Trần Hoàng Blog

Archive for the ‘Hội nghị Thành Đô 3-9-1990’ Category

► Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan (năm 1813): “hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy”- Năm 2000, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên ký giấy dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Posted by hoangtran204 on 17/08/2016

>>>Năm 1813, phụng lệnh Vua Gia Long (trị vì 1802-1819), cụ Nguyễn Du (1765-1820) đi sứ qua Trung Hoa. Dịp nầy, cụ đã sáng tác 120 bài thơ, trong đó có hai bài thơ cụ viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.” …từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ (năm 1813), có hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Nhưng dưới thời cộng sản, năm 2000, đảng CSVN đã ngang nhiên dâng Ải Nam Quan cho Trung Quốc!

Trích: “Theo lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” đăng trên Tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001, “Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó,…Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000″

Kết quả của hành động bán nước của đảng CSVN, Ải Nam Quan nay thuộc về Trung Quốc! Cửa Hữu Nghị Quan hiện nay lấn sâu vào nội địa Việt Nam, và cách Ải Nam Quan 300 mét!

Đảng CSVN đã tự ý ký kết và bán Ải Nam Quan cho Trung Cộng (để đổi lấy cái gì đó), và sự mất đất đai này là bằng chứng bán nước mà đảng CSVN cố tình giấu diếm cả nước. Thậm chí, chúng không dám trưng bày bản đồ VN với chi tiết các cột mốc biên giới cho dân chúng VN biết rõ tình trạng vùng đất biên giới hiện nay ra sao.

Về biển đảo và lãnh hải, ngày 8/6/2014, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng cho thấy đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! (Xem link cuối bài).

 

Thi Sĩ Nguyễn Du Qua Ải Nam Quan

Trần Gia Phụng

16-4-2002
Năm 1813 (quý dậu), Nguyễn Du (1765-1820) vừa được phong hàm Cần chánh điện học sĩ, (1) vâng lệnh vua Gia Long (trị vì 1802-1819), làm chánh sứ sang nhà Thanh (Trung Hoa).  Trên đường đi sứ, ông sáng tác nhiều bài thơ chữ Nho và sau tập hợp lại thành sách Bắc hành tạp lục.

Bắc hành tạp lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ  Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự của mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa.  Đó là bài “Nam Quan đạo trung” và “Trấn Nam Quan.”     

NAM QUAN ĐẠO TRUNG
“Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan,
Vạn lý đan xa độ Hán quan.
Nhất lộ giai lai duy bạch phát,
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.
Quân ân tự hải hào vô báo,
Xuân vũ như cao cốt tự hàn.
Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,
Minh Giang bắc thướng thị Trường An.”
(2) 

Dịch nghĩa:

GIỮA ĐƯỜNG NAM QUAN
“Thư ngọc [cuả vua] giao xuống từ năm sắc mây,

Muôn dặm xe đơn côi đi ngang qua cửa người Hán.

Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,

Trong 20 ngày [3] cái nhìn thấy chỉ núi xanh.

Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,

Mưa xuân bám chặt buốt vào xương.

Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc, [4]

Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.” [5]

           

TRẤN NAM QUAN

“Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,

Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).

Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện,

Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.

Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,

Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..

Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,

Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.”(6)

Dịch nghĩa:

TRẤN NAM QUAN

“Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,

Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ.

Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi,

Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi.

Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,

Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày.

Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,

Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”  

Cả hai bài thơ trên cho thấy lúc đó Nam Quan rất hoang vắng, “Nhất lộ giai lai duy bạch phát,/ Nhị tuần sở kiến đãn thanh san.”  (Suốt đường cùng tới chỉ có mái tóc bạc,/ Trong 20 ngày cái nhìn thấy chỉ núi xanh.)  Chính nơi chốn hoang vắng đó “Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm” (Một cửa ải oai hùng trấn đóng giữa lòng muôn núi); và từ sau thời Lý Trần cho đến lúc Nguyễn Du đi sứ, trong hơn 300 năm: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ), hai nước Việt Hoa đã chia đều mặt ải nầy, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi).

Hai bài thơ nầy mô tả tâm trạng cuả Nguyễn Du trên bước đường đi sứ, nói lên nỗi lòng trung quân ái quốc cuả ông, “Quân ân tự hải hào vô báo,/ Xuân vũ như cao cốt tự hàn./ Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn,/ Minh Giang bắc thướng thị Trường An.” (Ơn vua như biển chẳng báo đáp được bao nhiêu,/ Mưa xuân bám chặt buốt vào xương./ Đường vua thênh thênh chớ thắc mắc,/ Sông Minh đi lên phía bắc là Trường An.”  Hoặc “Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,/Thiên cận tài tri giáng trạch thâm../Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,/ Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm.” (Đất xa xôi thường nghe lời đồn sai,/ Gần trời mới biết ơn mưa móc cao dày./ Cửa khuyết ngoái đầu ngoài mây biếc,/ Nhạc vua bên tai còn nghe văng vẳng.”

Đặc biệt, trong lúc cảm tác, thi sĩ Nguyễn Du nắm rất vững hoàn cảnh lịch sử nước nhà và cả lịch sử chiếc ải bằng hai câu thơ mở đầu bài “Ải Nam Quan”: “Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,/Tam bách niên lai trực đáo câm (Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi mờ mịt khó tìm,/ Suốt từ ba trăm năm thẳng tới bây giờ). 

Thực vậy, ải Nam Quan nguyên có tên là ải Pha Lũy, được sử sách nói đến nhiều khi xảy ra cuộc chia tay bi hùng giữa hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi.  Nguyên khi nhà Minh đem quân đánh nước ta và bắt gia đình Hồ Quý Ly về Trung Hoa vào năm 1407, có một đại thần của Hồ Quý Ly cũng bị bắt đem theo là Nguyễn Phi Khanh, phụ thân của Nguyễn Trãi.  Nguyễn Trãi đã theo tiễn thân sinh của mình lên tận ải Nam Quan.  Chính tại đây, Nguyễn Phi Khanh đã khuyên Nguyễn Trãi: “Con yêu quý! chớ xuôi lòng mềm yếu/ Gác tình riêng, vỗ cánh trở về Nam!/ Con về đi!  Tận trung là tận hiếu/ Đem gươm mài bóng nguyệt dưới khăn tang.” (Thơ Hoàng Cầm).  Thế là Nguyễn Trãi lên đường trở về nam, thực hiện những điều mà ông đã hứa với cha: “Gạt nước mắt, con nguyện cùng thiên địa/  Một ngày mai, con lấy lại sơn hà.”(Thơ Hoàng Cầm).

Trở lại với thi sĩ Nguyễn Du, có thể trên đường đi sứ, khi ngang qua ải Nam Quan, nhà thơ đã đọc kỹ và nắm vững nội dung bài văn bia của quan đốc trấn (đầu tỉnh) Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Đang đã lập vào năm 1785 (ất tỵ).  Tấm  văn bia nầy được đặt ngay tại cửa ải Nam Quan, có thể ngày nay không còn, nhưng may mắn được một nhà văn và là một học giả nổi tiếng dưới thời vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) ghi lại.

Nguyên sau khi Nguyễn Du đi sứ 36 năm, vua Tự Đức đã cử ông Nguyễn Văn Siêu,(7) sang giao thiệp với nhà Thanh (Trung Hoa) năm 1849

Nguyễn Văn Siêu học bác uyên thâm, nghiên cứu rộng rãi.  Tương truyền rằng vua Tự Đức đã sắp ông là người đứng đầu trong bốn văn tài lỗi lạc nhất dưới triều đại mình: “Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,/ Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” (Văn chương mà như cuả các ông Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát làm cho văn học đời Tiền Hán không còn [làm khuông mẫu nữa],/ Thơ mà đến mức cuả các vị Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương làm cho thơ đời thịnh Đường mất luôn giá trị.) (8)

Trên đường đi sứ, ngang qua ải Nam Quan, Nguyễn Văn Siêu không cảm tác thành thơ như Nguyễn Du, mà ghi lại toàn cảnh Nam Quan và bài văn bia của  Đốc trấn Nguyễn Trọng Đang  lưu lại đời sau trong quyển sách về điạ lý nổi tiếng cuả ông là Phương Đình dư điạ chí (có sách viết là Phương Đình địa loại chí). 

Phương Đình dư địa chí được đề tựa vào năm 1865, gồm 5 quyển.  Trong quyển thứ 5, mục viết về tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) đề cập đến ải Nam Quan như sau:

“… ở địa phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp điạ giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, hai bên tả hữu núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khoá, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là cửa Nam Quan (một tên là Đại Nam Quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam Quan.  Sử ký chép: năm thứ 8 niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê [1540], (9) Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là lũ Nguyễn Như Quế qua cửa lò Trấn Nam Quan, đến mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng, cái tên Trấn Nam mới thấy từ đây.)  Có Ngưỡng Đức Đài, khi trước lợp cỏ, năm thứ 34, niên hiệu Cảnh Hưng quan Đốc trấn là Nguyễn Trọng Đang sửa lại có văn bia như sau đây:

Khi nước ta có cả đất Ngũ lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau nầy thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh [9] nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta) [10] đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo cũ vậy.  Nhà Lê ta trung hưng đời thứ 14, vua ta kỷ nguyên năm thứ 41 [1780], là năm canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn Long nhà Thanh, Đang tôi làm giữ chức Đốc trấn qua 5 năm là năm giáp thìn [1784], sửa chữa lại, đổi dùng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng.  Trước kia Đang tôi đi sứ về, được lĩnh trấn nầy, tạ sứ trở về một lần, hạ sứ, cống sứ tiến quan hai lần, tôi thường phải đón tiếp.  Từ nghĩ nước ta, dùng lễ văn thông với Trung Quốc, hiện nay đức Đại hoàng đế, sủng mạnh thường ban, ngoài việc tuế cống sứ thần thời thường phụng mạng đi lại, nên sửa sang đài quán cao rộng cho được xứng đáng với tình nghi, đem việc tâu về triều, đã được phê chuẩn, mới ủy cho thập nhị hiệu phiên thuộc, tính toán tài liệu phí dụng, bắt dân làm việc, có bốn dịch trưởng trông nom công việc, khởi công từ mùa hạ năm giáp thìn[1784], đài cũ rồi, được cao rộng mới từ đấy, việc làm phải theo với thời thế, không dám làm hơn người trước.  Mùa đông năm ấy, Đang tôi được triệu về kinh, sau nhân sứ sang Trung Quốc khánh hạ trở về, mùa xuân năm ất tỵ [1785], vâng mệnh đón tiếp, phó sứ Nguyễn Đường Chi là cháu tôi vậy, đã may được vâng hưu mệnh, làm vinh dự cho cả chú và cháu.  Kịp đến cửa quan, thì đài cũng vừa hoàn thành, các phiên thuộc xin đem công việc khắc vào bia đá, nên mới kể ngạnh khái như trên.  Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.

Chức Đặc tiến kim tử vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, tước Lạp Sơn Bá, Nguyễn Trọng Đang, hiệu là Thanh Chương, tự là Chú Du ký tên.

Vua ta kỷ nguyên năm thứ 46 [1785là năm ất tỵ, mùa xuân, trước ngày vọng [ngày 15]  ba ngày.” (11)

Tuy không phải là nhà phân định biên giới, nhưng do kinh nghiệm thực tế trong khi đi sứ, Nguyễn Du đã viết rõ, “Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện” (Hai nước [Việt Hoa] chia đều từ mặt luỹ lẻ loi), tức mặt Ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Nam và Trung Hoa

Quan đốc trấn Nguyễn Trọng Đang, sau khi mô tả cửa ải và các công trình kiến trúc do chính ông đã đứng ra trông coi xây dựng tại đây, đã ghi lại một câu vàng đá trong tấm bia lưu lại cho hậu thế đặt ở Nam Quan năm 1785: “Sau nầy kẻ giữ đất và kẻ đi sứ, sẽ có thể xem xét ở bia nầy vậy.” 

Dùng bia nầy để xem xét, có nghĩa là bia nầy là chứng tích cho đời sau biết rằng cửa ải Nam Quan chính là biên giới giữa hai nước Việt Hoa, và biên giới nầy đã đi vào lịch sử dân tộc trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm:

“…Gần đây lấy châu Văn Uyên, trấn Lạng Sơn làm cửa quan, có đài gọi là Vọng Đức, không biết dựng từ năm nào, hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia Tĩnh nhà Minh (ngang với khoảng niên hiệu Nguyên Hoà nhà Lê nước ta  [1533-1548]. 

Trước thời Nguyễn Trọng Đang khoảng 250 năm còn có nghĩa là từ khi ải được chính thức biết đến trong lịch sử cho đến nay (2002) đã gần 500 năm nay.

Tiếc thay, tiếc thay, mới chỉ hơn 200 năm sau Nguyễn Trọng Đang, những kẻ giữ đất và những kẻ đi sứ Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, (12) đã bỏ qua không cần xem xét tấm bia đó nữa, và đang tâm nhượng đứt vùng đất ải Nam Quan và các công trình kiến trúc Việt Nam tại ải Nam Quan cho quân Tàu phương Bắc. 

 

Chẳng những quên đi những lời vàng đá ghi khắc trên bia, chắc chắn những kẻ vô tâm nầy cũng đã thủ tiêu luôn tấm bia Nguyễn Trọng Đang, như chính họ đã thủ tiêu lịch sử tranh đấu gian lao để bảo vệ vùng đất thiêng liêng đó của tổ tiên dân tộc Việt.  Một câu ca dao phổ thông của người Việt đã nhắc nhở rằng dù bia đá bị mòn đi hay bị mất đi, nhưng ngàn năm bia miệng, vâng, “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”….

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 16-4-2002)

 

CHÚ THÍCH:

Cần chánh điện học sĩ không phải là một chức quan, mà là một hàm tước, phong cho những người có công với triều đình. (Trần Thanh Tâm, Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, Nxb. Thuận Hoá, 1996, tr. 71.)

Bài thơ nầy trích từ mục “Bắc hành tạp lục (1813-1814)”, đăng trong Nguyễn Du toàn tập, do Mai Quốc Liên chủ biên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến hợp soạn, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 1996, tr. 293.

Ngày xưa chia 1 tháng thành 3 tuần: thượng tuần, trung và hạ tuần.  Vì vậy nhị tuần là 20 ngày.

Vương đạo: nghĩa đen là đường cuả vua, nghĩa bóng là đạo trị nước cuả vua hoặc đạo trị nước dựa trên nhân nghĩa.

Trường An: chỉ kinh đô nhà Thanh ở Yên Kinh tức Bắc Kinh ngày nay.

Nguyễn Du toàn tập, sđd. tr. 295.

Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình, người thôn Dũng Thọ, huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, đỗ cử nhân trường thi Thăng Long năm 1825, đỗ phó bảng tại kinh đô Huế năm 1838, làm quan đến chức án sát, rồi cáo quan về quê dạy học.  Ông được vua Tự Đức cử đi sứ sang Trung Hoa năm 1849.  (Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, in lần thứ 7, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài Gòn, 1960, tt. 341, 354.)

Cao Bá Quát (? – 1854), hiệu là Chu Thần, người xã Phù Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, đỗ cử nhân năm 1831, làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây).  Ông là người tài ba và rất tự hào về sở học cuả mình nên thường bị các quan trên đè nén.  Ông không bằng lòng và cáo quan về hưu trí.  Năm 1854, Cao Bá Quát tham gia cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự ở Sơn Tây, bị thất bại và bị bắt giết.  Cuộc nổi dậy cuả Lê Duy Cự thường được gọi là “giặc châu chấu”, nhân vì trong năm đó ở Bắc Ninh và Sơn Tây bị nạn châu chấu phá hoại muà màng, nên người ta gọi như thế. 

Tùng Thiện Vương (1819-1870) tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, con trai thứ 10 cuả vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840), em cuả vua Thiệu Trị (trị vì 1840-1847), và là chú cuả vua Tự Đức (trị vì 1847-1883).

Tuy Lý Vương (1820-1897) tên thật là nguyễn Phúc Miên Trinh, con trai thứ 11 cuả vua Minh Mạng, em cuả vua Thiệu Trị và Tùng Thiện Vương, chú cuả vua Tự Đức.

Gia Tĩnh:  niên hiệu duy nhất của vua Trung Hoa là Minh Thế Tông (trị vì 1522-1566). 

