa đạn đạo chống tàu, và các hệ thống phòng thủ trên không “Trong khi làm như vậy, họ giữ cho kỵ binh — tức Hải quân Mỹ — thậm chí ở cách xa hơn là khi chỉ đơn giản triển khai vành đai phòng thủ đó từ đại lục”, McGrath nói.

Chắc chắn một số nhà phân tích Mỹ thấy các hoạt động bồi đắp đất của TQ không đe dọa nhiều. M. Taylor Fravel, một chuyên gia về tranh chấp biển châu Á tại Viện Công Nghệ Massachusetts (MIT), nghi vấn liệu các sân bay cô lập không có lớp các cấu trúc phục vụ đầy đủ như các cơ sở tiếp tế nhiên liệu và bảo trì sẽ làm được gì nhiều để làm tăng tầm hoạt động quân sự của TQ. Ông nói, chúng vẫn sẽ mong manh đối với bất kỳ cuộc tấn công nào của Mỹ. Hơn nữa, chúng cũng mong manh trước thời tiết.

“Một cơn bão lớn có thể cuốn đi hết tất cả”, Rapp-Hooper đồng ý.

Cuộc đấu khẩu về 10.000 feet (3.034 m) bê tông trên Đá Chữ Thập nhấn mạnh mức độ mà các đường băng đang và từ lâu được dùng cho việc triển khai sức mạnh trong những khoảng cách rộng lớn của Thái Bình Dương. Trong Thế chiến II, việc Nhật Bản xây dựng một sân bay trên đảo Guadalcanal đã khiến Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tung ra cuộc tập kích đầu tiên trên đất liền trong Chiến Tranh Thái Bình Dương. Tương tự như vậy, nhu cầu về các sân bay áp chế phần lớn chiến lược nhảy cóc (island-hopping) lên các đảo trung tâm Thái Bình Dương của Đô Đốc Chester Nimitz qua việc tóm lấy các bệ phóng ở chuỗi đảo Marshalls, Marianas và cuối cùng là Ryukyu để có thể giành ưu thế trên không ở khu vực, lẫn việc ném bom tầm xa vào các đảo chính của Nhật. Ngay cả ở châu Âu, các sân bay ở các vị trí chiến lược cách xa nhau như Iceland, Azores, và Malta đã đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc chiến chống tàu ngầm của Đức và tấn công các tuyến đường tiếp liệu của Phe Trục. Gần đây hơn, Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương đã là một căn cứ quan trọng cho các cuộc không kích tầm xa của Mỹ ở Trung Đông.

Trớ trêu thay, mặc dù qua nhiều thập kỷ tiến bộ trong công nghệ quân sự, sân bay vẫn còn quan trọng như từ trước tới nay, vì máy bay phản lực ngày nay có tầm hoạt động tương đối ngắn, Đảo Hải Nam của TQ và Quần Đảo Trường Sa cách nhau gần 600 dặm, không quân TQ sẽ phải hoạt động ở mức giới hạn cuối cùng trong bất kỳ cuộc đối đầu nào trong khu vực.

Nhưng xây dựng một đường băng trên Đá Chữ Thập về cơ bản cho Bắc Kinh một tàu sân bay không thể chìm, nằm sẵn ở trung tâm Biển Đông. Theo cách đó, vành đai phòng thủ của TQ được đẩy xa bờ biển gần 600 dặm sẽ khiến cho các nhóm tấn công tàu sân bay Hải Quân Mỹ với các máy bay tầm ngắn khó can thiệp hơn nhiều mà không sợ mất đi một con tàu nhiều tỉ đô la.

nguon: anhbasam

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.