Nguyên Hoà:  Sau khi Mạc Đăng Dung đảo chánh, lật đổ nhà Lê, giết vua Lê Chiêu Tông năm 1526 và em Lê Chiêu Tông là vua Lê Cung Hoàng năm 1527, lập ra nhà Mạc, thì một cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim (1468-1545) bỏ trốn qua Lào.  Nguyễn Kim tìm được người con út cuả Lê Chiêu Tông tên là Lê Duy Ninh, lập lên làm vua tức Lê Trang Tông (trị vì 1533-1548), trung hưng nhà Lê.  Lê Trang Tông lấy niên hiệu là Nguyên Hoà.  Vì các nhà viết sử ngày trước xem nhà Mạc là ngụy triều, nên không dùng niên hiệu cuả nhà Mạc mà chỉ dùng niên hiệu cuả nhà Lê.

Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình dư điạ chí, bản dịch cuả Ngô Mạnh Nghinh, Nxb. Tự Do, Sài Gòn, 1960, tt. 268-269.  Phương Đình dư điạ chí đề tưạ năm 1862, gồm 5 quyển: quyển đầu trích lục các sách Trung Hoa viết về nước ta, quyển 2 viết về điạ lý chí nước ta thời Hậu Lê, quyển 3 đến quyển 5 chép về thời cận kim.  [Dịch giả Ngô Mạnh Nghinh, sinh năm 1893, đỗ cử nhân Nho học năm 1915, cùng khoa với hai em là Ngô Trọng Nhạ (sinh 1897) và Ngô Thúc Địch (sinh năm 1900).  Về sau, ông Ngô Mạnh Nghinh đã dạy Hán văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn từ 1954 đến 1960.]

Sau đây là lời kể cuả ông Lê Công Phụng, thứ trưởng Ngoại giao Hà Nội về những “kẻ đi sứ” trên tạp chí Cộng Sản số tháng 1-2001 và đã được CSVN đưa lên mạng lưới thông tin quốc tế: “Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa hiệp cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong vịnh… Trong các năm 1974 và 1977-1978, hai nước tiến hành 2 vòng đàm phán về phân định… Hai nước đã ký “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới – lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc” ngày 19-10-1993… Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên… Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cao cấp hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký hiệp định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000

Về biển đảo và lãnh hải, Trung Quốc trưng 5 bằng chứng đảng CSVN công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ! >>> ►Bộ ngoại giao Trung Quốc công bố 5 bằng chứng bán nước của ĐCSVN

Posted in Biên Giới, Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►VN tứ bề thọ địch, nếu không liên minh với Mỹ sẽ mất nước trong nay mai

Posted by hoangtran204 on 26/06/2016

Tác giả:

25-6-2016

Nước Nga của “đại đế” Putin đã chính thức ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, như một mũi dao đâm sau lưng “bạn vàng Việt Nam” một thuở.

Chưa hết, hai “ông em ruột” của Việt Nam là Lào và Cămphuchia cũng đứng hẳn về phía Trung Quốc, gián tiếp ( ngầm) ủng hộ đường lưỡi bò của bọn giặc Trung cộng…

Than ôi, Việt Nam từng moi ông Hunsen từ trong túi quần của bè lũ Pôn Pốt để dựng ông này lên thành “lãnh tụ” hôm nay, hi sinh cả mấy vạn sinh mạng “bộ đội tình nguyện” và tiêu tốn hàng tỉ đô la cho chế độ bạn vàng Hunsen để hôm nay ông này thọc lưỡi dao Trung Quốc vào sườn tây nam đất nước.

Việt Nam cũng đã hi sinh nhiều vạn “bộ đội tình nguyện” và hàng tỉ đô la từ kháng chiến chống Pháp đến hôm nay cho nước Lào đỏ. Nay Lào miệng thì vẫn hô Việt Nam là ruột thịt số một, nhưng đứng hẳn về phía Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, gián tiếp thọc lưỡi dao vào sườn Tây tổ quốc.

Nếu Trung Quốc phát động chiến tranh đánh cướp đảo và đất liền Việt Nam, chắc chắn hai “ông em ruột” Miên – Lào sẽ cho Trung Quốc mượn đất và hợp tác với giặc Tầu bao vây toàn diện nước ta, hòng cho Việt Nam vào rọ thép không đường thoát.

Như vậy , chiến lược ngoại giao của nhà nước Việt Nam: “làm bạn với tất cả các nước, không liên minh với nước này để chống lại nước khác” đã hoàn toàn thất bại.

Chưa bao giờ Việt Nam bị cô lập như bây giờ, hoàn toàn không có “bạn vàng” hoặc ông lớn nào giúp đỡ bảo vệ khi Trung Quốc tiến đánh.

Cũng chưa bao giờ vận mệnh dân tộc, tổ quốc nguy nan, nghìn cân treo sợi tóc như hôm nay. Buộc người dân yêu nước phải lo lắng và lên tiếng.

Rằng đúng như lời ông Lê Duẩn (kẻ chống Trung Quốc triệt để nhất) đã nói đại ý : Trung Quốc không chỉ là kẻ thù truyền kiếp của cha ông ta trong quá khứ mà còn là kẻ thù nguy hiểm nhất mãi mãi về sau vì nó không bao giờ bỏ mộng chiếm Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á…

Nhìn vào những diễn biến gần đây trên Biển Đông và trong nước, không cần nhậy cảm cũng có thể biết Trung Quốc sẽ tiến đánh Việt Nam trong nay mai, hòng chiếm tất cả các đảo Trường Sa của Việt Nam, cấm Việt Nam và thế giới bay vào vùng trời lưỡi bò của chúng vẽ ra, trong thời cơ thuận lợi Mỹ đang bận bầu cử tổng thống.

Ngày 17-2-1979 Trung Quốc đã mang hàng chục vạn quân bất ngờ đánh vào dọc tuyến biên giới phía Bắc nước ta nhưng bạn vàng Liên Xô ( ngầm ký kết liên minh quân sự với Việt Nam) vẫn bình chân như vại, không hề làm động tác giả động binh trên biên giới Xô – Trung.

Trong thời gian cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược ấy, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài báo chống Trung Quốc, vạch ra cơ man tội ác của bọn xâm lược phương Bắc với nước ta được in trên các báo : Nhân Dân, Quân Đội nhân dân, Công an nhân dân, Tiền Phong, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng…

Rằng chính Trung Quốc đã phá hỏng cuộc kháng chiến chống Pháp của ta. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp gần như phải hàng thì Trung Quốc ép ta ký hiệp định đình chiến Geneve, đến nỗi ngoại trưởng Phạm Văn Đồng phải vừa khóc vừa ký…Như vậy Việt Nam đâu phải quốc gia độc lập ? Độc lập sao được khi ta đã thắng giặc Pháp sau Điện Biên Phủ, Pháp sắp đầu hàng, lại phải khóc nghe lệnh Trung Quốc ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước?

Rằng trước ngày 30-4-1975, khi Sài Gòn bị Cộng quân bao vây tứ phía, Trung Quốc vẫn nhờ sứ quán Pháp móc nối với ông Dương Văn Minh, hứa nếu ông Minh lên tiếng yêu cầu, Trung Quốc sẽ cho triệu quân đổ bộ vào Sài Gòn cứu Việt Nam cộng hòa, đánh tan năm cánh quân Việt cộng đang bao vây đô thành…

Trung Quốc rất sợ Việt Nam thống nhất, chúng muốn bắt Bắc Việt làm lính đánh thuê cho chúng mãi mãi như lời Mao Trạch Đông : “ chúng ta sẽ đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Ông Lê Duẩn cũng từng nói toẹt ra: “Chúng ta đánh Mỹ cho Liên Xô và Trung Quốc”.

Chiến lược ngoại giao của đảng CS VN từ những năm 50 của thế kỷ trước dựa hẳn vào Liên Xô Trung Quốc, tự mình chui vào cái rọ của chúng, được chúng nuôi bằng quá nhiều tiền, dùng tiền để sai khiến, đưa máu Việt Nam ra làm phương tiện cho mục đích bá quyền của hai đế quốc Xô-Trung đã hoàn toàn thất bại.

Trung Quốc ngay từ thời “Trung Hoa Dân quốc” trước năm 1949 của Tưởng Giới Thạch đã vẽ bản đồ lưỡi bò, toan tính chiếm hết Biển Đông của mấy nước Đông Nam Á : Việt Nam, Philippin, Indonesia, Malaisia…

Năm 1949, Mao Trạch Đông chiến thắng Tưởng Giới Thạch, tiếp nhận bản đồ lưỡi bò của Tưởng, nhất quyết chiếm Biển Đông. Bọn Hán tặc mới này biết rằng nếu vẫn để Mỹ đứng chân ở miền Nam Việt Nam thì mãi mãi chúng không dám xía vào vùng biển mà chúng gọi là lưỡi bò này.

Phải tìm cách đuổi Mỹ đi nên Mao đã chọn Việt Nam làm con bài, chọn xương máu Việt Nam để thực thi ý đồ chiến lược của chúng là chiếm Việt Nam và chiếm toàn bộ Đông Nam Á, bằng cách bày ra trò “giải phóng miền Nam” để Việt Nam làm tiên phong trên bàn cờ bá quyền của chúng. Chúng viện trợ hết cỡ cho Việt Nam, bốc các ông lãnh đạo CS VN là anh hùng thời đại, dám đánh Mỹ cứu mình và cứu thế giới. Do đó Tố Hữu mới làm thơ như sau : “ Ta vì ta ba chục triệu người / Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”, “Vui sướng bao nhiêu trên tuyến đầu diệt Mỹ”…

Năm 1973 Mỹ rút quân khỏi Nam Việt Nam. Năm 1974, Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc này Mỹ đã chơi con bài Trung Quốc để bao vây Liên Xô; vì Mỹ đã thua con bài Trung Quốc là Việt Nam : đánh mãi không thắng !

Không thực hiện được việc chia đôi đất nước Việt Nam vĩnh viễn, Trung Quốc vô cùng căm thù ban lãnh đạo Việt Nam dám thống nhất đất nước, bèn dùng bọn tay sai Pôn Pốt, Iêng xa ri , sai bọn ác ôn Cămpuchia này mở cuộc chiến tranh đánh vào sườn Tây Nam đất nước gây bao tang thương chết chóc cho nhân dân Việt Nam.

Trung Quốc dìm Việt Nam trong biển máu chiến tranh với Khơ me đỏ, để năm 1979 chúng tổng tấn công, đánh toàn diện biên giới phía Bắc gây ra núi xương sông máu cho nhân dân Việt Nam. May mà cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, Việt Nam chống cự mãnh liệt, khiến Trung Quốc của Đặng Tiểu bình bị thiệt hại quá mức nên chúng phải rút.
Năm 1990, thấy tình hình cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam bí mật “hàng” Trung Quốc bằng hiệp ước Thành Đô mờ ám…Trung Quốc chỉ dùng vũ khí có tên là chủ nghĩa cộng sản mà không cần dùng xương máu đã thâu tóm được Việt Nam trong cái thòng lọng có tên là “bốn tốt và mười sáu chữ vàng”…

Năm 1988, Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma của Việt nam (là một đảo lớn trên quần đảo Trường Sa của VN)…Đoạn, Trung Quốc liên tục chiếm các đảo đá ngầm bồi đắp đất làm các đảo nhân tạo trên vùng biển của Việt Nam, đưa máy bay và vũ khí ra các đảo mới chiếm tuyên bố sẽ mở vùng nhận dạng phòng không ( ADIZ) trên biển Đông, khóa hẳn đường ra biển của Việt Nam. Mối quan hệ hữu hảo giữa Việt Cộng và Trung cộng hiện nay chỉ bằng lỗ miệng, còn thực chất vẫn là chiến tranh ngầm, chiến tranh không tuyên bố…

Giờ đây, việc Trung Quốc sắp mở vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông sẽ là lời tuyên chiến với Việt Nam.
Việt Nam không liên kết với Mỹ, sẽ mất nước trong nay mai. Nếu không có Mỹ liên tục đưa tàu đến Biển Đông để tuần tiễu, Việt Nam đã bị bạn vàng Thành Đô là bọn xâm lược Trung Quốc chiếm lâu rồi…

Sài Gòn ngày 25-6-2016

© T.M.H.

© Đàn Chim Việt

—————————————

Chú thích ảnh:

1- Con tem của Việt Nam 1954, chiến lược gắn kết VN với hai siêu cường cộng sản của đảng CS VN đã hoàn toàn thất bại, gây hiệu ứng ngược.

viettrung

2- hình Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng với bạo chúa Giang Trạch Dân, Lý Bằng ký kết hiệp định Thành Đô 1990.

thanhdo

3- Lời Mao Trạch Lươn quyết chiếm trọn biển đông và chiếm hết các nước Đông Nam Á.

mao

____

 

Posted in Chiến Lược doi pho Trung Quoc, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Lào, Trung Quốc xâm nhập Kamphuchea | Leave a Comment »

► Nhà máy giấy Lee-Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông Cửu Long?

Posted by hoangtran204 on 23/06/2016

Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông Cửu Long?

Lê Anh Hùng

Blog VOA

22-6-2016

Vị trí 3 căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc trên bản đồ. Courtesy Photo

Vị trí 3 căn cứ quân sự trá hình của Trung Quốc trên bản đồ. Courtesy Photo

Trong bối cảnh vụ đại thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra từ đầu tháng Tư đến nay đang khiến hàng triệu ngư dân Miền Trung rơi vào tình cảnh sống dở chết dở, hàng chục triệu người Việt cả trong và ngoài nước cảm thấy bất an, lo lắng thì thông tin nhà máy giấy khổng lồ Lee & Man Việt Nam nằm ngay bên bờ sông Hậu sắp đi vào hoạt động vào tháng Tám tới đây lại khiến công chúng đứng ngồi không yên.

Nhà máy giấy này là của Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam (thuộc Tập đoàn Lee & Man Paper Hongkong – Trung Quốc), với tổng mức đầu tư lên tới 1,2 tỷ USD và nằm trong số 5 nhà máy giấy lớn nhất trên thế giới.

Tổng diện tích của nhà máy là 82,8ha, nằm trong Cụm Công nghiệp Phú Hữu A, thị trấn Mái Dầm, tỉnh Hậu Giang.

Tổng thầu xây dựng nhà máy là Công ty Cổ phần Kỹ thuật Hải Thành đến từ Thượng Hải, Trung Quốc. Thời gian nhà nước cho công ty này thuê đất làm dự án nhà máy giấy là 50 năm.

Mặc dù mới được khởi công tháng 3/2015, nhưng dự án đã được UBND tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận đầu tư từ ngày 27/6/2007 và lễ động thổ nhà máy đã diễn ra vào ngày 6/8/2007.

Ngay từ thời điểm đó, dự án đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của dư luận, đặc biệt là Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP), khi mỗi năm nhà máy sẽ xả ra môi trường đến 28.500 tấn xút (NaOH), đe doạ hủy hoại nguồn lợi thủy sản của sông Hậu và vùng biển phía Nam, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động nuôi trồng thủy sản tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất thuỷ sản trọng điểm của cả nước.

Mới đây,VASEP lại gửi công văn tới Quốc hội và Chính phủ đề nghị “khẩn cấp chỉ đạo việc kiểm tra, rà soát công nghệ xử lý nước thải của Dự án xây dựng nhà máy giấy của Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam và chỉ đạo, yêu cầu đầy đủ và đồng bộ hoạt động giám sát xả thải của nhà máy Lee & Man bao gồm cả đầu tư thiết bị, cơ chế giám sát và thực thi.”

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là trong “Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp giấy đến năm 2010” đã được Thủ tướng CP phê duyệt lại không quy hoạch xây dựng nhà máy giấy ở Hậu Giang.

Thậm chí, Quy hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020, cũng không quy hoạch vùng nguyên liệu giấy tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL).

Còn trong văn bản số 1311/CV-SDR do Cục trưởng Cục Lâm nghiệp Nguyễn Ngọc Bình ký ngày 6/9/2007 thì nêu rõ “nguồn nguyên liệu gỗ rừng trồng trong khu vực chắc chắn chỉ đáp ứng được dưới 20% công suất nhà máy.”

Trước thực tế đó, bản thân đại diện chủ đầu tư cũng cho biết là 80% nguyên liệu của nhà máy là giấy phế liệu nhập từ nước ngoài; 20% nguyên liệu là từ gỗ rừng trồng trong nước.

Hậu Giang nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung không phải là thị trường tiêu thụ chính của một nhà máy giấy với quy mô nằm trong top 5 của thế giới.

Địa điểm đặt dự án cũng không phải là vùng nguyên liệu lớn, khi vùng này chỉ có thể cung cấp chưa đầy 20% công suất cho nhà máy; hơn 80% nguyên liệu là phế liệu phải nhập từ nước ngoài, nghĩa là cũng rất bấp bênh.

Chắc chắn, hiệu quả kinh tế mà dự án đem lại cho chủ đầu tư sẽ thấp hơn rất nhiều so với khi đặt nó trong một vùng nguyên liệu dồi dào hoặc trong thị trường tiêu thụ chính.

Chưa hết, nhà máy lại nằm trong một khu vực đặc biệt nhạy cảm về môi trường, khi mà hoạt động bình thường của nó có nguy cơ rất cao là huỷ diệt môi sinh, đe doạ sinh kế của hàng triệu người.

Về phía chủ đầu tư, nếu muốn đảm bảo các yêu cầu nghiêm ngặt về môi trường, họ sẽ phải đầu tư rất lớn, điều mà người ta khó lòng chờ đợi ở các ông chủ đến từ Trung Quốc. Đối với người dân và chính quyền địa phương, nếu để xẩy ra thảm hoạ môi trường thì cái giá phải trả là không thể đong đếm.

Kinh tế và môi trường là hai tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá lợi ích của một dự án, vậy mà ở đây cả hai tiêu chí này đều bị người ta xem “nhẹ tựa lông hồng”. Lý do là vì sao? Câu trả lời nằm ở phần dưới đây.

Trong bài “Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc” đăng trên VOA ngày 31/3/2016 và bài “Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu?” trên VOA ngày 11/4/2016, chúng tôi đã cảnh báo dư luận về việc người Trung Quốc đang núp bóng các công ty nước ngoài để âm mưu biến hai trung tâm nhiệt điện nằm ở những vị trí cực kỳ nhạy cảm về an ninh quốc phòng này thành những căn cứ quân sự lợi hại.

Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải nằm ở xã Dân Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, ngay bên bờ Biển Đông, còn Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu thì lại nằm ở thị trấn Mái Dầm, tỉnh Hậu Giang, tức chỉ cách Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam một vài km. Lee & Man Việt Nam cũng xây dựng một cảng quốc tế chuyên dụng ngay bên bờ sông Hậu.

Rõ ràng, Trung Quốc đang âm mưu biến Trung tâm NĐ Duyên Hải, Trung tâm NĐ Sông Hậu và Nhà máy Lee & Man Việt Nam thành 3 căn cứ quân sự liên hoàn, để từ đó vừa kiểm soát vùng biển phía nam Việt Nam vừa kiểm soát sông Hậu, tuyến giao thông đường thuỷ huyết mạch nối liền Biển Đông đến biên giới Việt Nam – Campuchia.

Một khi chiến sự giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra, lực lượng tại chỗ trong 3 căn cứ này sẽ phối hợp với lực lượng đổ bộ từ biển vào và lực lượng từ bên kia biên giới – đội quân nằm vùng của Trung Quốc hoặc quân đội của một Campuchia đang mưu toan đòi lại Nam Bộ – đánh sang để hình thành nên một gọng kìm đe doạ chia cắt và khống chế hoàn toàn khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Không còn nghi ngờ gì, giống như Formosa Hà Tĩnh ở Miền Trung, Nhà máy Lee & Man Việt Nam thực sự là một hiểm hoạ quân sự – kinh tế – môi trường “made in China” vô cùng tai hại khác ở Miền Tây Nam Bộ.

Posted in Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm, Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990 | Leave a Comment »

►Thay vì viếng thăm một ngôi chùa Việt Nam thuần túy, Đảng CSVN và nhà nước đã sắp xếp để TT Obama ghé Sài Gòn thăm chùa do người Trung Quốc thành lập!

Posted by hoangtran204 on 23/05/2016

Thư của Giáo sư Tương Lai gửi Đại sứ Mỹ

BVN

Tp Hồ Chí Minh ngày 22.5.2016

Kính gửi Ngài Đại sứ Ted Osius,

Đã từng quen biết và tin tưởng ngài qua những lần tiếp xúc với Ngài và với những quan chức ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh, tôi muốn trao đổi với Ngài một vấn đề mà theo nhận thức của tôi là hết sức cấp bách và tế nhị vào dịp Tổng thống Barack Obama đến Việt Nam và thăm TP Hồ Chí Minh.

Theo bản tin của BBC ngày 21.5.2016 về “Lịch trình của Tổng thống Obama ở Việt Nam”, dẫn lời của Phó cố vấn an ninh quốc gia Ben Rhodes khi đến Thành phố Hồ Chí Minh thì “ngay lập tức, Tổng thống sẽ đến thăm Chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải) để bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam”.

Chúng tôi hết sức ngỡ ngàng về tin này. Vì sao các ngài lại chọn chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải tự) để Tổng thống đến thăm để “bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam“? Vậy “Chùa Ngọc Hoàng” có lai lịch ra sao?

Theo Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) thì:

Ngôi chùa vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người tên Lưu Minh (pháp danh là Lưu Đạo Nguyên, người Quảng Đông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20 …Năm 1982, Hòa thượng Thích Vĩnh Khương đến tiếp quản điện thờ. Kể từ đó điện thờ này thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đến năm 1984, thì điện Ngọc Hoàng được đổi tên là “Phước Hải Tự”. Chính điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Huyền Thiên Bắc Đế với các thiên binh, thiên tướng. Có phối thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát và một số thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa như: Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Địa (thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Tổ (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề), Nữ Oa Thánh Mẫu, 12 bà mụ, 13 đức thầy, v.v. Ngoài ra, chùa còn thờ thần Thành hoàng.”

Một ngôi chùa như vậy liệu có tiêu biểu cho “truyền thống văn hóa Việt Nam” không?

Đành rằng trong quá trình tiếp biến văn hóa, với sự giao thoa của văn hóa tín ngưỡng, những ngôi chùa Việt Nam không thể không chịu ảnh hưởng của những kiến trúc của các ngôi chùa Ấn Độ, Trung Hoa, song bản sắc Văn hóa Việt Nam vẫn là nét chủ đạo trong các chùa cổ của Việt Nam. “Đất vua, chùa làng”, “trẻ vui nhà già vui chùa”, từ xa xưa khi Phật giáo giữ vị trí độc tôn, thì ngôi chùa làng không chỉ tọa lạc ở nơi linh thiêng có cảnh quan đẹp nhất của một làng quê mà còn tọa lạc ngay chính trong tâm hồn cả cư dân trong làng đó.

Bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam một phần lớn, nếu chưa muốn nói là nhân tố quan trọng nhất thường được hun đúc, nuôi dưỡng và phát huy từ những ngôi chùa đó.

Trong quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa, với nhiều biến đổi và chịu tác động của nhiều yếu tố, vai trò và ảnh hưởng của những điều vừa nói tuy không còn nguyên vẹn, nhưng ở những phần giá trị cốt lõi, thì những ngôi chùa muốn được xem là tiêu biểu của văn hóa Phật giáo Việt Nam vẫn phải giữ cho được. Ở giữa TP Hồ Chí Minh đương nhiên không có ngôi chùa làng, nhưng cũng không quá hiếm những ngôi chùa thuần Việt hoặc đậm sắc thái, tính cách Việt để có thể giới thiệu cho những ai muốn hiểu về “truyền thống văn hóa Việt Nam”.

Đó là thiển ý của chúng tôi muốn gửi đến ngài Đại sứ. Xin được nói thêm rằng, tôi vừa trao đổi nội dung thư này với giáo sư Cao Huy Thuần, một nhà nghiên cứu uyên bác về Phật giáo, tác giả của nhiều tác phẩm viết về đề tài này, hiện là giáo sư về ngành chính trị học tại Đại học Picardie, Pháp. Gíao sư Cao Huy Thuần đã hoàn toàn nhất trí với những ý kiến trình bày trong thư và muốn qua lá thư này, nhờ tôi chuyển đến Ngài Đại sứ ý kiến của ông.

Chúng tôi mong rằng, với trách nhiệm và sự hiểu biết khá kỹ về văn hóa Việt Nam, Ngài sẽ có sự can thiệp kịp thời về một sự kiện có thể sẽ gây nên những phản ứng khó lường. Đó là những phản ứng khi người Việt Nam cảm thấy bị xúc phạm. Đặc biệt là những Phật tử khắp cả nước sẽ hết sức bất bình dẫn đến phẫn nộ khi ngôi chùa đang được ngộ nhận là tiêu biểu cho bản sắc văn hóa truyền thống đáng tự hào của mình, ngôi chùa duy nhất được Ngài Tổng thống Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ đến thăm để “bày tỏ thành kính và ngưỡng mộ truyền thống văn hóa Việt Nam” lại “vốn là một điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do một người Quảng Đông, Trung Quốc xây, đang thờ nhiều thần linh quen thuộc trong tín ngưỡng của người Hoa.

Sự bất bình dẫn đến phẫn nộ là điều dễ hiểu nhưng lại hoàn toàn có thể cởi bỏ chuyện đó một cách đơn giản với đầy đủ ý thức tôn trọng truyền thồng văn hóa của dân tộc Việt Nam, một dân tộc chưa hề biết cúi đầu.

Xin gửi đến Ngài Đại sứ lời chào trân trọng của chúng tôi.

Tương Lai,

Nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, nguyên thành viên Tổ Tư vấn Võ Văn Kiệt

Tác giả gửi BVN.

Posted in Dối trá -Gạt gẫm-Tuyên truyền, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải, Trà Vinh, sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc

Posted by hoangtran204 on 20/05/2016

Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc


31.03.2016
Vị trí xã Dân Thành, nơi đặt Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải, trên bản đồ. Ảnh chụp màn hình.

Vị trí xã Dân Thành, nơi đặt Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải, trên bản đồ. Ảnh chụp màn hình.

Mưu đồ thâm độc của Trung Nam Hải

Hàng ngàn năm nay, Trung Quốc chưa bao giờ nguôi dã tâm thôn tính Việt Nam. Đó là thực tế mà có lẽ người Việt Nam nào cũng nhận ra, qua những bài học lịch sử, qua những gì đã và đang diễn ra ở Biển Đông cũng như trên dải đất hình chữ S này.

Trong một bài viết gần đây, chúng tôi đã vạch rõ mưu đồ của Trung Quốc nhằm hiện thực hoá cuồng vọng thôn tính Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thế giới đầu thế kỷ 21, khi một cuộc chiến giữa Việt Nam với Trung Quốc không chỉ trên Biển Đông mà cả trên đất liền là khó tránh khỏi: tạo ra nhiều gọng kìm hòng kiềm toả và bóp nghẹt Việt Nam từ mọi phía – biên giới phía bắc, biên giới Lào – Việt, biên giới Campuchia – Việt Nam, Biển Đông và vùng duyên hải Việt Nam.

Nếu chiến lược đó được triển khai thành công, một khi chiến sự xẩy ra, Việt Nam sẽ bị chia cắt thành nhiều phần tại những vị trí xung yếu ven biển mà Trung Quốc đã chiếm lĩnh được thông qua các dự án kinh tế trá hình. Phối hợp với những căn cứ duyên hải là những căn cứ tương ứng giáp biên giới Lào – Việt và Camphuchia – Việt Nam để tạo nên những gọng kìm hòng bóp nghẹt Việt Nam.

Trong thời chiến, chống lại một đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới với âm mưu hiểm độc như thế, có thể nói, Việt Nam chưa đánh đã thua.

Trong thời bình, những căn cứ quân sự trá hình đó chẳng khác nào những mũi dao dí vào những tử huyệt trên khắp cơ thể, khiến Việt Nam rơi vào thế yếu trong các cuộc thương lượng, mặc cả với đối phương.

Hiện nay, Campuchia gần như đã trở thành đồng minh công khai của Trung Quốc; trong khi Lào thì dần hờ hững với Hà Nội và ngả về phía Bắc Kinh. Bản thân Lào cũng đang đứng trước nguy cơ bị “Hán hoá”, với nhan nhản người Tàu cùng các “dự án” của họ trên khắp đất nước, đặc biệt là dọc biên giới Lào – Việt. Trung Quốc đã mưu tính làm một con đường chạy suốt từ Vân Nam, qua Lào và Kampuchia, cho đến tận Tây Nguyên, nơi được coi là “nóc nhà Đông Dương”, một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của cả bán đảo Đông Dương.

Nhờ khai thác triệt để các nhân tố Trung Quốc trong ban lãnh đạo Việt Nam, Trung Quốc đã chiếm lĩnh được hoặc đang tìm cách chiếm lĩnh nhiều vị trí xung yếu nằm ở các vùng duyên hải của Việt Nam như Vũng Áng (Hà Tĩnh),Cửa Việt (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Hải Vân, Đà Nẵng hayVĩnh Tân (Bình Thuận), Binh Duong v.v., cùng 282.000 ha rừng đầu nguồn và vùng biên giới.

Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải: những dấu hiệu đáng ngờ

Mới đây, chúng tôi lại phát hiện nhiều dấu hiệu cho thấy một căn cứ ven biển vô cùng nguy hiểm khác của Trung Quốc ở Việt Nam đang dần dần lộ diện. Đó là Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải ở xã Dân Thành, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải bao gồm 4 nhà máy nhiệt điện chạy than, nằm ngay bên bờ biển, có tổng diện tích lên tới 878,91 ha, cách Tp Trà Vinh khoảng 45km về hướng Đông Nam và cách Tp Hồ Chí Minh khoảng 250km.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 1 gồm 2 tổ máy, với tổng công suất 1.245 MW. Dự án do Tổng Cty Điện lực Việt Nam (EVN) làm chủ đầu tư và Tập đoàn Điện lực Đông Phương (Dongfang Electric Corporation Ltd. – DEC) của Trung Quốc làm tổng thầu EPC. Tổng mức đầu tư của dự án vào khoảng 1,6 tỷ USD, trong đó Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc cho vay 85%, còn lại 15% là vốn đối ứng của EVN. Nhà máy khởi công ngày 19/9/2010 và chính thức đưa vào vận hành thương mại đầu tháng Hai vừa qua.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 2 gồm 2 tổ máy, với công suất 600MW mỗi tổ. Tổng mức đầu tư của dự án là 2,4 tỷ USD, do công ty Janakuasa Sdn. Bhd của Malaysia làm chủ đầu tư theo hình thức BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao). Hợp đồng thực hiện dự án giữa Bộ Công thương Việt Nam và nhà đầu tư Malaysia đã được ký kết tại Hà Nội ngày 29/12/2015.

Tờ The Star của Malaysia ngày 30/12/2015 đưa tin, công ty Huadian Engineering của Trung Quốc đã được chỉ định làm tổng thầu EPC của dự án. (Huadian Engineering là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Tập đoàn Hoa Điện – Huadian Corporation – của Trung Quốc.)

Chuyên trang tài chính CAFEF.vn ngày 20/4/2011 lại cho biết: Theo tin từ Thông Tấn Xã Malaysia, Huadian Engineering đã bảo lãnh chi trả cho Janakuasa để thực hiện dự án này. Giá trị dự án ước tính vào thời điểm đó là 1,5 tỷ USD, trong khi mức bảo lãnh chi trả của Huadian Engineering là 1,59 tỷ USD, nghĩa là Janakuasa không phải bỏ ra một xu nào cả.

Theo trang China.org.cn của Trung Quốc, hợp đồng thực hiện tổng thầu dự án Nhiệt điện Duyên Hải 2 giữa Janakuasa và Huadian Engineering đã được ký kết tại Kuala Lumpur ngày 28/4/2011 dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Malaysia Najib Razak và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 gồm 2 tổ máy, với tổng công suất 1.244MW. Tổng mức đầu tư của dự án là trên 1,5 tỷ USD, trong đó 85% là vốn vay của 3 ngân hàng Trung Quốc (Ngân hàng Trung Quốc – Bank of China, Ngân hàng Công thương Trung Quốc – ICBC, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc – CDB), 15% còn lại là vốn đối ứng của EVN. Dự án do liên danh 4 nhà thầu của Trung Quốc là CHENGDA – DEC – SWEPDI – ZEPC làm tổng thầu EPC và được khởi công vào ngày 8/12/2012.

Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng gồm 1 tổ máy 660MW. Dự án được khởi công ngày 13/12/2014, do EVN làm chủ đầu tư và tập đoàn Sumitomo Corporation của Nhật Bản làm tổng thầu EPC. Tổng mức đầu tư của dự án là 1,082 tỷ USD, trong đó 85% vốn vay thương mại nước ngoài và 15% vốn đối ứng của EVN.

Ngoài 4 nhà máy nhiệt điện, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải còn một dự án quan trọng nữa là cảng biển. Ngày 21/4/2013, Dự án Cảng biển Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải đã được khởi công. Theo báo Hà Nội Mới, đây là một cảng biển nước sâu, với tổng diện tích mặt nước 427,1 ha; giá trị gói thầu EPC là hơn 88,1 triệu USD và hơn 2.324 tỷ VND, bao gồm 15% giá trị vốn đối ứng do EVN thu xếp và 85% vốn dự kiến vay của Ngân hàng Công thương Trung Quốc (ICBC). Dự án do Tổng Cty Xây dựng Giao thông Trung Quốc (China Communications Construction Company Ltd.) làm tổng thầu EPC.

Như vậy, trong 5 dự án chính của Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải thì có đến 4 dự án do Trung Quốc vừa cho vay vốn vừa làm tổng thầu EPC (ba nhà máy nhiệt điện 1+2+3 và hải cảng nước sâu).

Theo quy hoạch ban đầu, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải chỉ có 3 nhà máy nhiệt điện. Dự án thứ tư, Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng, là một dự án nhỏ, công suất chỉ bằng ½ một trong ba nhà máy trên, và mới được bổ sung sau này. Lý do xem ra là vì người ta tránh bị dư luận dị nghị khi cả 3 dự án nhiệt điện cùng dự án cảng nước sâu của một trung tâm nhiệt điện quan trọng tầm cỡ quốc gia lại đều do Trung Quốc cấp vốn và làm tổng thầu.

Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán. Việc Thủ tướng Trung Quốc đích thân cho phép một doanh nghiệp nhà nước cấp số vốn lên tới hàng tỷ USD cho một doanh nghiệp nước ngoài để thực hiện dự án ở một nước thứ ba rồi chính họ lại làm tổng thầu dự án đó rõ ràng là không bình thường. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì trong vụ này công ty Janakuasa hoàn toàn “tay không bắt giặc”, hoàn toàn theo sự “đạo diễn” của người Trung Quốc, bởi ngay cả người giao dự án đó cho họ – PTT Hoàng Trung Hải – cũng là người Trung Quốc nốt.

Hiểm hoạ Trung Quốc mang tên Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải

Tại sao người Trung Quốc lại phải núp bóng một công ty Malaysia để vừa cung cấp vốn vừa làm tổng thầu một dự án nhiệt điện ở Việt Nam?

Vì chính phủ Việt Nam chuộng thiết bị của Pháp (hãng Alstom của Pháp sẽ là nhà cung cấp thiết bị chính) hơn của Trung Quốc ư? Nếu vậy thì phải giải thích thế nào khi hầu hết các nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện của Việt Nam đều do Trung Quốc làm tổng thầu và cung cấp thiết bị? Hay là vì Huadian Engineering không cạnh tranh nổi với Janakuasa để được chính phủ Việt Nam giao thực hiện dự án? Lý do này lại càng khó thuyết phục, không chỉ bởi các công ty Trung Quốc là những “bậc thầy” trong việc đấu thầu “theo cách của Việt Nam” mà quan trọng hơn, như chúng tôi đã nhiều lần chỉ rõ, họ còn nhận được sự ưu ái đặc biệt của ông Hoàng Trung Hải, Phó Thủ tướng gốc Tàu phụ trách kinh tế ngành, trong đó có ngành điện lực.

Vậy lý do khả dĩ nhất nằm ở đâu?

Xin thưa, lý do nằm ở chỗ: 3 nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, Duyên Hải 3 và Duyên Hải 3 mở rộng đều do EVN làm chủ đầu tư; các nhà thầu Trung Quốc sau khi hoàn thành hợp đồng tổng thầu sẽ bàn giao nhà máy để EVN vận hành. Trong khi đó, Duyên Hải 2 lại là dự án BOT (xây dựng – kinh doanh – chuyển giao); sau khi xây dựng xong nhà máy, nhà đầu tư sẽ tiến hành kinh doanh trong một khoảng thời gian trước khi chuyển giao nguyên trạng cho chính phủ Việt Nam. Nghĩa là, chủ đầu tư dự án Duyên Hải 2 sẽ tiếp tục ở lại khu vực dự án trong hàng chục năm sau khi hoàn tất giai đoạn xây dựng nhà máy.

Với diện tích lên tới 878,91 ha, nằm ngay bên bờ Biển Đông, cách không xa cửa sông Hậu và cửa sông Cổ Chiên, Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải rõ ràng là một vị trí hết sức xung yếu về an ninh quốc phòng. Đây là khu vực thuận lợi cho lực lượng xâm nhập từ biển vào, hoặc đổ bộ hoặc theo đường thuỷ tiến vào miền Tây Nam Bộ qua hai cửa sông chính nói trên. Nếu kiểm soát được khu vực này, Trung Quốc có thể phối hợp với lực lượng nằm vùng ở khu vực Campuchia tiếp giáp biên giới tây nam Việt Nam (hoặc thậm chí với quân đội của một Campuchia đang nuôi tham vọng đòi lại Nam Bộ) để tạo thành một gọng kìm nguy hiểm uy hiếp Việt Nam.

Không còn nghi ngờ gì, vị trí chiến lược của Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải khiến Trung Quốc hết sức thèm muốn. Tuy nhiên, với một khu vực nhạy cảm như thế thì việc một công ty Trung Quốc được giao thực hiện dự án BOT rồi “cắm chốt” ở đấy trong hàng chục năm sẽ khó tránh khỏi bị dư luận dị nghị rồi bóc mẽ. Vì thế, núp bóng một công ty Malaysia để đạt được mục đích của mình là một kế sách rất quỷ quyệt, thể hiện đúng ‘thương hiệu’ “thâm như Tàu” của các ông chủ Trung Nam Hải. Điều này lại càng thuận lợi bởi ông Ti Chee Liang, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Janakuasa, đồng thời là ngườiđại diện pháp luật của Cty TNHH Janakuasa Việt Nam, là một người Hoa.

Chúng tôi cũng đã từng vạch trần âm mưu xảo quyệt của Trung Quốc là lập các công ty ma ở Mỹ hay Singapore rồi lấy pháp nhân của chúng để đầu tư vào những dự án nằm ở những vị trí xung yếu tại Việt Nam như Silver Shores ở Đà Nẵng, Lăng Cô ở Thừa Thiên – Huế, hay Bãi Chuối ở đèo Hải Vân.

Rõ ràng, nếu không có gì thay đổi, Trung Quốc sẽ trở thành chủ đầu tư thực tế của dự án Duyên Hải 2 theo ít nhất 1 trong 3 cách thức hoàn toàn hợp pháp và rất khó kiểm soát sau đây: (i) Janakuasa thành lập một liên doanh với Huadian Engineering để thực hiện dự án rồi đến lúc “rút êm” khỏi liên doanh (trên thực tế họ chẳng phải bỏ ra một cắc nào bởi tổng thầu Huadian Engineering đã bảo đảm thanh toán toàn bộ chi phí); (ii) sau khi dự án Duyên Hải 2 hoàn thành và đi vào hoạt động, Janakuasa sẽ bán dự án cho tổng thầu kiêm chủ nợ Huadian Engineering để “cấn nợ”; và (iii) Huadian Engineering mua cổ phần của Janakuasa.

Giống như Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân, khi lựa chọn một khu vực ven biển thuộc xã Dân Thành để đặt một trung tâm nhiệt điện lớn, người ta đã bỏ qua hai tiêu chí quan trọng nhất khi đánh giá một dự án là kinh tế và môi trường. Địa điểm đặt các nhà máy cách các trung tâm tiêu thụ điện năng chính hàng trăm km sẽ khiến tỷ lệ hao hụt điện năng cao. Hiện tượng tro bụi phát tán do gió và nguy cơ các chất độc trong xỉ than ngấm vào mạch nước ngầm sẽ khiến vùng đất và vùng biển xung quanh các nhà máy khó tránh khỏi bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng đến cả môi sinh lẫn kinh tế, đặc biệt là ngư nghiệp và du lịch.

Với tư cách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, ông Hoàng Trung Hải là người có tiếng nói quyết định đối với các dự án điện nói riêng và các công trình trọng điểm quốc gia nói chung.

Với tư cách Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế, ông Hoàng Trung Hải là người có tiếng nói quyết định đối với các dự án điện nói riêng và các công trình trọng điểm quốc gia nói chung.

Không chỉ trao an ninh năng lượng của Việt Nam vào tay Trung Quốc thông qua hàng loạt dự án nhiệt điện và thuỷ điện do Trung Quốc làm tổng thầu, giúp hình thành nên những “phố Tàu” nhan nhản trên khắp Việt Nam[i] . Ông Hoàng Trung Hải còn lập thêm những chiến công hiển hách hơn cho quê hương là biến các trung tâm nhiệt điện quốc gia như Vĩnh Tân hay Duyên Hải thành những căn cứ vô cùng lợi hại của Trung Quốc.

Như để “tưởng thưởng” cho những “thành tích” vô tiền khoáng hậu đó, sau Đại hội XII, ngài Phó Thủ tướng gốc Tàu này đã chễm chệ trong ban lãnh đạo tối cao của Đảng CSVN, trở thành Bí thư Thành uỷ Hà Nội, và tràn đầy cơ hội tiếp quản chiếc ghế Thủ tướng hoặc Tổng Bí thư trong những năm tới.

__________

Ghi chú:

[i] Mới đây, một loạt tờ báo chính thống đã phải lên tiếng về hiểm hoạ “phố Tàu” xung quanh Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải: VietNamNet ngày 12/3 đăng bài “‘Xóm Trung Quốc’ ở Trà Vinh”; VTC News ngày 13/3/2016 đăng bài “Lạc vào khu ‘Phố Trung Quốc’ ở Trà Vinh”; tờ Đời sống & Pháp luật ngày 19/3 đăng bài “Cận cảnh ‘Phố người Trung Quốc’ ở Trà Vinh và bài toán an ninh”, v.v.

*Bài liên quan: Thư ngỏ gửi ĐBQH Dương Trung Quốc về vụ tố cáo Bí thư Thành uỷ Hà Nội Hoàng Trung Hải.

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

  • 16x9 Image

    Lê Anh Hùng

    Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Posted in Chiến lược xâm nhập của Trung Quốc vào Viet Nam, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Tạp chí Đối Ngoại của Mỹ: Đám côn đồ gớm ghiếc cầm quyền ở Việt Nam không thực nghiệm dân chủ đâu

Posted by hoangtran204 on 02/02/2016

Tạp chí Foreign Affairs, số tháng 1 và 2 năm 2016, đã có bài viết với tựa đề rất nặng nề và coi khinh đảng CSVN đang cầm quyền ở VN. Đây tạp chí xuất bản 6 số một năm, rất có uy tín và các chính trị gia toàn thế giới đều đọc; các thư viện, các học viện chính trị và kinh tế toàn cầu đều mua tạp chí này. Tác giả là nhà báo chuyên điều tra, và đang day tại  đại học tại NY. Ông chuyên về chính trị tại VN trong hơn mấy chục năm qua, đã xuất bản hai cuốn sách về VN, bài báo này cho thấy ông rất hiểu biết lịch sử và cách cầm quyền của đảng CSVN và nắm vững các biến cố xã hội, văn hóa, các phong trào nhân quyền, hoạt động của các blogger tại VN. Các bạn vào google.com và viết chữ Thomas A. Bass, Foreign Policy, và nhấn vào search để đọc nguyên bản tiếng Anh bài báo này.   

Đám côn đồ gớm ghiếc cầm quyền ở Việt Nam không thực nghiệm dân chủ đâu

Trà Mi dịch (Trần Hoàng có sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Trà Mi)

January 24, 2016 by Editor 

DCV Online

* Nó có thể trông giống như một vùng đất còn hoang sơ của tư bản, nhưng thực chất Việt Nam là một nhà nước công an trị.

Việt Nam là một mô hình lưỡng tính. Nheo mắt bên phải thì đó là một một xã hội đầy khát vọng tương lai. Nheo mắt bên trái, người ta lại thấy một tên cai ngục lạc hậu bỏ tù bất cứ ai từ chối theo đảng. (Để mời gọi du khách đến du lịch và các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam) Nhóm vận động của chính phủ tập trung vào những bãi biển đáng yêu, thực phẩm, và sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến du lịch. Ký giả vì nhân quyền lại quan tâm vào những sự đàn áp của chính quyền.

Đúng, Việt Nam mở cửa đón Phương Tây và đang phát triển nhanh chóng. Và –dù có tất cả những nét quyến rũ xinh tươi đó– Việt Nam là một nền văn hóa đổ nát. Kiểm duyệt đã bịt miệng hoặc lưu đầy những nhà văn hay nhất. Những tiểu thuyết gia và nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam không còn viết nữa, trừ một số đang công bố các tác phẩm của họ bằng cách xuất bản lậu sách bị cấm. Báo chí là một xí nghiệp tham nhũng do chính phủ kiểm soát. Những nhà xuất bản cũng thế. Lịch sử là một môn quá nguy hiểm để nghiên cứu. Tự do tôn giáo, tư tưởng, và ngôn luận – đã bị Bộ trưởng Thông Tin và Truyền Thông ngăn chặn tất cả.

 

Từ ngày 20 đến 28 tháng 1, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đang tổ chức kỳ họp mỗi năm năm lần thứ 12 của nó được gọi là Đại hội toàn quốc. Khoảng 1.500 đảng viên sẽ tập trung tại Hà Nội để thông qua kế hoạch kinh tế năm năm và phê duyệt một liên danh ứng cử viên vào Ban Chấp hành Trung ương, 16 thành viên Bộ Chính trị, và Tổng Bí thư của đảng. Tham nhũng từ trên xuống dưới, cồng kềnh vì sự bảo trợ và dành đặc lợi cho đám thủ hạ, ĐCSVN bẻ quặt tay chính phủ, quân đội, phương tiện truyền thông của Việt Nam, và 93 triệu người Việt Nam. Người tị nạn và tác giả Nga Vladimir Nabokov nói,

“Chủ nghĩa Mác-xít cần một nhà độc tài, và một nhà độc tài cần đám công an chìm, và đó là ngày tận thế.”

Quan sát viên quốc tế theo dõi đại hội Đảng CSVN đang tìm các dấu hiệu xem phe này hay nhóm khác đang lộ diện. Trong vài tuần tới, người ta sẽ đọc những bài viết về phe có cảm tình với Phương Tây chế ngự phe theo Trung Quốc, hoặc ngược lại. Tự quá chú ý đến những khác biệt nhỏ làm người ta lệch nhãn quan. Khoảng 4,5 triệu đảng viên ĐCSVN đều muốn có phần của họ. Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về các cuộc họp kín bầu lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam,

 “Nó giống như xem bọn họ đấu đá dưới tấm thảm.

Đúng, ĐCSVN đã phát triển kể từ khi thống nhất đất nước sau chiến tranh Việt Nam từ năm 1975. Đối đầu với nạn đói ở nông thôn, Đại hội Đảng lần thứ sáu, năm 1986, đã từ bỏ nền kinh tế chỉ huy theo kiểu Liên Xô để chọn đi theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. ĐCSVN cho phép thị trường tự do phát triển mạnh ở dưới đáy xã hội và khuyến khích “tư bản đỏ” trổi lên ở khúc giữa, trong khi họ giành lấy phía trên cùng của xã hội: những ngành công nghiệp đóng tàu, ngân hàng, khai thác mỏ, và các doanh nghiệp nhà nước khác. 

Cùng với những cải cách kinh tế, đã có một giai đoạn ngắn có cải cách văn hóa. Mạng lưới theo dõi của nhà nước đã được tạm cất đi trong một khoảng thời gian đủ lâu để cho bốn tác giả lớn sau chiến tranh xuất bản những tác phẩm nổi tiếng nhất của họ: nhà văn viết truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (“Tướng về hưu”), tiểu thuyết gia Bảo Ninh (“Nỗi buồn chiến tranh”), Dương Thu Hương (“Tiểu thuyết vô đề”), và Phạm Thị Hoài (Thiên sứ”). Nhưng mạng lưới xám đó đã được đưa vào lại vị trí cũ trong năm 1991, khi công an văn hóa ập vào khám xét nhà Nguyễn Huy Thiệp và phá hủy những bản thảo của ông. Kể từ đó, Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh đã sống đời lưu đầy ngay trong nước, xuất bản những câu chuyện đã bị kiểm duyệt do nhóm bồi bút viết lại. Dương Thu Hương, sau tám tháng tù giam năm 1991,  hiện đang sống ở Paris, và Phạm Thị Hoài đang sống lưu vong ở Berlin.

Những điều chỉnh khác của ĐCSVN xảy ra sau khi đã khôi phục quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ vào năm 1995 và sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Sau 2007 vòi nước của đầu tư nước ngoài đã mở, nhưng cũng đã nhanh chóng bốc hơi ngay năm sau đó vì cuộc Đại Khủng hoảng (tài chánh 2008). Làm như không biết chuyện gì đang xẩy ra, ĐCSVN tiếp tục bơm tiền vào các doanh nghiệp nhà nước. Điều này khiến lạm phát tăng vọt lên tới 60 %/năm, bong bóng địa ốc đã vỡ một cách nhanh chóng, và sự phá sản của các doanh nghiệp nhà nước khác, gồm cả hãng đóng tàu quốc doanh, công ty Vinashin, mắc nợ lên đến 4,5 tỷ USD.

Xì căng đan này gần như đủ lớn để lật đổ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dũng đã được tay chân trong Bộ Chính trị cứu thoát và bắt đầu vận động dành ghế Tổng Bí thư ĐCSVN, nhưng dường như Dũng đã thất bại. Trong thực tế, Việt Nam vào lúc này dường như được trải qua một cuộc đảo chính chiếu chậm trong đó Nguyễn Phú Trọng, 71 tuổi, người đang đứng đầu ĐCSVN –dù đã quá tuổi về hưu– đang chạy đua để duy trì quyền lực, ít nhất là thêm một vài năm nữa.

Bên cạnh ĐCSVN, hằng số khác ở Việt Nam là ảnh hưởng của Trung Quốc. Trong năm 2008, Tổng công ty Nhôm giàu xụ của Trung Quốc mua quyền khai thác mỏ bauxite của Việt Nam ở Tây Nguyên. Năm sau, Bắc Kinh cho hồi sinh chủ nghĩa bá quyền trên hầu hết vùng biển Đông. Đến năm 2014, Bắc Kinh đã đưa một giàn khoan dầu khổng lồ vào vùng biển ngoài khơi Việt Nam và xây dựng phi đạo cho phản lực cơ trên các đảo nhân tạo được tạo ra quanh vùng đá san hô. (Hà Nội vừa cáo buộc Bắc Kinh đã đưa giàn khoan dầu trở lại vào vùng biển Việt Nam vài ngày trước khi bắt đầu Đại hội XII.) Lực lượng công an không còn có thể kiềm chế được phong trào chống Trung Quốc đã bùng phát. Hồi tháng 5, 2014, hàng trăm nhà máy được cho là của Trung Quốc đều bị cướp hoặc bị đốt, và 21 người đã chết. Và chẳng có gì ngạc nhiên phe thân Trung Quốc ở Việt Nam đã phải đi núp.

Tuy nhiên, phong trào chống Trung Quốc chưa làm ảnh hưởng của Trung Quốc giảm đi ở Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục xây dựng đảo ở Trường Sa, Biển Đông, khai thác mỏ ở cao nguyên, và làm bất cứ điều gì khác cần thiết để giữ chú em Việt Nam nằm yên trong quỹ đạo của đại ca Trung Quốc. Vì vậy, liên minh này chặt chẽ đến nỗi một số lượng lớn đáng ngạc nhiên người Việt – luôn dẫn chứng bằng cái gọi là Hiệp định Thành Đô – để cho rằng đất nước của họ đã thực sự thuộc về Trung Quốc (Ở một cuộc họp bí mật năm 1990 tại Thành Đô, Trung Quốc, ĐCSVN đã đổi dầu khí ngoài biển, mỏ bauxite, và những khoáng sản khác của đất nước lấy món tiền hối lộ khổng lồ của Trung Quốc, v.v. và cứ thế người ta tin và tiếp tục phổ biến đi.)

Hà Nội giỏi hơn trong việc nhào nặn mối quan hệ với Hoa Kỳ hơn là uốn nắn mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ ở phía bắc. ĐCSVN sẽ có khả năng sẽ thi hành thỏa thuận Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại mà 12 nước đã ký tắt hồi tháng Mười, 2015. TPP là thiết kế của Washington dùng làm một bức tường thương mại xanh để ngăn chặn làn sóng đỏ của Trung Quốc, hiệp định này đem một vận may bất ngờ đến cho Việt Nam. Thỏa thuận này có một số quy định khó chịu về quyền lao động, nhưng Hà Nội có thể sẽ ngoảnh mặt làm ngơ – như các giao thức quốc tế khác mà họ đã ký kết và coi không ra gì. Việt Nam đứng gần cuối bảng ở tất cả những chỉ số về quyền con người. Việt Nam có số tù nhân chính trị bình quân đầu người cao nhất trong bất kỳ quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á, nhưng họ vẫn nghênh ngang như một con công ngồi vào ghế ở Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Ai sẽ quan tâm đến một vài người tổ chức nghiệp  đoàn độc lập (với công đoàn của nhà nước)  đang bị cầm tù cùng với khoảng 300 tù nhân chính trị khác của Việt Nam?

Sau khi thực hiện TPP, Việt Nam sẽ muốn Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu hủy bỏ vị trí một nền kinh tế “phi thị trường” của mình. (Một “nền kinh tế thị trường” được bảo vệ tốt hơn để chống lại các vụ kiện chống bán phá giá). Đây là một vấn đề lớn đối với Việt Nam, hy vọng rằng TPP sẽ mở ra thị trường Mỹ cho các sản phẩm của Việt Nam, trong đó có một sản phẩm mà hai nước đã tranh tụng trong vài năm qua – cá ba sa. Hồi tháng Bẩy, 2015, để bôi trơn cho hiệp định thương mại thông qua, Tổng thống Barack Obama đã mời Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tới Nhà Trắng và sau này được gọi là một “cuộc họp lịch sử”. Và tại sao chuyến thăm đầu tiên tới Nhà Trắng của người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam lại là “lịch sử”? Bởi vì [cuộc viếng thăm này được đảng csvn hiểu như thế là] “Tòa Bạch Ốc đã thừa nhận cấu trúc chính trị và sự lãnh đạo của đảng CS tại Việt Nam” – do đó đã hợp pháp hóa, theo Nguyễn Phú Trọng, sự cầm quyền của Đảng CSVN!

Nhưng hãy coi lại, sự cầm quyền này giống như: Ban tuyên giáo trung ương có vòi xuyên qua Bộ Thông tin và Truyền thông, tới “cục an ninh” Phòng PA 25 – và từ đó vào mỗi tổ của ĐCSVN điều khiển tất cả các phương tiện truyền thông ở Việt Nam. Ở vị trí đứng đầu ban kiểm duyệt của Việt Nam, Trọng chịu trách nhiệm điều hành cái mà tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF), trong một báo cáo tháng 9 năm 2013, gọi là một “nhà nước xã hội đen”, có đầy đủ những “làn sóng bắt bớ, xử án, các cuộc tấn công đánh đập và sách nhiễu.” Theo một bản tin tháng 7 năm 2015 của RSF, “Chỉ riêng năm 2012,” tay sai của tư pháp của Trọng “truy tố không ít hơn 48 blogger và những người bảo vệ nhân quyền, kết án họ tổng cộng 166 năm tù giam và 63 năm quản chế.”

Nhóm vận động chính trị cho nhà nước VN nói, chuyện như thế này là gieo hoang mang. Thật vậy, nó có vẻ lỗi thời, giống như một cái gì đó thuộc thời của những năm 1950. Nhưng những tin tức từ Việt Nam thực sự đáng báo động. Đáng báo động đối với Việt Nam, một quốc gia phải đối phó với một đống văn hóa đổ nát, và nó cũng đáng báo động cho tất cả chúng ta, những người cũng đang phải đương đầu với những áp lực của kiểm duyệt, sự gia tăng của các giám sát quần chúng, và sự thống trị của các lợi ích thương mại để loại trừ tất cả các giá trị khác trong xã hội của chúng ta. Từ quan điểm này, Việt Nam không phải là một hình ảnh của thời gian của quá khứ, nhưng là một cửa sổ nhìn về tương lai của chúng ta. Có thể nào khung sườn quái đản này trở thành sự bình thường mới hay chăng?

Một điều chúng ta biết về đại hội đảng lần thứ 12 của đảng Cộng sản Việt Nam là nó sẽ không chấm dứt sự thô bạo của công an. Hồi đầu tháng 12, công an mặc thường phục đã hành hung đánh đập nhà vận động nhân quyền, Luật sư Nguyễn Văn Đài bằng một thanh sắt. Mười ngày sau đó, Ls. Đài bị bắt trên đường đi gặp đoàn đại biểu Liên minh châu Âu đang đến thăm Hà Nội trong cuộc đối thoại nhân quyền Âu Châu (EU)–Việt Nam lần thứ năm. Blogger nổi tiếng nhất là nhà báo Nguyễn Hữu Vinh (aka Anh Ba Sam) hiện đang ở trong tù, với tội danh “lợi dụng tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước.” Phiên tòa xử Vinh, trước đây dự định sẽ khai mạc vào ngày 20 tháng 1 – cùng ngày với Đại hội XII – nên đã bị đình hoãn lại vô thời hạn.

Một nền văn hóa đổ nát trong một nhà nước công an hành hung đánh đập những người ủng hộ dân chủ bằng những thanh sắt, Việt Nam vẫn thoát được tiếng xấu trên trường quốc tế vì nhiều người muốn kinh doanh với người dân tháo vát ở đất nước này, hay tận hưởng những thú vui ở Việt Nam. Không có vấn đề gì hết, Việt Nam sẽ tiếp tục đón khách du lịch và mặc cả về tài chính toàn cầu và chủ nghĩa tư bản xuyên quốc gia. Nhưng nếu bạn muốn đến dự tiệc này, bạn hãy quên đi. (Vì những buổi tiệc này) Chỉ dành riêng cho đảng viên.

© 2016 DCVOnline

Nguồn: Thomas A. Bass, The Ugly Thugs Running Vietnam Aren’t Experimenting With Democracy . Foreign Policy, January 22, 2016.

(Trần Hoàng đã sửa lại nhiều đoạn trong bản dịch của Trà Mi)

———-

Vi Anh, VB
28-1-2016
Cuộc bầu cử Tổng bí Thư đảng CSVN trong đại hội 12 này là một phép thử xem Đảng CSVN gọi tắt là Việt Cộng trở thành Đảng CS Trung Quốc hay gọi tắt là Trung Cộng hay Tàu Cộng hay chưa. Đã có kết quả VC thành TC rồi.

Phe giáo điều, bảo thủ, thân thiết, thần phục TC do Tổng bí Thư Nguyễn phú Trọng cầm đầu đã thắng trong cuộc bầu cử độc diễn, y bám lại được chức tổng bí thư với khẩu hiệu “Con đường đi lên Chủ nghĩa Xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử” và với mưu ma chước quỉ truất quyền ưng cử của đối thủ là Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, để độc diễn. Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người cầm đầu phe đổi mới kinh tế, phục hồi vai trò chính thông của Nhà Nước, muốn xích lại gần với Tây Phương, nhứt là để cứu biển đảo bị TC xâm lấn. Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng là người đã từng dưa ra khẩu hiệu “Việt Nam nhất định không chấp nhận đánh đổi độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó” đươc dân chúng VN ủng hộ, nhưng bi thua trong dại hội Đảng.Trừ ra có cuộc đảo chánh từ phía quân đội hay cách mạng từ phí nhân dân VN lật đổ chế dộ CS dộc tài đảng tri toàn diện, chớ ít nhứt trong 2 năm rưởi nữa nhiệm kỳ mà Tổng Trong hứa ở lại để  thừa kế và doàn kết đang hay một nhiệm kỳ 5 năm y cố lì ở lại, tinh thần, tác phong, thái độ và hành động thần phục TC của VC có tăng chớ khó có giảm. Tức là VC trở thành TC nhiều hơn chớ không bớt. Nói cách khác tương quan giữa Hà Nội và Washington sẽ lỏng lẻo hơn, con đường phát triễn dối tác chiến lược của VNCS vói Hoa kỷ sẽ trắc trở hơn vì phải qua Bắc Kinh chơ không suông thẳng qua Mỹ như thời kỳ trước đại hội đảng lần thư 12.

Qua đại hội Đảng CSVN lần thứ 12, khi mà Nhà Nước CSVN còn gần gũi với Mỹ, TC còn coi thường Đảng CSVN không tưởng tượng nổi, như gia nô của họ vậy. Ngay trong thời kỳ Đảng CSVN, đảng cầm quyền, chuẩn bị bầu bán người cầm cán đảng nhà nước, TC còn khinh thường nhiệm vụ tối cao của đảng cầm quyền một nước là vệ chủ quyền quốc thế mà TC chẳng coi Đảng CSVN không ra gì cả.

Nào TC cho máy bay bay xuống đảo của VN, qua vùng biển VN, xâm phạm vùng báo bay FIR Saigon do quốc tế uỷ nhiêm kiểm soát không lưu của VN. Nào TC đưa giàn khoan 981 ngoài khơi Vinh Bắc Bộ, vào vùng chồng lấn giữa Việt Nam – Trung Quốc, cách đường tuyến giả định 28 hải lý. TC bắn rượt tàu cá của ngư dân VN.

TC làm thế dể áp lực phe có lập trường cứng rắn với TC và để vô nước cho gà nhà, ủng hộ phe VC thần phục TC.

TC áp lực phe TT Nguyễn tấn Dũng được lòng dân, được các siêu cường Tây Phuong nhứt là Mỹ có thiện cảm, là người đi đầu trong việc tham gia hiệp ước Thương Thế giới WTO và hiệp ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP rõ ràng là thân Hoa Kỳ, thân phương Tây hơn ông Trọng.

Trong thời gian xẩy ra va chạm với TC hồi năm 2014, khi giàn khoan dầu của Trung Quốc được kéo vào và đặt tại vùng biển mà Việt Nam khẳng định thuộc chủ quyền của mình, ông Dũng là vị lãnh đạo nói thẳng vấn đề này ra, ông có lập trường cứng rắn phù hợp với những người dân đã xuống đường biểu tình phản đối chống Trung Quốc.

Ông Dũng cầm đầu chánh phú, khét tiếng tham nhũng, nhưng đã thành công trong việc liên minh với một số nước trong vùng Á châu Thái binh dương như Nhựt, Phi, Mã, Mỷ, Úc để hoá giải bớt đà xâm lấn của TC. Ông Dũng nhỏ tuổi hơn Tổng Trọng nhưng bị Trọng loại vì tuổi tác.

Còn Tổng Trọng 71 tuổi già nua, bảo thủ, giáo điều, thần phục TC lại dùng xảo thuật lấy thế phe củ ra đi đề cử phe mới và hạn ngạch tuổi tác để không cho TT Dũng ra ứng cử. Nhờ dòn tráo bài ba lá đó Ông Trọng Tổng bí Thư duy nhứt được miển trừ tuổi để độc diễn bám chức Tổng bí Thư.

Trong tình hình mưu ma chước quỉ bầu cử của Đại Hội 12 do Tông Trọng bày ra, 1 lá phiếu triệt đường ứng cử của TT Dũng, lót đương cho Tổng Trọng tiếp tục làm Tổng Bí Thư Đảng CSVN, là biến Đảng CSVN thành Đảng Tàu Cộng gốc Việt và biến đảng viên CSVN thành đảng viên TC gốc Việt.

Bỏ thăm cho Trọng thân Tàu Cộng trong khi Tàu Cộng dùng nào tàu, nào máy bay, nào giàn khoan áp lực VN, dương oai diệu võ với đại hội Đảng CSVN, là tiếp tay cho cho áp lực của TC, là hoan nghinh sự  chi viện của Tàu Công cho nhưng gia nô, những tên Tàu Công gốc Việt nối giáo cho Tàu Công hán hoá, thôn tính đảng CSVN- không hơn không kém.

Bỏ thăm cho Trọng là đấp mô con đường phát triễn kinh tế mà Nhà Nước đã ký với các nước qua Tổ chức WTO, TPP và con đường phát triễn dối tác chiến lược với Mỹ, Ấn, Úc, Nhựt, Phi, Mã trong việc ngăn chận đà TC xâm lăng biển dảo của VN.

Đó là hành động cổng rắn cắn gà nhà, rước voi về giày mả tổ khi mà kinh tế VNCS quá lệ thuộc TC, chánh trị VNCS qua cuộc bầu cử này cho thấy quá lệ thuộc Tàu Cộng.

Trong suốt cả hai ba chục năm nay, càng ngày TC càng kiếm chuyện đánh chiếm, lấn chiếm biên giới, đất liền, biền đảo của VN, mà đại hội Đảng 12 để Tổng Trọng một người CSVN bảo thủ, giáo điều lại phò Tàu Cộng, tự tung tư tác, dùng xảo thuật cũ rích của CS là bô chánh trị cử ai cũng phải bầu như kiểu gạc dân Đảng cử Dân bầu trong xã hội VN thì Đảng CSVN đã hoàn toàn mất tính đấu tranh, mất tinh thần độc lập, tụ chủ Việt Nam rồi. Làm thế Đảng CSVN đã phản bội bao xương máu của những đảng viên CS bỏ mình trong hai thời ký kháng chiến mà Đảng kêu gọi là chống Pháp và chông Mỹ giành độc lập cho đất nước.

Một số đảng viên CSVN còn một phần lương tâm và tinh thần VN sẽ hoặc là  bằng mặt không bằng lòng” hoặc tim cách chống ngầm hay chánh thức chống phe thân TC. Đảng CSVN sẽ nứt bể.

Hành động của Nguyễn phú Trong và phe nhóm làm cho người dân Việt thấy Đảng CSVN chỉ hành động vì quyền lợi của Đảng CS do một vài kẻ giỏi gian ác nắm trong tay mà thôi.

Đại hội lần thứ 12 của Đảng CSVN là một băng cớ cho thấy rõ Việt Công thành Tàu Cộng. Nó mở đưòng cho TC hán hoá VN, biến Tổng bí Thư CSVN thành thái thú cho TC, mà TC không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. Làm cho người dân Việt ở Bắc, ơ Nam, ở Trung và ở hải ngoai thấy rõ nhân dân VN có hai kẻ thù: TC là ngoại xâm; VC là nội thù.

Dân tộc VN dưới thời CSVN hoàn toàn bị tước quyền bầu cử. Cả Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng đều là các lựa chọn ngoài ý toàn dân.

Dũng làm cho ngân sách VN thâm thủng 7% trong năm 2015, vì nợ ngập đầu (theo Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn ngày Thứ Hai, 25/1/2016, bản tin “VEPR: Thâm hụt ngân sách có thể tới 7% GDP”…

Chính Dũng là kẻ làm cho VN mang nợ quốc tế ngập đầu, tới nổi Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, lo ngại VN cạn tiền phát triển.

Chính Dũng đã gài kinh tế VN lệ thuộc vào TQ: bản tin Vietnamnet/Tiếp Thị Thế Giới ngày 10/01/2016 cho biết:

“Những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đã bị lệ thuộc ngày càng nhiều hơn vào kinh tế Trung Quốc (TQ), thể hiện rõ nhất ở chỗ hơn 90% tổng thầu các công trình lớn rơi vào tay nhà thầu TQ, mức nhập siêu từ TQ liên tục tăng cao và ngày càng nặng nề.”

Lựa chọn Dũng hay Trọng đều nằm ngoài ý của dân tộc VN.

Có gì bi thảm hơn chăng?

 

Posted in Bắt bớ-Tù Đày-Đánh đập-Đàn Áp, Công An, Chinh Tri Xa Hoi, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Tham Nhung-Hoang Phí- Ăn Cắp, Đảng CSVN, Độc quyền lãnh đạo | Leave a Comment »

►Mỗi năm, người Việt chi 63000 tỷ đồng uống bia, và chỉ bỏ 2000 tỷ mua sách đọc

Posted by hoangtran204 on 25/12/2015

Bởi vậy, hôm 19-5-2015, trong diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1)

Người Việt chi tiền mua sách không bằng số lẻ tiền uống bia mỗi năm

23-12-2015

Không ngần ngại móc hầu bao chi 63 nghìn tỷ đồng uống rượu bia mỗi năm, nhưng người Việt Nam lại chỉ dám bỏ 2 nghìn tỷ đồng mua sách đọc.

 

Báo cáo tổng kết năm 2015 và chương trình công tác trọng tâm năm 2016 của Cục Xuất bản, in và phát hành (Bộ Thông tin – truyền thông) cho hay, tính đến thời điểm này, toàn Ngành đã xuất bản được hơn 24.000 cuốn sách với hơn 270 triệu bản; xuất bản 375 loại văn hóa phẩm với hơn 22 triệu bản.

Theo đó, tổng doanh thu của toàn ngành ước đạt hơn 2 nghìn tỷ đồng.

Về tình hình xuất nhập khẩu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu xuất bản phẩm năm 2015 đạt khoảng 23 triệu USD, trong đó nhập khẩu là 18,9 triệu USD, xuất khẩu là 4,1 triệu USD. Như vậy ngành xuất bản Việt Nam vẫn nhập siêu gần 15 triệu USD.

Trong khi đó, theo số liệu mới nhất từ Bộ Công Thương, tháng 11 năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 298,8 triệu lít, tăng 8,7% so với cùng kỳ. Cộng dồn 11 tháng năm 2015, sản lượng bia các loại ước đạt 3 tỷ lít, tăng 6,8% so với cùng kỳ.

Theo các chuyên gia trong ngành, với hơn 3 tỷ lít bia tiêu thụ hàng năm, tương đương với chi 3 tỷ USD ( xấp xỉ 63 nghìn tỷ đồng), Việt Nam trở thành quốc gia tiêu thụ bia cao nhất Đông Nam Á, đứng thứ ba châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc.

Như vậy, khoản tiền mà người Việt chi cho đọc sách (2.000 tỷ đồng) chỉ bằng 1/31 tiền phục vụ nhậu nhẹt, rượu bia (63 nghìn tỷ đồng).

Sở dĩ người Việt còn đọc sách ít, theo nhiều chuyên gia có lẽ là do giá sách hiện nay còn cao so với mức thu nhập của số đông người dân, chất lượng chưa tốt, với cộng số sách ít ỏi được phân bổ tại các thư viện (bình quân chỉ đạt 0,35 bản/người).

Mà cốt lõi nhất chính là ý thức đọc sách để tích lũy tri thức của số đông người dân vẫn còn hạn chế.

Ý thức đọc sách hạn chế, nhưng văn hóa uống bia của người Việt Nam lại tăng phi mã.

Và khoảng cách giữa 2 nghìn tỷ đồng với 63 nghìn tỷ đồng có thể được kéo dài ra khi mà các nhà đầu tư vào ngành bia đang kỳ vọng người Việt Nam dùng bia sẽ tăng lên 60 đến 70 lít bia/người/năm.

Tô Mạn, theo Trí Thức Trẻ

———

Thời đại nào là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc?

Nguyễn Văn Tuấn

9-6-2015

Nếu được hỏi thời đại hay triều đại nào là huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, bạn sẽ trả lời ra sao? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì đòi hỏi kiến thức lịch sử tốt và đánh giá khách quan. Thế nhưng đối với ngài Tổng Trọng thì câu trả lời đã dứt khoát: Thời đại Hồ Chí Minh.

Trong bài diễn văn kỉ niệm 125 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngài tổng bí thư nói “Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam,” rồi hình như chưa đủ, nên ngài thêm: “là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội” (1). Ông giải thích rằng sở dĩ thời đại HCM là vàng son nhất vì VN từ một nước thuộc địa trở thành độc lập, tự do; vì phát triển theo xã hội chủ nghĩa; vì nhân dân từ nô lệ thành người làm chủ đất nước; vân vân.

Cố nhiên, đó là nhận xét và quan điểm của ngài. Có người đồng tình, nhưng tôi nghĩ số người không đồng tình chắc cũng ngang ngửa thậm chí cao hơn số người đồng ý. Những người không đồng tình chắc chắn xem xét đến những sự thật sau đây trong cách nhìn của họ:

Có ai dám chắc là nước ta đã độc lập, khi khái niệm này còn rất mơ hồ. Trong thực tế, VN lệ thuộc vào Tàu một cách đáng sợ về kinh tế và chính trị. Nước ta vẫn theo cái chủ nghĩa đã hết sức sống, mà chỉ cần đọc cái tên của chủ nghĩa đó là làm thế giới nhăn mặt. Khi mà người dân chưa được quyền đi bầu để chọn người xứng đáng thay mặt mình quản lí đất nước thì rất khó nói rằng người dân đã thật sự làm chủ đất nước.

Còn tự do thì chắc chắn nhiều người không đồng ý. Các tổ chức thế giới xếp VN vào những nước có hạn chế tự do báo chí nhất thế giới. Các nước cứ liên tục nhắc nhở VN nên tôn trọng quyền con người của công dân. Còn về kinh tế, cho đến nay, VN vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, và đang bị rớt vào cái bẫy thu nhập trung bình. Chẳng những nghèo, mà khoảng cách giữa người giàu và nghèo càng gia tăng. Người dân hiện đang gánh trên vai hàng trăm loại thuế và chi phí, khổ hơn cả thời VN còn là thuộc địa của Pháp. Một vị thiếu tướng QĐND mới đây phát biểu rằng “Có một đội ngũ giàu rất nhanh, cưỡi lên đầu nhân dân, còn kinh khủng hơn địa chủ, tư sản ngày xưa” (2).

Vị thế của VN vẫn còn rất thấp. Người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Hiện nay, VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa, và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (hạng 80) và Campuchea (hạng 79). VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng. Ngay cả nước láng giếng nhỏ là Kampuchea đã bắt đầu khinh thường và lên lớp VN! VN còn bị xếp hạng vào nước bủn xỉn nhất nhì trên thế giới, chỉ biết ăn xin mà chẳng giúp ai.

Và, người ta khinh VN ra mặt. Mới đây thôi, một viên chức Nhật Bản đặt câu hỏi trước báo chí VN [mà có thể hiểu nôm na] rằng “các anh còn ăn xin đến bao giờ nữa”? Viên chức này còn lên giọng mắng VN như mắng con: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN”. Bất quá tam. Là người Việt Nam có tự trọng ai cũng cảm thấy nhục trước lời mắng mỏ đó.

Rất khó nói là thời đại huy hoàng khi mà đất nước đã bị mất mát về biển đảo cho giặc Tàu mà ngài xem là “anh em đồng chí”. Ngài cũng không nhắc đến những mất mát trên đất liền cũng cho cái đất nước mà một số người Việt ngọt ngào gọi là “đồng chí”, là “bạn”.

Ngài tổng không nói đến một thực tế rằng chưa có thời đại nào trong lịch sử dân tộc mà hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, và hàng trăm ngàn người chết trên biển cả và rừng sâu trên đường tìm tự do. Đó là chưa nói đến hơn 3 triệu người bỏ mạng trong cuộc chiến huynh đệ mà đến nay vẫn chưa được đặt tên.

Chưa có thời đại nào mà hàng trăm ngàn phụ nữ Việt Nam bỏ quê đi làm vợ cho ngoại nhân Hàn, Đài, Tàu như hiện nay. Cũng chưa có thời đại nào mà nhân phẩm của người phụ nữ VN bị rẻ rúng và nhục nhã như hiện nay, được quảng cáo trên báo chí quốc tế như là những món hàng.

Những sự thật trần trụi và gần gũi đó (vẫn chưa đủ) cho thấy chúng ta khó có lí do để tự tuyên bố rằng thời đại HCM là rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc.

Vậy thì câu hỏi là thời đại nào đáng tự hào và huy hoàng nhất? Thoạt đầu, tôi nghĩ ngay đến triều đại Nhà Lý, nhưng nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy triều đại Trần Nhân Tông mới là huy hoàng nhất. Ông là một vị vua anh hùng, vì đánh thắng quân Tàu và bảo vệ đất nước. Ông là một vị vua nhân từ, không trả thù giặc và đối xử đàng hoàng với đối phương trong nước. Ông là người có công chấn hưng Phật giáo và xiển dương văn học. Quan trọng hơn hết, ông là người xây dựng một nước Việt cường thịnh và bảo vệ sự vẹn toàn của tổ quốc. Ông còn nổi tiếng với câu nói “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Ta muốn lời nhắn nhủ này như một di chúc cho con cháu muôn đời sau.” Rất tiếc là ngày nay trong những người cầm quyền có còn mấy ai nhớ đến lời căn dặn của vua Trần Nhân Tông.

===

(1) http://vov.vn/chinh-tri/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-ky-niem-sinh-nhat-bac-401809.vov

(2) http://dantri.com.vn/blog/cuoi-len-dau-nhan-dan-con-kinh-khung-hon-dia-chu-tu-san-1078048.htm

Like

 

Posted in Chinh Tri Xa Hoi, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Đảng CSVN có DÁM tuyên bố đặt quyền lợi dân tộc, lợi ích đất nước lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản hay không?

Posted by hoangtran204 on 15/12/2015

Không. Đảng CSVN luôn luôn đặt quyền lợi của đảng cao hơn quyền lợi của đất nước và trên cả cha mẹ của họ, dựa theo lịch sử hình thành của đảng kể từ lúc ra đời 1932 đến nay.  Họ muốn nắm quyền cai trị đất nước nên dẫu cho đất nước và toàn dân có nghèo đói đến đâu họ cũng không quan tâm, miễn là họ giữ được lập trường của đảng cs. Gần đây, họ mới lập lại nội dung trên qua lời phát biểu “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất SAU Cương lĩnh của Đảng. TBT Nguyễn Phú Trọng

 

ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

Blog Tễu

Nguyễn Đăng Quang

15-12-2015

Đảng CSVN hiện có 3,6 triệu đảng viên, chiếm khoảng gần 4% dân số Việt Nam. Trong số này có 200 đảng viên cao cấp chia nhau nắm giữ toàn bộ các vị trí lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương xuống tận 63 tỉnh thành trong cả 3 nhánh quyền lực quốc gia: Hành pháp, Lập pháp Hành pháp và Tư pháp, cũng như toàn bộ các tổ chức đoàn thể, ban ngành (hay còn gọi là hệ thống chính trị) của toàn xã hội.  Thủ lĩnh Đảng – người có trọng trách cao nhất – hiện là ông Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư, là nhân vật mà 92 triệu người dân Việt Nam không ai được cầm lá phiếu bầu lên nhưng ông vẫn nghiễm nhiên là lãnh tụ tối cao của cả nước, nắm trọn quyền lực trong tay và toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia.

Ông Trọng cũng như các bậc tiền nhiệm của ông chưa hề một lần tuyên thệ trước Quốc hội, chưa bao giờ thề trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Trong Đại hội ĐCSVN lần XII tới đây, nếu như ông Trọng hoặc bất cứ ai khác được chọn làm Tổng Bí thư thì mặc nhiên cũng không phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp.

Chức vụ Tổng Bí thư ĐCSVN được đặc cách không phải tuyên thệ trung thành với bất cứ ai do bởi Điều lệ Đảng và Hiến pháp mà Đảng soạn thảo không có điều nào quy định Tổng Bí thư và các Ủy viên Bộ Chính trị phải làm như vậy.

Nếu đất nước và dân tộc Việt Nam được lãnh đạo bởi những  người thực sự vì dân vì nước, luôn đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của họ và của tổ chức chính trị mà họ đại diện thì thật là may mắn và hạnh phúc cho dân tộc và đất nước. Song thực tế lại không phải như vậy. Cương lĩnh cũng như Điều lệ hiện hành của ĐCSVN không có điều nào quy định Đảng phải coi và đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên tối thượng, cao hơn lợi ích của Đảng. Chính TBT Nguyễn Phú Trọng đã xác quyết điều này cách đây không lâu khi Quốc hội thảo luận thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013.  Ông thẳng thắn tuyên bố: “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.

Đó là về văn bản và lời nói. Còn về những việc làm và hành động cụ thể thì sao? Chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực mà bạn đọc dễ phán xét và kiểm chứng, đó là về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Đã có rất nhiều đảng viên và nhân sĩ, trí thức tâm huyết trong những năm qua đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu Lãnh đạo Đảng công bố các thỏa thuận mà Đảng đã ký với Trung Quốc ở Hội nghị Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc) ngày  4/9/1990.  Nhưng cho đến nay đã trên 25 năm rồi mà Đảng vẫn giữ “quyền im lặng”, vẫn bí mật và lặng lẽ thực hiện những gì Đảng đã ký với Trung Quốc, không công bố và chẳng cần giải thích cho nhân dân và 3,6 triệu đảng viên biết, mặc cho bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc tung tin hỏa mù, “nửa đúng, nửa sai, thật giả lẫn lộn” với ý đồ lường gạt, phân hóa và gây chia rẽ nội bộ để họ dễ bề thao túng lãnh đạo nước ta.

Nếu sự thực thỏa thuận Thành Đô không có điều khoản nào bất lợi cho dân tộc và đất nước Việt Nam thì Đảng nên công bố cho toàn Đảng, toàn dân biết để nhân dân yên tâm, và sát cánh với Đảng đối phó với nguy cơ “Bắc thuộc mới” không chỉ đang thập thò, lấp ló ở ngoài biên cương, biển đảo mà đã hiển hiện ở sâu trong đất liền và ở cao trong nội bộ chúng ta.

Xâu chuỗi một vài sự kiện sau Hội nghị Thành Đô liên quan đến cuộc  xâm lược nước của 60 vạn quân Trung Quốc ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc hồi tháng 2/1979,  ta thấy hình như có một thế lực nào đó ở cả 2 nước muốn nhân dân ta quên hẳn cuộc chiến tranh này.  Người dân và đặc biệt là các Cựu Chiến Binh trong cuộc Chiến tranh 1979 luôn tự hỏi:

– Vì sao đã 36 năm rồi mà cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 1979 của quân và dân ta vẫn chưa được Bộ Quốc phòng tổng kết? Vì sao nó không được Bộ Giáo dục biên soạn, đưa vào chương trình sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên ta?  Vừa qua, thế lực đen tối nào định mưu toan xóa bỏ môn học Lịch sử qua chiêu trò “tích hợp”, nhằm làm cho thế hệ trẻ và con cháu ta sau này không biết gì về truyền thống hào hùng 1000 năm chống trả xâm lược phương Bắc của tổ tiên ta? May mà Quốc Hội đã ít nhiều cảnh giác, kịp ra Nghị quyết ngăn chặn ý đồ đen tối và nham hiểm này.

– Ngay cả các hoạt động kỷ niệm của người dân trong mấy năm qua để tưởng nhớ và vinh danh những anh hùng, liệt sỹ và thương binh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược (2/1979) và tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân ta đã bị Trung Quốc sát hại khi chúng đánh chiếm đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (14/3/1988) cũng bị một lực lượng đông đảo Dư Luận Viên có tổ chức, mặc áo đỏ in Quốc kỳ, mang cờ Đảng, dùng loa hò hét và hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” để khiêu khích, ngăn cản và phá thối(?!). (Lê Đức Anh đã ra lệnh hải quân VN không được nổ súng ở Gạc Ma 1988

– Ai đã chủ trương và làm ngơ cho Trung Quốc thuê trên 300.000 héc ta rừng đầu nguồn chiến lược ở các tỉnh biên giới phía Bắc?(Mời đọc) Tại sao lại cho Trung Quốc cắm chốt ở hàng chục địa điểm chiến lược và nhạy cảm trên khắp đất nước dưới vỏ bọc đầu tư dự án, thuê đất lâu dài (đến 70 năm như ở Vũng Áng), và đặc biệt việc Trung Quốc được mặc nhiên đóng chốt tại địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất nước ta (Nóc nhà Đông Dương) với bình phong dự án Bauxite Tây Nguyên đầy nguy hại và tai tiếng?

Cách đây chưa đầy một tuần, ngày 9/12/2015 vừa qua, trong “Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội XII và toàn thể đảng viên ĐCSVN”, (gọi tắt là THƯ 127), một trăm hai mươi bảy(127) đảng viên tâm huyết và các nhân sỹ trí thức nặng lòng với đất nước và dân tộc ở trong và ngoài nước đã mạnh mẽ, thẳng thắn và tha thiết kêu gọi Đảng phải thay đổi: “Trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và dựa hẳn vào nhân dân, tự giải thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, tự giải phóng chính mình khỏi tình trạng tha hóa của một đảng độc quyền toàn trị, dứt khoát từ bỏ đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội theo chủ thuyết Marx-Lenine, chủ động tiến hành cải cách chính trị triệt để và toàn diện theo con đường dân tộc dân chủ…”.

Người viết bài này cho rằng chẳng cần phải khảo sát xã hội hoặc tiến hành trưng cầu ý dân cũng có thể khẳng định là không chỉ đa số Đảng viên ĐCSVN mà toàn thể 92 triệu nhân dân Việt Nam đều muốn ĐCSVN phải đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích cộng sản. Vì đây là lẽ đương nhiên, hợp với triết lý, lẽ sống và đạo đức xưa nay của dân tộc Việt Nam ta. Và đây cũng là nguyên tắc bất di bất dịch của mọi đảng phái chính trị trong tất cả các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày nay.

Muốn làm được như vậy, trước hết Đảng phải tự thay đổi, phải dũng cảm đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên tối thượng, lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản. Đã đến lúc không thể không làm điều này.  Quốc gia và dân tộc là tối cao và vĩnh cửu, chứ không phải là Chủ nghĩa cộng sản!  Đảng phải tự thoát khỏi chính mình, phải dũng cảm lột xác để tiến lên cùng dân tộc. Trước hết và trên hết phải coi dân tộc và Tổ quốc Việt Nam là người sinh ra mình, nuôi dạy và bảo vệ mình, chứ tuyệt đối không phải là kẻ mà mình sinh ra, là kẻ mà mình nuôi dưỡng và ban ơn.

Quay đầu là bờ! Con cái có thể bỏ rơi cha mẹ chứ không bao gìơ cha mẹ lại chối từ con cái. Hãy ngước nhìn sang nước bạn láng giềng Myanmar để học tập và noi gương những bước đi quả cảm, đầy khôn ngoan, đầy trách nhiệm nhưng vô cùng sáng suốt của giới quân phiệt cầm quyền. Họ đã chấp nhận và thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục cho đất nước Myanmar do họ biết hy sinh quyền lợi cá nhân của các tướng lãnh, họ đã sáng suốt đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên tối thượng lên trên lợi ích của tập đoàn quân phiệt và đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển Myanmar. Cuộc chuyển đổi chính trị ở Myanmar không có kẻ thua, chỉ có người thắng, và người thắng lớn nhất là dân tộc Myanmar khôn ngoan và dũng cảm.

Hà Nội, ngày 14/12/2015.

N.Đ.Q.

*Theo luật pháp, bất cứ đảng phái, hội đoàn nào muốn hoạt động trên lãnh thổ VN đều phải xin giấy phép hoạt động của chính phủ. Đảng CSVN hoạt động tại VN, nhưng không bao giờ xin giấy phép của chính phủ để hoạt động. Sự tờn tại của đảng csvn là bất hợp pháp. 

Hiến pháp hay Đảng pháp? – BBC Tiếng Việt – BBC.com

Hiến pháp đứng sau cương lĩnh của Đảng: TBT Nguyễn …

Sau đây là những phát biểu của một trong các “đỉnh cao trí tuệ của loài người”, TBT, Giáo sư Tiến sĩ ngành Xây Dựng Đảng tốt nghiệp tại Liên Xô, Nguyễn Phú Trọng:

“Hiến Pháp là văn kiện chính trị, pháp lý quan trọng nhất sau cương lĩnh của Đảng cộng sản”

“Ai có tư tưởng bỏ điều 4 Hiến pháp, muốn đa nguyên đa đảng, muốn tam quyền phân lập là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa!”

“Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở VN hay chưa”.

Bài liên quan:

►Hội Nghị Thành Đô Ngày 3 Và 4-9-1990- Những Sự Thật Cần Phải Biết (Phần 27) « Trần Hoàng Blog

 

 

Posted in Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Đảng CSVN - còn đảng, còn mình... | Leave a Comment »

►Điều gì nổi bật trong hai ngày Tập Cận Bình thăm viếng VN ?

Posted by hoangtran204 on 08/11/2015

FB Trương Nhân Tuấn

6-11-2015

Không lẽ là sự vắng mặt của người lý ra phải có mặt, là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang? Theo lịch trình (được báo chí đăng tải) thì ông Tập sẽ có các buổi gặp mặt với TBT Nguyễn Phú Trọng, CTN Trương Tấn Sang, TT Nguyễn Tấn Dũng và CTQH Nguyễn Sinh Hùng. Báo chỉ trong nước, đến giờ phút này, chỉ đăng tin tức và hình ảnh Tập Cận Bình gặp gỡ ông Trọng, ông Dũng và ông Hùng. Không thấy bất kỳ dòng tin và hình ảnh nào về cuộc gặp gỡ giữa ông Tập và ông Sang.

Ông Tập vẫn chưa rời khỏi VN. Có quá sớm để đưa ra một kết luận ?

Ông Tập được tiếp đón với nghi thức long trọng và vinh dự nhứt của quốc gia, ngay tại phủ chủ tịch. Người ta thấy dàn đại bác bắn 21 cú chào mừng. Thấy Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình cùng đi duyệt hàng quân danh dự, mà việc này lẽ ra chủ tịch nước mới có tư cách.

Theo thông lệ quốc tế, thể thức tiếp đón quốc khách ngay lúc vị khách này đặt chân lên đất nước mình, sẽ nói lên tất cả tấm thịnh tình của chủ nhà đối với người khách.

Tiếp đón ông Tập Cận Bình, (chủ tịch nước kiêm chủ tịch đảng TQ), tại sân bay không có mặt của « tứ trụ ». Điều này nói lên một sự khác thường, nếu không nói là chưa từng có tiền lệ.

Phó thủ tướng, kiêm Bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh và ông Đinh Thế Huynh (thuộc BCT) thay mặt nhà nước và đảng CSVN để tiếp đón ông Tập và phu nhân. Ông Phạm Bình Minh vốn là con của cố Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch, người nổi tiếng (và đi vào lịch sử VN) bằng hành vi ra mặt chống TQ và hội nghị Thành Đô.

Đối phó lại, phía TQ dùng chiếc Mercedes mang số 00079 để chở vợ chồng ông Tập Cận Bình. Năm 1979 là năm mà Đặng Tiểu Bình « dạy cho VN một bài học ».

Bóng ma 1979 đã che phủ bầu trời sân bay Nội Bài.

Từ lúc hai bên lập lại bang giao (đầu thập niên 90), lãnh đạo TQ đã hứa hẹn với VN vô số điều, trong đó có « 16 chữ vàng » và « quan hệ 4 tốt ». Kiểm điểm lại, đã có điều gì mà TQ hứa hẹn đã trở thành hiện thực ?

Không có gì cả để người ta hôm nay người ta có thể tin tưởng vào tương lai quan hệ VN-TQ « tiền hung hậu kiết ».

Sự vắng mặt của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có lẽ như vậy là nằm trong kịch bản của VN.

Không lẽ hồi chuông chấm dứt thời kỳ lệ thuộc bắt đầu ? (hay là mình lạc quan tếu ?)

____

FB Trương Nhân Tuấn

7-11-2015

Thông điệp của Tập Cận Bình gởi đến quốc dân VN, qua bài diễn văn tại quốc hội, ý nghĩa không đơn thuần như các bài bình luận đã thấy trên báo chí VN. Nhà nước CSVN quyết định không dịch bản văn này là có chủ ý. Nhưng đây là thông điệp của họ Tập gởi đến toàn dân VN, nhà nước không thể không có bản dịch chính thức.

Một số “đại biểu” QH tỏ ý tiếc việc họ Tập không có nói đến Biển Đông. Điều này không đúng. Tập Cận Bình có nhắc, có điều ông ta nói khéo quá các đại biểu không hiểu.

Một vài ẩn ý khác của họ Tập đã được facebookers VN giải mã, như ý nghĩa các câu thơ của Vương Bột. Các câu thơ đó, ý nghĩa trọn vẹn là kêu gọi (lãnh đạo VN) “lãng tử hồi đầu”.

Điều quan trọng hơn cả là họ Tập xem VNDCCH là một quốc gia duy nhứt đại diện cho VN từ 1954 đến nay.

Vừa rời VN đến Singapour thì Tập Cận Bình lại tuyên bố HS và TS là lãnh thổ của TQ từ thời cổ đại. Họ Tập, cũng như các viên chức cao cấp TQ, bất kỳ ở đâu, hễ gặp dịp là họ tuyên truyền việc này. Còn VN, ngoài ông Trương Tấn Sang có một thái độ ra mặt yêu cầu TQ giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế, còn lại là ngậm miệng (ăn tiền). Tập Cận Bình đọc diễn văn ở QH là cơ hội tốt nhứt để đặt vấn đề thì không thấy ai nắm cơ hội.

Họ Tập chính thức mời NT Dũng sang thăm Bắc Kinh, điều này là gì nếu không phải là thiên triều ra mặt chống lung, chỉ thị cho nhân dân VN người “lãnh đạo chính thống” trong tương lai ?

Nay mai sẽ có bài viết về các vấn đề này.

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Nhan Vat Chinh tri, Thời Sự, Đảng CSVN | Leave a Comment »

►Bài diễn văn của Tập Cận Bình đọc trước Quốc hội VN

Posted by hoangtran204 on 08/11/2015

BBC

7-11-2015

Photo: AP

Trong chuyến thăm Việt Nam từ 5 đến 6/11, Tổng bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có bài phát biểu tại Quốc hội Việt Nam.

Năm 2005, khi thăm Việt Nam, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng từng phát biểu tại Quốc hội, ở địa điểm Hội trường Ba Đình cũ.

Xin giới thiệu với quý vị toàn văn bài phát biểu của ông Tập Cận Bình:

Thưa ngài chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

Các vị đại biểu, các đồng chí và các bạn!

Xin chào tất cả mọi người! Tôi rất vui mừng khi có cơ hội tới thăm Quốc hội Việt Nam, gặp gỡ với các đồng chí, các vị đại biểu. Quốc hội Việt Nam là cơ quan nhà nước cao nhất đại diện cho quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Tôi cảm thấy rất vinh hạnh khi đứng trên diễn đàn này.

Đầu tiên, tôi đại diện cho Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính phủ Trung Quốc, nhân dân Trung Quốc, hơn nữa dùng danh nghĩa cá nhân tôi dùng những lời chúc tốt đẹp nhất tới Đảng Cộng sản Việt Nam, chính phủ Việt Nam, nhân dân Việt Nam anh em! Dùng sự kính trọng lớn nhất bày tỏ sự biết ơn đối với những người bạn đã có cống hiến quan trọng trong nỗ lực giữ gìn tình hữu nghị Trung Quốc Việt Nam trong thời gian từ trước đến nay.

70 năm trước, chính tại quảng trường Ba Đình ngoài kia, chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới, chính thức thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Việc này lập dấu mốc cho quá trình phấn đấu gian khổ qua hơn nửa thế kỷ, do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng cộng sản Việt Nam với truyền thống cách mạng tốt đẹp đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam, đã thực hiện thành công mục tiêu vĩ đại giành độc lập, giải phóng dân tộc. Năm nay, nhân dân Việt Nam chào đón những sự kiện quan trọng như kỉ niệm 70 năm thành lập nước, 40 năm ngày giải phóng miền Nam, 125 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh… Trung Quốc Việt Nam tình thân một nhà, nhân dân Trung Quốc cùng chung vui, hạnh phúc với nhân dân Việt Nam.

Từ thời Cận đại tới nay, hai nước chúng ta đều trải qua quá trình gian khổ đi từ thời kỳ bị bất kỳ kẻ nào áp bức bóc lột đi tới độc lập dân tộc, từ thời kỳ bế quan tỏa quốc tới cải cách mở cửa, từ nghèo đói lạc hậu đi tới phồn vinh phát triển. Từ những năm 80 của thế kỷ trước trở đi, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam vững tin vào chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, tích cực tìm cho mình con đường phát triển thích hợp với tình hình Việt Nam, tìm tới con đường cách mạng mới thuộc về nhân dân Việt Nam, giành được những thành tựu làm cho người khác phải thừa nhận trên công cuộc phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như đưa Việt Nam hội nhập với thế giới, diện mạo quốc gia cũng như đời sống người dân có sự thay đổi sâu sắc.

Ngày nay, Việt Nam đang có những bước tiến vững chắc trên con đường thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa quốc gia. Chúng tôi cảm thấy vui mừng trước những thành tựu mà các đồng chí Việt Nam đã đạt được trên con đường cách mạng Xã hội chủ nghĩa mới. Tôi tin rằng, dưới sự lãnh đạo kiên cường của Đảng cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam nhất định giành được những thắng lợi không ngừng trong công cuộc cách mạng đổi mới vĩ đại. Chúng tôi nguyện ý sẽ cùng giữ gìn truyền thống cùng nhau học tập, tinh thần trao đổi kinh nghiệm, cùng dắt tay nhau nhằm phấn đấu xây dựng, phát triển sự nghiệp Chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình an hạnh phúc cho nhân dân hai nước.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Giống như nhân dân Việt Nam một mực theo đuổi giấc mơ dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện mục tiêu đất nước giàu mạnh, chấn hưng dân tộc, nhân dân hạnh phúc là giấc mơ trăm năm của dân tộc Trung Hoa. Giấc mơ của nhân dân hai nước có chung nhịp đập, cùng thể hiện nguyện vọng giống nhau hướng về hòa bình, hạnh phúc và tốt đẹp.

Dân tộc Trung Hoa từ trước đến nay đều yêu hòa bình, cái gen “ hòa” của dân tộc từ trước tới nay đều không thay đổi, “ hòa” trong văn hóa được bảo lưu trường tồn, mãi mãi. Từ hơn 2400 năm trước, cổ nhân Trung Quốc đã nêu ra đường lối “ Lễ chi dụng, hòa vi quý”( sử dụng lễ nghĩa thì lấy hài hòa, hòa thuận là qúy trọng làm đầu). Nguyện vọng hòa bình được mọc rễ từ trong con tìm của mọi người Trung Quốc, hòa nhập vào trong dòng máu của dân tộc Trung Hoa. Thời cận đại Trung Quốc đã gặp phải ngọn lửa chiến tranh và bất ổn trong hơn một thế kỉ, nhân dân Trung Quốc đã phải chịu những khổ nạn đau đớn. Nhân dân Trung Quốc yêu hòa bình cuồng nhiệt cũng như biết quý trọng cục diện hòa bình mà phải đánh đổi gian khổ mới có được. Sự phát triển của Trung Quốc không thể rời xa được môi trường hòa bình, ổn định của tình hình quốc tế và các quốc gia xung quanh, sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ trở thành lực lượng giữ gìn hòa bình và ổn định trên toàn thế giới.

Đối với tình hình trước mắt, Đảng Cộng sản Trung Quốc đang giương cao ngọn cờ Xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc vĩ đại, đoàn kết dẫn dắt mọi lực lượng của Trung Quốc, xây dựng xã hội khá giả toàn diện, tiến hành cải cách sâu rộng, xây dựng quốc gia pháp trị toàn diện mọi mặt, thi hành nghiêm khắc chiến lược phát triển của Đảng, nỗ lực phấn đấu hoàn thành thực hiện mục tiêu xã hội khá giả toàn diện vào thời điểm chào mừng 100 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc, đồng thời thực hiện mục tiêu to lớn đưa Trung Quốc trở thành quốc gia Xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa, giàu mạnh, hài hòa vào thời điểm kỉ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Chúng tôi vừa tổ chức Hội nghị Toàn thể lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18, đưa ra những đường nét cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc trong 5 năm tới, xác định đồng thời quán triệt tốt những tư tưởng phát triển then chốt như đổi mới, phối hợp, phát triển xanh, mở cửa, cùng chia sẻ. Đưa ra một loạt những chính sách, biện pháp quan trọng nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội, tổ chức và huy động mọi nguồn lực của mọi dân tộc, các tầng lớp nhân dân khắp Trung Quốc nhằm đưa mọi mặt của kinh tế, xã hội Trung Quốc phát triển lên một tầm cao mới, đưa cuộc sống của nhân dân Trung Quốc ngày càng tốt hơn, đóng góp ngày càng nhiều, càng quan trọng hơn trong sự nghiệp phát triển con người và hòa bình của nhân loại.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Trung Quốc Việt Nam hai nước sơn thủy tương liên, nhân dân hai nước có lịch sử giao lưu trao đổi lẫn nhau từ lâu. Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước, chúng ta đã kề vai chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau, xây dựng nên tình đoàn kết hữu nghị lâu bền. Trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội giàu mạnh mang màu sắc riêng của mỗi quốc gia, chúng ta học tập lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau vun trồng những kết quả phong phú, tốt đẹp. Quan hệ Việt Trung đã vượt lên trên hàm ý những mối quan hệ song phương thông thường, có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng.

Trung Quốc Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao được hơn 65 năm. Tháng 4 năm nay, trong thời gian Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có chuyến thăm Trung Quốc, tôi và ngài tổng bí thư đã tổng kết quá khứ, nhìn về tương lai. Chúng tôi đã đạt được nhận thức chung, mối quan hệ gắn bó Trung Việt đã được chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh thế hệ lão thành tiền bối hai bên xây dựng nên, là tài sản quý báu của hai đảng, nhân dân hai nước, cần được quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng. “ Tín giả, giao hữu chi bản” ( lòng tin là cái căn bản để xây dựng tình bạn). Trung Việt hai quốc gia có rất nhiều lợi ích chung, hợp tác hữu hảo trước sau chiếm đa số. Hai bên cần phải lấy quan hệ hữu hảo Trung Quốc Việt Nam cũng như đại cục phát triển hai nước làm trọng, giữ vững phương châm tôn trọng lẫn nhau, hữu hảo đàm phán, thu hẹp bất đồng, phát huy điểm chung, xử lí tốt mọi tranh chấp. Sự hợp tác đôi bên cùng có lợi đem đến những lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời giúp ích cho hòa bình ổn định và phồn vinh của khu vực, do đó cần được tăng cường về mọi mặt. Những kinh nghiệm và bài học quý giá này là nền tảng cơ bản trong phát triển quan hệ Trung Quốc Việt Nam, đồng thời cũng là điểm xuất phát và là điểm tựa trong công tác xử lí những bất đồng còn tồn tại giữa hai bên.

Huynh đệ đồng lòng, có thể chặt đứt được kim loại. Tình hình an ninh khu vực và quốc tế có nhiều biến đổi đa đoan, hai đảng hai quốc gia cùng đối mặt với nhiều thách thức hoặc vấn đề mới giống nhau. Chúng ta không chỉ là bạn bè tốt láng giềng tốt sơn thủy nối liền, mà quan trọng hơn là có lợi ích gắn chặt cùng nhau, là một khối chung có cùng chung sinh mạng, chung mục tiêu. Chúng ta càng cần giúp đỡ, chiếu cố lẫn nhau, cùng cầm tay nhau đi về phía trước hơn bao giờ hết. Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển mối quan hệ song phương với Việt Nam, với phương châm toàn diện hợp tác, nguyện cùng đi chung con đường với phía Việt Nam, cùng nhau giữ gìn hòa bình ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, trên tinh thần láng giềng tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt, phát triển toàn diện mối quan hệ chiến lược lâu dài Trung Quốc Việt Nam bền vững, ổn định, đưa tới càng nhiều hạnh phúc cho nhân dân hai nước.

Thứ nhất, Trung Quốc Việt Nam cần là đồng chí tốt có thể tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “ Trung Quốc Việt Nam hữu nghị tình thầm, đồng chí cộng anh em”. Chế độ chính trị của hai nước tương đồng, lí tưởng và niềm tin giống nhau, có chung lợi ích chiến lược. Trung Quốc Việt Nam kiên trì với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, kiên trì đi theo con đường Chủ nghĩa xã hội, kiên trì sự nghiệp cách mạng mới, kiên trì công cuộc cải cách mở cửa, là sự lựa chọn của lịch sử, cũng là sự lựa chọn của nhân dân hai quốc gia. Trên con đường đã bước đi này, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn. Đi theo con đường này về phía trước, chúng ta nhất định sẽ đạt được những thành quả huy hoàng, những tương lai phát triển rực rỡ hơn.

Thực tiễn đã nói cho chúng ta, phương hướng quyết định con đường đi về phía trước, đường đi quyết định vận mệnh. Trên vấn đề quan trọng kiên trì đi trên con đường mà nhân dân hai nước chúng ta đã lựa chọn. hai đảng, nhân dân hai nước chúng ta cần phải có lòng tin kiên định, hỗ trợ lẫn nhau, cùng dắt tay nhau đi về phía trước, kiên quyết không được để bất kì kẻ nào phá vỡ bước đi của chúng ta, kiên quyết không được để bất kì thế lực nào dao động, thay đổi bức tường bảo vệ chế độ của chúng ta.

Phía Trung Quốc hết sức ủng hộ con đường cách mạng mới của Việt Nam, chân thành mong muốn các đồng chí Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn trong công cuộc kiến thiết xây dựng Chủ nghĩa xã hội, thành tâm nhìn thấy sự phát triển ngày càng tốt, càng nhanh chóng của Việt Nam. Chúng tôi nguyện ý cùng các đồng chí Việt Nam xây dựng niềm tin lẫn nhau, cùng giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tích cực cống hiến vì sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp phát triển của nhân loại. Phía Trung Quốc muốn cùng chia sẻ cho Việt Nam những kinh nghiệm, kiến thức phong phú, toàn diện từ lí thuyết đến thực tiễn đối với công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng Xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, Trung Quốc Việt Nam cần phải trở thành những đối tác tốt trong mối quan hệ hợp tác cùng có lợi. Nhìn lại thế giới ngày nay, tình hình quốc tế đang không ngừng có những thay đổi sâu sắc, các hệ thống quốc tế, trật tự thế giới đang phát triển theo hướng công bằng và hợp lí hơn. Đồng thời thế giới cũng không hề hòa bình, có sự hỗn loạn ở quy mô cục bộ, chủ nghĩa khủng bố như âm hồn bất tán, kinh tế thế giới thiếu động lực để phát triển, sự đan xen giữa những mối thách thức truyền thống và phi truyền thống. Duy trì hòa bình, ổn định thế giới, thúc đẩy phát triển là nhiệm vụ lâu dài. Chúng ta cần phải nắm vững xu thế quốc tế, bắt kịp trào lưu của thời đại, cùng nhau xây dựng một môi trường quốc tế, trật tự thế giới có lợi cho hòa bình, ổn định ở khu vực Châu Á cũng như trên toàn thế giới. Trung Quốc ủng hộ Việt Nam phát huy hơn nữa vai trò và tác dụng của mình trên vũ đài khu vực cũng như thế giới, nguyện ý tăng cường hơn nữa hợp tác với Việt Nam ở những diễn đàn, cơ cấu hợp tác quốc tế và khu vực, duy trì lợi ích chung giữa hai quốc gia, thúc đẩy sự phát triển trong khu vực.

Nền kinh tế của hai nước Trung Quốc Việt Nam có sự liên hệ với nhau rất rộng, sự phụ thuộc tương hỗ lẫn nhau cũng lớn, qua đó gắn kết về lợi ích kinh tế cũng ngày càng chặt chẽ. Toàn cầu hóa, khu vực hóa về kinh tế mang lại cơ hội và thách thức tương đồng cho cả hai nước. Phía Trung Quốc đánh giá rất cao sự kết nối, phát triển chiến lược giữa hai quốc gia, đồng ý tăng cường hợp tác đầu tư phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng, cung ứng năng lượng trong phạm vi bộ khung “ một con đường, một vành đai”, “ hai hành lang, một vùng kinh tế” nhằm tạo động lực thúc đẩy mới cho quá trình hợp tác đối tác quan hệ toàn diện Trung Quốc Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.

Thứ ba, Trung Quốc Việt Nam cần trở thành láng giềng tốt, quan hệ hữu hảo thân tình. Cổ nhân có câu “ ngàn vàng chỉ để mua tình láng giềng”. Giống như trong bài hát “ Việt Nam – Trung Quốc”, nhân dân Trung Việt hai nước “ uống chung một dòng nước, sớm nhìn đi, tối nhìn lại”. Nhân dân hai nước Trung Quốc Việt Nam từ lâu đã là láng giềng, từ xưa tới nay đã có quan hệ qua lại mật thiết, gần đây còn có giao tình cùng chống giặc ngoại xâm, ngày nay có cùng chung sự nghiệp chấn hưng phồn vinh. Tình hữu nghị giữa nhân dân hai quốc gia đã được khảo nghiệm qua lịch sử lâu dài cùng sự đổi thay của thời gian, là động lực vô tận cũng như là nền tảng quan trọng trong phát triển mối quan hệ song phương giữa hai bên. Hai bên cần phải lấy mốc 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao làm cợ hội, thắt chặt hơn phương hướng trong quan hệ giữa hai quốc gia, đảm bảo tình hữu nghị Trung Quốc Việt Nam đời đời lưu truyền.

Người Trung Quốc thường nói, người thân càng giúp nhau càng thêm thân, láng giềng càng quan tâm càng tốt. Giữa láng giềng với nhau cũng khó tránh khỏi va chạm, nhưng hai bên cần phải xuất phát từ đại cục quan hệ song phương, thông qua đàm phán hòa bình, giải quyết ổn thỏa tranh chấp, xử lí bất đồng, tránh việc quan hệ song phương giữa hai nước đi lệch khỏi quỹ đạo. Cổ nhân vốn có câu “ Người có viễn kiến thì mới có thể thu hoạch thêm càng nhiều lợi ích”. Tôi tin rằng, hai nước Trung Quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của hai đảng, hai chính phủ thì nhân dân hai nước hoàn toàn có năng lực, có trí tuệ loại bỏ mọi quấy nhiễu, cùng nhau viết nên những áng văn mới trong quan hệ láng giềng hữu hảo Trung Quốc Việt Nam. Thứ tư, Trung Quốc Việt Nam cần làm bạn bè tốt, thường xuyên thăm viếng lẫn nhau. Bà con càng đi lại càng gần, bạn bè càng đi lại càng thân. Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước là nguồn suối động lực cho quan hệ hai bên. Vào năm ngoái, Trung Quốc Việt Nam có hơn 3 triệu lượt người thăm viếng, qua lại lẫn nhau, có hơn 14000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc, đồng thời cũng có từ 3000-4000 du học sinh Trung Quốc sinh hoạt, học tập tại Việt Nam. Những con số này làm chúng ta thật sự vui mừng.

Hôm qua, trong lúc hội đàm với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai bên đã thống nhất gia tăng thêm một bước về hoạt động trao đổi nhân viên hai phía, tăng cường các hoạt động hợp tác giao lưu văn hóa, giáo dục duc lịch…xây dựng tốt các diễn đàn cho nhân dân Trung Quốc Việt Nam, hội giao lưu hữu nghị thanh niên Trung Việt, tăng cường các hoạt động giao lưu tìm hiểu hai phía, tăng cường bầu không khí phong phú, tạo cơ hội cho các hoạt động dân gian. Trung Quốc hoan nghênh chào đón ngày càng nhiều du học sinh Việt Nam tới Trung Quốc học tập, du lịch, làm ăn, hy vọng người dân hai nước tăng cường các hoạt động qua lại lẫn nhau, tăng cường hiểu biết, tìm hiểu, vun đắp tình hữu nghị giữa hai bên.

Thưa các đồng chí, các bạn!

Từ năm 1942 đến năm 1943, trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng đã viết câu thơ “Trùng san đăng đáo cao phong hậu, Vạn lý dư đồ cố miện gian, nhà thơ đời Đường là Vương Bột cũng viết “ Đăng Thái Sơn nhi lãn quần sơn, tắc cương loan chi bản mạt khả tri dã”. Quan hệ Việt Trung đã đứng trên điểm cao lịch sử mới. Chúng ta lên đỉnh núi cao, nhìn tầm mắt ra xa, cùng nhau bắt tay nỗ lực, phấn đấu mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ toàn diện Trung Quốc Việt Nam, nhằm duy trì lâu dài hòa bình ổn định, tạo dựng một Châu Á và thế giới thịnh vượng, phồn vinh, góp phần tạo nên một thế giới rộng lớn hơn!

Xin cám ơn mọi người!

Posted in Biển Đông: Hoàng Sa và Trường Sa, Hội nghị Thành Đô 3-9-1990, Quan Hệ Viêt Nam và Trung Quốc- 1990- Nay, Thời Sự, Đảng CSVN | Leave a Comment »

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.